Trang 1/2 12 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 8

Article: Truyện Ngắn Nguyễn Thừa Bình

  1. Tham gia
    Jul 2010
    Posts
    751
    Thanks: 26
    Thanked 1,230 Times in 386 Posts

    Jump to Comments

    Truyện Ngắn Nguyễn Thừa Bình

    7 Comments by Phòng Trực Published on 12-13-2012 06:42 PM
    Những truyện ngắn khác của NT Nguyễn Thừa Bình đã đăng trong HQPD:



    Vì thấy tinh thần phục vụ của anh em trong Hội Quán Phi Dũng có mục đích cao cả Quốc Gia như tâm lòng của mình, tôi Nguyễn Thừa Bình lần đầu tiên xin được làm quen và gởi một chuyện ngắn NGƯỜI BẠN 101 đến để quý anh em đọc lúc một ngụm trà, một điếu thuốc, một ngụm cà phê mà nhớ thời chinh chiến, tù đầy và lưu lạc.... NGƯỜI BẠN 101 là một Ðại Úy của Ðơn Vị 101 trong ngành Quân Báo của Quân Lực VNCH. Xin kính chúc toàn thể anh em trong HỘI QUÁN PHI DŨNG được nhiều sức khỏe, mạnh cách bằng tung mây, lướt gió. Mến, Nguyễn Thừa Bình.
    Người bạn 101

    “Chạy đâu cho khỏi nắng”, ông bà mình ngày xưa nói đúng quá. Ðúng hay không đúng với ai thì tôi không biết, nhưng đúng với tôi tới một trăm phần trăm. Tôi bỏ Gia Nghĩa của Quảng Ðức chạy qua Lâm Ðồng. Bỏ Lâm Ðồng, tôi chạy xuống Nha Trang. Tôi bỏ Nha Trang theo tàu thủy vào Sài Gòn. Tới Bến Bạch Ðằng, lên tàu nghĩ lại “không lẻ đi một mình”, tôi xuống tàu ỏ lại Việt Nam.

    (hình trái: Tu nghiệp ở Okinawa )
    Ngày 27 tháng 6 năm 1975 tôi xách hành trang tình nguyện đi “học tập cải tạo” ở Nam, ở Bắc thiếu gần 2 tháng là đủ 9 năm ròng rã. Ðoạn đường dài ở tù của Việt Cộng, bạn bè tôi có ở Biên Hòa, ở Yên Bái, ở Lào Cai, ở Vĩnh Phú, ở Thanh Hóa và ở Hàm Tân trước khi được thả về nhiều kể không hết. Nhưng có một người bạn khi nói về đời tù, khi nói về tình nghĩa anh em bầu bạn thì không bao giờ tôi không nhắc đến. Người bạn, chúng tôi biết nhau mà không thân nhau năm đó 1976 cùng tuổi 34 ở Trại 6, Liên Trại 1 Ðoàn 776 ở Xã Việt Cường, Huyện Trấn Yên Tỉnh Yên Bái. Anh ta, lúc bấy giờ vẫn còn là một thanh niên tuấn tú, hùng dũng, vui vẻ, rất dễ mến và đặc biệt là nụ cười thường nở toe toét trên hai mội dầy…Người bạn tôi đó Nguyễn Minh Chánh, Ðại Úy Ðơn Vị 101 mà tôi muốn nói tới với một tâm tình quý mến tri kỷ.

    (Hình phải: Núi đồi Huyện Trấn Yên Tỉnh Yên Bái)
    Chắc là tháng 8 năm 1976, Chánh từ Trại Long Giao, Long Khánh và tôi từ Suối Máu, Biên Hòa xuống Tàu Sông Hương dơ dáy, chật ních ở Tân Cảng Sài Gòn để chuyển trại ra Bắc. Ði tàu thủy, đi ghe, đi xe lửa, đi phà, đi Molotova, chúng tôi tới trại vào một sáng mù mờ sương mai. Những ngày đầu ở đây, rừng núi, đồi hoang, trời đất cô liêu, u tịch…chúng tôi thấy trần truồng nỗi đau tột cùng. Mới ngày đầu đã có ngưòi chết vì chặt cây làm nhà. Mấy ngày sau, hằng chục người bị cấp cứu vì “sốt vàng da”. Chặt giang, chặt nứa, chặt cây làm “láng” ở, đốt rừng, “bứng gốc”, cắm tiêu, đào hố chè, “sụt bùn”, “lên luống” và đêm nào như đêm nấy phê bình, kiểm điểm đến hụt hơi sống. Nơi đó, Nguyễn Minh Chánh cao, to, linh hoạt, vui vẻ, cười những nụ cười bâng quơ, ngạo nghễ đã nổi bật lên “trong đám xuân xanh ấy” như một người ai ai cũng muốn giao du, muốn kết thân làm bạn. Tôi ở khác Ðội với Chánh, nhưng khuôn viên Trại 6 đã không lớn là bao mà còn bị mấy nhóc Bộ Ðội nhắc tới nhắc lui “ê anh kia đi đâu ra xa” nên chúng tôi gặp nhau thường nhưng chưa thân quen và chẳng chuyện trò, nhưng dĩ nhiên là biết nhau. Chánh đào hố chè là những rãnh sâu 6 tấc rộng 6 tấc và dài thì nhiều chục mét chạy quanh trôn ốc từ chân đồi lên đến đỉnh một cách mau lẹ nhưng không bao giờ chịu “vượt chỉ tiêu”, không bao giờ muốn hơn anh em bạn tù với mình để được là “người tốt, việc tốt”. Rồi tôi với Chánh lại cùng vô Trại 9 dưới Dốc Cây Ða mà ở trên có Trại 12 và trong kia có Trại 13, Trại 14 và xa xa là Hang Dơi, Núi Nả. Chúng tôi vẫn ở hai Ðội khác nhau, hằng ngày hoặc bị tụi Bộ Ðội lùa về trại cũ đào hố chè, phát hoang, đốt rừng, cuốc lỗ trồng “sắn” hoặc “tự giác” đi chặt giang, chặt nứa, chặt cây làm cột nhà cho Cốc. Cốc là Trại Trung Ương Sô 1 của Ðoàn 776 giam giữ Tướng, Tá của “Tù Học Tập Cải Tạo”. Làm cách nào làm, tới Trại chúng tôi mà quăng bó nứa, bó giang hay cây to làm cột nhà xuống đất thì trăm lần như một lại thấy người bạn của tôi đó đã thong dong ngồi hút hết một, hai điếu thuốc rồi. Chánh đã mạnh lại lanh và mưu lược nên bỏ lại đằng sau chúng tôi là đương nhiên. Khoảng một năm sau ngày ra Bắc, chúng tôi lại bị mấy nhóc con“Bộ Ðội Bác Hồ” lùa vào xe Molotova rồi tống vô xe lửa và bắt đi bộ lên Cổng Trời của Rặng Fansipan qua bên kia miền ngược Xã Dương Quỳ của Huyện Văn Bàn là “cõi chết nghìn trùng”. Láng trại ở đây là chuồng trâu, chuồng bò của Hợp Tác Xã Người Tầy để lại. Nơi đây, cái chết treo lủng lẳng trên đầu từng giờ vì con người dã man với con người đã đành mà trời đất còn làm ra rừng thiêng nước độc trùng trùng oan khiên hành hạ những người tù rồi đây sinh Nam tử Bắc!? Chánh đã to con lớn xác mà lao động thì vô cùng đời tù. Cơm thường lưng một “Chén Tàu” có khi là bo bo, có khi là bắp hầm, có khi là “sắn duôi” hay 2, 3 khúc khoai mì cụt ngủn hoặc một “bánh xe lảng tử” cỡ nắm tay…thì làm sao chịu nổi. Và không phải chỉ Chánh mà hết thảy những người tù từ Xuôi đưa lên Ngược nầy đều đói như sống chờ chết. Ngồi bên ăn với nhau, cái gì của trại phát thì “lủm một cái” là hết, Chánh có thêm một nón sắt “rau tập tàng” và tôi cũng “hổ lốn” ba thứ tàu bay, cải trời. Ăn tầm bậy mà không chết tầm bạ cũng may! “Có ai nghĩ ngày nào như hôm nay mình ra nông nỗi nầy”, ngậm ngùi, chúng tôi thường nói với nhau có khi ứa những giọi nước mắt sống! Ở đâu, các trại tù Việt Cộng, người tù cũng chun vô rừng giống nhau.

    Ở Văn Bàn, người tù hằng ngày cứ phải băng rừng, lội suối với Người Mèo, Người Mán mà chặt và khiêng về những cây vầu dài 10 mét trở lên và gốc to cả 2 gang tay người ta vòng lại và chung đụng với muỗi rừng, vắt đói, ruồi vàng, rắn độc… hăm he hút cho hết chút máu ít ỏi không còn bao nhiêu trong thân người xơ xác của mình. Khoảng giữa năm 1978, chúng tôi lại bị lùa lên lần nữa Cổng Trời cao 2000 mét trên ngọn Fansipan cao nhất Nước Việt Nam để qua Phà Âu Lâu cũ kỹ trên Sông Hồng mà về lại Liên Trại 1 Yên Bái như hồi trong Nam mới ra. Bây giờ, tôi với Chánh cùng ở chung một Ðội Nông Nghiệp và hai đứa ăn uống chung cùng với nhau những lúc “lao động là vinh quang” trong rừng hay trong lòng Trại 1 ở Cốc và bấy giờ, tình thân đã như thủ túc. Dù ít nói về mình, nhưng có nhiều năm gần gũi ngọt bùi, chúng tôi cũng biết nhau ít nhiều. Thân sinh của Chánh, Trung Úy Nhảy Dù mất năm 1954, thời Cao Văn Viên, Phan Trọng Chinh đóng lon Ðại Úy cùng binh chủng. Thân mẫu côi cút, một mẹ nuôi sáu trai, một gái đều lớn khôn và không đến nổi nào với người ta. Chắc như vậy nên nói tới mẹ, Chánh bao giờ cũng tỏ ra đứa con có hiếu, kính trọng, tôn thờ và nhiều khi rưng rưng nước mắt. Ai nói người lính không có nước mắt, không có tấm lòng?

    (Chánh với con rể)
    Là học sinh Trường Trung Học Pétrus Ký, đậu Tú Tài 2, không lên Ðại Học vì “ bầy em và mẹ già” hay vì “con ông không giống lông cũng giống cánh”? Chắc cả hai, Chánh vào Khóa 17 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức năm 1963, vừa tròn 21 tuổi. Các em của Chánh, một Ðại Úy Nhảy Dù, một Trung Sĩ Sư Ðoàn 23, một Trung Sĩ Thủy Quân Lục Chiến… cũng là giòng máu quân đội, lấy chiến trường làm thế sự, lấy anh em làm chiến hữu sống chết chí tình. Thật vậy, sống từ Văn Bàn thời Quân Quản đến Trại Trung Ương Số 1 Lào Cai và Tân Lập Vĩnh Phú thời Công An, chúng tôi đã chia nhau chỗ nằm, san sẻ cho nhau miếng đường, hột muối…đời “tứ hải giai huynh đệ”. Và những lúc tưởng như sắp chết, luôn luôn chúng tôi cứ một lòng giữ lấy lời “chúng ta còn đấng sinh thành, còn vợ, còn con, còn liêm sỉ của kẻ sĩ và dũng khí của một Sĩ Quan Việt Nam Cộng Hòa thì không bao giờ và mãi mãi không bao giờ để mất danh dự và ô uế thanh danh”. Giữ được như vậy trong Trại Tù Cộng Sản chết vì miếng ăn, chết vì lời nói và chết vì việc làm thì không phải dễ chút nào. Và chúng tôi đã giữ được lòng, với tôi gần 9 năm và Chánh 15 năm rưỡi đời tù “học tập cải tạo”. Ra trường năm 1964, Chuẩn Úy Chánh về Biệt Ðoàn 300 là đơn vị Tình Báo Chiến Trường mà Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tá Hồ Văn Kiệt lúc bấy giờ. Chánh tu nghiệp Khóa Tình Báo Sưu Tập 2 tháng tại Trường FOI USARPACINTS ở Okinawa, Nhật Bổn. FOI là chữ tắt của Field Operation Intelligence có nghĩa Tình Báo Sưu Tập Tin Tức Chiến Trường và USARPACINTS cũng là chữ tắt của United States Army Pacific Intelligence School là Trường Tình Báo Thái Bình Dương của Quân Ðội Hoa Kỳ. Chánh nhớ một ít kể lại; tôi nhớ một ít viết lại có thể không đủ, không nhiều chính xác. Và anh ta không khỏi ngậm ngùi nói với tôi hoài: “Ngành Tình Báo, như ông bạn cũng Ngành Tình Báo, dư biết chúng ta chiến đấu âm thầm mà chết cũng âm thầm; ai biết ai là bạn; ai biết ai thành bại mà chia chác vinh nhục”!? Biệt Ðoàn 300, hơn một năm sau đổi tên là Liên Ðoàn Yểm Trợ 924 và từ năm 1968 đổi ra là Ðơn Vị 101 cho tới 30 tháng 4 năm 1975 dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Lê Ðình Luân. Và Chánh từ Chuẩn Úy đến Ðại Úy cứ ở lì một chỗ và cứ Sĩ Quan Liên Lạc dù tên có đổi, chỗ có dời để cuối đời binh nghiệp thì dưới quyền của Trung Tá Lục Khương Ninh, Chỉ Huy Trưởng Ðoàn 69 Biệt Khu Thủ Ðô. Người ta, các khóa đàn em xa vời vợi sau nầy cũng là Ðại Úy, là Thiếu Tá, thậm chí có người như vì sao xẹt vụt lên Trung tá rồi nhưng “mầy sao khoái Ðại Úy Muôn Năm vậy Chánh”? Tôi có khi hỏi đùa với Chánh trong những ngày giờ hai đứa đói nhăn răng và lăn lóc nỗi đau đời mạt rệp trong tù.

    Nói vậy chớ, ở thành phố nhỏ Kansas City của tôi cũng có những ông Khóa 16, cả Khóa 13 nữa, cứ nằm lì cái lon Ðại Úy thì tại làm sao bây giờ? Chơi với nhau, tôi cũng hiểu một phần lý do tại làm sao. Tại Người Bạn 101 của tôi làm thì làm cũng dữ mà chơi thì chơi cũng dữ nhưng không dữ thói chạy chọt, bon chen, cầu cạnh và sẳn dàng “xẵng” với xếp. Ðơn giản và hết sức đơn giản là vậy mà không dễ mau lên lon. Có điều tôi đoan chắc, Chánh rất được lòng bạn bè vì tánh tình hết sức vui vẻ, cởi mở, trong sáng và tấm lòng tâm giao, tri kỷ. Với tôi và với những người bạn tù Yên Bái, Lào Cai, Vĩnh Phú… đã đi qua với Chánh, đã thấy như vậy đó tận mắt, tận tai. Có một điều, có lẻ cũng là một điều cốt cách cho người hoạt động tình báo là Chánh rất cần cù, thông minh, kiên định, can đảm. Trong tù, thỉnh thoảng có anh em nào lỡ lời nói tốt, có thể là vô tình một tên cán bộ nào đó thì một trăm phần trăm Nguyễn Minh Chánh sẽ nặng lời mắng mỏ, sỉ vã và nếu cần “tao cho một đá bây giờ”. Thấy những người anh em được Trại cho làm Ban Trật Tự hay làm Ðội Trưởng quá sức hắc ám, hung hãn, Chánh tức lắm “để tao làm”. Nói thì nói vậy, “đâu dễ mậy”, tôi nói với Chánh. Sau khi tu nghiệp ở FOI USARPACINTS về, Chánh kết hôn với người bạn gái, nữ sinh Trường Trung Học Tư Thục Nguyễn Bá Tòng, nhà gần với nhau trên Ðường Hồng Bàng Chợ Lớn vào năm 1965. Hai người lấy nhau được một trai, hai gái thì Chánh để ba con lại cho vợ nuôi không có một chút vốn liếng đồng tiền mà rảnh cẳng thênh thang con đường tù tội như nói ở trên lâu đến 15 năm rưỡi. Và tôi cũng không khác gì. Tôi đi, vợ mới 21 tuổi với ba con mà nhỏ nhất chưa tới một tuổi, tiền không có, nhà không có. Vợ con, nay “tạm trú” bên nhà chồng ở Phan Thiết, mai “tạm trú” với nhà mẹ ruột ở Sài Gòn. Một sự đổi đời thê lương, thê thảm…Chúng tôi biết vậy, dẫu có gì trong tù cũng không bao giờ hé môi một lời yêu cầu “thăm nuôi”, “quà cáp”. Chánh cứ nhắc hoài, “mình khổ một, vợ khổ cả trăm, cả ngàn”. “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, tôi bắt chước lời nói trong Truyện Xuân Tóc Ðỏ của Vũ Trong Phụng nói lại với Chánh mà trong lòng không khỏi xót xa. Chị Chánh, quả là một người đàn bà Việt Nam thuần túy, đích thực cao thượng theo truyền thống dân tộc. Với bàn tay trắng và bụi phong trần chưa quen gió cát, chị tảo tần nuôi con lớn khôn theo từng ngày và ngồi đếm thời gian tháng năm chồng đi, đi mãi không thấy về. Nghe Băng Tâm ca Bài Ca Cái Cò của Nguyệt Ánh “thương em dạ sắt lòng son, một thân đơn chiếc nuôi con, thăm chồng” mà nhớ lại cảnh người vợ của ông bạn tôi hồi đó sao mà truân chuyên quá sức.

    Cuối năm 1977, chúng tôi lại qua Sông Hồng lần thứ tư để “chuyển trại” lên núi rừng Vùng Việt Bắc tới Trại Trung Ương Số Lào Cai kế bênTrung Quốc. Ði đâu đi, chúng tôi bao giờ cũng bị “biên chế” vào những Ðội trời ơi đất hỡi. Hai đứa vào Ðội Gạch đạp đất, đóng gạch, đốt gạch, chất gạch “hộc gạch” luôn. Bấy giờ đã vào Mùa Ðông lạnh tím người, bụng luôn luôn trống trơn và công việc thì nặng như trời như đất. Cái chết mong manh hơn chỉ mành treo chuông. “Trời kêu ai nấy dạ” biết sao bây giờ! Một hôm, Chánh đưa tôi một khúc rễ cây mới đào lên và nói: “ăn cho đỡ đói”. “Ăn cho đỡ đói”, hai đứa cứ đào, cứ ăn và cây đã ngã đùng ra chết một cách tức tưởi, oan khiên. Ðời tù rồi cũng sẽ ra đi một cách âm thầm, cô quạnh nơi một góc rừng núi thăm thẳm âm u nào đó có ai biết là ở đâu. Bạn tôi, Người Bạn Ðơn Vị 101 nụ cười hình như đã mõi mòn; sức lực như bị trút dần theo bước chân tù và thân người chắc chắn ngày một nhỏ con lại mà Chánh Mập như tên gọi từ xa thật là xa vọng lại mới chợt nhớ ra là tên mình. Mỗi lần Giới, tên Cán Bộ Công An ngọng ngọng nghịu nghịu nói “học tập tốt, sớm về với gia đình” là y như rằng, Chánh cứ văng tục ra mà nhái theo giọng của cụ Trần Văn Hương lời nói của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu “đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”. Ở đây, lại thêm một cái Tết Mậu Ngọ 1978 mênh mông nỗi buồn nữa đi qua và lãng đãng cái chết không rời. Rồi tin Tàu sẽ đánh, dù cận kề Tết Kỷ Mùi 1979, chúng lại chuyển tù chúng tôi từ Lào Cai về K5 Tân Lập Vĩnh Phú. Ăn Tết chưa tới một tháng thì ngày 17 tháng 2 tụi Tàu đánh vào 6 tỉnh Miền Bắc Việt Nam thiệt. Trưởng Trại, tên Thiếu Tá Nguyễn Thùy, loại ngụy quân tử thường rêu rao “Lao động là vinh quang”, Chánh thường đáp lại “vinh quang cái đầu Bác mầy chớ vinh quang”. Ở đây, những người anh em tù của mình tên Bình, Hùng, Uyễn làm Ban Trật Tự với một tên tù hình sự Bích làm trưởng ban đã gây kinh hoàng, khíp vía biết mấy. Ma le, Chánh đóng kịch làm người bệnh hay hơn tài tử điện ảnh Hollywood và những tên tuổi gạo cội Broadway của Mỹ nên, ai đi đâu thì đi, Chánh cứ ngủ, cứ nghỉ và cứ nói: “ngu sao đi làm”. Vài tháng sau, ông ta làm thầy, dạy tôi đóng kịch, đóng vai người bệnh. Và tôi cũng được ở nhà với lý do đủ thứ bệnh. Ðội Nông Nghiệp, từ anh bạn Trần Trọng Thuyên Ðội Trưởng đến bác Cát Hội Ðồng Tỉnh Gò Công, ông Biện Lý Trần Huỳnh Mai ở Gia Ðịnh…ai mà không biết hai thằng trời đánh nầy “trây lười lao động chớ bệnh hoạn gì, bệnh giả đò thì có”. Ngặt một cái, hai thằng thiên lôi ngang ngược “đụng tới tụi nó chi cho rắc rối”.

