>

Login to your account

Username *
Password *
Remember Me

Tháng Mười, Nhớ Lại - (Vương Mộng Long-K20)

Posted by October 21, 2019 254
Tháng Mười, Nhớ Lại...

(Vương Mộng Long-K20)

---oo0oo---
 


Tháng Mười lại tới rồi! Nếu ở Huế, thời tiết đã bắt đầu chuyển mùa vào Đông.


Huế tháng Mười, trời mờ sương. Gió nhẹ và se lạnh. Những hàng cây sấu, cây bông sứ, cây phượng, dọc hai bên đường Lê-Lợi, từ chân cầu Tràng-Tiền tới Ga Huế đã trụi lá. Liễu vẫn rũ bên sông, đò vẫn đưa, nước vẫn xuôi dòng, nhưng người qua lại đông hẳn lên vì đang là mùa khai trường, mà con đường này lại có Viện Đại-Học, có Quốc-Học, và có Đồng-Khánh. Bóng bướm vàng đã hiếm, nhưng áo len màu choàng ngoài áo dài trắng, thì nhiều lắm.


Mấy hôm rày (tháng Mười 2006) bạn bè tôi đưa tin Huế đang bị lụt, tôi nhớ lại chuyện xưa; nhớ lại một ngày trong đời mình.


Ngày Một tháng Mười, cách nay đúng bốn mươi năm (1966) có một người lính, áo hoa rừng, bước thấp, bước cao, đi qua, rồi đi lại, nhiều lần, đoạn đường từ Ga Huế, về tới chân cầu Tràng-Tiền. Người lính tửng tửng đó là tôi, Biệt Động Quân Vương Mộng Long. Trên đường, tôi đã gặp vài người quen ngày xưa, hồi còn ở Hội-An. Nói chuyện đôi lời, bạn vào trường, tôi tiếp tục bách bộ.


Chẳng nhớ tôi đã đánh mấy vòng qua đoạn đường này trong thời gian từ trưa tới chiều. Tôi đã làm cái màn bách bộ tửng tửng này để giã từ Huế. Hôm ấy, trong túi tôi có cái sự vụ lệnh về trình diện Chiến Đoàn 1 Biệt Động Quân đóng tại bãi cát Phú-Lộc, Hòa-Khánh, Đà-Nẵng. Tôi vừa được phóng thích từ Quân lao Mang-Cá. Tôi bị giam ở đây 30 ngày vì tội tham gia vào vụ "Phản Loạn Miền Trung".
Sáng hôm sau, tôi rời Huế, rồi từ đấy tôi chưa một lần về lại nơi đây.

Hình: Th/úy Vương Mộng Long- Đà Nẵng 1966
 


Chiều ngày Hai tháng Mười năm 1966, tại hậu cứ Phú- Lộc (Đà-Nẵng) của Chiến Đoàn 1 Biệt Động Quân, một người to lớn, ngồi trên bàn, hai tay chống trên mặt bàn, đôi chân đánh đung đưa, hai vai nhún nhún, đàng trước, đàng sau. Người đó đang nhìn ra cửa. Ông ta đeo kiếng đen, mặc quân phục đen, giày sault đen. Trung tá Sơn Thương, chiến đoàn trưởng, bắt tay tôi, rồi rất ôn tồn,


-Trước ngày đi tù, cậu đã làm đại đội trưởng ở Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân phải không?
-Thưa trung tá, tôi coi Đại Đội 3/11.


Ông bỏ cặp kiếng đen ra, nghiêng đầu ngó tôi một lúc, rồi ra lệnh cho Ban 1:


"Làm sự vụ lệnh cho Thiếu úy Vương Mộng Long về Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân thay thế Trung úy Phan Hạnh thuyên chuyển."

