Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Tài liệu BNG và CIA giải mật - Đào Văn

Collapse
X

Tài liệu BNG và CIA giải mật - Đào Văn

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Tài liệu BNG và CIA giải mật - Đào Văn

    BNG và CIA giải mật vụ di tản Pleiku-Kontum 1975.
    Phó TTg NgV.Hảo đề nghị bỏ QK I và QK II.


    * TT Thiệu cử phái đoàn đi Mỹ (02.1975)
    * Phó TTg Nguyễn V. Hảo đề nghị bỏ QK I và QK II (03.1975)
    * BNG: Lệnh Phó ĐS Mỹ hỏi lý do TT Thiệu triệt thoái...?(03.1975)
    * Phó ĐS Mỹ: Gửi điện văn khen quyết định của TT Thiệu...(03.75)


    Việc ai ra lệnh triệt thoái khỏi Pleiku-Kontum năm 1975 đã gây ra nhiều tranh cãi trong quá khứ, vì vậy người viết ghi lại các bản văn của Bộ Ngoại Giao và của cơ quan CIA phổ biến trên Library online hồi cuối năm 2016 và đầu năm 2017, cùng với các tuyên bố của các viên chức trong cuộc để bạn đọc có cái nhìn khái quát về vấn đề này. Theo tin tức cuộc họp tại Cam Ranh ngày 13.03.1975 do TT Thiệu chủ tọa và thành phần tham dự gồm có Thủ Tg Khiêm, Đại Tg Viên, Tướng Quang, Tướng Phú và Tướng Trưởng.

    ** Ý kiến của một số viên chức .

    -Tướng Phú -a) : "Tổng ThốngThiệu đã chà đạp danh dự tôi khi ông công khai đổ lỗi cho tôi về chuyện mất Cao Nguyên Trung Phần..... và ông ta đã ra đi như một người du lịch với những chiếc va ly mà ông đã soạn sẳn.... Nhưng phần tôi, tôi sẽ ở lại, tôi sẽ tự tử và máu của tôi sẽ rơi trở lại vào lưng ông ta. Tôi chỉ còn có một cách đó để đính chánh lời cáo buộc của ông ta mà thôi" [1] . -b):"Tổng Thống Thiệu lên đài nói chuyện và đổ tội cho các tướng lãnh là hèn nhát bỏ chạy. Anh cứ về hỏi Trung Tướng Trưởng xem, trong buổi họp hôm trước, có cả Trung Tướng của anh nữa đấy, tôi đã xin Tổng Thống cho tôi giữ Pleiku bằng mọi giá, Tổng Thống không chịu, bắt tôi phải rút...có cả Đại Tướng Viên và Đại Tướng Khiêm nghe nữa mà bây giờ Tổng Thống nói chuyện với toàn dân đổ tội cho chúng tôi, cái nhục này tôi không biết tỏ cùng ai, không biết đồng bào có hiểu không, chỉ có cách chết mới hết nhục" [2].

    -Tướng Trưởng : " Lệnh của Tổng Thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân Đoàn I vào ngày 13 tháng 3, và rút Quân Đoàn II vào ngày 14 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới. Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên. Cái lầm của trung ương là không cho các thuộc cấp biết biết ý định của mình. Nghĩa là các vị tư lịnh các quân binh chủng, tổng bộ trưởng, tư lịnh sư đoàn v.v… đã không biết gì về về lịnh rút quân của Quân Đoàn I và II. Lịnh nầy chỉ có Tổng thống và Thủ tướng, Ðại tướng Cao Văn Viên, tôi (Tư lịnh Quân Đoàn I) và Tư lịnh Quân Đoàn II (Tướng Phạm Vãn Phú) biết mà thôi. " [3]


    - Đại Tướng Cao Văn Viên: " Sau khi tướng Phú chấm dứt tường trình của ông, tổng thống Thiệu chỉ hỏi một câu quan trọng nhất: Tướng Phú có thể nào chiếm lại được Ban Mê Thuột không" Như mọi người có thể tiên đoán câu trả lời của tướng Phú: câu trả lời của tướng Phú không xác định và cũng không phủ định, ông chỉ xin tổng thống Thiệu thêm quân tiếp viện." ... " Nhiệm vụ của Quân Đoàn II là phối trí lại các đơn vị cơ hữu của quân đoàn để chiếm lại Ban Mê Thuột. Và đó là lệnh của tổng thống." ... " Di chuyển một đoàn quân cấp quân đoàn kèm theo quân cụ nặng và quân xa, trên một đoạn đường dài 250 cây số của rừng núi miền cao nguyên là một công tác vô cùng nguy hiểm."..." Chuẩn tướng Tất được chỉ định làm tư lệnh cuộc rút quân từ Kontum-Pleiku về Tuy Hòa theo liên tỉnh lộ 7B." [4]


    - Phó Thủ Tướng Ng. Lưu Viên: " Một ngày sau khi bỏ Pleiku, có nhóm Hội đồng Nội các... Tổng trưởng Ngô Khắc Tỉnh dơ tay lên, nói: Thưa Thủ tướng, tôi xin Thủ tướng một faveur: Dầu sao, chúng tôi cũng là nhân viên Hội đồng Nội các, bà xã tôi vừa nghe tin Pleiku mất trên đài BBC và VOA, mới nói lại cho tôi biết. Vậy xin Thủ tướng nếu có tin gì thông báo chúng tôi, chớ không kỳ quá! Lúc đó. trên bàn chủ tọa, Thủ tường Khiêm xoay qua tôi ngồi bên phiá trái, nói nhỏ: Moa cũng vậy! (sic). Tôi ngạc nhiên trả lời: Bộ nói giả ngộ hay sao? Anh là Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, Ðại tướng bốn sao mà! Ông Khiêm gật đầu: Thật chớ!" ( Đó là phần trả lời câu hỏi do LS Lâm Lễ Trinh nêu ra: Theo anh, vì sao Thiệu bỏ Pleiku sau Ban Mê Thuột? Có người cho rằng ông Thiệu muốn thấu cáy Hoa Kỳ? Ðể mặc cả' với Mỹ? Tướng Ngô Quang Trưởng từng thố lộ với tôi rằng QÐQG vẫn còn khả năng cầm cự. Anh nghĩ sao?)[5]

    - Đại tá Khôi Bộ TTM: " Chiều tối ngày 14 tháng 3, về đến Pleiku hơi trễ, tướng Phú không cần giải thích, đã cho lệnh Quân Đoàn tiến hành cuộc hành quân triệt thoái ngay vào sáng sớm hôm sau. " [6]


    - Frenk Snepp [the CIA’s Chief Strategy Analyst in VN] tác giả cuốn sách "The Decent Interval " có đoạn văn viết: " Sáng 13 tháng 3, TT Thiệu phổ biến quyết định của ông ta làm cho ai cũng ngạc nhiên. Thủ tướng Khiêm và tướng Viên thật ra muốn đặt một số câu hỏi thiết thực nhưng tiếc thay họ lại nghĩ rằng Thiệu đã không chú ý đến quan điểm của họ, và lúc này đây không phải là lúc tranh luận...Thiệu ngồi một lúc, hai tay chắp vào nhau, để dưới cằm..., tuyên bố quyết định. Ông ta nói: Phải bỏ Pleiku và Kontum thôi. Cuộc rút lui chiến lược bắt đầu từ hai tỉnh ấy. Gian phòng yên lặng. Thiệu nói tiếp: Một cuộc rút lui như thế rất hợp lý và cần thiết, sẽ giải tỏa được lực lượng để cứu Buôn Mê Thuột. ... Quân đội đang bị phân tán một cách nguy hiểm ra khắp đất nước, lực lượng dự trữ cần được đưa về giữ những vùng cần bảo vệ. Không có phương tiện gì để tiếp viện cho việc bảo vệ Kontum và Pleiku cho nên phải rút khỏi hai tỉnh ấy, để bảo toàn lực lượng." [7]

    Trong quá khứ người viết đọc nhiều bài viết từ phía Việt Nam cho rằng TT Thiệu tự ý đưa ra quyết định rút quân mà không tham khảo với ai. Có dư luận cho rằng khi quyết định rút quân là vì "ông Thiệu muốn thấu cáy Hoa Kỳ? Ðể mặc cả' với Mỹ?" như đã viết trên. Phần trình bày sau dựa vài tài liệu của cơ quan CIA hầu có thêm thông tin hy vọng giải tỏa phần nào về khúc mắc này.

    ** Cơ quan CIA

    - TT Thiệu cử phái đoàn đi Mỹ
    Theo tài liệu của CIA:" Vào giữa tháng Hai, Tổng thống Thiệu cử Thượng nghị sĩ Trần Văn Lắm đi Mỹ với tư cách là phái viên riêng để thăm dò ý kiến của các vị dân cử thuộc Quốc hội Mỹ đối với Việt Nam về triển vọng khoản viện trợ liệu có thuận lợi. NS Lắm đã đưa ra một đánh giá rất bi quan.... TT Thiệu thấy đất nước của mình đang phải đối mặt với một cuộc tấn công lớn của Cộng sản, đồng thời Mỹ lại cắt giảm và có thể ngừng viện trợ. Do đó, ông và các cố vấn quân sự của mình đã quyết định rằng một cuộc di tản chiến lược là điều cần thiết cho sự sống còn của chính phủ VNCH." [8]

    - TT Thiệu từ bỏ kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột

    Theo tài liệu của CIA: -"Ngày 18 tháng 3 năm 1975 - Có thông tin cho rằng tình hình ở vùng cao nguyên là "xấu đi nhanh chóng" và "Sư đoàn 23 Nam Việt Nam, được lệnh tái chiếm Ban Mê Thuột, đang bị đẩy về phía Đông vào hướng vùng núi ." - " Ngày 19 tháng 3 năm 1975, Tổng thống Thiệu đã từ bỏ kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột."
    "Cũng có tin cho rằng Sư đoàn Dù rời khỏi Quân khu 1 đã tạo ra "một tình huống nguy cấp tiềm tàng. Và sự ra đi của Sư đoàn Dù đã làm đảo lộn kế hoạch tăng cường tỉnh Quảng Tín của tư lệnh khu vực", và ông ta " lo sợ tỉnh đó sẽ sớm rơi vào tay cộng sản."
    [9]


    - Chiến lược mới của TT Thiệu (theo CIA)

    Cũng theo tài liệu của Cơ quan CIA: " Khái niệm chiến lược mới này đòi hỏi phải xóa bỏ hầu hết các khu vực miền núi, dân cư thưa thớt thuộc QK I và QK II, để tập trung từ các tài sản đến nguồn lực nhằm bảo vệ QK III và QK IV, cộng với Vùng đất thấp ven biển, gồm các khu vực sản xuất nông nghiệp của miền Nam Việt Nam, nơi phần lớn nhiều dân cư sinh sống. Chiến lược này có cơ sở và ước tính của Thiệu về sự cần thiết của kế hoạch là đúng. Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch là một thảm họa. Trong cuộc họp ngày 13 tháng 3 với Tư lệnh Quân đoàn 1, Tướng Trưởng, Tổng thống Thiệu đã vạch ra khái niệm chiến lược mới và kết quả của ông: quyết định rút Sư đoàn Dù từ QK I xuống QK III, bất chấp sự phản đối gay gắt của Tướng Trưởng về việc rút Sư đoàn Dù đi.

    Trong mười hai ngày tiếp theo, - (13-25 tháng 3), cả ở QK I và Sài Gòn đều bị bỏ trống, và những phần còn lại của QK I được tổ chức lại - đặc biệt, liệu có nên thực hiện bất kỳ nỗ lực nào để bảo vệ Huế hay không. Do lệnh thay đổi nhận được từ Sài Gòn, Tướng Trưởng đã phải điều chỉnh lại kế hoạch triển khai quân ít nhất ba lần.

    Ngay cả khi cuộc tấn công của quân Bắc Việt ngày càng gia tăng cường độ, và thành phố Quảng Trị đã bị chiếm, còn các lực lượng địa phương trong khu vực bắt đầu tan rã trước áp lực của quân Bắc Việt; Sài Gòn một lần nữa lệnh cho Lữ đoàn Dù cuối cùng phải rời QK I, trong khi áp lực của Bắc Việt gia tăng hàng ngày. Sư đoàn 1 hoạt động khó khăn, trong cùng thời gian này, các đơn vị QLVNCH ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngãi đã bị phân tán hoặc bị đánh bại bởi lực lượng Bắc quân tấn công .

    Sự hiện diện của Chính phủ Việt Nam tại QK I đã sụp đổ - về cơ bản là Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và một phần của Sư đoàn 3 QLVNCH - dù đã cố gắng bố trí phòng thủ Đà Nẵng, nhưng nỗ lực này không thành công. Với tổng số gần 2 triệu người muốn thoát ra ngoài vòng vây, đã tạo ra hoảng loạn và vào ngày 28 tháng 3, trật tự sụp đổ, xe tăng của Cộng quân bắt đầu di chuyển vào thị trấn ngay sau đó.

    Tại QK 2, Tổng thống Thiệu và Tư lệnh khu vực của ông, Tướng Phú, gặp nhau tại Cam Ranh ngày 13 tháng 3 để thảo luận về tình hình do mất Ban Mê Thuột. Tại cuộc họp đó, Tổng thống Thiệu đã vạch ra khái niệm chiến lược mới của ông ta là rút khỏi vùng cao nguyên và củng cố các lực lượng của Chính phủ Việt Nam vào những vùng xung yếu ven biển. Không biết chính xác từ ngữ về mệnh lệnh của Tổng thống-The exact wording of the President's orders are not known, nhưng Tướng Phú cho rằng đó là lệnh nên ông phải hành động ngay lập tức việc di tản các tỉnh Pleiku và Kontum- but General Phu interpreted them as authorizing at his discretion the immediate, total evacuation of Pleiku and Kontum Provinces- mà chưa có kế hoạch hay sự chuẩn bị nào-for which no plans or preparations had been made. Cuộc di tản bắt đầu trong hai ngày tiếp theo, với việc các lực lượng QLVNCH đi theo đường 14 và đường 73, băng qua các tỉnh Phú Bổn và Phú Yên đến bờ biển Tuy Hòa. Con đường này hầu như không được sử dụng trong nhiều năm, cần nhiều cầu nối nhưng đã không được thực hiện.

    Lệnh lạc và việc kiểm soát đoàn di tản gặp bế tắc. Sáu toán Biệt động và một trung đoàn bộ binh từ Kontum và Pleiku phải chen chúc trong số 200.000 người tạo thêm nhiều khó khăn. Trên đường di tản, cuộc tàn sát của cộng quân gây ra cho người tị nạn thật là khủng khiếp. Trong khi các sự kiện trên đang diễn ra, Chính phủ VNCH đã chuyển một Lữ đoàn Dù từ khu vực Huế đến tỉnh Khánh Hòa, để ngăn chặn từ hai đến bốn trung đoàn Cộng quân truy đuổi tàn dư của Sư đoàn 23 QLVNCH, từ phía đông Ban Mê Thuột trên đường di chuyển qua Tỉnh Darlac. Sư đoàn này đã bị cộng quân vùi dập tại Ban Mê Thuột, hầu như không còn là một đơn vị trọn vẹn vào thời điểm hiện tại, và những người sống sót bắt đầu tràn vào Nha Trang.