    (hình: Vợ chồng trong tiệm phở của mình ở Houston).
    Vậy mà, Chánh được nghỉ ngơi cả 9 tháng trời và tôi cũng ăn ké được 6 tháng ở nhà đi vô đi ra không phải lao động lao điếc gì cả. Có điều, cái bọn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay bấy giờ là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tính toán và hành hạ người tù rất là chi li. Chúng cho chúng tôi ăn theo “chế độ” 13 kí lô rưỡi lương thực một tháng. Nếu ăn cháo thì được 2 chén cháo lỏng le một ngày. Nếu ăn khoai mì thì được một khúc rưỡi ngắn và nhỏ cho một bửa ăn. Chánh cứ nói: “ráng chịu đói mà sống còn hơn ăn không no mà lao động khổ sai là chết sớm”. Nhiều khi trên Trạm Xá, Ðại Úy Hiệp, một Sĩ Quan Quân Y Việt Nam Cộng Hòa cũng là Tù Học Tập Cải Tạo cho thuốc uống hay bắt chích thuốc, tôi ngại ngại, nhưng Chánh thì “không trị bệnh nầy cũng trị bệnh kia; không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, làm gì mà sợ”. Ở khoảng một năm, qua Tết Canh Thân năm 1980, chúng lại lùa chúng tôi lê lết qua Trại K1 cũng trong hệ thống Trại Tân Lập Vĩnh Phú. Tôi với Chánh trong một đội, Ðội Chè với các đàn anh hết thảy là Trung Tá. Trung Tá Thiện không nhớ họ làm Ðội Trưởng. Ngày ngày gánh nước tưới “chè” mới biết “nước sông công tù”. Một bạn tù đàn anh mệt thì mệt mà cứ “công đâu công uổng công thừa; công đâu gánh nưóc tuới dừa Tam Quan!”. Ðêm ngủ mấy chục người trong một cellule nhỏ chút xíu không đủ không khí mà thở và rệp thì bò khắp châu thân tìm ăn. Tôi với Chánh phải ngủ cùng trong một cái mùng nylon cá nhân của thời Việt Nam Cộng Hòa. Cũng vì sự thân thiện quá đáng của giòng họ ba đời rệp đói cứ tìm mình lân la mà đêm ngủ phải cột kín mít toàn thân con người lại như thây ma. Ngán thiệt đời tù Cộng Sản, ăn cũng khổ, làm cũng khổ mà ngủ cũng khổ. Tháng 12 năm 1980 chúng tôi không còn ở tù chung với nhau nữa nhưng vẫn hứa với nhau là anh em kết nghĩa không thằng nào làm anh và không thằng nào làm em, mầy tao mà thôi. Chánh ở lại và tôi vào Thanh Phong rồi Thanh Lâm thuộc Huyện Như Xuân của Tỉnh Thanh Hóa. Ðời tù, thằng nào thằng nấy lo.
    Vào cuối tháng 4 năm 1982, tôi lại “chuyển trại” về Z.30C Hàm Tân thuộc Tỉnh Thuận Hải. Dù có xa nhau nhưng tôi vẫn ngóng tin về người bạn của tôi, người bạn có vui có buồn, có đói có khổ, có sống có chết với nhau nhiều năm dãi dầu, oan nghiệt. Nghe bên kia ngọn đồi nhỏ có Z.30D cũng giam tù ngoài Bắc chuyển vào, tôi lò dò đi tìm. Nhưng được một đoạn trong rừng thì bị mấy ông bạn tù kéo về, “bộ mầy muốn trốn trại?” và mấy Công An “ê, anh kia đi đâu, đi lui?” Ngày 7 tháng 5 năm 1984 tôi ra tù dù Giấy Ra Trại ký ngày 23 tháng 4 năm 1984, tôi mới biết đích xác rằng Chánh còn trong tù ở Trại Z.30D Hàm Tân. Chị Chánh có khốn khổ bao nhiêu cũng ráng “thăm nuôi” chồng thường xuyên. Có như vậy, Chánh Mập mới hoàn hình Chánh Mập. Không như ngoài Bắc là “con bà sơ”, “tao phải ăn thịt tao” để Chánh bị đổi danh là Chánh Ròm. “Tao phải ăn thịt tao” lấy từ câu nói của anh bạn tù tên Dũng, Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến đanh đá trả lời với nhóc con Cán Bộ Dẫn Giải hăm he “bắn bỏ”. Rằng: “tao phải ăn thịt tao vì trước khi vào tù, tao 152 kí lô mà bây giờ cân đong đo đếm, tao không quá 35 kí lô”. Một ngày Mùa Thu năm 1985 tôi theo chị Quyền, người vợ thủy chung của Chánh vào Z.30D thăm Chánh đang còn ở tù. Anh em gặp nhau, vui cũng có vui mà buồn thì thiệt nhiều. Chánh vẫn nụ cười toe toét miệng, rổn rảng, sảng khoái, tôi thấy trong đó hình như không dấu hết được mênh mông nỗi buồn thúi ruột! Một đêm ngủ lại với bạn, anh em không khỏi không có những giọt nước mắt. Cuối năm 1990 tính ra cũng tròn 15 năm rưỡi ở Tù Học Tập Cải Tạo, Chánh mới về với gia đình…Thân mẫu không còn ưu phiền, sợ thằng con không biết nó sẽ bỏ xác nơi đâu. Vợ và con bây giờ một nhà đoàn tụ, hạnh phúc hiện tại và lo liệu tương lai. Những bạn tôi “Ngụy Quân Ngụy Quyền” đi tù về có việc gì mà làm? Làm nghề đạp xích lô, nghề bốc xếp, nghề bán giấy số…cũng không dễ mà làm. Tôi bày ra cơ sở làm nhang bỏ mối và cho vợ ngồi ở sạp trong Chợ Phan Thiết bán. Chánh lúc tù mới ra phụ thợ hồ kiếm chút cháo cơm khắp nơi và cho có công ăn việc mà tránh những con mắt cú Cộng An “một năm quản chế”. Là một người linh hoạt, vài tháng sau Chánh dụ vợ mở quán Bún Bò Huế nhỏ nhỏ. Tôi không biết ổng bả Người Nam chính gốc làm sao mà nấu cho được tô Bún Bò Huế rất Huế mà bán buôn với người ta nhỉ? Ổng cứ chỉ vào cái đầu tóc tai bù xù như người nghệ sĩ dính bụi giang hồ tứ chiếng và chỉ vào cái bụng đã bắt đầu có da có thịt mà nói: “cũng vì cái trí nghĩ ra và cái bụng đói phải bò”. Chúng tôi hai gia đình dù Phan Thiết với Sài Gòn nhưng thường gặp nhau nói chuyện đời nay, nói chuyện đời xưa. Chuyện đời xưa hai đứa kết nghĩa anh em, đòi con cháu “cho tụi nó lấy nhau”. “Ngôn dị hành nan”, người xưa nói đúng. Lấy nhau con khỉ khô. Tụi nó bây giờ lấy ai là tùy ý tụi nó. Mình làm cha mẹ “con đặt đâu, ngồi đó”, làm sao nói “cho tụi nó lấy nhau” được? Giữa tháng 11 năm 1992, hai vợ chồng tôi và 5 đứa con theo HO 14 qua Mỹ, định cư ở Thành Phố Kansas City cho đến nay cũng đã 20 năm thêm gần 1 tháng. Chánh qua Mỹ khoảng tháng 7 năm 1993 tức sau tôi chừng 8 tháng. Ban đầu bồng bế nhau định ở lâu nơi Tiểu Bang Washington giàu, đẹp. Sau “cũng vì cái trí nghĩ ra và cái bụng đói phải bò”, hai vợ chồng bỏ mấy đứa con đã lập gia đình ở lại, nắm tay nhau về xứ nóng chang chang Houston mở tiệm Phở sống đời ông bà chủ buôn bán “lấy công làm lời”. Tôi cũng chẳng lạ lùng gì cái tài xoay sở của ông bạn già của tôi khi hai đứa ở tù với nhau ngoài Bắc hồi đó. Ngày xưa trong Ðơn Vị 101, ổng đã nhờ khéo léo, mưu chước và kiên trì mà nhiều năm làm việc với những công việc kín, hở tưởng như không hoàn thành mà hoàn thành một cách xuất sắc, tốt đẹp là khác. Tiệm Phở không lấy tên những tên nổi tiếng như Phở Hòa, Phở Pasteur, Phở Tàu Bay…mà chỉ là The Vietnamse Noodle như thể không có tên gì cả. “Cũng có đồng vô đồng ra với người ta, không giàu nhưng khắc khoải được”, Chánh thường nói như vậy. Nhưng tôi nghĩ, có làm ăn phát đạt tới cỡ nào, trước sau gì vợ chồng Chánh cũng sẽ về lại Washington, nơi có đầy đủ một đứa con trai, hai đứa con gái và bây giờ thêm mấy đứa cháu ngoại. Ông Chánh, Bà Quyền sao mà đi xa, đi biền biệt không về cho được, không về cho đành.

    Và không sai chút nào, ông bà đã về lại Lynnwood, Tiểu bang Washington mà yên bề tuổi già bên con bên cháu những ngày cuối đời thong dong, hạnh phúc. Nhìn lại những tấm hình Chánh mới gởi cho, thấy người bạn mình già đi nhiều nhưng nét cười vẫn lạc quan tươi trẻ đọng trên đôi môi dầy như thuở nào ba, bốn chục năm qua. Già, dĩ nhiên mình còn trẻ gì đâu. Hai đứa cuộc đời đang mon men bước qua cái tuổi “thất thập cổ lai hi” một tuổi thêm rồi còn gì!
    Gần 9 năm trong đời “Tù Học Tập Cải Tạo” ở Biên Hòa, ở Yên Bái, ở Lào Cai, ở Vĩnh Phú; ở Thanh Hóa và ở Thuận Hải thiếu ăn thì có, thiếu mặc thì có nhưng không thiếu bạn bè tù. Bạn bè tù không giống bạn bè thời học sinh cắp sách đi học là đồng song, đồng môn; không giống bạn bè cùng xông ra trận sống chết với kẻ thù hồi nào Quốc-Cộng là chiến hữu, là đồng đội. Bạn bè thời học sinh cắp sách đi học không thấy bao nhiêu tinh thần bất khuất với khuất phục kẻ thù là Việt Cộng. Bạn bè cùng xông ra trận sống chết với kẻ thù ai ai cũng thấy một lòng với Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm. Nhưng bạn bè tù có lẻ bắt chước và làm theo câu nói học thuộc lòng ngày xưa học Pháp Văn, rằng “À Rome, fais comme les Romes” mà ông bà ta thuờng dạy “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” nên hãy coi chừng những bạn bè của ta “nói dzậy mà không phải dzậy” mình chết như chơi. Con người khi vào ngõ cụt dễ suy bì hơn thiệt và chỉ làm những gì có lợi cho mình mà thôi, bất kể là ai và ra sao thì ra. Cho nên trong tù, người ta quen biết nhau đông thiệt là đông hằng trăm, hằng ngàn nhưng bạn bè nhất là bạn bè tri kỷ thì hiếm hoi đếm trên đầu ngón tay. Không phải vì “Ami de plusieurs, ami de nul” như năm 1967, ông bạn Huỳnh Hồng Quang, Biên Tập Viên Khóa 2 Học Viện Cảnh Sát Quốv Gia của tôi thường nói “bạn bè nhiều quá thì không có bạn bè nào”. Tôi có người bạn Huỳnh Ngọc Thuận, Ðại Ðội Trưởng Cảnh Sát Dã Chiến giữ Ðài Truyền Hình trên Ðường Hồng Thập Tự “vì đói quá chịu không nổi” đã vắt hết sức lực mình ra để đổi lấy phần ăn 23 kí lô một tháng. Tôi có người bạn đồng hương, Ðại Úy Trần Ngọc Nhã, Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu đói thì đói cũng ráng nhịn đến chết đi được, lấy phần ăn đổi áo, đổi quần “để khi về có mà mặc với người ta”. Nhưng với Chánh, người xưa nói “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” thì không trật môt chút nào. Chúng tôi trong tù, phản ứng trước nghịch cảnh, hai đứa gần như giống nhau hoàn toàn. Gần như giống nhau hoàn toàn có lẻ xuất phát tự đáy lòng lương thiện và tâm hồn sáng như trăng sao vằng vặc không cần phải khoe ra mà ai cũng đã thấy rồi. “Người ta có thể ghét mình vì bản tính nhưng không khinh mình vì bản chất”, hai đứa cứ nhắc nhở nhau mà giữ gìn. Và giữ gìn cho đến hôm nay, bạn bè ghét thì có nhưng chắc chắn bạn bè không có ai khinh. Và chúng tôi, tôi với Nguyễn Minh Chánh tình anh em bạn tri kỷ vẫn không bao giờ biến dạng, thay đổi, suy suyển…

    NGUYỄN THỪA BÌNH
    Cuối Thu Nhâm Thìn, Năm 2012


  2. The Following 8 Users Say Thank You to Phòng Trực For This Useful Post:

    chimtroi (12-13-2012),hieunguyen11 (12-27-2012),khongquan2 (12-13-2012),Nguyen Huu Thien (06-26-2017),nguyenphuong (12-24-2012),T.S.G (12-15-2012),Tinh Hoai Huong (06-08-2017),vinhtruong (12-13-2012)

  3. Total Comments 7

    Comments

  4. #2
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,214
    Thanks: 301
    Thanked 1,282 Times in 416 Posts

    Default Non Nước... Nước Non - Nguyễn Thừa Bình


  5. The Following 3 Users Say Thank You to chimtroi For This Useful Post:

    hieunguyen11 (12-27-2012),khongquan2 (12-27-2012),Nguyen Huu Thien (06-26-2017)

  6. #3
    Thuabinh's Avatar
    Status : Thuabinh v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2012
    Posts: 1
    Thanks: 0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Hồi ký

    CHẬP CHÙNG TỦI NHỤC


    Từ ngày, cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rải xác chết từ Bắc vào Nam, đem khoe cái tiền tích u ám ngất trời hồn ma bóng quế của cái thời Cải Cách Ruộng Ðất, của cái thời Quỳnh Lưu, Nhân Văn- Giai Phẩm… của cái thuyết vô nhân không tưởng Chủ Nghĩa Marxist-Leninist dã man, trí trá, nghèo xác nghèo xơ gọi là “Giải Phóng?”. Giải phóng, ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng là ngày người dân Nước Việt Nam Cộng Hòa từ Vĩ Tuyến 17 Quảng Trị vào tận Cà Mau, Côn Sơn, Phú Quốc bị “đổi đời” một cách kỳ quái. Người người hoảng loạn, tứ tán. Ðời sống văn minh lùi về lạc hậu. Cuộc sống an cư lạc nghiệp hóa ra chết chóc, đói khát, tan nát. Người người đứt cả ruột gan! Ðất trời tang thương! Ngày 30 tháng 4 năm 1975 mới là Ngày Giải Phóng cho những kẻ cầm quyền đến ngu dân Miền Bắc khố rách áo ôm, sống đời “đốt đuốc soi rừng” mở mắt mọi rợ choáng ngộp trước ánh sáng phồn hoa thị thành tự do, hạnh phúc… của người Miền Nam. Lòng tham lam của họ được giải phóng ra, đi cướp cạn vàng bạc, tiền của, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, vợ con người ta…

    Cuộc chiến đã đi qua rồi. Kẻ tiếm xưng người chiến thắng một cách vô ý thức đắc chí, hoang tưởng trở nên kiêu binh, đôc tài, đôc địa. Người bắt bị thua trận buộc phải “quăng súng” bỏ cuộc, tức tưởi, uất hận biết bao giờ nguôi! Rõ ràng ràng, ai thắng ai? Người Miền Nam đòi “Bắc Tiến”, ai cho “tiến Bắc” để thống nhất sơn hà? Cuối cùng, “Người Miền Nam đòi Bắc Tiến” kia bị giết chết đi để dâng không cho bọn đầu trâu mặt ngựa Bắc Bộ Phủ!? “Bộ Ðội” của cái tên quỷ quái Hồ Chí Minh thắng ai qua hai mươi mốt năm đánh nhau, ngoài phơi xác chết “sinh Bắc tử Nam”? Cả một nước Tàu vĩ đại; cả một đế quốc Liên Sô siêu cường; cả một hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa rộng lớn cực đoan cùng toa rập với nhau, tuồn vũ khí giết người đủ loại cho cầm và mớm thức ăn tanh tưởi cho ăn mà ra lệnh cho Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp và bè lũ mang huyết thống di truyền nô lệ của giòng họ mình ra hết lòng bành trướng cho được cái chủ thuyết Cộng Sản vô thần. Chúng nó xúm lại đánh một mình Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé, cô độc, nghèo khó mà còn bị cột tay cột chân đủ bề. Kêu Trời, Trời cũng bó tay. Kêu Phật, Phật cũng bó tay. Kêu Chúa, Chúa cũng bó tay. Nói gì, kêu Người Miền Nam Việt Nam dù kiên cường, dù anh dũng đến chừng nào đi nữa cũng đành mất nước là đương nhiên. Chê trách ai!? Có ông thần nào, có ông thánh nào trên trời rơi xuống, dưới đất chun lên hô phong hoán vũ mà cứu được!? Ai cứ ra rả “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Vong quốc chi đại phu, bất khả ngôn trí” trong trường hợp nầy là những kẻ không biết gì, thiếu công bằng, không có nhận xét, thô lậu nếu không muốn nói rằng u mê, ngu muội!? Bây giờ, bọn Cộng Sản Việt Nam ở trong nước mới đáng chỉ vào mặt mà chi “đồ quân bán nước”. Ai đời quê hương mình đó mà đem bán đi. Ðất nước mình đó để người ta chiếm dần chiếm mòn. Dân mình yêu nước thì cấm, thì bắt bỏ tù, thì đánh đập! Cái nầy mới đáng Trời “tru di cửu tộc” chứ không phải “tam tộc” bọn chúng mới thỏa ý tiền nhân. Thời kỳ chiến tranh, “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” chỉ là mánh khóe, thủ đoạn họ tuyên truyền không vì tổ quốc, giang sơn Việt Nam mà vì lợi ích cho đàn anh Nga, Tàu mà họ tình nguyện làm tôi mọi, bưng bô cho những “đồng chí vĩ đại” Stalin, Malenkov, Khrushchev, Brezhnev hay Mao Trạch Ðông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu… toàn là thứ Hồng Vệ Binh Tàu, Ðế Quốc Ma Quỷ “Evil Empire” Nga.

    Sau 30 tháng 4 năm 1975, dân, cán bộ, đảng viên ngoài Bắc ùn ùn chạy vào Nam hôi của. Ðời họ từ sau 1954 cái gì cũng không có. Ðời sống quá nghèo đói, nên lòng tham của họ thì vô cùng, đáng sợ. Năm 1976, tôi bị đầy biệt xứ ra ngoài Yên Bái, thấy tận mắt một đất nước sao mà lạc hậu, khốn cùng đến thế! Người người không đủ cái ăn, thiếu thốn cái mặc. Họ cứ đổ thừa rằng “tại chiến tranh”. Vậy thì, từ Sông Bến Hải vào Côn Sơn, Phú Quốc không phải “tại chiến tranh” và “trong lòng chiến tranh” hay sao mà đời sống người ta trong Nam phú quý, sang giàu biết chừng nào? Họ là những con thú hoang đói ăn vào được trong Nam rồi coi như đời được giải phóng, bất cứ thứ gì cũng quý báu vô cùng đối với họ là những con người sống đời tăm tối dưới chế độ bần cùng. Họ hiếp đáp người Miền Nam không còn bút mực nào tả cho hết nỗi đoạn trường! Chị Chín gần nhà “nhất định không ra khỏi nhà, các ông có bắn chết thì tôi chết trong nhà tôi”, chị trả lời một cách dứt khoát với một tên đeo lon Trung tá với cả bầy lính tráng súng ống rổn rảng, rộn ràng uy hiếp chị mà chiếm nhà chị. “Giải Phóng, đồ thứ ăn cướp”, người ta thì thầm với nhau. Quê tôi, những nhà giàu triệu phú sống nghề làm nước mắm gọi là “hầm hộ” bị tụi nó bỏ tài liệu, vũ khí vào nhà rồi vu oan giá họa “chống phá cách mạng” mà bắt bỏ tù và chiếm đoạt hết gia tài của người ta. Những thương gia lớn nhỏ đều bị “đánh tư sản mại bản” và “đi vùng kinh tế mới” cho cùng kiệt, khốn khổ, chết chóc. Ga xe lửa Mương Mán ngày đêm xình xịch xình xịch chở ra ngoài Bắc cho cái xứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bần cố nông mấy chục năm tháng nầy qua tháng nọ những thứ ăn cướp được của dân trong Nam. Quốc Lộ 1 ngày đêm nườm nượp những Molotova, Jin, các loại “xe hộp”, “ô tô con”, Dodge 4x4, GMC của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa chở đầy báu vật gia bảo của người Miền Nam mới vừa chôm, chỉa được bằng súng đạn đem ra quê quán Thanh, Nghệ, Tĩnh… làm gia tài ba đời vô sản trên răng dưới dái giòng họ của mình.

