- Details
- Category: Truyện Ngắn
- Hits: 922
Read more: Bửu Liệp - Người Đàn Bà 'Ngụy' Bán Nước Mía... Xuân Vũ
Trong mấy chục năm qua, biến cố xảy ra vào đêm Giáng Sinh 1978 ở trại tù Suối Máu, thường được gọi là “cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978”, đã được khá nhiều nhân chứng sống ghi lại, trong đó có những bài viết rất chi tiết được phổ biến trên các báo Việt ngữ cũng như trên Google.
Riêng tôi lúc đó mới bị đưa từ Phước Long về K2, Suối Máu được mấy tháng, không biết nhiều về tình hình và diễn tiến trên toàn trại, chỉ xin ghi lại những gì mắt thấy tai nghe để hoài niệm đêm Giáng Sinh khó quên nhất trong đời, và cũng để tưởng nhớ hai anh em Không Quân đã góp phần trong cuộc “nổi loạn” ấy nay đã ra đi vĩnh viễn: Thiếu tá phi công khu trục Lê Thanh Hồng Vân, cựu Phi đoàn phó Phi Đoàn 530 ở Pleiku, và Trung úy Phan Lạc Giang Đông, Văn Phòng Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị BTL/KQ.
* * *
Trại tù cải tạo Suối Máu nằm ở xã Tân Hiệp, cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 4 km, là nơi giam giữ trên dưới 5000 tù cải tạo (thời điểm 1978), chia ra làm năm khu, gọi là K. Khoảng tháng 8/1978, tôi và một số anh em “nặng tội” (an ninh tình báo, chiến tranh chính trị...) bị đưa từ Phước Long về Suối Máu, tôi được phân phối tới nhà 19, K2.

K2 trước kia là nơi giam giữ cấp tá (từ Thiếu tá tới Đại tá), trong đó có Trung tá Lê Bá Định, sếp cũ của tôi ở Pleiku (Trưởng Khối CTCT) sau làm Không đoàn trưởng KĐ72CT, nhưng sau đó hầu hết bị đưa ra Bắc, chỉ còn lại thành phần “nhẹ tội” trong đó có mấy ông Thiếu tá KQ ngành kỹ thuật cùng đơn vị với tôi, và Thiếu tá “giặc lái” Lê Thanh Hồng Vân, một trường hợp đặc biệt.
Cuối tháng 10/1978, vì nhu cầu chiến trường ở biên giới Tây Nam (đánh nhau với Khmer Đỏ) đơn vị bộ đội coi tù cải tạo ở Suối Máu bàn giao cho công an. Trong thời gian công an chưa nắm vững tình hình, chưa thiết lập được một hệ thống ăng-ten mới, cuộc sống trong cảnh cá chậu chim lồng của tù cải tạo ở Suối Máu trở nên khá thoải mái.
Một số anh em lén chui hàng rào kẽm gai sang các K khác để liên lạc, móc nối, thành lập các “Ban đại diện quân binh chủng”, đồng thời mỗi K còn thành lập một “Ban hành động” - danh xưng chính thức là “Ban Bảo Vệ Danh Dự Sĩ Quan QL/VNCH” - để giữ gìn trật tự trị an và đối phó với tình hình khi “hữu sự”.
Anh Lê Thanh Hồng Vân làm Trưởng Ban hành động K2.
Công việc đầu tiên của các Ban hành động là đánh cảnh cáo một số tù cải tạo làm ăng-ten dưới thời bộ đội.
Tiếp theo, Ban hành động ở K3, nơi có nhiều vị linh mục tuyên úy Công giáo bị đi tù cải tạo, đã kết hợp với một số anh em bạn tù theo Công giáo tiến hành việc tổ chức Thánh lễ vào đêm Giáng Sinh, và được hai linh mục nhận lời đứng ra cử hành thánh lễ.
