Trang 1/2 12 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 7

Tựa Đề: Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy

  1. #1
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 1,960
    Thanks: 2,812
    Thanked 5,338 Times in 1,900 Posts

    Default Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (01)


    SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
    * Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
    Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

    Gửi các bạn tôi
    sống, chết ở Sài Gòn…
    * Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
    Hoàng Hải Thủy


    Ôi cố hương xa nửa địa cầu
    Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau…


    Ngày mới đến Hoa Kỳ tôi nói: “Tôi mang Sài gòn trong trái tim tôi…” Tôi muốn nói tôi yêu Sài Gòn, tôi đã sống đến bốn mươi năm trong lòng thành phố Sài Gòn thương yêu, tôi đã vui buồn, đã đau khổ với Sài Gòn. Nay phải đi xa, tôi mang Sài Gòn theo tôi nên tôi sẽ không thấy nhớ Sài Gòn!
    Sự thật không như tôi nói, không như tôi tưởng.
    Trước hết, câu nói ấy có cái giọng của Sáu Keo: “Miền Nam trong trái tim tôi…”
    Dù tôi có yêu thương Sài Gòn đến chừng nào đi nữa – là Công Tử Hà Đông bên hông Hà Nội, Bắc kỳ chính cống Bà Lang Trọc nhưng tôi yêu Sài Gòn hơn tôi yêu Hà Nội -, dù tôi có sống với Sài Gòn lâu đến chừng nào đi nữa, khi phải xa Sài Gòn tôi vẫn nhớ thương Sài Gòn. Nhớ thương vỡ tim, xé gan, cháy lòng, đứt ruột như nhớ thương người đàn bà mình yêu, người đàn bà đa tình yêu mình cực kỳ, cho mình hưởng tất cả, mình từng sống hạnh phúc bên nàng mà mình phải xa nàng.
    Đêm cuối năm, mưa rơi suốt đêm trên Rừng Phong.
    Canh khuya trằn trọc nằm nghe tiếng mưa đập vào khung kính cửa sổ, tưởng như đang nằm nghe mưa rơi trên mái ngói xanh rêu trong căn nhà nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ Sài Gòn.
    Bồi hồi tưởng nhớ những cây mưa đầu mùa năm xưa ở quê nhà. “Cây mưa”! Đúng là cây mưa. Những năm 1956, 1957 xanh xưa tôi còn trẻ, trong loạt bài gọi là phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn, tác phẩm đầu tay của tôi, tôi viết: “Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong…”
    Hơn bốn mươi mùa mưa sau nhớ lại, thấm và thấy đúng biết chừng nào. Sài Gòn của tôi thuở 1956-1960 thanh bình sau những cơn mưa lớn, nhất là những cơn mưa đêm, sạch như người đàn bà đa tình yêu tôi, tôi yêu, khi nàng mới tắm xong.
    Sáng nay mưa vẫn rơi trên Rừng Phong.
    Người tha hương lúc nào cũng nhớ quê hương.
    Tết đến. Tết là dịp đoàn tụ gia đình. Tết đến, người tha hương nhớ thương quê hương hơn. Những lời thơ Thanh Nam ray rứt trong tim tôi:
    Ôi cố hương xa nửa địa cầu
    Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau.
    Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
    Hiện rõ trời xuân một thưở nào.
    …..
    Tỉnh cơn mê sảng âm thầm
    Ngó ra đất khách mưa xuân hững hờ
    Tháng Tư, cơn sốt đầu mùa
    Gợi trong tiềm thức những giờ oan khiên
    Ghé thân lữ thứ trăm miền
    Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn!

    Tháng Chạp Tây, bánh xe lãng tử đưa tôi đi một vòng Cali. Đêm cuối năm trong một thành phố nhỏ, tôi xem một phim video về Hà Nội do những người Hà Nội làm. Thành phố Hà Nội được người Hà Nội yêu thương quá cỡ. Hà Nội được yêu thương trước 1945, Hà Nội được yêu thương sau 1945. Có đến 50 bài thơ, bản nhạc được làm để ca tụng Hà Nội và diễn tả tình yêu Hà Nội. Trong khi đó thành phố Sài Gòn thương yêu của tôi có gì? Thành phố Sài Gòn của tôi được thương yêu, được ca tụng như thế nào? Bao nhiêu? Một bài Sài Gòn Đẹp lắm Sài Gòn ơi của Y Vân, một bài Vĩnh biệt Sài Gòn của Nam Lộc. Còn gì nữa??
    Tôi sẽ viết về thành phố Sài Gòn và tình yêu Sài Gòn.


    Sáng nay, tôi làm một cuộc tính sổ những văn nghệ sĩ đã từ giã cõi đời này kể từ ngày 30 Tháng Tư. Bản danh sách của tôi không đầy đủ. Tôi xin lỗi vì không thể kể tên tất cả những văn nghệ sĩ đã vĩnh viễn đi khỏi cuộc đời. Nhớ được người nào tôi ghi lại người ấy, ghi không theo thời gian mà cũng không theo vần ABC.
    Trước hết tôi phải kể anh Chu Tử Chu Văn Bình. Anh là văn nghệ sĩ chết trước nhất kể từ ngày 30 Tháng Tư. Anh không chết sau ngày 30 Tháng Tư mà là trong ngày 30 Tháng Tư. Đạn quân thù bắn theo con tầu ngày ấy đưa anh ra biển đã giết anh, thân xác anh nằm trong lòng đại dương.
    Anh một đời hai lần bị trúng đạn. Một buổi sáng năm 1964 – thời điểm quân đội Hoa Kỳ đang kéo vào tham chiến trên chiến trường Việt Nam – khi từ nhà ở đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận, ra xe hơi để đến tòa báo Sống, nhà in Tường Vân đường Gia Long, có kẻ chờ sẵn trước cửa nhà bắn anh nhiều phát đạn xuyên qua cửa xe sau. Có viên đạn trúng cổ anh, xuyên qua miệng. Nguy hiểm cực kỳ nhưng anh không chết. Anh sống được mười năm nữa…
    Và đây là tên những văn nghệ sĩ, những ký giả đã lìa đời kể từ ngày 30 Tháng Tư 1975 đến sáng hôm nay. Những người ra đi vĩnh viễn từ những ngõ hẹp, những cư xá đông người, những nhà tù Sài Gòn:
    Hoàng An, Mai Anh; Thái Dương Nguyễn Văn Mai, nguyên Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam; Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp, nhạc sĩ Lan Đài (hai người nghe nói bị chết trên biển khi vượt biên); Mạc Ly Châu; Huy Cường diễn viên điện ảnh; Thi sĩ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn; Trần Việt Hoài, thi sĩ, bút hiệu Thiết Bản đạo nhân, chết trong Làng Báo Chí; Thiên Hổ tức Linh mục Nguyễn Quang Lãm, chủ nhiệm nhật báo Xây Dựng, nhà thờ, nhà riêng, nhà in, tòa báo ở đường Thánh Mẫu, Ngã Ba Ông Tạ, cùng khu với Cà phê Thăng Long của Vũ Văn Cẩn; Cát Hữu; Minh Đăng Khánh – Khánh có nhiều nghề: giáo viên, ký giả, biên tập đài phát thanh giữ chương trình Gia đình Bác Tám, diễn viên kiêm đạo diễn điện ảnh, họa sĩ, dậy hội họa, bị bắt Tháng Tư 1976, đi tù về Khánh bị bại liệt nửa người, vẫn lê lết đi lại được cho đến ba năm sau; Trọng Khương, tác giả Bánh Xe Lãng Tử, Ghen; Thiếu Lang; Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú, dịch giả Bố Già (The Godfather, Mario Puzo, từng là sách bestseller). 1985 hai nhà xuất bản Mít Cộng tái bản Bố Già của Tú Lé. Tú bị bắt vì choác. Sau thời gian nằm ở cái gọi là Trại Phục Hồi Nhân Phẩm Khu Nhà Thờ Fatima, Tú bị đưa ra một trại lao động cải tạo – gọi tắt là Trại Lao Cải – ở miền Trung. Nghe nói sáng sớm, trời lạnh, Tú rít hơi thuốc lào và ngã ra chết; Thi sĩ Bàng Bá Lân; Ký giả Thể thao Thạch Lê tức Trung Tá Lê Đình Thạch, người từng là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến, anh Thạch đi cải tạo về, qua đời tại nhà ở Khu Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa; Nguyễn Hiến Lê; Hoàng Vĩnh Lộc, đạo diễn điện ảnh, tác giả phim Người Tình Không Chân Dung, Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương…; Hoàng Ly, tác giả tiểu thuyết Một Thời Ngang Dọc, Giặc Cái…; Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, tác giả hai câu thơ nghe nói là tả nữ ca sĩ Khánh Ly: “Từ Em tiếng hát lên trời, Tay khơi dòng tóc, tay vời âm thanh…”; Trọng Nguyên; Vương Hồng Sển; Xuyên Sơn; Trần Việt Sơn; Hoàng Thắng; Trịnh Viết Thành; Lê Thanh tức Phòng Cao; Hai nhạc sĩ lớn Lê Thương; Dương Thiệu Tước; Hồ Hữu Tường; Minh Vồ, chủ nhiệm tuần báo Con Ong; Y Vân, tác giả Lòng Mẹ, Sài Gòn Đẹp Lắm Sài Gòn Ơi; Hoàng Thư; Trần Lê Nguyễn; Thượng Sĩ; Huy Thanh Nguyễn Huy Thái tức Trường Sơn; Lê Văn Vũ Bắc Tiến; Mặc Thu…
    oOo
    Những văn nghệ sĩ chết trong tù:
    – Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, bị bắt năm 1984, chết vì cao áp huyết trong Nhà tù Chí Hòa năm 1986.
    – Anh Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt tháng 3, 1976, tuyệt thực đòi Việt Cộng trả tự do năm 1978 ở Trại Lao Cải Xuyên Mộc, bị cai tù không cho uống nước đến chết.
    – Anh Vũ Hoàng Chương, bị bắt tháng 3, 1976, bị tù sáu tháng, về nhà được bẩy ngày thì qua đời.
    – Dương Hùng Cường – Dê Húc Càn, sĩ quan, đi cải tạo trở về năm 1980; năm 1984 bị bắt lại trong nhóm Biệt Kích Cầm Bút, chết trong sà lim Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu năm 1987.
    – Huy Vân, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc.
    – Nhạc sĩ Thục Vũ, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc, tác giả bản nhạc “Anh Ở Đây, Bạn Bè Anh Cũng Ở Đây…”
    oOo
    Những văn nghệ sĩ qua đời ở hải ngoại:
    Duyên Anh Vũ Mộng Long, mất ở Paris, 1997. Ký giả Anh Quân, ký giả Nguyễn Ang Ca, mất ở Bỉ quốc, Hùng Cường, Vũ Huyến, An Khê, Vũ Khắc Khoan, ký giả Tô Văn Trần Đức Lai, Tử Vi Lang, Nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh, Bình Nguyên Lộc, Thanh Nam Trần Đại Việt, Nguyễn Tất Nhiên, nhạc sĩ Thẩm Oánh, Đạm Phong, Nguyên Sa, Mai Thảo – những ông trên đây sống và chết ở Hoa Kỳ. Trần Văn Trạch qua đời ở Paris, ký giả Thái Linh Phạm Linh, chị Kiều Diễm Hồng trang Mai Bê Bi nhật báo Chính Luận ngày xưa, qua đời trong một Nursing Home ở Virginia Đất Tình Nhân, Hoàng Trọng, Sĩ Phú, Hoàng Thi Thơ ở Cali, Ngọc Dũng ở Virginia, Mai Trung Tĩnh ở Maryland…
    oOo
    Tháng Giêng Tây 2000 gần như tất cả các văn nghệ sĩ VNCH còn sống, quân và dân, đều đã rời quê hương đi ra hải ngoại. Họ sống nhiều nhất ở Hoa Kỳ, rồi Úc, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Canada.
    Số văn nghệ sĩ còn sống ở Thành Hồ có thể đếm được trên mười đầu ngón tay: Tú Kếu Trần Đức Uyển; Lê Xuyên Chú Tư Cầu, bán thuốc lá lẻ ở góc đường Ngô Quyền – Bà Hạt, gần chợ Nguyễn Tri Phương; Huỳnh Phan Anh; Trần Phong Giao; Thế Phong, tác giả Việt Nam Bi Thảm Đông Dương; Hồ Nam; Phan Nghị; Văn Quang; Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung; Đằng Giao; Dương Nghiễm Mậu; Cao Nguyên Lang; Vũ Bình Thư Lã Phi Khanh, tác giả Lệnh Xé Xác; bà Tùng Long, bà Lan Phương; bà Mộng Tuyết; hai nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng; Nguyễn Thị Thụy Vũ; Lý Thụy Ý; nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang…
    Văn nghệ sĩ hiện sống ở Thành Hồ ly kỳ nhất, theo tôi, là Văn Quang, tác giả những truyện tình Chân Trời Tím, Suối Đam Mê, Tiếng Hát Học Trò v.v…
    Văn Quang là Trung Tá Giám đốc Đài Phát Thanh Quân Đội cho đến ngày tan hàng. Anh nhan sắc không hơn gì anh em chúng tôi bao nhiêu, nếu có gì hơn thì chỉ là anh hơn chúng tôi cái mác carihom Oméga bộ xương cứu chúa. Nhưng anh có cái số đào huê dễ nể. Anh có đến năm bà vợ – những bà cùng đương sự ăn ở công khai, chính thức vợ chồng với nhau, dù không cưới hỏi, không đãi ăn nhà hàng, trong thời gian dài ngắn không đều là một hai niên, ba bốn niên, tức là không kể những nhân tình, nhân bánh lâu lâu sáp lại nhấp nháy, tan hàng. Bà vợ nào của anh cũng nhan sắc trên mức trung bình. Đi cải tạo mười mấy mùa thu chết mới được về, Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến bút hiệu Văn Quang, có thừa tiêu chuẩn để đi HO sang Hoa Kỳ, nhưng anh đã không đi.
    Văn Quang không sang Mỹ không phải vì ghét Mỹ.
    Văn Quang ở lại Thành Hồ không phải vì ưa Việt Cộng.
    Anh không sang Mỹ vì anh hùng thấm mệt, vì đại bàng mỏi cánh, vì những lý do riêng tư.
    Hiện anh sống bình yên trong căn hộ ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Quận Ba, Sài Gòn.



    ÁO VÀNG HOA

    Sáng cuối năm trong căn nhà tối
    Em mở tủ nhìn đời ngày cuối.
    Mắt Em buồn bừng sáng mầu hoa
    Em nhớ lại ngày may áo mới.
    Hai năm rồi mặc áo bà ba
    Đời tẻ nhạt như làn tóc rối.
    Áo ướm thân, Em khóc, Em cười…
    Em có biết Em vừa trẻ lại.
    Đây áo hoa vàng, anh chọn, em may
    Như giọt nước trong giòng tình ái.
    Trong ưu phiền mắt lặng nhìn nhau
    Em thầm hẹn áo này giữ mãi…!

    Em yêu dấu, ngày Em trở lại
    Đất ngàn năm, như cỏ, như hoa
    Anh sẽ mặc cho Em lần cuối
    Áo hoa này rồi tiễn, rồi đưa…

    Em lại hỏi có ngày ta phải
    Chia áo này cho các con ta?

    Em yêu dấu, Em ơi, đừng ngại
    Mặc cho đời tháng lại, ngày qua
    Trong xương thịt ta còn giữ mãi
    Những cái gì riêng của đôi ta.
    Khi Em nằm xuống, khi tàn lửa
    Trong hào quang của những tiên nga
    Khi xe hạc vàng nhung tới cửa
    Đón Em về xa cõi trời xa
    Anh sẽ mở hồn Anh lấy áo
    Mặc cho Em chiếc áo vàng hoa.

    Trong u ám một ngày mây phủ
    Nặng những sầu thương, những xót sa
    Em đóng cửa hồn, che áo mới
    Và ra đường trong chiếc bà ba.

    Hoàng Hải Thủy
    Tháng 7, 1977
    Nhà 259/29 A Phạm Hồng Thái,
    Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn.




    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (02)





    Mario Puzo, văn sĩ Mỹ, tác giả The Godfather, cuốn tiểu thuyết viết về tổ chức Mafia ở Hoa Kỳ, một bestseller, từng bán 21 triệu cuốn, được dịch ra gần khắp các thứ ngôn ngữ trên trái đất, từ trần ngày 1-7-1999, tại thành phố Bay Shore, tiểu bang New York, thọ 78 tuổi.
    Bạn đọc tiểu thuyết Việt Nam quen thuộc với The Godfather và biết danh tính Mario Puzo qua Bố Già, bản dịch Việt ngữ của Ngọc Thứ Lang. Bố Già được xuất bản ở Sài Gòn năm 1972. Năm 1970 nhật báo Chính Luận đã dịch The Godfather và đăng hàng ngày nơi trang trong theo kiểu phơi-ơ-tông – feuilleton. Nghe nói ông chủ nhiệm Đặng Văn Sung sang Pháp, lúc đó The Godfather được dịch sang tiếng Pháp; ông đọc, thấy hay, đem về giao cho ký giả Trọng Tấu dịch. Tên truyện dịch trên Chính Luận là Cha Đỡ Đầu. Văn phong của Trọng Tấu không có ngôn ngữ côn đồ, du đãng, càn bạt, giang hồ, trẻ trung, nên không hợp với việc chuyển ngữ The Godfather, bản Trọng Tấu dịch lại là bản tiếng Pháp. Cha Đỡ Đầu đăng trên Chính Luận được vài tháng thì ngừng ngang. Tôi không biết nguyên nhân vì sao. Những năm ấy tôi không viết gì trên Chính Luận nên không hay lui tới tòa soạn.
    Năm 1972 Nguyễn Đức Nhuận – hiện sống ở Cali, người chủ trương Tuần san Thứ Tư, quản lý nhật báo Sóng Thần cho đến ngày tan hàng – đưa The Godfather bản tiếng Mỹ cho Ngọc Thứ Lang dịch để xuất bản. Ngọc Thứ Lang lấy tên Bố Già và Bố Già trở thành tác phẩm tiểu thuyết ăn khách, bán chạy đáng kể một thời. Ngọc Thứ Lang thành công xuất sắc với bản dịch Bố Già, giọng văn của anh hợp với loại tiểu thuyết đầy kịch tính và bạo lực đặc biệt Mỹ là The Godfather.
    Những năm từ 1984 đến 1988 sống quanh quẩn trong mấy phòng tù ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Lầu Bát Giác Chí Hòa, không biết đã bao nhiêu lần tôi kể đi, kể lại chuyện Bố Già cho anh em tù nghe. Nếu bạn theo dõi những chuyện anh em chúng tôi viết về những ngày tù đầy của chúng tôi chắc bạn đã biết chúng tôi gọi những buổi kể chuyện trong tù là “chiếu phim”. Buổi tối anh em tù cần có một người kể chuyện cho nghe, để khỏi phải nghĩ ngợi, để tâm trí bớt lo buồn, nguôi nhớ thương, thần kinh đỡ bị căng thẳng. Kể chuyện gì cũng được. Chuyện hấp dẫn, hay, có ý nghĩa càng tốt. Nhạt cũng không sao. Miễn là có kể. Tôi mang danh là tác giả một số tiểu thuyết nên ngay khi biết tôi mới bị bắt vào biệt giam, anh em ở nhiều phòng tập thể đã mong sau thời gian nằm sà-lim chịu thẩm vấn, tôi sẽ được đưa vào phòng họ để tôi kể chuyện cho họ nghe. Đáp ứng sự chờ đợi của anh em tôi phải gồng mình kể chuyện.
    Tôi đã kể Thiên Long Bát Bộ, Cô Gái Đồ Long, Kiều, Tam Quốc Chí, Võ Tòng Đả Hổ và Võ Tòng Sát Tẩu, Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ, Chuyện Tình Quasimodo và Esmeralda, Chuyện Tình Cậu Lỗ-mê-đồ yêu cô Duy Liệt v.v… Và tôi kể chuyện Bố Già.
    Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại và bán ở Hoa Kỳ. Chắc bạn không lạ gì cốt truyện Bố Già, tuy nhiên vì sự liên lạc của câu chuyện, tôi vẫn tóm tắt cốt truyện The Godfather:
    “New York những năm 1946-1947… Ngũ Đại Gia Đình Mafia ngự trị thế giới Tội Ác, trong số có Gia đình Corleone. Mafia là tổ chức của dân Ý di cư sang Hoa Kỳ. Người Mỹ nhận xét dân Y-Ta-Lồ sang Hoa Kỳ nhiều anh làm bậy, chống lại xã hội và pháp luật, ăn cướp, buôn lậu, giết người, làm những chuyện bất hợp pháp; dân Ái Nhĩ Lan di cư sang Hoa Kỳ lại có nhiều người đứng về phe bảo vệ xã hội và pháp luật, nhiều anh làm cảnh sát, tức phú-lít. Don Corleone được gọi là Bố Già vì làm cha đỡ đầu nhiều anh nhỏ trong cộng đồng dân Mỹ gốc Ý ở NewYork. Chuyện bắt đầu – năm 1946, vừa sau Thế Chiến Thứ Hai – khi nhân vật Mafia tên là Sollozzo dự định đưa ma túy vào thị trường New York. Bố Già Corleone tuy phạm nhiều tội ác, kể cả tội giết người, tống tiền, xây dựng sự nghiệp bằng những trò gá thổ, đổ hồ nhưng lại chống việc khai thác ma túy. Bố Già quan niệm: Cờ bịch, đĩ điếm, rượu là những trò chơi của đàn ông, đàn ông có khả năng cưỡng lại những trò chơi đó. Người mê cờ bịch, đĩ điếm chỉ tan cửa, nát nhà, không đến nỗi chết thảm. Ma túy – cocaine, morphine đầu độc và giết giới trẻ dưới hai mươi tuổi, những teenagers – là thế hệ non dại, chưa biết suy xét, dễ bị cám dỗ. Và sa vào nanh vuốt của ma túy là tự hủy hoại cuộc đời, là chết thê thảm, chết trăm phần trăm, ngàn người như một, không phương thoát chết. Bố Già Corleone không chịu cộng tác với Sollozzo trong việc đưa ma túy vào New York. Trong cuộc nói chuyện giữa Bố Già với Sollozzo có mặt Sonny Corleone, con trưởng của Bố Già. Sonny sẽ kế tục Bố Già khi Bố Già cao tuổi rửa tay cất súng để an hưởng tuổi đời. Sonny để lộ ý muốn Bố Già nhận lời cộng tác với Sollozzo. Việc làm vụng dại đó của Sonny cho Sollozzo thấy một kẽ hở trong gia đình Corleone: Ông bố không ưng nhưng anh con chịu. Việc đưa ma túy vào New York không có Bố Già Corleone cộng tác sẽ không thành công. Sollozzo tổ chức giết Bố Già. Don Corleone bị bắn trên đường phố. Chiến tranh băng đảng bùng nổ giữa những Gia Đình Tội Ác ở New York. Bố Già bị thương nặng nhưng không chết, sau đó anh con Sonny lại bị băng đảng thù địch phục kích bắn chết. Người thay Bố Già nắm quyền lực và chỉ huy Gia đình Corleone là Michael, anh con thứ. Michael từng là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tham chiến ở Âu Châu trong Thế Chiến Hai”.
    Tôi cảm động vì tình cha con trong The Godfather. Tình cha con được Mario Puzo diễn tả tuyệt vời trong đoạn Michael vào thăm Bố Già bị bắn, bị thương nặng, nằm một mình ban đêm trong bệnh viện. Trong những buổi tối dị kỳ không bao giờ tôi còn có thể lại sống, ở những Phòng 6 Khu C Một Số 4 Phan Đăng Lưu, Phòng 1O Khu ED Chí Hòa, khi kể cho các bạn tù nghe đoạn Michael nửa đêm vào bệnh viện thăm Ông Bố. Tôi xúc động nhớ lại những đêm xưa tôi ngồi lặng bên cha tôi, những lúc tôi cầm tay cha tôi, lúc tôi áp tai vào ngực cha tôi nghe tiếng trái tim ông đập loạn khi ông nằm hấp hối năm xưa, năm 1967.
    Ngọc Thứ Lang dịch đoạn này như sau:
    “…Khi Michael ra khỏi xe trước Bệnh Viện Pháp chàng ngạc nhiên thấy đường phố hoàn toàn vắng lặng. Đi vào bệnh viện chàng còn ngạc nhiên hơn khi thấy hành lang không một bóng người. Mẹ kiếp, Clemenza và Tessio làm cái gì đây? Dù không xuất thân từ West Point họ cũng biết là phải có người gác.
    Những người khách cuối cùng đã ra khỏi bệnh viện, lúc này là gần mười giờ rưỡi đêm. Đã biết số phòng nên Michael vào thang máy lên thẳng phòng Ông Già. Không có ai canh trước cửa phòng. Cửa phòng mở. Chàng vào phòng. Có người nằm trên giường, qua ánh trăng Tháng Chạp xuyên qua màn cửa sổ Michael nhìn thấy mặt ông bố. Ngay cả lúc này vẻ mặt ông già vẫn điềm nhiên, lồng ngực ông lên xuống với những nhịp thở không đều. Những ống dây từ những cột thép bên giường gắn vào người ông. Michael đứng đó một lúc để biết chắc ông bố chàng không sao cả, rồi chàng ra khỏi phòng.
    Chàng nói với y tá: “Tôi là Michael Corleone. Tôi chỉ muốn ngồi với bố tôi một lúc. Chuyện gì xẩy ra với những thám tử có nhiệm vụ bảo vệ ông bố tôi vậy cô?”
    Y tá là một em trẻ tuổi, xinh xinh, tự quan trọng vì trách vụ của mình. “Ồ, ông thân của anh có quá nhiều khách nên làm trở ngại công việc của bệnh viện”, cô nói. “Cảnh sát đến mời mọi người ra trước đây mười phút. Mới đây hai thám tử cũng được sở của họ gọi về. Nhưng đừng lo, tôi vào thăm chừng ông luôn, tôi có thể nghe thấy tiếng động trong phòng ông. Vì vậy tôi để ngỏ cửa phòng”.
    Michael trở vào phòng ông bố. Chàng nhấc điện thoại trong phòng, gọi về nhà. Sonny trả lời, Michael nói nhỏ: “Sonny, em đang ở bệnh viện. Em đến muộn. Sonny, không có ai ở đây cả. Không một người nào của Tessio. Không một thám tử ở cửa phòng. Ông già hoàn toàn không được bảo vệ”.
    Giọng chàng run run.
    Im lặng một lúc lâu rồi giọng nói của Sonny vang đến, thấp và cũng xúc động: “Đây là thủ đoạn của Sollozzo mà chúng ta đã nói đến”.
    Michael nói: “Em cũng thấy thế. Nhưng sao nó có thể sai bọn cớm đuổi tất cả những người của ta ra khỏi đây? Có lẽ nào thằng chó đẻ ấy lại mua được trọn gói cả bọn Cảnh Sát New York?”
    “Đừng sợ, nhỏ”. Giọng nói của Sonny xoa dịu. “Mình lại gặp may nhờ em đến bệnh viện vào giờ khuya này. Ở lại trong phòng ông già. Khóa cửa phòng lại. Anh cho người đến đó trong mười lăm phút. Ở yên đó, đừng hoảng. Được không, nhỏ?”
    “Em không hoảng”, Michael nói. Lần thứ nhất kể từ khi vụ này xẩy ra chàng thấy cơn thù hận dâng lên trong chàng, cơn thù hận những kẻ thù của ông bố chàng.
    Chàng đặt ống nói và nhấn máy gọi cô y tá. Chàng quyết định làm theo ý chàng mà không làm theo lệnh Sonny. Khi cô y tá vào, chàng nói: “Tôi không muốn làm cô sợ nhưng chúng ta phải đưa ngay ông bố tôi đi khỏi đây. Sang phòng khác hay sang tầng khác. Cô có thể gỡ những ống dây này ra để ta đẩy giường đi được không?”
    Em y tá nói: “Không được đâu. Phải có phép của bác sĩ”.
    Michael nói nhanh: “Cô đã đọc về ông bố tôi trên các báo. Cô thấy đêm nay không có ai ở đây bảo vệ ông. Tôi được tin có người sắp đến đây giết ông. Xin cô tin tôi và giúp tôi”.
    Em y tá nói: “Không cần phải rút dây ra. Ta đẩy cả bàn thuốc đi theo giường”.
    “Có phòng nào trống không cô?”, Michael thì thầm.
    “Ở cuối dẫy”, em y tá nói.
    Việc di chuyển được làm xong ngay, nhanh và hữu hiệu. Michael nói với cô y tá: “Cô ở trong này với ông bố tôi cho đến khi người của chúng tôi đến. Nếu cô ở phòng trực cô có thể bị nguy hiểm”.
    Lúc ấy chàng nghe tiếng ông bố chàng nói trong giường, giọng nói khàn khàn nhưng vẫn mạnh, “Michael, con đấy à? Chuyện gì thế?”
    Micheal cúi xuống giường. Chàng cầm tay ông bố. “Con đây, Mike đây, bố ơi”, Chàng nói. “Bố đừng sợ. Bố nghe con nói nhé, bố đừng nói gì, nhất là khi có ai gọi tên bố. Có kẻ muốn giết bố, bố hiểu không? Có con ở đây nên bố đừng sợ”.
    Don Corleone, vẫn chưa biết hết những gì xẩy đến với ông, đau đớn ghê gớm, nhưng vẫn mỉm cuời hiền hậu vì giọng nói quan trọng của anh con út, ông muốn nói với anh, nhưng việc đó quá sức ông. “Tại sao bây giờ bố lại sợ chứ? Người lạ từng đến giết bố từ năm bố mới mười hai tuổi“.

    Những lần kể chuyện mười mấy năm xưa trong tù, tôi kể lời Bố Già trong đoạn này: “Con ơi, Bố không bao giờ sợ cả”.
    The Godfather được thực hiện thành phim năm 1972. Marlon Brando đóng vai Bố Già Don Corleone. Phim được nhiều giải Oscar. Năm 1975 đến và mãi mãi sau đó khán giả xi-nê Sài Gòn không được xem hai phim The Godfather và The Exorcist – nói là không kịp xem thì đúng hơn. Nghe nói hai phim The Godfather, The Exorcist đã đến Sài Gòn từ đầu năm 1975 nhưng người nhập phim còn ghim lại, đợi ngày lành, tháng tốt mới đem ra chiếu. Ngày lành, tháng tốt của những Thúc Ông là dịp có ngày lễ lớn, như tuần Lễ Giáng Sinh, Tết Nguyên Đán v.v… để rạp có đông khách đến xem. Đi tướt cả nước!
    Hai mươi mùa lá rụng sau, những bộ phim video The Godfather, The Exorcist lén lút vào Sài Gòn, nhưng thế hệ khán giả xi-nê chờ đợi xem phim năm xưa, sau mười mấy năm bẩy nổi, ba chìm, lênh đênh tới bến, mặt ông nào ông nấy in hằn những vết roi đời, không còn hào hứng gì với việc xem phim xi-nê, dù có là phim The Godfather. Đọc tiểu thuyết The Godfather và thấy hay đến mấy, hay quá chời, quá đất, tự hẹn khi phim chiếu sẽ đi xem – như tôi chẳng hạn – lỡ dịp được coi The Godfather, The Exorcist năm 1975, năm tôi tuổi đời Bốn Bó đang xoan, sau cuộc biển dâu khi tuổi đời tôi Sáu Bó Lẻ Mấy Que tôi hững hờ với việc coi những phim video The Godfather, The Exorcist. Một thời mê đắm qua rồi, cho qua luôn. Khi tuổi tác đổi khác, tâm trạng độc giả, khán giả mê The Godfather hai mươi năm xưa cũng đổi khác. Thế hệ độc giả, khán giả trẻ hiện nay không còn mê chuyện Mafia. Phải chăng đó là nguyên nhân làm cho cuốn tiểu thuyết cũng viết về đề tài Mafia của Mario Puzo, xuất bản năm 1996 – The Last Don: Bố Già Cuối Cùng – không mấy ăn khách?
    Mời bạn đọc thêm một đoạn The Godfather, đoạn vào truyện, Bonasera, chủ một Tang Nghi Quán, tức Nhà Đòn Đám Ma Mỹ, đến nhà Don Corleone dự đám cưới Connie Corleone, con gái ông Don.
    Bonasera có cô con gái cưng bị hai thanh niên Mỹ đưa đi chơi và cưỡng hiếp. Hai gã bạo dâm, bạo hành đánh cô gái bị thương nặng. Là công dân tốt, Bonasera tin ở pháp luật của nước Hoa Kỳ dân chủ, thưa hai gã làm hại con mình ra tòa. Hai gã lại là con ông, cháu cha – con Thượng nghị sĩ, cháu Thống đốc v.v… – tòa xử chúng ba năm tù nhưng cho hưởng án treo. Tức là cho chúng ra về thơ thới hân hoan, không bị tù ngày nào. Thất vọng vì cái gọi là pháp luật Mỹ, chủ nhà đòn Bonasera đến tìm Bố Già Corleone:
    “…Amerigo Bonnasera theo Hagen vào phòng và thấy Don Corleone ngồi sau cái bàn lớn, Sonny Corleone đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn. Đây là lần thứ nhất trong ngày Bố Già tỏ vẻ lạnh lùng. Ông không ôm cũng không bắt tay người khách. Ông chủ nhà đòn mặt mũi hốc hác chỉ được mời đến dự đám cưới vì bà vợ ông ta và bà vợ Bố Già là đôi bạn thân. Amerigo Bonasera không được Bố Già ưa mấy.
    Bonasera mở đầu lời thỉnh cầu một cách quanh co và khéo léo: “Xin ông tha lỗi cho con gái tôi, nó là con đỡ đầu của bà nhà, hôm nay nó không đến chung vui với cô nhà ta được. Con gái tôi còn nằm ở bệnh viện”. Bonasera đưa mắt nhìn Tom Hagen và Sonny Corleone ngỏ ý mình không muốn nói chuyện trước hai người này. Nhưng Bố Già mặc kệ.
    “Chúng tôi biết tai họa của cô con gái anh”, Don Corleone nói. “Nếu tôi có thể giúp anh bất cứ việc gì, anh chỉ cần nói. Dù sao thì vợ tôi cũng là mẹ đỡ đầu của con gái anh. Tôi không bao giờ quên vinh dự ấy”. Đây là một lời trách cứ. Ông chủ nhà đòn không bao giờ gọi Don Corleone là Bố Già theo như phong tục.
    Bonasera, mặt sám ngắt, đành phải nói: “Xin cho tôi được nói chuyện riêng với ông”.
    Don Corleone lắc đầu: “Tôi trao đời sống của tôi cho hai người này. Họ là hai cánh tay phải của tôi. Tôi không thể sỉ nhục họ bằng cách bảo họ đi chỗ khác”.
    Ông chủ nhà đòn nhắm hai mắt lại một lúc, sau đó bắt đầu nói. Giọng nói của ông ôn tồn, đây là giọng ông vẫn dùng để an ủi tang gia bối rối. “Tôi nuôi dậy con gái tôi theo cung cách Mỹ. Tôi tin tưởng Mỹ quốc. Mỹ quốc đã cho tôi có sản nghiệp. Tôi cho con gái tôi được tự do đồng thời dậy cho nó không bao giờ làm gia đình mất danh dự. Con tôi có bạn trai không phải là người Ý. Con tôi đi xem xi-nê với thằng đó. Nó đi chơi đến khuya mới về. Thằng bạn nó không bao giờ chịu đến nhà gập vợ chồng tôi. Tôi chấp nhận những chuyện đó mà không nói gì, lỗi tại tôi. Hai tháng trước thằng đó đón con tôi đi chơi, cùng đi còn có một thằng bạn nó. Chúng cho con tôi uống whiskey rồi cưỡng hiếp con tôi. Con tôi chống lại. Con tôi giữ danh giá. Chúng đánh con tôi. Như đánh con vật. Khi tôi đến bệnh viện, con gái tôi hai mắt tím bầm, xương sống mũi bị gẫy, xương hàm cũng gẫy. Phải buộc lại bằng dây thép. Con tôi đau, khóc. “Ba ơi… Ba ơi… Sao chúng lại đánh con, sao lại đánh con?”. Tôi khóc”.
    Bonaserra không nói được nữa, ông khóc nghẹn ngào nhưng giọng nói vẫn không bị chấn động.
    Don Corleone, như không muốn, làm một cử chỉ tỏ sự ưu ái và Bonasera nói tiếp, giọng nói của ông trở thành giọng nói của con người đau khổ. “Sao tôi lại khóc? Con gái tôi là ánh sáng của đời tôi, con tôi rất có tình. Con bé xinh, đẹp. Nó tin người nhưng từ nay nó không còn tin ai được nữa. Nó cũng không bao giờ đẹp lại”. Bonnasera run rẩy, khuôn mặt hốc hác tím sẫm.
    “Tôi đến với cảnh sát như một công dân Mỹ tốt. Hai thằng đó bị bắt. Chúng bị đưa ra tòa. Chứng cớ quá nhiều, chúng nhận chúng có tội. Chánh án tuyên án chúng ba năm tù nhưng cho hưởng án treo. Chúng được trở về tự do ngay ngày hôm đó. Tôi đứng ngây trong phòng xử như thằng ngốc, hai thằng khốn nạn đó cười nhạo tôi. Tôi nói với vợ tôi: “Chúng ta phải đến với Bố Già Corleone để xin công lý”.
    Bố Già cúi đầu xuống để tỏ lòng kính trọng nỗi đau thương của người nói. Nhưng khi ông cất tiếng, những lời ông nói sắc lạnh vì bị xúc phạm. “Tại sao anh lại đến với cảnh sát? Tại sao anh không đến với tôi ngay từ lúc chuyện này mới xẩy ra?”
    Bonasera nói nhỏ gần như không ra tiếng “Ông muốn gì ở tôi? Cho tôi biết ông muốn gì. Nhưng xin làm cái việc tôi xin ông làm”. Gần như có vẻ gì hỗn xược trong lời nói của Bonasera.
    Bố Già nghiêm trọng hỏi “Anh muốn tôi làm gì?”
    Bonasera nhìn Hagen và Sonny Corleone rồi lắc đầu. Bố Già, vẫn ngồi yên trên ghế, nghiêng mình về phía khách. Bonasera do dự rồi cúi xuống ghé sát môi vào tai Bố Già để nói. Bố Già nghe như ông linh mục trong tòa giải tội, mắt nhìn ra xa, bình thản, xa vắng. Hai người trong tư thế đó một lúc thật lâu, cho đến lúc Bonasera ngừng nói và đứng thẳng lên. Bố Già nhìn vào mặt Bonasera, ông này nhìn lại.
    Sau cùng Bố Già nói: “Việc đó tôi không làm được. Anh yêu cầu việc quá đáng”.
    Bonasera nói lớn, rõ: “Tôi xin trả ông bất cứ cái gì ông muốn”. Nghe câu đó, Hagen nhích thân mình, đầu lắc nhẹ. Sonny Corleone hai tay khoanh trước ngực cười ngạo mạn quay lại nhìn cảnh trong phòng lần đầu kể từ khi ông chủ nhà đòn vào phòng.
    Bố Già đứng lên.Vẻ mặt ông vẫn bình thản nhưng giọng ông lạnh như thép. “Chúng ta biết nhau từ nhiều năm, anh và tôi”, ông nói với Bonasera, “nhưng cho đến ngày hôm nay anh không bao giờ đến tôi để hỏi ý hay nhờ giúp. Tôi không nhớ có lần nào anh mời tôi đến nhà anh uống cà phê hay không, dù vợ tôi là mẹ đỡ đầu đứa con gái duy nhất của anh. Hãy thành thật. Anh từ chối tình bạn của tôi. Anh không muốn mắc nợ tôi”.
    Bonasera nói nhỏ, “Tôi không muốn bị rắc rối”.
    Bố Già dơ tay lên. “Không. Đừng nói. Anh thấy Mỹ quốc là thiên đường. Anh có nghề nghiệp tốt, anh kiếm được tiền, anh nghĩ anh sống hoàn toàn an ninh và anh có thể hưởng thụ cuộc sống như anh muốn. Anh không cần có những người bạn chân chính. Cần làm gì, anh đã có cảnh sát bảo vệ anh, có tòa án, ai có thể làm hại anh và người thân của anh. Anh không cần Don Corleone. Tốt thôi. Tự ái tôi bị tổn thương nhưng tôi không phải là hạng người mời chào những người không thấy tình bạn của tôi có giá trị, tôi không ve vãn những người coi thường tôi”.
    Bố Già ngừng nói, mỉm cười lễ độ nhưng mỉa mai với Bonasera. “Nay anh đến gặp tôi, anh nói “Don Corleone, thi hành công lý cho tôi”. Và anh không xin với sự kính trọng. Anh đến nhà tôi trong ngày cưới của con gái tôi, anh yêu cầu tôi giết người và anh nói” – giọng nói của Bố Già trở thành riễu cợt, nhại tiếng – “Tôi chi ông bất cứ cái gì. Không, tôi không giận đâu nhưng tôi đã làm gì để anh đối xử với tôi bất kính đến như thế chứ?”
    Bonnasera kêu lên trong lo âu và sợ hãi “Mỹ quốc tốt với tôi. Tôi muốn tôi là công dân tốt. Tôi muốn con tôi là người Mỹ”.
    Bố Già chắp hai tay lại với vẻ tán thành toàn tâm: “Nói hay. Được lắm. Vậy thì anh đâu có gì để phải kêu rên. Quan tòa đã tuyên án. Mỹ quốc đã tuyên án. Đem hoa và kẹo đến cho con gái anh trong bệnh viện. Những thứ đó sẽ an ủi nó. Hài lòng đi. Dù sao chuyện này cũng chẳng quan trọng gì, hai thằng đó còn trẻ, phá nghịch hơi quá đáng, một trong hai đứa lại là con một chính trị gia có thế lực. Anh bạn Amerigo, anh lúc nào cũng lương thiện. Tôi phải công nhận, dù anh từ chối tình bạn của tôi, tôi tin tưởng ở lời nói của Amerigo Bonasera hơn tôi tin lời nói của nhiều người khác. Vậy thì anh hãy hứa với tôi là anh sẽ bỏ qua vụ này. Việc anh muốn làm không Mỹ chút nào. Tha thứ. Quên. Cuộc đời đầy những tai họa”.
    Sự mỉa mai tàn nhẫn và khinh mạn cùng vẻ giận dữ kiềm chế của Bố Già làm cho ông chủ nhà đòn khốn khổ, khốn nạn người mềm như bún, nhưng Bonasera vẫn can đảm nói “Tôi xin ông cho tôi công lý”.
    Don Corleone nói gọn: “Tòa án cho anh công lý”.
    Bonasera ương ngạnh lắc đầu: “Thưa không. Họ cho hai thằng đó công lý. Họ không cho tôi công lý”.
    Bố Già nhìn nhận sự phân biệt tế nhị ấy với cái gật đầu, rồi hỏi “Công lý của anh là gì?”
    “Mắt đền mắt”, Bonasera trả lời.
    “Anh đòi hơn thế mà”, Bố Già nói. “Con gái anh còn sống”.
    Bonasera miễn cưỡng nói “Xin bắt chúng nó phải đau đớn như con gái tôi đã đau đớn”.
    Bố Già chờ Bonasera nói thêm. Bonasera thu thập hết số can đảm còn lại và nói, “Tôi phải trả ông bao nhiêu?”. Câu hỏi như lời than tuyệt vọng.
    Don Corleone quay lưng lại. Đây là hành động biểu lộ sự đuổi khách. Bonasera không đi.
    Sau cùng, thở dài, như người tốt bụng không thể giận lâu hơn nữa người bạn lỗi lầm, Don Corleone quay lại với ông chủ nhà đòn, ông này mặt trắng bệch như mặt những thân chủ của Tang Nghi Quán.
    Don Corleone nói dịu dàng, kiên nhẫn. “Tại sao anh lại sợ phải đến nhờ tôi? Anh đến pháp đình và anh chờ đợi cả tháng. Anh chi tiền cho bọn luật sư là bọn biết rõ anh chỉ là thằng ngớ ngẩn. Anh chờ đợi công lý ở một tên chánh án là tên đã bán mình, nó không khác gì một con điếm vỉa hè tồi tệ nhất. Năm tháng qua, khi anh cần tiền, anh đến ngân hàng để phải trả những khoản tiền lời cắt cổ, mổ bụng, anh đứng chờ, mũ cầm tay, như thằng ăn mày, trong khi chúng lục lọi đời tư anh, ngửi cả đít anh để xem anh có thể trả nợ chúng được không”.
    Bố Già ngừng nói, giọng ông trở nên nghiêm khắc hơn. “Nhưng nếu anh đến với tôi, tiền của tôi là tiền của anh. Nếu anh đến với tôi để đòi hỏi công lý thì giờ này hai thằng khốn kiếp làm hại con gái anh đã khóc hết nước mắt. Nếu chẳng may người lương thiện như anh mà có kẻ thù, kẻ thù của anh sẽ là kẻ thù của tôi”, – Bố Già đưa tay lên, ngón trỏ chỉ vào Bonasera – “Khi đó, tin tôi đi, thiên hạ sẽ sợ anh”.
    Bonasera cúi đầu, nghẹn lời “Xin là bạn tôi. Tôi nhận”.
    Don Corleone đặt bàn tay lên vai Bonasera. “Tốt”. Ông nói, “anh sẽ có công lý của anh. Có ngày, ngày ấy có thể sẽ không bao giờ đến, tôi sẽ nhờ anh làm cho tôi một việc gì đó. Cho đến ngày ấy, hãy coi cái công lý này là món quà tặng của vợ tôi, bà mẹ đỡ đầu con gái anh”.
    Khi cánh cửa phòng đóng lại sau lưng ông chủ nhà đòn biết ơn, Don Corleone nói với Hagen “Giao việc này cho Clemenza, bảo nó dùng mấy tên nào tin được, mấy tên không say máu làm tới khi ngửi thấy mùi máu. Dù sao ta cũng không phải là những tên sát nhân…”

    Bạn nghĩ gì sau khi đọc đoạn truyện trên đây?
    Tôi nghĩ đó là đoạn truyện tố cáo, đả kích xã hội Mỹ, pháp luật Mỹ, công lý Mỹ, lối sống Mỹ, lý tưởng Mỹ, quốc gia Mỹ, người Mỹ nặng nề nhất, tai hại nhất. Sự đả kích thực khủng khiếp. Con người sống trong xã hội phải được pháp luật và xã hội bảo vệ. Không có sự bảo vệ ấy con người không thể sống được. Con người cổ xưa sống man dã với luật thiên nhiên mạnh được, yếu thua. Con người thời đại ta sống trong xã hội được tổ chức có trật tự, có sự hợp lý. Nhưng cái xã hội Mỹ trong The Godfather của Mario Puzo gần như hoàn toàn không có công lý, không có pháp luật. Nói cách khác công lý, pháp luật Mỹ trong The Godfather không đáng tin cậy, không bảo vệ được người lương thiện.
    Vì nguyên nhân đó bọn Mafia tự thi hành luật pháp của chúng, thi hành pháp luật và công lý theo ý chúng. Nếu bất cứ một nhóm người nào đó cũng tự thi hành pháp luật theo ý mình thì còn gì là xã hội nữa??? Con người trở lại thời man dã mạnh được, yếu thua – thời xưa yếu có thể thua nhưng yếu vẫn còn có thể sống, thời này yếu không những chỉ thua mà sẽ chết ngắc. Nếu lý luận và việc làm của những nhân vật Mafia như Don Corleone trong The Godfather là đúng thì trên cõi đời này, ít nhất là ở Mỹ quốc, chỉ những tên hung dữ, bạo tợn, có sức khỏe, có phương tiện giết người và dám giết người… là có quyền sống hay sao???



    Năm 1951 tôi rời Hà Nội vào Sài Gòn. Sáng mùa xuân, phi trường Gia Lâm trắng mưa xuân – mưa bụi, loại mưa đặc biệt chỉ mùa xuân ở Bắc Việt mới có. Hạt mưa thật nhỏ, chỉ những thiếu nữ Hà Nội mặc áo nhung mới có làn mưa trăng trắng bám trên hai cánh tay áo. Áo nhung thôi, những loại hàng khác thấm nước mưa nên không có làn mưa trắng mỏng này.
    Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu… Năm ấy tôi mang theo cây đàn lên phi cơ nhưng số tôi không khá về mặt đàn địch, ba lần tôi học đàn nhưng rồi tôi cũng bỏ cuộc, không chơi nổi được lấy một bài tủ cho ra hồn như bài La Vie En Rose tôi rất thích. Năm 1950 tôi học đàn thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, năm 1951 tôi học đàn thầy Vĩnh Lợi ở Sàigon, năm 1957 tôi học đàn thầy Lâm Tuyền ở Sài Gòn. Ba lần học mà vẫn không đàn được. Quá tam ba bận. Không được là không được.
    Năm 1952 tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tòa soạn ở đường Bonard, gần tiệm ăn Kim Hoa cạnh rạp xi-nê-ma Casino de Saigon. Thời ấy – một nửa thế kỷ trôi qua rồi còn gì – Sài Gòn thanh vắng, đời sống ở Sài Gòn tương đối thanh bình, chiến tranh Việt-Pháp diễn ra dữ dội ở miền Bắc, miền Trung, những tờ nhật báo Sài Gòn không có nhiều tin giựt gân – kể cả những tin không giật gân, tin xe cán chó – để đăng. Một hôm có chiếc xe buýt chạy đường Phú Nhuận – Sài Gòn lạc tay lái đâm vào cổng Dinh Gia Long, vài người bị thương nhẹ. Năm ấy Cao Ủy Pháp ở trong tòa nhà về sau ta gọi là Dinh Độc Lập, chính phủ ta, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, ở Dinh Gia Long. Tôi đến nơi xẩy ra tai nạn lấy tin. Đang đứng láng cháng hỏi và ghi chép thì nghe tiếng người hỏi:
    – Báo nào thế?
    Người hỏi là Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, người những năm 70 là dịch giả tiểu thuyết Bố Già dịch từ The Godfather của Mario Puzo. Đấy là lần đầu tiên tôi gặp Tú. Tú trạc tuổi tôi, công tử Bắc Kỳ – những năm đầu thập niên 50, chúng tôi mới hai mươi tuổi. Tôi vào Sài Gòn đã sớm, Tú còn vào Sài Gòn sớm hơn tôi. Gập nhau chúng tôi thân nhau ngay. Tú nói anh từng là nhân viên tòa báo của ông Hiền Sĩ – tôi quên tên tờ báo này. Đây là tờ báo Việt đầu tiên ra đời ở Sài Gòn sau khi người Pháp trở lại Đông Dương năm 1945. Trong tòa soạn tờ báo này có anh Trường Sơn Nguyễn Huy Thái, một ký giả kỳ cựu của làng báo Sài Gòn. Một bút hiệu khác của anh Thái là Huy Thanh. Anh đã mất khoảng năm 1998 ở Sài Gòn. Năm 1952 khi tôi gặp Tú và thân với Tú, tờ báo của ông Hiền Sĩ đã đóng cửa từ lâu, ông Hiền Sĩ đã về Chợ Gạo, Mỹ Tho làm Cai Tổng. Có lần tôi gập ông đến tòa soạn báo Sài Gòn Mới thăm ông bà Bút Trà. Lên Sài Gòn, ông Hiền Sĩ vẫn ăn bận đúng kiểu Cai Tổng Nam kỳ lục tỉnh: đầu đội mũ nỉ, miệng ngậm ông vố, tay cầm ba-toong, mặc bộ đồ sá xẩu, chân đi giép, răng vàng, nói cười rổn rảng.
    Về chuyện Tú là nhân viên tờ báo của ông Hiền Sĩ, tôi phải viết thêm: đấy là chuyện Tú kể với tôi. Mới đây khi nhắc đến Tú, một ông bạn nói Tú du học ở Paris đến năm 1954 mới về nước. Tôi hỏi ai nói, ông bạn nói Tú nói. Tôi biết Tú không đi Tây, đi Tầu chi hết, kể cả Tây Ninh, Tú cũng chưa bao giờ đi. Thành ra chuyện Tú nói với tôi anh từng là nhân viên nhật báo của ông Hiền Sĩ, tôi sợ cũng chỉ là chuyện Tú nói.
    Tú bằng tuổi tôi, học hành lem nhem như tôi, chúng tôi cùng bỏ học sớm, cùng biết tí đỉnh Pháp văn, Anh văn. Tú sắc xảo nước đời hơn tôi, ít tuổi nhưng hay chơi trội: mới hai mươi tuổi đã vào Nhà Cercle Sòng bạc Kim Chung đánh roulette, hút thuốc phiện. Năm 1955 Tú kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển “Tại sao tôi di cư” cho Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa – thời Bộ trưởng Cao Đài Phạm Xuân Thái. Nghe nói ông Bàng Bá Lân là tác giả quyển sách nhỏ ấy. Sách ra đúng thời điểm. Tú có cả trăm ngàn đồng, số tiền thật lớn thời đó. Anh ăn diện: sơ-mi Valisère hàng nylon mới từ Paris sang bán ở tiệm đồ đàn ông mode nhất, đắt nhất thời đó trên đường Tự Do, dùng đồng hồ vuông mặt đen, mũ Mossant, cặp da nâu bệ vệ như cặp của Bộ trưởng Phạm Xuân Thái, máy chữ portatif, quạt máy Marelli, hút thuốc lá Mỹ Phillip Morris Vàng Kingsize, bật lửa Dupont, ăn cơm Tây, rượu chát v.v…
    Và Tú gặp tình yêu. Nàng là cô giáo người Bắc, nhà ở gần nhà Tú – đường Gennibrel, từ sau 1956 là đường Huyền Quang, Tân Định. Cô giáo có chồng. Chồng nàng ra bưng kháng chiến. Nàng ở Sài Gòn dậy học, sống với đứa con nhỏ và bà mẹ, chờ đợi chồng trở về. Chiến tranh chấm dứt, đất nước chia đôi, tháng 12 năm 1954 chồng nàng từ Đồng Tháp Mười tập kết lên tầu Ba Lan ra Bắc. Thấy chồng không chịu trở về, cô giáo thất vọng. Nàng trao trái tim nàng cho Tú. Cuộc tình của họ gặp trắc trở. Cô giáo tự tử chết, bỏ lại mẹ già, con thơ. Thật tội. Đời Tú, từ cái chết bi thảm của cô giáo, bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong một nhà bán thuốc phiện ở hẻm Monceaux, Tân Định – sau 1956 là đường Huỳnh Tịnh Của nối dài. Anh ăn, hút, ngủ trong nhà đó luôn, bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da trả tiền hút. Tú ra khỏi nhà đó hai tay không với bệnh nghiện hút nặng.
    Từ sau năm 1954 đất nước chia đôi, nguồn cung cấp á phiện cho miền Nam Việt Nam, nay là Việt Nam Cộng Hòa, không đến từ Bắc Việt nữa mà đến từ vùng Xiêng Khoảng nước bạn Ai Lao, hoặc vùng gọi là Tam Giác Vàng. Hàng về bằng đường hàng không. Năm 1961, 1962 Ai Lao có nạn binh biến xẩy ra chí chạt: Đại úy Nhẩy Dù Khong Le làm đảo chính, rồi hai ông Hoàng Phoumi, Phouma tranh quyền Thủ Tướng đánh nhau liên miên. Trong một lần hai ông Hoàng Lèo tranh quyền, Vientiane bị giới nghiêm, phi trường Vientiane đóng cửa nhiều ngày. Phi cơ không bay, á phiện Lèo không về được Sài Gòn. Tình hình giới HítTôPhê Việt Nam Cộng Hòa thập phần nguy kịch. Đệ tử của Cô Ba Phù Dung có thể nhịn ăn nhiều ngày nhưng khônng thể nhịn hút dù chỉ là nửa ngày. Đệ tử Cô Ba Phù Dung có thể thiếu cơm – thực ra là mấy ổng Tiên Ông Phi Yến Thu Lâm săng phú cơm, săng phú luôn cả thịt cá, rau dưa – nhưng mấy ổng không thể nửa ngày không có thoóc. Thời ấy trong giới Hít Tốp có câu nói đùa:
    – Phu Mi, Phu Ma đánh nhau, chỉ có PhuMơ chúng mình là chết!
    PhuMơ: fumeur, tiếng gọi khác là phum, dân phum, tức dân hút thuốc phiện.
    Mà Phu Mơ Mít chết thật. Hàng không về, thuốc tăng giá. Những nhà còn thuốc giữ lại không bán ra. Gần như có tiền và chịu giá đắt mấy cũng không mua được thuốc. Mà lính của Cô Ba thì tuyệt đại đa số là đọi, tức tiên khồng. Chít mất. Chít là cái chắc! Nô thoóc! Không có thoóc! Làm sao bi giờ? Trong cơn nguy cấp ấy không biết ông Con Trai Bà Cả Đọi Hít Tô Phơ thông minh nào có óc khoa học vật lý hóa nẩy ra sáng kiến thần sầu cứu nguy cho thân mình và đồng bạn bằng cách: lấy sái thuốc phiện nấu với nước, lọc đại khái cho nước thuốc không có cặn, rút vào ống chích, chích thẳng vào gân máu. Sáng kiến này dựa trên sự phân tích khoa học: hút khói thuốc phiện vào phổi, phổi đưa chất thuốc vào máu. Tiến trình này mất thì giờ và tốn thuốc, mười phần thuốc được dùng thì chất vào máu chỉ được hai, ba phần. Tại sao lại không nấu cho sái tan ra nước – thuốc phiện chưa hút cháy thành sái sao lại không dùng được trong trò chích choác này – lấy nước sái chích thẳng vào mạch máu? Chích như vậy là thuốc vào máu đủ chăm phần chăm, ép-phê liền tù tì tút suỵt, chưa rút mũi kim ra thuốc đã vào đến tim, lại không bị tiêu hao, phí phạm một ly ông cụ nào.
    Thế là từ đó thế giới ma túy Việt Nam Cộng Hòa có thêm trò chích choác. Rồi màn kịch vô duyên mấy trự gà Lèo không bôi mặt cũng đá nhau sặc mắm ngóe cũng phải ngừng, á phiện lại từ Lèo bay về Sài Gòn đều đều, nhưng dân nghiện Sài Gòn đã có thêm trò chích choác. Dân nghiện ma túy Âu Mỹ chích cocaine, heroine, gọi chung là bạch phiến, chất trắng. Dân nghiền Việt chích bằng nước sái thuốc phiện, chất nước mầu nâu sẫm hay nhạt, đậm hay đặc, tùy theo số sái và số nước nhiều hay ít. Người đã choác khó có thể bỏ choác. Đang hút 1000 đồng, người nghiện chỉ cần choác 100 đồng là phê khủng khiếp, choác phê hơn hít nhiều. Và choác cũng tàn phá con người nặng, mạnh và nhanh hơn hít rất nhiều. Cai thuốc phiện khó hơn lên trời, nhưng người nghiện hút may ra còn có thể cai được – cai: bỏ hút – còn choác thì vô phương. Choác một năm, cơ thể bị tàn phá bằng hít mười năm.
    Tú Lé – Tú bị lé một mắt nên chúng tôi gọi anh là Tú Lé hay Tú Lếch – từ hít sang choác. Những năm 70, Tú chuyên mặc sơ-mi dài tay. Gân máu trên hai cánh tay anh bị chích nhiều quá thành trai cứng, đen sì, trũng xuống như lòng máng nước. Tú viết cho Tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và lai rai cho nhiều báo khác, lấy bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Nhuận đưa The Godfather cho Tú dịch. Tú chọn tên Bố Già và bản dịch Bố Già là một bestseller của tiểu thuyết Sài Gòn những năm 1971, 1972.
    Năm 1976 Tú và tôi đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho văn nghệ sĩ Sài Gòn do Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố Hồ chí Minh tổ chức. Cùng dự khóa này với chúng tôi có Nguyễn Đình Toàn, Phan Nghị, Cao Nguyên Lang v.v… Hai mươi mốt ngày học tập, học viên được Thành Ủy cấp mỗi ngày một đồng, tiền công tác phí. Hôm học viên được mua nhu yếu phẩm – đúng hơn được phát số nhu yếu phẩm này – tiền mua lấy từ trong số 21 đồng tiền công tác phí: hai hộp sữa, hai gói thuốc điếu Vàm Cỏ, một ký đường, hai gói mì, một cây kem đánh răng, nửa ký bột giặt, hai trăm gam bột ngọt v.v… Lãnh nhu yếu phẩm xong học viên Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, biến mất liền trong hai ngày không đến lớp. Chúng tôi nói với nhau: “Ngọc Thứ Lang mang nhu yếu phẩm đi hưởng bồi dưỡng rồi”. Anh đổi số nhu yếu phẩm ấy lấy thuốc chích.
    Cuối 1976, ký giả Hồ Ông – hiện làm báo ở Sydney, Úc – cho tôi hay: “Anh Tú bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên Bình Triệu. Anh ấy nhắn về bảo anh lên thăm”. Một sáng, Hồ Ông và tôi trên hai xế đạp lên Bình Triệu thăm Tú. Trung Tâm cai ma túy của thành phố được đặt trong tòa nhà Tu viện Fatima. Tu viện vừa xây cất xong, chưa khai trương thì bị chiếm. Phòng ốc rộng rãi, mát mẻ, sạch sẽ, thênh thang, thừa tiện nghi, hồ nước máy lớn ở vườn sau, tha hồ tắm. Mỗi phòng dự định dành cho một tu sĩ nay có ba, bốn anh nghiện ở, phòng không có đồ đạc, bàn ghế gì cả, chỉ có mấy cái chiếu trải trên sàn. Đa số là dân choác, bị công an hốt từ những động choác. Rất ít người được gia đình tiếp tế. Anh em vào đây chỉ với một bộ quần áo đang mặc trên người.
    Khi tôi đến gập Tú, anh đã khoẻ, đi lại, ăn uống được. Những vết chích trên da thịt anh bị lở loét nhưng không sao, rồi sẽ lành. Nhiều người cai choác bị lở như vậy. Tú dẫn tôi đến xem tờ bích báo của Trung Tâm Phục Hồi Nhân Phẩm. Báo có 7 bài, một mình Tú viết 5 bài. Nghề của chàng. Tú kể chuyện có nữ ký giả ngoại quốc đến thăm Trung Tâm, Tú nói được tiếng Pháp, tiếng Anh nên ban quản đốc đưa anh ra nói chuyện với khách. Nữ ký giả ngạc nhiên khi nghe nói Tú là dịch giả The Godfather của Mario Puzo. Chắc cô nghĩ, theo những tiêu chuẩn kinh tế thị trường Âu Mỹ, đã là dịch giả The Godfather thì đâu có thể thân tàn, ma dại quá đến như Ngọc Thứ Lang. Cô nhà báo không tin. Tú được phép về Sài gòn lấy quyển Bố Già đem lên Trung Tâm cho nữ ký giả thấy là thật.
    Tú nói sau thời gian cai nghiện ở Trung tâm Bình Triệu, đệ tử Cô Ba sẽ phải đi nông trường cải tạo ít nhất là hai năm, nhưng vì Tú có khả năng ban quản đốc sẽ giữ Tú lại làm việc ở Trung tâm. Tốt thôi. Đấy là lần cuối cùng tôi gặp Tú. Từ lần chúng tôi gặp nhau đầu tiên năm 1952 đến lần gặp nhau cuối năm 1976, 24 mùa lá rụng đã qua cuộc đời chúng tôi.
    Năm 1977 tôi bị bắt lần thứ nhất. Hai năm tôi sống trong Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Năm 1979 trở về mái nhà xưa tôi được tin Tú đã chết ở Trại Cải Tạo Phú Khánh. Trại này nằm giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Tôi nhớ Tú nói anh sẽ được giữ lại Trung Tâm Bình Triệu, tại sao anh lại phải đi Phú Khánh? Tôi hỏi và được biết nguyên nhân như sau: một hôm Trung Tâm cần in một số tài liệu. Tú từng làm báo, biết về việc in và nhà in nên ban quản đốc giao tiền cho Tú mang tài liệu về Sài Gòn in. Đến nhà in Tú đặt in, để hai chú bạn ngồi lại, đem tiền in đi luôn. Tú đi choác. Hai chú bạn ngồi va-ly đói dài, tiền ăn cơm trưa không có, tiền lấy đồ in cũng không luôn. Tú biến mất vài ngày rồi cũng trở lại Trung tâm. Ban quản đốc thấy không thể giữ Tú lại nên cho Tú đi trại. Nghe nói một sáng trời lạnh ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh, Tú rít điếu thuốc lào, đứng tim, ngã ra chết.
    Tú có một bà chị. Năm 1955, khi đất nước ta, bị cắt đứt ở khúc Bình Định – Quảng Ngãi, sau 9 năm chiến tranh mới liền một giải từ sông Bến Hải đến Mũi Cà Mâu; thời ông Phạm Xuân Thái làm Bộ trưởng Bộ Thông Tin, Tú và tôi đi một chuyến miền Trung. Tú đi với tư cách ủy viên Bộ Thông Tin, tôi là phóng viên nhật báo Sài Gòn Mới. Tú đưa tôi đến thăm gia đình bà chị Tú ở Lăng Cô, trên đường Huế – Đà Nẵng. Ông anh rể Tú năm ấy là Trung úy Bác sĩ Quân Y. Anh rất đàng hoàng – danh từ thời đó là réglo – bà chị của Tú hiền hậu. Sau đó, đến những năm 1960 tôi nghe nói ông anh rể của Tú làm giám đốc một quân y viện ở Đà Lạt. Tú lên chơi, vào phòng thuốc của quân y viện, đòi chìa khóa, mở tủ thuốc cấm, lấy cocaine, morphine chích loạn cào cào. Nhân viên thấy Tú là em vợ của bác sĩ giám đốc nên không dám ngăn. Khi bác sĩ biết, ông cấm cửa không cho Tú đến nhà nữa.
    Những năm về sau Tú sống trong nhà anh Thạch Thái Phúc, đường Bùi Thị Xuân, Sài Gòn. Anh Phúc là ký giả pháp đình, tức tòa án. Anh có dáng người bệ vệ, kính trắng, ria mép, lúc nào cũng comlê, cavát, cặp da, ô đen. Không ai dám chứa một ông chích choác không phải là con cháu mình ở trong nhà, anh chị Phúc đã chứa Tú. Nghe nói bà mẹ của anh Phúc và bà mẹ của Tú là hai bà bạn thân. Bà mẹ của Tú ở lại Hà Nội. Năm 1954 khi gia đình anh Phúc di cư vào Nam, bà mẹ của Tú có lời nhờ bà mẹ anh Phúc trông nom, săn sóc Tú. Anh chị Phúc làm theo ý bà mẹ, cưu mang Tú mãi. Anh chị cho Tú ăn ở, chỉ có tiền đi choác là không. Anh Phúc thông gia với Minh Vồ Con Ong. Minh đã qua đời năm 1993. Anh Phúc còn sống ở Sài Gòn.
    Năm 1986 theo Liên Xô, theo Trung Cộng, Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Nguyễn Văn Linh ban hành “đổi mới” và tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ”. Cùng với hằng hà sa số những tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam Cộng Hòa từng bị lên án là đồi trụy, phản động, tuyên truyền cho thực dân Mỹ, bị tịch thu, bị hủy hoại, tiểu thuyết Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại. Hai nhà xuất bản tranh nhau in Bố Già: Nhà Xuất Bản Trẻ Thành Hồ và Nhà Xuất Bản Văn Hóa Hà Nội.
    Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, chết rồi, hai nhà xuất bản không phải trả tiền bản quyền Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại ở hải ngoại. Nhà xuất bản Việt ở hải ngoại cũng miễn chi tiền bản quyền cho Ngọc Thứ Lang.
    Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết bestseller từng bán đến 21 triệu cuốn, qua đời ở nhà riêng trong thành phố Bay Shore, tiểu bang New York, ngày Một tháng Bẩy năm 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, qua đời ở Trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con.

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (03)





    “Chữ Thọ vừa ăn đứt Ngọa Long.
    Bến Nằm dư biết đục hay trong.
    Chỉ thương kiếp đá ai bày trận,
    Để ngấn vàng reo chợt rối vòng“.


    Thơ Vũ Hoàng Chương làm năm 1969, năm nhà thơ 55 tuổi. Năm ấy ông thọ hơn Khổng Minh Gia Cát Lượng một tuổi. Thơ nói đến Ngọa Long – Rồng Nằm. Ngọa Long Gia Cát là Rồng Nằm ở Nam Dương, Trung Quốc. Vũ Hoàng Chương là Rồng Nằm ở Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa.
    Tháng Ba 1976 – năm Bính Thìn, tức năm Rồng – Cộng sản Hà Nội phát động chiến dịch bắt giam văn nghệ sĩ VNCH. Trong vòng hai ngày, hai đêm khoảng ba mươi văn nghệ sĩ ta bị bắt, trong số có các anh Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Trần Việt Sơn, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương…
    Nói đến Vũ Hoàng Chương là nói đến Thơ. Vũ Hoàng Chương không cần có cái danh thi sĩ đi trước tên. Từ năm 1965 Vũ Hoàng Chương không còn là thi sĩ nữa, ông là thi bá. Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ tan tành, thi bá cùng những văn nghệ sĩ Sài Gòn chịu chung số phận bi thảm cùng với nhân dân: tù đày, tuyệt vọng, đói khổ, bị sỉ nhục, bị kết tội. Khi Vũ Hoàng Chương là thi bá, ông được người ta trịnh trọng mời về cư ngụ trong biệt thự của người ta ở khu Lăng Cha Cả. Từ những năm đầu 1970, thi bá không còn bận âu phục com-lê vét-tông nữa. Thi bá bận áo dài ta. Tết đến, thi bá bận áo sa mầu lam ngọc, cầm quạt giấy, ngồi chụp ảnh trên hiên nhà bên chậu mai vàng, trông phong nhã cứ như thi sĩ Tầu Đường Bá Hổ.
    Cờ đỏ, súng AK, nón cối, giép râu ngơ ngáo vào Sài Gòn. Trong một sớm, một chiều thi bá trở thành “tội nhân” của chế độ Cộng sản. Người ta đuổi ông bà thi bá đi khỏi biệt thự của người ta không chút nể nang. Ông bà thi bá đưa nhau về sống ở khu Khánh Hội, chung nhà với bà quả phụ Đinh Hùng. Tháng Ba 1976 Công an thành Hồ đến nhà đưa thi bá đi. “Người ta” đây là bà Mộng Tuyết, người có thơ trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân – Hoài Thanh.
    Cộng sản Hà Nội coi toàn bộ tác phẩm văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa là phản động, đồi trụy. Họ cấm hết, tịch thu, tiêu hủy hết. Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng bị xếp vào loại Thơ Ma Mị, Bệnh Hoạn.
    Những mùa thu lá bay theo nhau qua. Cộng sản vẫn còn đó, những anh Cán Cộng làm văn hóa như anh Trần Trọng Đăng Đàn, người từng viết mạt sát Vũ Hoàng Chương, vẫn còn đó; nhưng, bất chấp những đổi thay nhân thế – vào những năm 1987, 1988, sau Đại Hội Cộng Đảng thứ Sáu, Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ – tác phẩm của Vũ Hoàng Chương ngang nhiên xuất hiện trở lại trên những giá bày trang trọng nhất trong các tiệm sách thành Hồ.
    Việt Cộng tranh nhau tái bản tác phẩm của Vũ Hoàng Chương. Nhà xuất bản Trẻ thành Hồ tái bản những tập thơ Mây, Thơ Say, nhà xuất bản Đồng Nai in tập Thơ Vũ Hoàng Chương, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Hà Nội tái bản hồi ký “Ta đã làm chi đời ta?” của Vũ Hoàng Chương với vài chương bị cắt bỏ.
    Chỉ mười năm sau ngày Vũ Hoàng Chương bị mạt sát, bị bắt giam, tác phẩm bị cấm đoán, chính những kẻ đã nặng lời mạt sát, đã bắt giam Vũ Hoàng Chương, lại ca tụng Vũ Hoàng Chương ở ngay giữa lòng thành Hồ. Mời bạn đọc bài viết dưới đây đăng trên tuần báo Thanh Niên, ấn hành ở Sài Gòn năm 1996:
    “Câu chuyện văn học: Đọc Hồi Ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta?” – Người viết: Tây Tạng”
    Khi tái bản cuốn “Ta Đã Làm Chi Đời Ta” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976), nhà xuất bản Hội Nhà Văn trong lời dẫn đã xem đó là “một trong những tư liệu có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về không khí văn học thời ấy” (trước 1945).
    Trong cuốn hồi ký đó Vũ Hoàng Chương kể rằng, sau khi in tập Thơ Say (1940), nhiều bạn thơ của ông nóng lòng chờ đợi thi phẩm Mây ra mắt, trong đó có Huy Cận. Một hôm gặp nhau ở Cống Chéo, Hàng Lược, Huy Cận tay bắt, mặt mừng rồi ứng khẩu liền hai câu thơ: “Đã lâu gặp lại Chàng Say. Lửa Thiêng xin đợi chờ mây xuống trần“. Ý muốn nhắc tập thơ Mây của Vũ Hoàng Chương. Vừa nghe xong, ông nghĩ rất nhanh rằng có lửa phải có khói và ngâm tiếp hai câu nối theo Huy Cận: “Mây kia chẵng chịu xuống trần. Lửa ơi theo khói lên gần với Mây“. Huy Cận lấy làm thú vị, lôi ngay Hoàng (VHC) vào hiệu phở đầu phố Hàng Đồng, khăng khăng đòi đãi Hoàng một chầu kỳ no thì thôi. Đó là năm 1942.
    Mùa thu năm sau (1943) nhà xuất bản Đời Nay in tập thơ Mây, “nó đã xuống tà tà theo lời gọi âm binh của phù thủy Tô Ngọc Vân (…) Bầu rượu và đám mây đều mầu nâu, bìa sách thì mầu vàng rực rỡ (…) chiếc bầu rượu này chẳng hiểu có phải Tô Ngọc Vân đã chiêm bao nhặt được ở tận Đông Hải, do Lý Thiết Quài đại tiên bỏ quên hay không. Chỉ biết hình thù nó mập tròn, nét vẽ đậm, và đặt chênh chếch tưởng đâu sắp té ngửa đến nơi, và té ra ngoài bìa sách“.
    Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết một cách di dỏm như vậy trong hồi ký trên. Quanh chuyện tập Mây, ông nhắc đến nhóm Xuân Thu Nhã Tập, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Khoát… cách in ấn, tiền nhuận bút có giá thời ấy, chuyện “mãi văn”, những bữa tiệc biên bông (ghi nợ) có thịt bò tái, gà luộc, chả giò, nấm hương…
    Ngoài Thơ Say, Mây, Vũ Hoàng Chương còn là tác giả của Rừng Phong (1954), Hoa Đăng (1959), Cảm Thông (1960), Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Trời Một Phương (1962), Lửa Từ Bi (1963), Bút Nở Hoa Đàm (1967), Cành Mai Trắng Mộng (1968) và cuốn Hồi ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta?” xuất bản năm 1974. Trong đó ông nhắc đến nhiều kỷ niệm liên quan đến những văn nghệ sĩ thời trước, như chuyến tầu có tác giả O Chuột, Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, và tác giả Lỡ Bước Sang Ngang cùng đi với ông đến Phủ Lạng Thương. Ba người tìm đến nhà ông Bàng Bá Lân, tuy cả ba “chẳng ai có dịp nhất kiến với ông Bá họ Bàng cả. Không biết đến quấy rày người ta có tiện chăng. Nhưng suy đi, xét lại đàng nào cũng là trong văn giới với nhau. Tương phùng hà tất tằng tương thức. Bạch Cư Dị chẳng đã bảo thế là gì!” Quả vậy, cả ba được Bàng Bá Lân tiếp đãi tử tế, cơm nước no bụng, rồi mời khách dạo phố cho tiêu cơm.
    – Đến cầu sông Thương sẽ quay về ngủ cũng còn sớm chán.
    Câu nói của chủ nhân có tác động tâm lý khác nhau đối với Tô Hoài, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính.
    “Chàng Tô thì mãn ý quá…, được ngao du không mất tiền, lại được ăn ngon và hứa hẹn một giấc ngủ kỹ. Thế là nhất rồi.
    “Còn Hoàng, chẳng vui, chẳng buồn. Cái tỉnh lỵ Bắc Giang này quá quen thuộc. Cả đến con sông Thương nước chẩy đôi dòng kia, đục phía nào, trong phía nào, Hoàng cũng nhắm mắt mà thấy được (…)
    “Bính thì hận lắm. nhà thơ này cứ tưởng thế nào chủ nhân cũng đãi một chầu hát linh đình, gọi là đánh dấu cuộc hội ngộ “Tứ bất tử” mới xứng đáng chứ. Đi khắp thiên hạ, mòn gót giày, gẫy bánh xe để tìm “tri kỷ”, mà “tri kỷ” lại bảo dạo phố rồi về ngủ sớm trước mười giờ tối, hỏi có tức không? Thế rồi lỉnh kỉnh đêm ấy Bính cứ ngồi dậy hút thuốc lào vặt hoài“.
    Vũ Hoàng Chương kể tiếp rằng khuya đến ông cũng không ngủ được, cùng Nguyễn Bính liên ngâm một bài nhằm “lấy vần điệu làm binh lực phá cái thành sầu”: “Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương. Còi thét vào ga Phủ Lạng Thương…”.
    Trong hồi ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta“, Vũ Hoàng Chương trích lại nhiều đoạn thơ, như tám câu ông ngâm lên trong một chuyến tầu từ ga Đồng Mỏ quay về:
    “Đôi lứa ban đầu mất Lạc Viên
    Cho ta ngàn kiếp nhớ thiên duyên.
    Chiều nay mộng thắm vừa tơ nối
    Vườn cũ ngôi vàng lại gió lên.
    Mây nước dâng cao, hồn chắp cánh
    Trần ai rũ sạch, nẻo về tiên.
    Bao la trăng động niềm ân ái
    Giọng hót chim trời líu ríu men”.

