BUỒN VUI ĐỜI LÍNH... VĂN PHÒNG (phần 4)
Những người muôn năm cũ…
Hồi ký
Nguyễn Hữu Thiện

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Vị niên trưởng đầu tiên trong số “Những người muôn năm cũ” ấy là cựu Thiếu tá Trần Phước Hội.
Chưa đầy ba năm sau khi quyển Quân Sử Không Quân VNCH được phát hành (Ngày Không Lực 1 tháng 7 năm 2005), trong một chuyến về thăm quê hương cựu Thiếu tá Trần Phước Hội đã đột ngột qua đời vì một cơn đau tim tại Huế ngày 9 tháng 6 năm 2008. Hưởng thọ 78 tuổi.
Còn nhớ vào cuối năm 2001, sau khi nhận lời làm cố vấn trong việc biên soạn nội dung cuốn sách, ông Trần Phước Hội đã nói với chúng tôi:
“Mấy anh đã quyết định làm thì làm gấp đi, các niên trưởng của chúng mình giờ này đa số đã già yếu cả rồi, không biết sẽ ra đi lúc nào!”
Có ngờ đâu cậu nói của ông Trần Phước Hội lại ứng với bản thân ông trước tiên!
Nhưng, ít nhất cũng theo suy nghĩ của tôi, sự ra đi bất ngờ của ông Trần Phước Hội đã đem lại một kết cuộc ấm lòng:
Sau một đời lang thang, biệt xứ, phải đổi tên họ, ông Trần Phước Hội - tức “Mệ” Nguyễn Phước Bảo Hội, cháu nội của vua Thành Thái - đã được an giấc nghìn thu tại nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Trong video được một chiến hữu Không Quân ở VN đưa lên YouTube, tang lễ được cử hành rất trang trọng tại cố đô Huế, và ông được an táng trong nghĩa trang của dòng tộc.
* * *
“Người muôn năm cũ” thứ hai trong số những vị NT đã giúp đỡ chúng tôi trong việc biên soạn QSKQ ra đi là cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Tần, nguyên Tư lệnh SĐ4KQ. Ông qua đời tại San Jose giữa tháng 12 năm 2008, sau ông Trần Phước Hội nửa năm. Hưởng thọ 78 tuổi.
Thời gian này tôi chưa làm quen với Internet (chỉ biết sử dụng email) cho nên không biết tin buồn này qua các tờ báo Online hoặc các website của Không Quân, phải đợi tới khi bạn bè trước 1975 phục vụ tại SĐ4KQ báo tin mới biết.
Người ra đi kế tiếp là cựu Đại tá Nguyễn Quang Tri.
Như tôi đã nhắc tới trong Phần 3, NT Nguyễn Quang Tri, xuất thân Trường Võ Bị Không Quân Pháp Salon de Provence, là một trong những người cung cấp nhiều tài liệu nhất vào việc biên soạn quyển Quân Sử Không Quân do Liên Hội Ái Hữu Không Quân Úc Châu thực hiện.
Trước hết là những bài viết của ông phổ biến trên website Bạn Già Không Quân dưới các bút hiệu Gman, Tarin 65 (callsign ở trường khu trục), Xám Một (callsign khi làm Chỉ huy trưởng Phi Đoàn 1 Khu Trục), Già Ba Tri…, trong đó đáng kể nhất phải là loạt bài “Quân Sử Không Quân”.
Thứ đến là phần trả lời các Thư tham khảo cũng như trao đổi qua email, điện thoại.
Trước năm 1975, qua những lời ca tụng của ông Từ Văn Bê tôi đã tin ông Nguyễn Quang Tri là một con người đáng mến phục nhưng phải đợi tới sau khi ra hải ngoại, được đọc những bài viết của ông, tiếp xúc với ông, nghe ông tâm tình tôi mới thực sự quý mến, khâm phục.