 


Hôm sau, tôi vào lấy sự vụ lệnh. Sự vụ lệnh không ghi cho tôi đi Miếu-Bông, Đà-Nẵng để thay thế Trung úy Phan Hạnh. Nơi tôi sẽ tới ghi trên cái sự vụ lệnh này xa xôi lắm, Vùng 2!
Quyết định của Tư Lệnh Quân Khu 1 thật rõ ràng: Hoàn trả sĩ quan đương sự về Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân (đang ở Biển-Hồ, Pleiku). Lý do: Sĩ quan đương sự không được phép phục vụ tại Vùng 1 Chiến Thuật.


Tôi đành lếch thếch ba lô mang vai, "tìm đường lên núi".


Ngày ấy ở Pleiku, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân là Đại úy Nguyễn Kim Biên, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 22 Biệt Động Quân là Đại úy Lê Thành Luận, và Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân là Đại úy Lê Chữ.


Vì hồ sơ quân bạ của tôi lạc đi xứ nào không ai biết. Nếu cho tôi ra trận, rủi tôi đền nợ nước, thì không biết báo cáo ra làm sao? Báo cáo cho ai? Nên chẳng ông tiểu đoàn trưởng nào nhận tôi về đơn vị.


Trung tá Nguyễn Đức Ninh, Chiến Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn 2 Biệt Động Quân đành gửi tôi cho Thiếu tá Phạm Văn Toán, Chiến Đoàn Phó, để ông già Toán canh chừng “anh chàng Thiếu úy phản loạn Miền Trung này” (nguyên văn).


Ban quân lương chiến đoàn, Thượng sĩ Phong và Thượng sĩ Đăng, cảm thông hoàn cảnh của tôi. Hai ông trình với Đại úy Kính, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 Yểm Trợ Công Vụ/ Biệt Động Quân ứng bừa cho tôi cái lương trung sĩ, "cứ làm sổ lương trung sĩ, cho ông có tiền ăn, hồi sau phân giải."


Tôi được chỉ định tạm thời giữ chức phụ tá Ban 3 Chiến Đoàn 2 Biệt Động Quân. Thời kỳ này, chỉ huy sở của chiến đoàn còn nằm sát cạnh doanh trại của Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân bên bờ Biển-Hồ, Pleiku.


Hàng ngày tôi vào trại, giúp đỡ Đại úy Nguyễn Văn Huân, Trưởng Ban 3, vẽ "nửa" cái phóng đồ, thảo "nửa" cái công điện, rồi leo lên xe Lamb ra phố.


Bạn Biệt Động Quân Vùng 2 cùng Khóa 20 Võ-Bị của tôi lúc đó chưa có ai leo lên tới chức chỉ huy đại đội. Chưa chàng nào có Jeep. Về phố, rủ tôi đi chơi, các bạn tôi phải dựa hơi các ông già đại đội trưởng, để mượn Jeep. Có Jeep thì mai vàng mới oai!


Chúng tôi lang thang đầu con dốc này, tới cuối con dốc khác, phiêu du từ quán này, tới quán khác. Lúc nào đói bụng, chúng tôi chui vào Quán Cơm Bình-Dân Ba Cò nơi bến xe cũ. Bà chủ Quán Cơm Ba Cò biết tên tôi từ dạo đó.


Lúc này Hội-Quán Phượng-Hoàng vui nhộn vô cùng. Khi mới đặt chân tới Pleiku, tôi cũng thường tới đây. Nhưng nhớ lời mẹ dặn, "xướng ca..." tôi dang xa dần nơi này. Nhất là, khi thấy cô “Trang Ca Ve” đập bầu, rồi cột cổ anh Thiếu úy Hữu, bạn của tôi, bắt làm cha khai sinh đứa bé mới ra đời, tôi không dám bén mảng tới đây nữa.


Ông Tướng Vùng hào hoa và bình dị Vĩnh-Lộc không có vẻ gì là ghét bỏ Biệt Động Quân. Đã có lần, chúng tôi bốn đứa, Bửu, Long, Hùng, Ngọ, súng xệ ngang hông, giăng một hàng ngang, đi bộ từ từ trước cái xe Falcon đen của ông Tư Lệnh đang tới, trên đường Phan Bội Châu, Pleiku.


