BUỒN VUI ĐỜI LÍNH... VĂN PHÒNG (phần 4)
Những người muôn năm cũ…
Hồi ký
Nguyễn Hữu Thiện
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

- NGUYỄN THỊ HẠNH NHƠN
Hơn ba tuần lễ sau khi NT Huỳnh Hữu Hiền, đời tư lệnh thứ ba của KQVN, qua đời, cựu Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, nguyên Phân đoàn trưởng Nữ Quân Nhân Không Quân, cỡi hạc về trời. Hưởng thọ 90 tuổi.
Hiện nay, vào trang Google chúng ta sẽ thấy ba cựu sĩ quan Không Quân VNCH được đề cập tới nhiều nhất là cựu Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, và cựu Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.
Trong số ba niên trưởng KQ nói trên, ông Nguyễn Cao Kỳ bị chê nhiều hơn được khen, ông Nguyễn Xuân Vinh thì được khen nhiều hơn bị chê, riêng bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn thì chỉ được khen chứ không thấy ai chê!
Muốn biết tại sao bà được khen chỉ cần nhắc tới thành quả của Hội HO, Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH do bà làm Tổng Thư ký từ năm 2004, và Hội Trưởng từ năm 2006.

Xin trích đăng một số đoạn của nhà văn/nhà báo Huy Phương (1937-2022) viết cho đài VOA sau khi bà qua đời:
Người điều hành Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), một Hội âm thầm hoạt động từ hơn 20 năm nay tại quận Cam, California, để giúp thương phế binh VNCH, là một phụ nữ cao niên, được mọi người quý mến, vừa mới ra đi, hưởng thọ 90 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn đã đi suốt hành trình bên cuộc chiến từ ngày còn Quân Đội Liên Hiệp Pháp cho đến khi tan hàng vào tháng 4 năm 1975 trong vai trò một nữ quân nhân, kê vai gánh vác trách nhiệm cùng nam phái.
Khởi đầu binh nghiệp, bà là nhân viên đồng hóa của Sở Tài Chánh của Việt Binh Đoàn (Trung Việt), sau đó là Nữ Phụ Tá trong Quân Đội VNCH. Năm 1965, khi chiến tranh chống Cộng càng ngày càng ác liệt, đòi hỏi nhiều nam quân nhân ở chiến trường, Đoàn Nữ Quân Nhân (NQN) được thành lập để làm các công tác hậu phương, bà Hạnh Nhơn là một trong những nữ quân nhân đầu tiên lo xây dựng Đoàn và Trường NQN để huấn luyện tân binh. Cuối năm 1975, bà là Phân Đoàn Trưởng Nữ Quân Nhân, làm việc tại Bộ Tư Lệnh Không Quân (Tân Sơn Nhất), mang cấp bậc Trung Tá.
Sau tháng 4-1975, cùng theo với vận nước, bà Hạnh Nhơn cũng đã như những quân cán chính của miền Nam, bị tập trung “cải tạo,” bỏ lại một gánh nặng gia đình 8 đứa con cho chồng.
Bà ra tù Cộng Sản vào tháng 4 năm 1979, tần tảo với một đàn con, lớn nhỏ cho mãi đến tháng 11 năm 1990 mới đặt chân đến Hoa Kỳ. Hơn ba năm tù tập trung trong trại “cải tạo” Cộng Sản, sang định cư tại Mỹ, ngày ấy Bà đã 63 tuổi, đáng lẽ giờ đó bà phải được an hưởng tuổi già trên mảnh đất này, nhưng những người bà nghĩ đến đầu tiên khi cuộc sống đã tạm ổn định, chính là những người cùng chung hoàn cảnh tù đày sau chiến tranh, vừa đến Mỹ hay sắp đến Mỹ.
