Tài Liệu KQ
“Một Ngày Không Quân - Một Đời Không Quân”
(tiếp theo)
* “Sư phụ” VÕ VĂN ÂN và Niên trưởng NGUYỄN PHÚC TỬNG
- Details
- Category: Tài Liệu KQ
- Hits: 861
Read more: BUỒN VUI ĐỜI LÍNH... VĂN PHÒNG (phần 3) - Nguyễn Hữu Thiện
Hẳn anh Hiệp Sĩ còn nhớ ?
""Một thời xé gió , đạp mây !
Giờ đây Hiệp Sĩ múa... cây đập ruồi !..."
Tôi cũng ngồi buồn lục lại bài viết khá lâu có liên quan với anh ,post lại cho chư huynh đọc vui
Dưới đây là trích đoạn "Ông Tướng… Nuôi Gà!"
Nghịch_Nhĩ.
- Details
- Category: Tài Liệu KQ
- Hits: 643
BUỒN VUI ĐỜI LÍNH... VĂN PHÒNG (phần 3)
Hồi ký
Nguyễn Hữu Thiện

“Một Ngày Không Quân - Một Đời Không Quân”
(tiếp theo)
* Đại tá Vũ Thượng Văn – văn võ song toàn
Trong năm 2001, anh em Không Quân ở tiểu bang Victoria được hân hạnh đón tiếp cựu Đại tá Vũ Thượng Văn (VTV), nguyên Tham mưu phó Kế Hoạch & Chương Trình, BTL/KQ, từ Pháp sang thăm Úc.
Trước năm 1975, tôi chỉ được nghe tên tuổi NT VTV qua lời kể của ông Lê Bá Định khi ông đang giữ chức Không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật, đồn trú tại phi trường Cù Hanh, Pleiku.
Nguyên từ khi được thành lập vào cuối năm 1970, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (cùng với Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku) tạm thời trực thuộc Sư Đoàn 2 KQ ở Nha Trang trong lúc chờ Sư Đoàn 6 KQ được thành lập tại Pleiku.
Tới khoảng đầu năm 1972, Trung tá Lê Bá Định (nguyên là Trưởng Khối CTCT Pleiku mà tôi là một nhân viên dưới quyền) bật mí cho tôi biết Đại tá VTV sẽ ra Pleiku làm Sư đoàn trưởng SĐ6KQ.
Theo lời ông Định, Đại tá VTV xuất thân Trưởng Võ Bị Không Quân Pháp Salon-de-Provence, là một trong những phi công phản lực đầu tiên của KQVN (học ở bên Pháp), từng nắm giữ những chức vụ quan trọng tại BTL/KQ; là một người văn võ song toàn, ông rất xứng đáng giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư Đoàn cuối cùng của KQVN.
Xưa nay ông Lê Bá Định ít khi khen ai cho nên khi thấy ông hết lời ca tụng Đại tá VTV, tôi tin rằng ông VTV phải tài giỏi hơn người.
Tiếc thay, việc đó đã không xảy ra. Cuối năm 1972, Đại tá Phạm Ngọc Sang ra Pleiku nhận chức Sư đoàn trưởng SĐ6KQ (để rồi được vinh thăng Chuẩn tướng vào đầu tháng 4/1974).
Người thất vọng nhiều nhất trước việc bổ nhiệm này phải là ông Lê Bá Định.
Là một sĩ quan cấp úy, tôi không đủ tư cách nhận xét, đánh giá, phê bình các vị niên trưởng cho nên chỉ có thể viết có lẽ ông Lê Bá Định và ông Phạm Ngọc Sang “khắc tuổi” nhau, đưa tới việc vào một ngày không mấy đẹp trời nọ (thật ra ở Pleiku có ngày nào trời đẹp!), ông Lê Bá Định bị “dzăng” khỏi chức Không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật, Trung tá Lê Văn Bút, nguyên Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 229 Lạc Long lên thay.
Sau này tôi được nghe nhiều nguồn tin khác nhau về nguyên nhân khiến ngày ấy Đại tá VTV không ra Pleiku làm Sư đoàn trưởng, chức vụ chắc chắn sẽ giúp ông lên tướng. Người thì nói ông VTV không muốn nhận trọng trách ở vùng Cao Nguyên, nơi tình hình chiến sự luôn luôn sôi động trong suốt cuộc chiến; người thì nói vì ông VTV giỏi về tham mưu, vào giờ phút chót Đại tá (sau lên Chuẩn tướng) Võ Dinh, Tham mưu trưởng BTL/KQ, đã can thiệp với Trung tướng Trần Văn Minh giữ ông Tham mưu phó Kế Hoạch & Chương Trình - tức Đại tá VTV - ở lại Tân Sơn Nhất.
* * *
Xét về xuất thân, vai vế trong quân chủng, tay nghề (bay bổng) có thể viết hai ông Phạm Ngọc Sang và VTV ngang cơ: cả hai đều xuất thân Khóa 1 Sĩ quan Trừ Bị, một người ở Thủ Đức một người ở Nam Định, sau khi thuyên chuyển sang Không Quân đều được xuất ngoại theo học tại những trường bay xịn nhất của Pháp.
Ông Phạm Ngọc Sang được gửi đi học Khóa 52F1 tại trường bay căn bản Marrakech (Morocco) cùng với các ông Huỳnh Hữu Hiền, Huỳnh Bá Tính, Phan Phụng Tiên, Đinh Văn Chung, tức là trước các ông Trần Văn Hổ, Nguyễn Cao Kỳ, Trịnh Hảo Tâm học Khóa 52F2.
Sau khi solo (được gắn cánh bay) tại Marrakech, các ông Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Hữu Hiền, Phan Phụng Tiên, Đinh Văn Chung, Huỳnh Bá Tính được tuyển đi học lái “phi cơ nhiều động cơ” tại Trường Vận Tải trong CCKQ Avord ở nội địa Pháp.
Theo lời NT Nguyễn Xuân Vinh (cũng dân Vận Tải), ngày ấy chỉ những người tốt nghiệp ưu hạng tại Marrakech mới được tuyển để học lái “phi cơ nhiều động cơ”, tức oanh tạc cơ/vận tải cơ có từ hai động cơ trở lên.
Tại Avord, các khóa sinh được huấn luyện trên vận tải cơ hạng nhẹ MD-312 Flamant; sau khi tốt nghiệp hoặc sẽ được đưa tới trường oanh tạc Blida (ở Algeria) thụ huấn trên phi cơ MD-315 về oanh tạc và tác xạ, hoặc được đưa tới các đơn vị vận tải trang bị phi cơ C-47 Dakota, ngồi ghế phi công phụ ít nhất sáu tháng, sau đó sẽ được tuyển tới trường CIET (viết tắt của tiếng Pháp Centre d’Instruction des Equipages de Transport: Trung tâm Huấn luyện Phi hành đoàn Vận tải) để được thụ huấn trở thành phi công chánh, có khả năng điều khiển phi cơ trong mọi điều kiện thời tiết.

Hai hoa tiêu vận tải đầu tiên của Việt Nam tốt nghiệp trường CIET chính là ông Phạm Ngọc Sang và ông Huỳnh Hữu Hiền.
Trong khi đó ông VTV lại được theo học tại một quân trường danh giá là Trường Võ bị Không Quân Pháp Salon-de-Provence, và cùng với ông Nguyễn Ngọc Loan trở thành hai phi công phản lực đầu tiên của KQVN.
Nguyên sau khi tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị (Nam Định), rồi Khóa 2 Hoa Tiêu Quan Sát tại TTHLKQ Nha Trang, ba Thiếu úy Nguyễn Ngọc Loan, VTV, Trần Đình Hòe được tuyển đi du học ở Pháp; hai ông Nguyễn Ngọc Loan, VTV vào Trường Salon-de-Provence còn ông Trần Đình Hòe vào Trường Vận Tải Avord.
