>

Login to your account

Username *
Password *
Remember Me

CẢI TẠO NỬA MÙA - VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 2)

Hồi ký
 
NGUYỄN HỮU THIỆN

(tiếp theo kỳ 1)


Sau khi xảy ra vụ vượt thoát không thành của hai Đại úy, bầu không khí trong trại cải tạo Thành Ông Năm trở nên ngột ngạt, khó thở hơn trước rất nhiều; phần vì những biện pháp gắt gao của ban chỉ huy trại, phần vì sự căng thẳng, lo âu tuyệt vọng nơi anh em cải tạo.

Như sau này tôi đã nghiệm ra, trong hoàn cảnh ấy buông xuôi là tự đưa mình xuống hố thẳm. Trong thời gian hơn 5 năm cải tạo, ngoài những bạn tù chết vì tai nạn, vì bệnh tật, vì bị bắn..., tôi còn chứng kiến một số anh em tự tử, và ít nhất một người chết vì kiệt lực do hậu quả của trầm cảm.

Riêng tôi, tôi không dám nghĩ rằng mình vượt qua được là nhờ bản thân sẵn có sức mạnh tinh thần hơn người, mà chỉ vì tôi may mắn tìm được niềm tin vào tôn giáo; hay viết cho chính xác hơn, tôi đã tìm lại được niềm tin ấy.

Viết là “tìm lại” bởi vì tuy sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo, từ ngày trưởng thành cho tới khi đi tù cải tạo, hầu như tôi đã quên mất mình là một “con chiên” của Chúa. Nếu tôi có đi lễ nhà thờ vào mỗi Chủ Nhật thì cũng chỉ do thói quen, hoặc bị bà ngoại, và sau này là bà vợ yêu quý bắt phải đi mà thôi...

Nguyên vào năm 1958, tôi đang học lớp Nhất (Grade 6) thì bố tôi tình nguyện lên lập tỉnh mới Phước Long (nay là Sông Bé), trước kia là vùng Bà Rá rừng thiêng nước độc, nơi người Pháp đày tù khổ sai, phục vụ tại Ty Công Chánh, đem theo cả gia đình trừ thằng trưởng nam, là tôi, ở lại Sài Gòn với bà ngoại để học hành với người cậu út cho có bạn.

Vào thời gian người dì út chưa đi lấy chồng và người cậu áp út chưa vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, thì tôi và người cậu út còn tương đối “vào khuôn vào khổ”, nhưng sau khi hai chúng tôi được “độc lập tự do” thì bà ngoại chỉ còn “hư vị”: thằng con út và thằng cháu ngoại có đi lễ Chủ Nhật hay không, đi lễ có vào nhà thờ hay đứng bên ngoài hút thuốc đấu láo, bà không thể biết.

Công tâm nhận xét thì tôi vẫn “tin đạo” chỉ không “giữ đạo”; nghĩa là tin Chúa nhưng không tuân giữ những “lề luật của Hội Thánh”.

Một trong những bằng chứng về việc tôi “tin đạo” là mỗi khi gặp hoạn nạn, hoặc lâm vào một hoàn cảnh khó khăn nào đó, tôi thường cầu cứu Đức Mẹ Maria và các vị Thánh có tiếng linh thiêng.

Cho tới nay, tôi vẫn tin rằng một tay lêu lổng như tôi mà học xong bậc trung học, một phần cũng là nhờ sự phù hộ của Thánh Mác-tin. (Chú thích 1)


* * *


Nguyên sau khi lên bậc trung học, tôi chỉ học chung với người cậu út ba năm Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ tại một trường tư thục nọ, và tới cuối năm Đệ Ngũ bị trường cảnh cáo sẽ không được cấp học bạ nếu không chịu đóng học phí hai tháng còn thiếu. Tiền bạc bố mẹ gửi về thì đã xài hết, lại không dám thú thật với bà ngoại, tôi quyết định xù đóng học phí và sang năm lên Đệ Tứ sẽ đi học trường khác.

Vì được “độc lập tự do”, không có sự hướng dẫn của người lớn, tôi nào biết phải có đủ học bạ của bốn lớp Thất, Lục, Ngũ, Tứ thì mới được trường đứng ra làm hồ sơ thi Trung Học. Hậu quả là tôi phải nộp đơn thi tự do!

Tuy nhiên, ngoài việc phải đạp xe sang tận đường Võ Di Nguy, quận Tân Bình (tôi quên mất tên trường) để thi, tôi chẳng có gì phải lo lắng, bởi tôi tin mình dư sức qua cầu!

Đa số thí sinh thi tự do là quân nhân, công chức. Khi thi môn Toán, tôi làm xong rồi giúp anh quân nhân ngồi bên cạnh làm xong bài toán mà vẫn còn dư giờ!

Năm ấy tôi đậu Bình Thứ!

Ngựa quen đường cũ, qua năm Đệ Tam, tôi theo mấy tên bạn lang thang học “tài tử” ở khu vực các trường Quốc Tuấn, Trường Sơn, Thượng Hiền, Văn Học. Gọi là học “tài tử” bởi đa số học sinh tới đây chỉ vì ái mộ các nhà văn nhà thơ kiêm giáo sư (Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền...), học một vài tháng rồi dông, hoặc đóng học phí để “học thử”, hoặc để có cơ hội làm quen với những bóng hồng có tiếng “chịu chơi”...

Thành thử tiền ăn học bố mẹ gửi, tôi cúng cho mấy xe bánh cuốn trước trường Quốc Tuấn nhiều hơn là đóng học phí cho Văn Học, Trường Sơn, Thượng Hiền...

Tới năm Đệ Nhị, sau khi các trường đã khai giảng, tôi mới quyết định tu thân, trở về trường cũ học lớp Đệ Nhị ban B thì mới biết mình bị mất căn bản hai môn Lượng giác và Hóa học của lớp Đệ Tam.

Đúng ra tôi có thể chuyển sang ban A (khoa học) nhưng vì đám bạn cũ thằng nào cũng học ban B (toán), chê ban A là của “con gái” cho nên tôi cũng tự ái ở lại ban B.

Không có chứng chỉ Đệ Tam, khi thi Tú Tài 1, tôi lại phải nộp đơn thi tự do, từ Phú Nhuận lên tận Bác Ái Học Viện ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn để thi.

Nghe bà ngoại thường ca tụng Thánh Mác-tin ở nhà thờ Ba Chuông rất linh thiêng, tới ngày thi, tôi thức dậy sớm, tới nhà thờ vào quỳ trước tượng Thánh cầu nguyện sao cho đề thi Toán năm nay đừng có bài toán Lượng giác!


Nhà Thờ Ba Chuông, đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận


Khấn Thánh Mác-tin chưa đủ, tôi còn ra trước tượng Đức Mẹ Maria ở ngoài sân nhà thờ dưới gốc cây ngọc lan cổ thụ để cầu xin Đức Mẹ phù hộ!

