>
August 19, 2019

Login to your account

Username *
Password *
Remember Me

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (01)


SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004



Gửi các bạn tôi
sống, chết ở Sài Gòn…
* Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
Hoàng Hải Thủy




Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau…



Ngày mới đến Hoa Kỳ tôi nói: “Tôi mang Sài gòn trong trái tim tôi…” Tôi muốn nói tôi yêu Sài Gòn, tôi đã sống đến bốn mươi năm trong lòng thành phố Sài Gòn thương yêu, tôi đã vui buồn, đã đau khổ với Sài Gòn. Nay phải đi xa, tôi mang Sài Gòn theo tôi nên tôi sẽ không thấy nhớ Sài Gòn!


Sự thật không như tôi nói, không như tôi tưởng.


Trước hết, câu nói ấy có cái giọng của Sáu Keo: “Miền Nam trong trái tim tôi…”


Dù tôi có yêu thương Sài Gòn đến chừng nào đi nữa – là Công Tử Hà Đông bên hông Hà Nội, Bắc kỳ chính cống Bà Lang Trọc nhưng tôi yêu Sài Gòn hơn tôi yêu Hà Nội -, dù tôi có sống với Sài Gòn lâu đến chừng nào đi nữa, khi phải xa Sài Gòn tôi vẫn nhớ thương Sài Gòn. Nhớ thương vỡ tim, xé gan, cháy lòng, đứt ruột như nhớ thương người đàn bà mình yêu, người đàn bà đa tình yêu mình cực kỳ, cho mình hưởng tất cả, mình từng sống hạnh phúc bên nàng mà mình phải xa nàng.


Đêm cuối năm, mưa rơi suốt đêm trên Rừng Phong.


Canh khuya trằn trọc nằm nghe tiếng mưa đập vào khung kính cửa sổ, tưởng như đang nằm nghe mưa rơi trên mái ngói xanh rêu trong căn nhà nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ Sài Gòn.


Bồi hồi tưởng nhớ những cây mưa đầu mùa năm xưa ở quê nhà. “Cây mưa”! Đúng là cây mưa. Những năm 1956, 1957 xanh xưa tôi còn trẻ, trong loạt bài gọi là phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn, tác phẩm đầu tay của tôi, tôi viết: “Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong…”


Hơn bốn mươi mùa mưa sau nhớ lại, thấm và thấy đúng biết chừng nào. Sài Gòn của tôi thuở 1956-1960 thanh bình sau những cơn mưa lớn, nhất là những cơn mưa đêm, sạch như người đàn bà đa tình yêu tôi, tôi yêu, khi nàng mới tắm xong.


Sáng nay mưa vẫn rơi trên Rừng Phong.
Người tha hương lúc nào cũng nhớ quê hương.


Tết đến. Tết là dịp đoàn tụ gia đình. Tết đến, người tha hương nhớ thương quê hương hơn. Những lời thơ Thanh Nam ray rứt trong tim tôi:


Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau.
Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
Hiện rõ trời xuân một thưở nào.
…..


Tỉnh cơn mê sảng âm thầm
Ngó ra đất khách mưa xuân hững hờ
Tháng Tư, cơn sốt đầu mùa
Gợi trong tiềm thức những giờ oan khiên
Ghé thân lữ thứ trăm miền
Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn!

Tháng Chạp Tây, bánh xe lãng tử đưa tôi đi một vòng Cali. Đêm cuối năm trong một thành phố nhỏ, tôi xem một phim video về Hà Nội do những người Hà Nội làm. Thành phố Hà Nội được người Hà Nội yêu thương quá cỡ. Hà Nội được yêu thương trước 1945, Hà Nội được yêu thương sau 1945. Có đến 50 bài thơ, bản nhạc được làm để ca tụng Hà Nội và diễn tả tình yêu Hà Nội. Trong khi đó thành phố Sài Gòn thương yêu của tôi có gì? Thành phố Sài Gòn của tôi được thương yêu, được ca tụng như thế nào? Bao nhiêu? Một bài Sài Gòn Đẹp lắm Sài Gòn ơi của Y Vân, một bài Vĩnh biệt Sài Gòn của Nam Lộc. Còn gì nữa??
Tôi sẽ viết về thành phố Sài Gòn và tình yêu Sài Gòn.




Sáng nay, tôi làm một cuộc tính sổ những văn nghệ sĩ đã từ giã cõi đời này kể từ ngày 30 Tháng Tư. Bản danh sách của tôi không đầy đủ. Tôi xin lỗi vì không thể kể tên tất cả những văn nghệ sĩ đã vĩnh viễn đi khỏi cuộc đời. Nhớ được người nào tôi ghi lại người ấy, ghi không theo thời gian mà cũng không theo vần ABC.


Trước hết tôi phải kể anh Chu Tử Chu Văn Bình. Anh là văn nghệ sĩ chết trước nhất kể từ ngày 30 Tháng Tư. Anh không chết sau ngày 30 Tháng Tư mà là trong ngày 30 Tháng Tư. Đạn quân thù bắn theo con tầu ngày ấy đưa anh ra biển đã giết anh, thân xác anh nằm trong lòng đại dương.


Anh một đời hai lần bị trúng đạn. Một buổi sáng năm 1964 – thời điểm quân đội Hoa Kỳ đang kéo vào tham chiến trên chiến trường Việt Nam – khi từ nhà ở đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận, ra xe hơi để đến tòa báo Sống, nhà in Tường Vân đường Gia Long, có kẻ chờ sẵn trước cửa nhà bắn anh nhiều phát đạn xuyên qua cửa xe sau. Có viên đạn trúng cổ anh, xuyên qua miệng. Nguy hiểm cực kỳ nhưng anh không chết. Anh sống được mười năm nữa…


Và đây là tên những văn nghệ sĩ, những ký giả đã lìa đời kể từ ngày 30 Tháng Tư 1975 đến sáng hôm nay. Những người ra đi vĩnh viễn từ những ngõ hẹp, những cư xá đông người, những nhà tù Sài Gòn:


Hoàng An, Mai Anh; Thái Dương Nguyễn Văn Mai, nguyên Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam; Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp, nhạc sĩ Lan Đài (hai người nghe nói bị chết trên biển khi vượt biên); Mạc Ly Châu; Huy Cường diễn viên điện ảnh; Thi sĩ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn; Trần Việt Hoài, thi sĩ, bút hiệu Thiết Bản đạo nhân, chết trong Làng Báo Chí; Thiên Hổ tức Linh mục Nguyễn Quang Lãm, chủ nhiệm nhật báo Xây Dựng, nhà thờ, nhà riêng, nhà in, tòa báo ở đường Thánh Mẫu, Ngã Ba Ông Tạ, cùng khu với Cà phê Thăng Long của Vũ Văn Cẩn; Cát Hữu; Minh Đăng Khánh – Khánh có nhiều nghề: giáo viên, ký giả, biên tập đài phát thanh giữ chương trình Gia đình Bác Tám, diễn viên kiêm đạo diễn điện ảnh, họa sĩ, dậy hội họa, bị bắt Tháng Tư 1976, đi tù về Khánh bị bại liệt nửa người, vẫn lê lết đi lại được cho đến ba năm sau; Trọng Khương, tác giả Bánh Xe Lãng Tử, Ghen; Thiếu Lang; Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú, dịch giả Bố Già (The Godfather, Mario Puzo, từng là sách bestseller). 1985 hai nhà xuất bản Mít Cộng tái bản Bố Già của Tú Lé. Tú bị bắt vì choác. Sau thời gian nằm ở cái gọi là Trại Phục Hồi Nhân Phẩm Khu Nhà Thờ Fatima, Tú bị đưa ra một trại lao động cải tạo – gọi tắt là Trại Lao Cải – ở miền Trung. Nghe nói sáng sớm, trời lạnh, Tú rít hơi thuốc lào và ngã ra chết; Thi sĩ Bàng Bá Lân; Ký giả Thể thao Thạch Lê tức Trung Tá Lê Đình Thạch, người từng là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến, anh Thạch đi cải tạo về, qua đời tại nhà ở Khu Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa; Nguyễn Hiến Lê; Hoàng Vĩnh Lộc, đạo diễn điện ảnh, tác giả phim Người Tình Không Chân Dung, Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương…; Hoàng Ly, tác giả tiểu thuyết Một Thời Ngang Dọc, Giặc Cái…; Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, tác giả hai câu thơ nghe nói là tả nữ ca sĩ Khánh Ly: “Từ Em tiếng hát lên trời, Tay khơi dòng tóc, tay vời âm thanh…”; Trọng Nguyên; Vương Hồng Sển; Xuyên Sơn; Trần Việt Sơn; Hoàng Thắng; Trịnh Viết Thành; Lê Thanh tức Phòng Cao; Hai nhạc sĩ lớn Lê Thương; Dương Thiệu Tước; Hồ Hữu Tường; Minh Vồ, chủ nhiệm tuần báo Con Ong; Y Vân, tác giả Lòng Mẹ, Sài Gòn Đẹp Lắm Sài Gòn Ơi; Hoàng Thư; Trần Lê Nguyễn; Thượng Sĩ; Huy Thanh Nguyễn Huy Thái tức Trường Sơn; Lê Văn Vũ Bắc Tiến; Mặc Thu…


oOo


Những văn nghệ sĩ chết trong tù:


– Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, bị bắt năm 1984, chết vì cao áp huyết trong Nhà tù Chí Hòa năm 1986.
– Anh Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt tháng 3, 1976, tuyệt thực đòi Việt Cộng trả tự do năm 1978 ở Trại Lao Cải Xuyên Mộc, bị cai tù không cho uống nước đến chết.
– Anh Vũ Hoàng Chương, bị bắt tháng 3, 1976, bị tù sáu tháng, về nhà được bẩy ngày thì qua đời.
– Dương Hùng Cường – Dê Húc Càn, sĩ quan, đi cải tạo trở về năm 1980; năm 1984 bị bắt lại trong nhóm Biệt Kích Cầm Bút, chết trong sà lim Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu năm 1987.
– Huy Vân, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc.
– Nhạc sĩ Thục Vũ, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc, tác giả bản nhạc “Anh Ở Đây, Bạn Bè Anh Cũng Ở Đây…”


oOo


Những văn nghệ sĩ qua đời ở hải ngoại:


Duyên Anh Vũ Mộng Long, mất ở Paris, 1997. Ký giả Anh Quân, ký giả Nguyễn Ang Ca, mất ở Bỉ quốc, Hùng Cường, Vũ Huyến, An Khê, Vũ Khắc Khoan, ký giả Tô Văn Trần Đức Lai, Tử Vi Lang, Nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh, Bình Nguyên Lộc, Thanh Nam Trần Đại Việt, Nguyễn Tất Nhiên, nhạc sĩ Thẩm Oánh, Đạm Phong, Nguyên Sa, Mai Thảo – những ông trên đây sống và chết ở Hoa Kỳ. Trần Văn Trạch qua đời ở Paris, ký giả Thái Linh Phạm Linh, chị Kiều Diễm Hồng trang Mai Bê Bi nhật báo Chính Luận ngày xưa, qua đời trong một Nursing Home ở Virginia Đất Tình Nhân, Hoàng Trọng, Sĩ Phú, Hoàng Thi Thơ ở Cali, Ngọc Dũng ở Virginia, Mai Trung Tĩnh ở Maryland…


oOo


Tháng Giêng Tây 2000 gần như tất cả các văn nghệ sĩ VNCH còn sống, quân và dân, đều đã rời quê hương đi ra hải ngoại. Họ sống nhiều nhất ở Hoa Kỳ, rồi Úc, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Canada.