Sau giai đoạn tại Salon-de-Provence hai ông Nguyễn Ngọc Loan, VTV được đưa tới Trường Khu Trục tại Meknès (Morocco) để học bay khu trục và phản lực (T-33 của Mỹ, Ouragan của Pháp, Vampire của Anh)..jpg)
[Ngày ấy, sau hai ông Nguyễn Ngọc Loan, VTV còn có các ông Phạm Long Sửu, Trần Duy Kỷ, Nguyễn Quang Tri, Nguyễn Đức Khánh cũng được huấn luyện bay phản lực, vì theo dự trù (vào lúc bấy giờ) KQVN sẽ được Hoa Kỳ viện trợ các chiến đấu cơ phản lực như F-80 Shooting Star, F-86 Super Sabre]
Cũng theo lời Đại tá Nguyễn Quang Tri, sau khi ông Nguyễn Ngọc Loan về nước, ông VTV vẫn tiếp tục ở lại Pháp để học thêm các khóa về chiến thuật, tham mưu..., mãi tới cuối năm 1956 đầu năm 1957 mới về nước, và được ghi nhận là khóa sinh “tốn cơm quốc gia nhiều nhất”, nhập ngũ năm 1951 tới cuối năm 1956 mới... thành tài!
* * *
Về nước, ông VTV chỉ phục vụ một thời gian ngắn tại Phi Đoàn 1 Khu Trục & Trinh Sát (tiền thân của Phi Đoàn 514) rồi được đưa về Bộ Tư Lệnh KQ nắm giữ những chức vụ quan trọng.
Đầu năm 1965, khi đang giữ chức Giám đốc Trung Tâm Hành Quân Không Quân (TACC: Tactical Air Control Center), ông VTV đã được xuyên huấn oanh tạc cơ B-57 tại Tân Sơn Nhất, cùng với Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh KQ, và Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh phó.
[Việc xuyên huấn B-57 cho các hoa tiêu VN diễn ra tại CCKQ Clark, Phi-luật-tân, bắt đầu vào tháng 5/1964, với ba khóa sinh đầu tiên là Đại úy Nguyễn Ngọc Biện, Đại úy Nguyễn Văn Tường (Tường mực) và Đại úy Nguyễn Văn Long.
Vì vào thời gian này đã có một đơn vị B-57 của KLHK đồn trú tại Biên Hòa cho nên các ông Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan và VTV đang giữ những chức vụ quan trọng đã được xuyên huấn ngay tại Tân Sơn Nhất]
Chức vụ sau cùng của Đại Tá VTV là Tham Mưu Phó Kế Hoạ̣ch & Chương Trình, BTL/KQ. Trong chức vụ này, cùng với Tham mưu trưởng BTL/KQ là Đại tá (sau lên Chuẩn tướng) Võ Dinh, ông đã ra sức "bảo vệ" ưu tiên của KQVN trong chương trình hiện đại hóa và bành trướng của QLVNCH.
Trước năm 1975, tôi chỉ là một sĩ quan cấp úy lại không phục vụ tại BTL/KQ dĩ nhiên làm sao biết được công việc của Đại Tá VTV nếu như sau này ông không sang thăm Úc và bị... kẹt lại!
Nguyên vào cuối tháng 8 năm 2001, Đại tá VTV cùng phu nhân từ Pháp sang Melbourne thăm thân nhân và (dự trù) ngao du một vòng xứ Úc-đại-lợi. Được tin (qua một niên trưởng trước kia cùng định cư tại Pháp với NT VTV), Hội KQ Victoria đã tổ chức đón tiếp tại tư gia một hội viên.
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được gặp NT VTV và đã mến phục ông ngay. Ông có dáng dấp thư sinh nho nhã, nói chuyện rất thu hút với một giọng Hà Nội nhỏ nhẹ, lịch sự nhưng không màu mè kiểu cách như nhiều người Hà Nội trung lưu trước 1954 mà tôi được biết.
Thật khó lòng mà tưởng tượng đây là một cựu hoa tiêu khu trục tài ba, từng lái chiến đấu cơ Ouragan, oanh tạc cơ B-57!
Chính vì con người đáng mến nơi NT VTV mà khoảng cách giữa một vị niên trưởng nhập ngũ năm 1951 và các đàn em KQ – “già” nhất là Khóa 64, cấp bậc cao nhất chỉ là đại úy – đã mau chóng thu hẹp trong bữa cơm tối thân mật đón tiếp hai ông bà.
Đáng nhớ nhất là việc NT không tiếc lời khen ngợi sự hiện diện đông đủ và tài nữ công gia chánh của các bà vợ KQ mà ông gọi là các “nàng dâu Không Quân”. Ông nói:
- Ở đâu cũng vậy, phải có các “nàng dâu Không Quân” tham gia thì Hội KQ ở đó mới đông vui, bền vững.
* * *
Riêng tôi, trong không khí thân mật đầy tình huynh đệ chi binh ấy đã không có được nhiều thời gian riêng tư với vị đại niên trưởng mà tôi có ý định... khai thác.
Nguyên vào khoảng thời gian này, cuối tháng 8/2001, Liên Hội Ái Hữu Không Quân Úc Châu sau khi tham khảo ý kiến các vị niên trưởng ở khắp nơi đã quyết định thực hiện quyển Quân Sử Không Quân VNCH, dự trù ra mắt nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập quân chủng, 1/7/2005, và đã gửi thư mời gọi các niên trưởng, chiến hữu KQ cung cấp tư liệu, hình ảnh, và bài viết về đơn vị, ngành nghề của mình.
Thư vừa gửi đi thì NT VTV sang thăm Melbourne, quả là cơ hội bằng vàng. Vì thế sau khi không thể khai thác NT trong bữa cơm thân mật đón tiếp ông, tôi dự định xin phép ông cho tới thăm ông bà một buổi để hỏi ông những chuyện ngày xưa liên quan tới KQVN, trước khi hai ông bà trở về Pháp.
Và trời đã... chiều lòng người: vào ngày 11 tháng 9, 2001 xảy ra cuộc khủng bố kinh hoàng ở Hoa Kỳ, ông bà VTV bị kẹt lại ở Melbourne gần một tháng trời vì những thủ tục xuất nhập cảnh khó khăn tại các quốc gia Âu Mỹ.
Trước việc NT VTV bị kẹt lại, Hội KQ Victoria đã quyết định tổ chức buổi kỳ họp định kỳ đệ III tam cá nguyệt sớm hơn thường lệ để vừa... cúng cô hồn vừa giỗ Trung tướng Trần Văn Minh (qua đời ngày 27/8/1997) và mời NT VTV tới chủ trì.
Buổi họp được tổ chức tại tư gia KQ Nguyễn Ngọc Bảo (PĐ245), Hội phó Nội vụ, rộng rãi thoáng mát, có heo quay, có cả... thầy cúng là Nguyễn Ngọc Bảo phu nhân (trong Ban hộ niệm chùa Hoa Nghiêm ở gần đó)...
Vì đường xá xa xôi, phu nhân của NT VTV không thể tháp tùng chồng, cho nên anh em đã cho người tới đón NT hơi sớm để tôi và anh em trong Ban thực hiện Quân Sử Không Quân có nhiều thời gian trò chuyện với ông.
Trước hết, khi được biết dự định của anh em KQ Úc Châu, ông đã ra sức khuyến khích vì theo ông đây là một công việc vô cùng cần thiết mà trước năm 1975 ở BTL/KQ không ai chịu nghĩ tới!
Thực ra, theo lời NT VTV, trước năm 1975, tại Văn Phòng Tham Mưu Phó Kế Hoạch & Chương Trình BTL/KQ cũng có một Tiểu Ban Quân Sử nhưng không được mọi người quan tâm tới. Có lần Tiểu Ban này thỉnh cầu ngân khoản để mua một cái máy chụp hình thì bị bác với lý do “không có trong bảng cấp số”!
Về tài liệu để biên soạn quyển QSKQ, theo ông hiện nay trên Internet có khá nhiều bài viết công phu của cá nhân hay tập thể cựu quân nhân KQ tuy nhiên lại có những mâu thuẫn, do nguồn tài liệu tham khảo cũng như do trí nhớ của người trong cuộc, cần phải đối chiếu, kiểm chứng, và tham khảo với các bậc “tiền bối” trong quân chủng.
Vì thế, ông rất đồng ý với cách tiến hành công việc của tôi là sau khi hoàn tất mỗi thời kỳ (thành lập, phát triển, bành trướng) sẽ đúc kết những khoảng trống (trong lịch sử quân chủng), những gì chưa rõ ràng, hoặc mâu thuẫn nhau (trong các nguồn tài liệu cũng như bộ nhớ của các niên trưởng) để phổ biến dưới hình thức những Thư tham khảo, hy vọng sẽ nhận được những lời giải đáp, sự bổ túc của các vị niên trưởng và chiến hữu KQ khắp nơi.