Quân Cảnh bóp còi inh ỏi sau lưng.


Bốn chàng Biệt Động rút súng bắn chỉ thiên tám phát lên trời.


Đạn nổ "đoàng!đoàng!..." cành phượng gãy, hoa phượng rơi...


Bắn xong, bốn đứa chúng tôi quay súng một vòng trên ngón trỏ (như cao bồi thứ thiệt), rồi đút súng vào bao, chia đôi hai bên đường, trái, phải quay, miệng hô "hai! ba!" dơ tay chào, thế đứng nghiêm.


Xe Tư Lệnh ngừng, kiếng cửa xe hạ xuống:


"Mấy thằng nhỏ điên hả?"


Rồi kiếng xe lại nâng lên. Xe tiếp tục lăn bánh. Xe Tư Lệnh Quân Đoàn rẽ phải, lên Hội Trường nằm sát Ban Biệt Cảnh. Tư Lệnh đi tham dự ngày lễ gì đó.


Ông Tướng không thèm trách cứ cái hành vi ngông nghênh càn quấy vừa qua của "mấy thằng nhỏ". Chính cái "phong cách Ngô-Khởi" của ông đã khiến những sĩ quan trẻ Biệt Động Quân chúng tôi xả thân, quên mình nơi tuyến đầu.


Một ngày, khi tôi đang đứng đọc "cọp" tờ nhựt trình ở sạp báo bé Hạnh, trước tiệm phở Kim-Phượng, thì một giọng nói Bình-Định đàn ông sau lưng hỏi,


-Ông Thiếu úy có biết tên Dương ở Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân không? một vị đứng tuổi, có lẽ trên năm mươi, đang đứng sau lưng.


-Dạ không! Thưa bác, tôi không quen ai tên Dương ở Tiểu Đoàn 23 bác ạ.
-Tôi là chú của thằng Dương. Nó ở Tiểu Đoàn 23, tôi tưởng Thiếu úy quen nó. Nhà tôi gần đây, mời Thiếu úy ghé chơi.
-Cám ơn bác! Thôi! Để khi khác, lúc nào rảnh, tôi ghé nhà bác chơi.


Tuần sau, "khi khác", tôi tình cờ gặp bác Ba trên Chợ-Mới, gần nhà thờ Tin-Lành, tôi vào nhà bác chơi. Bác dạy côn, dạy quyền Bình-Định cho tôi. Nhiều thế côn Bình-Định đã giúp tôi thoát chết trong những cú “xáp-lá-cà” năm 1969.


Tối, tối, tôi học võ ở sân nhà bác, ăn cơm nhà bác, rồi cuốc bộ về cái nhà tranh ở thuê của vợ chồng anh bạn Lê Đình Vụ (k20VB), ngủ nhờ qua đêm.


Bác Ba có cô cháu gái mười tám tuổi, tên Dung. Cô Dung mặt như trăng rằm. Cô Dung má lúm đồng tiền, da ngăm ngăm đen. Cô làm nghề khuân vác gạo ngoài bến xe. Cô rất giỏi võ. Cô đánh roi, đi quờn vèo, vèo. Cô túm bao gạo trăm ký từ sàn xe, kê vai, vác đi nhẹ nhàng. Tới sạp, cô nghiêng vai, ném bao gạo trăm ký xuống đất, nhẹ nhàng. Từng hàng gạo xếp ngay ngắn, thẳng hàng. Thuở đó, bao gạo nặng bằng hai trọng lượng của tôi.