Tới lúc vào phòng thi, đọc đề thi môn Toán tôi... tái mặt, rụng rời tay chân: một bài toán Lượng giác!

Chỉ trả lời các câu hỏi và bỏ không làm bài toán thì điểm môn Toán của tôi chắc chắn sẽ dưới 10/20, chưa kể trường hợp tệ hại các câu hỏi môn Vật lý không trả lời đúng hết... Tương lai “rớt tú tài anh đi trung sĩ” cầm chắc trong tay!

Thế nhưng... tôi lại đậu trong khi cô bạn "Marguerite" PTHL khả ái, học trò cưng của vị Linh mục Hiệu trưởng, lãnh phần thưởng hạng nhất các lớp Đệ Nhị toàn trường, lại rớt một cách đau đớn!

Ngày ấy, và cho tới nay, tôi vẫn tin rằng chính Thánh Mác-tin đã phù hộ cho tôi được... đậu vớt!

Lên Đệ Nhất, biết thân biết phận, tôi dẹp tự ái nam nhi để học ban A. Chỉ tới khi ấy tôi mới thấy trước kia mình “ngu ơi là ngu” khi chọn ban B, bởi học ban A vừa không bị nhức đầu vì môn toán vừa có nhiều nữ sinh học chung, đa số là các cô chiêu ôm mộng trở thành dược sĩ, bác sĩ!

Với trí nhớ tốt (gần như thuộc lòng cuốn Vạn Vật của Đỗ Danh Tẩm) và khả năng sinh ngữ, tôi đậu Tú Tài 2 một cách dễ dàng! Để rồi từ đó, tôi cũng quên luôn Đức Mẹ Maria, quên Thánh Mác-tin, quên mình là một “con chiên Chúa”!

Chỉ tới sau khi vào trại cải tạo Thành Ông Năm, đối diện với tương lai mờ mịt, tôi mới cảm nhận được sự cần thiết của đức tin.

Thực ra, vào thời gian đầu, đức tin của tôi mang tính cách “vụ lợi” rõ rệt: cầu xin Chúa cho mình được mọi sự an lành, được sớm về xum họp với vợ con... Nhưng dần dần về sau, đức tin ấy đã trở thành nơi nương tựa, nguồn an ủi trong bước đường cùng, còn tương lai ra sao, sống chết lúc nào, tôi phó mặc cho Chúa.

Sau này, nhìn lại quãng đời đã qua, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: nếu cộng sản không chiếm miền Nam, nếu tôi không bị bắt đi cải tạo, nếu tôi không phải liều chết vượt biển, liệu “đứa con hoang đàng” này có bao giờ trở lại với Chúa hay không?!

* * *


Nhưng đức tin chỉ đến... ban đêm, khi đặt lưng xuống dỗ giấc ngủ, còn ban ngày, tôi phải tìm mọi cách để quên đi thân phận cá chậu chim lồng. Có vào tù mới thấm thía câu “nhất nhật tại tù, tam thu tại ngoại”.

Sau này, khi bị bắt lao động khổ sai ở những trại cải tạo đúng nghĩa “lao cải”, chúng tôi mới nuối tiếc những ngày “nghỉ mát” ở Thành Ông Năm, nhưng khi còn ở đó, chúng tôi lại cảm thấy vô cùng nhàm chán vì không biết làm gì để giết thì giờ trong cái diện tích vài trăm mét vuông của đội mình. Thành thử thỉnh thoảng “được” cán bộ bắt đi dọn dẹp các nhà kho, các khu đậu xe cơ giới bị dân chúng tràn vào hôi của trước đây, ai nấy đều mừng rỡ, như thể được xuất ngoại!

Mỗi ngày, công việc bắt buộc của chúng tôi chỉ là tập thể dục vào lúc 6 giờ sáng, nghe đọc sách, báo “cách mạng”, và họp tổ để kiểm điểm vào buổi tối.

Nhắc tới tập thể dục ở Thành Ông Năm tôi lại nhớ tới “Bài quyền số 1” của Trần Ngọc Tự.

Sau khi xảy ra vụ trốn trại của hai đại úy, vào lúc 6 giờ sáng mỗi ngày, chúng tôi phải ra sân điểm danh và tập thể dục. Trong buổi tập đầu tiên, tay đội trưởng (cải tạo) hỏi có ai biết cách thức tập thể dục thì tình nguyện lên hướng dẫn anh em.

Trần Ngọc Tự xung phong, và thay vì “chim bay cò bay” như hồi còn ở bậc tiểu học, hắn hướng dẫn anh em... múa võ, mà những ai từng học Thái Cực Đạo đều biết đó là “bài quyền số 1”.

Nguyên trước năm 1975, Tự phục vụ trong Đoàn Công tác Chính Huấn BTL/KQ do Thiếu tá “võ sư” Trần Như Đẩu làm Trưởng Đoàn. Ông Đẩu từng giữ chức Giám đốc Võ Đường Thần Phong Tân sơn Nhất trước khi đi bay lại (PĐ-211 trực thăng), nay trở về Tân Sơn Nhất, ông tiếp tục dạy võ, Tự theo ông học Thái Cực Đạo là vì thế.

Không biết ngày ấy Tự lấy được đai màu gì, chỉ biết khi hướng dẫn anh em cải tạo ở Thành Ông Năm, ra vẻ đương sự cũng có bài bản lắm.

Về phần anh em cải tạo, trừ mấy ông sĩ quan đã lớn tuổi, đều tỏ ra thích thú trước phương cách tập thể dục mới lạ này.

Nhưng chỉ được vài ngày, tay quản giáo đội xuống quan sát buổi tập thể dục, thấy cả trăm tù cải tạo tay thì đi quyền, miệng thì “hự hự” có vẻ... hung hãn quá, bèn ra lệnh ngưng tập. Hắn lên lớp:

“Giờ này mà các anh còn tập võ à?... Tập để đánh cách mạng à?!”

Qua sáng hôm sau, hắn đưa một tay bộ đội ra vẻ “vận động viên” xuống biểu diễn các “bài thể dục tay không” số 1, số 2... để tù cải tạo tập theo, và ghi nhớ...

* * *


Về mục nghe đọc sách báo thì tùy hứng của tay cán bộ quản giáo, chúng tôi được nghe đọc tin tức trên hai tờ Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng hoặc truyện cách mạng, trong đó có Thép Đã Tôi Thế Đấy của Liên Xô, cuốn truyện đã đầu độc nhồi sọ biết bao thế hệ trẻ, mà có lẽ không một tù cải tạo nào không bị nghe đi nghe lại dăm bảy lần!

