*Những bộ nhớ thời “khuyết sử”
(tiếp theo)
Đời tham mưu trưởng thứ sáu của KQVN là Đại tá Hà Xuân Vịnh.
Ông là một trong những hoa tiêu khu trục đầu tiên của KQVN, là vị Tư lệnh đầu tiên của Không Đoàn 33 Chiến Thuật, và cũng là một trong những sĩ quan hiếm hoi được Bộ TTM cấp giấy phép để râu mép.
Ông là một trong số 20 dân chính trên toàn quốc được tuyển vào Không Quân để theo học Khóa 1953 tại Trường Võ Bị Không Quân Pháp Salon de Provence, chung với những khóa sinh trước đó đã tốt nghiệp sĩ quan tại VN như Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Ngọc Loan...
Theo ký ức của Đại tá Nguyễn Quang Tri, cũng là một trong những dân chính theo học Khóa 1953, Hà Xuân Vịnh là một khóa sinh tài giỏi về cả lý thuyết lẫn bay bổng, và vượt trội trong các môn thể thao. Riêng về lý thuyết, trong lớp (tính cả tây mắt xanh mũi lõ), ông Hà Xuân Vịnh được xếp vào ¼ giỏi thứ nhì, sau ¼ giỏi nhất trong đó có ông Nguyễn Xuân Vinh.
Nhưng ông Hà Xuân Vịnh “ngon lành” hơn ông Nguyễn Xuân Vinh ở chỗ sau khi lấy bằng căn bản phi hành trên phi cơ T-6 ở Marrakech, Maroc, rồi qua trường Vận tải Avord ở nội địa Pháp học bay trong mây mù (entrainement au vol sans visibilité) và được gắn cánh bay hoa tiêu vận tải tại đây, ông Vịnh còn qua trường khu trục của Hải quân Pháp ở Khouribga, Maroc, để xuyên huấn trên khu trục F6F Hellcat trước khi về nước.
Khi Phi Đoàn 1 Khu Trục, danh hiệu Phượng Hoàng (tiền thân của Phi Đoàn 514) được chính thức thành lập tại CCKQ Biên Hòa ngày 1/6/1956, do Đại úy Huỳnh Hữu Hiền làm Chỉ huy trưởng, Đại úy Huỳnh Bá Tính làm Chỉ huy phó thì Trung úy Hà Xuân Vịnh giữ chức vụ Phi đội trưởng Phi Đội 2. (Phi đội trưởng Phi Đội 1 là Trung úy Dương Thiệu Hùng).
Năm 1958, khi ông Huỳnh Hữu Hiền về Tân Sơn Nhất làm Tham mưu trưởng KQ, vì trước đó ông Huỳnh Bá Tính cũng đã thuyên chuyển về BTL/KQ cho nên Đại úy Hà Xuân Vịnh được cử giữ chức Chỉ huy trưởng đời thứ hai của Phi Đoàn 1 Khu Trục.

Năm 1959, Đại úy Hà Xuân Vịnh thuyên chuyển về BTLKQ, bàn giao phi đoàn cho Đại úy Lưu Văn Đức.
Tháng 1/1964, Không Đoàn 33 Chiến Thuật được thành lập tại CCKQ Tân Sơn Nhất, Trung tá Hà Xuân Vịnh trở thành vị Tư lệnh tiên khởi.
Hơn một năm sau, ông bàn giao cho chức vụ cho Trung tá Phạm Ngọc Sang để quay trở lại Biên Hòa làm Tư lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật, thay cố Đại tá Phạm Phú Quốc hy sinh trong một phi vụ Bắc phạt vào tháng 4/1965.
Tại xứ Bưởi, ngoài chức vụ Tư lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật, Trung tá Hà Xuân Vịnh còn nổi tiếng nhờ bộ râu quai nón rất đẹp (ít nhất cũng là theo sự đánh giá của tôi).
Hiện nay vào website General Hieu với từ khóa “Hà Xuân Vịnh”, người ta sẽ đọc được những dòng sau đây:
“Trong QLVNCH trước 1975, chỉ có 4 Sĩ Quan được phép bộ TTM cho để "ria": Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại Tá Hà Xuân Vịnh (Không Quân), Đại Tá Nguyễn Văn Bạch (Công Binh) và Đại Tá Tôn Thất Hùng.”
Đại Tá Tôn Thất Hùng nói tới ở đây nguyên là Tham mưu trưởng Quân Đoàn II từ thời Trung tướng Lữ Lan làm Tư lệnh. Sau năm 1975, ông bị đi tù “cải tạo” gần 13 năm, sang Mỹ định cư tại California và qua đời năm 2011 vào tuổi 84.
Ngày còn ở Pleiku, tôi có dịp gặp ông Tôn Thất Hùng mấy lần tại các buổi tiếp tân bên Quân Đoàn II hoặc tiệc tùng do Tiểu Đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị trách nhiệm tổ chức; tôi là quan nhí nhưng được tham dự nhờ đi theo cậu tôi lúc đó làm Tiểu đoàn trưởng.
Cậu tôi khá thân với ông Tôn Thất Hùng, không chỉ vì ông làm Tham mưu trưởng Quân Đoàn mà còn vì ông thích cầm bút, cộng tác khá thường xuyên với tập san Đại Nghĩa của TĐ20CTCT; sau này ông được nhiều người biết tới với hồi ký “Người về từ Tân Cảnh”.
Ông Tôn Thất Hùng có gương mặt nho nhã, một bộ râu mép đẹp, trông rất... nhà lành, giống râu mép của kép Robert Taylor trong phim Waterloo Bridge (Vũ điệu trong bóng mờ) hơn là kép Clark Gable trong phim Gone With the Wind (Cuốn theo chiều gió).
Gần gũi hơn, có thể so sánh râu mép của ông Tôn Thất Hùng với râu mép của chàng Thiếu tá Không Quân kiêm ca sĩ tài hoa mệnh yểu Sĩ Phú.


Nhưng ông Hà Xuân Vịnh không chỉ để râu mép mà còn để râu quai nón, một việc cấm kỵ trong quân đội VNCH.
Cho tới nay tôi vẫn còn thuộc lòng Sự Vụ Văn Thư về việc để râu tóc do Trung tướng Lê Văn Tỵ ký năm 1956 vì nội dung chỉ có vài hàng ngắn gọn như sau:
- Kể từ ngày ban hành Sự Vụ Văn Thư này, tuyệt đối cấm các quân nhân Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa để tóc dài, râu cằm, râu quai nón.