Láng giềng nhà cô Dung có một người cùng xứ Phú-Phong với bác Ba là anh Nhơn. Anh Nhơn lái xe Lamb ba bánh. Anh là học trò ruột của bác Ba. Anh rất có cảm tình với tôi. Anh thường chỉ vẽ cho tôi những ngón nghề khi thực tập côn, quyền. Hình như anh Nhơn thương cô Dung...


Một ngày không hành quân, chú Dương, Binh nhất của Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân gặp tôi ở nhà bác Ba. Bác mổ gà đãi chúng tôi một bữa nhậu.


Cuối tiệc, Dương kề vai tôi nói nhỏ:


"Em Dung nó nói với tôi rằng, nó thương Thiếu úy."


Tôi cười cười lắc đầu. Tôi mến cô Dung lắm, nhưng không dám có ý nghĩ sẽ nhờ vị nữ hào kiệt này nâng khăn sửa túi.


Chẳng rõ anh Nhơn có biết "ý riêng" của cô Dung đối với tôi không, mà từ đó, mỗi khi thực tập võ nghệ, anh Nhơn ra đòn không nương tay, tôi chống đỡ trối chết, anh vẫn truy kích không tha.


Cũng hên là, dịp này, tôi được lệnh phải rời Pleiku gấp. Nhờ thế, tôi thoát được những cú đá chết người của anh Nhơn. Hú hồn! Tôi ra đi trong danh dự. Ngày tôi trở lại Pleiku, thì cô Dung đã thành bà Nhơn, bà chủ xe Lamb chạy đường Lệ-Trung, Trà-Bá.


Thế là, sau gần ba tháng ở Pleiku, không có quân sĩ dưới quyền, không hồ sơ quân bạ, không chức vụ rõ rệt, tôi bị đưa về trình diện Tòa Án Quân-Sự Nha-Trang vì "tội phản loạn".


Tới Nha-Trang, tôi không bị ra tòa lãnh án, mà ra Hội Đồng Kỷ-Luật của Đại tá Cách. Kết quả tôi bị giáng cấp xuống trung sĩ; rồi bị nhốt thêm 60 ngày trong quân lao.


Hết hạn phạt, tôi về trình diện Khối Thặng Số của Đơn Vị 2 Quản-Trị, chờ ra đơn vị mới.


Doanh trại của Đơn Vị 2 Quản-Trị Địa-Phương nằm nơi đầu đường đi Thành, dưới chân núi. Trên đỉnh núi có tượng Phật Bà màu trắng.


Ngày ngày, Phật Bà cúi nhìn tôi với con mắt rầu rầu, xót thương. Ngày ngày, tôi lủi thủi trong sân trại, cô đơn.


Trong gần bốn tháng đầu năm 1967, tôi làm việc dưới quyền ông Chuẩn úy Thành, một sĩ quan mới ra trường. Ông Thành này lại là cựu Trung sĩ Biệt Động Quân, thuộc cấp cũ của tôi.


Tháng Hai năm 1966, khi tôi vừa lên làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân ở Điện-Bàn, Quảng-Nam, tôi đã ký giấy cho phép hai hạ sĩ quan dưới quyền là Trung sĩ 1 Khê và Trung sĩ Thành theo học khóa Sĩ-Quan Đặc-Biệt Thủ-Đức.


Công việc của tôi khỏe re. Mỗi đêm, sau giờ giới nghiêm, tôi chỉ có việc leo lên xe ngồi bên Chuẩn úy Thành, đi một vòng, quanh Quân-Trấn Nha-Trang, ghé vào một số yếu điểm. Ông chuẩn úy làm hết mọi việc, từ ghi chép tình hình, kiểm tra quân số, đến ký sổ bàn giao. Mỗi khi tôi nhấp nhổm định xuống các trạm để làm công việc của mình, thì ông ta cản tôi lại:


"Ông thầy ngồi chơi. Để em lo!"


Một hôm, có chiếc xe tang chạy ngang doanh trại tôi ở. Tới cổng Trường Bồ-Đề Nha-Trang, xe ngừng lại để bốc thân nhân. Thân nhân người chết đầu quấn khăn tang, nước mắt dầm dề.