Nhưng tẻ nhạt, vô vị, nhàm chán nhất phải là các buổi họp tổ vào buổi tối. Các tổ sẽ lần lượt được tay quản giáo xuống chủ trì, lải nhải về chính sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng, động viên tù cải tạo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại, xây dựng quyết tâm học tập tốt, cải tạo tốt để trở thành “người công dân lương thiện”, v.v...

* Những niềm vui...


Ngày cộng sản mới chiếm Sài Gòn, nhạc Trịnh Cộng Sơn bị cấm. Nhà nhạc sĩ liền lấy điểm chế độ mới với ca khúc Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, ca khúc đã khiến người yêu nhạc họ Trịnh trước năm 1975 phải thất vọng não nề.

Thất vọng bởi theo lời hát của Trịnh Công Sơn, dưới chế độ mới này có quá nhiều “niềm vui” không thể cùng một lúc hưởng hết cho nên mỗi ngày chỉ chọn một!

Nhưng sau này có thì giờ nghiên cứu kỹ lời hát, tôi, và không ít người khác, tin rằng trong khi tựa đề ca khúc là một sự ca tụng cuộc sống mới thì nội dung lại là một sự chửi cha chế độ, bởi vì những “niềm vui” mà tác giả chọn đều là những niềm vui không hề có dưới một chế độ độc tài cộng sản: bông hoa – nụ cười – đường đến anh em bạn bè - thảm lá me vàng – đón tiếng chân em về...

Về sau, chính Trịnh Công Sơn cũng đã gián tiếp xác nhận dưới chế độ CSVN không hề có “nụ cười” và “sự tử tế”.

Nguyên sau chuyến xuất ngoại đầu tiên, thăm Gia-nã-đại (Khánh Ly từ Hoa Kỳ bay sang hội ngộ), trở về Việt Nam, Trịnh Công Sơn viết bút ký về chuyến đi. Nhưng bút ký của một nhạc sĩ nổi tiếng thay vì được đăng trên các tờ báo, các tạp chí văn hóa nghệ thuật chuyên ngành, hoặc ít ra cũng là tờ Tuổi Trẻ - vốn được “người Sài Gòn cũ” đánh giá cao - thì lại được đăng trên một tờ báo của chị em: tờ Phụ Nữ thành Hồ!

Nhưng cũng chỉ đăng được hai kỳ thì bị dẹp, bởi những đoạn viết “thật thà” của họ Trịnh về thành phố Montréal của một chế độ tư bản, chẳng hạn “nơi mà ra đường phố chỉ thấy nụ cười, và sự tử tế giữa người với người...”

* * *


Nếu ở Sài Gòn, mỗi ngày Trịnh Công Sơn dễ dàng CHỌN một niềm vui tưởng tượng, thì trong Thành Ông Năm anh em tù cải tạo chúng tôi phải cố TÌM một nguồn vui có thật.

Căn nhà của tổ tôi may mắn có một dàn đậu ván xanh tốt ở phía trước, mà tôi gọi đùa là “dàn thiên lý” (đã xa tít mù khơi), thêm mấy bụi ớt xum xuê nên khung cảnh khá... hữu tình, một số anh em ở các tổ lân cận thường lui tới đánh cờ tướng hoặc tán dóc.

Tôi là một “ngôi sao” trong đám tán dóc nhờ tài phét lác và óc tiếu lâm.

Tôi không dám tự khen mà chính bà ngoại tôi đã phải nhìn nhận tôi được ông trời phú cho một trí nhớ hơn người, nhớ cả những chuyện ở quê xưa Nam Định khi tôi mới lên 3 lên 4!

Thêm vào đó, tôi có thú đọc sách, ham mê tìm hiểu, đặc biệt về môn thế giới sử, cho nên tôi có một mớ kiến thức tổng quát rất đáng nể, cho dù chỉ có bề rộng chứ không có chiều sâu (nhưng mấy ai biết tẩy!). Tôi lại có tài phịa – phịa đúng theo nguyên tắc “thất thực tam hư” của La Quán Trung, tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa – cho nên chuyện tôi kể vừa hấp dẫn vừa có sức thuyết phục. Chẳng hạn chuyện tình tay ba giữa Nữ hoàng Ai-cập Cleopatra, Julius Caesar và Tướng Mark Antony của La-mã đã trở thành một cuốn... dâm thư, hoặc tình sử Trần Khắc Chung – Trần Huyền Trân – Chế Mân được chế thành một pho truyện kiếm hiệp phiêu lưu gián điệp kỳ tình ma quái...

Nhưng óc tiếu lâm khôi hài của tôi thì không do bẩm sinh mà vì hoàn cảnh: hơn bất cứ nơi chốn nào khác, trong tù cười là thuốc bổ, còn khôi hài được là còn tinh thần, còn ý chí, còn hy vọng.

[Về sau, ở một vài trại cải tạo khác, óc tiếu lâm khôi hài của tôi đã bị một số anh em bạn tù “tiến bộ” suy diễn là “châm chọc, đả phá cách mạng” và báo cáo với cán bộ quản giáo, khiến tôi cũng đôi phen xính vính. Nhưng “ở hiền gặp lành – người gian mắc nạn”, một số anh em “tiến bộ” đó còn ở tù... lâu hơn tôi!]


* * *


Tới đây xin điểm qua một số anh em bạn tù gần gũi, thân thiết với tôi ở Thành Ông Năm, hoặc sau này ra tù vẫn còn liên lạc với nhau.

Trước hết nói về những người cùng tổ thì sau Trần Ngọc Tự phải kể tới Khương Hữu Thành, tay tổ trưởng có biệt hiệu “Thành cận”, nguyên Trung úy Tiểu Đoàn 18 Quân Vận, SĐ18BB. Thành là người miền Nam, cháu của Phó Đề đốc Hải Quân Khương Hữu Bá, một tay “bách nghệ tinh”, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, có một kho kiến thức rất đáng nể phục và đa tài, từ âm nhạc (chơi ghi-ta classique) tới ẩm thực, từ tây y tới đông y, từ khoa học thực nghiệm tới khoa học huyền bí... Sau này ra tù gặp lại nhau ở Sài Gòn, cũng chính Thành cận đã chỉ bọn tôi cách làm xà bông bột sao cho có nhiều bọt để dụ bán cho mấy bà ngoài chợ trời.

Nhưng cái hữu dụng nhất tôi học được nơi Thành cận trong tù là cách sử dụng quả lắc cảm xạ học. (Tôi sẽ trở lại với quả lắc này ở một phần sau).

Kế tới là Nguyễn Văn Chúc, Trung úy Khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, cũng là một tay ghi-ta classique như Thành cận, cùng trạc tuổi và cùng ở khu ngã tư Trương Minh Ký & Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận, với tôi và Trần Ngọc Tự.