    “Ðánh Tư Sản Mại Bản”, nghe hết hồn. Nhà ông bà già vợ tôi ở Phan Thiết bị hơn hai chục mạng: “quân đội nhân dân” có, “công an nhân dân” có, “quản lý thị trường” có… ăn dầm nằm dề cả hai tháng trời trong nhà. Họ ra lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Họ khảo “vàng, bạc, tiền của… để đâu?” Họ tịch thu gần như hết đồ đạt trong nhà. Họ đào xới chỗ nầy, bới móc chỗ kia. Họ lặn xuống cái giếng sâu lút đầu người. Họ cào, cuốc trong cả cầu tiêu người ta đi ĩa, đi đái. Họ đòi đập sập cái vách tường coi “hàng chục ký vàng lá dấu ở đâu”. Một người cần kiếp ra khỏi nhà thì bị hạch hỏi, lục lọi khắp châu thân. Nhà có mấy căn thì một căn tịch thu cho cán bộ ở. Một căn bắt phải bán rẻ như cho, “nếu không thì các con chết với quý ông đấy các con ạ”. Một căn lớn hơn thì lấy làm công sở cho Phường. Cho một căn chỉ một mình vợ tôi ở được ở lại. Nhà, tất cả cha, mẹ, anh, chị, em, con, cháu trên 20 người “đi kinh tế mới” hết trơn. Việt Cộng một phần muốn “bần cùng hóa” người dân Nam Việt Nam, một phần tạo lỗ hổng để khuyến khích cho đàn con, đàn cháu mất dạy của Hồ Chí Minh mất nết ngoài Bắc vào Nam ăn cướp.

    Ngày 22 tháng 9 năm 1975, khi tôi đang “học tập cải tạo?” ở Trại An Dưỡng Biên Hòa thì có lệnh đổi tiền. Ðổi tiền, nghe thật giản dị và đương nhiên. Giản dị vì đem tiền cũ đổi lấy tiến mới thôi, có gì!? Ðương nhiên, vì “giải phóng” rồi thì có Tiền Giải Phóng chớ? Cái ác, cái gian manh, cái trí trá là sự đổi tiền đó được giữ hết sức bí mật tới giờ phút chót và diễn ra chỉ trong vòng một ngày. Năm trăm đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa chỉ đổi được 1 đồng Ngân Hàng Nhà Nước để xài cho toàn cõi Miền Nam. Người ta có bao nhiêu thì bao, chỉ cho đổi có 200 đồng mà thôi. Còn lại từng đống từng đống tiền thì y như là “thí cô hồn” cho từng đàn, từng đàn quỷ sứ đói ăn ngoài Bắc mới vào Nam. Bọn “cháu ngoan bác Hồ” ôm hết tiền đó của người ta mà “úm ba la” hợp thức hóa ra tiền của mình mà giàu to. Rồi lần đổi tiền kế tiếp vào ngày 2 tháng 5 năm 1978, khi tôi còn trong tù ở Trại Trung Ương Số I Lào Cai ngoài Bắc, bọn chúng lại nói là để thống nhất tiền tệ toàn quốc. Một đồng tiền mới nầy tính ngang bằng một đồng tiền cũ như tờ giấy lộn ngoài Bắc và ngang bằng 0,80 đồng tiền ở trong Nam mới đổi ngày 22 tháng 9 năm 1975, cách đó gần 3 năm. Sau đó vài tháng, tôi nhận được thư vợ, bả viết rằng: “nhờ ơn Cách Mạng, em làm ăn cũng khá giả như chị Hai Hốt xóm mình. Các con của mình có thua gì các con của chỉ đâu!” Ðọc thư, tôi buồn đứt ruột, nát gan. Trời ơi, chị Hai Hốt chỉ nghèo biết chừng nào. Các con của chỉ không có được một cái áo lành lặn, cái quần lành lặn mà mặc. Gia đình nghèo quá sức, tụi nó không có gì để ăn cho có một bữa no bụng! Khoảng bảy năm sau, vào ngày 14 tháng 9 năm 1985, tôi đã ra tù và đang ở Phan Thiết thì được lệnh đổi tiền một lần nữa. Nhà Nước “ăn cướp” thêm của dân ngu khu đen, bắt dân bỏ ra 10 đồng Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam mới đổi năm 1978 đổi lấy 1 đồng Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam bây giờ. Việc đổi tiền là một “âm mưu ăn cướp” được phủ lớp màu lòe bịp là quốc sách của bọn vô thần để vơ vét máu xương đồng bào và cũng là cơ hội cho cha con, cháu, chắt, chít của cái gọi là đảng viên, cán bộ, viên chức ngụy quyền Việt Cộng nghèo đói ba đời ngoài Bắc vào Nam bốc, hốt thêm, làm giàu thêm mà thôi. Bọn man rợ bần cùng, chúng giải phóng ai? Ai cần bọn chúng giải phóng!? Nỗi đau của người mất nước là mất tất cả. Nỗi nhục của kẻ thắng trận là bọn cường khấu giết người, cướp của.

    Tôi vào tù ngày 27 tháng 6 năm 1975, khởi đi từ địa điểm trình diện ở Trường Trung Học Pétrus Ký, lần lượt các trại giam Tân Hiệp, An Dưỡng Biên Hòa, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phú, Thanh Hóa, Hàm Tân. Năm đầu ở Biên Hòa, trời sao lạnh dữ! Trong những căn nhà tôle tiền chế Mỹ làm để lại, ai cũng lạnh mà ngủ không được. Những bữa ăn, ăn cơm “gạo trường sơn” mối mọt, rệu nát không được một chén với canh nước muối nấu vài cọng cải. Trong vòng chưa tới hai tháng, người người “tù cải tạo” đi thục thịch thục thịch không muốn nổi. Ai ai cũng bị thủng, tay chưn mập ra, căng bóng như chừng sắp nứt nẻ. Ngày “lao động là vinh quang” phá rừng, cuốc đất đuối sức, hụt hơi. Ðêm về, ngồi viết lý lịch trích ngang, tọa đàm, họp tổ, phê bình kiểm điểm, nghe đọc báo “bọn ngụy, dã thú phải được nhốt lại, nhốt thật kỷ, nhốt thật kín, nhốt thật lâu…” Chừng hơn một tháng đã có nhiều anh em chết, bị thương vì mìn, lựu đạn, lao động. Anh Vĩnh Mỹ tức Nhạc sĩ Minh Kỳ mới hôm qua tập bài hát “Bác cùng chúng cháu hành quân” cho các bạn tù đó thì ngày mai đã ra người thiên cổ. Ông bạn Giàu của tôi đó cũng đâu còn đủ 2 chưn như hồi nào Ðại Úy Chiến Tranh Chính Trị đi đứng hiên ngang! “Bọn ngụy, dã thú phải được nhốt lại, nhốt thật kỷ, nhốt thật kín, nhốt thật lâu…” Một năm sau, sau ngày Linh Mục Nguyên Thanh vượt ngục với người bạn tù của tôi tên Nguyễn Văn Thanh, em đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận bị bắt ngày 19 tháng 6 năm 1976, tôi bị đưa ra ngoài Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa nơi Xã Việt Hồng, Huyện Trấn Yên, Tỉnh Yên Bái. Một anh Thiếu Úy cụt tay làm “Cán Bộ Giáo Dục” chỉ vào mặt hàng hàng lớp lớp “Sĩ Quan Ngụy” mà rằng: “các anh chẳng là tù binh, chẳng là cải tạo viên. Các anh chính là những tù nhân có tội với đảng, với tổ quốc, với nhân dân. Các anh, các anh chính là những kẻ “Ngụy” ôm chân Ðế Quốc Mỹ làm tay sai đem nước đi bán. Tội các anh “trời không dung, đất không tha, người người đều oán hận”. Trong tù, nỗi đau thể xác, nỗi đau tinh thần quyện thật là chặt, bện lại với nhau thật là chắc làm ngưòi tù ngất ngư chết dần chết mòn. Ở đây, heo hút tháng ngày với rừng thiêng nước độc, sơn lâm chướng khí, người tù âm âm u u băng rừng, lội suối đốn cây, chặt giang, chặt nứa…làm “láng”, làm nhà; lên đồi trọc nắng thì nắng cháy da thịt và lạnh thì lạnh tới xương tủy mà đào xới đất trồng trà, trồng khoai mì. Những bữa ăn, có khi là lưng chừng chén nhỏ “bo bo” còn vỏ cứng; có khi là 2, 3 khúc khoai mì hay vài củ khoai lang; có khi là nửa chén nhỏ xíu “sắn duôi” hay cơm trắng nấu gạo rẻ tiền; có khi là 2 chén cháo lỏng le vì gạo không đủ nấu cơm…Những người tù nhìn nhau chua xót, đau nỗi đau thân tàn lực kiệt và nỗi buồn biết chừng nào cố hương, cha mẹ, vợ con xa lắc xa lơ trong Nam mà không biết ngày nào mình nằm xuống; nỗi nhục từng giờ từng ngày bị sỉ vả nặng lời miệt khinh. Vì không quen rừng rú, thời khí khắc nghiệt, lao động quá sức lại trong đầu đầy cứng những vết thương tinh thần, nhiều anh em đã ngã quỵ giữa đường. Họ nằm xuống mà mắt cứ mở trừng trừng như nuối tiếc, như chờ mong, như trông ngóng một thiêng liêng vô biên, vời vợi nào đó hun hút, hắt hiu…Và tôi thấy, những giọt nước mắt vẫn còn đó chưa khô trên đôi mắt chưa nhắm lại của Châu, Ðức, Lộc…ngày tôi khiêng xác đi chôn trong rừng rú hoang sơ, cô liêu! Rồi lại một năm nữa của năm 1977, những tên “Bộ Ðội” Bắc Việt lùa chúng tôi trở lại sông Hồng, qua Bến Phà Âu Lâu, lên Cổng Trời, qua bên kia Rặng Fansipan đến một nơi hoang sơ hang cùng ngỏ cụt núi với rừng Xã Việt Hồng, Huyện Văn Bàn, Tỉnh Hoàng Liên Sơn. Chúng định dùng tù lưu đầy chúng tôi làm “lực lượng tiền phương” mở đường chiến lược qua Lào. Một vùng rừng gìà nguyên sinh âm u, mịt mùng trùng trùng, đèo heo hút gió làm sao có cái ăn cho người tù cầm hơi! Vài bóng dáng người Tày, Mèo, Mán e dè thấp thoáng ẩn hiện “không được quan hệ”. Khoai mì, bắp, đậu, “bo bo” bữa có bữa không. Rừng là rừng già sâu thẩm, hun hút, âm u, mịt mùng. Ðêm nằm nghe rất gần tiếng cọp rống từng hồi, tiếng hưu nai tác liền liền, tiếng của đàn khỉ la hét lao xao một góc trại tù. Có lẻ như vậy chăng mà những tên cai tù bản chất vốn đã thú tánh mới dậy lên đùng đùng tâm địa dã man, gian ác kinh người. Những người bạn tù tôi đó: Võ Văn Sơn, Huỳnh Ngọc Thuận, Dung Judo…bị từng đám lính của bác và đảng đem ra đánh chơi “cho chúng bây biết lính cụ Hồ đánh giặc cũng hay mà đánh tù cũng giỏi”. Anh Huệ, anh Châu…thèm một, hai miếng thịt trâu già mà chết, bây giờ thân xác chắc đã hóa ra cát bụi bón tươi mấy cây sim rừng tím màu tím nhạt nhạt hắt hiu gió thổi hồi các anh nằm xuống!? Chứ nơi đây rừng thiêng nước độc tít trời mù khơi, ai biết các anh nằm đâu mà rước xác về!? Ở đây, ai lại không nhớ những ngày mưa, nắng, nóng, lạnh… vẫn cứ bương vào rừng chặt, khiêng, kéo về những cây vầu to, dài, nặng chình chịch, mệt ngất ngư. Cây Vầu là một loại tre to như bắp vế người ta và dài thì dài nhiều chục thước. Những con ruồi vàng, vàng sáng, bóng loáng, rất đẹp nhưng ác thì quái ác. Nó chích một cái là đau nhảy dựng và để lại vết thẹo là cục máu bầm dưới da. Những lời nói thoảng qua như lời nhắn nhủ thê lương rằng cũng sẽ tới phiên mình bỏ thây nơi đây mà thôi: “thêm một người nữa mới chết tối qua”, “lại thêm một người nữa mới chết tối qua”…của những anh em các trại khác đi ngang qua từng ngày, từng ngày. Một đêm vào khuya hãi hùng! Ông bạn Hà Tiến Nhất la thất thanh và cả “láng” la thất thanh làm cả trại la thất thanh! Tôi nằm cùng dẫy giường với các anh Nhất, Trâm, Hùng, Hết… cũng la, la to một cách vô tình, truyền khiến, không ý thức. Chắc trong đầu óc chúng tôi kín mít những tin tưởng rằng trước sau gì rồi cũng sẽ bị chôn xác ở đây, nơi tụi nó quyết đưa những thằng tù chúng tôi đến đây là cho vào cõi chết biệt tăm, biệt tích? May, không biết tại làm sao, chúng chuyển trại, “cuốn chiếu” về Trại Trung Ương Số 1 Lào Cai. Từ đây, tù tập trung cải mấy thằng tôi trong Ðoàn 776 của Bộ Ðội Bắc Việt “quản lý” được chuyển giao cho Công An Nhân Dân. Tù do Công An Nhân Dân giam giữ có nhà tù. Tù do Quân Ðội Nhân Dân cai trị là những láng trại giữa rừng. Tù do bộ phận nào của cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng mang chất dã man, bạo tàn, ác độc như nhau hết thảy. Ở đâu cũng vậy thôi. Trại Trung Ương Số 1 Lào Cai trên đỉnh Hoàng Liên Sơn đêm dài bụng đói quá đói không ngủ được, tai nghe tiếng còi xe lửa Phố Lưu kế cận biên giới Trung Quốc hú từng hồi dài mà não nuột cả lòng. Ông bạn Hùng - Hùng Già - , một Ðại Úy Lực Lượng Ðặc Biệt đói quá, lạnh quá, làm việc nhiều quá chết ngay hiện trường lao động trong một ngày Ðông đào ao nuôi cá trắm cỏ. Ðời tù đã sức cùng lực kiệt, mòn mỏi…trong lòng dậy lên ao ước “phải chi lính Mao Trạch Ðông sát biên giới đây đến giải phóng”. Tốt hay xấu không biết? Có điều, ra khỏi nơi đây chốn địa ngục trần gian vẫn hơn, ai ai cũng nghĩ như vậy. Không trách, trong cùng cực nỗi đau chết người và mạng sống le lói như ngọn đèn trước gió, con người phải tìm cách thoát ly. Bạn bè tôi cũng vì tìm cách thoát ly mà mang tội “trốn trại” phải chết một cách oan khiên. Những tràng đạn bắn tới bắn lui cho nát thây. Những báng súng đánh đập không ngừng cho bầm dập cơ thể. Những tru tréo lời chữi rủa ma quái cõi âm ty địa ngục… “Ai nói chết là hết. Ðồ ngu”, những người tù “học tập cải tạo” đều nói với nhau một lời như vậy mãi mãi nói với nhau một lời như vậy. Không thấy sao, chết rồi tụi nó cũng bắn, “bắn cho nát thay”. Chết rồi, tụi nó cứ dộng báng súng, cứ quăng gạch đá và cứ đánh gậy gộc và cứ chữi rủa một cách man rợ!? Cuối tháng 1 năm 1979, chúng di chuyển tù chúng tôi về phân trại K5 Tân Lập, Tỉnh Vĩnh Phú do Thiếu Tá Nguyễn Thùy làm Trại Trưởng. Ở đây, tôi trong “đội bệnh hoạn” phải chứng kiến vài ngày một người bạn tù chết. Các anh Vân, Phước, Thạc, Khánh, Minh, Hùng, … chết vì khô héo, chết vì kiệt sức bên trái tôi, bên phải tôi đang nằm. Họ chỉ còn một chút sức cùng, lực kiệt trối trăn “con chết ba mẹ ơi”, “anh chết em ơi”, “cha chết các con ơi”. Chết, xác có khi bỏ vào hòm, có khi cuộn trong chiếu nằm, có khi để trần trên “ki” khiêng đất. Thôi! sống đã không bằng con chó thì chết có là rác rưởi cũng là thường. Tiếc là, bên vách, ban văn nghệ nhà tù là những cựu Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cựu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia cứ xập xình xập xình đàn hát những bài hát “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. “Bác cùng chúng cháu hành quân”. “tiếng chày trên sóc Bom Bo” vô tình, vô tư một cách thoải mái! Ông bạn Sơn, Võ Văn Sơn đã cõng tôi đi tới đi lui khám bệnh “giả” để “chay lười lao động” dưới Trạm Xá của Hiệp Ðại Úy, Hường Campuchia. Võ Văn Sơn, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Quận Hoài Nhơn ngoài Bình Ðịnh không chết vì bị “bề hội đồng” của mấy tặc con “bộ đội” ở Văn Bàn mà nghe nói đã chết ở Texas mới đây. Sơn, thôi gì cũng một đời. Tiếc là chúng ta chưa gặp lại ôm nhau mà khóc. Khóc mầy đói quá mà ngồi tróc vỏ lúa ăn mấy hột gạo bên trong không được là bao. Khóc mầy đói quá, ngâm muối những vỏ khoai mì ăn, mấy lần tưởng chết là chắc. Khóc mầy chỉ tay vào mặt những anh em ta trong ban văn nghệ mà chữi: “thứ tụi mầy, mấy thằng mang tiếng sĩ quan, thứ sỉ quan không có liêm sỉ, cúi đầu xin làm văn công cho giặc”…

