>

Login to your account

Username *
Password *
Remember Me

Cải Tạo Nửa Mùa - Vượt Biên Tài Tử - Nguyễn Hữu Thiện

CẢI TẠO NỬA MÙA - VƯỢT BIÊN TÀI TỬ



Hồi ký
NGUYỄN HỮU THIỆN




LỜI NÓI ĐẦU:

Sau khi cùng gia đình vượt biển thành công rồi được định cư tại Úc-đại-lợi năm 1982, cho tới nay, đôi khi ban đêm tôi vẫn còn những giấc mơ về ngày 30 tháng Tư 1975, về thời gian ở tù cải tạo, về chuyến vượt biển tìm tự do. Sau này tìm hiểu, tôi được biết những cơn ác mộng này là hậu quả tâm sinh lý chung mà rất nhiều người đồng cảnh ngộ với tôi mắc phải.


Với không ít cựu sĩ quan QLVNCH ở lại, hoặc bị kẹt lại sau ngày mất nước, nhắc tới ngày 30 tháng Tư 1975 là khơi lại tủi nhục đắng cay, nhắc tới hai chữ “cải tạo” là nhớ lại dĩ vãng kinh hoàng, nhắc tới chuyến vượt biển năm xưa là rùng mình ớn lạnh. Tôi là một trong số ấy.


Nhưng rồi càng thêm tuổi, tôi càng vơi bớt hận thù, như thể cho tâm hồn được thanh thản trước khi đáp “chuyến tàu hoàng hôn”... Viết một cách chính xác, tôi vẫn căm ghét chế độ CSVN, vẫn giữ lời thề không đặt chân trở lại một khi quê hương còn bóng cờ đỏ, nhưng với những con người đã đày đọa, hành hạ mình trước kia, tôi cho rằng họ chỉ là những người sinh ra dưới một ngôi sao xấu – ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ. Một khi thân xác tôi không bị nằm lại ở trại cải tạo, không bị chôn vùi dưới lòng đại dương, tôi vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những con người ấy.

Bên cạnh đó, tôi không bị đưa ra miền Bắc, không phải sống ở những trại cải tạo khủng khiếp nhất trong Nam (trừ mấy tháng ở Phú Quốc), không dám trốn trại..., vì thế thiên hồi ký của tôi sẽ không phải một bản cáo trạng về tội ác của chế độ CSVN, không phải một thiên anh hùng ca về những tấm gương can trường, bất khuất, cũng sẽ không có những tình tiết ly kỳ, rùng rợn, mà chỉ là chuyện kể - chuyện buồn cũng như chuyện vui (thật vậy, trong tù cộng sản vẫn có thể có “chuyện vui”), chuyện vượt biển giỡn mặt tử thần - không ngoài mục đích chia sẻ với anh em Không Quân, bằng hữu và độc giả một quãng đời đã qua, cách riêng những ơn lành Thượng Đế thương ban cho một “đứa con hoang đàng” sám hối vào giờ thứ 25.

Tất cả mọi nhân vật, tình tiết trong thiên hồi ký này đều có thật; riêng những mốc điểm thời gian có thể chỉ chính xác tương đối, và tên tuổi các nhân vật đôi khi sẽ được viết tắt, hoặc dấu kín vì những nguyên nhân tế nhị.


* * *

PHẦN I: Nhất Nhật Tại Tù


CHƯƠNG 1 - Thành Ông Năm

Gần trưa ngày 29 tháng Tư năm 1975, sau khi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cho lệnh di tản, cùng với những anh em Không Quân còn kẹt lại ở Biên Hòa sau khi đốt phi trường vào chiều ngày 28/4, tôi chạy về Sài Gòn, nơi tôi đã đưa vợ con về từ một tuần lễ trước để tránh pháo kích, tá túc nhà bà ngoại ở đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận.

Mấy ngày sau, Ủy Ban Quân Quản thành Hồ ra lệnh trình diện đăng ký, tôi và người cậu út, một Đại úy An Ninh Quân Đội, rủ nhau tới địa điểm đăng ký ở giáo xứ Bùi Phát, thấy tay ký giấy chứng nhận đăng ký là một gã “30 tháng Tư” – em trai một ông dân biểu VNCH (ông này trước kia hỏi người dì Út của tôi vốn là một hoa khôi Trưng Vương nhưng bị từ chối) – tôi và ông cậu nhìn cái bản mặt dễ ghét và cung cách ta đây của hắn, chán nản bỏ đi; sau đó tới đăng ký tại một ngôi biệt thự lớn ở đường Huỳnh Quang Tiên, nghe nói nguyên là của “Cậu Mười”, em trai bà Thủ tướng Trần Thiện Khiêm.

Nguyên nhân tôi ở lại VN kể ra thì dài dòng, nhưng tóm lại cũng do số mệnh.

Cả tuần lễ trước ngày 30 tháng Tư, nhiều gia đình trong họ ngoại của tôi đã bồng bế nhau ra Phước Tỉnh, nơi có nhiều bà con và vị linh mục chánh xứ là một người trong thân tộc. Khi mẹ tôi đem việc này ra bàn thì bị tôi gạt ngay, bởi tôi không muốn... bỏ chạy!

Chẳng phải vì bản thân là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị nên tôi yêu nước, chống cộng hơn người khác, mà chỉ đơn thuần vì khi ấy tôi không tin mình sẽ mất trọn miền Nam mà ít ra cũng giữ được Vùng 4. Tôi muốn ở lại để cùng mọi người tử thủ!

Thêm vào đó, mẹ tôi cũng hơi dùng dằng vì có ý chờ tin tức về một thằng em của tôi phục vu tại Tiểu Khu Pleiku, mất tích trong cuộc di tản bằng liên tỉnh lộ 7, nên cuối cùng cả gia đình tôi không ai đi.

Một ngày sau khi ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, một người cậu, một người dượng của tôi, cả hai đều mang cấp bậc Trung tá phục vụ tại cơ sở đầu não, sau khi bị Mỹ “bỏ rơi” (đúng ra là một số địa điểm đáp của trực thăng Mỹ đêm 29/4 bị hủy bỏ vào phút chót), sử dụng xe hơi (dân sự) đi ra Phước Tỉnh, sau đó cùng gia đình, họ hàng vượt thoát bằng ghe đánh cá ra tàu Mỹ, lúc đó một số vẫn còn chờ bên ngoài hải phận quốc tế.