Chúc và tôi biết nhau ngoài đời nhưng không thân. Nguyên ông cụ thân sinh của Chúc là chủ tiệm sắt Thăng Long ở Cổng xe lửa số 6, anh trai lớn của Chúc là Đại tá Nguyễn Hữu Toán (Khóa 1 Nam Định), có thời làm Tư lệnh SĐ25BB, sau cùng giữ chức Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn và Huấn khu Dục Mỹ, còn người anh giữa của Chúc chơi với người cậu áp út của tôi (Khóa 21 VBQG), cả hai đã đền nợ nước.

Năm 1970, chúng tôi gặp lại nhau tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, nơi tôi, Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông theo học Khóa 8 Sĩ Quan Căn Bản còn Chúc học Khóa 2 Sinh Viên Sĩ Quan, giữ chức Nhạc trưởng của khóa. Sau này tôi mới biết Chúc cũng làm thơ, chỉ thi thoảng nhưng rất có hồn.

Người thứ ba là Nguyễn ĐS, Trung úy, lớn tuổi hơn tôi, đã có Cử nhân Luật. Anh cao ráo, hơi hói đầu, tóc dài, đeo kính cận trông giống John Lennon của ban Beatles, tính tình hiền lành, ít nói; là một điển hình của “Bắc kỳ” trí thức trung lưu nền nếp, nói tiếng Pháp rất “chuẩn”, đối tượng đấu láo về đề tài ca nhạc, phim ảnh ngoại quốc của tôi.

Sau khi cộng sản vào Sài Gòn, gia đình ép anh lấy vợ; vừa xong tuần trăng mật là đi tù cải tạo.

Người thứ tư là An Đình Phương, một Thiếu úy cũng gốc Bắc kỳ trung lưu, mặt trông còn trẻ như học sinh trung học, ăn nói nhỏ nhẹ, yếu đuối như con gái; tương tự trường hợp Nguyễn ĐS, sau khi cộng sản chiếm Sài Gòn, gia đình An Đình Phương cũng vội vã hỏi vợ cho con trai trước khi bị đi trình diện học tập cải tạo.

Chẳng hiểu Phương “có tội với cách mạng” như thế nào mà tôi bị đày đi trại nào Phương cũng bị đày theo, nhưng Phương chỉ đi được một phần ba đường!

Về những anh em khác tổ, tôi thân nhất với Hiếu “đờn” (không nhớ họ) ở tổ kế bên, cấp bậc Trung úy, một tay đàn ghi–ta chuyên nghiệp, trước kia chơi cho các vũ trường ở Sài Gòn. Chỉ ít lâu sau khi vào Thành Ông Năm, tôi được biết Hiếu đờn chính là “sư phụ” của một tay bạn khá thân của tôi thời trung học, đi theo Hiếu để thọ giáo và thực tập.

Hiếu đờn và tôi có cái thú ngồi dưới “dàn thiên lý”, hắn đờn bằng miệng (và hai bàn tay làm bộ như đang sử dụng một cây ghi-ta tưởng tượng) để đố tôi tên bản nhạc, thường là những bản jazz ngoại quốc ít người biết tới.

Một ngày nọ, tôi còn nhớ vào thời gian sau khi tù cải tạo ở Thành Ông Năm nhận gói quà nửa ký đầu tiên từ gia đình (giữa tháng 11 – đầu tháng 12 dương lịch?), cả bọn đang phì phèo những điếu thuốc “Sài Gòn Giải Phóng” thơm lừng, Phạm Khắc Khiêm, một Trung úy Hải quân ở cùng tổ với Hiếu, cao hứng tuyên bố hắn sẽ đóng một cây đàn ghi-ta để Hiếu khỏi phải đàn bằng miệng nữa.

Phạm Khắc Khiêm, tức “Khiêm hớt tóc”, trước kia giữ chức vụ Trưởng Xưởng Ụ Nề thuộc Hải Quân Công Xưởng, là một “handyman” siêu đẳng; vào tù hắn kiêm đủ thứ nghề: hớt tóc, thợ mộc, thợ may (may quần đùi bằng vải bao cát), gò thùng, thau chậu, nồi niêu xoong chảo, thiết kế và sản xuất dép râu “cao cấp”...

Hiếu đờn không mấy tin tưởng vào khả năng đóng đàn của Khiêm nhưng Thành cận thì hưởng ứng ngay. Thế là hai tay “handyman” bắt đầu tìm kiếm, gom góp thu nhặt vật liệu, hoặc nhờ những anh em được đi dọn dẹp các nơi...

Hai tuần sau, cây đàn ghi-ta – rất có thể là cây đàn đầu tiên đóng trong trại cải tạo – được trình làng. Thùng đàn đóng bằng ván ép, cần đàn và bộ khóa lên dây đàn đẽo bằng gỗ, ngăn phím làm bằng lõi đồng của dây điện, dây đàn làm bằng các sợi thép lấy trong ruột dây điện thoại: dây “Mí” thì một sợi, dây “Si” hai sợi xoắn lại, dây “Sol” ba sợi, v.v…

Đặc biệt thùng đàn có hình thù giống kiểu quan tài hình lục giác của người tây phương, ở giữa lớn hai đầu nhỏ lại. (Chú thích 2)


(Ảnh trên Internet, chỉ có tính cách minh họa thùng đàn và cần đàn của cây ghi-ta Thành Ông Năm)


Đàn đóng xong, cũng phải mất mấy ngày để Hiếu đờn chơi “test” cho Thành cận điều chỉnh vị trí các ngăn phím cho tương đối chính xác. Xong xuôi, một buổi “trình diễn độc tấu ghi-ta” đã được tổ chức dưới “dàn thiên lý” vào sau giờ cơm chiều và trước kẻng ngủ.

Dĩ nhiên, Hiếu đờn là người đàn nhiều nhất và được “ái mộ” nhất, bởi hắn có khả năng đàn từ nhạc thời trang tới nhạc jazz, nhạc rock…, còn Thành cận chỉ phụ diễn với một vài bản classique. Riêng tôi chuyên về hòa âm, còn trình diễn thì không dám múa rìu qua mắt thợ.

“Buổi trình diễn” live thu hút được mấy chục khán giả cùng đội, và trong số những anh em bạn tù tới từ căn nhà gần cầu tiêu, tức là khá xa tổ của tôi, có Xuân Điềm, một nhạc sĩ chuyên chơi đàn mandoline, và ngay trong buổi tối hôm đó, anh đã quyết định sẽ thực hiện một cây banjo cho riêng mình.

Xuân Điềm, tên họ đầy đủ là Lê Xuân Điềm, cũng là một người tôi biết trước năm 1975. Gặp lại anh, một thời hoa mộng như sống lại trong tôi...

* * *


Ngày ấy, khoảng năm 1964, 1965, Xuân Điềm là nhạc sĩ chơi đàn mandoline trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, thường tới Trường Mù La-san ở đường Nguyễn Thông để hướng dẫn các em trong ban nhạc của trường, nơi mandoline là nhạc cụ chính.