Điều tôi muốn viết thêm ở đây là khi ông ra đi, trong niềm tiếc thương mọi người dành cho ông còn có những ngậm ngùi…
Theo tôi, và không ít đàn anh trong Không Quân, NT Nguyễn Quang Tri, một trong những cánh chim đầu đàn trong ngành khu trục của KQVN, là một cấp chỉ huy tài ba, rất có lòng với quân chủng nhưng không gặp thời.
Viết một cách chi tiết thì nửa đầu binh nghiệp của ông cũng khá thuận lợi.
Vào năm 1953, sau khi thi đâu Tú Tài 2, chàng trẻ tuổi Nguyễn Quang Tri đã cùng anh bạn Ông Lợi Hồng nộp đơn xin theo học tại trường Không Quân Pháp ở Marrackech, Morocco. (Chú thích 1)
Sau đó, ông lại nộp đơn thi vào trường Cán Sự Công Chánh (Agent Technique) để hy vọng… khỏi phải đi lính!
Trong hồi ký tựa đề “Trường Võ Bị Không Quân Pháp”, ông kể lại:
Tôi ở trọ một người bà con trong trường Tôn Thọ Tường để chờ ngày thi vào Công Chánh thì một buổi sáng đẹp trời, thấy có người tụ tập trên trường, tôi đang mặc quần xà lỏn, ở trần, lại gần hỏi vị sĩ quan phụ trách là Thiếu úy Nguyễn Trung Sơn. Được cho biết là thi vào trường sĩ quan Không Quân Pháp, tôi liền hỏi điều kiện thì ông bảo học xong Math Elem thì được thi. Tôi liền xin thi, xong làm đơn góp cho Thiếu Úy, ông chịu liền. Tôi chạy về thay quần áo, lấy bút máy Kaolo dắt vào túi áo, và quyển logarigm, vào thi. Trời ơi, chỉ có ba bài toán lượng giác như cơm sườn đối với tôi. Tuy vậy, tôi vẫn tiếp tục đi thi Công Chánh. Trong khi đang cắn bút chì vì hai bài toán số học muốn hộc gạch, thì thằng bạn đến phòng thi tại trường Phú Thọ, đứng ngoài cửa chỏ vào nói to: "Mầy đậu đi Salon rồi". Tôi bèn bỏ bút giấy nguyên đó, chào thầy gác thi và bước ra khỏi phòng thi một nước, không hối tiếc. (ngưng trích)
Trong số 20 dân chính trên toàn quốc trúng tuyển năm đó (1953) qua cuộc thi tổ chức một lượt ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội, ngoài ông Nguyễn Quang Tri còn có những tên tuổi sau này nổi tiếng trong quân chủng như Hà Xuân Vịnh, Lưu Văn Đức, Từ Văn Bê…
Khi toán 20 người này được đưa sang Pháp vào Trường Võ Bị Không Quân, nơi đây đã có sẵn một số đàn anh trước đó đã tốt nghiệp sĩ quan tại Việt Nam như Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Ngọc Loan, Vũ Thượng Văn, Trần Đình Hòe…
Trong số những người được chọn theo ngành khu trục - gồm Nguyễn Ngọc Loan, Vũ Thượng Văn, Hà Xuân Vịnh, Lưu Văn Đức, Nguyễn Quang Tri - hai ông Vũ Thượng Văn, Nguyễn Quang Tri được ở lại Pháp lâu nhất. Không phải hai ông học dở, rớt bay mà vì được học bay nhiều loại phi cơ cánh quạt lẫn phản lực, như T-6, F6F, T-33, Ouragan của Pháp, Vampire của Anh, và học để trở thành huấn luyện viên.
Mãi tới cuối năm 1956 ông Vũ Thượng Văn mới về nước, được ghi nhận là khóa sinh “tốn cơm quốc gia nhiều nhất”, nhập ngũ năm 1951 tới cuối năm 1956 mới... thành tài, còn ông Nguyễn Quang Tri thì đi Pháp năm 1953 tới đầu năm 1957 mới về.