    Bài thơ trên giấy trắng, mực đen còn đó mà nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã ra đi không về, vĩnh biệt những bạn yêu thơ cách đây chớp mắt đã 20 năm tròn: 1976-1996! (Tây Tạng)



    Người viết Tây Tạng không nhắc gì đến chuyện Vũ Hoàng Chương bị Công an thành Hồ đến tận nhà bắt đi, giam giữ trong khoảng năm, sáu tháng, thả về được vài ngày thì chết. Gần như tất cả những văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bắt trong đợt khủng bố tháng Ba 1976 đều bị đưa vào giam ở Nha Cảnh Sát Đô Thành, rồi sang Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu chịu thẩm vấn, ở đó khoảng một năm, trước khi sang Chí Hòa chờ đi các trại lao động cải tạo. Không văn nghệ sĩ nào gặp hay nhìn thấy anh Vũ Hoàng Chương ở trong tù. Có thể anh bị giam ở sà-lim (Công an VC gọi theo Tầu Cộng là “biệt giam”) ở nhà tù Tổng Nha Công An Cảnh Sát cũ của ta, hoặc ở Chí Hòa. Nghe nói khi Công an đọc lệnh bắt giam, anh Chương nói:
    – Tôi chờ các anh lâu rồi. Sao bây giờ các anh mới đến?
    Cũng nghe nói anh là tác giả câu:
    “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do“.
    Tôi tin câu trên đây là của anh Chương, phải là thi sĩ lớn như Vũ Hoàng Chương mới làm được câu đó.
    Ngày 24 hay 25 tháng Tư 1975, buổi trưa tôi đi tìm anh Nguyễn Mạnh Côn để từ biệt anh:
    – USIS đưa tôi và vợ con tôi sang Mỹ. Tôi đến chào anh.
    Đến ngày hôm ấy anh Côn vẫn không tin Việt Cộng chiếm được Sài Gòn. Tôi chưa ra khỏi chỗ anh Côn nằm thì anh chị Vũ Hoàng Chương đến. Lúc này anh Chương đã yếu, anh đi đâu cũng có chị đi theo.
    Khi tôi bắt tay từ biệt anh, anh Chương nói:
    – Tôi bắt tay cậu lần này chắc là lần cuối.
    Anh nói đúng. Tôi nghe nói anh chị Chương bị bà Mộng Tuyết mời ra khỏi nhà, phải về sống trong căn nhà nhỏ của chị Đinh Hùng ở Khánh Hội, nhưng không một lần tôi sang đó thăm anh. Rồi anh bị bắt.. Một chiều buồn, tôi trên xe đạp đi lang thang trong thành phố yêu thương, lòng sầu não đến có thể tự tử, ghé vào tiệm cà phê H.M. đường Cao Thắng tôi gặp Văn Thanh; anh cho tôi biết anh Chương từ nhà tù trở về nhà được bẩy ngày thì chết, mới đưa đi chôn hôm qua. Nhà chùa cho anh chỗ nằm vĩnh viễn. Tôi biết tin anh Chương mất cùng với tin anh được thả.
    Trên đường về Ngã Ba Ông Tạ tối hôm ấy tôi làm tặng anh Chương bài thơ “Đọc Thơ Vũ Hoàng Chương”:
    Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay
    Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
    Anh vẫn Hoàng Chương, vàng với ngọc.
    Trần ai nào lấm được trời mây.
    Người về ngôi cũ, thơ trầm nhạc
    Tàn lửa hồng hoang, khói Mái Tây.
    Chín ngục A Tỳ ma sửa áo.
    Mười tầng Địa Phủ quỷ cung tay.
    Cười vang một tiếng tan tinh đẩu
    Sáu cửa luân hồi nhẹ cánh bay!



    Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng là hai nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam Cộng Hòa. Hai anh lại là anh rể, em vợ. Cuộc sống của hai người có sự khác nhau: khi sống anh Chương được đời trọng vọng, trọng đãi, anh đi dự nhiều hội thơ quốc tế, anh Hùng sống trầm lặng với công việc chủ biên những chương trình Thơ ở Đài phát thanh. Anh Hùng qua đời năm 1967 khi chế độ Cộng hòa của ta vững vàng, đất nước của ta, quân đội của ta, văn nghệ sĩ và người ái mộ đi đưa đám anh thật đông, anh nằm ở Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Anh Chương ra đi khi cờ đỏ, giép râu đã vào làm chủ Sài Gòn, anh chết trong quạnh hiu, nghèo nàn. Khi anh mất, bọn chúng tôi lớp ở trong tù, lớp còn ở ngoài thì tối tăm mặt mũi, lo sợ, tuyệt vọng. Tôi chắc không có được mười văn nghệ sĩ đưa tiễn anh Chương đến nơi yên nghỉ cuối cùng.
    Văn Thanh là họa sĩ, làm việc ở nhà in Kim Lai, hơn tôi đến mười tuổi. Chị Văn Thanh có bút hiệu Kiều Oanh, viết một số truyện mỗi ngày trên nhật báo Chính Luận. Khi xuất bản tuyển tập “Yêu và Ghen” chị nhờ tôi viết Tựa. Sau 1975 có lần tôi hỏi Văn Thanh:
    – Nghe nói trước kia anh khoái xã hội chủ nghĩa lắm mà? Anh vẫn chống chế độ cũ. Sao bây giờ coi bộ anh rầu rĩ quá vậy?
    Văn Thanh nói như khóc:
    – Mình không thích chế độ cũ nhưng mình cũng không thể ưa nổi cái chế độ này.
    Anh kể:
    – Được tin ông Chương về, mình mang hộp sữa đến thăm ông ấy. Thấy mình, ông ấy nói: “Ai không đến thăm tôi, tôi cũng không buồn. Chỉ có Văn Thanh mà không đến là không được”.
    Nhờ Văn Thanh, tôi được đọc tập di cảo của anh Chương gồm những bài thơ cuối cùng và tập “Truyền Kiều“. Anh Chương lấy những câu Kiều tám chữ, ngắt đi một chữ làm thành thơ bẩy chữ, những câu Kiều sáu chữ được anh thêm vào một chữ, những chữ thêm này cũng lấy trong Kiều, làm thành thơ bẩy chữ. Toàn tập “Truyền Kiều” là thơ bẩy chữ lấy ra từ những câu thơ Kiều. Tôi vẫn định sẽ chép lại tập di cảo của anh Chương, nhưng lần lữa mãi, rồi tôi bị bắt hai năm được về, bị bắt lại… Năm 1990 khi tôi từ nhà tù trở về lần thứ hai, Văn Thanh đã qua đời.
    Nón cối, giép râu vào Sài Gòn, thi bá của ta có hứng làm thật nhiều thơ. Anh chép thơ vào những tờ giấy, cho những người đến thăm anh. Anh viết bằng thứ bút tự anh vót lấy bằng tre già, chấm mực Tầu, những nét chữ bay bay, phơi phới.
    Khoảng cuối năm 1975, khi Việt Cộng chưa bắt giam tập thể giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, khi anh Chương vẫn còn sống, một đêm đi chơi khuya, tôi về ngủ với Mai Thảo trong căn nhà của anh Nguyễn Đăng Viên ở đường Phan Đình Phùng. Sau tháng Tư 75, Mai Thảo rời căn phòng Chiều Tím để về ở đây. Bọn Công an thành Hồ bắt hụt Mai Thảo ở nhà này. Trong ngăn kéo bàn ngủ bên giường Mai Thảo có mấy bài thơ của anh Chương. Trong số có bài anh tặng Mai Thảo. Vì chỉ đọc có một lần và thời gian đã quá lâu, có thể hôm nay tôi nhớ không đúng trọn vẹn bài thơ:
    “Giã Từ Hà Nội Đêm còn nhớ?
    Bẫy Ngầm ai biết chuyện bây giờ?
    Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật,
    Về Đỉnh Trời xem lại Chúc Thư!”

    Có ba bài thơ của anh Chương, tôi chỉ đọc một lần, trong một buổi tối, ở nhà Văn Thanh mà nhớ luôn. Hôm nay để tưởng niệm anh – Tội nghiệp. Ở thành Hồ chúng tôi không làm lễ tưởng niệm anh được, tôi không biết những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương ở hải ngoại từ hai mươi mấy mùa lá rụng nay có lần nào làm Lễ Tưởng Niệm nhà thơ hay không? – Khi đặt tên cho khu rừng Elm Arlington nơi vợ chồng tôi đến ở là Rừng Phong, tôi mượn tên Rừng Phong của anh Chương, anh Chương mượn Rừng Phong trong “Rừng phong thu đã…” của Tố Như. Chiều cuối thu, đầu đông ở Rừng Phong, tôi kể lại những lời thơ của anh Chương theo trí nhớ của tôi:
    “Chàng về trong mộng đêm đêm
    Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
    Xa nhau nàng vẫn mong chờ
    Vẫn ôm trong mộng giấc mơ liền cành.
    Biết đâu chàng đã trở thành
    Xương tàn một nắm vô danh bên trời.
    Bờ sông, bãi cát bồi hồi
    Đã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu!
    Chữ Đồng tạc lấy cho sâu
    Ai hay lẻ một nét sầu đến xương!
    Là Nam Bắc, là Âm Dương?
    Lệ hay máu rỏ con đường nào đây!”


    Xin nói thêm một lần nữa: Vì chỉ đọc có một lần những bài thơ này nên có thể tôi nhớ không đúng hẳn. Hy vọng một ngày không xa chúng ta, những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương, sẽ được đọc nguyên bản những bài thơ cuối cùng này của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong Thơ Vũ Hoàng Chương Toàn Tập nghe nói hiện đang được biên tập để ấn hành.


    Trong lệnh bắt nhà thơ, lý do bị bắt được ghi là: “Sáng tác và phổ biến thơ văn phản cách mạng”.
    Sau 1975, nếu Vũ Hoàng Chương “chịu” không làm thơ, hay anh làm thơ nhưng không cho ai biết, không đưa thơ anh cho ai, có thể anh đã không bị bắt. Nhưng anh đã làm thơ. Chỉ cần những lời thơ diễn tả nỗi đau thương của những cặp vợ chồng trẻ phải sinh ly, người chồng bị đi tù nơi rừng thiêng, nước độc có thể đã chết, thân xác đã bị vùi trong cỏ cây, người vợ trẻ vẫn mong chồng trở về, đêm đêm vẫn mộng thấy chồng trong giấc mơ ân ái, là đủ để cho nhà thơ bị kết vào tội phản cách mạng và bị bắt giam.
    Ý thơ không mới. “Chàng về trong mộng, liền cành, xương tàn, vô danh, bên trời, bờ sông, bãi cát, trắng, khô, chữ đồng, nét sầu…”, những tiếng xưa cũ được tài hoa của thi sĩ làm sống lại và não nùng mang mang lửa sống. “Chàng về trong mộng đêm đêm” sống lại từ bài “Lũng Tây Hành” của Trần Đào:
    “Thệ tảo Hung Nô bất cố thân
    Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần.
    Khả liên Vô Định hà biên cốt
    Do thị xuân khuê mộng lý nhân”.
    (Thề giết Hung Nô chẳng tiếc thân
    Đất Hồ chiến sĩ chết năm ngàn.
    Thương thay xương trắng sông Vô Định
    Vẫn về Em trong giấc mộng xuân).

    Thi sĩ thiên tài làm cho ý thơ xưa sống lại, làm tim ta đau nhói. Bây giờ hơn hai mươi năm sau, những người bị Việt Cộng bắt đi cải tạo nếu còn sống tuyệt đại đa số đã đưa vợ con sang ở Hoa Kỳ, những người đã chết… đã chết; nay đọc những lời thơ xưa về một thời bi thảm, có thể ta chỉ thấy ngậm ngùi, nhưng hãy nhớ lại những ngày, những đêm ghê rợn cuối năm 1975, đầu năm 1976, khi những người thân của ta bị gọi đi cải tạo và bị đưa đi mất tích, những lời thơ “Chàng về trong mộng đêm đêm…” làm cho ta vỡ tim.
    Chữ đồng tạc lấy cho sâu
    Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.

    Ý lấy từ:
    Tóc tơ căn vặn tấc lòng
    Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

    Vũ Hoàng Chương đem lại đời sống mới rạo rực yêu, thương, và đau cho những tiếng “tạc một chữ đồng đến xương”. Chỉ có thiên tài Vũ Hoàng Chương mới biến nổi tiếng khóc của những người Việt phải xa nhau vì họa Cộng sản trong nửa cuối thế kỷ 20 thành thơ:
    Chữ đồng tạc lấy cho sâu
    Ai hay lẻ một nét sầu đến xương

    Năm 1975 là năm Mão – Mèo. Năm 1976 là năm Thìn – Rồng. Đúng 24 năm, hai con giáp, đã qua kể từ năm 1975. Năm 2000 là Năm Thìn. Tết Năm Thìn 1976 ở Khánh Hội, Sài Gòn, Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Vịnh Tranh Gà Lợn”:
    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
    Gà lợn om sòm rối bức tranh
    Rằng vách có tai, thơ có họa
    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
    Lòng lợn âm dương một tấc thành.
    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
    Nghe rồng ngân váng khúc tân thanh”
    .
    Đúng là “thơ có họa“. Thi bá xử dụng tài tình lời người xưa – Tô Đông Pha – nói về thơ và tranh của Vương Duy: “Họa trung hữu thi, thi trung hữu họa””. Họa trong “Rằng vách có tai, thơ có họa” là tai họa, là tù đầy, là chết chóc. “Vách có tai” là chuyện Công an gọi một số văn nghệ sĩ không bị bắt đến sở, bắt phải khai báo về đời sống, việc làm của những văn nghệ sĩ khác. Khi nghe nói: “Vũ Hoàng Chương có làm thơ…” họ cho người đến xin những bài thơ mới của thi bá về nộp cho họ. Chỉ cần hai bài thơ vừa kể là họ đã có đủ lý do bắt giam nhà thơ. Bài thơ “Chàng về…” tả nỗi sầu oán của những cặp vợ chồng bị tai họa cải tạo.
    Sau đây là bài thơ thứ ba của anh Chương, tôi chỉ được đọc có một lần là nhớ mãi, bài thơ anh làm trong xà-lim:
    Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn
    Lông hồng gieo xuống nặng như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ
    Đêm về gíấc ngủ lại thương con.
    Dầu bao nước chẩy qua cầu nữa
    Hồ dễ gì phai được tấc son”.

    Khoảng tháng 7, tháng 8 năm 1975 một tối tôi gặp Hoài Bắc ở Ngã Ba Ông Tạ. Cùng đi xe đạp, chúng tôi ghé xe vào vỉa hè nói chuyện. Quanh chúng tôi đầy bóng tối. Hoài Bắc nói:
    – Bà Văn Cao vào, Văn Cao chưa vào được. Văn Cao nhắn vào nói với Thái Thanh: “Hát như cô mới là hát. Ở ngoài này chúng nó không biết hát”. Trần Dần nhắn bà Văn Cao vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh yên tâm. Thơ của anh, và thơ anh Hùng không bao giờ mất được…”
    Mới hai, ba tháng sau ngày quân Bắc Việt Cộng vào chiếm Sài Gòn mà đã nói ngay một câu xanh rờn “Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất”, Trần Dần thật là giỏi, thật sáng suốt. Vũ Hoàng Chương tạ thế trong Năm Rồng 1976. Năm nay, Năm Rồng 2000, tôi nhắc lại lời Trần Dần:
    – Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất!

    (Còn tiếp)

  2. The Following 5 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    hoang yen (06-02-2019), khongquan2 (06-03-2019), KiwiTeTua (06-01-2019), muahong (06-03-2019), Nguyen Huu Thien (06-01-2019)

  3. #2
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 1,960
    Thanks: 2,812
    Thanked 5,338 Times in 1,900 Posts

    Default

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (04)



    Năm 1982, ở tù hai năm trở về, tôi mới được quen anh Cao Hữu Đính. Anh Đính đã qua đời năm 1992 trong căn nhà của anh ở khoảng giữa nhà thờ Bùi Phát và cổng xe lửa số 6 đường Trương Minh Giảng. Anh nguyên là Tổng thư ký Liên Ban Tôn Giáo Chống Độc Tài Ngô Đình Diệm năm 1963, là giáo sư Đại học Vạn Hạnh. Anh hơn tôi gần hai mươi tuổi.

    Tôi gặp anh Cao Hữu Đính lần đầu ở nhà anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Năm ấy, 1982, tôi viết một số bài kể chuyện linh về cuộc sống ở Thành Hồ gửi sang Mỹ, Pháp, Úc. Tôi đưa vài bài để anh Đính đọc. Anh nói:

    – Trước kia tôi có nghe tên anh nhưng tôi không đọc anh. Tôi vẫn tưởng anh chỉ viết được tiểu thuyết, không ngờ anh viết chính luận được quá. Hay đấy.

    Từ đó anh Đính mến tôi, hay đến nhà tôi chơi, đưa tôi đi ăn những chỗ anh thấy có thức ăn ngon, giúp đỡ vợ chồng tôi tất cả những gì anh có thể giúp. Anh chị Đính những năm ấy sống tương đối thoải mái hơn nhiều người, anh chị có bẩy, tám người con, năm người sống ở nước ngoài, tất cả các con anh chị đều thành đạt.

    Là nhà nghiên cứu Phật giáo và tích cực tham gia phong trào chấn hưng đạo Phật từ những năm 1940, anh Đính biết khá nhiều về giới giáo sĩ Phật giáo ở miền Trung Việt Nam. Những lúc vui chuyện anh kể cho tôi nghe về tiểu sử, đời tư, hạnh kiểm, hành động của nhiều vị lãnh đạo Phật giáo như Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng Thích Trí Thủ, các vị Thượng Tọa Thiện Minh, Quảng Độ, Đức Nhuận, Trí Quang, Nhất Hạnh v.v…

    Là người ngoại đạo, tôi nghe rồi quên ngay. Tháng 3 năm 1984 anh Đính cho tôi biết:

    – Lại có chiến dịch khủng bố Phật giáo đồ. Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát, Thích Nữ Trí Hải bị bắt hôm qua. Cả ba cùng bị bắt trong một buổi sáng. Chưa biết còn những ai bị bắt nữa.

    Anh nhấn mạnh:

    – Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Trí Hải là… la crème du Bouddhisme… tinh hoa của Phật giáo.

    Vài ngày sau anh cho tôi biết thêm về vụ bắt bớ lớn ấy:

    – Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Trí Hải là những người con cưng của Hòa Thượng Thích Trí Thủ. Tuệ Sĩ, Trí Siêu bị bắt ở Chùa Già Lam, Phú Nhuận. Cô Trí Hải đang lập một tịnh xá ở Hố Nai, làm chỗ cư trú cho những tăng ni không có tên trong sổ hộ khẩu chùa nào cả. Công an đi xe đến tận nơi mời cô Trí Hải về Sài Gòn. Buổi sáng Hòa Thượng Thích Trí Thủ được mời đến trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc. Trong lúc Hòa Thượng đi vắng, Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị bắt. Ở trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc, Hòa Thượng Trí Thủ được mời nghe cuộn băng ghi tiếng nói của một tăng sinh can tội phản động bị bắt. Tăng sinh này khai Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và Ni cô Trí Hải là những người trong ban lãnh đạo tổ chức phản động. Nghe nói tổ chức này lớn lắm, định lập chiến khu, gây bạo động ở thành phố, có súng. Khi Hòa Thượng Trí Thủ trở về đến chùa, nghe báo Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát bị bắt, Hòa Thượng ứa nước mắt.

    Tai họa dồn dập đến với những Phật tử Việt Nam. Khoảng bẩy ngày sau, anh Đính cho tôi biết Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Pháp Chủ Phật Giáo Việt Nam, đột ngột tạ thế. Đấy là những ngày cuối tháng Ba năm 1984. Tình trạng cá nhân tôi cũng đen tối không kém. Nhiều sự kiện xẩy đến làm tôi lờ mờ cảm thấy xe bông của Sở Công an Thành Hồ lại sắp sửa đến nhà tôi rước tôi đi lần nữa.

    Tháng Giêng 1984 chúng tôi nghe tin mới có một đài phát thanh chống Cộng. Tết năm ấy một số người ở Nha Trang tình cờ bắt được tiếng nói của đài phát thanh này. Tin truyền về Sài Gòn. Đầu tháng Hai 1984 anh Đính và tôi nghe được đài. Đó là Đài Phát Thanh Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh.

    Từ ngày ấy đến khi tôi viết những dòng này ở Rừng Phong, Hoa Kỳ, thời gian đã gần hai mươi năm. Thật nhanh. Tôi nhớ Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh năm ấy phát thanh mỗi ngày năm lần, mỗi lần một giờ. Đài yếu. Rất khó bắt. Người nào có duyên với đài thì may tay có lời, bắt được tiếng nói ngay bất kể máy thu thanh xấu tốt. Nhiều người ra-đi-ô thật “sịn” loay hoay mò cả nửa tiếng cũng không bắt được đài. Một giờ phát thanh quá lâu. Đài phát thanh bằng băng thâu sẵn. Ba, bốn ngày mới thay một băng. Tin tức không có. Gần như toàn những bài viết đả kích cộng sản. Những ngày đầu vợ chồng tôi náo nức tìm nghe, chúng tôi xúc động khi nghe nhạc hiệu của đài, bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông – bản nhạc, lời ca thật hay nhưng đã bị vợ chồng tôi từ lâu quên lãng – chúng tôi xúc động hơn khi nghe tiếng hát Thái Thanh hát bài Quê Em:

    Quê em miền trung du
    Đồng quê lúa xanh rờn
    Giặc tràn lên cướp phá
    Anh về quê cũ
    Đi diệt thù giữ quê
    Giặc tan đón em về…

    Một tối, lúc 11 giờ đêm, tôi nghe đài kháng chiến. Cái ra-đi-ô Sony cũ rích nằm bên tôi trên căn gác lửng, Alice nằm tình tang trên cái võng mắc dưới nhà lại nghe tiếng nói phát ra từ máy rõ hơn tôi. Nguyên do là hệ thống truyền âm trong căn nhà nhỏ của chúng tôi khá ly kỳ. Đêm ấy vợ chồng tôi cùng nghe một bài bình luận của Đài Kháng Chiến. Tôi chắc một văn nghệ sĩ nào đó có trình độ hiểu biết khá cao là tác giả bài đó. Đại ý của bài là trước 1975 các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa có cái lỗi là không tích cực chống Cộng, nhưng sau 1975 họ có cái hay là không một người nào cộng tác với cộng sản.

    Đây là nguyên văn một câu trong bài chúng tôi nghe được đêm hôm đó:

    –… trong năm 1983 chúng ta đã được đọc văn thơ chống Cộng của Hoàng Hải Thủy, Bùi Hoàng Cầm, Nguyễn Chí Thiện…

    Tôi bồi hồi xúc động với những cảm giác vui, lo, kiêu hãnh, sợ hãi lẫn lộn. Tôi được kể tên trước Hoàng Cầm, thi sĩ tôi rất ái mộ. Hết giờ phát thanh, tôi lọ mọ xuống gác, nói với Alice:

    – Em nghe rõ tên anh chứ? Chắc chúng nó phải bắt anh thôi, chúng nó không để anh yên đâu.

    Nhiều người nghe được bài ấy trên đài Hoàng Cơ Minh. Một sáng, anh Nguyễn Văn Đạt, nguyên Đại Tá, nguyên Tỉnh Trưởng Bình Định những năm 1953-1954, đi chiếc xe đạp mi-ni đến nhà tôi. Tôi được quen anh Đạt qua anh Đính. Anh Đạt đi cải tạo ở miền Bắc về năm 1980. Sáng ấy anh đến chào từ biệt tôi, anh nghe đài kháng chiến gọi tên tôi nên anh biết tôi sắp bị bắt. Vợ chồng tôi cám ơn anh và tiễn anh ra tới hàng ba. Dừng lại bên cửa với chiếc xe đạp mi-ni anh nói với vợ chồng tôi lời cuối:

    – Chị đừng buồn. Chị làm vợ một người chồng có tài, chị phải chịu cái tai của anh ấy.

    Vợ chồng tôi bồi hồi nhìn theo anh đạp xe ra khỏi cư xá. Đấy là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh, nghe tiếng anh nói. Năm 1990 khi tôi từ nhà tù trở về mái nhà xưa, anh Đạt đã qua đời.


    Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Ni cô Trí Hải bị bắt ngày 30 tháng 3, 1984. Chừng một tuần sau Hòa Thượng Thích Trí Thủ viên tịch. Hai giờ sáng rạng ngày mùng 2 tháng 5 năm 1984 Công an Thành Hồ đem xe bông đến nhà rước tôi đi.

    Tôi lại trở vào cái gọi là Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, trung tâm thẩm vấn của Sở Công an Thành Hồ, nơi bốn năm trước tôi đã sống hai năm và đã ra thoát. Trở vô lần này tôi lại vào biệt giam Khu C Một. Lần trước tôi nằm phòng biệt giam – sà lim – số 6 cũng khu này, lần thứ hai này tôi nằm phòng biệt giam số 10.

    Sau thời gian chịu thẩm vấn, cai tù đưa tôi sang phòng tập thể số 6 cùng khu. Vào phòng tôi được xếp nằm cạnh một thanh niên trạc ngoài ba mươi tuổi. Chú kém tôi đến mười lăm tuổi nên tôi gọi là chú, chú gọi tôi là bác. Nằm bên nhau chúng tôi nói chuyện làm quen. Khi nghe chú nói chú là tu sĩ chùa Già Lam, tôi vội hỏi tên chú – vì anh Đính có cho tôi biết tên người tăng sinh chịu không nổi khổ cực vì bị nằm sà lim dài hạn nên đã phải cung khai. Biết chú không phải tăng sinh cung khai, tôi cho chú biết tin Hòa Thượng Trí Thủ đã viên tịch.

    Chú không biết tin ấy, chú cũng chỉ lờ mờ biết dường như Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát đã bị bắt. Chú cho tôi biết chú bị bắt đã ba năm, năm đầu chú bị giam ở đây – Số 4 Phan Đăng Lưu – năm thứ hai chú sang khám Chí Hòa và bây giờ chú mới được đưa từ Chí Hòa về đây khoảng một tuần nay để thẩm vấn lại. Chú bị đưa trở lại đây chịu thẩm vấn thêm vì công an vừa bắt Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và cô Trí Hải. Nghe tôi nói linh tinh và nói vanh vách về những chuyện Phật giáo, Phật tử v.v… chú hỏi tôi:

    – Bác không phải Phật tử, sao bác biết những chuyện ấy?

    – Ông Cao Hữu Đính cho tôi biết – tôi trả lời – Tôi hay gặp ông ấy lắm.

    Tôi được biết một nhóm tu sĩ Phật giáo và Phật tử liên kết với một số tín hữu Thiên Chúa giáo – đa số là người Việt miền Trung – thành lập một tổ chức chống Cộng có tầm cỡ khá lớn. Nhiều người trong tổ chức đã bị bắt từ ba năm trước (1980) nhưng họ không chịu khai những người lãnh đạo họ. Vì họ không chịu khai nên họ cứ bị Việt Cộng giam mãi. Mới đây một người trong nhóm bị nằm sà-lim mút chỉ ba năm, không được nhận đồ gửi vào nuôi, ta gọi là tiếp tế, chịu không nổi đã cung khai. Lời khai của người này được thâu vào băng, Hòa Thượng Trí Thủ đã được công an mời nghe cuộn băng cung khai. Do đó Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và Ni cô Trí Hải bị bắt.

    Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, cạnh Tòa Tỉnh Trưởng Gia Định, nhìn sang Chợ Bà Chiểu và Lăng Ông, là trung tâm thẩm vấn của Sở Công an Thành Hồ. Gần như tất cả người Sài Gòn bị bắt đều bị đưa vào đây thẩm vấn. Đặc biệt trung tâm này chỉ có những tù chính trị, tù vượt biên, tù xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (tức ăn cắp của công), không có tù hình sự (tức tù trộm cướp, giết người, hiếp dâm).

    Nhóm Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi bị bắt sau Tổ Chức Chống Cộng Già Lam một tháng. Chúng tôi ở Số 4 Phan Đăng Lưu 12 tháng: anh Doãn Quốc Sĩ ở khu C Hai, Khuất Duy Trác ở Phòng Tập Thể 1 khu C Một, Dương Hùng Cường ở Phòng Tập Thể 3 khu C Một, Trần Ngọc Tự ở Phòng Tập Thể 5 và tôi ở Phòng Tập Thể 6 khu C Một. Nhóm Già Lam đi sang Chí Hòa trước chúng tôi.

    Tháng Năm 1985 tôi đặt chân xuống Thánh Địa Chí Hòa. Buổi trưa, tay ôm, tay xách hành lý: quần áo, mùng mền, chiếu, tôi theo các bạn bước vào trung tâm Thánh Địa. Đứng trong sân tôi ngửng nhìn, chỉ thấy song sắt và song sắt. Người Sài Gòn bị bắt đi tù nếu chưa vào Khám Chí Hòa thì vẫn chưa biết tù đày đích thực là gì. Nhìn lên những tầng lầu cao tôi bồi hồi tự nhủ: “Đây Chí Hòa… Với người tù Sài Gòn, Chí Hòa giống như Đại học Harvard của sinh viên Mỹ, Eton của sinh viên Anh, Sorbonne của sinh viên Pháp”. Tâm trạng tôi lúc ấy như dòng suối cuồn cuộn trôi. Tôi sợ hãi và tôi kiêu hãnh. Sống dưới cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa đi tù vì tội chống đối Cộng sản là một thành tích tốt. Trong hai mươi năm, từ 1954 đến 1975, tôi đã sống, đã hưởng thụ, đã để cho những người khác chết, để cho vợ con những người khác khóc. Bằng những năm tháng tù đày này, tôi trả được phần nào cái nợ sống, được đóng góp một phần công nhỏ của tôi trong công cuộc chung của cả dân tộc. Tôi chỉ là một người tù rất thường như cả trăm ngàn người tù chống Cộng khác. Nhiều người tù đã chết trong nhà tù lớn nhất Đông Dương này. Rất có thể và chẳng có gì lạ nếu tôi không còn sống để ra khỏi những vách tường này. Nhưng ngày nào trở ra được, mai sau, trọn đời tôi, tôi sẽ kiêu hãnh vì từng sống trong Nhà Tù Chí Hòa.

    Bẩy anh em chúng tôi, Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn và tôi (anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt đã sang Chí Hòa tháng trước) cùng từ Số 4 Phan Đăng Lưu sang Thánh Địa Chí Hòa trong một chuyến xe. Vào Khu ED – Ơ Đê – cai tù chia chúng tôi ra, đưa chúng tôi mỗi người vào một phòng.

    Khu ED là khu giam tù chính trị, tù vượt biên, tù xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tức tù ăn cắp của công, biển thủ công quĩ, hối lộ, buôn trầm, vàng… Những năm 1985, 1986… Phòng 2, ở dưới đất, là phòng giam những người bị bắt từ năm 1975. Cộng sản không đưa tù Phòng 2 khu ED Chí Hòa đi trại cải tạo, không đưa ra tòa, các vị cứ bị giam miệt mài đã cả mười năm. Tháng Năm 1985 ở Phòng 2 đó có các ông Nguyễn Tiến Hỷ, Thái Lăng Nghiêm, Như Phong Lê Văn Tiến, Nguyễn Đan Quế, Trần Thành và chừng hai mươi vị khác.

    Sau chừng nửa giờ đoàn tụ ở trên tù xa, anh em chúng tôi lại tan hàng, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn vào hai phòng nữ 3 và 4 ở dưới đất, ni cô Thích Nữ Trí Hải đang ở một trong hai phòng nữ ấy. Dương Hùng Cường, Trần Ngọc Tự vào hai phòng lầu Hai, Khuất Duy Trác vào phòng 9, tôi vào phòng 10 lầu Ba, anh Doãn Quốc Sĩ lên lầu Bốn, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, từ Số 4 Phan Đăng Lưu sang Chí Hòa trước chúng tôi một tháng, ở phòng 9 Lầu Ba khu ED.

    Tôi gặp Trí Siêu Lê Mạnh Thát trong phòng 10 khu ED. Lê Mạnh Thát cùng nhóm Già Lam sang Chí Hòa trước tôi một tháng. Hai chúng tôi có chung một người bạn tù rất tốt. Anh bạn tù trẻ của chúng tôi là tu sĩ Thiên Chúa giáo: Lê Văn Bẩy đã học xong nhưng không được Việt Cộng cho thụ phong linh mục. Bẩy ăn chung, nằm cạnh tôi ở Phòng 6 Số 4 Phan Đăng Lưu. Bẩy sang Chí Hòa cùng chuyến xe với Lê Mạnh Thát. Bẩy quí mến Lê Mạnh Thát còn hơn Bẩy quí mến tôi. Bẩy đang ăn chung, nằm cạnh Thát, nên nhờ Bẩy, vừa vào phòng 10, tôi được ngay người quen đón tiếp, lo cho đủ thứ. Tôi ăn chung, nằm cạnh Bẩy và Thát.

    Tôi gọi Lê Mạnh Thát là thầy, Thát gọi tôi là bác. Thát kém tôi khoảng mười tuổi, có khổ người nhỏ nhắn đúng kiểu bạch diện thư sinh, nước da trắng hơn da con gái, mắt sáng, chưa phải dùng kính lão khi đọc báo, môi hồng, răng trắng đều đặn và còn tốt nguyên, thông minh thì khỏi nói. Tôi thấy con người Thát đẹp trai, hào hoa phong nhã.

    Tôi trở thành người bạn đồng tù thân thiết nhất của Lê Mạnh Thát ở Chí Hòa. Trong sáu năm tù lần thứ hai của tôi, chỉ có một năm đầu ở Số 4 Phan Đăng Lưu tôi và Thát không sống chung phòng, từ 1985 đến 1989 chúng tôi sống gần nhau, sống chung, sống sát nhau suốt ngày, suốt đêm: 4 năm ở Phòng 10 Khu ED Chí Hòa, một năm ở Trại Lao Động Cải Tạo Z30A. Sự kiện đặc biệt tôi thấy ở con người Lê Mạnh Thát là suốt năm năm trời sống sát bên nhau, tôi không thấy Thát bị qua một lần cảm cúm, nhức đầu, đau bụng, đau răng, ho hen nào, cũng không một lần ghẻ ngứa. Anh em tù ghẻ lu bù kèn, riêng tôi năm nào cũng bị hai lần ghẻ ngứa, mỗi lần kéo dài khoảng hai tháng, vào thời gian thời tiết thay đổi, nhưng Thát thì không. Ở tù như mọi người nhưng cả mấy mụn ghẻ còm Thát cũng không có. Thát rất ham đọc sách báo. Ở vào số tuổi ngoài bốn mươi, mắt Thát vẫn sáng nguyên, vẫn đọc sách không biết mỏi và không phải dùng kính lão.

    Sau một năm chung sống, người bạn trẻ Lê Văn Bẩy của chúng tôi ra tòa. Lãnh án 8 năm, Bẩy từ biệt chúng tôi và Phòng 10 ED để qua khu FG chờ đi Trại Lao Động Cải Tạo. Thát và tôi ở lại bên nhau. Anh em tù cũ ra khỏi phòng, anh em tù mới vào phòng rồi ra khỏi phòng, Thát và tôi cứ ở lại đấy mãi. Đến năm 1988 Thát là người tù thâm niên nhất Phòng 10, tôi là người tù thâm niên thứ hai.

    Gia đình Lê Mạnh Thát chỉ có một mình Thát là con trai, Thát tu hành từ năm mới mười một, mười hai tuổi. Năm 1964 Thát sang Hoa Kỳ học ngành y khoa ở tiểu bang Wisconsin. Học xong Thát từng làm việc mấy năm trong trường đại học Thát tốt nghiệp ở Wisconsin. Năm 1974 Thát trở về Sài Gòn. Tháng Tư 1975 đến, Thái có sẵn re-entry permit của Hoa Kỳ và vé máy bay nhưng không đi. Thát có bà mẹ già và cô em ở Sài Gòn. Cờ đỏ vào Sài Gòn, nhiều tu sĩ Phật giáo bị bắt, bị chết trong tù như Thượng Tọa Thiện Minh, nhiều ông bị bắt, được thả về, bị bắt lại, bị đưa về nguyên quán quản thúc, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương vẫn sống bình yên trong chùa Già Lam cho đến Tháng Ba 1984.

    Lê Mạnh Thát giỏi chữ Hán, ít nhất Thát cũng giỏi chữ Hán hơn tất cả những người tù biết chữ Hán từng ở chung phòng tù với Thát và tôi. Tù Chí Hòa bị cấm dùng giấy bút, anh em tù chế ra những tấm bảng viết bằng giấy: lấy giấy bao thăm nuôi dán nhiều tờ lại thành một miếng dầy như các-tông, xoa mỡ nước và xà-bông lên mặt giấy, đặt miếng nylon lên, viết bằng que cán chổi. Viết xong bóc miếng nylon, nét chữ mất. Lê Mạnh Thát không nhớ một câu thơ chữ Hán nào cả, tôi đọc cho Thát viết mấy bài thơ chữ Hán tôi thuộc, như:

    Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
    Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên…

    Hay thơ Tố Như:

    Tây Hồ mai uyển tẫn thành khư
    Độc đáo song tiền nhất chỉ thư…

    Tôi đọc, Thát viết chữ. Chúng tôi giúp nhau qua ngày giờ trong tù. Thời gian cứ thế lê thê trôi qua…

    Ở Chí Hòa có những người tù bị giam đến sáu, bẩy năm mà không “được” đưa ra tòa xét xử, không “được” đưa đi trại, không được ai hỏi đến, không được báo tin về nhà, không được thăm nuôi. Cứ ở tù riết như bị bỏ quên, như hồ sơ bị mất. Guồng máy tư pháp cộng sản hoạt động rất ì ạch. Một trong những nguyên nhân làm cho cái gọi là bộ máy tư pháp cộng sản nặng nề, han rỉ, mất đinh ốc, không dầu mỡ hết sức cồng kềnh ấy chạy cà ạch cà đụi là việc họ giam người mà không cần đưa ra tòa xét xử, giam cho chết luôn là chuyện rất thường.

    Theo lệ kể từ năm 1985 những vụ án chính trị, tổ chức vượt biên, vẫn được đưa ra tòa xử, hay giải quyết bằng cách đưa can phạm đi trại lao cải sau ngày bị bắt khoảng hai năm. Vụ văn nghệ sĩ phản động bị gọi là bọn Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi bị giam tới bốn năm mới đem ra xử, vụ Tổ Chức Già Lam phản động có Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Ni cô Thích Trí Hải, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận trong ban lãnh đạo – những người bị bắt đầu tiên năm 1980, những người bị bắt cuối cùng khoảng cuối Tháng Năm 1984 – bị ngâm tôm ở Chí Hòa đến bẩy năm mới đưa ra tòa.

    Đúng ra vào đầu năm 1986, trước kỳ họp Đại hội Đảng lần 6, Công an Thành Hồ đã quyết định đưa anh em chúng tôi ra tòa xử, lệnh ra tòa đã được đọc cho anh em chúng tôi nghe. Hai tờ tuần báo Công An Thành Hồ và Tuổi Trẻ om xòm loan tin về vụ xử và đăng những bài viết kể tội chúng tôi. Nhưng đến phút cuối cùng họ hoãn xử. Một năm rưỡi sau, 1988, họ mới đưa anh em chúng tôi ra tòa xử. Lãnh án 8 năm, tôi ôm chiếu, xách giỏ, rời khu ED sang khu FG, nằm chờ kháng án lên cái gọi là tòa trên.

    Sau vụ xử chúng tôi chừng ba tháng, vụ Già Lam ra tòa. Can phạm trong tổ chức Già Lam đến hai mươi người. Chỉ nội cái việc tù phải đứng nghe đọc cáo trạng kết tội từng người cũng đã mất một ngày. Tòa phải xử đến hai ngày. Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương bị án tử hình, nhiều người 20 năm, 15 năm, Thượng Tọa Đức Nhuận lãnh án 10 năm, Ni cô Trí Hải 4 năm.

    Trong buổi chiều ngày xử thứ hai Thượng Tọa Đức Nhuận quá mệt, ngất xỉu. Hai tên công an vào phòng xử khiêng ông ra ngoài. Những tu sĩ Già Lam sau đó trở về Chí Hòa mà không có Thượng Tọa cùng về trên xe. Mọi người yên trí là bọn công an áp giải tù đã đưa Thượng Tọa đi bệnh viện hay đưa ông về bệnh xá Chí Hòa để điều trị. Nhưng Thượng Tọa không được cai tù cộng sản chú ý đến như thế. Mãi trưa ngày hôm sau chúng tôi thấy cai tù đưa Thượng Tọa về phòng giam. Thì ra ông bị bỏ quên trong xe chở tù.

    Xe chở tù – tôi không được đi xe này khi ra tòa – nghe nói của Liên Xô viện trợ, có ngăn riêng kín mít để nhốt tù tử hình hoặc những tù làm dữ, la hét, nguy hiểm. Khi Thương Tọa Đức Nhuận ngất xỉu bọn công an không đưa ông đi bệnh viện mà cũng chẳng chạy chữa, cứu cấp gì cả, chúng khiêng Thượng Tọa ra xe, bỏ ông vào ngăn nhốt tù nguy hiểm, khóa cửa lại. Xe về Chí Hòa, chẳng thằng nào nhớ có ông trong đó, chúng bỏ quên ông luôn, những người Già Lam thì yên trí chúng đưa ông đi bệnh viện nên chẳng ai hỏi.

    Thượng Tọa Đức Nhuận ngồi cả đêm trong ngăn tù xa. Ông không thể kêu cứu được, có kêu tiếng ông cũng không vang ra được ngoài. Ông cứ ngồi trong đó mà niệm kinh suốt đêm cho đến sáng. Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát chắc là nghe tiếng ông nên đến cứu ông. Thấy trên trần xe có lỗ thông hơi, Thượng Tọa thò bàn tay qua cái lỗ đó ra ngoài, vẫy vẫy. Có tên công an đi qua chỗ xe đậu nhìn thấy bàn tay vẫy vẫy, đi lấy chìa khóa xe lên xe mở ngăn tù xa “giải phóng” cho Thượng Tọa trở về phòng tù.

    oOo

    Khi tuyên án tử hình Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, những người cộng sản đã tính trước. Họ biết thế nào hàng giáo sĩ và Phật Giáo đồ, trong nước, ngoài nước, cũng lên tiếng phản đối bản án và đòi giảm án, nên họ chơi đòn “giơ cao, đánh khẽ”, cứ tuyên án thật nặng chờ xin là giảm án. Làm như vậy họ được cái lợi: vừa có vẻ nhân đạo, làm thỏa mãn số người xin khoan hồng – giảm án rồi còn đòi hỏi gì nữa? – vừa vẫn giáng được những cái án nặng lên đầu hai can phạm. Đành rằng tổ chức Già Lam có mua được mấy khẩu súng nhưng chưa bắn phát đạn nào, chưa làm nổ một trái mìn, chưa giết chết một tên công an Việt Cộng, làm cái gì mà phang họ những hai án tử hình, mà giết đến hai người trong tổ chức? Nếu họ hành động nặng hơn thế thì lấy mức án gì mà xủ? Đến tử hình là hết mức án rồi. Nếu tổ chức gây bạo động, cho nổ mìn, bắn chết năm bẩy anh VC thì chắc là sẽ phải tuyên án tru di tam tộc hay bắn chết hết tất cả những người sống cùng khu phố với can phạm?

    Theo thông lệ – vì số vụ án dồn đọng quá nhiều, không giải quyết được đúng thời hạn theo luật – những vụ án chính trị, hay vượt biên, phải chờ ít lắm là sáu, bẩy tháng mới được đưa ra xử lại.

    Vụ Già Lam được xử lại chỉ sau hơn một tháng. Trí Siêu, Tuệ Sĩ được đưa từ khám tử hình Chí Hòa trở ra tòa. Lần này hai người tử tội Già Lam được giảm án xuống 20 năm tù.

    Theo luật của chính Việt Cộng, án tử hình chỉ có thể giảm xuống án tù chung thân, Việt Cộng đã phớt lờ luật của chính họ để cho hai tử tù Già Lam từ án tử hình xuống thẳng án 20 năm, bỏ qua án chung thân. Cộng sản Việt Nam bắt chước hai đàn anh Nga Xô, Trung Cộng, thường tuyên những cái án thật nặng để rồi sau đó giảm án dần dần mỗi năm ở Trại Lao Động Cải Tạo, gọi tắt là Trại Lao Cải. Người lãnh án tù 20 năm khi ở trại Lao Cải nếu chịp ép một bề, chịu làm theo lệnh và tỏ ra sốt sắng làm đúng chỉ tiêu, có thể được giảm án mỗi năm ba tháng. Người án tù chung thân cũng phải đi trại làm khổ sai như những người tù khác nhưng không được giảm án hàng năm. Chỉ sau khoảng từ tám, chín đến mười, mười một năm khổ dịch người tù chung thân mới được phá án, được xuống án 20 năm, đến khi xuống án tù 20 năm đương sự mới được giảm án hàng năm. Trung bình người án tù chung thân phải ở tù từ 15 đến 17 năm.



    Khi sống trong khám Chí Hòa, anh em tù chúng tôi thường bàn tán với nhau về cái tiểu sử nhà tù chúng tôi cư ngụ.

    Tôi có ý định khi trở ra ngoài tôi sẽ tìm biết Nhà Tù này được kiến trúc sư tên là gì, người nước nào, vẽ kiểu, ai phụ trách xây dựng Nhà Tù lớn này, Nhà Tù được bắt đầu xây cất ngày nào, hoàn thành ngày nào, tháng nào, năm nào, hết bao nhiêu tiền v.v…

    Khi trở về khu Ngã Ba Ông Tạ và đường phố Sài Gòn tôi thấy Nhà Tù Chí Hòa chỉ quan trọng, chỉ đáng được tìm hiểu với những người tù đang sống trong lòng nó. Những người chưa từng một lần đem thân vào Nhà Tù Chí Hòa chẳng cần biết gì về nó. Những thân chủ của Chí Hòa khi ra khỏi những bức tường kiềm tỏa của nó, khi bỏ những hàng chấn song sắt, những cửa sắt lại sau lưng, cũng quên nó luôn.

    Vì vậy, tôi chỉ mô tả rất sơ lược về kiến trúc Nhà Tù Chí Hòa. Nhà Tù Hỏa Lò Hà Nội đã tiêu rồi..Một ngày nào đó Nhà Tù Chí Hòa cũng sẽ biến mất.

    Mai sau dầu có bao giờ…

    Một trăm năm sau – hãy nói một trăm năm sau, đừng đao to, búa lớn nói ba, bốn trăm năm sau. Tố Như théc méc thế thì được. Tam bách dư niên hậu… Hà nhân khấp Tố Như… Mình tính chuyện ba trăm năm là không được – trong số những người Việt Nam đến cõi đời này sau tôi có thể có vài người đọc những dòng chữ này tò mò muốn biết nhiều hơn về Nhà Tù Chí Hòa, nơi từng giam giữ ông cha họ ngày xưa, nơi họ không được thấy.

    Ngày xưa… những năm 1950, 1951, khi Sài Gòn còn ít cư dân, khi những con đường còn viền những hàng cây xanh – đường Bonard không chỉ có hai mà có bốn hàng cây xanh – khi người Pháp còn làm chủ Sài Gòn, nhà tù Sài Gòn được nhân dân gọi là Khám Lớn, và Khám Lớn Sài Gòn nằm ngay giữa trung tâm thành phố: mặt tiền đường Gia Long, tường sau đường Lê Thánh Tôn, nơi bây giờ là Thư Viện Quốc Gia.

    Thời xa xưa ấy – cách nay hơn nửa thế kỷ – người Sài Gòn phạm pháp bị bắt về Bót Catinat, đầu đường Tự Do gặp đường Nguyễn Du. Bót Catinat là nơi tạm giam và thẩm vấn tội phạm. Thời Pháp thường thì thời gian thẩm vấn ở Bót Catinat chỉ kéo dài mười lăm ngày. Từ Bót Catinat can phạm được đưa sang Khám Lớn Sài Gòn ngay gần đấy. Cái gọi là Sở Lục Hình – nơi lưu trữ hồ sơ lý lịch các tội phạm – nằm ở sau Tòa án Sài Gòn, cạnh Khách sạn Embassy. Người tù được còng tay đi bộ từ Khám Lớn sang Sở Lục Hình ngay gần đó, khi ra tòa người tù cũng chỉ cần đi qua đường Gia Long là vào được Tòa án bằng lối cửa bên cạnh. Năm xưa nhiều người có tên trên bảng đường thủ đô Sài Gòn của ta từng bị giam trong khám đường này: Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm. Ông Huỳnh Thúc Kháng và một số ông tù quốc phạm khi từ Côn Đảo về có ghé vào khám đường này nghỉ chân trước khi lên tầu hỏa về Trung, ra Bắc.

    Trong những năm đầu Thế kỷ 20 nhà tù Sài Gòn nằm ngay cạnh Tòa án Sài Gòn là hợp lý, tiện lợi. Sau năm 1945 dân Sài Gòn ngày một đông hơn, thành phố phát triển, nhiều nhà dân quanh Khám Lớn Sài Gòn trở thành nhà lầu. Người sống trên những nhà lầu đường Lê Thánh Tôn có thể dễ dàng nhìn vào giữa sân Khám Lớn. Người ta không còn có thể cứ để mãi khám lớn nằm chình ình ngay giữa đô thành.

    Nghe nói Nhà Tù Chí Hòa được các quan Đại Pháp quyết định xây và “đặt viên gạch đầu tiên” rồi được các quan Đại Nhật khánh thành.

    Từ 1940 đất nước chúng ta có nhiều thay đổi lớn, Sài Gòn cũng vậy. Quân đội Nhật Bản làm binh biến hạ bệ người Pháp, các quan Đại Pháp bị quân Nhật bắt đi bộ lếch thếch vào những trại tập trung.

    Chiến tranh thế giới chấm dứt, người Pháp theo chân người Anh trở lại Sài Gòn, những anh Tây lai cô-lô-nhần từng bị khổ nhục trở thành bọn Sureté Tây, thẳng tay bắt bớ, tra tấn, hành hạ người Việt. Bọn Tây lai này đối xử với người Việt tàn tệ, dã man, táng tận, đểu giả hơn cả những người Pháp. Theo tôi, sự đểu giả của bọn lai Tây trong chiến tranh Việt-Pháp là nguyên nhân làm cho đa số người Việt chúng ta không ưa những người con lai giống…

    Tôi nghe nói nhà tù Chí Hòa được xây xong vào khoảng 1945-1946, bắt đầu đón khách từ những năm 1946-1947. Khám Lớn Sài Gòn đường Gia Long trở thành nhà tù nhỏ so với Khám Lớn Chí Hòa vẫn được duy trì. Trong thời gian này người Sài Gòn bị bắt vẫn bị giam, bị thẩm vấn ở Bót Catinat, vẫn sang Khám Lớn Gia Long nằm chờ ra tòa án bên kia đường, chỉ sau khi có án mới được đưa vào nằm dài ngày trong Nhà Tù Chí Hòa.

    Năm 1952 Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm ra lệnh phá nhà tù đường Gia Long. Trong một buổi lễ được coi là long trọng và mới lạ Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đọc bài diễn từ ngắn, cầm búa “đập viên gạch đầu tiên” phá nhà tù. Khi đó tôi là phóng viên nhật báo Ánh Sáng và có cái vinh hạnh được dự lễ phá nhà tù này. Lễ xong, Ông Lớn lên xe về dinh, chàng phóng viên mới vào nghề là tôi tò mò đi một vòng xem nhà tù.

    Thời gian qua. Chiều nay ở quê người, tôi tưởng tượng lại hình ảnh tôi, chú phóng viên trẻ măng năm xưa đứng ngoài hiên nhìn qua song sắt vào những phòng giam không có người, những phòng giam cửa mở, chật hẹp, tối tăm, dơ bẩn, lạnh lẽo. Và hình ảnh tôi những năm 1985, 1986, tóc bạc, gầy ốm, đứng sau hàng song sắt nhà tù Chí Hòa nhìn ra.

    Được phá bỏ từ 1952, khu đất từng là nhà tù Sài Gòn dầu dãi nắng mưa mãi đến thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới xây nên tòa nhà Thư Viện Quốc Gia.

    Từ năm 1980 những người cộng sản Việt Nam sau khi ăn hết, vơ vét hết, phá hết, phung phí, tẩu tán hết của cải của đất nước và nhân dân, phải bắt chước đàn anh cộng sản Tầu thi hành chính sách gọi là “mở cửa”. Cũng như nhiều công sở khác, Thư Viện Quốc Gia được mở cửa cho Ba Tầu vào mở cao lâu, rõ hơn là cho Ba Tầu Chợ Lớn mướn nguyên một tầng làm hàng ăn. Vào năm 1994, 1995 nhiều người dân Sài Gòn vẫn đến Thư Viện Thành Phố nhưng không phải để đọc sách mà là để ăn cưới.

    Từ sau hai hàng song sắt Phòng 10 Khu ED trong bốn năm trời ròng rã, tôi ngày đêm trông thấy Khu Tử Hình ở bên kia sân.

    Khu đó vắng bóng người, tối tăm, ảm đạm, tối tăm hơn những khu khác. Tôi kinh sợ khi tưởng tượng tôi phải vào khu đó. Tôi càng sợ hơn khi nghe các chuyện kể về cảnh sống của người tử tù chờ chết trong Khu Tử Hình Khám Chí Hòa. Người tử tù bị còng chân suốt ngày, suốt đêm. Ba, bốn giờ sáng cai tù vào đánh thức, cho ăn bữa cuối cùng, thường là cái bánh bao, chai nước ngọt, hai điếu thuốc có cán. Người tử tù bị bịt mắt, bị tọng giẻ, trái chanh hay trái cóc vào miệng, đưa lên xe bít bùng chạy lên bãi bắn ở Thủ Đức. Nghe nói tử tù bị đưa lên đứng trên những thùng phuy đổ đầy đất để chịu bắn nên anh em tù thường nói đùa “lên thùng phuy”. Cũng nghe nói nhiều người tù bị nhét trái chanh, trái cóc quá lớn vào miệng nên chết ngạt trước khi bị bắn.

    Tử tù Thành Hồ bị bắn vào lúc năm giờ sáng, xác được chôn ngay ở khu đất cạnh bãi bắn. Thân nhân tử tù có thể đến nhận mộ nhưng nếu muốn đặt bia trên mộ, bia phải có hàng chữ “Tội… Chịu án ngày…”

    Những chuyện cộng sản Việt Nam giết người Việt Nam, tôi được nghe trong ngục, làm tôi nhớ một bài viết về chị Võ Thị Sáu, người được CSVN suy tôn là liệt sĩ, bị người Pháp hành quyết ở Côn Đảo.

    Khoảng những năm đầu thập niên 1980, tôi tình cờ đọc được bài viết ấy trong một tập sách Văn dậy học sinh trung học.

    Bài viết tả cảnh người nữ tử tù Võ Thị Sáu trên đường đi ra pháp trường đã “ngắt bông hoa hồng dại bên đường đưa tặng người lính Bắc Phi sẽ bắn chị…”

    Ôi…! Tác phong của người cộng sản Võ Thị Sáu mới hào hùng, cao đẹp làm sao! Cho đến lúc sắp bị kẻ thù giết, chị vẫn sống đẹp, sống hùng, chị vẫn yêu thương người, chị vẫn tha thứ!

    Đây là bài trong sách giáo khoa, không phải bài đăng trên báo.

    Người viết bài ca tụng ấy phạm hai tội, một là ngu, hai là coi thường người khác. Có thể y can cả hai tội. Có ngu tận mạng và coi thường mọi người y mới viết những chuyện như thế. Y còn can tội phản tuyên truyền, bôi bác chế độ xã hội chủ nghĩa, vì y tả người tù Võ Thị Sáu khi bị cai tù Pháp đưa đi bắn ở Côn Đảo được cho đi ung dung, thoải mái, không bị bịt mắt, không bị nhét trái chanh hay cục giẻ vào miệng, không bị còng tay, xích chân, bằng chứng là đang đi chị có thể dừng lại, cúi xuống, ngắt bông hồng dại bên đường, đưa cho người lính Bắc Phi sẽ bắn chị…

    Tình cảnh những người tử tù chính trị Việt Nam bị những người cộng sản Việt Nam đưa đi bắn có thể nói là cực kỳ thê thảm.

    Tôi không ngu đến cái độ nghi ngờ chuyện chị Võ Thị Sáu hái bông hồng trên đường ra bãi bắn Côn Đảo là chuyện không có thật, tất nhiên đó là chuyện bịa, tôi chỉ lấy làm lạ tại sao một bài viết lếu láo, ngu si đến như thế lại có thể được những người cộng sản cho vào sách giáo khoa. Người viết bài có thể ngu si, có thể coi thường mọi người, nhưng còn bao nhiêu người cộng sản khác?

    oOo

    Từ khu tử hình Khám Lớn Chí Hòa, Trí Siêu và Tuệ Sĩ xách giỏ sang khu FG sau khi được bỏ án tử hình. Hai tu sĩ Phật giáo ở tù không có gì hơn anh em Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi – không hay hơn cũng không dở hơn – nhưng hai người hơn anh em chúng tôi một chuyện: họ đã vào Khu Tử Hình Khám Chí Hòa.

    Chia tay với Lê Mạnh Thát ở Phòng 10 Khu ED tôi ôm chiếu, xách giỏ sang khu FG trước Thát, nhưng duyên nghiệp giữa Thát và tôi chưa hết.

    Khoảng bốn tháng sau Thát và Tuệ Sĩ từ Khu Tử Hình lại ôm chiếu, xách giỏ sang ở cùng một phòng Khu FG với tôi.

    Đã có án, những người tù đồng vụ không còn bị chia ra ở nhiều phòng nữa, những người Già Lam nay được sống chung một phòng. Ni cô Trí Hải ra tòa lãnh án 4 năm tù, ở tù vừa đủ án kể từ ngày bị bắt, ni cô được về chùa ngay.

    Đoàn tụ với nhau trong một phòng tù chừng một tháng, nhóm Già Lam được đưa đi trại lao động cải tạo. Lần thứ hai tôi chia tay với Lê Mạnh Thát. Thát đi khỏi Nhà Tù Chí Hòa vào một buổi sáng cuối năm 1988. Nằm lại Chí Hòa tôi được tin nhóm Già Lam lên Trại Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Cơ may của tôi được đến Z30A là 5/5.

    Ngày 19 Tháng Giêng Ta là ngày giỗ ông thân tôi. Ngày này cũng là ngày tù phòng tôi được nhận đồ nuôi bên ngoài gửi vào, tôi được ăn xôi vò, chè đường, hai thứ mẹ tôi làm rất ngon.

    Hai ngày sau, ngày 18 Tháng Giêng Ta, mùa xuân mới đến trên thành phố thân thương, tôi ôm chiếu, xách giỏ lên xe rời Thánh Địa.

    Bị còng chân ngồi sát cánh với anh em trên sàn xe, nhìn lên qua những song sắt cửa sau xe tôi thấy những ngọn cây, những cột đèn, những đường dây điện, những mái nhà thành phố.

    Con đường xưa tôi đi… Như vậy là trước sau tôi đã ba lần bị còng tay đi trên con đường này – tôi ra tòa hai lần, một lần đi trại cải tạo.

    Xe ra xa lộ. Khoảng 11 giờ trưa xe ngừng. Tôi theo anh em xuống xe trước cổng trại Z30A, khi xe rời quốc lộ ở Ngã Ba Ông Đồn để chạy vào con đường nhỏ, chúng tôi đã biết chúng tôi đến trại Z30A.

    Năm năm trời sống tù túng trong những phòng giam, tôi sung sướng đặt chân lên mặt đất đỏ Xuân Lộc. Mặt đất mới mịn, mới mát làm sao! Việc làm đầu tiên của tôi là vào bãi cỏ bên cổng trại khoan khoái đi một đường tiểu tiện. Thoải mái rồi tôi trở lên ngồi chồm hổm xếp hàng với anh em chờ, văn huê là “cán bộ quản giáo”, nôm na là cai tù, ra lãnh vào trại. Tôi phì phèo điếu thuốc rê thở khói xanh lên những cành bạch đàn, sung sướng cảm nhận làn gió mát ve vuốt trên má, cảm nhận hơi ấm của nắng trưa trên tóc, trên vai áo, tim tôi rưng rưng vì tiếng chim, tiếng lá bạch đàn rì rào, năm năm rồi tôi không được nghe tiếng chim hót, tiếng lá reo…

    Đến Z30A tôi gặp lại gần tất cả những ông bạn tù đã sống cùng phòng với tôi ở Chí Hòa, đã quen biết tôi, trò chuyện, chia ngọt, xẻ bùi với tôi: Mã Thành Công, giáo sư Sử, Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Cao Đài, tù 10 năm, Lê Công Minh, kỹ sư, tù chung thân, Sáu Vui, tổ chức vượt biên, tù 14 năm.

    Cũng tại đây tôi gặp người tù độc đáo Lê Vĩnh Xuân. Xuân từng có thời làm nhân viên Sở Thông Tin Hoa Kỳ, USIS. Xuân bị bắt từ năm 1976, bị nghi là nhân viên CIA được CIA gài lại, bị giam mút chỉ cà tha từ đó mãi đến năm 1992 mới được thả. Trong giấy ra trại, tức lệnh tạm tha của Xuân, ghi cái tội danh hết sức ly kỳ là “Can tội: Thông dịch viên”.

    Và ở Z30A tôi gặp lại tất cả những người trong nhóm Già Lam, tôi lại ở chung một phòng tù với Lê Mạnh Thát. Đến hết năm 1989 tôi đã ở tù cùng một phòng với Lê Mạnh Thát đúng 5 năm liền.

    Tôi đến Z30A ngày 18 Tết, một năm sau hết án, tôi ra khỏi Z30A ngày Mùng 7 Tết. Lúc 9 giờ sáng tôi ra về. Anh em đi làm hết, trại vắng tanh, Lê Mạnh Thát – ở nhà làm công việc dịch sách – tiễn tôi ra đến cổng trại.

    Đây là lần thứ ba tôi chia tay với Lê Mạnh Thát. Chúng tôi đã ba lần hợp, ba lần tan: một ở Phòng 10 ED Nhà Tù Chí Hòa, một ở Phòng 20 Khu FG Chí Hòa, một ở trại lao cải Z30A.

    Hôm nay nhớ lại những ngày tù đày và những người bạn tù ở quê hương, tôi bồi hồi tự hỏi không biết duyên tình giữa tôi và Lê Mạnh Thát đã hết chưa? Không biết cuộc đời có dàn xếp cho hai chúng tôi hợp tan một lần nữa hay không?

    Tôi đã sống gần sát Trí Siêu Lê Mạnh Thát năm năm, tôi đã thấy một số những cái hay, cái dở – những cái văn huê là sở trường, sở đoản – của con người Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Tù và túng. Trong tù người ta thường chỉ thấy những sở đoản của nhau, nhiều lúc tôi cũng coi thường, cũng thấy khó chịu vì Thát.

    Đầu năm 1990 tôi về Sài Gòn, Thát vẫn ở Z30A. Ngay thời đó mỗi lần nhớ Lê Mạnh Thát tôi vẫn định có dịp sẽ nói với Thát:

    – Khi ở gần núi Thái Sơn thấy Thái Sơn cũng thường thôi, cũng không có gì cao lắm. Khi xa Thái Sơn mới thấy Thái Sơn (dù sao cũng vẫn) cao hơn nhiều núi khác.

    Tuêï Sĩ mỗi ngày chỉ ăn một bữa, quá ngọ là không ăn nữa, Trí Siêu ăn chay thật bền và điều độ, bữa nào cũng ăn hết phần cơm tù. Chúng tôi quen lệ ngày được nuôi là bỏ cơm tù, ăn toàn thức ăn người nhà gửi vào, Lê Mạnh Thát trong ngày được nhận đồ nuôi vẫn từ tốn ăn hết bát cơm tù, sau đó mới ăn đôi chút quà cáp gửi vào.

    Có những lúc Thát và tôi ở trần, bận quần sà lỏn, đứng ghếch chân bên song sắt, nói chuyện nho nhỏ với nhau cả giờ. Ngoài phòng giam là một hành lang rộng, ngoài hành lang ấy còn một hàng song sắt nữa, chúng tôi phải nhìn qua hai hàng song sắt mới thấy mảnh trời nhỏ trên cao.

    Một tối mùa mưa chúng tôi đứng đó, trời vừa mưa lớn nhưng lúc ấy đã tạnh và có trăng. Chúng tôi không nhìn thấy mặt trăng nhưng nhìn thấy bóng vừng trăng in trong vũng nước đọng trong hành lang.

    – Này thầy – tôi nói với Thát – Thầy thấy bóng trăng kia chứ? Nó là ảo ảnh nhưng tôi nghĩ tôi có thể cho nó là thật, vì tôi biết có vầng trăng thật trên trời kia, vì có vầng trăng thật trên trời nên mới có bóng vầng trăng trong vũng nước này.

    Trong tù tôi thấy có nhiều anh em đêm đêm ngồi thiền, tất cả những tu sĩ Già Lam ở chung phòng tù với tôi đều không ai ngồi thiền hay tĩnh tọa. Tôi cũng chẳng thấy ai trong họ tụng kinh hay làm những cử chỉ, hành động chứng tỏ họ là sư sãi.

    – Khi ở xa Thái Sơn tôi thấy quả thật Thái Sơn có hơn nhiều núi khác.

    Ý tôi muốn nói là, trong 5 năm trời sống gần – phải nói là quá gần – Trí Siêu Lê Mạnh Thát, có nhiều lúc tôi coi thường Lê Mạnh Thát, khi xa và nhớ lại tôi thấy con người, cuộc sống của Lê Mạnh Thát, ở một tầm cao hơn con người và cuộc sống của nhiều người tôi đã gặp.

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (05)

    “….Gặp những ngày trời đất xuống mầu như thế, người khách xa nhà, cả trăm người như một, đều cảm thấy buồn tê tê trong lòng mà tự nhủ: “Ờ, đúng là mùa thu ở Bắc. Trời này có rượu ngon đem uống thì tuyệt trần đời!”

    “Thế thì cái ngày trời đất xuống mầu ấy ra sao mà người ta lại rầu rầu trong dạ, sầu sầu muốn uống một cái gì? Thôi, ai còn lạ gì cái thời tiết ở miền Nam nước Việt nhõng nhẽo đến chừng nào; buổi tối nóng như điên, nửa đêm xoay ra lạnh lúc nào không biết; chiều sấm chớp ầm ầm, yên trí có mưa thì một lát sau trăng lại sáng trưng; ấy thế mà chính lúc người ta đang yên trí là nóng còn lâu thì mưa trút xuống rào rào làm cho ai cũng ngạc nhiên tự hỏi: “Quái, sao năm nay mưa sớm thế?” Thế rồi khi ai cũng tưởng là mùa mưa bắt đầu thì chọc trời cũng không một hạt nước, trời nóng đến cái mức làm người ta mờ cả mắt, nhức cả đầu; nhưng có một buổi tối kia đi ăn đầu cá với một người yêu xa cách lâu ngày ở cầu Bình Lợi thì tự nhiên trời đổi gió, giăng tơ lên ngọn cỏ. lá cây để đến lúc sắp đứng dậy ra về anh cảm thấy như có môt cái lưới buồn rũ từ trên trời xuống nước, lan tràn ra khắp cả mặt đất chân mây và gói ghém luôn cả anh cùng với tâm óc anh vào đó.

    “Lau lách ở ven hồ kêu lên những tiếng rì rào y như thể những tiếng than nhỏ bé; nước vỗ vào bờ nghe trầm trầm; qua những chùm lá, qua những cành cây, gió rì rào như kể chuyện xa xưa và giục người ta xích lại gần nhau cho ấm cõi lòng hơn một chút….”. (Thương Nhớ Mười Hai – Vũ Bằng)

    Văn của anh Vũ Bằng, trong tác phẩm “Thương Nhớ Mười Hai”, chương viết về Tháng Tám: “Tháng Tám: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiện hạ cộng tri thu“.

    Một buổi sáng tôi đang ngồi viết, bỗng nghe có tiếng gì văng vẳng như tiếng chim tôi từng được nghe từ lâu lắm, từ những năm xa xưa ở tỉnh lỵ Hà Đông hiền hòa, thân thương của tôi; tiếng chim mà từ ngày theo cha mẹ rời khỏi tỉnh Hà Đông, tôi không còn bao giờ được nghe thấy nữa. Tiếng chim gáy: “Curuucu…”

    Tôi ngừng viết ngoảnh nhìn. Trên thành của sổ phòng tôi mở ra Rừng Phong có con chim đậu. Con chim lông mầu nâu nhạt pha sắc xám, nhỏ hơn chim bồ câu. Nó là con chim gáy tôi thấy ở những cánh đồng lúa vàng sắp chín quanh tỉnh Hà Đông năm mươi năm xưa. Mèn ơi…! Ở Hoa Kỳ cũng có chim gáy như ở quê ta ư? Không những chỉ có mà còn giống y boong. Không khác một ly ông cụ. Bánh xe lãng tử sang Mỹ gần năm mùa thu vàng hôm nay tôi mới thấy con chim gáy Mỹ. Thấy tôi nhìn, con chim đủng đỉnh đi đi, lại lại trên thành cửa sổ. Nó gáy lên như để cho riêng tôi nghe: “Curuucu…” Đúng nó là con chim gáy. Tiếng gáy của nó y hệt tiếng những con chim đồng loại gáy trên những bụi tre làng miền Bắc quê tôi khi cánh đồng vàng mầu lúa chín!