Đó là những công việc của Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị do ông Nguyễn Hậu làm Hội Trưởng. Như việc nhà, với vai trò Hội Phó, bà khéo léo đảm đang, lo được phần nào cho những người bạn tù đến sau, từ việc bảo trợ, cho đến đón tiếp, hướng dẫn. Trong thời gian này, bà cũng là người sáng lập Nguyệt San “Hội Ngộ” đăng tải các tin tức và bài vở của anh em cựu tù nhân mới đến Mỹ, dù khó khăn về tài chánh, tờ báo cũng đến tay được anh chị em cựu tù nhân mười bốn lần (14 số), nỗ lực của một phụ nữ chưa hề viết văn, làm báo.
Nhưng nỗi ám ảnh trong lòng Bà Hạnh Nhơn chính là mối lo âu về số phận của anh em thương phế binh đang sống cuộc đời bất hạnh ở quê nhà. Bà cũng như chúng tôi, là những người lành lặn sau cuộc chiến, đã bỏ các chiến hữu của mình lại trên trận địa, trong bàn tay của đối phương. Không những thương binh VNCH đã không có năng lực dùng bàn tay, trí óc của mình để bươn chãi kiếm kế sinh nhai, họ còn phải sống trong một xã hội kỳ thị, hận thù, con cái không có cơ hội tiến thân và tương lai thì vô vọng, mờ mịt.
Ngày nay Saigon đã mất, Quân Đội VNCH đã không còn, không còn tổ chức nào gọi là Bộ Cựu Chiến Binh, tất cả còn lại đều là sự dùm bọc của những người may mắn cho kẻ bất hạnh, của những lành lặn cho người thương tật, của người có cơ hội ra đi để lo lắng cho người ở lại.
Bà Hạnh Nhơn và một số anh em cựu tù khác đã sáng lập ra Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Cô Nhi Quả Phụ VNCH, nhằm giúp đỡ thiết thực tới những người khốn khổ, tuyệt vọng ở quê nhà, là những người lính VNCH thương tật trong cuộc chiến, những quả phụ và cô nhi còn nhỏ dại.
Ngày ấy tên tuổi của Hội chưa ai biết, vấn đề lo cho thương phế binh cũng còn xa lạ với đồng hương, Hội chỉ có khả năng gom góp từ những người quen biết và tìm tòi các “địa chỉ bất hạnh” ở quê nhà, gọi là những phần quà an ủi hơn là những sự giúp đỡ.
Từ một nhóm nhỏ anh chị em cựu tù nhân đã sống qua những ngày tù tội dưới chế độ Cộng Sản, ngồi lại với nhau, mỗi năm chỉ kiếm được vài nghìn giúp anh em thương binh VNCH trong hoàn cảnh chật vật, đến Hội H.O. Cứu Trợ TPB-QP/VNCH, qua chặng đường 20 năm đã lớn mạnh, về tầm vóc hoạt động, uy tín với con số gây quỹ, mỗi năm quyên được hơn 1 triệu Mỹ kim, gửi giúp cho hơn hàng chục nghìn lượt thương binh và quả phụ VNCH ở quê nhà.
Tất cả các Thương Phế Binh VNCH, neo đơn, cơ cực ở quê nhà đều xem bà Hạnh Nhơn là ân nhân lớn. Người ta ca tụng Bà như một bà Mẹ Teresa, một vị Bồ Tát của hàng chục nghìn thương binh VNCH, tuy hoàn cảnh xa xôi đến nửa vòng trái đất, nhưng tấm lòng và những đồng bạc an ủi luôn luôn gần gũi thắm thiết.
Bà Hạnh Nhơn là một niên trưởng trong Quân Đội, và Bà xứng đáng được tôn vinh như là một người Chị của anh em thương binh! Bà không có tầm vóc của một Tướng Lãnh để điều động nghìn binh sĩ, bà cũng không phải là người có uy tín sẵn để thu phục lòng người. Ngày này sang ngày nọ, từng bước một âm thầm, kiếm từng đồng bạc từ hải ngoại gửi về cho anh em thương binh.
Hải ngoại tin tưởng ở đạo đức và tấm lòng của Bà, anh em thương binh ở quê nhà tìm đến địa chỉ Bà càng ngày càng đông, cái tên Hạnh Nhơn trở thành nơi nương tựa cho những người lính chiến bỏ cuộc nửa chừng, bỏ một phần thân thể ngoài trận địa, không còn đơn vị, không còn đồng đội!
Bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn mất đi là một cái tang chung cho anh em thương phế binh VNCH ở quê nhà, giữa sự thương tiếc vô vàn của đồng bào hải ngoại. Bà Hạnh Nhơn sống cuộc đời bình thường của một người vợ, người mẹ trong gia đình, một người lính thời chiến, một người tù thất trận, làm những công việc bình thường, nhưng khó có ai thay thế được. Thương tiếc Bà!
Huy Phương
* * *
Với anh em Không Quân VNCH trong đó có tôi, sau khi ra hải ngoại Bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn luôn luôn được gọi là “Chị” với lòng trân quý.
Trước năm 1975, tôi không có cơ hội gặp gỡ Chị, chỉ nghe danh “Bà Hạnh Nhơn” là một người… “hắc ám”!

Còn nhớ tại CCKQ Biên Hòa, ngày nào thấy các cô nữ quân nhân thuộc Phòng Xã Hội BCH/KT&TV/KQ và Phòng Xã Hội SĐ3KQ ăn mặc chỉnh tề, tóc tai gọn ghẽ, đi làm đúng giờ là biết hôm đó có Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn ở BTL/KQ về thanh tra.
Sau khi ra hải ngoại, khi bắt tay vào việc biên soạn cuốn QSKQ, nhờ Đại tá Phùng Văn Chiêu giới thiệu với các vị niên trưởng trong quân chủng, tôi không bao giờ nghĩ ông sẽ giới thiệu cựu Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, nhưng ông đã giới thiệu và Chị là một trong những vị Niên trưởng KQ đầu tiên trực tiếp liên lạc, khích lệ Ban thực hiện QSKQ đồng thời gửi bài viết Phân Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân và nhiều hình ảnh cũ cho đặc san Lý Tưởng Úc Châu. (Phụ lục)
Sau khi quyển QSKQ được phát hành vào năm 2005, một vị sĩ quan cấp tá tên tuổi trong quân chủng đã có bài phê bình nội dung, nêu ra những thiếu sót trong cuốn sách.
Việc ông phê bình nội dung cuốn sách khô khan, nhàm chán, chúng tôi không có ý kiến, bởi nói cho cùng đây chỉ là một quyển “quân sử” chứ không phải “chiến sử” cho nên khô khan là lẽ đương nhiên.
Nhưng trong phần nêu ra các thiếu sót, việc ông than phiền Phân Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân chẳng có bao nhiêu người mà lại được đưa vào cuốn Quân Sử trong khi ngành Quân Y Hàng Không, Kiểm Báo, Phòng Thủ... quan trọng như thế mà lại bị bỏ quên, tôi xin phân trần như sau:
Sau khi phổ biến Thông Báo thành lập Ban thực hiện QSKQ vào năm 2001, mời gọi các vị niên trưởng, chiến hữu KQ cung cấp tài liệu, bài viết về ngành nghề của mình, chúng tôi đã nhận được một số bài viết, như Ngành Quan Sát trong KLVNCH của anh Võ Ý, Ngành Trực Thăng trong KLVNCH của anh Đỗ Văn Hiếu, Phi Đoàn 2 Khu Trục của NT Trần Bá Hợi, Phân Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân của NT Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, trong khi không có bài nào về các ngành Quân Y Hàng Không, An Ninh Không Quân, Kiểm Báo, Quân Báo, và Phòng Thủ.
Mãi tới giữa năm 2004, khi KQ Vũ Văn Bảo đã hoàn tất phần layout, chuẩn bị giao cho nhà in, chúng tôi mới nhận được bài Sự hình thành của ngành An Ninh Không Quân, một bài viết rất công phu của NT Đặng Hữu Hiệp, và tôi đã cố gắng cô đọng để anh Bảo tìm cách đưa vào nội dung cuốn QSKQ (đã được hoàn tất).
Sau khi sách đã được phát hành, chúng tôi mới thấy phổ biến trên một số website các bài Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân của NT Vũ Văn Ước, Quân Y Hàng Không của NT Y Sĩ Nghiêm Xuân Húc, và Liên Đoàn Kiểm Báo của NT Trần Đình Giao.