- Về râu mép, các đơn vị trưởng tùy nghi cho phép.
Như vậy, ông Hà Xuân Vịnh để râu quai nón là để “lậu”, nhưng vào thời buổi mà ngay cả Trung tướng Nguyễn Khánh, Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, còn để râu cằm (râu dê) “lậu” thì một ông Trung tá Tư lệnh Không Đoàn có để râu quai nón “lậu” cũng không ai nói gì được!

Biên Hòa, ngày 8/6/1965 (hình: CaymaiVietnam Collection)
Trung tá Hà Xuân Vịnh mới giữ chức Tư lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật được mấy tháng thì lại được đưa về Tân Sơn Nhất, lần này để làm Tham mưu trưởng BTL/KQ, chức vụ bị bỏ trống sau khi Đại tá Phạm Long Sửu được (bị) biệt phái sang Hàng Không Việt Nam để làm Tổng giám đốc vào giữa năm 1965.
Sau khi được vinh thăng đại tá, những tưởng ông Hà Xuân Vịnh phải hài lòng với binh nghiệp của mình, nào ngờ chỉ một năm sau ông lại “nghe lời đường mật” (tôi đoán như thế) của Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, bạn cùng Khóa 1953 tại Salon de Provence ngày nào, ra làm Phụ tá Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia cho ông.
Vì thế BTL/KQ phải đưa Trung tá Võ Xuân Lành từ TTHLKQ Nha Trang về thăng cấp Đại tá để ngồi vào cái ghế Tham mưu trưởng.
Hơn nửa năm sau, Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan bị trọng thương trong trận Mậu Thân đợt 2, bàn giao chức vụ Tổng giám đốc CSQG cho Đại tá Trần Văn Hai (nguyên Chỉ huy trưởng Biệt Động Quân), từ đó tôi không được nghe nói về chức vụ của Đại tá Hà Xuân Vịnh trong quân đội nữa.
Chỉ biết vào trưa 29/4/1975, ông có mặt trên chiếc trực thăng của cựu Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ bay ra hạm đội Mỹ.
* * *
Đời tham mưu trưởng thứ bảy của KQVN, như đã viết ở trên, là ông Võ Xuân Lành, nick name “Tư Lành dân vệ”.
Ông Võ Xuân Lành sinh năm 1931 tại Cao Lãnh (Trà Vinh, Vĩnh Bình) trong một gia đình điền chủ khá giả. Ông theo học chương trình Pháp tại Cần Thơ, đậu bằng Tú tài I năm 1950.
Tháng 9 năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ theo học Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc Thiếu úy.
Sau mấy tháng phục vụ bên Lục Quân, ông thuyên chuyển sang Không Quân, theo học Khóa 2 Hoa Tiêu Quan Sát tại TTHLKQ Nha Trang.
Sau một thời gian ngắn phục vụ tại Phi Đoàn 2 Quan Sát, ông sang Pháp học bay khu trục.
Về nước, ông phục vụ tại Phi Đoàn 1 Khu Trục; thăng cấp Đại úy năm 1960.
Đầu năm 1964 ông được thăng cấp Thiếu tá, thay Thiếu tá Nguyễn Quang Tri làm Chỉ huy trưởng đời thứ năm của Phi đoàn, lúc này đã mang phiên hiệu mới: Phi Đoàn 514.
Tháng 6/1964, Căn Cứ 2 Trợ Lực (Biên Hòa) trở thành Không Đoàn 23 Chiến Thuật, ông lên làm Tư lệnh Không Đoàn.
Ngày 1/11/1965, ông được thăng cấp Trung tá, thuyên chuyển ra Nha Trang giữ chức vụ Chỉ huy trưởng TTHLKQ; tại Biên Hòa, Trung tá Phạm Phú Quốc, nguyên chỉ huy trưởng Phi Đoàn 518 Phi Long, lên làm Tư lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật.

và Thiếu tá Ông Lợi Hồng, Chỉ huy phó
Tháng 6/1966, ông Võ Xuân Lành được đưa về Tân Sơn Nhất, thăng cấp Đại tá, giữ chức Tham mưu trưởng BTL/KQ (thế chỗ Đại tá Hà Xuân Vịnh).
Ngày 1/11/1967, ông được thăng cấp Đại tá, lên giữ chức Tư lệnh phó Không Quân thay thế Chuẩn tướng Trần Văn Minh vừa được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không Quân thay Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ giải ngũ để làm Phó tổng thống.
Giữa năm 1969, Đại tá Võ Xuân Lành được vinh thăng Chuẩn tướng.
Ngày 1 tháng 4 năm 1974, trong đợt lên tướng cuối cùng của Không Quân, ông được thăng cấp Thiếu tướng, cùng với ba vị Tư lệnh Sư Đoàn Không Quân còn mang lon Đại tá được thăng cấp Chuẩn tướng: Nguyễn Đức Khánh, Nguyễn Hữu Tần, và Phạm Ngọc Sang.
* * *
Nếu chỉ tính trong nội bộ Không Quân, Thiếu tướng Võ Xuân Lành là một trong những cấp chỉ huy "popular” nhất.
Trong KQVN không phải ai cũng biết ông Lành, nhưng những ai biết thì đều cảm phục, thương mến. Bởi ông vừa là một quân nhân gương mẫu, một phi công đa năng, một cấp chỉ huy công minh, tận tụy, vừa là một con người bình dân, một cầu thủ “lão tướng” (đá banh) có hạng!
Ngoài nickname “Tư Lành dân vệ”, ông Võ Xuân Lành còn có một nickname nữa là “Paul Lành” nhưng mọi người chỉ dám gọi lén, ngoài ông Tư lệnh Trần Văn Minh gọi công khai mỗi lần hai ông ra sân cỏ (cũng là sân cờ) trước BTL/KQ.
Trong nghiệp bay bổng, ông Lành biết lái rất nhiều loại phi cơ, từ MS-500, L-19, T-6, Aero Commander cho tới A-1, A-37, F-5, và chiếc Tiền Phong 001... Nghe nói trong thời gian du học Hoa Kỳ, ông còn học lái cả oanh tạc cơ B-25!
Khi còn ở Biên Hòa, mặc dù công việc bề bộn, ông vẫn bay các phi vụ tác chiến mỗi tháng trên dưới 100 giờ trên A-1 Skyraider. Sau khi về BTL/KQ, ông vẫn thường bay hành quân với các đơn vị, không có lon lá trên áo bay, và mọi người chỉ biết khi ông lên tiếng trên tần số trong những trường hợp khẩn cấp.