    Những năm 1940, 1941, 1942 tôi đã lớn. Mỗi năm vào mùa lúa chín, ông bố tôi thường mang súng bắn chim đi bắn một hai lần ở những cánh đồng quanh thị xã Hà Đông. Ông có khẩu súng hai nòng, calibre 16, mua ở nhà Chaffanjon, Hà Nội. Năm 1945 Việt Minh tịch thu khẩu súng ấy. Tôi đi theo ông bố tôi trong những buổi sáng chủ nhật đi bắn chim gáy ngày xưa. Cứ đến mùa lúa chín là ngoài đồng có chim gáy và tôi thấy mơ màng ẩn hiện hình ảnh chú nhỏ mười, mười một tuổi, xách cái túi đựng chim, đi theo ông bố trong những cánh đồng vàng lúa ngày xưa.

    Tôi nghĩ cứ đến mùa lúa chín mới có chim gáy; chim gáy sống bằng lúa. Ở xứ Mỹ này cả trăm cây số quanh thành phố thủ đô không có cánh đồng lúa nào, chim gáy lấy gì mà sống? Sao chim gáy có thể sống giữa cái thành phố mặt đất đầy xi-măng này? Tôi nẩy ra ý viết về chim gáy, về những sáng chủ nhật tôi theo ông bố tôi đi bắn chim gáy ngày xưa ở Hà Đông. Những ý nghĩ miên man đến trong tôi như như những đợt sóng.

    Tôi bỗng nhớ anh Vũ Bằng. Trong tác phẩm Thương Nhớ Mười Hai tôi đọc năm xưa anh có viết về chim gáy. Tôi đi tìm quyển Thương Nhớ Mười Hai.

    Nơi tôi sống nhờ có ba nhà sách. Ngay lúc này không nhà nào có quyển Thương Nhớ Mười Hai. Mà tôi thì lại cần có sách để xem lại, để viết ngay. Sách được tái bản chùa ở Hoa Kỳ, nhưng chờ order sách từ Cali gửi sang thì đến bao giờ. Tôi cầu cứu bạn tôi là Tạ Quang Khôi, người chúng tôi gọi đùa là Tạ Ống Khói vì nước da của anh. Anh Giáo Khói của chúng tôi có con làm ở Thư Viện, anh có thể nhờ mượn sách. Giáo Khói trả lời: “Có Thương Nhớ Mười Hai ngay!”

    Tôi được quen biết ông nhân sĩ P.Ng. H, một cựu giáo sư học giả ở cùng đồng đất Virginia. Ông H. yêu sách, nhà có thật nhiều sách. Tôi mượn của ông tập Tam Quốc Chí của Tử Vi Lang dễ đã đến hai mùa lá rụng chưa đem trả. Trong khi chờ đợi được anh Giáo Khói cho mượn sách, tôi đem bộ Tam Quốc Chí đến nhà trả ông H. và hỏi ông có quyển Thương Nhớ Mười Hai không? Lập tức, ông cho tôi mượn quyển Thương Nhớ Mười Hai in lại mới toanh.

    Tôi bồi hồi cầm quyển sách. Một chiều xanh năm vàng xưa anh Vũ Bằng hẹn tôi đến nhà in Nguyễn Đình Vượng đường Phạm Ngũ Lão, trước rạp xi-nê Thanh Bình, nơi có tòa soạn các báo Văn, Tuổi Ngọc; anh cho tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai do Nhà Nguyễn Đình Vượng vừa xuất bản. Thời ấy sách báo ta in bằng giấy mầu vàng, sang lắm là giấy Nhật, nhưng cũng là loại giấy rẻ tiền, giấy sốp nên sách có bề dầy. Nay trên tay tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai năm 1999 in giấy trắng tinh, nên dầy chỉ bằng nửa quyển Thương Nhớ Mười Hai năm 1972. Quyển TNMH trên tay tôi do nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 1993. Tôi đọc trang cuối: “In 1.000 cuốn, khổ 13x19cm tại Xưởng In CTVHQ 11 (Công ty Văn Hóa Quận 11). Số giấy phép: 126/XBVH. In xong tháng 9 năm 1993”.

    Cộng sản Bắc Việt tái bản “Thương Nhớ Mười Ha”i – và có thể đã tái bản “Vĩnh Biệt Phù Dung” (Cai, tên truyện VBPD trước năm 1945). Họ tái bản những tác phẩm của Vũ Bằng, như họ đã tái bản những “Thơ Say”, “Mây”, “Rừng Phong”, “Ta Đã Làm Chi Đời Ta” của Vũ Hoàng Chương. Họ đã bắt giam Vũ Hoàng Chương, họ đã lên án tất cả những tác phẩm văn học, tiểu thuyết của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa là phản động, đồi trụy; họ đã tịch thu, tiêu hủy những văn phẩm này. Nhưng như Vũ Hoàng Chương đã nói trong thơ anh ngay từ những tháng ngày đen tối, vô vọng nhất cuối năm 1975: “Miệng túi càn… khôn thắt nổi danh“, những người Việt cộng sản miền Bắc không thể chối bỏ được những giá trị văn học, nghệ thuật của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.

    Tìm trong Thương Nhớ Mười Hai tôi thấy anh Vũ Bằng không viết về chim gáy mà viết về chim ngói: “Tháng Chín, gạo mới chim ngói”. Thời gian trước mắt tôi mới là sắp đến Tháng Tám Trung Thu nên tôi mời bạn trở lại với Tháng Tám ở quê hương ta qua lời diễn tả của tác giả Thương Nhớ Mười Hai:

    “Mùa thu ở Bắc cũng đến với người ta như thế. Bây giờ mỗi khi thấy trời trở gió, không gian bàng bạc một mầu chì; mỗi khi thấy lá rụng ở các công viên như những người đau ngực, bay lào xào trên mặt đất hanh hao, mỗi khi thấy lá tre rụng vèo xuống các ao hồ nằm yên ả trong những lớp bèo rong, bèo tấm, có ai biết rằng tôi nhớ lại những gì không? Cứ đầu tháng tám, trời Bắc Việt buồn se sắt, đẹp não nùng, sáng sáng thức dậy vào lúc còn tối đèn, cầm cái áo ma-ga mẹ lấy từ trong rương ra cho mình, húp bát cháo đậu kho và ăn ba nắm xôi lạc do mẹ mua cho rồi đút hai ba đồng xu, đồng kên sủng soẻng trong túi áo đi qua dẫy Nhà Thờ, thẳng một lèo lên dốc Hàng Kèn, có ai biết rằng tôi đã trông thấy những gì và nghĩ những gì không?

    “Lúc ấy, trời đã sang thu. Lá cây nhội ở hai bên đường đi ra dốc Hàng Kèn vươn những cái thân gầy lên trên trời và mỗi khi có gió thổi thì từng chiếc lá vàng lại rụng xuống, xoay nhiều vòng, rồi đậu trên những cái vai trắng muốt của các pho tượng mỹ nhân cởi truồng trong công viên ở cuối Phố Nhi, gần cái hang đá thờ Đức Mẹ.

    “Cái mà bây giờ tôi còn trông thấy rõ từng ly từng tí là một cậu bé xách cái cặp da nặng trĩu đi học một mình, vừa đi vừa ôn lại một bài văn xuôi có vần…

    “….Lẩm nhẩm ôn lại bài học rồi cậu học trò bé nhỏ ấy nhìn lên bầu trời bàng bạc và nhẩy nhót như một con chim sẻ. Là vì y biết là mùa thu đã bắt đầu, các cây nhội chi chít quả, chim hét về nhiều, chắc chắn y có nhiều hy vọng bắn được nhiều để về nuôi, nếu còn sống, hay rán lên cho mèo ăn, nếu chẳng may chim bị trọng thương mà chết.

    “Tuy nhiên, chỉ có ý tưởng của tôi theo chân được cậu bé ấy mà thôi, vì cậu bé ấy chỉ là cái bóng của chính tôi năm mươi mấy năm về trước. Thương thương cậu bé vô tội ấy biết chừng nào!”

    Anatole France. Bài La Rentreé des Classes?? Lâu quá không được đọc lại bài văn, chỉ còn nhớ đại khái: Anatole France tả ngày tựu trường, cậu học trò nhỏ đi qua vườn Luxembourg mùa thu, thấy những pho tượng đá trắng và “…những cánh lá vàng đi trong những cái cây run rẩy… et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent…”

    Ảnh hưởng cũng chẳng sao. Tôi không được sống nhiều ở Hà Nội nên tôi không được biết nhiều về Hà Nội. Hôm nay tuổi đời Sáu Bó lẻ mấy que, sống nhờ trên đất Mỹ, đọc lại Thương Nhớ Mười Hai, tôi théc méc về chi tiết: “…mỗi khi có gió thổi thì từng chiếc lá vàng lại rụng xuống, xoay nhiều vòng. rồi đậu ở trên những cái vai trắng muốt của các pho tượng mỹ nhân cởi truồng trong công viên ở cuối Phố Nhi…”

    Ơi… những vị Công Tử Hà Nội tuổi đời năm nay ít nhất phải từ Sáu Bó trở lên. Xin hỏi các vị: “Hà Nội ba mươi sáu phố phường có phố nào tên là Phố Nhi không? Tôi chưa bao giờ nghe nói Hà Nội có Phố Nhi. Cứ theo lời tả thì tôi thấy cái Phố Nhi trong Thương Nhớ Mười Hai ở gần Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Trong trí nhớ của tôi khu này làm gì có công viên nào, lại càng không có những “pho tượng mỹ nhân cởi truồng…” lớn đến cỡ đủ để cho những cánh lá vàng rơi có thể nằm trên bờ vai trắng muốt! Tức là lớn bằng người thật. Đàn anh Vũ Bằng ơi, đàn anh sống khôn, chết thiêng, cho đàn em khều nhẹ đàn anh một tí: Tượng mỹ nhân khỏa thân chứ! Mỹ nhân cởi truồng coi bộ Thị Mịch nằm nghiêng quá đi…

    Noel năm 1983, anh Trần Tam Tiệp ở Paris gửi về cho chúng tôi khoản tiền để tổ chức một tiệc đêm Giáng Sinh anh em vui với nhau. Chúng tôi gặp nhau trong một vi-la trong cư xá Lữ Gia. Hai anh Vũ Bằng, Tam Lang có đến dự. Năm ấy anh Tam Lang đã tám mươi, anh Vũ Bằng khoảng bẩy mươi. Anh Vũ Bằng gầy, người chỉ còn xương với da, anh vẫn đi lại nhanh nhẹn, cười nói vui vẻ. Đó là lần cuối cùng tôi được gập anh. Khi ấy anh Trần Việt Sơn đã qua đời. Anh Sơn bị bắt tù những năm 1976, 1977. Tháng Tư 1984 anh Vũ Bằng từ trần. Mùng 2 tháng Năm 1984 tôi bị bắt. Khi thẩm vấn tôi anh công an nói:

    – Hai ông Trần Việt Sơn, Vũ Bằng chết rồi. Đỡ mệt cho chúng tôi. Không bắt thì không được mà bắt hai ông già ấy thì cũng kỳ…

    Đó là chuyện năm 1984. Năm 1990 những tác phẩm của hai anh Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng lại xuất hiện trên những chỗ trang trọng nhất trong các tiệm sách ở Thành Hồ. Anh Vũ Bằng sống nhiều ở Hà Nội, nên nhớ Hà Nội và quê hương miền Bắc, nhớ những năm tháng hoa niên của anh trên đất Bắc. Anh diễn tả tuyệt vời niềm thương, nỗi nhớ của anh trong Thương Nhớ Mười Hai:

    “…Người ta nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ những nét mặt thân yêu, nhớ những con đường đã đi về năm trước, nhớ người bạn chiếu chăn dắt tay nhau đi trên những con đường vắng vẻ ngào ngạt mùi hoa xoan còn thơm mát hơn cả hoa cau, hoa bưởi. Người ta nhớ heo may giếng vàng, nhớ cá mè rau rút, nhớ trăng bạc, chén vàng…

    “…Ăn tô hủ tíu thì nhớ đến phở Bắc “chính cống” ăn vào buổi sáng rét căm căm; trông thấy cua bể nhớ bát canh cua đồng nấu với rau rút và khoai sọ…

    “Ới những người thiên lý tương tư! Nếu bất ngờ những dòng sau đây có lạc vào tay bạn, mà thấy nói lên được mối cảm hoài bạn vẫn chất chứa ở bên lòng, thế là kẻ viết bài này lấy làm mãn nguyện lắm rồi”.

    Ới đàn anh! Đàn anh từ Hà Nội vào Sài Gòn, Sài Gòn vẫn là đất nước chúng ta. Ở Sài Gòn đàn anh vẫn dễ dàng có bát canh cua đồng nấu với khoai sọ, rau rút, đàn anh vẫn còn được thưởng thức những món ăn thuần túy dân tộc, những món ăn chỉ dân tộc ta mới có, như bún ốc, bún riêu, bún thang, tiết canh vịt, cầy tơ. Muốn ăn ốc hấp, chả cá, đàn anh đến những hàng ăn Sơn Hải, Như Ý, Thăng Long. Không ngon bằng ở Hà Nội nhưng cũng đạt năm, bẩy chục phần trăm phẩm chất. Đàn anh chỉ mới thiên lý tương tư thôi. Nếu đàn anh bốn mươi tuổi năm 1975 như chúng tôi, đàn anh sống tàn mạt, mỏi mòn, tuyệt vọng, nhục nhã đến hai mươi mùa lá rụng giữa thành phố Sài Gòn đầy cờ đỏ, sao vàng – trong hai mươi mùa thu vàng võ ấy có bẩy, tám, chín mười niên đàn anh chuyên ở trần, quần sà lỏn, ngồi rù ngâm thơ trong những nhà tù – rồi đàn anh làm chuyến lưu vong qua biển sang phần bên kia – bên này – của trái đất như chúng tôi, đàn anh ở cảnh vạn lý tha hương như chúng tôi, tôi chắc đàn anh sẽ Thương Nhớ Mười Hai tập Hai, tập Ba, tập Bốn… Và lần này đàn anh sẽ thương nhớ Sài Gòn Đẹp lắm, Sài Gòn ơi, văn đàn anh sẽ da diết gấp triệu lần với nỗi nhớ thương miền Nam hai mùa mưa nắng…

    Tôi thương nhớ Sài Gòn, thương nhớ miền Nam thân yêu – ta sống ở đâu ta mến thương nơi ấy. Không thể trách những trẻ em Việt, năm bẩy tuổi theo cha mẹ sang Mỹ đến năm hai mươi tuổi không nói được tiếng Việt, không đọc được chữ Việt; những em này sẽ yêu thương nước Mỹ. Tôi năm hai mươi tuổi vào Sài Gòn, tôi đã sống ở Sài Gòn đến gần năm mươi năm; tôi sống ở miền Nam, tôi biết về miền Nam nhiều hơn tôi sống và biết về miền Bắc. Tự nhiên là tôi yêu thương miền Nam, tôi yêu thương và tôi nhớ Sài Gòn.

    Bây giờ Tháng Tám. Mùa thu sắp về Virginia nơi tôi sống nhờ. Virginia có những cánh đồng trồng thuốc lá bạt ngàn, có mùa thu lá vàng, lá đỏ thật đẹp. Cảnh sắc Virginia thơ mộng và tình tứ đến nỗi người Mỹ cho nó cái danh hiệu “Virginia is for Lovers”. Nhưng tôi mang tâm trạng “cảnh đẹp cảnh của người ta, mình là khách đọi ở và mươi năm…” Cảnh xứ người càng đẹp tôi càng thương nhớ quê hương ta.

    Anh Vũ ơi… Vạn lý tha hương… Tôi thương nhớ Sài Gòn, nơi tôi đã sống những ngày hoa niên đẹp nhất đời tôi, nơi tôi đã gặp Tình Yêu… Nhưng tôi không đủ tài, không đủ lời nói lên niềâ thương nhớ ấy. Tôi muợn văn anh để gây hứng khởi cho tôi, tôi chuyển nỗi nhớ thương Hà Nội, miền Bắc của anh thành nỗi nhớ thương Sài Gòn, miền Nam của tôi.

    Tên chương truyện của anh: “Tháng Tám, Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu” gợi tôi nhớ lại Tết Trung Thu thứ nhất bọn Bắc Việt Cộng vào Sài Gòn. Đêm Trung Thu ấy ở Sài Gòn trời mưa tầm tã từ chiều, Sài Gòn không có trăng Rằm Tháng Tám. Tôi và thằng con lớn của tôi từ Sài Gòn về Ngã Ba Ông Tạ trên xe buýt – khi ấy bọn xâm lăng chưa đổi tiền, Sài Gòn vẫn còn xe buýt – bố con tôi vào tiệm phở của Văn Chi ở ngay đầu Ngã Ba Ông Tạ.

    Ký giả Văn Chi từng Tác-dzăng nổi giận đấm hộc máu mồm, sồm máu mũi anh giáo viên người Pháp, sang dậy học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp; anh cà chớn này loạng quạng làm cái việc ruồi bâu kiến đậu là mang cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đến treo ở công trường Lam Sơn, trước cửa Nhà Quốc Hội ta. Vụ này xẩy ra khoảng năm 1970, khi ấy Văn Chi đang là nhân viên Bộ Thông Tin, văn phòng ở ngay tòa nhà bên cạnh công trường Lam Sơn. Nghe có chuyện lộn xộn Văn Chi chạy qua công trường, thấy anh kiều dân Pháp cà cháo treo cờ MTGP, Văn Chi nóng mắt đấm liền cho anh mấy đấm.

    Nhà Văn Chi ở khu nhà thờ Chí Hòa. Tháng Năm 1975 anh mở tiệm phở ở ngay Ngã Ba Ông Tạ. Phở anh nấu rất được. Khoảng tám giờ đêm Trung Thu năm ấy, trời mưa rả rích, tiệm không có khách. Văn Chi ngồi với bố con tôi, anh lách cách gõ cái muỗng lên cái bát, hát: “Đêm nay trăng sáng quá, em ơi…” Anh ghé tai tôi, nói nhỏ: “Có đường, có nẻo thì dzu lu đi. Nó cho đi tù hết đấy”. Noel năm ấy Văn Chi bị bắt. Anh là một trong số những ký giả VNCH bị Việt Cộng bắt sớm nhất. Năm 1982 Văn Chi mới từ nhà tù trở về Ngã Ba Ông Tạ. Anh lại mở quán phở. Năm 1986 anh bị đau. liệt, rồi qua đời.

    Mùa thu năm 1975 – bốn năm tháng sau ngày nón cối, giép râu kéo nhau vào Sài Gòn – một chiều u ám tôi đạp xe đi lang thang trong lòng thành phố buồn. Nhìn những chiếc lá vàng rơi trên đường, tôi đau đớn thấy thế giới đã bỏ quên quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, đã quên những người dân quốc gia VNCH. Tôi cay đắng và sầu muộn nghĩ: “Mùa thu đến. Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu… Chỉ một lá ngô đồng rơi thôi mọi người biết là mùa thu đến. Ở đây hai mươi triệu chiếc lá ngô đồng rơi, hai mươi triệu người dân Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi đang đau khổ, tại sao thiên hạ không ai biết?”

    Bây giờ Tháng Tám rồi hỡi Em… Mùa thu về trên xứ người, tôi trang trọng gửi Thương Nhớ Mười Hai của anh Vũ Bằng đến những người Việt sống đời vạn lý tha hương ở góc trời này!

    Quyển Thương Nhớ Mười Hai tôi mượn được do nhà xuất bản Văn Học tái bản năm 1993. Tôi đọc lại Thương Nhớ Mười Hai và thấy có một vài chuyện tôi cần viết ra, cần có ý kiến. Trong cái gọi là Lời Nói Đầu, người tự nhận là “Giáo sư” Hoàng Như Mai viết:

    “Thương Nhớ Mười Hai mời bạn đọc thưởng thức những thứ gọi là “thời trân”.

    “Trong truyện Kiều, lần đầu tiên Kim Trọng được đón tiếp Thúy Kiều ở nhà mình: Thời trân thức thức sẵn bày. Bởi vì cuộc đón tiếp này đối với chàng Kim là một hạnh phúc vô song, cho nên chàng tiếp đãi Thúy Kiều một cách quý trọng và thanh lịch. “Thời trân” là những vật sản quý đương mùa (thời là mùa, trân là quý)”.

    Người tự nhận là “giáo sư” cho rằng những món cam, quýt v.v… là do Kim công tử bày ra để chờ Vương tiểu thư chui rào sang thưởng thức. Đây là lời nói về “thời trân” trong Truyện Thơ Kiều:

    “Nhà lan thanh vắng một mình
    Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay
    Thời trân thức thức sẵn bày
    Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường
    Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng
    Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông…”

    Hai ông Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim chú thích “thời trân”:

    “Thì trân là hoa quả hay vật quí đang mùa bấy giờ. Cứ theo trong bản tiểu thuyết của Tàu là Kiều làm đồ uống rượu để đem sang bên Kim Trọng, vì tục bên Tàu cuộc vui phải có ăn uống. Bởi vậy khi gặp Kim Trọng và tìm được lối đi sang, Kiều chạy trở về bưng đồ rượu sang nhà Kim Trọng. Nhưng chỗ này tác giả chỉ nói có một câu, rồi sau không nhắc lại nữa, cho nên thành ra tối nghĩa, đọc không hiểu là Kiều bày những đồ thì trân ra làm gì”.

    Đây là đoạn viết về “thời trân” trong truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử:

    “…Gặp ngày bên nhạc gia có tiệc mừng thọ, Vương ông sắm sanh lễ vật, đem vợ con sang. Thúy Kiều giả vờ bị ốm, ở lại trông nhà, đợi khi cha mẹ cùng hai em đi khỏi, nàng bèn hối hả sửa mấy món nhắm và hồ rượu ngon, xăm xăm ra lối vườn sau, định tìm Kim Trọng để tạ lại câu chuyện cành thoa hôm trước…”

    Dễ hiểu thôi. Cái gọi là “thời trân” ấy là những món ăn do Thúy Kiều soạn để đem sang nhà Kim Trọng. Không hiểu tại sao người viết lời giới thiệu Thương Nhớ Mười Hai ấn bản 1993 lại nghĩ rằng đó là “những món Kim Trọng bày ra để chờ khoản đãi Thúy Kiều”. Lầm lộn cũng nhỏ thôi, nhưng bất cứ ai cũng có thể lầm, người tự xưng là “giáo sư” và lẩy Kiều trong lời giới thiệu tác phẩm văn chương thì không thể lầm được. Những đêm u buồn, tăm tối những năm 1981, 1982 tôi sống mòn mỏi giữa lòng thành phố thủ đô ta đầy cờ đỏ, một đêm đọc một bài viết về Kiều của Xuân Diệu, tôi ngạc nhiên khi thấy Xuân Diệu phê bình, phê lọ loạn cào cào đoạn Từ Hải mới gập Kiều. Cũng như tất cả những anh Bắc Việt Cộng sản và những anh nâng bi Cộng sản, Xuân Diệu ca tụng nhân vật Từ Hải một cách quá đáng đến lố bịch. Truyện Thơ Kiều tả đoạn này như sau:

    “Nàng rằng: Người dậy quá lời
    Thân này còn dám coi ai làm thường.
    Tấc riêng chọn đá, thử vàng
    Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu.
    Còn như vào trước, ra sau
    Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?
    Từ rằng: Lời nói hữu tình
    Khiến người lại nhớ câu Bình nguyên quân
    Lại đây xem lại cho gần
    Phỏng tin được một vài phần hay không?”

    Không cần phải là sinh viên Văn Khoa, bất cứ người đọc thường dân nào của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa khi đọc đoạn thơ trên cũng hiểu là Từ Hải bảo Kiều: “Em lại gần đây nhìn kỹ anh đi, xem anh có phải là người em có thể tin được hay không?” Xuân Diệu, sau khi ca tụng Từ Hải hào hùng, ngang tàng loạn châu chấu, viết: “Họ Từ nắm cổ Thúy Kiều, kéo lại, nhìn sát vào mặt nàng mà nói: Nàng nói hay lắm. Để ta nhìn nàng xem ta có thể tin nàng được không?”

    Nhưng mấy chuyện lặt vặt đó không phải là những chuyện làm tôi suy nghĩ và thắc mắc khi đọc lại Thương Nhớ Mười Hai. Ở trang 179, ấn bản 1993, tôi đọc thấy:

    “Tháng Một, thương về những ngày nhể bọng con rận rồng. Tưởng là hết chuyện truyền kỳ, quả là lầm. Sang tháng một, lại có truyền kỳ về con cà cuống.

    “Có ai ở Bắc Việt vào đây cho tôi hỏi thăm tháng một mấy năm nay ở Bắc Việt, trời có rét lắm không, mưa vẫn riêu riêu buồn như trước, hay thời tiết vì ảnh hưởng bom đạn của Mỹ đã khác xưa? Nghe thấy nước Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom kinh khủng lắm, mà ném toàn bom nặng tới bảy trăm tấn có sức phá hoại ngang bom nguyên tử, mình ở đây thấy rợn cả tóc gáy lên, ấy thế mà không hiểu làm sao cứ nghe thấy người ta nói là Bắc Việt vẫn đánh và đánh dữ hơn cả lúc mới phát động chiến tranh là khác!

    “Thế thì là cái thớ gì? Ở đây, người ta cũng ném bom tiêu diệt quá khích, ai cũng bảo là thời tiết không như trước, mưa không đúng cữ mà nắng cũng ra ngoại lệ, thành ra mình cũng tưởng thời tiết Bắc Việt đổi thay, do đó lắm đêm nằm tưởng tượng, mình cứ ngỡ Bắc Việt là không còn mưa rét mà có khi lại nóng nứt đá tan vàng cũng nên, nghĩ như thế, thấy buồn; nhưng nằm nghĩ thêm một lúc mình lại cười muốn khóc. Bom đã không làm nhục được người thì sao mà lại ảnh hưởng được đến trời?”

    Đoạn văn trên làm tôi nghĩ: “Kỳ nhỉ? Những năm 1969, 70 ở Sài Gòn, ông Vũ Bằng ca tụng Cộng Sản Bắc Việt đánh Mỹ giỏi ư? Năm 1972, 73 mình đã đọc đoạn văn này, sao mình không thấy gì lạ? Có thể nào mấy anh Việt Cộng mạo tác đoạn văn này không? Mình đang đọc Thương Nhớ Mười Hai do Bắc Việt Cộng in lại năm 1993, nguyên bản Thương Nhớ Mười Hai do nhà Nguyễn Đình Vượng xuất bản năm 1972 có đoạn này không?”

    Tôi không bị théc méc lâu. Tạ Quang Khôi, bạn tôi, tìm được ngay cho tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai do Nhà Nguyễn Đình Vượng xuất bản. Tôi so hai bản với nhau: Việt Cộng không mạo tác, không thêm thắt. Quả thật Vũ Bằng viết như thế. Chỉ khác có hai chi tiết:
    TNMH 1972: Nghe thấy nước bạn Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom…
    TNMH 1993: Nghe thấy nước Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom…
    TNMH 1972: Bom không làm nhụt được người…
    TNMH 1993: Bom không làm nhục được người…

    Ở trang cuối cùng, tác giả Thương Nhớ Mười Hai viết: “Bắt đầu viết tháng Giêng 1960. Tiếp tục năm 1965. Viết hết năm 1970-1971”. Kể cũng lạ. Người viết Vũ Bằng đã sống những ngày kinh hoàng Tết Mậu Thân, đã sợ quíu đít khi chỉ mới nghe nói bộ đội Bắc Việt Cộng kéo vào Chợ Lớn, Bà Quẹo, Thị Nghè, Hạnh Thông Tây, đã thấy nhân dân Huế bị tàn sát dã man, ghê rợn đến chừng nào, đã qua những đêm hồi hộp khi ViXi pháo kích bừa bãi vào thủ đô ta. Nhưng những chuyện đó không ảnh hưởng chút síu nào đến việc ông diễn tả tâm tình thương nhớ đất Bắc và Hà Nội của ông. Nếu năm Mậu Thân những người Bắc Việt Cộng làm chủ được Sài Gòn, chuyện xẩy ra chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch là tùy bút Thương Nhớ Mười Hai không bao giờ được in ra. Rất có thể ông Vũ Bằng đã len lén đem bản thảo Thương Nhớ Mười Hai vào bếp châm lửa hỏa thiêu: “Giữ làm gì cái của nợ này. Nó bắt được thì bỏ mẹ!”

    Tôi thấm đau khi thấy ông văn nghệ sĩ đàn anh của tôi viết: “Ở đây, người ta cũng ném bom tiêu diệt quá khích”. “Quá khích” chứ không phải “Việt Cộng”. Và “người ta” đây là ai? Không thể hiểu tác giả dùng tiếng “người ta” chỉ là để ám chỉ người Mỹ. Với câu “Ở đây, người ta cũng ném bom”, ông Vũ Bằng đã tự đưa ông đứng ra ngoài cuộc chiến đấu của quân dân Việt Nam Cộng Hòa.

    Đau thật là đau. Bao nhiêu người chết để cho ông Vũ Bằng được sống an lành và phây phây viết Thương Nhớ Mười Hai, và để ông viết trên giấy trắng, mực đen những lời ngụ ý: “Các anh giết nhau. Không có tôi trong cuộc chém giết ấy”. Giờ đây, sau cuộc biển dâu, khi ở số tuổi đời gần Bẩy Bó, trong cảnh “Liêu lạc bi tiền sự. Chi li tiếu thử thân”, đọc lại những trang sách xưa, tôi bùi ngùi thấy thái độ ngoài cuộc của anh Vũ Bằng, ông đàn anh văn nghệ của tôi, cũng là thái độ của nhiều nhà biên khảo ngày xưa ở Sài Gòn.

    Như anh Vũ Bằng chẳng hạn. Vào Sài Gòn từ 1954, cho đến Tháng Tư 1975 anh viết những gì? Quyển Thương Nhớ Mười Hai Nguyễn Đình Vượng xuất bản ghi: “CÙNG MỘT TÁC GIẢ, CÙNG NHÀ XUẤT BẢN – Đã in: Mê Chữ, Món Lạ Miền Nam, Cái Đèn Lồng, Nói Có Sách, Bát Cơm. Sẽ in: Con-Dấu-Hóa, Đẹp Mùa Huyền Thoại”.

    Các ông Vũ Bằng, Nguyễn Hiến Lê, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Lê Văn Siêu, Lãng Nhân v.v… chỉ làm văn hóa, văn nghệ. Trong bao năm trời, trước cuộc chiến đấu gian khổ, đầy máu và nước mắt của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa, không ông nào trong số các ông trên đây nói lên một lời, viết ra một trang chống Cộng.

    Không có gì lạ khi Việt Cộng vào Sài Gòn, họ bắt các ông Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Vũ Hoàng Chương đi tù mút chỉ, họ để yên không lý gì đến những ông “làm văn học, văn nghệ thuần túy” có tên trên đây.

    Thương Nhớ Mười Hai ấn bản 1993, trang 107:

    “…Quả là khi viết tới đây tôi cũng không hiểu tại sao lại nhớ đến một chương trong thiên phóng sự “Về Bắc Việt” của Madeleine Riffaud “viết dưới bom”; ờ, Mỹ bắt đầu oanh tạc Bắc Việt hồi 1966 chính là vào cữ mưa rằm tháng bẩy, vong nhân xá tội đây! Chúng tôi đọc thấy rằng, từ một vài tháng nay, các phi vụ ở Bắc tăng gấp ba, số bom ném cao lên vòn vọt, còn nhiều gấp tư số bom ném trung bình hàng tháng ở Cao Ly. Người Việt Nam có bị tiêu diệt không? Mà họ làm thế nào chịu đựng được?”

    “Chẳng cần phải nghĩ vẩn vơ, ai mà lại không biết số người chết hẳn phải nhiều. Đem cộng con số này với bao nhiêu người Việt Nam đã chết vì bom của “đồng minh” đến “giải phóng” chúng ta khỏi ách của “Phát-xít” Nhật, bao nhiêu người chết vì “chống cộng”, bao nhiêu người chết vì bom Mỹ, súng Mỹ ở ngay tại miền Nam, bao nhiêu người chết đói năm 1945, bao nhiêu người chết vì bệnh tật, súng đạn của Pháp đến “cứu” ta ra khỏi “nanh vuốt” của Cộng sản, rồi lại bao nhiêu người bị đột kích, pháo kích, xung kích, oanh kích, công kích, xạ kích, phục kích…”

    Đến đây thấy có sự gian xảo trong việc sửa văn bản: Vũ Bằng viết trong Thương Nhớ Mười Hai ấn bản Nguyễn Đình Vượng 1972: “bao nhiêu người chết vì Cộng sản và vì chống Cộng”, trong Thương Nhớ Mười Hai 1993 không có bốn chữ “chết vì Cộng sản”.

    Tôi thấy đàn anh Vũ Bằng của tôi không được công bằng trong đoạn văn trên. Không phải tự nhiên người Mỹ đưa đại bác, bom đạn và xương máu thanh niên Mỹ đến đổ trên đất nước chúng ta. Có gì đáng để chúng ta oán trách, mỉa mai, dè bỉu việc phi cơ đồng minh, tức Anh Mỹ, đến ném bom đất nước ta khi nước ta bị Nhật Bản xâm chiếm? Có một số người Việt chết vì những trái bom đồng minh ấy, nhưng nếu không có những trái bom đồng minh ấy thì quân phiệt Nhật cứ làm chủ đất nước ta và đến bây giờ đất nước ta, dân tộc ta đã ra sao?

    Tác giả Thương Nhớ Mười Hai có phóng đại khi viết: “Nghe thấy nước bạn Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom kinh khủng lắm, mà ném toàn những bom nặng tới bẩy trăm tấn, có sức phá hoại ngang bom nguyên tử”. Đàn anh Vũ Bằng của tôi đã “về quê” khoảng cuối năm 1983, đầu năm 1984. Nếu ông còn sống, tôi sẽ gửi ông bài viết này và nói nhỏ với ông: “Vừa thôi, ông ơi. Làm gì có thứ bom nào không phải là bom nguyên tử mà có sức phá hoại như bom nguyên tử. Nếu Mỹ nó ném loại bom nặng như ông tả thì làm gì có ngày ông ngao ngán và ông ngớ ngẩn thấy bọn nón cối, giép râu ngơ ngáo kéo vào Sài Gòn! Mà ông có lú lẫn không ông? Ông đào ở đâu ra quả bom nặng bẩy trăm tấn? Ông có nhớ bẩy trăm tấn là mấy chục ngàn ký lô không?”

    Thương nhớ đất Bắc và Hà Nội ra rít đến như được diễn tả “cực kỳ” trong Thương Nhớ Mười Hai – cái gì của Bắc Việt, của Hà Nội, với ông Vũ Bằng, cũng hay, cũng đẹp, cũng đáng yêu, cũng Năm-bơ Uân, cũng nhất thế giới – nhưng sau ngày khốn nạn 30 Tháng Tư tuy có thể về miền Bắc dễ dàng ông Vũ Bằng đã không về.

    Ông đã, cứ và vẫn ở rịt trong thành phố Sài Gòn. Ông sài lắc khi nghe ai nói đến chuyện về thăm quê hương miền Bắc. Ông không về, dù chỉ là về thăm lại những nơi ông từng sống sung sướng ngày xưa, những cảnh ông thương nhớ, và ông chết ở Khánh Hội, Sài Gòn. Cũng đúng thôi, cũng phải thôi. Cái miền Bắc, cái Hà Nội mà ông thương nhớ ấy là miền Bắc, là Hà Nội trước năm 1954. Hà Nội được tả thật đẹp, được nhớ thương da diết trong Thương Nhớ Mười Hai của ông Vũ Bằng nay không còn nữa.

    Đọc lại Thương Nhớ Mười Hai, tôi không thấy lạ về chuyện những người làm văn hóa Việt Cộng cho tái bản Thương Nhớ Mười Hai và viết những lời ca tụng tác giả Vũ Bằng.

    Ông có chống họ đâu mà họ không cho tác phẩm của ông sống lại. Tác phẩm của ông có lợi cho họ. Họ bốc ông: “Nhà văn Vũ Bằng thuộc một dòng họ túc nho ở đất Lương Ngọc, Hải Dương (cũ), sau 1954 vào Nam, viết cuốn sách này giữa lúc đất nước hai miền bị chia cắt. Dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách này vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương ở bên kia “giới tuyến”. Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngọn bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này. Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang”.

    Sau ngày nón cối, giép râu vào Sài Gòn, không khác gì tuyệt đại đa số người dân – hằm ba lằng sáng cấu đàn ông, đàn bà, già trẻ, tức là từ em nhỏ lên ba đến cụ già chín bó – đàn anh Vũ Bằng của tôi chán ghét Bắc Việt Cộng đến xương tủy.

    Khi còn hỏi anh được, tôi đã không hỏi, vì đó là chuyện riêng tư của anh: tại sao năm 1954 anh lại để chị Quỳ, người vợ tấm mẳn mà anh yêu thương, ở lại miền Bắc? Trong Thương Nhớ Mười Hai, anh viết về chị những lời thương nhớ:

    “Em yêu ơi, sống là tin tưởng và chờ đợi, nhưng biết rằng mái tóc người ta có còn xanh mãi được chăng?
    “Đã lâu lắm, chúng mình không được tin tức gì của nhau, Quỳ nhỉ. Chiến tranh cắt đứt ân tình của hai ta, thôi đành lấy câu vận mệnh để khuây dần nhớ thương vậy.

    “Nhưng thương nhớ kỳ lạ lắm. Có những đêm không ngủ, nằm nghe mưa rơi, tôi cố nhớ lại nét mặt của người thương, mà không hiểu tại sao con mắt, miệng cười và mớ tóc xõa trên hai bờ vai tròn trĩnh lại lu mờ như thể chìm đắm trong khói sóng. Mà trái lại có những kỷ niệm rất bé nhỏ, rất tầm thường, lại hiện ra rõ rệt, không suy suyển một ly trong trí nhớ của người nặng nợ lưu ly, nằm buồn trong gác nhỏ ngâm câu thơ nhớ vợ:

    “Ủ ê nét liễu sầu tuôn gió
    Thổn thức tình tơ lệ ướt bào
    Hoa tủi còn đâu duyên tác hợp
    Mây bay rồi nữa giấc chiêm bao”.

    Ba mươi năm trôi qua kể từ ngày tôi đọc Thương Nhớ Mười Hai lần thứ nhất. Hôm nay sống buồn ở một góc trời xứ người – xứ người thật là xứ người – xa vời vợi, cách xa quê hương nưả vòng trái đất, đọc lại Thương Nhớ Mười Hai, tôi thương anh Vũ Bằng.

    Anh nhắm mắt, lìa đời những năm 1983, 1984, những năm Đảng Cộng sản Việt Nam đang hung hăng con bọ xít, Liên Xô chưa tan rã, chủ nghĩa Cộng sản chưa bị triệt tiêu, đảng viên cộng sản còn nắm quyền hành trong nhiều nước.

    Anh ra khỏi cõi đời này mà không được biết rằng chỉ vài năm sau Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa cộng sản thất bại, bọn đảng viên cộng sản bị nhân dân chính các nước chúng bợp tai, đá đít, đuổi đi…

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (06)


    Thanh Nam Trần Đại Việt, viết tiểu thuyết, làm thơ từ năm 1950 ở Hà Nội, cùng thời với Nguyễn Minh Lang, Hoàng Phụng Tỵ, Hoàng Công Khanh, những người viết trẻ nổi lên sau 1945. Năm 1952, Thanh Nam vào Sài Gòn làm việc ở Đài Phát Thanh Quân đội. Những năm 1952, 1953 Thanh Nam làm thư ký tòa soạn Tuần báo Thẩm Mỹ – thời ấy Sài Gòn có hai tuần báo Đời Mới, Thẩm Mỹ.


    Năm 1975, Thanh Nam là nhân viên Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam, đài này là một đài do người Mỹ dựng lên và quản lý. Nhân viên Đài Mẹ Việt Nam được người Mỹ đưa ra đảo Phú Quốc trước ngày 30 Tháng Tư 1975. Nhờ thế Thanh Nam và vợ con đi thoát. Sang Hoa Kỳ thời gian đầu, Thanh Nam sống ở miền đông (nghe nói ở New Jersey) rồi sang định cư ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở Seattle, Thanh Nam viết cho Tạp chí Đất Mới cùng với Mai Thảo, Huy Quang Vũ Đức Vinh. Anh bị ung thư thanh quản và tạ thế ở Seattle năm 1986.

    Năm 1970 ở Sài Gòn, Thanh Nam bốn mươi tuổi. Anh làm “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi“. Năm 1977 ở thành phố Seattle, Hoa Kỳ, Thanh Nam làm bài “Thơ Xuân Đất Khách” cũng hay thiệt là hay. Khen thơ mà cứ tấm tắc “Hay thiệt là hay. Hay ơi là hay. Hay quá là hay”, người đọc chẳng thấy hay ở chỗ nào cả. Chi bằng mời bạn thưởng thức ngay bài thơ hay: Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi.

    Én nhạn về nam, xuân rồi đây
    Chợt thèm ly rượu, chút mưa bay
    Gọi về trong đáy hồn lưu lạc
    Những bước chân xưa nhạt dấu giầy
    Bạn cũ hay nương theo rét lạnh
    Về đây cùng nhập một cơn say.
    Uống ly thứ nhất mừng tao ngộâ
    Cho tiếng cười lên vỡ tháng ngày.
    Vào cuộc hành hương tìm gập lại
    Cõi trời xanh ngắt tuổi thơ ngây
    Trong veo cặp mắt chưa vương bụi
    Chăn chiếu còn thơm ngát mộng trai
    Chí lớn chia nhau đầy gác nhỏ
    Bụi hồng chưa khiến toc xanh phai
    Đồng tiền mừng tuổi ngày Nguyên Đán
    Canh bạc đời chưa lột trắng tay.
    Dăm bẩy lòng sông ôm biển cả
    Coi đời dưới mắt nhẹ không ai
    Cơn mê nhập cuộc sầu chưa bén
    Thân thế chưa đau cát bụi này
    Gió nổi mười phương trời buổi đó
    Với ngày như tháng, lá như mây.
    Lầu sương từng buổi đùa nhan sắc
    Giấc ngủ thềm khuya rộn tiếng hài.
    Chiều xuống đã nghe lòng rộn rã
    Gió lên hồn ngỏ phố vui mời
    Ca trường, hý viện, xuân như hạ
    Đời thả trôi vào nhịp phách lơi
    Lãng đãng khói sương trời tưởng nhớ
    Ly này xin cạn hết chua cay
    Mười lăm năm đó từ phiêu bạt
    Đứa vợ con yên, đứa lạc loài
    Viết mướn đã bao thằng mệt mỏi
    Sang giàu đếm được những ai đây?
    Lưới đời chân đã bùn nhơ vướng
    Mắt vẫn trời cao rướn cánh tya
    Cuộc chiến nay chừa dăm bẩy mạng
    Thôi thì rượu đó uống cho say
    Rót thêm ly nữa chào năm cũ
    Tuổi bốn mươi rồi, thương lắm thay.
    Lận đận lý nào theo trọn kiếp
    Tối tăm không lẽ mãi đêm dài?
    Niềm thê nhi đó giờ an phận
    Nợ áo cơm này nặng trĩu vai
    Năm tháng sức trai mòn mỏi mãi
    Nụ xuân đời đã lánh tầm tay
    Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ
    Vai kép hề kia vẫn riễu hoài
    Nhìn lại trời xuân vừa khép kín
    Thơ hồng, tuổi ngọc tiếc thương ai.
    Nghiêng chai thêm một ly này nữa
    Trên vách sầu ta đối bóng gầy
    Chợt tiếng con thơ cười lảnh lót
    Nhìn con, lòng bỗng thấy xuân đầy
    Lại đây con nhỏ, con yêu dấu
    Bố uống cho con ly rượu này
    Ly rượu mừng con tròn mộng đẹp
    Niềm vui hoa nở tháng năm dài
    Ngủ đi, con hỡi, mai khôn lớn
    Đời sẽ bình yên không lửa gai
    Trong vắt hồn con nguyên khối ngọc
    Lượng xuân đời chẳng khép vòng tay
    Nhìn con giây phút lòng tan biến
    Những chuyện ân thù, những đắng cay
    Tiếng bạc đời cha gieo đã lỡ
    Chiều tà khôn gỡ nước cờ sai
    Trắng tay nhìn lại còn con đó
    Hy vọng đời cha mẹ kiếp này
    Tăm tối căn phần cha đã chịu
    Cánh hồng con hẳn sẽ xa bay!
    Ngủ đi con, ngủ đi yên giấc
    Cha ru con bằng hơi rượu say
    Cha ru con bằng lời thống khổ
    Trong nhục nhằn mê sảng đêm nay.
    Chếnh choáng lòng khuya men đã ngấm
    Nghe ngoài đêm tối tiếng mưa rơi
    Vọng lời sao xác hồn năm tháng
    Chuyển nhịp mùa xanh lại đất trời
    Bắt chước cổ nhân nâng chén rượu
    Mừng xuân thay áo mới cho đời.
    Mười năm thêm một bài thơ nữa
    Viết tặng riêng mình tuổi bốn mươi…
    (Sài Gòn 1970)


    Thanh Nam làm những lời thơ Đón Tuổi Bốn Mươi ở Sài Gòn khi anh bốn mươi tuổi. Anh hẹn mười năm – năm 1980 – anh sẽ làm bài thơ nữa khi anh tròn năm mươi tuổi, anh không làm được việc đó. Ngày 30 Tháng Tư 1975 sầm sập đến…

    Năm 1970 đọc Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi, tôi thấy hay, thấy não nùng nhưng tôi không xúc động bao nhiêu.Phải đến những năm sau 1975, và đến những năm này, những năm 1999, 2000… hai mươi mùa thu lá bay sau, tôi thấy lời thơ thật hay và càng ngày càng hay. Những lời thơ tuyệt đẹp:

    “…Gió nổi mười phương trời buổi đó
    Với ngày như lá, tháng như mây…
    Lãng đãng khói sương trời tưởng nhớ
    Thơ hồng, tuổi ngọc tiếc thương ai?”

    Kể từ ngày oan nghiệt ấy có biết bao nhiêu văn nghệ sĩ đã vĩnh viễn ra đi? Chết thì tất cả mọi người đều phải chết thôi, nhưng từ Ngày 30 Tháng Tư 1975 đến nay các văn nghệ sĩ đàn anh tôi, các văn nghệ sĩ bạn tôi, đã bao nhiêu nngười phải chết trong tủi nhục?

    Đa số bị tù đầy: anh Chu Tử Chu Văn Bình đi tiên phong trong ngày 30 Tháng Tư – anh chết vì đạn thù bắn theo trên con tầu đưa anh ra biển – tiếp đến là anh Vũ Hoàng Chương, rồi Hoàng Vĩnh Lộc, Trọng Nguyên, Minh Đăng Khánh, Trần Việt Sơn, Trần Việt Hoài, Vũ Bằng, Tam Lang, Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Trúc Ly, Huy Cường…

    Ba anh Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường chết trong tù.

    Ba anh đều chết thảm nhưng anh Nguyễn Mạnh Côn chết thảm nhất. Ở tù được ba năm, khi ở Trại Lao Động Cải Tạo Xuyên Mộc, anh Côn tuyệt thực đòi Việt Cộng phải thả anh. Bắt chước cách đàn áp tù nhân dã man đến cùng cực của bọn Nga Cộng và Tầu Cộng, Cai ngục Xuyên Mộc giam riêng người tù tuyệt thực Nguyễn Mạnh Côn. Không cho anh uống nước, cai ngục Xuyên Mộc lạnh lùng bắt anh chết vì khát.

    Họ công bố cho các tù nhân biết khi người tù không ăn, họ không cho người tù uống nước, cho người tù chết luôn. Họ giết anh Nguyễn Mạnh Côn để những tù nhân khác không còn ai dám tuyệt thực. Và người tù văn nhân chính trị Nguyễn Mạnh Côn đã chết thê thảm ở Nhà tù Xuyên Mộc, xác anh nằm lại nơi bìa rừng hiu quạnh ấy.

    Không bao giờ tôi quên được hình dáng anh trong buổi sáng chủ nhật ở lối đi trong Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu, khi anh được ra ngồi phơi nắng chừng hai mươi phút. Sáng ấy – một buổi sáng giữa năm 1977 – anh gầy ốm, tóc bạc, râu ria, trong bộ đồ ngủ nâu đã cũ nát. Tôi bồi hồi nhìn anh qua cửa gió xà-lim, nghe tiếng anh ngâm câu thơ Hồ Trường:

    “Chí ta ta biết, lòng ta ta hay…”

    Trước 1975 nhiều người trong anh em chúng tôi – trong số có tôi – bất mãn với cuộc đời, kêu khổ rầm trời, giận trời, trách đất, oán người vung xích chó.

    Vì vậy tôi không lạ, tôi hiểu tại sao trong bài thơ đón tuổi bốn mươi năm 1970 ở Sài Gòn của Thanh Nam lại có câu: “Bố ru con bằng lời thống khổ – Trong nhục nhằn mê sảng đêm nay…” Tội thay.

    Thời ấy chúng tôi thực sự chưa biết khổ nhục là gì.

    Kim Thánh Thán viết trong bài phê bình Tây Sương Ký: “Năm xưa nghèo không có đất cắm dùi chưa phải là nghèo. Năm nay nghèo mới thật là nghèo, nghèo đến cái dùi cũng không có mà mang đi cắm”.

    Phải đến sau 1975 chúng tôi, ở quê nhà, ở nước ngoài, mới biết thế nào là khổ nhục, chúng tôi mới thực là khổ nhục, trước 1975 chúng tôi chỉ kêu là chúng tôi khổ nhục thôi, chúng tôi chưa thực sự khổ nhục.

    Thanh Nam đi xa quê hương từ hải đảo Phú Quốc trong một đêm mờ sương. Hai mùa lá rụng sau đó, mùa xuân năm 1977, ở Seattle, thành phố mưa quanh năm, Thanh Nam làm bài Thơ Xuân Đất Khách:

    Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
    Mới hay năm tháng đã thay mùa
    Ra đi từ thưở làm ly khách
    Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
    Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
    Hành trình trơ một gánh ưu tư.
    Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
    Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
    Thức ngủ một mình trong tủi nhục
    Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
    Giống như người lính vừa thua trận
    Nằm giữa sa trường nát gió mưa
    Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
    Làm thân cây cỏ gục ven bờ
    Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
    Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa.
    Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
    Những ai còn mất giữa sa mù
    Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
    Không một tin nhà, một cánh thư
    Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
    Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
    Một năm người có mười hai tháng
    Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!
    Chấp nhận hai đời trong một kiếp
    Đành cho dông bão phũ phàng đưa
    Đầu thai lần nữa trên trần thế
    Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
    Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
    Học làm con trẻ nói ngu ngơ
    Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
    Thân phận không bằng đứa mãng phu
    Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
    Cờ còn nuớc đánh phải đành thua
    Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
    Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!
    Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
    Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
    Đứa nằm yên phận vui êm ấm
    Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa.
    Mây nước có phen còn hội ngộ
    Thâm tình viễn xứ lại như xa
    Xuân này đón tuổi gần năm chục
    Đối bóng mình ta say với ta.


    Đây là một trong những bài thơ tha hương hay nhất, cảm khái nhất tôi được đọc. Những câu làm dạ tôi xót sa, tim tôi đau nhói: “…Thức ngủ một mình trong tủi nhục…Giống như người lính vừa thua trận. Nằm giữa sa trường nát gió mưa…Chợt nghe từ đáy hồn thương tích… Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa… Một năm người có mười hai tháng. Ta trọn năm dài Một Tháng Tư.. Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt. Học làm con trẻ nói ngu ngơ…”

    Dù sống ở xứ người hay sống ở quê hương, sống ở đâu tâm hồn, thể xác anh em chúng tôi cũng như người lính vừa thua trận, nằm giữa sa trường nát gió mưa. Trong những đêm buồn thê thảm, chúng tôi nghe mãi từ đáy hồn thương tích, vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa. Chỉ có khác là sống ở quê hương, chúng tôi không phải đổi ngược họ tên cha mẹ đặt, chúng tôi phải cúi đầu nhận là chúng tôi có tội với nhân dân, có tội với tổ quốc. Chúng tôi có một cái chung là:

    Một năm người có mười hai tháng
    Ta trọn đời ta Một Tháng Tư!

    Qua hai bài thơ tôi thấy: Năm 1970 ở Sài Gòn, Thanh Nam bốn mươi tuổi, anh thương tiếc tuổi hai mươi trong veo cặp mắt chưa vương bụi, chăn chiếu còn thơm ngát mộng trai.. Và than: “Tiếng bạc đời cha gieo đã lỡ. Chiều tà khôn gỡ nước cờ sai“. Để rồi bẩy năm sau, lưu lạc quê người bên kia đại dương, bên kia trái đất, Thanh Nam thấy những ngày, những tháng, những năm 1970, 1971 sống ở quê hương là đẹp tuyệt vời, anh lại tiếc, lại thương, anh không thấy tiếng bạc đời anh gieo đã lỡ mà anh thấy: “Canh bạc chưa chơi mà hết vốn. Cờ còn nước đánh phải đành thua…”

    Tôi quen Thanh Nam ở Sài Gòn, năm 1952. Những năm này có lúc anh sống với thi sĩ Trúc Giang (đã chết) ở đường Frère Louis, có lúc anh sống với Đại úy Nguyễn Ngọc Loan ở nhà Sách Á Châu của anh Nguyễn Bá Châu, đường Lê Lai. Những năm 1960 Thanh Nam chưa lập gia đình, tôi thường đến chơi với anh ở Bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng. Thời ấy Thanh Nam, Thái Thủy và Hoàng Thư là ba văn nghệ sĩ độc thân từng sống chung nhà với nhau, rồi cùng ở Bin-đinh Cửu Long. Hoàng Thư lấy vợ trước – khoảng năm 1960. Thái Thủy là người thứ hai rời bỏ Bin-đinh Cửu Long và đời sống trai độc thân – khoảng năm 1965. Thanh Nam cô đơn. Anh nói với tôi:

    – Tao sợ đêm đêm đi chơi về bin-đinh như đi vào nhà tù. Mở cửa vào phòng tao có cảm giác như chui vào xà-lim…

    Năm ấy chúng tôi chưa biết tù đày, nhà tù, sà lim là gì, chúng tôi chỉ mới nhìn thấy cảnh nhà tù trên màn ảnh xi-nê. Nhiều năm sau ở trong tù, tôi thấy lời Thanh Nam nói thật đúng. Hành lang bin-đinh Cửu Long chia đôi hai dẫy phòng, cửa phòng sơn mầu xám. Đêm hay ngày đi trong hành lang đó cũng như đi trong hành lang nhà tù. Căn phòng bin-đinh y hệt sà-lim. Rộng hơn, sạch hơn, dễ chịu hơn. Tất nhiên.

    Đó là lúc Thanh Nam thấy cô đơn, thấy chán đời sống trai già độc thân ở phòng bin-đinh, anh muốn có gia đình, vợ con.

    Thời ấy tôi có cái xe Jeep nhà banh – xe phế thải – có đêm thứ bẩy tôi chở Thanh Nam đi chơi. Chủ nhật mọi người nghỉ làm, nhà báo Sài Gòn Mới làm việc ngày chủ nhật để ra số báo ngày thứ hai nên ngày chủ nhật tôi phải đi làm. Đi chơi với Thanh Nam đến hai giờ sáng, tôi nói:

    – Thôi về. Tao về ngủ một lúc. Mai tao phải đi làm, tao có vợ..

    Anh nói:

    – Mày làm như cả Sài Gòn này chỉ có mày là thằng có vợ!

    Đâu phải cả Sài Gòn chỉ có tôi là có vợ! Đêm ấy tôi đi chơi với bạn suốt đêm. Năm, sáu năm sau – khoảng 1967, 1968 – khi Thanh Nam có vợ, một tối chúng tôi đi ăn cơm với nhau. Ăn xong, Trịnh Viết Thành chở chúng tôi đến Quang Minh Đỉnh trên chiếc xe Simca của anh. Thanh Nam giao hẹn:

    – Tao đi đến 10 giờ thôi.

    Mười giờ, cuộc vui đang vui, Thanh Nam đi về. Trịnh Viết Thành ngăn lại:

    – Ở lại chút nữa tao đưa về luôn…

    Thanh Nam cứ về. Về là phải, bởi vì ở lại thêm một lúc là hai, ba giờ sáng lúc nào không biết. Năm ấy quân đội Mỹ vào đầy Sài Gòn, xe taxi thiếu, trời lại mưa, Thanh Nam cứ xuống đường chờ xe về. Cả giờ sau chúng tôi từ Quang Minh Đỉnh xuống, anh vẫn còn đứng núp mưa bên gốc cây sao chờ xe. Nhìn Thanh Nam đứng đó tôi nhớ mấy năm trước tôi đi chơi với anh đến 2 giờ sáng, đòi về, anh nói:

    – Mày làm như cả Sài Gòn chỉ có mày là thằng có vợ!

    Một tối Ngọc Linh bán được tác phẩm tiểu thuyết, mời chúng tôi đi ăn ở nhà hàng Động Phát đường Hàm Nghi, Chợ Cũ. Năm đó là năm 1960. Bữa ăn có Thanh Nam, Nguyên Sa, Tô Kiều Ngân, Quốc Phong, Văn Quang, Phan Nghị, Thái Thủy và tôi. Trong bữa ăn chúng tôi nói linh tinh đến chuyện vợ bé, con riêng. Tôi nói:

    – Tao sẽ không bao giờ có vợ bé. Ông già tao không có vợ bé nên tao cũng không bao giờ có vợ bé.

    Văn Quang cười:

    – Nếu mày nói thế thì tao có quyền có vợ bé. Ông già tao nhiều vợ lắm..

    Tôi không hoạt bát, không linh lợi, không sắc xảo trong lời nói và khi đang cao hứng nói ra lời gì bị người khác nói ngược là tôi bị khựng. Tôi ngồi im. Một lúc sau khi các bạn tôi đã nói sang chuyện khác, tôi trở lại chuyện vợ bé:

    – Ê… Văn Quang… Trước đây mày có khổ vì ông già mày có vợ bé không? Nếu mày khổ thì bi giờ mày đừng làm cho các con mày khổ.

    Thanh Nam bảo tôi:

    – Làm cái gì mà mày cay cú thế? Mày mới có vợ đây, đã lâu la gì. Đừng nói trước. Tao thấy những thằng nói như mày là những thằng có vợ bé trước hơn ai hết…

    Buổi tối trong căn phòng riêng trên lầu nhà hàng Động Phát năm 1960, 1961. Bốn mươi năm trời đã qua đời tôi. Những ngày như lá, tháng như mây… Tôi thường quên những chuyện nhiều người cho là quan trọng, nhưng lại nhớ những chuyện nhiều người cho là không có gì đáng nhớ. Hôm nay trời mưa trên Rừng Phong, tôi viết chuyện xưa, tưởng nhớ, mến thương những người bạn tôi còn sống, đã chết, những người đã cùng sống thời hoa niên của tôi ở Sài Gòn – những năm 60 đời tôi thật đẹp – tôi tưởng như tôi đang nhìn thấy anh em chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn ăn tròn cao lâu Tầu đêm xưa ấy. Thanh Nam, Nguyên Sa đã chết, Tô Kiều Ngân, Văn Quang, Phan Nghị hiện ở Thành Hồ, Quốc Phong ở Pháp, Thái Thủy ở Cali. Chúng tôi mến thương nhau đến là chừng nào! Tình thương mến ấy vẫn còn đến hôm nay. Khi gần những người bạn xưa của tôi, tôi thấy thoải mái, bình yên. Vì tôi là bạn tôi, bạn tôi là tôi. Những cái tật của tôi là những tật của bạn tôi, và ngược lại.

    Tôi viết nhiều về những chuyện ngày xưa. Biết làm sao hơn được. Người viết thường viết ra những gì ở trong tim mình, trong óc mình. Trong tôi chỉ có những chuyện ngày xưa…

    (Còn tiếp)

  4. The Following 3 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    hoang yen (06-02-2019), KiwiTeTua (06-02-2019), Nguyen Huu Thien (06-05-2019)

  5. #3
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 1,960
    Thanks: 2,812
    Thanked 5,338 Times in 1,900 Posts

    Default Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (07)

    Ngày xửa, ngày xưa…

    Những năm 1940… trong thị xã Hà Đông nhỏ bé, hiền hòa, chú thiếu niên hai mươi mùa mít chín sau đó tự nhận là Công Tử Hà Đông được đọc lại hai câu thơ:

    Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
    Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

    Hai câu không nhớ của thi sĩ nào làm. Sau tìm và biết là của Xuân Diệu. Chú thấy ý thơ hay hay. Hai câu ấy ở mãi trong trí nhớ của chú.

    Bốn mươi mùa sầu riêng trổ bông sau đó, một người tù cải tạo ở trại Lao động Xã hội chủ nghĩa Z30A Xuân Lộc Đồng Nai được con lên thăm, đem cho quyển Anthology of English Poems do Đại học Oxford ấn hành. Tuyển tập thơ Anh dầy hai ngàn trang, hơn một ngàn bài thơ của Shakespeare, Shelly, John Donne, Robert Browing, Mary Elizabeth Coleridge. Trong tập thơ, người tù yêu thơ tìm thấy bài thơ The Call:

    Sound, sound the clarion, fill the file!
    Throughout the sensual world proclaim:
    One crowded hour of glorious life
    Is worth an age without a name.
    (Thomas Osbert Mordaunt)

    Đêm buồn nằm thao thức trong tù nghe tiếng gió vi vu thổi đến từ núi Chứa Chan, người tù cảm khái bèn mần thơ dịch:

    Tiếng gọi
    Kèn vang lên, trống nổi lên
    Lặng yên nghe – Tiếng loa truyền
    Sống một giờ quang vinh rực rỡ
    Hơn tầm thường trọn kiếp không tên!

    Như vậy là phải chăng năm sáu mươi mùa ổi chín trước đây, Xuân Diệu đã đọc bài tứ tuyệt The Call của T.O Mordaunt và lấy ý ra làm hai câu

    Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
    Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!

    Hai câu thơ làm người tù đi một đường cảm khái, nhớ lại cả một thời thơ ấu “ngày xưa còn bé”.

    Vèo trông lá rụng đầy sân,
    Công danh phù thế có ngần ấy thôi. (Tản Đà)

    Thấp thoáng đấy mà đã năm mươi mùa tu hú kêu trong những vườn vải đỏ. Còn nhớ như in những ngày Tháng Tám năm 1945 chú thiếu niên Hà Đông náo nức đi biểu tình giành độc lập, những ngày đi kháng chiến thật đẹp ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, gót chân liên lạc viên đi dưới núi Thiên Thai, qua cửa chùa Tiêu Sơn, Rừng Khế, nơi có lăng tẩm của các vị vua triều Lý ở trước làng Đình Bảng, từng sống trong thành Cổ Loa có giếng nước tục truyền được dùng để rửa ngọc trai thật tốt, từng sống trong làng Phù Đổng ven đê sông Đuống, quê hương của Thánh Gióng, những đêm mùa đông nước cạn, buộc quần áo lên đầu, ôm cây chuối bơi qua sông Đuống… Những năm xưa ấy, người tù Z30A “yêu mê” Việt Minh đến là chừng nào. Vật đổi sao dời, khi nón cối, dép râu, súng AK, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sài Gòn, chú thiếu niên năm xưa nay cùng không biết bao nhiêu người khác bị Bác và Đảng cho đi tù mút mùa Lệ Thủy.

    Đã cảm khái, người tù Z30A còn xúc động hơn khi đọc bài thơ Respice Finem của Francis Quarles. Đây là nguyên bản:

    My soul, sit thou a patient looker-on
    Judge not the play before the play is done
    Her plot hath many changes , every day
    Speaks a new scence, the last act crowns the play!

    Đêm cuối năm lạnh lẽo trong tù anh nằm dịch bài thơ ra tiếng nước anh.

    Vở tuồng đời
    Ôi hồn ta, ngồi yên mà coi
    Vở tuồng đời
    Đừng phê phán trước khi tuồng hết
    Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
    Tuồng đang diễn, làm sao ta biết
    Mỗi ngày qua là một đổi đời
    Chờ đến lúc coi xong màn kết
    Mới biết tuồng hay dở mà thôi.
    (Trại cải tạo Z30A, Tháng 10-1989)



    Nội quy nhà tù Xã hội chủ nghĩa áp dụng ở miền Nam có điều bắt buộc người tù phải gọi cai tù bằng cái tên chung là “cán bộ”, không có ông, anh, nhất là không có “đồng chí”, “đồng rận” gì ráo trọi. Ngược lại cai tù cộng sản gọi tất cả những người dân bị họ bỏ tù là anh, chị, dù cho anh, chị có bẩy bó, tám bó bằng tuổi ông bà nội ngoại họ.

    Vài anh tù lỡ lời gọi cai tù là “đồng chí”, liền bị các “đồng chí” cự:
    – Anh nói gì? Ai “đồng chí” mí anh? Bậy bạ…

    Nhưng Hà Huy Giáp, một trong số cán bộ lãnh đạo văn nghệ Đảng những năm 1975-85 lại ưu ái gọi một số văn nghệ sĩ Sài Gòn lơ láo đi dự cái gọi là “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị” năm 1976 ở Nhà Hát thành phố HCM là “đồng chí”. Số là Việt Cộng vào được Sài Gòn từ Ba Mươi tháng Tư năm 1975, nhưng mãi một niên sau – tháng 5 năm 1976 – họ mới nhân dịp cho cái gọi là Chánh phủ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đi chỗ khác chơi không xơi nước, phát động chiến dịch hỏi thăm sức khỏe văn nghệ sĩ Sài Gòn VNCH. Nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH lớn nhỏ được xe bông công an thành phố HCM đến tận nhà rước đi liền tù tì trong mấy ngày đêm đầu tháng Ba năm 1976.

    Xin kể tên những người bị bắt theo trí nhớ của tôi: Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh, Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Minh Vồ (chủ nhiệm Con Ong), Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên (Chú Tư Cầu), Anh Quân, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn (đạo diễn “Hai chuyến xe bông”) v.v… Nhiều không nhớ xiết.

    Các anh Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến, Uyên Thao, Văn Chi đã bị bắt từ trước. Tú Kếu Trần Đức Uyển bị bắt vì tội tham gia tổ chức chống Cộng ở Đà Lạt ngay cuối năm 1975, ra tòa, lãnh án tù 18 năm. Mai Thảo may mắn trốn thoát cuộc bắt bớ, ở ẩn đến hơn hai năm cho đến đêm xuống tàu vượt biển. Tử Vi ông này không có Sao Quả Tạ nên ổng không bị ở tù.

    Chiến dịch bắt bớ rầm rộ mấy ngày đêm đầu tháng, lai rai kéo dài mãi đến cuối tháng Ba năm 1976 mới chấm dứt. Không phải tất cả văn nghệ sĩ Sài Gòn đều bị bắt hết. Những người chưa bị bắt mặt mũi xanh xám không biết xe bông công an đến rước mình lúc nào. Tháng Năm năm 1976, cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng TPHCM tổ chức cái gọi là “Khóa Bồi dưỡng Chính trị” cho văn nghệ sĩ Sài Gòn “kẹt giỏ” hàng dân lơ láo ở Thành Hồ. Khóa Bồi Dưỡng Một có những văn nghệ sĩ thượng thặng của giới văn nghệ Sài Gòn đi dự: Thái Thanh, Hoài Bắc, Thẩm Thúy Hằng, Lê Trọng Nguyễn (Nắng Chiều), Lệ Hằng (Bản Tango Cuối Cùng), Nguyễn Thụy Long (Loan Mắt Nhung), Phạm Thiên Thư (Động Hoa Vàng) v.v…
    Khóa Bồi Dưỡng Một không được tổ chức linh đình, không nhiều người tham dự bằng Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai, Tháng Bẩy năm 1976. Khóa Hai có trên năm trăm khóa viên hăng hái và rầu rĩ đăng ký tham gia. Giới nghệ sĩ cải lương đông người nhất. Tất cả những anh em kéo màn, chạy đề-co – tức bầy dọn ngai vàng, bàn thờ Phật, bàn ghế, giường tủ trên sân khấu – những người bà con xa gần với bà Bầu, cô Đào v.v… đều là nghệ sĩ và đều tự thấy có quyền được dự khóa bồi dưỡng chính trị cho văn nghệ sĩ. Trong số 500 khóa viên có trên 300 mạng là nghệ sĩ cải lương, số 200 ngoe còn lại chia đều cho các tổ Thơ Văn, Điện ảnh, Tân nhạc, Cổ nhạc…

    Cái gọi là tổ Thơ Văn – tức tổ chấy của các anh ký giả, văn nghệ sĩ viết tiểu thuyết kiểu “phơi-ơ-tông” – là tổ “được” Cán Cộng chú ý nhất. Cán Cộng coi bộ môn sáng tác gồm những người tự mình chống cộng bằng tư tưởng, bằng tác phẩm của mình, không mượn tác phẩm hay ý tưởng của người khác. Cán Cộng không coi quan trọng lắm những người thuộc bộ môn trình diễn, tức là những người khi được giao vai trò chống Cộng thì chửi Cộng ra rít theo lời người khác, khi được giao đóng vai chửi Quốc gia thì lại mặt trơ trán bóng chửi bới Việt Nam Cộng Hòa ra trò.

    Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai được khai mạc ở Nhà Hát Thành Phố. Người khai mạc là Hà Huy Giáp. Người lãnh đạo văn nghệ của miền Bắc xã hội chủ nghĩa có nhiều người dân không đến nỗi chết đói mà chỉ đói đến chết, lại có thể hình béo tốt, hồng hào, mặt mũi, da dẻ láng bóng quá cỡ thợ mộc. Khi ban huấn từ “lãnh đạo” nói một câu xanh rờn:

    – Tôi gọi các bạn là “đồng chí” vì tất cả chúng ta đều chung chí nguyện: làm cho nước Việt Nam được giầu đẹp, làm cho nhân dân Việt Nam được ấm no…

    “Lãnh đạo” nói tiếp:

    – Khóa này được gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị vì những người tổ chức thấy các văn nghệ sĩ Sài Gòn có thành kiến, có ác cảm với hai tiếng “cải tạo”. Thực ra cải tạo chẳng có gì đáng sợ. Chúng ta phải tự cải tạo mỗi ngày để trở thành người tốt…

    Khóa học trong 21 ngày, khóa viên được bồi dưỡng sinh hoạt phí 1 đồng tiền Hồ mỗi ngày, được một lần cấp “nhu yếu phẩm”: nửa ký đường, hai hộp sữa, hai gói thuốc lá, một lạng bột ngọt. Được đớp hai bữa trưa ở Nhà Hát: bánh mì mỗi mạng một ổ, nước ngọt, bia gọi là bia hơi được đựng trong thùng phuy. Khóa nào muốn uống phải mang theo ca hoặc mượn ca của khóa khác.

    Những anh ký giả Sài Gòn trước đó một niên đã làm Ngày Ký Giả Đi Ăn Mày để bỉ mặt Tổng Thiệu, nay được dịp “ăn mày” thật sự. Ký giả là những người đói nhất trong giới văn nghệ sĩ bỏ nước chạy lấy người không kịp. Không phải anh em ký giả, văn nghệ sĩ Sài Gòn ta ngày xưa không kiếm được tiền. Anh em kiếm được nhưng tuyệt đại đa số anh em ăn chơi, tiêu hoang, kiếm được năm thì tiêu mười. Việt Cộng vào Sài Gòn, anh em đói đến không có cơm mà ăn, không phải chỉ đói phở, đói cơm sườn, đói giả cầy quán Bà Cả Đọi. Cùng dự khóa bồi dưỡng với kẻ viết bài này có Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang dịch giả Bố Già (The Godfather của Mario Puzo). Hôm được phát “nhu yếu phẩm” như vừa kể, người ta thấy vắng bóng Ngọc Thứ Lang ngay lập tức, rồi vắng bóng chàng suốt ngày hôm sau. Khóa viên không đến lớp vì còn bận tự “bồi dưỡng” bằng hai hộp sữa, nửa ký đường, hai gói thuốc, lạng bột ngọt. Chàng phát mại ngay những thứ không nhu yếu gì với đời sống của chàng để lấy tiền “choác”.

    Và Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai có Cô Khóa Mộng Tuyền. Tháng Bẩy năm 1976 ở Thành Hồ, Mộng Tuyền còn trẻ, đẹp. Ký giả đói, nhưng các em đào cải lương vẫn đông vàng, đông kim cang. Các em như Mộng Tuyền – bận bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc – phây phây đến lớp. Các em không đi xế hộp, nhưng các em cũng không đi xế đạp, các em đi học bằng xe xích lô.

    Sau Hà Huy Giáp ban huấn từ khai mạc, khóa bồi dưỡng có từng này vị lên lớp, mỗi vị một ngày:
    – Huy Cận nói về Thơ.
    – Chế Lan Viên nói về người nghệ sĩ đi theo Đảng.
    – Hoàng Trinh, lý thuyết gia văn nghệ nói về “Sự bế tắc văn học nghệ thuật của xã hội tư bản”.
    – Vũ Khiêu nói về văn nghệ chung chung…
    – Bẩy Lý, tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng lên lớp về “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin”.