Tất cả những bài viết muộn này cùng với những bài chúng tôi đã nhận được trước đây đều được phổ biến trên mục Quân Sử Không Quân của Hội Quán Phi Dũng.
* * *
Trở lại với NT Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, thiết nghĩ những gì nhà văn/nhà báo Huy Phương viết về Chị đã đủ để những ai không biết, hoặc không biết nhiều về Chị phải yêu mến, ngưỡng phục.
Riêng anh em trong Ban thực hiện QSKQ, tòa soạn đặc san Lý Tưởng Úc Châu nói riêng, anh chị em trong Hội Không Quân Victoria nói chung, chỉ mong có ngày Chị ghé Melbourne để được đón tiếp.
Và tôi tin rằng nếu việc đó xảy ra, Chị sẽ là người được đón tiếp có thể không “long trọng” bằng nhưng chắc chắn sẽ “linh đình thịnh soạn” hơn các vị niên trưởng KQ đã tới thăm Úc trước đây.
Nguyên nhân? Chị không chỉ được yêu mến mà còn là niềm hãnh diện, là thần tượng của các nàng dâu KQ Victoria! Các nàng khen Chị đẹp, sang, tới khi có tuổi tóc bạc lại càng sang, trông càng phúc hậu!
Riêng với tôi, một vị nữ lưu như Chị xứng đáng sánh với các bậc mẫu nghi. Và mỗi khi nhớ tới quyển QSKQ, tôi lại cảm thấy thanh thản vì ngày ấy đã quyết định cho đăng bài Phân Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân trong phần Phụ Lục, cho dù "lực lượng" của Chị chỉ là vài trăm bóng hồng lẻ loi bên cạnh hơn 60 nghìn đấng tu mi nam tử!

- NT VÕ DINH
Hai tháng sau ngày NT Nguyễn Thị Hạnh Nhơn vĩnh viễn ra đi, NT Võ Dinh đã bay phi vụ cuối cùng vào ngày 17 tháng 6, 2017, cũng tại California. Hưởng thọ 89 tuổi.
Trở lại thời gian thực hiện cuốn QSKQ của Liên Hội Ái Hữu Không Quân Úc Châu, sau khi phổ biến Thông Báo thành lập Ban thực hiện QSKQ vào năm 2001, và mời gọi các vị niên trưởng, chiến hữu KQ tham gia công việc chung, nếu không kể các vị niên trưởng được cựu Đại tá Phùng Văn Chiêu giới thiệu thì cựu Thiếu tá Trần Phước Hội và cựu Chuẩn tướng Võ Dinh là hai người đầu tiên tự động liên lạc với chúng tôi.
Ngay trong lá thư đầu tiên của mình, cùng với những lời khích lệ, lời hứa giúp đỡ, NT Võ Dinh còn đề nghị chúng tôi liên lạc thêm với những vị niên trưởng mà ông tin rằng còn nhớ nhiều về thuở ban đầu của quân chủng, như cựu Đại tá Vũ Văn Ước, cựu Đại tá Trần Phước, cựu Đại tá Huỳnh Minh Quang, cựu Đại tá Vũ Thượng Văn...
Nhận được thư NT Võ Dinh tôi rất mừng. Mặc dù trước năm 1975 tôi chỉ được nói chuyện với ông một lần duy nhất (khi được ông Từ Văn Bê trao nhiệm vụ về Tân Sơn Nhất tới tư gia trong cư xá sĩ quan trao tận tay ông một số hồ sơ) nhưng qua những nhận xét của ông Bê, của ông Lê Bá Định và bạn bè làm việc dưới trướng vị Tham mưu trưởng cuối cùng của quân chủng, tôi biết mình đã có được một “điểm tựa” vững chắc.
Trong thời gian tôi làm công việc biên soạn, NT Võ Dinh đã viết cho tôi năm lá thư, thư đầu để khích lệ, ba thư kế tiếp để trả lời ba Thư tham khảo, sau cùng là thư trả lời Thư tham khảo bổ túc.