Riêng về phần mình, NT VTV cho biết vì về nước trễ (đầu năm 1957) nên ông không nắm vững những diễn tiến trong thời kỳ thành lập quân chủng Không Quân. Ông chỉ nhớ đại khái những gì liên quan tới bản thân ông: sau một thời gian ngắn phục vụ tại Phi Đoàn 1 Khu Trục & Trinh Sát, ông được đưa về BTK/KQ phục vụ tại Trung Tâm Hành Quân Không Quân (TACC: Tactical Air Control Center) lúc đó còn gọi là Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến, do Đại úy Trần Văn Minh (Tư lệnh KQ sau này) giữ chức vụ Giám đốc, Trung úy Nguyễn Ngọc Loan làm Phụ tá.
Sau đó, ông Nguyễn Ngọc Loan lên làm Giám đốc thay ông Trần Văn Minh. Chúng tôi không được biết giữa ông Nguyễn Ngọc Loan và ông VTV có đời Giám đốc nào khác hay không, chỉ biết vào đầu năm 1965, khi được xuyên huấn oanh tạc cơ B-57 tại Tân Sơn Nhất cùng với Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tá Nguyễn Ngọc Loan, Thiếu tá VTV đang giữ chức Giám đốc Trung Tâm Hành Quân Không Quân.
Tới năm 1970, trong đà bành trưởng của KQVN, cùng với việc các Sư Đoàn Không Quân được thành lập, Trung Tâm Hành Quân Không Quân được nâng lên thành Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân (AOC: Air Operations Command).
Đại tá Vũ Văn Ước, nguyên Tư lệnh Không Đoàn 62 Chiến Thuật ngoài Nha Trang được đưa về Tân Sơn Nhất làm Chỉ huy trưởng còn Đại tá VTV thì sang BTL/KQ giữ chức vụ Tham mưu phó Kế Hoạch & Chương Trình.
* Những cuộc đấu võ mồm
Trong khi không nhớ nhiều về thời kỳ thành lập quân chủng, NT VTV lại biết nhiều và biết rất rõ về thời kỳ hiện đại hóa và bành trướng của KQVN, bởi vì ông là người trong cuộc.
Nguyên sau cuộc tổng tấn công của Việt Cộng vào Tết Mậu Thân 1968, phía Hoa Kỳ bắt đầu chương trình hiện đại hóa và bành trướng QLVNCH, do MACV, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, và các đại diện quân binh chủng phối hợp soạn thảo kế hoạch.
Phái đoàn đại diện Không Quân do Đại tá Võ Dinh, Tham Mưu Trưởng BTL/KQ cầm đầu, Đại tá VTV làm phó. Vì Đại tá Võ Dinh quá bận rộn với công việc thường nhật cùng với kế hoạch, chương trình bành trướng quân chủng, Đại tá VTV phải thường xuyên đi họp để... đấu lý với các quan lớn bên Bộ TTM và các phái đoàn đại diện quân binh chủng bạn.
Phải đấu lý bởi vì, theo lời kể lại của Đại tá VTV, trong các buổi họp nói trên, quân binh chủng nào cũng tìm cách giành ưu tiên, về ngân khoản viện trợ, về mức độ bành trướng, về cấp số đơn vị... cho quân binh chủng của mình.
Chẳng hạn lúc đầu Lục Quân đã nhất quyết đòi làm chủ trên 700 chiếc trực thăng UH-1 do Lục Quân Hoa Kỳ bàn giao để thành lập những Lữ Đoàn Không Kỵ (Air Cavalry Brigade) trực thuộc Lục Quân. Các vị đại diện Lục Quân lập luận: trực thăng của Lục Quân Hoa Kỳ thì phải bàn giao cho Lục Quân Việt Nam. Nghe thật có lý!
Nhưng đòi hỏi này đã bị MACV bác bỏ ngay; lý do người Mỹ đưa ra rất đơn giản: không có đủ thì giờ, tiền bạc để huấn luyện, thành lập những Lữ Đoàn Không Kỵ - một cấp đơn vị chưa từng có trong QLVNCH.
Đó là phần hiện đại hóa, sang tới phần bành trướng, khi đại diện KQ trình bày kế hoạch các Không Đoàn Chiến Thuật (Tactical Wing) hiện hữu cùng với các Không Đoàn tân lập sẽ kết hợp thành những Sư Đoàn Không Quân (Air Division), thì các vị bên Bộ TTM phản đối, cho rằng “Sư Đoàn” nghe lớn quá, gọi là “Lữ Đoàn” (Brigade) đủ rồi!
Đại diện của KQ - tức Đại tá VTV - liền phản bác một cách “nhẹ nhàng” như sau: việc tổ chức các cấp đơn vị trong Không Quân VNCH rập khuôn theo tổ chức trong KLHK, mà KLHK thì không hề có cấp đơn vị “Lữ Đoàn Không Quân” (Air Brigade), chỉ có cấp “Sư Đoàn Không Quân” (Air Division), chẳng hạn Sư Đoàn 2 KQ trực thuộc Đệ Thất Không Lực (7th Air Force) đang hoạt động tại Việt Nam.
Cuối cùng, với sự hậu thuẫn của AFAG (Air Force Advisory Group) trong MACV, phe ta đã thắng: Không Quân VN sẽ thành lập các Sư Đoàn Không Quân.
Nhưng không “thắng 100%”. Bởi vì sau đó, Bộ TTM đã “chế” ra một danh xưng chức vụ mới là “Sư đoàn trưởng” để gọi ông sếp lớn của các Sư Đoàn Không Quân.
Nói là “chế” bởi vì trước đó trong ngôn ngữ của người Việt quốc gia không hề có chức vụ “Sư đoàn trưởng”, chỉ có Quân Đội Nhân Dân của cộng sản Bắc Việt mới sử dụng (khi nói chuyện họ thường gọi tắt là “Sư trưởng”).
Dĩ nhiên, đại diện KQ lại phản đối, nhưng vô ích, bởi vì Bộ TTM lập luận quân số của một Sư Đoàn Không Quân không thể sánh với quân số của Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn TQLC hay các Sư Đoàn Bộ Binh!
Vì thế khi các Sư Đoàn Không Quân được thành lập, các ông Tư lệnh Không Đoàn Chiến Thuật 41, 62, 23, 74, 33 đã trở thành các ông Sư đoàn trưởng của các Sư Đoàn 1, 2, 3, 4, 5 Không Quân.
[Mãi tới cuối năm 1972 đầu năm 1973, sau khi Sư Đoàn 6 Không Quân được thành lập tại Pleiku, có lẽ đã nhận ra “Sư đoàn trưởng” là “từ Việt Cộng”, Bộ TTM mới ban hành Sự Vụ Văn Thư đổi danh xưng Sư đoàn trưởng của các Sư Đoàn Không Quân thành Tư lệnh Sư đoàn]
* * *
Sau khi NT VTV và phu nhân trở về Pháp, lâu lâu tôi lại gửi email thăm hỏi và được ông hồi đáp với văn phong dí dỏm cố hữu, có khi còn kể chuyện tới bãi biển ở Nice ngắm đầm khoe tòa thiên nhiên, nhưng sau khi ông bà sang Hoa Kỳ sống thì tôi mất liên lạc.
Khi cách đây khoảng hai tuần, tôi đang viết bài này thì được một KQ ở Hoa Kỳ báo tin NT VTV đã qua đời nhưng không cho biết thêm chi tiết. Sau đó tôi đã tìm cách liên lạc với một số niên trưởng và chiến hữu KQ ở Hoa Kỳ để hỏi thăm tin tức nhưng tới nay vẫn chưa có kết quả.
Theo lời một vị phi đoàn trưởng khu trục tôi quen thân, tin tức cuối cùng về NT VTV là cách đây hơn 2 năm, ông và NT Bồ Đại Kỳ có viết thư thăm hỏi nhau, sau đó thì bặt tin.
(Còn tiếp)
CHÚ THÍCH
(1) Trong bài viết về Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân (AOC: Air Operations Command), Đại tá Vũ Văn Ước, Chỉ huy trưởng, không hề nhắc tới danh xưng “Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến”, mà chỉ viết về Trung Tâm Hành Quân Không Quân, trong đó có các đoạn:
“Thời gian này KLVNCH đã có sẵn một số phi cơ Bearcat, T-28 và số ít A-1H... Vì nhu cầu phối hợp hành quân Việt-Mỹ để yểm trợ các lực lượng diện địa VNCH nên một trung tâm hành quân không quân (TACC) được thành lập tại TSN. Tại đây ban cố vấn Hoa Kỳ và các sĩ quan VN làm việc song song với nhau để điều hành việc yểm trợ bằng không quân...