    Huy Cận mập khỏe, nước da bánh mật, trông không có vẻ gì là người làm được những câu “Nắng chia nửa bãi chiều rồi. Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu…” Huy Cận nói đúng là nói vung xích chó, nói văng bọt mép. Ngoài việc khoe anh sung sướng, thoải mái mần thơ trong chế độ xã hội chủ nghĩa, anh còn khoe anh vẫn mần thơ tình, anh quả quyết chế độ xã hội chủ nghĩa không tiêu diệt thơ tình v.v… Chế Lan Viên yếu hơn Huy Cận về mọi mặt. Buổi nói chuyện của Chế Lan Viên được tổ chức ở rạp Olympic đường Hồng Thập Tự. Rạp không đủ đèn sáng. Chế Lan Viên ngồi bàn nói chuyện, đặt ly bia trên bàn. Mỗi lần diễn giả ghé mồm uống bia, micro bắt tiếng động làm người ta nghe thấy những tiếng
    “chụp choạp” rất xã hội chủ nghĩa.

    Vũ Khiêu – nghe nói tên thật là Đặng Vũ Khiêu – là anh nói dở nhất trong cả bọn. Vốn liếng học thức của anh chỉ đủ cho anh nói láp nháp được trong một giờ. Buổi lên lớp của anh kéo dài cả ngày. Buổi sáng anh nói được hai tiếng thì tạm nghỉ để đi giải lao và đi đé. Ngọc Thứ Lang nói ngay:

    – Thằng cha Vũ Khiêu này… hay chữ lỏng…

    Thành ngữ Bắc kỳ gọi những anh chữ nghĩa đựng không đầy cái lá mít nhưng thích ba hoa nói những chuyện văn học, nghệ thuật là những anh hay chữ lỏng. Vũ Khiêu thuộc loại “Bắc Kít Hay Chữ Lỏng” điển hình. Anh nói ba lăng nhăng về Kiều, ca tụng Từ Hải như đại anh hùng dân tộc. Người nghe dốt nát nhất cõi đời này cũng biết anh quên, hay anh cố tình quên, ông cố, bà sơ anh có câu dặn con cháu:

    Đàn ông chớ kể Phan Trần
    Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều.

    Văn học lý luận gia Mác-xít Vũ Khiêu tỏ ra “hay chữ lỏng” rõ ràng nhất ở câu chuyện anh kể về cái gọi là “tình đoàn kết thân thương cố hữu” của dân tộc Việt. Anh đưa chuyện ngày xưa có nhà kia năm đời sống chung một nhà đoàn tụ gia đình hòa hợp với nhau. Vua nghe tiếng tốt bèn đến thăm và ban cho gia đình một trái lê với ẩn ý thử xem gia đình này chia nhau ơn Vua ra sao. Nhà đông tới hai, ba trăm miệng ăn. Làm sao chia cho mỗi người một miếng lê nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng? Trưởng gia bèn nẩy ra sáng kiến kính cẩn cho trái lê vua ban vào nồi ba mươi nước sôi, pha như pha trà, mỗi mạng uống một ly nước. Thế là cả nhà ai cũng được hưởng lộc vua.

    Câu chuyện thuộc loại quân tử Tây gọi là “a-nết-đốt: – chuyện truyền khẩu, chuyện ngoài lề nghe chơi rồi bỏ – trái lê nấu nước chia nhau uống xưa như trái đất. Đó là chuyện xẩy ra dưới một đời vua nào đó bên Tầu, nếu người viết không lầm thì là đời vua Đường, vua Mật chi đó, nhưng người văn nghệ Mác-xít lại nói là chuyện xẩy ra đời vua Trần nước Việt.

    Các đàn anh dzăng nghệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên lớp chung cho 500 đàn em dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng báo, dzăng cơm, dzăng đủ thứ ở Thành Hồ tại Nhà Hát. Hôm sau, các khóa sinh trở về tổ mình thảo luận về đề tài đàn anh lên lớp hôm qua. Hướng dẫn viên Tổ Một Thi Văn Vũ Hạnh gọi việc này là “đèo seo…”, tức “đào sâu” vào đề tài. Thảo luận thêm, tham gia ý kiến của mình, thường là ca tụng: “…Hay quá, giúp cho người nghe có tư liệu chất lượng tốt để hiểu thêm về dân tộc, về dzăng nghệ v.v…”. Những cuộc thảo luận “đèo seo học hỏi” này có biên bản để nộp các lãnh đạo dzăng nghệ.

    Khi ấy, người viết bài này đã có ý định phát biểu mấy nhận xét để ghi vào biên bản gửi đến ông Vũ Khiêu Hay Chữ Lỏng. Đại khái:

    – Chuyện trái lê nấu nước chia nhau uống là chuyện người Tầu đời Đường, không phải chuyện xẩy ra đời nhà Trần nước ta. Nhận vơ không hay hướm gì và tôi nghĩ ta không cần nhận vơ. Khi ông nói trước cả trăm người Sài Gòn chúng tôi về chuyện đó, tôi thấy:
    – Nếu ông không biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu thì ông ngu quá.
    – Nếu ông biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu mà ông cho chúng tôi hổng biết, ông có nói đó là chuyện đời nhà Trần chúng tôi cũng mù tịt thì ông cũng… quá ngu.
    – Nếu ông biết chúng tôi cho việc ông nói chuyện trái lê nấu nước là chuyện người Việt là nói bậy mà ông vẫn cứ nói thì ông mặt trơ, trán bóng quá đỗi. Chúng tôi không có lời gì để đánh giá con người dzăng nghệ Mác-xít như ông.

    Nhưng… nghĩ vậy người viết bài này đã không nói ra. Tâm trạng anh Khóa bất đắc dĩ Tháng Bẩy năm 1976 đang đen hơn mõm chó mực. Các bạn anh đang ngồi rù trong tù, anh không bị bắt như anh em, vợ con anh không khổ nhục như vợ con anh em, anh vác bản mặt nhẵn hơn cái đũng quần lĩnh cô đầu đi dự
    “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị”, anh ngồi tễu mặt nghe Việt Cộng nó dậy dỗ nó chỉ bảo, anh không câm miệng, cúi mặt xuống, anh còn ọ ẹ bắt bẻ Việt Cộng nỗi gì.

    Nghe nói có lần nói chuyện xong Vũ Khiêu hỏi Đoàn Phú Tứ:

    – Anh thấy tôi nói ra sao?

    Đoàn Phú Tứ trả lời:

    – Anh nói thì con rắn ở trong lỗ cũng phải bò ra nghe. Nó bò ra nghe nhưng không thấy gì cả nó lại bò vào lỗ.

    Hoàng Trinh – nghe nói là sui gia với Trường Chinh – lên bục nói về “Sự bế tắc văn học nghệ thuật tư bản” nói chung và nói riêng về tình trạng tắc tị trong lãnh vực tiểu thuyết ở các nước Âu Mỹ.
    Hoàng Trinh nói dễ thôi. Các đàn anh lý thuyết văn nghệ Liên Xô ăn lương tháng viết vung xích chó cả ngàn bài nghiên cứu về văn học nghệ thuật tư sản – tư bản, các đàn em chỉ việc dịch và đọc. Tất nhiên là văn học nghệ thuật tư bản đồi trụy, thối nát, tắc nghẽn, cuồng dâm, ca tụng bạo lực, ăn bám, thối nát, đang rẫy chết và chết đến đít rồi. Chuyện tất nhiên khỏi cần nói thêm. Hoàng Trinh kể một tác phẩm kịch điển hình làm bằng chứng là “văn học nghệ thuật tư bản thối nát quá cỡ…”

    Vở kịch Hoàng Trinh đưa ra là vở Le Balcon của Jean Genet. Việc dùng kịch Le Balcon để đả kích văn nghệ tư sản cũng chẳng phải là sáng kiến của Hoàng Trinh. Đàn anh Nga Cộng viết, Hoàng Trinh chỉ việc nhai lại.

    Jean Genet là văn sĩ thuộc loại “thiên tài hắc ám, quỷ ám” của Pháp. Người Pháp có tiếng “maudit” chỉ loại người này. Ra đời năm 1911 ở Paris, bị mẹ bỏ rơi, được nuôi trong Viện Cô Nhi, năm 13 tuổi Jean Genet bị đưa đến Trại Trừng Giới, bỏ trốn, đi bụi đời, bị bắt nhiều lần vì các tội trộm cướp; năm 1948 phạm trọng tội bị án tù chung thân. Nhiều văn sĩ Pháp, trong đó có Jean-Paul Sartre, người vận động tích cực nhất, gửi kiến nghị thư lên Tổng thống Pháp xin ân xá cho Jean Genet, tác giả những tác phẩm Notre Dames Les Fleurs, Journal d’un voleur, Querelle, Miracle de la rose v.v… Jean Genet được ân xá, Jean Paul Sartre phong thánh cho Jean Genet, gọi Jean Genet là một thiên tài văn nghệ. Jean Genet qua đời năm 1986.

    Đây là lời Hoàng Trinh kể kịch Le Balcon:

    – Kịch xẩy ra trong một nhà ăn chơi ở thủ đô một quốc gia Âu Châu. Nhà ăn chơi này do một phụ nữ làm chủ. Khách chơi là bọn đàn ông giàu tiền có ẩn ức sinh lý, những anh muốn được làm đại tướng, chánh án, giáo chủ. Chị chủ nhà tổ chức những phiên tòa cho chánh án rởm xử, những trận đánh cho đại tướng rởm chỉ huy, những thánh lễ cho giáo chủ rởm hành lễ.

    Đêm ấy có cuộc nổi loạn nổ ra trong thủ đô. Anh Tổng Giám đốc Cảnh sát là tình nhân của chị Chủ Chứa. Anh đến cho mọi người trong nhà biết với lực lượng cảnh sát anh có thể dẹp được đám nổi loạn nhưng phiền một nỗi là Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Chưởng lý, Đại tướng, Giáo chủ v.v… nghe tiếng súng nổ và biết có loạn đã bỏ thủ đô phú lỉnh ra nước ngoài hết. Anh Xếp Phú lít than thở: “Phải chi bây giờ có Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Giáo chủ, Đại tướng… xuất hiện trên ban-công Hoàng cung cho nhân dân thấy thì nhân dân bỏ bọn nổi loạn ngay”.

    Chị Chủ nẩy ra sáng kiến:

    – Khó gì? Ở đây mình có đủ triều đình. Mình có ông Đuy Quốc Tô đây là Đại tướng, ông mần vai đại tướng quen rồi, ông còn oai phong hơn cả đại tướng thứ thiệt. Mình có ông Đờ Cốc Si Cốc đây là Chủ tịt Quốc hội, có ông Lơ Poan vẫn mần Giáo chủ hành lễ trang trọng. Ông Pip Pơ Lô đây đóng vai Chánh án đẹp lão nhất thế giới. Còn em. Em đóng vai Nữ hoàng? Được hông? Ai cũng nói trông em giống Nữ hoàng lắm. Người ta còn khen em đẹp hơn Nữ Hoàng năm bẩy thành…

    Và thế là (xin bạn đọc nhớ đây là lời kể của kép Hoàng Trinh ở Nhà Hát Thành Hồ tháng Bẩy năm 1976) kế hoạch được chấp thuận. Triều đình Nhà Thổ đủ mặt Nữ Hoàng, văn võ bá quan, lãnh đạo tôn giáo, tư pháp, lập pháp, quân đội, cảnh sát đàng hoàng xuất hiện. Nhân dân thấy triều đình vẫn vững như chum vại bèn bỏ rơi đám nổi loạn, tan hàng trở về nhà. Cuộc nổi loạn bị diệt thê thảm.

    – Đây chỉ là chuyện kịch thôi – lời Hoàng Trinh – nhưng xin quý bạn nhớ rằng bọn văn sĩ tư sản đồi trụy đã khinh khi tất cả những giá trị của xã hội. Nữ Hoàng của họ là chị chủ chứa, những nhà cầm quyền của họ là những tên đàn ông bệnh hoạn tâm-sinh lý. Không những bọn văn sĩ tư sản chỉ miệt thị những giá trị tư sản mà thôi, họ còn miệt thị cả nhân dân nữa. Nhân dân trong kịch Le Balcon được trình bày như một lớp người ngu đần chuyên bị đánh lừa và chỉ bị lợi dụng.

    Lý luận gia Mác-xít ăn theo Hoàng Trinh nhận “nhân dân” thuộc phe anh, bọn văn sĩ tư sản đồi trụy phỉ báng những nhân vật lãnh đạo tư sản thì anh cho là đúng, là được, nhưng khi văn sĩ tư sản miệt thị “nhân dân” thì anh phẫn nộ. Anh hằn học:

    – Jean Genet chửi cả “nhân dân”…

    Tất cả những gì xấu xa trên cõi đời này đều của phe tư sản, tất cả những gì tốt đẹp trên cõi đời này đều của phe cộng sản. Thái độ nhận vơ lố bịch ấy của những người cộng sản – thường được gọi là “vơ vào” – đã làm họ bị kê tủ đứng vào miệng khi Liên Xô, thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, phơi bầy những tội ác ghê rợn của cộng sản đối với loài người. Chuyện ấy chẳng cần phải nói nhiều hơn.

    Chi tiết cần ghi lại buổi nói chuyện của Hoàng Trinh khi anh ta nói:

    – Thưa quý bạn, Le Balcon kết thúc bằng câu nói của chị chủ nhà thổ. Khi cuộc nổi loạn đã bị dẹp, chị nói với cử tọa: “Kịch đến đây là hết. Trời sắp sáng. Mời quý vị trở về nhà. Xin quý vị nhớ cho rằng chẳng phải chỉ ở đây quý vị mới thấy kịch, mới đóng kịch. Ở bất cứ đâu cũng kịch mà thôi. Ở những nơi khác còn kịch cợm, còn giả dối hơn ở đây nữa”.

    Hoàng Trinh vừa nói đến câu “Ở đây kịch, ở đâu cũng kịch, kịch cả mà thôi” thì khựng lại vì tiếng vỗ tay ồ ạt nổi lên.

    Quý anh văn nghệ sĩ bộ môn Cải lương ngồi trên lầu Nhà Hát vỗ tay trước. Bọn chúng tôi vỗ theo. Tôi – thú thực vẫn không coi trọng quý anh cải lương lắm -nhưng tôi thán phục quý anh quá cỡ khi tôi dự Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai cùng quý anh và được thấy quý anh biểu diễn phản ứng tuyệt vời hai lần bằng những cái vỗ tay điệu nghệ thần sầu, quỷ khốc, nhân kinh, Cán Cộng ngẩn ngơ.

    Quý anh vỗ tay đây là vỗ tay hoan hô Jean Genet. Hổng phải quý anh vỗ tay hoan hô Kép Cộng Hoàng Trinh. Tất nhiên Jean Genet viết đã hay, quý anh sử dụng Jean Genet cũng tuyệt chiêu, bằng những tràng pháo tay ấy quý anh nói với bọn cán cộng:

    – Đúng. Kịch cả mà thôi. Chúng tôi đến đây xem các anh đóng kịch. Chúng tôi cũng đóng kịch với các anh.

    Nhưng quý anh nào đã nghĩ ra cách nói ấy đầu tiên? Quý anh bộ môn cải lương nào là người thứ nhất đã vỗ tay để cả nhà kịch chúng tôi bắt chước hôm ấy?

    Trong Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị tháng Bẩy năm 1976, quý anh cải lương không chỉ phát biểu bằng cách vỗ tay một lần, các anh vỗ tay hai lần. Lần nào tôi cũng thấy thán phục sự linh động, óc thông minh của quý anh.

    Hai mươi mốt ngày học xong, ngày bế mạc cũng được tổ chức linh đình ở Nhà Hát Lớn. Mỗi tổ cử một đại diện lên phát biểu cảm tưởng sau khóa học. Ông Nguyễn Hữu Ba đại diện tổ Cổ Nhạc lên máy.

    Tội nghiệp ông già Nguyễn Hữu Ba. Ông lên nói láp nháp vài câu là được rồi. Không ai, kể cả Cán Cộng, muốn ông nhiều lời. Ông nói dai quá. Đã nói dai, ông còn ngắc ngứ, vô duyên.

    Khi ông nói:

    – Đã bao nhiêu năm chúng ta ôm người đàn bà Phi Luật Tân và gọi bà ta bằng mẹ… Bi giờ đã đến lúc chúng ta trở về với bà mẹ Việt Nam đích thật của chúng ta…

    Ý ông Nguyễn Hữu Ba muốn nói bao nhiêu năm nay bọn đàn địch Sègoòng vẫn ôm cây ghi-ta ét-ba-nhon mà coi đó là đàn của mình, nay nhờ Bác và Đảng cho sáng mắt, sáng lòng, hãy trở về với cây đàn cò…

    Một lần nữa phải nói “Tội nghiệp…” bọn đàn địch Sègoòng có bao giờ nhận những cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon, ha-uây-iên, vi-ô-lông là đàn Việt Nam đâu. Bọn đàn đúm cũng chẳng bao giờ ôm một người đàn bà Phi Luật Tân mà gọi là mẹ. Khi ông Nguyễn Hữu Ba nói đến bà mẹ Việt Nam bị các con yêu bỏ rơi, bỏ quên, bỏ xó, có vẻ xúc động, ông ngừng lại.

    Ông Ba vừa ngừng lại thì tiếng vỗ tay nổi lên từ trên lầu Nhà Hát. Một lần nữa, lại quý anh cải lương Sègoòng vỗ tay… đuổi. Ông Ba ngẩn người, ông chờ tiếng vỗ tay ngừng để tiếp tục nói. Nhưng những người vỗ tay không chịu ngừng. Ông Nguyễn Hữu Ba còn đứng đó, họ còn vỗ tay. Cuối cùng đương sự phải chịu nhận mình bị đuổi và cúi đầu đi xuống.

    Quân tử Tầu có câu: “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn”. Người viết bài này cảm khái thêm câu: “Tiểu nhân ca tụng hai mươi năm chưa muộn”.

    Tháng Bẩy năm 1976, tháng Mười năm 1995. Hai mươi mùa lá rụng đã rơi trên đường đời của chúng ta. Sáng nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình Nhân, tôi ca tụng quý anh nghệ sĩ cải lương Sài Gòn ta. Tôi thán phục hai lần vỗ tay tuyệt vời của quý anh tháng ấy, năm ấy.

    Chúng ta đã thấy những trò, những cảnh ruồi bâu kiến đậu trong cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chúng ta tham dự ở Thành Hồ. Nhiều anh chị em bị buộc phải lên micro phát biểu đã tránh né, đàng hoàng, rất khéo như Ngọc Chánh, Bạch Tuyết… Nhiều anh chị em lên nhận mình “mắt mù, tai điếc, nay may mắn được Đảng cho sáng mắt sáng lòng” làm chúng ta tủi hổ. Nhưng thôi, chúng ta nên quên. Tết đến, ngày xuân, năm mới. Ở xứ người chúng ta nên vui vẻ, thương yêu nhau. Tôi không bới móc tội lỗi của người khác để tội lỗi của tôi không bị người khác bới móc.

    Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ,
    Vai kép tuồng kia vẫn diễu hoài.

    Thơ Thanh Nam, Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi, làm ở Sài Gòn năm 1970. Và đây là thơ Francis Quarles:

    Ôi hồn ta, ngồi yên mà coi
    Vở tuồng đời
    Đừng phê phán trước khi tuồng hết
    Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười.

    Thi sĩ khuyên ngồi yên mà coi. Nhưng làm sao ta ngồi yên mà coi được? Ta không phải khán giả ngồi xem vở tuồng đời. Ta là một nhân vật trong vở tuồng ấy, ta bị quay cuồng, ta khóc, ta cười trên sân khấu Đời ấy. Nếu nói được như chị chủ Le Balcon: “Kịch cả mà thôi. Giả hết”, chắc ta có thể thản nhiên sống trong vở tuồng đời. Khổ nỗi, đôi khi ta không thể đóng kịch, ta không giả dối được. Vì không đóng kịch được nên đôi khi ta bị roi đời quất hằn trên mặt. Song cuối cùng tôi thấy, khi ta bị hổ nhục ta thấy hổ nhục, còn khá hơn là khi bị hổ nhục mà ta vẫn nhơn nhơn mặt trơ, trán bóng cho là không có gì để phải nhục nhã.

    Tôi hổ thẹn khi phải vác mặt mo đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Có hôm xớ rớ trong hành lang Nhà Hát Lớn, thấy Lệ Thu đi đến, tôi không dám để nàng nhìn thấy mặt. Lẽ ra tôi phải hỏi thăm Lệ Thu về Hồng Dương, bạn tôi đang ở trong tù: “Ở đâu có biết không? Sức khỏe ra sao? Gửi đồ tiếp tế thế nào? Có tin gì gửi ra không? Có được gặp mặt không v.v…?”. Thay vì hỏi Lệ Thu những câu ấy, tôi xấu hổ nên quay mặt đi hướng khác.

    Ngày bế mạc khóa học được tổ chức ở Nhà Hát Lớn, tôi là người được anh chị em Tổ Thi Văn bầu làm đại diện Tổ, sẽ lên nói cảm tưởng sau khóa học. Nhưng đến phút cuối cùng những người tổ chức không cho tôi lên nói, tôi bị bất ngờ và tôi cũng sợ nên tôi ngồi im. Nếu tôi không ngán sợ, lúc ấy lẽ ra tôi phải đứng lên phản đối: “Tôi là đại diện Tổ. Sao không cho tôi lên nói mà lại để người khác nói?” Lẽ ra tôi phải làm như thế rồi bỏ ra về.

    Tan hàng lúc 5 giờ chiều. Tôi u uất đến độ không muốn đạp xe về căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Tôi đến nhà ông anh kết ngãi với tôi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi tôi:

    – Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

    Tôi rầu rĩ trả lời:

    – Hôm nay tôi đi xem một số người tự bốc phân vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên phân văng cả sang mặt tôi.

    Hai anh An Khê Nguyễn Bính Thinh, tác giả tiểu thuyết Hai Chuyến Xe Bông, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già (The Godfather), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago), cùng dự Khóa Bồi Dưỡng với tôi, đã qua đời. Anh An Khê mất ở Pháp, Ngọc Thứ Lang chết ở trong trại cải tạo Phú Khánh, Tú Kếu bị bệnh Quên, vẫn sống ở Đà Lạt. Nhiều bạn đồng khóa với tôi hiện sống ở Hoa Kỳ: Lệ Thu, Ngọc Minh, Băng Châu, Ngọc Chánh v.v…

    Nhân vật Đảng Ủy quan trọng nhất phát biểu kết thúc Ngày bế mạc Khóa Bồi Dưỡng là “đồng chí thành quỷ” Tư Tân (người Sài Gòn gọi “Thành Ủy” là “Thành Quỷ”). “Đồng chí thành quỷ” Tư Tân tức Trần Trọng Tân, người năm 1994 giữ chức vụ chính trị lãnh đạo cao nhất, nhì, ba ở Thành Hồ. Trần Trọng Đăng Đàn là em Tư Tân, viết quyển “Kết án văn nghệ đồi trụy, phản động Sài Gòn”. Quyển này kê khai đầy đủ tên cúng cơm, tên tác phẩm của những người viết Sài Gòn bị cấm đoán. Năm 1976 rất nhiều người đến Nhà hát Thành Phố dự lễ Bế mạc Khóa học Bồi dưỡng Chính trị còn khá trẻ. “Đồng chí” Tư Tân năm ấy cũng chưa già.

    Năm 1994, đọc trong Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín tôi thấy mấy dòng: “…Người dân Quảng Bình, ai còn lạ gì những việc làm của anh em ông Trần Trọng Tân trong thời quân Nhật làm chủ Quảng Bình…”

    Không rõ ràng lắm nhưng người đọc dù kém thông minh cũng có thể hiểu: “Đại tá” Bùi Tín tố cáo “Đồng chí Thành ủy” Trần Trọng Tân và người em trai làm mật thám, làm tay sai, làm chó săn cho Nhật.
    Kể từ khi đọc những dòng ấy về anh em “đồng chí thành quỷ” Trần Trọng Tân, mỗi lần nhìn thấy bộ mặt nghiêm trọng của “đồng chí thành quỷ” trên Tivi tôi lại cứ tủm tỉm, lỉm rỉm cười một mình…

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (08)



    Sống ở Mỹ, ăn gạo Thái, nhớ, nghĩ, nói, kể, và ân hận, tiếc thương toàn chuyện Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bị tiêu vong. Đã hai mươi sáu năm rồi còn gì? Sao không quên đi mà sống? Sao cứ nhớ mãi, cứ nhắc hoài? Bao nhiêu người mất nước đâu phải mình anh, người ta có nhớ thương đâu? Trở thành công dân cường quốc số một thế giới, người ta ăn mừng, người ta chúc mừng nhau không còn là dân Việt nữa, người ta hớn hở vì đã là “a-mơ-ri-cân si-ti-zhân”, người ta nói: “Công-grê-tu-lê-shơn!”
    Nhưng đâu có phải hai triệu người Việt lưu vong, lưu đầy ở bốn phương trời hải ngoại đều quên nước cũ, quên hận cũ, đều hãnh diện được làm công dân những nước khác! Cũng còn nhiều người mỗi năm Ngày Ba Mươi Tháng Tư đến vẫn thấy đau nhói trong tim, vẫn thấy mình là người lính vừa thua trận, nằm giữa sa trường nát gió mưa, nhắm mắt không quên đời chiến sĩ, làm thân cây cỏ nát ven bờ, vẫn đêm đêm bàng hoàng, đau đớn nghe từ đáy hồn thương tích, vẳng tiếng kèn truy điệu nước xưa…
    Hôm nay hai mươi sáu năm trước, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu – Tổng Thống thứ hai và cũng là Tổng Thống cuối cùng – của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bỏ chức, bỏ nước, cùng thê tử, thủ hạ, chạy ra ngoại quốc, mở màn cho cuộc bỏ chạy tán loạn “vĩ đại” nhất lịch sử dân tộc. Nói theo ngôn từ Tầu Cộng, đây là cuộc bỏ chạy tập thể, cuộc bỏ chạy cả nước. Ngày nào đi lính đánh Cộng sản dân Việt còn hò nhau: “Một-Hai-Ba… Chúng ta đi lính cả làng…”, trong cuộc bỏ chạy cỡ quốc gia này không có “một-hai-ba…” gì cả, mạnh thằng nào thằng ấy chạy; chạy từ anh Tổng Thống đến ông tống thư văn, chạy từ chú đại tướng đến ông binh nhì…! Chúng ta bỏ chạy cả nước. Bỏ chạy tán loạn và khiếp đảm đến như thế, ta còn mặt mũi nào ngước mặt lên nhìn thẳng vào mặt ai.
    Chuyện cũ kể thêm buồn, nhưng cứ phải kể. Năm 1992 ở Thành Hồ, một số anh em chúng tôi gặp nhau trong tiệc cưới con trai Thanh Thương Hoàng. Năm ấy anh em chúng tôi còn sống ở Thành Hồ là Mặc Thu, Như Phong (Lê Văn Tiến), Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Văn Quang, Dạ Lan, Thái Thủy, Uyên Thao, Nguyễn Đình Toàn, Hồ Nam, Vân Sơn, Cao Nguyên Lang, Nguyễn Thụy Long, Chóe (Nguyễn Hải Chí), Thế Phong, Hoàng Hương Trang v.v… Năm ấy, đời sống của anh em chúng tôi không còn đói rách, cơ cực quá đỗi như những năm 80. Đi ăn cưới con cháu, nhiều người trong chúng tôi bận com-lê, vét-tông, anh nào lè phè lắm cũng có cái ca-vát, nhiều người đi xế Honda. Trong tiệc tôi gặp anh Nhữ Văn Úy.
    Bạn hẳn còn nhớ Dân Biểu Nhữ Văn Úy chứ? Quên ai thì quên, ta khó quên anh dân biểu thước mốt này. Anh Thổ Hành Tôn bỏ nước chạy lấy người thoát thân trước ngày 30 Tháng Tư 75. Nghe nói khi mới sang đảo Guam, anh là một trong số những kẻ đầu têu ra chuyện đòi trở về nước, nhưng trong số người trở về trên tầu Việt Nam Thương Tín năm xưa ấy lại không có anh. Anh sống nhờ ở Pháp, và anh trở về làm thương mại ở Thành Hồ. Tôi hỏi anh:
    – Anh này đã chạy được rồi còn về đây làm gì?
    Không trả lời câu hỏi của tôi, anh ta nói:
    – Anh mà chạy được như tôi, anh cũng chạy khác gì tôi…
    Héng nói đúng. Tôi chạy không được, không phải tôi không muốn chạy, không phải tôi muốn ở lại chịu đau khổ với nhân dân. Không để cho tôi nói đến câu thứ hai, héng phú lỉnh luôn.
    Những ngày Tháng Ba, Tháng Tư đen hơn mõm chó năm 1975 tôi là nhân viên Sở Thông Tin Hoa Kỳ (tiếng Mỹ là Iu-dzít: USIS). Tôi ở trong ban biên tập tờ Triển Vọng, tạp chí của USIS. Năm 1972, sau khi ký hòa ước với Việt Cộng để rút quân Mỹ ra khỏi chiến trường Viêït Nam, chánh phủ Hoa Kỳ dẹp bỏ hai cơ sở truyền thông từng tuyên truyền chống Cộng sản là Đài Phát Thanh Tiếng Nói Tự Do và tờ tạp chí Thế Giới Tự Do. Họ mở đài phát thanh mới là Đài Mẹ Việt Nam; tờ Thế Giới Tự Do được thay bằng tờ Triển Vọng. Tạp chí Triển Vọng không tuyên truyền chiến tranh chống Cộng, báo chỉ có những bài quảng bá văn minh, văn hóa, kỹ thuật Hoa Kỳ và lối sống của dân Hoa Kỳ.
    Trong những ngày dầu sôi, lửa bỏng giữa Tháng Tư 1975, tất cả nhân viên Mỹ trong USIS đã về nước hết, ở lại Sài Gòn chỉ còn bốn người: Giám Đốc, Phó Giám Đốc, Trưởng Phòng Nhân Viên, Trưởng Phòng An Ninh.
    Giám Đốc USIS Alan Carter (ông này hiện còn sống, vẫn làm việc trong chính phủ Mỹ) mỗi chiều sau khi đi họp bên Tòa Đại Sứ về, thường họp một số nhân viên USIS để phổ biến tình hình. Trong một buổi họp ấy, nhân viên Việt USIS hỏi ông về việc chính phủ Mỹ có đưa nhân viên Việt USIS đi khỏi nước không, Giám Đốc Carter trả lời:
    – Vấn đề ấy chưa được đặt ra. Lúc này Việt Nam Cộng Hoà như cái nhà có nguy cơ sụp đổ, nhiều người đang ra sức chống giữ cho nhà không bị đổ. Nay nếu chúng tôi đưa tay vào kéo các anh ra khỏi nhà, những người kia sẽ buông tay, nhà sẽ đổ luôn.
    Chúng tôi gặng hỏi:
    – Nhưng khi Việt Cộng sắp vào Sài Gòn, các ông có đưa chúng tôi đi không?
    Carter vẫn tránh né:
    – Tôi không thể trả lời câu hỏi đó. Bởi vì nếu tôi nói khi Sài Gòn sắp mất, khi ViXi sắp vào Sài Gòn, chúng tôi sẽ đưa các anh đi, các anh sẽ nói với vợ con các anh là người Mỹ sẽ đưa nhân viên Sở Mỹ đi. Việc đó sẽ gây tai hại.
    Một chiều lúc năm giờ, đi họp bên Tòa Đại Sứ về, Carter cho gọi chúng tôi đến phòng họp. Tôi thấy ông có vẻ xúc động, ông đứng lên để nói:
    – Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ quyết định đưa các anh, chị và gia đình ra khỏi nước. Các anh, chị ghi lại quy định này để phổ biến cho đồng nghiệp của các anh, chị: Các anh, chị được đem theo vợ, chồng, cha mẹ chồng, cha mẹ vợ, các con anh, chị. Con trai phải dưới 17 tuổi, con gái phải dưới 21 tuổi mới được theo bố mẹ…
    Tối hôm đó, ông Thiệu và gia đình đi khỏi Việt Nam. Ngày 25 Tháng Tư chuyến di tản nhân viên USIS thứ nhất lên xe buýt vào phi trường Tân Sơn Nhất. Mỗi ngày USIS chỉ một lần đưa nhân viên vào Tân Sơn Nhất. Người đi được Giám Đốc Carter chọn trong danh sách. Chỉ có chưa đầy ba phần mười nhân viên USIS đi thoát, vì chuyến đầu đi ngày 25-4, đến chiều ngày 28-4 phi trường Tân Sơn Nhất bị đánh bom, những chuyến phi cơ từ Guam bay sang ngừng lại, cuộc di tản bằng hàng không đứt ngang.
    Ngày 29-4-75, Sài Gòn náo loạn như tổ kiến vỡ, phi cơ trực thăng Mỹ bay vần vũ trên trời Sài Gòn từ trưa qua suốt đêm:
    Đùng đùng gió giục, mây vần
    Trực thăng trong cõi hồng trần như bay…
    Mãi sau tôi mới biết Tòa Đại Sứ Mỹ dự định đưa nhân viên Việt đi từ từ và đều đều cho đến ngày 15 Tháng Năm mới chấm dứt cuộc di tản, nhưng quân Bắc Việt Cộng vào Sài Gòn quá nhanh. Lại thêm chính phủ Vũ Văn Mẫu yêu cầu: “Tất cả người Mỹ phải đi khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ”. Người Mỹ phải cuốn cờ lên trực thăng. Những ngày đêm tuyệt vọng kéo dài, khi nghe một anh bạn USIS nói “Mỹ nó không có ý đưa bọn mình đi”, tôi nghĩ dù đi được hay không tôi vẫn cám ơn Giám Đốc Alan Carter. Trong một cuộc họp giữa ông và chúng tôi vào chiều 23-4 hay 24-4-75, tôi hỏi Carter:
    – Các ông ra điều kiện con trai chúng tôi phải dưới 17 tuổi, con gái chúng tôi phải dưới 21 tuổi mới được đi theo chúng tôi. Đa số chúng tôi có con trai trên 17 tuổi, phải bỏ con lại, làm sao chúng tôi đi được?
    Carter nói:
    – Những điều kiện đó là do chính phủ của các anh đưa ra, không phải do chúng tôi. Chúng tôi muốn thực hiện một cuộc di tản đại qui mô, chúng tôi phải làm theo pháp luật. Nhưng… anh nói con trai anh 16 tuổi mà tôi nhìn nó như ông này (Carter nhìn ông bạn đồng nghiệp của tôi) tôi cũng không biết, tôi không phải nhà nhân diện học, tôi chỉ biết anh nói với tôi con anh 16 tuổi; anh nói con gái anh 20 tuổi mà tôi thấy nó như bà bạn đồng nghiệp của anh đây, tôi cũng không biết, tôi chỉ biết anh nói với tôi con gái anh 20 tuổi…
    Hai mươi sáu Tháng Tư đến, hai mươi sáu Tháng Tư đi, biết bao vật đổi, sao dời, bao nhiêu dâu biển, tôi vẫn không quên lời nói của Giám Đốc USIS Alan Carter chiều xưa ấy, tôi vẫn nhớ nét mặt ông khi ông nhìn tôi, tôi thấy rõ ông muốn thầm nói với tôi:
    – Sao anh ngu quá. Anh cứ khai trên danh sách con trai anh 16 tuổi là chúng tôi để nó đi theo anh, chúng tôi có đòi anh chứng minh con anh 16 tuổi đâu.



    Nhưng thôi, tôi không kể chuyện ta bỏ nước chạy lấy người nữa. Tôi nghĩ đây là lần cuối cùng tôi viết về Ngày Ba Mươi Tháng Tư 1975. Sang năm, Tháng Tư năm 2002, tôi muốn viết những chuyện gì khác chuyện Tháng Tư 1975. Tôi thấy tôi phải viết thêm. Viết “tất cả quân dân ta bỏ chạy trong Tháng Tư 1975” là không đúng. Trên các mặt trận tháng ấy, năm ấy, nhiều chiến sĩ của ta vẫn chiến đấu trong vô vọng, vẫn anh dũng đứng thẳng trước quân địch; nhiều người lấy cái chết đền nợ nước. Chiến sĩ ta chết trên khắp nước, đến ba, bốn giờ chiều Ngày Ba Mươi Tháng Tư 1975 vẫn còn những chiến sĩ ta anh dũng chết trên những đường phố Sài Gòn.
    Nhưng đốn mạt là bọn năm, ba tên Sài Gòn, vào lúc 4 giờ chiều ngày 30-4, chạy đến đài phát thanh phừng phưng ca hát chào mừng quân Cộng sản xâm lăng vào Sài Gòn. Đây là những tên mà người dân Sài Gòn bị chiếm đóng gọi là bọn “Cách Mạng Ba Mươi”. Bọn ca hát ở đài phát thanh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa chào mừng Cộng sản xâm lăng buổi chiều ngày 30 Tháng Tư 1975 là những tên Cách Mạng Ba Mươi thứ nhất ló mặt ở Sài Gòn sau khi quân Bắc Việt Cộng kéo vào Sài Gòn. Bọn Cách Mạng Ba Mươi là những tên xun xoe bám đít bọn Cộng sản. Nhân dân Việt Nam Cộng Hòa thù và khinh những tên Cách Mạng Ba Mươi. Nhân dân có câu:
    “Công an, bộ đội còn tha
    Ba Mươi giết hết, lột da đóng giày“.
    Sụp đổ tan tành, tủi nhục, tù tội, đói khổ, bị cướp đoạt hết, sống trong đen tối, tuyệt vọng, người dân Việt Nam Cộng Hòa vẫn mơ có ngày quân ta trở về, vẫn ước ao ngày ta lại làm chủ đất nước, ngày ấy ta có thể tha chết cho những tên công an, bộ đội cộng sản bị ta bắt sống nhưng ta sẽ không tha chết cho những thằng Cách Mạng Ba Mươi – những thằng vẫn ở trong phe ta, những thằng khi thấy ta thua, ta ngã, chạy ra xun xoe vẫy đuôi chào đón bọn chủ mới.
    Ôi… giấc mơ quân ta trở về, ta lại làm chủ đất nước, đất nước lại của ta, khi ấy dù Thiệu, dù Kỳ, dù Khánh… dù gì cũng được, miễn là phe ta…
    Than ôi… Giấc mơ ấy không bao giờ đến. Bọn Cộng sản vẫn làm chủ Sài Gòn, bọn Cách Mạng Ba Mươi vẫn nhơn nhơn sống và chết, ta chỉ có thể lột da bọn Cách Mạng Ba Mươi trong những giấc mơ sầu muộn của ta…
    Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã nghe danh từ “cách mạng” bị dùng bậy từ những năm 1963, 1964, khi đám tướng lãnh làm đảo chính tự nhận họ “làm cách mạng”. Năm 1975, người dân Việt Nam Cộng Hòa bị nghe tiếng “cách mạng” suốt ngày đêm và bị ám ảnh đến phát điên vì tiếng “cách mạng”. Họ gọi những tên tự nguyện nhẩy ra phục vụ đám chủ mới là bọn “Cách Mạng Ba Mươi”.
    “Cách Mạng Ba Mươi”, vì chỉ sau ngày 30 Tháng Tư 75 người ta mới thấy bọn đốn mạt này chường mặt. Trước ngày đó chúng là những người dân Việt Nam Cộng Hòa như mọi người. Hai việc làm chính mà bọn Cách Mạng Ba Mươi làm để phục vụ Việt Cộng trong những tháng đầu Việt Cộng mới làm chủ Sài Gòn là việc: chỉ điểm và dắt lính Việt Cộng đi chiếm những ngôi nhà mà chủ nhà đã chạy ra nước ngoài, chỉ chọc cho Việt Cộng bắt những người không chịu theo lệnh trình diện cải tạo, những người bị Việt Cộng kết tội là “có nợ máu với nhân dân”.
    Tôi đã viết về bọn Cách Mạng Ba Mươi năm 1995, vài tháng sau khi tôi bánh xe lãng tử đến Kỳ Hoa Đất Trích. Dưới đây là đoạn trích trong “Biệt Kích Cầm Bút” của tôi do nhà xuất bản Làng Văn ấn hành. Tôi viết loạt bài này trong những tháng đầu năm 1995, đăng trên tờ bán nguyệt san Ngày Nay, ấn hành ở Houston, Texas:
    “Tôi nghĩ ta không nên vu cho Việt Cộng nhiều tội ác hơn là những tội ác họ đã làm với đồng bào của họ. Việt Cộng, nón cối, giép râu, AK, răng cải mả, lính cái, nữ cán tóc bím đuôi sam kiểu Tầu Mãn Thanh, mông đít to như cái thúng, ngơ ngáo kéo nhau vào Sài Gòn như đàn bò vào thành phố ba triệu dân mà, trong số cả ngàn văn nghệ sĩ đủ loại, đủ bộ môn, chỉ có ba anh… Xin lỗi, tính lại chỉ có bốn anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Vũ Hạnh và Thái Bạch là bốn người quen sơ sơ. Ký giả Thái Bạch, thường được gọi là Thái Bịch, mặt mũi khó đăm đăm, trước 30 Tháng Tư 1975 ngồi xào nấu tin lô-can, tin xe cán chó, tin người đánh nhau được gọi là tin “Từ thành đến tỉnh” trong tòa soạn nhật báo Xây Dựng của Linh mục Thiên Hổ Nguyễn Quang Lãm ở đường Thánh Mẫu, Ngã Ba Ông Tạ nổi tiếng về mục Cờ Tây. Thái Bạch làm văn nghệ từ lâu lắm, là tác giả quyển “Thi Văn Quốc Cấm thời Pháp thuộc“. Quyển này được tái bản ở Hoa Kỳ.
    “Công tử Hà Đông nhấn nút linh tử bộ nhớ xem lại vài cảnh bỏ nước chạy lấy người thê thảm hai mươi mốt mùa cô hồn Tháng Tư năm xưa. Phải nói là ngày ấy, tháng ấy, năm ấy Công tử gà què kẹt giỏ chạy không kịp chứ không phải là không muốn chạy.
    “Từ trưa ngày 29 Tháng Tư trực thăng Mẽo bay vần vũ trên trời Sài Gòn, tiếng máy bay quần thảo suốt đêm. Tảng sáng Ba Mươi, trực thăng Mỹ vắng bóng trên thành phố đầu hàng. 11 giờ trưa “Toỏng Thoóng” Dương Văn Minh đọc lệnh buông súng trên ra-dzô, những người lính Việt Nam Cộng Hòa bại trận, buông súng, vừa đi vừa khóc trên hè phố. Đường phố Sài Gòn náo loạn, người ta chạy lên, chạy xuống như kiến vỡ tổ. Bốn giờ chiều có anh nào đó tên là Tòng – Nguyễn hay Lê Văn Tòng – cùng vài anh nữa hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” chào mừng Bắc Việt Cộng trên đài phát thanh.
    “Năm, sáu, bẩy, tám, chín, mười ngày sau, một số ký giả nhanh chân chạy đến “trình diện” ở Câu Lạc Bộ Báo Chí đường Lê Lợi. Ở đây có một anh cán bộ nào đó tên là Kỳ Nhân cấp cho đám ký giả Sài Gòn nhanh chân chạy đến với chủ mới những giấy chứng nhận “có đến trình diện” ký tên Kỳ Nhân. Ít ngày sau, anh Kỳ Nhân này mất tích. Nhiều ký giả nói với nhau: “Không biết thằng Kỳ Nhân là thằng nào. Có lẽ tên nó là Kỳ Nhông thì đúng hơn…”
    “Bọn Văn Nghệ Giải Phóng Miền Nam chiếm tòa Đại sứ Đại Hàn ở đường Nguyễn Du (nghe nói nhà này nguyên là nhà của ông Nguyễn Hữu Hào, ông Quốc cữu thời vua Bảo Đại). Văn nghệ sĩ Sài Gòn kẹt giỏ bảo nhau đến đó “trình diện cách mạng”.
    “Thực ra Việt Cộng nó chỉ ra lệnh và kêu gọi các sĩ quan, cảnh sát, công chức và đặc biệt là quý ông bác sĩ, giáo viên, nhân viên bệnh viện v.v… đi trình diện ở nhiệm sở thôi. Mới vào được Sài Gòn, Việt Cộng đang có quá nhiều việc rối tinh, rối mù. Họ không ngờ họ chiếm được “Sài Gòn đẹp quá Sài Gòn ơi” dễ và nhanh ngon lành đến thế, hai là họ chẳng thèm để ý, để tứ, để mắt, để mũi gì đến đám văn nghệ sĩ Sài Gòn nên họ hổng có kêu gọi mấy anh đi “trình diện, trình mạo” chi ráo trọi. Mấy ảnh sợ và mấy ảnh tưởng bở, mấy ảnh nghĩ “đi trình diện là tốt”, nên mấy ảnh lơ láo đến Tòa Đại sứ Đại Hàn nay đã đổi chủ. Công tử Hà Đông cũng đến đấy.
    “Đến đấy mấy ảnh gặp ký giả Thái Bịch. Bộ mặt Thái Bịch những ngày Việt Nam Cộng Hòa còn hùng mạnh trông đã khó thương, nay cờ đỏ sao vàng đầy thành phố, bộ mặt ấy trông lại càng ghê rợn. Ký giả nhà ta lúc thì mặt lạnh như tiền, lúc thì hòa nhã với cái vẻ cố ý để cho những kẻ đến gặp anh biết anh muốn nói với họ: “Bi giờ ngươi đã biết Thái Bịch này chưa?”
    “Để chứng tỏ mình không phải là thường dân, mình là chiến sĩ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mấy anh Cách Mạng Ba Mươi chạy cờ, chạy hiệu, chạy bàn thường đeo cái băng đỏ ở cánh tay. Đặc biệt Ký giả Thái Bịch đeo sề sệ một khẩu Côn Đui bên hông. Ký giả Thái Bịch nhờ ơn Bác, Đảng, được hạnh phúc đeo Côn Đui (hay Côn Bạt, súng Mỹ) liên tục dễ đến hơn cả tháng. Vài tháng sau, Việt Cộng tổ chức lại, đem cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng về tòa nhà Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa, ngã tư đường Trương Minh Giảng-Tú Xương. Bộ mặt hãm tài của ký giả Thái Bịch không còn xuất hiện nữa”. (Trích “Biệt Kích Cầm Bút”, Hoàng Hải Thủy)
    Những tên “Cách Mạng Ba Mươi” là những thằng hèn kiêm ngu si, tưởng bở. Chúng tưởng chúng nhẩy ra chào mừng bọn Việt Cộng chiến thắng, tự nguyện hiến dâng thân khuyển mã phục vụ chủ mới, chúng sẽ được chủ mới chấp nhận, cho hưởng vài đặc quyền. Bọn Việt Công gần như không dùng một tên “ba mươi” nào lâu. Nói cho đúng, Việt Cộng có dùng nhưng rất hạn chế và thường chỉ dùng trong những việc vặt, việc chỉ chọc, việc bới móc tố cáo những người dân Việt Nam Cộng Hòa mà Việt Cộng cho là có tội. Bọn “ba mươi” lòng lang, dạ thú lập công bằng cách làm hại những người chúng quen biết, những người từng đối xử tốt với chúng. Dù chúng làm những việc tồi tàn, khốn nạn đến chính vợ con chúng cũng phải tủi hổ, chúng vẫn bị Việt Cộng đối xử lạnh nhạt, cho đi chỗ khác chơi sau một thời gian ngắn. Tôi gọi chúng là thứ “phi cầm phi thú”.
    Tôi nghe thành ngữ “phi cầm, phi thú” lần đầu vài ngày sau ngày 1-11-1963, ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Chính Trị Ngô Đình Nhu bị hạ bệ. Một tâm thư ngắn được đăng trên hai tờ nhật báo Ngôn Luận, Đồng Nai. Trong thư này, ba ký giả Từ Chung, Chu Tử, Hiếu Chân (cả ba anh đều đã qua đời) tự nhận các anh có lỗi vì các anh thấy chính phủ Ngô Đình Diệm phạm nhiều tội ác với nhân dân mà không dám tố cáo, các anh tự nhận các anh là một loại “phi cầm, phi thú”.
    Dưới đây là đoạn tôi viết năm 1995 về một số người tôi gọi là “phi cầm, phi thú”:
    “Chúng tôi, bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn bại trận, chúng tôi có anh có em. Trong nhục nhã, trong khổ cực, trong tù đầy, chúng tôi vẫn có nhau, chúng tôi vẫn là những văn nghệ sĩ Sài Gòn. Cảnh “phi cầm, phi thú” hiện ra rõ nhất trong những cái gọi là buổi sinh hoạt tại Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố Hồ Chí Minh, trụ sở đặt trong tòa nhà có vườn rộng trước 75 là một cơ sở tình báo của Việt Nam Cộng Hòa, góc đường Trương Minh Giảng-Tú Xương. Những người trong Ban Chấp Hành cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng, thường là Tổng Thư Ký Việt Phương, lên Ủy Ban Thành Phố họp, nghe chỉ thị, về phổ biến với các văn nghệ sĩ. Những buổi như thế gọi là buổi sinh hoạt.
    “Trong những buổi sinh hoạt này, bọn trong Ban Chấp Hành Hội ngồi hàng ghế chủ tọa đối diện với hàng ghế của văn nghệ sĩ Sài Gòn. Hai bên ngồi đối mặt với nhau. Hai anh Kỳ Nhông, Kỳ Đà Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn cũng dự buổi sinh hoạt. Hai anh không thể ngồi cùng hàng ghế hay ngồi sau lưng bọn Giải Phóng Miền Nam. Sức mấy chúng nó cho hai anh ngồi chung. Hai anh không ngồi chung chỗ với bọn chúng tôi, chắc hai anh sợ ngồi với chúng tôi hai anh xấu hổ… Cũng có thể hai anh nhìn thấy sự khinh bỉ hai anh trong ánh mắt của anh em chúng tôi… Hai anh không thể ngồi sau đít bọn Văn Nghệ Giải Phóng đối diện với bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn bại trận, hai anh không muốn ngồi chung với bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn nhục nhã. Vậy thì trong những buổi họp chia hai phe rõ rệt mặt đối mặt, chính tà hai phái, hai anh Kỳ Nhông đặt đít ở đâu?
    “Hai anh ngồi ở hai ghế bên cạnh. Hai anh không ngồi trong phe giải phóng, hai anh cũng không ngồi trong phe Việt Nam Cộng Hòa bại trận.
    “Dường như Phạm Trọng Cầu – Phạm Trọng: “Em ra đi mùa thu… mùa thu không trở lại…” cũng đã được sáng mắt, sáng lòng đôi chút trước cái gọi là xã hội xã hội chủ nghĩa do cách mạng vô sản dựng lên, vì thấy nó bê bối, bết bát, dơ dáy quá đỗi. Nhiều anh chị nhờ gia đình có tiền cho sang Tây ăn học, đớp phải bả xã hội chủ nghĩa, tưởng bở, hung hăng con bọ xít, theo đuôi cộng sản mần “cách mạng”, bị Cộng sản cho hộc máu, vỡ mặt khi chúng cướp được chính quyền. Điển hình và đại diện cho giới “phi cầm, phi thú” này là Mợ Dương Quỳnh Hoa.
    “Nghe nói chỉ sau vài mùa kỷ niệm bác Hồ đầu thai, Phạm Trọng đã có vẻ thất vọng. Phạm Trọng có mần lời ca theo điệu nhạc bài “Quê Em”:
    “Quê em miền trung du,
    Đồng quê lúa xanh rờn,
    Giặc tràn lên cướp phá.
    Anh về quê cũ,
    Đi diệt thù giữ quê,
    Giặc tan đón em về”
    Lời ca của Phạm Trọng theo nhạc “Quê Em” có câu mở đầu:
    Ba tôi trồng khoai lang,
    Đào lên thấy khoai mì,
    Thật là điều phi lý.
    Tôi về quê cũ,
    Ra vườn trồng khoai lang,
    Đào lên thấy khoai mì…
    “Những anh Kỳ Nhông đi theo cộng sản mần “cách mạng xã hội chủ nghĩa” tưởng bở: xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định phải tốt đẹp hơn xã hội tư sản dân chủ. Mấy ảnh ngẩn ngơ khi thấy sao nó bẩn quá.
    “Thứ củ có thể ăn được, người Bắc gọi là sắn, người Nam gọi là mì hoặc khoai mì. Những chị đi bán rong trong những xóm nghèo thường rao: “Ai khoai lang, khoai mì…”
    “Thứ củ người Nam kêu là củ sắn, người Bắc gọi là củ đậu. Ông bố mấy anh Kỳ Nhông trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì cũng còn là khá, ông nội anh không có trồng khoai lang, khoai mì, ông nội ác ôn của anh trồng người. Các em nhỏ bất hạnh bị đem ra trồng đầu vùi dưới đất, chân chổng lên trời.
    “Ở những cánh đồng cách mạng vô sản ấy, khi đào đất lên người ta không thấy khoai mì, khoai lang chi cả, người ta chỉ thấy sọ người, xương người và máu người.
    “Lo việc mười năm: trồng cây. Lo việc trăm năm: trồng người”.
    “Câu nói của một Quân Tải Tàu nào ngày xưa, được ghi trong sách Minh Tâm Bảo Giám do ông Đoàn Trung Còn biên soạn. Già Hồ mượn dùng cũng được đi. Nhưng trồng là trồng cây: trồng cây si, trồng đậu, trồng gạch, trồng gì cũng được, “trồng người” nghe sao man rợ quá trời. Những anh cộng sản coi đồng bào như những con vật để họ sai khiến, bóc lột, như những cái cây để họ đem trồng. Những em bé Việt Nam bất hạnh được coi là những khúc măng non…
    “Em là khúc măng non…
    Em chín queo trong nồi cách mạng“, và:
    “Cháu lên ba… Cháu vô mẫu giáo
    Cô thương cháu là cháu không khóc nhè…
    Không khóc nhè…. È é e…
    Em vào trường học
    Mẹ cha vào nhà máy…
    Ông bà lo cấy cầy…”
    “Ông bà lo cấy cầy?”. Chèng đét théng thèng ơi… Ông bà xã hội chủ nghĩa cho có trẻ lắm cũng phải sáu mươi, bẩy mươi… Khứa lão lọm cọm sống trong xã hội thối nát tư sản đến tuổi sáu bó là đã bị con cháu cho ngồi chơi xơi nước. Khứa ông buổi sáng nhâm nhi ly trà tầu, trà ướp sen, ly cà phê hay ly nước trà thường nóng nếu sống giản dị, ngày xưa ở Bắc Kỳ các khứa lão còn để móng tay dài, râu ba chòm, xuân hạ tay phe phẩy cái quạt, chống gậy đi chơi, gặp ông bạn cũng khứa lão đánh vài ván cờ tướng, thu chơi hoa cúc, câu cá, trưa mùa đông ăn cơm uống ly rượu tăm rồi đắp mền nằm ngáo. Khứa lão bà trông nom các cháu, giúp đỡ con dâu, ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật, sáng sáng, chiều chiều đến nhà thờ dâng lễ, đọc kinh cầu nguyện, cảm ơn và xin ơn Thiên Chúa.
    “Đấy là đại khái vài hình ảnh, cuộc sống những ông già, bà lão trong xã hội tư sản. Những ông già, bà lão trong xã hội vô sản ra đồng làm trâu bò cho đến lúc ngã xuống thở hơi cuối cùng. Trong khi đó thì “thi sĩ Đảng” Tố Hữu mần thơ diễn tả tấm lòng cao cả của bác Hồ muôn kính, ngàn yêu, ngày đêm bác vẫn mơ mộng làm sao để có:
    “Sữa tặng em thơ, lụa tặng già”.

    Tối mùa mưa năm 1982, chúng tôi ngồi uống rượu đế một đồng tiền Hồ một ly ở quán nghèo thật nghèo trên vỉa hè bên cổng xe lửa Số 6. Bạn tôi, L.T.N nói:
    – Bảo Trịnh Công Sơn là cộng sản tội nghiệp nó.
    Tôi nói:
    – Có ai bảo nó là cộng sản đâu. Nếu nó là cộng sản thì ai nói làm gì. Vì nó không phải là cộng sản mà nó lại bợ đít bọn cộng sản nên người ta mới có vấn đề về nó.
    Bạn tôi, Văn Quang, ở Thành Hồ, tường thuật đám tang Trịnh Công Sơn, tả anh đem máy ảnh đến nhà Trịnh Công Sơn ngồi chờ chụp ảnh. Anh phải ngồi chờ vì lúc ấy người chết chưa được liệm, Trịnh Công Sơn nằm đó với chiếc khăn phủ mặt. Anh kể chuyện ngày xưa, Tết Mậu Thân, Việt Cộng đánh vào Sài Gòn, thành phố giới nghiêm từ 6 giờ tối đến 6 giờ sáng. Là sĩ quan, anh có giấy phép đi trong giờ giới nghiêm. Anh lái xe đưa Trịnh Công Sơn đi chơi trong thành phố Sài Gòn ban đêm vắng tanh, chỉ có những dẫy đèn vàng, những binh sĩ tuần tiễu, đứng gác ở những ngã tư đường. Anh kể anh đưa Trịnh Công Sơn, với cây đàn ghi-ta, về ở trong căn phòng riêng của anh v.v… Anh kể trong căn phòng đó (anh bạn tôi có vợ con, có nhà lầu, nhưng cũng như nhiều tay chơi Sài Gòn trước 75, anh có căn phòng riêng trong một bin-đinh dùng làm nơi ăn chơi), những ngày sau Tết Mậu Thân, Trịnh Công Sơn đã sáng tác những bản nhạc X, Y, Z… Lời kể của anh cho thấy anh vừa là đàn anh cưu mang vừa là bạn văn nghệ, bạn tâm giao của Trịnh Công Sơn. Tôi bùi ngùi muốn hỏi anh, muốn nói với anh:
    – Tháng Tư 75 nó có mù đâu, nó phải thấy đồng bào mình ghê sợ Cộng sản, chê bỏ Cộng sản, đồng bào mình liều chết chạy trốn quân Bắc Việt Cộng, đồng bào mình chết đau thương, khổ cực thê thảm đến như thế nào. Nó phải thấy Việt Cộng tàn sát đồng bào ở Huế trong Tết Mậu Thân, nó phải thấy bọn Bắc Việt Cộng xâm lăng bắn giết đồng bào trên khắp đất nước. Nó không ngu đến cái độ không biết là quân Bắc Việt Cộng vào Sài Gòn, những sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa từng mến tài nó, che chở nó, làm ơn cho nó, như mày, như Lưu Kim Cương, sẽ bị bọn Bắc Việt Cộng bỏ tù mút chỉ cà tha. Nó phải biết chứ, nó phải thấy chứ, sao nó nhẫn tâm ca hát chào mừng bọn Việt Cộng, sao nó tỏ ra sung sướng khi nó biết chúng mày sắp khốn khổ, khốn nạn? Mày kể mày thân với nó, mày là bạn nó, tao không thấy nó thân với mày, không thấy nó nhận mày là bạn, mày cưu mang nó, mày đi tù mười mấy năm nó không một lời hỏi thăm. Mày thân tàn trở về, vợ bỏ, nhà mất, con mày tan tác, tao không thấy nó đi tìm mày, không thấy nó chi cho mày nửa lời an ủi. Nó bạn với bọn văn nghệ sĩ miền Bắc, nó không bạn với bất cứ thằng văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hoà bại trận nào.
    Ông bạn N.T, nhân câu dân dao “Ba Mươi giết hết lột da đóng giày”, nói:
    – Tha nó. Lột da nó làm gì. Mình khác nó…
    Thở hắt ra, tôi nghĩ: “Nói vậy thôi, mình có lột da được thằng nào đâu. Chúng nó lột da mình thì có. Chúng nó lột da anh em mình dài dài từ ngày ấy…”
    Tôi mượn lời ông Elie Weisel để diễn tả tâm trạng tôi. Elie Weisel là người Do Thái, sinh trưởng ở Romania, hiện cư ngụ ở Hoa Kỳ. Sống sót từ Lò Thiêu Người Do Thái của Đức Quốc Xã, trong khi cha mẹ, anh chị em ông chết hết trong Lò Thiêu Người. Elie Weisel viết Hồi Ký tố cáo tội ác bọn Đức Quốc Xã đã làm với dân Do Thái trong Thế Chiến Thứ Hai. Ông được Giải Nobel Hòa Bình năm 1986. Chắc có ai đó đề nghị ông nên tha thứ, ông viết:
    – Tôi không có quyền tha thứ cho bọn giết người về cái tội chúng đã tiêu diệt 6 triệu người Do Thái. Quyền tha thứ hay không là ở những người đã chết.
    Chiều nay, đúng giờ này, ngày này 26 năm trước, 4 giờ chiều Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trời Sài Gòn u ám, đất Sài Gòn quằn quại, người Sài Gòn đau thương, mấy tên đốn mạt đến đài phát thanh phứng phưng hát chào mừng quân xâm lăng.
    Tôn vinh hương linh những công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – quân và dân – đã chết vì chống lại cộng sản, tưởng nhớ những người Sài Gòn đến 4 giờ chiều ngày 30 Tháng Tư 1975 còn chết vì chống Cộng sản ở Sài Gòn, tôi thành kính – và ngậm ngùi – viết những dòng này.

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (09)




    “Thương nữ bất tri vong quốc hận
    Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa…”

    Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, những anh Con Trai Bà Cả Đọi Giao Chỉ có cái hay là không cần kỳ cọc học chữ Hán, vẫn có thể hiểu được Thơ Đường. Chẳng hạn như hai câu thơ của Đỗ Mục, các anh hiểu “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”. Các anh chẳng cần phụ đề Việt ngữ: “Những em gái chơi – trong bài thơ này là các em ca kĩ 0 không biết cái hận mất nước. Đêm đêm vẫn hát bài Hậu Đình Hoa!” Cay cú thì thêm vào mấy tiếng: “Hát cho bọn cướp nước nghe”.

    Tôi đọc Dạ Bạc Tần Hoài những năm 1950. Năm xưa ấy, tôi thấy thơ Dạ Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục rằng hay thì thật là hay… nhưng không ngậm đắng, nuốt cay tí nào! Không cay đắng bởi vì từ năm 1950 đến năm 1975 tuy tôi đã mất một nửa nước, tôi vẫn còn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Chỉ đến những đêm buồn khủng khiếp sau 1975, từ đó dài dài dài mãi đến bây giờ và không biết còn dài đến bao giờ, tôi mới biết cái nhục mất nước và tôi mới thấm thơ Dạ Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục.

    Những em xướng ca, đời nào cũng vậy, thường chỉ hát phục vụ bọn đàn ông có quyền, có tiền. Nghề nghiệp buộc các em phải làm thế. Ta đã thấy Người Thơ tài hoa Nguyễn Du kể chuyện Nàng Cầm ở thành Thăng Long những năm 1800:

    “Long Thành giai nhân
    Tính thị bất kỳ thanh
    Độc thiện Nguyễn cầm
    Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh…”
    (Người đẹp Thành Thăng Long
    Họ tên không ai rõ
    Riêng giỏi đàn cầm
    Nên người toàn thành gọi tên là Cầm…)

    Đàn Cầm còn có tên là đàn Nguyệt, lại có tên là đàn Nguyễn, do Nguyễn Hàm, một vị trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn tạo ra.

    Thi sĩ Trữ Tình kể chàng nhìn thấy Nàng Nguyệt Cầm lần thứ nhất trong một dạ yến của các tướng lãnh Tây Sơn ở Thăng Long. Thi sĩ ta tuy không ở trong phe Tây Sơn chiến thắng, hơn thế nữa chàng còn ở trong phe Lê Trịnh chiến bại, chàng cũng góp mặt ăn có, ăn theo những cuộc liên hoan của những người chiến thắng. Chàng kể:

    Tôi khi trẻ đã được thấy Nàng một lần
    Trong buổi yến tiệc bên Hồ Giám.
    Bấy giờ tuổi Nàng ba lần bẩy – “Kỷ thì tam thất chính phương niên” – tức Nàng hai mươi mốt tuổi đương xuân.
    Áo hồng ánh chiếu lên khuôn mặt hoa đào
    Vẻ mặt Nàng mơ màng, dáng vẻ ngây ngất rất đẹp
    Năm cung rộn rịp, biến hóa dưới ngón tay nàng (…)
    Tướng lãnh Tây Sơn trong tiệc đều nghiêng ngả
    Họ đua nhau tặng thưởng tiền cho Nàng
    Nhớ lại dạ tiệc ấy qua đã hai mươi năm
    Tây Sơn thảm bại, tôi vào Nam
    Long Thành trong gang tấc không được thấy nữa…
    Nay Tuyên Phủ Sứ vì tôi mở tiệc vui
    Trong tiệc các nàng ca nữ đều trẻ đẹp
    Duy ở phía cuối có một người tóc hoa râm
    Mặt gầy gò, thần sắc khô héo, thân mình nhỏ bé
    Đôi mày tàn tạ không trang điểm
    Nào có ai biết đó là người chơi đàn hay nhất thành.
    Nghe khúc nhạc cũ mà giọng điệu mới, tôi thầm rơi lệ
    Tai lặng nghe mà lòng buồn thương
    Nhớ lại hai mươi năm trước từng thấy Nàng..
    Thành quách đổi rời, việc người cũng khác.
    Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết
    Chỉ còn sót lại người nữ nhạc công này
    Chớp mắt trăm năm có là bao
    Đau lòng việc cũ lệ thấm áo…
    Tôi từ ngày vào Nam tóc trắng hết
    Tất nhiên nhan sắc người đẹp phải suy tàn…

    Khi tướng lãnh Tây Sơn làm chủ Thăng Long, Nguyệt Cầm đang thời xuân sắc. Chàng chưa có danh vọng gì. Chắc năm ấy tuổi Chàng cũng ba lần bẩy bằng tuổi Nàng. Chàng được vào dự yến chắc là nhờ đi theo ông anh là đại thần của Nhà Tây Sơn. Chàng ngồi ở cuối tiệc. Hai mươi năm sau (1813) Chàng là Đại Sứ Trưởng Sứ Bộ An Nam sang triều cống Thiên Triều Mãn Thanh. Trên đường sang Thiên Quốc, Chàng và Sứ Bộ nghỉ lại thành Thăng Long. Tuyên Phủ Sứ đặc biệt mở dạ tiệc khoản đãi. Đêm nay, vật đổi, sao dời, Chàng là thượng khách của dạ tiệc, Nàng là nữ nhạc công già, ngồi đàn ở cuối ban nhạc.

    Kể lại chuyện xưa để thấy những người hành nghề ca xướng, đàn địch, đời xưa, đời nay, đời sau, đời nào cũng phải phục vụ bọn có quyền. Do đó họ bị chê là:

    “Thương nữ bất tri vong quốc hận
    Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”.

    Biết vậy nhưng ta vẫn đắng cay khi ta sống ở Thành Hồ những năm sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái lá đa ca dao, ta nghe, ta thấy, ta bị, ta phải nghe, phải thấy những em thương nữ ca hát nâng bi bọn Bắc Việt Cộng nón cối, giép râu, răng cải mả, tóc bím, đít to hơn cái thúng, kéo vào làm chủ Sài Gòn Thủ Đô của ta. Ta cay đắng và ta cay cú. Không cay cú sao được. Ta cay cú vì ta là người. Thần kinh ta rã rời, trái tim ta nát ngấu như trái sa-bô-chê bị xay trong bình quay sinh tố khi trong ngày bế mạc cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị II cho Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Kẹt Giỏ ở Nhà Hát Lớn Sài Gòn thất thủ của ta – Tháng Bẩy 1976. Trong buổi chiều, đại biểu các Tổ học tập lên diễn đàn phát biểu ý kiến, tâm hồn ta như cái ruột xe đạp sì hơi, rách còn hơn cái mền Sakymen (Sài Gòn Kỹ Nghệ Mền Len, Xưởng Máy ở chân cầu Bình Triệu), khi ta ngồi chết dí ở đấy nghe em thương nữ nói thao thao như mây bay, như suối chẩy:

    – Cách mạng mới vào, em cũng sợ lắm. Em từng được nghe nhiều chuyện không hay về cách mạng. Những ngày đầu em cũng hoang mang. May mắn em được chị Kim Cương dẫn dắt. Em đi hát và trong một lần trình diễn em thấy cử tọa nghiêm túc nghe em hát, tán thưởng, cổ võ đúng lúc. Em nghĩ đây mới thật là chỗ đứng của người nghệ sĩ. Em phấn khởi nghĩ: “Đây mới thực là chỗ đứng của mình…”

    Không biết đó là những lời tự em nghĩ ra hay em được ai mớm? Hai mươi nhăm năm xưa khi nghe em nói những câu đó tôi đã thắc mắc như thế, hôm nay viết lại chuyện xưa tôi vẫn còn nguyên thắc mắc ấy. Nếu em nghĩ ra thì tôi phải phục em vì tài nghệ nâng bi của em, nếu đó là lời người khác mớm cho em thì tôi cũng phải phục em vì em nhớ, em nói không vấp váp. Em nói em hát cho bọn ViXi nghe và em thấy việc ấy là đúng, là việc em nên làm, em nói bọn ViXi mới xứng đáng là những kẻ được nghe em hát, chỉ có bọn ViXi mới kính trọng con người nghệ sĩ của em, tôn trọng tài năng của em; em nói “chỗ đứng” – đây là chỗ em đứng em hát, “chỗ đứng” của em là chỗ trước mặt bọn ViXi. Nhưng rồi ngay sau đó em bỏ chỗ đứng của em, em ù té, em đi một đường vượt biên. Hai mươi mùa sầu riêng trổ gai sau ở Hoa Kỳ, tôi nhìn thấy em trên băng video. Thiên hạ hỏi em tại sao em hát hay thế, em trả lời em “hát bằng trái tim”. Tôi thắc mắc không biết những năm 76, 77 ở Thành Hồ em hát cho bọn ViXi nghe bằng cái gì?

    Ngoài việc nâng bi ViXi trong lần phát biểu cảm tưởng (Cán Cộng gọi là “thu hoạch”) sau khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chiều xưa ấy, em nữ ca sĩ Hậu Đình Sài Gòn còn phăng phăng kể cho bọn ViXi nghe chuyện Tổng Thẹo mê em, Tổng Thẹo cứ nhẩy với một mình em trong Đêm Liên Hoan Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Sư Đoàn 9 Bộ Binh ở Cà Mâu. Em kể, em nói với Tổng Thẹo: “Ở đây có nhiều cô… Tổng Thống nhẩy với cô khác đi, bài nào Tổng Thống cũng nhẩy với em người ta thấy kỳ quá. Ông ấy nói: “Cái đinh đã đóng vào cột rồi, đâu có dễ gì nhổ ra”.

    Chiều xưa, một chiều mưa Tháng Bẩy 1976, trong nhà Hát Lớn của ta nay Bắc ViXi làm chủ, khi nghe em ca sĩ kể chuyện Tổng Thẹo đa tình ôm nữ ca sĩ đi một đường Tango lả lướt ở Cà Mâu, đang buồn thúi ruột tôi cũng phải nhếch mép cười như mếu vì câu nói văn huê của Tổng Thẹo: “Cái đinh đóng cột…”, và lúc đó tôi nghĩ: “Người ta đang nhắc đến ông ta, không biết giờ này ở bên ấy ông ta có bị ù tai, hắt sì hơi không?” Tôi tự hỏi em ca sĩ kể chuyện Tổng Thẹo mê em cho Việt Cộng nghe để làm cái gì vậy? Em cứ nói em phục nó lắm, em hãnh diện được hát cho nó nghe, là nó hài lòng rồi, nó có đòi em kể chuyện Tổng Thẹo lẹo tẹo với em đâu.

    Một ông bạn tôi nói:

    – Ngày nào bọn Việt Cộng bị lật, chắc đồng bào ta cũng không ai trả thù chúng đâu. Dân tộc ta dễ tha thứ. Chuyện Cục Đá Ngày Xưa trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, ông nhớ chứ?

    Nhớ chứ. Nhưng tôi không đồng ý với việc vứt cục đá đi của nhân vật trong chuyện. Khi tên nhà giầu ném cục đá vào đầu anh nay đã lâm vào cảnh ăn mày ăn nhặt, anh nghĩ trước kia anh ném lại cục đá vào đầu nó là anh dại, nay anh ném nó là anh hèn… cũng được đi. Nhưng tôi nghĩ anh nên cầm cục đá dí vào mặt nó, kể lại chuyện ngày trước nó cậy giầu nó ném cục đá đó vào đầu anh cho nó nghe, cho mọi người nghe, nói cho nó biết nó có tội và nay anh có thể trả thù, anh hành tội nó được nhưng anh không thèm làm. Nói để cho những thằng nhà giầu khác thấy để chúng nó sợ không dám làm bậy khi có tiền, có quyền, có thế.

    Quân tử Tầu còn có câu: “Không đánh người ngã ngựa. Đánh người ngã ngựa là hèn”. Tôi cũng không đồng ý với tinh thần câu ấy. Lúc nó ngồi trên ngựa, tức lúc nó có quyền, có thế, nó đánh mình, làm sao mình đánh lại nó? Lúc ấy mình chỉ né nó thôi cũng đã vỡ mặt rồi. Ở đó mà đánh lại. Nhưng lúc nó ngã ngựa, lúc nó ngang cơ với mình, mình đánh cho nó bỏ mẹ nó là phải chứ. Đánh nó để cho những thằng đang ngồi trên ngựa thấy cảnh nhục nhã của những thằng khi có quyền, có thế hung hãn đánh người, làm hại người, đến khi mất quyền sẽ bị người đối xử ra sao. Cho chúng thấy để chúng tởn, chúng bớt làm bậy.