Hỏi ra, người vừa tử trận lại là bạn tôi. Người tử trận là Thiếu úy Biệt Động Quân Lê Văn Hai, Khóa 20 Đà-Lạt. Nước mắt tuôn rơi. Tôi cảm thương bạn tôi. Tôi xa chiến trường đã mấy tháng rồi...


Cuối tháng Năm năm 1967 có toán tuyển mộ Biệt Động Quân tới Đơn Vị 2 Quản-Trị Địa-Phương tuyển quân nhân về bổ sung cho binh chủng. Tôi tình nguyện về lại Biệt Động Quân. Ông Thượng sĩ trưởng toán không dám ghi tên tôi vào danh sách. Ông ta nói trường hợp tôi, phải chờ quyết định của Đại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa (sau vụ Phật Giáo Miền Trung năm 1966, Trung tá Hai đã được vinh thăng cấp đại tá.)
Tôi viết một cái thư riêng, đưa cho ông Thượng sĩ, để trình cho Đại tá Trần Văn Hai trong đó có câu:


"Tháng Năm năm ngoái, tôi là Đại Đội Trưởng Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, trấn giữ chùa Phổ- Đà, Đà-Nẵng. Chính tôi đã ra lệnh bắn hai quả SKZ 57 ly chận đầu xe của Trung tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa, ngăn không cho đoàn xe của ông tiến vào khu Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân kiểm soát. Một đơn vị Thiết Giáp Hoa-Kỳ cũng bị chúng tôi bắn chặn khi xâm nhập vùng này. Sau khi tình hình yên ổn trở lại, tôi đã bị phạt nặng nề.Từ một Thiếu úy tốt nghiệp Khóa 20 Trường Võ Bị Quốc-Gia Việt-Nam, tôi đã bị giáng cấp xuống trung sĩ. Tôi không khiếu nại, không than van. Tôi lúc nào cũng tự hào mình là một sĩ quan có kỷ luật trong vụ chính biến đó. Tôi chỉ là một sĩ quan thuộc cấp, tôi thi hành nghiêm chỉnh tất cả mệnh lệnh cấp trên giao phó. Nay, dù chỉ là một trung sĩ, tôi vẫn vui vẻ tình nguyện về phục vụ binh chủng mà tôi đã chọn lúc ra trường. Tôi nghĩ rằng Đại tá không nỡ từ chối ý nguyện của tôi."


Tuần sau, vào đầu tháng Sáu năm 1967, toán tuyển mộ lại xuất hiện, ông Thượng sĩ trưởng toán cười nói với tôi,


-Đại tá nhận Trung sĩ về lại Biệt Động Quân rồi đó!


Tôi được chỉ định làm trưởng toán bốn người, gồm có tôi và ba anh trung sĩ mới được tha từ quân lao. Bốn anh trung sĩ trẻ măng, có tên trong một sự vụ lệnh do tôi làm trưởng toán: Trung sĩ Vương Mộng Long, Trung sĩ Huỳnh Văn Nghệ, Trung sĩ Trần Văn Sơn, và Trung sĩ Nguyễn Mạnh Hà.


Chúng tôi được nghỉ ba ngày để chuẩn bị. Sau ba ngày lang thang tắm biển, uống bia, nhậu rượu, giã từ bạn bè "đồng cảnh", chúng tôi vào lấy sự vụ lệnh và chứng chỉ ngưng lương để lên đường.


Cái sự vụ lệnh đã đổi lại, lạ lùng! Trên đó, Thiếu úy Hiện Dịch Vương Mộng Long làm trưởng toán, dẫn ba Trung sĩ Huỳnh Văn Nghệ, Trần Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Hà về trình diện Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục-Mỹ để hoàn tất thủ tục đáo nhậm đơn vị.