“Vị sĩ quan chỉ huy đầu tiên của trung tâm là Đại Úy Trần Văn Minh (Tư lệnh KQ sau này), phụ tá là Đại Úy Nguyễn Ngọc Loan và trưởng phòng hành quân là tôi, Vũ Văn Ước.” (ngưng trích)
Trong khi theo một số bài viết của Đại tá Nguyễn Quang Tri, và tiểu sử của Trung tướng Trần Văn Minh, của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, danh xưng đầu tiên của trung tâm này là “Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến”, có từ năm 1956 sau khi người Pháp trao toàn bộ trách nhiệm cho KQVN trong lúc người Mỹ chưa kịp điền vào chỗ trống.
Cũng nên biết trước năm 1956, công việc yểm trợ của không quân cho các lực lượng diện địa đều do các GATAC của Pháp điều động.
GATAC là viết tắt của tiếng Pháp “Groupe Aérien Tactique d'Appui Au Combat”, có nghĩa là “đoàn không yểm chiến thuật”.
Có tất cả ba GATAC: Nord, Centre, Sud, trách nhiệm ba miền Bắc, Trung, Nam.
Sau khi người Pháp rút, các GATAC giải tán, trách nhiệm không yểm được trao cho người Việt, KQVN thành lập “Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến” để thay thế.
Hai chữ “Không Chiến” ở đây không có nghĩa là “phi cơ đánh nhau trên trời” mà chỉ có nghĩa là “chiến đấu từ trên không”, tức “không yểm” (air support).
Sau khi người Mỹ nhập cuộc, các cố vấn trong KLHK và phía đối tác (KQVN) làm việc song song với nhau để điều hành việc yểm trợ chiến trường, thì “Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến” mới được đổi danh xưng thành “Trung Tâm Hành Quân Không Quân” (TACC: Tactical Air Control Center) theo cách gọi trong KLHK.
Thời gian này là đầu năm 1962, khi KLHK bắt đầu bí mật tham chiến qua Chương trình Farm Gate, và Giám đốc Trung Tâm Hành Quân Không Quân là Đại úy Nguyễn Ngọc Loan (theo NT Trần Bá Hợi trong bài Phi Đoàn 2 Khu Trục).
PHỤ LỤC
TƯỞNG NHỚ Lăng CHA CẢ
*KQ Vũ Thượng Văn
Ðã là người Không Quân VNCH thì không ai mà không biết Lăng Cha Cả, ở xã Tân Sơn Nhất, quận Tân Bình, tỉnh Gia Ðịnh. Tuy nhiên, cũng rất nhiều người Không Quân chỉ đi ngang qua Lăng Cha Cả để ra vào phi trường Tân Sơn Nhất, chưa chắc đã nhìn kỹ cái lăng đó hình dáng ra sao? Lại cũng không biết sự tích cái lăng ấy, và có lẽ cũng không biết lai lịch "Cha Cả" này là ai?
Cả chục ngàn chiến sĩ Không Quân đã mua bánh mì Lăng Cha Cả, đặc biệt là dân Sư Ðoàn 5 KQ và Bộ Tư Lệnh Không Quân. Bánh mì ngon, nóng, rẻ, thường thêm một miếng ớt cay, ăn sáng trên máy bay là "hết xẩy". Nhưng cũng cả chục ngàn KQ ấy khi mua bánh mì thì quay lưng về phía Lăng Cha Cả, cho nên ngày nay có lẽ cũng chẳng nhớ cái lăng ấy ra sao. Ðể giúp các bạn ôn lại hình ảnh xưa, chúng tôi đã sưu tầm được tấm hình độc đáo nầy để các bạn cùng thưởng lãm. Thưởng lãm trong bùi ngùi, vì lăng nầy đã bị chính quyền VC phá bỏ năm 1983, viện lý do là để phát triển đô thị.

Cha Cả tên thật là Pierre Pigneau de Béhaine, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1741, tại Origny-en-Thierache (Pháp Quốc). Sau khi học nhiều trường đạo các cấp, tu viện và chủng viện Missions Etrangères (Thừa Sai Ngoại Quốc), ông được thụ phong linh mục (prêtre) năm 1765, và được gửi qua Hà Tiên, Nam Kỳ (Cochinchine) để truyền giáo. Trong thời gian nầy, ông đã soạn thảo một cuốn tự điển lớn bằng tiếng Việt.
Nhưng phần vừa bị chính quyền đàn áp (ông phải đi tù một thời gian), vừa bị hải tặc khủng bố, nên sau đó, ông phải đóng cửa trường (mà ông là Hiệu trưởng), dọn về Pondicherry (Ấn Ðộ). Khi tình hình khả quan hơn, ông trở lại Hà Tiên. Lần trở lại này, năm 1774, ông được trao chức tổng quản giáo hội vùng Nam Kỳ, Căm Bốt và Chàm, với tước vị là Giám Mục d' Adran (Evêque d'Adran, Việt Nam gọi ông là Giám Mục Bá-Ða-Lộc).
Năm 1778, hải tặc Căm Bốt triệt hạ tỉnh đạo Hà Tiên, Ðức Cha Bá-Ða-Lộc phải rút về Sài Gòn, cư ngụ tại tư dinh Hoàng Tử Nguyễn Ánh. Năm 1782, Tây Sơn khởi nghĩa gây ra nhiều vụ tàn sát ở Sài Gòn. Sau khi vua cha bị giết hại, Nguyễn Ánh lên ngôi, cầu viện Xiêm La (Siam), nhưng quân Xiêm bị Tây Sơn đánh đại bại năm 1785. Nguyễn Ánh quay sang cầu viện Pháp qua trung gian của Giám Mục Bá-Ða-Lộc.
Năm 1786, Bá-Ða-Lộc mang ấn tín của vua Nam Kỳ (tức chúa Nguyễn Ánh) cùng Hoàng tử Nguyễn Cảnh rời Hà Tiên qua Pháp. Phái đoàn tới cảng Lorient ngày 26 tháng 02 năm 1787. Ngày 16 tháng 5, vua Louis XVI tiếp phái đoàn tại lâu đài Versailles. Một thỏa ước được ký kết giữa hai vương quốc tại Versailles ngày 28 tháng 11 năm đó, giữa Bá tước de Montmorin, Bộ trưởng Ngoại Giao Pháp quốc, và Giám Mục Bá-Ða-Lộc, Ðặc sứ toàn quyền của vua Nam Kỳ.
Đức Bà, Sài Gòn (hình chụp thời Pháp thuộc)
Nhưng bản thỏa ước này sau đó đã không được áp dụng. Bá tước De Conway, Thống Ðốc Pháp tại các lãnh địa thuộc Ấn Ðộ đã từ chối thi hành thỏa ước.
Chờ ở Pondicherry khá lâu, Giám Mục Bá-Ða-Lộc rất nóng ruột. Rốt cuộc, ông từ chối sự giúp đỡ của người Anh (rất bất lợi), tự thành lập một lực lượng cứu viện Nguyễn Ánh, gồm 2 tàu chiến với một nhóm chuyên viên dân sự, quân sự và binh sĩ cùng vũ khí, đạn dược, đổ bộ vào Sài Gòn ngày 14 tháng 7 năm 1789. Lực lượng này tuy không hùng hậu nhưng đã gây phấn khởi cho Nguyễn Ánh. Ông lấy lại thế tấn công đánh Tây Sơn (lúc đó, lực lượng chính của Tây Sơn đang bị quân Tàu cầm chân tại Bắc Kỳ), và từ đó đi đến chỗ thống nhất Nam Bắc và lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Gia Long (1802).
Nhưng trước đó Ðức Cha Bá-Ða-Lộc đã mất vì bạo bệnh tại Quy Nhơn ngày 09 tháng 10 năm 1799. Vì đã có thời làm Thủ tướng cho nhà vua nên tang lễ của Ðức Cha đã được vua Gia Long cho cử hành trọng thể theo nghi lễ quốc táng tại Sài Gòn ngày 16 tháng 12 năm 1799. Mộ của ông được gọi là Lăng Cha Cả.