Số văn nghệ sĩ còn sống ở Thành Hồ có thể đếm được trên mười đầu ngón tay: Tú Kếu Trần Đức Uyển; Lê Xuyên Chú Tư Cầu, bán thuốc lá lẻ ở góc đường Ngô Quyền – Bà Hạt, gần chợ Nguyễn Tri Phương; Huỳnh Phan Anh; Trần Phong Giao; Thế Phong, tác giả Việt Nam Bi Thảm Đông Dương; Hồ Nam; Phan Nghị; Văn Quang; Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung; Đằng Giao; Dương Nghiễm Mậu; Cao Nguyên Lang; Vũ Bình Thư Lã Phi Khanh, tác giả Lệnh Xé Xác; bà Tùng Long, bà Lan Phương; bà Mộng Tuyết; hai nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng; Nguyễn Thị Thụy Vũ; Lý Thụy Ý; nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang…


Văn nghệ sĩ hiện sống ở Thành Hồ ly kỳ nhất, theo tôi, là Văn Quang, tác giả những truyện tình Chân Trời Tím, Suối Đam Mê, Tiếng Hát Học Trò v.v…


Văn Quang là Trung Tá Giám đốc Đài Phát Thanh Quân Đội cho đến ngày tan hàng. Anh nhan sắc không hơn gì anh em chúng tôi bao nhiêu, nếu có gì hơn thì chỉ là anh hơn chúng tôi cái mác carihom Oméga bộ xương cứu chúa. Nhưng anh có cái số đào huê dễ nể. Anh có đến năm bà vợ – những bà cùng đương sự ăn ở công khai, chính thức vợ chồng với nhau, dù không cưới hỏi, không đãi ăn nhà hàng, trong thời gian dài ngắn không đều là một hai niên, ba bốn niên, tức là không kể những nhân tình, nhân bánh lâu lâu sáp lại nhấp nháy, tan hàng. Bà vợ nào của anh cũng nhan sắc trên mức trung bình. Đi cải tạo mười mấy mùa thu chết mới được về, Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến bút hiệu Văn Quang, có thừa tiêu chuẩn để đi HO sang Hoa Kỳ, nhưng anh đã không đi.


Văn Quang không sang Mỹ không phải vì ghét Mỹ.
Văn Quang ở lại Thành Hồ không phải vì ưa Việt Cộng.
Anh không sang Mỹ vì anh hùng thấm mệt, vì đại bàng mỏi cánh, vì những lý do riêng tư.
Hiện anh sống bình yên trong căn hộ ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Quận Ba, Sài Gòn.




ÁO VÀNG HOA

Sáng cuối năm trong căn nhà tối
Em mở tủ nhìn đời ngày cuối.
Mắt Em buồn bừng sáng mầu hoa
Em nhớ lại ngày may áo mới.
Hai năm rồi mặc áo bà ba
Đời tẻ nhạt như làn tóc rối.
Áo ướm thân, Em khóc, Em cười…
Em có biết Em vừa trẻ lại.
Đây áo hoa vàng, anh chọn, em may
Như giọt nước trong giòng tình ái.
Trong ưu phiền mắt lặng nhìn nhau
Em thầm hẹn áo này giữ mãi…!

Em yêu dấu, ngày Em trở lại
Đất ngàn năm, như cỏ, như hoa
Anh sẽ mặc cho Em lần cuối
Áo hoa này rồi tiễn, rồi đưa…

Em lại hỏi có ngày ta phải
Chia áo này cho các con ta?

Em yêu dấu, Em ơi, đừng ngại
Mặc cho đời tháng lại, ngày qua
Trong xương thịt ta còn giữ mãi
Những cái gì riêng của đôi ta.
Khi Em nằm xuống, khi tàn lửa
Trong hào quang của những tiên nga
Khi xe hạc vàng nhung tới cửa
Đón Em về xa cõi trời xa
Anh sẽ mở hồn Anh lấy áo
Mặc cho Em chiếc áo vàng hoa.

Trong u ám một ngày mây phủ
Nặng những sầu thương, những xót sa
Em đóng cửa hồn, che áo mới
Và ra đường trong chiếc bà ba.

Hoàng Hải Thủy
Tháng 7, 1977
Nhà 259/29 A Phạm Hồng Thái,
Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn.


Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (02)





Mario Puzo, văn sĩ Mỹ, tác giả The Godfather, cuốn tiểu thuyết viết về tổ chức Mafia ở Hoa Kỳ, một bestseller, từng bán 21 triệu cuốn, được dịch ra gần khắp các thứ ngôn ngữ trên trái đất, từ trần ngày 1-7-1999, tại thành phố Bay Shore, tiểu bang New York, thọ 78 tuổi.


Bạn đọc tiểu thuyết Việt Nam quen thuộc với The Godfather và biết danh tính Mario Puzo qua Bố Già, bản dịch Việt ngữ của Ngọc Thứ Lang. Bố Già được xuất bản ở Sài Gòn năm 1972. Năm 1970 nhật báo Chính Luận đã dịch The Godfather và đăng hàng ngày nơi trang trong theo kiểu phơi-ơ-tông – feuilleton. Nghe nói ông chủ nhiệm Đặng Văn Sung sang Pháp, lúc đó The Godfather được dịch sang tiếng Pháp; ông đọc, thấy hay, đem về giao cho ký giả Trọng Tấu dịch. Tên truyện dịch trên Chính Luận là Cha Đỡ Đầu.

Văn phong của Trọng Tấu không có ngôn ngữ côn đồ, du đãng, càn bạt, giang hồ, trẻ trung, nên không hợp với việc chuyển ngữ The Godfather, bản Trọng Tấu dịch lại là bản tiếng Pháp. Cha Đỡ Đầu đăng trên Chính Luận được vài tháng thì ngừng ngang. Tôi không biết nguyên nhân vì sao. Những năm ấy tôi không viết gì trên Chính Luận nên không hay lui tới tòa soạn.


Năm 1972 Nguyễn Đức Nhuận – hiện sống ở Cali, người chủ trương Tuần san Thứ Tư, quản lý nhật báo Sóng Thần cho đến ngày tan hàng – đưa The Godfather bản tiếng Mỹ cho Ngọc Thứ Lang dịch để xuất bản. Ngọc Thứ Lang lấy tên Bố Già và Bố Già trở thành tác phẩm tiểu thuyết ăn khách, bán chạy đáng kể một thời. Ngọc Thứ Lang thành công xuất sắc với bản dịch Bố Già, giọng văn của anh hợp với loại tiểu thuyết đầy kịch tính và bạo lực đặc biệt Mỹ là The Godfather.


Những năm từ 1984 đến 1988 sống quanh quẩn trong mấy phòng tù ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Lầu Bát Giác Chí Hòa, không biết đã bao nhiêu lần tôi kể đi, kể lại chuyện Bố Già cho anh em tù nghe. Nếu bạn theo dõi những chuyện anh em chúng tôi viết về những ngày tù đầy của chúng tôi chắc bạn đã biết chúng tôi gọi những buổi kể chuyện trong tù là “chiếu phim”. Buổi tối anh em tù cần có một người kể chuyện cho nghe, để khỏi phải nghĩ ngợi, để tâm trí bớt lo buồn, nguôi nhớ thương, thần kinh đỡ bị căng thẳng. Kể chuyện gì cũng được. Chuyện hấp dẫn, hay, có ý nghĩa càng tốt. Nhạt cũng không sao. Miễn là có kể. Tôi mang danh là tác giả một số tiểu thuyết nên ngay khi biết tôi mới bị bắt vào biệt giam, anh em ở nhiều phòng tập thể đã mong sau thời gian nằm sà-lim chịu thẩm vấn, tôi sẽ được đưa vào phòng họ để tôi kể chuyện cho họ nghe. Đáp ứng sự chờ đợi của anh em tôi phải gồng mình kể chuyện.


Tôi đã kể Thiên Long Bát Bộ, Cô Gái Đồ Long, Kiều, Tam Quốc Chí, Võ Tòng Đả Hổ và Võ Tòng Sát Tẩu, Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ, Chuyện Tình Quasimodo và Esmeralda, Chuyện Tình Cậu Lỗ-mê-đồ yêu cô Duy Liệt v.v… Và tôi kể chuyện Bố Già.


Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại và bán ở Hoa Kỳ. Chắc bạn không lạ gì cốt truyện Bố Già, tuy nhiên vì sự liên lạc của câu chuyện, tôi vẫn tóm tắt cốt truyện The Godfather:


“New York những năm 1946-1947… Ngũ Đại Gia Đình Mafia ngự trị thế giới Tội Ác, trong số có Gia đình Corleone. Mafia là tổ chức của dân Ý di cư sang Hoa Kỳ. Người Mỹ nhận xét dân Y-Ta-Lồ sang Hoa Kỳ nhiều anh làm bậy, chống lại xã hội và pháp luật, ăn cướp, buôn lậu, giết người, làm những chuyện bất hợp pháp; dân Ái Nhĩ Lan di cư sang Hoa Kỳ lại có nhiều người đứng về phe bảo vệ xã hội và pháp luật, nhiều anh làm cảnh sát, tức phú-lít. Don Corleone được gọi là Bố Già vì làm cha đỡ đầu nhiều anh nhỏ trong cộng đồng dân Mỹ gốc Ý ở NewYork. Chuyện bắt đầu – năm 1946, vừa sau Thế Chiến Thứ Hai – khi nhân vật Mafia tên là Sollozzo dự định đưa ma túy vào thị trường New York. Bố Già Corleone tuy phạm nhiều tội ác, kể cả tội giết người, tống tiền, xây dựng sự nghiệp bằng những trò gá thổ, đổ hồ nhưng lại chống việc khai thác ma túy. Bố Già quan niệm: Cờ bịch, đĩ điếm, rượu là những trò chơi của đàn ông, đàn ông có khả năng cưỡng lại những trò chơi đó. Người mê cờ bịch, đĩ điếm chỉ tan cửa, nát nhà, không đến nỗi chết thảm. Ma túy – cocaine, morphine đầu độc và giết giới trẻ dưới hai mươi tuổi, những teenagers – là thế hệ non dại, chưa biết suy xét, dễ bị cám dỗ. Và sa vào nanh vuốt của ma túy là tự hủy hoại cuộc đời, là chết thê thảm, chết trăm phần trăm, ngàn người như một, không phương thoát chết. Bố Già Corleone không chịu cộng tác với Sollozzo trong việc đưa ma túy vào New York. Trong cuộc nói chuyện giữa Bố Già với Sollozzo có mặt Sonny Corleone, con trưởng của Bố Già. Sonny sẽ kế tục Bố Già khi Bố Già cao tuổi rửa tay cất súng để an hưởng tuổi đời. Sonny để lộ ý muốn Bố Già nhận lời cộng tác với Sollozzo. Việc làm vụng dại đó của Sonny cho Sollozzo thấy một kẽ hở trong gia đình Corleone: Ông bố không ưng nhưng anh con chịu. Việc đưa ma túy vào New York không có Bố Già Corleone cộng tác sẽ không thành công. Sollozzo tổ chức giết Bố Già. Don Corleone bị bắn trên đường phố. Chiến tranh băng đảng bùng nổ giữa những Gia Đình Tội Ác ở New York. Bố Già bị thương nặng nhưng không chết, sau đó anh con Sonny lại bị băng đảng thù địch phục kích bắn chết. Người thay Bố Già nắm quyền lực và chỉ huy Gia đình Corleone là Michael, anh con thứ. Michael từng là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tham chiến ở Âu Châu trong Thế Chiến Hai”.