    Trong ba tuần cuối cùng của tháng Ba, năm sư đoàn QLVNCH, mười hai Liên đoàn Biệt động quân và hai lữ đoàn thiết giáp đã bị mất tác dụng. Quân số từ các đơn vị này được tập hợp lại thành các đơn vị mới, nhưng tất cả các thiết bị của họ đã bị mất". [10]

    ** Bộ Ngoại Giao (Foreign Relations of the United States-FRUS)

    * Phó thủ tướng Ng.Văn Hảo đề nghị bỏ QK I và QK II.
    Theo tài liệu giải mật ghi lại trên FRUS của Bộ Ngoại Giao (Văn bản thiết lập ngày 17.03.1975- tức 7 ngày sau khi VC tấn công Ban Mê Thuột):" Tổng thống Thiệu và những người khác trong giới lãnh đạo Việt Nam nhận ra rằng họ đang phải đối mặt với một tình huống nghiêm trọng, rất có thể phải đưa ra một số quyết định sâu rộng. Chính phủ đã quyết định bỏ các Tỉnh Kontum và Pleiku. Chúng tôi thấy rằng ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy chính phủ đang suy tính nghiêm túc về việc sửa đổi chính sách, nhằm từ bỏ một phần của đất nước để có thể dồn nỗ lực nhằm bảo vệ phần còn lại. Chúng tôi biết rằng Phó Thủ tướng Hảo đã lập luận gay gắt rằng các nguồn lực hiện có không đủ để bảo vệ toàn thể lãnh thổ VNCH-Deputy Prime Minister Hao has argued strongly that resources at hand are insufficient to defend the entire present territory of the RVN. Hảo đề nghị bỏ QK I và một số tỉnh thuộc QK II- Hao proposes to abandon MR–1 and major portions of MR–2. Chúng tôi biết rằng Khiêm cũng có những suy nghĩ tương tự. Tại QK I Tướng Trưởng đã bị mất Sư đoàn Dù, và Sư đoàn 3 được thay thế một phần bởi các đơn vị TQLC mới thành lập gần đây, họ dự tính có thể bỏ một số tỉnh thuộc QK I để tập trung phòng thủ Đà Nẵng và Huế. [11]


    * Phó Đại Sứ Mỹ gặp TT Thiệu tìm hiểu lý do triệt thoái...

    - Bộ Ngoại Giao - [Điện tín 62480 gửi tới Sài Gòn, ngày 20 tháng 3, chỉ thị cho Lehmann]: “Ông nên gặp Thiệu càng sớm càng tốt để tìm hiểu lý do ông ta rút lực lượng khỏi Kontum và Pleiku cũng như việc rút bớt lực lượng ở QK I. Ông nên nói với ông Thiệu rằng chúng ta cần biết rõ ràng về ý định và về chiến lược của ông ta nhằm đối phó với các cuộc tổng tấn công của quân miền Bắc sắp diễn ra. ” (Thời gian này ĐS Martin đang có mặt tại Mỹ).

    - Lehmann [Phó Đại sứ Mỹ tại SG]- "Tôi đã gặp Tổng thống vào cuối buổi chiều nay và nói với ông ấy rằng, riêng cá nhân tôi hiểu ông ấy đang làm gì và tại sao, nhưng nếu Tổng thống Ford, Ngoại trưởng, Bộ trưởng Quốc phòng và các cố vấn cao cấp khác, những người muốn công việc hoàn toàn đạt hiệu quả cao, không chỉ cung cấp 300 triệu đô la bổ sung, mà còn các khoản hỗ trợ quân sự khác. Nhưng họ cần Tổng thống Thiệu cho họ biết chiến lược và ý định của ông nhằm đối phó với các khó khăn trước mắt.
    Tổng thống Thiệu cho biết Việt Nam hiện đang đối mặt với một lực lượng địch mạnh hơn bất cứ lúc nào kể từ năm 1972. Bắc Việt Nam tăng cường liên tục gồm nhiều đơn vị, với nhiều sư đoàn dự bị. Do đó, kẻ thù có thể tập trung lực lượng mạnh vượt trội tấn công vào bất cứ khu vực do chúng lựa chọn, tạo một thế bất lợi rõ rệt cho phía chúng tôi. Trong khi phía Miền Nam Việt Nam không nhận được các quân dụng thay thế vì bị ràng buộc bởi các quy định trong Hiệp định Paris. Trước tình hình đó, Tổng thống cho biết, ông ta không còn có thể chiến đấu theo quan điểm quân sự như hai năm trước để chống lại cuộc chiến lần này. Ông ta phải từ bỏ lãnh thổ hoặc phải đối diện với viễn cảnh quân đội của mình bị tiêu diệt từng phần, cuối cùng có thể dẫn đến một tình huống không thể bảo vệ được bất kỳ phần đất nào. Ở Cao Nguyên, ông ta có thể đã giữ được Pleiku và có lẽ cả Kontum. Nhưng con đường từ bờ biển đã bị đối phương phong tỏa, điều này nếu thực hiện việc giải cứu thì phải trả giá rất đắt, và cuối cùng cũng khiến việc bảo vệ Pleiku trở thành một nhiệm vụ cảm tử. Do đó, ông ta đã quyết định phải rút lực lượng đi. Đó là sự đánh đổi giữa việc mất một số quân dụng, một số máy bay và có lẽ còn phải trả giá trong cuộc rút lui dù được tổ chức cẩn thận và có trật tự, hoặc mất toàn bộ lực lượng của mình vì không thể chống đỡ bởi một cuộc tấn công của kẻ thù.

    Việc mất Ban Mê Thuột, Tổng thống nói, chắc chắn là một tổn thất rất nặng nề. Nó đã xảy ra vì phía Bắc Việt đã tập trung một lực lượng tương đương với hai sư đoàn, cộng với các đơn vị yểm trợ. Trường hợp nếu chính phủ giữ được Ban Mê Thuột thì có lẽ ông đã sử dụng nó làm căn cứ để cuối cùng tái chiếm Pleiku.

    Vào cuối cuộc thảo luận của chúng tôi, Tổng thống quay lại vấn đề rằng cho đến nay VNCH đã tham chiến dựa trên cơ sở của Hiệp định Paris. Tiền đề này đã tạo nên một cuộc chiến tranh quân sự ngu ngốc, phía chính phủ phải cố gắng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ với các đơn vị nằm rải rác khắp nơi. Cuộc tấn công hiện tại của Bắc Việt đã chấm dứt mọi hy vọng tiếp tục chiến đấu trên cơ sở của Hiệp định Paris. Do đó, việc nghiên cứu lựa chọn phương án nào đạt hiệu quả cao nhất về mặt quân sự trong việc bảo vệ càng nhiều dân số càng tốt, đồng thời còn phải duy trì tính toàn vẹn của các lực lượng vũ trang cũng là điều quan trọng nhất.
    Về sự trợ giúp của Hoa Kỳ, Tổng thống nói rằng ông đánh giá cao và biết ơn sự quyết tâm của Tổng thống Ford trong việc tìm kiếm khoản bổ sung 300 triệu đô la trong năm nay. Tuy nhiên, ông chỉ ra rằng 300 triệu đô la sẽ không đủ để thay thế bất kỳ khoản quân dụng nào bị mất trong cuộc chiến. Thiệu cho biết, chẳng hạn ông muốn các đơn vị xung kích chủ động tấn công vào cứ điểm của địch, chứ không phải do phía địch chọn lựa, nhưng nếu không thay thế được các hạng mục quân dụng chính thì ông sẽ không thể thực hiện được.

    Tóm lại, Thiệu đã đưa ra một quyết định cơ bản là đánh đổi các phần lãnh thổ chính, có thể bao gồm toàn bộ QK I và một phần lớn QK II, để bảo vệ hiệu quả phần đất còn lại bằng các nguồn lực sẵn có. Theo tôi (Lehmann), đó là một quyết định can đảm." [12]


    (Còn tiếp)

    Đào Văn.

    Tài liệu tham khảo.

    [1]- VN Quê Mẹ Oan Khiên- Chương 23-Pierre Darcourt, Dương Hiếu Nghĩa dịch
    [2]- VN Quê Mẹ Oan Khiên-Chương 27- Pierre Darcourt, Dương Hiếu Nghĩa dịch
    [3]- Hồn Việt-UK - Phạm V Phú Những ngày cuối cùng
    [4]- General Hiếu: Ngô Q Trưởng Vì sao tôi bỏ Quân Đoàn I.
    [5]- Ái Hữu Luật Khoa -Mạn đàn với PTT Ng Lưu Viên

    [6]- VN Quê Mẹ Oan Khiên-Chương 5-Pierre Darcourt, Dương Hiếu Nghĩa dịch
    [7]- Frank Snepp - The Decent Interval
    [8]- CIA Library-Memorandum for the President (page 4)-Vietnam Assessment 04 Apr. 1975

    [9]- CIA Library-Intelligence Memorandum (p.a6)-US Intelligence Analysis on VN; Dec.74 - Apr.75
    [10]- CIA Library -(page 5)- Memo for the President - 04.04.1975
    [11]- BNG-FRUS (17.03.1975)-From Lehmann to the Ambas. to VN (Martin) in Washington.
    [12]- BNG-FRUS (20.03.1975)-Telegram From the Embassy in VN to the Department of State
    Last edited by Phòng Trực; 02-18-2021, 01:30 AM.

  • #2
    Biến cố 30.4.75 theo tài liệu của CIA, BNG
    và phơi bày tham vọng của Tướng Đôn...


    * TT Thiệu muốn Mỹ giúp lần chót bảo vệ từ Nha Trang đến Tây Ninh (4.1975)
    * CIA: Tướng Đôn vận động buộc TT Thiệu sớm từ chức, và muốn làm thủ tướng để đàm phán (với VC), nhưng Mỹ nghi ngờ...(4.1975)
    * BNG: Đôn rất háo hức muốn tiến trình đàm phán sớm...
    * ĐS Martin: ...tướng lĩnh sẽ buộc ông (Thiệu) phải ra đi.
    * BNG: Mỹ đề nghị với Liên Xô ngừng bắn tạm thời để di tản (4.1975)
    * TT Nixon: HĐ Ba-lê không cần VNCH,và đe dọa chặt đầu, nếu...(1.1973)
    * TT Nixon chê cách hành xử của TT Kennedy về vụ 1963 (1970)

    Bài viết trước người viết đã gửi đến bạn đọc quan điểm của TT Thiệu khi trả lời cho phía Mỹ về mục đích cuộc di tản khỏi QK I và QK II. Trong khi tình hình quân sự mỗi ngày mỗi gia tăng, về mặt chính trị TT Thiệu phải chịu thêm áp lực từ phía thành viên trong chính phủ, họ muốn TT Thiệu sớm từ chức. Nhưng trước ngày từ chức, TT Thiệu yêu cầu Mỹ giúp bảo vệ phần đất còn lại nếu có thể. Phần trình bày sau dựa vào các băn văn được giải mật cách nay ít lâu của Bộ Ngoại Giao (Foreign Relations of the United States-FRUS), của Văn Khố Bộ Ngoại Giao (US Department of State Archive), và của Cơ quan CIA về biến cố 30.04.1975 và phơi bầy tham vọng của Tướng Trần Văn Đôn.

    ** Bảo vệ phần đất còn lại (Theo bản văn của Bộ Ngoại Giao FRUS)

    * Ngày 13.04.1975 - (BNG, Bản văn số 230: Martin to Kissinger):
    - TT Thiệu (to Martin):"Tôi đã nghe nhiều ý kiến từ nhiều tầng lớp trong xã hội Việt Nam rằng mong muốn cho một Miền Nam được tự do, có lẽ một giải phân chia từ Nha Trang đến Tây Ninh bây giờ sẽ là mong muốn có tính khả thi hơn nhiều.
    - ĐS Martin (to Kissinger): " Theo tôi cho dù ông ta có nói gì đi nữa thì cũng phí công, không còn cơ hội để ông ta lấy lại những gì đã mất trong tháng qua. Tôi hỏi, thực tế liệu sẽ giải quyết được điều gì?"
    - TT Thiệu: "Thiệu trả lời rằng nếu có thể vẽ một đường qua Nha Trang đến Ban Mê Thuột rồi đến Tây Ninh, thì đó sẽ là một đường phòng thủ và là một quốc gia khả thi về mặt kinh tế."
    - ĐS Martin: "Tôi nói rằng sẽ khó có nhiều người đồng ý về việc lấy lại Ban Mê Thuột trong tương lai gần. Ông Thiệu đồng ý nhưng nói rằng đó phải là mục tiêu của bất kỳ cuộc đàm phán nào." [1]

    ** Phó TT Trần Văn Đôn vận động muốn TT Thiệu từ chức

    * Ngày 16.04.1975 (Bản văn của cơ quan CIA)-" Phó Thủ tướng Trần Văn Đôn đang liên lạc với người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Cộng. Đôn nói rằng phía Việt Cộng sẽ không bao giờ đàm phán khi Thiệu còn làm tổng thống- the Viet Cong would never consider negotiations while Thieu remains president. Các cuộc thảo luận như vậy chỉ có thể bắt đầu với một chính phủ do một nhân vật "trung lập" đứng đầu và bao gồm các nhân vật "lực lượng thứ ba" và "cánh tả". Thành phần chính phủ mới này bao gồm "các chính trị gia thân Mỹ -This new government could include "pro-American politicians." Đôn rõ ràng đã phát triển mối liên hệ này thông qua trung gian của ông ta trong hơn một tuần qua-Don apparently has developed this contact through a trusted intermediary for over a week. Ông ta hiện đang mơ tưởng là có thể đứng đầu một chính phủ phù hợp với phía Cộng sản- in a position where he conceivably could head a government suitable to the Communists. Tuy nhiên, theo bản báo cáo mới nhất cho thấy động thái qua việc chia sẻ thông tin này, Đôn coi như là cách gửi tín hiệu cho phía Hoa Kỳ rằng họ nên gây áp lực buộc Thiệu từ chức- however, this latest report may be intended by Don as a signal to the US that it should exert pressure on Thieu to step down."
    Kịch bản mà Đôn nói rằng đã nhận được tin tức từ người của ông ta đã tiếp xúc với Chính phủ Cách mạng lâm thời, có thể là một nỗ lực của phía Cộng sản nhằm thuyết phục một người nào đó trong giới cao cấp của chính phủ Nam Việt Nam về một giải pháp chính trị cho cuộc xung đột này vẫn có thể xảy ra-the scenario that Don says he has been receiving from his PRC contact could be a Communist effort to persuade someone in senior South Vietnamese government circles that a political settlement of the conflict is still possible. [2]

    * Ngày 17.04.1975 (Bản văn của cơ quan CIA)-" Trong cuộc tiếp xúc đầu tiên vào tháng 4, Đôn một lần nữa được nhắc nhở rằng Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ không bao giờ đàm phán khi Thiệu còn giữ cương vị tổng thống. Điều này chỉ ra rằng một chính phủ do Đôn đứng đầu sẽ được chấp nhận-The contact allegedly indicated that this meant a government headed by Don would be acceptable. Đôn cho biết, phát ngôn viên của Chính phủ Cách mạng Lâm thời nói rằng chiến lược của Cộng sản "vào lúc này" là cô lập Sài Gòn.
    Trong một cuộc tiếp xúc vào ngày 14 tháng 4, ông ta cho biết đã được phiá VC thông báo rằng Đôn nên nắm quyền kiểm soát chính phủ "trong vòng 72 giờ" và kêu gọi ngừng bắn. Và tất cả người Mỹ sẽ được phép rời khỏi đất nước ngoại trừ một số người thuộc thành phần"cốt cán". Ngoài ra, bất kỳ người Việt Nam nào muốn rời đi, bao gồm cả những người ở Huế và Đà Nẵng, cũng sẽ được ra đi an toàn. Cũng theo Đôn, phát ngôn viên của Chính phủ Cách mạng Lâm thời nhấn mạnh rằng phía Cộng sản sắp hết kiên nhẫn trong "một hoặc hai tuần tới". Sài Gòn sẽ an toàn trong thời kỳ đó, nhưng, nếu cuộc đàm phán chưa bắt đầu thời các lực lượng Cộng sản sẽ "vào vị trí" để tiếp quản thành phố.[3]