Paris, tháng 9 năm 2000
KQ Vũ Thượng Văn
- Details
- Category: Tài Liệu KQ
- Hits: 821
Thiên Ân

- Tưởng nhớ ngày cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương hy sinh - 6 tháng 5 năm 1968 - HQPD trích đăng lại một phần trong bài viết “Trận Mậu Thân 1968 tại CCKQ Tân Sơn Nhứt và cái chết của cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương”, do Thiên Ân viết theo lời kể của Ðại tá Phùng Văn Chiêu.
Vào thời gian nói trên, Đại tá Lưu Kim Cương đang giữ chức Tư lệnh Không Ðoàn 33 Chiến Thuật kiêm Chỉ huy trưởng Yếu Khu Tân Sơn Nhứt.
Yếu Khu này gồm:
1.Yếu điểm TSN, gồm có căn cứ KQ, căn cứ Nhảy dù (trại Hoàng Hoa Thám), khu vực dân sự và Phi cảng TSN.
2. Yếu điểm Hạnh Thông Tây, có Trường Quân Cụ, các trại Cổ Loa (Pháo Binh), Phù Ðổng (Thiết Giáp), Cục Quân Y và Tổng y viện Cộng Hòa.
3. Chi khu Gò Vấp.
Ngoài ra, còn có Tiểu đoàn 53 Ðịa phương quân được đặt dưới quyền sử dụng của Yếu khu để hành quân, và một Pháo đội 105 ly có trang bị hệ thống radar phản pháo, đặt ngay trong phi trường, cũng được đặt dưới sự điều động của Yếu khu.
Bộ chỉ huy Yếu Khu được đặt tại Trung tâm Phòng thủ Hành quân Hỗn hợp Việt – Mỹ (JDOC: Joint Defense Operation Center) trong căn cứ Tân Sơn Nhứt.
Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng Yếu Khu là Trung tá Phùng Văn Chiêu, Liên đoàn trưởng Liên Đoàn Phòng Thủ, KĐ33CT.
TỔNG CÔNG KÍCH ÐỢT I:
Theo thông lệ, vào mỗi dịp đầu năm âm lịch, VNCH và VC thỏa thuận ngưng bắn 3 ngày để binh sĩ hai bên về ăn Tết với gia đình. Tuy nhiên năm nay (Mậu Thân 1968), có tin VC sẽ tấn công nên tại căn cứ TSN, các đơn vị cho binh sĩ thay phiên nhau đi phép 25% quân số. Bù lại, các lực lượng Hoa Kỳ tình nguyện cấm trại 100% để đắp vào chỗ trống.
Theo tin tình báo, VC đã cho từng toán nhỏ len lỏi vào các khu dân cư xung quanh căn cứ TSN và yếu điểm Hạnh Thông Tây. Cũng theo tin tình báo, lực lượng của chúng tham gia cuộc tổng tấn công gồm có:
• 9 Tiểu đoàn đánh vào Ðô thành Sài Gòn
• 7 Tiểu đoàn đánh vào Căn cứ TSN và Bộ TTM
• 1 Tiểu đoàn đặc công
• 12 Ðại đội do Sư Ðoàn 3 VC tăng phái để yểm trợ tổng quát.
Ðúng 9 giờ sáng mùng một Tết Mậu Thân (31-1-1968), JDOC báo cáo VC đã tấn công cố đô Huế vào đêm 30 rạng mùng một Tết, và đã tràn vào thành phố. Tức thời, Thiếu tá Phùng Văn Chiêu cho lệnh báo động cấm trại 100%. Tất cả các đơn vị Việt - Mỹ đồn trú đều ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Thiếu tá Chiêu có hỏi Trung tá Cương xem ông có quyết định gì để bổ túc kế hoạch phòng thủ không, Trung tá Cương trả lời ông hoàn toàn đặt tin tưởng vào kế hoạch của Thiếu tá Chiêu, đồng thời cũng nói ông Chiêu ráng lo bảo vệ căn cứ vì bản thân ông còn rất nhiều công việc khác phải lo.
Sau khi được tin có nhiều toán nhỏ của VC lần lượt trà trộn vào các xóm nhà dân trong yếu điểm Hạnh Thông Tây (tuyến Ðông Bắc) và khu vực Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền (dọc Quốc lộ 1) nên ngay trong đêm mùng một Tết, yếu điểm TSN đã tổ chức một cuộc hành quân phối hợp giữa lực lượng phòng vệ do Trung úy Nguyễn Hữu Hạnh chỉ huy, Chuẩn úy Lành phụ tá, cùng với Ty Cảnh sát Quốc gia để xét sổ gia đình. Khoảng 10 giờ đêm, lực lượng hành quân báo cáo đã bắt nhiều người cư ngụ bất hợp pháp, tình nghi là VC. Trong khi đó, TÐ53ÐPQ cũng báo cáo có tin nhiều toán nhỏ VC đang tiến về phía phi trường.
Mười hai giờ đêm, Biệt khu Thủ đô cho biết VC đặt súng cối từ Thủ Thiêm bắn vào dinh Ðộc Lập. Thiếu tá Chiêu đoán có lẽ đó là dấu hiệu khởi đầu cho cuộc tổng tấn công, ông liền ra lệnh cho Trung úy Hạnh rút ngay lực lượng đang hành quân trở về căn cứ và trao những người tình nghi cho Trung đội Cảnh sát Phi Cảng thụ lý. Ðồng thời ông cho 2 Trung đội Phòng vệ cùng tiểu đội AP đế trấn tuyến phòng thủ B. Lực lượng Phòng vệ còn lại để bảo vệ JDOC và tiếp tế đạn dược. Các xe GMC phòng không trang bị đại bác 20 ly và chi đội 3 chiến xa được bố trí dọc theo phía tây vòng đai tăng cường cho TÐ2CV. (1)
Ðể nắm vững tình hình, Yếu khu (Ðại úy Huỳnh Khương An) phái Trung úy Ðặng Lê Bia (SQ tình báo) và phụ tá là Trung sĩ I Vũ Ðức Thọ đi thám thính tại Yếu điểm Hạnh Thông Tây và Chi khu Gò Vấp. Khi xe jeep đi qua Hạnh Thông Tây thì bị B-40 của VC bắn cháy, Trung úy Bia tử thương, Trung sĩ I Thọ bị chúng bắt làm tù binh.
3 giờ sáng, VC bắt đầu tấn công Tòa đại sứ Hoa Kỳ và Ðài phát thanh Sài Gòn. Kế tiếp là cổng 2 Bộ TMM (hướng đường Võ Tánh, trục Phú Nhuận - Trung tâm Tiếp Huyết).
3 giờ 20, Ðài kiểm soát báo cáo có nhiều tiếng súng nhỏ từ tuyến Ðông Bắc (Hạnh Thông Tây) bắn vào khu nhiên liệu C-130 của Hoa Kỳ (parking khu Ðông trong căn cứ TSN). Ðồng thời, VC từ phía ngoài cổng 10 (TT Tiếp Huyết) bắn vào bộ chỉ huy của TÐ2CV để yếm trợ cho TÐ2/MTGP của chúng đang phối hợp với TÐ10 Ðặc Công tiến vào bằng ngõ sân golf. Có lẽ ý định của chúng là đánh vào hông phía Tây của Bộ TTM (giáp ranh với cổng 2 của khu MACV annex) nhưng vì không am tường địa thế nên lại tiến thẳng vào khu MACV. Tại đây, VC tấn công rất mãnh liệt nhưng đã bị lực lượng Hoa Kỳ và TÐ2CV phản công tiêu diệt: chúng đã phải để lại trên 80 xác chết và vũ khí đủ loại. Số sống sót chạy qua phía Ðông (hàng rào Bộ TTM) phối hợp với lực lượng đang tấn công cửa sau Bộ TTM (phía đường Võ Di Nguy).
Ở tuyến Tây Nam, khoảng 5 giờ sáng, VC bắt đầu dùng súng đủ loại, kể cả súng cối, bắn vào pháo đài 51 (OF 51), cùng lúc ở phía ngoài dọc theo quốc lộ 1, 4 tiểu đoàn VC giàn trận yểm trợ cho một đơn vị thuộc TÐ10 Ðặc Công phá bãi mìn, và chiếm được pháo đài 51 (do một tiểu đội AP Mỹ trấn giữ).