    Tháng 2 năm 1979, đàn anh Trung Quốc cho đứa em nhỏ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một bài học. Những người tù được cán bột trại “nhồi sọ” bắt chữi độc, chữi không biết mắc cở, chữi không biết mệt, chữi ra rả suốt ngày nầy qua ngày khác cái bọn bành trướng Bắc Kinh, cái bọn Ðại Hán, cái bọn Thiên Triều.. . Nếu trể một tháng nữa thôi, bọn tù chúng tôi có thể là lao công, là tù binh, là Việt Kiều trên đất nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc mà cũng có thể đã bị chết thiêu giữa hai lằn đạn đều là kẻ thù không đội trời chung của Việt Nam Cộng Hòa ở Lào Cai rồi. Lào Cai và Yên Bái cùng trong một tỉnh Hoàng Liên Sơn thời bấy giờ. Hơn một năm ở đây K5, một số chúng tôi được “biên chế” qua K1, cũng trong hệ thống Trại Tù Tân Lập. K1, lao động chính là tưới trà, cuốc đất trồng khoai lang, khoai mì, bí đỏ…Một ngày mùa Hè nóng thật là nóng của miền Bắc cá chết dưới ruộng, trên sông, những người tù hùng hục làm đường ra Bến Ngọc, Ấm Thượng, Vài người đã ra người thiên cổ: bác Ngọc, anh Ngọc, anh Dũng, anh Minh…Anh Minh, nghe nói là Thiếu tá lái máy bay trực thăng cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu? Anh Ngọc “mơ có một bữa ăn no chết cũng đành” bữa nay nằm xuống thì ngày mai có cả mẹ, cả vợ, cả hai đứa con ở Sài Gòn ra thăm, đem theo nhiều “quà thăm nuôi”! K1, tôi trong “Ðội Chè” với toàn các tiền bối Trung Tá và lóc chóc mấy đứa nhỏ Ðại Úy chúng tôi là tôi, là Bùi Hữu Bằng - em Chuẩn Tướng Bùi Dinh - , là Nguyễn Minh Chánh - Ðơn Vị101 -. Ðội Chè chuyên gánh nước tưới đồi trà, làm cỏ mấy gốc trà và hái lá trà non. Ðội nằm “xà lim”, tiếng Pháp gọi là cellule đầu của dãy đầu tiên bên phải của trại, sát “nhà bếp tù”. Ở đây, còn lại hai người trong ký ức tôi đến ngày hôm nay còn nhớ. Một là, một ngưòi trọng tuổi, cao, ốm, thong dong, hiền hòa anh em nói là Trung Tá, Phó Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo, Thượng Tọa Thích Thanh Long. Một là, một người ngang tuổi tôi, thường dựa tường, cô đơn, ít chuyện trò, mắt buồn hiu hắt, bạn bè nói là Phan Tấn Ngưu, Thiếu Tá Trưởng F. Ðặc Biệt, “anh ta buồn vì vợ cũng ở tù”. Tháng 12 năm 1980, chúng tôi bị lùa vào Thanh Hóa ở Thanh Phong thuộc Huyện Nông Cống, rồi Thanh Lâm thuộc Huyện Như Xuân ở với núi đá vôi, rừng gổ lim, người Thái Trắng, người Thái Ðen… Người ta đưa ông Trung Tướng Có, ông Ðại Tá Khải…làm Ban Giám Ðốc và chúng tôi làm “công nhân tù” cho một kế hoạch đồn điền trà như thể Ðồn Ðiền Cao Su Ðất Ðỏ “Plantation Terre Rouge” thời Pháp thuộc trong Nam. Nơi nầy, tù Z chúng tôi là loại tù chính trị, tù binh, tù “học tập cải tạo” còn có tù hình sự và tù Biệt Kích. Tù hình sự là những người đủ lứa tuổi bị chế độ kết tội hình mà chịu tù một cách thảm thương như đang chịu hình dưới âm ty địa ngục chuyển kiếp ngạ quỷ, súc sanh trên dương gian, trần thế. Tù Biệt Kích là những người lính biệt kích của Việt Nam Cộng Hòa và của Trung Hoa Dân Quốc sống ở đây cũng được chục năm rồi. Tôi nhớ, Ðại Úy Tôn Thất Lảnh, một người tù Z đẹp trai, thông minh, linh hoạt, hòa nhả…cứ mỗi lần tắm suối là mon men theo mấy anh tù Biệt Kích Trung Hoa Dân Quốc của Ðài Loan mà học tiếng Quan Thoại. Không lâu, anh ta đã nói chuyện được với mấy anh chàng Biệt Kích Ðài Loan nầy một cách trơn tru, lưu loát. Cuối tháng 4 năm 1982, tụi nó chuyển chúng tôi về K2 thuộc Trại Z30C Hàm Tân. Hàm Tân ngày xưa thuộc Tỉnh Bình Tuy sau nhập với Bình Thuận thành Thuận Hải. Hàm Tân sát quê tôi Phan Thiết có Khu Rừng Lá mà những năm chiến tranh là ổ phục kích, đắp mô, chôn mìn, chận xe đò thu thuế của Việt Cộng giả dạng là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Những lần chun vô rừng chặt lá buông, nhìn ngọn Núi Mây Tào lòng không khỏi lao xao nỗi buồn thênh thang, mênh mông! Những đụn cát khô khan, những con dông rượt nhau giữa trưa, những cụm mây bạc bay trên trời cao xanh biếc…như thể Phan Thiết tôi đây. “Ôi! Phan Thiết là Phan Thiết”, tôi nói ra nho nhỏ lời than của Hàn Mặc Tử khóc Mộng Cầm và.. và mắt tôi có khi cũng chảy những giọt nước mắt buồn hết sức! Khóc nỗi nhớ thương cha mẹ, vợ con, anh em đang sống ra sao, chắc khổ biết chừng nào không xa nơi nầy bao nhiêu. Tôi trong Ðội Nông Nghiệp chuyên trồng mía, khoai mì, đậu phọng, lúa nương…kết quả không đáng kể nhưng thành công là hành hạ được tụi “tù cải tạo” cải tạo hoài cải tạo mãi “tụi nó phản động cứ là phản động, không bao giờ tin Cách Mạng”. Dẫu sao, K2 của Z30C Hàm Tân cũng không đọa đầy, rách nát “khố rách áo ôm” như thời “cải tạo” trên Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa nơi Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phú, Thanh Hóa. Nghĩ lại tôi nghiệp cho những người mang tội hình sự ở những nơi đó. Thiếu gì họ là những người vô tội ở cái xã hội mà Công An, Bộ Ðội, Nhà Cầm Quyền muốn bắt ai là bắt, bỏ tù ai là bỏ tù. Một khi đã vào vòng lao lý rồi, họ bị đối xử một cách dã man không bằng một con vật. Ngoài Thanh Lâm, tù hình sự nhốt cách chúng tôi một hàng rào kẽm gai cao. Những tên đội trưởng, tổ trưởng là những hung thần “đầu gấu”, “đại bàng” được trao quyền sinh sát. Tụi nó thường cho phạm nhân nầy ăn và bỏ đói phạm nhân kia cho đến chết. Tụi nó tùy tiện hành hạ gọi là “trị” phạm nhân bằng búa sắt đánh vào khuỷu chân, mắt cá, cùi chỏ…và dây kẽm gai quất cho rách nát da thịt những người bạn tù cũng tù như mình. Ngoài “hiện trường lao động”, bọn Công An được “tù cải tạo” đặt cho một cái tên là Bò Vàng xuất thân từ giòng giống tá điền phản trắc, “đấu tố” địa chủ một cách ác nhân, độc địa thời cải cách ruộng đất di truyền cho, nên vốn đã thụ hưởng máu không có tính người lại được nhồi sọ dưới chế độ Cộng Sản cuồng tín, chúng trở thành yêu tinh, quỷ sứ của loài ma quái. Năm, ba thằng tụm lại bắt họ đứng yên mà lấy đá, lấy gạch, lấy cây gổ... quăng cho bầm tím cả thịt da hay máu chảy từng giọt, từng giọt rồi rủ nhau cười ngặt ngoẽo. Hết thằng nầy rồi tới thằng kia thay nhau dùng báng súng đánh, nện vào thân xác chết đói gầy gò của họ, bắt họ “cấm la”, có khi lắp cả lưỡi lê vào mà lụi đại, bất kể trúng đâu đâu “cho lũ mầy chết đi”. Người ta đang dang nắng Gió Lào nóng cháy da thịt mà “lao động là vinh quang” cứ “đưa ông cây lửa châm thuốc”. Châm thuốc rồi, dí đầu cây củi đang cháy vào nách, vào bụng, vào đùi người ta “cho biết tay Công An Nhân Dân”. Con người, không đâu xa, Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa không bao giờ và không đời nào ai nói là văn minh đưọc. Có văn minh là văn minh cái bản chất không còn tính người… đối với người thì có.

    Vào K2, Z30C Hàm Tân trong Nam, ngồi tính ra đi tù cũng trên 5 năm mình nghĩ mình u mê, đã chun vào “học tập cải tạo”. Nhưng suy đi tính lại, không chun vào “học tập cải tạo” thì chun vào đâu lúc bấy giờ? Nghe phong phanh không căn cứ rằng anh em Việt Nam Cộng Hòa của mình lập chiến khu chỗ nầy, mật khu chỗ kia nhưng chẳng manh mối đâu với đâu. Bấy giờ, mình chông chênh quá tình trạng “Ngụy Quân”, “Ngụy Quyền” như Thúy Kiều “nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn. Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?” Lao lý, ai cũng phải nghĩ tới khổ ải, đọa đày, nhưng mấy ai nghĩ tới khổ ải, đọa đày của “Bọn Mỹ Ngụy” dưới gông cùm cực kỳ khắc nghiệt, dã man của bọn thú rừng man rợ mang tên Cách Mạng, Giải Phóng! Vì thế giới nhìn trừng trừng, nhìn chăm chăm sự thể “tắm máu” diễn ra, bọn trí trá Việt Cộng không thể giết cho chết hết như Tố Hữu “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ. Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong…” Chúng cho ăn đói, bắt làm việc nặng, chữi bới nhục mạ…“cho chúng nó chết dần chết mòn”. Và, bạn bè tôi từng ngày từng ngày càng đông rủ nhau về bên kia thế giới không kịp lời từ giả thân nhân. Họ chết ngay những ngày tháng đầu vô Biên Hòa và rải xác từng nơi bước chân tôi đi khắp vùng núi rừng Việt Bắc, Thanh Hóa và đến bây giờ ở Hàm Tân! Chưa nói, những anh em bị lôi ra bắn bất kỳ lúc nào vì tội nầy, tội kia gán cho. Tôi cũng đã bị hụt hơi rất nhiều lần tưởng đã về với ông bà ông vải những năm ở Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phú, Thanh Hóa. Bọn đầu sỏ Bộ Chính Trị vốn đánh hơi giỏi hơn chó, biết đang bị thế giới văn minh lên án nên mượn tay thân nhân người tù nuôi người tù sống năm nầy qua năm kia lại còn làm ra của cải, đâu tốn một đồng xu. Từ năm 1979 trở về sau, cha mẹ, vợ con, bà con lối xóm, thân thích, người tình, bè bạn…lặn lội thăm “Tù Cải Tạo” ở bất cứ nơi nào đèo heo hút gió, rừng thiêng nước độc, sơn lâm chướng khí. Anh em tù chúng tôi nhờ đó khá ra. Khá ăn, khá mặc, khá tốt tướng trở lại. Trong tù không còn tranh nhau cái ăn từng ly từng tý. Bấy giờ có ai trách ai sự sống là lằn ranh giữa cái bao tử trống trơn chờ chết và cái bụng còn lỏng bỏng ít thức ăn cầm hơi sống!? Lúc nầy, trong các trại tủ “học tập cải tạo” hay “trại tập trung cải tạo” đẻ ra hai lớp người. Một là, Nhà giàu, những người được “thăm nuôi” đều đều, dài dài. Một là, Nhà nghèo “con bà sơ” chưa từng nghe đọc tên ai là người “thăm nuôi” mình. Và nhà nghèo làm công cho nhà giàu là tự nhiên trong một tập thể người sống với người dù đang trong tù. Khi ở Thanh Lâm, Huyện Như Xuân, Tỉnh Thanh Hóa, tôi “con bà sơ” vì vợ đi lấy chồng khác. May về Hàm Tân gần nhà Phan Thiết, bà vợ tôi bây giờ nuôi ăn hằng tháng nên cũng “đủ ăn, đủ mặc” với người ta. “Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay” nỗi đớn đau biết chừng nào người tù không có ai “thăm nuôi”! Ðói! Buồn! Tủi! Và người đời là những bạn tù xung quanh cũng coi thường! Tôi nhớ anh bạn Thiếu Tá Quận Trưởng Quận Ðức Tu họ Bùi tình nguyện mỗi sáng đi gánh cứt để được ở nhà thong dong hơn. Cũng khó quên, cô cán bộ Công An Nhân Dân đeo nhiều ngôi sao lụi của Trại “xi” cho con ĩa, xong kêu chó lại cho nó ăn và đưa đít thằng nhỏ cho nó lím sạch cứt.

    Ngày 24 tháng 4 năm 1984, tôi được thả ra với “Giấy Ra Trại” do Ðại Úy Trịnh Ðức Tý ký. Không ai “Tù Cải Tạo” chúng tôi được “lệnh tha” mà không bị cầm chưn ở lại “làm công quả” cho trại mười ngày, nửa tháng. Ðau cho người bạn tôi, Ðại Úy Lê Thành Nhiên bị bắt ở lại trại “làm công quả” mà phải chôn xác nơi Trại Tù Thanh Lâm heo hút, hắt hiu. Một sáng, lẻ ra được trả tự do như anh em mà về quê Bến Tre trong Nam, anh đã nằm chết im lìm trên chiếc võng, mặt buồn thiệt là buồn và mắt chưa kịp nhắm…Tôi một tay cầm tay Nhiên, một tay vuốt mặt Nhiên nói nhỏ “thác là thể phách, còn là tinh anh. Thôi, mày về lại cố hương, về lại gia đình”. Tôi vừa bước ra sân tập họp “đi lao động” vừa nghĩ đến Nhiên đêm 30 Tết, đầu năm 1981 ở Trại Thanh Phong. Nhiên hát Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, hát “Nhạc Vàng” của Miền Nam Việt Nam từ chiều cho đến sáng hôm sau một cách say sưa, nhiệt tình, “ồn ào” hơn ai hết. Những người tù “láng” tôi từ K1 Tân Lập Vĩnh phú mới chuyển tới, được một đêm hát ca thả giàn rồi ngày mai khàn cổ không ai nói ra được một tiếng nào và rủ nhau lên “làm việc” với Ban Trật Tự, Ban Giáo Dục và Trại Trưởng, Ðại Úy Trương Bảy.

    Tôi về Sài Gòn trên chiếc xe đò cũ kỷ chạy ì ạch bằng than củi, người ngồi chật cứng và đồ đạt đủ thứ chất đầy. Ðồng quê vắng tanh! Phố phường nghèo nàn! Bị “quản chế” một năm, hằng tuần phải trình diện và báo cáo nơi Phường 3, Quận 10 và Công An Khu Vực ở sát bên nhà cứ dòm dòm ngó ngó. Tôi chỉ quanh quẩn rộng lắm cũng trong Thành Phố Hồ Chí Minh mới cướp danh từ Thủ Ðô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa, của Ðồng Bào Miền Nam Việt Nam. Mọi thứ đều đổi thay một cách khắc nghiệt, khô cằn, héo mòn, rách tươm. Xã hội được định phần thụ hưởng theo “chế độ”, theo “tem phiếu”, theo “phân phối”, theo kinh tế “quốc doanh” theo Xã Hội Chủ Nghĩa…đất nước tàn mạt. Một đám cưới phải có giấy chứng nhận của Ủy Ban Nhân Dân Phường mới mua được 1 lít nước mắm loại thường, 2 kí lô thịt theo heo ba rọi , 1 cây thuốc Mai xé banh, nửa kí lô đường cát vàng…và thêm nữa, có thể mua được 1 cái mùng vải thô nhỏ cho hai vợ chồng mới cưới. Nhưng cái việc nầy không phải “tiêu chuẩn” ai cũng có và ở đâu cũng như nhau. Trong xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa thời bấy giờ, “lệ làng” hơn “phép vua” thì đừng nói công bằng, lẻ phải. Bạn bè tôi, những Người Tù Học Tập Cải Tạo ra trại, tay trắng biết làm gì và ai cho làm gì!? Họ bán giấy số, khuân vác, bán cà rem, bán kẹo kéo, thổi bong bóng, làm mướn, đánh xe bò, đạp xích lô, đi kinh tế mới, mánh mung lặt vặt… mà yên phận hẩm hiu qua ngày. Ông bạn Ðại Ðội Trưỏng Chiến Tranh Chính Trị của Tiểu Khu Bình Thuận, Ðại Úy Vĩnh Vu buồn biết chừng nào mà than thở rằng: “mấy đứa con bị đuổi học hết trơn”. Tôi biết, sấp nhỏ con ảnh học giỏi lắm, giỏi lắm như con cái của bạn bè tôi, nhưng “cha các trò là Ngụy Quân, Ngụy Quyền” đành nghỉ học mà khóc lóc ngày nầy qua ngày khác. Những anh em chúng tôi ngày xưa cùng học Trường Phan Bội Châu hay các Trường Tiến Ðức, Bồ Ðề, Chính Tâm ở Phan Thiết đi lính lên lon Trung Úy, Ðại Úy, Thiếu Tá…phải còng lưng làm công nhân Sở Muối, lương phạn không đáng kể, cực thì hết sức cực mà phải năn nỉ, xin xỏ vào “để tụi nó bớt dòm ngó”. Người bạn Nguyễn Ngọc Nhã ( ? ), Ðại Uý Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu Phú Bổn vợ bỏ sớm, về Kim Ngọc lấy vợ mới. Hai vợ chồng làm nghề “lái heo” Long Khánh ra Phan Thiết. Chẳng hơn hai năm, “nó chết vì bệnh lao”. Tôi, Nhã rất thân nhau ở trại tù Lào Cai. Thân nhau vì người cùng quê mà cũng thân nhau vì “ghét Việt Cộng, ghét cay ghét đắng”, nó thường nói như vậy. Hai ông Ðại Úy Nguyễn Văn Trắng và Dư Ngọc Huân cùng học Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia và Thủ Ðức với tôi ngày ngày còng lưng kiếm ăn bằng hai chưn đạp xích lô khắp phố khắp phường Sài Gòn. Tôi, vợ bỏ ra một ít vốn xoay sở làm ăn. Nói làm ăn cho có vẻ “ngon cơm” một chút, thật ra, cha con một nhà hùa vào nhau chịu khó chịu khổ làm các loại nhang bỏ mối Chợ Phan Thiết mà thôi!? “Ngon Cơm” là tiếng nói dễ nhớ, khó quên thường nơi cửa miệng của anh bạn Thiếu Tá Bùi Văn Lớn tù cùng “láng”, cùng trại từ Thanh Lâm ngoài Thanh Hóa vào Z.30C Hàm Tân trong Nam. Kế Ngả Tư Lê Văn Duyệt và Phan Ðình Phùng, nơi Thượng Toạ Thích Quảng Ðức tự thiêu thuở nào, anh bạn Ðại Úy Trịnh Truyện Kiều, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Quận Ðức Lập hồi đó cũng bị người vợ sợ làm hôn thê một người Lính Ngụy còn gì nữa đâu, bây giờ kê một cái bàn xập xịu, ngồi bán mấy tấm giấy số, đếm tiền Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam in hình quỷ sứ Hồ Chí Minh. “Tang điền, thương hải” đổi đời một cách éo le, cay nghiệt, chua xót…Nhờ những năm tháng huấn nhục nơi quân trường; nhờ thời gian đời lính cơ cầu đánh giặc; nhờ cuộc sống đối diện từng ngày với kẻ thù…họ quen “mưu sinh thoát hiểm” mà lạng, mà lách mới sống được đến ngày hôm nay. Trong trại tù từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam, xét cho cùng, những anh em công chức, đảng phái, dân sự…dễ “bứt”, dễ “đứt” hơn những anh em Quân Nhân, Cảnh Sát Quốc Gia, Xây Dựng Nông Thôn.

    Có người nói người thành thị nầy sang giàu hơn, sung sướng hơn dân nhà quê kia nghèo đói, lầm than. Tôi dám đoan quyết rằng, đó chỉ là một ý nghĩ phiến diện, trừu tượng, chung chung. Bởi vì, trong “người thành thị nầy sang giàu hơn, sung sướng hơn” cũng có những người nghèo không có đủ miếng cơm, manh áo. Trong “dân nhà quê kia nghèo đói, lầm than” thiếu gì kẻ giàu nứt vách đổ tường. Nhưng có ai bảo rằng, vào cái thời Cộng Sản Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam thì hết thảy những người mang tên “Ngụy Quân”, “Ngụy Quyền” đều sống đời sống vô cùng khổ, vô cùng nhục, sống như chết đi rồi…như nhau, tôi cho là “y chang”, chí lý, trăm phần trăm không sai, không có biệt lệ. Tất cả họ, không chừa một ai, hoặc bị thủ tiêu một cách bí mật hay công khai; hoặc bị bắt đi tù khổ sai “học tập cải tạo”; hoặc nhà của họ đó, bị đuổi ra và bị lấy mất; hoặc họ phải dắt dìu vợ con đi vùng kinh tế mới heo hút nơi rừng sâu núi thẳm. Họ bị “quản chế”, bị theo dõi, bị áp bức và bị không cho có công ăn việc làm. Họ sống như bóng ma trơi trên chính quê hương mình. Họ muốn chết đi rồi mà không chết đi được. Tưởng chết là hết! Tưởng chết là dễ! Nếu là hết, là dễ thì những anh em bạn của tôi và chính tôi đây đã không còn trên trần đời ô trược nầy nữa từ lâu thiệt là lâu lắm rồi. Ngồi đây nghĩ lại những năm dài đi qua trong đời, dẫu gì, mình vẫn thấy mình còn ân phước bề trên ban cho mới còn sống và sống bình yên đến ngày hôm nay nơi nầy. Ngồi đây viết lại những vụn vặt kỷ niệm mà không khỏi bùi ngùi, cảm hoài thế sự đã chun vào quá khứ. Quá khứ có chôn vùi nhưng không khuất tất hết tất cả ký ức một thời đáng nhớ, không nói tới đáng thương hay đáng ghét. Có những cái còn lại là nỗi buồn mất mát thời học sinh quần xanh áo trắng; những mối tình học trò thoáng qua, đi mất. Cũng có những cái còn lại là nỗi đau trăm năm đời người sống đời tục lụy mà “nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới dồn lại còn hơn nước trong bốn bể” như lời Phật dạy. Con người, người ta tin là “có số” và nương theo “số” mà sống dù chập chùng tủi nhục. Tôi không tin. Tôi cứ lầm lủi sống, sống phấn đấu, sống không an phận thủ thường. Và tôi nghĩ, những anh em bạn bè tôi là những người bạn học, những chiến hữu, những bạn “Tù Học Tập Cải Tạo” cũng nghĩ như vậy. Sống là chiến đấu. Nếu không, mà ủy mị chờ thời, đợi số thì đã gục chết trong tù giam tận cùng dã man của bọn Cộng Sản Việt Nam ở những nơi nầy, nơi kia Bắc, Trung, Nam hết trơn rồi.


    Ðêm 31 tháng 8 năm 2012
    NGUYỄN THỪA BÌNH

  7. Xin cám ơn Thuabinh

    nguyenphuong (01-12-2013)

  8. #4
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 751
    Thanks: 26
    Thanked 1,230 Times in 386 Posts

    Default

    MƯU SINH THOÁT HIỂM
    NGUYỄN THỪA BÌNH

    Lâu gần nửa đời người ở quân trường hồi đó, bài học mưu sinh thoát hiểm đã dạy người chiến binh phải biết đường tìm sống trong tử sinh mong manh vì đói khát, địch thù, thú dữ, bẫy giăng, rừng thiêng nước độc…Chinh chiến đã tàn, người chiến binh thua trận bị cầm tù bỏ đói có chết chẳng ai màng. Họ phải tự tìm lối thoát vì bản năng sinh tồn của một con người có suy nghĩ mà cũng vì phải sống cho một lý tưởng thiêng liêng chưa từ bỏ. Danh từ mưu sinh thoát hiểm của một người tù mang danh “học tập cải tạo” trong chế độ bạo ngược Cộng Sản Việt Nam được gom trọn mấy chữ đầy nhẹ hều là “cải thiện linh tinh”. Chữ cải của mấy anh, mấy chị “đốt đuốt soi rừng” có người tìm không ra một chữ học hành nên lạ đời, tréo ngoe. Ai đời, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa biết gì kinh tế mà làm cuộc cải tạo công thương nghiệp cho công thương nghiệp đang phát triển của Miền Nam Việt Nam tàn tạ, tan tành theo mây khói một sớm một chiều! Ủy Ban Quân Quản bắt “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” Sài Gòn đi cải tạo là tẩy não để tuân phục, nhưng năm năm, mười năm, mười lăm năm hay lâu hơn nữa ai cải tạo được ai mà thù hận thì càng chất ngất!? Trong tù ở Trại An Dưỡng Biên Hòa, những miếng ván lượm mót ghép lại trên bốn bánh xe là bốn khúc gỗ cao su mới cưa ra thì gọi là xe cải tiến. Nhìn lại cải cách ruộng đất ở Bắc giữa các năm 1953 đến năm 1956 chết vài chục ngàn người và đi tù vài trăm ngàn người mà ruộng đồng xơ xác, nông dân nghèo tận mạng! Tôi đọc những truyện sách kể về đời những “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” Sài Sòn đi tù Việt Cộng bị đối xử phi nhân, vô đạo như thế nào nhưng ít được nghe kể nhiều về nỗi “đoạn trường” mưu sinh thoát hiểm đầy nỗi xót xa, thê thảm biết chừng nào của họ. Mưu sinh thoát hiểm ở đây xin được hiểu theo nghĩa là người ta đói không chịu nổi phải đi tìm một thứ gì đó ăn vào bao tử để nuôi sự sống mỏi mòn không biết ngày nào chết.