Hai ông có rủ gia đình tôi đi theo, nhưng phần vì đầu óc tôi còn đang bị sốc nặng trước việc Sài Gòn thất thủ, phần vì vợ tôi thương tội bà mẹ già đơn chiếc, chúng tôi đã không có được một quyết định sáng suốt!

Nhưng xét cho cùng, không phải chỉ mình tôi mà trong đám bạn thân trong Không Quân cũng có ít nhất ba thằng chẳng thiết tha gì tới việc bỏ nước ra đi.

Người thứ nhất là nhà thơ Ngọc Tự, tức Trung úy Trần Ngọc Tự, Thư ký tòa soạn đặc san Lý Tưởng của Bộ Tư Lệnh Không Quân. Tự với tôi là bạn thân từ nhỏ, ở cùng xóm, cùng học trường Luật, cùng đi Khóa 3/69 Thủ Đức, cùng tình nguyện về ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân.

Trần Ngọc Tự (sau khi đi cải tạo 6 năm) cũng là một trong những văn nghệ sĩ bị chế độ CSVN bắt giam và đưa ra tòa trong vụ án mà báo Công An thành Hồ gọi là “Những những tên biệt kích cầm bút”, gồm Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Khuất Duy Trác (ca sĩ Duy Trác), và Trần Ngọc Tự.

Kế đến là Nguyễn KD, Trung úy Quân Cảnh SĐ3KQ, cũng xuất thân Khóa 3/69 Thủ Đức; tay bạn từng một thời cùng tôi vi vút ở xứ Bưởi. Hắn có vợ làm trong cơ quan DAO (thuộc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ) nhưng quyết định ở lại.

Sau cùng là nhà thơ Phan Lạc Giang Đông, Trung úy Trưởng Ban Giáo Dục Chính Trị BTL/KQ. Đông sinh năm 1940, khá lớn tuổi hơn tôi và Trần Ngọc Tự, tốt nghiệp cử nhân Sử Địa tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từng phục vụ tại tòa soạn Lý Tưởng BTL/KQ với cấp bậc Hạ sĩ I trước khi theo học Khóa 6/69 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

Nguyên nhân trước kia Phan Lạc Giang Đông không được theo học khóa sĩ quan là vì hắn là em trai của Đại úy Biệt Động Quân Phan Lạc Tuyên, người tham gia cuộc đảo chính hụt năm 1960 cùng với Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, sau đó chạy sang Căm-bốt rồi theo cộng sản. (Chú thích 1)

Tôi thân với Phan Lạc Giang Đông vì trong thời gian học khóa 8 Sĩ Quan Căn Bản Chiến Tranh Chính Trị tại Đại Học CTCT Đà Lạt năm 1970, hai thằng thường cùng nhau “trốn học”, dung dăng dung dẻ ngoài phố với hai người đẹp vốn là hai cô bạn thân; và sau này khi tôi thuyên chuyển từ Pleiku về Biên Hòa, Đông rủ tôi cùng ghi danh Ban Báo Chí ở Đại Học Vạn Hạnh.


Phan Lạc Giang Đông (bên trái) và người viết, Đà Lạt, 1970


Nhưng tới khi Ủy Ban Quân Quản thành Hồ ra lệnh trình diện “học tập cải tạo” tại nhiều địa điểm khác nhau tùy theo địa chỉ cư trú, chỉ có tôi và Trần Ngọc Tự trình diện tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.

Sở dĩ ở đây tôi nhắc tới Trần Ngọc Tự, Nguyễn KD và Phan Lạc Giang Đông là vì cả ba sẽ tái xuất hiện trong thiên hồi ký này.


* * *


Đám cán bộ cộng sản làm thủ tục trình diện học tập tại Đại Học Văn Khoa là người của Ủy Ban Quân Quản thành Hồ, đa số là dân Nam kỳ, tuy tay nào cũng mặt lạnh như tiền nhưng ăn nói khá lịch sự khiến chúng tôi cũng hơi yên tâm. Nhưng khi màn đêm buông xuống, một đoàn xe mololova tới nơi với đám nón cối nói đặc giọng Bắc 75, khẩu AK lăm lăm trên tay, chúng tôi được lệnh leo lên, cấm nói chuyện, vải bạt được phủ xuống, cột kín lại thành xe bít bùng, thì sự yên tâm ấy đã nhường chỗ cho nỗi lo sợ.

Đoàn xe chạy vòng vòng, quẹo tới quẹo lui, cốt để chúng tôi không thể đoán biết mình bị đưa đi đâu, cuối cùng, gần sáng mới tới một doanh trại ở Hóc Môn, nguyên là cơ sở của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo, QLVNCH.

Sau vài ngày sống chen chúc ở khu vực trước kia là các cơ sở thuộc Bộ chỉ huy Liên Đoàn, làm tạp dịch linh tinh, chúng tôi được lệnh xếp hàng một đi bộ tới khu vực trước kia là khu gia binh. Trên đường đi chúng tôi thấy khu nào cũng có người mặc quần áo dân sự lố nhố bên trong, sau này mới biết đây những sĩ quan cấp Đại úy trở lên, bị gọi trình diện học tập trước cấp Trung úy, Thiếu úy.

Tôi và Trần Ngọc Tự luôn luôn “nắm áo” nhau, như chúng tôi đã làm trước kia khi từ TTHL Quang Trung lên Trường Bộ Binh Thủ Đức, và được ở cùng trung đội, thằng nằm giường trên thằng nằm giường dưới. Tới khu gia binh, theo lệnh của đám cán bộ, cứ 10 người vào một gian nhà, và trở thành một “tổ”, nhiều tổ thành một “đội”.


* * *


Nhờ bị gọi trình diện học tập sau cấp Tá và Đại úy, khi chúng tôi tới nơi thì đã có sẵn nhà bếp, giếng nước, cầu tiêu... do các đàn anh để lại.

Sau khi đã “an cư”, qua ngày hôm sau chúng tôi bị lùa ra sân, ngồi dưới đất để nghe viên thủ trưởng Đoàn 775 (đơn vị coi tù cải tạo ở Thành Ông Năm) chính thức công bố “chính sách 12 điểm đối với ngụy quân ngụy quyền” của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, theo đó chúng tôi “được cách mạng khoan hồng tha tội chết” đưa vào đây “học tập cải tạo để trở thành người công dân lương thiện, khi nào tiến bộ sẽ được về xum họp với gia đình, góp phần xây dựng đất nước”.