Viết rằng tôi chỉ “biết” Xuân Điềm là vì ngày ấy tôi tới Trường Mù La-san với mục đích chính là ngắm các người đẹp, chứ không phải để giao kết với anh.

Nguyên TH, một người cậu họ cùng lứa tuổi với tôi là bạn thân của anh Xuân Điềm. TH khoe với tôi rằng khi tới Trường Mù La-san, chàng thường gặp các “em” mầm non trong Ban Việt Nhi và lò đào tạo ca sĩ Nguyễn Đức, tới tập dợt chung với ban nhạc của trường. Thế là tôi đi theo TH.

Tại Trường Mù La-san, ngoài anh Xuân Điềm, thỉnh thoảng tôi còn được hân hạnh gặp một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Lê Thương, người đã tận tụy công sức hướng dẫn học sinh của trường.

Nhưng như đã viết, mục tiêu chính của tôi là các mầm non ca sĩ trong lò Nguyễn Đức – những cô bé đang từ giã tuổi ô mai để bước vào tuổi dậy thì. Giờ này, hơn một nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ mái tóc và những nét cao sang dung dị của Phương Hoài Tâm, nhan sắc mặn mà và những đường cong phát triển trước tuổi của Phương Hồng Hạnh, cái mũi hếch đáng yêu của Phương Hồng Quế…

Nhưng vào cái thời hoa mộng xa xưa ấy, bọn con trai chúng tôi chỉ đứng xa xa chiêm ngưỡng chứ chẳng tay nào có can đảm tới gần để làm quen. Bởi vì các “em” luôn luôn được mẹ đưa đón, và canh phòng cẩn mật!

Lẽ dĩ nhiên, khi các mầm non ấy thành danh và thành người lớn, tôi cũng không còn đủ hứng thú để lui tới Trường Mù La-san nữa.

* * *


Đường đời muôn lối, lẽ ra tôi đã quên hẳn Xuân Điềm nếu như không gặp Xuân Lạ, em trai của anh, cùng theo học Khóa 8 Sĩ quan Căn bản tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt năm 1970.

Nguyên sau khi nhập ngũ, về phục trong ngành Chiến Tranh Chính Trị của quân chủng Không Quân, tới năm 1970, tôi từ Pleiku về trình diện BTL/KQ để ra Đà Lạt theo học Khóa CTCT nói trên. Cùng trong nhóm gần 20 sĩ quan Không Quân cấp bậc từ Chuẩn úy tới Trung úy, có Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông thuộc Bộ Tư Lệnh KQ.

[Theo lời Trần Ngọc Tự, lẽ ra còn có cả đàn anh nhà văn Dương Hùng Cường, tức nhà báo Dê Húc Càn, nhưng vào giờ chót đàn anh xin hoãn để ở nhà tập tành làm tài tử xi-nê, đóng trong phim Người Tình Không Chân Dung]

Ba anh em chúng tôi đều tham gia Ban Báo Chí và Ban Văn Nghệ của khóa học. Qua sinh hoạt trong Ban Văn Nghệ, tôi quen thân Thiếu úy Lê Xuân Lạ, Sĩ quan CTCT thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh; từ đó tôi mới biết Xuân Lạ là em trai của Xuân Điềm.

Tuy là hai anh em ruột, nhưng hai người khác nhau hoàn toàn, về cả ngoại hình, diện mạo lẫn tính tình. Xuân Điềm người tầm thước, vạm vỡ, trông giống như một “võ sĩ” Tây Sơn, Bình Định (quê quán của hai anh em) hơn là một “nhạc sĩ” trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Xuân Lạ trái lại dáng dấp thư sinh, cao ráo, và… đẹp trai hơn.

Về tính tình, trong khi Xuân Điềm vui vẻ, hay đùa, dễ hòa đồng thì tính Xuân Lạ hơi… lạ. Cùng ở cái tuổi chưa “tam thập nhi lập”, trong khi đám sĩ quan trẻ độc thân chúng tôi đùa nghịch, ồn ào, quậy phá khắp nơi thì Xuân Lạ cứ như một vị thầy tu trẻ, nét mặt luôn đăm chiêu như suy tư điều gì, khi cần phải mở miệng thì ăn nói nhỏ nhẹ như con gái. Với bạn bè cùng lứa tuổi, Xuân Lạ xưng hô “mình” và “bạn”, nghe càng thiếu chí khí nam nhi.

Nghề của Xuân Lạ là vĩ cầm; anh hát cũng rất hay, đặc biệt bản Mùa Thu Chết, nhưng ít khi chịu hát.

Gần cuối khóa học, anh em trong khóa phối hợp với Cơ Sở Nhân Văn Đà Lạt tổ chức một buổi thơ nhạc tại Trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Phan Lạc Giang Đông và Trần Ngọc Tự ngâm thơ, anh Hậu (tôi không nhớ đầy đủ tên họ) hát du ca, tôi đứng sau cánh gà để… cổ vũ tinh thần.

Xuân Lạ xuất hiện gần cuối chương trình, dĩ nhiên để độc tấu vĩ cầm. Anh vừa đàn xong, chúng tôi đứng phía trong xúi anh hát bản Mùa Thu Chết. Anh ngập ngừng một chút rồi hát với tất cả say mê, như thể gửi hồn mình vào mùa thu đang về trên thành phố sương mù.

Không ngờ tiết mục ngoài chương trình ấy lại được hoan hô nhiều nhất, mà đại đa số khán giả ái mộ là các cô nữ sinh. Lúc ấy, tôi ước gì mình là Xuân Lạ!

Sau khi mãn khóa và trước khi trở về đơn vị ở tận Pleiku, tôi chỉ gặp lại Xuân Lạ một lần duy nhất ở quán cà-phê Hồng cuối đường Pasteur, nơi tụ tập quen thuộc của anh em báo chí, văn nghệ. Chỉ một lần nhưng không bao giờ quên nhau!

Cuối năm 1971, tôi đi phép về Sài Gòn, tìm tới quán thì được anh em cho biết Xuân Lạ (khi ấy mang cấp bậc Trung úy và vẫn còn độc thân) đã đền nợ nước tại chiến trường Snoul ở tận bên kia biên giới Việt – Miên. Anh em ai cũng ngậm ngùi tiếc thương một người bạn trẻ tài hoa mệnh yểu.

* * *


Vì những kỷ niệm với Xuân Lạ ở Đà Lạt, vào Thành Ông Năm, tôi trở nên thân thiết với Xuân Điềm, nhất là sau khi anh thực hiện cây banjo.