Về nước, Thiếu úy Nguyễn Quang Tri phục vụ tại Phi Đoàn 1 Khu Trục (tiền thân của Phi Đoàn 514) đồn trú tại Biên Hòa. Qua năm 1958 ông được đưa ra TTHLKQ Nha Trang để đặc trách việc huấn luyện các phi công khu trục của Khóa 58A Trần Duy Kỷ, khóa đầu tiên (và duy nhất) đào tạo phi công khu trục từ A tới Z ngay tại Việt Nam, trong đó có bộ tứ quý “nhất Nghĩa nhì Lan tam Danh tứ Định” (Chế Văn Nghĩa, Lê Xuân Lan, Đặng Thành Danh, Lê Bá Định).
Qua năm 1959, sau khi lên làm Chỉ huy trưởng Phi Đoàn 1 Khu Trục, Đại úy Lưu Văn Đức đã “năn nỉ” người bạn cùng khóa Salon de Provence về làm phó cho mình, trao trách nhiệm huấn luyện các “em mới” (ông Nguyễn Quang Tri là một trong tám hoa tiêu khu trục được người Pháp cấp hằng huấn luyện viên).
Giữa năm 1960, để tiến hành việc thay thế F8F Bearcat bằng A-1 Skyraider, sáu hoa tiêu của Phi Đoàn 1 Khu Trục đã được chọn để sang Hoa Kỳ xuyên huấn, gồm Trung úy Nguyễn Quang Tri, Trung úy Nguyễn Quan Huy, Trung úy Tô Minh Chánh, Thiếu úy Phạm Phú Quốc, Thiếu úy Nguyễn Ngọc Biện, và Chuẩn úy Nguyễn Văn Long.

Trung úy Tô Minh Chánh, Thiếu úy Phạm Phú Quốc, Trung úy Nguyễn Quang Tri, Chuẩn úy Nguyễn Văn Long
Sau khi Đại úy Lưu Văn Đức hy sinh trên F8F trong một phi vụ hành quân tại Đức Hòa ngày 22 tháng 11 năm 1960, Đại úy Nguyễn Quang Tri lên thay, trở thành vị Chỉ huy trưởng đời thứ tư của Phi Đoàn 1 Khu Trục, callsign "Phượng hoàng Xám".

"sắc kỳ" (colors) của bốn Phi Đội: 1 (Satan), 2 (Mãng Xà), 3 (Thần Hổ), 4 (Thần Phong)
Lẽ ra ông Nguyễn Quang Tri đã trở thành vị Chỉ huy trưởng “bền” nhất trong số 10 đời Chỉ huy trưởng của Phi Đoàn 1 Khu Trục nếu như không có cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963. (Người nắm Phi Đoàn lâu hơn ông Tri là Đại úy Dan Hoài Bửu: 4 năm)
Sau khi cuộc đảo chánh xảy ra, đầu năm 1964 Thiếu tá Nguyễn Quang Tri được lệnh bàn giao quyền chỉ huy phi đoàn (lúc này đã cải danh thành Phi Đoàn 514) cho Thiếu tá Võ Xuân Lành.
Đường công danh sự nghiệp của ông Nguyễn Quang Tri tới đây coi như chấm dứt; ông về Tân Sơn Nhất ngồi chơi xơi nước ở Khối Huấn Luyện. Sau này dù có “bò” lên tới cấp bậc đại tá, chức vụ của ông trong mấy năm sau cùng cũng chỉ là Phụ tá Phòng Không tại BTL/KQ, một chức vụ hữu danh vô thực vì miền Nam VN lúc đó không có nhu cầu và cũng chẳng có một lực lượng “phòng không” đúng nghĩa.
* * *
Sau 30/4/1975, Đại tá Nguyễn Quang Tri ở tù cộng sản 13 năm ở các trại ngoài miền Bắc, rồi cùng gia đình qua Mỹ theo diện HO.