    * Ngày 18.04.1975 (Bản văn của cơ quan CIA)-"Phó Thủ tướng Nam Việt Nam Trần Văn Đôn cho biết đã liên lạc với người trung gian của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, và họ cho hay rằng việc di tản của người Nam Việt Nam sẽ được thực hiện sau khi thay đổi chính quyền ở Sài Gòn- Đôn là một kẻ cơ hội và chúng tôi nghi ngờ về tính trung thực của ông ta.- Don is an opportunist and we are skeptical about his veracity.".[4]

    * Ngày 18.04.1975 (BNG bản văn số 238) - BNG: " Martin đã gửi điện văn dài đánh giá về tình hình Việt Nam cho Kissinger vào ngày 17 tháng 4. Đại sứ viết: “Nếu có một cuộc bỏ phiếu, Thiệu sẽ bị kết thúc. Đôn hiện là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, rất háo hức muốn tiến trình đàm phán (với phe VC) được bắt đầu- Don, now Minister of Defense, are most eager to get the negotiation process started. Tôi (Martin) nói rằng bất kỳ sự thay đổi nào là việc của người Việt Nam, nhưng đối với tôi dường như tiến trình đàm phán không thể bắt đầu khi Thiệu còn nắm quyền-to me that the essential process of negotiations cannot be started with Thieu in power. Tôi (Martin) sẽ đến gặp Thiệu và nói với ông ta điều tương tự, rằng tôi chỉ nói theo ý của riêng mình, và rằng tôi nói với tư cách là một người bạn đã luôn nói với ông ta toàn bộ sự thật,... và lịch sử sẽ ghi lại tất cả những công việc quan trọng mà ông ta đã hoàn thành, bằng không, nếu ở lại cương vị quá lâu, sẽ không thực hiện được kế hoạch nhằm cứu vãn những gì còn lại để Việt Nam trở thành một quốc gia tự do. Tôi sẽ nói rằng đó là kết luận khách quan của tôi và rằng nếu ông ta không làm điều này, các tướng lĩnh của ông ta sẽ buộc ông ta phải ra đi-if he does not do this, his generals will force him to depart. Tôi sẽ nói rằng nên chọn lựa sự ra đi trong danh dự theo cách của ông ta, và hãy nói với đồng bào của ông ta rằng, ông ta làm như vậy để bảo vệ tính hợp hiến và sẽ giúp chính quyền kế nhiệm đàm phán trong tư thế mạnh hơn nhằm bảo toàn một Việt Nam tự do. Tôi có thể nói rằng đó sẽ là một hành động chỉ có thể được thực hiện bởi một người có lòng dũng cảm, một người biết đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết". [5]

    * Ngày 18.04.1975 (BNG, bản văn số 241)- TT Thiệu gặp Đại sứ Pháp - BNG (Martin to Kissinger): " Theo sự thúc giục của tôi, Thiệu đã gặp Đại sứ Pháp, cả hai chúng tôi đều nghĩ rằng sẽ không khôn ngoan, có khi còn làm trầm trọng thêm mối nghi ngờ sâu sắc về sự thông đồng giữa Pháp và Mỹ đang ẩn sâu ở nơi đây-Franco-American collusion that is deepseated here. Nếu có bất kỳ tin tức gì từ Paris, sẽ hoan nghênh nhất trước khi tôi gặp Thiệu." [6]

    * Ngày 20.04.1975- ( BNG, bản văn số 244- Martin to Kissinger)- ĐS Martin thuyết phục TT Thiệu ra đi - ĐS Martin:" Một vài điều rất rõ ràng đối với tôi. Tình hình quân sự rất tồi tệ, và mọi người quy trách nhiệm cho ông Thiệu. Từ tầng lớp chính trị, đến những người ủng hộ và cả các đối thủ của ông ta, đều không tin rằng ông Thiệu có thể lèo lái đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Phía các tướng lãnh tuy họ sẽ tiếp tục chiến đấu, nhưng họ đều tin rằng việc phòng thủ là vô vọng trừ khi có thời gian được nghỉ ngơi trong khi bắt đầu tiến trình đàm phán, và họ không tin rằng điều này có thể bắt đầu trừ khi Thiệu ra đi. Tôi nói rằng đó là cảm nghĩ của tôi nếu ông ta không sớm đưa ra quyết định, thời các tướng của ông ta sẽ yêu cầu ông ta ra đi-I said that it was my feeling that if he did not move soon, his generals would ask him to go.

    Thiệu chăm chú lắng nghe. Ông hỏi liệu việc ra đi của ông ta có ảnh hưởng đến cuộc bỏ phiếu tại quốc Hội Mỹ về khoản viện trợ hay không. Tôi nói rằng tôi nghĩ nó có thể đã thay đổi tại thời điểm vài tháng trước, nhưng bây giờ sẽ không thay đổi về các khoản chiến dụng quân sự cần thiết. Nói cách khác, việc từ chức để đảm bảo Quốc hội (Mỹ) cung cấp viện trợ để miền Nam Việt Nam tồn tại thời việc này đã thuộc về chuyện quá khứ. Đối với hiện tình Việt Nam, nếu có thể tránh được sự tàn phá của Sài Gòn, và nếu một nước Việt Nam độc lập có thể tiếp tục tồn tại, cho dù đó là hy vọng mong manh.
    Cuộc trò chuyện diễn ra trong khoảng một tiếng rưỡi. Ông ta hoàn toàn hiểu điểm cốt yếu về sự đánh giá của cá nhân tôi, rằng thời gian thì rất cấp bách, cần sớm đưa ra quyết định trong khi các sự kiện đang diễn ra quá nhanh, và nếu ông ta không ra đi sớm, ông ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Tôi đã nói rõ ràng rằng tôi đang nói hoàn toàn với tư cách cá nhân, cũng như Washington, không đề nghị ông từ chức.
    Ông Thiệu nói rằng ông ta sẽ làm những gì tốt nhất cho đất nước-Thieu said he would do what he thought was best for the country. Tôi nói, tôi biết ông ta sẽ thực hiện được. Tôi đoán rằng ông ta sẽ rời đi trong thời gian ngắn bằng cách này hay cách khác. Nếu phía các tướng lãnh cho ông ta thêm vài ngày nữa, ông ta có thể sẽ đưa ra quyết định từ chức -If his generals give him a few more days he may well come up with a dramatic resignation that will be useful."[7]


    ** Hồi ký Trần Văn Đôn: Việt Nam Nhân Chứng

    * Ngày 20.04.1975 -Theo hồi ký: Việt Nam Nhân Chứng của tác giả Trần Văn Đôn (Phó Thủ Tướng): "Ngày 20.04.1975, lúc 10 giờ sáng Đại sứ Mỹ Martin đến gặp Tổng Thống Thiệu tại dinh Độc Lập báo cho ông Thiệu rõ tình hình :
    Muốn chận cuộc tiến quân của Việt Cộng phải có một giải pháp chính trị, cần phải nói chuyện với Hà Nội. Đại sứ Martin cũng cho biết Quốc Hội và Chính Phủ Hoa Kỳ sẽ ngưng viện trợ nếu ông Thiệu còn tại chức.
    - Nếu tôi là trở ngại, vậy tôi từ chức. Quốc Hội Hoa Kỳ có thể thay đổi lập trường tiếp tục viện trợ cho miền Nam không?
    - Nếu Tổng Thống từ chức, Quốc Hội Mỹ có thể viện trợ trở lại.
    Đại sứ Mỹ Martin sau này kể lại mẫu đối thoại giữa ông (ta) với ông Thiệu :
    - Chánh phủ Hoa kỳ không đòi Tổng thống từ chức, nhưng Tổng thống nên đề cử một ông Thủ Tướng toàn quyền như Bảo Đại đã làm năm 1954 để ông Thủ Tướng đó thương thuyết với phía bên kia.

    - Theo ông ai có thể làm Thủ Tướng toàn quyền.
    Martin trả lời ngay :
    - Đại Tướng Dương Văn Minh.
    Ông Thiệu im lặng không đáp.
    Cũng trong ngày 20.04.75, lúc bốn giờ chiều tôi đến gặp Đại sứ Martin tại sứ quán, Martin kể lại với tôi và nói với tôi :
    - Thật sự lúc đó tôi muốn ông (Trần Văn Đôn) làm Thủ Tướng toàn quyền hơn là ông Minh, nhưng Hà nội lại chỉ muốn nói chuyện với ông Minh mà thôi."
    [8]


    Như phần đã viết theo cơ quan CIA, phía Mỹ " nghi ngờ về tính trung thực của ông ta- we are skeptical about his veracity" nên đã gạt tướng Đôn ra rìa, dù rằng tướng Đôn đã bắn tiếng cho phía Mỹ biết:"rằng một chính phủ do Đôn đứng đầu sẽ được chấp nhận", và một thực tế khác về vấn đề đàm phán thuộc thẩm quyền của phía Bắc Việt trong khi Tướng Đôn lại đi liên hệ với phía VC Miền Nam.

    * Ngày 21.04.1975 (BNG, bản văn số 250-Kissinger to Martin)- "Ngày 21 tháng 4, các nhà ngoại giao Pháp tiến hành nỗ lực thành lập chính phủ lâm thời ở Sài Gòn để làm chậm lại tiến trình chuyển giao cho chế độ Cộng sản. Ông nên biết rằng chúng tôi hoàn toàn không liên quan gì đến sáng kiến của Pháp. Đối với Liên Xô, chúng tôi đã đề nghị một lệnh ngừng bắn tạm thời (khoảng hai tuần) để di tản người Mỹ và một số người Việt Nam và thảo luận về các vấn đề chính trị." [8]

    * Ngày 21.04.1975 - TT Thiệu tuyến bố từ chức - Trong diễn văn từ chức được trực tiếp trên đài truyền hình Việt Nam, TT Thiệu tuyên bố:"...Hứa rằng cộng sản xâm phạm thì sẽ phản ứng, không phản ứng, thì chỉ còn chuyện tối thiểu là đưa đồ cho người ta đánh mà không đưa, thử hỏi cái đó là cái gì? Thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, đốt một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc …Sở dĩ tôi từ chức hôm nay là bởi vì hôm nay bên Hoa Kỳ quốc hội mang vấn đề viện trợ quân sự ra mổ sẻ. Tôi nghĩ hành động tôi từ chức hôm nay, biết đâu rằng tiền viện trợ sẽ từ 300 lên 722 triệu hay lên một tỉ...không sớm hơn, mà không trễ hơn, bởi vì tôi nghĩ rằng cái thời gian tính mà hôm nay cho thấy rõ cuộc diện quân sự của cả chiến trường miền Nam...”. [9]

    * Ngày 29.04.1975 - Theo tác giả: Pierre Darcourt

    " Vào cuối buổi chiều thì tướng Trần văn Đôn và con trai ông ta, một bác sĩ, được một chiếc trực thăng bốc đi. Trước đó vài giờ, rất lịch sự như ông đã nổi danh, ông đã đến từ giã vị Đại sứ` Pháp... và luôn tiện cũng để nhận thông hành Pháp của ông. Ông M. M. Mérillon cũng đã có một vài lần nhờ vã đến tướng Đôn.. Từ nhiều tháng qua, và nhất là trong cơn khủng hoảng của Chánh Phủ vừa qua, tướng Đôn được coi như là một phụ tá rất đắc lực cho hoạt động trung gian chánh trị của người Pháp. Ông đã trực tiếp thúc đẩy tướng Dương văn Minh đi tới, và trước Quốc Hội lưỡng Viện ông đã có một buỗi thuyết trình quá thảm hại về tình hình quân sự. Có một lúc nào đó, ông M. Mérillon đã mong muốn đẩy ông Đôn vào ghế Thủ Tướng của ông Minh. Hôm chiều thứ hai, chấn động vì sự chống đối nhau giữa các trung tâm chánh trị của Miền Nam, tướng Đôn đã có ý định tự tử. Nhưng sau đó được giới thân cận lên giây cót an ủi...nên cuối cùng đã quyết định nhờ Mỹ đưa đi. Trước khi lên trực thăng, tướng Đôn đã nói với toán binh sĩ cận vệ của ông, những người đã không rời khỏi ông nửa bước, rằng:
    "Tôi bắt buộc phải ra đi thôi, vì nếu bọn cộng sản mà tóm được tôi thì tôi sẽ bị bọn chúng hành quyết ngay. Còn các anh, các anh chỉ là cấp nhỏ, các anh chẳng có gì nguy hiểm hết... và các anh có thể lẫn lộn được trong dân chúng."
    [10]


    ** TT Thiệu bất bình với Mỹ về nội dung hiệp định Paris 73

    Nhiều nhà phê bình cho rằng việc TT Thiệu gay gắt lên án Mỹ là vì đã có sự bất đồng quan điểm từ cuối năm 1972, khi phía Mỹ ép TT Thiệu phải ký một thỏa hiệp đình chiến mà phía VNCH phải chịu phần thua thiệt, để rồi dẫn đến biến cố 30.04.1975. Xin trích đoạn các cuộc trao đổi trong năm 1972 được phía Bộ Ngoại Giao công bố, bàn về nội dung thỏa hiệp đình chiến 27.01.1973.

    * Ngày 21.10.1972 - BNG (Haig to Kissinger):" Theo quan điểm của tôi, cơ hội để Thiệu chấp thuận là rất mong manh-the chances of getting Thieu to acquiesce are very slim, và chúng tôi sẽ phải tính toán lại ngay sau cuộc họp để xem có nên đưa ra phản ứng nào cho phía VNDCCH và đặc biệt là phía Moscow. ..., chúng tôi không thể thuận theo ý kiến của ông Thiệu, và do đó, điều cần thiết là chúng tôi phải gặp họ khẩn cấp tại Paris để tìm ra những giải pháp thay thế có thể không bao gồm phía Nam Việt Nam-to work out alternate arrangements which might not include the South Vietnamese." [11]

    * Ngày 22.10.1972 -BNG:" Thiệu đã đột ngột từ chối chấp nhận tất cả các điều khoản đã dàn xếp. Vụ Hà Nội rò rỉ thông tin gây tác hại ngay khi các cuộc đàm phán với Thiệu đang ở thời điểm quan trọng và dường như đang đi đến kết quả thuận lợi. Nếu không có Thiệu, trước mắt không thể tiến hành thực hiện hiệp định như đã vạch ra. Tiến sĩ Kissinger cũng không thể đi Hà Nội vào thời điểm hiện tại cho dù các cuộc đàm phán bổ sung đã được chuẩn bị với giới lãnh đạo VNDCCH ở Paris hoặc nơi khác."[12]

    Việc TT Thiệu từ chối ký thỏa hiệp (01.1973) gây nhiều trở ngại cho phía Mỹ, vì vậy phía Mỹ phải tìm cách trấn an phía Liên Xô và Trung Quốc. Hai văn bản sau đã xác nhận điều này:
    - Với Liên Xô : " Đối với thông điệp gửi tới Dobrynin, vui lòng cho tôi biết quan điểm của bạn về việc có hay không cuộc gặp cá nhân giữa Tổng thống và Dobrynin vào chiều nay, ... cách tốt nhất giữ cho Brezhnev và các đồng chí của ông ta ở trong tư thế trong tinh thần xây dựng."