Sau này ra hải ngoại, trong những buổi trình diễn của cá nhân hoặc cùng với Ban Tù Ca Xuân Điềm, anh luôn luôn xuất hiện với cây banjo làm trong trại cải tạo. Tuy nhiên đây không phải cây đàn đầu tiên anh làm ở Thành Ông Năm, vì khi ấy thiếu vật liệu, anh đã phải sử dụng một cái vỏ hộp lọc gió (air-filter) của xe hơi (chôm từ bãi đậu xe) để làm thùng đàn, và một cái đĩa nhôm mỏng (chôm từ nhà bếp) làm mặt thùng đàn; cần đàn và bộ khóa lên dây đàn đẽo bằng gỗ tương tự cây ghi-ta của chúng tôi!

Sau khi anh Xuân Điềm đóng xong cây đàn banjo, thỉnh thoảng chúng tôi lại tổ chức một buổi “hòa tấu dưới dàn thiên lý”, luôn luôn diễn ra vào ban ngày (matinée) bởi tổ của anh Xuân Điềm nằm khá xa, buổi tối không thể “quan hệ” với những tổ khác.

Ngày ấy, đầu mùa cải tạo, chưa có ai sáng tác “tù ca”, nhạc vàng thì tuyệt đối bị cấm, cho nên chúng tôi chỉ dám chơi một số bản nhạc ngoại quốc không lời, trong đó có một bản được gọi là “của các nước xã hội chủ nghĩa anh em” để trình diễn mỗi khi có cán bộ quản giáo lảng vảng, đó là bản Guantanamera (Chú thích 3....)

Cây banjo do anh Xuân Điềm độc quyền sử dụng, bởi chúng tôi mù tịt, còn cây ghi-ta thì cho cả nhóm. Hiếu là người đàn nhiều nhất, kế tới là Khương Hữu Thành rồi mới tới tôi, còn Chúc rất ít đàn, phần vì bản tính trầm lặng, phần vì hắn khó tính, chê đàn “dổm”!

Những lần hiếm hoi được nghe Chúc đàn, tôi nhận ra hai bản classique quen thuộc: Fur Elise và Amour Interdits. Một buổi tối nọ, gần tới Lễ Giáng Sinh, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe Chúc đàn một đoạn trong Kinh Hòa Bình, vốn là một bản thánh ca nổi tiếng của người Công Giáo Việt Nam, nguyên là lời kinh do Thánh Phan-xi-cô (St Francis of Assisi) đặt, được đức Tổng Giám mục Huế Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền dịch sang lời Việt, do Linh mục Kim Long phổ nhạc.

Ngạc nhiên vì tôi biết gia đình Chúc theo đạo Phật. Sau này, Chúc giải thích với tôi: từ trước năm 1975, anh đã luôn luôn xúc động trước lời hát, và rung động trước nét nhạc của bản thánh ca đầy vị tha, tình người, và hy vọng này, nhất là khi được được trình bày dưới hình thức đại hợp xướng.

Tới đây thì tôi hiểu, bởi Chúc đã từng điều khiển ban hợp xướng của Đại Học Chiến Tranh Chính Trị ngày nào.


* * *


Gần tới dịp kỷ niệm “Ngày toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), chúng tôi được viên thủ trưởng “lên lớp” về ý nghĩa của ngày này, và phải bầu ra một “quản ca” để đặc trách việc tập cho anh em hát mấy “bài hát cách mạng”, trong đó có Giải Phóng Miền Nam của Lưu Hữu Phước và Chiến Sĩ Việt Nam của Văn Cao.

Tạm dẹp ý thức hệ sang một bên để chỉ xét về khía cạnh nghệ thuật, tôi phải nhìn nhận Chiến Sĩ Việt Nam là một ca khúc hay, cả về giai điệu lẫn ca từ: Bao chiến sĩ anh hùng… Lạnh lùng vung gươm ra sa trường… Quân xung phong nước non đang chờ...

Nhưng bản Giải Phóng Miền Nam, tức “quốc ca” của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, lại là một trong những hành khúc dở nhất của phe cộng sản. Không phải tài nghệ của Lưu Hữu Phước thua kém Văn Cao tới mức ấy (nên nhớ bản Tiếng Gọi Thanh Niên sau trở thành quốc ca VNCH là một sáng tác của Lưu Hữu Phước) mà theo tôi, vì hai nguyên nhân sau đây:

(1) Sau hơn 15 năm đi theo “cách mạng”, óc sáng tạo của Lưu Hữu Phước đã cùn lụt.

(2) Ai cũng biết Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, thành lập năm 1961, chỉ là công cụ của Đảng CSVN (ngày ấy núp dưới danh xưng Đảng Lao Động) trong công cuộc xâm lược miền Nam, tức là bù nhìn, thì việc sáng tác “quốc ca” cho cái tổ chức bù nhìn ấy cũng chẳng vinh hạnh, hứng thú gì. Có lẽ vì vậy mà khi sáng tác bản này, Lưu Hữu Phước đã lấy một bút hiệu lạ hoắc: Huỳnh Minh Siêng!

Giai điệu của bản này, được viết theo cung Mi thứ, cho dù hát nhanh tới đâu cũng không mạnh mẽ, thành thử kể cả cao điểm là cái điệp khúc "Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng, vùng lên xông pha vượt qua bão bùng..." cũng không tạo được hùng khí.

Mỗi lần cả đội bị bắt ngồi ngoài sân vừa vỗ tay vừa hát bản Giải Phóng Miền Nam, tôi vừa chán ngán vừa thương tội cho đám “phỏng giái”, hy sinh biết bao xương máu mà cả đến bản “quốc ca” cũng không ra hồn!

[Tới tháng 7/1976, sau khi tập đoàn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ vào Sài Gòn tiến hành thống nhất hai miền, khai tử hai tổ chức bù nhìn Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam của Nguyễn Hữu Thọ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam VN của Huỳnh Tấn Phát, ca khúc Giải Phóng Miền Nam của “Huỳnh Minh Siêng” cũng chìm vào quên lãng!]

Tối 24/12/1975, chúng tôi lại bị lùa ra ngồi ngoài sân hát nhạc “cách mạng” thay cho các ca khúc về Giáng Sinh. Viên thủ trưởng tuyên bố:

“Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của các công dân, nhưng hiện nay các anh là cải tạo viên, chưa có quyền công dân nên không được hưởng quyền tự do ấy. Khi nào các anh học tập tiến bộ, được cách mạng trả về với gia đình, các anh sẽ được tự do theo đạo của các anh, không ai ngăn cấm cả”.

Đêm hôm ấy, trước khi đi ngủ, tôi cầm cây ghi-ta khẽ gảy bốn nốt đầu trong ca khúc Giáng Sinh bất hủ: Silent Night – Đêm Thánh Vô Cùng.