Khi nghe viên thủ trưởng tuyên bố từ nay chúng tôi được gọi là các “cải tạo viên”, sự nghi ngờ của tôi lúc bị đưa lên xe molotova bít bùng càng có thêm sức thuyết phục: thời gian “học tập cải tạo” chắc chắc sẽ không chỉ có 10 ngày, và rồi đây chúng tôi sẽ bị đưa đi lao động khổ sai ở một nơi nào đó chứ không “nghỉ mát” dài dài ở khu gia binh chật hẹp này!

Những gì xảy ra sau này cho thấy tôi đoán không sai: Thành Ông Năm chỉ là nơi nhốt tạm khoảng 5.000 “cải tạo viên”, sau đó phần lớn sẽ được phân loại để đưa tới các trại cải tạo đúng nghĩa, trong thời gian ở các trại này có thể sẽ bị thanh lọc thêm một, hai, hoặc ba lần nữa để bị đưa ra miền Bắc, hoặc những trại hắc ám nhất ở trong Nam. (Chú thích 2)


* * *


Tuy nhiên, trong thời gian một, hai tháng đầu ở Thành Ông Năm, đa số anh em tù cải tạo đã không đến nỗi bi quan như tôi, bởi vì chỉ ít lâu sau khi đám Trung úy, Thiếu úy chúng tôi tới nơi, ban chỉ huy trại đã bắt đầu tổ chức các buổi học tập chính trị, cho nên không ít anh em đã tin vào lời hứa “khi nào học tập tiến bộ các anh sẽ được trở về xum họp với gia đình”, từ đó suy ra sau khi hoàn tất chương trình học tập chính trị, nếu “tiến bộ” sẽ được thả về để “góp phần xây dựng đất nước”!

Chương trình học tập chính trị gồm 10 bài, tập trung vào ba đề tài chính: Tội ác Mỹ - Ngụy, Đảng CSVN có công giành độc lập cho đất nước, và Chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. (Giờ này tôi chỉ còn nhớ tựa đề một bài duy nhất: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù số 1 của nhân dân ta”).


(Ảnh minh hoạ)


Sau mỗi bài học ở hội trường, về nhà, cải tạo viên phải viết “bài thu hoạch”, đọc lên trong các buổi thu hoạch của tổ dưới sự chủ trì của một tay quản giáo (cán bộ coi tù); sau đó nộp lên “khung” (ban chỉ huy trại) để được... chấm điểm, hay ít ra đó cũng là tin tưởng của một số anh em.

Sau 10 bài học chính trị tới mục quan trọng nhất trong “quá trình học tập cải tạo”, mà theo lời viên quản giáo, qua đó cải tạo viên sẽ được đánh giá là đã tiến bộ hay chưa tiến bộ, đó là việc kê khai tội lỗi đối với “cách mạng” và tự phê phán bản thân!

Cũng xin viết thêm, trước đó ngay sau khi “an cư”, chúng tôi đã bị bắt viết bản tự khai lý lịch mà họ gọi là “lý lịch trích ngang”, trong đó kê khai tên tuổi (và bí danh nếu có), ngày sinh tháng đẻ, tên cha tên mẹ, quân trường xuất thân, các khóa học, thăng thưởng, cấp bậc, các chức vụ đã đảm trách từ ngày gia nhập quân đội, tên tuổi (và tông tích) các cấp chỉ huy cũ, v.v... Giờ đây chúng tôi sẽ phải viết bản tự khai một cách chi tiết về quá trình hoạt động, sau đó tự kiểm điểm để lên án bản thân.

Trước hết nói về “quá trình hoạt động”, như một nguyên tắc khai thác trong ngành điều tra nói chung, việc bắt đối tượng khai đi khai lại có hai mục đích: (1) đối chiếu để tìm ra những mâu thuẫn và (2) khủng bố tinh thần; vì thế hầu hết các tờ khai lần thứ nhất của chúng tôi không cần biết khai ít hay khai nhiều, dài hay ngắn cũng đều bị viên quản giáo đánh giá là “chưa đạt yêu cầu”, “chưa chịu thành thật khai báo”. Mà chưa thành thật khai báo thì còn khuya mới được xem là “tiến bộ”. Vì thế không ít anh em sau khi bị quản giáo phê bình trong các buổi thu hoạch, đã tự giác “thành thật khai báo”, thậm chí có người còn tự thổi phồng tầm quan trọng của chức vụ mình nắm giữ, bịa đặt thành tích để chứng tỏ sự “thành khẩn” của bản thân với hy vọng sẽ được thả sớm, hoặc chỉ đơn thuần để viên quản giáo cho mình hai chữ bình yên.

Kế đến là phần tự kiểm điểm, tức “nhận tội”, thì anh em bên tác chiến đỡ mệt óc hơn đám lính văn phòng chúng tôi, bởi vì trong khi những anh em đó có thể khai ra “tội ác cụ thể” (tham dự trận đánh nào, giết được bao nhiêu “chiến sĩ cách mạng”...) thì đám văn phòng chúng tôi suy nghĩ nát óc cũng không thể tìm ra “tội ác” của bản thân để mà nhận!

Rồi vì bị bắt viết đi viết lại nhiều lần, không ít anh em văn phòng hoặc các đơn vị không tác chiến đã phải “xạo”, tức là bịa ra những thành tích tưởng tượng, nhiều khi vô lý tới mức tức cười, và khi được rổn rảng đọc lên trong các buổi tự kiểm điểm, vô hình trung đã trở thành một thú giải trí cho mọi người – trừ viên quản giáo!

Riêng tôi, một Trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị, sau hai lần bị bắt viết lại, quá mệt mỏi bèn... tới luôn: dựa theo những cáo buộc của các giáo viên mỗi khi lên lớp (đối với các sĩ quan ngành CTCT nói chung), tôi đã đúc kết thành một bản nhận tội vô cùng “chất lượng”, sử dụng tối đa “từ cách mạng”, dài gần 20 trang giấy viết tay; kết quả đã được viên quản giáo đánh giá “mức độ thành khẩn, tinh thần tự giác cao”!