    - Với Trung Quốc: " Đối với CHND Trung Hoa, nên theo đuổi những điểm ghi trong văn bản sẽ được gửi cho đại diện của chúng ta vào tối nay ở New York, nhưng văn bản sẽ được sửa đổi để gắn kết chặt chẽ hơn trong quan hệ của chúng ta với họ." [13]

    Theo các tài liệu phổ biến sau này, việc TT Thiệu từ chối ký thỏa Hiệp còn phải chịu sự đe dọa đến an nguy của tính mạng...

    * 20.01.1973 - "Cut Off His [Thieu's] Head "- Vì e ngại TT Thiệu không ký thỏa hiệp đình chiến Paris vào ngày TT Nixon nhậm chức TT nhiệm kỳ 2, ngày 20 tháng 1 năm 1973, nên trong cuộc trao đổi trên điện thoại giữa TT Nixon và TS Kissinger, TT Nixon đã nói:

    Audio 1- "Nixon một lần nữa tuyên bố rằng có thể không cần Nam Việt Nam tham gia vào hiệp định hòa bình -Nixon again states that U.S.-ally South Vietnam may not be part of peace agreement."[14]
    Audio 2 - "Tôi không biết liệu mối đe dọa có đi quá xa hay không, nhưng tôi sẽ làm bất kỳ điều chết tiệt nào, đó là, hoặccắt đầu [của Thiệu] nếu cần thiết- I don't know whether the threat goes too far or not, but I'd do any damn thing, that is, or to cut off his [Thieu’s] head if necessary." [15]

    * TT Nixon chê cách hành xử của TT Kennedy về vụ 1963

    Phần trên viết về sự kiện xẩy ra đầu năm 1973, TT Nixon đe dọa TT Nguyễn Văn Thiệu nếu không thuận theo Mỹ, nhưng trước đó 3 năm, vào năm 1970 TT Nixon đã đưa ra lời phê bình về cách chính phủ Kennedy đối xử với TT Ngô Đình Diệm:" ...chúng tôi sẽ không làm như cách chính quyền Kennedy đã đối xử với Diệm- we’re not about to engage in what the Kennedy administration did with Diem..., chúng tôi không cư xử như thế với bạn bè chúng ta-we don’t do that to our friends.Thật không may cho chính quyền Kennedy, tay họ đã dính máu của Diệm. Đó là một giải pháp tồi tệ - The Kennedy administration has Diem’s blood upon its hands, unfortunately. That was a bad deal." [16]

    Mở ngoặc để viết về việc "cách chính quyền Kennedy đã đối xử với Diệm", theo tài liệu Quốc Phòng, vì TT Diệm trì hoãn việc thực hiện chính sách CIP, cho nên:" Các cuộc đàm phán với Diệm đã kết thúc vào tháng Năm (1961), không phải vì các vấn đề đã được giải quyết ...Galbraith khuyên Kennedy chẳng có gì đáng để mặc cả với ông Diệm, vì ông ta sẽ không bao giờ thực hiện...Galbraith ủng hộ việc tiến hành một cuộc đảo chính quân sự chống Diệm vào thời điểm thuận tiện- Galbraith favored promoting an anti- Diem military coup at the earliest convenient moment"-(5.1961),( chi tiết về sự liên hệ Mỹ-VNCH 1961 xin coi...) [17]

    Trong bối cảnh hoàn toàn bất lợi cho phía VNCH ghi trên, Hiệp định đình chiến Paris ra đời ngày 27.01 1973 để rồi dẫn đến biến cố 30.04.1975. Theo tài liệu công bố sau này thì phía Mỹ thuận theo yêu cầu của Trung Quốc là Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam để cùng hợp tác chống Liên Xô.

    Xin nhường bạn đọc đưa ra nhận xét và phê bình về các sự việc trên. Tuy nhiên, để bạn đọc biết thêm về quan hệ Mỹ-Trung trong chiến tranh tại Việt Nam - người viết sẽ ghi lại cuộc đối thoại giữa TT Nixon, TS Kissinger và TT Chu ân Lai năm 1971 và 1972 (kể cả về cuộc chiến Hạ Lào 1971 trong cuộc đối thoại Mỹ-Trung 1972) được ghi lại trong tài liệu của Bô Ngoại giao. (Vào năm 2002, thư Viện Nixon đã cho công bố nhiều tài liệu liên quan đến chiến tranh Việt Nam sau 30 năm bảo mật, nhưng nay sau 45 năm, nhiều bản văn loan tải trên FRUS và trên US.DOSA đã cho đọc nhiều đoạn văn trước đây bị bôi đen), sự việc sẽ trình bày tại bài viết sau và về " Học thuyết Nixon - The Nixon Doctrine 1969."


    Đào Văn

    Tài liệu tham khảo.
    [1]- BNG/FRUS -Bản văn #230 ngày 13.04.1975
    [2]- CIA Library, 16.04.1975 -Tướng Trần Văn Đôn vận động TT Thiệu từ chức
    [3]- CIA Library, 17.04.1975 (trang 5)-VC chấp nhận Chính phủ do Đôn cầm đầu
    [4]- CIA Library, 18.04.1975 (trang A14)-CIA nghi ngờ tính trung thực của tướng Đôn
    [5]- BNG/FRUS -bản văn #238 ngày 18.04.1975
    [6]- BNG/FRUS- bản văn # 241 tngày 18.04.1975
    [7]- BNG/FRUS -bản văn #244 ngày 18.04.1975
    [8]- Trần Văn Đôn - Việt Nam Nhân Chứng - Chương II - VNCH Mười Ngày Cuối
    [9]- BNG/FRUS - Bản văn số 250 ngày 21.04.1975
    [10]- Truyen Hình VNCH-Video clip-Diễn văn từ chức của TT Thiệu 21.04.1975
    [11]- Sach Truyện-Pierre Darcourt-VN QM Oan Khiên:Chg 23: Sự Rẫy Chết Của Một Thành Phố
    [12]- BNG /FRUS -bản văn #39 ngày 21.10.1972
    [13]- BNG/FRUS bản văn #47 ngày 22.10.1972
    [14]- Nixon tape audio Org (mp3):-Agreement_without_Thieu
    [15]- Miller Center:- a)- Audio mp3: " cắt đầu ...nếu cần thiết"
    -b)- text: Cut Off His [Thieu's] Head
    [16]- Văn Khố BNG-Foreign Relations, Volume XVI-Conversation...June 30, 1971, trang 96
    [17]- Văn Khố QG-Pen.Papers.Part IV.B.1.Evolution of the War:Problems With the Diem Government
    Last edited by Phòng Trực; 03-06-2021, 09:57 AM.

    Comment


    • #3
      Mỹ bức tử VNCH theo yêu cầu của Tàu
      để Mỹ-Tàu hợp tác chống Liên Xô (1972)

      * TT Nixon: Cuộc chiến phải được giải quyết ổn thỏa trước khi tôi đến TQ (1972)
      * TT Chu Ân Lai: Việc rút quân có thể được giải quyết chậm nhất vào năm sau? (1971)
      * CT Khrushchev: Phát động chiến tranh giải phóng dân tộc tại miền Nam Việt Nam (1961)
      * Kennedy Administration khởi động cuộc chiến chống lại chiến trannh giải phóng ở Nam Việt Nam.(1961)

      Nhắc lại chuyện xưa, vào năm 1971 TS Kissinger đến Trung quốc, và một năm sau 1972, TT Nixon cũng đến nơi đây để gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Trung Cộng tại Bắc Kinh. Phần trình bày sau là trích đoạn các văn bản ghi lại cuộc đối thoại của hai nhà lãnh đạo Mỹ-Trung liên quan đến cuộc chiến tại Việt Nam, được giải mật và được công bố trên trang The Foreign Relations of the United States (FRUS) và trên Văn khố của Bộ Ngoại Giao (US Depart. Of States Archive). Nhưng trước hết bàn sơ qua về " học thuyết Nixon".

      - Học Thuyết Nixon -Năm 1969 Chính phủ Mỹ đề ra chính sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh, thực chất là kế hoạch rút quân đội Mỹ ra khỏi vùng này. Một năm sau, năm 1970, điều này được ghi lại trong tiểu mục gọi là " Học thuyết Nixon và phản ứng của người Á Châu -The Nixon Doctrine and the Asian reaction". Trong đó viết: " Tổng thống đã tuyên bố vào năm 1970 rằng “Chắc chắn vì lợi ích của chúng tôi, cũng như lợi ích của hòa bình và ổn định ở châu Á và thế giới, chúng tôi thực hiện những bước tiến nhằm cải thiện quan hệ với Bắc Kinh - take what steps we can toward improved practical relations with Peking."[1]

      ** Hội nghị thượng đỉnh Mỹ -Trung


      Vào ngày 28 tháng 4 (1971), Tổng thống Nixon nói với TS Kissinger: "Những gì chúng tôi đang toan tính về cơ bản là hội nghị thượng đỉnh với Trung Quốc, đó là kế hoạch của tôi. Đó là ván cờ lớn. Bây giờ, đó mới chỉ là một nửa, phần còn lại của tấn tuồng này là thực hiện một số điều về cuộc chiến này. " Kissinger trả lời: “Với điều đó, tôi nghĩ, những người ở vào thời kỳ 1954 họ cần hòa bình, và sau đó họ đã giải quyết vấn đề Việt Nam. Họ cần hòa bình ngay, điều đó có tác dụng đối với Hà Nội - 54 they needed peace, and they settled Vietnam then. They need peace now, it’s got to have effect on Hanoi . Đó là một lợi thế của người làm sứ giả." Nixon nói thêm: “Chà, để tôi nói tiếp, cuộc chiến phải được giải quyết ổn thỏa trước khi tôi đến Trung Quốc- before I get there, the war has to be pretty well settled. . Tôi chỉ đơn giản nói rằng, chúng ta chưa thể đến Trung Hoa cho đến khi chúng ta có một số kế sách.I’d just simply say, we can’t come there until we have some idea." [2]

      * Cuộc họp giữa TS Kissinger và TT Chu Ân Lai (Ngày 07.09.1971)

      [...]
      -Thủ tướng Chu: Kể từ khi Tổng thống Nixon nhậm chức, ông ấy đã bày tỏ sẵn sàng giải quyết các trở ngại cơ bản với chúng tôi. Ngay từ đầu,ông ta đã tỏ thái độ sẵn sàng đến Bắc Kinh gặp chúng tôi. Như ông đã biết, do biến cố ở Cambodian năm ngoái và năm nay có trận chiến Đường 9 ( Hạ Lào 719), điều này ảnh hưởng đến quan hệ giũa chúng ta.
      - Tiến sĩ Kissinger: Chúng tôi đồng ý. Đó là lý do tại sao tôi muốn có cơ hội để bày tỏ quan điểm của chúng tôi về hòa bình ở Đông Dương, để những mâu thuẫn này có thể được giải quyết, về vấn đề Đông Dương và về mối quan hệ của chúng ta.- Thủ tướng Chu: Liệu vấn đề rút quân khỏi Đông Dương có thể được giải quyết chậm nhất vào năm sau hay không? Ông vừa đến Sài Gòn- Can’t the matter of a military withdrawal from In-dochina be settled at the most by next year? You just came from Saigon..[...]

      - Tiến sĩ Kissinger: Tôi có thể đảm bảo với Ngài rằng chúng tôi muốn kết thúc chiến tranh ở Việt Nam thông qua các cuộc đàm phán, và chúng tôi đã chuẩn bị ấn định ngày rút toàn bộ lực lượng của chúng tôi ra khỏi Việt Nam và Đông Dương như Ngài đã đề nghị trước đây-withdrawalof all our forces from Vietnam and Indochina as you suggested before." [...]
      -Tiến sĩ Kissinger: Tôi thay mặt Tổng thống Nixon đề nghị, chúng tôi sẽ ấn định ngày rút khỏi Việt Nam.

      -Thủ Tướng Chu: Ngày rút quân hoàn toàn?(A date for complete withdrawal?)
      Tiến sĩ Kissinger: Đúng.[3]

      * Cuộc họp giữa TT Nixon và TT Chu Ân Lai (Ngày 22.02.1972)
      - Chu Ân Lai - Vì Mỹ đã quyết định rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Việt Nam và toàn cõi Đông Dương, và Mỹ muốn thấy khu vực này trung lập, nghĩa là không liên kết, không có lực lượng cụ thể nào chiếm đóng vùng này. Nếu đó là chính sách của Tổng thống và của Chính phủ qúi quốc, tôi nghĩ sẽ tốt hơn thời nên có hành động cụ thể. Nếu không, qúi quốc sẽ chỉ tạo điều kiện cho Liên Xô tăng cường ảnh hưởng của họ ở vùng này. Về phần chúng tôi, sẽ không sợ điều đó xảy ra, vì cho dù giúp đỡ Việt Nam, Lào, Campuchia, chúng tôi chưa bao giờ đòi hỏi đặc quyền nào, cũng như chưa bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của họ.

      - Tổng thống Nixon: Thưa Thủ tướng, vấn đề Việt Nam sẽ không thể chia rẽ chúng ta nữa. Thủ tướng đã gợi ý rằng nếu chúng tôi có thể tiến nhanh hơn thì đó là một việc làm khôn ngoan, và như Ngài đã nói, đó là điều can đảm. Tôi rất tôn trọng quan điểm của Thủ tướng về chủ đề này, một vấn đề mà phía có lợi duy nhất là Liên Xô nếu Mỹ còn tiếp tục chiến tranh. Liên Xô muốn Hoa Kỳ bị trói tay ở vùng này. Tất nhiên, họ muốn ngày càng có nhiều ảnh hưởng hơn ở Bắc Việt Nam. Từ tất cả những thông tin tình báo mà chúng tôi có được, Liên Xô , thậm chí đang kích động phía Bắc Việt tiếp tục chiến đấu và không đàm phán.[4]

      * Cuộc họp giữa TT Nixon và TT Chu Ân Lai (24.02.1972)

      - Tổng thống Nixon: Tôi muốn Thủ tướng biết rằng chúng tôi phải làm những gì cần thiết để bảo vệ lợi ích của mình, bảo vệ lực lượng của chúng tôi và nhận lại tù binh của chúng tôi. Tôi nhận thấy rằng chính phủ của Thủ tướng có thể có phản ứng với những gì chúng tôi làm. Để hoàn thành mục tiêu của mình, chúng tôi sẽ không làm bất cứ điều gì mà chúng tôi không cho là cần thiết. Và mục tiêu của chúng tôi là rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam sau khi các tù nhân của chúng tôi được trả về. Nhưng nếu chúng tôi không đạt được mục tiêu đề ra trong các cuộc đàm phán, thì không phải là tại phía chúng tôi, mà là do phía Bắc Việt buộc chúng tôi phải tiếp tục sử dụng biện pháp quân sự. Nhưng việc giải quyết vấn đề tại Việt Nam thưa Thủ tướng là điều tất yếu vì tôi đã quyết định, nhưng nó phải được thực hiện đúng cách. Việc này sẽ sớm được giải quyết.

      Người phiên dịch: Ý của Tổng Thống là sẽ rút quân liền?

      - Tổng thống Nixon: Vâng. Sẽ thực hiện việc rút quân đội Mỹ. Nhưng như tôi đã nói, việc này phải được thực hiện một cách đúng đắn. Chúng tôi sẽ không rút lui đơn phương mà không đạt được các mục tiêu theo chính sách mà chúng tôi đã đề ra.
      - Thủ tướng Chu: Nhưng điều đó khiến mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Bởi vì cuộc chiến hiện tại không phải do chính phủ của ông khởi đầu, mà là bởi những người tiền nhiệm của qúi quốc. Ngay từ đầu, không cần thiết phải gửi lực lượng Mỹ đến đó. Một khi các ông gửi quân vào, và càng nhiều quân nhân được gửi đến, là các ông đã bị sa lầy. Vì vậy chính phủ đương nhiệm của qúi quốc buộc phải rút quân và vấn đề đáng tiếc này lại đang nằm trong tay của ông.