Trong cương vị một cấp chỉ huy ông nói ít làm nhiều, và đặc biệt quan tâm tới đời sống của anh em quân nhân. Mỗi khi ông cầm đầu phái đoàn BTL/KQ đi thanh tra là các ông đơn vị trưởng lại hồi hộp, căng thẳng, không biết ông sẽ “truy” về mục gì, đòi đi xem những phần sở nào, khu vực nào...
Thời gian tôi còn ở Pleiku, khoảng năm 1971, có lần ông ra thanh tra căn cứ, trong lúc mọi người nghỉ trưa, ông một mình lang thang xuống khu gia binh HSQ binh sĩ, rồi ghé cư xá HSQ binh sĩ độc thân. Buổi chiều giải trình, ông chê khu gia binh lầy lội, cư xá độc thân nồng nặc mùi... nước tiểu (vì trời lạnh, toilet nằm ở xa, các chú lính bèn “tè” ngay bên hông nhà).
Khoảng năm 1972, ông một mình đáp xuống Biên Hòa, không cho ai biết. Mặc bộ đồ xanh ô-liu (bộ binh) bốn túi, ông vào Phòng Giải Lao trong Hangar B của Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận KQ, tay Hạ sĩ quản lý không nhìn thấy sao (đen) trên ve áo, cứ tưởng ông thượng sĩ già nào bên Sư Đoàn 3 KQ không biết luật lệ “cấm vào phòng giải lao trong giờ làm việc”, bèn mời ra khỏi cửa!
Đại tá Từ Văn Bê (Chỉ huy trưởng BCH/KT&TV/KQ) lại có điểm!
Ông Lành vốn quê Cao Lãnh, tính tình bình dân giản dị, không màu mè trình diễn, không cặp kè bồ bịch, không thích nhảy nhót, chỉ thích đá banh, hút thuốc thì Ruby Quân Tiếp Vụ, nhậu cũng chỉ la-ve Quân Tiếp Vụ...
Ông có nickname “Tư Lành dân vệ” là vì thế!
Một trong những thành tích đáng nhớ nhất của ông Võ Xuân Lành khi giữ chức Tư lệnh phó KQ là bay thử chiếc Tiền Phong 001 do KQVN chế tạo.
Đúng ra, nhiệm vụ (và vinh dự) bay "test" là của Trung tá Lê Xuân Lan, người được BTL/KQ chỉ định. Ông Lan xuất thân là “tứ quý” của khóa 58A Trần Duy Kỷ (nhất Nghĩa nhì Lan tam Danh tứ Định), có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết về phi hành, từng bay trên T-6G, A-1H, B-57, A-37 và F-5.

Khi ông Võ Xuân Lành nhất quyết bay thử một vòng trước khi Trung tá Lan bay "test" chiếc Tiền Phong, ai cũng lo sợ cho ông. Nhưng dứt khoát “Tư Lành” không uống thuốc liều mà có sự tự tin.
Cũng nên biết trong khi ông Lành biết bay nhiều loại phi cơ, tôi chưa nghe ai khen ông bay giỏi bao giờ; thậm chí một vị Phi đoàn trưởng khu trục còn cho tôi biết ông Lành bay A-1 “chỉ tạm được”!
Nhưng theo sự mô tả của Đại tá Trần Đình Hòe, một người bạn đồng khóa Khóa 2 HTQS, ông Võ Xuân Lành là người thích học hỏi lại có đức tính khiêm tốn, cái gì không biết ông không ngần ngại hỏi đàn em. Vì thế, trước khi bay thử chiếc Tiền Phong 001, ông đã nhờ Trung tá Lan chỉ dẫn những thủ tục cần thiết trong trường hợp “emergency”.
Cần nhấn mạnh, Tiền Phong 001 là chiếc phi cơ đầu tiên và duy nhất do KQVN chế tạo, thành thử bằng mọi giá không thể... bỏ tàu; cùng lắm chỉ có thể làm “crash”, và theo lời “bình loạn” của ông Lê Bá Định, với một chiếc máy bay nhẹ hều như chiếc Tiền Phong, nếu là phi công giỏi thì chỉ bị... gẫy giò là cùng!

Nhưng nói gì thì nói, từ lúc ông “Tư Lành” nhả thắng, Trung tá Nguyễn Tú ngồi bên cạnh và mọi người ở dưới đất đều "teo", cho tới khi ông đáp xuống an toàn mới thở phào!
[Trong mọi chuyến bay test – từ của ông Võ Xuân Lành, ông Lê Xuân Lan, cho tới ông Tư lệnh Trần Văn Minh sau này – đều có Trung tá Nguyễn Tú (kỹ sư trưởng) ngồi bên cạnh]
Trong bài tưởng nhớ bạn mang tựa “Nồi kê chưa chín”, viết dưới bút hiệu “Tinh Cầu”, NT Trần Đình Hòe cho biết “Tư Lành dân vệ” cũng từng cầm bút:
“(Ông Lành) Đã du học ở Pháp, ở Mỹ, đã công cán khắp năm châu, nhưng vẫn thường bảo: ‘Không đâu đẹp bằng quê hương’. (Ông) đã viết văn, đăng ca ngợi tình đất nước dân tộc, tình chiến hữu, bút hiệu là Anh Vũ.”
Sang Hoa Kỳ, cả hai vợ chồng ông Lành đều đi làm; cuộc sống khá chật vật vì nặng gánh gia đình ở Việt Nam. Giữa năm 1982, ông ngã bệnh nhưng vẫn tiếp tục đi làm, đến tháng 8 thì liệt giường. Bà Lành phải xin nghỉ việc để ở nhà chăm sóc ông.
NT Trần Đình Hòe hồi tưởng:
“Anh em đến thăm. Nằm trên giường bệnh, xanh xao, biết mình sắp mất, nhưng vẫn sáng suốt, trầm tĩnh, tinh thần vẫn khang kiện, vẫn dí dỏm ý nhị, xem cái chết như chuyện đi về.
“Ông đã trối với một người bạn: “Tôi có hai điều sảng khoái lớn trong cuộc đời. Một là đã chọn phục vụ trong Không Quân, hai là chọn vợ. Hai điều đó tôi đã không lầm. Bảy tám năm nay, và bây giờ đây, vợ như vậy, anh em Không Quân đối đãi như vậy, thì thiệt là Trời thương tôi thật nhiều. Cho tôi gửi lời cám ơn tất cả anh em. Đại cám ơn. Dùng cho tôi chữ đại, đại đại. Duy chỉ có một điều buồn, là ngày về tôi không được có mặt, không còn được sát cánh cùng anh em.”