    Tôi từ Trại Tù Tân Hiệp Biên Hòa đến Trại Tù An Dưỡng cũng trong Biên Hòa vào một đêm tối trời cuối tháng 7 năm 1975. Ở đây gồm những nhà vòm tiền chế mái lợp tôle của Quân Ðội Hoa Kỳ nằm ngoài vòng đai Phi Trường Biên Hòa, có khu ướp xác chết lính Mỹ. Gọi là Trại Tù An Dưỡng Biên Hòa nghe nói là vì nơi đây đã chăm sóc sức khỏe, “an dưỡng” những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa được Bắc Việt trao trả năm 1973 trước khi họ trở về nhà đoàn tụ với gia đình. Mới một tháng xa nhà chịu đựng những sỉ nhục, “lao đông là vinh quang” và đói ăn từng ngày mà thân xác đã thấy mỏi mòn từng thớ thịt. Bữa ăn ít xỉn như cách hành hạ cho ăn đó để sống mà chết đói dần dần, ai cũng thấy mình đi những bước đi nhẹ tênh, thất thểu. Những bao Gạo Trường Sơn dấu kín trong rừng lâu nhiều năm đã bị mục, nát, mọt, mối… cho tù ăn, làm ai ai cũng bị phù thũng đi muốn không nổi. Các anh bạn có sức vóc lực sĩ là Thanh, Hy, Lượng, Dũng thường xách “cuối” và cuốc đi bắt chuột. Một hôm nhóm “Tứ Hùng” nầy xông khói, đào xới… bắt được ba con chuột cống nhum to lớn. Một bữa cơm thịnh soạn, các anh ăn ngon lành trước mắt thèm thuồng cũng có mà ngao ngán cũng có của nhiều người bạn tù ôm cái bụng lỏng le đi tới đi lui. Vào tù dẫu chưa được bao lâu, nhưng ai ai cũng đói meo và nghĩ rằng “cái gì nhúc nhích” đều ăn được để có “calorie” mà sống và cho khỏi cồn cào ruột gan. Suy nghĩ nầy không phải chỉ những người vu vơ y khoa như chúng tôi đâu có học y dược ngày nào mà ngay những người anh em bạn tù của tôi là những Bác Sĩ Quân Y, Bác Sĩ Cảnh Sát Quốc Gia, Bác Sĩ Bộ Y Tế hay Bác Sĩ dân sự... Tôi nhớ anh Phạm Ngọc Jean, anh của thằng bạn học tôi Phạm Ngọc Phi nói “con gì ăn cũng được, nhớ bỏ ruột gan và nấu chín”. Anh Jean , Ðại Úy Quân Y nay không còn vì vượt biên đường biển đã ra người thiên cổ từ lâu! Việc anh em hiếm hoi bắt được mấy con chuột là may, là mừng! Còn hơn bác Nhờ một đêm ngồi rình chuột nơi hố rác tối om om đã không đánh được một con nhắt nào mà còn một chút nữa bị hai người bạn trẻ sớn sác đái lên đầu.

    Một sáng đi loanh quanh ngoài đám cỏ tìm hà thủ ô đào, tôi bắt được một con thỏ rừng bị lọt dưới một hố nhỏ. Người ta nói sướng như “chó táp nhằm ruồi” và khoái như “buồn ngủ gặp chiếu manh”, nhưng chắc không vui mừng như tôi lúc bấy giờ. Cầm thiệt chắc hai chân sau và thiệt chặt hai tai dài của nó còn sợ bị sẫy, tôi ôm cứng con thỏ vào bụng đi nhanh về “láng”. Những người bạn xúm lại coi có vẻ ao ước, có người tiếc mà rằng: “ tao ra ngoải hoài, không gặp”. Anh Hy làm thịt con thỏ hồi đó, bây giờ có ăn có mặc nghĩ lại, mình con người sao dã man quá vậy cà! Ảnh lột da, kéo tới đâu con thỏ la hét tới đó và máu me chảy ròng ròng. Và “hóng nắng để cho da thịt nó săng cứng lại”, Hy nói như vậy. Con thỏ, trời ơi đau đớn biết chừng nào, có ai lúc hồi đó xót xa!? Nhưng “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, lúc bấy giờ ai ai cũng đói xác đói xơ có ai tội với nghiệp một con vật như con thỏ rừng vô phước đó đâu? Dù thịt được nấu với một cục đường tán vuông, một muỗng nhỏ chút xíu muối, vài trái ớt tươi, nước…nấu món gì nhỉ mà mấy anh em ăn ai cũng khen “tuyệt”. Ở đây, những ngày quanh quẩn dưới khu rừng nhỏ phía Nam của Phi Trường Biên Hòa đào ao nuôi cá, tôi bắt đầu biết rau tàu bay anh em chỉ cho và bảo “ăn không sao đâu”. “Ăn không sao đâu” mà độn cho no bụng thì “tao đâu có ngán”. Mấy đứa bạn tôi tù ở đây, đứa nào lại không hái rau tàu bay làm món rau sống, món rau luộc, món canh với nước muối, ngay cả món kho với vài con nhái bầu? Rau tàu bay, một loại thảo mộc nơi vùng hoang địa nầy ăn cũng không đến nỗi nào. Mùi thơm thơm theo tôi, nhưng có người chê là khó chịu. Nghe anh em bảo với nhau rằng “ăn nhiều sẽ bị mất máu và sốt rét”. Mấy tên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trẻ con mang “đôi dép râu dẫm nát đời trai trẻ” và đội “nón tai bèo che khuất nẻo tương lai” cũng xía vô mấy lời “thời chống Mỹ cứu nước, trong rừng chúng tôi cũng sống nhờ những rau tàu bay nầy”. Dĩ nhiên ngoài rau tàu bay ra, anh em mưu sinh thoát hiểm còn tìm tòi ra những loại rau rừng khác nữa. Một loại dây leo mà tôi biết từ hồi nhỏ là cây chùm bao. Hồi đó, chúng tôi mấy đứa nhỏ cầm nạn thun đi bắn chim thường tìm trái chín vàng của nó mà ăn. Bây giờ, bạn bè tôi đây hái đọt non luôc ăn và bứt cả dây, lá về phơi khô làm thuốc uống. Cây chùm bao có người gọi là cây lạc tiên, là cây nhãn lồng. “Chim quyên ăn trái nhãn lổng. Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi” có dính dáng gì không cây chùm bao? Những loại cây cỏ anh em bứt ăn có thứ tôi biết được mà cũng có thứ lần đầu tiên mới nghe tên. Cây bùm bụp mà chúng tôi hồi nhỏ ở Phan Thiết thường gọi là cây lồng đèn hay cây thù lù thường ăn những trái chín màu đỏ hay màu đen treo tòn teng trên cành bên bờ ruộng hay trong vườn tược, nhưng chưa bao giờ đụng tới thân và lá của nó. Có mấy anh em tỏ ra hiểu biết về Ðông Y nói là nó tốt cho lợi tiểu, tiêu đàm và đau nhức. Cây me đất “chua như me” mảnh khảnh có lá hình ba trái tim xanh xanh chụm lại, có nhiều bông vàng năm cánh, mọc quanh bờ mương bấy giờ mới biết và chưa từng ăn. Cây rau trai lá thuông dài, có lông tơ, cọng mềm nhiều nước và bông màu tím tím nhạt tôi biết được từ thời ở nhà quê vùng Hàm Thuận, Bình Thuận. Tôi thường nghe ba má tôi nói, nó giải nhiệt được, kháng viêm được. Nghe thì nghe vậy nhưng chưa bao giờ ăn thử, nói gì ăn thiệt. Chưa nói những loại như rau dền không có gai mọc hoang từng đám nơi nầy, nơi kia ven rừng, ven ao nước ngay chỗ hằng ngày chúng tôi “lao động là vinh quang”. Những loại rau sam có cọng mềm màu đỏ, lá màu xanh và bông màu vàng, ăn hơi chua chua, nhớt nhớt cũng không thiếu mọc quanh con suối chúng tôi tắm mỗi chiều. Nhà tôi hồi đó ở thôn quê thường ăn hoăc rau dền hoặc rau sam nầy bằng cách luôc chín chấm với nước mắm ruốc bình dân, không phải Mắm Ruốc Bà Giáo Thảo trộn với một chút đường và nhiều ớt thật cay. Cây rau dừa nước có lá xanh xanh đậm mọc so le, hơi giống rau sam có điều nhiều rễ hơn và nổi lềnh bềnh trên mặt nước, ăn có vị nhạt nhạt ngọt. Người Miền Nam Sông Nước ai lại không biết, không quen, không một lần ăn ngọn rau dừa nước dân dã nầy? Một loại cây mà hồi nhỏ chúng tôi thường hái trái còn xanh hay đã chín đỏ chia phe quăng nhau là cây bát bát. Cây bát bát hồi đó chúng tôi có thấy ai ăn lá và trái của nó bao giờ. Bây giờ vào đây đất trời tù đầy, tôi mới thấy anh em tranh nhau hái lá và trái mà ăn ngon lành còn nói nó là vị thuốc nầy vị thuốc nọ nữa. Nói gì những thứ như rau má, lá khoai lang, đọt khoai mì… chạy đâu cho khỏi hai con mắt tìm tòi, lục lọi ăn thêm vào cái bụng lúc nào cũng cảm thấy không có thứ gì ở trỏng. Việc đi hái những rau trời cải đất đối với người tù đâu được tự do, thường bị những cai tù là kẻ thắng cuộc cấm cản, bảo rằng như vậy là “cải thiện linh tinh” không được phép, có khi còn lên đạn hăm he đòi bắn bỏ; chưa nói bị cỏ may đan đầy áo quần châm vào người chịu không nỗi hay bị xước bởi những cây gai rừng, nhiều nhứt vẫn là những cây mắc cỡ đau biết chừng nào!? Ông bà mình nói đúng “muốn ăn thì lăn vô bếp” hay “khi đói đầu gối phải bò, cái chân hay chạy, cái giò hay đi” là vậy.

    Sắp sửa ngày 2 tháng 9 thì anh bạn Nhạc Sĩ Minh Kỳ với anh Lê tôi quên họ của ảnh là gì bị quăng lựu đạn chết với ông anh bạn cùng quê của tôi cụt một giò. Những người tù từ Ka Tum chuyển về cứ nghe mìn nổ và cứ nghe bị chết, bị thương hoài! Thời gian đã mấy tháng qua trong tù, đói thì đã quá đói và áo quần cứ rách chỗ nầy lại rách chỗ kia nát tươm! May ở đây là vòng đai an ninh của Phi Trường Biên Hòa ngày xưa còn để lại nhiều “tàn dư của Mỹ Ngụy” mà anh em moi móc ra nhiều hầm hố chôn đầy bao cát còn mới. Có bao cát, những người tù khổ hạnh “sáng tạo”, “cải tiến” ra những cái áo đủ kiểu, những cái quần đủ mốt, nếu không, lấy gì đâu mà che thân? Rồi còn phải làm ra những cái khăn lau mồ hôi, lau mặt những ngày lao động dưới trời nắng nóng như thiu như đốt da thịt. Và đây đã gần Tết Nguyên Ðáng Bính Thìn 1976, anh em phải làm ra những cái mền đắp Mùa Ðông năm đó sao lạnh dữ. Và nơi nầy vùng đất hoang dã anh em còn phải làm ra những cái mùng chống những con muỗi rừng đói ăn, hút máu một cách tham lam táo tợn. Và còn phải nghĩ tới mà làm ra những tấm chắn hay những mái che trời mưa trời nắng và gió bụi thốc từng cơn từng cơn làm thân còm cõi người tù chịu không thấu.

    Năm sau, những người tù chúng tôi ở đây được chuyển ra Xã Việt Hồng thâm sơn cùng cốc bên kia Sông Hồng trùng trùng núi rừng đèo heo chướng khí của Huyện Trấn Yên, Tỉnh Yên Bái. Chúng tôi tất cả đồng cấp Ðại Úy bị lùa vào hai dẫy nhà dài tranh nứa ọp ẹp mới cất thô sơ nói là Trại 6 của Liên Trại 1 thuộc Ðoàn 776. Trong Nam dù gì thì dù cũng quen phong thổ, trời đất và nhất là con người. Ở đây, tất cả sao lạ hoắc lạ huơ. Ðàn bà nào cũng chỉ cái quần dài màu đen phơn phớt đỏ vì cũ, cái áo cụt màu nâu sồng sờn vai rách gấu và trên đầu cứ vải cuốn tròn mấy lọn tóc như con rắn gọi nhau là khăn mỏ quạ. Ðàn ông nào cũng chỉ một bộ đồ tây màu olive bạc thếch vải Kaki Nam Ðịnh may vụng về, chân đi trần và đầu đội nón cối bung viền, rách vải. Tứ bề trông nghèo đói, rách nát, xơ xác…Ðói người ngoài đời xã hội làm sao no người trong tù “học tập cải tạo” và có trách gì đất đai, sông suối có gì, còn gì mà “cải thiện linh tinh”? Mới được thả đi chặt nứa ngày đầu, một anh to con lớn xác đã vác về một buồng chuối rừng nhiều nải, trái no tròn đầy đặn, ai thấy cũng thèm thuồng. Ảnh treo lên chờ chín. Anh em theo dõi chờ xem. Nhưng mấy ngày, chuối rừng là chuối rừng không ăn được, ảnh là Ðại Úy Tuyên Úy Phật Giáo của Thủy Quân Lục Chiến phải mất công “đem quăng đi cho rồi”. Anh bạn Huỳnh Ngọc Thuận của tôi từ Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, từ Trường Bộ Binh Thủ Ðức cũng ra đây, một hôm cây dừa bên hông “láng” của tôi được một cán bộ trại bảo “phải đào gốc bỏ đi”, Thuận đã cuốc, bới và lấy được một củ hủ to bằng vành tròn miệng “cái chén tàu”. Bửa, chẻ thân cây dừa ra, Thuận cười hì hì và la to “có một con đuông to tổ bố”. Con đuông, Thuận vừa bốc ra vừa nói “nó chính là con của con kiến dương, ăn đã ngon lại còn béo còn bổ nữa các bạn ạ”. Tôi cũng như Thiện nhìn thấy anh ta hí hững cũng vui lây, nhưng dòm con đuông hình thù như một con sâu to lớn lại sợ thì nói gì ăn uống, huống gì chỉ có một con chớ mấy mà ba miệng ăn thì còn gì cho Thuận “ùm một miếng ngon lành”. Thuận, người Bình Ðiền Chợ Ðệm nhà trồng nhiều dừa, việc rành tàu hủ dừa và đuông dừa là nghề của chàng nhà quê, chúng tôi người thành thị Phan Thiết thì xin chịu thua những cái gì nơi đồng áng, miệt vườn…Ở đây, chúng tôi không có gì, thôi thì cứ bẻ một, hai đọt non tre, giang, nứa…những thứ có ai ăn bao giờ đâu, rồi xắt dọc xắt ngang kho với nước mắm tôi cắc ca cắc củm bưng từ Biên Hòa ra. Nước mắm nầy chúng tôi cứ gọi là nước mắm cho có tên tuổi một chút, thực ra là hỗn hợp của mang cá ngừ, ruột cá ngừ, máu cá ngừ nhà bếp quăng đi, tôi lượm lại trộn trong muối, đậy kín lâu cũng cả hai tháng rồi. Loại nước mắm nầy chỉ có trong tù “học tập cải tạo” của tôi mà thôi, ăn mặn là cái chắc nhưng cũng có chút mùi nước mắm thum thũm. Chắc dân ở đây quá cơ cực nên cái gì ăn được trời đất ban cho người trần gian thì tìm rát con mắt may ra còn sót lại mà thấy. Ðã mấy tháng ở đây rồi, có cái gì để “mưu sinh thoát hiểm”, để “cải thiện linh tinh”? Hương đồng cỏ nội, trời ơi? Rau tàu bay, rau dền, rau sam, rau dừa, rau má, dây bát bát, dây chùm bao, lá me đất, rau chua lẻ, rau trai…không thấy đâu. Những con chim, con cá, con rắn, con ếch, con cóc, con nhái, con cua đồng, con ốc bu, con ốc leng,…không tìm ra bóng dáng!

    “Chó táp nhầm ruồi”, một hôm Thuận chụp đâu được một con ễnh ương mén đem về mà Thiện bảo là con ếch, nhưng một cán bộ già tên Tuấn nhìn thấy, nói là con chẫu chuộc. “Chẫu chuộc”, cái tên lạ lùng tôi mới nghe lần đầu. Lửa đang cháy, Thuận bỏ con ễnh ương vào nướng. Lấy ra, móc ruột bỏ, phủi tro bụi, thổi phì phà cho nguội một chút rồi bỏ cả con ễnh ương chín đen vào miệng “ùm một miếng ngon lành” và cười hả hê! Trong “mưu sinh thoát hiểm” ở đây, ngoài “cải thiện linh tinh” anh em bạn tù còn giao tiếp bí mật với dân làng để mua bán, đổi chác mà bọn cai tù là Quân Ðội Nhân Dân của cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thời bấy giờ thêm mắm thêm muối cho ra mấy chữ “quan hệ linh tinh” mà cấm đoán những người tù khổ sai biệt xứ. Dân Xã Việt Cường nầy nghe nói thời Cải Cách Ruộng Ðất, Nhân Văn Giai Phẩm…bị tống khứ lên đây mà đong đưa ngày tháng đói nghèo đến bây giờ. Họ thiếu ăn lại thiếu mặc nên thèm thuồng biết chừng nào “quần xi”, “áo lon” của người tù Miền Nam đem ra. “Quần xi”, “áo lon” là thứ quần áo anh em Người Miền Nam mặc thường ngày từ Vĩ Tuyến 17 trở vào, có gì đâu lạ. Một cái quần tây dài với một cái áo chemise dài tay đổi một con gà mái luộc, xôi nấu hai, ba cân gạo nếp với muối vừng và một bidon rượu. Ðói, cái mạng còn đổi được huống gì áo với quần, anh em ai không đổi!? Thỉnh thoảng bạn bè tôi mất cả chai lẫn chì vì đang lén lút bày gà ra, bày xôi ra, bày rượu ra chuẩn bị hưởng thụ thì bị mấy “bộ đội” là thứ cháu ngoan lưu manh của Bác Hồ quỷ quái nhào vô chụp ăn. Chạy thoát là may nói gì kiện cáo ai! Chỉ tội mấy anh tù đói mất quần áo, mất cái ăn thì không gì buồn hơn!? Mấy tháng sau, chúng tôi “chuyển trại” tới Trại 9 nằm cạnh bên Dốc Bá Thở, dưới Cây Ða, đường vào Trại 12 và các Trại 13, Trại 14 phía bên trong. Bây giờ, đã có khoai mì, khoai lang của trại trồng và của hợp tác xã. Ðói quá, anh em liều “mưu sinh thoát hiểm” là lén ăn cắp từng phen mà luộc ăn, mà nướng ăn, mà cũng có thể ăn sống cho êm cái bụng cồn cào có chịu nổi đâu. Chia từng bộ phận “cảnh giác”, “quan sát”, “nhiên liệu”, “hành động”, “báo động”,… nhưng cứ bị “bể ổ” hoài bởi mấy thằng nhóc bộ đội, mấy xã viên hợp tác xã, có khi còn một chút nữa là bị bắt tại trận là toi mạng sống. Toi mạng sống ở đây là, nếu bị bắt sẽ bị “đấu tố” mà bị đánh cho tới chết một cách dã man như cầm thú. Nghĩ cho cùng, con người có khi không hơn một con vật. Tôi có một lần làm gan tham gia với bảy, tám anh em trên đồi “sắn” nằm sát Trại 9, “phi vụ” trót lọt, chúng tôi được một bữa ăn phủ phê. Ðêm đó, tôi với anh bạn Hùng, Ðại Úy An Ninh Quân Ðội bị “say sắn”, đau bụng quá trời. Hai đứa phải đi đại tiện mỗi đứa một đống to như của mấy con voi ngay trong “láng” anh em đang ngủ làm họ phải thức suốt đêm tránh sao không cằn nhằn cẳng nhẳng! Một buổi sáng, có ba, bốn anh em cũng tù với nhau vừa đi vừa la ơi ơí. Tôi nhìn thấy người đi trước hai tay cầm hai chân một con vật giống như một con chuột đã bị đánh chết, nhưng lớn gấp ba bốn lần con chuột cống nhum trong Nam. Mấy đứa nhỏ “quân đội nhân dân” của Bác và Ðảng nói là con cúi. “Con cúi” thì biết là con cúi vậy thôi, ai biết “con cúi” là con gì? Tới gần, tôi xem “con cúi” như thế nào, thì thấy nó có khác về kích thước, nhưng giống giống như con bọ, con chuột, con heo con. Hèn gì ở đây, trên những đồi hoang còn để lại nhiều hố hầm người ta đào bắt “con cúi”. Gì gì, mấy anh em bắt được “con cúi” nặng cũng có ba, bốn ký lô trưa đó cùng nhau đã có một bữa có thịt ăn với mấy khúc khoai mì là “sắn” của trại phát cho!