      - Tổng thống Nixon: Đối với Việt Nam, chúng tôi hiểu quan điểm của Thủ tướng. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng, ít nhất sẽ không làm những gì mà Liên Xô dường như họ đang làm, khuyến khích phía Bắc Việt từ chối đàm phán.
      Vấn đề là Liên Xô muốn Hoa Kỳ bị trói chân tại Việt Nam-The problem is the Soviet Union wants the U.S. to be tied down in Vietnam. Họ không muốn chúng tôi kết thúc cuộc chiến- It doesn’t want our involvement to end. Họ dường như không khuyến khích phía Bắc Việt chấp nhận đàm phán-It appears to be discouraging the North Vietnamese from negotiating. Tôi không yêu cầu Thủ tướng trả lời, nhưng nếu phía Bắc Việt bị cả phía Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân đều không khuyến khích đàm phán, điều này sẽ tạo ra tình thế khó khăn.


      - Thủ tướng Chu: Lúc đầu, khi Chính quyền Johnson tuyên bố ngừng ném bom vào năm 1968, lúc đó chúng tôi không có nhiều ý kiến về các cuộc đàm phán tại Paris. Vào thời điểm đó, chúng tôi cảm thấy không phải là thời cơ thuận tiện, nhưng sau năm 1969, quan điểm của chúng tôi chuyển sang ủng hộ các cuộc đàm phán. Trên thực tế, để giúp các cuộc đàm phán Paris có kết quả, chúng tôi đã dừng các cuộc Đàm phán tại Warsaw. Và sau đó, chỉ vì những gì đã xảy ra trong một buổi trình diễn thời trang ở Đại sứ quán Nam Tư ở Warsaw, những cuộc nói chuyện này mới bắt đầu lại. Và họ nói với chúng tôi những gì đang diễn ra trong các cuộc đàm phán. Kể từ thời điểm đó trở đi, chúng tôi chú ý đến các cuộc đàm phán bởi vì trong chiến đấu cũng nhất định cần có các cuộc đàm phán, chẳng hạn như trong Chiến tranh Triều Tiên.

      - Thủ tướng Chu: Còn ở Phnom Penh?
      - Tổng thống Nixon: Tại Phnom Penh, và cả khi ông ấy (Sihanouk) đến Washington vào đầu năm 1953. Không phải chính sách của chúng tôi là đã hạ bệ ông ấy ở Campuchia.
      - Thủ tướng Chu: (Cười) Chúng tôi đã tranh cãi về vấn đề đó với Tiến sĩ Kissinger.
      - Tổng thống Nixon: Tôi nghĩ rằng nếu ông ta thân thiết với Trung Quốc, điều này sẽ không làm tổn thương Sihanouk, nhưng sự gần gũi của ông ta với Bắc Việt khiến ông ta bị tổn thương vì người Campuchia ghét phía Bắc Việt Nam. Đó là phân tích của tôi, có lẽ không giống như ý của Thủ tướng. Nhưng tôi nghĩ đó là những gì đã xảy ra.
      Nếu Bắc Việt rút khỏi Campuchia, thì người Campuchia có thể xác định về việc liệu họ có muốn Sihanouk trở lại hay không. Nhưng chừng nào phía Bắc Việt còn ở Campuchia, tôi nghĩ khả năng ông Sihanouk trở lại nắm quyền là rất ít. Đó là quan điểm của tôi, nhưng chúng tôi không có cách nào để kiểm soát sự kiện đó.

      - Thủ tướng Chu: Do phương pháp phân tích của chúng ta khác nhau, nên chúng ta không thể đưa ra kết luận giống nhau. Vì như chúng tôi thấy, Chính quyền Johnson đã gửi lực lượng Mỹ đến đàn áp những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam, và trong hoàn cảnh này, làm sao có thể từ chối việc đồng bào của họ ở miền Bắc vào Nam hỗ trợ anh em của họ ở miền Nam?

      - Tổng thống Nixon: Tôi nghĩ rằng tôi có thể hiểu điều này mặc dù tôi phản đối nó. Tôi có thể hiểu miền Bắc Việt Nam đưa quân vào miền Nam; đó là thuộc về Việt Nam. Nhưng Bắc Việt không có lý do đưa quân vào Campuchia. Người Campuchia luôn chiến đấu với quân Bắc Việt, tất cả đều là người Việt Nam. Đó là cách suy nghĩ của tôi, nhưng tôi sợ những gì chúng tôi nói ở đây sẽ không ảnh hưởng đến họ.

      - Thủ tướng Chu: Đó là vấn đề ở góc độ lịch sử, vì thực dân Pháp đã liên kết ba nước Đông Dương với nhau và liên kết lợi ích của họ với nhau. Chính là chữ “Đông Dương” do người Pháp đặt ra, trước đây không có tên như vậy. Trong lịch sử, họ là ba quốc gia riêng biệt. Quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam rất gần gũi; thứ hai, chúng tôi có quan hệ với Campuchia bằng đường biển; không có nhiều quan hệ với Lào.
      Chính chủ nghĩa thực dân của Pháp đã liên kết lợi ích của họ. Sau đó là việc người Pháp vẽ lại đường ranh giới, điều này làm tăng mâu thuẫn giữa ba nước, giống như người Anh ở châu Phi.

      - Thủ tướng Chu: Và sau khi người Nhật bị đánh bại, người Pháp quay trở lại chiếm đóng ba nước Đông Dương. Vì vậy ba dân tộc liên kết với nhau để chống lại thực dân Pháp. Sau hiệp định năm 1954, ba nước lại bị chia cắt.
      Và sau Hội nghị Genève, nếu Chính phủ Mỹ lúc bấy giờ không phá hoại Hiệp định Genève thì tình hình đã khác. Việt Nam đã được thống nhất. Campuchia có lẽ sẽ vẫn dưới quyền của Hoàng tử Sihanouk. Đối với Lào, tình hình nơi đó khác, lẽ ra đã được giải quyết bằng Hiệp định Genève 1962 về Lào.
      Nhưng sau đó vào thời Chính quyền Johnson, đã gửi rất nhiều lực lượng vào miền Nam Việt Nam - nếu chỉ nhìn vào quân số, sức mạnh vật chất, họ vượt xa lực lượng vũ trang Nam Việt Nam và cả lực lượng vũ trang Bắc Việt Nam.
      Và vì thế, quân Việt Nam đã sử dụng Campuchia làm nơi chuyển quân và ẩn nấp nhưng chúng tôi chỉ biết về điều đó vào năm 1969. Thực tế là Hoàng thân Sihanouk đã thông cảm với quân Việt Nam và cho phép họ đi qua Campuchia vì trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp họ đã sát cánh bên nhau. Vì vậy, sự cảm thông của Hoàng thân Sihanouk dành cho Bắc Việt Nam là điều dễ hiểu. Vì vậy, một khi chiến tranh kết thúc, quân Việt Nam chắc chắn sẽ rút khỏi Campuchia, và Campuchia sẽ là của người Campuchia - So if the war comes to an end, the Vietnamese forces will surely withdraw from Cambodia, and Cambodia will be Cambodian.


      - Tổng thống Nixon: Thủ tướng nêu rõ nguyên tắc của Cộng hòa Nhân dân là không can thiệp quân sự bằng các lực lượng vũ trang ở các quốc gia lân cận. Nhưng vì sao Thủ tướng lại phản đối sự thống trị của quân đội Bắc Việt tại Campuchia và Lào?
      - Thủ tướng Chu: Chỉ vì chiến tranh đã nổ ra, và cuộc chiến này do Hoa Kỳ gây ra nên họ đã tiến hành các hoạt động ở đó.

      - Tổng thống Nixon: Khi chiến tranh kết thúc, Thủ tướng có tin rằng Bắc Việt Nam nên rút khỏi Campuchia và rút khỏi Lào?

      - Thủ tướng Chu: Nếu cuộc chiến chấm dứt hoàn toàn, Hoàng thân Sihanouk trở lại Campuchia, thì Bắc Việt chắc chắn sẽ rút quân. Nếu vẫn còn Lon Nol ở Campuchia, điều đó là không thể. Bởi vì ngay cả đa số người dân Campuchia cũng không ủng hộ Lon Nol. Ông ta là người bị áp đặt từ bên ngoài.
      Tôi vẫn duy trì câu hỏi về Đông Dương mà qúi quốc đã gây ra sự hỗn loạn. Tất nhiên, đó không phải là trách nhiệm về phía chính phủ của ông. Bởi vì vào thời kỳ đó toàn khu vực, hoặc ít nhất hai phần ba khu vực đó có thể đã trở thành một khu vực hòa bình và trung lập. Nhưng vì chính sách của John Foster Dulles vẽ ra đã phá hoại Hiệp định Genève, nên toàn bộ sự việc đã trở thành một mớ hỗn độn. Điều đó đã được Anthony Eden đưa ra trong hồi ký của ông ta. Các thỏa thuận được ký kết tại Genève đã quy định rõ ràng một cuộc tổng tuyển cử sau hai năm, nhưng Dulles nói rằng việc đó thực hiện trong nội bộ.


      Vì vậy, nếu chúng ta muốn mang lại một khu vực hòa bình và trung lập, không chỉ cho ba nước Đông Dương mà cho cả vùng Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng đã đến lúc không quá muộn để làm điều này. Nếu không sẽ không có sự yên bình. Ý của tôi không chỉ là Đông Dương mà còn là Đông Nam Á - Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines. Hiện nay có xu hướng này ở các nước trong vùng. Chúng ta nên giúp họ đi theo hướng này, là kiến tạo nền độc lập trong khu vực.
      Thưa Tổng thống, ông có thể nói rằng một khoảng trống quyền lực sẽ hình thành và nó sẽ làm phức tạp thêm tình hình. Dù sao, ông nên biết rằng chúng tôi sẽ không đến những nơi này. Ông thừa nhận rằng dựa vào niềm tin của chúng ta là nếu rắc rối xảy ra, chúng ta sẽ lấp đầy khoảng trống. Trong cuộc họp đầu tiên tôi đã thảo luận; nhưng, tất nhiên, thời gian có thể không nhanh như vậy. Nó phụ thuộc vào ý thức chính trị của người dân mỗi quốc gia.
      Vì vậy, rất có khả năng xảy ra ở một quốc gia trong vùng nếu dân chúng chưa vùng lên, thì một cường quốc nào đó sẽ đến đó và thiết lập một vùng ảnh hưởng.


      - Tổng thống Nixon: Chúng tôi có quan điểm khác. Như tôi đã nói với Thủ tướng, chúng tôi tôn trọng quan điểm của ông ta. Về phía Việt Nam, Bắc Việt đã bác bỏ đề nghị tám điểm của chúng tôi. Đây là một điều tốt có thể mang lại mục tiêu mà Thủ tướng đang mô tả về một Đông Dương trung lập, trong một chừng mực về nền trung lập của Campuchia, Lào và Việt Nam. Tôi nói rằng đây là vấn đề của chúng ta bây giờ, và tôi sẽ giải quyết nó theo cách đúng đắn.
      Tôi vui mừng rằng chính phủ của Thủ tướng sẽ không cố gắng ngăn cản Bắc Việt đàm phán. Đó là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề hơn là giải quyết bằng giải pháp quân sự.

      - Thủ tướng Chu: Vậy đây là một câu hỏi cụ thể, chỉ là một vấn đề riêng lẻ. Phía Bắc Việt họ nói rằng họ muốn tiếp tục đàm phán. Qúi ông đã nói không vào ngày 17 của tháng này và sau đó đồng ý đến ngày 24. Lý do qúi ông từ chối là vì Hội nghị ở Versailles.

      - Tiến sĩ Kissinger: Chúng tôi cảm thấy nó không thích hợp cho các cuộc đàm phán. Họ đang gặp nhau hôm nay.

      - Tổng thống Nixon: Đúng. Sắp tới chúng tôi sẽ cố gắng đàm phán, nhưng chúng tôi không thể bị Bắc Việt áp đặt về vấn đề này. Chúng tôi cũng không cố gắng ra lệnh cho họ. Họ không cố gắng thương lượng. Họ nói đây này, cầm lấy hoặc vứt bỏ nó đi và chúng tôi không thể chấp nhận đàm phán theo cách này. Nếu họ nói chuyện hợp lý, như Thủ tướng và tôi đang nói, dù không đồng ý, chúng ta vẫn có thể tìm thấy điểm chung. Sự việc có thể đã được giải quyết hai năm trước khi tiến hành các cuộc đàm phán bí mật, nhưng họ đã không nói theo cách đó-This could have been settled two years ago when secret talks started, but they won’t talk that way. [5]


      ** Nhận xét của báo chí Mỹ
      Theo trang History: " Ở Việt Nam, Liên Xô, chứ không phải Trung Quốc, đã trở thành những người ủng hộ quan trọng nhất cho chế độ Bắc Việt. Và cuộc chiến ở Việt Nam diễn ra không suông sẻ. Người dân Hoa Kỳ nôn nóng muốn chấm dứt xung đột, và ngày càng thấy rõ rằng Hoa Kỳ không thể cứu được miền Nam Việt Nam, khỏi những kẻ xâm lược cộng sản. Do đó, chuyến đi của Nixon đến Trung Quốc là một động thái được tính toán để thúc đẩy quan hệ ngoại giao chặt chẽ hơn với Trung Quốc làm đòn bẩy trong việc đối phó với Liên Xô, đặc biệt là về vấn đề Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Kỳ có thể sử dụng Trung Quốc làm đối trọng với Bắc Việt Nam. Bất chấp những tuyên bố của họ về tình đoàn kết xã hội chủ nghĩa, CHND Trung Hoa và Bắc Việt Nam, là những đồng minh đáng ngờ. Như nhà sử học Walter LaFeber đã nói, “Thay vì dùng Việt Nam để kiềm chế Trung Quốc, Nixon kết luận rằng ông ta nên dùng Trung Quốc để kiềm chế Việt Nam tốt hơn - Instead of using Vietnam to contain China, Nixon concluded that he had better use China to contain Vietnam.”. Về phần mình, CHND Trung Hoa mong muốn có một đồng minh khác trong mối quan hệ ngày càng căng thẳng với Liên Xô và chắc chắn hoan nghênh khả năng gia tăng thương mại Mỹ-Trung - the PRC was desirous of another ally in its increasingly tense relationship with the Soviet Union and certainly welcomed the possibility of increased U.S.-China trade. [6]

      ** Mỹ - Trung hợp tác chống chủ nghĩa bá quyền Liên xô.
      Theo cuốn Mưu Lược Đặng Tiểu Bình:" Khi tiếp xúc với giới báo chí, Đặng kêu gọi Mỹ, Trung quốc, Nhật Bản, Tây Âu và các nước khác trên thế giới liên hiệp lại để cùng chống chủ nghĩa bá quyền Liên xô. Ông nói: Chúng tôi cho rằng nguy cơ chiến tranh đến từ phía Liên xô, sự uy hiếp đến hòa bình, an toàn và ổn định trên thế giới đến từ phía Liên Xô. Chúng ta có thể làm thế này: Liên xô hành động ở đâu, chúng ta sẽ ngăn trở ở đó, phá hoại, đập tan mọi hành động của Liên Xô ở bất cứ nơi nào...".[7]