Lập tức, TÐ2CV gửi một trung đội có trang bị đại bác không giật 75 ly cùng 2 cố vấn Mỹ tới phản công, thêm vào đó còn có 6 đại đội Nhảy Dù từ trại Hoàng Hoa Thám tới tăng cường. Nhưng cũng không thể ngăn chặn được lực lượng quá đông của địch. Kết quả, TÐ 267 của VC đã lọt được vào căn cứ. Trong lúc hai bên cận chiến, VC đã chiếm được khẩu đại bác 75 ly của TÐ2CV rồi bắn lại gây cho một cố vấn Mỹ tử thương. Cùng lúc đó, Không Quân Hoa Kỳ cũng gửi một lực lượng AP tới để tiếp tay tái chiếm pháo đài 51, nhưng VC từ phía trong bắn ra dữ dội, phải cầm cự, chờ tới lúc chiến xa đến bắn phá mới cứu được các thương binh AP đem ra.
Trong lúc hai bên giao tranh ngoài vòng đai thì TÐ267 VC (quân số từ 300 tới 350 ) đã lọt được vào căn cứ, tiến về phía parking C-47 của LÐ33KT, nhưng đã bị lực lượng Phòng vệ chờ sẵn tại tuyến B chặn lại.
Trước đó, Thiếu tá Chiêu đã điều động chi đội 3 chiến xa của lực lượng phòng thủ chạy ra tuyến B để yểm trợ. Tại đây, chiếc của Thiếu tá Chiêu trấn giữ cánh trái, Ðại úy Chi, chi đội trưởng trấn cánh phải, chiếc còn lại trấn ngay giữa. Có chiến xa đến tăng cường, các binh sĩ phòng thủ cảm thấy an tâm hơn.
Khi địch quân tiến vào tầm tác xạ, đại bác 57 ly, đại liên 12 ly 7 trên chiến xa, súng trường, trung liên, M79 của AP dưới đất đồng loạt khai hỏa. Trước hỏa lực mãnh liệt của lực lượng phòng thủ, VC đã phải khựng lại để bố trí, một số lớn chạy vào ẩn núp trong một nghĩa trang cũ ở phía trước của tuyến B.
Lực lượng phòng thủ, kể cả các xạ thủ trên chiến xa, chưa từng đụng địch, hoàn toàn thiếu kinh nghiệm chiến trường, nên trước đó Thiếu tá Chiêu rất lo ngại. Tuy nhiên sau đợt phản công đầu tiên khiến VC phải chùn bước, tinh thần binh sĩ đã lên rất cao, chiến đấu gan dạ như lính tác chiến chuyên nghiệp!
Sau này các tù binh VC bị quân ta bắt đã kể lại rằng trước khi tấn công vào Căn cứ TSN, các cấp chỉ huy của họ nói: các anh chỉ cần vào được căn cứ thì Không Quân sẽ buông súng đầu hàng hết vì họ không biết đánh giặc... Vì thế họ không thể ngờ lính KQ lại có khí thế chiến đấu cao như vậy!
Trong lúc giao tranh, chiến xa của Ðại úy Chi bị trúng B40 khiến anh bị thương một chân (sau này tàn tật vĩnh viễn). Khoảng 15 phút sau, xe của Thiếu tá Chiêu cũng bị trúng B40. Sức nổ mạnh đã làm ông và Trung sĩ I Huề, xạ thủ đại liên 12 ly 7, ngã lăn xuống đất. Anh Huề bị thương một chân vì miểng B40, còn ông Chiêu bị miểng trúng mí mắt, máu chảy lênh láng.
(Thiếu tá Chiêu và Ðại úy Chi cùng sử dụng loại máy Motorola cầm tay, mặt sau máy được xi bạc, có lẽ phản chiếu ánh đèn đường nên VC nhận ra vị trí chiến xa, và cũng có thể vì hai người đứng trên xe nên trở thành mục tiêu?!)
Mặc dù hai chiến xa bị đạn nằm bất động nhưng vũ khí trên xe (đại bác 57 ly và đại liên 12 ly 7) còn sử dụng được nên hỏa lực vẫn tiếp tục ngăn chặn không cho địch vượt qua tuyến B để tiến vào các ụ C-47.
Cũng may lúc đó trời đã tờ mờ sáng, Thiếu tá Chiêu liền gọi JDOC xin Phòng Hành quân Chiến cuộc KÐ33CT cho trực thăng võ trang lên xạ kích 3 tiểu đoàn VC đang giàn quân bên ngoài hàng rào (tuyến Quốc lộ 1) với mục đích trấn áp lực lượng của chúng để cho lực lượng phòng thủ bên trong tuyến B yên tâm phản công, đẩy lui TÐ 267 của VC.
Khoảng 8 giờ sáng, đoàn chiến xa của một đơn vị kỵ binh Hoa Kỳ từ Củ Chi đến phối hợp với trực thăng võ trang tiếp tục truy kích 3 tiểu đoàn này và đơn vị yểm trợ là Tiểu đoàn 90 VC đóng tại hãng dệt Vinatexco có trang bị 12 súng cối đủ loại, ngoài ra còn có 7 phi công và 15 chuyên viên cơ khí của Không Quân Bắc Việt. Ý đồ của chúng là sau khi vào được TSN, sẽ chiếm dụng các phi cơ của KQ/VNCH để làm quân dân miền Nam thêm mất tinh thần!
Cuối cùng TÐ267 của VC đã bị lực lượng phòng vệ đẩy lui, phải tháo chạy cùng với đám tàn quân của 3 tiểu đoàn yểm trợ phía bên ngoài.
Trước đó, vào lúc khoảng 7 giờ sáng, Trung tá Lưu Kim Cương cùng toán cận vệ, hai Trung úy Chấn và Lộc thuộc Bộ tư lệnh KÐ, và thành phần còn lại của lực lượng phòng thủ như hai Trung úy Ðức, Ðạt, Chuẩn úy Thạch... ra tới nơi. Theo sau là một xe cứu thương để đưa Thiếu tá Chiêu, Ðại úy Chi, Trung sĩ I Huề vào Bệnh xá của KÐ để cấp cứu.
Trung tá Cương thay thế Thiếu tá Chiêu chỉ huy cuộc phản công. Trong lúc giao tranh, ông bị một viên đạn súng trường của VC xuyên qua bắp đùi nhưng vẫn ở lại tiếp tục chỉ huy. Một điều đáng nói nữa là các sĩ quan như Trung úy Chấn, Lộc, Ðạt và Chuẩn úy Thạch... người thì leo lên xe thiết giáp, kẻ leo lên xe GMC sử dụng các loại vũ khí một cách thành thạo như các chiến sĩ thiện chiến để yểm trợ cho cuộc phản công.
Phần Thiếu tá Chiêu, sau khi rời bệnh xá trở về JDOC thì được lệnh lên trình diện Thiếu tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh KQ, để trình bày các diễn tiến và báo cáo tình hình . Khi thấy Thiếu tá Chiêu bị băng đầu, máu còn dính trên mặt, Thiếu tướng đã ra lệnh giải tán ngay cuộc họp các Tham mưu phó và sĩ quan thuộc BTL để mọi người về lo đối phó với tình hình.
Từ BTL trở về JDOC, Thiếu tá Chiêu nhận thấy cần phải xin lực lượng tiếp viện. Nhưng Biệt khu Thủ đô trả lời rằng hiện không còn lực lượng trừ bị nào khác, vì thế Yếu khu TSN phải tự túc. Cùng lúc đó JDOC được Yếu điểm Hạnh Thông Tây và Chi khu Gò Vấp báo cáo thành Cổ Loa (Pháo Binh) và thành Phù Ðổng (Thiết Giáp) đã bị VC đánh chiếm hết, và xin tiếp viện. Thiếu tá Chiêu lại cầu cứu BKTÐ lần nữa và được trả lời: chờ có chỗ nào áp lực địch giảm, sẽ rút quân để tới giải vây cho các nơi này.
(Mãi cho đến 3, 4 ngày sau, các lực lượng TQLC và Nhảy Dù mới đến đánh giải vây. Trung sĩ I Vũ Ðức Thọ, người bị VC bắt sau khi Trung úy Bia bị tử thương, nay cũng được giải thoát)
Sau khi sắp xếp mọi việc ở JDOC, Thiếu tá Chiêu trở ra mặt trận tuyến B. Vừa ra tới cửa JDOC thì gặp Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Phó Tổng thống, đến. Sau khi được Thiếu tá Chiêu cho biết Yếu khu TSN không xin được tiếp viện, ông không nghĩ ngợi, đã chỉ thị Ðại đội Nhảy Dù đang ứng chiến cho Phó TT ra ngay tuyến B để tăng viện.