Không phải tôi liều lĩnh, không nghĩ tới hậu quả một khi bản kiểm điểm nhận tội của mình sau này sẽ bị đem ra làm bằng chứng buộc tội, mà tôi đoán chắc tới 99% những bản kiểm điểm này sẽ không bao giờ được đưa về trung ương, bởi việc khai thác, đánh giá hàng trăm nghìn bản tự khai lý lịch và tự kiểm điểm của tù cải tạo là bất khả thi.

Tôi đã đoán không sai: sau này, tới một trại cải tạo khác, những anh em bị bắt làm công tác dọn dẹp trên “khung” (ban chỉ huy trại) cho biết đã thấy những bản thu hoạch, tự khai của tù cải tạo được bộ đội lấy để nhóm bếp, hoặc tệ hại hơn, đi cầu!

* * *


Sau khi 10 bài học chính trị kết thúc vào khoảng đầu tháng 10/1975, tinh thần của anh em tù cải tạo ngày càng căng thẳng. Thứ nhất, như đã viết ở phần trên, căng thẳng vì phải viết các bản tự khai và bị phê bình kiểm điểm liên tục qua các buổi “thu hoạch”; thứ hai, căng thẳng vì lo âu, mong ngóng ngày được thả về.

Tôi không bi quan, cũng chẳng đánh giá thấp tinh thần của anh em bạn tù, nhưng sự thật đáng buồn là sau khi miền Nam lọt vào tay cộng sản, đa số những sĩ quan QLVNCH bị kẹt lại, hoặc chấp nhận ở lại, đều mang một tâm trạng bi quan cùng cực, ai cũng muốn quên đi cuộc thảm bại của quân dân miền Nam; vì thế khi đi trình diện học tập, họ chỉ mong sớm được “cách mạng khoan hồng” thả về xum họp với gia đình để sống nốt phần đời còn lại.

Vì thế, sau khi học xong 10 bài học chính trị và hoàn tất việc tự kiểm điểm nhận tội của bản thân, họ mong ngóng từng ngày, tự trấn an, cố hy vọng trước những diễn tiến không đâu: một chiếc “ô-tô con” (tương tự xe Jeep) chở các cán bộ đeo xà-cột (sac-de-côte) tới trại, việc được chụp hình, được phát bộ quần áo tù mới tinh, việc trang trí hội trường..., đều được một số anh em suy diễn là để chuẩn bị làm lễ... mãn khóa, cấp giấy chứng nhận đã học tập tốt, về xum họp với gia đình!

Nhưng khi mỗi khi đêm về, nằm nghe những tiếng thở dài, trằn trọc của anh em, tôi biết cả đến những người tỏ ra lạc quan nhất, cũng đều tự dối lòng.

Bên cạnh đa số bi quan, thụ động ấy, cũng có một số nhỏ không chấp nhận buông xuôi cho số phận, đã tính tới việc trốn trại.

Riêng tôi được mấy anh em thân thiết (cùng ngành CTCT) giới thiệu với một nhóm đang nghiên cứu kế hoạch trốn trại, gồm mấy tay tác chiến “thứ dữ” và hai tay Chiến Tranh Chính Trị ở hai khu khác nhau.

Nguyên ở trại cải tạo Thành Ông Năm, tùy theo vị trí các khu nhốt tù, có những khu chỉ bị phân cách với nhau bằng một hàng rào kẽm gai khá sơ sài, người từ khu này có thể nói chuyện thoải mái với người khu kế bên, thậm chí lén lút leo rào sang “quan hệ”.

Có lần Trần Ngọc Tự được tin nhắn đã leo rào sang khu Thiếu tá gặp anh Võ Văn Thi, nguyên Trưởng Khối CTCT Căn Cứ Không Quân Phù Cát, được đàn anh dúi cho hai gói thuốc Bastos De Luxe (anh Thi sau này vượt biên, định cư ở Úc, qua đời vì bạo bệnh cách đây hơn 5 năm).

Khi biết được ý định của số anh em nói trên, dù tham gia hay không, chúng tôi cũng âm thầm cùng nhau điều nghiên địa hình địa vật và đường đi nước bước của đám bộ đội để có thể ước đoán mức độ hy vọng thành công một khi anh em quyết định trốn.

Về địa hình địa vật, trại cải tạo Thành Ông Năm, nguyên là doanh trại của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo trước 1975, có hệ thống hàng rào phòng thủ ra sao, chúng tôi không biết đích xác, bởi chung quanh trại phía bên trong hàng rào là một bờ đê cao khoảng 2m, sử dụng làm tuyến phòng thủ sau cùng khi hữu sự (thời VNCH), tù cải tạo không được phép leo lên. Ngồi trên cầu tiêu cách hàng rào khoảng 50m chỉ nhìn thấy lố nhố những hàng cọc sắt chăng dây kẽm gai và các vọng gác cách nhau độ khoảng 150-200m.

Theo một bạn tù nguyên là sĩ quan công binh hiểu biết về nguyên tắc đặt mìn, một doanh trại ở hậu phương như Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo thường không gài mìn ở hàng rào.

Về hoạt động của đám bộ đội, ban đêm, ngoài các toán tuần tiễu đi lại trong trại, không có các toán tuần tiễu bên trong hàng rào (dọc bờ đê), chỉ có lính canh trên các vọng gác, và phía bên ngoài hàng rào thì cứ mỗi 2 tiếng đồng hồ lại có một toán tuần tiễu; chúng tôi biết được chi tiết này nhờ theo dõi tiếng chó sủa.

Như vậy, với những anh em tác chiến chuyên nghiệp thì chuyện vượt rào trốn ra khỏi Thành Ông Năm cũng không đến nỗi khó khăn, vấn đề còn lại phải đặt ra là: trốn trại rồi đi đâu?

Chỉ có hai con đường: vào rừng gia nhập các lực lượng của “phe ta” đang tiếp tục chiến đấu, hoặc trốn về quê giả dạng thường dân để... chờ thời.

Trước hết nói về các lực lượng của “phe ta” thì sau ngày 30/4/75, tôi được nghe đồn khá nhiều nhưng không có cơ hội, phương tiện kiểm chứng. Mãi tới cuối tháng 6/1975, tôi mới được một người em họ về làm ruộng ở vùng Hố Nai (Biên Hòa) cho biết có một số quân nhân VNCH thuộc nhiều quân binh chủng khác nhau không chịu đầu hàng, rút vào các mật khu cũ của Việt Cộng ở vùng Sông Buông, Sông Mây (tiếp giáp Chiến Khu D), thỉnh thoảng cho người ra tiếp xúc với dân ở “đồng ruộng”.