      Nhiều nhà phê bình thời cuộc cho rằng Mỹ không muốn bảo vệ Miền Nam Việt Nam nên đã từ chối không ký kết thỏa hiệp Hỗ Tương quân sự / Mutual Defense Treaty với VNCH giống như Mỹ đã ký kết với các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Điều này được xác nhận bởi Tài liệu Quốc Phòng/Penpentagon Papers lưu tại Văn Khố quốc gia online năm 2011. Lần thứ hai Mỹ từ chối ký thỏa Hiệp Hỗ Tương Quân sự theo yêu cầu của phía VNCH vào ngày 18.10.1961 [8]. Theo Tài Liệu Quốc Phòng: " Tháng 11 năm 1960, Hội nghị các Đảng Cộng sản và Công nhân của các nước Xã hội Chủ nghĩa một lần nữa tuyên bố ủng hộ chiến tranh dành "chính nghĩa" mà VNDCCH đang theo đuổi. Hoa Kỳ được xác định là đế quốc xâm lược, các đảng cộng sản có quyền và nghĩa vụ phải tham gia vào cuộc đấu tranh chống thực dân này. Vào thời điểm Khrushchev đưa ra tuyên ngôn trên trong bài diễn văn đã đề xướng "các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc", trong khi "cuộc chiến tranh giải phóng" tại miền Nam Việt Nam đã gần một năm rưỡi - By the time Khrushchev cited that Declaration in his "wars of national liberation" speech, the "liberation war" for South Vietnam was nearly a year and a half old." [9]. Điều này phù hợp với chính sách Counter Insurgency Program (CIP) của Mỹ đề ra năm 1961, cho nên Mỹ đã không ký kết thỏa hiệp Hỗ Tương quân sự vì không muốn bảo vệ VNCH lâu dài mà chỉ xử dụng VNCH như là chiến trường nhằm chống Liên Xô qua chiến tranh giải phóng do Liên Xô khởi xướng (1960). Cũng theo Tài Liệu Quốc Phòng, việc Liên Xô hô hào chống Mỹ, cũng là mục tiêu chiến lược của Mỹ khi áp dụng chiến tranh chống giải phóng (CIP) vào Việt Nam năm 1961 nhằm chống Liên Xô, điều này có ghi trong Pentagon Papers:" Các vấn đề đối phó với Mạc-Tư-Khoa cấp bách hơn nhiều so với các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Cảm giác rằng vị thế của Mỹ trên thế giới đã bị xói mòn bởi Liên Xô và họ đã chiếm ưu thế; Kennedy đặc biệt quyết tâm giành lại sức mạnh, uy tín và ảnh hưởng của Mỹ. Bất cứ điều gì có thể được hiểu là điểm yếu của Mỹ đối với Liên Xô đều phải tránh né. Điều này đã ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với Việt Nam - Kennedy was particularly determined to regain American strength, prestige and influence. Anything which could be construed as American weakness vis-a-vis the USSR was to be avoided. This-affected policy toward Vietnam ."[10] Vì vậy theo tác giả Neil Sheihan sau khi ông ta công bố một phần tài liệu tối mật Pentagon Papers vào năm 1972, đã viết" Chính vì lý do này mà Kennedy đã chỉ thị cho Quân đội sử dụng Việt Nam như một phòng thí nghiệm để phát triển các kỹ thuật chống chiến tranh giải phóng - for this reason that Kennedy had instructed the Army to use Vietnam as a laboratory to develop techniques of counterinsurgency". Khrushchev đã nói rằng Liên Xô sẽ tránh một cuộc chiến tranh nguyên tử với Hoa Kỳ nhưng sẽ ủng hộ các cuộc chiến tranh giải phóng và các cuộc nổi dậy ở các quốc gia nghèo của Thế giới thứ ba- Khrushchev had said that the Soviet Union would avoid an atomic war with the United States but would supportliberation wars and popular uprisings” in the poor nations of the Third World."[11]

      Vào tháng 9 năm 1995 Tướng Westmoreland đến Nam Cali và dành cho đài Radio Little Sàigòn cuộc phỏng vấn về Tết Mậu Thân 1968 ­ và về lý do quân đội Mỹ không được tiến quân ra Bắc. Cuộc phỏng vấn do Việt Dũng thực hiện, sau đó bài phỏng vấn được loan lại trên báo HồnViệt số tháng 10.1995 :

      Tướng Westmoreland : " Chúng tôi đã biết trước cuộc tổng công kích sẽ xảy ra. [...] chủ trương của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tham gia cuộc chiến tại miền Nam, là chúng ta không phát triển cuộc chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ này. [...] chúng tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này dù chúng tôi dư sức làm điều đó,... vi` việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều" . Phải chăng "chiến lược" của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là để " to develop techniques of counterimsurgency" nhằm chống Liên Xô nên đã từ chối không ký Thỏa hiệp Hỗ tương Quân sự (Mutual Defense Treaty) với VNCH?

      Trích đoạn bài viết trên Việt Báo ngày 21.02.2021 ghi lại tuyên bố của TT Nixon về vụ 1963 " Thật không may cho chính quyền Kennedy, tay họ đã dính máu của Diệm -The Kennedy administration has Diem’s blood upon its hands,unfortunately." Xin mượn lời TT Nixon (CH) rằng: Phải chăng cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ " tay họ đều dính máu- blood upon its hands" vào việc bức tử VNCH năm 1975?


      Lại xin nhường bạn đọc đưa ra nhận xét và phê bình về chính sách của Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam trước 1975.


      Đào Văn


      Tài liệu tham khảo:
      [1]-Văn Khố BNG-Foreign Relations,p11- The Nixon Doctrine and the Asian reaction
      [2]-Văn Khố BNG-Foreign Relations,p53- Conversation:Nixon & Kissinger, April 27, 1971
      [3]-Văn Khố BNG- oreign Relations,p112-p118- Memorandum of Conversation1-Beijing, July 9, 1971

      [4]- BNG-FRUS - Memorandum ngày 22.02.1972

      [5]- BNG-FRUS - Memorandum ngày 24.02.1972
      [6]- The History - Ngày Nixon đến Trung quốc
      [7]- Kilopad.com-Mưu lược Đặng Tiểu Bình-Chg 21-phần7-b:nhốt con gấu bắc cực vào chuồng,
      [8]- BNG- FRUS - Telegram from VN to Dept. of State ngày 18.10.1961

      [9]- Văn Khố QG-Pentagon Papers-Chương IV.A-5:Origins of Insurgency-trang 30

      [10]- Văn Khố QG-Pen.Papers-Chương IV-B-Counterinsurgency-I: Kennedy Commitments-p.12
      [11] - Neil Sheehan -A-Bright-Shining-Lie-Trang 59

      Comment


      • #4
        Mỹ không cắt đứt đường mòn HCM dẫn đến biến cố 30.04.1975?




        * CIA thống kế quân số, chiến cụ của CSBV chuyển qua đường HCM.
        * White House: Chỉ cắt đứt đường mòn HCM nếu miền Bắc không chịu đàm phán
        * CIA-DIA dự báo vào tháng 03.1974: QKII sẽ không giữ nổi nếu bị tấn công...
        * CIA: Chiến tranh tại Việt Nam làm rạn nứt quan hệ Liên Xô và Trung Cộng


        Phần trình bày sau liên quan đến các tiểu mục trên được tóm lược dựa vào các tài liệu từ các cơ quan như Tòa Bạch Ốc, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Bộ Ngoại giao, Cơ quan CIA, DIA được giải mật và công bố trên Thư Viện CIA (2016-2017) về kế hoạch của CSBV chuẩn bị mở cuộc tổng tấn công miền Nam 1975.


        ** Quân số và chiến cụ CSBV qua đường mòn HCM
        Theo bản văn của Tòa Bạch Ốc được phổ biến trên Thư viện CIA: " Thống kê về nhân lực và Nguồn cung cấp của Cộng quân << Statistics on Enemy Manpower and Supplies >>: "Trong hơn một thập kỷ qua , những người Cộng sản đã sử dụng rộng rãi lãnh thổ Nam Lào như một tuyến đường chính để xâm nhập người và vật dụng vào miền Nam Việt Nam. Hệ thống hậu cần phức tạp này - được gọi là đường mòn Hồ Chí Minh - với chiều dài con đường hơn 1.500 dặm và mạng lưới đường mòn khá công phu. Đường mòn này được xây dựng và bảo trì bởi khoảng 40.000 - 50.000 binh sĩ hậu cần cộng với lực lượng an ninh và quốc phòng.

        Trong năm năm qua, Cộng sản đã sử dụng đường mòn Hồ Chí Minh để xâm nhập ít nhất 630.000 lính quân đội Bắc Việt vào Nam Việt Nam. Cùng thời điểm này, với một tuyến đường vận chuyển công phu qua Campuchia, được sử dụng để di chuyển vũ khí và đạn dược cần thiết phục vụ cho chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Từ năm 1965 có khoảng 100.000 tấn thực phẩm đã được chuyển qua Lào cho các lực lượng Cộng sản. Số lượng vũ khí được vận chuyển vào miền Nam Việt Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh trong năm năm qua vượt quá 400.000.
        Khoảng 50.000 tấn đạn dược hoặc tương đương 600 triệu viên đạn, chúng cũng được vận chuyển qua Lào."

        * Công dụng của các cảm biến điện tử

        Công dụng của các thiết bị (con bọ/bug) hay cảm biến điện tử, và việc cài đặt . Theotrang US History:" Hàng rào McNamara; << McNamara Line >>:Các cảm biến (bọ) có khoảng 20.000 cái tất cả, có thể đo địa chấn hoặc âm thanh, một số được cắm một nửa thiết bị sâu trong lòng đất, một số khác được thả bằng dù để chúng sẽ được treo trên cây. Có ba loại chính:

        - Loại Acoubuoy, dài 36 inch và nặng 26 pound, được ngụy trang và thả xuống đất bằng dù;
        - Loại Spikebuoy, dài 66 inch và nặng 40 pound, cắm trên mặt đất như phi tiêu cắm trong bãi cỏ với ăng ten được ngụy trang giống với cỏ dại;
        - Loại ADSID (Máy phát hiện địa chấn xâm nhập bằng không khí),giống như loại Spikebouy nhưng nhỏ hơn, kích cỡ là 31 inch và nặng 25 pounds -loại cảm biến này được sử dụng rộng rãi nhất.


        Ngoài 3 loại trên, còn có loại cảm biến khác được thiết kế để thâu nhận được mồ hôi và nước tiểu. Còn loại có tên “Black Crow" được cài đặt để có thể thâu nhận được khí thải động cơ xe tải từ khoảng cách 10 dặm."

        * Thu nhận tín hiệu từ khu vực đường mòn HCM

        Theo bản nghiên cứu của Đại Học Montclair:" Câu chuyện đằng sau hàng rào điện tử << THE STORY BEHIND THE MCNAMARA LINE.>>:Các xe chuyển vận trên Đường mòn Hồ Chí Minh chủ yếu bằng xe tải. Một loại máy bay mới được phát triển để phá hủy xe tải. Những máy bay này gọi là những pháo cơ, được trang bị các thiết bị quan sát ban đêm như hệ thống truyền hình mức ánh sáng thấp và máy dò bức xạ hồng ngoại. Các thiết bị này đặt trên máy bay có thể phát hiện ra từ người, đến các đốm lửa khi nấu ăn, những xe cộ vừa mới tắt máy. Một loại cảm biến nhiệt khác phát hiện tia đánh lửa mỗi khi đề máy cho xe nổ. Các mục tiêu trên một khi bị phát hiện sẽ bị phá hủy bởi súng bắn nhanh và viên đạn có kích thước là 40 mm. Với tốc độ bắn lên tới 6.000 viên đạn mỗi phút, những khẩu súng này có thể hoạt động ở độ cao từ 5.000 đến 1.000 feet, vượt ra ngoài tầm bắn súng phòng không của đối phương cỡ nòng nhỏ. Loại súng được trang bị cảm biến và súng tự động được gọi là PAVE SPECTER. Phía Không quân cho biết pháo cơ PAVE SPECTER có thể phá hủy 68 xe tải trong một giờ.''
        "Ngoài các thiết bị định vị mục tiêu từ trên không, còn hàng loạt các cảm biến dưới mặt đất được rải và cài đặt trên đường mòn hoặc treo trên cây. Một khi bị phát hiện và có sự đụng chạm vào cảm biến, thời thiết bị sẽ tự hủy. Các thiết bị loại này được vận hành bằng pin và có thể vận hành kéo dài vài tháng. Một số cảm biến phát hiện sự chuyển động hoặc âm thanh. Dữ liệu thu nhận từ các cảm biến này được truyền đến các máy thu âm đặt tại các trạm dưới mặt đất, hoặc trên máy bay, bay trong khu vực. Từ các trạm này, dữ liệu thu nhận được sẽ chuyển đến một trung tâm xử lý tại một căn cứ quân sự thuộc tỉnh Nakhon Phanom, Thái Lan."
        Theo các tin tức nêu trên, phía Mỹ nắm vững từ quân số, đến quân dụng phía CSVN chuyển vận từ miền Bắc vào miền Nam tại sao Mỹ không ngăn chặn hay phá hủy.Bản văn của Tòa Bạch Ốc trích dẫn sau cho biết lý do.

        ** Việc tập kích miền Bắc hay việc cắt đứt đường mòn HCM tùy thuộc vào các cuộc thương nghị.
        THE WHITE HOUSE - MEMORANDUM - TOP SECRET/SENSITIVE EYES ONLY - November 25, 1970 - MEMORANDUM FOR HENRY A. KISSINGER- FROM: Winston Lord
        -Theo bản văn của Tòa Bạch Ốc được phổ biến trên Thư Viện CIA : " SV Văn thư về việc Leo thang? << The White House- Memorandum: ESCALATION? 25.11.1970 >>: Bây giờ chúng ta tính đến viễn cảnh về một loạt kế hoạch khác cho các cuộc tập kích, hoặc cho duy trì các vụ đánh bom, hoặc thả mìn phong tỏa cảng Hải Phòng, hoặc cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh với các lực lượng trên mặt đất-sustained bombings, or mining Haiphong Harbor, or sealing the Ho - Chi Minh Trail with ground forces. Về mặt lý thuyết, một khi phía bên kia không chịu đàm phán, chúng ta phải dùng biện pháp quân sự, trong khi chúng ta vẫn còn một số phương án khác-If the other side will not negotiate, the theory goes, we must move militarily while we still have some assets."


        Tại sao Mỹ không cắt đứt đường mòn HCM việc tập kích ra miền Bắc hay cắt đứt đường mòn HCM tùy thuộc vào các cuộc thương nghị? Phải chăng qua chiến tranh tại Việt Nam, đã làm rạn nứt mối quan hệ giữa hai nước Liên Xô và Trung Cộng? Câu trả lời sẽ không thuyết phục người đọc nếu không kèm tài liệu dẫn chứng cụ thể thời bạn đọc sẽ cho là viết theo cảm tính, tin giả (fake news)... Vì lý do này, người viết có thói quen thường kèm xuất xứ, ghi lại nguồn chính của các tài liệu dẫn chứng vào bài viết để bạn đọc dễ dàng đối chiếu. Hy vọng phần trình bày sau sẽ giải đáp được phần nào về câu hỏi nêu trên.(Theo tài liệu giải mật cho biết phía VNCH có đưa ra kế hoạch tiến quân ra miền Bắc, nhưng bị Mỹ từ chối. Người viết sẽ trình bày vụ này khi thuận tiện).