Sau này, NT Bồ Đại Kỳ, một đàn em của ông Nguyễn Quang Tri ở trường Võ Bị Không Quân Salon de Provence năm xưa, đã viết trong bài tưởng nhớ tựa đề "Tarin 65":
Hoàn cảnh lúc ban đầu của anh thật khó khăn, nhưng với tính cương quyết khắc phục mọi gian nan cố hữu, anh Tri đã từ Long Beach, “cỡi xe bus” mỗi ngày lên El Segundo làm việc, để các con anh đã lớn, thay vì đi làm kiếm sống ngay, cố gắng đi học lại, và đã thành công trong việc gia nhập vào dòng chính của xã hội Hoa Kỳ.
Trong chuyến thăm viếng Quận Cam lần cuối, anh Nguyễn Ngọc Loan có nhờ tôi “Mày chịu khó bỏ ra một ngày đưa tao đi thăm bạn bè”, và tôi đã đưa anh đến thăm anh Tri tại Long Beach. Chúng tôi đã mang một ít đồ nhậu đến nhà anh Tri để nhậu nhẹt, rồi ra trước sân hút thuốc và đấu láo cho đến tối mịt mới về.
Trên xe đưa anh về nhà chị Tuyết là chị ruột của anh, anh Loan biết là bệnh tình của mình nặng, sợ khó qua khỏi, nên có nói với tôi “Tao cám ơn mày đã bỏ một ngày đi thăm thằng Tri với tao. Chắc đây là lần cuối cùng tao gặp tụi bay. Tội nghiệp thằng Tri quá! Mày xem có làm được cái gì cho nó thì mày làm”.
Và tôi cũng đã tâm sự với anh “Anh biết tính Ba Tri khí khái lắm. Muốn giúp anh ta không phải là dễ, vì nếu anh ăn nói vụng về là chàng sẽ buồn ngay, có nhiều khi mất bạn là đàng khác”.
Và anh Loan cũng phải đồng ý với tôi “Đúng! Chỉ có tao là nó còn nể nang. Rất tiếc là bây giờ tao không làm gì cho nó được cả. Đành chịu thôi. Mày thân với nó, liệu mà làm!” (ngưng trích)
* * *
Thân mình lo không xong nhưng ông Nguyễn Quang Tri lại lo cho bạn. Điển hình là cựu Chuẩn tướng Từ Văn Bê, anh bạn “cù lần” ở Salon de Provence ngày nào.
Trong lời giới thiệu bài viết về ông Từ Văn Bê của nữ ký giả Melissa Nelson, ông Nguyễn Quang Tri viết:
…Hồi nhỏ, lúc ở trung học, tôi có dịp làm quen với cụ trong vài tháng, mài quần chung một băng ngồi trong lớp. Khi đi vào ký hợp đồng phục vụ tám năm cho Không Quân, tại tôi mà cụ ký, nhưng chắc sau này, một khi đã sang Pháp du học rồi, chắc cụ đã nhìn thấy đùi đầm trắng đẹp, cụ đã tha thứ cho tôi đã xúi dại cụ đi lính, nếu không cụ đã là bác sĩ hay dược sĩ gì rồi.
Ở Pháp, cụ không biết đi chơi bời. Ngày nọ, cụ đi bệnh xá, gặp Y Sĩ Trưởng là một Ðại Tá già, coi chúng tôi như con cháu trong nhà, nên ông nói với cụ nhà ta rằng: "Tu connais pas qu'il y a des bordels à..." làm mấy thằng Tây con tủm tỉm cười, vì biết bao nhiêu thằng còn trinh. Không biết cụ nhà tôi mất trinh từ bao giờ??? Nay, nhân ngày sinh của cụ rơi rớt vào tháng này, tôi biết cụ ở xa tôi nên có muốn trừng phạt tôi, cụ cũng phải mất nhiều tiền máy bay, mà lại còn ngại "không tặc" nữa. Nhờ thế mới lợi dụng cơ hội trêu cụ vài câu. Xin thành thật chúc mừng cụ và trăm ngàn lần xin tha tội. Tarin65.
("Tu connais pas qu'il y a des bordels à..." dịch sang tiết Việt là “Bộ anh không biết ở... có mấy cái động chị em ta hay sao?”)