[Theo cách gọi của người dân ở vùng Hố Nai, “đồng ruộng” là vùng đất thấp nằm sâu phía bên trái Quốc Lộ 1 (hướng Sài Gòn - Hà Nội), vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm là khu vực canh tác của những người làm ruộng từ Hố Nai đi vào. Sau cuộc đảo chánh tháng 11/1963, ấp chiến lược bị đám tướng lãnh đảo chánh dẹp bỏ, VC công khai hoạt động, “đồng ruộng” bị bỏ hoang cho tới sau 30/4/1975]

Được tin này, tôi về Hố Nai theo người em họ vào “đồng ruộng”, sống trong cái chòi ven sông để chờ đợi. Vì chỉ tò mò muốn tìm hiểu hư thực chứ không có ý định gia nhập, sau mấy ngày không thấy động tĩnh gì, tôi bỏ về.

Còn giải pháp trốn về quê giả dạng thường dân thì tôi thấy không ổn. Trốn về Phước Tỉnh thì họ hàng đã bỏ đi gần hết, không biết nương tựa ai, trước sau cũng sẽ bị lộ. Trốn về Cái Sắn (Rạch Giá) thì không có can đảm... làm ruộng, chẳng lẽ cứ ăn bám anh em chú bác mãi!

Thành thử, suốt thời gian ở Thành Ông Năm, tôi hoàn toàn không có ý định trốn trại.


* * *


Đúng vào khoảng thời gian này, tôi bị bệnh nặng, từ bụng trở xuống sưng phù, lở lói, gần như nằm liệt tại chỗ. Tay bác sĩ quân y ở cùng đội phán rằng nếu trước đây tôi từng bị phong tình hoa liễu thì nay bệnh tái phát, trường hợp không phải thì rất có thể tôi bị sơ gan do trước kia uống rượu nhiều quá.

Không có bất cứ thứ thuốc tây nào để chữa trị, anh em bắt tôi ăn rau đắng, trông giống như rau ôm, mọc đầy dưới các đường mương trong khu gia binh, có người còn đào hà thủ ô (ở Thành Ông Năm rất hiếm) nấu cho tôi uống cả thân lẫn lá, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm mà ngày càng nặng. Cuối cùng viên quản giáo của đội có lẽ sợ trách nhiệm nên cho hai bạn tù cải tạo khiêng tôi (nằm trên võng) theo anh ta tới bệnh xá.

Giờ này tôi kể lại rất có thể nhiều anh em cựu tù cải tạo không tin, nhưng tôi vẫn phải thành thật và khách quan mà viết rằng: bệnh xá ở Thành Ông Năm là số một!

Số một vì có nhiều loại thuốc tây và có cả một... người đẹp!

Về thuốc tây, họ có khá nhiều loại. Riêng tôi chẳng hiểu tay “y sĩ” Bắc Kỳ cho uống thuốc gì mà mấy ngày sau đã có thể đi lại, từ đó mỗi buổi sáng phải đi lên phòng khám bệnh để y sĩ khám và phát thuốc (gọi là “y sĩ” cho oai chứ tôi nghĩ trình độ chỉ cỡ y tá thời VNCH).

Còn “người đẹp” ở đây là “chị Thùy”, một cô y sĩ Nam Kỳ 100%.

Điều khó hiểu là Đoàn 775 là một đơn vị Cộng Sản Bắc Việt, từ thủ trưởng xuống tới chính trị viên, quản giáo, hậu cần, vệ binh, đều là Bắc Kỳ răng mã tấu nhưng trong số ba y sĩ của bệnh xá lại có một cô em Nam Kỳ. Vì thế tôi chỉ có thể đoán mò có một đơn vị y tế biệt lập nào đó ở địa phương đã bị giải thể, lấy phương tiện và thuốc men đưa vào bệnh xá Thành Ông Năm để phục vụ Đoàn 775 (đơn vị coi tù cải tạo), cho nên họ mới có nhiều thuốc men và một cô em Nam Kỳ!

Chúng tôi không được biết cô em là du kích “18 thôn vườn trầu” (căn cứ địa khét tiếng ở Hóc Môn) hay chỉ là một nhân viên y tế dân sự thời VNCH nay được đưa tới phục vụ tại bệnh xá Thành Ông Năm, chỉ biết cô không bao giờ mặc đồ bộ đội mà cũng chẳng quấn khăn rằn, chỉ mặc quần đen áo bà ba, và được mọi người ở cả hai phía chiến tuyến gọi là “chị Thùy”.

Cô khoảng độ tuổi trên dưới 25, cao ráo, thân hình khá hấp dẫn, nhan sắc trên trung bình, với mái tóc thề dài gần tới eo.

Đã đẹp người lại còn... đẹp nết. Mỗi buổi sáng khi tới bệnh xá, việc đầu tiên của cô là hái một bông hoa ở vườn hoa giữa sân (một loài hoa nho nhỏ 5 cánh màu tím hoa cà, tôi chẳng biết gọi hoa gì) cài lên mái tóc, khiến tôi chợt nhớ tới ca khúc “Hoa cài mái tóc” rất ăn khách trước năm 1975!

Sau đó cô mới tươi cười vui vẻ bước vào phòng khám bệnh, phát thuốc. Dĩ nhiên, nón cối vào trước, tù cải tạo vào sau.

Phòng khám bệnh, phát thuốc nằm chung một gian nhà với phòng mổ, được phân cách bởi một tấm màn (vải mùng) mỏng, dài không chấm đất, có tấm biển các-tông ghi hai chữ “PHÒNG MỔ”. Chính tại phòng mổ “hiện đại” này, sau đó không lâu một vị Đại úy trốn trại bị bắn trọng thương đã được mổ “sống”, nghĩa là không có thuốc mê, thuốc tê gì cả!

Khi khám bệnh và phát thuốc, “chị Thùy” không hề có sự phân biệt đối xử giữa nón cối và cải tạo; riêng tôi và vài anh em cải tạo còn được cô ưu ái... nựng!

Đầu đuôi như thế này: tôi và mấy anh em đó được chích trụ sinh, dẫu chỉ là penicillin của Trung Cộng đã hết hạn mấy năm, cũng là chuyện khó tin trong trại cải tạo. Sau khi khám bệnh phát thuốc xong, cô mới bắt đầu chích.