    Thời loạn, nhất là trong những quốc gia bị xâm lăng, bị thôn tính, bị tiêu diệt, chẳng cứ gì đám “thương nữ” mới “bất tri vong quốc hận”, bọn văn nhân vô hạnh cũng có nhiều tên tự nguyện nâng bi bọn chiến thắng. Trong buổi bế mạc cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho Văn Nghệ Sĩ ở Thành Hồ Tháng Bẩy 1976, ngoài em ca sĩ Cái Đinh Đóng Cột, còn có anh nhà dzăng lên xưng tội, thành khẩn cám ơn Bác và Đảng đã cho anh được sáng mắt, sáng lòng (anh này, ngay sau khi cám ơn Bác và Đảng, cũng ù té một đường vượt biên đi mất hút),có anh ca sĩ lên phát biểu, nói gì không nói, kể chuyện ma tịt:

    – Chị Phen Hường Tỏi có cái xe Mát-đa thì chị Phen Hường Riềng cũng phải có cái Đát-sun. Những nữ ca sĩ Sài Gòn muốn nổi tiếng phải đi qua cái giường…

    Chiều ấy, nghe anh Ca Sĩ Cà Chớn nói, tôi ngơ ngác: “Tại sao lại có thể mở miệng nói như thế trước bọn Việt Cộng? Chúng nó có đòi mình phải nói như thế đâu? Tại sao mình lại tự bôi bẩn lên mặt mình một cách ngu xuẩn quá như thế?

    . Loại xướng ca này hát cho Lính chỉ làm cho Lính xấu hổ.

    oOo

    Thôi nhé… Hãy tạm quên đi những hờn giận, những đắng cay, để trở về với bài thơ Hậu Đình Hoa.
    Tác giả là Trần Thúc Bảo, ông vua cuối cùng của nhà Trần Nam Triều bên Tầu. Tất nhiên, Nam Triều bên Tầu, không phải Nam Triều Tiên. Ông vua Tầu này thường được gọi là Trần Hậu Chủ, làm Vua từ năm 583 đến năm 589, vỏn vẹn 6 năm, thì bị Tùy Văn Đế diệt, nhưng tên tuổi được nhắc mãi nhờ là tác giả một bài thơ và phần lớn nhờ được thi sĩ Đỗ Mục nhắc đến bài thơ đó. Đây là bài thơ “Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa” của Trần Hậu Chủ:

    “Lệ vũ phương lâm đối cao các
    Tân trang diễm chất bản khuynh thành.
    Aùnh hộ ngưng kiều sạ bất tiến
    Xuất duy hàm thái tiếu tương nghênh.
    Yêu cơ kiểm thị hoa hàm lộ
    Ngọc thụ lưu quang chiếu hậu đình”.
    (Cây Ngọc Như Hoa ở Hậu Đình
    Nhà ngọc, rừng thơm đối diện với lầu cao,
    Mới trang điểm, sắc đẹp vốn khuynh thành.
    Cánh cửa sáng lên, dáng kiều ngập ngừng dừng lại.
    Vén rèm bước ra,mặt tươi nét cười đón nhau
    Người đẹp trẻ tuổi, mặt tươi như hoa ngậm sương
    Nàng như cây ngọc phát ánh sáng, chiếu rực rỡ cả hậu đình.

    Ý thơ thường thôi, bài thơ sống được mãi với đời là nhờ thơ “Dạ Bạc Tần Hoài” của Đỗ Mục:

    “Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa.
    Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
    Thương nữ bất tri vong quốc hận
    Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa“.
    (Khói lồng nước lạnh, trăng lồng cát.
    Đêm ở Tần Hoài, cạnh tửu gia.
    Thương nữ không hay sầu mất nước
    Bên sông vẫn hát Hậu Đình Hoa).

    Kể cũng lạ. Đỗ Mục sống và làm thơ trong thời nhà Đường, một trong những thời đại cường thịnh nhất của nước Trung Hoa. Nhà Đường đánh xuống miền Nam, thôn tính Giao Châu, lập lên An Nam Đô Hộ Phủ, đánh sang miền Đông, chiếm Cao Ly, lập lên An Đông Đô Hộ Phủ. Đỗ Mục biết gì về chuyện vong quốc, ông đau gì về chuyện mất nước mà ông trách người ta cứ hát khúc Hậu Đình Hoa?
    Ông mà sống vào thời của bọn mất nước chúng tôi bây giờ, ông mà sống lưu vong như bọn tôi, ông thấy bọn văn nhân vô hạnh, bọn xướng ca vô loài của chúng tôi khi kẹt trong nước thì ca tụng bọn cướp nước, chạy được ra nước ngoài thì hai mươi năm sau trở về đầu hàng bọn cướp nước… chắc ông hết làm thơ được, ông khóc.

    Vua Bảo Đại nước An Nam và vua Trần Hậu Chủ nước Ba Tầu giống nhau ở điểm hai ông cùng ăn chơi, cùng mất ngôi, mất nước, nhưng khác nhau ở điểm vua Trần Hậu Chủ làm thơ Hậu Đình và tự tử chết ngay khi mất ngôi, vua Bảo Đại Bại Đảo suốt đời không viết gì cả – quyển Hồi Ký của ông là do ông kể, ông Tây viết, tất nhiên là bằng tiếng Tây – và sống thật lâu sau khi mất ngôi, mất nước.

  6. The Following 2 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    khongquan2 (06-03-2019), KiwiTeTua (06-03-2019)

  7. #4
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 1,960
    Thanks: 2,812
    Thanked 5,338 Times in 1,900 Posts

    Default Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (10)



    Số văn nghê sĩ Sài Gòn bám đít quân Bắc Việt Cộng, những tên vô liêm sỉ bị nhân dân gọi là bọn “Cách Mạng Ba Mươi” không nhiều. Anh thứ nhất là Trịnh Công Sơn – bốn giờ chiều ngày 30 Tháng Tư, đất trời Sài Gòn sầu thảm, anh CM30 Trịnh Công Sơn lên tiếng hát chào đón quân xâm lăng trên đài phát thanh – tiếp đó là Cung Tích Biền, Thái Bạch, Hoàng Trọng Miên…
    Hai mươi sáu năm sau, ở xứ người, tôi vẫn cảm thấy nhục khi viết những dòng chữ này. Dù sao những anh Cách Mạng Ba Mươi ấy cũng là văn nghệ sĩ Sài Gòn. Sống ở Sài Gòn sau năm 1975, tôi mới cảm biết thế nào là nhục bại trận, nhục đầu hàng, nhục không chết được, nhục không dám chết, nhục biết là sống nhục mà cứ phải sống để chịu nhục, tôi mới thấm câu Kiều “Bắt phong trần phải phong trần”. Lòng tôi quặn đau khi tôi nhìn thấy những ông tướng của quân đội tôi khóc mếu trên màn ảnh TiVi trước mặt quân thù. Tôi mới thấy, mới hiểu thế nào là “hàng thần lơ láo, văn nhân vô hạnh, xướng ca vô loại”.
    Ngày 1 Tháng 5, không biết những tên Cách Mạng Ba Mươi nào cho ra tờ báo Trắng Đen. Báo không có tin tức gì, chỉ có hình Hồ Chí Minh và vài cái thông cáo của cái gọi là Ủy Ban Quân Quản. Bọn ra báo này là bọn Cách Mạng Ba Mươi vì chúng chỉ ra được một số báo, tờ báo Cách Mạng Ba Mươi mang măng-xét Trắng Đen bị Bắc Việt Cộng dẹp tức khắc.
    Chừng mười ngày sau ngày 30 Tháng Tư, tôi mới gượng đi lên trung tâm Sài Gòn. Đường Lê Lợi của ta lúc 10 giờ sáng long lanh nắng vàng – sáng mát trong như sáng năm xưa, gió thổi mùa thu vào Lê Lợi – cảnh vẫn là cảnh hôm qua chỉ có lòng người tan nát. Đường phố Sài Gòn đã được dọn dẹp, không còn những cây súng M16 vứt ở các gốc cây, không còn những chiếc áo blouson của phi công nằm lạc loài trong các góc phố. Hãy còn quá sớm, hôm ấy Sài Gòn chưa có Chợ Trời.
    Tôi gặp vợ chồng Duyên Anh.
    Rất tự tin, Duyên Anh nói:
    – Yên trí. Chúng nó sẽ phải dùng mình.
    Tôi ngậm ngùi nghĩ: “Chúng nó dùng mày, chúng nó không dùng tao”.
    Tôi thường mua thuốc lá của chị bán thuốc ngồi bên cửa tiệm kem Mai Hương.
    Thấy tôi, chị hỏi nhỏ:
    – Cậu không chạy được à?
    Tôi thấy ý thương hại trong mắt chị.
    Tôi chỉ là một người khách mua hàng của chị, nhưng chị cũng mong tôi chạy thoát, chị cũng muốn tôi không bị khổ nhục. Hàng của chị xác xơ nghèo, chẳng còn bao nhiêu thuốc lá Mỹ, bẩy, tám gói Lucky, một hộp thuốc pipe Sir Walter Raleigh. Tôi mua hết số thuốc ấy. Đấy là lần cuối cùng tôi mua thuốc lá Mỹ ở Sài Gòn.
    Tôi thấy ca sĩ Hùng Cường bận bộ áo cánh, quần đen, như lính Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, không nón tai bèo, không giép râu, đi giầy Bata, lưng đeo cái ba-lô có cắm lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đi phây phây trên đường Tự Do. Tôi nghĩ Hùng Cường nhân buổi tranh tối, tranh sáng, bận bộ đồ đó đi rỡn chơi, như anh hóa trang đóng một vai tuồng. Nhưng cảnh thay đổi từ bộ quân phục lính VNCH (Bạn nhớ không? Hùng Cường là lính Biệt Động Quân!) sang bộ đồ đen GPMN, chỉ thiếu cái khăn rằn, cũng làm đau lòng người Sài Gòn, nó báo trước cái cảnh:
    Công hầu đệ trạch giai tân chủ
    Văn vũ y quan dị tích thì…
    Tôi nghe các bạn tôi kể về một cuộc họp ở trụ sở Hội Văn Nghệ Giải Phóng Miền Nam tại Tòa Đại Sứ Đại Hàn đường Nguyễn Du. Đây không hẳn là một cuộc họp. Vì văn nghệ sĩ Sài Gòn kéo đến đông quá, một, hai anh GPMN phải ra tiếp, nói vài câu trấn an. Lúc đó Hùng Cường đứng lên, hát ngay một bài ca tụng Bác Hồ do anh sáng tác.
    Thế rồi một số nam nữ ca sĩ Sài Gòn chiều chiều đến nhà hàng Queen Bee ca hát. Họ hát những bài Tiếng Đàn Ta Lư, Tiếng Chày trên Sóc Bom Bo, Dưới bóng cây Kà Nưa, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây v.v…
    Bọn cán bộ văn nghệ MTGP không tổ chức cuộc tập hát này, họ không mời ca sĩ Sài Gòn đến tập hát, đây là sáng kiến của Hùng Cường với một anh Tầu Chợ Lớn có tiền. Anh Tầu bỏ tiền ra cho Hùng Cường thành lập một đội văn công chờ sẵn, ViXi cần đến là có ngay. Nhưng ViXi dẹp cái ban ca kịch cà chớn phi cầm, phi thú này tức thì. Việt Cộng không thèm dùng những anh chị văn nghệ sĩ Sài Gòn, nếu Việt Cộng dùng chắc hàng ngũ Cách Mạng Ba Mươi còn có nhiều khuôn mặt mẹt văn nghệ sĩ Sài Gòn hơn.
    Hoàng Trọng Miên là anh Cách Mạng Ba Mươi có vẻ có giá nhất, anh có người anh là Thanh Nghị Hoàng Trọng Quĩ làm Phó bộ trưởng Văn hóa trong chính phủ “cách mạng lâm thời Cộng Hoà Miền Nam VN”. Những tháng đầu tiên Hoàng Trọng Miên “phấn khởi, hồ hởi” ra mặt. Mấy anh Tầu Chợ Lớn chuyên đón gió o bế Hoàng Trọng Miên hết cỡ. Mấy anh dùng ô tô đưa Hoàng Trọng Miên ra Vũng Tầu, lên Đà Lạt, xí nhà đất, vườn cây của các tướng lãnh VNCH. Bọn ViXi cấp xã, quận, kể cả cấp tỉnh, thấy đàn anh và phái đoàn từ Sài Gòn ra, nhân danh Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố, tiếp quản nhà đất của tướng Ngụy bỏ chạy, dễ dàng làm giấy xác nhận chủ quyền ngay. Bọn Hoàng Trọng Miên hí hửng ăn nhậu tưng bừng, cuộc đời tươi như hoa hồng thắm. Vài tháng sau bọn cán bộ phụ trách nhà đất từ Hà Nội vào. Bọn này mới là bọn có quyền tịch thu và quản lý nhà đất của những kẻ bị coi là “có tội với nhân dân đã bỏ chạy ra ngoại quốc”. Các giấy chứng nhận chủ quyền nhà đất bọn Hoàng Trọng Miên lấy được trở thành giấy lộn. Mấy anh Tầu vỡ mộng bèn bỏ rơi anh Cách Mạng Ba Mươi Hoàng Trọng Miên.
    Tháng Tư 1976, Cộng sản Hà Nội khai tử cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, quẳng đi luôn cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng, Phó Bộ trưởng Văn hóa Thanh Nghị được cho làm quản thủ Thư Viện. Nghe nói Thanh Nghị than:
    – Bây giờ tôi là tên tù giữ sách.
    Cũng nghe nói Thanh Nghị chết không nhắm được mắt. Hoàng Trọng Miên cũng đã qua đời. Số phận chung của những anh Cách Mạng Ba Mươi là:
    – bị nhân dân khinh bỉ.
    – không được Việt Cộng dùng, ngay cả Việt Cộng cũng khinh bỉ bọn Cách Mạng Ba Mươi.
    Duyên Anh Vũ Mộng Long – bị bắt tháng 4-1976, tù 6 năm, vượt biên năm 1983, sống và chết ở Pháp – viết trong hồi ký “Nhà Tù”, xuất bản năm 1987, về một số những anh chị Cách Mạng Ba Mươi:
    “…Khi trở về sau 6 năm tù, tôi nhìn rõ Thái Bạch bệ rạc nằm ở sòng hút thuốc phiện xin xỏ từng điếu. Nó đã bị đá ra khỏi sinh hoạt văn nghệ. Cái hiệu sách Giải Phóng của nó ở đường Gia Long đã biến thành trụ sở công an phường. Quần áo nó lếch thếch, hôi hám. Cái chất nhễ nhãi vênh vang trên khuôn mặt đắc thời của nó giữa tháng 5-1975 đã khô rom. Nó bắt đầu chửi cộng sản chỉ để bấu một điếu thuốc phiện rẻ rề. Thế Nguyên thì tuyệt tích. Vũ Hạnh phải làm sà-bông lậu, bị công an phường gây khó dễ. Sơn Nam quần ống thấp ống cao, lang thang hè phố. Em rể Trần Bạch Đằng nằm ấp Chí Hòa một ngày, vợ nhận hết tội “áp phe” xuất cảnh, nằm thế chồng ba tháng, nhà cửa bị khám xét, đồ tế nhuyễn bị tịch thu. Lệ Hằng hết mon men tới Hội Nhà Văn sau vở kịch chửi vượt biên rồi vượt biên bị bắt. Từ Kế Tường mất chức chủ nhiệm Nhà Văn Hóa Quận 4. Nguyễn Khánh Trịnh, Ngụy Ngữ, Hoàng Ngọc Tuấn mỗi năm chỉ được đăng hai truyện ngắn. Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận mất báo Tin Sáng, mất luôn tổ hợp sơn mài, đi buôn bán tre và sẽ bị bắt…” (Nhà Tù – Duyên Anh, Xuân Thu 1987, trang 167).
    “…Vẫn trò chơi bắt văn nghệ sĩ phóng uế lên sự nghiệp của mình, Trịnh Công Sơn đã tự kiểm để được làm ở Sở Thông tin Văn hóaThành phố. Loạt bài tự kiểm của Trịnh Công Sơn đã làm ngao ngán tuổi trẻ ngưỡng mộ nhạc của Sơn. Từ đó, Sơn say mèm. Bố già Á Nam Trần Tuấn Khải tự kiểm trên tờ Văn Nghệ Giải Phóng mới nản chứ! Người nản nhất, xấu hổ nhất là Trần Việt Hoài (con của ông Trần Tuấn Khải). Anh đã uất ức làm bốn câu thơ trước khi chết:
    “Đầy tớ Mỹ ngã gục
    Bồi Tầu, Nga reo vui
    Riêng cháu con nòi Việt
    Ôi xiết bao ngậm ngùi…” (Nhà Tù, Xuân Thu 1987, trang 182)
    Ông Á Nam Trần Tuấn Khải không hẳn thuộc loại Cách Mạng Ba Mươi, ông thuộc hàng ngũ “văn nhân vô hạnh”, đội ngũ này có cái tên diễn nôm hơi dài “Văn Thi Sĩ Sài Gòn Phản Thùng Nâng Bi Việt Cộng”. Bài Thơ Nâng Bi của ông là bài thơ Nâng Bi để đời. Đây là lời và thơ ông Á Nam Trần tuấn Khải:
    “Cuối xuân Ất Mão (1975) tiếng súng cuối cùng Sài Gòn – Chợ Lớn đã tắt, ngọn cờ giải phóng tung bay khắp miền Nam, nước Việt Nam ta hoàn toàn sạch vết quân xâm lược. Những quân tay sai bán nước đều cao bay xa chạy. Tác giả tuổi ngoài tám mươi này được trông thấy cái cảnh huy hoàng rực rỡ của cả dân tộc Việt Nam, trút hết nỗi uất hờn sâu thẳm trong bấy nhiêu lâu, thực chẳng khác gì tái sinh nên viết mấy dòng sau đây để góp vui cùng bạn lòng trong cõi:
    Hơn tám mươi năm lộn kiếp đây
    Tuổi đời: lên một, tính từ nay!
    Cơm no đoàn kết mau khôn lớn
    Nước sạch xâm lăng khỏi quấy rầy.
    Độc lập đi về nhiều chuyện thú
    Tự do ăn học lắm tài hay.
    Nhờ ơn cách mạng bồi thêm thọ
    Hưởng mãi non sông đất nước này“.

    oOo

    Liêu lạc bi tiền sự. Chi ly tiếu thử thân…
    Vèo trông lá rụng đầy sân… Tha hương tâm sự có ngần ấy thôi… Sự đời đã quá đôi hồi… Thôi còn đâu nữa những người năm xưa… Quốc kỳ còn đó trơ trơ… Dám xa xôi nước mà thưa thớt lòng… Quê hương đâu nữa mà mong… Thôi đành thẹn sắt, tủi đồng thế thôi…
    Anh bạn dãi dầu không bước nữa… Gục trên súng mũ bỏ quên đời… Tôi buồn tôi viết không còn lửa. Mượn thơ truy điệu để thay lời. Hỡi ơi bạn tác ngoài trôi giạt. Chẳng đọc văn ta cũng ngậm ngùi…

    Tung hoành trong chốn can qua ấy
    Bến Hải, Cà Mâu chẳng tiếc thân
    Nước mất buông đời theo nạn nước
    Khó vi tướng tá, dễ vi thần
    Lậy mẹ, con đi, em ở lại
    Nỗi nhà, nỗi nước há phân vân
    Quê xanh lá vẫy, đầu xanh biệt
    Hăm mốt tuổi đời, mấy tuổi quân
    Lính chiến vốn nghèo như cát bụi
    Họa chăng dư dật mảnh trăng xuân
    Những phiên gác giặc thèm hơi thuốc
    Mong ánh chiêu dương ló dạng dần
    Mới đêm cùng bạn chung đầu võng
    Sáng mở đường nghe súng nổ rân
    Bạn đổ như cây chưa tỏa ngọn
    Chưa từng hò hẹn một tình nhân
    Lính nghèo nên lính càng thương lính
    Chiến dịch dài thêm mỗi bước chân
    Mỗi bước chân chưa đầy nửa thước
    Băng đồng, lội suối, vượt trùng san
    Quân đi tính mỗi mùa khô dứt
    Từng chặng ngày đêm kể dặm ngàn
    Phi pháo sẵn hai nguồn yểm trợ
    Trực thăng vi vút đảo xa gần
    Giang đoàn, hạm đội đầy sông biển
    Hải Lục Không Quân thế trận dàn
    Trai gái vai kề vai giữ nước
    Toàn Quân Binh Chủng chấp nguy nan…
    Hữu thân hữu khổ đà ghi khắc
    Bia miệng ca dao đắng chát vần
    Lính Chiến Cộng Hòa còn lãnh đủ
    Súng thù, gươm bạn mấy gian truân
    Bây giờ anh ở đâu anh hỡi
    Câu hát năm xưa rộn xóm làng
    Một bước lỡ muôn trùng cách biệt
    Quốc Quân kỳ ủ rũ mầu tang
    Gọi nhau trong nỗi niềm bi lụy
    Mấy suối cho vừa nước Giải Oan
    Ai đó thẹn thùng câu chật đất
    Hỡi ơi từ thủa lính tan hàng.

    Băng Đình (Wichita. Tháng Tư 2001)
    Súng thù, gươm bạn, lính tan hàng… Mấy suối cho vừa nước Giải Oan… Hỡi ơi… bạn tác ngoài ly loạn… Chẳng đọc thơ nhau cũng đoạn tràng…


    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (11 & 12)



    Sáng ngày 18 Tháng Giêng Ta năm 1989 tôi cùng khoảng ba mươi bạn đồng tù ngồi trong tù xa ra khỏi Thánh Thất Chí Hòa. Vừa mới ra giêng, trời còn lạnh lạnh. Tôi đã sống năm cái Tết trong tù, một Tết ở Số 4 Phan Đăng Lưu, bốn Tết ở Chí Hòa.
    Trong sáu tháng cuối năm 1988, Cộng sản Thành Hồ thanh toán những vụ án chính trị tồn đọng cả năm, sáu năm trong tình trạng giam cứu mút chỉ cà tha ở Chí Hòa. Vụ bị ngâm tôm lâu nhất là vụ Già Lam. Năm 1980 công an Thành Hồ đã phát giác tổ chức chống đối có võ trang, tức có súng, định lập chiến khu chống lại Cộng quyền bằng võ lực. Một số thành viên của tổ chức này, đông đến hai mươi người, đã bị bắt nhưng họ không chịu khai ra những người lãnh đạo tổ chức của họ. Họ cắn răng chịu tù đày. Một người trong số họ bị giam trong sà-lim ở Chí Hòa đến hơn hai năm, chịu không nổi người này phải cung khai. Tháng 3, 1984, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Đại Đức Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Đại Đức Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Sư cô Thích Trí Hải bị bắt. Nhiều người trong tổ chức bị bắt từ năm 1980 đã bị đưa đi trại lao động cải tạo, lại bị công an Thành Hồ cho xe bông đến trại rước về Chí Hòa để chúng tái điều tra, thẩm vấn.
    Trong năm 1988 các mục sư Hồ Hiếu Hạ, Nguyễn Hữu Cương, thầy truyền giảng Lê Thiện Dũng ra tòa, mỗi ông bị phang tám năm tù, tiếp đó là vụ mấy anh Biệt Kích Cầm Bút ra tòa, rồi đến vụ Già Lam.
    Ra Tòa, tôi lãnh án tù 8 năm. Trở về Chí Hòa nằm chờ chống án rồi đi trại lao động cải tạo, tôi làm bài thơ “Ra Tòa, Về Tòa”:

    Ra tòa trong chiếc xe heo,
    Tay còng, áo dấu, ngặt nghèo bước chân.
    Mấy năm tòa xử mấy lần,
    Bồi hồi Em đến, ngại ngần Anh ra.
    Anh tù Anh ở Chí Hòa,
    Em tù Em ở riêng nhà vắng anh.
    Anh làm, Anh tội đã đành,
    Em làm gì tội một cành thiên hương.
    Ma dẫn lối, quỉ đưa đường,
    Đôi ta qua nẻo đoạn trường đến đây !
    Ra tòa trong chiếc xe cây,
    Tay còng, áo dấu, dạn dầy bước chân.
    Tài tử đa cùng
    Hồng nhan đa truân…
    Đa tình tài tử, giai nhân,
    Đa đoan thân thế mấy lần biển dâu.
    Biển dâu, dâu biển mặc dầu
    Đoạn trường ta vẫn qua cầu nắm tay.
    Tòa về trong chiếc xe này,
    Tám năm tòa xử, một ngày bên nhau.
    Thời gian qua chậm, qua mau
    Mặc thời gian chẩy dưới cầu thời gian.
    Em năm mươi tuổi đang xoan,
    Anh năm mươi tuổi chửa toan về già.
    Tòa về Anh ghé Chí Hòa,
    Tòa về Em trở về nhà đón Anh.

    Tôi bị đưa ra cái gọi là Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Meo – tòa án chuyên xử tội nhân dân chống Đảng Cộng sản – hai lần, lần đầu năm 1986, hoãn xử, lần hai năm 1988. Lần ra tòa thứ nhất tôi xúc động, sợ hãi, lần thứ hai tôi quen rồi nên tôi không còn sợ nữa.
    Xe tù rời Đại Học Xá Chí Hòa lúc 8 giờ sáng, khoảng 11 giờ trưa chúng tôi đến Trại Lao Động Cải Tạo Z.30 A, Xuân Lộc.
    Xe ngừng ở cổng trại, tù nhân xuống xe. Việc làm đầu tiên của tôi khi đến trại là vào vệ đường tiểu tiện rồi ngồi xổm xếp hàng cùng với anh em chờ cai tù ra lãnh vào trại. Năm năm trời sống quanh quẩn giữa những bức tường phòng tù – năm năm là bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm? Thử làm con tính 3×365 = 1,095. Tôi ngồi đó ngoài trời, ven rừng, trước cổng nhà tù, sung sướng cảm nhận làn gió mát mơn man trên má, lùa trong mái tóc bạc, sung sướng nhìn vòng ánh nắng xuyên qua cành lá lung linh trên vai áo, nghe tiếng chim hót trong vòm cây…
    Ở Z.30 A tôi gặp lại các tu sĩ Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Thượng tọa Đức Nhuận, Linh mục Trần Đình Thủ, Linh mục Nguyễn Công Đoan, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh..Sống năm năm giữa những bức tường phòng tù, tôi không được trông thấy mặt trời, mặt trăng – ánh nắng, ánh trăng thì thấy. Buổi sáng thứ nhất đứng ở sân trại nhìn lên núi Chứa Chan mờ mờ trong sướng sớm, tôi không làm thơ, những lời thơ đến với tôi:

    Bình minh ngắm đỉnh Chứa Chan,
    Tưởng như trời đất bạt ngàn hoa bay.
    Đến đây đoạn cuối tù đày,
    Năm năm xa mộng một ngày bên nhau.
    Ai về Anh gửi đôi câu,
    Đón Em Anh đợi bên cầu Quan San.
    Em lên chơi núi Chứa Chan,
    Ru Em lả tiếng bạch đàn…à …ơi..!
    Tiếng ai dậy đất, vang trời:
    – Em lên Xuân Lộc, Em ơi, Anh chờ!

    Z.30 A nằm trong thung lũng dưới chân núi Chứa Chan, bên đồi Phượng Vĩ – nơi đóng quân của Sư Đoàn Bộ Binh 18 ngày xưa. Trại trồng nhiều cây bạch đàn. Tù trồng. Alice lên thăm tôi. Lúc năm giờ chiều Nhà Thăm Nuôi vắng tanh, năm năm trời lại được gần nhau. Trong cảnh tù đày vợ chồng tôi mừng mừng, tủi tủi, tôi bảo nàng;
    – Anh xách nước cho em tắm nhé.
    Chúng tôi đã sống với nhau những ngày hạnh phúc ở Z.30 A trong tiếng ru của lá bạch đàn. Tôi đặt một lô tên thơ mộng cho cảnh sắc Z 30 A. Và tôi làm thơ “Chứa Chan”:

    Ta đến mùa xuân Núi Chứa Chan,
    Tù đày nay sắp hết gian nan.
    Suối Tình Em ngát hương hồng hảo,
    Núi Nhớ Anh vang tiếng bạch đàn.
    Em thương trời mở xuân huyền ảo,
    Anh yêu đất nở hội hoa đăng.
    Mái tóc Em thơm mùi dạ thảo,
    Cho suốt đời Anh được chứa chan.

    Yêu suốt đời nhau vẫn chứa chan.
    Chứa Chan nay lại đến tham quan.
    Anh chờ, Anh đón Rừng Thanh Thản,
    Em tìm, Em đến Suối Miên Man.
    Em cho muôn kiếp tình nguyên bản,
    Anh hưởng nghìn năm nghĩa huệ lan.
    Suối đời trôi mãi yên chưa chán,
    Mới biết rằng Em Núi Chứa Chan.

    Núi Chứa Chan, tình ái chứa chan.
    Mây mù nắng đến cũng sương tan.
    Thiên Thai đứng giữa Rừng Thanh Thản,
    Đào Nguyên nằm cạnh Suối Miên Man.
    Giáng Tiên Em trắng hoa trinh quán,
    Từ Thức Anh xanh lá bạch đàn.
    Vợ chồng nhân thế ta chưa chán,
    Yêu suốt đời nhau vẫn chứa chan.

    Chan chứa tình ta vẫn chứa chan,
    Chứa chan tình ái cứ đầy tràn.
    Hoa lan Em hái Rừng Thanh Thản,
    Trăng vàng Anh thả Suối Miên Man.
    Yêu hoài Anh kết mây hồng tản,
    Thương mãi Em đan lá bạch đàn.
    Ai lên Xuân Lộc xin đừng nản,
    Hãy ngắm tình tôi: Núi Chứa Chan.

    Khi đến Z.30 A án tù của tôi chỉ còn một năm – với tội Biệt Kích Cầm Bút tôi bị xử án 8 năm, sau đó được giảm xuống 6 năm, khi rời Nhà Tù Lớn Chí Hòa tôi đã ở tù được 5 năm. 12 tháng tù cuối cùng của tôi êm đềm trôi qua ở Z.30 A. Tôi sống bình yên chờ đợi ngày về. Trong khi chờ đợi ngày về, tôi chờ đợi tháng tháng vợ tôi, các con tôi đến thăm tôi.
    Đây là bài thơ “Anh chỉ sống để chờ em đến”, tôi làm hơn hai mươi năm trước ở Z.30 A:

    Như trái đất chỉ quay để chờ nắng lên
    Anh chỉ sống để chờ Em đến.
    Giòng thời gian muôn kiếp lênh đênh
    Ta muôn kiếp vẫn yêu, vẫn mến.
    Trên vai Anh mái tóc thương huyền
    Em đã ngả từ ngày có biển.
    Như mưa nguồn trở lại Đào Nguyên
    Em yêu ơi, như thuyền về bến
    Anh chỉ sống để chờ Em đến.

    Như từ núi nước suôi về biển
    Như trên hoa về nhũng giọt sương
    Như Eva trở lại Thiên Đường
    Anh chỉ sống để chờ Em đến.

    Thưở tinh khôi đất trời vừa hiện
    Chim mới ca, suối mới đưa hương
    Trong thanh không vừa có thái dương
    Em đã đến…Và Em sẽ đến.

    Khi trái đất chỉ quay để chờ nắng lên
    Khi loài người còn mãi tình duyên
    Thuyền Thời Gian ta mãi lênh đênh
    Anh chỉ sống để chờ Em đến.

    Khi trái đất ngừng quay, ngày chẳng còn lên
    Đêm thôi xuống, gió không còn thổi
    Khi loài người ngừng cuộc tình duyên
    Thuyền Thời Gian ta hết lênh đênh
    Anh vẫn sống để chờ Em đến.

    Anh chỉ sống để chờ Em đến.

    (Trại Lao Cải Z 30 A Xuân Lộc – Xuân 1989)

    oOo

    Chúng tôi gọi đùa Thái Thủy, bạn chúng tôi, là Thi sĩ Lươn Om, vì những năm trước 1963 anh làm bài thơ tình trong đó có câu: “Hạnh phúc như con lươn trườn khỏi bàn tay người bắt vụng về… “. Thái Thủy là tác giả bài thơ phổ nhạc “Lá Thư Gửi Mẹ” – không nhớ do nhạc sĩ Đan Phú hay Đan Thọ phổ nhạc – được hát nhiều những năm 1956, 1958, những năm sau Ngày Đất Nước ta bị chia đôi ở sông Bến Hải: “Mẹ ơi… Thôi đừng khóc nữa… Cho lòng già nặng sầu thương…”
    Năm 1954, Thái Thủy giã từ Hà Nội vào Sài Gòn, anh có bà mẹ già ở lại miền Bắc. Năm 1975, bà cụ còn sống, Thái Thủy bị công an Thành Hồ bắt đi tù mút chỉ cà tha từ Tháng Ba 1976 đến 1988 mới được về. Chúng tôi đùa anh: “Năm 54 Thái Thủy đi, bà mẹ anh khóc, năm 75 Việt Cộng theo chân Thái Thủy vào Sài Gòn, Thái Thủy khóc. Lần này bà mẹ anh khuyên anh: “Con ơi… Thôi đừng khóc nữa…”
    Thái Thủy đi tị nạn sang Hoa Kỳ năm 1997. Đến Cali anh còn gặp Mai Thảo và Nguyên Sa. Sống ở xứ người chưa được một năm anh bị tai nạn xe cộ đứt ruột, gẫy xương sườn, phải chịu đựng cả nửa năm trời cái lỗ rốn thứ hai ở bụng. Tháng Tư 1999 anh nói với chúng tôi ở xa Cali:
    – Tao vừa đến nhà Nguyên Sa dự lễ giỗ đầu nó. (*)
    Ngày giỗ của Nguyên Sa làm tôi nhớ Mai Thảo.
    Mai Thảo, Nguyên Sa qua đời đã một năm. Nghe nói anh em văn nghệ Cali có tổ chức một Giải Văn Học Mai Thảo. Dù không có vợ con, Mai Thảo cũng không mất giỗ, anh có nhiều thân nhân ở Hoa Kỳ. Người cháu con bà chị ruột Mai Thảo, anh Nguyễn Đ.C, hiện ở San Jose, Cali, là người rất thương cậu Quí.
    Mai Thảo và tôi có họ với nhau. Bà nội tôi là em ruột ông nội của Mai Thảo. Ngày xưa xa lắm, những năm 1940, tôi có được về chơi làng Thổ Khối, làng bà nội tôi, cạnh làng Bát Tràng, phủ Gia Lâm. Ông thân Mai Thảo và ông thân tôi thường gặp nhau ở Sài Gòn.
    Tháng Ba 1976 bọn Cộng sản Bắc việt – thời đó do hai tên Việt Cộng cuồng tín ác ôn nhất là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ cầm đầu – mở chiến dịch bắt bỏ tù những văn nghệ sĩ, ký giả quốc gia Việt Nam Cộng Hòa bại trận, gọi giản dị là văn nghệ sĩ Sài Gòn. Đây là một phần trong tổng chiến dịch càn quét, khủng bố để cho chìm xuồng luôn bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tháng Sáu 1976 những anh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Tấn Mẫm, Thanh Nghị, Lâm Văn Tết, Nguyễn Hữu Thọ bị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ cho ngồi chơi không sơi nước ráo trọi. Buổi sáng sớm, một anh bạn đi xe đạp đến đập cửa nhà tôi:
    – Đêm qua nó bắt anh Côn, Đằng Giao, Duyên Anh, Nhã Ca… Chưa biết còn những ai đã bị bắt… Ông đi trốn hay cứ ở nhà?
    Trong một đêm bọn công an Thành Hồ tung ra năm, bẩy toán đi bắt người. Nhiều lắm là mỗi toán bắt được hai người trong một đêm. Anh em vừa bị bắt trong đêm, sáng hôm sau chúng tôi biết ngay. Người nọ loan tin dữ cho người kia. Chúng tôi không sợ hãi lắm cũng không ngạc nhiên nhiều trước chuyện chúng tôi bị bắt. Gần một năm rồi, anh em sĩ quan đi tù hết, không ai biết các sĩ quan, các dân biểu, thượng nghị sĩ, các vị công chức cao cấp của ta đang bị giam giữ ở đâu, sống chết ra sao. Việt Cộng bắt người dài dài và đều đều không ngừng nghỉ, bọn văn nghệ sĩ chúng tôi có bị Việt Cộng bắt cũng phải thôi. Việt Cộng không bắt chúng tôi mới là chuyện lạ.
    Chiến dịch bắt giam văn nghệ sĩ Sài Gòn kéo dài suốt Tháng Ba 1976. Mai Thảo ở trong danh sách văn nghệ sĩ bị bắt Tháng Ba 76. Công an Thành Hồ rất muốn bắt Mai Thảo, nhưng bắt không được vì Mai Thảo không có số ở tù. Công an Cộng sản từng tự hào muốn bắt ai là bắt được người đó. Chẳng phải họ tài giỏi gì, chỉ vì họ học cách kiểm soát nhân dân của Nga Cộng, Tầu Cộng. Và họ tỏ ra cực kỳ tàn ác với nhân dân nên nhân dân sợ hãi, tuyệt vọng, không ai còn có tinh thần chống đối, dù chỉ là chống đối tiêu cực, như đi trốn. Alexandre Solzhenytsin viết trong The Gulag Archipelago, Quần đảo Ngục Tù:
    “Cộng Sản làm nhân dân tuyệt vọng đến nỗi không ai nghĩ đến bỏ trốn – sợ trốn không thoát, không biết trốn ở đâu, trước sau cũng bị bắt. Dù biết mình sắp bị bắt, người ta cứ ngồi chờ bị bắt. Nhưng công an Cộng Sản không phải thần thánh gì, vẫn có những người họ bắt không được. Tôi biết một sinh viên đã nhẩy qua cửa sổ chạy luôn khi bọn mật vụ đến bắt anh. Anh trốn và sống tương đối tự do mấy chục năm cho đến năm nay tôi gập lại anh. Có sao đâu!”
    Solzhenytsin còn nói:
    “Nhân dân tuyệt vọng nên trở thành ù lì, không ai nghĩ đến chuyện chống đối. Như thời bọn Mật Vụ mở chiến dịch bắt người ở Leningrad. Chúng chuyên bắt người ban đêm, bỏ xe ngoài đường phố vắng. Chỉ cần nhân dân lén ra phá xe của chúng, cho chúng không dùng được xe, cũng có thể làm cho nhiều người không bị chúng bắt trong chiến dịch ấy”.
    Mai Thảo đã trốn và đã thoát.
    Trước 30 tháng Tư anh ở một phòng trong nhà Chiều Tím, cạnh Phở 79 đường Võ Tánh. Ông anh của anh đi được trước 30 tháng Tư, để lại căn nhà đường Phan Đình Phùng, đoạn trước cửa trường Anh Văn Nguyễn Ngọc Linh. Sau 30 Tháng Tư, một ông anh của Mai Thảo (anh Nguyễn Đăng Viên) về sống trong căn nhà ở Phan Đình Phùng. Bỏ căn phòng ở nhà Chiều Tím, Mai Thảo về sống một phòng trong căn nhà đường Phan Đình Phùng. Có đêm tôi về đấy ngủ với Mai Thảo.
    Không vợ con nên Mai Thảo không có gì để quyến luyến. Công an Thành Hồ thiếu kinh nghiệm trong chiến dịch bắt bớ này. Lẽ ra họ phải đến bắt Mai Thảo trước tiên. Nhưng trong đêm thứ nhất tung quân đi bắt người họ đã không bắt ngay Mai Thảo. Sáng hôm sau được tin dữ, Mai Thảo lững thững ra khỏi nhà, anh không cần mang theo cả quần áo. Công an Thành Hồ mất dấu anh luôn. Anh vẫn sống ở Sài Gòn, vẫn đi đây, đi đó, đến gần hai năm sau anh mới vượt biên, anh đi khỏi nước khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1978.
    Tôi gặp Mai Thảo lần đầu năm 1956 khi tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong ra đời. Mai Thảo giữ mục Điểm Thơ trong VNTP những số đầu. Tôi viết Vũ Nữ Sài Gòn và Tạ Quang Khôi viết truyện dài Mưa Gió Miền Nam cũng trên VNTP từ số 1.
    Đêm cuối năm 1975, đừơng Phan Đình Phùng tắt điện tối om. Ba chúng tôi, Mai Thảo, Hoài Bắc và tôi, trên ba xe đạp, tình cờ gập nhau, tụm lại bên vỉa hè nói chuyện. Bỗng có tiếng người la:
    – Mai Thảo, Hoài Bắc, Hoàng Hải Thủy…
    Đoàn Khê, tức Khê Vinh, Thăng Long Xích Thố, kêu tên ba chúng tôi. Anh đến trên chiếc xe đạp mini. Chúng tôi hỏi anh những người đá banh Hà Nội vào có đến thăm anh không. Khê Vinh nói bô bô:
    – Chúng nó phải đến gập tôi chứ! Về bóng tròn tôi là Hồ Chí Minh của chúng nó…
    Những mùa thu lá bay không cùng nhau ăn gà xé phay qua đi… Hôm nay ba anh Mai Thảo, Hoài Bắc, Đoàn Khê đều không còn ở cõi đời này. Qua bao nhiêu tai họa, hôm nay tôi ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Tháng Sáu hè về, nắng vàng rực rỡ, tưởng nhớ những ngày xưa và những bạn hữu thân sơ đã cùng tôi sống những ngày…
    Tháng Ba 1976 một số văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bắt, tôi ở trong số những văn nghệ sĩ chưa bị bắt. Tháng Năm 1976 tôi đi dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Văn Nghệ Sĩ. Những ngày, những đêm mòn mỏi kéo dài. Tôi nhớ một lần gập nhau, Mai Thảo nói:
    – Tao chỉ mong tối đến để tao được ngủ cho quên…
    Cuối 1976 có người đến căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi:
    – Tôi là cháu ông Mai Thảo. Ông cậu tôi có thư gửi ông.
    Mai Thảo viết cho tôi: “Tao tưởng mày bị đi cải tạo nên hôm nay mới liên lạc với mày. Người đưa thư là cháu tao. Mày có thể tin được hắn. Cho tao mượn tiểu thuyết. Tao là kẻ thù của mặt trời… Ở trong nhà kín suốt tháng… Chỉ đọc truyện thôi”.
    Tôi có nhiều truyện detective tiếng Pháp. Mỗi lần tôi đưa anh cháu của Mai Thảo cả hai chục quyển. Sau chừng hai ba lần đến nhà lấy sách, tôi hỏi thăm Mai Thảo sống ra sao, anh cháu nói thỉnh thoảng anh vẫn chở ông cậu anh trên xe Vespa đi chơi đây đó trong thành phố. Tôi nói vợ chồng tôi muốn hôm nào anh đưa Mai Thảo đến ở chơi với chúng tôi một ngày.
    Một sáng, Mai Thảo đến nhà tôi, anh để râu, đội mũ phớt. Hai cậu cháu anh ăn với vợ chồng tôi bữa cơm trưa. Đấy là lần cuối cùng tôi gặp Mai Thảo ở Sài Gòn. Chừng ba tháng sau công an Thành Hồ đưa xe bông đến nhà rước tôi đi. Đây là lần đầu tôi bị bắt. Người thẩm vấn tôi ở Số 4 Phan đăng Lưu là Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung, tức họa sĩ Ớt nhật báo Điện Tín, Việt Cộng nằm vùng. Ba Trung biết Mai Thảo có đến nhà tôi nên muốn tôi khai ra chỗ ở của Mai Thảo, tôi nói với anh:
    – Tôi không biết Mai Thảo ở đâu. Nó không nói nơi nó ở mà tôi cũng không hỏi. Tôi không hỏi là bởi vì tôi sợ nếu tôi biết chỗ nó ở, khi tôi bị bắt, các anh sẽ đòi tôi phải khai ra. Khi đó nếu tôi khai ra, nó sẽ khổ, tôi sẽ ân hận, mà nếu tôi không khai thì tôi sợ tôi khổ. Nhưng đó là ý nghĩ của tôi trước khi tôi bị bắt kia. Nay tôi đã bị bắt vào đây rồi tôi nghĩ khác. Chỉ khi nào tôi không bị bắt mà tôi khai để Mai Thảo bị bắt tôi mới ân hận, còn khi tôi đã bị bắt rồi tôi thấy nếu tôi biết, tôi khai cũng chẳng sao. Mai Thảo có bị bắt thì cũng chỉ khổ như tôi mà thôi.
    Ba Trung biết Mai Thảo có liên lạc với Hoài Bắc. Trong một cuộc thẩm vấn tôi, Ba Trung xé cái bao giấy thuốc lá Mai, bảo tôi:
    – Anh viết cái thư gửi Hoài Bắc. Anh viết như thế này: “Người ta biết chỗ ở của MT, bạn ta rồi. Bảo nó đi nơi khác ngay…”
    Tôi biết thủ đoạn của Ba Trung. Trong tù đôi khi có những người tù được thả mang lén những lá thư viết vội kiểu này ra ngoài. Ba Trung sẽ cho một tên đàn em giả làm tù mới được tha (bọn trẻ mới vào ngành công an có tên chung là trinh sát) mang thư tôi đến đưa cho Hoài Bắc, với lời nói:
    – Tôi mới ở trong tù ra. Tôi ở chung phòng với ông Hát Hát Tê. Ông ấy nhờ tôi mang ra thư này gửi ông…
    Nhận thư tôi Hoài Bắc sẽ lật đật lên ngựa sắt phi đến chỗ Mai Thảo ở để báo tin, bọn công an rình bên ngoài nhà Hoài Bắc sẽ đi theo, chúng sẽ ập vào nhà đó bắt Mai Thảo. Tôi nghĩ là Hoài Bắc cũng không biết chỗ ở của Mai Thảo như tôi. Mẹo lừa này của Ba Trung sẽ vô ích. Trước khi cầm bút viết tôi đọc ba Kinh Kính Mừng, xin Đức Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp làm cho lá thư của tôi không gây tai họa cho các bạn tôi. Rồi tôi viết:
    “HB. Người ta biết chỗ ở của MT rồi. Mày đến bảo nó đi nơi khác ngay. Tao. HHOÀNG TRỌNG”.
    Tôi cố ý viết “mày tao” với Hoài Bắc. Anh không “mày tao” với tôi. Tôi hy vọng nhận được thư này Hoài Bắc sẽ nghi thư không phải do tôi viết.
    Rồi lại những đêm dài dằng dặc trong xà-lim u tối… Mười hai tháng hai ngày nằm xà-lim tôi mới được sang phòng tập thể. Cuối năm 1978 gặp người bạn mới bị bắt vào phòng, cho biết sau ngày tôi bị bắt, Mai Thảo, Hoài Bắc, Lê Thiệp, Nguyễn Hữu Hiệu… đều đã đi thoát. Tôi nhẹ người.
    Ngày 10 tháng 11 năm 1994, đôi cánh sắt United Airlines đưa vợ chồng tôi đến Virginia. Cùng ngày hôm ấy Mai Thảo và Kiều Chinh cũng đến Virginia. Mai Thảo đến chơi, Kiều Chinh đến đọc diễn văn ờ Đài Tưởng Niệm Việt Nam. Tôi gặp lại Mai Thảo.
    Rồi tôi lại gặp Mai Thảo khi vợ chồng tôi sang thăm Quận Cam, Cali tháng 12, 1994. Tôi đến phòng Mai Thảo ở sau tiệm ăn Song Long. Căn phòng nhỏ, một bàn, một ghế, một giường. Đấy là lần cuối tôi gập Mai Thảo. Khi tôi đến Hoa Kỳ, Hoài Bắc đã qua đời, tôi không có dịp hỏi anh: “Năm 77, tôi ở Phan Đăng Lưu, có gửi ông cái thư, ông có nhận được không?”

    Gần ba mươi năm sau buổi chiều tôi ngồi trong phòng thẩm vấn Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu, viết thư cho Hoài Bắc, hôm nay viết lại chuyện xưa tôi thấy cái gọi là tính cách vô lý của bức thư. Không cần phải là người có nhận xét tinh tế gì cho lắm, người nhận thư tất phải nghĩ đến chuyện một thằng đang nằm trong tù làm sao biết được chuyện ngoài đời, nhất là nếu công an Việt Cộng đã biết chỗ ở của kẻ họ tìm bắt, họ đã đến đó lâu rồi, ở đó mà phi báo cho nhau đổi chỗ.
    Hoài Bắc, Mai Thảo, Nguyên Sa, Đoàn Khê Vinh… nay đều không còn nữa. Chỉ còn tôi tưởng nhớ hình ảnh, nét mặt, tiếng cười, giọng nói của các anh.
    Đây là Thơ Mai Thảo:

    Đợi Bạn
    Nửa khuya đợi bạn từ xa tới
    Cửa mở cầu thang để sáng đèn
    Bạn tới lúc nào không biết nữa
    Mưa thả đều trên giấc ngủ đen.

    Thằng Viết Mướn
    Những trang đời viết còn dang dở
    Sẽ có bàn tay ấy viết giùm
    Ngón cái sang trang và ngón út
    Viết dòng vuốt mắt lúc lâm chung

    Không Hiểu
    Thế giới có triệu điều không hiểu
    Càng hiểu không ra lúc cuối đời
    Chẳng sao khi đã nằm trong đất
    Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

    Và tôi hỏi Mai Thảo:

    Cuộc sống có triệu điều không hiểu
    Càng hiểu không ra lúc cuối đời
    Ngàn năm nay đã về trong đất
    Đọc ở sao trời chắc hiểu rồi?

    (*) GHI CHÚ: Hồi ký “Sống Và Chết Ở Sài Gòn” được viết năm 2002. Nhà thơ Thái Thủy từ trần ngày 13-4-2011 tại Quận Cam, California, hưởng thọ 74 tuổi.

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (13)





    Bước một mình qua ngưỡng cửa năm
    Nhân gian tịch tịch tiếng mưa thầm
    Chợt đâu vẳng tiếng gà lai kiếp
    Báo vẫn đêm dầy ở cõi âm.
    (Trừ Tịch – Mai Thảo)

    Những ngày cuối năm tuyết trắng đến trên Rừng Phong, tôi tìm trong thơ Thanh Nam, Duyên Anh, Mai Thảo những ý thơ về Tết, về xuân. Đến những ngày này khi bánh xe lãng tử đã đưa tôi đến Virginia Đất Tình Nhân được bốn mùa lá rụng tôi mới có được đủ ba tập thơ của ba người đã khuất: Thanh Nam, Duyên Anh, Mai Thảo.
    Hàn Dũ viết “Vật bất đắc kỳ bình tắc minh”.
    Nhiều người viết tiểu thuyết thời trẻ có làm thơ nhưng rồi gần như tất cả đều bỏ làm thơ khi họ qua số tuổi hai mươi, khi họ bước hẳn vào nghề viết truyện, làm báo. Một trong những nguyên nhân làm cho tuyệt đại đa số những người viết truyện từng làm thơ thời họ chưa hai mươi tuổi và qua tuổi đó không làm thơ nữa là vì có tâm sự gì họ đều có thể diễn đạt trong những truyện họ viết. Nếu có gì bất bình họ kêu lên trong truyện, họ không cần kêu lên bằng Thơ. Và vì họ không phải là thi sĩ nên qua tuổi hai mươi họ không làm thơ nữa.
    Trong ba người tôi đọc thơ những đêm cuối năm này chỉ có Thanh Nam là người vẫn làm thơ sau năm anh hai mươi tuổi, nhưng anh chỉ làm thơ lai rai, làm thơ rất ít. Năm 1972 Thanh Nam làm “Bài Hành đón Tuổi Bốn Mươi”. Năm ấy chiến tranh đang sôi động trên khắp nước ta, tôi thấy lời thơ Thanh Nam đầy cảm khái nhưng cũng chỉ đọc qua một lần. Rồi quên đi.
    Hai mươi hai năm sau, qua cuộc biển dâu, bẩy nổi, mười chìm, hai mươi mấy cái lênh đênh, những đêm buồn đèn vàng, nằm bình yên trong căn hộ Housing ấm áp ở Virginia Đất Tình Nhân, đọc lại “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi” của Thanh Nam, tôi ngất ngư đi một đường cảm khái: “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi” là bản tình ca ghi lại cuộc sống và tâm tư của những chàng trai Bắc kỳ di cư chưa vợ sống ở Sài Gòn những năm 60. Nói rõ hơn: những chàng trai ba mươi tưổi, văn nghệ sĩ, sống độc thân trong Bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn Đẹp lắm, Sài Gòn ơi những năm 1960 thanh bình xa xưa…

    Én nhạn về Nam, xuân rồi đây
    Chợt thèm ly rượu, chút mưa bay
    Gọi về trong đáy hồn lưu lạc
    Những bước chân xưa nhạt dấu giày…

    Thanh Nam làm “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi” nhân những ngày Tết Nguyên Đán. Năm 1970 anh vừa bốn mươi tuổi. Những lời thơ thật đẹp:

    Gió nổi mười phương trời buổi đó
    Với ngày như lá, tháng như mây
    Lầu sương từng buổi đùa nhan sắc
    Giấc ngủ thềm khuya rộn tiếng hài…

    Ơi… Trong số các bạn đọc những dòng này, chắc có dăm bẩy bạn từng lên xuống ba tầng thang lầu Bin-đinh Cửu Long, Sài Gòn những năm 1960. thời các bạn ba mươi tuổi. Tôi chắc các bạn cũng cảm thấy như tôi: Thơ Thanh Nam gợi lên trong tim ta tiếng giày cao gót của những em ca-ve, tiếng guốc e lệ của những em nữ sinh con nhà lành gõ vui, gõ nhẹ, gõ lách cách trên các hành lang Bin-đinh Cửu Long trong những đêm xanh xưa ấy, khi chúng ta còn trẻ, khi chúng ta mới ba mươi tuổi…

    Chiều xuống đã nghe lòng rộn rã
    Gió lên, hồn ngỏ, phố vui mời
    Ca trường, hý viện, xuân như hạ
    Đời thả trôi vào nhịp phách lơi…

    Sài Gòn mùa mưa không nói làm gì, mùa nắng dù nắng nóng đến chừng nào cứ đến khoảng bốn giờ chiều là có gió mát. Gió từ sông đến, mưa từ biển. Những năm 60 bình yên ấy chúng ta biết người yêu của chúng ta đang ở đâu… Chiều xuống chúng ta thấy lòng ta rộn rã. Trên đường đi làm về ta thấy Sài Gòn nắng đã dịu, gió chiều rào rào trên những hàng cây sao đường Duy Tân, đường Hai Mươi, ta nhớ đến người yêu: Tối nay đưa nàng đi ăn, đi chơi ở đâu? Ngân Đình hay La Plage Biên Hòa, Rex, hay ngồi bên nhau trên thảm cỏ ngắm trăng, hôn nhau đã đời dưới những hàng dừa xa lộ?
    Thanh Nam là nhân viên Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam của Mỹ. Đài này cho nhân viên ra đảo Phú Quốc trước ngày 30 Tháng Tư. Người Mỹ sắp cuốn cờ bỏ của chạy lấy người nhưng vẫn còn muốn tránh cái tiếng đưa người Việt làm với họ chạy ra khỏi nước. Họ đưa nhân viên Đài Mẹ Việt Nam ra Phú Quốc để có thể nói Phú Quốc vẫn là lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ vậy Thanh Nam và vợ con sang Hoa Kỳ tương đối nhẹ nhàng. Nghe nói có thời Thanh Nam sống ở miền đông Hoa Kỳ, thành phố New Jersey, rồi lên Seattle ở miền Tây cho đến ngày anh mất.
    Những năm 1980 ở Sài Gòn, tôi đã được nghe vài câu trong bài “Thơ Xuân Đất Khách” của Thanh Nam. Năm 1994 khi sang đến Hoa Kỳ, tôi mới được đọc toàn bài. Từ đó tôi cho đây là bài thơ tả tâm trạng người Việt tha hương hay nhất.

    Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
    Mới hay năm tháng đã thay mùa
    Ra đi từ thưở làm ly khách
    Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
    Trôi dạt từ đông sang cõi bắc
    Hành trình trơ một gánh ưu tư
    Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
    Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
    Thức ngủ một mình trong tủi nhục
    Dặm dài, chân mỏi, bước bơ vơ
    Giống như người lính vừa thua trận
    Nằm giữa sa trường nát gió mưa
    Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
    Làm thân cây cỏ gục ven bờ
    Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
    Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa…

    Những câu thơ như: “Chợt nghe từ đáy hồn thương tích… Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa” không cần và không thể nói gì thêm theo kiểu phụ đề Việt ngữ. Tôi đến Hoa Kỳ muộn màng nên không gặp lại Thanh Nam. Tháng Giêng 1995 tôi đến Seattle, gặp lại Nhất Tuấn, Hà Huyền Chi, Huy Quang Vũ Đức Vinh. Riêng Thanh Nam Trần Đại Việt không còn ở thành phố mưa gần như quanh năm đó nữa.
    Đến Rừng Phong bốn mùa lá rụng tôi mới có tập “Em, Tôi, Sài Gòn và Paris” của Duyên Anh. Có hai bài thơ Xuân, thơ Tết – đúng hơn là một bài thơ “Khai Bút”, một bài thơ viết về mười hai tháng – trong tập thơ này:

    Hình như trên mỗi nụ đào
    Nỗi ta phảng phát chiêm bao cuối đời.
    Nghe trong hiu hắt mù khơi
    Tiếng em thoảng gọi hụt hơi nửa chừng
    Ngựa về vết chém ngang lưng
    Ủ ê chiến tích rưng rưng chiến bào
    Tài hoa mối gậm hư hao
    Tủi thân nhan sắc, nghẹn ngào phấn son
    Đường xa rêu lấp xanh buồn
    Hồ ly rình rập hớp hồn tinh anh
    Rượu xuân mừng chén lênh đênh
    Nghìn năm sau vẫn một mình mình thôi.


    Sau ngày ta mất nước Thơ trong nước, Thơ ngoài nước, Thơ nào cũng sầu buồn. Phải vậy thôi. Nhục bại trận, nhục mất nước, nhục tha hương! Mang ba cái nhục ấy trên vai, trong tim, trong hồn, ta không buồn sao được. Là người ta phải buồn, phải nhục. Những tháng đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái lá đa trong ca dao ở Sài Gòn sau ngày 30 Tháng Tư 75, chỉ có những thằng Việt Gian, mặt mũi mới phớn phở, người ngợm mới béo tốt… Chỉ thấy buồn nhớ trong thơ Thanh Nam, Mai Thảo, Duyên Anh. Đó là chuyện tự nhiên.
    Mời bạn đọc thơ Duyên Anh:

    Niên thiếu
    Thuở ấy mây non gió rất mềm
    Nắng vừa ấm đủ mọng môi em
    Nụ hôn mừng tuổi ngon mùi Tết
    Anh bảo Em rằng mới tháng giêng
    Tiếng trống đình vang tự sớm mai
    Xuân em còn hứa hẹn lâu dài
    Hồn nhiên thức trắng canh tam cúc
    Anh bảo em rằng sang tháng hai
    Gánh hát chèo đêm tận xóm xa
    Đưa em đi dưới ánh trăng ngà
    Khi về hoa bưởi thơm mùi nhớ
    Anh bảo em rằng qua tháng ba
    Chân sáo đường quê vẽ hẹn hò
    Bồi hồi ngọn cỏ ngậm sương mơ
    Vô tình tay nắm tay khăng khít
    Anh bảo em rằng đang tháng tư
    Ít quá mỗi ngày một bận thăm
    Thật gần mà vẫn cứ xa xăm
    Chửa chiều đã ngỡ sao quên mọc
    Anh bảo em rằng sắp tháng năm
    Anh bảo em nhiều, đếm hết không
    Những lời tháng sáu có mưa giông
    Những câu tháng bẩy heo may lượn
    Tháng tám tình xanh, tháng chín hồng
    Anh vỡ lòng yêu cuối tháng mười
    Đóa hôn tháng một cháy bùng môi
    Tháng mười hai gọn vòng tay ấm
    Ấy lúc hồn anh biết rã rời.

    Bài thơ dễ thương, không một lời gì trong thơ cho ta thấy thấp thoáng hình ảnh Thương Sinh một thời Con Ong châm chích.
    Ngày tháng ghi dưới bài là năm 1974.
    Năm ấy chiến tranh đã tàn phá đất nước ta ròng rã hai mươi năm nhưng chúng ta chưa bại trận, chưa mất nước, chưa đầu hàng, chưa nhục nhã bỏ chạy, chưa có nỗi buồn vong quốc trong thơ của những văn nghệ sĩ Việt Nam.
    Không có nhiều ý thơ Xuân, thơ Tết trong tập “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền” của Mai Thảo. Bạn đã đọc bài thơ Trừ tịch, đây là mấy bài thơ khác của Mai Thảo:
    Mừng tuổi
    Em vẫn trăm xuân mừng tuổi mới
    Tuổi của thềm sương tuổi chúng mình
    Cùng lăn không tiếng về nơi ấy
    Tăm cá không còn cả bóng chim
    Cuối năm
    Tận ngữ tìm lung một tĩnh từ
    Tưởng còn sót lọt ở phần thư
    Đập tay điếu thuốc tàn không rụng
    Đã lượng đời vơi tới đáy ư?
    Tin xuân
    Những bầy chim én báo tin xuân
    Không tới. Đài Xuân vẫn trắng ngần
    Sao phải đợi chờ chim én bảo
    Một đóa vui người đủ tuyết tan.

    Trong ba người, Thanh Nam có nhiều thơ về Tết, về Xuân nhất, Thơ Thanh Nam làm tôi xúc động, cảm khái nhất, như những câu:

    Đất khách năm tàn vẫn gió mưa
    Ngồi bên ly rượu đón giao thừa
    Nhìn qua khung cửa mờ hơi nước
    Chợt nhớ mưa phùn đất Bắc xưa…
    …Ôi cố hương xa nửa địa cầu
    Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau
    Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
    Hiện rõ trời xuân một thuở nào…

    Tôi quen biết Thanh Nam năm 1952 ở Sài Gòn. Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang, Trọng Khương (Bánh Xe Lãng Tử), Hoàng Giác (Ngày Về)… năm ấy là nhân viên Phòng Năm, Cục Tâm Lý Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu. Thanh Nam có thời làm thư ký tòa soạn tuần báo Thẩm Mỹ. Tôi quen biết Mai Thảo năm 1956 khi tờ tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong ra đời, Mai Thảo giữ mục Điểm Thơ cho Văn Nghệ Tiền Phong những số đầu. Tôi quen biết Duyên Anh năm 1964 khi anh đã có tên Thương Sinh và có tác phẩm “Dấu Chân Sỏi Đá“.
    Cả ba đều là bạn mày tao với tôi. Tôi có một số kỷ niệm với ba người bạn ấy. Hôm nay ba bạn tôi cùng giống nhau một điểm là họ đã ra khỏi cõi đời này.

    Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
    Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
    Thôi thế anh về yên xóm cỏ
    Cây đời đã cỗi gốc yêu đương
    Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
    Cho đống xương tàn được nở hương…

    Tôi thường kể những lời thơ trên đây mỗi khi trái tim tôi ngất ngư đi một đường cảm khái. Tôi nhớ tôi đọc được những câu thơ ấy trên đầu một truyện ngắn nào đó của Lê Văn Trương – truyện ngắn tôi đọc những năm 40 khi tôi mới vừa mười tuổi. Cuối năm nay tôi làm một chuyến tiếu ngạo giang hồ qua Cali; được tặng một số sách trong đó có tập Thơ Trần Huyền Trân, tôi mới biết đó là những câu thơ trong bài Lưu Biệt, Trần Huyền Trân viết tặng Lê Văn Trương:

    Thôi thế anh về yên xóm cỏ
    Xứ nghèo đã cỗi gốc yêu đương
    Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
    Cho đống xương đời được nở hương…

    Sáu, bẩy giờ tối mùa mưa, hai chúng tôi trên hai xe đạp song song bên nhau đi trên đường Duy Tân, con đường cây dài, bóng mát nhiều người yêu mến ở Sài Gòn. Có tôi trong số những người yêu đường Duy Tân, nhất là khoảng đường từ sau Nhà Thờ Đức Bà đến Hồ Con Rùa. Một đêm Noel xa xưa – những năm 54, 55 – tôi nằm mơ thấy tôi đi trên đoạn đường Duy Tân đó, đường đầy hoa, những bông hoa lên đến hai đầu gối tôi.
    Chúng tôi ghếch, khóa hai xe vào nhau, vào ngồi một quán cà phê vỉa hè. Tối xuống, những quán cà phê nghèo lèo tèo ba bốn cái bàn gỗ nhỏ như quán này mọc lên thật nhiều. Cà phê vỉa hè nhưng vẫn là cà phê phin cái nồi ngồi trên cái cốc. Hai chúng tôi cùng hút thuốc lá dây chuyền. Duyên Anh nói:
    – Đi chơi với mày lần cuối. Tao đi mấy lần rồi mà đều không xong. Những lần trước tao đi không chia tay với mày. Lần này chia tay xem sao… Tao nhớ có lần mày nói Lan Đài đi mà không nói lời chia tay với mày, nó đi không lọt.
    Tôi bùi ngùi nhớ chuyện Lan Đài.
    Năm 1981, hay 82… một chiều tôi đạp xe đến nhà Lê Trọng Nguyễn, đường Nguyễn Huỳnh Đức, rủ Nguyễn đi chơi. Đến cửa nhà Nguyễn, tôi gặp Lan Đài và con gái anh trong nhà Nguyễn vừa ra. Hai bố con đi một xe đạp, Lan Đài đứng lại nói chuyện vài câu với tôi. Rồi chia tay. Vào nhà gặp Nguyễn, tôi nói:
    – Tao vừa gặp Lan Đài với con gái nó ngoài đường. Nó như có chuyện gì muốn nói với tao rồi lại thôi…
    Nguyễn gật đầu:
    – Mày hay đấy. Nó với con gái nó sắp đi chui. Nó đến từ giã tao. Chắc nó muốn nói với mày là nó sắp đi…
    Năm, bẩy ngày sau gặp lại nhau, Nguyễn muốn khóc:
    – Lan Đài nó chết rồi. Ban đêm lên tầu lớn nó rớt xuống sông. Tìm được xác nó rồi, con gái nó cũng ở lại luôn…
    Nhạc sĩ Lan Đài, Chiều Tưởng Nhớ, từng phụ trách một chương trình nhạc trên TiVi Việt Nam những năm 70. Dường như tên chương trình là Tiếng Thời Gian. Lan Đài hiền lành, dễ thương, không bê bối kiểu nghệ sĩ bất cần đời, không ăn tục, nói phét, không sài tiếng Ai Cập như tôi, không ăn chơi. Biết Duyên Anh sắp đi tôi kể chuyện Lan Đài. Không ngờ Duyên Anh bị chuyện đó làm cho théc méc.
    Chúng tôi chia tay nhau ở đường Hai Bà Trưng. Tôi về Ngã Ba Ông Tạ, Duyên Anh về đâu tôi không biết. Căn nhà kiểu vi-la của Duyên Anh ở đường Công Lý, phía bên chùa Vĩnh Nghiêm, gần ngay ngã tư Công Lý – Yên Đổ, đã được bán đi và giao cho chủ mới ngay trong ngày vợ con Duyên Anh lên Air France sang Pháp. Vợ con Duyên Anh ra khỏi nhà lúc 11 giờ trưa, bốn giờ chiều Duyên Anh kéo Dương Hùng Cường, tôi và một hai anh em nữa đến nhà uống bia thoải mái. Năm ấy (năm 1983) căn nhà chỉ được bán với giá có 27 cây vàng. Năm nay (2000) nhà đó phải trị giá đến cả ngàn cây.
    Duyên Anh đi và đi thoát luôn. Tối mưa ấy, cuối năm 1983, là lần cuối cùng chúng tôi gập nhau, nhìn mặt nhau. Nếu lúc ấy Duyên Anh đi không thoát thì chưa biết cuộc đời anh sau đó và bây giờ ra sao! Một chuyện tôi chắc hơn bắp là nếu cuối 1983 Duyên Anh đi không thoát thì qua năm 1984 Duyên Anh cũng nằm trong một phòng giam nào đó trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu như Dương Hùng Cường và tôi. Chúng tôi bị tó đêm mùng 2 tháng 5, 1984.
    Duyên Anh bị bắt trong đợt Việt Cộng khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn tháng 3, tháng 4 năm 1976. Từ Trại Lao Cải Xuyên Mộc trở về năm 1981, Duyên Anh viết truyện “Đồi Fanta”. Bản thảo được đánh máy làm nhiều bản. Duyên Anh nhờ một người bạn trẻ giữ dùm một bản. Gia đình anh bạn này có nhiều người rất ái mộ Duyên Anh. Anh bạn trẻ nguyên là một tu sĩ Công giáo. Anh đã học xong nhưng Việt Cộng không cho anh được trở thành linh mục. Anh bị bắt vì can tội cùng một nhóm tu sĩ in ronéo những bài giảng, in lịch đạo cũng bằng ronéo cung cấp cho giáo dân đang đói khát lời Chúa “Các ngươi sẽ đói lời Ta từ bờ biển này sang đến bờ biển kia”. Tôi vào chung phòng tập thể với anh ở Khu C Một Số 4 Phan Đăng Lưu. Anh kể:
    – Khi xét nhà tôi, nó bắt được tập “Đồi Fanta” của ông Duyên Anh. Trong tập ấy có cái thư ông Trần Tam Tiệp ở Paris viết cho ông Duyên Anh, trong thư có nhắc đến ông và ông Dương Hùng Cường.
    Anh bạn trẻ và tôi trở thành thân thiết nhau. Tôi nhờ anh thật nhiều. Nhờ cả tinh thần và vật chất. Chúng tôi nằm cạnh nhau, ăn chung, anh được gia đình gửi đồ nuôi khá nhiều – trước 75 ta gọi là “tiếp tế” – nhờ nhà có tiền chịu chi cho bọn cai tù nên anh được ra gặp thân nhân luôn. Nhờ anh, tôi nhắn được tin về nhà cho vợ tôi. Ở chung với nhau khoảng sáu tháng, một sáng anh rời Phan Đăng Lưu để sang Chí Hòa. Người bạn trẻ đi rồi, tôi ứa nước mắt vì thấy mình cô đơn quá đỗi.
    Hai tháng sau đến lượt tôi lên xe cây sang Thánh thất Chí Hòa. Tôi được đưa vào Phòng 10 Khu ED. Thật phúc cho tôi: anh bạn trẻ ở trong Phòng 10. Tôi lại ăn chung, nằm cạnh anh. Tại đây anh đã kết thân với tu sĩ Phật giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Anh rất mê Trí Siêu. Năm 1986 anh ra tòa. Hai tu sĩ Thiên Chúa giáo cùng vụ với anh lãnh án 3 năm tù, anh bị 8 năm. Thêm 5 năm tù chỉ vì tội giữ truyện “Đồi Fanta” của Duyên Anh
    .
    Vợ con Duyên Anh sang Pháp bằng đường bảo lãnh chính thức. Chừng bẩy, tám tháng sau Duyên Anh vượt biên sang đảo rồi sang Pháp. Truyện “Đồi Fanta” được Pháp quay thành phim. Duyên Anh viết thật nhiều, có sách xuất bản thật nhiều kể từ 1983.
    Tôi bị bắt lần hai năm 1984.
    Tháng Giêng 1990 tôi trở về mái nhà xưa ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ lần thứ hai.
    Tháng 11 năm 1994 bánh xe lãng tử đưa Alice và tôi đến Rừng Phong, Virginia Đất Tình Nhân. Đầu năm 1995, Duyên Anh từ Pháp sang Texas. Anh hay đến Wichita, Kansas với Lê Hồng Long, chủ nhiệm tạp chí Thế Giới Ngày Nay. Chúng tôi nói chuyện vài lần qua điện thoại, hẹn gặp nhau nhưng tôi không có dịp nào gặp lại Duyên Anh. Trong những ngày trước hay sau Tết Con Hổ, Duyên Anh từ trần ở Paris.
    Những mùa tuyết trắng đến trên đồng đất Virginia, hôm nay trong Tàng Kinh Các nghèo nàn ở Rừng Phong mới có ba tập thơ của ba người bạn tôi: Thanh Nam, Mai Thảo, Duyên Anh. Ba anh đều đã qua đời. Thanh Nam, Mai Thảo hơn tôi vài tuổi, Duyên Anh kém tôi vài tuổi. Cả ba đều là bạn mày tao với tôi.
    Kể từ năm 1956, tôi viết tiểu thuyết đều đều cho các nhật báo, tuần báo. Mỗi năm cứ đến những ngày gần Tết, các thợ viết chuyên nghiệp như tôi lại bận rộn với việc viết những bài gọi là bài Xuân, bài Tết để đăng báo Xuân, báo Tết. Việc làm ấy của tôi đột ngột ngừng năm 1975. Hai mươi năm trời sống ở quê hương – trong số có tám năm mòn mỏi trong tù – tôi đã tưởng đời tôi không còn bao giờ được hưởng lại hạnh phúc cuối năm viết bài Xuân, hạnh phúc đọc những bài Xuân của mình đăng trên báo Xuân. Nhưng rồi một sáng cuối thu bánh xe lãng tử đưa vợ chồng tôi đến Rừng Phong, Thành Hoa, Xứ Kỳ Hoa, Tây Vực. Năm năm cứ đến những ngày gần Tết tôi lại được hưởng hạnh phúc viết bài Xuân.