NT Võ Xuân Lành qua đời ngày 29 tháng 10 năm 1982 tại California; hưởng dương 51 tuổi. Theo một bài viết của cố NT Trần Phước Hội, từ đó một số anh em KQ còn ở VN đã lấy ngày giỗ tướng Lành làm ngày họp mặt hàng năm.
***********
(Phần tiếp theo)
Trở lại với cựu Chuẩn tướng Võ Dinh, vị Tham mưu trưởng cuối cùng của quân chủng Không Quân.
Như tôi đã viết trong một kỳ trước, hình như trời sinh ra ông Võ Dinh để làm công việc tham mưu. Thật vậy, sau khi tốt nghiệp Khóa 1 Hoa Tiêu tại TTHLKQ Nha Trang cuối năm 1952, ông chỉ phục vụ trong ngành phi hành hơn 2 năm (Phi Đoàn 2 Quan Sát, từ tháng 11/1952 tới tháng 7/1955) rồi liên tục nắm giữ các chức vụ tham mưu (và đi học các khóa tham mưu) cho tới khi trở thành Tham mưu trưởng KQ vào năm 1967.
Trong lịch sử 20 năm của Không Quân Việt Nam, tên tuổi của ông Võ Dinh được nhắc tới trước cả ông Tư lệnh đầu tiên (Trần Văn Hổ): ngày 7/7/1955 Thiếu tá Võ Dinh tiếp nhận và làm Chỉ huy trưởng Căn Cứ 1 Chiến Thuật Không Quân, nguyên là căn cứ không quân Colonna của người Pháp ở Nha Trang, trong khi tới cuối tháng 8 năm đó, Trung úy Trần Văn Hổ mới được Phủ thủ tướng triệu về Sài Gòn, thăng cấp đặc cách Đại úy thực thụ + Thiếu tá nhiệm chức để nắm giữ chức vụ Phụ tá Không Quân thay Trung tá Nguyễn Khánh.
Năm 1956, ông Võ Dinh vào Biên Hòa tiếp nhận căn cứ không quân thứ hai từ tay người Pháp, đặt tên Căn Cứ 2 Trợ Lực Không Quân, và qua năm 1957 ra Đà Nẵng tiếp nhận Căn Cứ 4 Trợ Lực; nghĩa là trước sau ông đã tiếp nhận và làm Chỉ huy trưởng ba trong số bốn căn cứ đầu tiên của KQVN (riêng Căn Cứ 3 Trợ Lực, Tân Sơn Nhất, do Đại úy Trịnh Hảo Tâm tiếp nhận và làm Chỉ huy trưởng vào đầu năm 1957).
Để rồi trong những năm sau cùng, ông Võ Dinh cũng là người gánh vác hầu như tất cả mọi công việc trong nội bộ Không Quân; mà đáng nói nhất là việc bổ nhiệm nhân sự trong đợt bành trướng năm 1970.
Kế hoạch hiện đại hóa và bành trướng QLVNCH được Hoa Kỳ đưa ra sau cuộc tổng công kích của Việt Cộng vào Tết Mậu Thân 1968, do MACV, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, và các đại diện quân binh chủng phối hợp soạn thảo chương trình.
Phái đoàn đại diện Không Quân do Đại tá Võ Dinh, Tham mưu trưởng BTL/KQ cầm đầu, Đại tá Vũ Thượng Văn, Tham mưu phó Kế Hoạch & Chương Trình, làm phó.
Không Quân càng đạt được nhiều “thắng lợi” trong các buổi họp nói trên thì trách nhiệm của ông Tham mưu trưởng càng nặng; điển hình là việc tiếp nhận trên dưới 700 chiếc trực thăng UH-1 do Lục Quân Hoa Kỳ chuyển giao và việc thành lập các Sư Đoàn Không Quân (Air Division).
Thời gian này tôi đang ở Pleiku thường được nghe ông Lê Bá Định bình luận về việc sắp đặt, bổ nhiệm nhân sự của BTL/KQ trong thời kỳ bành trướng, qua đó tôi được biết Đại tá Tham mưu trưởng (Võ Dinh) đã được Thiếu tướng Tư lệnh (Trần Văn Minh) trao trách nhiệm lựa chọn, đề cử người vào các chức vụ quan trọng để ông quyết định.
Và hầu như trong mọi trường hợp, ông Tư lệnh đã chấp thuận sự đề cử ấy.
Theo ông Lê Bá Định, có hai nguyên nhân chính:
- Nguyên nhân nội bộ: ông Võ Dinh làm công việc tham mưu lâu năm hẳn phải biết khả năng của các ông đơn vị trưởng, các sĩ quan từng nắm giữ chức vụ quan trọng.
- Nguyên nhân chính trị: vào thời gian này, Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, cựu Tư lệnh Không Quân, đã “kên” Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra mặt, ông Trần Văn Minh không muốn dính dáng vào cho nên đã “bán cái” cho ông Võ Dinh việc bổ nhiệm các ông sư đoàn trưởng (sau đổi thành tư lệnh sư đoàn), bởi vì nếu xảy ra một cuộc binh biến, lực lượng của một sư đoàn không quân có thể thay đổi cán cân lực lượng giữa đôi bên.
Sau này tôi còn được ông Từ Văn Bê giải thích thêm: một khi nắm chức vụ sư đoàn trưởng có cấp số trung tướng đương nhiên các ông sẽ là “ứng viên” trong các đợt đề nghị lên tướng do Bộ Tổng Tham Mưu đệ trình Tổng thống, vì thế nếu là người “phe ông Kỳ” sẽ khó lòng được gắn sao!

đồng sàng dị mộng!
Tôi không biết suy đoán của hai ông Lê Bá Định, Từ Văn Bê chính xác tới mức nào chỉ biết trên thực tế đã không có một người nào “phe ông Kỳ” được nắm các sư đoàn có lực lượng khu trục, gồm SĐ1KQ, SĐ2KQ, SĐ3KQ, và SĐ4KQ.
Trở lại với năm 1970 là thời gian thành lập bốn sư đoàn nói trên, cả ba ông Tư lệnh Không Đoàn 41, 23, 74, (sẽ lên nắm chức Sư đoàn trưởng SĐ1KQ, SĐ3KQ, SĐ4KQ) là Nguyễn Đức Khánh, Huỳnh Bá Tính, Nguyễn Huy Ánh trước kia đều không “hưởng ơn mưa móc” từ ông Kỳ cho nên BTL/KQ đã để ba ông lên nắm chức Sư đoàn trưởng mà không phải lo ngại gì.