Chiều 24/12/1978, vào lúc 6 giờ, hai cha bắt đầu cử hành Thánh lễ ngoài trời ở K3, anh em Công giáo ở các K khác (tiếp giáp với K3) ra sát hàng rào hướng về K3 tham dự thánh lễ. Cha cử hành lễ tới đâu, có anh em đứng bên hàng rào K3 thông báo để mọi người cùng hiệp thông.
Khi thánh lễ kết thúc thì màn đêm cũng buông xuống, anh em từng nhóm chơi thân với nhau, Công giáo cũng như không Công giáo, bắt đầu “tiệc Giáng Sinh”: nồi chè do mỗi người đóng góp một chút, bình cà-phê, bình trà, ít bánh kẹo để dành từ hôm thăm nuôi..., cùng nhau mừng ngày Chúa ra đời và hồi tưởng những mùa Giáng Sinh xưa.
Sau đó là chương trình văn nghệ Giáng Sinh... Tới giờ đi ngủ theo nội quy trại (10 giờ), chương trình văn nghệ chấm dứt.
Nhưng khoảng 10 giờ rưỡi, khi phần lớn anh em vẫn còn thức, trò truyện thì có tiếng hát từ K1 vọng sang: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...”
Tiếng hát càng lúc càng lớn, hình như của rất nhiều người, hát đi hát lại... Thắc mắc không hiểu chuyện gì đang diễn ra, tôi và một số anh em ra bên ngoài nghe ngóng.
Khoảng 10 phút sau, có tiếng xôn xao, tiếng chân người đi tới từng nhà kêu gọi mọi người ra sân bóng chuyền nghe Ban hành động thông báo tin tức khẩn cấp.
Khi đã có khoảng hơn 100 người tụ tập ngoài sân bóng chuyền cạnh nhà 19 của tôi, và một số khác đứng ở lối đi giữa các nhà, anh thiếu tá Phó trưởng ban hành động K2 (tôi không nhớ tên) tường thuật những gì đang diễn ra, theo đó cách đây gần một tiếng đồng hồ, trong lúc bên K1 đang diễn ra buổi lễ mừng Giáng Sinh thì một tay trung úy công an cùng toán tuần tiễu ập vào, đập phá tượng ảnh, hang đá, máng cỏ, đồng thời bắt ba anh đứng gần bàn thờ phụ trách buổi lễ đem ra ngoài trại.
(Vì K1 không chung hàng rào với K3, anh em không thể hiệp thông Thánh lễ Giáng Sinh, cho nên Ban hành động và anh em tù Công Giáo bên đó đã dựng một hang đá Giáng Sinh, đắp tượng Chúa Hài Đồng, trang trí hoa đèn để tổ chức mừng lễ)
Ngay sau đó, Ban hành động K1 đã kêu gọi toàn thể tù cải tạo K1 ra tập trung ở sân bóng chuyền trước cổng ra vào đối diện với khu nhà của Ban giám thị trại để phản đối, dùng loa giấy yêu cầu thả ba người bị bắt trở vào trại.
Đồng thời Ban hành động K1 cũng kêu gọi tất cả các K khác ủng hộ bằng cách cùng ra sân ngồi hát các ca khúc Giáng Sinh...
Lúc đó, anh Lê Thanh Hồng Vân, Trưởng Ban hành động K2, và một số đại diện Ban hành động các K khác đã đi sang K1 để tìm hiểu tình hình; sau khi thảo luận, các anh đã đi tới quyết định chung: cả năm K sẽ ra ngoài sân ngồi biểu tình bất bạo động bằng cách hát các ca khúc Giáng Sinh cho tới khi Ban giám thị thả ba người của K1 bị bắt.
* * *
Tại K2, sau khi anh thiếu tá Phó trưởng ban hành động tường thuật các diễn tiến bên K1 và yêu cầu toàn thể anh em tù cải tạo K2 tụ tập ngoài sân bóng chuyền ngồi biểu tình bất bạo động, đông đảo anh em đã hưởng ứng.