    Năm năm cứ đến ngày gần Tết
    Lại viết bài Xuân đăng báo Xuân .
    Chẳng thấy Xuân đâu, chưa thấy Tết
    Đã rộn bài Xuân, loạn báo Xuân!
    Tha hương cóc có ba ngày Tết
    Mít vẫn hè nhau Tết với Xuân!
    Mấy chục mùa Xuân, mấy chục Tết
    Đời chẳng còn Xuân vẫn phải Xuân.
    Hoài niệm quê hương thời có Tết
    Ngậm ngùi tưởng nhớ viết thương Xuân…

    Như đã nói, bốn năm sau ngày đến Mỹ hôm nay tôi mới có ba tập Thơ Thanh Nam “Đất Khách“, Thơ Mai Thảo “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền“, Thơ Duyên Anh “Em Tôi Saigon Và Paris“. Tôi tìm hình ảnh xuân, tình xuân trong những tập thơ ấy…
    Thông lệ: nhiều người viết tiểu thuyết khi còn trẻ – những năm hai mươi tuổi – khi mới viết, có làm thơ. Vì không phải là thi sĩ những người viết này sau đó bỏ làm thơ hoặc chỉ làm thơ những lúc trái tim họ rung động nhất. Trong số những người viết này có Duyên Anh, Mai Thảo, Thanh Nam. Trước năm 1954 Thanh Nam có làm một số bài thơ, từ 1954 đến 1975 dường như Thanh Nam chỉ làm có “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi”.
    Cũng theo công thức Hàn Dũ “bất bình tắc minh” sau Ngày Oan Nghiệt 30 Tháng Tư 75 rất nhiều người Việt làm thơ. Trong số những người làm thơ này có Thanh Nam, Mai Thảo, Duyên Anh.
    Đây là bài “Ai tín”, Duyên Anh làm ở Paris năm 1983, khi mới đến nước Pháp:

    Em
    Anh đã đến Paris
    Mùa thu đầy xác lá
    Như lòng anh buồn bã thuyền nhân
    Sài Gòn tuy xa nhưng vẫn rất gần
    Paris trước mặt mà trăm năm hiu quạnh
    Cái gì lửng lơ trên míếng đời mỏng dính
    Đó hồn anh giá lạnh quê người
    Anh đi giữa trưa thương nhớ mặt trời
    Anh đi giữa đường tương tư cơn gió
    Mặt trời ấm vừa má em hây đỏ
    Cơn gió hiền đủ sợi tóc em bay
    Anh đi giữa người thương nhớ ai đây
    Anh đi giữa đời cát mù sa mạc
    Anh đi tội tình lưu vong ngơ ngác
    Anh đi dại khờ trẻ lạc quê hương
    Anh đi không nhớ phố nhớ phường
    Anh đi chẳng cần giờ cần giấc
    Anh đi nghe đìu hiu lau lách
    Với tuổi anh hạnh phúc quá tầm tay
    Với tuổi anh hạnh phúc tiếng rên dài
    Khi cúi xuống nhìn dấu giầy lữ thứ
    Còn trong anh một hồi chuông quá khứ
    Chưa kịp rung đã cáo phó tương lai
    Anh đi ngẩn ngơ quên tháng quên ngày
    Anh đi hững hờ quên trời, quên đất
    Anh đi miệt mài xác xơ hành khất
    Mà thiên đường thiếu phép lạ thi ân
    Thượng đế kiêu căng, Thượng đế nghèo nàn
    Không thể bố thí cho anh tổ quốc
    Cái gì rét run lặng câm đau buốt
    Đó hồn anh lìa nước bơ vơ
    Tổ quốc anh đâu, tổ quốc nghìn xưa
    Tiếng anh gọi đã sương mù vĩnh quyết
    Tiếng anh gọi đã nghĩa trang đào huyệt
    Nghĩa là anh mất hết tự đêm nào
    Giòng sông đưa anh ra biển ngập sao
    Giòng sông không dẫn anh về quê hương anh nữa
    Em,
    Anh đã đến Paris
    Mùa thu đầy xác lá
    Xác lá mùa thu, xác lá duyên anh.

    Tập Thơ “Em Tôi Saigon Và Paris” 52 bài, chấm dứt với bài “Mùa Riêng”, ghi ngày 10-87. Khi Duyên Anh gập tai họa tôi đang nằm trong Lầu Bát Giác Chí Hòa. Từ đó nhiều lần tôi nghĩ: nếu Duyên Anh không đi thoát chắc chắn trong tháng 5-1984, Duyên Anh cũng bị bắt như Dương Hùng Cường, như tôi. Chắc chắn thứ hai là Duyên Anh sẽ bị công an Thành Hồ ghép cùng vào bọn văn nghệ sĩ phản động làm “gián điệp” và sau khi thấy gán tội “gián điệp” là không được và lố bịch, đổi sang là “Bọn Biệt kích cầm bút”, bọn tám anh chị em tôi, thì chắc chắn giòng đời Duyên Anh không như đã xẩy ra. Duyên Anh sẽ ở tù ít nhất tám năm như Doãn Quốc Sĩ, sẽ ra khỏi tù khoảng 1992, sẽ sang Pháp hay Mỹ chậm lắm là năm 1994. Và nếu như thế giờ đây Duyên Anh đang ngồi bình an ở một nơi nào đó viết bài Xuân như tôi đang viết.
    Duyên Anh đi thoát ra xứ người, bị đánh ở Cali, liệt bại nửa người. Minh Đăng Khánh, Minh Vồ ở trong nước không bị ai đánh cả cũng nửa người liệt bại. Cùng anh em vào tù trong một đêm, Dương Hùng Cường không trở về mái nhà xưa với vợ con. Đôi khi tôi théc méc tại sao tôi không – nên nói là chưa cho chắc ăn chăng? – bị ung thư cuống họng như Thanh Nam? Tôi hút thuốc lá nặng hơn Thanh Nam. Tại sao tôi không chết trong tù mà lại là Dương Hùng Cường? Thể xác, tinh thần tôi yếu hơn Cường nhiều lắm!
    Tôi đi tù cùng thời gian nhưng không tù cùng một chỗ với anh Nguyễn Mạnh Côn và Duyên Anh nên tôi không thể nói chắc trăm phần trăm, song theo kinh nghiệm tù đầy của tôi, qua những chuyện nghe được, tôi có thể nói chắc đến tám phần mười Duyên Anh không can dự gì trong cái chết của anh Côn.
    Hai mươi mấy mùa xuân đã đến, đã đi kể từ ngày oan nghiệt ấy, tôi có vài thắc mắc nhỏ, những thắc mắc không đáng gì nhưng là thắc mắc của tôi. Tôi thắc mắc muốn biết:
    – Ai là người cho nổ mìn ở Hồ Con Rùa làm chết oan một số dân Sài Gòn cuối năm 1975 hay đầu năm 1976?
    – Ai là tác giả Thông cáo “Ra đi ồ ạt” phổ biến ở Thành Hồ năm 1981 hay 1982?
    Ai là người đánh Duyên Anh ở Cali? Đánh vì thù riêng hay vì nguyên nhân nào?
    Người nổ mìn ở Hồ Con Rùa, người viết bản thông cáo “Ra đi ồ ạt” có thể không đi ra nước ngoài, nhưng người đánh Duyên Anh là người Việt ở Mỹ. Tôi rất mong ai đó lên tiếng về động cơ đã làm cho Duyên Anh bại liệt.

    (Còn tiếp)

  8. The Following 3 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    khongquan2 (06-04-2019), KiwiTeTua (06-04-2019), Nguyen Huu Thien (06-05-2019)

  9. #5
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 1,960
    Thanks: 2,812
    Thanked 5,338 Times in 1,900 Posts

    Default Sống và Chết ở Sài Gòn

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (14)


    Tôi có bốn ông bạn được cha mẹ cho sang Tây du học, tất nhiên cả bốn ông đều là con nhà giầu. Những năm 1948, 1949 của thế kỷ 20, tức thế kỷ trước, trong lúc tôi ngày ngày đi bộ cả ba, bốn chục cây số ở chiến khu Việt Bắc – nói là chiến khu Việt Bắc cho oai, cho ra vẻ vai áo hào hoa bạc mầu kháng chiến, thực ra những ngày xưa hồng thắm đó tôi làm liên lạc viên, tức tên đi chân đưa thư tay ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, văn huê kiểu kháng chiến là Bắc Bắc – năm 1949 tôi lên đến Đại Từ, Thái Nguyên, đi đến Đèo Khế mới trở về xuôi, những năm tôi sống như thế thì bốn chàng trai nước Việt tôi được quen sống thơ thới hân hoan ở Nice, ở Paris bên Pháp.
    Bốn chàng trai đất Việt ấy là ông Hoàng Anh Tuấn, đạo diễn điện ảnh tác giả phim Hai Chuyến Xe Huê, ông Tuấn Ghẻ (ông này thì khỏi cần kể họ hay tiểu sử), ông Trịnh Viết Thành, và ông Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa “Áo Lụa Hà Đông”.
    Trong bốn ông được sang Tây ăn học đó chỉ có ông Trần Bích Lan là có bằng cấp đem về, còn ba ông kia dường như sang Tây chỉ để ăn chơi. Ba ông Tây du nhưng không Tây du học mà là Tây du hý. Sau 1954, khi hết chiến tranh, đất nước đã bị cưa đôi, bốn ông về nước. Ba ông – hai ông Tuấn, một ông Thành – sang Tây học năm, bẩy năm mà không có qua một mảnh bằng gì cả, cả cái bằng lái xe ô-tô ba ông cũng không có; về tiếng Tây, tiếng U, các ông bông xua, bông xoa, com xì com xà không khá hơn tôi bao nhiêu.
    Nhưng thôi, việc học, việc chơi ngày xưa còn trẻ là việc riêng của mấy ông. Mấy ông có học, có bằng cấp, mấy ông là nhà khoa bảng thì vợ con các ông nhờ. Năm mươi năm sau ngày các ông về nước (trong bốn ông hai ông nay đã không còn ở cõi đời này), hôm nay tôi viết về các ông với tình thương mến, tôi hồi tưởng hình ảnh các ông thời các ông trẻ trung mà bùi ngùi như tôi hồi tưởng tuổi trẻ của tôi.
    Tôi gặp Trịnh Viết Thành lần đầu năm 1955 ở buy-rô của Thanh Nam trong Đài Phát Thanh Quân Đội. Trung sĩ Thanh Nam Trần Đại Việt có bàn giấy ngồi viết đàng hoàng. Thành mới từ Pháp về, Thanh Nam giới thiệu chúng tôi với nhau. Sau đó tôi được biết Thành được anh em gọi là Trịnh Viết Thùng và Thành Nham Nhở – như Phan Nghị được gọi là Phan Nghệt, tên gọi yêu thương không có ý gì khinh miệt. Phải dùng tiếng “cynique” của Pháp để dùng cho Thành. Không phải thô tục hay thô bỉ, Thành rất thực tế, nói trúng vấn đề, không che đậy, không nghĩ sai.
    Thành không viết văn, anh chỉ làm báo. Thành lấy em gái Nguyên Sa Trần Bích Lan từ thời hai người ở Pháp, nói cách khác Thành là em rể Nguyên Sa.
    Thành từng nói với chúng tôi:
    – Nhà chúng mày chỉ mới có hai đời ăn nước máy, thắp đèn điện, nhà tao ba đời rồi.
    Câu này có nghĩa ông nội tôi sống ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến ông bố tôi ra tỉnh học mới ăn nước máy, thắp đèn điện, đến đời tôi ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện mới là hai đời; ông nội của Thành đã ở thành phố, đã ăn nước máy, thắp đèn điện, qua ông bố anh là hai đời, đến anh là ba đời. Theo tiêu chuẩn ấy thì tôi ăn nước máy, thắp đèn điện được hai đời, đời ông bố tôi, đời tôi. Văn Quang Chân Trời Tím mới chỉ ăn nước máy, thắp đèn điện được một đời: đời Văn Quang.
    Căn cứ theo lời Văn Quang kể ngày xưa còn trẻ ở làng quê, anh từng cưỡi ngựa đi đòi nợ cho ông bố anh; tối xuống, trên đường về anh ngủ gà, ngủ gật trên yên ngựa, con ngựa biết đường cứ nhẩn nha lọc cọc, lịch kịch đưa anh về đến cổng nhà. Chuyện đó tôi nghe chính Văn Quang kể. Như vậy chắc ông thân anh là Lý Trưởng hay Chánh Tổng, nhà nhiều ruộng, ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến đời Văn Quang mới ra ở thành phố, mới ăn nước máy, thắp đèn điện.
    Theo tiêu chuẩn ấy thì Duyên Anh cũng chỉ mới một đời ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện: ông thân Duyên Anh là lang thuốc ở vùng quê Thái Bình. Một trong những chuyện rất ít người biết là Duyên Anh Vũ Mộng Long đã có vợ ở làng quê trước năm 1954, có vợ nhà quê và có một con gái. Năm 1954 chàng trẻ tuổi Thái Bình lên Hà Nội học hay làm chi đó, đất nước chia đôi, chàng xuống tầu Marine Serpent từ bến Sáu Kho Hải Phòng đi theo chiều dài đất nước, đổ bộ lên bến Nhà Rồng Sài Gòn. Năm ấy, năm chàng có vợ, những năm 1952, 1953, nhà văn lớn mới có mười bẩy, mười tám tuổi. Ở số tuổi này chỉ có những anh con trai làng quê mới có vợ, do tục tảo hôn còn rơi rớt ở vùng quê Bắc kỳ.
    Năm 1967 vợ chồng tôi xa nhau một thời gian, tôi sống một mình trong căn phòng nhỏ ở căn nhà số 21 đường Hồ Biểu Chánh, Sài Gòn. Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều ở căn phòng này trước tôi, Nguyễn ra Đà Nẵng làm việc ở hãng Sealand, tôi đến ở phòng này. Một chiều Trịnh Viết Thành ghé qua, dúi cho tôi mấy ngàn đi ăn hút cho bớt sầu đời, Thành nói:
    – Đừng quá buồn. Đó là qui luật. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình sống với nhau năm, bẩy năm, có khi mười năm, thế nào cũng bị một lần khủng hoảng đến có thể bỏ nhau. Vợ chồng mày cũng vậy. Nếu vượt qua được vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.
    Đúng quá Thành ơi! Những lời Thành nói một chiều ở đường Hồ Biểu Chánh năm 1967 vang vọng bên tai tôi dù thời gian đã qua ba mươi mấy mùa lá rụng. Hai năm 1974, 1975, Thành làm Thư ký Tòa soạn nhật báo Quật Cường, tờ báo của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thời Tổng Giám Đốc Nguyễn Khắc Bình. Như yếu nhân, ký giả Trịnh Viết Thành nhật báo Quật Cường có nhân viên cảnh sát bảo vệ mặc thường phục, có súng, chạy Honda theo sau xe hơi để bảo vệ. Tháng Tư 1975 nón cối, giép râu, tóc bím, súng AK ngơ ngáo vào Sài Gòn, Thành cùng nhiều văn nghệ sĩ, ký giả bị Việt Cộng bắt Tháng Ba 1976. Sau chừng một năm quanh quẩn trong những phòng tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Chí Hòa, một số được tha, một số bị đưa đi các trại lao động cải tạo. Trong số lên trại cải tạo Gia Trung – Gia Lai ở Pleiku có Trịnh Viết Thành.
    Năm 1977, tôi bị bắt. 1980, tôi được thả về Ngã Ba Ông Tạ. Tháng Năm 1984, tôi bị bắt lần thứ hai, các bạn tôi Trịnh Viết Thành, Thái Thủy, Lý Đại Nguyên, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Chóe Nguyễn Hải Chí, Thanh Thương Hoàng và anh Doãn Quốc Sĩ vẫn tù mút chỉ ở trại Gia Trung – Gia Lai.
    Năm 1990, lần thứ hai tôi từ ngục tù cộng sản trở về. Đã mười lăm năm kể từ 1975. Tất cả văn nghệ sĩ si-dzin cũng như mi-li-te, trừ người đã chết trong tù và người mới bị bắt hay lại bị bắt, đều đã trở về Sài Gòn với những đường phố cũ, vỉa hè xưa. Tôi được tin Thành đã về, anh đau yếu nặng, vợ anh đã bỏ anh để sống với người tình mới. Nghe nói anh này quen vợ Thành trước khi chị lấy Thành (chị này không phải là em gái Nguyên Sa), anh cũng bị tù ở Gia Trung, khi lên thăm nuôi Thành, vợ Thành gặp lại người cũ.
    Khoảng hai giờ trưa một ngày mùa mưa đất trời u ám, vừa ở tù về được ít ngày tôi bỗng thấy nhớ Thành. Thành trước ở Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, nhưng nay Thành sống một mình trong căn nhà của ông bà thân anh ở đường Nguyễn An Ninh bên chợ Sài Gòn. Tầng dưới của nhà này trước 1975 là nhà in Nam Sơn, nhà in của gia đình Thành. Khi tôi đến, tầng dưới bị chiếm làm cửa hàng lương thực của phường. Mấy căn phòng trên lầu đều bị chiếm cho cán bộ ở.
    Tôi theo cầu thang lên tầng lầu trên cùng. Tầng này trước 75 là nơi bà mẹ Thành ở. Trên sân thượng có điện thờ Phật, một khoảng trồng hoa, cây mai, cây trúc, bồn nước, hòn non bộ. Mười lăm mùa lá rụng chúng tôi mới gặp lại nhau. Thấy Thành, tôi nhận ra Thành ngay. Vì bất ngờ không biết tôi đến, có thể Thành không nhìn ra tôi.
    – Nhận ra tao là ai không? Tôi hỏi.
    Thành gọi ngay tên tôi:
    – Hoàng Hải Thủy. Mày chứ còn ai nữa.
    Thành nói anh bị lao xương, con anh bảo lãnh anh sang Pháp, nhưng anh yếu quá chưa đi khám sức khỏe được. Trông Thành tiều tụy thê thảm quá, nhưng tôi không ngờ anh lại ra đi nhanh thế.
    Một chiều gần Tết, tôi trở lại nhà in Nam Sơn xưa thăm Thành. Lên hết thang lầu, tôi ngẩn ngơ trước cửa phòng Thành đóng kín, có cái khóa ngoài toòng teng. Trở xuống tôi hỏi thăm, người ta trả lời tôi:
    – Bác Thành mất rồi.
    Ở Paris những năm 1949, 1950 Thành lấy vợ là con gái ông Trần Văn Chi, có con. Khoảng 1957, 1958 ở Sài Gòn, Thành bỏ vợ để lấy chị vợ sau. Ly dị. Vợ cũ của Thành, tôi nghe nói, sang Pháp, để con lại Sài Gòn dưới quyền giám hộ của ông anh.
    Một tối Thành kéo tôi đi ăn chơi, con Thành học nội trú trong một trường nào đó, ông giám hộ Trần Bích Lan không cho phép Thành được gặp con. Thành kể chuyện rồi nói với tôi:
    – Nguyên Sa nó trọng dư luận các bạn văn nghệ sĩ lắm, mày nói với nó dùm tao, cho tao gặp con tao, sao lại cấm không cho bố con tao gặp nhau.
    Tôi gặp Nguyên Sa. Nguyên Sa nói:
    – Tao ghét nó nhà quê. Là văn nghệ sĩ… chẳng thà nó nghiện thuốc phiện đi, đằng này nó lại chơi trò nhà quê có vợ bé.
    Nguyên Sa là dân Hà Đông nhưng anh sống ở Hà Nội nhiều hơn. Tôi nhớ tên ở Hà Đông trước 1945 của anh là Phúc, khi gặp lại nhau ở Sài Gòn tôi thấy tên anh là Trần Bích Lan.
    Năm 1955, tôi gặp lại Nguyên Sa trên vỉa hè Lê Lợi. Từ Pháp trở về Nguyên Sa ăn mặc thật giản dị, sơ-mi trắng ngắn tay bỏ ngoài quần, quần kaki, đi giày rất thường, tay không đồng hồ, thời gian đầu anh còn đội cái nón cối cũng mang ở Pháp về. Ra cái điều ta đã sống ở Paris, nơi trang phục sang đẹp nhất thế giới, ta cóc cần chú ý đến chuyện phải ăn mặc bảnh bao như mấy anh Sài Gòn nhà quê. Anh kể chuyện văn nghệ văn gừng ở Pháp:
    – Bọn thiên tả chúng nó có cái trò họp nhau phê bình thơ của nhau, với chúng nó bài thơ nào cũng phải có ý nghĩa, phải nói lên một cái gì. Bọn tao đến họp là chúng nó bực lắm. Có lần tao nói bài thơ này nó nói lên được cái là nó không nói lên cái gì cả.
    Anh nói:
    – Tao làm văn nghệ, thấy không khá, nhớ lời dậy của ông cụ tao: phải làm thương mại mới khá được, muốn khá phải làm thương mại.
    Nguyên Sa không dậy học mướn, không làm hiệu trưởng mướn, anh làm chủ trường, anh có nhà in riêng trong trường Văn Học của anh. Thời tôi viết phóng sự “Tây Đực, Tây Cái” – sau đổi là “Ông Tây, Bà Đầm” – những năm 1955, 1956 trên nhật báo Ngôn Luận, Nguyên Sa kể:
    – Tao vào lớp, thấy cứ mỗi lần tao hỏi đến một thằng học trò là mấy thằng bạn nó lại xì xào… Cuốc Tô, Cuốc Tô… Tao không biết Cuốc Tô là cái gì. Tao hỏi mới biết Cuốc Tô là tên nhân vật trong phóng sự của mày. Lần sau vào lớp, tao hỏi đúng thằng học trò ấy: “Sao… Ký giả Cuốc Tô. Mấy hôm nay ký giả có gặp bà Dzô-dzan không?” Cả lớp chúng nó cười ồ lên. Dậy học, thầy phải như thế học trò nó mới chịu.
    Đầu năm 1995 bánh xe lãng tử đưa tôi sang Cali, tôi gặp lại Nguyên Sa. Anh đã bị giải phẫu ở cổ vì ung thư, anh đi lại, lái xe, ăn uống bình thường, chỉ có hơi yếu. Anh có tờ tuần báo Đại Chúng, anh đến nhà Hồng Dương đón tôi đi ăn, đưa tôi đến tòa soạn nhật báo Người Việt, tòa soạn Việt Báo. Anh bảo tôi:
    – Mày phải ở Cali. Đồng bào mày, nó chia rẽ, nó nhỏ nhen, nó lắm chuyện, nó không ra sao cả, đồng ý, nhưng nó là đồng bào mày. Mày viết, mày phải sống gần đồng bào mày, mày mới viết được.
    Tôi nhờ tìm cho tôi một cái tên chung cho những bài tôi viết, như kiểu Nguyên Sa có mục “Bông Hồng Cho Văn Nghệ” trên nhật báo Sống ngày xưa, Nguyên Sa nói:
    – Mày lấy “Viết ở Rừng Phong” hay quá rồi còn gì, còn phải tìm tên nào nữa.


    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (15)

    Hoàng Vĩnh Lộc là một trong rất ít những người Việt Nam thực sự yêu mê nghệ thuật điện ảnh tôi được gặp, được biết. Tôi biết Hoàng Vĩnh Lộc từ năm 1952 ở Sài Gòn.
    Tôi viết “tôi biết” Hoàng Vĩnh Lộc năm 1952 vì năm ấy tôi chỉ biết anh mà không quen anh, tôi chưa có điều kiện để quen anh, để giao thiệp với anh như người cùng giới văn nghệ sĩ. Năm 1952 tôi chưa là người viết tiểu thuyết trong khi Hoàng Vĩnh Lộc đã là diễn viên điện ảnh.
    Năm 1952 là thời gian – có thể vì tôi không phải là dân ăn chơi có hạng nên chỉ thấy – Sài Gòn có mấy người đàn bà nổi tiếng, được nhiều người biết mặt, biết tên. Như nữ ca sĩ Ngọc Hà chuyên đi xe Vespa. Thời ấy có lẽ cả Sài Gòn chỉ có một phụ nữ đi xe Vespa là nữ ca sĩ Ngọc Hà. Như Thu Trang, người ngày ngày mặc áo dài trắng đi xe đạp Dura trắng đến làm việc ở Phòng Thông Tin Hoa Kỳ đường Gia Long – Hai Bà Trưng. Thu Trang vài năm sau trở thành diễn viên điện ảnh. Như Nguyệt Hồ, người có ảnh được lên bìa tuần báo Đời Mới của ông Trần Văn Ân. Những năm 1951, 1952 việc phụ nữ có ảnh đăng bìa tuần báo quan trọng như việc các nàng đóng phim những năm 1960. Nguyệt Hồ về sau hành nghề bói bài tây ở đường Đinh Công Tráng, Tân Định.
    Năm 1952 là năm Việt Nam bắt đầu làm phim. Hà Nội có phim Kiếp Hoa với các diễn viên Kim Chung, Kim Xuân, Anh Tứ. Sài Gòn có Thái Thúc Nha Alpha Film làm phim Bến Cũ. Kiếp Hoa phim đen trắng, Bến Cũ phim mầu Technicolor. Hoàng Vĩnh Lộc và Bích Ngà đóng hai vai chính trong phim mầu Bến Cũ, phim còn một nữ diễn viên nữa là Liên Hương.
    Bến Cũ chưa được trình chiếu, Hoàng Vĩnh Lộc đã nghiễm nhiên trở thành nam diễn viên số một của điện ảnh Việt Nam, một “jeune premier” đúng nghĩa. Anh hơn tôi chừng mười tuổi. Năm đóng phim Bến Cũ anh khoảng ba mươi, ba mươi hai. Có những buổi sáng, buổi chiều tôi thấy anh trên đường Catinat, Bonard, bận toàn y phục trắng, giầy trắng, lái chiếc xe Peugeot 203 hai chỗ ngồi, mui vải, cũng mầu trắng. Anh hơi cao, nhưng cân đối, khỏe mạnh, trông rất thể thao. Và đẹp trai. Với tôi, anh là diễn viên điện ảnh phong độ nhất, đẹp trai nhất kể từ 1952 đến những năm 1965.
    Thời gian qua…
    Năm 1960, Hoàng Anh Tuấn làm phim Hai Chuyến Xe Hoa, tôi được Tuấn mời đóng một vai phụ. Những năm 1960, 1961… tôi đang ở đỉnh cao phong độ nhất của đời tôi: tôi đang ba mươi tuổi, đang nổi tiếng, đang viết nhiều, đang kiếm được nhiều tiền. Đó là những năm nhật báo Sài Gòn Mới của ông bà Bút Trà bán chạy nhất và tôi là nhân viên của nhật báo đó. Ngoài việc làm thường trực trong tòa soạn Sài Gòn Mới, tôi viết tiểu thuyết thường xuyên, tức là viết quanh năm, năm này sang năm khác, cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh, tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong, tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai của Sáu Khiết, con bà Bút Trà. Trong tác phẩm Nhìn Lại Những Bến Bờ, xuất bản ở Mỹ năm 1988, viết về tôi trong khoảng những năm 1960, Duyên Anh gọi tôi là “ông vua không ngai” của nhật báo Ngôn Luận. Trên báo Ngôn Luận những năm ấy tôi viết tiểu thuyết ở trang trong, phóng sự tếu ở trang nhất. Làng báo Sài Gòn từ 1954 đến 1975 không có mấy người viết nhiều trên một tờ báo như tôi.
    Một buổi chiều, tôi tình cờ lái cái xe Jeep qua khu bờ sông Sài Gòn quãng gần Ngân Hàng Việt Nam. Một êkíp làm phim người Pháp đang thực hiện một đoạn phim ngoại cảnh ở khu này. Phim Mort en Fraude, đào Dominique Wilms trong vai chính. Nhìn thấy Hoàng Vĩnh Lộc và Lê Quỳnh đứng bên đường xem quay phim, tôi ngừng xe, đến nói chuyện với hai anh. Lê Quỳnh hòa nhã, vui vẻ nhưng không nói nhiều. Hoàng Vĩnh Lộc cởi mở, nói nhiều với tôi. Chúng tôi nói đến chuyện Hoàng Anh Tuấn sắp làm phim Hai Chuyến Xe Hoa và tôi được mời đóng một vai. Tuy tôi không hỏi tôi có nên đóng phim hay không, Hoàng Vĩnh Lộc tự ý và sốt sắng nói ra ý kiến của anh:
    – Tôi thấy anh không nên đóng phim. Anh đã có cái danh văn sĩ rồi, anh cứ giữ lấy cái danh ấy, đừng dại mà bước sang địa hạt đóng phim. Làm diễn viên điện ảnh không dễ đâu. Phải hy sinh, bị mất mát nhiều lắm, nhất là trong những bước đầu.
    Hoàng Vĩnh Lộc khuyên tôi đừng dại mà tập tễnh bước vào nghề diễn viên điện ảnh, tôi đã không làm theo lời anh khuyên, nhưng từ ngày ấy đến nay đã hơn bốn mươi năm, tôi vẫn nhớ hình ảnh anh đứng với tôi chiều hôm xưa trên vỉa hè Sài Gòn gần bờ sông, nhớ từng tiếng anh nói. Anh tỏ ra chân thành, sốt sắng với tôi. Và anh nói đúng về việc tôi không nên đóng phim.

    Từ năm 1950 đến khi anh ra khỏi cõi đời này, Hoàng Vĩnh Lộc không làm gì khác ngoài việc đóng phim, làm phim. Dường như anh chỉ có một thời vui vẻ trong nghề, đó là thời anh làm phim “Người Tình Không Chân Dung” (mà chúng tôi gọi đùa là Người Tình Không Chân Tay) với Kiều Chinh, Tâm Phan. Phim được thực hiện ngoại cảnh ở thị xã Cam Ranh thời ông Quang Dù làm thị trưởng, phim mầu Cinemascope, có mặt một số thân hữu như Hùng Sùi, Chương Ma-rin, Vũ Văn Ước, Dương Hùng Cường tức Dê Húc Càn, người đã chết trong ngục tù xã hội chủ nghĩa.

    Sau “Người Tình Không Chân Dung”, Hoàng Vĩnh Lộc làm một phim của riêng anh: “Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương”. Huy Cường là một diễn viên trong phim này. Huy Cường chết khoảng năm 1976 hay 1977, nghe nói đêm khuya, Huy Cường rượu say, ngồi sau xe Honda về cư xá Thanh Đa, xe đụng, Cường té ngửa, đập đầu xuống đường.
    Tháng Ba 1976 Hoàng Vĩnh Lộc bị bắt trong đợt công an Thành Hồ khủng bố văn nghệ sĩ. Giới điện ảnh có bốn người bị bắt trong đợt này: Hoàng Vĩnh Lộc, Hoàng Anh Tuấn, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ. Mười tháng sau cả bốn anh đều được thả. Hoàng Vĩnh Lộc bị suyễn nặng. Tôi từng thấy anh thời anh trẻ trung, khỏe mạnh, đầy sức sống, tinh anh, rồi lại thấy anh tiều tụy trong buổi xế chiều của đời anh. Rồi một ngày tôi được tin anh qua đời.
    Năm 1982 hay 1983? Chiều mưa. Tôi đạp xe đến nhà anh ở trong hẻm đường Chi Lăng. Trước nhà anh là một bãi đất hẹp có vài cây chuối vàng võ, còm cõi. Một cái bàn, vài cái ghế được đặt dưới tấm nylon căng che trên miếng đất ấy. Khách đến viếng ngồi ở đó. Tôi ngồi đó trong bóng chiều vào tối xanh xám, nghe tiếng mưa rơi lộp bộp trên tấm nylon, nhìn quan tài anh đặt trong căn nhà hẹp, vài ngọn nến gầy leo lét, lung lay. Đạo diễn điện ảnh Hoàng Vĩnh Lộc có chiều cao hơi quá khổ, người nhà anh phải vất vả mới tìm được cỗ quan tài vừa người anh.
    Sau Huy Cường, Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh là người làm điện ảnh thứ ba chết ở Sài Gòn sau ngày 30 Tháng Tư 1975.
    Tôi quen Minh Đăng Khánh từ ngày thành phố Sài Gòn mới có Bin-đinh Cửu Long. Khánh ở Cửu Long thời anh chưa lập gia đình. Gần như tất cả những người sống ở Bin-đinh Cửu Long đường Hai Bà Trưng thời ấy đều độc thân. Vài người nổi tiếng: Hiếu Ve, anh có cái ve ở tai nên gọi là Hiếu Ve, nghe nói anh là em ông Trần Văn Chương, chú bà Trần Lệ Xuân. Sau 30 tháng Tư, Hiếu Ve nói anh buồn, anh muốn tự tử. Những ngày ấy Sài Gòn có rất nhiều người buồn muốn chết và nói ra miệng là sẽ tự tử. Hiếu Ve nói và làm thật. Một đêm, anh lên sân thượng bin-đinh Cửu Long nhẩy xuống đất.
    Thanh Nam, Hoàng Thư, Thái Thủy, Trần Lâm ABC… từng ở Bin-đinh Cửu Long.
    Minh Đăng Khánh nguyên là giáo viên, tên thật dường như là Trần Đăng Lộc. Năm 1954 vào Sài Gòn anh bỏ nghề dậy học để làm văn nghệ sĩ. Anh vẽ rất khá, từng là thầy dậy hội họa của nữ ca sĩ Tâm Vấn.
    Minh Đăng Khánh bị bắt Tháng Ba 1976. Cũng như Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Hoàng Anh Tuấn, mười tháng sau anh được thả. Trong số văn nghệ sĩ không phải đi trại cải tạo năm ấy có Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Hồng Dương, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Xuyên Sơn, Minh Vồ, Trần Việt Sơn, Lê Xuyên v.v…
    Nhà Khánh ở Nguyễn Văn Học, nay là đường Nơ Trang Long, cạnh bệnh viện Nguyễn Văn Học. Cuối năm 1979 ở tù về, tôi được tin Khánh bị bại liệt.
    Khánh rất khỏe, thời trẻ anh chơi thể dục, trước 1975 có lần anh bảo Hoài Nguyên, con trai tôi, khi anh thấy con tôi mê thể dục, thể thao:
    – Muốn chơi thể dục, thể thao ta phải có chiều cao, cháu ạ. Bác thấy mày cũng không có chiều cao như bác. Tập người nở ra vuông như cái bánh chưng, khó coi lắm.
    Khánh sống rất lành mạnh, không chơi bời, không hút xách, không rượu, không cờ bịch, anh chỉ hút pipe. Anh vạm vỡ, nước da nâu, tóc bạc, chúng tôi vẫn nói anh khỏe như trâu. Không thấy Khánh có tật xấu nào, vậy mà đi tù về tự nhiên anh bại liệt. Nghe nói anh gặp nhiều chuyện buồn phiền trong gia đình, sau một trận cãi cọ to tiếng anh hút điếu thuốc lào, ngã ra, và bị bại liệt nửa người.
    Tôi tìm Minh Đăng Khánh, chúng tôi nối lại cuộc giao du bị đứt đoạn vì tai họa, tù đày. Khánh nói ngọng, anh vẫn đi lại được dù đi chậm, lê lết, khó khăn, không ngồi vững được. Mỗi lần Khánh từ Nguyễn Văn Học, Bà Chiểu ra nhà tôi ở Ngã Ba Ông Tạ là cả một hành trình cần phải thu xếp. Phải có một anh em còn khỏe – thường là Sao Biển – chở anh trên xe đạp, để anh ngồi trên poóc-ba-ga, tay trái anh vòng ra ôm người chở (Khánh bị liệt nửa người bên phải) đạp xe chầm chậm. Khánh ngã xuống là không tự mình đứng lên được. Ở nhà một mình mỗi lần té anh phải nằm đấy chờ cho đến lúc con anh về đỡ dậy.
    Khánh thường bận bộ bà ba nâu, ngoài bận cái áo judo cho đỡ lạnh trong những ngày cuối năm, đeo cái túi vải nát trong đựng các thứ đồ lẩm cẩm: khăn mặt, tiền, giấy tờ, cái pipe, bịch thuốc hút.
    Khánh kể có lần anh lết lết đi vào tiệm phở: “Người ta tưởng tao ăn xin, cho tao tiền, tao nói cám ơn tôi không phải là ăn mày…”
    Những năm 1981, 1982, căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Ngã Ba Ông Tạ là nơi gặp gỡ của các bạn tôi. Các bạn góp tiền đưa cho vợ tôi đi chợ, mua chút gì đó về làm một món nhậu, nấu cho nồi cháo, vừa nhiều, vừa ngon. Chúng tôi có thể ngồi ăn uống, nói chuyện thoải mái từ năm, sáu giờ chiều đến chín, muời giờ tối. Tất nhiên trong những buổi ăn như thế chúng tôi cũng cố xoay được chút rượu cho ấm lòng chiến sĩ.
    Nhà tôi có căn gác lửng. Mỗi lần đến Khánh thường lết lên đó nằm nói chuyện với tôi cả hai, ba tiếng đồng hồ. Thang gác nhỏ síu, Khánh lên thang bằng cách ngồi xoay lưng, nhấn chân nhổm đít lên từng bậc, lúc xuống cũng vậy. Vì Khánh lên xuống thang khó khăn như thế nên tôi giải quyết vấn đề tiểu tiện cho Khánh bằng cách lấy cái bô lên gác, tôi bưng bô cho Khánh đứng đái.
    Một sáng, con trai Khánh đến báo tin Khánh chết. Khánh đã thoát nợ, Khánh đã hết khổ. Tôi đến một trong những cái gọi là Xưởng Phim của Thành Hồ, ở đường Điện Biên Phủ, báo tin Khánh mất với Lê Hoàng Hoa. Có khá đông anh em đến tiễn đưa Khánh sáng hôm ấy.
    Dòng thời gian dài một ánh bay…
    Hôm nay, một trong những ngày cuối đời liêu lạc ở quê người, nhớ lại, viết về những người bạn của tôi đã sống, đã chết, tôi thấy ẩn hiện hình ảnh Hoàng Vĩnh Lộc trên chiếc Peugeot decapotip trắng đậu trước nhà hàng Kim Hoa đường Bonard-Pellerin một buổi chiều Sài Gòn nắng vàng năm 1952, nhớ anh một chiều mưa năm 1967 anh đến tòa soạn nhật báo Dân Tiến hẹn tôi đến Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh xem chiếu phim Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương vừa mới hoàn thành… Tôi nhớ hình ảnh Minh Đăng Khánh một tối năm 1955, Khánh đến nhà tôi gọi vợ chồng tôi đi ăn phở gà Hiền Vương, nhớ một tối gần Tết, Khánh chở tôi trên xe Lambretta của anh lên Hội Chợ Quang Trung dự cuộc thi Hoa Hậu Đông Phương. Đây là cuộc thi hoa hậu thứ nhất của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, cuộc thi do hãng phim Đông Phương của anh Đỗ Bá Thế tổ chức – Đông Phương Films làm phim Ánh Sáng Miền Nam – tôi bùi ngùi nhớ những lần tôi bưng bô cho Khánh đái…


    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (16)


    Tôi suốt một đời đi ở nhà thuê. Bi giờ về già hết lộc rồi nghĩ lại thật xấu hổ. Chẳng gì cũng mang danh ký giả, văn sĩ, có mấy chục bộ truyện được in, nhân viên Sở Mẽo! Mà nếu vợ bị tra tấn tàn nhẫn sống dở chết dở bẩy ngày cũng không xì ra được nửa chỉ vàng nào để hối lộ, kim cang, hột xoàn lại càng không có.
    May mắn cho vợ chồng tôi là mẹ tôi có một cái nhà nhỏ vẫn bỏ không trong cái gọi là cư xá Tự Do ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bảy Hiền. Ba tháng sau ngày oan nghiệt 30 Tháng Tư vợ chồng tôi về căn nhà đó ở. Không có căn nhà này thì chúng tôi còn vất vả nhiều. Và chúng tôi đã sống lúi cúi với nhau, đã yêu thương, nhớ thương và chờ đợi nhau trong căn nhà nhỏ ấy đúng mười chín mùa lá rụng lẻ sáu tháng mây bay. Hai lần công an Thành Hồ cho xe bông đến trước cửa căn nhà ấy rước tôi đi, hai lần tôi từ nhà tù cộng sản sống sót trở về đó.
    Cư xá Tự Do có hai khu do Gia Cư Liêm Giá Cuộc xây lên bán trả góp cho dân. Khu ngoài là khu vi-la song lập đắt tiền. Khu trong là khu nhà có gác lửng rẻ tiền. Sau những trận mưa đầu mùa con đường trong khu nhà tôi nước ngập đến đầu gối. Trong căn nhà tối ấy những chiều buồn quá không có việc gì làm, không biết đi đâu, đến nhà ai, tôi đứng sau khung cửa sổ nhìn vẩn vương ra con đường nhỏ. Xế cửa nhà tôi có một thiếu phụ tuổi trạc ba mươi, ông chồng là đại úy đi cải tạo, nàng thường bồng đứa con nhỏ đứng trong khung cửa sổ nhà nàng nhìn vơ vẩn ra đường. Tôi biết nàng buồn. Tôi cảm được nỗi buồn của nàng. Thêm vào đó là nỗi buồn của tôi. Bên nhà tôi – năm ấy tôi bốn bó lẻ hai, ba que – tôi cũng buồn quá. Không thể chịu được tôi mần thơ “Buồn”:
    Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
    Anh rạt về đây, xóm hẹp, đường đông.
    Nhà em, nhà anh cách hai thước ngõ
    Những chiều mưa buồn nước ngập như sông
    Anh đứng võ vàng sau khung cửa sổ
    Như người tù nhìn đời qua chấn song.
    Em đứng mỏi mòn bên dàn ván gỗ
    Như người chinh phụ ôm con đợi trông.
    Anh đứng trông mây, em đứng trông chồng
    Vắng chồng con bế, con bồng em mang.
    Cái bống là cái bống bang
    Mẹ bống yêu bống , bống càng làm thơ…
    Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
    Vương trên khung cửa bây giờ tang thương.
    Đìu hiu cuối ngõ, cùng đường
    Bên anh tuyệt vọng, đoạn trường bên em.
    Ngày lại ngày, đêm lại đêm
    Ngày rơi tàn tạ, đêm chìm phôi pha
    Buồn từ trong cửa buồn ra
    Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về
    Ta đang sống, ta đang mê
    Hay ta đang chết não nề, em ơi…!
    Những tháng cuối 1975 đầu 1976 ngẩn ngơ giữa mấy rừng cờ đỏ, quá buồn tôi làm thơ. Tôi chép những bài thơ này vào một tập. Tháng 10 năm 1977, công an Thành Hồ đến nhà bắt tôi, vớ được tập thơ này. Khi thẩm vấn tôi, Ba Trung. tức Huỳnh Bá Thành, tức họa sĩ Ớt, nhật báo Đồng Nai Chủ nhiệm Hồng Sơn Đông, hỏi mỉa tôi:
    – Bây giờ anh đã được làm người tù nhìn trời qua chấn song, anh không còn phải tưởng tượng nữa, anh thấy sao?
    Và Ba Trung nói về bài thơ “Buồn” của tôi:
    – Các anh sĩ quan Ngụy phải đi cải tạo là cần thiết. Cứ để mấy ảnh ở nhà sao được. Vợ mấy ảnh có mong chồng thì cũng phải chịu thôi. Trong khi nhân dân cả nước đang phấn khởi hồ hởi tiến lên xã hội chủ nghĩa, một mình anh kêu than buồn khổ đâu có được. Bài thơ buồn của anh có thể ảnh hưởng xấu đến người khác, làm người khác buồn lây, có hại đến việc xây dựng xã hội chủ nghĩa.
    Ba Trung, tức họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành, tác giả truyện “Vụ Án Hồ Con Rùa” có hai ba tiểu thuyết được làm thành phim. Từ năm 1990 Ba Trung giữ chức vụ quyền Tổng biên tập Tuần báo Công An Thành Hồ. Loại báo này đúng ra chỉ là báo phổ biến tin tức nội bộ cơ quan công an, nhưng bọn cớm cộng làm thành báo bán để kiếm lời. Cớm cộng có đặc quyền khai thác hồ sơ những vụ giết người, hiếp dâm, ăn cắp, ăn cướp v.v… – đặc quyền và toàn quyền – nhiều người dân mua, đọc Tuần báo Công An, trong số này có cả tôi, chỉ để đọc những vụ hiếp dâm tàn bạo, những vụ giết người kinh khiếp, những vụ đảng viên ăn cắp công khai, làm bậy bất chấp Đảng với Nhà Nước, đọc tin về những ổ mãi dâm, ma túy, hàng giả, hàng lậu, vidéo sex v.v… Có thể nói tờ tuần báo Công An Thành Hồ là tờ báo bới móc, phơi bầy những cái xấu của xã hội XHCN một cách ác ôn nhất.
    Trong một xã hội mà những tờ báo chuyên đăng những tin tức hiếp dâm, giết người, cướp trộm, sa đọa bán chạy, có nhiều người đọc chứng tỏ cái xã hội đó thối nát tàn tệ, bẩn thỉu quá đỗi. Bọn Tuần báo Công An Thành Hồ không chút hổ thẹn vì báo của chúng chỉ bán được nhờ đăng những vụ hiếp dâm, giết người. Không những không biết hổ thẹn, chúng còn vênh váo khoe khoang là báo của chúng bán chạy nhất.
    Ba Trung là cán bộ công an thẩm vấn tôi trong lần tôi bị bắt lần thứ nhất – 1977-1979. Lần ấy tôi chưa “phạm tội” gì nhiều, tôi chỉ viết một số bài kiểu Tạp ghi Văn Nghệ Văn Gừng gửi cho một nữ độc giả của tôi bỏ nước chạy lấy người sang Xê Kỳ – một số bài viết có thể gọi là vô thưởng vô phạt về những ngày sống u buồn của tôi ở Thành Hồ, tả cảnh nón cối, dép râu, tóc bím, mông đít to như cái thúng, lính cụ Hồ đực rựa hai mươi nhăm, ba mươi tuổi nắm tay nhau đi rung răng, rung rẻ ngay trên đường Lê Lợi, Tự Do, cùng một số bài thơ than thân, trách phận, thương khóc kẻ ở, người đi kiếp sau chắc mí gặp nhau não nùng, ai oán. Người độc giả của tôi gửi những bài viết của tôi đến các báo Việt ở hải ngoại. Trong số những báo đăng loạt bài ấy của tôi có tạp chí Đất Mới ở Seattle, tạp chí Thời Tập của Viên Linh, Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh, Nhất Việt của Du Tử Lê v.v…
    Cộng sản thù ghét nhất những người sống dưới chế độ cộng sản mà dám viết những bài tả cuộc sống khốn khổ, khốn nạn của mình và của nhân dân gửi ra nước ngoài. Với cộng sản cứ “viết gửi ra nước ngoài” là có tội rồi, bất kể bài viết có nội dung ra sao. Có lần thẩm vấn tôi Ba Trung nói với tôi:
    – Anh biết viết bài gửi ra nước ngoài là nguy hiểm nhưng anh cứ viết, cứ gửi…
    Và Ba Trung nói đến chuyện tôi được “mời cộng tác”:
    – Khi các văn nghệ sĩ Sài Gòn phải đi cải tạo, chúng tôi đã để cho anh được yên ở nhà. Không những chỉ để anh yên, chúng tôi còn mời anh cộng tác. Anh không làm thì thôi, anh ở yên đi. Anh còn chống chúng tôi nữa. Chúng tôi bắt buộc phải bắt anh thôi. Tiếc cho anh. Chúng tôi có đối xử gì nặng tay với anh đâu? Anh vẫn còn được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh…
    Trước hết, việc “được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh” làm tôi xấu hổ. “Ngồi ngang hàng” đây là việc sau khi một số văn nghệ sĩ Sài Gòn được công an Thành Hồ ưu ái cho xe bông đến tận nhà rước đem đi cất kỹ vào tháng Ba, tháng Tư năm 1976. Quần hùng đi tù thật đông, không sao nhớ hết và cũng không thể kể hết. Sau đợt bắt tập thể ấy cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM tổ chức hai khóa bồi dưỡng chính trị cho những anh chị chưa bị bắt. Tôi đi dự Khóa Bồi Dưỡng Hai như tôi đã kể. Ý Ba Trung muốn nói là trong những cuộc hội họp như thế tôi vẫn được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh. Khi nghe Ba Trung nói như thế, tôi ngồi yên, tôi không nói cho anh ta biết là tôi xấu hổ, tôi cay đắng mỗi lần tôi phải vác cái mặt mo của tôi đến ngồi nghe bọn cán cộng ưu ái lên lớp.
    Và đây là chuyện tôi được Việt Cộng “mời cộng tác”:
    Khoảng ba, bốn tháng sau ngày 30 Tháng Tư, tôi được gặp anh Ba Trinh, một trong những cán bộ phụ trách biên tập tờ nhật báo Sài Gòn Giải Phóng. Những năm 1960 Ba Trinh có đến tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới nên anh biết tôi, rồi anh bị bắt, thả ra, bị bắt lại ha ba lần, lần cuối cùng anh từ Côn Đảo về miền Bắc năm 1972, theo thỏa hiệp trao đổi tù binh giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt Cộng, Tháng 5 anh từ Hà nội vào Sài Gòn. Ba Trinh hơn tôi khoảng mười, mười lăm tuổi. Anh nói với tôi:
    – Chúng tôi cần loạt bài phóng sự về cuộc sống của bọn tướng tá Ngụy, chúng tôi không viết được loại phóng sự ấy. Cậu có biệt tài về loại đó, chúng tôi mời cậu viết cho chúng tôi. Nhưng nếu viết cậu đừng để tên cậu. Cậu mà dùng tên cậu thì ngay cả các bạn cậu cũng chửi cậu. Cậu dùng một tên khác. Mai đây chúng tôi có thể nói với các ông ấy người viết loạt bài đó là cậu. Sẽ đỡ cho cậu nhiều lắm. Và cũng có ít tiền giúp cậu đỡ khó khăn trong lúc này.
    Tôi ừ ào cho qua nhưng tôi không viết. Khi còn Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa tôi có thể viết những phóng sự hoạt kê châm biếm bọn có quyền thế, có địa vị, bọn giầu tiền, như tôi đã từng viết những phóng sự “Bà Lớn”, “Yêu Tì” đăng trên nhật báo Ngôn Luận những năm trước 1963, nhưng bây giờ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi vừa bị diệt, những bộ trưởng chính phủ, tướng tá, tỉnh trưởng, thẩm phán, dân biểu của tôi không chạy ra nước ngoài được nay đang bị tù đày, họ đang khổ cực hơn tôi, vợ con họ khổ cực hơn vợ con tôi, dù sao họ cũng là anh em tôi, có xấu xa đến mấy đi chăng nữa họ cũng là anh em tôi, trong tình cảnh khốn khổ, nhục nhã chung này, tôi không thể viết chửi bới họ.
    Chuyện “cộng tác” thứ hai: Sau Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai chừng hai tháng tôi nhận được giấy gọi lên Sở Công An Thành Phố. Tôi hồi hộp đến Nha Cảnh Sát Đô Thành của ta. Một anh công an trẻ tuổi, có vẻ là người Sài Gòn, tiếp tôi trong cái vi-la ngay bên cạnh trụ sở. Anh ta nói:
    – Những người có tội như Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh đã bị bắt. Anh không phải là không có tội nhưng chúng tôi thấy anh tội nhẹ nên không bắt anh, song anh có bổn phận phải cộng tác. Chúng tôi cần biết về tình hình các văn nghệ sĩ Sài Gòn, họ làm gì, nghĩ gì, họ sống ra sao. Không phải anh cứ báo cáo là chúng tôi bắt họ đâu, anh có thể cho chúng tôi biết những khó khăn của anh em văn nghệ sĩ để chúng tôi giúp họ.
    Những người công an bắt tôi làm việc cho họ không cho tôi biết tên họ – tôi chỉ biết tên có một chị: chị Chanh, Việt Cộng nằm vùng, từng hành nghề buôn cây để có dịp vào rừng liên lạc với đồng bọn. Họ hẹn tôi một, hoặc hai tuần đến gặp họ và báo cáo một lần. Những lần họ gặp tôi đều ở những vi-la tư nhân họ chiếm được. Tôi chẳng có gì để báo cáo với họ cả. Sau chừng ba tháng dằng co như thế, một sáng tôi nói với vợ tôi:
    – Anh không thể làm chỉ điểm cho bọn này. Nếu anh báo cáo với chúng nó về anh em mình, anh không thể nhìn mặt anh trong gương. Anh không làm đâu. Nó muốn bắt anh thì bắt.
    Alice đồng ý với tôi.
    Lần gặp sau tôi đưa cái thư “Kính gửi ban lãnh đạo…”, trong thư tôi viết tôi không có điều kiện cộng tác với Sở Công An, việc gặp tôi chỉ làm mất thì giờ của anh chị em công an, xin lãnh đạo cho tôi được nghỉ; tôi có thể dịch các tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp, nếu cơ quan cần người dịch thuật tôi xin làm v.v..

    oOo

    Le Parisien: “Hoang Hai Thuy a refusé de se taire”
    Dưới đây là bản dịch bài báo viết về “Biệt kích dzăng bút Hoàng Hải Thủy” đăng trên nhật báo Le Parisien, Paris, Tháng Tư năm 1988. Người viết là Nữ ký giả Catherine Monfazon:
    Đáp ứng lời kêu gọi của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới – L’Association Reporters Sans Frontières – 38 cơ sở truyền thông Pháp quốc đã nhận bảo lãnh mỗi cơ sở một ký giả bị tù vì làm tròn công việc của mình. “Le Parisien” tự chọn tranh đấu cho sự tự do của Hoàng Hải Thủy, ký giả Việt Nam, hiện đang bị bỏ quên trong một trại lao động cải tạo.

    oOo

    Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp quốc không những chỉ vận động để đưa ông Thủy ra khỏi nhà tù mà còn, theo sự đòi hỏi của gia đình ông ta, đưa ông ta ra khỏi quốc gia của ông ta…
    Hoàng Hải Thủy không chịu câm miệng.
    Đừng nói đến cái tên Hoàng Hải Thủy ở Việt Nam, nói đến cái tên đó trong điện thoại, đường dây sẽ bị cắt, trong đường phố những đôi mắt sẽ nhìn xuống đất. Được nhờ đến Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, được coi như là một động lực của công cuộc đổi mới của Việt Nam, sẽ bực bội gạt bạn sang Bộ Tư pháp, một cách từ chối, không tiếp khéo léo.
    Hoàng Hải Thủy năm mươi chín tuổi, đêm đêm nằm ngủ trên tấm ván rộng năm mươi phân giữa ba ngươi người bạn tù chung phòng giam trong trại cải tạo Xuân Lộc, một nơi cách thành phố HCM (Sài Gòn) một trăm hai mươi cây số. Những lời buộc tội thật mơ hồ “Lên tiếng chống chủ nghĩa cộng sản”. Người ta trách ông ta đã gửi ra nước ngoài những bài thơ, bài viết không sao có thể đăng được trong những tờ báo Việt Nam bị rọ mõm.
    Hoàng Hải Thủy biết rất rõ những người cộng sản. Bên cạnh họ ông đã tham gia kháng chiến năm 1945. Nhưng kể từ đó ông chỉ đi theo một con đường: nhân bản. Thi sĩ, văn sĩ, ký giả, dịch giả: ông được nhiều người biết vì tính tình hay nói thẳng, vì niềm hăng say tố cáo những sự bất công. Ông tự ý làm những việc ấy. Trước năm 1975 ông công khai chỉ trích chế độ cũ trên những tờ báo châm biếm như tờ Con Ong (nghĩa đen là con ong chuyên châm chích). Ông cũng là viên chức của Trung tâm Thông Tin Hoa Kỳ, USIS.
    Năm 1974, ông dịch “Trăm năm cô đơn” của Garcia Marquez. bản dịch truyện này bị cấm xuất bản. Bản dịch “Quần đảo ngục tù” (Archipel du Goulag) cũng bị cấm. Lần này là đảng cấm. Sau năm 1975 Hoàng Hải Thủy phải sống nhịn nhục. Nhưng ông từ chối không chịu im tiếng. “Ông ấy không thể im lặng trước những đau khổ của đồng bào ông. Ông ấy tức giận khi thấy bọn cán bộ kêu gọi người khác hy sinh nhưng chính chúng lại sống như vương giả”. Đấy là lời một người bạn của Hoàng Hải Thủy nói về ông.
    Năm 1977 ông ta đã bị bắt lần thứ nhất, bị giam hai mươi ba tháng trong nhà tù Chí Hòa. Vừa ra khỏi tù, ông lại cầm bút. Ông bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, ông bị xử ở tòa án. Người bạn của ông nói tiếp về ông: “Trong phiên xử, ông ấy có nói ông không viết vì thù hận chính quyền mà viết để chống lại tất cả những kẻ dối trá từ trong trái tim…”
    Bị tuyên án sáu năm tù, Hoàng Hải Thủy chỉ được trả tự do vào tháng Năm năm 1990. Ông còn phải chịu đựng nhiều tháng sống trong trại cải tạo vì thái độ tự do tư tưởng của ông, một thái độ mà cái chính phủ vẫn tự nhận là đã mở nắp nồi và đổi mới vẫn không thể chấp nhận được. (Catherine Monfazon – Nhật báo Le Parisien).

    oOo

    Năm 1988, nữ phóng viên Catherine Monfazon đi Bắc Kinh, Trung Quốc, rồi đến Hà Nội và thành phố HCM. Vì nhật báo Le Parisien nhận bảo trợ và đòi trả tự do cho người viết Hoàng Hải Thủy, cô Monfazon tìm đường đến gặp vợ con Hoàng Hải Thủy. Khi cô thất vọng hoàn toàn và sắp lên phi cơ về Paris, tình cờ cô gặp một người bạn của Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy cô đến được căn nhà nhỏ của vợ chồng Công Tử Hà Đông trong Cư xá Tự Do giữa Ngã ba Ông Tạ và Ngã tư Bảy Hiền.
    Đây là bài báo nữ ký giả Catherine Monfazon viết về vợ con Hoàng Hải Thủy đăng cùng trên trang báo Le Parisien với bài báo trên.

    oOo

    “Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu ông ấy”
    Hoàng Hải Thủy và cả gia đình ông phải trả giá đắt vì niềm khao khát tự do của họ. Nhưng họ vẫn sát cánh với nhau và họ hy vọng.
    Đêm đen như mực ở thành phố HCM. Cô con gái của Hoàng Hải Thủy, Giang, ba mươi hai tuổi, di chuyển vòng vèo giữa rừng xe đạp và xe xích lô trên chiếc xe gắn máy mua trả góp. Cô dừng xe trong một xóm đông dân cư. Con đường trở nên sình lầy. Im lặng. Giang dựng xe trước cửa vào nhà, cạnh mấy chuồng gà. Anh con và bà vợ Thủy chờ đón chúng tôi. Vài cái ghế, hai cái giường không nệm, một tủ lạnh rỉ sét, sân nhà lát gạch bông đỏ trắng rất sạch: tất cả toát lên một sự nghèo túng được che dấu cẩn thận.
    Mái tóc bạc được chải tươm tất, xanh xao, rất gầy, rất đường hoàng, bà vợ của Thủy nói tiếng Pháp lần thứ nhất từ hơn hai mươi năm nay.
    Một bức ảnh rất đẹp của ông chồng trang hoàng bức tường lở vôi, bên cạnh hai tờ thông cáo tuyên truyền của cộng sản mà nhà nào cũng phải dán. Đỗ Thị Thủy không được gặp mặt chồng từ hai tháng nay.
    “Ông bố tôi mạnh khỏe, bà mẹ tôi mới chịu không nổi. Bà mất mười ký lô”. Anh con trai hai mươi tám tuổi nói nhỏ.
    Họ nói đến ông bố và ông chồng của họ với niềm kiêu hãnh, họ nhắc đến những bài ông đã viết, những bài này đều bị công an tịch thu, những gì ghi lại nỗi tuyệt vọng, sự đau khổ và cái đói của nhân dân. “Ông ấy nói ít, viết nhiều”, bà Đỗ nói. Tôi hỏi: “Có bao giờ bà yêu cầu ông ấy đừng viết để cả nhà được an ninh không?”. “Không bao giờ…” bà trả lời ngay, gần như bà giận dữ vì câu hỏi ấy. Bỗng bà mỉm cười dịu dàng, xúc động: “Chúng tôi đói, chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi chấp nhận tất cả những cái đó. Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu thương ông ấy, chúng tôi kiêu hãnh vì sự can đảm của ông ấy”.
    Cái giá của sự tự do tư tưởng của Thủy là một giá đắt. Để có thể sống, họ phải bán hết. Nữ trang, đồ đạc, quần áo. Đến cả ba ngàn quyển sách của Thủy, từ tủ sách lớn ấy, họ còn giữ được khoảng trăm quyển cất kỹ trong một ngăn tủ nhỏ. Camus, Nabokov, Nietzche, Zola, Sacha Guitry… Những sách này đều được những người con của Thủy đọc đi, đọc lại. Từ nhiều năm nay các con của Thủy bán bánh ngoài đường. Tất cả việc học của họ đều bị cấm. Hiện nay họ đang muốn tin vào việc Thủy sắp được thả tự do. Rồi sau sẽ ra sao? Họ lo âu. “Ông ấy lại sẽ bị kiểm soát, bị theo dõi khắp nơi. Lại có sợ hãi. Ông ấy có thể lại bị bắt. Chính phủ phải để cho chúng tôi ra đi. Không có tờ báo nào ở đây nhận cho ông ấy làm việc. Với cái tên ấy, ông ấy sẽ bị từ chối ở khắp nơi. Chúng tôi chỉ có thể có tự do ở một miền đất khác. Cô có thể làm gì được không? Ở đây người ta chỉ cho phép chúng tôi im lặng…”

    oOo

    Xin viết cho rõ: Người dịch “The Gulag Archipelago” của Alexandre Sozhenytsin ra bản Việt ngữ “Quần Đảo Ngục Tù” là Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú. Anh đã từ trần trong trại cải tạo Phú Khánh khoảng năm 1980. Tôi dịch “The First Circle” của A. Sozhenytsin, “Tầng Đầu Địa Ngục”, ấn hành ở Sài Gòn năm 1973.
    Năm 1977 đến năm 1979, thời gian là hai mươi ba tháng tôi bị bắt lần thứ nhất ở trại giam số 4 Phan Đăng Lưu. Bị bắt lần thứ hai năm 1984 tôi sống bốn mùa lá rụng ngoài song sắt trong Thánh thất Chí Hòa. Nữ ký giả Monfazon viết nguyên văn trong bài “…la presse muselée vietnamienne…”, tạm dịch: “… nền báo chí Việt Nam bị rọ mõm…”
    Năm 1994 nữ phóng viên Catherine Monfazon lại đến Thành Hồ, lần này tôi được gặp cô, được ăn với cô một bữa tối trong nhà hàng Mini của bà Nguyễn Phước Đại, đường Nguyễn Du. Từ năm 1990 tình hình kinh tế tài chánh của những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ ở thành Hồ có vẻ khá hơn, tôi vẫn dùng xế đạp đi lại loanh quanh khu Ông Tạ, nhưng tôi đã có cái Honda 91. Tôi dùng Honda đến khách sạn đón cô Monfazon, chở cô trở lại căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, nơi cô đã đến năm năm trước. Cô kém Kiều Giang con gái tôi hai tuổi, nói thông thạo tiếng Anh. Catherine Monfazon là một trong những người đã đối xử ân cần và giúp đỡ vợ chồng tôi trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi vẫn nhớ ơn cô.
    Chúng tôi như những người sắp chết đuối vớ được cái phao – được ấm lòng và có thêm hy vọng để không chết nhờ rất nhiều người, những người bạn ở nước ngoài. Trong khi bọn Việt Cộng thù hận chúng tôi, chỉ muốn chúng tôi khóc mếu, khổ sở, cố tình đầy ải cho chúng tôi phải chết hoặc dở sống, dở chết, phải quỳ gối lậy van chúng, những người bạn không quen biết từ xa ngoài vạn dặm đã gửi tình thương cho chúng tôi. Xin cảm ơn tất cả.

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (17)




    Trích “Lời Tác Giả” Phóng sự Tiểu thuyết “Yêu Nhau Bằng Mồm”:
    Tôi viết “Yêu Nhau Bằng Mồm” để đăng báo tuần năm 1960. Đến Tháng Bẩy năm 1970, mười năm sau ngày Kiều Ly xuất hiện trên báo, tôi ngồi sửa lại “Yêu Nhau Bằng Mồm” để đưa cho Nhà Chiêu Dương xuất bản thành quyển sách này.
    Ngày Một Tháng Chín 1970
    Buổi sáng mùa thu, tôi ngồi một mình trong căn phòng nhỏ của tôi và Alice; sau lưng tôi là chiếc AKAI xoay đều một băng nhạc do Phạm Mạnh Cương thực hiện.
    Đến một phút nào đó tôi ngừng tay trên bản thảo vì tiếng hát của Thái Thanh. Nàng hát bài “Mùa Thu Trong Mắt Em” của Phạm Mạnh Cương. Tôi xúc động vì tiếng hát và tôi chợt nhớ từ lâu rồi, từ rất nhiều năm nay, tiếng hát Thái Thanh đã làm tôi nhiều lần xúc động; tôi yêu đời, yêu người nhiều hơn, đời tôi sung sướng hơn, đẹp hơn, một phần chính là nhờ sự hỗ trợ, sự ca tụng Tình Yêu của tiếng hát Thái Thanh..
    Tôi nhớ một buổi sáng cách buổi sáng hôm nay đã gần hai mươi năm. Đó là một buổi sáng năm 1952. Buổi sáng đó tôi là một thanh niên vừa hai mươi tuổi, những bước chân tôi đang bỡ ngỡ bước vào đường đời; tôi vừa từ Hà Nội vào Sài Gòn và tôi đang đi tìm việc trong những tòa báo ở Sài Gòn. Với tôi năm ấy một chân phóng viên báo chí với số lương tháng hai ngàn đồng bạc là một cái gì thật là lý tưởng và quí báu nhất đời. Buổi sáng ấy tôi đứng trên con tầu điện từ Chợ Lớn chạy về Sài Gòn, và tôi thấy Thái Thanh cùng đi trên con tầu điện ấy.
    Năm 1952, gần hai mươi năm trước đây, Thái Thanh và tôi cùng hãy còn rất trẻ; chúng tôi đang cùng bước vào con đường văn nghệ, nàng ca hát, tôi viết truyện, làm thơ. Năm ấy tôi chưa có chút tiếng tăm nào, Thái Thanh và Ban Thăng Long đã bắt đầu nổi tiếng. Và năm đó Sài Gòn còn có đường xe điện chạy từ Sài Gòn vào Chợ Lớn trên đường Galiéni, nay là đường Trần Hưng Đạo.
    Và như thế là cho đến sáng hôm nay, năm 1970, khi tôi ngồi sửa truyện và nghe Thái Thanh hát qua băng nhựa, thời gian đã hai mươi năm trôi qua. Tôi thấy nữ ca sĩ Thái Thanh, với tiếng hát không có dĩ vãng của nàng, đã làm cho đời tôi đẹp hơn, phong phú hơn là tôi với những truyện ngắn, truyện dài của tôi làm cho đời nàng thêm đẹp. Vậy để trả ơn nàng, tôi trang trọng đề tặng nàng tập truyện này. Bạn đọc thông minh chắc thừa hiểu nữ nhân vật Kiều Ly của phóng sự tiểu thuyết này không phải là hình ảnh của Thái Thanh; tôi chỉ cần nói thêm rằng những đoạn nào tả chân về Kiều Ly là tả Kiều Ly, còn những đoạn nào tả thơm, tả sạch về Kiều Ly thì Kiều Ly đó có phảng phất hình ảnh Thái Thanh vậy.

    oOo

    Thời gian vỗ cánh bay như quạ… Thơ ông Tchya Đái Đức Tuấn. Đây là nguyên thơ bốn câu của ông, tôi tìm được trong Hồi Ký “Nhớ Nơi Kỳ Ngộ” của ông Lãng Nhân:
    “Thì giờ vỗ cánh bay như quạ
    Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi
    Rượu hết, gà kêu, cô cuốn chiếu
    Quay về, còn lại mảnh tình tôi…”
    Tôi chỉ đổi tiếng “thì giờ” thành “thời gian”.
    Đúng là thời gian vỗ cánh bay như quạ. Năm 1970 tôi ngồi trong căn gác nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, nghe tiếng hát Thái Thanh, viết những giòng trên đây làm lời nói đầu tập phóng sự tiểu thuyết “Yêu Nhau Bằng Mồm” của tôi. Tôi đăng Yêu Nhau Bằng Mồm từng kỳ trên tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong. Truyện viết xong được Nhà Xuất Bản Chiêu Dương ấn hành thành sách. Năm 1970 tôi nhớ hình ảnh của Thái Thanh trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn gần hai mươi năm trước – năm 1952, năm ấy hai chúng tôi còn rất trẻ…
    Thế rồi… thời gian vỗ cánh bay như quạ… Năm nay, năm 2000, buổi sáng Tháng Mười, mùa thu lại về trên đồng đất Virginia của người Mỹ, tôi ở Rừng Phong, viết lại bài tôi đã viết năm 1970 – ba mươi năm trước – bài tôi viết về Thái Thanh, người nữ ca sĩ của vợ chồng tôi, tôi lại tưởng như tôi nhìn thấy tôi ba mươi năm trước ngồi viết về Tiếng Hát Thái Thanh trong căn gác nhỏ của vợ chồng tôi ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn; năm 1970 ấy tôi mới bốn mươi tuổi. Tính ra thời gian đã qua năm mươi năm kể từ buổi sáng tôi nhìn thấy Thái Thanh bận toàn đồ trắng trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn.
    Nếu còn ở Sài Gòn tôi sẽ chẳng bao giờ được thấy lại, được đọc lại “Yêu Nhau Bằng Mồm”. Sau cuộc biến thiên 30 Tháng Tư 75 ở Hoa Kỳ người ta in lại nhiều sách truyện của những văn sĩ Sài Gòn, trong số sách được in lại có quyển “Yêu Nhau Bằng Mồm” của tôi. Bánh xe lãng tử sang Hoa Kỳ tôi lại có quyển sách ấy; nhờ vậy hôm nay tôi mới có điều kiện và cảm hứng để viết bài này.
    Alice và tôi có hai ca sĩ Thái Thanh và Anh Ngọc. Với vợ chồng tôi Thái Thanh và Anh Ngọc là nhất; Nữ ca sĩ của Kiều Giang, con gái chúng tôi, là Lệ Thu. Có lần, cũng những năm 1970, tôi đã viết:
    – Tôi quen mở máy nhạc khi ngồi viết, vừa viết vừa nghe nhạc. Nhưng khi tiếng hát Thái Thanh cất lên, tôi phải ngừng viết để nghe. Tôi vẫn nghĩ khi Thái Thanh hát mà tôi làm bất cứ việc gì là tôi có lỗi.
    30 Tháng Tư 75 đến, số văn nghệ sĩ may mắn bỏ của chạy lấy người được lơ thơ như lá mùa thu, số văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở lại đông vô số kể, những ngày tháng đen tối, u sầu, lo âu kéo dài như vô tận. Một đêm cuối năm 1976 tôi gặp lại Thái Thanh. Đêm ấy có Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn. Vi-la 203 đường Hiền Vương, gia chủ mời chúng tôi ăn bữa tối. Khoảng 11 giờ đêm Thái Thanh ngồi vào piano, nàng vừa đàn, vừa hát. Thấy tôi đến bên đàn, nàng mỉm cười nhìn tôi. Tôi hiểu nàng hỏi tôi: Muốn nghe bài gì? Tôi nói:
    – Thôi thì thôi nhé…
    Nàng nhắc lại:
    – Thôi thì thôi nhé…
    Và nàng hát cho tôi bài “Động Hoa Vàng“, thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy. Tôi lặng người nghe nàng hát cho riêng tôi nghe. Sau đó tôi làm bài thơ:
    TIẾNG HÁT THANH
    Tiếng mẹ ru từ thưở nằm nôi,
    Mẹ thôi Mẹ không hát nữa,
    Khi Anh chân bước vào đời.
    Tiếng hát Mẹ nằm trong ký ức
    Tung cánh bay khi Em hát cho người!
    Ngày xưa xa lắm ở bên trời
    Có người xưa hát lúc đi rồi
    Mười hôm tiếng hát còn vương vấn
    Trên mái nhà xưa âm chửa rơi.
    Tiếng hát Em tim Anh nức nở
    Hai chục năm rồi thanh chửa thôi!
    Em hát khi Anh vừa bỏ học,
    Em hát khi Anh sắp bỏ đời.
    Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc,
    Em hát khi Anh giấc ngủ vùi,
    Em hát khi Anh chưa biết khóc,
    Em hát khi Anh biết mỉm cười.
    Em hát tan vàng, ca nát đá.
    Em hát cho Anh biết ngậm ngùi.
    Nắng chia nửa bãi, chiều rồi.
    Đêm tàn Em hát, buồn ơi lá sầu.
    Động Hoa Vàng có tên nhau,
    Thương thì thương nhé, qua cầu gió bay.
    Tiếng Em buồn cuối sông này,
    Mây đầu sông thẫm bóng ngày khóc nhau.
    Khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1984, người Sài Gòn báo cho nhau có người nghe được tiếng nói của đài phát thanh kháng chiến. Nghe nói những người ở Nha Trang đầu tiên vô tình mở radio bắt được đài này. Tháng Tư năm ấy tôi nghe được tiếng nói của Đài Phát Thanh Hoàng Cơ Minh, phát thanh năm lần một ngày, mỗi lần lâu một giờ. Nhạc của đài là bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông“, tiếp đó là Thái Thanh hát bài “Quê Em” – Quê em miền trung du. Đồng quê lúa xanh rờn. Giặc tràn lên cướp phá. Anh về quê cũ. Đi diệt thù giữ quê. Giặc tan đón Em về…
    Đêm khuya, khoảng 11 giờ, tiếng Thái Thanh hát “Quê Em” từ đâu xa lắm vọng về làm Alice và tôi ngây ngất. Nghe tiếng Thái Thanh từ radio phát ra tôi nghĩ:
    – Thật lạ kỳ. Giả chân, chân giả. Đây là tiếng hát Thái Thanh – không ai có thể nói đây không phải là tiếng Thái Thanh – nhưng cũng có thể nói không phải tiếng Thái Thanh vì lúc ấy Thái Thanh đâu có hát. Thái Thanh đang ở Sài Gòn. Nghe tiếng hát của mình từ góc trời nào vọng lại, không biết Thái Thanh có cảm nghĩ gì.