Tôi cảm động vì tình cha con trong The Godfather. Tình cha con được Mario Puzo diễn tả tuyệt vời trong đoạn Michael vào thăm Bố Già bị bắn, bị thương nặng, nằm một mình ban đêm trong bệnh viện. Trong những buổi tối dị kỳ không bao giờ tôi còn có thể lại sống, ở những Phòng 6 Khu C Một Số 4 Phan Đăng Lưu, Phòng 1O Khu ED Chí Hòa, khi kể cho các bạn tù nghe đoạn Michael nửa đêm vào bệnh viện thăm Ông Bố. Tôi xúc động nhớ lại những đêm xưa tôi ngồi lặng bên cha tôi, những lúc tôi cầm tay cha tôi, lúc tôi áp tai vào ngực cha tôi nghe tiếng trái tim ông đập loạn khi ông nằm hấp hối năm xưa, năm 1967.


Ngọc Thứ Lang dịch đoạn này như sau:


“…Khi Michael ra khỏi xe trước Bệnh Viện Pháp chàng ngạc nhiên thấy đường phố hoàn toàn vắng lặng. Đi vào bệnh viện chàng còn ngạc nhiên hơn khi thấy hành lang không một bóng người. Mẹ kiếp, Clemenza và Tessio làm cái gì đây? Dù không xuất thân từ West Point họ cũng biết là phải có người gác.


Những người khách cuối cùng đã ra khỏi bệnh viện, lúc này là gần mười giờ rưỡi đêm. Đã biết số phòng nên Michael vào thang máy lên thẳng phòng Ông Già. Không có ai canh trước cửa phòng. Cửa phòng mở. Chàng vào phòng. Có người nằm trên giường, qua ánh trăng Tháng Chạp xuyên qua màn cửa sổ Michael nhìn thấy mặt ông bố. Ngay cả lúc này vẻ mặt ông già vẫn điềm nhiên, lồng ngực ông lên xuống với những nhịp thở không đều. Những ống dây từ những cột thép bên giường gắn vào người ông. Michael đứng đó một lúc để biết chắc ông bố chàng không sao cả, rồi chàng ra khỏi phòng.


Chàng nói với y tá: “Tôi là Michael Corleone. Tôi chỉ muốn ngồi với bố tôi một lúc. Chuyện gì xẩy ra với những thám tử có nhiệm vụ bảo vệ ông bố tôi vậy cô?”
Y tá là một em trẻ tuổi, xinh xinh, tự quan trọng vì trách vụ của mình. “Ồ, ông thân của anh có quá nhiều khách nên làm trở ngại công việc của bệnh viện”, cô nói. “Cảnh sát đến mời mọi người ra trước đây mười phút. Mới đây hai thám tử cũng được sở của họ gọi về. Nhưng đừng lo, tôi vào thăm chừng ông luôn, tôi có thể nghe thấy tiếng động trong phòng ông. Vì vậy tôi để ngỏ cửa phòng”.


Michael trở vào phòng ông bố. Chàng nhấc điện thoại trong phòng, gọi về nhà. Sonny trả lời, Michael nói nhỏ: “Sonny, em đang ở bệnh viện. Em đến muộn. Sonny, không có ai ở đây cả. Không một người nào của Tessio. Không một thám tử ở cửa phòng. Ông già hoàn toàn không được bảo vệ”.


Giọng chàng run run.


Im lặng một lúc lâu rồi giọng nói của Sonny vang đến, thấp và cũng xúc động: “Đây là thủ đoạn của Sollozzo mà chúng ta đã nói đến”.


Michael nói: “Em cũng thấy thế. Nhưng sao nó có thể sai bọn cớm đuổi tất cả những người của ta ra khỏi đây? Có lẽ nào thằng chó đẻ ấy lại mua được trọn gói cả bọn Cảnh Sát New York?”


“Đừng sợ, nhỏ”. Giọng nói của Sonny xoa dịu. “Mình lại gặp may nhờ em đến bệnh viện vào giờ khuya này. Ở lại trong phòng ông già. Khóa cửa phòng lại. Anh cho người đến đó trong mười lăm phút. Ở yên đó, đừng hoảng. Được không, nhỏ?”


“Em không hoảng”, Michael nói. Lần thứ nhất kể từ khi vụ này xẩy ra chàng thấy cơn thù hận dâng lên trong chàng, cơn thù hận những kẻ thù của ông bố chàng.


Chàng đặt ống nói và nhấn máy gọi cô y tá. Chàng quyết định làm theo ý chàng mà không làm theo lệnh Sonny. Khi cô y tá vào, chàng nói: “Tôi không muốn làm cô sợ nhưng chúng ta phải đưa ngay ông bố tôi đi khỏi đây. Sang phòng khác hay sang tầng khác. Cô có thể gỡ những ống dây này ra để ta đẩy giường đi được không?”


Em y tá nói: “Không được đâu. Phải có phép của bác sĩ”.


Michael nói nhanh: “Cô đã đọc về ông bố tôi trên các báo. Cô thấy đêm nay không có ai ở đây bảo vệ ông. Tôi được tin có người sắp đến đây giết ông. Xin cô tin tôi và giúp tôi”.


Em y tá nói: “Không cần phải rút dây ra. Ta đẩy cả bàn thuốc đi theo giường”.


“Có phòng nào trống không cô?”, Michael thì thầm.


“Ở cuối dẫy”, em y tá nói.


Việc di chuyển được làm xong ngay, nhanh và hữu hiệu. Michael nói với cô y tá: “Cô ở trong này với ông bố tôi cho đến khi người của chúng tôi đến. Nếu cô ở phòng trực cô có thể bị nguy hiểm”.


Lúc ấy chàng nghe tiếng ông bố chàng nói trong giường, giọng nói khàn khàn nhưng vẫn mạnh, “Michael, con đấy à? Chuyện gì thế?”


Micheal cúi xuống giường. Chàng cầm tay ông bố. “Con đây, Mike đây, bố ơi”, Chàng nói. “Bố đừng sợ. Bố nghe con nói nhé, bố đừng nói gì, nhất là khi có ai gọi tên bố. Có kẻ muốn giết bố, bố hiểu không? Có con ở đây nên bố đừng sợ”.


Don Corleone, vẫn chưa biết hết những gì xẩy đến với ông, đau đớn ghê gớm, nhưng vẫn mỉm cuời hiền hậu vì giọng nói quan trọng của anh con út, ông muốn nói với anh, nhưng việc đó quá sức ông. “Tại sao bây giờ bố lại sợ chứ? Người lạ từng đến giết bố từ năm bố mới mười hai tuổi“.



Những lần kể chuyện mười mấy năm xưa trong tù, tôi kể lời Bố Già trong đoạn này: “Con ơi, Bố không bao giờ sợ cả”.


The Godfather được thực hiện thành phim năm 1972. Marlon Brando đóng vai Bố Già Don Corleone. Phim được nhiều giải Oscar. Năm 1975 đến và mãi mãi sau đó khán giả xi-nê Sài Gòn không được xem hai phim The Godfather và The Exorcist – nói là không kịp xem thì đúng hơn. Nghe nói hai phim The Godfather, The Exorcist đã đến Sài Gòn từ đầu năm 1975 nhưng người nhập phim còn ghim lại, đợi ngày lành, tháng tốt mới đem ra chiếu. Ngày lành, tháng tốt của những Thúc Ông là dịp có ngày lễ lớn, như tuần Lễ Giáng Sinh, Tết Nguyên Đán v.v… để rạp có đông khách đến xem. Đi tướt cả nước!


Hai mươi mùa lá rụng sau, những bộ phim video The Godfather, The Exorcist lén lút vào Sài Gòn, nhưng thế hệ khán giả xi-nê chờ đợi xem phim năm xưa, sau mười mấy năm bẩy nổi, ba chìm, lênh đênh tới bến, mặt ông nào ông nấy in hằn những vết roi đời, không còn hào hứng gì với việc xem phim xi-nê, dù có là phim The Godfather. Đọc tiểu thuyết The Godfather và thấy hay đến mấy, hay quá chời, quá đất, tự hẹn khi phim chiếu sẽ đi xem – như tôi chẳng hạn – lỡ dịp được coi The Godfather, The Exorcist năm 1975, năm tôi tuổi đời Bốn Bó đang xoan, sau cuộc biển dâu khi tuổi đời tôi Sáu Bó Lẻ Mấy Que tôi hững hờ với việc coi những phim video The Godfather, The Exorcist. Một thời mê đắm qua rồi, cho qua luôn. Khi tuổi tác đổi khác, tâm trạng độc giả, khán giả mê The Godfather hai mươi năm xưa cũng đổi khác. Thế hệ độc giả, khán giả trẻ hiện nay không còn mê chuyện Mafia. Phải chăng đó là nguyên nhân làm cho cuốn tiểu thuyết cũng viết về đề tài Mafia của Mario Puzo, xuất bản năm 1996 – The Last Don: Bố Già Cuối Cùng 

– không mấy ăn khách?


Mời bạn đọc thêm một đoạn The Godfather, đoạn vào truyện, Bonasera, chủ một Tang Nghi Quán, tức Nhà Đòn Đám Ma Mỹ, đến nhà Don Corleone dự đám cưới Connie Corleone, con gái ông Don.


Bonasera có cô con gái cưng bị hai thanh niên Mỹ đưa đi chơi và cưỡng hiếp. Hai gã bạo dâm, bạo hành đánh cô gái bị thương nặng. Là công dân tốt, Bonasera tin ở pháp luật của nước Hoa Kỳ dân chủ, thưa hai gã làm hại con mình ra tòa. Hai gã lại là con ông, cháu cha – con Thượng nghị sĩ, cháu Thống đốc v.v… – tòa xử chúng ba năm tù nhưng cho hưởng án treo. Tức là cho chúng ra về thơ thới hân hoan, không bị tù ngày nào. Thất vọng vì cái gọi là pháp luật Mỹ, chủ nhà đòn Bonasera đến tìm Bố Già Corleone:


“…Amerigo Bonnasera theo Hagen vào phòng và thấy Don Corleone ngồi sau cái bàn lớn, Sonny Corleone đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn. Đây là lần thứ nhất trong ngày Bố Già tỏ vẻ lạnh lùng. Ông không ôm cũng không bắt tay người khách. Ông chủ nhà đòn mặt mũi hốc hác chỉ được mời đến dự đám cưới vì bà vợ ông ta và bà vợ Bố Già là đôi bạn thân. Amerigo Bonasera không được Bố Già ưa mấy.


Bonasera mở đầu lời thỉnh cầu một cách quanh co và khéo léo: “Xin ông tha lỗi cho con gái tôi, nó là con đỡ đầu của bà nhà, hôm nay nó không đến chung vui với cô nhà ta được. Con gái tôi còn nằm ở bệnh viện”. Bonasera đưa mắt nhìn Tom Hagen và Sonny Corleone ngỏ ý mình không muốn nói chuyện trước hai người này. Nhưng Bố Già mặc kệ.


“Chúng tôi biết tai họa của cô con gái anh”, Don Corleone nói. “Nếu tôi có thể giúp anh bất cứ việc gì, anh chỉ cần nói. Dù sao thì vợ tôi cũng là mẹ đỡ đầu của con gái anh. Tôi không bao giờ quên vinh dự ấy”. Đây là một lời trách cứ. Ông chủ nhà đòn không bao giờ gọi Don Corleone là Bố Già theo như phong tục.


Bonasera, mặt sám ngắt, đành phải nói: “Xin cho tôi được nói chuyện riêng với ông”.


Don Corleone lắc đầu: “Tôi trao đời sống của tôi cho hai người này. Họ là hai cánh tay phải của tôi. Tôi không thể sỉ nhục họ bằng cách bảo họ đi chỗ khác”.