Một người bắt giọng bản thánh ca “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” và mọi người cùng hát theo. Tiếng đồng ca của mấy trăm người đã có sức lôi cuốn hầu hết anh em K2 còn ở trong nhà kéo nhau ra bên ngoài, ngồi chen chúc trên sân bóng chuyền, hoặc đứng, ngồi ở lối đi giữa các dãy nhà.
Điều đáng nói là cả năm K đều hát bản “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...”, có lẽ vì đây là bản thánh ca Giáng Sinh quen thuộc và dễ hát nhất.
Tiếng hát của gần 5.000 con người từ trại tù Suối Máu vang ra tận các xứ đạo của vùng Hố Nai gần đó, vọng lên không trung như thể hòa cùng tiếng các thiên thần hát mừng ngày Chúa giáng trần, nhưng với rất nhiều anh em tù cải tạo, trong đó có tôi, lời hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” khi ấy đã trở thành những lời phản kháng!
Sau khi cả năm K đồng loạt ra ngoài sân ngồi hát thánh ca, toàn thể lực lượng công an ở Suối Máu được lệnh báo động. Từ doanh trại phía bên kia đường đối diện các K, đám bò vàng hò hét, kéo nhau ra nhảy xuống giao thông hào dọc theo bên đường, tất cả mọi họng súng chĩa vào trong trại.
Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, có tiếng cọc cạch từ hệ thống loa phóng thanh trong trại. Tiếp theo là tiếng viên Giám thị trại tên Bằng:
- Ban giám thị trại yêu cầu tất cả trại viên cải tạo trong các K giải tán trở vào nhà ngủ, sáng mai Ban giám thị sẽ cho ba trại viên bị bắt trở vào trại.
Toàn thể tù cải tạo nhao nhao đáp lại:
- Phải thả người vào trước!... Thả người vào trước... Thả người vào trước!
Giám thị Bằng lập lại lời kêu gọi vài lần rồi im bặt, chỉ còn tiếng hát “Đêm đông...” tiếp tục vang dội một góc trời!
Vào khoảng nửa đêm, do sự cầu cứu của đám công an, bộ đội ở Biên Hòa đưa xe tăng tới Suối Máu để tăng cường. Tiếng xích sắt của xe tăng nghiến trên mặt đường bên ngoài cổng như hăm dọa.
Mấy phút sau, bỗng có mấy tràng đại liên nổ dòn dã xé tan màn đêm, tiếng đạn rít nghe rợn người phía trên các nóc nhà giam!
Nghe tiếng súng, anh em xôn xao, một vài người bỏ vào nhà nhưng đa số, trong đó có tôi, vẫn tiếp tục ngồi lại.
Tôi nhắm mắt lại, bắt khối óc của mình làm việc. Không hiểu sắp tới đám công an có dám bắn thẳng vào hàng ngàn tù cải tạo đang ngồi ngoài sân hay không, bởi nếu việc đó xảy ra, chắc chắn sẽ thất lợi cho chế độ về mặt tuyên truyền, nhưng tôi vẫn phải giả sử việc đó xảy ra để tìm giải pháp tốt nhất cho bản thân mình!
Tôi cũng không thể đoán trước nếu việc đó xảy ra, Ban hành động sẽ phản ứng, điều động ra sao, nhưng nếu phải phá rào để vượt thoát chúng tôi chỉ có một hướng duy nhất là hướng bắc: băng qua quốc lộ 1 chạy vào giáo xứ Phúc Hải hoặc các giáo xứ gần đó của người Công giáo di cư. Bởi ba hướng còn lại đều trống trải, rất dễ bị truy lùng, chưa kể có thể bị bắn gục ngay trong lúc đang vượt rào.
* * *
Sau mấy tràng đại liên đe dọa, không khí trở nên ngột ngạt, căng thẳng, nhưng chưa đầy một phút sau, tiếng hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” lại tiếp tục vang lên.
Vừa hát, mọi người vừa hồi hộp chờ đợi phản ứng quyết liệt của công an và bộ đội trên xe tăng. Một cuộc tắm máu không chừng!... Nhưng đợi một hồi lâu vẫn không thấy động tịnh gì.
Sau này chúng tôi được biết tay Giám thị Bằng (tôi không biết cấp bậc) chỉ là người thay mặt viên Giám thị trưởng là Trung tá công an Đào Lưỡng mỗi khi viên trung tá này đi về nhà ở Sài Gòn, cho nên rất có thể ông ta (Giám thị Bằng) lo ngại nếu đàn áp mạnh bằng súng đạn, lỡ mấy ngàn tù cải tạo đồng loạt phá rào chạy ra ngoài, trà trộn vào giáo dân Hố Nai đang dự lễ ở các nhà thờ thì vô phương giải quyết, và ông ta sẽ phải lãnh toàn bộ trách nhiệm!
* * *
Khoảng 1, 2 giờ đêm (tôi không nhớ đích xác), khi mọi người vừa tiếp tục hát “Đêm đông...” vừa chờ đợi phản ứng kế tiếp của Ban giám thị trại thì một người trong Ban hành động của K2 từ K1 chạy về báo tin phe ta... đại thắng: ba anh em K1 bị bắt đã được thả vô điều kiện!
Tôi như không tin vào đôi tai của mình. Các anh em khác cũng thế, phải mất mấy chục giây đồng hồ, mọi người mới hết ngạc nhiên sững sờ, rồi đồng loạt vỗ tay reo hò trước chiến thắng bất ngờ của tập thể tù cải tạo Suối Máu.
Sau này tôi được biết diễn tiến chi tiết như sau:
Sau khi cho bắn mấy tràng đại liên hăm dọa mà tù cải tạo vẫn không nao núng, đích thân Giám thị Bằng đã xuống văn phòng giám thị K1 để tìm phương cách giải quyết. Trước hết viên giám thị lập lại những gì đã nói trên loa phóng thanh, nhưng một anh trong Ban hành động K1 trả lời vọng ra:
- Chúng tôi chỉ giải tán sau khi ba anh em bị bắt được thả vào trại!
Sau hai ba lần đôi co, Giám thị Bằng nhường trước một bước:
- Nếu tất cả trại viên K1 giải tán trở vào nhà ngủ, Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào trại ngay sau khi làm kiểm điểm, không cần đợi tới sáng mai!
Để anh em tù cải tạo thêm tin tưởng, Giám thị Bằng còn nói một khi các cải tạo viên bắt đầu đứng dậy giản tán thì ngoài này các xe tăng cũng quay đầu rời trại.
Ban hành động K1 liền yêu cầu tất cả anh em tù cải tạo tạm thời trở về nhà mình. Khoảng 10 phút sau, tiếng xe tăng xa dần; đợi thêm 20 phút có tiếng mở khóa cổng K1: cả ba anh em bị bắt được thả về!
* * *
Tập thể tù cải tạo ở Suối Máu nói chung đã “thắng đẹp” trong vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978, nhưng bù lại anh em trong các Ban hành động, Ban đại diện quân binh chủng cùng với các vị linh mục tuyên úy Công giáo đã phải trả một giá khá đắt.
Sau hơn hai tuần “làm việc khẩn trương” của một toán điều tra đặc biệt của Bộ Công An, với sự hợp tác tích cực của đám ăng-ten (mới được công an "tuyển mộ") hầu như toàn bộ anh em nói trên và các linh mục bị đưa về nhà giam Chí Hòa để khai thác, sau đó bị đưa đi các trại tù hắc ám ở Xuân Phước (A20), Xuyên Mộc, Gia Trung, Tống Lê Chân..., và nhiều người đã bỏ mình nơi những địa danh khét tiếng ấy!
* * *
Trong số những người may mắn trở về có anh Lê Thanh Hồng Vân và Phan Lạc Giang Đông, một thành viên Ban hành động K1.
Trung úy KQ (kiêm nhà thơ) Phan Lạc Giang Đông là một người bạn thân của tôi, cùng học một khóa Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị ở Đà Lạt năm 1970, chức vụ sau cùng: Trưởng ban Giáo dục Chính trị, Phòng Kế hoạch & Chính huấn, VP/TMP CTCT, BTL/KQ.
Phan Lạc Giang Đông (trái) và người viết, Đà Lạt 1970
Ít lâu sau khi đi HO sang Hoa Kỳ, Đông qua đời vì bạo bệnh tại Seattle, tiểu bang Washington, ngày 9 tháng 11 năm 2001, vào tuổi 62. Anh Lê Thanh Hồng Vân cũng đã qua đời cách đây khoảng 10 năm sau một thời gian dài sống trong nursing home.

Bên Bờ Sông Thạch Hản (Quảng Trị)

Thiếu Tá Trần Thị Huy Lễ
NGÀY TRAO TRẢ TÙ BINH NĂM 1973
Một dòng sông không rộng, đáy sông không sâu, chảy ngang theo phía bắc Hải Lăng, dọc lên 2 Thị xã Quảng Trị, Đông Hà và xuôi ra biển với Cửa Việt vẫn lững lờ trôi, không phong ba, không sóng gợn theo bao tháng năm nhẹ nhàng, Thạch Hãn vẫn chảy vẫn sống bình dị hiền hòa cùng với những người dân Quảng Trị. Nhưng rồi ba đào sóng dậy không bởi chính dòng sông mà do mộng điên cuồng xâm lăng của Việt Cộng phương Bắc, theo lệnh của quan thầy Liên Xô và Trung Cộng muốn bành trướng xuống phía Nam, vượt sông Bến Hải, bất chấp Hiệp Định Genève năm 1954 do Quốc tế chủ trì và CS Bắc Việt đã ký kết- xua quân ồ-ạt qua vĩ tuyến 17 để tấn kích Việt Nam Cộng Hòa và tạo một dòng sông máu cùng thân xác chiến binh là thanh niên của cả hai Miền Nam-Bắc
Thời gian trôi nhanh, nhớ mới ngày nào mà nay đã qua 44 năm, sau khi Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 -cũng do Quốc tế với hơn mươi nước lớn chủ trì- được ký kết. Có những kỷ niệm những tưởng đã chìm vào lãng quên theo năm tháng, lặng lẽ phôi pha theo từng mùa của cuộc đời như Xuân, Hạ, Thu, Đông, cùng con tạo xoay vần mãi không thôi... Vậy sao tôi vẫn nhớ, phải nhớ những ngày tháng đau buồn nhất của cuộc chiến Việt Nam, mà trong đó ít nhiều tôi cũng đã dự phần!
Bây giờ thì tôi đang ở vào mùa Đông của cuộc đời, dừng chân nơi đất khách quê người từ sau năm 1975. Cuộc sống như cơn lũ cuốn hút tôi vào với đám đông, với cộng đồng lớn mạnh của người Việt nơi chốn này. Tôi không còn được thường mặc quân phục Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), mầu áo đã từng được ngưỡng mộ của quân dân miền Nam. Tôi không còn được tham gia công tác xã hội: ủy lạo các chiến sĩ ngoài tiền tuyến, thăm viếng ủy lạo thương bệnh binh tại các Quân Y Viện, trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật, săn sóc cho vợ con binh sĩ, cô nhi qủa phụ tử sĩ khi đau ốm bệnh hoạn, sanh nở,... thành lập các trường học tại các Trại Gia Binh để các con em gia đình binh sĩ từ 3 tuổi trở lên là phải đi đến trường. Tại Nghĩa trang Quân Đội, khi người lính tử trận, xác được đem về thì các Nữ Quân Nhân Xã Hội (NQN/XH) trực tiếp săn sóc cho vợ con họ, bên cạnh những quan tài mà họ đang lăn lóc, kêu gào thảm thiết vì chiến cuộc đã cướp đi những người thân yêu của họ; lo cho cha mẹ, vợ con của họ có chỗ ăn ở tạm thời, cho đến khi người tử sĩ được chôn cất hoặc đưa về nguyên quán.
Ủy lạo các chiến sĩ ngoài tiền tuyến khi dừng quân.
Hát tại tiền đồn với Bạn nhạc Sóng Thần và ủy lạo.
Thăm viếng, phát quà cho học sinh tại các Trường học trong Trại Gia Binh TQLC.
Di quan đến nghĩa trang cùng gia đình tử sĩ.
Bên cạnh các chiến hữu của tôi như ngày nào, để hôm nay tâm tư lắng động trong những đêm dài thao thức, bao kỷ niệm lại hiện về, có cả buồn vui của một thời tuổi trẻ trên khắp nẻo đường của đất nước Việt Nam. Giòng sông Thạch Hãn (Quảng Trị), con sông lịch sử, con sông máu đổ của mùa hè đỏ lửa năm 1972, khi các đơn vị dũng cảm của Thủy Quân Lục Chiến tái chiếm Cổ thành Quảng Trị, đã xua đuổi tàn quân Việt Cộng về hướng Bắc. Thành phố Quảng Trị đã được hồi sinh trong hoang tàn đổ nát.
Sau một tháng của Hiệp Định Paris được ký kết giữa bốn bên: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), Cộng Sản Bắc Việt (CSBV), và Mặt Trận Giải Phóng Miền nam (MTGPMN), kế hoạch trao trả tù hàng binh giữa hai miền Nam, Bắc được thi hành. Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát đảm trách việc thi hành ấn định sẽ được trao trả tại các địa điểm như bờ sông Thạch Hãn (tỉnh Quảng Trị), Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi), Bồng Sơn (tỉnh Bình Định), Lộc Ninh, Minh Hòa (tỉnh Bình Long), Bình Thủy (tỉnh Cần Thơ)… với 4 đợt:
1- Đợt 1: từ ngày 12 tháng 2 đến 26 tháng 2 năm 1973,
2- Đợt 2: từ ngày 8 cho đến ngày 13 tháng 3 năm 1973,
3- Đợt 3: từ ngày 14 cho đến ngày 19 tháng 3 năm 1973,
4- Đợt 4: khởi sự từ ngày 23 đến tháng 4 năm 1973
Và bờ sông Thạch Hãn là một trong những địa điểm và là đợt thứ 3 để thực hiện. Bất chấp lệnh ngưng bắn đã được ký kết, những tiếng súng vẫn không ngừng nổ trên tay của những người Việt Cộng không hề biết tôn trọng quy ước. Họ chỉ thi hành một việc có lợi cho họ là trao đổi tù binh, sẽ lấy lại được các đồng chí sắt máu của họ đã đầu hàng hoặc bị bắt giữ tại các mặt trận trên phần đất của Miền Nam VN, và họ phải trao trả các chiến sĩ VNCH sa cơ về với Miền Nam tự do.
Phái đoàn của VNCH sẽ tiếp nhận một số chiến sĩ khoảng từ 150 đến 200 người bao gồm sĩ quan, binh sĩ thuộc các Quân Binh chủng của Quân Lực VNCH và các Bộ Hành Chánh đã bị tập trung cầm tù trên phần đất địch. Ngược lại phía CSBV sẽ được hoàn trả số tù hàng binh lớn hơn gấp bội.
Dòng sông Thạch Hãn cuối tháng 3-1973 khô cạn như lòng người Việt Cộng từ lâu đã cạn hết nghĩa tình. Cá nhân tôi và cô Tùng, một Nữ quân nhân Xã hội của SĐTQLC không thuộc phái đoàn giao nhận, chúng tôi phải lội qua sông, nước ngập quá đầu gối, để sang bên kia sông Thạch Hãn. Lòng chúng tôi rộn lên một niềm vui vì sẽ được đón tiếp anh em đồng đội trở về với gia đình của các Quân Binh chủng. Làm sao hình dung được nỗi mừng vui của gia đình các quân nhân, được cha mẹ, vợ con đón tiếp trong vòng tay rộng mở những người thân trở về trong ngày vui đoàn tụ.
Các chiến hữu sau bao năm tháng bị lưu đầy, khổ ải nay đã trở về dưới nắng ấm của Miền Nam Tự Do, dưới mầu cờ vàng rực rỡ. Rồi đây các anh em sẽ lại tiếp tục sứ mạng của người trai trong thời khói lửa binh đao. Chúng tôi cùng phái đoàn VNCH đều phải ngâm mình giữa giòng sông Thạch Hãn, làn sông ranh giới giữa tự do của Quốc Gia và gông cùm của Việt Cộng.
Mực nước thủy triều mỗi lúc mỗi dâng cao, lội qua đến bên bờ Bắc, cả đoàn chúng tôi được hướng dẫn đến địa điểm giao nhận. Những túp lều thô sơ được dựng sẵn để đại diện Ủy Ban Quân Sự bốn bên làm việc. Từ đằng xa một đoàn người mệt mõi gầy ốm đang thất thểu tiến lại. Người mạnh dìu người yếu, đoàn người đến gần, tiến gần hơn nữa,... giữa người về và người đón làm sao có thể nhận diện nhau trước một thực tế phũ phàng. Nhưng, bỗng nhiên một người trong cái đám đông buồn thảm, có lẽ là một sĩ quan TQLC đã la lớn:
- Thiếu Tá, Thiếu Tá.
Tôi liền nói:
- Chào mừng anh em, các anh em về bên kia sông đã có sẵn đồng đội và các đơn vị đang chờ đón các anh.
Liền lúc đó anh ta cởi chiếc áo thun mầu nâu mặc trên người, thêm vài anh nữa, lật ngược bề trái bên trong hiện lên hàng chữ: “Đả đảo Viet Cộng ” mà họ đã mạnh dạn viết lên từ lúc nào trong trại tù, bỗng dưng nước mắt tôi dâng trào. Là một sĩ quan TQLC, một Binh chủng khét tiếng với danh hiệu Cọp Biển, đáng lẽ với tác phong cương nghị không cho phép tôi được mềm yếu, rơi lệ trước mắt địch quân, cụ thể là có sự hiện diện không ít người trong phái đoàn Việt Cộng đang đứng gần tôi, trong nhiệm vụ trao đổi tù binh.
Qủa thực là tôi quá xúc động không cầm được nước mắt, bởi các anh em chiến sĩ của ta dù rằng đang ở trong tay quân thù vẫn hiên ngang can đảm, không khuất phục. Nhìn sang cô Tùng đứng bên cạnh, tâm trạng nào có khác tôi, hai hàng nước mắt xót thương trên gò má hoa niên. Cô cũng khóc thương cho những thân phận người lính thất thế sa cơ bị tù đầy với những thân hình gầy gò ốm yếu, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men, mà ý chí luôn vẫn kiên cường, phản đối chính sách Việt Cộng vô thần, phi nhân.
Quay lưng nhìn về phía Nam bên bờ sông Thạch Hãn, những lá cờ vàng biểu tượng cho Tự Do Dân Chủ của Miền Nam đang tung bay trên những cột cờ giới tuyến. Giữa giòng sông, một số đoàn viên của đoàn công tác tiếp nhận các chiến sĩ trở về đã tràn ra ôm chầm lấy đồng đội. Tôi dìu một anh qúa yếu lên xuồng máy để qua sông, tôi hỏi:
- Anh ở đơn vị nào?
- Thưa Thiếu Tá, em là Thiếu Úy Đan, thuộc TĐ5/TQLC, 2 năm tù VC.
- Gia đình vợ con Thiếu Úy đang ở đâu?
Thiếu Uý Đan đáp:
- Em còn độc thân, làm trai thời chiến, nên chưa dám lấy vợ. Em chỉ có cha mẹ và hai em trai nhỏ hiện đang ở Thủ Đức.
Câu chuyện đang dang dở thì đã đến bờ phía Nam. Tôi hướng dẫn tất cả các chiến sĩ trên xuồng máy lên bờ, đưa vào lều Quân Y của TQLC để cho các Bác sĩ khám sức khỏe tổng quát trước khi được cấp phát quân trang, quân dụng mới, để đón nhận đơn vị gốc. Rồi tôi lại vội vã trở qua sông bên kia để tiếp đón những đợt trao trả tù binh kế tiếp. Các xuồng máy của Công Binh cắm Quốc Kỳ VNCH luân phiên chở tù binh Việt Cộng hoàn trả sang bờ Bắc và đón các chiến sĩ của ta về bờ Nam.
Trời chiều gió Hạ Lào thổi qua, tôi đứng bên bờ sông đất địch, nhìn về phía quê hương tôi miền Bắc, xa cách từ ngày di cư vào Nam năm 1954. Giòng sông ngăn cách hai miền Bắc, Nam trước kia là sông Bến Hải hay là vĩ tuyến 17. Vì Việt Cộng xâm chiếm nên phải lùi về phía Nam, ranh giới nay là sông Thạch Hãn, giòng sông phân ly kẻ Nam người Bắc. Bà con họ hàng, làng xóm tôi còn đang ở đó! Nhưng tôi chỉ được đứng ở một khoảng đất giới hạn… mà những người cũng cùng mầu da, cùng giọng nói với tôi đã phân định, vì tôi là người của Miền Nam Tự Do, còn họ là Việt Cộng Miền Bắc. Tôi nhớ rất rõ nét mặt và đôi mắt của mấy cô cán bộ Việt Cộng nhìn tôi đầy nét căm thù chỉ vì tôi mặc bộ quân phục mầu áo hoa rừng của Binh chủng “Cọp Biển”, dầu cho ngày hôm nay tại nơi này, tôi có mặt chỉ để làm công tác xã hội một nghĩa cử nhân đạo cho cả đôi bên. Tôi đang đối diện với thù địch, với kẻ bất đồng mà sao lòng tôi vẫn bình thản để hoàn tất công tác đã được thượng cấp giao phó.
Thấy hoàng hôn gần phủ kín bầu trời mà tôi vẫn chưa về bên này sông phía Nam, vị Tư Lệnh của tôi: Tướng BÙI THẾ LÂN là một cấp chỉ huy tài giỏi, Văn, Võ song toàn, một vị Tướng luôn luôn có mặt tại các chiến trường trong những trận chiến khốc liệt để giữ vững tinh thần cho các cấp. Một người tuy nghiêm khắc nhưng đầy lòng nhân ái và đạo đức, luôn hết lòng lo lắng và quan tâm đến mọi quân nhân các cấp thuộc quyền, mà chúng tôi rất kính mến. Ông đã ra lệnh cho 2 quân nhân TQLC dùng xuồng máy công binh qua sông để gọi tôi về bên này sông giới tuyến.
Tôi trình diện và báo cáo công tác với Thiếu Tướng Tư Lệnh SĐ/ TQLC… bên cạnh ông còn có sự hiện diện của một số sĩ quan thuộc SĐ/ TQLC như Đại Tá Ngô Văn Định, Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Thế, Trung Tá Bùi Văn Phẩm, Trung Tá Nguyễn Văn Diễn, Thiếu Tá Lê Đình Bảo và một số sĩ quan nữa nhưng tôi không nhớ hết. Thiếu Tướng Tư Lệnh đang trầm ngâm đứng nhìn đoàn xe trở các chiến sĩ TQLC cùng các chiến sĩ thuộc các Quân Binh chủng khác của VNCH, sau bao năm tháng tù đày, chạy vào những con đường xưa quen thuộc qua nhiều cuộc hành quân hào hùng trước đây, cho đến khi bụi mù che khuất.
Đã 44 năm qua, đây là một trong nhiều kỷ niệm khó quên trong suốt thời chiến chinh ngập trời khói lửa trên quê hương tôi.
Thiếu Tá Trần Thị Huy Lễ



Read more: Bửu Liệp - Người Đàn Bà 'Ngụy' Bán Nước Mía... Xuân Vũ