    Năm 1977, một số tù ở đây bị chuyển lên một nơi còn “thâm sơn cùng cốc” hơn Huyện Trấn Yên của Tỉnh Yên Bái nữa. Chúng tôi tới Xã Dương Quỳ, Huyện Văn Bàn, Tỉnh Lào Cai một chiều Hè, mưa rừng xối xả không thấy đất trời mà không có được một mái lều, một nóc nhà để đụt, anh em ai nấy ướt như chuột lội nước. Tôi không còn nhớ một vài anh bạn nào đó ngay ngày hôm sau đã vác về mỗi người một mụt măng “đấy là măng vầu”, theo Người Tày ở đây nói cho biết, đắng quá không ăn được dù có tiếc cũng đành phải bỏ đi. Vầu, một loại tre, nứa nhưng rất cao, rất to và dầy ruột hơn cho nên măng của nó có những mụt to như cái bắp vế của một người đàn ông mập mạp. Văn Bàn, Trấn Yên, Lào Cai hay Yên Bái cũng là đất của cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì giống nhau là “có gì đâu mà cải thiện”. Trại tôi đang bị giam giữ chắc là Phân Trại 4 nằm kế Trụ Sở Xã Văn Bàn có cây cầu treo bắc qua bên kia Làng Người Mán ở lưng chừng núi và phía dưới cầu nước chảy là con Suối Nậm Chăn? Ở đây, mình đã đói khổ, đã nhức nhối nỗi đau buồn phiền biết chừng nào mà cứ phải nghe thánh thót đâu đó tiếng con chim rõ ràng ràng như tiếng người kêu la “bắt cô trói cột”, “bắt cô trói cột”. Cứ như vậy, người tù thì “hết khoai tới bột”, “hết bột tới bo bo” mà nhìn trời hiu quạnh với núi rừng đìu hiu trùng trùng! Cái đói của người tù “học tập cải tạo” là cái đói triền miên ngày sáu khắc, đêm năm canh. Tìm cái ăn là tìm bất cứ “con gì nhúc nhích” và cây trái gì hoang dã rừng rú…để nhét vào cái bao tử réo gọi từng tích tắc kim đồng hồ rằng “chắc chết đói quá” và thân xác tàn tạ như bóng ma trơi vất vưởng chờ ngày về với ông bà ông vải! May cho tôi một lần chặt nứa, bắt gặp được một cây Vả Rừng có vài trái chín đỏ tươm mật ngọt. Tôi hái và ăn một trái ngay tại chỗ, còn lại hai, ba trái dấu kín mang về trại. Vả chín ngon ngọt biết chừng nào, có điều ăn cỡ hai trái là bỏ bữa ăn luôn một ngày, chắc vì chất đường trái cây fructose của nó chăng? Ông bạn Ðại Úy Tiên của tôi cũng ăn trái cây rừng nhưng không phải trái vả rừng to như miệng cái chén mà là trái vải rừng nhỏ như ngón chưn người ta. Còn một chút nữa là ảnh đã về âm ty địa phủ mà ngàn năm vĩnh biệt trần gian.

    Vài tháng sau không biết vì lẻ gì, chúng tôi lại một lần nữa lên Cổng Trời trên Rặng Hoàng Liên Sơn về lại Liên Trại 1 ở Xã Việt Hồng của Huyện Trấn Yên, Tỉnh Yên Bái của năm ngoái 1976 mới ra Bắc. Chúng tôi ở Trại 13 gần Hang Dơi, bên kia là Trại 14 thường gọi là Trại Hạ Sĩ Quan nhốt những Xã Trưởng, Hạ Sĩ Quan Quân Ðội, Hạ Sĩ Quan Cảnh Sát…Chính sách của cái gọi là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đến giờ phút nầy vẫn chưa cho “thăm nuôi” nên cái đói đã vắt khô sự sống mõi mòn của người tù “học tập cải tạo” cùng kiệt đến mức nào! Ăn thì tới lui cũng mấy củ khoai lang, mấy khúc sắn, một cục bột mì, một chén bo bo, thỉnh thoảng lưng nửa chén cơm gạo rẻ tiền với vài cọng rau nấu canh nước muối và hai, ba con vịt hay gà bệnh ốm tong teo cho cả trại gần một ngàn người ăn. Ăn lúc nào cũng như chưa ăn. Cái bụng bao giờ cũng trống trơn. Thần thánh cũng phải kêu la đói, cũng có thể chết bất cứ lúc nào, nói gì “ngụy quân, ngụy quyền” chưa bao giờ trải qua cảnh đời “xuống chó” bi thảm cùng khốn đến như vậy! Một hôm đi chặt cây nhỏ về ủ làm “phân xanh”, vào rừng tôi gặp anh bạn Huỳnh Văn Thiện đang lom khom trong rẫy dong riềng đi ra với dáng vẻ vui tươi, hăng hái. Thiện nói: “tao ăn một bửa ăn dong riềng no nê. No nê cho nên tao vo, tao vọc, tao vung tứ tung như một tiềm thức trổi dậy xúc xiểm tao hành động một cách ác cảm vu vơ có ý thức sai khiến”.

    Cuối năm 1977, chúng tôi bị còng tay hai người lại một lên xe molotova chở lên Trại Trung Ương Số 1 Lào Cai ở Phố Lu trong Huyện Bảo Thắng nằm phía Bắc của Yên Bái và giáp ranh với Tàu. Từ đây, chúng tôi không còn “đi diện rộng” như ở những “láng trại” do bộ đội “quản lý” nữa mà sự giam giữ nghiêm ngặt hơn do cái gọi là Công An Nhân Dân “bò vàng” làm cai tù đảm nhiệm toàn bộ. Nơi đây, anh em giang hồ tứ chiếng đời tù bốn phương gặp nhau. Họ tù từ những Trại Cần Thơ, Long Giao, An Dưỡng, từ Cốc đến Thác Bà, từ Nghĩa Lộ qua Việt Hồng…gặp nhau đây biết kẻ còn người mất rồi lại tiếp tục “lao động là vinh quang”, “học tập tốt, lao động tốt sớm đoàn tụ với gia đình” mà cái chết đã cận kề giũa mòn, trù ẻo sự sống hắt hiu. Ở đây chẳng có vết chân người lai vãng ngoài cô liêu mây rừng gió núi vi vu với người tù “học tập cải tạo”. Ði một vòng xa ngàn dặm từ Việt Cường, Trấn Yên, Yên Bái đến Dương Quỳ, Văn Bàn, Lào Cai rồi Phố Lu, Bảo Thắng, Lào Cai, anh em tù thì thầm “sinh Nam tử Bắc” là cái chắc. Cũng như những trại đã đi qua, ở đây “có gì đâu” mà “cải thiện linh tinh”, “có gì đâu” mà mưu sinh thoát hiểm!? Một màu trời âm u, xám xịt! Mùa “thu hoạch” bắp đầu tiên ở đây, anh em bảo nhau “ăn bắp sống vừa ngon lại vừa bổ”, thật ra chỉ là bất đắc dĩ. Ai cũng ăn thử và ăn thiệt no một bao tử đói thức ăn bên trong. Ðã ăn cành hông anh em còn khuyến khích nhau dấu đem về buồng. Chắc đói, ăn cái gì không chết là ăn hết và ăn ngon vô cùng. “Ăn bắp sống vừa ngon lại vừa bổ” thật, ngày mai ngủ dậy khỏe re, có ai bị gì đâu? Tết Mậu Ngọ năm 1978 ở đây, trại phát cho mỗi tù “học tập cải tạo” một gói Thuốc Lá Ðiện Biên. Có người để lại phì phà với Xuân, nhưng đa số nhứt định “quan hệ linh tinh” với tù hình sự bên kia hàng rào “đổi chác” lấy cái bánh chưng tết hay vài lon gạo hay vài “bò lạc” để sống bớt cơ cầu. Tôi mau chưn lấy được cái bánh chưng còn nóng hổi. Bạn bè tôi người thì có vài “bò lạc” là vài lon sữa bò đậu phụng; người thì có một bọc gạo chừng một, hai ký lô. “Phi vụ” mần ăn với mấy tay tổ gian manh hình sự, thật thà dễ bị trắng tay tay trắng là thường. Mấy anh bạn tôi, có anh nhận gạo là một bịch sạn, cát, vữa của thợ hồ; có anh nhận bịch đậu phụng toàn là vỏ trộn trạo với gạch, đá vụn; có anh bị “bò vàng” bắt tại trận đang “quan hệ” thì mất hết đã đành còn bị “giũa” nặng lời và bị “ăn tiêu chuẩn 13 kí lô gam” trong một tháng trời. Tôi trong Ðội Gạch chuyên đạp đất, đóng gạch, nấu gạch…với các ông bạn Ðại Úy Chánh 101, Cảnh An Ninh Quân Ðội, Nhả Phòng 2, Thuận Cảnh Sát Dã Chiến, Ðiển Quân Pháp, vân..vân… rủ nhau ăn từ ngày nầy qua ngày kia, ăn hết rể lớn tới rể nhỏ của một cây rừng không biết tên là gì cho tới một ngày nó ngã đổ xuống giòng suối trôi đi. Mùa Ðông rừng núi Vùng Việt Bắc lạnh thấu xương tủy, chúng tôi đốt lửa ngồi cho ấm, ông bạn Ðiển với ông bạn Sơn nướng hai con trùn đất ăn. Có gì con trùn đất ngoài cái miệng của hai ông dính toàn tro than đen thui với bùn đất dơ dấy! Ðói, con gì, cái gì người ta cũng có thể ăn!

    Cuối tháng 12 năm 1978 chúng lại “chuyển trại”, đưa chúng tôi về K5, Trại Tân Lập Vĩnh Phú. Hai tháng sau, ngày 27 tháng 2 năm 1979, bọn Tàu đánh 6 tỉnh Miền Bắc nói là “dạy Việt Nam một bài học”. Năm đó Mùng Một Tết Kỷ Mùi nhằm ngày 28 tháng 1 năm 1979 trời không Xuân chút nào mà lạnh quá lạnh làm trâu, bò, dê, ngựa chết nhiều và tù “học tập cải tạo” cũng chết không thua gì vì đói rét, vì bệnh hoạn và vì nỗi đau moi ruột moi gan! Một buổi sáng mưa dầm gió Bấc, “Chánh 101” là người bạn tù thân thiết với tôi bắt đâu được một con cóc vàng rất to, bảo “thịt cóc ăn bổ lắm mầy, ăn mát lắm mầy”. Tôi ừ hữ! Chánh lột da, móc bỏ ruột gan, con cóc trắng phêu thịt như con ếch. Vậy là lần đầu tiên trong đời, tôi ăn lưng lưng một chén nhỏ nhỏ cháo cóc, cảm thấy ngon chi lạ. Mấy hôm sau, anh Lê Văn Rự là một Nghị Viên Hội Ðồng Tỉnh cũng chộp được một con cóc tía cái nhỏ hơn. Ảnh chỉ bỏ mỗi cái túi mật, còn hết thẩy da, gan, trứng, phèo phổi…nướng hết mà ăn, cũng chẳng chết thằng Tây nào. Một đêm gần sáng có nhiều tiếng cải lộn cách chỗ tôi nằm khoảng bốn, năm người. Thì ra, anh Khánh chỉ tay qua phía anh Dũng nói “nó ăn cắp đồ ăn của tôi”. Anh Dũng đưa hai tay ra phân trần “trời ơi, mình đói thấy mẹ, nửa đêm ổng cứ nhai nhai, nuốt nuốt làm sao mình chịu nỗi”. Anh em chê ông Khánh “ăn kín kín chút cha” và trách ông Dũng “đói ráng chịu ông nội”. Con người cũng là một động vật có bản năng sinh tồn nên việc mưu sinh là tất nhiên nhưng có suy nghĩ trước khi hành động. “Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay” thì sự trách móc, chê bai cũng xin châm chước cho. Ai đời tháng nầy qua tháng kia cái bụng lúc nào thấy cũng trống trơn như không có một thứ gì ở trỏng thì sự liêm sỉ có người cũng khó giữ. Thức ăn phân phát cho tù “học tập cải tạo” họa chăng chỉ đủ cho sống để chờ chết đói. Sự chi li “cân, đong, đo, đếm” đối với anh em là mẫu số chung cho sự công bằng không ai phiền hà ai. Người ta làm ra những cái cân tiểu ly sơ sài để “cân” đồ ăn cho không ai bị thiệt hơn ai. Người ta làm ra một hột tào cáo, có người cãi là hột xí ngầu, có người nói là hột xúc xắc để “đổ” ra “nhứt, nhì, tam, tứ, ngũ, lục” đố ai làm sao cho mình thủ lợi được. Người ta làm ra những cái “thẻ xin xăm” lắc tới lắc lui ra một con số cho công bằng không ai nhiều hơn ai mà cũng không ai ai ít hơn ai. Người ta “xin số” từ ai đó cho không để tự mình chọn cho mình phần to nhất, nhiều nhất, ngon nhất”…Tại K5 Tân Lập Vĩnh Phú trước những tháng giữa năm 1979 được thân nhân trong Nam ra “thăm nuôi”, những người tù “học tập cải tạo” đã sức cùng lực kiệt thèm ăn từng cục kẹo, miếng đường, muỗng bột, củ khoai, khúc sắn, con ếch, con nhái, con rắn, con rít, con chuột, con cào cào, con châu chấu…bất cứ cái gì, vật gì, con gì ăn được! Một hôm “thu hoạch” khoai lang, dĩ nhiên chẳng thằng tù nào lại chẳng vừa phủi bụi cát lại chẳng vừa kín đáo cắn rào rào những củ khoai lang sống còn nóng đất mới đào lên. Tôi và vài người bạn đào gặp những con sùng đất to bằng ngón tay cái, anh em bảo nhau: “ăn không chết đâu mà sợ”, còn “béo, bổ lắm đó”. Nghe lời, ngắt bỏ khúc đuôi đen đen, chùi sạch sẻ đất đai, tôi nhắm mắt bỏ vào miệng nhai mau mau mà “ực” một cái xuống cuống họng. Ớn thiệt! Ðằng kia Lắm, Dũng, Keng, Hưng cũng đang nhai sống ngon lành mấy con châu chấu, cào cào vừa mới chộp được.
    Tháng 12 năm 1980, chúng tôi bị lùa vào Thanh Phong rồi Thanh Lâm thuộc Huyện Như Xuân của Tỉnh Thanh Hóa. Thời gian ngắn ở Thanh Phong, Ðại Úy Anh, Trưởng Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia đơn thương độc mã, một mình mở màn “phi vụ” mưu sinh thoát hiểm đầu tiên ở đây. Ảnh đi xa quá xa vùng đất mới lạ để tìm rẫy khoai lang mà đào, tộn cho đầy “túi ba gang”, nhưng về thì không biết đường đâu mà mò. Quẫn trí, ảnh quỳ mọp xuống đất vừa dáo dác vừa van vái “Lạy Bà Chúa Rừng chỉ đường cho con về. Con thề không dám làm một lần nữa”. Và “linh thiêng thật mậy, con đường trước mắt chớ đâu”, Anh nửa buồn nửa vui kể lại. “Con thề không dám làm một lần nữa”, ảnh đã không giữ lời thề với Bà Chúa Rừng mà cứ phi vụ nầy tới phi vụ khác. Rồi tôi đi, không biết ảnh ở lại có bị “bắn rơi” lần nào không? Bọn Việt Cộng cố ý “chỉ định cư trú” tù “học tập cải tạo” chúng tôi tại Thanh Lâm để trở thành những “công nhân tù” cho hết một đời “ngụy quân ngụy quyền”? Ở đây, rừng gỗ lim, núi đá vôi, dã thú, hoang vu, cô liêu, mịt mù sương khói hờm sẳn, chờ chôn người tù sa cơ lạc bước. Tù “học tập cải tạo” đi đâu gần như có những công việc như nhau là chặt cây, phá rừng, trồng ngô, sắn, khoai lang, rau cải, làm rẫy, trồng lúa nương, làm gạch, đập đá, xây dựng nhà cửa… nặng nề, khốn khổ hơn trâu. Và ăn thì đâu đâu cũng ít có cơm mà ăn, thường quanh đi quẩn lại chỉ khoai mì, khoai lang, “sắn dui”, “bo bo”, bột… cũng không bao giờ lưng được cái bụng. May, bây giờ một số anh em có vợ con, cha mẹ, thân nhân “thăm nuôi” cũng kha khá miếng ăn nên không đến nỗi tàn tạ chờ chết như trước nữa. Những anh em “con bà sơ” thì đói meo vẫn đói meo nhìn anh em được “thăm nuôi” mà thèm khát, mà buồn tủi thân phận bơ vơ lạc loài.

    Một hôm tôi bẫy được một con chim mỏ nhác lớn gần bằng con gà ri. Mừng quá, chúng tôi những Ðặng Vân Anh, Bùi Hữu Bằng, Trần Nhật Sô, Lê Mậu Minh và tôi “chấm mút”với nhau một hai miếng thịt chim trong tù với hai khúc sắn gần một gang tay mà hả hê nụ cười. Xã Thanh Lâm từ Xã Bãi Trành trên Ðường Mòn Hồ Chí Minh đi vào là vùng rừng sâu núi thẩm tứ bề không thấy ánh sáng tương lai đường về. Ai ai cũng bảo nhau chắc mình bỏ xác nơi đây rồi mà bi quan lời than thở “cũng đành nhắm mắt đưa chân, thử xem con Tạo xoay vần đến đâu”? Một vài con rít rừng to lớn màu vàng long lánh, chưn cẳng râu ria tùm lum thấy mà sợ, nhưng không, “đó là con ngô công, bách túc trùng, thiên long, bách cước… là thuốc quý “tức phong chỉ kinh”, “thông lạc chỉ thống” đó mấy ngài” một anh bạn làm thầy thuốc Bắc nói. “Là thuốc quý” hay không là thuốc quý, đã năm, sáu năm tù rồi, anh em đố ai mà bỏ con rít to lớn quá như vậy bao giờ? Gặp nó là cứ đập, cứ bỏ vào lửa, cứ bỏ vô miệng nhóp nhép ngon lành. Một hôm đang cuốc đất lên luống khoai lang, một con “ếch bà” vô phước nhảy vào vòng tử địa của những người tù đói khát. Một tiếng hô “ếch bà” thì đồng loạt năm người rồi mười người và có đến cả hai chục người nhảy vào chụp. Con ếch bị xé mủn xé mụn ra và người chụp ếch, có kẻ chảy máu tay, có kẻ u cái đầu, nặng nhứt có người vẹo chưn đi không được cả tháng trời, than trời thở đất “ếch ơi là ếch”. Một hôm dọn kho gạo nhà tù Trại Thanh Lâm, chúng tôi nhiều người mà bây giờ chỉ nhớ có một mình Thiện chắc giống tên họ với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện? Nhiều con chuột cha, chuột mẹ, chuột con ăn gạo nhà kho mập thù lù bị mấy anh tù “học tập cải tạo” vây bắt gần hết. Thiện người miệt dưới Cà Mau, việc bắt chuột là “nghề của chàng” nên anh ta “chốp” được nhiều, tôi chỉ vài con. Vài con, tôi giao cho Thiện làm thịt và nấu nướng thiệt là ngon. Chúng tôi sáu người ba con chuột nướng chia nhau mỗi người một nửa con. Lần đầu tiên trong đời, tôi ăn thịt chuột cũng như thịt cóc, thịt ễnh ương, thịt sùng đất, thịt rít…và các loại rau rừng hoang dã.