Sau này, tôi nhận được một bản thông báo của Nha Quân Pháp về Quyết Định phục hồi cấp bậc thiếu úy của tôi, trong đó có bản sao phiếu góp ý của Đại tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa, tôi mới rõ nguyên ủy sự việc.


Thì ra, khi nhận thư của tôi, Đại tá Hai đã xem xét lại hồ sơ quân bạ của tôi rồi ông cấp tốc chuyển cho Nha Quân Pháp một phiếu đề nghị. Ông viết:


"Thiếu úy Vương Mộng Long là một sĩ quan đại đội trưởng có kỷ luật. Mọi chuyện sĩ quan này làm, hoàn toàn là thi hành lệnh trên."


Ông đại tá chỉ huy trưởng binh chủng yêu cầu Hội Đồng Kỷ Luật trả lại lon thiếu úy cho tôi vì:


"Trường Võ- Bị Quốc- Gia Việt- Nam đã gắn lon này cho nó! Tướng Thi (Nguyễn Chánh Thi) không gắn lon này cho nó!"


Ngày tôi đi, Chuẩn úy Thành tiễn chân tôi tới tận phòng ngủ của Thiếu úy Ngô Văn Niếu, trong Trung-Tâm Huấn-Luyện Biệt Động Quân Dục-Mỹ.


Thiếu úy Niếu và bốn người nữa, bạn cùng Khóa 20 Võ-Bị của tôi, sau khi tốt nghiệp lớp Rừng, Núi, Sình Lầy đã tình nguyện ở lại Dục-Mỹ làm huấn luyện viên từ đầu năm 1966.


Trước lúc lên xe về lại Nha-Trang, Thành còn đưa cho tôi 500 đồng, chú nghẹn ngào,


-Suốt đời em không quên ông thầy đâu!


Tôi với Chuẩn úy Thành bịn rịn mãi mới rời tay nhau.


Tháng Mười Hai năm 1969 tôi có dịp về thăm Trung Tâm Dục-Mỹ. Tôi đã mượn xe của Trung tá Nguyễn Hữu Phú, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm, để chạy về Nha-Trang thăm chú Thành.


Bà chủ quán cơm đầu ngõ, nơi tôi và Thành ăn cơm tháng, cho tôi hay rằng, sau khi tôi đi, Chuẩn úy Thành được lệnh lên đường bổ sung quân số cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Ông Chuẩn úy đã chết trận ngoài Bồng-Sơn.


Bốn thầy trò tôi, Long, Nghệ, Sơn, Hà, sau khi trình diện Trung tá Hồ Hữu Dõng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân (thời kỳ này chiến đoàn mới cải danh thành liên đoàn) đã chia tay nhau đi các đơn vị trực thuộc liên đoàn, nhập trận.


Trung sĩ Nguyễn Mạnh Hà (Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân) đứt ruột sáng Mồng Một Tết Mậu-Thân (1968), giải ngũ. Trung sĩ Trần Văn Sơn (Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân) gãy tay trận Chư-Pa tháng Giêng năm 1969, giải ngũ.

Hình: Th/tá Vương Mộng Long và vợ - Đà-lạt 1974
 


Ngày chấm dứt chiến tranh, còn lại Thượng sĩ Huỳnh Văn Nghệ ở Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân và Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.
Tháng Mười năm 2006, mây trời Bắc-Mỹ âm u, gió hiu hiu, lá rụng đầy mặt lộ. Một người Biệt Động già, tửng tửng đi qua, đi lại, trên một đoạn đường Highway 99 Evergreen trước một cửa hàng Home Depot của thành phố Everett, Washington, USA, lòng ngậm ngùi nhớ lại chuyện đời mình, ngày xưa...

Vương Mộng Long-k20
Seattle, ngày 07 tháng 10 năm 2006

Ý kiến cho bài đọc xin nhấn vào đây => (Tháng Mười Nhớ Lại)

Rate this item
(0 votes)