Năm 1975, chiều tối 28/4 sau khi đốt phi trường, Chuẩn tướng Từ Văn Bê (cùng Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính) rời CCKQ Biên Hòa bằng trực thăng. Sang Hoa Kỳ, ông định cư tại Oklahoma City, tiểu bang Oklahoma.

Năm 1987, ông sáng lập Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tại Oklahoma; và hai năm sau (1989), sáng lập Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt tại Oklahoma.
Ngày 16/10/1999, ông được Hiệp Hội Á Châu Oklahoma trao tặng giải thưởng “Người Mỹ gốc Á Châu xuất sắc”.
Trong bài viết của mình có cái tựa dài thòng "ÔNG TỪ VĂN BÊ LÀ TIẾNG NÓI CỘNG ÐỒNG" "Cuộc Sống Của Ông Tướng Này Không Phải Chỉ Là Chiến Tranh" trên tờ THE DAILY OKLAHOMAN, ngày 4/10/1999, do Văn Nghệ Tiền Phong dịch, nữ ký giả Melissa Nelson viết:
"Ðã bao năm qua, ông Bê luôn được xem như người lãnh đạo cộng đồng Việt Nam. Có rất nhiều người khác trong cộng đồng cũng làm được nhiều việc rất hay, nhưng những vị này luôn luôn nói rất rõ ràng cho tôi biết rằng Tướng Bê là vị thủ lãnh và là phát ngôn viên của họ".
Nữ ký giả Melissa Nelson cũng cho biết cựu Chuẩn tướng Từ Văn Bê rất hãnh diện về gia đình của mình. Cô viết:
Hãnh Diện Về Gia Ðình
Vị tướng này, một trong những chỉ huy trưởng trong cuộc chiến mà hơn hai triệu thường dân, hai trăm ngàn quân nhân VNCH và 58 ngàn người Mỹ tử trận đã tìm thấy được niềm an ủi nơi gia đình. Con cháu tạo cho ông niềm hãnh diện rất to lớn.
Ba người con trai của ông Bê là bác sĩ y khoa, cô gái út đậu cao học giáo dục. Ông có 3 cháu nội nhỏ. Chúng nó là điều quan trọng đối với ông. Người con lớn, Từ Minh Ðức nói "Ðiều ba tôi rất hãnh diện là về tất cả chúng tôi". Mặc dầu ông được rất nhiều huân chương, nhưng những công trạng ấy không phải là điều quan trọng đối với Ðức.
"Tôi hãnh diện về ba tôi vì ba tôi đã chu toàn nhiệm vụ của ông, nhưng tôi hãnh diện nhất về ba tôi vì ông ấy là ba của tôi".
* * *
Mặc dù sau khi sang Hoa Kỳ, cuộc sống tình cảm cá nhân của ông Từ Văn Bê không còn hạnh phúc nữa (điều này ai cũng biết) nhưng khi ông nói con cháu là “niềm hãnh diện rất to lớn” tôi tin ông nói thật lòng.
Và tôi cũng tin rằng chính vì “niềm hãnh diện rất to lớn” ấy mà ông Từ Văn Bê không chịu nghe lời ông Nguyễn Quang Tri bỏ Oklahoma sang California sống cho có bạn có bè.
Để hiểu được tại sao ông Nguyễn Quang Tri lại tội nghiệp bạn, chúng ta phải biết trong hơn 10 năm cuối đời ông Từ Văn Bê sống cô đơn và thê thảm như thế nào.
Để quý vị thấy tôi không cường điệu khi sử dụng chữ “thê thảm”, xin phép vị chỉ huy trưởng đã khuất cho tôi được kể lại một cách chi tiết.