Chỉ có Đại tá Vũ Văn Ước, đang nắm chức Tư lệnh Không Đoàn 62 ở Nha Trang, vốn là người thân thiết với ông Kỳ là phải đưa đi trước khi thành lập SĐ2KQ.
Nhưng đưa đi đâu để ông không bị “quê”, không bị mang tiếng là bị “giáng chức”?
Cũng may, nằm trong chương trình bành trướng của Không Quân, Trung Tâm Hành Quân Không Quân (Tactical Air Control Center – TACC) được nâng lên thành Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân (Air Operations Command – AOC), vị chỉ huy trưởng cũng có cấp số trung tướng, ngang hàng với các ông Sư đoàn trưởng, hơn nữa trước kia ông Ước từng phục vụ tại Trung Tâm Hành Quân Không Quân nay trở về làm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân thì công việc càng “chạy”.
Nghĩa là việc thuyên chuyển ông Ước từ Nha Trang về Tân Sơn Nhất cho dù không “hợp tình” cũng “hợp lý”!
(Ngày ấy không mấy người trong Không Quân để ý tới việc Đại tá Vũ Văn Ước là người thân thiết với ông Nguyễn Cao Kỳ, và cho rằng sau này ông không được thăng Chuẩn tướng chỉ vì có “ân oán” với một số quan lớn bên Bộ TTM. Tôi sẽ trở lại việc này trong một kỳ sau)
Trong khi việc “bứng” Đại tá Vũ Văn Ước khỏi chức Tư lệnh KĐ62CT, đưa Đại tá Nguyễn Văn Lượng (Chỉ huy phó TTHLKQ) sang thay thế diễn ra một cách nhanh chóng, êm thắm thì việc Đại tá Phan Phụng Tiên, Tư lệnh Không Đoàn 33 Chiến Thuật đi hay ở trước khi thành lập SĐ5KQ đã khiến nhiều người trong Không Quân bàn tán, đoán mò, chờ đợi hơn một năm trời.
Những gì tôi viết ra sau đây phần lớn là chuyện trà dư tửu hậu, do nghe lóm các sếp lớn, do bạn bè ở BTL/KQ và các nhà báo dân sự kể lại, có thật hay không, chính xác tới mức nào không ai có thể quả quyết, chỉ biết một điều nó trùng hợp với mọi diễn tiến trong việc thành lập SĐ5KQ và việc bổ nhiệm Đại tá Phan Phụng Tiên vào chức vụ Sư đoàn trưởng.
Ngày ấy, sư đoàn không quân đầu tiên được thành lập là SĐ4KQ tại Cần Thơ vào đầu tháng 3/1970, Đại tá Nguyễn Huy Ánh, nguyên Tư lệnh Không Đoàn 74 Chiến Thuật lên làm Sư đoàn trưởng; tiếp theo là SĐ3KQ tại Biên Hòa vào đầu tháng 5, Đại tá Huỳnh Bá Tính, nguyên Tư lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật, lên làm Sư đoàn trưởng; tới tháng 7, SĐ2KQ được thành lập tại Nha Trang, Đại tá Nguyễn Văn Lượng lên làm Sư đoàn trưởng; và tới tháng 9, SĐ1KQ được thành lập tại Đà Nẵng, Đại tá Nguyễn Đức Khánh, nguyên Tư lệnh Không Đoàn 41 Chiến Thuật, lên làm Sư đoàn trưởng.
Theo tốc độ “hai tháng một sư đoàn”, lẽ ra tới tháng 11/1970 SĐ5KQ - dự trù gồm các phi đoàn vận tải, không thám và vận tải võ trang – sẽ được thành lập tại Tân Sơn Nhất, nhưng rồi đợi hoài vẫn không nghe nói bao giờ sẽ thành lập, mặc dù vào ngày 1/1/1971 đã có sự tổ chức lại nhân sự và các cơ cấu của Không Đoàn 33 Chiến Thuật, và tới tháng 3/1971, các không đoàn tân lập gồm Không Đoàn 53 Chiến Thuật, Không Đoàn 50 Bảo Trì & Tiếp Liệu, và Không Đoàn Yểm Cứ Tân Sơn Nhất được thành lập.
Phải đợi tới ngày 1/11/1971, sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu thắng cử trong cuộc bầu cử “độc diễn” vào ngày 3 tháng 10 rồi tuyên thệ nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ 2, SĐ5KQ mới chính thức được thành lập.
Nhưng việc ông Nguyễn Văn Thiệu “độc diễn” trong cuộc bầu cử tháng 10/1971 có gì liên quan tới việc thành lập SĐ5KQ?
Xin thưa không có gì liên quan tới việc thành lập sư đoàn nhưng có liên quan tới vị Sư đoàn trưởng: Đại tá Phan Phụng Tiên, một người có nhiều liên hệ và được xem là thuộc phe cánh ông Nguyễn Cao Kỳ.
* * *
Ông Phan Phụng Tiên sinh năm 1930 trong một gia đình khá giả tại Quảng Ninh. Thuở nhỏ ông học Tiểu học tại Móng Cái, khi lên trung học ông được gia đình gửi về Hà Nội theo học chương trình Pháp, tốt nghiệp với bằng Tú tài 1.
Theo lệnh tổng động viên, năm 1951 ông theo học Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy, được đưa tới Tiểu Đoàn Việt Nam đồn trú tại Nam Định, giữ chức Trung đội trưởng.
(Trước năm 1954, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam chỉ có cấp Tiểu Đoàn, gồm các Tiểu Đoàn Việt Nam trang bị nặng và các Tiểu Đoàn Khinh Binh trang bị nhẹ)
Sau một thời gian ngắn, ông được tuyển sang Không Quân, theo học khóa 52F1 tại trường bay căn bản Marrakech, Maroc, thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi.
Cùng học học khóa 52F1 với ông Phan Phụng Tiên có ông Đinh Văn Chung (Khóa 3 VBQG) và các ông Huỳnh Hữu Hiền, Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Minh Bon, Huỳnh Bá Tính... (Khóa 1 Nam Định hoặc Thủ Đức). Sau đó mới tới Khóa 52F2 của các ông Trần Văn Hổ, Nguyễn Cao Kỳ, Trịnh Hảo Tâm, Lưu Kim Cương, Phan Thanh Vân...
Chức vụ đầu tiên của ông Phan Phụng Tiên sau khi về nước là Trưởng phòng Hành Quân của Phi Đoàn Tác Chiến & Liên Lạc đồn trú tại Nha Trang, do Đại úy Đinh Văn Chung làm Chỉ huy trưởng.