Những ai từng bị chích penicillin hẳn phải biết cái đau thấu trời khi thuốc được bơm vào mông hoặc cánh tay. Dĩ nhiên, chúng tôi được chích trên cánh tay, vừa bơm thuốc cô vừa lấy một “ngón tay thiên thần” gãi gãi vào cánh tay (gần chỗ kim chích) của bệnh nhân với mục đích cho đương sự quên đau.

Vì thế, ngày nào tới phiên một trong hai tay y sĩ Bắc Kỳ răng mã tấu lên ca trực thì chúng tôi (những người được chích penicillin) cứ như đang ở trên thiên đàng rơi xuống địa ngục!

Sau hơn một tuần ở bệnh xá với 4, 5 mũi penicillin, tôi đã gần bình phục nhưng vẫn làm bộ còn yếu đuối, đi đứng khó khăn chậm chạp cốt để kéo dài thời gian “nghỉ mát” ở bệnh xá. Bên cạnh đó, anh em bệnh nhân cải tạo ai cũng muốn tôi ở lại để kể chuyện tiếu lâm cho họ nghe, trong số này có một người tôi không bao giờ có thể quên: Thiếu tá Xuyến, người thích nghe tôi kể chuyện nhất, ít ra cũng là vào thời gian đầu.

Trong số ba bốn anh em tù cải tạo bị bệnh suyễn phải nằm bệnh xá, anh Xuyến bị nặng nhất; ngặt một nỗi bệnh xá Thành Ông Năm tuy có nhiều loại thuốc tây nhưng lại không có một thứ thuốc gì để trị bệnh suyễn.

Mỗi khi tôi kể chuyện tiếu lâm, khi mọi người cười bò thì anh Xuyến vừa cười được một chút đã lên cơn suyễn nặng. Về sau, cứ mỗi khi tôi chuẩn bị kể chuyện, anh Xuyến vừa đứng dậy khỏi cái võng vừa nói:

- Ê mày, để tao qua phòng bên rồi hãy kể!

Sau này gặp lại một bạn tù cũ từng ở bệnh xá Thành Ông Năm, tôi được biết khoảng hai tháng sau khi tôi trở về đội, anh Xuyến đã qua đời tại bệnh xá khi lên cơn suyễn nặng, chỉ vài ngày trước khi gói quà đầu tiên của gia đình, trong đó chắc hẳn phải có thuốc suyễn, gửi tới nơi.


* * *


Thời gian ở bệnh xá còn giúp tôi cơ hội tìm hiểu về tình hình và đường đi nước bước trong trại qua dò hỏi anh em ở các khu khác, đồng thời quan sát tận mắt hệ thống hàng rào phòng thủ của Thành Ông Năm, mà ngày ở đội tôi chỉ thấy lố nhố mấy hàng cọc kẽm gai.

Nguyên vì thiếu “mặt bằng”, dãy cầu tiêu ở bệnh xá được làm phía bên ngoài bờ đê, cách hàng rào chỉ khoảng hơn chục mét. Đứng trên bờ đê tôi có thể thấy 5, 6 lớp concertina, rồi tới 4 lớp rào kẽm gai chằng chịt, và sau cùng là hào chống chiến xa sâu 3, 4 mét.

Tôi không tin các bạn tù của tôi đang có ý định trốn trại có thể thoát ra khỏi hàng rào này, bởi vì trong khi concertina có thể bằng cách này cách khác nâng lên để chui ra, thì những lớp kẽm gai chằng chịt ấy chỉ có thể giải quyết bằng một cái kìm cắt kẽm gai, nhưng tìm đâu ra?!

Cũng đứng trên bờ đê này, tôi đã được nhìn thấy “thế giới tự do”: những ngôi nhà dân thấp thoáng sau vườn cây trái cách hàng rào độ khoảng 100m, cái nghĩa địa hoang vắng nằm chếch về hướng bắc, con đường mòn quanh co, và đáng nói hơn cả là... các bà vợ “Ngụy” đi tìm chồng!

Số là chỉ vài tháng sau khi các đấng phu quân bị bắt đi học tập cải tạo, không hiểu do tin tức từ đâu, các bà vợ sĩ quan ở Sài Gòn được biết và thông báo cho nhau (một cách thiếu chính xác) rằng hầu hết sĩ quan của chế độ cũ hiện bị giam giữ ở Thành Ông Năm. Thế là nhiều bà đã rủ nhau đi... thăm chồng.

[Về sau, tôi được biết trong số đó có cả vợ tôi, cùng đi với cô em gái của Trần Ngọc Tự, nhưng ngày ấy nàng tới một khu khác chứ không phải bệnh xá, cho nên “Ngưu Lang - Chức Nữ” đã không được nhìn thấy nhau]

Theo sự chỉ dẫn của dân chúng địa phương, từ quốc lộ, các bà vợ sĩ quan theo con đường mòn đi bộ vào, tụ tập dưới các bóng cây gần nhà dân, đợi đông đông mới lấy... khí thế tiến tới gần hàng rào.

Nhìn thấy chúng tôi đứng lố nhố trên bờ đê, các bà biết ngay là sĩ quan “Ngụy” nên tranh nhau hỏi, đại khái: “Chồng tôi Đại úy Nguyễn Văn A Nhảy dù..., Thiếu tá Trần Văn B Thiết giáp... Trung úy Lê Văn C pi-lốt trực thăng... có trong này không các anh?”

Phía ngoài hàng rào là những người vợ lặn lội đi tìm chồng, phía trong là những gã tù cải tạo nhớ vợ thương con, tuy không xảy ra một cuộc “hạnh ngộ” nào, cũng đem lại chút ấm lòng cho cả hai phía, cho dù bối cảnh không gian cũng chẳng lấy gì làm đẹp đẽ thơ mộng: dãy cầu tiêu lộ thiên do các “đỉnh cao trí tuệ loài người” thiết kế với những thùng “phân Bắc” nồng nặc mùi xú uế!