        ** Chiến tranh tại Việt Nam làm rạn nứt quan hệ Liên Xô và Trung Cộng

        *Ngày 04.07.1965 - TT Johnson đọc diễn văn tại John Hopkins đưa ra đề nghị đàm phán:" Hòa bình không cần binh đao <<Peace without Conquest.>>"...trong cuộc thảo luận hoặc thương lượng với các chính phủ liên quan- in discussion or negotiation with the governments concerned".
        * Ngày 08.03.1965 - Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng << U.S.Marines land at Da Nang >>


        * Ngày 13.08.1965 cơ quan CIA báo cáo: "Phản ứng của phía Liên Xô về việc Đàm phán << Soviet Attitude Toward Negotiations -p7 >>: Sự cân nhắc thận trọng của Kosygin vào cuối tháng 2 về một giải pháp cho Việt Nam "tại bàn hội nghị" đã gây ra phản ứng giận dữ từ phía Bắc Kinh và sự phản đối trong riêng tư từ phía Hà Nội, qua việc các nhà lãnh đạo Liên Xô cho biết không có triển vọng thực tế nào vào các cuộc đàm phán cả-the Soviet leaders decided that without realistic prospects for negotiations there was nothing to be gained by further public initiatives.. Việc phía Liên Xô phản bác hòa đàm khiến cho phía Trung Quốc có cớ cáo buộc rằng họ đang hy sinh lợi ích của Hà Nội - Such proposals would only expose the USSR to Chinese accusations that it was sacrificing Hanoi's interests and capitulating to US pressure. Chính sách của Liên Xô về việc đàm phán do đó vẫn không thay đổi kể từ mùa xuân năm ngoái và người Nga cho biết họ không có cách nào khác một khi cuộc không kích chống lại miền Bắc Việt Nam còn tiếp tục."

        * SINO-SOVIET RELATIONS: FROM WORSE TO WORST
        Theo Thư viện CIA " Intelligence Memorandum - Sino-Soviet Relations - Top Secret: "Quan hệ Xô-Trung: Từ xấu đến tồi tệ nhất << Sino-Soviet Relations: From worse to worst p.10 >>: Các cơ quan truyền thông của Mạc-Tư-Khoa đã tuyên truyền rất nhiều về đề tài "thông đồng" giữa Trung Quốc và Mỹ nhằm bôi nhọ Bắc Kinh, đặc biệt cáo buộc Bắc Kinh về hành vi phản bội Bắc Việt. Phía Liên Xô nghĩ rằng đường lối này được sử dụng có thể đem lại hiệu quả tốt với những người Cộng sản và với các lực lượng tiến bộ khác, cho nên Mạc-Tư-Khoa tiếp tục tấn công vào mặt này. Các cuộc không kích gia tăng vào miền Bắc Việt Nam vào tháng 12 đã mang đến cho Liên Xô một cơ hội tốt hầu có lý do thay đổi chủ ý. Liên Xô đã tiến hành công tác tuyên truyền làm gia tăng sự nghi ngờ của Hà Nội (với Bắc Kinh) và còn làm mất uy tín của Trung Quốc bằng cách nhấn mạnh rằng, sự phản ứng quá yếu của Bắc Kinh đối với các cuộc thả bom, làm gia tăng quan hệ Trung-Mỹ trước chuyến thăm (TQ) của Tổng thống Mỹ. Tờ báo Sao Đỏ của quân đội Liên Xô đã buộc tội Chu Ân-Lai rằng ông ta có thể đã có thể "ngăn chặn các cuộc thả bom " chỉ bằng cách là hủy bỏ chuyến viếng thăm của " người bạn mới tại Tòa Bạch Ốc" (TT << Nixon arrives in China for talks >> là ngày 21.02.1972)

        ** Cuộc chiến mùa xuân 1975
        NATIONAL SECURITY COUNCIL- SECRET / SENSITIVE - URGENT ACTION MEMORANDUM FOR: SECRETARY KISSINGER -- FROM: WILLIAM L. STEARMAN - SUBJECT: North Vietnamese Intentions - October 19, 1973
        Theo bản văn của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (19.10.1973) phổ biến trên Thư Viện CIA: " Toan tính của Bắc Việt << National Security Council-North Vietnamese Intentions >> : Theo ước tính tình báo quốc gia về triển vọng ngắn hạn tại Việt Nam đã đi đến kết luận rằng việc Cộng sản mở cuộc tấn công vào mùa khô năm 1974 là gần kề, từ phạm vi nhỏ, sau đó sẽ tăng tốc trong những tháng tới. Chúng tôi tán đồng với ước tính về ý định của Hà Nội có khả năng sẽ leo thang - tạo ra các cuộc tấn công từng địa phương - làm tăng cơ hội mở ra chiến tranh toàn diện."
        " Đó là sự lựa chọn thực tế và Hà Nội sẽ lựa chọn mục tiêu mở cuộc tấn công lớn vào mùa khô này, và rằng Hà Nội sẽ mở cuộc tấn công sớm, hơn là chờ đợi để tấn công vào mùa khô 1974-1975. Quyết định của Hà Nội về thời gian sẽ dựa vào tình hình ở miền Nam và dựa vào lập trường của phía Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc."
        "Tuy nhiên, phía các quốc gia Cộng sản dường như đang thúc giục phía CSBV kiềm chế, phải cân nhắc về khả năng Hoa Kỳ sẽ lại tham gia vào cuộc chiến. Về tình hình viện trợ quân sự từ Liên Xô và Trung Quốc vẫn tiếp tục nhưng có lẽ sẽ giảm số lượng. Liên quan đến phản ứng của Hoa Kỳ, Hà Nội nhận xét về cơ hội các lực lượng Mỹ trở lại tham gia cuộc chiến "là nhỏ". Cuộc chiến tại Trung Đông có thể làm giảm thêm nỗi lo về sự trả đũa của Hoa Kỳ với Hà Nội, nhưng phía Bắc Việt không loại bỏ hoàn toàn khả năng việc Hoa Kỳ tái tham gia vào cuộc chiến."

        "Nếu Hà Nội không phát động cuộc tấn công trên toàn quốc vào mùa khô này, theo NIE dự đoán sẽ có các cuộc đụng độ qui mô nhỏ, để đo lường khả năng chiến đấu và phòng thủ lãnh thổ của quân đội VNCH . Tuy nhiên, tỷ lệ cao về một cuộc tấn công lớn sẽ diễn ra khi mùa khô 1974-1975 đến gần."
        " Chúng tôi đồng tình với kết luận ghi trong bản ước tính và đồng ý với các nhà phân tích, đã dự liệu việc địch quân sẽ sớm mở cuộc tấn công hơn là trì hoãn. Chúng tôi đồng ý rằng Bắc Việt có ý định - như là một ưu tiên hàng đầu: - để giải quyết tình hình ở miền Nam theo hướng có lợi cho họ và việc mở ra cuộc chiến toàn diện là gần như không thể tránh khỏi - ít nhất là trong vòng 18 tháng tới. Chúng tôi xem Vùng I là khu vực đe dọa lớn nhất. Tuy nhiên, một khi không có sự hỗ trợ từ trên không của Hoa Kỳ, hoặc Mỹ không tiếp tế cho QLVNCH sẽ khiến phía Cộng sản có lợi thế đáng kể."

        Để bạn đọc có cái nhìn khái quát hơn về tình hình quân sự của VNCH theo đánh giá bởi 3 cơ quan Bộ Ngoại Giao, CIA và DIA thực hiện vào tháng 3.1974 tiêu đề : "Đánh giá khả năng quân sự của Miền Nam Việt Nam << South Vietnam: A Net Military Assessment >>: Kết quả sẽ ra sao nếu có cuộc tấn công trên quy mô lớn lại nổ ra ở miền Nam Việt Nam trong vài tháng tới? Nếu Cộng sản phát động một cuộc tổng tấn công, chúng tôi tin rằng họ sẽ chiếm giữ một số lãnh thổ lâu dài. Chính phủ Việt Nam có thể sẽ không ngăn chặn được cuộc tấn công của Cộng sản nếu Hoa Kỳ không cung cấp hỗ trợ vũ khí đạn dược trong quy mô lớn. Hơn nữa, tác động tâm lý về sự thành công của Cộng sản của cuộc tấn công có thể đáng kể hơn so với tác động về phương diện quân sự. Do đó, tình huống có thể xảy ra là phía Chính phủ Việt Nam sẽ không thể giành lại thế chủ động nếu không có sự hỗ trợ của không quân và hải quân của Hoa Kỳ."

        Trở về điều kiện Mỹ " cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh.Về mặt lý thuyết, một khi phía bên kia không chịu đàm phán, chúng ta sẽ phải dùng biện pháp quân sự ". Điều này cho thấy đúng như tuyên bố củaTướng Westmoreland năm 1995 tại Nam Cali rằng: " ...chúng tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường (HCM) dù chúng tôi dư sức làm điều đó,... vi` việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều". Và như viết ở trên, dù đã được cảnh báo rằng nếu " Mỹ không tiếp tế cho QLVNCH sẽ khiến phía Cộng sản có lợi thế đáng kể", nhưng quân viện cho VNCH vẫn không được phía Mỹ tiến hành. Phải chăng để hoàn thành mục tiêu chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam nên << Mỹ bức tử VNCH để hợp tác với Tàu chống Liên Xô >> (Việt Báo ngày 03.03.2021)

        Bổ túc thêm về ý kiến cho rằng nếu như Quân Lực VNCH còn mạnh thời Mỹ sẽ tạo ra vụ "Lam Sơn 719" thứ hai để làm tiêu hao lực lượng của Miền Nam Việt Nam hầu Mỹ dễ bề thao túng. Xin tùy quyền thẩm định của bạn đọc.

        Đào Văn

        Ghi chú: Các hàng chữ trong ngoặc kép <<--->> là nguồn của bản văn Anh ngữ.


        Last edited by Phòng Trực; 04-27-2021, 01:10 PM.

        Comment


        • #5
          TT Thiệu nêu hai yêu cầu với TT Ford
          và TT Hương đưa ra đề nghị với ĐS Martin.



          * TT Thiệu đề nghị tái sử dụng máy bay B.52
          * TT Ford cử người đến VN nghiên cứu
          * TT Hương muốn nhờ đại sứ Pháp ...
          * QLVNCH không thua vì tinh thần và khả năng chiến đấu...



          Trước khi bàn về nội dung nơi tiêu đề, người viết muốn bổ túc thêm về do khiến TT Thiệu ra lệnh triệt thoái khỏi Quân Khu I QK II, do thứ hai này do Đại Sứ Martin nêu ra. Về do triệt thoái QKI QK II đã gửi đến bạn đọc trước đây: " Phó Thủ tướng Hảo đã lập luận gay gắt rằng các nguồn lực hiện không đủ để bảo vệ toàn thể lãnh thổ VNCH- Deputy Prime Minister Hao has argued strongly that resources at hand are insufficient to defend the entire present territory of the RVN. Hảo đề nghị bỏ Hảo đề nghị bỏ QK I và một số tỉnh thuộc QK II- << hoiquanphidung: BNG và CIA giải mật vụ di tản Pleiku-Kontum 1975. >>


          Trong điện văn gửi về Bộ Ngoại Giao, Đại sứ Martin ngoài việc nêu lý do TT Thiệu ra lệnh triệt thoái khỏi QK I và QK II, ông còn chia sẻ việc Hoa Thịnh Đốn không có phản ứng sau vụ CSBV đánh chiếm Phước Long (06.01.1975), và theo ông qua sự kiện này thời số phận của VNCH coi như ván đã đóng thuyền. Đại sứ Martin viết:

          " Khi chúng ta không có phản ứng gì sau vụ Phước Long, thì cái chết (của VNCH) đã được định sẵn- When we did not react after Phuoc Long, the die was cast.. Việc Trần Văn Lắm giải thích với Thiệu rằng sẽ không có khoản viện trợ nào nữa chứ chưa nói đến bất kỳ khoản bổ sung nào, sự việc đã khiến Thiệu tiến hành cuộc di tản thảm khốc tại Quân Khu I và QK II<<Tran Van Lam’s interpretation to Thieu that there would be no further aid let alone any supplemental,pushed Thieu into the disastrously executed evacuation of MR’s 1 and 2.>>.


          Sau đây là tóm lược lá thư của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gửi tổng thống Ford, lá thư đề ngày 25.03.1975, lá thư này cũng là lá thư chót của TT Thiệu đề nghị TT Ford thực hiện hai việc. Tiếp đến là thư trả lời của TT Ford về yêu cầu của TT Thiệu, cả hai lá thư này trích từ Thư Viện Gerald R. Ford.


          * Thư của TT Thiệu gửi TT Ford

          " NGUYEN VAN THIEU President of the Republic of Vietnam
          Saigon, March 25, 1975 - Dear Mr. President,..."

          "Khi tôi viết thư này cho Tổng thống, tình hình quân sự ở Nam Việt-Nam đang rất nghiêm trọng và đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Như Tổng thống đã biết, sự mất cân bằng nghiêm trọng trong cán cân lực lượng có lợi cho phía Bắc Việt Nam cũng như các lợi thế chiến lược của họ, tích lũy trong hai năm qua, cho thấy tình hình nguy cấp hiện nay, đặc biệt là tại QK I và QK II. Sức ép nặng nề cũng đang xảy ra trên tất cả các phần còn lại của lãnh thổ quốc gia chúng tôi, và ngay tại Sài Gòn này cũng đang bị đe dọa - Heavy pressures are also being exerted on all the rest of our national territory, and Saigon itself is threatened. Rõ ràng là chúng tôi sẽ vô cùng khó khăn trong việc ngăn chặn bước tiến của lực lượng Cộng sản hầu giữ vững phòng tuyến để đẩy lùi quân xâm lược.