trong lễ chuyển giao CCKQ Nha Trang, 1/7/1955
Sau khi Phi Đoàn Tác Chiến & Liên Lạc bị giải thể vào giữa năm 1956 (vì phải hoàn trả các phi cơ MD-315 cho người Pháp theo điều khoản của Hiệp Định Genève 1954), đa số sĩ quan của phi đoàn được đưa về Tân Sơn Nhất để thành lập Phi Đoàn 2 Vận Tải (tiền thân của Phi Đoàn 415 sau này), cũng do Đại úy Đinh Văn Chung làm Chỉ huy trưởng.
Riêng Đại úy Phan Phụng Tiên phục vụ tại Phi Đoàn 1 Vận Tải (tiền thân của Phi Đoàn 413) do Đại úy Nguyễn Cao Kỳ làm Chỉ huy trưởng.
Tới khi hai phi đoàn này kết hợp thành Liên Phi Đoàn Vận Tải do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ làm Chỉ huy trưởng, Đại úy Phan Phụng Tiên lên làm Chỉ huy trưởng Phi Đoàn 1.
* * *
Ngày 11/11/1960, xảy ra cuộc đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm do Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù cầm đầu, căn cứ không quân Tân Sơn Nhất bị quân dù chiếm đóng.
Khi cuộc đảo chánh thất bại, Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông lên một chiếc phi cơ vận tải C-47 do Đại úy Phan Phụng Tiên làm trưởng phi cơ bay sang Căm-bốt tỵ nạn; trên phi cơ có Trung tướng Thái Quang Hoàng bị phe đảo chánh bắt theo làm con tin.
Sau này, vì có những điểm mâu thuẫn trong các tài liệu về cuộc đảo chánh năm 1960 cùng với hồi ức “tiền hậu bất nhất” của ông Nguyễn Cao Kỳ, người ta không biết rõ vai trò thực sự của Đại úy Phan Phụng Tiên trong cuộc đảo chánh, người thì viết ông theo phe đảo chánh tới khi thất bại đã lái máy bay cùng nhau đào thoát, kẻ lại nói ông bị phe đảo chánh “dí súng” cưỡng bách, có người lại nói ông chỉ biết làm theo lệnh của ông Kỳ, vốn là bạn của ông Thi.
Chỉ biết một điều chắc chắn là sau cuộc đảo chánh năm 1963, ông Phan Phụng Tiên trở về đơn vị cũ, được thăng cấp Thiếu tá.
Sau cuộc chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh hạ bệ tướng Dương Văn Minh ngày 30/1/1964, ông Nguyễn Cao Kỳ bắt đầu nổi như cồn, hai ông Nguyễn Ngọc Loan và Lưu Kim Cương cũng nổi theo.

Riêng ông Phan Phụng Tiên, tôi không tìm được tài liệu nào nói về chức vụ của ông vào thời gian này (ngoài những chi tiết tầm bậy tầm bạ trên Wikipedia) cho tới khi ông được thăng cấp Đại tá và làm Tư lệnh Không Đoàn 33 Chiến Thuật kiêm Chỉ huy trưởng Yếu Khu Tân Sơn Nhất, thay cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương hy sinh trong trận Mậu Thân đợt 2 (tháng 5/1968).
Tới cuộc tranh cử tổng thống năm 1971, tên tuổi ông Phan Phụng Tiên bắt đầu được báo chí chú ý tới cùng với cuộc vận động tranh cử của ông Nguyễn Cao Kỳ, đương kim Phó tổng thống.
Như nhiều người còn nhớ, bốn năm trước đó, trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1967, cả Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, lẫn Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, đều lập liên danh ra tranh cử, tuy nhiên trước áp lực của người Mỹ cũng như các tướng lãnh muốn duy trì sự đoàn kết trong quân đội, sau đó ông Kỳ đã chấp nhận đứng chung liên danh, làm phó cho ông Thiệu.
Chấp nhận nhưng vẫn ấm ức vì ông tin rằng nếu để hai liên danh, ông sẽ vượt xa ông Thiệu. Chính vì thế sau khi trở thành Phó tổng thống, ông Kỳ vẫn giữ thái độ kình chống ông Thiệu, càng ngày càng lộ liễu để rồi cuối cùng tới tháng 6/1971 tuyên bố sẽ lập liên danh ra tranh cử trong cuộc bầu cử vào đầu tháng 10 năm đó.
Cựu Đại tướng Dương Văn Minh, người cầm đầu cuộc đảo chánh năm 1963, cựu quốc trưởng thời hậu “tam đầu chế” cũng lập liên danh tranh cử. (xem Phụ Lục)
Lo ngại bị chia phiếu với hai vị cựu tướng lãnh, ông Thiệu đã “đi đêm” với đám gà nhà trong Thượng viện và Hạ viện, để họ đưa ra luật bầu cử mới, theo đó các liên danh muốn ứng cử phải được sự giới thiệu của một số lượng dân biểu tối thiểu theo quy định.
Kết quả, ông Dương Văn Minh trong khi có đủ số chữ ký giới thiệu đã tuyên bố rút tên vì cho rằng ông Thiệu đã thiết lập một guồng máy bầu cử gian lận, về phần ông Nguyễn Cao Kỳ thì không chấp nhận luật bầu cử mới mà ông cho là vi hiến, đã tuyên bố tẩy chay cuộc bầu cử!
Một bầu không khí căng thẳng bao trùm thủ đô Sài Gòn. Người thì lo ông Dương Văn Minh xúi Phật giáo Ấn Quang làm loạn, người thì sợ ông Nguyễn Cao Kỳ liên kết với các tướng lãnh bất mãn để đảo chánh.
Thực ra với những người có đầu óc nhận xét thì hai việc trên khó lòng xảy ra vì thứ nhất, lực lượng của Phật giáo Ấn Quang trong Nam đã suy yếu, và thứ hai, các tướng trẻ cùng băng với ông Nguyễn Cao Kỳ ngày nào hầu hết đã không còn quân trong tay.
Nhìn vào nội bộ Không Quân thì chính ông Nguyễn Cao Kỳ cũng... hết quân. Biệt Đoàn 83 “Thần Phong” (lực lượng Không Quân của riêng ông) đã bị giải thể vào đầu năm 1967. Hai người thân tín có thế lực nhất đã không còn: Đại tá Lưu Kim Cương, Tư lệnh KĐ33CT kiêm Chỉ huy trưởng Yếu Khu Tân Sơn Nhất, đã hy sinh trong trận Mậu Thân đợt 2, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan thì sau khi bị thương tại cầu Phan Thanh Giản giữa năm 1968, đã bàn giao chức vụ Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc gia cho Đại tá Trần Văn Hai (nguyên Chỉ huy trưởng Biệt Động Quân), và giải ngũ vào đầu năm 1969.