Khoảng 9 giờ 30 sáng, Thiếu tá Chiêu trở ra tuyến B. Trung tá Lưu Kim Cương vẫn đang chỉ huy phản công. Thiếu tá Chiêu lên một GMC trấn cánh phải vì sợ VC từ phía Tây Nam (Bà Quẹo) đến tiếp viện. Về phần Ðại đội Dù mà Thiếu tướng Kỳ cho mượn, thay vì ra trận thì lại bố trí dọc theo hàng rào phòng thủ của căn cứ Hoàng Hoa Thám (tức cánh trái của mặt trận).
Lúc đó tại tuyến B chỉ còn lực lượng phòng vệ, 3 chiến xa (2 đã bất động) và 3 GMC trang bị phòng không 20 ly, vì Tiểu đội AP của Hoa Kỳ tăng cường đã được lệnh rút đi công tác nơi khác ngay từ lúc đầu, khi xe thiết giáp của Thiếu tá Chiêu và Ðại úy Chi bị trúng B40.
Mãi tới khi lực lượng phòng vệ đã đẩy lui VC gần đến hàng rào phòng thủ tuyến Tây Nam thì Ðại đội Dù mới chạy ra tiếp viện. Sau này, trong buổi tiệc mừng chiến thắng tại CLB Huỳnh Hữu Bạc, khi được Thiếu tá Chiêu hỏi tại sao không ra tiếp viện sớm hơn, vị Ðại đội trưởng Dù cho biết lần đầu tiên thấy lính không quân đánh "bộ chiến" rất khá, lại chiếm ưu thế nên quân Dù không ra vội! Một lý do khác là họ sợ lính KQ chưa đánh giặc bao giờ, khi lâm trận sẽ bắn loạn xạ, có thể trúng nhầm binh sĩ của họ.
(Sau này được biết thêm là trong trận Mậu Thân đợt 1, toàn bộ lực lượng Dù đã bị tung đi các nơi trong mặt trận Ðô thành, chỉ còn lại một số rất nhỏ để bảo vệ căn cứ Hoàng Hoa Thám. Và vì căn cứ này nằm ở cánh trái của mặt trận nên sợ khi VC đánh bọc cánh trái tràn vào căn cứ sẽ mượn đường đánh qua căn cứ KQ, do đó mà quân Dù phải bảo vệ Căn cứ Hoàng Hoa Thám bằng mọi giá).
Khoảng 12 giờ trưa, toán VC cuối cùng của TÐ267 rút ra khỏi căn cứ (tuyến Tây Nam)...
Cuộc tổng công kích đợt 1 của VC vào Sài Gòn chấm dứt ngày 23-2-1968. Ðịch để lại 5520 xác chết.
Tổn thất của chúng trong trận đánh vào Yếu khu TSN như sau:
• 187 xác để lại trong căn cứ, do lực lượng phòng thủ tuyến B bắn chết.
• 82 xác nằm gần hàng rào phía ngoài (khu sân golf), gần cổng số 10 (TT Tiếp Huyết), do lực lượng Hoa Kỳ ở MACV và TÐ2CV thanh toán.
• 693 xác phía bên ngoài căn cứ, do Thiết giáp Hoa Kỳ từ Củ Chi đến và lực lượng phòng vệ từ trong phi trường bắn ra, xa hơn nữa là do TÐ53 ÐPQ tiêu diệt.
Tổng cộng: 962 tên bỏ xác tại trận.
Tổn thất về phía quân bạn như sau:
• Tử thương: 55 (Không Quân HK: 4, Lục Quân HK: 19, KQVN: 5, Lục Quân VN: 27)
• Bị thương: 147 (KQHK: 11, LQHK: 67, KQVN: 12, LQVN: 57).
Thăng thưởng trong Yếu khu:
• Không Quân: Thăng cấp Ðại tá: Trung tá Lưu Kim Cương - Thăng cấp Trung tá: Thiếu tá Phùng Văn Chiêu - Nhiều sĩ quan cấp úy, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc lực lượng phòng thủ cũng được lên một cấp.
• Lục Quân : Một số sĩ quan chỉ huy yếu điểm, chi khu, TÐ2CV, TÐ53ÐPQ và một số sĩ quan, HSQ, binh sĩ được lên một cấp.
• Ðặc biệt, Ðại tá Cương và Trung tá Chiêu còn được Ðại tướng Tư lệnh Ðệ Thất Không Lực Hoa Kỳ trao tặng huy chương Anh dũng bội tinh Silver Star with V. Mười chiến sĩ KQ khác thuộc LÐ Phòng Thủ TSN được trao tặng Bronze Star with V.
Cuộc phản công đẩy lui VC tại tuyến phòng thủ B trong căn cứ TSN phải được xem là một chiến thắng "vô tiền khoáng hậu" của các chiến sĩ phòng thủ. Ðịch bỏ lại 187 xác chết (chưa kể một số khác được đồng bọn mang đi) trong khi chỉ có 5 chiến sĩ KQVN hy sinh.
Trong số này có những trường hợp đáng được đặc biệt đề cao là:
• Trung sĩ I Huề , xạ thủ đại liên 12 ly 7 trên chiến xa , sau khi bị thương và được đưa vào Bệnh xá băng bó cầm máu, đã tình nguyện trở lại tuyến B để tiếp tục chiến đấu.
• Một Hạ sĩ phòng vệ (không nhớ tên), nhà chỉ có một mẹ góa con côi, đang nghỉ phép ở nhà, khi nghe tin căn cứ TSN bị tấn công đã từ giã mẹ già trở về đơn vị để chiến đấu bên cạnh đồng đội.
Cả hai chiến sĩ KQ nói trên đã anh dũng hy sinh tại tuyến phòng thủ B.
• Trong số những chiến sĩ bị thương có Trung sĩ I Lữ Bá Phương thuộc Ban 2 Yếu khu TSN, đang đi công tác xa cũng chạy về tham chiến. Tinh thần của anh cũng rất đáng được đề cao.
Ba chiến sĩ nói trên, cùng với những chiến sĩ KQ khác đã hy sinh hoặc bị thương trong trận này, xứng đáng được gọi là những anh hùng như bất cứ anh hùng phi hành nào trong quân chủng, nhưng trong suốt 35 năm qua lại chưa một lần được nhắc tên. Thật đáng buồn!
TỔNG CÔNG KÍCH ÐỢT II:
Mặc dù VC bị tổn thất nặng nề trong cuộc tổng công kích đợt 1, tới trung tuần tháng 4-1968 đã có tin cho biết chúng sẽ mở cuộc tấn công đợt 2. Tin tình báo còn cho biết Căn cứ TSN vẫn là một trong những mục tiêu hàng đầu của chúng.
Theo sự ước đoán của Trung tá Phùng Văn Chiêu, nếu tấn công căn cứ lần nữa, VC sẽ không nhắm mũi dùi vào tuyến Tây Nam (pháo đài OF51) như lần trước, mà sẽ đánh vào các tuyến có nhiều dân cư sống bên ngoài hàng rào, như các tuyến Ðông Bắc (Hạnh Thông Tây), Ðông Nam (Ngã tư Bảy Hiền).
Mặt Ðông Bắc, khu C-130 có kho nhiên liệu, do các lực lượng Hoa Kỳ và TÐ2CV trấn giữ, được tăng cường một đơn vị quân khuyển hàng đêm đi tuần dọc theo đường đai phòng thủ.
Mặt Tây Nam tuy trống trải nhưng được quân ta tăng cường mạnh mẽ, và có một đơn vị Hoa Kỳ phối hợp với TÐ2CV giàn quân dọc đường đai nên VC cũng khó mà đánh vào tuyến này.
Như vậy, nếu chúng muốn đánh vào căn cứ theo hướng Ðông Nam thì sẽ lợi dụng khoảng từ Ngã Tư Bảy Hiền tới trại Hoàng Hoa Thám. Do linh tính, Trung tá Chiêu đã đoán trước ý định của VC. Vì thế, chiều nào ông cũng điều động quân của TÐ2CV và 3 chiến xa chạy qua chạy lại trên tuyến Tây Nam, nhưng sau khi trời tối thì cho các GMC trang bị đại bác 20 ly ra thay thế, và rút thiết giáp vào trấn phía sau khu nhà dân ở Ngã Tư Bảy Hiền cùng với 2 Trung đội Phòng vệ. Trên nóc trường Quốc Gia Nghĩa Tử gần đó, một bán tiểu đội Quân Báo trang bị trung liên do Thiếu tá Huỳnh Khương An điều động.
Sáng ngày 6-5-1968, khi trời còn tối, mọi người đang yên giấc thì có nhiều toán VC tập họp tại nghĩa trang Pháp thành một lực lượng khoảng một Ðại đội nhẹ. Bất ngờ, trung liên trên nóc trường QGNT, chiến xa và lực lượng phía bên trong rào đồng loạt nhả đạn, khiến chúng hoảng hốt, tiến thối lưỡng nan, đành nằm chịu trận, không dám đứng dậy hay chạy đi đâu cả. Tiếp theo, trực thăng võ trang do Phòng Hành quân Chiến cuộc KÐ33CT gửi đến tiếp ứng. Bị bốn mặt giáp công, toàn bộ lực lượng VC đã bị tiêu diệt.
Trước đó, khoảng 7 giờ 30 sáng, Ðại tá Lưu Kim Cương đến JDOC thăm hỏi tình hình và hỏi Trung tá Chiêu xem ông có thể ra mặt trận được không. Trung tá Chiêu trả lời mục tiêu thanh toán gần xong rồi, nếu ông có ra thì cũng chỉ quan sát thôi, để cho lực lượng phòng thủ và thiết giáp giải quyết mục tiêu cũng đủ rồi. Vì thế Ðại tá Cương chỉ ra đứng trên đài quan sát gần cổng Phi Long đặt ống nhòm quan sát.
Nhưng khi Trung úy Hạnh, chỉ huy lực Phòng vệ được lệnh JDOC cho xung phong thu dọn chiến trường, khi chạy ngang đài quan sát thấy Ðại tá Cương, một binh sĩ Phòng vệ đã la lớn 'Xung phong Ðại tá!'. Anh ta lập lại đến đôi ba lần. Tức thời Ðại tá Cương leo xuống đất. Rồi không biết vì muốn hòa mình, muốn làm gương cho binh sĩ, hoặc thấy trận chiến đã gần chấm dứt, ông hiên ngang chạy trước tiên, tay cầm súng lục bắn về phía nghĩa trang!
Không may, có một tên VC thủ súng B40 vẫn còn sống. Y liền bắn một trái B40 trúng tấm mộ bia ngay bên cạnh Ðại tá Cương, sức nổ và miểng đạn đã chặt đứt một cánh tay của ông và gây thêm nhiều vết thương nặng khác, khiến ông tắt thở tại chỗ. Một phóng viên truyền hình Pháp chạy theo Ðại tá Cương cũng bị tử thương ngay bên cạnh ông.
Trận đánh này, lực lượng ta chiến thắng một cách dễ dàng nhưng Ðại tá Tư Lệnh KÐ33CT lại hy sinh. Toàn thể quân nhân các cấp trong Yếu khu TSN vô cùng đau lòng, thương tiếc vị Chỉ huy trưởng anh hùng. Cố Ðại tá Lưu Kim Cương được vinh thăng Chuẩn tướng.

Ðến nay dù đã 35 năm trôi qua, mỗi khi nghe lại bản Cho một người nằm xuống, mọi người vẫn còn bùi ngùi thương tiếc...
Sau khi Chuẩn tướng Lưu Kim Cương qua đời, Trung tá Phùng Văn Chiêu trao quyền Liên đoàn trưởng 33 Phòng thủ cho Trung tá Lê Văn Triệu, còn ông thay thế Chuẩn tướng Cương trong 2 chức vụ Chỉ huy trưởng Yếu khu TSN và Khu quân sự TSN.
Ðầu năm 1970, khi Trung tá Chiêu được lệnh đi nhận chức Không đoàn trưởng Yểm cứ Biên Hòa, hai chức vụ nói trên được trao lại cho Ðại tá Phan Phụng Tiên.
NHỮNG UẨN KHÚC...
Theo lời Ðại tá Phùng Văn Chiêu, sau này trong dư luận Không Quân không hiểu có người cố tình xuyên tạc hay vì một nguyên nhân nào khác, đã chỉ trích rằng: tại sao ngày đó Trung tá Chiêu không ra trận mà lại để cho Ðại tá Cương ra để rồi bị tử thương!
Ðại tá Chiêu cho biết ông rất buồn trước dư luận này, nhưng trong suốt 35 năm qua, ông im lặng để mọi người muốn hiểu sao cũng được. Ðiều quan trọng đối với ông, chỉ cần vong hồn cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương biết là đủ rồi…
Ngoài ra còn một việc mà cho tới nay, Ðại tá Chiêu vẫn thắc mắc và không thể quên, là trong cuộc tấn công đợt 1 của VC, ngoài các sĩ quan có trách nhiệm phòng thủ, có một sĩ quan bên Liên Ðoàn 33 Kỹ Thuật là Thiếu tá Nguyễn Dương, trong suốt thời gian trận chiến diễn ra ở TSN (1 tuần lễ) đã luôn luôn hiện diện, hướng dẫn cho binh sĩ dưới quyền kỹ thuật tác chiến, phân công, đôn đốc trong việc bảo vệ các ụ C-47 cũng như đáp ứng nhu cầu hành quân cấp bách.
Nếu ngày đó TÐ267 của VC vượt qua được tuyến phòng thủ B, thì chỉ còn 50m nữa là tới các ụ C-47 và khu kỹ thuật, chắc chắn Thiếu tá Nguyễn Dương và anh em binh sĩ kỹ thuật sẽ bị chúng tiêu diệt. Sau đó, Ðại tá Lưu Kim Cương đã đề nghị thăng cấp Trung tá đặc cách mặt trận cho Thiếu tá Nguyễn Dương. Nhưng rồi trong số những vị Thiếu tá tiến ra trước mặt Thiếu tướng Tư lệnh KQ Trần Văn Minh để được gắn cấp bậc Trung tá nhờ công trạng trong Tết Mậu Thân đã không hề có Thiếu tá Nguyễn Dương mà có vài sĩ quan khác không thuộc KÐ33CT, cũng không có công trạng, nhưng lại được thăng cấp. (2)
Chuyện xảy ra đã 35 năm, Ðại tá Phùng Văn Chiêu không bao giờ muốn nhắc lại, nhưng vì có lời yêu cầu của Ban Thực Hiện Quân Sử Không Quân , cũng là Ban Biên Tập đặc san Lý Tưởng - Úc Châu, ông mới kể lại đầy đủ - chuyện vui cũng như chuyện buồn.
Dĩ nhiên, sau 35 năm, ký ức của một người đã ở vào tuổi 'cổ lai hi' có thể không được đầy đủ và chính xác 100%. Vì thế, người viết xin chuyển đạt lời tâm tình của Ðại tá: nếu có những thiếu sót, hoặc vô tình làm buồn lòng một vài cá nhân trong quân chủng, ông chân thành cầu mong một sự thông cảm, và miễn chấp.
Thiên Ân
Melbourne, Australia, tháng 5/2003
CHÚ THÍCH
(1) Trong ngôn ngữ của Không Quân Hoa Kỳ, vào thời gian chiến tranh Việt Nam, AP là viết tắt của Air Police, thuộc lực lượng phòng thủ căn cứ, được trang bị hùng hậu, sử dụng xe bọc thép V-100 Commando. Hiện nay, hai chữ AP đã được thay thế bằng SP (Security Police).
(2) Thiếu tá Nguyễn Dương về sau đi du học lấy bằng Tiến Sĩ Hàng Không. Năm 1974, với cấp bậc Đại tá, ông giữ chức vụ Tham mưu trưởng BCH/KT&TV/KQ một thời gian ngắn trước khi được biệt phái sang dân sự, đại diện chính phủ VNCH trong Kế Hoạch Colombo, chương trình dò tìm tài nguyên bằng vệ tinh.
Sau năm 1975, ông giảng dạy trên đại học ở Pháp rồi sang Hoa Kỳ tham gia chương trình nghiên cứu chế tạo phi cơ không người lái (UAV: unmanned aerial vehicle), thường gọi ngắn gọn là “drone”.
- Details
- Category: Tài Liệu KQ
- Hits: 2002