          Hà Nội cố tình lợi dụng Hiệp định Paris để tiến hành quân sự hóa miền Nam Việt Nam, mưu đồ của họ đã được chúng tôi biết rõ ngay tại thời điểm đàm phán Hiệp định Paris. Tổng thống có lẽ còn nhớ rằng chúng tôi đã ký vào Hiệp định này, không phải vì chúng tôi tin tưởng vào thiện chí của đối phương, mà vì chúng tôi tin vào giải pháp chung của hai chính phủ để làm cho Hiệp định có hiệu lực- not because we credulously believed in the enemy's goodwill, but because we were certain of the common resolution of our two governments to make the Agreement work.
          Để làm bằng chứng cho việc ký kết đó, chúng tôi nhận được sự cam kết chắc chắn rằng Hoa Kỳ sẽ trả đũa nhanh chóng và mạnh mẽ đối với bất kỳ hành vi vi phạm Hiệp định nào của đối phương và sẽ cung cấp cho Việt Nam Cộng hòa đầy đủ về kinh tế và quân sự -As evidence of that resolution, firm pledges were then given to us that the United States will retaliate swiftly and vigorously to any violation of the Agreement by the enemy and will provide the Republic of Viet-Nam with adequate military and economic assistance.
          Chúng tôi coi những cam kết đó là những bảo đảm quan trọng nhất của Hiệp định Paris; những cam kết đó giờ đây đã trở thành những cam kết quan trọng nhất đối với sự sống còn của chúng tôi - We consider those pledges the most important guarantees of the Paris Agreement; those pledges have now become the most crucial ones to our survival.
          Thưa Tổng Thống, vào giờ phút quan trọng này khi số phận của miền Nam Việt Nam tự do đang bị đe dọa và nỗi kinh hoàng về một cuộc tấn công của kẻ thù đang giáng xuống toàn thể người dân miền Nam Việt Nam, tôi tha thiết đề nghị tổng thống thực hiện hai hành động cần thiết sau đây -
          Mr. President, At this critical hour when the fate of the free South Vietnam is at stake and when the horror of the enemy's offensive is descending upon the entire population of South Viet-Nam, I earnestly request that you take two following necessary actions :



          - Ra lệnh ngay lập tức mở cuộc không kích B-52 ngắn gọn nhưng dồn dập nhằm vào sự tập trung binh lực các căn cứ hậu cần của địchmiền Nam Việt Nam, với cường độ ngang với những đã thực hiện trong thời điểm quan trọng nhất của năm 1972, - To immediately order a brief but intensive B-52 air strike against enemy's concentration of forces and logistic bases within South Vietnam, with intensity comparable to what was done in the most critical hour of 1972, and

          - Khẩn cấp viện trợ cho chúng tôi các phương tiện cần thiết để ngăn chặn và đẩy lùi cuộc tấn công - To urgently provide us with necessary means to contain and repel the offensive.
          Chỉ với hai hành động này, chúng tôi mới có thể ngăn chặn được quân Bắc Việt Nam xâm chiếm Nam Việt Nam bằng vũ lực bất chấp Hiệp định Paris; chỉ với hai hành động này, chúng tôi mới có thể ngăn họ đối đầu với chúng tôi.
          Thưa Tổng thống, một lần nữa, tôi kêu gọi Tổng thống, với uy tín về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, và đặc biệt, đối với lương tâm của Hoa Kỳ. Hãy nhanh chóng gia hạn tính liên tục của chính sách đối ngoại của Mỹ với chúng tôi, nhằm đảm bảo và hiệu quả của các cam kết hiện có. Tôi rất vui vì tổng thống quyết tâm thực hiện đầy đủ các cam kết này trong chính quyền của Tổng thống. Như Tổng thống đã lưu ý một cách đúng đắn, những đảm bảo này đặc biệt hữu ích cho Việt Nam Cộng hòa.
          Nhiều thế hệ người miền Nam Việt Nam sẽ không còn sợ sống trong nỗi lo âu bởi sự thống trị của Bắc Việt-Nam, họ sẽ mang ơn những hành động kịp thời của Tổng thống, và lòng kiên trung của những người dân vĩ đại Hoa Kỳ. Trân trọng." -
          Theo thư viện Gerald R. Ford << Thư của TT Thiệu gửi TT Ford ngày 25.03.1975 - p.57>>

          * Thư của TT Ford gửi trả lời TT Thiệu
          Sau đây là tóm lược thư đề ngày 25.03.1975 của tổng thống Ford gửi trả lời thư của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong thư trả lời, TT Ford không nhắc đến việc TT Thiệu yêu cầu Mỹ cho máy bay B.52 tái hoạt động để trợ giúp đẩy lui quân CSBV. Còn yêu cầu về quân viện, TT Ford cho hay sẽ cử người đến xem xét tình hình tại chỗ trong khi phía VNCH đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng...
          "Tôi rất thấu hiểu trong thời gian khó khăn hiện nay mà Ngài đang phải đối diện. Cho nên tôi đã yêu cầu Đại sứ Martin chuyển đến Ngài sự ngưỡng mộ của tôi về sự quyết tâm, và lòng dũng cảm của Ngài. "


          " Tôi rất lấy làm tiếc rằng những sự kiện xảy ra trong mười hai tháng qua, những sự kiện không ai trong chúng tôi thể kiểm soát- việc Hoa Kỳ giảm sự hỗ trợ vật chất điều chính phủ của Ngài đang mong đợi nhận được. Mặc tôi vô cùng hối tiếc về quyết định tái bố trí lực lượng Ngài cảm thấy buộc phải thực hiện, tôi hoàn toàn hiểu do của những hành động này nhằm giảm thiểu các khó khăn hầu tập trung các lực lượng quân sự của Ngài để bảo vệ các khu vực quan trọng." - "Vấn đề thiết yếu hiện tại là xác định chính xác những phương thức mà cả hai chúng ta có thể thực hiện để tạo ra triển vọng tốt nhất cho tương lai. Mặc dù Ngài có thể đã nhận được một đánh giá khá ảm đạm về thái độ của công chúng và Quốc hội Mỹ về triển vọng nhận đủ số lượng viện trợ kinh tế và quân sự, tôi nghĩ tình hình hiện nay đã thay đổi đáng kể.Các hoạt động tái triển khai quân sự của Ngài đã mô tả thực tế của tình hình Việt Nam hiện nay, và Ngài đang rất mong mỏi về khoản viện trợ khẩn cấp bổ sung.

          Ngài có thể yên tâm rằng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để Quốc hội chuẩn chi những khoản viện trợ thích đáng cho miền Nam Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy rằng điều này phải được thực hiện kịp thời.

          Để đảm bảo rằng tôi được thông báo đầy đủ về các yêu cầu viện trợ quân sự, chúng tôi cần được chuẩn bị đặc biệt hầu đáp ứng nhu cầu thực tế hiện tại của Ngài, tôi đã lệnh cho người bạn cũ của Ngài, là Tướng Fred Weyand, sẽ tháp tùng Đại sứ Martin trong chuyến trở lại Sài Gòn. Tôi chắc chắn rằng Ngài sẽ trình bày tình hình hiện tại với ông ta một cách đầy đủ, và cho ông ta biết chi tiết về những hạng mục mà Ngài và các cố vấn quân sự của Ngài cho là quan trọng nhất vào lúc này.

          Tôi cũng biết rằng một số thành viên trong chính phủ của Ngài đôi khi đã suy đoán rằng vì lợi ích của Mỹ ở những nơi khác đã làm giảm bớt sự quan tâm của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Đại sứ Martin thông báo với tôi rằng Ngài hiểu điều này không phải là sự thật, vì cách chúng tôi thực hiện cam kết của mình với Việt Nam Cộng hòa chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích của Mỹ ở khắp mọi nơi. Do đó, chúng tôi kiên định vẫn sẽ giúp đảm bảo khả năng kinh tế và khả năng bảo vệ tự do và thể chế của Việt Nam Cộng hòa - Therefore, our firm intention remains to help insure the Republic of Vietnam’s economic viability and its capability to defend its own freedom and institutions."
          "Để đạt được những mục tiêu này đòi hỏi cả hai bên phải nỗ lực tối đa. Nó cũng đòi hỏi chúng ta phải giữ liên lạc chặt chẽ và thân mật. Tôi đã yêu cầu Đại sứ Martin chuyển trực tiếp cho tôi mọi thông tin mà Ngài cho là cần thiết.
          Trong quá khứ cả hai dân tộc của chúng ta đều đã vượt qua những thời điểm thậm chí còn khó khăn hơn. Ngài và đồng bào của Ngài yên tâm về sự quyết tâm sẽ làm tất cả những gì có thể giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa-to do everything I can to help the Republic of Vietnam. Một lần nữa, tôi tin tưởng rằng những nỗ lực chung của chúng ta sẽ thành công Once again, I am confident that our joint endeavors will be successful.. Với những lời chúc tốt đẹp nhất của cá nhân tôi. Trân trọng, Gerald R. Ford". Theo thư viện Gerald R. Ford << Thư của TT Ford gửi TT Thiệu ngày 25.03.1975 - p.63 >>

          * Tổng thống Trần Văn Hương muốn nhờ Đại sứ Pháp...

          Sau ngày TT Thiệu từ chức (21.04.1975), Phó TT Trần Văn Hương lên thay thế... Phần sau tóm lược điện văn ngày 22.04.1975 của Đại sứ Martin (Sài Gòn) gửi cho Cố vấn An Ninh Quốc gia TS. Kissinger (Hoa Thịnh Đốn) về cách ứng xử của Tân Tổng thống Trần Văn Hương. Theo điện văn trên thư viện online của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. <<Message From the Ambassador to Vietnam (Martin) to the President’s Assistant for NSA (Kissinger) >>:

          "Tôi đã gặp tân Tổng thống Hương vào khoảng một giờ chiều nay. Một bản ghi nhớ chi tiết về cuộc trò chuyện sẽ được soạn thảo và chuyển đi trong thời gian thích hợp. Nhưng những ấn tượng cơ bản tôi ghi nhận là như sau:

          -Thứ nhất, Hương không nghĩ mình là Tổng thống lâm thời. Ông ta nhận thấy Việt Nam đang ở trong tình thế hiểm nghèo vô cùng. Ông ta sẵn sàng đưa ra những nhượng bộ mà một số chính trị gia Việt Nam khác cảm thấy có thể làm được để giữ cho Sài Gòn tránh khỏi trở thành “một vũng máu”, và hy vọng duy trì càng lâu càng tốt một miền Nam Việt Nam độc lập với những chính sách đối ngoại mà ông ta hiểu sẽ phải được thay đổi hoàn toàn trong tiến trình thích hợp.- Thứ hai, ông ta đã tiếp Thủ tướng Cẩn vào sáng nay, người đã đề nghị chính phủ từ chức. Ông ta bảo ông Cẩn phải ở lại vị trí trong một tuần, để ông ta xem xét những phương án nào có thể phục vụ tốt nhất cho Việt Nam trong tình hình hiện tại. Ông ta rất muốn biết những cái tên cụ thể nào trong giới chính trị Việt Nam có thể được Hà Nội chấp nhận. Ông ta hy vọng sẽ có một số phương pháp liên lạc với Hà Nội, nhưng không biết gì ngoại trừ cơ chế Bốn Bên tại La Celle St. Cloud.Đại sứ Phong, người được lệnh quay trở lại vào thứ Hai đã gửi thông báo rằng ông không thể đến nơi trước thứ Sáu.Tôi gợi ý rằng hệ thống Bốn Bên – Hai Bên hiện có tại Sài Gòn bao gồm các chuyến bay liên lạc đến Hà Nội, có thể chứng tỏ một kênh hữu ích và không phô trương. Ông ta đang xem xét điều này - I suggested that the Four Party–Two Party system existing in Saigon including the liaison flights to Hanoi, might prove a useful and unobtrusive channel. He is considering this.

          -Thứ ba, ông ta rất muốn Washington sẽ là đầu mối liên kết với Hà Nội trong việc vạch ra các phương thức về một số thỏa thuận mới trong chính phủ mà Hà Nội sẽ chấp nhận và miền Nam Việt Nam có thể tồn tại. Tôi nói rằng tôi sẽ chuyển lời yêu cầu của ông ta, nhưng tôi nghĩ rằng sẽ có rất ít sự quan tâm ở Washington trong khi quân địch hiện đang tập trung ở Nam Việt Nam. Ông ta nói sẽ đi gặp Đại sứ Pháp vào sáng mai và sẽ nhờ truyền đạt ý kiến của chúng tôi với phía Hà Nội. Ý kiến rằng ông ta phải cần thời gian để thành lập một Nội các có thể chấp nhận được một cách hợp lý đối với người dân Nam Việt-Nam và cũng có thể chấp nhận được đối với Hà Nội-stating that he had to have time to form a Cabinet that would be reasonably acceptable to the people of South Vietnam and also acceptable to Hanoi. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu xem ông ta nói gì với Đại sứ Pháp vào sáng mai.

          -Thứ tư, ông ta vẫn trông cậy vào việc Hoa Kỳ cung cấp đầy đủ viện trợ quân sự ngay bây giờ để bảo toàn nguyên vẹn tinh thần và khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nếu không có bất kỳ cuộc thương lượng nào sẽ là vô vọng và không thể tránh khỏi sự đầu hàng- Fourth, he is still counting on the United States to provide sufficient military aid now to preserve intact the morale and capability of the ARVN without which any negotiation would be hopeless and capitulation inevitable. Ông ta đề nghị tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Tổng thống Ford trong việc bảo vệ các cam kết trước đây mà Việt Nam đã liên hệ.Ông ta hy vọng rằng sự tàn phá của cuộc tấn công do Bắc Việt gây ra có thể làm thay đổi thái độ trong Quốc hội để cho phép chiến dịch được tiến hành thành công bởi Tổng thống và Bộ trưởng.- He hoped that the nakedness of the North Vietnamese attack might sufficiently change attitudes in Congress to permit the campaign being waged by the President and the Secretary to be successful..

          2. Ấn tượng của tôi từ Đại sứ Pháp là người Pháp đã khuyên Hà Nội không nên tiến hành một cuộc tấn công quân sự ngay lập tức và hãy dành một ít thời gian để cân nhắc xem liệu việc đàm phán có thể không mang lại kết quả thuận lợi hơn nhiều hay không cho Hà Nội trước dư luận của thế giới. Tôi thu thập được ý kiến của người Pháp rằng lời khuyên của họ đã được lắng nghe và sự tạm lắng dịu trong giao tranh hiện nay dường như giải quyết được điều này.

          3. Bất kể thông tin tình báo về các cuộc di chuyển, dường như Hà Nội có thể đang di chuyển lực lượng vào vị trí, họ có thể sẽ cho thêm thời gian để xem điều gì sẽ xảy ra. Do đó, tôi hy vọng ông bớt lo toan và bản thân chúng ta sẽ không gây ra một thảm kịch cuối cùng bằng cách ra lệnh cho những hành động chưa được chứng minh. Một khi có quyết định khẩn cấp có thể nên kiểm tra với tôi trước khi có bất kỳ hướng dẫn nào."

          Theo thư của TT Ford nêu trên (ngày 25.03.1975) là cử Tướng Frederick Weyand đến Việt Nam để quan sát tình hình. Trong khi đó cùng ngày 25.03.1975 tại Việt Nam phía CSBV đã chiếm thành phố Huế. Vào ngày 03.04.1975 cũng là ngày tướng Frederick Weyand gặp TT Thiệu tại Dinh Độc Lập, thì vào ngày này (03.04.1975) CSBV đã chiếm Nha Trang và Đà Lạt. Dựa theo bản tin có kèm hình ảnh tại Dinh Độc Lập của Kennerly.com tiêu đề << The Final Days of Vietnam >>:


          "Vào ngày 3 tháng 4 năm 1975, tại văn phòng trong Phủ Tổng thốngSài Gòn, Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu đã gặp Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, Tướng Frederick Weyand Đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam Graham Martin, người đã theo lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald R. Ford đến Việt Nam để xem xét liệu thể làm để ngăn chặn sự tiếp quản của Cộng sản hay không- to see if anything could be done to stop a Communist takeover." Việc c tướng Weyand đến Việt Nam phải chăng TT Ford muốn kéo dài thời gian nhằm tránh trả lời hai đề nghị của Tổng Thống Thiệu.

          Xin tiếp lời của Đại Sứ Martin ghi trên: " Khi chúng ta (Mỹ) không có phản ứng gì sau vụ Phước Long, thì cái chết (của VNCH) đã được định sẵn". Dựa vào nhận xét này và việc Mỹ từ chối lời yêu cầu cấp quân viện của hai TT Thiệu và TT Hương viết trên, phải chăng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thuatinh thần và khả năng chiến đấu, mà thua vì quyền thế của kẻ nắm hầu bao.

          Đào Văn

          Chú thích: Các tài liệu gốc nằm trong Hộp số 5, thư mục “Việt Nam - Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” liên quan đến Thư tín Tổng thống của Cố vấn An ninh Quốc gia với Bộ sưu tập của các nhà lãnh đạo nước ngoài tại Thư viện Tổng thống Gerald R. Ford.-The original documents are located in Box 5, folder “Vietnam - President Nguyen Van Thieu” of the National Security Adviser’s Presidential Correspondence with Foreign Leaders Collection at the Gerald R. Ford Presidential Library

          Last edited by Phòng Trực; 04-27-2021, 01:13 PM.

          Comment



          Hội Quán Phi Dũng
          Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




          website hit counter

          Working...
          X