* * *


Chiều ngày 23/1/1976, gần tới Tết ta, toàn khu Trung úy Thiếu úy bỗng có lệnh tập họp khẩn cấp ngoài sân. Nhìn mấy tay cán bộ lạ mặt đeo xắc-cốt (sacoche, còn gọi là xà-cột) cùng với một dàn quản giáo và bộ đội hùng hậu chưa từng thấy, chúng tôi có linh cảm một diễn biến quan trọng sắp xảy ra.

Một tay cán bộ bắt đầu đọc tên những người được chuyển trại, ra khỏi hàng đứng riêng thành từng toán. Tổ tôi có tôi, Trần Ngọc Tự, Nguyễn ĐS, An Đình Phương... Tôi và Tự khác toán.

Sau đó tất cả được lệnh giải tán, những người có tên trong danh sách chuyển trại có 10 phút để thu xếp quần áo, vật dụng cá nhân rồi trở ra sân để điểm danh theo từng toán.

Khi đã sẵn sàng, tôi chợt nhớ tới cây đàn ghi-ta; nhìn anh em, tôi nói:

- Tao mang theo cây đàn!

Sau này hồi tưởng lại, tôi cũng chẳng hiểu tại sao ngày ấy tôi đã không góp một chút công sức nào trong việc đóng đàn, tài đàn cũng chẳng bằng ai, mà lại đòi lấy cây đàn?!

Nhưng anh em ở lại không ai phản đối. Họ muốn chiều lòng kẻ ra đi. Bởi vì mặc dù khi ấy không ai biết người đi sẽ đi về phương trời nào, và số phận kẻ ở lại sẽ ra sao, nhưng theo tâm lý thông thường, người ở lại bao giờ cũng lo âu, ái ngại cho kẻ phải ra đi.


* * *


Đoàn xe molotova bít bùng chở chúng tôi tới Tân Cảng Sài Gòn. Chúng tôi được lệnh ngồi chờ trên xe cả tiếng đồng hồ, trong lòng hồi hộp, hoang mang không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Một người lạc quan tếu:

- Chắc trong thành phố không có chỗ chứa, mình ngủ đêm ở Tân Cảng để sáng mai làm lễ mãn khóa!

Không một ai lên tiếng hưởng ứng!

Rồi chúng tôi cũng đươc lệnh xuống xe từng người một, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bộ đội với súng AK lăm lăm trên tay, xếp hàng một đi xuống một cái “tàu há mồm”.

Khi bước chân lên cái bửng ở đầu tàu, tôi bỗng rùng mình như thể bị khí lạnh của cái bửng sắt truyền lên người, cùng với mùi rỉ sét hôi hám của con tàu cũ kỹ.

Đây là lần thứ hai trong đời, tôi được đi tàu há mồm (tàu đổ bộ). Lần thứ nhất khi di cư vào Nam năm 1954, được tàu há mồm chở từ bờ biển ở Hải Phòng ra tàu lớn đậu ngoài khơi. Ngày ấy còn bé chưa đủ trí khôn, theo bố mẹ lên tàu mà không hiểu mình đi đâu; hơn 21 năm sau cũng lên tàu há mồm mà không biết mình sẽ được đưa tới chốn nào?!

Lên tàu, mỗi tù cải tạo được phát một ổ bánh mì dài khoảng 2 gang tay, rồi ngồi chen chúc dưới sàn tàu. Chúng tôi được lệnh giữ im lặng tuyệt đối. Từ hai bên thành tàu phía trên, lâu lâu lại có ánh đèn pin quét xuống.

Quá nửa đêm, tàu rời bến. Mặc dù không có chỗ nằm, phải ngồi tựa lưng nhau, nhưng vì quá mệt mỏi, sau đó một số anh em, trong đó có tôi, cũng ngủ thiếp đi, chập chờn trong những cơn ác mộng.

(Còn tiếp)



CHÚ THÍCH:

(1) Thánh Mác-tin: Martin de Porres Velázquez (1579 – 1639), ra chào đời tại of Lima, Peru, là một tu sĩ Dòng Đa Minh (Dominican Order), được phong Thánh năm 1962.


Là con ngoại hôn của Don Juan de Porres, một nhà quý tộc Tây-ban-nha, và Ana Velázquez, một cựu nô lệ da đen lai da đỏ Nam Mỹ, Martin và người em gái Juana không giống cha mà giống mẹ (da đen) cho nên sau khi Juana ra đời, ông ta đã bỏ rơi cả ba mẹ con.

Nhà nghèo, Martin chỉ được đi học 2 năm, lớn lên làm người sai vặt của một vị bác sĩ; tới năm 15 tuổi xin vào Dòng Đa Minh, làm người giúp việc (servant).

Theo luật lệ ở Peru ngày ấy, người da đen và thổ dân da đỏ không được phép trở thành một tu sĩ thực thụ (full members of religious orders), tuy nhiên vì thấy Martin là một người đạo đức và có chí đi tu, tới năm 1603, vị Bề Trên tu viện đã phá lệ để cho chàng thanh niên 24 tuổi được vào “Dòng Ba Đa Minh” (Third Order of Saint Dominic).

Mười năm sau, Martin chính thức trở thành một tu sĩ Dòng Đa Minh nhưng suốt đời chỉ làm một thầy dòng (brother) chứ không được làm linh mục (priest). Thầy Martin phục vụ tại bệnh viện “thí” của nhà Dòng trong cương vị một y công (health worker), đôi khi kiêm cả đầu bếp, lao công quét dọn. Nhân đức và tinh thần hy sinh phục vụ của Thầy đã thu phục được nhiều nhà quý tộc và tài phiệt, dẫn đưa tới việc bảo trợ xây dựng một viện mồ côi và một bệnh viện nhi đồng theo mong ước của Thầy .

Thầy Martin qua đời vào tuổi 59. Theo lời kể lại, ngay từ khi còn sống, Thầy đã làm nhiều phép lạ nhưng có khi chính Thầy cũng không biết. Sau khi qua đời, Thầy làm vô số phép lạ để ban ơn cho các đối tượng nghèo hèn, bị xã hội bạc đãi.

Năm 1837, gần hai thế kỷ sau khi qua đời, Thầy Martin de Porres mới được Đức Giáo Hoàng Gregorio XVI phong Chân Phước (Blessed), và phải đợi thêm 125 năm (1962), Ngài mới được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô XXIII – vị “giáo hoàng của người nghèo” - phong Thánh (Saint), và được ghi nhận là vị Thánh “da đen” đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo.

Thời gian Chân Phước Martin de Porres được phong thánh (1962) cũng là lúc Dòng Đa Minh Việt Nam khánh thành Nhà Thờ Ba Chuông ở đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận, và các Cha đã ra sức quảng bá lòng sùng mộ vị Thánh da đen này. Nếu chỉ căn cứ vào con số “plaque” CẢM TẠ của người được ban ơn, Thánh Martin de Porres có lẽ là vị thánh Công giáo linh thiêng nhất tại miền Nam VN trước năm 1975.

(2) Thùng đàn hình quan tài. Từ lâu (không biết từ bao giờ) đã có đàn ukulele (đàn ghi-ta nhỏ có 4 dây của đảo Hawaii) với thùng đàn hình dạng chiếc quan tài (coffin shape ukulele) ngược chiều. Lợi ích chính là kiểu thùng đàn này dễ đóng hơn là thùng đàn hình số 8. Đặc tính của thùng đàn hình quan tài là có độ âm vang (resonance) thấp, vì thế kiểu đàn này thường được sử dụng để “vê” (rung: tremolo). Ngoài ra, còn có kiểu đàn ukulele nhỏ hơn với thùng đàn hình quan tài xuôi chiều, có quãng âm vực cao, gọi là “ukulele soprano”.

Còn đàn ghi-ta thùng (acoustic guitar) có thùng đàn hình quan tài thì cực kỳ hiếm. Hiện nay trên Internet chỉ có hình chụp một cây duy nhất, do một người nào đó tự đóng lấy rồi bỏ lại khi dọn nhà, giống hệt thùng đàn chúng tôi đóng trong Thành Ông Năm.

Về đàn ghi-ta do các hãng sản xuất, chỉ có đàn guitar điện (hoặc đàn bass điện) mới có mặt đàn (chứ không phải thùng đàn) hình quan tài, thường chỉ có các ca nhạc sĩ, ban nhạc rock "nặng" (hard rock, heavy metal) sử dụng để trông cho thêm “ngầu”, chẳng hạn kiểu “Epiphone Graveyard Disciple” của hãng đàn Gibson, muốn mua phải đặt riêng.


Coffin shape ukulele


Ukulele soprano



“Epiphone Graveyard Disciple” guitar


(3) Guantanamera là một ca khúc của Cuba được người cộng sản nhận vơ là một “bài hát cách mạng”. Trên thực tế, đây chỉ đơn thuần là một ca khúc về tình quê hương mà người yêu nhạc ngoại quốc ở miền Nam VN trước năm 1975 hầu như ai cũng biết.

Guantanamera tiếng Tây-ban-nha có nghĩa là “người phụ nữ/cô gái ở vùng Guantanamo”.

Tương tự trường hợp bản La Bamba của Mễ-tây-cơ, giai điệu của bản Guantanamera nguyên là một giai điệu dân gian mà không ai biết tác giả. Khoảng năm 1928/1929, ca nhạc sĩ Cuba nổi tiếng José Fernandez (1908 – 1979) đã khai triển giai điệu này thành một nhạc khúc để làm nhạc hiệu cho chương trình phát thanh của ông, đồng thời đặt lời hát với tựa đề Guajira Guantanamera (guajira: miền quê), nội dung kể về chuyện tình của tác giả với một thôn nữ ở vùng Guantanamo, sau này phụ tình ông.

Vì là người có công hoàn chỉnh giai điệu này và là người đầu tiên phổ biến dưới hình thức một nhạc khúc, José Fernandez đã được nhiều người ghi là “tác giả” (composer).

Về sau, ca khúc Guajira Guantanamera được đặt thêm nhiều lời hát khác với tựa đề ngắn gọn Guantanamera, trong đó có phiên bản sử dụng bốn đoạn thơ của thi sĩ Cuba José Marti làm lời hát trong các phiên khúc.

José Marti (1853 – 1895) là một nhà thơ ái quốc, được xem là “linh hồn” của cuộc cách mạng của các dân tộc Mỹ la-tinh chống lại mẫu quốc Tây-ban-nha.

Tới đầu thập niên 1960, sau khi Fidel Castro và phe cách mạng (cộng sản) chiếm được chính quyền ở Cuba, họ đã ra sức phổ biến phiên bản của José Marti, không chỉ vì ông là một nhà ái quốc mà còn vì tựa đề Guantanamera của ca khúc nhắc mọi người nhớ tới việc “đế quốc Mỹ” đang chiếm đóng một phần lãnh thổ Cuba là Vịnh Guantanamo (theo Hiệp ước năm 1898 ký với Tây-ban-nha, và Hiệp ước năm 1903 ký với Cuba).

Vì thế Guantanamera đã được nam ca sĩ dân ca Mỹ nổi tiếng thân cộng Pete Seeger (1919-2014) ra sức phổ biến tại Hoa Kỳ. Giữa năm 1963, Pete Seeger trình diễn live ca khúc Guantanamera tại đại hí viện Carnegie Hall và đưa vào album We Shall Overcome của ông; tiếp theo là hai ca nhạc sĩ phản chiến Bob Dylan và Joan Baez.

Tới năm 1966, ban hợp ca Mỹ Sandpipers thu đĩa Guantanamera dưới hình thức một ca khúc phổ thông (pop) và đã lên tới No.3 trên bảng xếp hạng Easy Listening, và No.9 trên bảng Billboard Hot 100 (tính tất cả mọi thể loại).

Từ đó Guantanamera trở thành một ca khúc Mỹ la-tinh được ưa chuộng khắp năm châu, trong đó có miền Nam VN, được nhiều ban nhạc, ca sĩ nổi tiếng thu đĩa, trong số đó có Julio Iglesias, Celia Cruz, Bobby Darin, Joe Dassin, José Feliciano, Trini Lopez, La Lupe, Nana Mouskouri, Gloria Estefan, Los Lobos...

Sau khi CSBV chiếm miền Nam VN năm 1975, đám cán bộ văn hóa miền Bắc đã vô cùng “hồ hởi phấn khởi” trước việc dân chúng miền Nam sống dưới sự kìm kẹp của Mỹ - Ngụy bao năm, nay được nghe “nhạc cách mạng của các nước xã hội chủ nghĩa anh em” là yêu thích ngay!

Họ đâu có biết người Sài Gòn đã thưởng thức Guantanamera của Cuba, Those Were The Days (Dorogoi Dlinnoyu / Tình Ca Du Mục) của Nga từ bảy đời tám kiếp rồi!

Sau đây là bản dịch Anh ngữ (https://lyricstranslate.com) 3 phiên khúc bằng lời thơ của José Marti, trong đó có thấy chút “sắt máu” nào của cách mạng đâu?!

Guantanamera

Chorus:

Guantanamera, guajira guantanamera
Guantanamera, guajira, guantanamera

(1)
I am a truthful man; I come from where the palm tree grows,
I am a truehearted man, who comes from where the palm trees grow,
Before I lay down my life, I long to coin the verses of my soul

Chorus


(2)
I plant a snowy rose in January and July,
I grow a snowy rose in January and July,
For the open-hearted friend who puts a helping hand in mine

Chorus

(3)
The words that I write are radiant crimson and emerald bright,
The poems that I write are radiant crimson and emerald bright,
My verses are a wounded deer seeking shelter in the mountain height.


Chorus


Rate this item
(0 votes)