Ông chủ nhà đòn nhắm hai mắt lại một lúc, sau đó bắt đầu nói. Giọng nói của ông ôn tồn, đây là giọng ông vẫn dùng để an ủi tang gia bối rối. “Tôi nuôi dậy con gái tôi theo cung cách Mỹ. Tôi tin tưởng Mỹ quốc. Mỹ quốc đã cho tôi có sản nghiệp. Tôi cho con gái tôi được tự do đồng thời dậy cho nó không bao giờ làm gia đình mất danh dự. Con tôi có bạn trai không phải là người Ý. Con tôi đi xem xi-nê với thằng đó. Nó đi chơi đến khuya mới về. Thằng bạn nó không bao giờ chịu đến nhà gập vợ chồng tôi. Tôi chấp nhận những chuyện đó mà không nói gì, lỗi tại tôi. Hai tháng trước thằng đó đón con tôi đi chơi, cùng đi còn có một thằng bạn nó. Chúng cho con tôi uống whiskey rồi cưỡng hiếp con tôi. Con tôi chống lại. Con tôi giữ danh giá. Chúng đánh con tôi. Như đánh con vật. Khi tôi đến bệnh viện, con gái tôi hai mắt tím bầm, xương sống mũi bị gẫy, xương hàm cũng gẫy. Phải buộc lại bằng dây thép. Con tôi đau, khóc. “Ba ơi… Ba ơi… Sao chúng lại đánh con, sao lại đánh con?”. Tôi khóc”.


Bonaserra không nói được nữa, ông khóc nghẹn ngào nhưng giọng nói vẫn không bị chấn động.


Don Corleone, như không muốn, làm một cử chỉ tỏ sự ưu ái và Bonasera nói tiếp, giọng nói của ông trở thành giọng nói của con người đau khổ. “Sao tôi lại khóc? Con gái tôi là ánh sáng của đời tôi, con tôi rất có tình. Con bé xinh, đẹp. Nó tin người nhưng từ nay nó không còn tin ai được nữa. Nó cũng không bao giờ đẹp lại”. Bonnasera run rẩy, khuôn mặt hốc hác tím sẫm.


“Tôi đến với cảnh sát như một công dân Mỹ tốt. Hai thằng đó bị bắt. Chúng bị đưa ra tòa. Chứng cớ quá nhiều, chúng nhận chúng có tội. Chánh án tuyên án chúng ba năm tù nhưng cho hưởng án treo. Chúng được trở về tự do ngay ngày hôm đó. Tôi đứng ngây trong phòng xử như thằng ngốc, hai thằng khốn nạn đó cười nhạo tôi. Tôi nói với vợ tôi: “Chúng ta phải đến với Bố Già Corleone để xin công lý”.


Bố Già cúi đầu xuống để tỏ lòng kính trọng nỗi đau thương của người nói. Nhưng khi ông cất tiếng, những lời ông nói sắc lạnh vì bị xúc phạm. “Tại sao anh lại đến với cảnh sát? Tại sao anh không đến với tôi ngay từ lúc chuyện này mới xẩy ra?”


Bonasera nói nhỏ gần như không ra tiếng “Ông muốn gì ở tôi? Cho tôi biết ông muốn gì. Nhưng xin làm cái việc tôi xin ông làm”. Gần như có vẻ gì hỗn xược trong lời nói của Bonasera.


Bố Già nghiêm trọng hỏi “Anh muốn tôi làm gì?”


Bonasera nhìn Hagen và Sonny Corleone rồi lắc đầu. Bố Già, vẫn ngồi yên trên ghế, nghiêng mình về phía khách. Bonasera do dự rồi cúi xuống ghé sát môi vào tai Bố Già để nói. Bố Già nghe như ông linh mục trong tòa giải tội, mắt nhìn ra xa, bình thản, xa vắng. Hai người trong tư thế đó một lúc thật lâu, cho đến lúc Bonasera ngừng nói và đứng thẳng lên. Bố Già nhìn vào mặt Bonasera, ông này nhìn lại.


Sau cùng Bố Già nói: “Việc đó tôi không làm được. Anh yêu cầu việc quá đáng”.


Bonasera nói lớn, rõ: “Tôi xin trả ông bất cứ cái gì ông muốn”. Nghe câu đó, Hagen nhích thân mình, đầu lắc nhẹ. Sonny Corleone hai tay khoanh trước ngực cười ngạo mạn quay lại nhìn cảnh trong phòng lần đầu kể từ khi ông chủ nhà đòn vào phòng.


Bố Già đứng lên.Vẻ mặt ông vẫn bình thản nhưng giọng ông lạnh như thép. “Chúng ta biết nhau từ nhiều năm, anh và tôi”, ông nói với Bonasera, “nhưng cho đến ngày hôm nay anh không bao giờ đến tôi để hỏi ý hay nhờ giúp. Tôi không nhớ có lần nào anh mời tôi đến nhà anh uống cà phê hay không, dù vợ tôi là mẹ đỡ đầu đứa con gái duy nhất của anh. Hãy thành thật. Anh từ chối tình bạn của tôi. Anh không muốn mắc nợ tôi”.


Bonasera nói nhỏ, “Tôi không muốn bị rắc rối”.


Bố Già dơ tay lên. “Không. Đừng nói. Anh thấy Mỹ quốc là thiên đường. Anh có nghề nghiệp tốt, anh kiếm được tiền, anh nghĩ anh sống hoàn toàn an ninh và anh có thể hưởng thụ cuộc sống như anh muốn. Anh không cần có những người bạn chân chính. Cần làm gì, anh đã có cảnh sát bảo vệ anh, có tòa án, ai có thể làm hại anh và người thân của anh. Anh không cần Don Corleone. Tốt thôi. Tự ái tôi bị tổn thương nhưng tôi không phải là hạng người mời chào những người không thấy tình bạn của tôi có giá trị, tôi không ve vãn những người coi thường tôi”.


Bố Già ngừng nói, mỉm cười lễ độ nhưng mỉa mai với Bonasera. “Nay anh đến gặp tôi, anh nói “Don Corleone, thi hành công lý cho tôi”. Và anh không xin với sự kính trọng. Anh đến nhà tôi trong ngày cưới của con gái tôi, anh yêu cầu tôi giết người và anh nói” – giọng nói của Bố Già trở thành riễu cợt, nhại tiếng – “Tôi chi ông bất cứ cái gì.

Không, tôi không giận đâu nhưng tôi đã làm gì để anh đối xử với tôi bất kính đến như thế chứ?”


Bonnasera kêu lên trong lo âu và sợ hãi “Mỹ quốc tốt với tôi. Tôi muốn tôi là công dân tốt. Tôi muốn con tôi là người Mỹ”.


Bố Già chắp hai tay lại với vẻ tán thành toàn tâm: “Nói hay. Được lắm. Vậy thì anh đâu có gì để phải kêu rên. Quan tòa đã tuyên án. Mỹ quốc đã tuyên án. Đem hoa và kẹo đến cho con gái anh trong bệnh viện. Những thứ đó sẽ an ủi nó. Hài lòng đi. Dù sao chuyện này cũng chẳng quan trọng gì, hai thằng đó còn trẻ, phá nghịch hơi quá đáng, một trong hai đứa lại là con một chính trị gia có thế lực. Anh bạn Amerigo, anh lúc nào cũng lương thiện. Tôi phải công nhận, dù anh từ chối tình bạn của tôi, tôi tin tưởng ở lời nói của Amerigo Bonasera hơn tôi tin lời nói của nhiều người khác. Vậy thì anh hãy hứa với tôi là anh sẽ bỏ qua vụ này. Việc anh muốn làm không Mỹ chút nào. Tha thứ. Quên. Cuộc đời đầy những tai họa”.


Sự mỉa mai tàn nhẫn và khinh mạn cùng vẻ giận dữ kiềm chế của Bố Già làm cho ông chủ nhà đòn khốn khổ, khốn nạn người mềm như bún, nhưng Bonasera vẫn can đảm nói “Tôi xin ông cho tôi công lý”.


Don Corleone nói gọn: “Tòa án cho anh công lý”.


Bonasera ương ngạnh lắc đầu: “Thưa không. Họ cho hai thằng đó công lý. Họ không cho tôi công lý”.


Bố Già nhìn nhận sự phân biệt tế nhị ấy với cái gật đầu, rồi hỏi “Công lý của anh là gì?”


“Mắt đền mắt”, Bonasera trả lời.


“Anh đòi hơn thế mà”, Bố Già nói. “Con gái anh còn sống”.


Bonasera miễn cưỡng nói “Xin bắt chúng nó phải đau đớn như con gái tôi đã đau đớn”.


Bố Già chờ Bonasera nói thêm. Bonasera thu thập hết số can đảm còn lại và nói, “Tôi phải trả ông bao nhiêu?”. Câu hỏi như lời than tuyệt vọng.


Don Corleone quay lưng lại. Đây là hành động biểu lộ sự đuổi khách. Bonasera không đi.


Sau cùng, thở dài, như người tốt bụng không thể giận lâu hơn nữa người bạn lỗi lầm, Don Corleone quay lại với ông chủ nhà đòn, ông này mặt trắng bệch như mặt những thân chủ của Tang Nghi Quán.


Don Corleone nói dịu dàng, kiên nhẫn. “Tại sao anh lại sợ phải đến nhờ tôi? Anh đến pháp đình và anh chờ đợi cả tháng. Anh chi tiền cho bọn luật sư là bọn biết rõ anh chỉ là thằng ngớ ngẩn. Anh chờ đợi công lý ở một tên chánh án là tên đã bán mình, nó không khác gì một con điếm vỉa hè tồi tệ nhất. Năm tháng qua, khi anh cần tiền, anh đến ngân hàng để phải trả những khoản tiền lời cắt cổ, mổ bụng, anh đứng chờ, mũ cầm tay, như thằng ăn mày, trong khi chúng lục lọi đời tư anh, ngửi cả đít anh để xem anh có thể trả nợ chúng được không”.


Bố Già ngừng nói, giọng ông trở nên nghiêm khắc hơn. “Nhưng nếu anh đến với tôi, tiền của tôi là tiền của anh. Nếu anh đến với tôi để đòi hỏi công lý thì giờ này hai thằng khốn kiếp làm hại con gái anh đã khóc hết nước mắt. Nếu chẳng may người lương thiện như anh mà có kẻ thù, kẻ thù của anh sẽ là kẻ thù của tôi”, – Bố Già đưa tay lên, ngón trỏ chỉ vào Bonasera – “Khi đó, tin tôi đi, thiên hạ sẽ sợ anh”.


Bonasera cúi đầu, nghẹn lời “Xin là bạn tôi. Tôi nhận”.


Don Corleone đặt bàn tay lên vai Bonasera. “Tốt”. Ông nói, “anh sẽ có công lý của anh. Có ngày, ngày ấy có thể sẽ không bao giờ đến, tôi sẽ nhờ anh làm cho tôi một việc gì đó. Cho đến ngày ấy, hãy coi cái công lý này là món quà tặng của vợ tôi, bà mẹ đỡ đầu con gái anh”.


Khi cánh cửa phòng đóng lại sau lưng ông chủ nhà đòn biết ơn, Don Corleone nói với Hagen “Giao việc này cho Clemenza, bảo nó dùng mấy tên nào tin được, mấy tên không say máu làm tới khi ngửi thấy mùi máu. Dù sao ta cũng không phải là những tên sát nhân…”


Bạn nghĩ gì sau khi đọc đoạn truyện trên đây?


Tôi nghĩ đó là đoạn truyện tố cáo, đả kích xã hội Mỹ, pháp luật Mỹ, công lý Mỹ, lối sống Mỹ, lý tưởng Mỹ, quốc gia Mỹ, người Mỹ nặng nề nhất, tai hại nhất. Sự đả kích thực khủng khiếp. Con người sống trong xã hội phải được pháp luật và xã hội bảo vệ. Không có sự bảo vệ ấy con người không thể sống được. Con người cổ xưa sống man dã với luật thiên nhiên mạnh được, yếu thua. Con người thời đại ta sống trong xã hội được tổ chức có trật tự, có sự hợp lý. Nhưng cái xã hội Mỹ trong The Godfather của Mario Puzo gần như hoàn toàn không có công lý, không có pháp luật. Nói cách khác công lý, pháp luật Mỹ trong The Godfather không đáng tin cậy, không bảo vệ được người lương thiện.