Sau khi cuốn Quân Sử Không Quân VNCH được phát hành vào Ngày Không Lực 1 tháng 7 năm 2005 (kỷ niệm 50 năm ngày thành lập KQVN), gửi biếu NT Võ Dinh một cuốn xong là tôi... lơ luôn!
Một cách chính xác, tôi không bao giờ quên NT Võ Dinh nhưng chỉ vì lười viết thư, lười điện thoại. Phải đợi tới khi bào đệ của ông là cựu Đại tá Võ Quế (nguyên Không đoàn trưởng Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku) qua đời tại Hoa Kỳ, tôi mới bỏ công viết thư chia buồn; một lần rồi thôi.
Từ đó, tất cả những gì nhắc nhớ tới NT Võ Dinh, với tôi, chỉ là tin tức, hình ảnh do bạn bè từng phục tại Văn Phòng TMT thỉnh thoảng gửi sang, cũng như tên của NT và số tiền 20 Mỹ kim ủng hộ trong danh sách độc giả Lý Tưởng - Úc Châu.
Số là cho tới những năm cuối đời, NT Võ Dinh vẫn tiếp tục là “độc giả trung thành” của đặc san Lý Tưởng Úc Châu; mỗi năm ông không quên gửi 20 Mỹ kim cước phí hai số báo cho KQ Bùi Tá Khánh (PĐ-219), đại diện Lý Tưởng Úc Châu và Ban thực hiện Quân Sử Không Quân tại Hoa Kỳ.
Thực ra Lý Tưởng Úc Châu được gửi tới NT Võ Dinh dưới hình thức “Kính Biếu” thay lời cảm ơn NT đã tận tình chiếu cố, giúp đỡ, và khích lệ trong việc thực hiện quyển QSKQ, nhưng có lẽ vì là người trọng nguyên tắc, NT đã gửi trả “tiền tem”.
Mỗi lần thấy tên NT Võ Dinh trong danh sách ấy, trong lòng tôi rất mừng, bởi biết rằng một khi ông còn đọc báo được là còn minh mẫn, và (có lẽ) còn mạnh khỏe.
Nhưng chỉ ít lâu sau khi KQ Bùi Tá Khánh nhận được 20 Mỹ kim cho năm 2017, chúng tôi được tin ông đã ra đi khá bất ngờ.
* * *
Theo bài tường thuật của anh Võ Ý, tang lễ cựu Chuẩn tướng Võ Dinh được tổ chức vào hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật đầu tháng 7/2017 theo nghi thức tôn giáo và quân đội.
Lễ phủ cờ do Hội Ái Hữu KQ Trung Cali và Hội Cựu SVSQ Võ Bị Quốc Gia cùng phối hợp thực hiện (nhắc lại: NT Võ Dinh xuất thân Khóa 3 VBQG) dưới sự chứng kiến của cựu Trung tướng Nguyễn Bảo Trị, Giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, cựu Tư Lệnh KQ, cựu Đại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, Tổng Hội Võ Bị Đà Lạt, bà quả phụ Chuẩn tướng KQ Lê Trung Trực, bà quả phụ Chuẩn tướng KQ Phạm Ngọc Sang, cùng tang quyến, đồng đội và thân hữu, trong đó có cựu Đại tá KQ Trần Phước từ Houston, Texas bay sang.
Lễ xếp cờ cũng do hai Hội KQ và Võ Bị Quốc Gia đảm trách.
Một chi tiết đáng chú ý là sau đó lá cờ đã được cựu Đại tá Trần Phước (thay vì cựu Tư Lệnh KQ Nguyễn Xuân Vinh) trao cho bà quả phụ Võ Dinh.
Nguyên nhân: ông Nguyễn Xuân Vinh vốn là người tôn trọng nguyên tắc, cho rằng ông Trần Phước không chỉ là đồng môn và đàn anh của ông Võ Dinh (một người Khóa 2, một người Khóa 3) mà còn vì vào thời điểm 30 tháng 4 năm 1975 ông Trần Phước là sĩ quan còn tại ngũ trong khi vị cựu Tư lệnh Không Quân đã giải ngũ từ năm 1962, vì thế vị đại diện chính thức của KQVN phải là “Mệ”.