    Hè năm 1982 chúng tôi rời Thanh Lâm tưởng chừng chôn xác nơi đây mà xuôi Nam theo xe lửa “Tàu Thống Nhất 3” về Gia Ray rồi molotova vào Z.30C Hàm Tân, gần Căn Cứ 6 ngày xưa thời Việt Nam Cộng Hòa. Ðây cách quê tôi Phan Thiết độ chừng vài chục cây số. Ngày xưa con đường Quốc Lộ 1, khu nầy rừng lá là ổ phục kích, đào đường, đắp mô, gài mìn của mấy tên du kích Việt Cộng. Ở đây trong Nam, anh em được thân nhân “thăm nuôi” nhiều hơn, đều đặn hơn nên ai nấy nhìn có vẻ “phương phi” một chút. Nếu không có gia đình nuôi sống từ lâu thì những người tù đã “ra đi” từ những năm 1979, 1980, đâu còn phải “ăn báo cô” đến bấy giờ! Ở đây có nhiều thứ “cải thiện linh tinh” hơn ngoài Bắc đâu có gì. Núi Mây Tào ở đây nhiều rắn, cá, chim, chuột, lươn, ếch,…nhưng có một loại đặc sản chỉ có nhiều ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy là con dong. Dong dễ bắt, dễ làm thịt và ăn ngon. Nhưng thật tình, tôi chưa bao giờ ăn thịt con dong nầy một lần, ngay trong thời gian ở tù hai năm nơi đây, có lẻ lúc đó đã được bà vợ sắp cưới của tôi “thăm nuôi” đều đặn mỗi hai tháng một lần. Nếu không thì mấy con dong nầy chạy đâu cho khỏi tay tôi lột da, chặt đầu, moi ruột gan mà nướng ăn ngon lành. Một hôm anh em đang làm cỏ ruộng lúa nương bìa rừng, một con nưa dài gần hai thước trườn qua. Ai nấy sợ hãi! Tên Thiếu Úy Công An Nhân Dân là Tuấn làm “Cán Bộ Giáo Dục” của Ðội Trồng Trọt thậm thò thậm thụt rút súng lục ra bắn mấy phát, nưa cứ từ từ bò, trườn như thường. Tôi lấy cây cuốc, búa một “cuốc” xuống, con nưa bị thương nặng, giãy giụa. Vài anh bạn dùng những thanh cây to tiếp theo “phạng” mạnh vào đầu, vào mình làm con nưa không còn con đường sống. Chiều phải mất hai người cột vào cây khiêng về. Mấy anh em nấu cháo mỗi người được một tô với một khúc thịt thân con nưa bằng một phần tư gang tay. Ngày xưa nghe ba má tôi nói ăn thịt con nưa có bảy lỗ mũi sẽ chết, nên tôi đã ngần ngừ, chờ anh em ăn sao đã rồi tôi mới ăn. Một số anh em ở đây làm bẫy bắt thỏ rừng, chim quành quạch, bìm bịp, cu, sáo, cưởng, le le, vịt trời…thỉnh thoảng cũng bắt được con nầy, con kia. Cũng như những con dong, những con chuột đồng hay ngay cả những con rắn nhiều loại anh em bắt được vì đã có gia vị nên nướng, xào, chiêng hay cả nấu canh, nấu cháo…thấy cũng ngon vô cùng. Thỉnh thoảng tôi cũng bắt được những con rắn mối to trong những đống rơm rạ, hốc cây, bụi chuối hay một, hai con cắc kè da sần sùi màu xanh đỏ trong bọng cây, khe đá…nướng ăn, thịt vừa thơm lại vừa dai như thịt “gà đi bộ”. Tôi cố bắt cho được hai loại con nầy vì nghe nói thịt của chúng trị được bệnh hen suyễn của tôi. Rắn ở đây cũng nhiều, anh em bắt được nay thứ nầy mai thứ khác: rắn lục, rắn chàm quạp, rắn nước, rắn bông súng, rắn ri cá, rắn hổ hành, rắn hổ đất, rắn lục, rắn roi, rắn rồng, rắn mai gầm… đều lột da bằm nấu cháo hay để nguyên con nướng hoặc cắt khúc chiêng, xào, kho, nấu canh…không chừa thứ nào, chưa nói lấy cái mật xanh đắng nghét nuốt sống với chút nước nóng “là thuốc đại bổ đó nghen”, anh em thường cười cười nói nói với nhau như vậy và thêm rằng “rắn, thức ăn cao cấp”, thì có bao giờ bỏ lỡ cơ hội mà khen chê rắn nầy rắn kia ngon dỡ, độc hiền! Tháng 4 năm 1984 chúng tôi đưọc lệnh thả ra, nhưng phải ở lại trại đến nửa tháng trời để “trả nợ cô hồn, quỷ thần”. Vài anh em rủ nhau xuống suối câu cá, bắt tôm hay vào rừng tìm tổ ong, bẫy chim. Tôi khoái “cải thiện linh tinh” nên cũng xuống bờ suối mò bắt hến. “Hến ở đây vỏ đen rất to, thịt nhiều, ngon ngọt”, chúng tôi làm món bông so đũa xào tép mỡ với mấy con hến mới bắt được, ăn lạ miệng thấy cũng ngon ngon. Cây so đũa ở K.2 của Z30C Hàm Tân tôi đang ở, từ thời nào trước khi tôi về, người ta đã trồng chung quanh trại rất nhiều, tới mùa bông nở màu trắng phếu mà mỗi sáng, thấy lấp lánh những giọt sương mai và thoang thoảng hương thơm dìu dịu trong đêm trường tịch mịch núi rừng.
    Vậy là sáu năm tù ngoài Bắc và gần ba năm tù trong Nam, tính ra mất hết tám năm, chín tháng, hai mươi bảy ngày cộng thêm năm tiếng đồng hồ tập trung “học tập cải tạo”, tôi may mắn sống sót được trở về gặp cha mẹ già còn sống đợi con với ba đứa con dại bây giờ mới biết ba là ai; được từ giả núi rừng âm u trùng trùng lầm lũi mà đi, không còn tháng ngày chênh vênh nơi đất khách quê người đói khát, lạnh lẽo, sầu đau! Nhưng còn sống với Việt Cộng ngày nào trong tù hay ngoài tù có khác nhau cảnh khổ nhưng giống nhau cái oan nghiệt, cảnh bần cùng, đời khốn nạn.

    Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đánh chiếm Miền Nam Việt Nam bắt người dân gọi là Ngày Giải Phóng, bọn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã làm băng hoại truyền thống gia đình và xã hội tốt đẹp của dân tộc. Họ đã gieo rắc tai ương kinh hoàng lên đầu lên cổ đồng bào. Họ đã làm cho lảnh thổ tan hoang đất cũng mất, biển cũng mất, đảo cũng mất và thụt lùi tiến bộ hằng nhiều chục năm. Họ bám trụ giai cấp lãnh đạo để hút máu, hút mủ của người dân đến tận cùng xương tủy. Họ gieo máu lửa hận thù vào lòng người anh em đồng tộc Con Rồng Cháu Tiên với nhau. Họ mang giòng máu loài quỷ sứ, yêu tinh dưới Âm Ty, Ðịa Ngục u u minh minh lên trần gian Nước Việt Nam của chúng ta mà gây bể dâu khốn cùng! Mượn lời Bình Ngô Ðại Cáo của Ðại Thần Nguyễn Trãi mà nói lên nỗi thống thiết: “Bọn gian tà bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn. Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ. Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế. Gây thù oán trải mấy mươi năm. Bại nhân nghĩa nát cả đất trời”. Tội vạ đó hiển nhiên: “Ðộc ác thay, Trúc Nam Sơn không ghi hết tội. Dơ bẩn thay, Nước Ðông Hải không rửa sạch mùi. Lòng người đều căm giận. Trời đất chẳng dung tha”. Trời đất bao la; thiên địa đổi dời; vạn vật chuyển dịch “cùng tắc biến, biến tắc thông” thì thói phi nhân, nghịch thiên lý của hết thảy bọn người mang quái thai kỳ quái, tanh tưởi Chủ Nghĩa Xã Hội hay Chủ Nghĩa Cộng Sản không tưởng sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn trong Xã Hội Loài Người. Bây giờ ngồi đây tính đi tính lại, chỉ còn hơn hai tuần lễ nữa là thêm một cái Tết sống tha huơng! Ngoài trời tuyết đang rơi, rơi nhiều hơn và trong lòng không khỏi ngậm ngùi nỗi buồn mơ hồ, mang mang, chơi vơi… ./.




    Kansas City, 22/ 1/ 2013
    ( 11/12/ Nhâm Thìn )

  9. The Following 5 Users Say Thank You to Phòng Trực For This Useful Post:

    khongquan2 (01-24-2013),lảo ngoan đồng (03-04-2013),nguyenphuong (10-21-2017),thanhcanh (01-23-2013),Tinh Hoai Huong (06-08-2017)

  10. #5
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 751
    Thanks: 26
    Thanked 1,230 Times in 386 Posts

    Default 30 tháng 4! TÔI CHƯA MỘT LẦN SINH NHẬT

    30 tháng 4!
    TÔI CHƯA MỘT LẦN SINH NHẬT


    Sáng nay, tôi tới tiệm hớt tóc Tấn’s trên đường Independent Ave, đối diện chợ Apple Market nhờ “hớt cao tóc chú lên một chút”. Hôm nay thứ Bảy, người tới hớt tóc đông quá, phải ngồi chờ. Không biết làm gì, tôi lấy tờ Việt Báo KC lên đọc, nhưng không có gì lại bỏ xuống. Mấy người ngồi chờ, già có, trẻ có không biết làm gì, họ xoay qua nói chuyện nầy, chuyện nọ với nhau, dù không muốn nghe, tôi cũng phải nghe. Nghe câu chuyện của một thanh niên lạ lạ, trạc 30 tuổi nói như kể chuyện về mình. Anh ta tới hớt tóc “để chiều nay đi “birthday” đứa con trai cầu tự của thằng bạn rất thân mà năm nào vợ chồng nó cũng mời về tham dự cho vợ chồng nó vui. Ðến năm nay, ráng lắm tôi mới về tham dự lần đầu. Ðứa con trai cưng, độc nhứt của vợ chồng nó, nó tổ chức hết sức rườm rà, to lớn, vui vẻ, làm cho mình đôi khi cũng không biết ăn làm sao, nói làm sao”. Một người cỡ tuổi với anh ta, thắc mắc hỏi: “Có gì mà không biết ăn làm sao, nói làm sao dữ vậy”? Một người chắc ngang tuổi tôi, khoảng 70 lại nói thêm vào: “Tụi tui ở Việt Nam, từ hồi còn nhỏ cho đến già năm, sáu chục tuổi trước khi qua Mỹ có biết gì sinh nhật với sinh nhiếc đâu. Qua đây, mấy đứa nhỏ mới bày ra “sinh nhật, mừng tuổi cho ba, cho má”, mình mới biết mình già thêm một tuổi đời”.


    Nhìn tới nhìn lui, chắc nghĩ tới phiên hớt tóc của mình còn lâu, người “thanh niên trạc 30 tuổi” vừa nhìn qua mọi người vừa từ từ nói:
    - Chuyện ngày xưa lâu lắm, có từ trước khi tôi sinh ra, được nghe kể lại. Ba tôi là một Ðại Úy, Tiểu Ðoàn Trưởng Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Khánh Hòa. Lúc mà Nha Trang không còn chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nữa, ngày 4 tháng Tư năm 1975 ba tôi dắt một số lính chạy giặc Việt Cộng. Nói thì chạy, nhưng thỉnh thoảng cũng đụng trận với mấy tên Việt Cộng nằm vùng địa phương. Lúc đầu, lính tráng còn đông, còn chỉ huy được, nhưng từ từ mỏn lần và cuối cùng thì mạnh ai tìm đường nấy mà đi. Ba tôi bỏ súng, bỏ áo quần lính mà đi tay không với bộ đồ người dân thường, tới đâu kiếm ăn đó. Nhiều khi đói, mệt, còn phải giành giựt đường đi với người ta, ba tôi tưởng như không sống nỗi. Khi thì đi bộ, khi đi ghe, khi thì quá giang xe đò, xe Honda… ba tôi đi tới đâu thì y như rằng chỗ đó đã bỏ ngõ. Tới Phan Rang ngày 16 tháng 5 thì Phan Rang đã không còn ai bóng dáng người lính Việt Nam Cộng Hòa, có chăng là vài ba mén du kích Việt Cộng bắn vài viên đạn AK lạc lỏng thị uy. Tới Cà Ná, Hòa Ða của Bình Thuận thì tình trạng như vào cơn hỗn loạn, không có Việt Cộng cũng không có Quốc Gia, mà có quá nhiều khủng khiếp, hãi hùng. Ngày 19 tháng 4 sắp vào Thị Xã Phan Thiết thì nghe “đã giải phóng?” rồi. Và cứ như vậy, ba tôi xuôi Nam vào Sài Gòn, về Củ Chi vào chạng vạng ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi ông Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Trước đó gần một tháng, má lớn của tôi dù sắp tới ngày sinh đẻ anh tôi, cũng hớt ha hớt hãi chạy ra Long Khánh, ra Vũng Tàu tìm ba tôi bấy giờ đang ở đâu. Tôi gọi là “má lớn” vì tôi là đứa con của người vợ sau của ba tôi. Không biết làm sao, chưa tới một tiếng đồng hồ sau, thì mấy tên nhóc hàng con cháu ngày xưa ở cùng Xóm Chùa, bây giờ làm Xã Ðội Xã An Phú và Cộng An Xã An Phú đã vào nhà còng tay ba tôi dắt đi, lý do “thành phần nguy hiểm”. Bà nội tôi van lơn “Vợ nó sắp đẻ”; má lớn tôi van lơn “Hai con tôi còn nhỏ dại lắm”; hai anh lớn tôi năm tuổi, ba tuổi đứng nhìn, la, khóc thảm thiết. Ba tôi, mấy ngày không có một hột cơm và vẫn bộ đồ chạy loan tả tơi, nhìn mẹ, nhìn vợ, nhìn con mà nưóc mắt rưng rưng, uất nghẹn không nói được một lời! Ba tôi muốn rờ đầu hai con mà thương lần chót; muốn cầm tay nói với nội tôi vài lời; hun mẹ lớn tôi một cái từ biệt, nhưng phần vì hai tay đã bị còng rồi và hai đứa Cộng An đã kềm, kẹp, kéo, lôi ba tôi đi. Không biết có phải tới ngày sinh đẻ hay vì quá xúc động mà má lớn tôi lại đau bụng đẻ vào 9 giờ đêm ngày hôm đó, ngày 30 tháng 4. Lúc bấy giờ tìm không ra “cô mụ” để đỡ đẻ, má lớn tôi đau bụng quá, la khóc biết chừng nào, được mấy chị và em của má lớn tôi khiêng võng chạy tới chỗ nầy rồi chạy tới chỗ kia. Anh của tôi được đẻ ở dọc đường và cũng đã chết ở dọc đường. Má lớn của tôi, nghe nói ra máu nhiều quá, khiêng về tới nhà thì cũng qua đời luôn, lúc đó gần 12 giờ khuya.


    Sau nầy, dù đã già lắm rồi, mỗi lần kể lại những chuyện trên, bà nội tôi lại nức nở khóc và không bao giờ quên “chữi cha mấy thằng Việt Cộng ác đảng, 30 tháng 4 “giải phóng” gì, giải phóng cho người ta chết, ngưòi ta đi tù ”. Từ ngày bị bắt đi tù, ba tôi bị nhốt kín trong một phòng giam nhỏ đủ có một chỗ nằm dài trên một bục xi măng thấp có ánh đèn lờ mờ ngày đêm và thức ăn khi thì khoai lang, khoai mì; khi thì bo bo, cơm độn…ăn không đủ tráng men dạ dày, nói gì qua loa ngày hai bữa. Rồi bị “chuyển trại” nay chỗ nầy, mai chỗ kia, nhiều nơi không biết là đâu. Mấy tháng sau ổn định hơn, ba tôi mới biết mình về Cần Thơ rồi ra ngoài Bắc. Ở đâu ở, ba tôi nói cũng trong rừng sâu, núi thẩm, đói ăn, thiếu mặc hết trơn mà làm lụng thì cực lực. Mấy năm ở Yên Bái, ở Lào cai, ở Vĩnh Phú, ở Thanh Hóa…sống chết với sơn lâm chướng khí, tưởng không nhìn thấy lại mẹ và các con trong Nam. Những người bạn tù với ba tôi, đa số được “thăm nuôi” hay nhận được “quà” gởi, nhưng ba tôi thì không. Ba tôi biết, bà nội tôi nghèo lại già, việc nuôi dưỡng hai đứa cháu nội không cha, không mẹ đã là khổ lắm rồi, làm sao từ trong Nam lặn lội ra tới đất Bắc mà thăm con trong rừng, trong núi đèo heo!? Tháng 9 năm 1982, tức đã 7 năm gần 5 tháng, ba tôi được thả về từ Trại Thanh Lâm, Tỉnh Thanh Hóa, lúc hai anh của tôi, người đã 12 tuổi, người đã 10 tuổi rồi và tôi thì chưa biết đang ở đâu. Về lại cố hương “Thành Ðồng Vách Sắt?” ba tôi sống lại nghề ông bà là làm nông trong Ðội Sản Xuất Nông Nghiệp do một người bạn học của ba ngày xưa trốn lính làm đội trưởng. Bà nội tôi mua đi bán lại những thứ hoa màu miệt vườn như trái cây, rau cải, củ khoai, củ đậu. Hai anh tôi đã đi học lớp Tư và lớp Hai. Nhà cũng sống khó khăn, khốn khổ qua ngày đoạn tháng và nỗi buồn nhớ má lớn của tôi không làm sao mà nguôi ngoai cho được.


    Cuối năm, một cô giáo Tiểu Học từ Sài Gòn cách chừng 70 cây số, tình nguyện về Củ Chi dạy học. Hai anh tôi học ở đó vừa học giỏi lại vừa lễ phép, cô giáo mến thương. Một hôm thình lình, cô giáo tới nhà thăm hai đứa học trò của mình. Nhà, bà nội tôi đi bán ngoài chợ nhỏ chưa về; hai anh tôi ra ngoài ruộng bắt dế; chỉ có ba tôi đang ngồi trong bếp lụm cụm nấu cơm chiều. Không biết hai người ăn nói làm sao mà đầu năm 1983, cô giáo nhỏ hơn ba tôi tới 10 tuổi chịu về làm vợ ba tôi. Cô giáo theo chồng cày cấy, cuốc đất, làm vườn, sống đời cực nhọc nơi thôn dã, bỏ nghề dạy học, bỏ thời con gái thị thành. Ngày 30 tháng 4 năm sau, năm 1984, tôi sinh ra đời cùng ngày và cùng căn nhà má lớn tôi chết trước đó 9 năm. Vậy thì, tôi là con út của ba tôi và con đầu lòng cũng là con một của má tôi là cô giáo từ Sài Gòn lên. Không nói gì ba má tôi, bà nội tôi mà cả hai anh tôi nữa rất thương tôi “thằng nhỏ chút xíu mũm mĩm”. Năm 1986, hai anh tôi, người lớn mới 16 và người nhỏ mới 14 phải nghỉ học “vì ba các em là một Ðại Úy Ngụy Quân”. Cả nhà buồn vô cùng, nhìn nhau chết điếng! Ba tôi đau xót ruột gan “thôi rồi, các con không còn tương lai”! Bà nội tôi ôm hai anh tôi vào lòng không nói được một lời nào mà nước mắt cứ chảy dài, chảy dài. Hai anh tôi buồn nhiều, không muốn nói chuyện với ai và hình như có mặc cảm là con “ngụy quân, ngụy quyền”. Ðầu năm 1988, anh lớn tôi bị bắt đi “nghĩa vụ quân sự” ở Kampuchia, dù ba tôi đã trình bày nhiều lý do được miễn, trong đó có lý do đi HO. Chiến trường Kampuchia ác liệt nhất là những năm 1976-1977 và 1978-1979. Anh tôi qua một năm trước khi “Quân Ðội Nhân Dân” của Việt Cộng rút về năm 1989. Vài tháng sau, ở nhà nhận được tin một cách qua loa, ảnh đã chết vào ngày 30 tháng 4 năm 1988 tại Huyện Moung Ruessei, Tỉnh Battambang, không tìm ra thi hài. Tại sao cứ phải là ngày 30 tháng 4? Cả nhà, ai cũng thắc mắc: 30 tháng 4 mất nước; ba tôi bị bắt đi tù; má lớn tôi đi đẻ, chết; anh út của tôi mới sinh ra, chết; tôi ra đời và lớn lên; anh tôi đi lính chết mất xác ở Kampuchia…! Rõ ràng ràng, ngày 30 tháng 4 là ngày tang tóc, ảm đạm, đau buồn, đen tối biết chừng nào cho gia đình chúng tôi! Ngày không có nụ cười! Lớn lên, tôi dần dần thấm thía biết mấy nỗi đau của gia đình!
    Giữa năm 1993, gia đình tôi HO. 17 qua Mỹ vào một chiều Hè tại Phi trường Quốc Tế vùng Nam Cali nóng ấm là San Diego Airport thường được gọi là Linbergh Field, lúc tôi vừa tròn 11 tuổi. Những người bạn của ba tôi, tôi không biết từ đâu đến đón gia đình tôi thiệt là đông và nhiều xe hơi quá chừng, long trọng như thể nghênh đón một vị quan chức nào lớn lắm mà tôi vẫn thường thấy trên TV ở Việt Nam. Sau mới biết, đó là những người trong Hội Cựu Quân Nhân và mấy nguời bạn lính cũng như bạn tù của ba tôi. Bà nội tôi sau đó hai năm thì qua đời một cách êm ả, bình thản như người ngủ một giấc ngủ dài thật dài, nhưng hình như vẫn còn nét mặt buồn rười rượi! Ba tôi qua Mỹ lúc 51 tuổi, làm ngày làm đêm, bây giờ đã nghỉ hưu. Tưởng về hưu đi đây đi đó hay dưỡng già, nhưng ba tôi lại mệt, có lẻ còn hơn cả thời đi làm hảng xưởng. Ba tôi phải coi sóc mấy đứa cháu nội, con anh Ba tôi và ngay thằng con trai tôi mới hơn hai tuổi, “để ba má nó đi làm”.