Lần nào cùng thế, cứ khoảng 15 phút sau thì có đám vệ binh AK lăm lăm trên tay tới xua đuổi các bà vợ, nhưng các bà chỉ “lui binh” chứ không bỏ cuộc: rút vào các bóng mát dưới gốc cây gần nhà dân, đợi đám vệ binh đi khỏi, quay trở lại hàng rào, tiếp tục màn đối thoại, với những câu hỏi lo âu “Bao giờ thì được thả? Các anh có bị đói không?...” luôn luôn được đáp lại bằng những lời trấn an... giả dối “Chắc sắp được về rồi, học chính trị xong rồi...”, “Tụi tôi không đói đâu, chỉ thèm thuốc lá thôi...”

Trước khi bỏ ra về, một vài bà còn cố gắng ném mấy gói quà vào phía trong, nhưng tất cả đều không vượt qua cái hào và cả chục hàng kẽm gai...


* * *


Sau ba tuần nằm bệnh xá, được “bồi dưỡng bằng tiêu chuẩn bệnh” tôi trông đã khỏe mạnh hẳn ra nên bị tay “y sĩ” (nón cối, không phải “chị Thùy”) bắt xuất viện, được viên quản giáo đội cùng với hai vệ binh trang bị AK tới bệnh xá đưa về “nguyên quán”!

Về tới nơi, tôi được anh em bu quanh như người mới xuất ngoại trở về, bởi ngoại trừ tay cải tạo được phong chức “hậu cần” có nhiệm vụ phân phối lương thực cho các “anh nuôi” (đầu bếp của đội) được đi ra khỏi khu vực, được tiếp xúc trực tiếp với đám cán bộ, đôi khi với cả dân chúng (những người cung cấp thực phẩm cho trại), tôi là người duy nhất trong đội đã có cơ hội đi cho biết đó biết đây.

Tới khi tôi kể về việc các bà vợ đi tìm chồng bên ngoài hàng rào bệnh xá, anh em cho biết ở đội nhà cũng thế, có khác chăng là cầu tiêu của đội tôi nằm bên trong bờ đê khá xa nên anh em không nhìn thấy phía bên ngoài được, chỉ nghe tiếng các bà réo gọi vào phía trong, cùng tiếng xua đuổi, nạt nộ của đám vệ binh!

Qua ngày hôm sau, tôi kín đáo tìm gặp các anh em có dự định trốn trại, mô tả một cách chi tiết về hệ thống hàng rào và hào sâu quanh trại, khuyên họ không nên hấp tấp, vội vã mà hãy kiên nhẫn chờ đợi thời cơ.

Nghe tôi trình bày, anh em chia ra hai phe, một phe vẫn muốn trốn trại càng sớm càng tốt, vì hiện nay bọn VC chưa đề phòng, kiểm soát chưa gắt gao, nếu chần chừ để chúng đưa tới những nơi khác canh phòng cẩn mật hơn, e sẽ không bao giờ còn cơ hội; một phe thì muốn chờ đợi để có thêm thì giờ tìm hiểu về đường đi nước bước bên ngoài Thành Ông Năm, thì mới có hy vọng vượt thoát tới các “chiến khu” hoặc về vùng quê sống lén lút chờ thời vận.

Sau đó, vì không thể đi tới một quyết định chung, những anh em muốn chờ đợi đã rút tên ra khỏi nhóm, chỉ còn lại ba người, tất cả đều là dân tác chiến, quyết định hành động càng sớm càng tốt.

Nhưng giờ H của các anh em ấy đã không bao giờ tới. Bởi chỉ mấy ngày sau, khoảng giữa hay cuối tháng 10/1975, có hai tù cải tạo ở khu Đại úy chui rào trốn trại nhưng không thoát, một người bị bắn chết, một người bị bắn trọng thương (và được đưa vào bệnh xá mổ sống để lấy các đầu đạn ra, như tôi đã viết ở một đoạn trên).

Súng đã nổ, máu đã đổ. Những tràng AK dòn dã giữa đêm khuya, những tiếng kẻng báo động đánh liên hồi, những tiếng chân vệ binh chạy rầm rập, những tiếng quát tháo của quản giáo tập họp điểm danh, báo cáo quân số... đồng loạt vang lên từ khắp các khu, như báo hiệu cho những tháng năm đen tối, hãi hùng trước mặt.

(Còn tiếp)


CHÚ THÍCH:

(1) Phan Lạc Tuyên (1930-2011), xuất thân từ dòng họ Phan nổi tiếng lâu đời ở Sơn Tây; năm 1951 đang học Luật ở Hà Nội thì bị động viên Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, tức là cùng khóa với các ông (Đại tá, Giáo sư) Nguyễn Xuân Vinh, (Thiếu tướng) Nguyễn Cao Kỳ...

Phan Lạc Tuyên là một nhà thơ, trong số tác phẩm của ông có bài Tình Quê Hương, được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc năm 1953, rất được yêu chuộng:

”Anh về qua xóm nhỏ. Em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc. Tình quê hương đơn sơ…”

Tháng 11/1960, Phan Lạc Tuyên, lúc đó mang cấp bậc Đại úy, giữ chức vụ Chỉ huy phó Liên Đoàn Biệt Động Quân thủ đô, tham gia cuộc đảo chính do Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Cuộc đảo chính thất bại, ba người chạy sang Căm-bốt. Tại đây, Phan Lạc Tuyên được Việt Cộng móc nối, trở về VN tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.

Năm 1967, ông bị thương ở Tây Ninh, sau đó ra miền Bắc làm việc trong Đoàn Đại Diện MTDTGPMN. Năm 1972, du học Ba Lan, lấy bằng Phó tiến sĩ Sử học (nhưng ai cũng gọi ông ta là “Tiến sĩ”).

Mấy tháng sau ngày CSBV chiếm Sài Gòn, Phan Lạc Tuyên trở lại miền Nam.

Dù là bạn thân nhưng vì những nguyên nhân tế nhị, trước cũng như sau 1975, người viết chưa bao giờ hỏi Phan Lạc Giang Đông bất cứ điều gì liên quan tới Phan Lạc Tuyên. Nay cả hai anh em đã về bên kia thế giới, người viết chỉ xin ghi lại một vài trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau về hoạt động cũng như tư cách con người của Phan Lạc Tuyên trong giai đoạn sau năm 1975.

Tạp chí Giác Ngộ (trong nước) viết:

“(Phan Lạc Tuyên) có 20 năm gắn bó với Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM qua 5 khóa học, góp phần đào tạo nên một đội ngũ đông đảo trí thức Phật giáo, trong đó có nhiều người hiện đang đảm nhận những trọng trách của Giáo hội.”

Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo (trong nước) viết:

“Học giả Phan Lạc Tuyên được Hội đồng Điều hành Trường Cao cấp Phật học TP.HCM (sau này là Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM) mời tham gia giảng dạy cho Tăng Ni hệ cử nhân trong nhiều năm... Với Phật tính sẵn có và ký ức về ngôi chùa trong tâm thức của người Việt, trong đời sống văn hoá dân tộc qua những lần theo mẹ, theo bà lên chùa, cùng những trải nghiệm về cuộc đời, Ông đã nỗ lực học Phật, đã phát nguyện quy y Tam bảo và thọ nhận năm giới của người cư sĩ.

“Cuối năm 2008, Cụ vào chùa Diệu Pháp, phường 13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long, phát nguyện đi tu, pháp danh Nguyên Tuệ, Pháp tự Quảng Đạo Nhẫn...”

Còn tờ Tuổi Trẻ viết:

“Thần tượng của cuộc đời ông là Hồ Chủ tịch. Trong các sách vở, tài liệu để lại của ông có một lá thư mời dự tang lễ Hồ Chủ tịch, mảnh băng tang đen và một bông hoa vải được Phan Lạc Tuyên rút ra từ vòng hoa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng viếng trước linh cữu Người.

“Vì có thần tượng là Bác Hồ mà Phan Lạc Tuyên đã có một cuộc lựa chọn và dấn thân mạnh mẽ như thế.

“Và rồi hôm nay, ở cái tuổi 83, ông kiên quyết vào ở hẳn trong chùa. Ngôi chùa mà ông chọn ở là chùa Diệu Pháp ở P.13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long.”

* THẮC MẮC: mọi nguồn tài liệu đều ghi Phan Lạc Tuyên sinh năm 1930, qua đời năm 2011, tức là vào tuổi 81, nhưng không hiểu do đâu các báo trong nước lại viết ông thọ 84 tuổi; còn báo Tuổi Trẻ viết năm 83 tuổi ông mới vào chùa tu?!

* * *


Tuy nhiên, theo những gì bà Thu Khanh, vợ của Phan Lạc Giang Đông kể lại sau khi ra hải ngoại thì con người Phan Lạc Tuyên rất tệ, từ miền Bắc trở về đã lên án bố (cụ đồ Phan Vọng Húc) là “phản động”, chiếm căn nhà tổ ở Tân Bình, đuổi bố về sống ở một căn nhà nhỏ ở Cống Bà Xếp; lên án toàn bộ tác phẩm của (em trai) Phan Lạc Giang Đông là phản động, ngày bố chết không về nhà thọ tang, chỉ tới chùa vào giờ phút chót để có đôi lời cám ơn “sự hiện diện của đồng chí lãnh đạo”.

Còn theo tác giả Hồ Nam thì “Chế Lan Viên quả quyết sau khi ra Bắc, Phan Lạc Tuyên trở thành tay sai của Tố Hữu trong việc theo dõi các văn nghệ sĩ miền Nam tập kết”. Sau khi trở về Nam, Phan Lạc Tuyên nhập băng với đám tu sĩ Phật Giáo thân cộng (của Thích Minh Châu), hãm hại các Thượng tọa Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ...

Cũng theo bà Thu Khanh, Phan Lạc Tuyên có ba đời vợ. Người thứ nhất là bà Đường, chết sau khi sanh con trước năm 1954. Người thứ hai là bà Nga, bị điên sau khi Phan Lạc Tuyên tham gia đảo chánh rồi bỏ trốn. Người thứ ba là bà Hồng Phấn, lấy Phan Lạc Tuyên theo sự “phân công” của Đảng sau khi ông ta ra Bắc. Sau năm 1975, bà Hồng Phấn không theo Phan Lạc Tuyên vào Nam mà ở lại miền Bắc.

Tác giả Hồ Nam còn cho biết khi đã 80 tuổi, Phan Lạc Tuyên lấy thêm một người vợ trẻ mới 32 tuổi. Việc này đã được nhiều người trong nước xác nhận.


HÌNH: "Cùng đoàn đại biểu Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam gặp Bác Hồ năm 1967 (ông Phan Lạc Tuyên đứng phía sau Bác)" – Ảnh và chú thích của báo Thanh Niên



(2) Cải tạo:

“Cải tạo” là một mỹ từ được chế độ cộng sản Bắc Việt sử dụng thay cho chữ “lao cải” của Trung Cộng, một hình thức cưỡng bách lao động mà Hà Nội rập khuôn.

Thực ra, hình thức lao động khổ sai không tuyên án đã được cộng sản áp dụng tại Liên Xô từ thời bạo chúa Stalin, với một hệ thống trại cải tạo chịu sự quản lý của một cơ quan đặc biệt có tên viết tắt là “GULAG” (dịch sang tiếng Anh là “Main Administration of Camps”).

Từ đó các trại cải tạo lao động khổ sai của Liên Xô được truyền thông tây phương gọi một cách ngắn gọn là “gulag”.

Trước năm 1975, có lẽ không ít người miền Nam đã được đọc cuốn The Gulag Archipelago (Quần đảo ngục tù) của nhà văn kiêm sử gia Nga Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008), người được trao tặng giải Nobel Văn Học năm 1970.

Chính sách lao động khổ sai của Liên Xô đã được Mao Trạch Đông sao y bản chánh sau khi chiếm trọn Hoa Lục năm 1949, gọi là “lao động cải tạo” (勞動改造) có nghĩa là “cải tạo qua lao động”, viết tắt là “lao cải” (勞改).

Theo ước tính của các sử gia quốc tế, từ năm 1950 tới năm 1976, đã có từ 10 đến 15 triệu người bị đưa vào các trại “lao cải” ở Hoa Lục, trong đó khoảng 5 triệu người đã bỏ mạng tại đây.

Tại miền Bắc VN sau năm 1954, chế độ cộng sản VN đã rập khuôn đàn anh Trung Cộng thiết lập các trại “lao cải”, nhưng có lẽ vì thấy hai chữ “lao cải” (lao động cải tạo) nghe lộ liễu quá, Hà Nội đã rút ngắn thành “cải tạo”, tuy nhiên thực chất vẫn là các trại “cải tạo qua lao động”.

 

Ý kiến cho bài đọc xin nhấn vào đây => (Cải Tạo Nửa Mùa - Vượt Biên Tài Tử)

Rate this item
(0 votes)