- NT TRẦN ĐÌNH HÒE
Hơn một năm sau, cựu Đại tá Trần Đình Hòe, nguyên Tư lệnh phó Sư Đoàn 5 KQ, qua đời vào ngày 2 tháng 9 năm 2018 tại California, hưởng thọ 87 tuổi.

Trong Không Quân VN, trừ những người phục vụ tại Không Đoàn 33 Chiến Thuật, và sau này là Sư Đoàn 5 Không Quân, không có nhiều người biết tới tên tuổi của ông Trần Đình Hòe. Riêng một số anh em ngành CTCT, trong đó có tôi, chỉ biết ông qua bút hiệu Tinh Cầu, thường xuyên cộng tác với tập san Lý Tưởng của BTL/KQ.
Nhưng sau này tại hải ngoại, trong việc thực hiện quyển QSKQ, ông là nguồn tài liệu chính của tôi khi viết về ngành vận tải.
NT Trần Đình Hòe sinh năm 1931 tại Hải Phòng. Nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, ông theo học Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định. Tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc Thiếu úy, ông xin thuyên chuyển sang Không Quân, theo học Khóa 2 Hoa Tiêu Quan Sát tại TTHLKQ Nha Trang.
Cùng học khóa này còn có các Thiếu úy Nguyễn Ngọc Loan, Vũ Thượng Văn, Nguyễn Văn Lượng (Khóa 1 Nam Định), Võ Xuân Lành (Khóa 1 Thủ Đức).
Trong số 14 hoa tiêu tốt nghiệp, 11 người được đưa về Phi Ðoàn 1, Phi Đoàn 2 Quan Sát, ba người được chọn sang Pháp vào trường Võ Bị Không Quân Salon de Provence, gồm: Thiếu úy Nguyễn Ngọc Loan, Thiếu úy Vũ Thượng Văn, Thiếu úy Trần Đình Hòe.
Sau giai đoạn địa huấn, ông Nguyễn Ngọc Loan và ông Vũ Thượng Văn học bay khu trục phản lực tại Meknès còn ông Trần Đình Hòe học bay vận tải tại Trường Hàng Không Vận Tải Avord.
Ông là một trong những khóa sinh sĩ quan xuất sắc tại Trường Avord (trường này có cả khóa sinh hạ sĩ quan), sau khi tốt nghiệp trên phi cơ MD-312 Flamant và thực tập trên C-47 Dakota, đã được đưa tới CIET (Centre d’Instruction des Equipages de Transport: Trung tâm Huấn luyện Phi hành đoàn Vận tải) để lấy bằng Hoa tiêu chánh (còn gọi là bằng “bay trời mù”).
Chúng tôi không được biết sau khi về nước, NT Trần Đình Hòe phục vụ tại những đơn vị nào, giữ những chức vụ gì, chỉ biết vào thời gian trước khi xảy ra trận Mậu Thân 1968, ông mang cấp bậc Thiếu tá, giữ chức Tư lệnh phó Không Đoàn 33 Chiến Thuật. Chức vụ sau cùng của ông là Tư lệnh phó SĐ5KQ.

Cũng như những vị niên trưởng khác tốt nghiệp vận tải tại Avord, ông Trần Đình Hòe rất hãnh diện về bằng bay của mình.
Trước đó trong chuyến thăm Úc năm 1998 của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, tôi đã được nghe vị Tư lệnh KQVN đời thứ hai kể chi tiết về ngành vận tải và giá trị của bằng bay vận tải trong Không Quân Pháp, tuy nhiên vì khi ấy Liên Hội KQ Úc Châu chưa có ý định đứng ra thực hiện quyển QSKQ cho nên tôi không mấy quan tâm.
Nay được nghe ông Trần Đình Hòe kể đầu đuôi mới biết ngày ấy trong các không lực tây phương, ngành vận tải/oanh tạc - gọi chung là “lái máy bay nhiều động cơ” - là có giá nhất.