    Má tôi mới hơn 60 tuổi, còn phải “cày” thêm vài năm nữa mới được “full retire”. Bà cụ cứ than hoài: “Tao thấy mệt lắm rồi. Hồi trẻ dạy tụi nhỏ một ngày mấy lớp; đi cày đi cấy nặng nhọc cách mấy cũng không đến nỗi nào “oải cả người” như bây giờ tuổi già, sức yếu”. Ở San Diego, ba tôi tích cực tham gia trong những sinh hoạt cộng đồng, hội đoàn Người Việt Quốc Gia như Hiệp Hội Người Việt San Diego, Lực Lượng Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa San Diego, Hội Người Việt Cao Niên San Diego…Không những không bao giờ bỏ qua một buổi lễ Kỷ Niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng 4 năm 1975 nào, ba tôi còn bảo vợ, con “Tụi bây phải đi để nhớ ngày đen tối của đất nước và ngày đau thương của gia đình”. Ở nhà, hoặc chiều hoặc sáng ngày hôm đó, ba má tôi làm lễ giỗ cho má lớn và hai anh của tôi. Lễ giỗ, cúng đơn sơ những món ăn chay thanh đạm. “Cúng để tưởng nhớ người thân quá cô, không phải là dịp ăn uống, cười vui”, ba tôi thường nói như vậy. Ở Mỹ, tôi thấy người ta cứ cúng giỗ vào mấy ngày cuối tuần để có đông người tới lui ăn uống no say, ca hát, la hét ồn ào. Ba tôi thì nhất định, “Mất ngày nào là cúng đúng ngày đó, không bao giờ cúng trước hay cúng sau để mất đi ý nghĩa thiêng liêng và đạo lý gia tộc”. Tôi sinh ra ngày 30 tháng 4 năm 1984, bây giờ đã 29 tuổi đầu, chưa một lần được làm sinh nhật. Ở Việt Nam, tôi ở trong một xã thuộc huyện nhà quê ở Củ Chi, không nghe ai nói tới sinh nhật sinh nhiếc gì cả, không có thì không nói làm gì. Ở Mỹ, sinh nhật người ta coi trọng biết chừng nào. Trong nhiều hảng, xưởng không đông người lắm, ai cũng biết ngày nào là ngày “birthday” của ai để mua thiệp, mua quà, mời đi ăn, chúc mừng, ca hát “Happy birthday to you. Happy birthday to you…”.


    Mấy đứa nhỏ Việt Nam lớn lên ở Mỹ cũng quý ngày “birthday” của chúng nó vô cùng và cha mẹ cũng lo cho và vui với tụi nó. Tôi từ San Diago lên đây ngày hôm qua cũng vì sinh nhật đứa con thằng bạn thân nối khố ngày xưa cùng xóm cùng làng ở Việt Nam. Ðã mấy năm nay, hứa tới rồi hẹn lui, năm nay tôi mới đi được. Tôi ở San Diego bên Cali lên đây cũng xa tít mù mù trên hai ngàn cây số đường máy bay và cũng cả bốn tiếng đồng hồ, nhưng thấy trong lòng cũng vui vui và không mệt mỏi gì. Nhưng tôi, ở Việt Nam không nói làm gì, ở Mỹ từ 1993 đến nay cũng hai chục năm rồi, có thấy sinh nhật nào cho mình đâu!? Tôi không có sinh nhật, tại tôi sinh vào “ngày đen tối của đất nước và ngày đau thương của gia đình”, như ba tôi thường nói. “Vui gì ngày 30 táng 4 đó mà birthday, mà sinh nhật”, má tôi còn nói thêm. Riết rồi, tôi thấy ba tôi, má tôi nói cũng có lý, cũng chí tình và thấy, hình như có nỗi đau uẩn uất trong lòng của song thân mình, làm cho mình đôi khi cũng không biết ăn làm sao, nói làm sao. Và những ngày tháng đó, nếu có ai mời vui chơi đâu đó, tôi thường từ chối khéo. Ðặc biệt năm nay lên đây vì bất đắc dĩ và chắc chỉ một lần nầy thôi. Bạn bè tôi thường hỏi: “sao không thấy mầy có “birthday”? Cười khỏa lấp, tôi lập y khuôn lời nói của ba má tôi, rằng: “ Ngày mất nước, có vui vẻ gì mà làm sinh nhật”. Tôi không muốn nói thêm, ngày đó còn là ngày tang tóc của gia đình tao.


    Người thanh niên như còn trớn, định nói thêm điều gì nữa, nhưng Tấn nhìn về phía anh ta, nhẹ nhàng nói: “Tới phiên anh hớt”. Anh cuối đầu chào tôi và lên ghế ngồi hớt tóc “để chiều nay đi birthday đứa con trai cầu tự của thằng bạn rất thân”. Qua câu chuyện không mấy vui của anh ta và thực tế đã nhìn thấy qua mấy chục năm nay, tôi ngồi nghĩ, cái ngày mà Việt Cộng chiếm Miền Nam gọi là Ngày Giải Phóng, thật sự cả Miền Nam Việt Nam bắt đầu đổ nát, tang thương. Người Bắc được dịp làm giàu. Người Nam mất mát, chết chóc, cùng khổ! “Ngày Giải Phóng?”, tạo ra ghét nhau giữa hai miền, Bắc từ Vĩ Tuyến 17 trở ra và Nam từ Vĩ tuyến 17 trở vào, vì Bắc vào là cai trị, là ăn cướp, là hà hiếp mà Nam thì bị “đổi đời” không còn gì, ngay cả mạng sống. Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, giang sơn, đạo lý, truyền thống, mỹ tục của cha ông giữ gìn từ ngàn năm nầy qua ngàn năm khác đã bị tiêu tan bởi cái chủ nghĩa ngoại lai không tưởng Cộng Sản. Cộng Sản kiểu bán nước cho Tàu mà mất đất, mất đảo, mất biển. Cộng Sản kiểu ăn cướp tài sản của dân nghèo mà thành triệu phú, tỷ phú và dân nghèo thì phải đi làm đĩ khắp năm châu để kiếm ăn mà sống. Cộng sản kiểu người dân kinh hãi, thấy đâu đều tìm cách chạy trốn đến nỗi chết trôi sông, trôi biển, chết trong rừng sâu núi thẩm. Người bạn trẻ trong hoàn cảnh đất nước tan hoang lại đau nỗi đau gia đình oan khiên, vụn vỡ…thì niềm vui tìm đâu ra cho ngày sinh nhật của mình!? Thôi thì “30 tháng 4! Tôi chưa một lần sinh nhật” cũng phải. Xin chia buồn anh bạn trẻ sinh bất phùng thời. Mong đất nước một ngày không xa, bóng dáng Cộng Sản không còn trên đất nước thân yêu của chúng ta. Người Việt Nam chân chính đứng lên cầm nắm và xây dựng quê hương là một nước Việt Nam độc lập, phú cường, hạnh phúc…

    NGUYỄN THỪA BÌNH
    Ðể nhớ ngày 30 tháng 4 năm 1975

  11. The Following 5 Users Say Thank You to Phòng Trực For This Useful Post:

    BachMa (04-20-2013),hieunguyen11 (04-20-2013),Hoanghac (04-20-2013),khongquan2 (04-20-2013),nguyenphuong (04-20-2013)

  12. #6
    Phòng Trực's Avatar
    Status : Phòng Trực v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2010
    Posts: 751
    Thanks: 26
    Thanked 1,230 Times in 386 Posts

    Default Dân chơi cầu 4 cẳng

    Ông Huỳnh Văn Thiện một phần dưới con mắt tôi là một anh bạn thông minh, lì lợm, ngang tàng, "chịu chơi", và đặc điểm là chí tình, chí cốt với bạn với bè. Tôi sống đời tù với ổng 6 năm trời từ Biên Hòa năm 1975, ra Hoàng Liên Sơn ở Yên Bái, ở Văn Bàn, ở Lào Cai rồi Tân Lập Vĩnh Phú đến cuối năm 1980 sau khi vào Thanh Phong, Thanh Lâm ở Thanh Hóa mới thôi. Ông Huỳnh Văn Thiện một phần nữa, tôi nghe mấy anh em bạn đồng hương Thừa Thiên-Huế, đồng Khóa 2 Học Viện CSQG “mắc ơn” ổng rất nhiều, rất nhiều. Họ đã nói: “ổng đã nuôi gia đình tôi”, “ổng đã xây dựng việc làm cho cả nhà tôi”, “ổng đã cưu mang, và chạy chức chạy quyền cho tôi”…Tôi biết ổng. Người ta nói “Dân Chơi Cầu 3 Cẳng” ở Chợ Lớn để chỉ mấy tay anh chị “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Tôi thì tôi thấy ông Thiện, nói đúng hơn là ông Huỳnh Văn Thiện, hay nói rõ hơn là ông Phó Trưởng Ty CSQG Tỉnh Thừa Thiên, hoặc chi tiết hơn là Thiện Điếc, Thiện 8 ngón, Bát Chỉ Thần Cái, Thiện Huế, Ấm Thiện, Mệ Thiện…đáng là Dân Chơi Cầu 4 Cẳng, vì Cầu 3 Cẳng đã có tứ chiếng giang hồ cát cứ rồi.


    Huỳnh Văn Thiện 46 Năm K.2 Họp Mặt năm 2013

    Hôm nay, tôi viết tặng người bạn tôi một bài viết có tựa đề là Dân Chơi Cầu 4 Cẳng, mà nội dung có nhiều chữ ma, nhưng không phải là ma của người chết đội mồ dưới đất chun lên đâu. Xin bắt đầu dưới đây nhé:
    Cụ Phó Huỳnh Văn Thiện thiệt là ma mãnh, ma le, ma lanh ( tiếng Pháp là malin ) lắm, nhưng không phải ma cô ( tiếng Pháp là maqueau ), ma cạo, ma cà bông ( tiếng Pháp là vagabond ), hay dữ dằn, khiếp đởm như loài ma quái, ma quỷ, ma cà rồng ( tiếng pháp và tiếng Anh là vampire ), hay là mánh mung, thủ đoạn kiểu mafia, ma nớp ( tiếng Pháp và tiếng Anh là manœuvre ) ghê gớm chi mô. Nói thiệt, cụ Thiện nhà ta không ma lanh, ma mãnh…thì làm sao nhóc con mới ra trường nhảy tót lên bàn độc Phó Ty CSQG Thừa Thiên ngồi? Dẫu gì cụ cũng được ma măng là người mẹ ( tiếng Pháp là maman ), mà Thiện thường gọi là ma me có nghĩa là mẹ của tôi ( tiếng Pháp là ma mère ) không phải các ma sơ ( tiếng Pháp là ma sœur ) là chị của cụ chăm sóc kỷ quá đứa con cầu tự, nhất là những khi Thiện ma lách tức là bệnh ( tiếng Pháp gọi là malade, và tiếng Mỹ gọi là sick ) cho nên, cụ có ham chơi, có luông tuồng, có ngang tàng, có bị một ma lực, ma chước nào đó đi nữa cũng khó lọt vào vòng kim cô các thứ ma như ma túy, ma men, ma tình, ma ri sến ( từ tên Maria Schell, minh tinh Áo ) để ngâm nga câu thơ tương tư “đa tình tự cổ không dư hận, thử hận miên miên vô tuyệt kỳ”, những thứ mà dễ bị ma đưa lối quỷ đưa đường vào nẻo trời ma giáo hun hút, mà biết đâu trở nên tay ma đầu giáo chủ cũng nên!? Ổng chỉ nói còn một chút nữa là bị Ma Da "bắt" chết đuối ở sông Hương lúc còn nhỏ mà thôi. Nhớ thời ở tù Việt Cộng gọi là “học tập cải tạo”, trông Mệ Thiện nhà ta ma lem ma luốc như rứa, nhưng có ai biết gan to hơn mấy con ma mút thời tiền sử ( tiếng Pháp là mammouth, và tiếng Anh là mammoth ), dám ôm lựu đạn cứu người để thành Bát Chỉ Thần Cái hay Bát Chỉ Đại Vương?


    Mệ Thiện tại tư gia năm 2016

    Nên nhớ, cậu Ấm làm là vì tấm lòng với dân, không để VC giết oan đồng bào mình lúc giải trí trong rạp hát Tân Tân ngoài Huế, chứ không phải để “dợt le” đám Ma Nữ Đa Tình hắc ám trong giới ma đạo giang hồ đầy mưu ma chước quỷ đâu nhé; cũng để cho đồng bào thấy, Bạn Dân đâu chỉ biết xài ba cái thứ dùi cui ma trắc ( tiếng Pháp là matraque ) không đâu. Khi ở tù ra, không nghề cũng chẳng nghiệp, Bát Chỉ Đại Vương hay Bát Chỉ Thần Cái đi tìm việc đủ nơi, khi thì về lại Ma Lâm ở Bình Thuận, lúc thì xuống Ma Thiên Lãnh tận Tây Ninh, nhưng cũng không có việc gì mà làm. May có thằng lính ngày xưa của ổng làm tài xế chiếc xe đò cà tàng nhận vào làm “lơ”. Nghề lơ, mỗi sáng quây cái ma ni ven ( tiếng Pháp là manivelle, và tiếng Mỹ là cranking handle ) cậu Ấm mệt bỡ hơi tai, chiếc xe cũ rích chạy bằng dầu cặn ma dút ( tiếng Pháp là mazout, và tiếng Mỹ là mazut ) cũng không muốn nhúc nhích! Sống đời ma bùn ( tiếng Pháp là maboul ) cùng khổ, còn làm công dân hạng 2, cậu Ấm mộng vượt biên dù có trôi dạt qua Ma Ní là thủ đô Manila của Phi Luật Tân, hay xuống tận quần đảo Madagascar ở dưới châu Phi, hoặc may mắn hơn dạt vào thủ đô Madrid của Tây Ban Nha ở châu Âu, vẫn phải đi. Không đi được, Thiện “binh” đường gan góc, chông chênh ngục tù, mà cái chết như chỉ mành treo chuông. Anh làm nghề ma két tinh ( tiếng Pháp và tiếng Mỹ là marketing ) rất thịnh hành hồi đó là đi buôn, đi bán trầm hương, kỳ nam.


    Bát Chỉ Đại Vương phu nhân thời xuân sắc

    Bát Chỉ Thần Cái băng rừng lội suối vùng ma thiêng nước độc chạy ma ra tông ( tiếng Pháp và tiếng Mỹ là marathon ) khắp trong Nam, ngoài Bắc với mấy tên sĩ quan công an, bộ đội Việt Cộng “hẩu xực ”có khi còn tự nguyện làm “tà lọt” cho mình. “Dân Chơi Cầu 4 Cẳng” không hổ “danh bất hư truyền”, đếch có ngán thằng nào với thằng nào. Nhưng tôi hỏi to thiệt là to ông Thiện nhé, bởi bây giờ ông điếc nặng là Thiện Điếc mà: “ông có ngán con Ma Vú Dài ở khám Chí Hòa không? Không, ổng trả lời. Tôi hỏi tiếp: “ông có ngán con Ma Nhà Họ Hứa là Hứa Tiểu Lan nhà chú Hỏa không? Không, ổng trả lời cộc lốc nữa. Phải rồi, ổng là Ma vương còn sợ ai nữa? Quỷ bắt cũng phải tha, ma thấy cũng phải chạy mà! Lại nhớ thời ổng làm Chỉ Huy Trưởng CSQG Quận Hòa Đa, dù đã biết câu nói: "cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận", nhưng vẫn dám tới Ma Lâm ở Thiện Giáo, Bình Thuận, vùng xôi đậu tranh tối tranh sáng giữa 2 lằn đạn Quốc- Cộng chết như chơi, lại thêm nổi tiếng nhiều ma. Ở đây có Ma Lai, một loại ma mà ở Phan Thiết người ta gọi là Ó Ma Lai ai nghe tới cũng sợ; chưa kể, ban đêm người ta thấy bóng Ma Trơi chập chờn, và nghe tiếng Ma Gáo là những cái đầu lâu lăn lổn cổn lảng cảng. Thiện “đếch” có ngán thằng Tây nào, ngay cả ở đây còn có Ma Dú nữa, một loại ma chuyên bắt người đem “dú” là dấu kín trong các bụi cây rậm ri rậm rịt, và miệng thì đầy đất bùn. Ảnh cũng nói cho biết, khi lên Lâm Đồng chơi, có ghé vào Madagui, người ta kể chuyện đáng sợ về Ma Xó rằng thì là uống 1 ngụm nước, Ma Xó đếm 1, uống nước ngụm thứ 2 Ma Xó đếm 2... đâu có làm cho Bát Chỉ Đại Vương vốn là tay điếc không sợ súng thì “ma rốc cốc keng” đâu đáng sợ phải không?


    Cụ Phó Thiện với vợ ở Dubai năm 2017

    Vài người Mạ ở đây còn nhát Mệ rằng thì là còn có những con Ma Trành là loại ma dụ người đến cho cọp ăn thịt để được giải thoát; hay Ma Hời ở Bình Thuận chạy nạn lên đây bắt người đòi nợ.“Ô la la! Toàn là chuyện ma hoặc, ma ám”, Mệ cười sằng sặc, vung vãi cả nước “xuống chó” cụ Phó nhà ta đã qua Ma Cao, một tô giới của Bồ Đào Nha trên đất Tàu để “xả xui” mất chức, mất quyền ngoài Huế. Qua Ma cao, cụ ăn chơi thả giàn “trả thù dân tộc”. Người ta lo đủ thứ ma thuật làm mê hoặc mình thì có, đâu có ma nầy, ma kia tung hoành dọc ngang như ma trận trong toán học nhát người như ở Việt Nam mình. Cái lạ là Bắc Việt chúng ta có cả một dòng họ nhà Ma nổi tiếng của Ma Ngọc Bảo, Ma Văn Thực...ở Phú Thọ. Buồn nỗi buồn lênh đênh “ba chìm bảy nổi”, cậu Ấm Thiện thường vào Sài Gòn giải sầu trong khách sạn, nhà hàng Majsestic, họa hoằn có “ăn chay” cho phải đạo, cũng ăn Maggi seasoning gốc Switzerland của Pháp, của Đức chứ không nước tương Vị Trai Lá Bồ Đề của nhà Chùa bao giờ.


    Cậu Ấm Thiện đón vợ chồng tôi ở phi trường Los Angeles

    Là dân chơi - Dân Chơi Cầu 4 Cẳng- mà, Bát Chỉ Đại Vương có cái bụng cái dạ khoái “tang bồng hồ thỉ”. Nay cậu đi Ma-rốc ( tiếng Pháp là Maroc, và tiếng Mỹ là Morocco ) ở tận châu Phi. Mai cậu đến Hawaii lặn rạn san hô Maro ( tiếng Pháp là récif Maro, và tiếng Mỹ là Maro reef ) mò vàng rơi. Mốt cậu lại về California tắm biển Malibu ngắm tiên nữ trần thế. Biết rằng, Malibu, một bải biển dành cho con ông cháu cha nhà giàu Hollywood! “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng; nhất trạo giang sơn tận địa duy” thiệt là cậu Ấm Thiện, Mệ Thiện, cụ Phó Thiện! Bây giờ tuổi đã quá “thất thập cổ lai hy”, ngồi nghĩ lại cuộc đời được kỳ cọ, ma sát đến tận xương thịt, tim gan, ông Phó nhóc con ngày nào mới ngộ ra rằng, đời nặng mùi tục lụy, lắm đắng cay, chung cuộc rồi cũng chẳng được gì, chi cho bằng sống thanh đạm nếp sống "ma chay" bên người vợ đã từng ngọt bùi, đắng cay vớí mình thì hơn. Mệ phán: “ma chay không phải là đám tiệc đám tùng gì cho người chết, mà ma chay với Bát Chỉ Đại Vương nầy là sống chân chất, đạm bạc, thuận hòa bên vợ, bên con lúc tuổi già bóng xế, để một mai mình có chết ra ma đi nữa thì hồn ma bóng quế của mình cũng không ân hận gì, có khi còn “phiêu diêu nơi miền cực lạc” cũng nên”. Bát Chỉ Đại Vương, Bát Chỉ Thần Cái đã cải tà quy chính thiệt sao? Nếu thiệt, xin chúc mừng, chúc mừng cái thuở “gươm đàn nửa gánh, non sông một một chèo” qua đi, qua đi dưới cầu; bay đi, bay đi trên trời cao đến đây là “un point final” phải không, phải khôn Mệ?
    Nguyễn Văn Sáu,
    Kansas City, 20/5/2017

  13. The Following 2 Users Say Thank You to Phòng Trực For This Useful Post:

    Nguyen Huu Thien (06-26-2017),nguyenphuong (06-07-2017)

Trang 1/2 12 cuốicuối

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  





website hit counter