    Tôi không xưng Anh với Thái Thanh. Nhân vật “Anh” trong thơ tôi là người yêu mê tiếng hát Thái Thanh, người biết ơn, người ca tụng tiếng hát Thái Thanh. Tim tôi rung động vì tình cảm của người ấy và tôi thay người ấy làm thơ. Tháng Mười 1988 ở Nhà Tù Chí Hòa nghe tin Thái Thanh đã sang Hoa Kỳ, tôi làm bài thơ thứ hai trong có hình ảnh Thái Thanh. Thái Thanh không vượt biên như người nữ ca sĩ trong thơ tôi, nhưng đi qua biên giới là vượt biên, chỉ có vượt biên trái phép và vượt biên hợp pháp. Đã phải sống đến năm năm trong ba bức tường, một hàng song sắt của nhà tù lớn Chí Hòa, tôi cô đơn, tôi sầu buồn nên tôi làm thơ. Thơ vẩn, thơ vơ thôi. Năm 2000, thế hệ lão liệt chúng tôi đã và đang dắt nhau đi vào quên lãng. Thời gian tới biết có ai còn xúc động vì tiếng hát Thái Thanh, vì nhạc Phạm Duy, Hoài Bắc, Đoàn Chuẩn? Tôi viết bài này để hoài niệm nhau lúc chúng tôi còn sống; tôi viết nhớ người mà cũng là nhớ những ngày hoa niên, những ngày trung niên của đời tôi:
    NỤ TẦM THANH
    Tóc mai sợi vắn, sợi dài
    Lấy nhau chẳng đặïng, thương hoài tình nhân.
    Tiếng Em trời đất vang ngân
    Âm vàng, thanh ngọc bội phần xót sa.
    Trèo lên cây bưởi hái hoa,
    Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
    Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
    Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
    Nhớ nhau gọi một chút này
    Mất nhau ta tiếc những ngày có nhau.
    Nửa hồn thương, nửa hồn đau,
    Nửa hồn ta tím ngắt mầu thời gian.
    Nghìn trùng xa cách quan san
    Biết Em chớp biển, mưa ngàn ở đâu.
    Hạc vàng bay mất từ lâu
    Mà sao hoàng hạc trên lầu còn thanh.
    Lan huệ sầu ai…
    Lan huệ sầu thành…
    Quê Em tiếng hát Em xanh đất trời.
    Từ ly người đã xa người
    Còn đây tiếng hát một đời xôn xao.
    Ta đốt lên một cành hương dạ thảo
    Em biết cho… Tình Ta vẫn nhớ Người.
    Thăng Long từ độ Thanh hồng hảo.
    Tình khúc, thương ca động đất trời.
    Tà áo xanh ngời hương mộng ảo,
    Hồ điệp, Trang Châu hát giữa đời.
    Người đi mùa ấy thu giông bão,
    Tà áo Văn Quân mấy khóc cười.
    Mái nhà xưa nhớ trăng thu thảo,
    Viễn xứ thuyền đi, biển nhớ lời.
    Người đi vắng một trời châu bảo,
    Vượn hú, chim kêu, nước ngậm ngùi.
    Lâu đài tình ái sương dăng ảo
    Đồi tím hoa sim gió ạ… ời…
    À… ơi… ơi… à… ơi…
    Ngày ấy có Thanh, Thanh nhẹ vào đời
    Và Thanh ca đến với lời thơ nuối.
    Ngày ấy có Tôi mê mải tìm lời..
    Và Thanh… Thanh… suốt một đời…
    Tình ơi…!
    Nhớ người mười tám, đôi mươi,
    Cỏ hồng, chiều tím, xanh trời, Người đi.
    Chúng mình ngày đó xuân thì,
    Tiếc không khăn gấm, quạt quỳ trao tay.
    Gìn vàng, giữ ngọc cho hay,
    Lửa hương ta hẹn kiếp này, kiếp sau.
    Áo bay thương lúc qua cầu
    Trăng vàng, mây bạc mái đầu thướt tha.
    Trèo lên cây bưởi hái hoa
    Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
    Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
    Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
    Của tin gọi một chút này:
    Tóc mai sợi trắng, sợi phai
    Lấy nhau đặng cũng thương hoài ngàn năm!
    (Làm tai Phòng 20 F Nhà Tù Chí Hòa, Tháng 10, 1988).
    Ba bốn tháng sau ngày oan nghiệt 30 Tháng Tư, tôi gặp lại Hoài Bắc ở trước cửa chợ Thái Bình. Lúc ấy khoảng tám, chín giờ tối, thành phố tắt điện, quanh chúng tôi đầy bóng tối. Hai chúng tôi cùng đi xe đạp, xe Hoài Bắc còn treo cái bị cói ở ghi-đông. Chúng tôi ghếch xe vào vỉa hè đứng nói chuyện. Hoài Bắc nói:
    – Văn Cao chưa vào được, bà vợ Văn Cao vào. Văn Cao nhắn nói với Thái Thanh: “Hát như cô mới là hát, ở ngoài này chúng nó không biết hát”. Trần Dần cũng nhắn bà Văn Cao nói với Vũ Hoàng Chương: “Thơ như thơ anh và thơ anh Hùng thì không bao giờ mất được”.
    “Anh Hùng” Trần Dần nói đó là Đinh Hùng.
    Từ đó đến tháng 9 năm 1977 tôi bị bắt lần thứ nhất tôi chỉ gặp Hoài Bắc chừng ba, bốn lần. Chúng tôi có chung một ông bạn không thuộc giới văn nghệ -anh Nguyễn văn Thơ – nhà ở đường Ngô Tùng Châu. Tôi hay đến nhà Thơ uống rượu với anh. Có lần tôi gặp Hoài Bắc ở đấy. Rượu chúng tôi uống ngày đó là rượu đế, có được thứ rượu đế tử tế, không độc hại lắm, để uống là may rồi. Lúc 10 giờ đêm chúng tôi chia tay, nhà Thơ không có gì ăn cả. Hai chúng tôi dắt hai cái xe đạp, đi với Thơ dưới trời mưa rả rích ra đường Chi Lăng ăn mì ghi sổ nợ ở xe mì của chú Tầu quen Thơ. Đó là thời Hoài Bắc, Đinh Hiển, tức Họa sĩ Hĩm, cùng làm việc ở Tổ Hợp Sản Xuất Đồ Gỗ Sơn Mài Sông Đồng. Ông Đinh Phát làm Giám đốc Tổ Hợp Sông Đồng, Thơ làm thủ quỹ, Hoài Bắc dậy công nhân ca hát.
    Rồi tôi bị công an Thành Hồ bắt vào số 4 Phan Đăng Lưu, Trung tâm Thẩm vấn của Sở Công An Thành Hồ. Người thẩm vấn tôi là anh công an Việt Cộng Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung. Anh này nguyên là họa sĩ Ớt vẽ tranh hí họa cho nhật báo Điện Tín của Thương Nghị sĩ Hồng Sơn Đông, anh là Việt Cộng nằm vùng. Một chiều trong phòng thẩm vấn, Ba Trung nói với tôi:
    – Tôi muốn anh viết cái thư cho Hoài Bắc..
    Nguyên nhân làm Ba Trung muốn tôi từ trong tù viết thư gửi cho Hoài Bắc là như vầy: Tháng Ba 1976 công an Thành Hồ mở chiến dịch bắt giam một số văn nghệ sĩ Sài Gòn Việt Nam Cộng Hòa. Hoài Bắc và tôi không ở trong số người bị bắt trong đợt này, công an Thành Hồ bắt trượt Mai Thảo. Mai Thảo trốn thoát, sống ẩn đâu đó trong thành phố và vẫn được anh cháu ruột gọi bằng cậu chở xe đưa đi chơi đây đó cho đỡ buồn. Mai Thảo có đến nhà tôi nên khi nghe anh con trai Bà Cả Đọi nào đó loan tin: “Mai Thảo bị bắt rồi…!”, tôi hỏi: “Bị bắt lâu chưa? Ai thấy? Sao biết?”. Và tôi nói: “Mai Thảo chưa bị bắt. Mới tháng trước Mai Thảo đến nhà tôi”.
    Tin Mai Thảo thường gặp Hoài Bắc, gặp tôi, đến tai những anh công an Việt Cộng Thành Hồ như Ba Trung. Khi thẩm vấn tôi Ba Trung nói:
    – Mai Thảo có đến nhà anh, anh và Mai Thảo nhiều lần đi chơi với nhau, anh phải biết chỗ Mai Thảo ở chứ?
    Tôi trả lời:
    – Tôi không biết. Mai Thảo không nói, tôi cũng không hỏi chỗ nó ở. Tôi không hỏi vì tôi sợ nếu tôi biết chỗ nó ở khi tôi bị bắt, các anh sẽ ép tôi phải khai ra chỗ nó ở. Tôi khai thì nó bị bắt, không khai thì tôi sợ tôi khổ; vì vậy tôi không hỏi.
    Tôi nói thêm:
    – Đó là chuyện tôi nghĩ trước kia, trước khi tôi bị bắt. Bây giờ bị bắt vào đây rồi tôi nghĩ khác: nếu tôi không bị bắt mà tôi khai ra chỗ ở của Mai Thảo để nó bị bắt thì tôi ân hận, nay tôi bị bắt rồi thì tôi có khai cho Mai Thảo bị bắt cũng chẳng sao. Có bị bắt nó cũng chỉ khổ như tôi thôi. Rồi thể nào nó cũng bị các anh bắt mà, trốn mãi thế nào được.
    Nếu tôi chịu khai có thể Ba Trung bắt được Mai Thảo: anh cháu của Mai Thảo, người vẫn chở xe cho Mai Thảo đi chơi, người vẫn đến nhà tôi lấy truyện detective tiếng Pháp về cho Mai Thảo đọc, có người quen ở ngay gần nhà tôi; mỗi lần đến nhà tôi anh đều ghé trước nhà người quen này xem có động tĩnh gì ở nhà tôi không, tôi bị bắt hay vẫn ở nhà, có công an rình rập nhà tôi không. Chỉ cần tôi khai ra anh và nhà người quen của anh là bọn Ba Trung có thể bắt được anh, và từ anh, họ bắt được Mai Thảo.
    Chiều xưa ấy Ba Trung xé bao giấy gói thuốc lá Vàm Cỏ, đưa cho tôi cây bút, bảo tôi viết thư cho Hoài Bắc vào mặt trắng của bao giấy.
    – Tôi muốn anh viết – Hắn nói – Người ta đã biết chỗ Mai Thảo rồi, bảo nó đi chỗ khác ngay. Còn ở đó là bị bắt đấy.Thế thôi.
    Tôi hiểu Ba Trung muốn gì. Trong tù thường có người bị bắt được thả, lén mang thư của người trong tù ra cho gia đình bên ngoài. Có thư tôi, Ba Trung sẽ cho một tên công an – gọi là trinh sát – giả làm tù mới được thả, mang thư tôi đến đưa cho Hoài Bắc. Được thư tôi Hoài Bắc sẽ nhẩy ngay lên xe đạp, phóng đến chỗ Mai Thảo ở để báo tin. Bọn xông an chờ sẵn bên ngoài sẽ theo Hoài Bắc đến chỗ Mai Thảo.
    Trước tờ giấy bao thuốc lá và cây bút bi, tôi cúi đầu thầm cầu nguyện; tôi đọc ba Kinh Kính Mừng, tôi xin Đức Mẹ cho bức thư của tôi không có kết quả gì cả. Rồi tôi viết:
    “Hoài Bắc. Người ta đã biết chỗ ở của MT rồi, mày đến bảo nó đi chỗ khác ngay, còn ở đó nguy đấy. Tao.HHOÀNG TRỌNG”.
    Tôi cố ý viết “mày tao” với Hoài Bắc. Hoài Bắc không “mày tao” với tôi, tôi cũng không nghe anh mày mày, tao tao với ai cả. Tôi mong khi đọc thư tôi, thấy tôi mày tao với anh, anh sẽ nghi không phải là thư tôi.
    Ba Trung xem thư tôi, hắn còn nói:
    – Anh vẽ cành hoa vào đây.
    Huy hiệu của tôi là bông hoa. Tôi thường vẽ bông hoa ở đầu trang bản thảo, ở đầu những trang thư. Tôi vẫn nghĩ đời tôi như bông hoa, hoa đẹp, hoa thơm nhưng hoa không ăn được. Nên tôi nghèo, phải chi tôi lấy huy hiệu là quả đu đủ, hay quả mít chắc đời tôi khá hơn về mặt tiền bạc.
    Tháng Năm, tháng Sáu năm 1978, có anh bạn mới bị bắt vào tù, nghe anh báo tin Mai Thảo, Hoài Bắc vượt biên đi được rồi, tôi nhẹ người.
    Những ngày như lá, tháng như mây theo nhau qua. Đầu năm 1980 tôi được trở về mái nhà xưa, gặp lại Dương Hùng Cường, Duyên Anh, Minh Vồ, Minh Đăng Khánh v.v… Tôi gặp lại anh Thơ. Đầu năm 1983 Duyên Anh vượt biên đi thoát, rồi Lê Trọng Nguyễn cùng vợ con lên phi cơ sang Mỹ đoàn tụ gia đình, Tháng Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai. Năm 1990 lần thứ hai từ ngục tù tôi trở về mái nhà xưa ở Ngã ba Ông Tạ. Một hôm có anh bạn Việt Kiều trẻ từ Mỹ về, đem đến nhà cho tôi 100 đô-la, nói là của chú Phạm Đình Chương gửi cho chú. Anh nói anh làm cùng một sở với chú Chương; vì anh về gấp nên chú Chương chỉ gửi tiền thôi, không có thư từ gì cả.
    Tháng 11 năm 1994 khi vợ chồng tôi bánh xe lãng tử sang đến Hoa Kỳ, Hoài Bắc đã qua đời được mấy năm. Tôi không được gặp anh để hỏi năm 1977 Ba Trung có cho người đem bức thư tôi viết trong tù đến anh hay không.
    Anh Nguyễn văn Thơ, bạn chúng tôi, cũng đã qua đời.

    oOo

    Sau ngày tan hàng tôi gặp Lê Trọng Nguyễn nhiều nhất. Nhà Nguyễn ở đường Nguyễn Minh Chiếu, số 250, đi qua chợ Ông Tạ là sang nhà tôi. Chúng tôi gặp nhau, đi chơi với nhau gần như mỗi ngày. Hai, ba tháng sau ngày 30 Tháng Tư gặp lại nhau trên đường phố Sài Gòn đầy cờ đỏ, sao vàng, Nguyễn nói:
    – Tao gặp H. Nó hỏi mày đi được không, tao nói mày kẹt. Nó kêu: “Trời ơi… Rồi nó sống bằng gì?”. Tao nói nó sống bằng tình yêu của vợ nó chứ còn bằng gì nữa..
    Cuối năm 1977 tôi bị bắt, cuối năm 1779 tôi trở về, tôi và Nguyễn lại gặp nhau gần như mỗi ngày. Nguyễn bảo tôi:
    – Có cô Phương Hương ở bên Pháp gửi thuốc về cứu trợ văn nghệ sĩ. Để tao viết cho cô ấy báo tin mày mới về, cô ấy sẽ gửi thuốc cho mày. Địa chỉ của cô ấy đây.
    Từ đấy tôi được có tên trong sổ cứu trợ của cô Phương Hương, cô là đại diện một tổ chức Phật tử ở Pháp. Cô là bác sĩ Cao Ngọc Phượng, hiện nay cô là Sư Chân Không.
    Đầu năm 1983 có tin đồn về quân đội phục quốc, Nguyễn đưa tôi bản nhạc:
    – Tao làm bài này tặng những người phục quốc, nhạc hành khúc, mày làm lời cho tao.
    Tôi nói:
    – Chỉ có thơ phổ nhạc, ít có người viết lời theo nhạc. Tao có thể làm lời được nhưng tao có biết gì về nhạc đâu. Muốn tao làm lời mày phải đàn bản này cho tao nghe, hay thu vào băng cát-xét cho tao nghe, có hứng mới làm được.
    Nguyễn làm lời, để tên tác giả là Trung Nhơn, tôi đặt tên bản nhạc là Tiếng Hát Trở Về. Tôi viết vài dòng trên bản nhạc: “Tặng những chiến sĩ phục quốc. Tác giả là một nhạc sĩ có tên tuổi ở Sài Gòn nhưng nay ta cứ tạm biết ông dưới cái tên Trung Nhơn“.
    Tôi gửi bản nhạc của Nguyễn sang những địa chỉ nhận thư của tôi ở Pháp, Mỹ, Úc. Khoảng tháng Hai 1984 gia đình Nguyễn lên phi cơ sang Hoa Kỳ, tháng Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai. Trong khi thẩm vấn tôi nhiều lần công an đem những tờ báo Việt hải ngoại vào tù hỏi tôi về những bài họ nghi là do tôi viết. Thường trên những bài ấy có ghi ba chữ “H2T?”. Mỗi lần như thế tôi đều bồi hồi đọc hết bài viết xong mới trả lời, bài nào tôi viết tôi nhận tôi viết. Tôi thấy trong một bài in nguyên bản nhạc của Nguyễn. Chữ viết của Nguyễn, chữ viết của tôi rành rành trên bản nhạc. Ông bạn nào đó ở hải ngoại đã không viết lại bản nhạc mà đưa ngay bản chính chúng tôi gửi sang lên báo.
    Tôi nhận tôi tôi gửi bản nhạc đi và tác giả bản nhạc là Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn đã sang Hoa Kỳ.
    Anh công an thẩm vấn nói:
    – Anh đừng đổ tội cho người không còn ở trong nước…
    Tôi nói:
    – Chữ viết của tôi đây, chữ Lê Trọng Nguyễn đây. Các anh bắt được thư của Lê Trọng Nguyễn ở nhà tôi, so tự dạng, các anh biết ngay chứ gì.
    Nguyễn đi vài tháng trước khi bọn bị gọi là Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi bị bắt. Cũng như Duyên Anh đã đi được trước. Nếu không Nguyễn có thể cùng bị bắt với tôi Tháng Năm 1984.
    Một chiều tôi đến nhà Nguyễn rủ Nguyễn đi uống rượu vỉa hè. Chúng tôi thường uống ở cái quán nghèo bên Cổng Xe Lửa Số Sáu đường Trương Minh Gảng. Không hẳn là quán, dù là quán nghèo. Chiều tối ông chủ quán mới đặt mấy cái bàn nhỏ, thấp tè, sát vách một căn nhà bên đường xe lửa. Ly rượu một đồng, ly đậu phụng rang một đồng, có năm, sáu đồng là hai chúng tôi có thể ngồi đó nhâm nhi suốt một buổi tối.
    Chiều ấy tôi gặp Lan Đài và con gái anh trước cửa nhà Nguyễn. Hai bố con Lan Đài chở nhau trên chiếc xe đạp. Lan Đài và tôi đứng bên đường trao đổi với nhau vài câu thăm hỏi rồi chia tay. Vào nhà gặp Nguyễn, tôi nói:
    – Tao vừa gặp Lan Đài và con gái nó ở ngoài đường. Nó cứ ngập ngừng hình như nó muốn nói với tao chuyện gì rồi lại thôi.
    – Mày hay đấy – Nguyễn nói – Lan Đài nó đi vượt biên với con gái nó. Nó đến từ biệt tao. Gặp mày chắc nó cũng muốn nói với mày chuyện nó đi.
    Vài ngày sau gặp nhau Nguyễn muốn khóc:
    – Lan Đài nó chết rồi. Lúc lên thuyền lớn ban đêm nó ngã xuống nước. Con nó cũng không đi được.
    Tờ báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ Sĩ Giải Phóng TPHCM đăng tin nhạc sĩ Lan Đài về quê ăn giỗ bị bạo bệnh đã qua đời.
    Một chiều buồn trong tù, nhớ Nguyễn, tôi làm mấy câu thơ:
    …Xót mày dạ trúc, lòng tơ,
    Họa cung đàn mọi bây giờ hẳn đau.
    Tóc chia hai thứ trên đầu,
    Thương thì đã muộn mà sầu lại dư.
    Này Lê, này Nguyễn đều hư,
    Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo!

    oOo

    Kiều Giang, con gái tôi, là “fan” của Lệ Thu. Những năm 1970 cháu học ở Trường Nguyễn Bá Tòng, có thời nhà Lệ Thu ở trong khu sau tiệm Phở 79. Những chiều thứ Năm được về sớm hai giờ Kiều Giang thường ghé vào nhà thăm cô Thu. Nếu hôm ấy cô ở nhà và cô không đánh bài, cô vui, cô cho cháu Giang lên xe hơi, chạy chơi một vòng thành phố.
    Lệ Thu cùng dự cái gọi là Khóa Bồi dưỡng Chính trị cho văn nghệ sĩ Sài Gòn tháng Bẩy năm 1976 với tôi. Một hôm trong giờ nghỉ giải lao, đúng ra là nghỉ đi đé, bọn Việt Cộng mới có nước trà uống, bọn Sè-goòng đến nghe chửi giải lao, giải lực ký gì, đang đứng trong hành lang Nhà Hát Lớn, thấy Lệ Thu đi đến, thay vì chào hỏi nàng, hỏi thăm nàng người bị bắt hiện ở đâu, có được gặp mặt không, tôi lại quay mặt đi. Tôi xấu hổ. Tôi xấu hổ với nàng vì tôi vác mặt đi dự cái khóa gọi là bồi dưỡng chính trị cho bọn văn nghệ sĩ kẹt giỏ Sài Gòn. Bọn chúng tôi phải đến ngồi tễu mặt ra nghe bọn cán cộng nó sỉ vả, nó dậy dỗ cũng phải đi, nhưng còn những nữ ca sĩ như Lệ Thu..? Các nàng tội tình gì mà cũng phải đến những chỗ khốn nạn này?
    Đành nhẽ văn nhân mà cải tạo,
    Thương thay ca sĩ cũng phong trần…
    Những năm 1976, 1977, ViXi chiếm đóng Sài Gòn thẳng tay tiêu diệt cái họ gọi là văn hóa phản động. Tất cả các bản nhạc, băng nhạc có trước năm 1975 đều bị coi là sản phầm văn hóa đồi trụy, phản động, bị tịch thâu, tiêu hủy. Nhà nào mở nhạc nghe, dù là nghe lén, bị công an Việt Cộng tóm được, là bị tịch thu máy. Nhưng đến những năm 1981, 1982 nhạc Ngụy lại văng vẳng vang lên trong thành phố Sài Gòn. Một chiều năm 1982 tôi ngồi uống cà phê trên vỉa hè gần chợ Ông Tạ, nghe tiếng ca Lệ Thu từ máy quay băng trong tiệm vẳng ra – Lệ Thu vượt biên khoảng năm 1980 – tôi làm mấy câu thơ:
    Em buồn em bỏ đi đâu,
    Sao Em để tiếng em sầu ở đây?
    Thu vàng hạc lánh về tây,
    Lệ rơi từng tiếng thu này, Em ơi!
    Từ Em góc biển, chân trời,
    Em còn tiếng hát yêu người không Em?
    Giáng Sinh năm 1994 vợ chồng tôi gặp lại Lệ Thu ở Cali. Câu đầu tiên Lệ Thu hỏi Alice là:
    – Kiều Giang của em đâu?

    (Còn tiếp)

  10. The Following 3 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    KiwiTeTua (06-17-2019), Nguyen Huu Thien (06-18-2019), nguyenphuong (06-19-2019)

  11. #6
    Moderator
    saomai's Avatar
    Status : saomai v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2008
    Posts: 1,960
    Thanks: 2,812
    Thanked 5,338 Times in 1,900 Posts

    Default Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy

    Gửi các bạn tôi
    sống, chết ở Sài Gòn…
    * Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
    HOÀNG HẢI THỦY


    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (18)



    Nói đến những văn nghệ sĩ đã sống, đã chịu tù đày ở Sài Gòn không thể không nói đến Tú Kếu Trần Đức Uyển, người làm thơ nổi tiếng trên nhật báo Sống với những bài Thơ Đen. Nổi lên cùng một lúc với Nhã Ca, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long sau năm 1963, Tú Kếu được kể là người làm thơ châm biếm xuất sắc nhất của làng báo Việt Nam Cộng Hòa từ 1963 đến 1975.
    Có hai người bị Việt Cộng bắt đi tù mà tôi nghĩ là sẽ chết trong tù ngục: Tú Kếu Trần Đức Uyển và Phan Nhật Nam. Tôi nghĩ Tú Kếu không trở về được vì sức khỏe anh quá yếu, anh không chịu đựng nổi những cực khổ của tù đày cộng sản, tôi sợ Phan Nhật Nam cũng gửi xác đâu đó vì tính nết Nam cương cường và vì Nam từng viết chống đối ViXi kịch liệt quá, ViXi có thể sẽ giết Nam.
    Chỉ mấy tháng sau ngày 30 Tháng Tư 75 chúng tôi đã được tin Tú Kếu bị bắt. Tú Kếu không bị bắt trong đợt Công an Thành Hồ bắt văn nghệ sĩ VNCH tháng Ba 1976, anh bị bắt trước đó. Anh ở trong một tổ chức chống Cộng trên Đà Lạt. Tổ chức này rất đông người. Cùng với những người trong tổ chức những năm đầu Tú Kếu bị giam ở trại lao cải Đại Bình, trại lao cải của Đà Lạt, một trại cải tạo nổi tiếng ác ôn. Bẩy, tám năm sau Tú Kếu mới được chuyển về Trại Z-30 A, Xuân Lộc Đồng Nai.
    Một chiều đầu năm 1977 tôi gặp chú em vợ của Tú Kếu, chú nói với tôi:
    – Anh em bị nó xử 18 năm.
    Mười tám năm! Tôi thở dài. Tôi nghĩ Tú Kếu chết là cái chắc. Người yếu rệu như hắn làm sao sống nổi mười tám năm tù mà trở về.
    Nguyễn Thụy Long rất thân với Tú Kếu, dưới đây là bài viết về Tú Kếu, trích trong “Viết Trên Gác Bút” của Nguyễn Thụy Long:

    Các cụ ta thường hẹn hò với bạn bè chí cốt thuở thiếu thời rằng:
    – Khi già thể nào tôi cũng đến thăm bác, dù có phải chống gậy đi thăm, phải đi cáng đi đò.
    Chuyện đó xưa như trái đất và cũng là truyền thống của dân tộc, có từ đời thưở nào không biết. Một lời hẹn như đinh đóng cột. Tuổi già gặp lại nhau, có khi đi xa ngàn dặm, để ôn lại những kỷ niệm xưa thời trai trẻ, khi còn là anh khóa, anh đồ. Nói chung là thưở hàn vi. Đường đời mỗi người một ngả, đi tìm sự nghiệp tương lai, nhưng tình bạn vẫn thắm đượm, vẫn thiêng liêng, có thể gọi là keo sơn gắn bó. Không nghĩ đến bạn nữa là lỗi đạo. Bạn mất trước mình, nhớ thương bạn, thốt lên lời thành thơ như Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê:
    Bác Dương thôi đã thôi rồi
    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…
    Bạn đau ốm, thăm hỏi bạn. Gặp nhau để hàn huyên đôi điều, đánh một ván cờ, đọc cho nhau nghe một bài thơ, uống với nhau ấm trà ngon, cũng có khi uống với nhau chén rượu nói phét đôi điều cho đỡ chán đời.
    Học theo gương người xưa để giữ lấy cái đạo bằng hữu thật đơn giản nhưng cũng thật khó khăn. Tôi 62 tuổi, bạn tôi 63 tuổi, nhà thơ Tú Kếu, một thi sĩ xứ Sơn Tây, nổi danh một thời trước 30-4-75. Sau 1975 anh ở tù liền tù tì 12 năm trời, thời thượng gọi là “học tập cải tạo”. Vợ trẻ, con thơ. Khi Tú Kếu trở về, chị Phượng (vợ Tú Kếu) đã là người đàn bà đứng tuổi. Chị sinh thêm cho anh hai đứa con nữa, một trai và một gái út. Hai con trai lớn của anh đã trưởng thành nhờ công nuôi dậy ở bên ngoại. Mức án tù 18 năm của anh được giảm xuống còn 12 năm do anh “học tập tốt được sớm trở về đoàn tụ với gia đình”. Người ta nói thế, không biết có thật vậy không. Trại tù mang bí số K-3 ở Gia Rai, dưới chân núi Chứa Chan, tôi đã từng ở đó nên rất biết. Tú Kếu ra khỏi tù, tôi mừng cho anh vì gia đình nhà vợ anh nay đã khá giả. Anh không phải như tôi, tối tăm mắt mũi đi kiếm ăn nuôi vợ con.
    Buổi sáng tôi thường gặp Tú Kếu đi bộ từ nhà loanh quanh mấy con đường rồi tới sạp báo của Nguyễn Kinh Châu ngồi uống trà, đọc báo. Trước sạp báo của Nguyễn Kinh Châu là chi nhánh tiệm trà Tiến Đạt của gia đình nhà Kếu đường Bà Huyện Thanh Quan. Ở sạp báo này anh gặp lại nhiều anh em bạn là văn nghệ sĩ thời chế độ cũ, cùng thời với anh, trong đó có tôi. Hàng năm anh em chúng tôi chính thức gặp lại nhau vào ngày giỗ của nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm báo Sống, là chủ nhiệm của hầu hết anh em chúng tôi. Bữa giỗ được tổ chức ở nhà Đằng Giao -Chu Vị Thủy, con rể và con gái của Chu Tử. Ông Chu Tử bị tử nạn ngày 30-4-75, xác thủy táng ở cửa biển Cần Giờ.
    Ba năm trở lại đây Tú Kếu vắng mặt trong bữa giỗ ấy. Anh bị căn bệnh quái ác là bệnh quên. Bệnh quên của anh càng ngày càng nặng, nhiều khi trở thành cổ quái. Quên cả mình là ai, đừng nói chi đến nhớ người khác. Anh không ở Sài Gòn nữa mà lên Lâm Đồng dưỡng bệnh.
    Tôi vẫn mong có dịp lên thăm Tú Kếu. Khốn nỗi hai mươi năm nay tôi không ra khỏi thành phố. Điều đơn giản vì tôi không có mảnh giấy tùy thân nào trong người. Tôi mới có thẻ Chứng Minh Thư Nhân Dân hôm 15-8-1999. Hôm nay 23-8-1999 tôi ra bến xe Miền Đông mua vé xe đò lên đường, sau khi gọi điện thoại hỏi rõ đường đi nước bước với chị Phượng, vợ anh Kếu.
    Người thân của gia đình Tú Kếu nói:
    – Thôi bác đừng lên, bác hỏi thăm vậy là quí rồi, chúng tôi sợ ông ấy không nhận ra bác đâu, dù bác có là bạn thân, đến chúng tôi ông ấy cũng chẳng nhận ra nữa là.
    – Tôi hiểu, nhưng chẳng quan trọng gì, nhìn thấy nhau lá quý, dù không đọc cho nhau nghe được một bài thơ.
    – Ấy thơ thì ông ấy nhớ đấy.
    Tôi mừng húm, thế là một buổi sáng tôi lên đường đi thăm Tú Kếu, trong túi xách của tôi có tập thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng, nhà thơ cùng quê hương với Tú Kếu, nhà thơ mà anh rất ngưỡng mộ, hồi xưa anh từng đọc thơ Quang Dũng cho tôi nghe. Anh đọc “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi Bờ”, “Tây Tiến” ở căn gác thuê đường Bắc Hải, nhìn ra nghĩa địa Đô Thành, nay là công viên Lê Thị Riêng. Đêm mưa Rằm Tháng Bẩy Âm lịch nằm trên căn gác quạnh hiu nhìn ra vùng mồ mả nhấp nhô, ánh đèn vàng vọt ở nhà xác, nghe Tú Kếu ngâm “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du, cảm giác vừa thú vị vừa rùng rợn. Khi đó chúng tôi còn trẻ lắm. Tuổi trên hai mươi: “Tiết tháng bẩy mưa dầm sùi sụt… Gió heo may…”
    Dĩ vãng ập vào đầu tôi khi xe leo lên đèo Bảo Lộc, sương mù dăng kín làm trắng đục cả đỉnh núi, bên đèo có căn nhà nào đó mờ nhạt trong sương. Gió lạnh đầy ắp không khí cao nguyên. Tôi không thể ngủ gà ngủ vịt được như một số người đồng hành, mà tôi giương mắt nhìn cảnh bên đèo. Tôi thấy như thưở nào đó xa xôi lắm rồi, ngồi lóc cóc trên xe ngựa đổ đèo tận miền thượng du Bắc Việt như không khí thơ của Quang Dũng thời dân tộc Việt Nam kháng chiến chống Pháp:
    “Chợt mưa phùn gió lạnh
    Càng lạnh cành hoa mai
    Càng nhớ xa sôi lắm
    Những con đường chạy dài…”
    Hoặc hùng tráng như Tây Tiến:
    “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”
    Tai tôi ù khi xe leo lên đỉnh đèo rồi đổ dốc Bảo Lộc. Tôi phải trả thêm 5.000 đồng nữa cho chú lơ xe đò để được đưa tới Lộc An, trước công ty Trà Tiến Đạt. Nới đó chưa đến Di Linh. Cũng đã lâu lắm rồi tôi mới đi lên vùng cao. Miền này đối với tôi lúc này trở thành lạ lẫm, lạ bắt đầu từ Ngã Ba Dầu Giây.
    Nhà Tú Kếu cũng là cửa hàng Trà Tiến Đạt. Tôi hỏi chị Phượng:
    – Chị còn nhớ tôi không?
    Chị cười:
    – Nhớ chứ, tôi đâu có bị quên. Tôi nhớ tất cả các bạn của anh ấy. Nhà tôi thì lúc nhớ, lúc quên, có lúc nhắc hoài đến các bạn, lúc thì nói các bạn chết hết rồi, nhắc làm gì cho đau lòng.
    Tôi nắm bàn tay mảnh giẻ của Tú Kếu, nhìn sâu vào mắt anh:
    – Kếu, mày có nhận ra tao không?
    Đôi mắt Kếu thoáng chút ngơ ngác, giọng nói trở nên từ tốn, lịch sự:
    – Cám ơn bố không quản đường xá xa xôi mà đến thăm con.
    Đến lượt tôi ngơ ngác:
    – Mày nói thật hay đùa đấy? Mày không nhận ra tao thật à? Tao là Long, bạn mày hồi ở Trại Học Sinh Phú Thọ năm 1954…
    Kếu lại nói:
    – Phải rồi, dầu sao con cũng nhớ bố lắm, bố không quản đường xa xa xôi…
    Chị Phượng nói Kếu đang ở trong cơn quên, nói gì cũng không thể làm cho anh nhớ lại, chị pha ấm trà hoa lài thơm ngát, hai tách cà phê sữa. Tôi mời Tú Kếu hút thuốc lá, anh hút ngay, thưởng thức cà phê, khen ngon. Chị Phượng kể một số bệnh trạng của anh cho tôi nghe. Thật buồn. (…)
    …Khi Tú Kếu mới đi tù về, anh nhờ tôi để ý tìm cho anh những tập thơ của anh ở những cửa hàng sách cũ, hay ở nhà những người quen. Rồi anh nói anh tìm thấy mấy tập thơ dấu ở dưới chuồng gà nhà anh, anh cũng chẳng biết ai dấu cho anh nữa. Năm ấy chúng tôi có những buổi gặp nhau ở đường Tú Xương. Nói là chúng tôi nhưng không nhiều nhặn gì, chỉ là vài thằng văn nghệ sĩ hết thời, thằng thì nguyên thi sĩ, thằng nguyên nhà văn, thằng nguyên ca sĩ nghiệp dư, thằng cựu ký giả. Chúng tôi không có những buổi họp văn nghệ có tổ chức, có thiếp mời để nghe đọc thơ, nghe ca trù, để phát biểu về những vấn đề văn nghệ đao to, búa lớn, để nghe những “chùm” thơ của nhà thơ này, những “mảng” văn của nhà văn kia. Chúng tôi đến với nhau vì nhớ nhau, cũng chẳng hẹn trước. Cũng ít khi bầy ra cuộc ăn nhậu nào, nhà thơ Khoa Hữu có bệnh đau bao tử kinh niên, lúc nào trong túi cũng có lọ thuốc, Tú Kếu bị thiếu máu trầm trọng, áp huyết quá thấp, tôi áp huyết cao, có lần suýt chết vì bị tai biến mạch máu não, nhà văn Lý Hoàng Phong người dệu dà dệu dạo vì bệnh gì đó không biết, buồn thỉu buồn thiu vì sắp mất nhà, Duy Trác làm nghề bán “căng tin” trường học con nhà giàu sắp sửa đi nước ngoài theo diện H.O, kịch tác gia Trần Lê Nguyễn bị tai biến mạch máu não, bán thân bất toại, nói ngọng líu ngọng lo, thỉnh thoảng ngồi xích lô đến gặp anh em, chẳng ai hiểu anh nói gì cả. Thỉnh thoảng thi sĩ Bùi Giáng đi qua, ghé vô chơi, đọc thơ lung tung rồi lại đi, ông sang Câu lạc bộ Văn nghệ gần đó uống rượu say la đà…
    Ngày Duy Trác đi ra nước ngoài có đến góc Tú Xương – Bà Huyện Thanh Quan giã từ anh em, Tú Kếu làm bốn câu tiễn bạn xuất cảnh:
    “Này hãy nâng ly cạn chén mời
    Chúng mình sắp sửa lại chia phôi
    Mi sang bên ấy vui đời mới
    Ta ở bên ni dạ rối bời“.
    Những bài thơ Tú Kếu tôi thuộc là do tình cờ, như bốn câu thơ anh viếng Trạng Đớp, chết ngày 15-8-1992:
    “Tuổi thọ ông về Tiên Phật
    Tôi còn lẽo đẽo trần gian
    Mẹ bố cuộc đời vật chất
    Búa đời muốn đập cho tan“.
    Tôi thấy một bài thơ của Tú Kếu viết trên tờ giấy vở học trò:
    “Năm nay ta đã tuổi năm lăm
    Ba chục năm dư sống kiếp tằm
    Thơ phú chen chân mười sáu tuổi
    Trời cao mắt nhỏ đường xa xăm
    Những đêm thức trắng hồn rong ruổi
    Bay lượn tìm quanh nhặt ý thơ
    Gục thiếp trên bàn, óc đã mỏi
    Thấy toàn tơ nhện giăng trong mơ
    Quả nhiên điềm mộng báo ta hay
    Cái kiếp yêu thơ kiếp đọa đầy
    Mưa xám, nắng xanh đường bút vẽ
    Biển vàng, hoa trắng ở trong tay
    Đã nhiều lúc bút cùn toan gác
    Như mối tình thiêng gác từ đây
    Tình thiêng gác được, thơ sao cắt…”
    Bài thơ còn dài nhưng tôi không nhớ hết. Thập niên 1980-1990, Sài Gòn vì kiếm sống, những kẻ tài hèn phải ra nghề kiếm ăn, có hai nghề dễ làm nhất là nghề ve chai (thu mua vàng bạc vụn) và nghề bán kẹo kéo. Người bán kẹo kéo phần nhiều là nữ, ăn mặc theo kiểu mô-đen chợ trời. Các em đẩy xe đạp trên để cái tủ kính trong có thỏi kẹo kéo, một máy cát-xét phát nhạc ầm ĩ. Quà rẻ, trẻ con bu lại mua. Tú Kếu ghi lại cảnh đó bằng thơ:
    “Khá khen hai gái má hồng
    Tuổi xuân mơn mởn đã chồng hay chưa?
    Tuổi xanh nghị lực có thừa
    Đẩy xe kẹo kéo nhạc khua phố phường
    Người rằng thương, ta rằng thương
    Gót chân liệu chấm cổng trường bao lâu?
    Mẹ cha nay đã bạc đầu?
    Có chăng vất vả thân trâu, kiếp lừa?
    Hay là nặng nhọc sớm trưa
    Bảo nhau khuất bóng, bây giờ mồ côi?
    Này hai cô bé kia ơi
    Thoáng nghe tiếng nhạc, tim người nhói đau
    Đời này vàng lẫn với thau
    Tim vàng hãy giữ bền lâu với đời
    Nàng đi kéo kẹo cho người
    Tơ tằm ta kéo dâng lời thủy chung“.
    Những năm từ 1992 đến 1995, thời gian Tú Kếu còn tỉnh táo, anh làm khá nhiều thơ, những hoạt cảnh anh thấy sau khi ở tù về, trên những ngả đường thành phố cũ, từ nàng bán kẹo kéo, cô gái đứng đường đến người ăn mày tật nguyền, ông lão ngẩn ngơ:
    “Ông lão bên đường đứng ngẩn ngơ
    Chờ xe qua hết để sang bờ
    Nhưng xe nườm nượp qua sao hết
    Mãi tới chiều buông vẫn đứng chờ“.
    Mệt quá đi, suy nghĩ mãi cũng chẳng ích chi, nhìn cảnh đời đổi thay càng thêm chán nản, Tú Kếu không thèm suy nghĩ nữa nhưng khi ấy đầu anh đã nhức rồi:
    “Lẩn quẩn suy tư nhức cái đầu
    Cái đầu nghĩ mãi lại càng đau
    Quanh co thế sự hồn tơi tả
    Ấm ớ dân sinh dạ nát nhàu…”
    Trời xế chiều, tôi từ giã gia đình Tú Kếu. Tú Kếu tỏ ra tỉnh táo, tiễn tôi ra đến cửa, chúc tôi thượng lộ bình an, nhưng anh vẫn không nhận ra tôi là ai. Về đến Sài Gòn tôi lùng tìm những bài thơ của Tú Kếu, tôi biết chỗ để tìm những bài thơ đó và tôi đã tìm được một số nhưng chưa được nhiều lắm. Nhất là tôi chưa tìm được tập thơ được trình bầy rất đẹp qua computer Tú Kếu làm trong 12 năm tù đày. Tôi có được xem tập thơ này và tập thơ đã được gửi ra nước ngoài, không biết bây giờ ai giữ nó.
    Chị Phương đưa cho tôi bài thơ do chị chép tay:
    “Người về môi hé, tình đau
    Ngực xuân cởi áo, mắt sầu hạ sang
    Trâm cài, lược giắt hồng nhan

    Thu về bóng nhỏ như say
    Dưới hiên hoài tưởng rụng đầy lá khô
    Dấu rêu phong vết bụi mờ

    Tàn mai, vàng cúc ủ ê
    Phượng yêu năm ngón tay che mặt trời…”
    Chắc bài thơ trên Tú Kếu làm khi vợ anh lên thăm anh ở trại tù. Một bài thơ khác do chính Tú Kếu viết tay cho tôi:
    “Khi em lên thăm anh
    Nhớ cho anh kim chỉ
    Để anh vá lại tình người.
    Khi em lên thăm anh
    Nhớ cho anh kim đan
    Để anh vá lại tình thương
    Hãy nhắc anh bẩy mươi lần bẩy
    Để anh tha thứ cho đời.
    Khi em lên thăm anh
    Hãy nói với anh ngọt ngào
    Để anh quên đi cay đắng
    Để anh nhớ mình còn nơi thở.
    Hãy đọc cho anh Thơ Nguyễn Du
    Để anh nhớ mình còn quê hương.
    Khi em lên thăm anh
    Nhớ cho anh những bông hồng thật tươi
    Mà anh hằng khao khát
    Ôi những bông hồng tuyệt vời
    Bay ra từ môi em
    Để anh quên đi những lời cay đắng
    Để anh quên đi những khuôn mặt mùa đông
    Và để anh quên đi
    Xiềng xích cùm gông!”
    [Hết trích bài của Nguyễn Thụy Long]

    Đầu năm 1989 tôi từ Chí Hòa lên Z-30 A. Lê Hoàng Anh, một người trong tổ chức cùng với Tú Kếu, còn tù tại đây, nói với tôi:
    – Anh Tú Kếu về được một năm rồi. Thời anh ấy ở đây nhờ nhà có tiền, cho bọn quản giáo TiVi, đầu máy video, cung cấp phim, nên anh được bọn quản giáo nể lắm. Anh nên nhắn tin cho anh ấy lên thăm anh và nhờ anh ấy gửi gấm…
    Còn đợi gì nữa. Năm 1989 tình trạng tù nhân sống trong trại Z-30 A rất thoải mái, bọn tù mới từ Chí Hòa lên được cai tù cho viết thư thả dàn gửi về nhà báo cho người nhà biết mình đã lên Z-30 A và để người nhà lên thăm nuôi. Tôi lập tức viết cho Tú Kếu năm bẩy lá thư:
    – Tú Kếu. Anh Sĩ và tao đang ở Z-30 A. Mày chỉ đường cho vợ con chúng tao lên thăm chúng tao, và mày lên gặp chúng tao, lo cho chúng tao đỡ khổ.
    Môt sáng Tú Kếu ngồi sau xe Honda do anh cháu chở, lên Z-30 A gặp anh Sĩ và tôi, phát cho hai chúng tôi mỗi mạng 10.000 tiền Hồ.
    Tôi gặp Tú Kếu lần cuối giữa năm 1993 khi tôi sửa soạn ra đi. Chúng tôi gặp nhau trong tiệc cưới con Thanh Thương Hoàng. Tiệc cưới ấy có hai anh Mặc Thu Lưu Đức Sinh, Như Phong Lê Văn Tiến, hai anh nay đã qua đời. Qua rồi thời đói rách thảm thê những năm 80, anh em tôi đi ăn cưới nay nhiều người bận com-lê vét-tông. Khách dự đông đến 500 người. Ăn xong anh em chúng tôi họp nhau ở ngoài sân nhà hàng chụp ảnh kỷ niệm. Tú Kếu tối ấy com-lê vét-tông đàng hoàng. Kếu ôm tôi, hun thắm thiết lên má tôi, tôi kêu lên:
    – Râu mày sắc, cứng quá, đâm dzô má tao nhột quá…


    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (19)


    – Tao khó chịu vì mấy tờ báo Việt ở bên này. Nó là những tập quảng cáo chứ không phải báo…
    – Đừng vội Táczăng nổi giận, ông bạn Hát Ô sang Mỹ chậm hơn người ta hai mươi mấy năm. Đừng đánh giá báo chí Việt ngữ ở Hoa Kỳ căn cứ trên những tờ báo mà ông gọi là những tập quảng cáo ở địa phang ông, ông sống gọn thon lỏn trong xó trời Mỹ này ông không thể thấy được toàn cảnh nền báo chí Việt ngữ lưu vong hải ngoại. Tôi không nói nó lớn, nó hay, tôi chỉ nói nó không tồi quá như ông mới sang ông tưởng. Đừng nói xa xôi đến những báo Việt ở Pháp, Đức, Úc, Canada, ngay báo Việt ở Cali thôi ông cũng không biết hết.
    Có đến Quận Cam, Cali – những thành phố Santa Ana, Midway, Westminster v.v… – ta mới thấy nhịp sống của dân Việt ở Mỹ. Tôi choáng ngợp vì số lượng các tờ báo Việt ở Cali. Không những chỉ nhiều về lượng, nhiều tờ báo Việt ở Cali có phẩm chất rất được. Gần như tất cả những tờ báo Việt ở Cali, cũng như ở khắp nơi trên nước Mỹ, đều sống bằng quảng cáo; những nhà buôn lớn nhỏ Việt, những cơ sở cung cấp dịch vụ Việt, những bác sĩ, luật sư Việt là những người bỏ tiền nuôi sống báo Việt ở Mỹ; người ta có kiếm được người ta mới chịu – và mới có thể – chi tiền, đúng hơn là chia tiền, cho quảng cáo. Chỉ cần nhìn vào số lượng báo Việt lưu hành ở Cali ta sẽ thấy nhịp độ sinh hoạt của dân Việt ở Cali ra sao. Đây mới chỉ là tình hình dân Việt ở Quận Cam, chưa nói đến dân Việt ở San Jose, nơi đông người Việt thứ nhì trên đất Hoa Kỳ, ở Houston, nơi đông người Việt thứ ba…
    Muốn biết tình trạng sinh hoạt và kinh tế của dân một địa phang ra sao, mạnh hay èo uột, ta có thể căn cứ trên những trang quảng cáo của những tờ báo trong địa phang đó. Loại hình quảng cáo trên báo thể hiện nhịp sống của dân địa phang rõ nhất, đúng nhất là “Rao Vặt”.
    Không biết làng báo Nam Kỳ ra sao, tôi thấy Rao Vặt xuất hiện trên báo ở Hà Nội khoảng năm 1945, cũng không biết ai khai sinh ra danh từ Rao Vặt, chắc nguyên căn từ tiếng Pháp. Năm 1960 nhật báo Ngôn Luận ở Sài Gòn là tờ báo có trang Rao Vặt đông đảo nhất. Đảo chính hạ bệ Tổng thống Ngô đình Diệm tháng 11-1963, các nhật báo Sài Gòn còn nguyên si, không báo nào bị cái gọi là “Hội đồng quân nhân cách mạng lật đổ chế độ Ngô đình Diệm gia đình trị” động đến, trừ tờ nhật báo Cách Mạng Quốc Gia tự động phéc-mê bu-tích. Bốn tháng sau chỉnh lý, Dương Văn Minh, Nguyễn Ngọc Thơ bị Mỹ cho Nguyễn Khánh đưa đi chỗ khác chơi. Trong cuộc họp báo thứ nhất ở Bộ Tổng Tham Mưu do Tổng trưởng Văn hóa Đỗ Mậu chủ tọa, Đỗ Mậu đọc lệnh đóng cửa ba nhật báo Sài Gòn Mới, Ngôn Luận, Đồng Nai vì tội “cộng tác và làm tay sai cho Nhà Ngô”.
    Khoảng sáu tháng sau ngày nhật báo Ngôn Luận bị cáp duồn, nhật báo Chính Luận ra đời. Toàn thể nhân viên tòa soạn – trị sự Ngôn Luận, theo Thư ký Tòa soạn Từ Chung, a-đi-ơ chủ nhiệm Hồ Anh thất sủng (ông này hồi đó không bị đi tì ngày nào là may) mang hết nồi niêu, soong chảo, luôn cả chổi cùn, giế rách của tòa soạn Ngôn Luận sang đầu quân cho Chính Luận, chủ nhiệm Đặng Văn Sung, nhân vật đang lên của cái gọi là Đệ Nhị Cộng Hòa. Trang Rao Vặt của Ngôn Luận trở thành trang Rao Vặt Chính Luận. Với Chính Luận, chủ yếu nhờ Mỹ đổ quân, đổ của, đổ đồ vào Sài Gòn, nền quảng cáo Rao Vặt của làng báo Sài Gòn lên đến đỉnh cao nhất.
    Vì địa bàn không rộng lắm, Sài Gòn chỉ có nhật báo Ngôn Luận trước 1964, và Chính Luận từ 1964 đến 1975, có trang Rao Vặt đúng là Rao Vặt. Cần bán nhà, bán xe, cho mướn nhà, cần người làm, cần việc làm v.v.. người Sài Gòn đăng Rao Vặt ở báo Chính Luận, cần mua nhà, mua xe, mướn nhà… người ta đọc Rao Vặt Chính Luận; chỉ cần đăng và đọc Rao Vặt trên tờ Chính Luận là đủ, người ta không cần đăng, cần đọc Rao Vặt ở báo nào khác. Vì vậy khi cần đăng Rao Vặt là người Sài Gòn đến Chính Luận, cũng vì vậy ở Sài Gòn chỉ có tờ Chính Luận có trang Rao Vặt đúng là Rao Vặt.
    Độc giả ít để ý đến những quảng cáo lớn nhưng lại hay đọc Rao Vặt, dù không cần mua nhà mua xe người ta cũng đọc chơi những Rao Vặt bán nhà, bán xe, xem giá nhà, giá xe là bao nhiêu, Rao Vặt vì vậy là loại quảng cáo có người đọc, những tin Rao Vặt thay đổi luôn, mỗi ngày báo đều có Rao Vặt mới, tin Rao Vặt không chết cứng cả tháng như những quảng cáo thuốc tây, thuốc tầu, người đăng Rao Vặt trả tiền liền tù tì. Những nhật báo Sài Gòn cùng thời rất muốn có trang Rao Vặt như Chính Luận mà không sao gây được. Ba mươi năm sau thời đại Rao Vặt Ngôn Luận – Chính Luận Sài Gòn, hiện nay dường như làng báo Việt ở Quận Cam, Cali cũng có tình trạng ấy: chỉ có một nhật báo có trang Rao Vặt đáng gọi là Rao Vặt.
    “Nhà dư phòng cho độc thân share, sạch sẽ, yên tĩnh…” – “Hớt tóc $5 người lớn, trẻ em…” – “Mua xe cũ mới, chạy được hay không, giá cao…” – “Đi xa cần bán Toyota 4-Runner 1996…” – “Đưa đón, xe mới, an toàn xa lộ, phi trường, quốc tịch. tuyên thệ $30, Casino $20…” – “Chuyên sửa TiVi tại nhà, định giá miễn phí…” – “Lắp ráp computer, sửa máy tại nhà, giá đồng hương…”
    Muốn biết đời sống tinh thần của người Việt ở địa phang ra sao, ta có thể đọc trang Rao Vặt của tờ báo trong địa phang đó:
    * Bói bài, tướng số, chỉ tay, công danh, sự nghiệp, gia đạo, tình duyên..Bảo đảm đúng 100%…
    * Trị bịnh, trừ tà, bắt ma, giải bùa, phá ngải, mở thư ếm, gọi vợ hay chồng bỏ đi trở về xum hop, giúp mua may, bán đắt…
    * Sức khỏe là vàng. Cạo gió, giác hơi, xoa bóp. Chuyên trị cảm, cúm, đau nhức, té trật, bong gân, sưng bầm…
    * Giáo sư chiêm tinh gia xin sâm, bàn sâm, tử vi, tướng số, bấm độn, bói bài, soi căn…
    Xin nhắc trên đây là mấy lời Rao Vặt trong một tờ báo Việt ngữ ở Cali, Hoa Kỳ, năm 2001. Những Rao Vặt trên cho ta thấy người Việt ly hương sang sống nhờ xứ người cả ba mươi năm vẫn chưa bị mất gốc, vẫn còn giữ những cái gọi là “truyền thống, tập tục dân tộc”, và như vậy là người Việt lưu vong ở Cali vẫn có người bị ma ám (ngôn ngữ Bắc kỳ trước 1945 là “ma làm”), vẫn phóng tay dùng âm binh quấy phá nhau, vẫn dùng bùa ếm, thư phù hại nhau? Người Việt Cali vẫn có người có thể cấy vài chục cây đinh năm phân, miếng da trâu còn nguyên lông lá, nắm tóc rối vào bụng người khác? Vẫn có những vị thầy bà có quyền phép làm cho những em ba bó, bốn bó lãng mạn, nứng lòng – những em TeTeCaHát thấy cuộc xuân thì của mình sắp phi-ní đến nơi – bỏ chồng già, cuốn nữ trang hột xoàn đi theo tình nhân trẻ, đẹp trai, bị lâm vào thảm cảnh sống không sống nổi, chết không chết cho, phải ngất ngư bỏ cuộc, nước mắt dài hơn người, hối hận, trở về quì dưới gối ông chồng tuy hơi già nhưng yêu thương mình cực kỳ, đại lượng, đạo đức, sẵn lòng tha thứ, mở rộng vòng tay chiêu hồi, cho đoàn tụ gia đình, làm cho những anh thuyền trưởng vô lương tâm bỏ tầu theo nữ hải tặc lâm vào thảm cảnh ăn không ăn được, ngủ không ngủ được, ở bên mông nữ hải tặc mà ruột như bị lửa đốt, như ngồi trên chảo rang, ôm nữ hải tặc mà tưởng như ôm cuộn dây thép gai concertina Mỹ viện trợ, nhắm mắt là thấy vợ hiền vẫy gọi trở về… Ly kỳ quá ta! Ai dám bảo những chuyện lạ lùng không thể nghĩ bàn ấy là không có. Chắc phải có những chuyện “khoa học huyền bí” ấy trong cộng đồng người Việt ở Cali năm 2001 chứ. Không có thầy bà lấy tiền đâu mà chi cho quảng cáo!
    Rao Vặt Cali 2001, chắc Rao Vặt Việt ở bất cứ đâu trên hải ngoại cũng vậy, không có loại tin Rao Vặt Luật Giang Hồ như Rao Vặt Chính Luận Sài Gòn “tiền 1975”:
    “Toyota Corolla mầu trắng, đời… bảng số… mất lúc 6 giờ tối…, góc Tú Xương – Trương Minh Giảng. Xin chuộc theo luật giang hồ, cam đoan không làm khó dễ. Liên lạc…”
    Luật Giang Hồ xuất hiện trên báo chí Sài Gòn từ 1965 đến 1975: xe ô tô của A đậu đó, B lấy trộm được, A không nhờ cảnh sát tìm xe mà A phải, và sẵn sàng nộp tiền cho B để lấy lại xe. Đó là Luật Giang Hồ của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Không biết có quốc gia nào khác trên thế giới này có cái gọi là Luật Giang Hồ quái dị như vậy không? Luật Giang Hồ là một sỉ nhục cho những nguời cầm quyền trong quốc gia đó, là một nhục nhã chung cho dân cả nước, nhục nhã riêng cho những người được nhân dân nuôi ăn để giữ gìn pháp luật: những thẩm phán, những cảnh sát viên. Ở thủ đô Sài Gòn những năm 65-75 Luật Giang Hồ xuất hiện công khai mỗi ngày trên trang Rao Vặt báo Chính Luận; người ta chấp nhận cái luật khốn nạn đó, lâu rồi người ta cho đó là chuyện thường, hợp lý, công bằng: xe mình để đó, khóa hẳn hoi, nó mở cửa lấy trộm, bị bắt nó đi tù, nó lấy được mình phải nộp tiền cho nó để nó trả xe.
    Rao Vặt Báo Việt Cali 2001 đông đảo nhất là những Rao Vặt Nail. Con Hồng, cháu Lạc bỏ nước lưu vong nhiều người sống bằng nghề sơn sửa móng tay móng chân cho ngoại nhân. Báo Mỹ loan tin: người Đại Hàn ở Mỹ thành công với nghề Clean (giặt ủi quần áo) người Việt Nam thành công lớn với nghề Nail – Neo, làm móng tay. Tôi rị mọ đếm mục Nail trong trang Rao Vặt của tờ báo Việt Cali tôi có trên tay, báo này có 6 trang Rao Vặt hằm bà lằng đủ thứ, riêng trang Rao Vặt về Nail có 260 tin. Đây chỉ mới tính những Rao Vặt Cần Thợ Nail, chưa kể những Rao Vặt Bán Tiệm Nail ở khắp nơi trên đất Mỹ:
    “Cần thợ Nail gấp, tiệm đông khách, walk in, bao lương $400-$500/week hay ăn chia…” – “Cần thợ Nail nữ bột hay nước có chút kinh nghiệm, tiệm vùng Mỹ trắng. Bao lương $60/ 1 day…” – “Tiệm Nails đông khách vùng Mỹ trắng. Cần thợ nữ làm bột kinh nghiệm full time và thợ tay chân nước part time lương $400-$500/week. Đi chung xe với chủ…” – “Cần gấp thợ Nail kinh nghiệm có bằng Arizona bao lương $3000/tháng. Nếu hơn chia 6/4…”
    Sơn sửa móng tay, móng chân cho Mỹ mà lương 3000 đô Mỹ – Ba ngàn U Ét Đô-lơ – một tháng! Hơn 40 triệu đồng tiền Hồ! Cứ cho là 2.000 một tháng đi, các em thợ Nail Việt kiếm được nhiều tiền hơn các em thư ký Việt không có biệt nghệ chuyên môn. Không chỉ ở Cali mới có tình trạng cần nhiều thợ Nail, trên gần như tất cả những báo Việt ngữ trên khắp nước Mỹ báo nào cũng đầy những lời đăng cần thợ Nail. Không chỉ cần suông mà là cần gấp. Chủ Nail nào cũng hứa hẹn lương cao: 500 đô một tuần là thấp nhất, lại còn tip hậu, có chỗ ăn ở đàng hoàng, đi mần chung xế với chủ v.v… Nghề Nail có cái hay là không chỉ phụ nữ mới làm được, thanh niên, đàn ông trung niên bốn bó, năm bó cũng làm được thợ nail thoải mái, thợ nam làm khéo không thua gì thợ nữ (nghe nói nhiều khi thợ nail nam lại được các bà Mỹ sồn sồn chiếu cố, thương hại, chi tip nhiều hơn chi cho thợ nail nữ), làm nail nhàn hạ, không phải dùng đến sức lực, không phải đi sớm, về khuya dãi dầu sương tuyết; làm nail ai khéo tay là có khách, có tiền, làm nhiêu hưởng nhiêu, không sợ bị ghen tị, chà đạp, trù dập, tranh khách (khách thường chọn thợ quen, làm đúng ý mình), không sợ bị lay-off, không sợ vắng khách. Phụ nữ Mỹ nghiện làm móng tay, móng chân, nhiều đàn ông Mỹ cũng vậy, đúng ngày không đến tiệm làm móng tay họ bứt rứt chịu không nổi.

    oOo

    Năm 1966, 1967 – trước Tết Mậu Thân – là những năm nhật báo Sống của anh Chu Tử bán chạy nhất. Báo Sống năm 1967 có Kha Trấn Ác (bút hiệu của anh Chu Tử) viết Ao Thả Vịt, anh Nguyễn Mạnh Côn viết “Tuyên Ngôn của Tình Yêu và Ánh Sáng”, một thứ phóng bút viết về mọi vấn đề, Tú Kếu giữ mục Thơ Đen, Anh Hợp viết tiểu thuyết “Cõi Chết”, Nguyễn Thụy Long viết “Loan Mắt Nhung”, “Kinh Nước Đen”, Hoàng Ly viết “Giặc Cái”, Bùi Giáng viết một tiểu thuyết võ hiệp tôi không nhớ tên, và tôi viết truyện “Người Yêu, Người Giết”.
    Chủ báo Sống Chu Tử chi tiền anh em tòa soạn rất hậu. Không phải ký giả, văn sĩ nào trở thành chủ báo cũng rộng rãi về tiền bạc với anh em, nhiều văn sĩ, ký giả khi làm chủ báo còn bóc lột anh em đồng nghiệp tàn tệ hơn những chủ báo ngoài nghề. Và anh Chu Tử còn một cái hay nữa là khi đã nhờ anh em nào viết tiểu thuyết, anh không bao giờ có ý kiến về tiểu thuyết ấy. Ý kiến tôi nói đây là chê, trách, đề nghị sửa hay chấm dứt, đổi truyện khác, dù anh có quyền vì đó là tiểu thuyết đăng trên báo của anh, dù anh nghe anh em hay độc giả nói truyện kỳ quá, dở quá. Thời ấy anh em chúng tôi thường đọc tiểu thuyết võ hiệp của anh Bùi Giáng đăng trên báo Sống để cười với nhau, anh Bùi Giáng viết phơi-ơ-tông mà người đọc không ai hiểu anh viết gì cả, anh cho nhân vật, nhất là nhân vật nữ, trong truyện của anh, luôn miệng nói hai chữ “liên tồn, tồn liên”. Như:
    “Nàng thu bảo kiếm, chắp hai tay, hé miệng anh đào, nói:
    “- Đa tạ đại hiệp đã có dạ liên tồn”..
    Hoặc:
    “- Ơn tồn liên ấy tại hạ không bao giờ dám quên”.
    Hay:
    “Chàng nhớ mãi nụ cười liên tồn của nàng”…
    Anh em chúng tôi gọi tiểu thuyết của anh Bùi Giáng là “Truyện Liên Tồn”. Anh Chu Tử cười khi nghe chúng tôi bàn tếu về chuyện tồn liên của anh Bùi Giáng – “Mèn ơi… Hôm nay ông ấy cho ba, bốn cái liên tồn này…”, “Ma đầu, đại hiệp trong truyện ông Bùi Giáng anh nào cũng liên tồn hết!” – nhưng anh cứ để cho anh Bùi Giáng muốn viết gì thì viết.
    Chủ nhiệm Nhật báo Sống tất nhiên cũng rất muốn báo mình có trang Rao Vặt như báo Chính Luận, nhưng anh không sao có được, Rao Vặt của Sống chỉ èo uột không đầy nửa trang, mà đa phần lại không đúng là Rao Vặt. Cho đến một ngày chúng tôi thấy xuất hiện trong mục Rao Vặt của Sống một mẩu nhắn tin khá đặc biệt mà chúng tôi gọi là tin “Tý Con Em”.
    Thời gian vỗ cánh bay như quạ… 1967-2001… Mèn ơi… Tưởng mới như hôm qua ngồi đấu láo với Nguyễn Thụy Long, Tú Kếu, Duyên Anh, Anh Quân ở xe cà-phê, nước ngọt trên vỉa hè đường Gia Long, trước cửa nhà in Tường Vân, nơi đặt tòa soạn nhật báo Sống; vậy mà thời gian qua đã ba mươi niên. Tôi vận dụng bộ nhớ để nhớ lại chuyện “Tý Con Em” ba mươi năm trước. Tin ấy mở đầu bằng tên gọi: “Tý Con Em“.
    Lời nhắn đại khái:
    “Nửa tháng không thấy nhau, ra vào thấy gối giường, quần áo, rơi lệ,TRẤU CẮN, BUỒN chịu vậy, biết nói cùng ai. TƠ DUYÊN sao đứt. Em đừng tin lời NGƯỜI TA. HAI hay BA cũng xấu. Rắn HỔ MANG. Miệng lằn, lưỡi mối. Em hết giận hờn không lâu. HIỂU LẦM. THƯƠNG QUÍ nhau hơn. Chồng Em mong Em về. Thương Em“.
    Tôi là tên để ý đến lời nhắn tin “Tý Con Em” nhất trong số anh em chúng tôi thời ấy viết cho báo Sống. Lúc đầu tôi thấy tin đó không có gì lạ, một anh nào đó bị vợ bỏ nhà ra đi đăng báo nhắn vợ trở về. Thường thì loại tin này chỉ được đăng trong năm, bẩy ngày là ngừng, nhưng tin nhắn Tý Con Em được đăng dài dài trên báo Sống, ba bốn ngày lại thay một tin mới. Lời nhắn tối om, vô duyên, ngang phè, như người viết bất cần ai hiểu, nhiều chữ viết hoa không có ý nghĩa gì cả. Đọc lời nhắn tôi tưởng tượng người nhắn (anh chồng Tý Con) là một anh đàn ông Bắc kỳ ri cư trạc ba mươi nhăm, bốn mươi tuổi, anh con nhà giầu xứ quê (Nam kỳ là miệt vườn, sông Tiền, sông Hậu), có thể anh là con một ông Chánh Tổng vùng Thái Bình, Thái Lọ, Hà Đông bên hông Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang nào đó…
    Đến đây tôi viết linh tinh một chút, linh tinh nhưng vẫn không ra ngoài đề, bạn ta chịu khó đọc sẽ thấy: Anh chồng Tý Con là con nhà Chánh tổng Bắc kỳ nhưng anh không được văn minh như Thuyền Trưởng Hai Tầu của chúng tôi. Thuyền Trưởng Hai Tầu thân thương, tài hoa kiêm đào hoa của chúng tôi cũng là con Cụ Chánh tổng nhưng Thuyền Trưởng có học, có hành, Thuyền Trưởng nhập ngũ, Thuyền Trưởng lột xác, vứt bỏ dòng dõi phú nông địa chủ kiêm tổng lý kỳ mục kỳ nát, trở thành sĩ quan kiêm văn sĩ đa tình, vừa phục vụ trong quân ngũ vừa viết tiểu thuyết trữ tình diễn tả những cuộc tình thơ mộng của các cô nữ sinh đa tình từ thưở chưa dậy thì, bỏ học, bỏ nhà, theo trai, đi làm nữ ca sĩ, làm gái nhẩy, mấy ông gọi là ca ve, hoặc chuyện tiểu thư ái nữ Đại tá Cục Trưởng, đẹp, đa tình, yêu ra rít anh Hạ sĩ (tức Chú Cai) chá xế (tức lái xe) cho ông Đại tá, tiểu thư nguây nguẩy không chịu lấy những ông Đại úy, Thiếu tá Trưởng Phòng hay Tùy Viên Quân Sự ở những tòa đại sứ Việt bên Âu Mỹ mà lại nằng nặc đòi làm vợ chú Hạ sĩ, không được làm vợ chú Cai chá xế nàng quyết tâm đi một đường thuốc chuột. Cũng xuất thân từ thành phần con nhà tổng lý nhưng Thuyền Trưởng của chúng tôi thì bảnh như thế còn anh chồng Tý Con thì vẫn giữ nguyên bản chất con nhà Chánh tổng, sống nhờ tiền của bố, không nghệ nghiệp, không một xu tài cán, thuộc loại văn dốt, vũ rát. Anh được gia đình cưới cho em Tý Con. Tôi tưởng tượng Tý Con là một em gái Bắc kỳ nửa quê, nửa tỉnh, em có nhan sắc, mặt trái soan, mắt sáng, tóc dài, chân mày hơi đậm – đậm chứ không rậm – mũi dọc dừa, răng trắng, người gọn ghẽ, cân đối, tầm thước – cao khoảng oong mét xanh-căng tuýt, oong mét soát-xăng – vú sừng bò, nở nhưng không to lắm, không sợ xệ, bụng thon, mông tròn, chân dài. Tất nhiên là em đa tình và em không yêu anh chồng con nhà địa chủ xứ quê dở hơi, cám hấp, đã vô tài bất tướng lại gàn gàn, dở dở. Nếu cứ sống ở vùng quê Bắc Việt em sẽ suốt một đời sống tẻ nhạt dưới bóng anh chồng không xứng đáng được làm chồng em, em sẽ không dám làm gì cả, nhưng ri cư vào Sài Gòn em có cơ hội vùng lên đòi quyền sướng, tức quyền sống sung sướng, không cần phải sang đến đất Mỹ em mới bỏ chồng, em bỏ chồng ngay năm 1967 ở giữa thủ đô Sàigon yêu dấu ngàn năm đã mất… Em bỏ em đi, anh chồng em đăng nhắn tin chiêu hồi em trên nhật báo Sống, hắn liên tiếp và dai dẳng gọi tên em: “Tý Con Em“:
    “Mấy tháng mất hồn, đau khổ chiền miên, biết sẽ ĐOÀN TỤ nên cắn chặt răng sống. CHẮC CHẮN. Không thể bỏ nhau. CHỒNG EM. TÌNH NGHĨA là quí báu. Ai quí EM bằng ANH. Mặc người nói cười. VỢ CHỒNG mình thương nhau, lấp mồm ai. Không ai TỬ TẾ. Bác Cả Nhiêu Hố Nai hỏi thăm em. Em mau về. ĐỢI CHỜ chi nữa. Chồng Em“.
    Đại khái anh chồng Tý Con cứ đăng nhắn tin như thế trong mục Rao Vặt báo Sống, ba bốn ngày thay một bản tin, dài dài đến bốn, năm tháng. Tôi chắc vợ chồng Tý Con không có con với nhau, Tý Con chưa thai nghén, chưa đẻ đái lần nào, vì không thấy anh chồng nàng tả oán câu nào về chuyện “con em nó nhớ em, nó khóc cả đêm, em dzìa ví con, em ơi, thảm lắm v.v…”. Không thấy Tý Con trả lời mà cũng không thấy anh chồng Tý Con để lộ có sự tiến triển nào trong việc anh chiêu hồi Tý Con. Mỗi lần đến tòa soạn Sống đưa bài, lấy tờ báo qua ngồi đọc ở xe cà-phê bên kia đường, tôi thường hỏi các bạn:
    – Tý Con Em có gì mới không?
    Có hôm tôi nghe nói anh Chu Tử vừa bị An Ninh Quân Đội hỏi thăm về chuyện Tý Con. Số là báo Sống đăng bản nhắn tin: “Tý Con Em”:
    “Cần gặp em thanh toán mấy việc. Công nợ phải trả. Đừng để MANG TIẾNG. Hãy xứng đáng con nhà GIA GIÁO, LƯƠNG THIỆN. TRỐN TRÁNH không đi đến đâu. Hẹn gặp Thứ Bẩy này ở nhà bác Tư Cao, ấp Trung Mỹ Tây. Đừng sai hẹn. Nhớ đem Sổ Gia Đình trả cho người ta. Chồng Em“.
    Năm ấy là năm trước Tết Mậu Thân, Việt Cộng hay đánh mìn những bin-đinh Mỹ. Vài ngày sau ngày báo Sống đăng tin anh chồng Tý Con hẹn gặp Tý Con ở ấp Trung Mỹ Tây, một bin-đinh Mỹ ở Sài Gòn bị đánh bom, An Ninh Quân Đội nghi bản nhắn tin Tý Con Em trên báo Sống là tin của đặc công VC nhắn nhau đi đánh bom bin-đinh Mỹ nên hỏi Chủ nhiệm Sống.
    Ngày tháng qua đi, một sáng ở xe cà phê trước tòa soạn Sống, trên báo Sống tôi đọc thấy:
    “Trả lời: Đừng đăng báo vô ích. Tôi không bao giờ trở về. Tôi trả hết nợ rồi. Sổ gia đình để ở nhà bác Cả Bi. Định mệnh đã an bài. Vĩnh biệt. TÝ CON“.
    Tôi kêu lên với Nguyễn Thụy Long:
    – Ê… Tý Con trả lời này… Nhất định không về… Cắt đứt luôn..Định mệnh đã an bài. Vĩnh biệt!
    Và thế là hết. Thư trả lời ngắn gọn của Tý Con chấm dứt cuộc tình Rao Vặt “Tý Con Em” trên báo Sống. Từ đó anh chồng Tý Con ngưng không nhắn tin cà kê dê ngỗng nữa. Anh im luôn. Đúng là vĩnh viễn. Tôi nhớ mãi chuyện Tý Con, tôi cảm khái vì cuộc tình Tý Con Em. Tôi dùng câu “Định mệnh đã an bài” làm tên một truyện phóng tác của tôi.
    Liêu lạc bi tiền sự… Nhân thấy trang Rao Vặt của một nhật báo Việt ở Cali tôi hồi tưởng chuyện xưa, tình cũ, tình của người ta mà tôi cảm động như tình của tôi vậy. Tôi vẫn cảm khái vì chuyện anh chồng Tý Con viết cả mấy chục cái nhắn tin, kể lể đầu cua, tai nheo đủ thứ chuyện, nêu đủ thứ lý do để kêu gọi Tý Con trở về, Tý Con chỉ trả lời có ba câu ngắn gọn là xong. Dứt khoát. Tuyệt tình! Như lưỡi đại đao hạ xuống cần cổ người tử tù! Định mệnh đã an bài. Vĩnh biệt! Trước sau, trọn cuộc tình Rao Vặt lòng thòng, nàng chỉ trả lời có một nhắn tin, một lần rồi thôi. Sao Em dứt tình hay quá, Tý Con Em!
    Đang thời Tý Con Em tôi đinh ninh đó là chuyện thật, có em Tý Con bỏ chồng thật, chồng em nhắn tin em trên báo Sống thật. Sau đó nghĩ lại tôi théc méc không biết đó là chuyện thật hay do anh Chu Tử bịa ra cho đăng để câu khách cho mục Rao Vặt quá èo uột, khô khan của báo anh. Có thể là chuyện thật mà cũng có thể lời nhắn do anh Chu Tử viết. Thời ấy tôi hỏi cho biết dễ thôi, nếu anh Chu Tử không chịu nói, anh có thể trả lời nửa úp, nửa mở: “Thật hay bịa mà anh cũng không biết à…?”. Tôi có thể hỏi Cò Thi (Cò Thi là ông cò-rếch-tưa sửa chữ báo Sống): “Này ông..Nhắn tin Tý Con Em do độc giả đưa đến hay do ông Chu Tử viết?” là tôi biết ngay. Nhưng tôi đã không hỏi. Tôi không muốn nghe chuyện Tý Con Em là chuyện bịa, tôi muốn tin trên cõi đời này thật có Em Tý Con Định Mệnh Đã An Bài…
    Các anh tôi vừa kể trên đây: Chu Tử, Nguyễn Mạnh Côn, Bùi Giáng, Hoàng Ly, Anh Hợp, Cò Thi, Duyên Anh, Anh Quân nay đều đã không còn.
    Quảng cáo Rao Vặt Chính Luận Sài Gòn còn có hai mục đặc biệt là quảng cáo “Thuốc Mọc Râu Cam Đoan Bôi Đâu Mọc Đấy” và quảng cáo “Máy Bơm Chim”, hai thứ đặc phẩm độc đáo thời đại ấy đều do nhân vật Hiền Lương (nhạc sĩ Hiền Lương) nhập cảng. Nghe nói hiện nay ông Hiền Lương là ông đạo trụ trì một cái am bên Quận Tám và kép cải lương Kim Tử Long nổi tiếng số một hiện nay ở Thành Hồ là con của ông. Rao Vặt báo Việt Cali hiện nay không thấy có quảng cáo Thần Dược Bôi Đâu Mọc Râu Ở Đấy, có lẽ vì bi giờ người Việt ở Mỹ không coi là quan trọng việc có hay không nữa, có cũng không hơn gì mà không có cũng không hại gì.
    Trở lại chuyện Rao Vặt Báo Việt Cali 2001, tôi trích mấy tin Rao Vặt này bạn ta đọc chơi đỡ buồn:
    “Sau giờ làm việc mệt mỏi muốn xoa bóp cho khỏe xin gọi em…sẽ thấy yêu đời…” – “Massage. Young pretty girl $40/hour, speak Chinese, Mandarin…” – “Nhiều thiếu nữ trẻ đẹp, xoa bóp thoải mái, tiếp đãi nồng hậu…” – “Massage. Có nhiều thiếu nữ làm massage body to body one on one. Call anytime…”
    Ngay bên cạnh những mục thoải mái, yêu đời trên đây, thấy đăng:
    “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát…”
    Quí ông ký giả tòa soạn của tờ báo thực là có lòng ưu ái với độc giả, ân cần, quí hóa vậy thay, ý tứ quá đi mất!