Riêng ở Pháp, tại trường Võ bị Không Quân Salon de Provence, những người có điểm địa huấn cao (như các ông Nguyễn Xuân Vinh, Trần Đình Hoè...) mới được ưu tiên chọn ngành vận tải/oanh tạc. Tại trường bay căn bản Marrakech ở Bắc Phi cũng thế, những người đậu cao (như các ông Huỳnh Hữu Hiền, Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Minh Bon, Huỳnh Bá Tính, Đinh Văn Chung, Phan Phụng Tiên, Nguyễn Cao Kỳ, Trịnh Hảo Tâm, Phan Thanh Vân, Nguyễn Huy Ánh...) mới được về ngành vận tải/oanh tạc.

Bên cạnh đó, Trường Hàng Không Vận Tải Avord của Không Lực Pháp (École de L'Aviation de Transport 319, Avord, nội địa Pháp) là trường danh tiếng nhất nước, các trường đào tạo phi công vận tải dân sự không thể nào sánh bằng.
(Theo bài viết “Không quân Việt Nam và Hàng Không Việt Nam” của Chuyên Gia Dốc Sỏi trong quyển QSKQ, vào cuối năm 1959 khi các phi công dân sự Pháp lái cho Air Vietnam đòi tăng lương không được, đồng loạt nghỉ việc, chính phủ của TT Ngô Đình Diệm phải cấp tốc trưng dụng phi công vận tải của KQVN tạm thời thay thế trong lúc chờ thuê mướn phi công Đài Loan. Nào ngờ hành khách ca tụng phi công của KQVN lái êm quá, từ đó đưa việc biệt phái dài hạn một số phi công vận tải của KQVN sang Air Vietnam)
Tuy nhiên, mặc dù xét về xuất thân và thâm niên quân ngũ tương đương với các ông Nguyễn Ngọc Loan, Võ Xuân Lành, Nguyễn Văn Lượng..., và hơn hẳn ông Lưu Kim Cương (tốt nghiệp hạ sĩ quan ở Marrakech), ông Trần Đình Hòe đã không được trao phó những chức vụ tương xứng.
Nhưng dù vậy, NT Trần Đình Hòe vẫn được nhiều người nhận xét là một cấp chỉ huy có tinh thần trách nhiệm cao, đã cống hiến hết tâm huyết cho sự lớn mạnh của Quân Chủng, cách riêng ngành vận tải.
Và sau này tại hải ngoại, “bộ nhớ” của ông cũng là nguồn tài liệu chính của chúng tôi khi viết về ngành vận tải trong cuốn QSKQ
* * *
Hai vị đại niên trưởng sau cùng trong số những vị đã đóng góp vào việc thực hiện quyển QSKQ nay đã ra đi vĩnh viễn là Nguyễn Văn Lượng và Vũ Thượng Văn (đã được tôi viết chi tiết trong một kỳ trước).
Cựu Chuẩn tướng Nguyễn Văn Lượng, nguyên Tư lệnh SĐ2KQ, qua đời tại Bắc California ngày 2 tháng 12 năm 2024, hưởng thọ 94 tuổi, được ghi nhận là người sống thọ nhất trong “Thập Lục Tướng Quân” của Không Quân Việt Nam.
Cựu Đại tá Vũ Thượng Văn, nguyên Tham mưu phó Kế Hoạch & Chương Trình BTL/KQ, qua đời ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Austin, Texas, hưởng thọ 96 tuổi, cho tới nay vẫn được ghi nhận là thọ nhất trong số các vị đại niên trưởng của Quân Chủng.
(Còn tiếp)
PHỤ LỤC:
Phân Đoàn Nữ quân nhân KQ:
https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/qu%C3%A2n-s%E1%BB%AD-kh%C3%B4ng-qu%C3%A2n/4305-ph%C3%A2n-%C4%91o%C3%A0n-n%E1%BB%AF-qu%C3%A2n-nh%C3%A2n-kh%C3%B4ng-qu%C3%A2n-qlvnch