Vì nguyên nhân đó bọn Mafia tự thi hành luật pháp của chúng, thi hành pháp luật và công lý theo ý chúng. Nếu bất cứ một nhóm người nào đó cũng tự thi hành pháp luật theo ý mình thì còn gì là xã hội nữa??? Con người trở lại thời man dã mạnh được, yếu thua – thời xưa yếu có thể thua nhưng yếu vẫn còn có thể sống, thời này yếu không những chỉ thua mà sẽ chết ngắc. Nếu lý luận và việc làm của những nhân vật Mafia như Don Corleone trong The Godfather là đúng thì trên cõi đời này, ít nhất là ở Mỹ quốc, chỉ những tên hung dữ, bạo tợn, có sức khỏe, có phương tiện giết người và dám giết người… là có quyền sống hay sao???





Năm 1951 tôi rời Hà Nội vào Sài Gòn. Sáng mùa xuân, phi trường Gia Lâm trắng mưa xuân – mưa bụi, loại mưa đặc biệt chỉ mùa xuân ở Bắc Việt mới có. Hạt mưa thật nhỏ, chỉ những thiếu nữ Hà Nội mặc áo nhung mới có làn mưa trăng trắng bám trên hai cánh tay áo. Áo nhung thôi, những loại hàng khác thấm nước mưa nên không có làn mưa trắng mỏng này.


Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu… Năm ấy tôi mang theo cây đàn lên phi cơ nhưng số tôi không khá về mặt đàn địch, ba lần tôi học đàn nhưng rồi tôi cũng bỏ cuộc, không chơi nổi được lấy một bài tủ cho ra hồn như bài La Vie En Rose tôi rất thích. Năm 1950 tôi học đàn thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, năm 1951 tôi học đàn thầy Vĩnh Lợi ở Sàigon, năm 1957 tôi học đàn thầy Lâm Tuyền ở Sài Gòn. Ba lần học mà vẫn không đàn được. Quá tam ba bận. Không được là không được.


Năm 1952 tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tòa soạn ở đường Bonard, gần tiệm ăn Kim Hoa cạnh rạp xi-nê-ma Casino de Saigon. Thời ấy – một nửa thế kỷ trôi qua rồi còn gì – Sài Gòn thanh vắng, đời sống ở Sài Gòn tương đối thanh bình, chiến tranh Việt-Pháp diễn ra dữ dội ở miền Bắc, miền Trung, những tờ nhật báo Sài Gòn không có nhiều tin giựt gân – kể cả những tin không giật gân, tin xe cán chó – để đăng. Một hôm có chiếc xe buýt chạy đường Phú Nhuận – Sài Gòn lạc tay lái đâm vào cổng Dinh Gia Long, vài người bị thương nhẹ. Năm ấy Cao Ủy Pháp ở trong tòa nhà về sau ta gọi là Dinh Độc Lập, chính phủ ta, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, ở Dinh Gia Long. Tôi đến nơi xẩy ra tai nạn lấy tin. Đang đứng láng cháng hỏi và ghi chép thì nghe tiếng người hỏi:


– Báo nào thế?


Người hỏi là Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, người những năm 70 là dịch giả tiểu thuyết Bố Già dịch từ The Godfather của Mario Puzo. Đấy là lần đầu tiên tôi gặp Tú. Tú trạc tuổi tôi, công tử Bắc Kỳ – những năm đầu thập niên 50, chúng tôi mới hai mươi tuổi. Tôi vào Sài Gòn đã sớm, Tú còn vào Sài Gòn sớm hơn tôi. Gập nhau chúng tôi thân nhau ngay. Tú nói anh từng là nhân viên tòa báo của ông Hiền Sĩ – tôi quên tên tờ báo này. Đây là tờ báo Việt đầu tiên ra đời ở Sài Gòn sau khi người Pháp trở lại Đông Dương năm 1945. Trong tòa soạn tờ báo này có anh Trường Sơn Nguyễn Huy Thái, một ký giả kỳ cựu của làng báo Sài Gòn. Một bút hiệu khác của anh Thái là Huy Thanh. Anh đã mất khoảng năm 1998 ở Sài Gòn. Năm 1952 khi tôi gặp Tú và thân với Tú, tờ báo của ông Hiền Sĩ đã đóng cửa từ lâu, ông Hiền Sĩ đã về Chợ Gạo, Mỹ Tho làm Cai Tổng. Có lần tôi gập ông đến tòa soạn báo Sài Gòn Mới thăm ông bà Bút Trà. Lên Sài Gòn, ông Hiền Sĩ vẫn ăn bận đúng kiểu Cai Tổng Nam kỳ lục tỉnh: đầu đội mũ nỉ, miệng ngậm ông vố, tay cầm ba-toong, mặc bộ đồ sá xẩu, chân đi giép, răng vàng, nói cười rổn rảng.


Về chuyện Tú là nhân viên tờ báo của ông Hiền Sĩ, tôi phải viết thêm: đấy là chuyện Tú kể với tôi. Mới đây khi nhắc đến Tú, một ông bạn nói Tú du học ở Paris đến năm 1954 mới về nước. Tôi hỏi ai nói, ông bạn nói Tú nói. Tôi biết Tú không đi Tây, đi Tầu chi hết, kể cả Tây Ninh, Tú cũng chưa bao giờ đi. Thành ra chuyện Tú nói với tôi anh từng là nhân viên nhật báo của ông Hiền Sĩ, tôi sợ cũng chỉ là chuyện Tú nói.


Tú bằng tuổi tôi, học hành lem nhem như tôi, chúng tôi cùng bỏ học sớm, cùng biết tí đỉnh Pháp văn, Anh văn. Tú sắc xảo nước đời hơn tôi, ít tuổi nhưng hay chơi trội: mới hai mươi tuổi đã vào Nhà Cercle Sòng bạc Kim Chung đánh roulette, hút thuốc phiện. Năm 1955 Tú kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển “Tại sao tôi di cư” cho Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa – thời Bộ trưởng Cao Đài Phạm Xuân Thái. Nghe nói ông Bàng Bá Lân là tác giả quyển sách nhỏ ấy. Sách ra đúng thời điểm. Tú có cả trăm ngàn đồng, số tiền thật lớn thời đó. Anh ăn diện: sơ-mi Valisère hàng nylon mới từ Paris sang bán ở tiệm đồ đàn ông mode nhất, đắt nhất thời đó trên đường Tự Do, dùng đồng hồ vuông mặt đen, mũ Mossant, cặp da nâu bệ vệ như cặp của Bộ trưởng Phạm Xuân Thái, máy chữ portatif, quạt máy Marelli, hút thuốc lá Mỹ Phillip Morris Vàng Kingsize, bật lửa Dupont, ăn cơm Tây, rượu chát v.v…


Và Tú gặp tình yêu. Nàng là cô giáo người Bắc, nhà ở gần nhà Tú – đường Gennibrel, từ sau 1956 là đường Huyền Quang, Tân Định. Cô giáo có chồng. Chồng nàng ra bưng kháng chiến. Nàng ở Sài Gòn dậy học, sống với đứa con nhỏ và bà mẹ, chờ đợi chồng trở về. Chiến tranh chấm dứt, đất nước chia đôi, tháng 12 năm 1954 chồng nàng từ Đồng Tháp Mười tập kết lên tầu Ba Lan ra Bắc. Thấy chồng không chịu trở về, cô giáo thất vọng. Nàng trao trái tim nàng cho Tú. Cuộc tình của họ gặp trắc trở. Cô giáo tự tử chết, bỏ lại mẹ già, con thơ. Thật tội. Đời Tú, từ cái chết bi thảm của cô giáo, bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong một nhà bán thuốc phiện ở hẻm Monceaux, Tân Định – sau 1956 là đường Huỳnh Tịnh Của nối dài. Anh ăn, hút, ngủ trong nhà đó luôn, bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da trả tiền hút. Tú ra khỏi nhà đó hai tay không với bệnh nghiện hút nặng.


Từ sau năm 1954 đất nước chia đôi, nguồn cung cấp á phiện cho miền Nam Việt Nam, nay là Việt Nam Cộng Hòa, không đến từ Bắc Việt nữa mà đến từ vùng Xiêng Khoảng nước bạn Ai Lao, hoặc vùng gọi là Tam Giác Vàng. Hàng về bằng đường hàng không. Năm 1961, 1962 Ai Lao có nạn binh biến xẩy ra chí chạt: Đại úy Nhẩy Dù Khong Le làm đảo chính, rồi hai ông Hoàng Phoumi, Phouma tranh quyền Thủ Tướng đánh nhau liên miên. Trong một lần hai ông Hoàng Lèo tranh quyền, Vientiane bị giới nghiêm, phi trường Vientiane đóng cửa nhiều ngày. Phi cơ không bay, á phiện Lèo không về được Sài Gòn. Tình hình giới HítTôPhê Việt Nam Cộng Hòa thập phần nguy kịch. Đệ tử của Cô Ba Phù Dung có thể nhịn ăn nhiều ngày nhưng khônng thể nhịn hút dù chỉ là nửa ngày. Đệ tử Cô Ba Phù Dung có thể thiếu cơm – thực ra là mấy ổng Tiên Ông Phi Yến Thu Lâm săng phú cơm, săng phú luôn cả thịt cá, rau dưa – nhưng mấy ổng không thể nửa ngày không có thoóc. Thời ấy trong giới Hít Tốp có câu nói đùa:


– Phu Mi, Phu Ma đánh nhau, chỉ có PhuMơ chúng mình là chết!


PhuMơ: fumeur, tiếng gọi khác là phum, dân phum, tức dân hút thuốc phiện.


Mà Phu Mơ Mít chết thật. Hàng không về, thuốc tăng giá. Những nhà còn thuốc giữ lại không bán ra. Gần như có tiền và chịu giá đắt mấy cũng không mua được thuốc. Mà lính của Cô Ba thì tuyệt đại đa số là đọi, tức tiên khồng. Chít mất. Chít là cái chắc! Nô thoóc! Không có thoóc! Làm sao bi giờ? Trong cơn nguy cấp ấy không biết ông Con Trai Bà Cả Đọi Hít Tô Phơ thông minh nào có óc khoa học vật lý hóa nẩy ra sáng kiến thần sầu cứu nguy cho thân mình và đồng bạn bằng cách: lấy sái thuốc phiện nấu với nước, lọc đại khái cho nước thuốc không có cặn, rút vào ống chích, chích thẳng vào gân máu. Sáng kiến này dựa trên sự phân tích khoa học: hút khói thuốc phiện vào phổi, phổi đưa chất thuốc vào máu. Tiến trình này mất thì giờ và tốn thuốc, mười phần thuốc được dùng thì chất vào máu chỉ được hai, ba phần. Tại sao lại không nấu cho sái tan ra nước – thuốc phiện chưa hút cháy thành sái sao lại không dùng được trong trò chích choác này – lấy nước sái chích thẳng vào mạch máu? Chích như vậy là thuốc vào máu đủ chăm phần chăm, ép-phê liền tù tì tút suỵt, chưa rút mũi kim ra thuốc đã vào đến tim, lại không bị tiêu hao, phí phạm một ly ông cụ nào.