Huy Cương, Nguyễn Quốc Phiên; hàng trước, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại úy Trần Bá Hợi
Thế còn Trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh Không Quân?
Xin thưa, ông Trần Văn Minh chưa bao giờ là phe cánh của ông Nguyễn Cao Kỳ!
Trong bài Sự thật Đời Tôi, viết tại hải ngoại ít lâu trước khi qua đời, vị cựu Tư lệnh Không Quân bộc bạch tâm sự:
(thời gian cuối năm 1974 đầu 1975) ...Ông muốn tôi cầm đầu đảo chánh để ông trở thành người lãnh đạo mới của đất nước. Nhưng điều mà Tướng Kỳ không thể nào hiểu được là tôi và binh lính của tôi sẽ không trung thành với ai cả. Chúng tôi chỉ trung thành với Tổ Quốc. Chúng tôi trung thành với Việt Nam, chúng tôi yêu Việt Nam. Rất nhiều người lính chúng tôi đã chết cho Việt Nam. Họ đã chiến đấu và chết không vì bất cứ ai, mà cho Việt Nam.
https://hoiquanphidung.com/echo/khong-quan-vnch/103-qskq/521-s-th-t-d-i-toi-trung-tu-ng-tr-n-van-minh
Trở lại thời gian giữa năm 1965, khi quyết định tham chính (làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương), Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không Quân, đã chuẩn bị nhân sự chu đáo để làm hậu thuẫn cho mình trong tương lai.
Qua đó Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh phó Không Quân, được đưa ra nắm chức Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội (một năm sau làm Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia), và đưa Trung tá Trần Văn Minh, Tư lệnh Không Đoàn 74 Chiến Thuật ở Cần Thơ về Tân Sơn Nhất, thăng cấp Đại tá để thay ông Loan làm Tư lệnh phó Không Quân.
Theo “lời bàn Mao Tôn Cương” của ông Lê Bá Định, xét về cả khả năng bay bổng lẫn mức độ thân thiết với ông Kỳ, ngày ấy Trung tá Vũ Văn Ước phải được xem là ứng viên Tư lệnh phó sáng giá nhất nhưng đã không lọt vào mắt xanh của ông Kỳ chỉ vì... thiếu thước tấc!

Pháp năm 1955, tại bờ biển Manche (hình của NT Vũ Văn Ước)
Việc ông Vũ Văn Ước có một chiều cao khiêm nhượng trong Không Quân ai cũng biết, nhưng nó chẳng ảnh hưởng gì tới khả năng bay bổng (cho nên năm 1952 ông mới được người Pháp tuyển vào học Khóa 1 Hoa Tiêu Quan Sát ở Nha Trang) và khả năng chỉ huy của ông. Nhưng có lẽ ông Kỳ đặt ưu tiên “ngoại hình” cho nên mới chấm ông Trần Văn Minh, xuất thân Khóa 3 Quan sát viên TTHLKQ Nha Trang, có tướng tá ngon lành bậc nhất trong Không Quân.
Bên cạnh đó cái gốc Nam Kỳ (Bạc Liêu) của ông Minh “đù” cũng khiến ông Kỳ... yên tâm hơn! (Thành thật xin lỗi quý niên trưởng gốc Bắc, đây chỉ là nhận xét của cá nhân ông Lê Bá Định, một người sanh tại Sài Gòn năm 1939 có ông bố gốc... Bắc!)
Chưa đầy hai năm sau, Đại tá Trần Văn Minh được vinh thăng Chuẩn tướng.
(Tiểu sử ông Trần Văn Minh trên Wikipedia không hiểu căn cứ vào nguồn tài liệu nào đã viết ông được thăng Chuẩn tướng vào đầu tháng 12/1967 sau khi lên làm Tư lệnh Không Quân thay Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; chi tiết này sai hoàn toàn: những hình ảnh về buổi lễ chuyển giao phản lực cơ F-5 cho KQVN tại CCKQ Biên Hòa ngày 1/6/1967 cho thấy lúc đó ông Trần Văn Minh đã mang lon Chuẩn tướng rồi)
Hơn một năm sau, Ngày Quân Lực 19/6/1968, ông được vinh thăng Thiếu tướng, và hơn hai năm sau, Ngày Quốc Khánh Đệ nhị Cộng hòa 1/11/1970, được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gắn lon Trung tướng.
Như vậy, ông Trần Văn Minh là một trong ba sĩ quan xuất thân Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị (Thủ Đức & Nam Định) lên tới cấp Trung tướng; hai người kia là ông Nguyễn Đức Thắng (thăng cấp 1968) và ông Đồng Văn Khuyên (1972).
Ông Trần Văn Minh cũng là vị Thiếu tướng lên Trung tướng nhanh thứ nhì, chỉ sau ông Dư Quốc Đống, Tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù (đúng hai năm).
Việc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gắn lon Trung tướng cho ông Trần Văn Minh được một số người diễn dịch là để “chặt cầu” trong trường hợp Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tính đường trở lại Không Quân!
* * *
Trở lại với Đại tá Phan Phụng Tiên và việc thành lập SĐ5KQ. Trong bầu không khí căng thẳng của cuộc vận động bầu cử bắt đầu vào giữa năm 1971, căn cứ không quân Tân Sơn Nhất đã trở thành “căn cứ địa” của ông Nguyễn Cao Kỳ.
Vẫn biết sau khi làm Phó tổng thống vào năm 1967, ông Kỳ và gia đình vẫn tiếp tục sống ở tư dinh trong phi trường, ngày ngày ông tới dinh Độc Lập bằng trực thăng nhưng lúc đó chẳng mấy người quan tâm tới việc này; phải đợi tới khi diễn ra cuộc tranh cử tổng thống, nhất là sau khi ông Kỳ tuyên bố tẩy chay cuộc bầu cử, và có tin đồn ông đang liên kết với các tướng lãnh bất mãn âm mưu đảo chánh thì các phóng viên báo chí mới kéo nhau vào phi trường săn tin.
Nhưng mặc dù có thẻ hành sự, tất cả mọi phóng viên đã bị chặn lại tại cổng Phi Long. Nhiều người không chịu ra về, các sĩ quan trách nhiệm không biết giải quyết ra sao (vì e ngại đám nhà báo loan tin thất lợi), cuối cùng ông Phan Phụng Tiên phải đích thân ra giải quyết.