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (20)




    Trích “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”:
    “Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.
    “– Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?
    “– Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng… Tư Tuân định hỏi “có gì mới”, nhưng anh thấy câu hỏi ấy thừa, bởi vì chỉ huy trưởng đã mời ở lại phải có “vấn đề cần trao đổi”. Vì vậy anh bỏ lững câu nói, nhìn đồng chí cấp trên của mình chờ đợi.
    “– Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng nó là khói của một đám lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là phải chú ý đến nó…”
    Một đoạn trích từ những trang 74-75 của truyện “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”. Hai anh Cớm Cộng Thành Hồ Minh Kiên – Nam Thi đồng tác giả. “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” gọi những tờ báo của “bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài” là “xấp lá cải”. Nhưng nếu hai anh bị người nào đó hỏi “Tại sao lại gọi là báo lá cải?” chắc chắn hai anh trả lời không thông. Vì mặc cảm răng đen, mã tấu lớ ngớ trước bọn “ngụy dân Sài Gòn”, tên nào cũng học thức hơn mình, mấy anh Cán Cộng thường gồng mình tỏ ra hiểu biết một cách hết sức ngô nghê. Chuyện này chẳng có gì đáng phải théc méc. Đời nào và ở đâu cũng vậy, những anh “xấu hay khoe tốt, dốt hay nói chữ”. Đặc biệt là trong những bài viết của mấy anh Việt Cộng, người ta thường thấy tự dưng mấy ảnh tương vào vài câu tiếng Pháp, tiếng Anh không cần thiết và không giống ai.
    Những năm 82, 83 đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ tôi thường tìm trong tờ tuần báo Công An Thành Hồ những tin tức có thể khai thác thành bài báo gửi ra nước ngoài, tất nhiên những tin tôi khai thác đều là những tin bất lợi cho Cộng sản, những tin nói lên đời sống cơ cực của người dân cùng sự bất lực cộng với sự thối nát, ngu ngốc của bọn Bắc Việt Cộng chiếm đóng miền Nam. Có lần tôi tình cờ nhìn thấy mấy chữ tiếng Anh in nghiêng một cách trịnh trọng trong phần truyện dài đăng từng kỳ “Lệnh Truy Nã” của Huỳnh Bá Thành – tức Họa sĩ Ớt báo Điện Tín, Chủ nhiệm là Thượng Nghị sĩ Hồng Sơn Đông. “Lệnh Truy Nã”, tức “Lệnh Bắt Người” đăng trong tờ Công An Thành Hồ:
    Đại úy Trường Sơn, cớm ViXi được Huỳnh Bá Thành diễn tả như một nhân vật công an Việt Cộng hào hoa phong nhã – anh Đại úy này chính là hóa thân của Cớm Huỳnh Bá Thành tức Ba Trung – khi thẩm vấn một can phạm, Đại úy CAVC Trường Sơn ra lệnh:
    – Cho tôi biết tên anh…
    Can phạm trả lời (…)
    Cớm lắc đầu:
    – Không… Cho tôi biết full name của anh kia…
    Bố khỉ. Có khỉ thì cũng khỉ vừa thôi, để cho người khác người ta khỉ mí chứ. Hai anh Mít đặc ở giữa lòng thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng giả, hơn nữa còn ở giữa phòng thẩm vấn của bọn công an Việt Cộng, bọn nổi tiếng về mục bắt người dễ dàng, giam người thật lâu, bỏ quên người trong tù là chuyện thường ngày, đang tự nhiên phang nhau hai tiếng “full name”. Cớm Ba Trung học lóm được ở đâu hai tiếng “full name” lập tức đem ra xài trong tiểu thuyết để chứng tỏ mình cũng biết tiếng Mẽo như ai.
    Nhân nói đến chuyện Cớm ViXi ham xài tiếng nước ngoài quê mấy cục, xin kể một chuyện nhỏ về chuyện vợ chồng tên Năm Tốt ở Trại tạm giam số 4 Phan Đăng Lưu, cửa vào thế giới tù đầy của những công dân Thành Hồ.
    Năm Tốt, dân miền Nam, tập kết ra Bắc năm 1954, thuở thiếu thời từng theo học Đại học Chăn Trâu với Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, ở dưới đàn anh Nguyễn Văn Linh vài lớp. Ra Bắc, cũng như đa số thanh niên Nam bộ chưa có vợ hay có vợ mà bỏ lại trong Nam, Năm Tốt lấy một chị vợ Bắc Kỳ chính cống Bà Lang Trọc. Vợ Năm Tốt có cái tên giả khá đẹp là Thị Loan. Thị người mập mạp, đặc biệt mặt thị ngắn và gẫy trông như mặt loài chó Fox. Những năm 1984, 1985 khi những tu sĩ nhóm Già Lam Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Ni cô Thích Trí Hải, Thượng tọa Thích Đức Nhuận cùng bọn tám người bị gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” đang ăn cơm tháng dài hạn ở Đại học xá số 4 Phan Đang Lưu, Năm Tốt là Trưởng Trại, tức Quản Đốc Nhà Tù.
    Những năm ấy – 1984, 1985 – Năm Tốt trạc Năm Bó Gẫy tuổi đời, Thị Loan Năm Bó Chẵn. Thị Loan không phải là nhân viên Trại nhưng Thị tranh chức nhận thuốc và phát thuốc cho tù. Năm Tốt trao trách nhiệm nhận, phát thuốc cho vợ để Thị ăn chặn thuốc của tù. Việc nhận phát thuốc cho tù là công việc béo bở, ra tiền nhiều và dễ dàng nhất trong nhà tù. Bọn Công an dưới quyền Năm Tốt cay cú nhưng vì sợ Năm Tốt nên chỉ lèm bèm chửi Thị Loan những lúc chúng ngồi riêng với nhau.
    Sáng tinh sương ngày 2 tháng 5 năm 1984 tôi thiểu não theo bọn công an đi vào hành lang khu C 1 Số 4 Phan Đăng Lưu, ông bạn cao niên của tôi là ông Vương Văn Bách (Luật sư) đã nằm ngâm thơ Trần Văn Hương được sáu tháng trong xà lim số 11 khu này. Tôi được đưa vào xà lim số 10. Nửa năm sau anh Bách và tôi đoàn tụ với nhau trong phòng giam tập thể số 6 cùng khu C 1. Anh với tôi ăn chung, nằm cạnh nhau cho đến ngày chúng tôi lên xe sang Thánh Thất Chí Hòa. Có lần tôi nghe anh kể:
    – Thằng Năm Tốt sợ vợ thấy mẹ đi. Đàn bà Bắc kỳ loại con mụ Thị Loan đanh đá hạ cấp lắm. Trông cái mặt nó là biết nó nặc nô rồi. Năm Tốt hung hăng con bọ xít ở đâu chứ trước mặt Thị Loan là im re. Các cậu có biết con mụ Loan nó nói với thằng chồng nó ra sao không? Nó nói: “…Nè anh Năm à, anh chơi con đàn bà nào nó hai l… bốn vú thì anh hãy chơi, còn con nào nó chỉ có một l… hai vú thì anh đừng chơi. Tôi đây cũng có…”
    Ông bạn cao niên của tôi học Albert Sarraut, từng than thời trẻ ông không học trường Việt nên khi chúng tôi nói với nhau những điển tích trong những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Quốc Văn Độc Bản: “Ai bảo chăn trâu là khổ?”, “Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”, “Không nơi nào đẹp bằng quê hương”, “Xuân đi học coi người hớn hở” v.v…, ông không biết gì để tham dự. Hai lần ông du học Pháp Quốc về ngành Luật. Vậy mà ông kể chuyện mụ vợ Năm Tốt nẹt chồng trơn tru, lưu loát và hết sức có duyên. Nằm bên ông, tôi théc méc:
    – Con vợ Năm Tốt nó chửi thằng chồng nó ở nhà nó, ai nghe được câu nó chửi chồng? Anh ở biệt giam anh lại càng không nghe được. Dzậy mà anh kể như chính tai anh nghe vậy?
    Anh cười tủm:
    – Cậu tưởng tôi bịa à? Tôi làm sao có đủ tài bịa một câu hay đến như thế? Vợ Năm Tốt chửi chồng nó công khai, càng nhiều người nghe nó càng khoái. Bọn công an nghe được, nói lại với nhau. Tù ra làm lao động nghe được chuyện bọn công an, kháo lại với nhau. Tôi đứng cửa gió biệt giam hóng chuyện chúng nó nên tôi nghe được.
    Chừng một hai tháng Năm Tốt lờ phờ đi một vòng kiểm soát nhà tù. Khi đứng lại trước cửa một phòng tù y có cái cử chỉ ruồi bâu kiến đậu là đưa tay lên bịt mũi, tay kia vẫy vẫy ra hiệu cho Trưởng phòng đứng lùi lại, đừng có đứng ngay sau cửa. Nhà tù là nhà tù Việt Cộng, bọn đàn anh Năm Tốt giao cho y giữ tù. Phòng tù chỉ có thể giam được 15 mạng, nó nhét vào đến 40 có khi 45 mạng. Cầu tiêu ngay trong phòng. Nước không có. Dàn ống dẫn nước lâu năm đóng rỉ sét, không có một giọt nước vào cầu tiêu trong tù. Làm gì mà không hôi thối. Thay vì cai tù trưởng trại phải xấu hổ vì phòng tù nhà nó hôi thối, nó lại bịt mũi ghê tởm cái hôi thối của chính nhà nó.
    Tết 1985, ngày 28 hay 29 Tết chi đó. Năm Tốt đi một vòng, gọi Trưởng phòng tù ra đứng cửa, nói:
    – Ba ngày Tết tôi để cho mấy anh em vui chơi thong thả nhưng không được ồn ào. Sau ba ngày Tết triệt để cấm cờ bạc. Anh nào đánh bạc bắt được tôi phạt bảy ngày, Trưởng phòng tôi cho đờ-mi tăng…
    Bẩy ngày là bẩy ngày nằm xà lim, bị còng chân hoặc còng tay. Năm Tốt cho “Trưởng phòng đờ-mi tăng” tức là cho Trưởng phòng nằm xà lim, còng tay chân… ba ngày rưỡi.
    Chỉ cần nói thêm vài dòng nữa về mục Thị Loan nhận, phát thuốc của tù. Trong truyện của Aleksandre Solzhenytsin viết về một ngày trong đời anh tù Ivan Denisovitch ở Liên Xô, tác giả tả anh tù Ivan may mắn được bọn công an cho ra hầu hạ chúng những việc vặt. Nhờ vậy Ivan được hưởng chút cà phê thừa, bánh mì vụn của bọn cai tù. Tù Liên Xô sống nhờ bọn cai tù. Tù Việt Cộng ngược hẳn: bọn cai tù sống nhờ tù. Chúng bóc lột, ăn chận, ăn gian, ăn bớt, ăn chĩa của tù không chút ngượng ngùng.
    Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu không cho phép tù giữ số thuốc người nhà gửi vào, kể cả thuốc bổ. Khi đến gửi đồ nuôi thân nhân phải nộp số thuốc cho Thị Loan. Thị ngồi riêng một bàn nhận thuốc. Cũng ghi tên, ghi số thuốc vào sổ đàng hoàng nhưng người tù có thuốc xin được dùng thuốc của chính mình rất khó. Muốn xin thuốc của mình, người tù phải nhờ mấy anh tù được ra làm lao công quét dọn, khiêng cơm, phát cơm trong khu. Mấy anh tù này nói lại với Thị Loan. Thị Loan không xuất hiện, anh tù lao động không có trách nhiệm cũng không có thẩm quyền xin, đòi thuốc cho bất cứ ai. Và anh tù có thuốc chịu chết.
    Thuốc gửi vào tù mười, người tù có thuốc được lãnh hai, ba phần là may. Nhiều người không biết người nhà mình gửi cho mình những thứ thuốc gì. Thị Loan đem bán số thuốc Thị lấy của tù cho lái thuốc để cung cấp cho thị trường Âu dược. Những năm ấy bất cứ thứ thuốc Tây nào cũng bán được và bán có giá ở Thành Hồ.
    Hôm nay trong số những bạn đọc những dòng này viết về vợ chồng cai tù Năm Tốt và nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu chắc phải có một số bạn từng sống những năm 84-85-86 ở nhà tù này. Đã từng biết Năm Tốt – Thị Loan, các bạn làm chứng là tôi viết đúng.

    oOo

    Trích: “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” từ trang 117 đến trang 121:
    “Về phần Hoàng Hải, người vợ như một dòng sông mà hắn có thể ngụp lặn, tắm mát thỏa thích sau những ngày bon chen vất vả. Thân hình đầy đặn, sung mãn của người phụ nữ sinh trưởng ở đồng bằng Nam Bộ cộng với khuôn mặt sắc sảo phảng phất những nét Tây phương đã nâng nhan sắc của bà ta lên trên mức bình thường. Trong đời Hoàng Hải có hai thích thú mà hắn cho là kỳ diệu là đôi mắt của người vợ và ngọn đèn dầu lạc trong tiệm hút. Nhìn vào đó, hắn thấy cả độ sâu thẳm của lòng mình, sự níu kéo của cuộc sống, vừa đam mê vừa tỉnh táo, vừa rực rỡ vừa mờ ảo. Đó là những nguồn gợi hứng cho hắn suy nghĩ và sáng tác.
    “…Với gia cảnh ấy, con người ta thường dễ yên phận với tuổi xế bóng. Song Hoàng Hải đâu phải là một con người như vậy. Hắn luyến một thời xưa. Hắn hi vọng về một sự cứu rỗi, về một cơ may đủ sức xoay ngược tình thế hiện tại. Và hắn đã nhận được tín hiệu từ xa vọng đến đầy hứa hẹn, thúc giục hắn vùng vẫy. Đó là một ảo vọng, nhưng đối với hắn lại là một vũng nước xanh mát trong sa mạc mà hắn là kẻ sắp chết khát. Những tín hiệu đến với hắn bằng nhiều cách. Những lá thư của bạn bè gửi đi từ bên kia đại dương, những buổi phát thanh bằng nhiều ngôn ngữ ngày đêm vút lên không gian mà Hoàng Hải đón nhận bằng chiếc radio hiệu Zenith cực mạnh. Hắn biết rằng qua những tín hiệu ấy, từ những xứ sở xa xôi, người ta còn quan tâm đến “sự tồn tại” của hắn.
    “Có những câu, những ý hắn gần như thuộc nằm lòng: “Chúng tôi sẽ làm hết mình để anh trở thành immortel”. Hoàng Hải còn nhớ rất rõ nét chữ quen thuộc của người bạn ở Oa-sinh-tơn gửi cho hắn năm 1976. Có lẽ người bạn ấy cho rằng từ immortel trong tiếng Pháp thâm thúy hơn từ bất tử trong tiếng Việt Nam nên đã cố tình sử dụng từ ấy đến hai lần trong mấy chục dòng của lá thư đầu tiên gửi cho Hoàng Hải.
    “…Ở đây mọi người đều nghĩ và tin chắc rằng thế nào Việt Nam cũng có những Xôdennítson”. Dễ gì có thể viết một cái gì đại loại như “Quần đảo Gulắc” để biện minh cho tên phản bội Vlasov. Nhưng hắn biết chắc bạn bè của hắn bên kia đại dương đang cần những “món” gì. Lúc cháy khát cổ, một ly nước lã cũng quý không kém gì một chai Coca Cola ướp lạnh.
    “Hoàng Hải đã làm cho cơ quan USOM từ năm 1954, đến năm 1973 lại làm việc cho USIS. Cách nhau gần hai mươi năm, ở hai thời điểm mở đầu và kết thúc sự có mặt chính thức của người Mỹ ở Sài Gòn, hắn có đủ thời gian để hiểu người Mỹ. Trước kia họ là như thế thì nay và sau này họ vẫn thế: nếu không có Coca Cola thì họ sẵn sàng nhận ly nước lạnh. Có còn hơn không!
    “Hoàng Hải tự cho mình không chỉ là một ly nước lạnh bình thường mà là một ly nước lạnh hiếm hoi trong sa mạc. Sự khan hiếm ấy nâng cao giá trị của hắn lên.
    “Năm 1976, 1977 hắn đã hái ra tiền nhờ nhạy bén khai thác tình trạng khan hiếm ấy. Nhưng hắn đã phải trả giá khá đắt. Chính vì thế, sau khi dự cuộc họp ở nhà bà chị của Kiều Trang về, Hoàng Hải thấy có điều không ổn, lần trước chỉ một mình hắn độc quyền “làm ăn” với bên ngoài, thế mà công an đã phăng ra, khiến hắn phải vô trại giam. Hắn đã viết rất nhiều thể loại truyện, phiếm luận, nghị luận, văn học, thơ… với đủ các bút hiệu hắn đã ký tên những bài đã được in trên các báo của “phe hắn” xuất bản ở nước ngoài, nào là “Người Sài Gòn”, “Ngụy Công Tử”, “Con trai Bà Cả Đọi”, “Yên Ba”, “Hạ Thu”… Hắn không ngờ công an lại bỏ công sưu tầm và nghiên cứu “sự nghiệp văn chương” của hắn kỹ đến thế. Biết dấu không được, hắn đã khai tuốt tuột. Đó là phương thức “tối ưu” – thà rằng khai cái người ta đã biết để được nhẹ tội còn hơn chối quanh. Về mặt này, hắn cũng tự hào rất am hiểu công an cộng sản. Hắn được khoan hồng thật. Hắn không tiếc lời thề thốt và viết trong bản cam kết: “Khi được nhà nước khoan hồng cho về sum họp với vợ con, tôi sẽ lo làm ăn” v.v… (Ngưng trích).

    oOo

    Tôi thích viết, vẽ, chơi đàn từ thuở tôi chưa biết thích đàn bà, con gái. Tức là lúc tuổi đời chưa đầy một bó. Thuở xa xưa ấy tôi không chỉ thích văn, họa, nhạc bình thường như mọi người, tôi hung hăng con bọ xít muốn mai sau mình sẽ trở thành văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ. Nói cách khác, tôi muốn sáng tác văn, họa, nhạc. Khi tôi nói tôi học nhạc không phải chỉ để chơi đàn suông, tôi muốn sáng tác những bản nhạc như các ông Jôhan Sìtờrao, ông BítTôVơ, ông Môza, tôi bị khựng khi ông anh tôi nói: “Mày chơi được mấy bản nhạc của mấy ông ấy cũng đủ hết đời mày rồi. Ở đấy mà đòi sáng tác nhạc…”
    Những năm học tiểu học ở thị xã Hà Đông – trường Tự Đức, hiệu trưởng cậu giáo Kiên – tôi là tên vẽ khá nhất những lớp có tôi là học sinh. Bạn học có giấy thường đưa cho tôi vẽ cao bồi cưỡi ngựa, bắn súng. đánh nhau với mọi da đỏ, vẽ chó mèo, đôi khi vẽ cả những cảnh trai gái theo sự tưởng tượng bậy bạ của bọn nhóc chúng tôi. Năm 1946, tôi theo gia đình tản cư lánh nạn chiến tranh về quê tôi ở ven sông Đuống. Năm 1947, tôi đi kháng chiến ở vùng Bắc Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), năm 1948 tôi lên Việt Bắc, năm 1950, tôi hồi cư về Hà Nội. Từ đó tôi bỏ vẽ và giấc mộng họa sĩ của tôi tiêu tán thoòng. Tôi học đàn ghi-ta ba lần. Lần thứ nhất học thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, lần thứ hai học thầy Vĩnh Lợi ở Sài Gòn, lần thứ ba học thầy Lâm Tuyền cũng ở Sài Gòn. Tôi thích nhạc nhưng có lỗ tai trâu, mù tịt về nhịp điệu, thêm cái tật cầm cây đàn là muốn thánh thót du dương ngay, không chịu ngồi gù lưng mà phứng phưng cả tiếng đồng hồ.
    Năm 1983 con tôi đi học vẽ. Thầy dậy là bà họa sĩ Nguyễn Thị Tâm và ông chồng là họa sĩ Nguyễn Long Sơn. Ông bà mở lớp dậy tại nhà riêng sau trường Mỹ thuật Gia Định. Tôi theo con tôi đến thụ huấn ông bà họa sĩ Sơn Tâm. Vì yêu họa từ ngày còn nhỏ lại sống đời dân Ngụy tại thành Hồ quá nhàn rỗi, ngày tháng phất phơ toàn chủ nhật, quanh năm chủ nhật, hết năm này 365 ngày chủ nhật đến năm khác 365 ngày chủ nhật, tôi đi học vẽ cho đỡ buồn, cho có việc làm. Ở đời có những ông “Già năm mươi tuổi chưa đeo kính. Thức suốt năm canh chỉ sợ già…” tôi mới bốn mươi đã đeo kính lão. Thầy Sơn nói:
    – Vẽ mà cứ bỏ kính ra nhìn, đeo kính lên, vẽ được vài nét lại bỏ kính ra… thì vẽ viếc cái gì… Mấy ông trên năm mươi học vẽ chỉ để chơi thôi…
    Thầy nói đúng. Tôi học vẽ những năm 80 không phải để trở thành họa sĩ mà chỉ để đỡ buồn. Tuy nhiên tôi nghĩ, tôi có thể minh họa được những truyện ngắn của tôi. Mình viết truyện, mình vẽ tranh đi kèm truyện theo đúng ý mình. Là nhất. Học vẽ chừng vài tháng, tôi bắt đầu vẽ được hí họa. Bức vẽ anh Nguyễn Văn Nghêu số 4 Phan Đăng Lưu khệ nệ ôm thùng quà nước ngoài gửi về đề thêm bốn câu lục bát tôi cho là hay cực kỳ. Bốn câu thơ có âm điệu lá đa dân tộc, theo sự đề cao có thể là quá đáng của tôi, xứng đáng được chọn làm ca dao ghi lại cả một thời nhân dân Thành Hồ Con Cá, Cái Bang ba, bốn túi tấp nập đến chầu chực ở những nhà bưu điện, kho hàng Tân Sơn Nhất chờ lãnh những thùng đồ cứu đói. Thời gian người Thành Hồ sống nhờ đồ Pháp, đồ Mỹ kéo dài từ năm 1978 đến năm 1990. Bốn câu bất hủ nguyên là tám câu:
    “Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
    Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
    Đôi tay anh vín đôi cành
    Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
    Năm sáu năm nay anh ăn ở thành Hồ
    Anh ra bưu điện lãnh quà em cho
    Đồ em vừa nặng vừa to
    Anh đã con mắt anh no cái mồm“.
    Trong hai triệu người Việt sống ở các nước Tây Dương chắc phải có 50.000 vị từng được hưởng nìềm sung sướng được đi lãnh đồ ở Thành Hồ. Xin quý vị làm chứng: thơ tôi tả đúng hay sai? Ở đời ta thấy có những thứ đồ thật to mà không nặng, như bao rơm chẳng hạn, lại có những thứ đồ thật nặng mà không to, như cục sắt. Riêng với đồ ngoại quốc gửi về cho ta, ta mơ ước thùng đồ có đủ hai điều kiện: nặng và to. Đồ vừa nặng vừa to là nhất. Trước hết nhìn thùng đồ hai chục ký, ba chục ký lô to vuông, vững chãi, phương phi, sung túc, phồn vinh, hiện đại mắt ta truyền cảm được thống khoái đi khắp châu thân ta, đến từng chân lông, ngọn tóc của ta. Ta mệt mỏi một cách sướng khoái ôm thùng đồ về nhà. Sau khi mắt ta nhìn đã – đây là sướng – ta hiu hiu ngồi chờ những nhóm anh chị chuyên săn mua đủ các thứ đồ ngoại thấy ta có đồ lớn, xin ta địa chỉ, theo ta đến tận nhà xin mua đồ của ta. Ta bán đồ lấy tiền mua gạo nếp, gạo tẻ, thịt cá rau dưa, vợ chồng, bố con, ông cháu hí hửng dắt nhau đi ăn mì vịt tiềm, phở, bún bò giò heo, ta cùng bạn hữu hạ cờ tây, bia Trung quốc. Chị vợ gầy guộc xanh leo xanh lét vì đói vì lo của ta có ít tiền còm yên tâm được một hai tháng, chị sẽ dzui dzẻ đôi chút với anh chồng gà què ăn quẩn cối xay. Cuộc sống như dzậy chẳng phải là đỡ khổ ư? No cái mồm nhờ đồ em, dù chỉ no được một tháng cũng là no.
    Những ngày ấy, tháng ấy, năm ấy – thấm thoát đã qua mười mấy mùa cóc chín – tôi di chuyển bằng xế đạp – người Thành Hồ gọi là xế Điếc – mang theo trong cái túi vải xách tay đủ thứ linh tinh bịch thuốc, hộp quẹt, cặp kính, chìa khóa, thêm quyển sổ tay và cây bút chì để khi ngồi cà phê vỉa hè lấy ra hí hoáy ghi hình. Về nhà tôi dùng bút mực vẽ lại, đôi khi tô màu. Bọn công an thành Hồ đến nhà tôi đêm mùng Hai tháng Năm năm 1984 vớ được tập hí họa của tôi. Vì vậy hai anh Nam Thi – Minh Kiên mới thấy bức họa “Đồ em vừa nặng vừa to” của anh chàng phản động Hoàng Hải.
    Việc đi học vẽ và vẽ mấy bức hí họa của tôi bị hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên diễn tả bằng những câu:
    “…Vì thế hắn đã chọn để lại một thứ có thể thanh minh rằng hắn đã biết hối cải và không làm gì xấu. Gần đây, hắn học thêm nghề hội họa. Trong mớ tài liệu mà hắn không đốt có tập phác họa do hắn vẽ. Hắn có thể nói với công an: “Thưa các ông, đây là công việc hàng ngày của tôi. Các ông xem, tôi già rồi, sức yếu còn làm gì nổi, nên tôi đã học vẽ, may ra có được một nghề vừa sức, hợp với khả năng để sống…”
    Đại tá Tổng Biên Tập chi mà viết quá ngu. Một người tuổi đời năm bó, làm báo, viết truyện chuyên nghiệp từ năm mới hai bó gập, hai mươi mấy mùa táo tầu Nghị Hách sống đàng hoàng, sống ung dung, sống phơi phới với nghề viết truyện giải trí lương thiện, bỗng dưng bị bọn cộng sản bẻ gẫy cái cần câu cơm, bắt dzô tù, còn đổi nghề, đổi nghiệp cái gì được nữa! Thay vì phải lấy làm hổ thẹn vì chế độ của chúng đập bể nồi cơm của người dân lương thiện, bọn đầu trâu mặt ngựa, tim heo, óc chó lại tỏ ra hiu hiu tự đắc khi thấy những người dân miền Nam vì chúng mà lâm vào cảnh đói khổ.
    Hai mươi niên vất vả ở Thành Hồ, tám niên ngồi rù trong những nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu, Chí Hòa, tôi có phạm một số việc không được đàng hoàng chi mấy. Khi ra tòa năm 1988, tôi có nói: “Thưa bà chánh án” (mụ chánh án xử tôi là mụ Nguyễn Thị Thu Phước, bao nhiêu phước, mụ ấy thu ráo trọi vào lòng mụ), nhưng tôi không “Thưa quý tòa…” như nhiều anh em ta. “Quý Tòa” là danh từ gọi tòa án quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Với người dân Việt Nam Cộng Hòa, tòa án cộng sản có cái gì là “quý”? Chúng muốn tuyên án tử hình cho mình lên thùng phuy bãi bắn Thủ Đức, chúng muốn bỏ tù mình mút mùa Lệ Liễu kiêm Lệ Thủy – Lệ Thu… Vậy mà mình cứ phải “quý trọng” nó thì ngoài sự nhục nhã thậm tệ còn có sự lạ lùng không chấp nhận được.
    Nhưng với bọn công an thành Hồ đến bắt tôi, thẩm vấn tôi, tôi không “Thưa ông…” với tên nào cả. Tôi trích đăng đoạn hai anh Nam Thi – Minh Kiên viết về chuyện tôi đi học vẽ để bạn thấy Việt Cộng chửi rủa chúng tôi đểu cáng đến chừng nào. Tôi bị chúng chửi, mạ lỵ, bới móc tàn tệ nhất trong số tám người bị chúng gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”. Các bạn thấy đấy: Cả ông ngoại tôi cũng bị chúng lôi vào chuyện. Chúng viết tôi kính cẩn: “Thưa các ông…” vẫn còn là nhẹ. Trong một tập sách mỏng chúng viết về một ông từ nước ngoài trở về bị chúng bắt sống ở Lào, tôi đọc được năm 1982, chúng viết ông chiến sĩ quốc gia này gọi chúng bằng “ông”, xưng “con”.

    oOo

    Trích “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”:
    “Căn phòng nhỏ của Kiên Trinh lại trở nên náo nhiệt với các loại tiếng ồn ào quen thuộc, thân thương: Những chiếc máy đánh chữ đang mổ liên hồi để hoàn thành gấp bản báo cáo kết thúc vụ án, xen lẫn những câu chuyện mà những trinh sát vui miệng kể cho nhau nghe.
    “Hồng Sơn dí dỏm:
    “- Nếu cho Hoàng Hải chỉ là nhà văn, nhà thơ gì đó, quả là chưa đủ. Phải tính thêm hắn vaò danh sách soạn giả kiêm diễn viên! Thủ vai chính trong vở kịch trá hàng, hắn đến công an thành phố nhằm đánh lạc hướng mũi nhọn điều tra vào họa sĩ Ý Nhi. Vở kịch không thành công. Hôm bị bắt, hắn lại chuyển sang đóng vai cải lương. Buồn cười là khi bọn mình vào nhà “hỏi thăm” hắn thì hắn nói nghe tỉnh rụi:
    “- Trời! Tôi chờ các anh đã mấy ngày nay rồi. Tưởng đâu các anh đến sớm hơn chớ!
    “Chẳng lẽ giờ G của kế hoạch phá án được chuyển dời, mấy tướng nhà mình cứ thấp thỏm sợ lọt mất hắn nên bám quá sát khiến hắn ngửi thấy tấm lưới bủa vây.
    “Hắn lại tỏ ra “thanh thản” lúc phải “khăn áo ra đi”. Hắn vừa vẫy tay, vừa nói lời từ biệt vợ: “Thôi… anh ra đi lần thứ hai nghe em…”
    “Nhiều tiếng cười cùng cất lên một lúc khi một số trinh sát hình dung lại điệu bộ và lời nói “rất chi là cải lương” ấy của Hoàng Hải“.

    oOo

    Quý bạn vừa đọc một đoạn trong hai trang 195-196 chương XXII, quyển “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”. Anh cu Hoàng Hải bị kể phạm tội “trá hàng” và có lời nói “rất chi là cải lương” khi anh bị công an Việt cộng, hai giờ sáng đến nhà dựng cổ dậy, đọc lệnh bắt và sau đó “khăn áo ra đi”.
    Nhiều tiếng cười cùng cất lên một lúc khi một số trinh sát hình dung lại điệu bộ và lời nói “rất chi là cải lương” ấy của Hoàng Hải. Bọn đầu trâu, mặt ngựa tỏ ra sung sướng, khoái lạc với việc đi bắt người cho vào tù. Chúng thích thú khi thấy người khác sợ hãi, đau khổ. Giống như bọn văn nô ca tụng việc Đảng giết người, bọn công an cộng sản nhẩy múa, ca hát trên xiềng xích, trên xác chết những nạn nhân của chúng, những đồng bào của chúng:
    Ông cha ta có câu:
    “Một đời làm Lại
    Bại hoại ba đời…”
    Đời chúng ta có câu:
    “Một đời cộng sản
    Khốn nạn ba đời…”
    Tôi, người mang cái tên Hoàng Hải có thái độ mà bọn công an Việt Cộng đến nhà bắt tôi cho là “rất chi là cải lương”, tôi là công tử bột, con nhà thông phán, cháu quan Tri phủ, nhưng tính tôi lại là tính con nhà Tổng đốc, con nhà Thượng thư, tôi ăn chơi, chưng diện không bằng ai, nhưng tôi có cái tật tôi rất khó chịu khi tôi làm việc gì rởm, lố bịch, không được thanh lịch hay khi tôi bị người khác chê cười, chọc quê, cho là quê, rởm. Vì vậy, tôi coi lời hai cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên diễn tả tôi “có điệu bộ và lời nói rất chi là cải lương” là lời mạ lỵ tôi nặng nhất trong tất cả những trang “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” viết về tôi.
    Hai giờ sáng ngày 2 tháng 5 năm 1984, chừng 10 tên công an Thành Hồ kéo vào nhà tôi. Đọc lệnh bắt, khám xét, làm biên bản, khoảng 5 giờ sáng, chúng đưa tôi ra khỏi nhà.
    Chỉ có vợ chồng tôi sống trong căn nhà nhỏ Cư xá Tự Do trước cửa hồ tắm Cộng Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Tháng 11 năm 1977, khi công an Thành Hồ đưa xe bông đến nhà rước tôi đi lần đầu, Alice ở lại nhà một mình. Lần thứ hai, nửa đêm, chúng đưa xe bông đến nhà đưa tôi đi, Alice cũng ở nhà một mình.
    “Hắn lại tỏ ra “thanh thản” lúc phải khăn áo ra đi”. Tôi phải nhận cớm cộng diễn tả đúng tâm trạng vợ chồng tôi lúc ấy. Chúng tôi cũng buồn, cũng ngao ngán, nhưng chúng tôi “bình thản” vì chúng tôi biết trước việc bắt bớ sẽ xẩy ra, việc tôi bị tù đầy bắt buộc phải có, không tránh được, việc tôi bị bắt là tự nhiên, hợp lý. Chúng tôi đã làm những việc chúng tôi phải làm, chúng tôi biết rõ là làm những việc đó bọn công an Thành Hồ không để cho chúng tôi yên.
    Nếu tôi viết: “..Đêm chúng đến nhà bắt tôi lần thứ hai tôi thanh thản ra đi”, các bạn có thể nghĩ: Anh này dzóc. Bị Công an ViXi nửa đêm đến nhà còng tay dẫn đi, sức mấy mà ra đi thanh thản… Nhưng chính bọn Công an ViXI viết như thế về tôi.
    Một người bạn nói: “Viết tả lại những vụ Việt cộng bắt người ngoài những thủ tục như đọc lệnh, còng tay, khám xét, moi móc v.v… có lẽ ta nên viết về tâm trạng của người bị bắt”. Tôi đồng ý với anh. Chỉ có điều, nếu tôi tả lúc tôi bị bắt vợ chồng tôi bình thản nhiều bạn đọc có thể sẽ không tin. May cho tôi là cớm cộng đến bắt tôi đêm ấy xác nhận “hắn lại tỏ ra “thanh thản” lúc ra đi…”
    Và đây là việc tôi làm, lời tôi nói với Alice trước khi tôi xách túi theo bọn đầu trâu, mặt ngựa ra khỏi căn nhà tình ái của chúng tôi.
    Nhớ lại lần trước vào Số 4 Phan Đăng Lưu, tôi bị lấy mất cái dây nịt thắt lưng – cái dây lưng Mỹ, hai mặt đen, nâu, đẹp nhất, vừa nhất, tôi ưa nhất – nên lần này khi sửa soạn ra đi tôi cởi dây lưng để trên bàn. Dây lưng đó của tôi thuộc loại to bản theo kiểu 1970, có cái khóa to và nặng, khi đặt lên bàn phát ra một tiếng kịch.
    Tôi nói bốn câu với Alice trước khi ra khỏi nhà:
    – Anh bỏ không hút thuốc nữa. Khi được thăm nuôi, đừng gửi thuốc lá cho anh.
    Tôi hôn nàng. Và đây là câu nói thứ hai:
    – Anh dâng đời anh lên Thiên Chúa.
    Đây là câu thứ ba:
    – Anh sẽ về với em.
    Tôi cầm tay nàng:
    – Đi với anh ra cửa.
    Khi tên trưởng đội ra lệnh đưa tôi đi, bọn công an ra ngoài đứng quanh chiếc xe ô tô đã mở sẵn cả bốn cửa. Nhưng một tên vẫn đứng trong cửa nhìn chừng chúng tôi. Khi tôi dắt Alice ra đến hàng ba, tên đứng cửa nghe được câu tôi vừa nói với Alice, hỏi tôi:
    – Anh nghĩ là anh còn có thể trở về được cái nhà này à?
    Đây là câu tôi trả lời hắn:
    – Tôi còn sống thì tôi còn trở về chứ.
    Câu “Trời… Tôi chờ các anh đã mấy ngày rồi…” là câu cớm cộng bịa. Tôi không nói câu đó.
    Người tù bị bắt nửa đêm ở nhà, tảng sáng bị còng tay đưa đi, một chuyến đi âm u không biết ngày về, đi theo lũ cai tù tàn bạo, ác ôn nhất lịch sử, người tù ấy hôn vợ và nói với vợ: “Anh sẽ về với em…” Chỉ có bọn công an cộng sản mới thấy việc làm và lời nói đó của người tù “rất chi là cải lương”. Nếu chúng không thấy như thế chúng không phải là công an cộng sản.
    Sáu mùa lá rụng sau, một sáng đầu xuân tôi trở về mái nhà xưa lần thứ hai. Ông bạn ở sát nhà tôi sang thăm. Ông kể lúc tôi bị đưa ra khỏi nhà, ông đứng bên cửa nhà ông và ông nghe rõ tiếng tên công an hỏi tôi và câu tôi trả lời. Ông nói:
    – Thằng đó nó hỏi ngu quá. Người ta còn sống thì người ta trở về chứ. Chúng nó muốn giam người ta cho đến chết sao.
    Hai bà trong cư xá, buổi chiều ngồi nói chuyện với nhau trên hàng ba cho mát, một bà nói khi tôi đi ngang:
    – Chúng nó muốn giết người ta nhưng đâu có được. Còn có Trời nữa chứ!
    Chuyến đi kéo dài sáu năm, năm năm sống quanh quẩn giữa những bức vách phòng tù, những hàng song sắt, một năm ở trại lao cải. Tôi đã làm đúng lời tôi hẹn với vợ tôi buổi sáng tháng Năm xa xưa khi tôi ra đi: “Anh sẽ về với em”… Sáu năm sau tôi trở về với nàng.
    Thực ra, ngay khi tôi còn ở trong Thánh thất Chí Hòa, đọc vài trang “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” do vợ con tôi gửi được vào cho tôi, tôi thấy tức cười nhiều hơn là sợ hay hờn giận. Các con tôi đọc những trang “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” viết về bố mẹ chúng, chúng cười lên hô hố. Tôi dám chắc người nào đọc “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” cũng phải cười, vì họ thấy bọn công an Việt Cộng viết về chúng tôi “kỳ” quá, không có qua một điểm nào giống chúng tôi…
    “…Về phần Hoàng Hải, người vợ như một dòng sông mà hắn có thể ngụp lặn, tắm mát thỏa thích sau những ngày bon chen vất vả. Thân hình đầy đặn, sung mãn của người phụ nữ sinh trưởng ở đồng bằng Nam Bộ cộng với khuôn mặt sắc xảo phảng phất những nét Tây phương đã nâng nhan sắc của bà ta lên trên mức bình thường…”
    Đó là lời hai anh Cớm Cộng Nam Thi – Minh Kiên viết về Alice, vợ tôi, trong “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”. Một đêm trong Phòng 10, Lầu Ba, Khu ED, Lầu Bát Giác Chí Hòa, nằm trong mùng đọc trang báo mới gửi vào lúc ban ngày bằng cách dùng để gói thức ăn thăm nuôi, đọc xong câu trên, tôi nói với Trí Siêu Lê Mạnh Thát – ngày ấy, tháng ấy, năm ấy hai chúng tôi nằm cạnh nhau:
    – Chúng nó viết chửi tôi tàn độc quá, nhưng chúng nó khen vợ tôi đẹp và vợ tôi yêu thương tôi, tôi xí xóa với chúng nó.

    Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (21)



    Đất nước ta có chiều dài theo đường thẳng là 1.650km, chiều dài theo bờ biển là 3.260km. Như vậy có nghĩa là nếu chúng ta đi bộ theo bờ biển từ Ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau – theo như lời rao cửa miệng của những vị chuyên bán thuốc ho Bà Lang Trọc ở những bến xe ô tô, trên tầu điện, tầu hỏa trong những năm 1940, những năm anh và em vừa trên dưới 10 tuổi ở cõi đời này – thì chúng ta phải đi tới hơn 3000 cây số mới đi hết chiều dài đất nước. Hélène!!! Hélène Sóc Trăng Mùa Hạ 1953 của anh… Sáng nay, một sáng đầu mùa mưa năm 1992, anh hoài niệm cuộc tình của đôi ta và anh bâng khuâng tự hỏi vì những lý do nào, những nguyên nhân nào, vì những cái mơ hồ và huyền bí thường được gọi là những tiền nhân, hậu quả nào… đã làm cho anh đi gần suốt chiều dài của đất nước, từ tỉnh lỵ Hà Đông nhỏ bé, hiền hòa nằm bên bờ sông Nhuệ của anh ở gần phần cực Bắc của đất nước ta để tới tỉnh lỵ Sóc Trăng nhỏ bé, hiền hòa của em nằm ở gần phần cực Nam của đất nước ta, anh đến đó để gặp em?
    Anh ra đời ở tỉnh lỵ Hà Đông – và anh là một Công Tử Hà Đông cho đến nay viết linh tinh nhiều nhất về tỉnh lỵ thời thơ ấu của mình – anh học tiểu học ở trường Tự Đức của Thầy Giáo Kiên người làng Vạn Phúc. Trường Tự Đức là trường tư, và những trường tư ở những tỉnh lẻ Bắc kỳ vào những năm 40 của thế kỷ này đều thiếu nhiều điều kiện về cơ sở vật chất. Cũng như tuyệt đại đa số những trường tư ở những tỉnh nhỏ miền Bắc thời anh trên dưới 10 tuổi, trường Tự Đức là một căn nhà thường được kê bàn ghế học trò để làm trường. Truờng không có sân chơi. Đến giờ chơi hay trước giờ học, học trò toàn chơi ở vỉa hè, ngoài đường. Vào năm anh học Lớp Ba – “cua Ê-Lê-Măng-Te” – năm 1940 hay 1941 chi đó, những trò chơi của bọn học trò Lớp Ba như anh ở trường thật ít. Trò chơi của học trò thời đó thường là đánh bi, đánh đáo. Nhưng không phải quanh năm học lúc nào cũng là mùa chơi bi. Và ở vào thời anh mười tuổi, những viên bi cũng ít có. Những viên bi đẹp được bọn anh nâng niu, quý báu như những bảo vật. Khi đến lớp sớm, bọn anh có thể ngồi trong lớp đánh cờ ca-rô. Nhưng ngay cả đến những tờ giấy kẻ ca-rô cũng hiếm có. Bọn anh bầy ra một trò chơi không tốn kém chi cả là hai tên luân phiên mở từng trang sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ra chơi với nhau. Những bài trong sách này đều có một hình vẽ. Cứ đếm số người vẽ trong hình trên trang sách mình mở được mà đấm lên lưng nhau. Tên nào may tay có lời, mở được trang vẽ nhiều hình người nhất là coi như thắng.
    Trong những trang sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư của anh năm ấy, trang vẽ nhiều người nhất là trang nói về cuộc đời của một Bà Sơ người Pháp. Bà Sơ đến Đông Dương vào những năm đầu của thế kỷ chúng ta. Bà mở một nhà nuôi Trẻ Mồ Côi ở tỉnh lỵ Sóc Trăng và bà mất ở Sóc Trăng. Bà được nhiều người thương mến, kính trọng, nên khi bà mất người Sóc Trăng đi đưa đám bà thật đông. Tranh vẽ cái xe tang ngựa kéo đi trước, sau xe tang có tới hai mươi, ba mươi người đi đưa. Tên nào mở được trang Bà Sơ Sóc Trăng này coi như vớ bở, tha hồ đấm lưng đối thủ. Bọn anh khi chơi trò mở sách, coi hình, đếm người, đấm bạn kiểu này tên nào cũng muốn mở được trang có hình vẽ đám tang Bà Sơ ở Sóc Trăng.
    Đó là lần thứ nhất trong đời anh biết đến cái tên Sóc Trăng, cái tên Nam Kỳ nghe lạ lạ, một địa danh xa lạ nằm mút chỉ cà-tha ở tận xứ Nam Kỳ xa tít mù xa… Ngày ấy, năm ấy có bao giờ anh ngờ rằng sẽ có ngày những gót chân Công Tử Hà Đông của anh đặt bước ở ngay giữa lòng tỉnh lỵ Sóc Trăng anh chỉ thấy thấp thoáng trên trang hình vẽ? Cũng chẳng có qua một linh tính nhỏ bé nào báo cho anh biết sẽ có ngày anh đến sống và được yêu, được em yêu ngay giữa cái thị trấn mấy chục năm xưa có Bà Sơ người Pháp đã đến, đã sống và đã chết.
    Nhưng cứ theo như những nhà quân tử Tầu nói thì “Nhất ẩm, nhất trác… giai do tiền định…”, chúng ta gặp nhau và yêu nhau có phải là do “tiền định” không em? Ở vào số tuổi của anh, năm mươi năm xưa, những năm 40 của thế kỷ này, có thiếu gì anh học trò nhỏ chơi cái trò mở sách đếm người trong hình vẽ như anh? Có biết bao nhiêu anh nhỏ đã vớ được trang Bà Sơ Sóc Trăng trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư như anh? Tiền định hay không tiền định? Nhân duyên hay chỉ là chuyện tình cờ? Anh không biết, anh không thể trả lời được. Anh chỉ biết là muời ba năm sau năm 1940, năm lần đầu tiên anh được biết đến Sóc Trăng của em trên trang sách học ở một trường tư thục nhỏ bé trong tỉnh lỵ Hà Đông nhỏ bé của anh, năm 1953, anh – loạng quạng – như anh đã nói, bánh xe lãng tử đến thị xã Sóc Trăng.
    Năm 1952 anh đã làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng ở Sài Gòn và cũng trong năm này anh đoạt giải nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn toàn năm 1952 do nhật báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc tổ chức. Truyện ngắn của anh tên là “Người con gái áo xanh”. Làm phóng viên báo Ánh Sáng được chừng một năm anh bỏ ra cộng tác với một anh bạn làm tuần báo. Nhưng tờ báo èo uột này chỉ ra được ba bốn số ù là đi tầu suốt. Anh trở thành thất nghiệp, chân phóng viên báo Ánh Sáng thật tốt đã có người khác làm. Anh sống với một anh bạn ở Tân Định. Người bạn anh làm thư ký hãng Shell. Có những ngày buồn quá không biết làm gì anh đi bộ từ Tân Định lên trụ sở Công Ty Dầu Xăng Shell để ăn cơm trưa với anh bạn. Nhà Shell ở con đường trước 1956 tên là Đại lộ Norodom Sihanouk, thời Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa là đường Thống Nhất. Trên con đường nhỏ đằng sau Nhà Shell có mấy quán cơm vỉa hè chuyên phục vụ các thầy thư ký, thư quẽo ở Nhà Shell và những công, tư sở quanh đó; những bữa cơm trưa biên sổ, đến kỳ lương các thầy mới tính sổ trả tiền. Ăn xong có buổi trưa anh theo anh bạn lên lầu Nhà Shell nằm nghỉ một lúc ở ngay hành lang. Có khá đông nhân viên Shell nhà xa hoặc độc thân chẳng cần về nhà, ăn cơm quán xong lên nằm làm một giấc la-siết ngon lành ngay trên những hàng lang sạch boong của sở đợi đến 2 giờ trở dậy làm việc tiếp. Có buổi trưa anh vào Sở Thú nằm trên cỏ nhìn lên chuồng khỉ xem những anh khỉ già làm tình với những em khỉ non – đúng ra là xem khỉ già hiếp dâm khỉ non – trong khi những chú khỉ non thì nhẩy lung tung chung quanh kêu lên khẹc khẹc. Anh nằm trong Sở Thú như thế đến gần 5 giờ chiều trở lại nhà Shell cùng về nhà với bạn anh.
    Cuộc sống nhàn rỗi ấy kéo dài đến mấy tháng thì anh nhập ngũ, tức là anh vào quân đội. Năm 1953, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa mới mở ngành Chiến Tranh Tâm Lý, dịch từ tiếng “Ghe Sích-cô-lô-gích” của người Pháp. Về sau danh xưng này được đổi là Chiến Tranh Chính Trị. Thời ấy Quân Đội Việt Nam chưa có Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, cũng chưa có Cục Tâm Lý Chiến và những Biệt Đoàn Văn Nghệ. Ở Bộ Tổng Tham Mưu chỉ có một phòng phụ trách truyên truyền và công tác chính trị, tư tưởng, gọi là Phòng Năm. Thiếu Tá Trần Tử Oai là Trưởng Phòng Năm, và vào năm 1953 ông thành lập cái gọi là Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền. Cái tên gọi này cũng dịch từ cái tên tiếng Phú Lăng Sa: Première Compagnie de Propagande Armée. Lính của Đại Đội này vào thời Đại Đội có anh là một đội viên, năm 1953, chỉ có mấy việc để làm là dán áp-phích, căng băng-đờ-ron, phát truyền đơn và chiếu phim cho lính giải trí ở những đồn quân xa thành phố.
    Với tư cách là lính của Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền bốn mươi năm xưa, năm anh vừa tròn hai mươi tuổi, anh đã có dịp đi có thể gọi là đi khắp miền Nam. Sinh trưởng ở miền Bắc và tuy anh đã đi kháng chiến bốn năm nhưng anh được đi, được biết về miền Bắc ít hơn anh đi và biết về miền Nam rất nhiều. Chỉ trong vòng hơn một năm ở lính, anh đã đi và đến tất cả những tỉnh lỵ miền Nam, những nơi ngày xưa còn được gọi là Lục Tỉnh: Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Cần Thơ (Tây Đô thì nhất định là phải đến rồi). Đức Hòa, Đức Huệ, Sa, Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Châu Đốc, Rạch Giá… Đời lính đưa anh ra đến tận đảo Phú Quốc. Không những chỉ đến những thành phố, những thị xã, anh còn theo những cuộc hành quân vào Đồng Tháp Mười, đến tận những vùng xa sôi nhất ngay cả với thanh niên Nam Kỳ, như Mỏ Cầy, Thạnh Phú, Mộc Hóa, Ô Môn, Thốt Nốt… Và Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mâu – Bạc Liêu “dưới sông cá chốt, trên bờ Chệt không”, “Công tử Bạc Liêu… đứt dây thiều, lọt cầu tiêu” v.v… Mỗi nơi anh chỉ ở nhiều lắm là năm bẩy ngày. Hai nơi anh ở lại lâu nhất là hải đảo Phú Quốc và thành phố Sóc Trăng của em.
    Em yêu ơi… Những năm 40 trong tỉnh Hà Đông nhỏ bé, hiền hòa có dòng sông Nhuệ Giang chẩy qua, chú bé con mười tuổi mở trang sách ghi lại cuộc đời của Bà Sơ người Pháp sống và chết ở Sóc Trăng, có bao giờ ngờ rằng sẽ có ngày cuộc đời đưa mình phiêu dạt đến đúng cái thành phố xa lạ ấy? Và để rồi mười mấy năm sau chú bé con trở thành chàng trai vừa tròn hai mươi tuổi, vào một sáng cuối xuân, đầu hạ, chàng trai đó đến Sóc Trăng.
    Vào lính chưa đầy ba tháng, anh đã thấy khó chịu. Anh không thể nào chịu nổi được kỷ luật – bất kể thứ kỷ luật nào – mà kỷ luật nhà binh lại là thứ kỷ luật nghiêm khắc nhất. Nếu nó có khá hơn cái gì thì ta chỉ có thể nói nó khá hơn kỷ luật nhà tù chút síu. Vì khó chịu, anh trở thành ba gai. Ở ính mà ba gai thì chỉ có từ chết đến bị thương. Với anh thì Thiếu Tá Trần Tử Oai là một vị chỉ huy rất khá. Ông nhiều lần tỏ ra rất tốt và rất công bình với anh. Nhưng vì anh ba gai quá, ông phải hạ lệnh tống anh đi khỏi Sài Gòn. Về sau anh thấy rằng đó chỉ là một cái lệnh dọa. Thiếu tá giận anh không tuân lệnh của ông nên đuổi anh đi. Lúc đó nếu anh đến xin gặp ông, xin lỗi và tả oán: “Thưa Thiếu Tá… em thế này, em thế nọ…” rất có thể ông sẽ hủy cái lệnh thuyên chuyển đó. Nhưng anh đã không làm như thế. Sau một năm ở trong cái gọi là Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền anh đã chán nó quá rồi. Tự cho là mình bị hành hạ, anh như tên phẫn chí muốn nếm cái gọi là “thú đau thương”, muốn xem đời lính còn làm cho mình khổ sở đến đâu. Năm ấy, Hélène ơi, anh mới hai mươi tuổi!
    Anh nhận lệnh đuổi của Thiếu Tá Trần Tử Oai và anh lặng lẽ lên đường. Lệnh đổi anh xuống Đại Đội Trọng Pháo 102 ở thị xã Sóc Trăng.
    Gần như tất cả đội viên của Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền đều là lính mới tò te, tức là toàn là những thanh niên mới nhập ngũ như anh. Ở đây ít nhiều gì anh cũng có bạn, một bọn cùng lớ ngớ như nhau. Nay anh phải một mình đi tới một nơi hoàn toàn xa lạ với anh, nơi anh không có qua một người quen biết nào. Cuộc đời sẽ dành cho anh những gì ở Sóc Trăng? Đó là câu hỏi thuộc loại những câu hỏi không thể trả lời được ở cõi đời này.
    Cứ kể ra thì đoạn đầu cuộc đời binh nghiệp của anh cũng chẳng có gì đáng gọi là tối tăm, ảm đạm chi cho lắm. Không có mảnh bằng nào, dù là mảnh bằng nhỏ bằng miếng giấy gói thuốc lào, vừa vào lính anh được đeo ngay lon Hạ sĩ Nhất – Caporal Chef – sáu tháng sau đeo lon Trung sĩ – Sẹc-zăng, chữ Vê Vàng chứ có phải ít đâu. Trong khi đó thì Văn Thiệt, nhân viên Nha Thông Tin Nam Việt, bị nhập ngũ, cùng vào Đệ Nhất Đại Đội Tuyên Truyền, người sau đó là chuyên viên đọc Quân Lệnh của Đài Phát Thanh Quân Đội, chỉ là đơ-dzèm-cù bắp: Binh nhì. Nếu anh cứ ở lính đều từ năm ấy, tức là năm 1953, cho đến ngày tan hàng 30-4-75, bét nhất anh cũng là Trung Tá.
    Nhưng như anh đã nói, anh không phải được sinh ra đời để làm lính. Anh tự chọn con đường riêng của anh, con đường mà anh thích. Con đường ấy trong những ngày cuối xuân, đầu mùa hạ 1954, đã đưa anh phiêu dạt đến thành phố Sóc Trăng.
    Không một người đưa tiễn, buổi sáng anh đến Đệ Nhất Quân Khu – năm 1954, Hành Dinh Đệ Nhất Quân khu ở đường Hùng Vương Chợ Lớn – để lên chiếc xe GMC chở lính và vợ con lính đi xuống Bạc Liêu – Cà Mâu. Vào lúc 11 giờ trưa, sau khi qua hai sông Tiền, sông Hậu, chiếc GMC đến thị xã Cần Thơ, Tây Đô của miền Nam Kỳ Lục Tỉnh. Chàng Trung sĩ Bắc Kỳ hai mươi tuổi là anh quăng cái sắc ma-rin xuống xe và ở lại Cần Thơ.
    Anh định ở lại thị xã này chơi một đêm, để hưởng cái thú tha hương lữ thứ. Trước đó anh đã từng đến đây nhưng những lần đó anh đều sống trong những trại lính. Đây là lần thứ nhất anh sống một mình trong một thành phố hoàn toàn xa lạ. Chỉ việc vào Ô-Ten mở phòng. Rồi đi lang thang ra phố. Thuở ấy ngay cả Sài Gòn cũng còn vắng người, nói gì đến Cần Thơ, dù Cần Thơ có được gọi là Tây Đô, là thành phố đông người nhất của Lục Tỉnh. Hai mươi tuổi anh chưa biết uống rượu, dù chỉ là rượu bia. Phải nói là anh chưa thích rượu mới đúng. chỉ uống một ly bia thôi là anh đã mặt đỏ, tai tái, nói năng loạng quạng, mất hết vẻ hào hoa phong thấp. Lại là thanh niên Bắc Kỳ không quen ăn những món ăn miền Nam, buổi trưa và buổi tối hôm ấy ở Cần Thơ anh chỉ toàn vào những tiệm Tầu ăn mì, hủ tíu.
    Buồn ơi là buồn. Vừa đi khỏi Sài Gòn có nửa ngày, anh đã thấy nhớ Sài Gòn ra rít. Không một người quen, anh không còn biết đi đâu, biết làm gì cho qua ngày. Làm cái gì cho qua đêm lữ thứ cô đơn này? Tất cả mọi thứ của Cần Thơ đều kém Sài Gòn. Buổi tối anh đi loạng quạng trên con phố chính của Cần Thơ. Anh đi qua rạp xi-nê. Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ để chui vào rạp xi-nê là việc làm của những kẻ nếu không điên thì cũng khùng. Phim chiếu ở Sài Gòn nát ra rồi mới mang đi chiếu ở tỉnh. Cả thị xã Cần Thơ năm ấy chỉ có một rạp xi-nê. Rạp tất nhiên là tồi hơn những rạp tồi của Sài Gòn, máy chiếu phim cũ rích, kêu rè rè điếc tai. Anh đi qua rạp hát cải lương đúng vào giờ chiêng trống lèng sèng. Thôi thì vào coi cải lương cho đến 11 giờ đêm về Ô-Ten ngủ một mình, đợi sáng mai xách đồ ra bến xe lên xe lô qua Sóc Trăng.
    Là thanh niên Bắc Kỳ lại nghiền xi-nê, tất nhiên là anh không thích cải lương miền Nam mấy. Nhưng như anh đã nói, đêm lữ thứ cô đơn ở Cần Thơ anh lấy vé vào rạp cải lương coi cho qua buổi tối không có việc gì làm. Tên đoàn Cải Lương tối hôm đó là gì? Anh không nhớ. Không nhớ là vì anh chẳng để ý. Chỉ thấy tấm bảng quảng cáo để trước cửa rạp ghi tên vở hát là “Phấn Trang Lầu”. Vở nào cũng được, anh chẳng cần biết. Cứ mua vé vào xem nếu chán quá thì lững thững đi ra. Nhưng em ơi… vở Phấn Trang Lầu quá hay. Đó là một vở tuồng Tầu. Người đóng vai chính là Kim Hoàng. Thời ấy Kim Hoàng đang là một danh ca của Cải Lương Miền Nam. Nhưng chị không được gọi là “Cải Lương Chi Bảo” chỉ vì mấy anh nhà báo kịch trường thời chị chưa đặt ra cái danh từ ấy. Anh chẳng nhớ tên anh kép đóng chung với chị. Anh chỉ thấy là 90% gánh nặng diễn xuất của vở Phấn Trang Lầu đặt lên vai Kim Hoàng. Cô đào cải lương đang thời trẻ đẹp, cô hát hay mà diễn cũng thật mùi. Anh mải mê xem cho đến lúc thấy buổi tối đã về khuya, gần đến giờ vãn hát rồi mà sao cái gọi là “anh-tri-gơ”, tức là câu chuyện tình ly kỳ của Phấn Trang Lầu, vẫn còn rối tinh rối mù chưa thấy có dấu hiệu gì là sắp giải quyết êm đẹp theo kiểu Happy Ending.
    Anh bắt đầu nghi. Cho đến giờ tan hát anh mới biết: Vở Phấn Trang Lầu trình diễn hai đêm. Đêm nay là đêm thứ nhất. Đêm mai trình diễn nốt phần hai. Quí vị muốn biết kết cuộc ra sao xin mời tối mai trở lại…
    Ngày… tháng… năm… theo nhau qua…. Dòng thời gian trôi mãi… Những mùa nắng đến, da thịt em thơm mùi cam. Những mùa mưa tới, tóc em thơm mùi trầm hương. Xuân đến, môi em hồng như mầu dưa hấu. Hạ tới, môi em đượm mùi sầu riêng, trong hơi thở em có mùi soài cát… 54, 64 rồi 74… Mãi cho đến năm 1982, nghĩa là 28 năm sau đêm xem Kim Hoàng diễn Phấn Trang Lầu ở Cần Thơ, anh mới có dịp được ngồi chung bàn với Kim Hoàng và Như Mai ở Sài Gòn, một Sài Gòn đầy Việt Cộng. Cuộc gặp gỡ thật tình cờ. Anh nói với Kim Hoàng:
    – Tôi vẫn định nói với chị chuyện này, mãi cho đến hôm nay mới có dịp. Trong nhiều năm qua tôi có gặp chị nhiều lần ở Sài Gòn, có lần cùng ăn chung một tiệm ăn với chị ở Vũng Tầu, ở Đà Lạt, nhưng vì tôi không được quen chị nên không tiện nói. Năm 1953, tôi đang ở lính trong Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền của Phòng Năm Bộ Tổng Tham Mưu. Vì tôi ba gai nên tôi bị Thiếu Tá Trần Tử Oai đổi đi xuống mãi tận Sóc Trăng. Trên đường đi, tôi ghé lại thị xã Cần Thơ ở chơi một đêm. Tối đến buồn quá tôi vào rạp xem cải lương. Chị diễn vở Phấn Trang Lầu. Chị diễn hay quá, cốt truyện lại ly kỳ, hấp dẫn. Tôi xem mà mê luôn. Mà vở đó lại diễn hai đêm. Tôi xem đêm đầu. Tuồng hay mà chị diễn hay đến nỗi tôi phải ở lại Cần Thơ một ngày, một đêm nữa chỉ để coi chị diễn đêm thứ hai… Sẽ có ngày tôi viết lại những ngày ở lính của tôi, trong đó có chuyến đi của tôi xuống Sóc Trăng. Tôi sẽ viết chuyện tôi phải ở lại thêm một đêm nữa ở Cần Thơ chỉ để xem chị diễn Phấn Trang Lầu…
    Sự thật chăm phần chăm đó, em ơi… Em đa tình và em thông minh – quy luật của loài người là đàn bà càng đa tình chừng nào càng thông minh, càng sắc xảo chừng ấy – em dư biết lời nào anh nói thật và lời nào anh thêm mắm, thêm muối. Trên đường phiêu bạt từ Sài Gòn đầu năm 54 xuống Sóc Trăng, anh đã ở lại Cần Thơ một đêm, rồi ở lại Cần Thơ một đêm nữa chỉ để xem Kim Hoàng diễn Phấn Trang Lầu, để xem vở tuồng kết thúc ra sao. Nửa ngày thứ nhất của anh ở Cần Thơ năm ấy đã nặng nề rôi, nửa ngày thứ hai của anh ở Cần Thơ nó còn nặng nề hơn gấp bội. Không có gì bắt buộc anh phải ở lại Cần Thơ thêm một ngày, một đêm, anh tự ý ở lại. Nhưng ngày dài quá. Buổi sáng còn đỡ, đến trưa ngày thứ hai thì anh hết chịu đựng nổi nữa rồi. Nhưng năm ấy số hành khách đi lại thật ít. Muốn từ Cần Thơ sang Sóc Trăng thì buổi sáng trước 7 giờ khách phải đến bến xe. Mỗi ngày chỉ có nhiều lắm là 2 chuyến xe lô chở chừng hai mươi người khách từ Cần Thơ sang Sóc Trăng. Chừng 1 giờ trưa thì xe lô chở khách từ Sóc Trăng trở về Cần Thơ. Ai đi không kịp chuyến xe buổi sáng thì chỉ còn có thể làm được hai việc: ở lại chờ sáng mai hoặc là bao nguyên một chiếc xe lô để qua Sóc Trăng một mình. Không phải là thiếu xe chạy mà là không có khách.
    Anh ở lại Cần Thơ ngày thứ hai. Đến trưa thì anh muốn bỏ mặc cả Cần Thơ lẫn Kim Hoàng và Phấn Trang Lầu để một mình đi sang Sóc Trăng. Qua nơi xa lạ kia anh cũng cô đơn thôi, nhưng ít nhất qua đấy anh cũng vào sống trong một trại binh, có người nọ người kia, dù chỉ toàn là những người lạ, nhưng anh chắc rằng anh cũng không đến nỗi quá sức buồn chán như những giờ phút này ở Cần Thơ. Thời gian quả thật là một cái gì hết sức co rãn: khi ta thoải mái, sung sướng hay vui mừng, ta muốn cho thời gian qua thật chậm, nhưng ngược lại những lúc ấy thời gian lại qua thật mau. Khi ta mong cho thời gian qua mau, nó trôi rì rì như những tảng đá. Tới buổi trưa ngày thứ hai ở Cần Thơ, khi anh chịu hết nổi và muốn bỏ sang Sóc Trăng thì không còn được nữa rồi. Vì Cần Thơ không còn chuyến xe lô nào cho khách sang Sóc Trăng nữa.
    Và như thế là anh ở lại Cần Thơ thêm một ngày một đêm nữa để xem Kim Hoàng diễn Phấn Trang Lầu. Nhưng có thật là anh ở lại Cần Thơ thêm một ngày một đêm nặng chình chịch và dài dằng dặc nữa chỉ để xem Kim Hoàng diễn Phấn Trang Lầu mà thôi hay còn vì một nguyên nhân ly ky bí ẩn nào khác? Để anh tính em nghe: trong chuyến đi của anh từ Sài Gòn xuống Sóc Trăng năm 1954 có ba tình huống có thể xẩy ra:
    1- Nếu anh cứ ngồi trên chiếc xe MGM để đi thẳng một lèo từ Sài Gòn đến Sóc Trăng anh đã không gặp em.
    2-Nếu Phấn Trang Lầu chỉ là vở tuồng Tầu diễn trong một đêm thôi, anh đã không ở lại Cần Thơ thêm một ngày một đêm nữa, sáng hôm sau anh đã xách sac marin lên xe lô sang Sóc Trăng và anh đã không được gặp em.
    3- Vì vở Phấn Trang Lầu diễn tới hai đêm, vì Kim Hoàng diễn xuất hấp dẫn, vì tuồng tích gay cấn nên anh đã ở lại Cần Thơ thêm một ngày, một đêm, và vì vậy anh đã gặp em.
    Tình cờ, ngẫu nhiên hay có sự định trước? Một sự định trước mà chúng ta không hề ngờ biết? Bốn mươi năm sau ngày việc đó xẩy ra trong đời chúng ta, anh vẫn thường suy nghĩ về câu hỏi đó và anh vẫn không tìm được câu trả lời thỏa đáng.

    (Còn tiếp)

  12. The Following 3 Users Say Thank You to saomai For This Useful Post:

    khongquan2 (06-26-2019), KiwiTeTua (06-25-2019), Nguyen Huu Thien (06-25-2019)

Trang 1/2 12 cuốicuối

Similar Threads

  1. Tìm hiểu lịch sử cái chết của nhà ái quốc tạ thu thâu
    By phusinh in forum Diễn Đàn Bạn Đọc
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 05-20-2019, 08:28 PM
  2. Sống và chết
    By dnchau in forum Diễn Đàn Bạn Đọc
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 05-06-2019, 09:44 PM
  3. Lỡ Mai Anh Chết.(Karaoke)_Hai Hùng SG
    By Hai Hùng SG in forum Hát Cho Nhau Nghe
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 04-06-2019, 02:49 AM
  4. Cái chết của Người tù cải tạo
    By ducquany in forum Chuyện tù cải tạo
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 03-15-2019, 11:16 PM
  5. Niềm tin vào thể chế & Thế hệ thứ ba
    By Nguyen Huu Thien in forum Nhận Định Thời Cuộc
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 12-29-2018, 03:16 PM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter