
Eo núi tạo bởi hai đỉnh non cao mây trắng phủ lưng chừng ngọn, mở ngõ vào như một miệng hang mà những đuôi mây thả lửng lơ tựa hồ thạch nhũ hay như những chiếc nanh của hàm rồng há chực và chúng tôi là những con mồi ngoan ngoãn rủ nhau tự hiến. Non thần mở cửa đón đợi chúng tôi. Chiếc cửa không lồ cạm bẫy mà khi rong ruổi bay vào, tôi nghe rờn rợn trong lòng cảm giác một loài sinh vật tế thần đang bị thôi miên, riu ríu nạp mình giữa hàng nanh nhọn hoắt.
Đường bay tiến vào Dak Pek hay đường lên trời? Mây hay lưới bẫy mưu toan xập bắt? Gió. Những ngọn gió bất kham từ đỉnh non quật xuống từ chân núi cuộn lên. Con tàu chòng chành nghiêng ngả, con tàu như thể mảnh thuyền vô tội lao đao trên ngọn ba đào vùi dập làm tôi phải chân đạp tay kìm, vất vả đưa con tàu qua khỏi vùng non hiểm hóc. Những cơn chật vật thế này đều đã thân quen cảm giác, đều đã bao lần hứng chịu. Đường bay thông thuộc trong lòng. Rừng núi không còn xa lạ bao tháng năm dài đi lại. Tôi cứ bay về hướng Bắc, theo dòng suối lượn trong lòng thung lũng hẹp, theo dấu đường mòn ẩn hiện dưới vòm vây cỏ hoang vu. Kia rồi những quả đồi non tròn san sát ngỏn ngang như mồ mả. Tôi thấy hiện rõ, Dak Pek!
Dak Pek tiền đồn là nguyên quả đồi đất đỏ với chập chùng hào lũy vây quanh. Quả đồi lớn nhất giữa những quả đồi trơ trụi có dòng suối nhỏ ấp ôm. Từng lớp rào tre, từng vòng cây rừng vót nhọn viền quanh, với thép gai, với hào chông tua tủa từ chân đến đỉnh đồi làm chiến lủy phòng thủ cái tiền đồn nhỏ bé. Những lớp hào lũy kiên cố ấy và dẫy pháo đài lụp xụp bốn hướng toàn lỗ châu mai, tạo thành những vòng tròn điểm tâm động là ngọn cờ vàng tung bay phất phới. Khu hầm chỉ huy tua tủa cần phát tuyến và dây trời giăng mắc như lưới nhện. Trên những ngọi đồi xa, từng chòi lá lênh khênh hướng mắt canh chừng một dải rừng già âm u của rặng Trường Sơn bí hiểm. Rừng ám tối dẫy đầy ma quỷ ẩn thân. Loài quỷ yêu ma ngày đêm rình rập, hét hò bắn giết, đoạt chiếm tiền đồn, mở cửa cao nguyên, tràn vào Dak To, Tân Cảnh.
Dak Pek tiền đồn, tôi đã bao lần bay đến nhưng tuyệt nhiên chưa từng đặt chân lên mặt đất nơi này. Trực thăng thường chỉ đáp xuống bãi ruộng khô bên dòng nước bọc chân đồi phía Đông và đậu ở đó một khoảng thời gian ngắn ngủi cho việc thả đồ tiếp tế hay đón thương binh rồi hối hả bốc mình bay về Kontum xa lắc.
Chỉ là một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi và vô nghĩa trong cả đời dài mòn mỏi, nhưng tôi cũng đủ thì giờ say đắm thả hồn lững thững phiêu du trong phần cảnh đẹp của muôn vàn cảnh đẹp quê hương yêu dấu. Có khi là buổi sáng mờ sương, cạy cỏ tỏa hương thơm trong gió dịu dàng. Có khi là buổi chiều vàng, mây trắng nuột nà sáng rỡ bồng bềnh trên thảm trời xanh. Đồi núi chập chùng cũng rợn màu xanh báy ngát. Buổi chiều mặt trời ở phương Tây, lẩn sau mây núi, tỏa hào quang rực rỡ rừng chiều, thàn tiên cảnh đẹp…
Tôi thường ngồi ngây dại trong phòng lái nhìn qua vuông cửa ngỏ. Tiếng máy bay êm trầm mơ vọng từ cõi xa dẫn tôi phiêu diêu thàn trí quay về Dak Pek sừng sững trước nhãn quan, rào tre tua tủa chọc trời, hào lũy nhấp nhô, ngọn cờ vàng lộng tung trước gió. Tôi tưởng đâu đây ngập tràn linh khí tiền nhân. Như hiển hiện chóa lòa một núi lam hùng vĩ của đoàn trai áo vải dựng cờ khởi nghĩa. Cờ xí ngợp trời, người ngựa và gươm đao lấp loáng. Tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, vùng non khí thiêng cao nhất. Tôi tưởng như thấy cảnh tưng bừng một sáng mùa xuân cũ:
“Bóng quân đi theo từng hơi gió miền xa vời
Vầng ô lên sương tan mờ trong khe núi
Bước quân đi theo tiếng chiêng oai hùng rơi…”
Dak Pek tiền đồn, từ dưới ngước nhìn lên, thât vô cùng hùng vĩ. Tất cả đếu vươn cao. Rào cây vót nhọn. Chòi canh. Vọng gác. Cột cờ. Những cột ăng-ten cung những bóng người đứng trên các lô-cốt cao nhìn xuống… Tất cả đều đứng thẳng, in hình sắc nét trên nền trời. Oai hùng ngạo mạn. Khiến tôi nghe huyết quản bừng bừng lòng yêu đất, bừng bừng cơn giục giã tôi phóng mình ra khỏi chiếc phi cơ chật hẹp. Để bay biến chạy lên đồi hòa mình nhập cuộc với người với cảnh uy nghi hùng tráng nơi đây. Tôi cũng là một người trai áo vải đứng hiên ngang trên lồng lộng cao. Bàn tay nắm chặt đốc gươm, sôi nổi trong lòng tình yêu thương đất, mắt ngời ngợi lửa căm thù, ngạo nghễ hướng về phương Bắc…
Khốn khổ thân tôi sao quá giàu tưởng tượng. Chết vẫn không chừa cái tật ôm ngang ảo mộng như đầu óc trẻ thơ. Nào đâu ngựa hí quân reo? Nào đâu gươm đao chiến sử? Những người cằn cỗi đứng bên rào kẽm gai dầy. Những súng thập thò trong miệng lỗ châu mai. Những hố bom dễ sợ, những bãi mìn xâm lấn tới nương rẫy nghèo nàn của một sắc dân thiểu số. Ôi cảnh bình yên bất trắc nào thi vị chi đâu mà tôi hình dung ra cảnh nước non Lam Sơn chất ngất bao hùng khí?..
Tôi lượn một vòng trên Dak Pek. Chiếc phi cơ của Lộc phóng đuổi theo sau. Dưới chân đồi, nơi thửa ruộng khô làm bãi đáp, một trái khói xanh cuồn cuộn bốc lên mừng rỡ. Dường như tất cả mọi người trong trại và ngoài nương rẫy đều bỏ dở việc làm chạy túa ra khoảng trống nhìn lên hai chiếc trực thăng. Trẻ con nhảy cẫng reo hò vẫy đón. Ở những nơi đồn ải xa xôi, đường bộ thông thương - hàng mười mấy năm trời không một vết chân héo lánh kể từ ngày quê hương mất thanh bình - đã thành những con đường chết, rừng bụi chen nhau phủ kín thi hài phi tang dấu vết trên bản đồ... Thì đường không vận là sợi giao liên duy nhất đối với các tỉnh thị trấn và những chiếc trực thăng mỗi lần xuất hiện, như thể những cánh én đem mùa xuân ấm đến miền đông giá.
Chúng tôi bay tiếp tế cho Dak Pek -- lượt đi, chuyến về; đếu cho vợ con lính tráng đi quá giang về Kontum. Đã 28 Tết rồi, chiến dịch Đông Xuân đe dọa nuốt chửng tiền đồn Dak Pek , ngay ngày niên thủ. Quân bố phòng, súng đạn đầy đủ; nhưng lương thiếu. Không Tết, không Xuân; kệnh di tản vợ con lính tráng về hậu cứ; để, họ rảnh tay phòng thủ đồn lũy. Vướng bận thê nhi, khó vững tâm chiến đấu.
Chúng tôi bay tiếp tế cho dak pek lượt đi, chuyến về cho vợ con lính quá giang về Kon tum tùy khả năng chuyên chở. Hai mươi tám Tết rồi. Chiến dịch Đông Xuân đe dọa nuốt chửng tiền đồn Dak Pek ngày niên thủ. Quân bố phòng và súng đan đầy đủ nhưng lương thiếu. Không Tết, không Xuân, lệnh di tản vợ con lính về hậu cứ để họ rảnh tay chống giặc. Vướng bận thê nhi khó vững tâm chiến đấu.
Tôi đáp phía trên trái khói, sát bờ ruộng bắp xác xơ nhường cho Lộc khoảng đất phía sau, hạ cánh. Hai chiếc H-34 gầm rú ồn ào, kềnh càng sa xuống bãi. Cuộn khói màu dày đặc bị đánh tan thành sợi mỏng, bay cuống quýt nhiễu nhương cùng bụi đất. Mùi khói hôi khét. Đất cát mịt mùng. Những lá ngô đồng khô héo bay hoảng hốt tưng bừng trời đất.
Đám người tụ tập bên ruộng bắp lúp xúp chạy ùa ra bãi đậu khi hai chiếc phi cơ đã nằm yên, thở gầm gừ, thôi quạt mù bụi đỏ. Đàn bà dắt díu trẻ thơ, đàn ông tay ôm tay xách. Những gương mặt lam lũ nghèo khổ cắm cúi bước những bước chân dài khấp khểnh trên mặt ruộng khô lồi lõm. Họ lếch thếch sau chiếc băng ca trên đó tùm hụp một thân thể chăn phủ kín mặt chỉ lộ ra mái tóc đàn bà xác xơ rũ rượi.
Cung thúc hối người Hạ sĩ quan cơ phi:
--Kêu mấy người lính tiếp tay bỏ đồ xuống lẹ đi Tuyên. Mình chở người bệnh với ít hành khách. Còn cho lên chiếc sau.
Tuyên trả lời qua dây interphone:
--Tàu sau chở không hết đâu ông ơi. Tôi cho lên bốn người nữa. Tất cả mười lăm mạng!
--Mười lăm?... Ô kê, thử coi.
Đoạn Cung dùng VHF:
--Số hai xong chưa?
--Xong! Cất cánh đi.
Cung ra hiệu cho tôi bằng ngón tay cái. Tôi tống ga. Tiếng máy rú lên ròn rã.
--Số một lên!
Chiếc trực thăng nặng nề nhâc hỗng đôi càng, chúi mũi bay rời mặt đất.
Tôi lượn một vòng giã từ Dak Pek đoạn lấy độ cao bay về Kontum. Ngược hướng phi hành cũ, vẫn bấy nhiêu núi rừng xanh um quen thuộc chập chùng câm lặng dưới tầm mắt. Tôi bay cao bốn ngàn hai trăm bộ, núi bộ đồi cây lá tắm sũng nắng chiều, quang sạch, sau cơn mưa hồi sáng. Tôi bay trên mây như lướt trên từng khối bông nõn hình thu kỳ dị. Nắng xiên khoai của buổi chiều êm đẹp in rõ hình nét hai chiếc phi cơ những phiến mây dày và đôi bóng cặp kè bay lướt như thể, nắng phản chiếu qua những hạt mây vân vi tạo thành đôi vòng hào quang bảy sắc cầu vồng in rõ trên mấy, tuyệt đẹp.
Tôi bay bình thản, tay vịn hững hờ cần lái. Cung vẫn ngồi ghếch chân lên thành cửa cockipit, miệng phi phào điếu thuốc. Khuôn mặt nắng gió trông nghiêng. Nền trời. Những cụm mây bay ngược. Khói thuốc mỏng manh dìu dặt, một vài sợi tóc lóa xòa trên vầng trán suy tư. Dưới chiếc nón bay úp nặng, đôi mắt Cung đăm chiêu một cách mơ màng. Tự nhiên tôi thấy Cung có dáng vẻ lạ lùng xa xôi mà cũng thật gần gũi tôi hơn bao giờ hết. Tôi hỏi thầm, tại sao một thằng tục tằn như nó lại có thể xuất thần mang một nét mặt dễ thương, lãng mạn như vậy?
Có gì trong cõi trời mây thăm thẳm để Cung nhìn thấy? Hay tìm kiếm những hình ảnh đẹp đẽ nào chạm trổ trên mây? Hay lắng nghe được những âm thanh êm ái tỏ tình của không gian ngà ngọc mà Cung bỗng trở nên trầm mặc mơ màng như thế? Bên trong vầng trán phong trần kia, tôi nghĩ phải đang ấp ủ một niềm suy tưởng thanh cao, một niềm sung sướng lâng lâng phiêu hốt. Đời phi công bay bổng lưng trời, không gian thắm thiết, thường rất nhiều phút giây buông thả tâm hồn trên nẻo đường mây rộng thênh thang. Rất dễ dàng thoát tục. rất dễ dàng quên phiền muộn. Rất dễ dàng gợi nhớ, dắt đưa trí óc về vùng hồi tưởng say sưa có ngàn nỗi thiết tha, trùng trùng kỷ niệm xinh tươi đằm thắm mà ta hằng yêu dấu. Như quay về dĩ vãng êm ả óng chuốt một thời thơ ấu thần tiên. Hay bâng khuâng hoài niệm những cuộc tình lỡ trong đời chẳng hạn…
Cung lúc đó là một Cung nào rất khác. Đang thả hồn phiêu du trên cõi trời cao tít tắp. Thanh thản, mơ màng quên bẵng đời thống khổ. Cung trẻ thơ và dễ thương, không phải Cung lúc nào cũng bắt tôi nhìn thấy mặt là liên tưởng đến những xì, đầm, già, bồi…
Giữa lúc tôi đang lẵng lặng vừa bay vừa loay hoay nghĩ về Cung thì nghe có điều gì bất ổn dưới cabin hành khách. Dường như có sự hỗn loạn xôn xao di động khiến chiếc phi cơ đang lướt êm bỗng chòng chành. Rồi với nón bay úp kín đôi tai, vang hơn cả tiếng động cơ rền rền quen thuộc, tôi nghe vọng từ bên dưới một chuỗi tiếng thét bi ai thảm thiết. Tôi sửng sốt. Tiếng kêu vỡ của cùng cực đau đớn. Ngẩn ngơ chưa kịp bấm nút âm thoại hỏi thì Tuyên đã hốt hoảng kêu lên:
--Chết cha. Bà… bà này đau đẻ!
Cung ném vội điếu thuốc, cấp kỳ chụp lấy đôi cần lái:
--Tao bay. Tao bay cho. Tàu mình có y tá không Tuyên?
--Có, có 'bác sĩ vườn’ rồi. Ổng đang lo đây. Ghê quá. Trời ơi ghê quá!
Tuyên la hoảng rồi như sững sờ trước cảnh tượng gì ghê gớm quá, hắn đờ người cứng tay bấm chặt nút interphone khiến âm thoại nổi lên chuỗi rè chói tai. Tôi gắt:
--Làm gì ồn vậy? Buông tay ra.
Tiếng rè vụt tắt.
--Ghê quá ông ơi.
Cung quát lớn:
--Mẹ, người ta đẻ chứ gì mà ghê? Chở xác chết hoài sao không 'ghê' đi?
--Xác chết thì quen chứ từ nhỏ tới lớn tôi có thấy đàn bà đẻ bao giờ đâu mà không ghê? Ông xuống đây mà coi!
--Coi?... Coi cái củ kiệu! Đừng làu bàu nữa, đồ ‘hữu dõng vô mưu’!
Tôi bật cười phì khi nghe Cung sì nẹc gã cơ phi. Tiếng người đàn bà bên dưới lại thét rú lên khiến tôi gai người. Chợt nhớ Lộc bay sau, tôi gọi:
--Lộc ơi! Tàu moa có người đẻ rơi.
Im một khắc, như thể ngạc nhiên bởi chuyện bất ngờ hi hữu đó, Lộc mới hỏi lại:
--Thiệt sao bồ? Người hồi nãy khiêng băng ca lên đó hả? Đẻ chưa?
--Chưa. Chắc đang chuyển bụng… Bả la quá. Thằng Tuyên cũng la quá làm tụi này chới với luôn.
--Mấy bồ đóng cửa lại không gió vô. Y tá có găng cao su, có đồ hộ sinh không?
Tôi vội vã kéo kín cửa cockpit phía tôi. Cung cũng làm như thế.
--Làm gì có. Túi cứu thương đựng ba cái bông băng thuốc đỏ vớ vẩn chẳng biết có làm chi được không.
Bỗng lại nghe tiếng rú xoáy lộng trong đầu. Tôi thấy rõ bàn tay tôi tì trên thành ghế lái run run vì kích động. Ít mồ hôi rịn nhớp cả lòng bàn tay.
--Sao vậy Tuyên?
--Ghê quá ông ơi!
Mọi cửa đã kín mít không lọt một chút gió. Bấy giờ tôi mới nhận thức bằng khứu giác một thứ mùi khó chịu hòa lẫn mùi dầu nóng. Tôi choáng váng ngột ngạt. Cung nhăn nhó bay trong khi tôi chịu đựng nhịn thở, co tay mở hé khung kính phòng lái và lỗ thông gió trên trần cockpit tìm thoáng khí.
--Ra chưa Tuyên? Đứa con ra chưa?
--Chưa. Mới ló cái bàn chân nhỏ xíu.
Giọng Tuyên khó khăn như người nghẹt mũi. Tôi nói:
--Vậy là đẻ ngược rồi. Hèn chi sinh khó. Dak Pek chắc không có mụ.
Lộc lại hỏi vọng ra:
--Đẻ chưa mấy già?
--Chưa. Bà này sinh khó, đẻ ngược. Đứa nhỏ mới thò ra cái chân, không rõ sống hay chết. Hy vọng là sống. Mình bay cao, áp xuất ít có lẽ đứa nhỏ ra dễ…
Tùng bây giờ mới chen một câu:
--Hên! Vậy bữa nay tụi mình trúng mối rồi. Hên nhé! Ăn Tết tha hồ ngon.
Không ai trả lời câu đùa của Tùng. Tùng nhắc tôi mới nhớ đến tết và Xuân. Chỉ còn hai ngày nữa là sang năm mới. vậy mà đến giờ phút này tôi vẫn thờ ơ, hay quên lửng bởi ngày ngày bay bổng phờ người có vui thú chi đâu mà nhớ. Nỗi mừng vui háo hức trẻ thơ ngày cũ đã mất từ lâu. Còn những một tuần biệt phái Kontum. Nhìn núi rừng, nhìn thiên hạ, chúng tôi biết có Xuân nhưng chúng tôi năm nay thực tình không có Tết.
Chúng tôi vẫn bay, hối hả thu ngắn đường trường. Tôi đốt điếu thuốc hầu trấn tĩnh cơn phập phồng lo lắng.
Lo lắng, tôi thương cho số phận đứa hài nhi và sinh mạng người sản phụ. Người đàn bà vợ lính hoàn toàn xa lạ. Người mẹ nằm trên chiếc băng-ca đã có hàng trăm lớp máu thương binh và xác chết thấm vào thớ vải. Cái nhân lực phụ nữ mỏng manh kia đang vật vã chống chỏi với cơn đau hẳn rằng ghê gớm lắm trong cái nhà hộ sinh bay giữa không gian với không một bàn tay chuyên môn, không một y cụ hộ sản. Như thế, liệu có bao phần may mắn? Và đứa con. Một hài nhi vô tội. Niềm ao ước hằng chờ đợi hay gánh nặng phải cưu mang ngoài ý muốn. Dù sao thì hài nhi cũng là một sinh vật có nhân linh, cũng là mầm sống kết tinh bắng một tình yêu bao tháng năm dài được dưỡng nuôi trong cơ thể người mẹ. Bây giờ nó sắp thoát ra khỏi bào thai tăm tối. Nó phải thấy ánh sáng. Nó phải được thở khí trời. Nó phải lớn khôn để trông thấy đời, thấy nỗi thống khổ của cha, nỗi nhọc nhằn của mẹ.
Nỗi nhọc nhằn của người vợ lính bôn ba cơ cực theo gót hành quân người chồng chinh chiến. Cái tình người bi thảm gắn liền với cuộc chiến triền miên tàn khốc. Cái hạnh phúc tang thương nở rụt rè giữa miền đất điêu linh khói lửa. Tôi đã ngày ngày trông thấy những mảnh đời lầm than sống mỏi mòn trên các tiền đồn hiu quạnh, trong hạnh phúc quá đỗi tầm thường bất trắc. Tôi ngậm ngùi thương thân phận những người lính chiến Việt nam khổ nhọc. Đừng nói gì đến cảnh hành quân lặn lội gian nan nguy hiểm. Đừng nói gì đến những sự hy sinh, đến những mảnh thịt xương rơi rớt. Hay nói đến thảm kịch là nỗi bất hạnh đắng cay một đời gánh chịu. Hãy mở mắt nhìn những cảnh lính nghèo cùng vợ con nheo nhóc. Cũng là những con người đấy. Nhưng là những con người có khi không bao giờ thấy ánh điện muôn màu thành phố. Những con người sống chui rúc như loài chuột bọ trong các hầm hố. Cũng là những mái gia đình đấy. Nhưng mái ấm gia đình chỉ là một hai mảnh poncho mong manh hứng gió trên đỉnh đồi cao. Lính cùng người vợ trẻ đáng thương, những đứa con thơ tội nghiệp.
Ở những nơi đó, ngày như hỏa ngục. Đêm như băng giá. Buồn bã và cô đơn. Thân phận hẩm hiu được phơi bày một cách thản nhiên cam chịu dưới nắng mưa nghiệt ngã. Họ lạnh lùng sống và chờ đợi. Chờ đợi những chuyến trực thăng tải lương khô và nước uống. Chờ đợi đột nhiên hàng tràng tiếng nổ tấn công, những quả đạn thù pháo kích… Ôi những linh hồn khốn khổ nào dám viễn mơ đến đời sung sướng, nào dám mộng tưởng đến một mai đất nước hòa bình? (Người chồng sẽ buông tay súng, thong dong vác búa lên rừng đốn tre xẻ gỗ dựng nhà trên mảnh đất quê hương. Vợ chồng chung sức cấy cày, nuôi nấng đàn con no cơm ấm áo, được ngày ngày cắp sách đến trường vui học như thuở đất nước thái bình cổ tích…)
Tiếng rên la thảm thiết của người vợ lính khiến tôi lại nghĩ đến cái bào thai mà định mệnh nào đưa đẩy cho chiếc phi cơ của tôi ngày hai mươi tám Tết bay lên Dak Pek rồi thành cái nhà hộ sinh bay giữa lưng trời để người Hạ sĩ quan Y tá phi hành bổng thành một cô mụ bất đắc dĩ đang đổ mồ hôi đỡ đẻ cho người đàn bà sinh khó với không một thứ y cụ hộ sản trong tay. Để chúng tôi phải bồi hồi lo lắng. Tôi ngồi trên ghế lái, chỉ nghe tiếng kêu la, cúi đầu sát gầm ghế cũng chẳng thấy gì ngoài mớ tóc tang thương rối bời quằn quại trên tấm băng ca. Tôi chỉ nghe và hỏi Tuyên cho biết từng biến cố, tinh thần căng thẳng tưởng tượng ra cảnh ghê gớm dị thường mà nếu tôi chứng kiến không hiểu sẽ có đủ can đảm ngó nhìn hay xây xẩm mặt mày.
Tôi thấp thỏm. Tôi đợi chờ. Tôi hy vọng. Trời vẫn trong xanh. Mây vẫn nõn và nắng dịu dàng. Mùa Xuân đang đến. Mùa Xuân hãy mở vòng tay đón đỡ đóa hoa sắp nở trên lưng trời Xuân ấm. Thời gian dài biết bao nhiêu. Nỗi hồi hộp trông mong dài tắt thở. Cho đến khi… Trời ơi, cho đến khi nghe tiếng Tuyên hét xong rồi, xong rồi… con gái. Tôi thở mạnh ra. Gương mặt tôi căng nở niềm hớn hở và tôi cười khi nghe tiếng khóc oe oe như tiếng hài đồng hát trong nhã nhạc mùa Xuân.
Tôi phải báo ngay cho Lộc, cho Tùng biết:
--Lộc ơi! Xong rồi, con gái... Nó khóc dễ thương. Phi đoàn mình phải đỡ đầu cho nó. Tên nó là Lê, Trần hay Nguyễn thị THẦN TƯỢNG. Được không hả Lộc?...
Đào Vũ Anh Hùng
(tr. 97- 111 "Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến", nxb vàng son, Saigon 1974)