Tôi còn nhớ ngày ấy các báo đã phổ biến hình ông Phan Phụng Tiên mang lon Đại tá đứng trước cổng Phi Long, bên cạnh là các nhân viên quân cảnh Không Quân “mặt đằng đằng sát khí”, phía sau lưng là một toán lính phòng thủ “trang bị tận răng” bên cạnh chiếc xe bọc thép V-100 Commando với khẩu đại liên đầy sức hăm dọa!

Thực ra tại cổng Phi Long lúc nào mà không có quân cảnh Không Quân, không có lính phòng thủ; quân cảnh thì mặt mũi vốn dĩ... khó ưa, lính phòng thủ thì lăm le súng đạn là chuyện đương nhiên, còn V-100 thì từ sau Tết Mậu Thân lúc nào mà không có một chiếc ứng chiến tại cổng..., nhưng bình thường chẳng ai chú ý tới, nay được các nhà báo chụp hình đưa lên trang nhất kèm theo những bài phóng sự giật gân, đã trở thành những hình ảnh “ly kỳ rùng rợn” về tình hình căng thẳng tại thủ đô Sài Gòn trong mùa tiền bầu cử!
(Một phần cũng vì trước kia “Trại Phi Long” thường được ông Kỳ cho đám tướng trẻ sử dụng để họp hành bí mật, chẳng hạn buổi họp “marathon” tại BTL/KQ kéo dài trong hai ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1965, bầu ông Kỳ làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương và ông Thiệu làm Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia)

Bộ Tư Lệnh KQ trong CCKQ Tân Sơn Nhất
Nhưng rồi đã chẳng có gì “ly kỳ rùng rợn” xảy ra. Ngày 3 tháng 10 năm 1971, cuộc bầu cử “độc diễn” diễn ra suông sẻ, liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Trần Văn Hương đắc cử vẻ vang với tỷ lệ 94% phiếu bầu.
Sau khi hai ông tuyên thệ nhậm chức, ông Nguyễn Cao Kỳ chỉ còn là một “bóng ma lịch sử” (chữ của những tờ báo ở Sai Gòn không ưa ông). Tại BTL/KQ, ông Tham mưu trưởng Võ Dinh thở phào.
Ngày 1/11/1971, SĐ5KQ được chính thức thành lập, Sư đoàn trưởng: Đại tá Phan Phụng Tiên, một người trước kia thuộc phe cánh ông Nguyễn Cao kỳ nhưng nay đường công danh lại nằm trong tay ông Nguyễn Văn Thiệu.
Đúng một năm sau, ngày 1/11/1972, Đại tá Phan Phụng Tiên được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký quyết định thăng cấp Chuẩn tướng cùng với các Đại tá Không Quân Võ Dinh, Đặng Đình Linh, Huỳnh Bá Tính, Nguyễn Ngọc Oánh, Nguyễn Văn Lượng, và Lê Trung Trực.
(Còn tiếp)
PHỤ LỤC
Tam Đầu Chế
"Tam đầu chế" là giải pháp nhằm dung hòa mâu thuẫn giữa các tướng lãnh chóp bu trong gian đoạn rối loạn sau cuộc đảo chánh năm 1963.
Nguyên sau khi cầm đầu cuộc “chỉnh lý” ngày 30 tháng 1 năm 1964, lật đổ các tướng lĩnh chủ chốt cuộc đảo chánh là Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và Mai Hữu Xuân, Trung tướng Nguyễn Khánh được Hội đồng Quân nhân Cách mạng cử làm Thủ tướng thay thế ông Nguyễn Ngọc Thơ.
Ngày 21/3/1964 Hội đồng Quân nhân Cách mạng được cải danh thành Hội đồng Quân đội Cách mạng gồm 53 thành viên.
Ngày 16 tháng 8, Hội đồng bầu tướng Nguyễn Khánh làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa. Sau đó với tư cách Quốc trưởng, ông Khánh ban hành Hiến chương Vũng Tàu để thay thế Hiến pháp của nền Đệ nhất Cộng hòa. Tuy nhiên, ông đã bị các đảng phái và sinh viên học sinh phản đối kịch liệt.
Ngày 26/8/1964, Hội đồng Quân đội Cách mạng ra tuyên cáo thu hồi Hiến chương Vũng Tàu, đồng thời bầu ra cơ chế lãnh đạo kiểu "Tam đầu chế", gồm:
- Quốc trưởng: Trung tướng Dương Văn Minh
- Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Khánh
- Tổng tư lệnh Quân Lực: Đại tướng Trần Thiện Khiêm (kiêm Tổng trưởng Quốc Phòng)
Nhưng chỉ hơn một tháng sau "Tam đầu chế" tự giải thể.
Nguyên sau cuộc binh biến ngày 13 tháng 9 do tướng Dương Văn Đức khởi xướng, tướng Khánh nghi ngờ có sự hậu thuẫn của tướng Khiêm nên đã buộc tướng Khiêm phải bàn giao cả hai chức vụ Tổng trưởng Quốc Phòng và Tổng tư lệnh Quân Lực lại cho mình.
Ngày 7 tháng 10, tướng Khiêm được cử làm Trưởng phái đoàn công du Vương quốc Anh và Cộng hòa Liên bang Đức để cám ơn hai quốc gia này đã hỗ trợ VNCH trong công cuộc chống Cộng sản.
Ngày 24 tháng 10, hết hạn công du, thay vì trở về nước tướng Khiêm nhận được quyết định của tướng Khánh bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ.
(Mãn nhiệm kỳ vào tháng 10 năm 1965, ông Khiêm lại bị ông Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, đưa đi làm Đại sứ tại Đài Loan thay thế Trung tướng Phạm Xuân Chiểu. Mãi tới giữa năm 1968, khi vây cánh của ông Kỳ đã bị “chặt” bớt, ông Khiêm mới được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa về làm Tổng trưởng Nội Vụ trong chính phủ Trần Văn Hương)
Từ đó, làng báo miền Nam mới có câu “Được làm vua, thua làm đại sứ”!
Mấy tháng sau (tháng 2 năm 1965), tới lượt tướng Khánh bị các tướng trẻ do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu, buộc phải rời khỏi mọi chức vụ để đi làm "Đại sứ Lưu động" không ngày về.
Chức vụ Đại sứ Lưu động dành cho tướng Nguyễn Khánh thực chất chỉ là một hư vị không có nhiệm sở, trên thực tế ông là một chính khách lưu vong không hơn không kém.