Thế là từ đó thế giới ma túy Việt Nam Cộng Hòa có thêm trò chích choác. Rồi màn kịch vô duyên mấy trự gà Lèo không bôi mặt cũng đá nhau sặc mắm ngóe cũng phải ngừng, á phiện lại từ Lèo bay về Sài Gòn đều đều, nhưng dân nghiện Sài Gòn đã có thêm trò chích choác. Dân nghiện ma túy Âu Mỹ chích cocaine, heroine, gọi chung là bạch phiến, chất trắng. Dân nghiền Việt chích bằng nước sái thuốc phiện, chất nước mầu nâu sẫm hay nhạt, đậm hay đặc, tùy theo số sái và số nước nhiều hay ít. Người đã choác khó có thể bỏ choác. Đang hút 1000 đồng, người nghiện chỉ cần choác 100 đồng là phê khủng khiếp, choác phê hơn hít nhiều. Và choác cũng tàn phá con người nặng, mạnh và nhanh hơn hít rất nhiều. Cai thuốc phiện khó hơn lên trời, nhưng người nghiện hút may ra còn có thể cai được – cai: bỏ hút – còn choác thì vô phương. Choác một năm, cơ thể bị tàn phá bằng hít mười năm.


Tú Lé – Tú bị lé một mắt nên chúng tôi gọi anh là Tú Lé hay Tú Lếch – từ hít sang choác. Những năm 70, Tú chuyên mặc sơ-mi dài tay. Gân máu trên hai cánh tay anh bị chích nhiều quá thành trai cứng, đen sì, trũng xuống như lòng máng nước. Tú viết cho Tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và lai rai cho nhiều báo khác, lấy bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Nhuận đưa The Godfather cho Tú dịch. Tú chọn tên Bố Già và bản dịch Bố Già là một bestseller của tiểu thuyết Sài Gòn những năm 1971, 1972.


Năm 1976 Tú và tôi đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho văn nghệ sĩ Sài Gòn do Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố Hồ chí Minh tổ chức. Cùng dự khóa này với chúng tôi có Nguyễn Đình Toàn, Phan Nghị, Cao Nguyên Lang v.v… Hai mươi mốt ngày học tập, học viên được Thành Ủy cấp mỗi ngày một đồng, tiền công tác phí. Hôm học viên được mua nhu yếu phẩm – đúng hơn được phát số nhu yếu phẩm này – tiền mua lấy từ trong số 21 đồng tiền công tác phí: hai hộp sữa, hai gói thuốc điếu Vàm Cỏ, một ký đường, hai gói mì, một cây kem đánh răng, nửa ký bột giặt, hai trăm gam bột ngọt v.v… Lãnh nhu yếu phẩm xong học viên Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, biến mất liền trong hai ngày không đến lớp. Chúng tôi nói với nhau: “Ngọc Thứ Lang mang nhu yếu phẩm đi hưởng bồi dưỡng rồi”. Anh đổi số nhu yếu phẩm ấy lấy thuốc chích.


Cuối 1976, ký giả Hồ Ông – hiện làm báo ở Sydney, Úc – cho tôi hay: “Anh Tú bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên Bình Triệu. Anh ấy nhắn về bảo anh lên thăm”. Một sáng, Hồ Ông và tôi trên hai xế đạp lên Bình Triệu thăm Tú. Trung Tâm cai ma túy của thành phố được đặt trong tòa nhà Tu viện Fatima. Tu viện vừa xây cất xong, chưa khai trương thì bị chiếm. Phòng ốc rộng rãi, mát mẻ, sạch sẽ, thênh thang, thừa tiện nghi, hồ nước máy lớn ở vườn sau, tha hồ tắm. Mỗi phòng dự định dành cho một tu sĩ nay có ba, bốn anh nghiện ở, phòng không có đồ đạc, bàn ghế gì cả, chỉ có mấy cái chiếu trải trên sàn. Đa số là dân choác, bị công an hốt từ những động choác. Rất ít người được gia đình tiếp tế. Anh em vào đây chỉ với một bộ quần áo đang mặc trên người.


Khi tôi đến gập Tú, anh đã khoẻ, đi lại, ăn uống được. Những vết chích trên da thịt anh bị lở loét nhưng không sao, rồi sẽ lành. Nhiều người cai choác bị lở như vậy. Tú dẫn tôi đến xem tờ bích báo của Trung Tâm Phục Hồi Nhân Phẩm. Báo có 7 bài, một mình Tú viết 5 bài. Nghề của chàng. Tú kể chuyện có nữ ký giả ngoại quốc đến thăm Trung Tâm, Tú nói được tiếng Pháp, tiếng Anh nên ban quản đốc đưa anh ra nói chuyện với khách. Nữ ký giả ngạc nhiên khi nghe nói Tú là dịch giả The Godfather của Mario Puzo. Chắc cô nghĩ, theo những tiêu chuẩn kinh tế thị trường Âu Mỹ, đã là dịch giả The Godfather thì đâu có thể thân tàn, ma dại quá đến như Ngọc Thứ Lang. Cô nhà báo không tin. Tú được phép về Sài gòn lấy quyển Bố Già đem lên Trung Tâm cho nữ ký giả thấy là thật.


Tú nói sau thời gian cai nghiện ở Trung tâm Bình Triệu, đệ tử Cô Ba sẽ phải đi nông trường cải tạo ít nhất là hai năm, nhưng vì Tú có khả năng ban quản đốc sẽ giữ Tú lại làm việc ở Trung tâm. Tốt thôi. Đấy là lần cuối cùng tôi gặp Tú. Từ lần chúng tôi gặp nhau đầu tiên năm 1952 đến lần gặp nhau cuối năm 1976, 24 mùa lá rụng đã qua cuộc đời chúng tôi.


Năm 1977 tôi bị bắt lần thứ nhất. Hai năm tôi sống trong Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Năm 1979 trở về mái nhà xưa tôi được tin Tú đã chết ở Trại Cải Tạo Phú Khánh. Trại này nằm giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Tôi nhớ Tú nói anh sẽ được giữ lại Trung Tâm Bình Triệu, tại sao anh lại phải đi Phú Khánh? Tôi hỏi và được biết nguyên nhân như sau: một hôm Trung Tâm cần in một số tài liệu. Tú từng làm báo, biết về việc in và nhà in nên ban quản đốc giao tiền cho Tú mang tài liệu về Sài Gòn in. Đến nhà in Tú đặt in, để hai chú bạn ngồi lại, đem tiền in đi luôn. Tú đi choác. Hai chú bạn ngồi va-ly đói dài, tiền ăn cơm trưa không có, tiền lấy đồ in cũng không luôn. Tú biến mất vài ngày rồi cũng trở lại Trung tâm. Ban quản đốc thấy không thể giữ Tú lại nên cho Tú đi trại. Nghe nói một sáng trời lạnh ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh, Tú rít điếu thuốc lào, đứng tim, ngã ra chết.


Tú có một bà chị. Năm 1955, khi đất nước ta, bị cắt đứt ở khúc Bình Định – Quảng Ngãi, sau 9 năm chiến tranh mới liền một giải từ sông Bến Hải đến Mũi Cà Mâu; thời ông Phạm Xuân Thái làm Bộ trưởng Bộ Thông Tin, Tú và tôi đi một chuyến miền Trung. Tú đi với tư cách ủy viên Bộ Thông Tin, tôi là phóng viên nhật báo Sài Gòn Mới. Tú đưa tôi đến thăm gia đình bà chị Tú ở Lăng Cô, trên đường Huế – Đà Nẵng. Ông anh rể Tú năm ấy là Trung úy Bác sĩ Quân Y. Anh rất đàng hoàng – danh từ thời đó là réglo – bà chị của Tú hiền hậu. Sau đó, đến những năm 1960 tôi nghe nói ông anh rể của Tú làm giám đốc một quân y viện ở Đà Lạt. Tú lên chơi, vào phòng thuốc của quân y viện, đòi chìa khóa, mở tủ thuốc cấm, lấy cocaine, morphine chích loạn cào cào. Nhân viên thấy Tú là em vợ của bác sĩ giám đốc nên không dám ngăn. Khi bác sĩ biết, ông cấm cửa không cho Tú đến nhà nữa.
Những năm về sau Tú sống trong nhà anh Thạch Thái Phúc, đường Bùi Thị Xuân, Sài Gòn. Anh Phúc là ký giả pháp đình, tức tòa án. Anh có dáng người bệ vệ, kính trắng, ria mép, lúc nào cũng comlê, cavát, cặp da, ô đen. Không ai dám chứa một ông chích choác không phải là con cháu mình ở trong nhà, anh chị Phúc đã chứa Tú. Nghe nói bà mẹ của anh Phúc và bà mẹ của Tú là hai bà bạn thân. Bà mẹ của Tú ở lại Hà Nội. Năm 1954 khi gia đình anh Phúc di cư vào Nam, bà mẹ của Tú có lời nhờ bà mẹ anh Phúc trông nom, săn sóc Tú. Anh chị Phúc làm theo ý bà mẹ, cưu mang Tú mãi. Anh chị cho Tú ăn ở, chỉ có tiền đi choác là không. Anh Phúc thông gia với Minh Vồ Con Ong. Minh đã qua đời năm 1993. Anh Phúc còn sống ở Sài Gòn.


Năm 1986 theo Liên Xô, theo Trung Cộng, Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Nguyễn Văn Linh ban hành “đổi mới” và tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ”. Cùng với hằng hà sa số những tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam Cộng Hòa từng bị lên án là đồi trụy, phản động, tuyên truyền cho thực dân Mỹ, bị tịch thu, bị hủy hoại, tiểu thuyết Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại. Hai nhà xuất bản tranh nhau in Bố Già: Nhà Xuất Bản Trẻ Thành Hồ và Nhà Xuất Bản Văn Hóa Hà Nội.


Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, chết rồi, hai nhà xuất bản không phải trả tiền bản quyền Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại ở hải ngoại. Nhà xuất bản Việt ở hải ngoại cũng miễn chi tiền bản quyền cho Ngọc Thứ Lang.


Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết bestseller từng bán đến 21 triệu cuốn, qua đời ở nhà riêng trong thành phố Bay Shore, tiểu bang New York, ngày Một tháng Bẩy năm 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, qua đời ở Trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con.

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (03)





“Chữ Thọ vừa ăn đứt Ngọa Long.
Bến Nằm dư biết đục hay trong.
Chỉ thương kiếp đá ai bày trận,
Để ngấn vàng reo chợt rối vòng“.


Thơ Vũ Hoàng Chương làm năm 1969, năm nhà thơ 55 tuổi. Năm ấy ông thọ hơn Khổng Minh Gia Cát Lượng một tuổi. Thơ nói đến Ngọa Long – Rồng Nằm. Ngọa Long Gia Cát là Rồng Nằm ở Nam Dương, Trung Quốc. Vũ Hoàng Chương là Rồng Nằm ở Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa.


Tháng Ba 1976 – năm Bính Thìn, tức năm Rồng – Cộng sản Hà Nội phát động chiến dịch bắt giam văn nghệ sĩ VNCH. Trong vòng hai ngày, hai đêm khoảng ba mươi văn nghệ sĩ ta bị bắt, trong số có các anh Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Trần Việt Sơn, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương…


Nói đến Vũ Hoàng Chương là nói đến Thơ. Vũ Hoàng Chương không cần có cái danh thi sĩ đi trước tên. Từ năm 1965 Vũ Hoàng Chương không còn là thi sĩ nữa, ông là thi bá. Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ tan tành, thi bá cùng những văn nghệ sĩ Sài Gòn chịu chung số phận bi thảm cùng với nhân dân: tù đày, tuyệt vọng, đói khổ, bị sỉ nhục, bị kết tội. Khi Vũ Hoàng Chương là thi bá, ông được người ta trịnh trọng mời về cư ngụ trong biệt thự của người ta ở khu Lăng Cha Cả. Từ những năm đầu 1970, thi bá không còn bận âu phục com-lê vét-tông nữa. Thi bá bận áo dài ta. Tết đến, thi bá bận áo sa mầu lam ngọc, cầm quạt giấy, ngồi chụp ảnh trên hiên nhà bên chậu mai vàng, trông phong nhã cứ như thi sĩ Tầu Đường Bá Hổ.


Cờ đỏ, súng AK, nón cối, giép râu ngơ ngáo vào Sài Gòn. Trong một sớm, một chiều thi bá trở thành “tội nhân” của chế độ Cộng sản. Người ta đuổi ông bà thi bá đi khỏi biệt thự của người ta không chút nể nang. Ông bà thi bá đưa nhau về sống ở khu Khánh Hội, chung nhà với bà quả phụ Đinh Hùng. Tháng Ba 1976 Công an thành Hồ đến nhà đưa thi bá đi. “Người ta” đây là bà Mộng Tuyết, người có thơ trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân – Hoài Thanh.


Cộng sản Hà Nội coi toàn bộ tác phẩm văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa là phản động, đồi trụy. Họ cấm hết, tịch thu, tiêu hủy hết. Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng bị xếp vào loại Thơ Ma Mị, Bệnh Hoạn.


Những mùa thu lá bay theo nhau qua. Cộng sản vẫn còn đó, những anh Cán Cộng làm văn hóa như anh Trần Trọng Đăng Đàn, người từng viết mạt sát Vũ Hoàng Chương, vẫn còn đó; nhưng, bất chấp những đổi thay nhân thế – vào những năm 1987, 1988, sau Đại Hội Cộng Đảng thứ Sáu, Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ – tác phẩm của Vũ Hoàng Chương ngang nhiên xuất hiện trở lại trên những giá bày trang trọng nhất trong các tiệm sách thành Hồ.


Việt Cộng tranh nhau tái bản tác phẩm của Vũ Hoàng Chương. Nhà xuất bản Trẻ thành Hồ tái bản những tập thơ Mây, Thơ Say, nhà xuất bản Đồng Nai in tập Thơ Vũ Hoàng Chương, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Hà Nội tái bản hồi ký “Ta đã làm chi đời ta?” của Vũ Hoàng Chương với vài chương bị cắt bỏ.


Chỉ mười năm sau ngày Vũ Hoàng Chương bị mạt sát, bị bắt giam, tác phẩm bị cấm đoán, chính những kẻ đã nặng lời mạt sát, đã bắt giam Vũ Hoàng Chương, lại ca tụng Vũ Hoàng Chương ở ngay giữa lòng thành Hồ. Mời bạn đọc bài viết dưới đây đăng trên tuần báo Thanh Niên, ấn hành ở Sài Gòn năm 1996:


“Câu chuyện văn học: Đọc Hồi Ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta?” – Người viết: Tây Tạng”


Khi tái bản cuốn “Ta Đã Làm Chi Đời Ta” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976), nhà xuất bản Hội Nhà Văn trong lời dẫn đã xem đó là “một trong những tư liệu có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về không khí văn học thời ấy” (trước 1945).


Trong cuốn hồi ký đó Vũ Hoàng Chương kể rằng, sau khi in tập Thơ Say (1940), nhiều bạn thơ của ông nóng lòng chờ đợi thi phẩm Mây ra mắt, trong đó có Huy Cận. Một hôm gặp nhau ở Cống Chéo, Hàng Lược, Huy Cận tay bắt, mặt mừng rồi ứng khẩu liền hai câu thơ: “Đã lâu gặp lại Chàng Say. Lửa Thiêng xin đợi chờ mây xuống trần“. Ý muốn nhắc tập thơ Mây của Vũ Hoàng Chương. Vừa nghe xong, ông nghĩ rất nhanh rằng có lửa phải có khói và ngâm tiếp hai câu nối theo Huy Cận: “Mây kia chẵng chịu xuống trần. Lửa ơi theo khói lên gần với Mây“. Huy Cận lấy làm thú vị, lôi ngay Hoàng (VHC) vào hiệu phở đầu phố Hàng Đồng, khăng khăng đòi đãi Hoàng một chầu kỳ no thì thôi. Đó là năm 1942.


Mùa thu năm sau (1943) nhà xuất bản Đời Nay in tập thơ Mây, “nó đã xuống tà tà theo lời gọi âm binh của phù thủy Tô Ngọc Vân (…) Bầu rượu và đám mây đều mầu nâu, bìa sách thì mầu vàng rực rỡ (…) chiếc bầu rượu này chẳng hiểu có phải Tô Ngọc Vân đã chiêm bao nhặt được ở tận Đông Hải, do Lý Thiết Quài đại tiên bỏ quên hay không. Chỉ biết hình thù nó mập tròn, nét vẽ đậm, và đặt chênh chếch tưởng đâu sắp té ngửa đến nơi, và té ra ngoài bìa sách“.


Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết một cách di dỏm như vậy trong hồi ký trên. Quanh chuyện tập Mây, ông nhắc đến nhóm Xuân Thu Nhã Tập, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Khoát… cách in ấn, tiền nhuận bút có giá thời ấy, chuyện “mãi văn”, những bữa tiệc biên bông (ghi nợ) có thịt bò tái, gà luộc, chả giò, nấm hương…


Ngoài Thơ Say, Mây, Vũ Hoàng Chương còn là tác giả của Rừng Phong (1954), Hoa Đăng (1959), Cảm Thông (1960), Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Trời Một Phương (1962), Lửa Từ Bi (1963), Bút Nở Hoa Đàm (1967), Cành Mai Trắng Mộng (1968) và cuốn Hồi ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta?” xuất bản năm 1974. Trong đó ông nhắc đến nhiều kỷ niệm liên quan đến những văn nghệ sĩ thời trước, như chuyến tầu có tác giả O Chuột, Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, và tác giả Lỡ Bước Sang Ngang cùng đi với ông đến Phủ Lạng Thương. Ba người tìm đến nhà ông Bàng Bá Lân, tuy cả ba “chẳng ai có dịp nhất kiến với ông Bá họ Bàng cả. Không biết đến quấy rày người ta có tiện chăng. Nhưng suy đi, xét lại đàng nào cũng là trong văn giới với nhau. Tương phùng hà tất tằng tương thức. Bạch Cư Dị chẳng đã bảo thế là gì!” Quả vậy, cả ba được Bàng Bá Lân tiếp đãi tử tế, cơm nước no bụng, rồi mời khách dạo phố cho tiêu cơm.


– Đến cầu sông Thương sẽ quay về ngủ cũng còn sớm chán.


Câu nói của chủ nhân có tác động tâm lý khác nhau đối với Tô Hoài, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính.


“Chàng Tô thì mãn ý quá…, được ngao du không mất tiền, lại được ăn ngon và hứa hẹn một giấc ngủ kỹ. Thế là nhất rồi.
“Còn Hoàng, chẳng vui, chẳng buồn. Cái tỉnh lỵ Bắc Giang này quá quen thuộc. Cả đến con sông Thương nước chẩy đôi dòng kia, đục phía nào, trong phía nào, Hoàng cũng nhắm mắt mà thấy được (…)


“Bính thì hận lắm. nhà thơ này cứ tưởng thế nào chủ nhân cũng đãi một chầu hát linh đình, gọi là đánh dấu cuộc hội ngộ “Tứ bất tử” mới xứng đáng chứ. Đi khắp thiên hạ, mòn gót giày, gẫy bánh xe để tìm “tri kỷ”, mà “tri kỷ” lại bảo dạo phố rồi về ngủ sớm trước mười giờ tối, hỏi có tức không? Thế rồi lỉnh kỉnh đêm ấy Bính cứ ngồi dậy hút thuốc lào vặt hoài“.


Vũ Hoàng Chương kể tiếp rằng khuya đến ông cũng không ngủ được, cùng Nguyễn Bính liên ngâm một bài nhằm “lấy vần điệu làm binh lực phá cái thành sầu”: “Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương. Còi thét vào ga Phủ Lạng Thương…”.


Trong hồi ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta“, Vũ Hoàng Chương trích lại nhiều đoạn thơ, như tám câu ông ngâm lên trong một chuyến tầu từ ga Đồng Mỏ quay về:


“Đôi lứa ban đầu mất Lạc Viên
Cho ta ngàn kiếp nhớ thiên duyên.
Chiều nay mộng thắm vừa tơ nối
Vườn cũ ngôi vàng lại gió lên.
Mây nước dâng cao, hồn chắp cánh
Trần ai rũ sạch, nẻo về tiên.
Bao la trăng động niềm ân ái
Giọng hót chim trời líu ríu men”.


Bài thơ trên giấy trắng, mực đen còn đó mà nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã ra đi không về, vĩnh biệt những bạn yêu thơ cách đây chớp mắt đã 20 năm tròn: 1976-1996! (Tây Tạng)



Người viết Tây Tạng không nhắc gì đến chuyện Vũ Hoàng Chương bị Công an thành Hồ đến tận nhà bắt đi, giam giữ trong khoảng năm, sáu tháng, thả về được vài ngày thì chết. Gần như tất cả những văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bắt trong đợt khủng bố tháng Ba 1976 đều bị đưa vào giam ở Nha Cảnh Sát Đô Thành, rồi sang Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu chịu thẩm vấn, ở đó khoảng một năm, trước khi sang Chí Hòa chờ đi các trại lao động cải tạo. Không văn nghệ sĩ nào gặp hay nhìn thấy anh Vũ Hoàng Chương ở trong tù.

Có thể anh bị giam ở sà-lim (Công an VC gọi theo Tầu Cộng là “biệt giam”) ở nhà tù Tổng Nha Công An Cảnh Sát cũ của ta, hoặc ở Chí Hòa. Nghe nói khi Công an đọc lệnh bắt giam, anh Chương nói:


– Tôi chờ các anh lâu rồi. Sao bây giờ các anh mới đến?


Cũng nghe nói anh là tác giả câu:


Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do“.


Tôi tin câu trên đây là của anh Chương, phải là thi sĩ lớn như Vũ Hoàng Chương mới làm được câu đó.


Ngày 24 hay 25 tháng Tư 1975, buổi trưa tôi đi tìm anh Nguyễn Mạnh Côn để từ biệt anh:


– USIS đưa tôi và vợ con tôi sang Mỹ. Tôi đến chào anh.


Đến ngày hôm ấy anh Côn vẫn không tin Việt Cộng chiếm được Sài Gòn. Tôi chưa ra khỏi chỗ anh Côn nằm thì anh chị Vũ Hoàng Chương đến. Lúc này anh Chương đã yếu, anh đi đâu cũng có chị đi theo.


Khi tôi bắt tay từ biệt anh, anh Chương nói:


– Tôi bắt tay cậu lần này chắc là lần cuối.


Anh nói đúng. Tôi nghe nói anh chị Chương bị bà Mộng Tuyết mời ra khỏi nhà, phải về sống trong căn nhà nhỏ của chị Đinh Hùng ở Khánh Hội, nhưng không một lần tôi sang đó thăm anh. Rồi anh bị bắt.. Một chiều buồn, tôi trên xe đạp đi lang thang trong thành phố yêu thương, lòng sầu não đến có thể tự tử, ghé vào tiệm cà phê H.M. đường Cao Thắng tôi gặp Văn Thanh; anh cho tôi biết anh Chương từ nhà tù trở về nhà được bẩy ngày thì chết, mới đưa đi chôn hôm qua. Nhà chùa cho anh chỗ nằm vĩnh viễn. Tôi biết tin anh Chương mất cùng với tin anh được thả.


Trên đường về Ngã Ba Ông Tạ tối hôm ấy tôi làm tặng anh Chương bài thơ “Đọc Thơ Vũ Hoàng Chương”:


Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay
Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
Anh vẫn Hoàng Chương, vàng với ngọc.
Trần ai nào lấm được trời mây.
Người về ngôi cũ, thơ trầm nhạc
Tàn lửa hồng hoang, khói Mái Tây.
Chín ngục A Tỳ ma sửa áo.
Mười tầng Địa Phủ quỷ cung tay.
Cười vang một tiếng tan tinh đẩu
Sáu cửa luân hồi nhẹ cánh bay!



Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng là hai nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam Cộng Hòa. Hai anh lại là anh rể, em vợ. Cuộc sống của hai người có sự khác nhau: khi sống anh Chương được đời trọng vọng, trọng đãi, anh đi dự nhiều hội thơ quốc tế, anh Hùng sống trầm lặng với công việc chủ biên những chương trình Thơ ở Đài phát thanh. Anh Hùng qua đời năm 1967 khi chế độ Cộng hòa của ta vững vàng, đất nước của ta, quân đội của ta, văn nghệ sĩ và người ái mộ đi đưa đám anh thật đông, anh nằm ở Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Anh Chương ra đi khi cờ đỏ, giép râu đã vào làm chủ Sài Gòn, anh chết trong quạnh hiu, nghèo nàn. Khi anh mất, bọn chúng tôi lớp ở trong tù, lớp còn ở ngoài thì tối tăm mặt mũi, lo sợ, tuyệt vọng. Tôi chắc không có được mười văn nghệ sĩ đưa tiễn anh Chương đến nơi yên nghỉ cuối cùng.


Văn Thanh là họa sĩ, làm việc ở nhà in Kim Lai, hơn tôi đến mười tuổi. Chị Văn Thanh có bút hiệu Kiều Oanh, viết một số truyện mỗi ngày trên nhật báo Chính Luận. Khi xuất bản tuyển tập “Yêu và Ghen” chị nhờ tôi viết Tựa. Sau 1975 có lần tôi hỏi Văn Thanh:


– Nghe nói trước kia anh khoái xã hội chủ nghĩa lắm mà? Anh vẫn chống chế độ cũ. Sao bây giờ coi bộ anh rầu rĩ quá vậy?


Văn Thanh nói như khóc:


– Mình không thích chế độ cũ nhưng mình cũng không thể ưa nổi cái chế độ này.


Anh kể:


– Được tin ông Chương về, mình mang hộp sữa đến thăm ông ấy. Thấy mình, ông ấy nói: “Ai không đến thăm tôi, tôi cũng không buồn. Chỉ có Văn Thanh mà không đến là không được”.


Nhờ Văn Thanh, tôi được đọc tập di cảo của anh Chương gồm những bài thơ cuối cùng và tập “Truyền Kiều“. Anh Chương lấy những câu Kiều tám chữ, ngắt đi một chữ làm thành thơ bẩy chữ, những câu Kiều sáu chữ được anh thêm vào một chữ, những chữ thêm này cũng lấy trong Kiều, làm thành thơ bẩy chữ. Toàn tập “Truyền Kiều” là thơ bẩy chữ lấy ra từ những câu thơ Kiều. Tôi vẫn định sẽ chép lại tập di cảo của anh Chương, nhưng lần lữa mãi, rồi tôi bị bắt hai năm được về, bị bắt lại… Năm 1990 khi tôi từ nhà tù trở về lần thứ hai, Văn Thanh đã qua đời.


Nón cối, giép râu vào Sài Gòn, thi bá của ta có hứng làm thật nhiều thơ. Anh chép thơ vào những tờ giấy, cho những người đến thăm anh. Anh viết bằng thứ bút tự anh vót lấy bằng tre già, chấm mực Tầu, những nét chữ bay bay, phơi phới.


Khoảng cuối năm 1975, khi Việt Cộng chưa bắt giam tập thể giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, khi anh Chương vẫn còn sống, một đêm đi chơi khuya, tôi về ngủ với Mai Thảo trong căn nhà của anh Nguyễn Đăng Viên ở đường Phan Đình Phùng. Sau tháng Tư 75, Mai Thảo rời căn phòng Chiều Tím để về ở đây. Bọn Công an thành Hồ bắt hụt Mai Thảo ở nhà này. Trong ngăn kéo bàn ngủ bên giường Mai Thảo có mấy bài thơ của anh Chương. Trong số có bài anh tặng Mai Thảo. Vì chỉ đọc có một lần và thời gian đã quá lâu, có thể hôm nay tôi nhớ không đúng trọn vẹn bài thơ:


Giã Từ Hà Nội Đêm còn nhớ?
Bẫy Ngầm ai biết chuyện bây giờ?
Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật,
Về Đỉnh Trời xem lại Chúc Thư!”


Có ba bài thơ của anh Chương, tôi chỉ đọc một lần, trong một buổi tối, ở nhà Văn Thanh mà nhớ luôn. Hôm nay để tưởng niệm anh – Tội nghiệp. Ở thành Hồ chúng tôi không làm lễ tưởng niệm anh được, tôi không biết những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương ở hải ngoại từ hai mươi mấy mùa lá rụng nay có lần nào làm Lễ Tưởng Niệm nhà thơ hay không? – Khi đặt tên cho khu rừng Elm Arlington nơi vợ chồng tôi đến ở là Rừng Phong, tôi mượn tên Rừng Phong của anh Chương, anh Chương mượn Rừng Phong trong “Rừng phong thu đã…” của Tố Như. Chiều cuối thu, đầu đông ở Rừng Phong, tôi kể lại những lời thơ của anh Chương theo trí nhớ của tôi:


“Chàng về trong mộng đêm đêm
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Xa nhau nàng vẫn mong chờ
Vẫn ôm trong mộng giấc mơ liền cành.
Biết đâu chàng đã trở thành
Xương tàn một nắm vô danh bên trời.
Bờ sông, bãi cát bồi hồi
Đã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu!
Chữ Đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương!
Là Nam Bắc, là Âm Dương?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây!”


Xin nói thêm một lần nữa: Vì chỉ đọc có một lần những bài thơ này nên có thể tôi nhớ không đúng hẳn. Hy vọng một ngày không xa chúng ta, những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương, sẽ được đọc nguyên bản những bài thơ cuối cùng này của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong Thơ Vũ Hoàng Chương Toàn Tập nghe nói hiện đang được biên tập để ấn hành.


Trong lệnh bắt nhà thơ, lý do bị bắt được ghi là: “Sáng tác và phổ biến thơ văn phản cách mạng”.


Sau 1975, nếu Vũ Hoàng Chương “chịu” không làm thơ, hay anh làm thơ nhưng không cho ai biết, không đưa thơ anh cho ai, có thể anh đã không bị bắt. Nhưng anh đã làm thơ. Chỉ cần những lời thơ diễn tả nỗi đau thương của những cặp vợ chồng trẻ phải sinh ly, người chồng bị đi tù nơi rừng thiêng, nước độc có thể đã chết, thân xác đã bị vùi trong cỏ cây, người vợ trẻ vẫn mong chồng trở về, đêm đêm vẫn mộng thấy chồng trong giấc mơ ân ái, là đủ để cho nhà thơ bị kết vào tội phản cách mạng và bị bắt giam.


Ý thơ không mới. “Chàng về trong mộng, liền cành, xương tàn, vô danh, bên trời, bờ sông, bãi cát, trắng, khô, chữ đồng, nét sầu…”, những tiếng xưa cũ được tài hoa của thi sĩ làm sống lại và não nùng mang mang lửa sống. “Chàng về trong mộng đêm đêm” sống lại từ bài “Lũng Tây Hành” của Trần Đào:


“Thệ tảo Hung Nô bất cố thân
Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần.
Khả liên Vô Định hà biên cốt
Do thị xuân khuê mộng lý nhân”.
(Thề giết Hung Nô chẳng tiếc thân
Đất Hồ chiến sĩ chết năm ngàn.
Thương thay xương trắng sông Vô Định
Vẫn về Em trong giấc mộng xuân).


Thi sĩ thiên tài làm cho ý thơ xưa sống lại, làm tim ta đau nhói. Bây giờ hơn hai mươi năm sau, những người bị Việt Cộng bắt đi cải tạo nếu còn sống tuyệt đại đa số đã đưa vợ con sang ở Hoa Kỳ, những người đã chết… đã chết; nay đọc những lời thơ xưa về một thời bi thảm, có thể ta chỉ thấy ngậm ngùi, nhưng hãy nhớ lại những ngày, những đêm ghê rợn cuối năm 1975, đầu năm 1976, khi những người thân của ta bị gọi đi cải tạo và bị đưa đi mất tích, những lời thơ “Chàng về trong mộng đêm đêm…” làm cho ta vỡ tim.


Chữ đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.


Ý lấy từ:


Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.


Vũ Hoàng Chương đem lại đời sống mới rạo rực yêu, thương, và đau cho những tiếng “tạc một chữ đồng đến xương”. Chỉ có thiên tài Vũ Hoàng Chương mới biến nổi tiếng khóc của những người Việt phải xa nhau vì họa Cộng sản trong nửa cuối thế kỷ 20 thành thơ:


Chữ đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương


Năm 1975 là năm Mão – Mèo. Năm 1976 là năm Thìn – Rồng. Đúng 24 năm, hai con giáp, đã qua kể từ năm 1975. Năm 2000 là Năm Thìn. Tết Năm Thìn 1976 ở Khánh Hội, Sài Gòn, Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Vịnh Tranh Gà Lợn”:


Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngân váng khúc tân thanh”
.


Đúng là “thơ có họa“. Thi bá xử dụng tài tình lời người xưa – Tô Đông Pha – nói về thơ và tranh của Vương Duy: “Họa trung hữu thi, thi trung hữu họa””. Họa trong “Rằng vách có tai, thơ có họa” là tai họa, là tù đầy, là chết chóc. “Vách có tai” là chuyện Công an gọi một số văn nghệ sĩ không bị bắt đến sở, bắt phải khai báo về đời sống, việc làm của những văn nghệ sĩ khác. Khi nghe nói: “Vũ Hoàng Chương có làm thơ…” họ cho người đến xin những bài thơ mới của thi bá về nộp cho họ. Chỉ cần hai bài thơ vừa kể là họ đã có đủ lý do bắt giam nhà thơ. Bài thơ “Chàng về…” tả nỗi sầu oán của những cặp vợ chồng bị tai họa cải tạo.


Sau đây là bài thơ thứ ba của anh Chương, tôi chỉ được đọc có một lần là nhớ mãi, bài thơ anh làm trong xà-lim:


Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn
Lông hồng gieo xuống nặng như non.
Một manh chiếu nát, thân tơi tả
Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ
Đêm về gíấc ngủ lại thương con.
Dầu bao nước chẩy qua cầu nữa
Hồ dễ gì phai được tấc son”.

Khoảng tháng 7, tháng 8 năm 1975 một tối tôi gặp Hoài Bắc ở Ngã Ba Ông Tạ. Cùng đi xe đạp, chúng tôi ghé xe vào vỉa hè nói chuyện. Quanh chúng tôi đầy bóng tối. Hoài Bắc nói:


– Bà Văn Cao vào, Văn Cao chưa vào được. Văn Cao nhắn vào nói với Thái Thanh: “Hát như cô mới là hát. Ở ngoài này chúng nó không biết hát”. Trần Dần nhắn bà Văn Cao vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh yên tâm. Thơ của anh, và thơ anh Hùng không bao giờ mất được…”


Mới hai, ba tháng sau ngày quân Bắc Việt Cộng vào chiếm Sài Gòn mà đã nói ngay một câu xanh rờn “Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất”, Trần Dần thật là giỏi, thật sáng suốt. Vũ Hoàng Chương tạ thế trong Năm Rồng 1976. Năm nay, Năm Rồng 2000, tôi nhắc lại lời Trần Dần:


– Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất! ("Đọc tiếp xin nhấn vào đây")

 

Ý kiến cho bài đọc xin nhấn vào đây => (Sống Và Chết Ở Sài Gòn)

Rate this item
(0 votes)
Last modified on Thursday, 06 June 2019 02:28

Who´s online

We have 103 guests and no members online