Vào đầu thập niên 1990, sau khi bài viết “Nghe tiếng hát Phùng Văn Chiêu nhớ những ngày cuối cùng của Biên Hòa” của tôi được phổ biến tại Hoa Kỳ, một số anh em sĩ quan trước kia phục vụ tại Khối CTCT Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Tiếp Vận KQ và tôi đã bắt liên lạc được với nhau, từ đó tôi mới biết ông sếp cũ của mình, cựu Chuẩn tướng Từ Văn Bê, định cư ở tận Oklahoma và ít liên lạc với anh em ở California; vì thế tôi cũng không tìm cách liên lạc với ông.
Phải đợi tới năm 1998, khi cựu Đại tá Nguyễn Xuân Vinh sang thăm Úc, cho tôi địa chỉ và số điện thoại của ông Từ Văn Bê tôi mới viết thư hỏi thăm, và sau đó nói chuyện qua điện thoại.
Ngày ấy phí tổn điên thoại ra ngoại quốc còn khá cao, tôi chỉ điện thoại một lần cho trọn tình trọn nghĩa, nhưng ông Bê thì rất vui mừng, sốt sắng, sau đó điện thoại cho tôi thường xuyên, nói đủ thứ chuyện, có khi kéo dài cả tiếng đồng hồ.
Nguyên nhân: ông rất cô đơn!
Sau khi hỏi sơ về bước đường tù tội của tôi dưới chế độ CSVN, về cuộc vượt biên và làm lại cuộc đời ở Úc, ông Bê đã kể một cách chi tiết về cuộc sống hiện nay của ông, thỉnh thoảng lại dặn “tui chỉ kể cho một mình anh nghe, đừng nói với ai nghen”.
Theo đó, từ nhiều năm qua ông sống một mình trên một căn phòng nhỏ, không mấy khi đi ra ngoài vì hai mắt đã mờ không thể lái xe. Thường thường cứ tới chiều lại có mấy người bạn gốc Hoa tới đón ông đi ăn tối ở ngoài tiệm.
Có lần ông đang nói chuyện với tôi thì mấy người bạn tới, nói tiếng Hoa um sùm.
Ông thích nói chuyện về các sinh hoạt của cựu quân nhân, của cộng đồng và công việc thiện nguyện; không quên khoe với tôi những thành tích của ông trong đó có việc tranh đấu (thành công) cho người Việt cao niên được tiếp tục hưởng trợ cấp xã hội sau khi hết quy chế tỵ nạn (tôi chỉ nhớ đại khái như thế), và ông đã được mời ra điều trần trước Quốc Hội tiểu bang về việc này.
Khoảng năm 2002, 2003, tôi bặt tin ông Bê suốt mấy tháng trời, điện thoại sang không có người trả lời. Bỗng dưng sau đó ông điện thoại sang cho biết ông mới mổ một con mắt và… không thành công, coi như bị mù luôn, vì thế con còn lại ông lưỡng lự không biết nên mổ hay không. Thời gian này ông chán nản không còn muốn nghe điện thoại của bất cứ ai!
Cũng trong khoảng thời gian này, NT Nguyễn Quang Tri đã than phiền với tôi (qua điện thoại) về việc ông Từ Văn Bê không chịu nghe lời khuyên của ông bỏ Oklahoma sang California sống để còn có bạn bè tới thăm nom.
Ông Tri cho biết mỗi lần ông khuyên như thế ông Bê lại trả lời “Các con tao tất cả ở đây làm sao tao bỏ chúng nó mà đi được!”
Ông Tri chỉ biết lắc đầu (và nói với ông Bê một câu khá cay đắng, phũ phàng về gia cảnh của ông Bê mà tôi không thể viết ra đây).
Khoảng năm 2005, tôi được tin ông Từ Văn Bê đã bị đưa vào nursing home.
Tôi viết là “bị” bởi vì ông không muốn vào đây!
Ba năm thân cận dưới quyền ông Bê ở Biên Hòa đủ cho tôi thấy ông chủ trương “tốt khoe xấu che”. Che bằng mọi giá, chuyện trong đơn vị cũng như của cá nhân.
Vì thế cũng là một điều dễ hiểu khi ông không muốn bị đưa vào nursing home để phơi bày những điều kém may mắn của mình!
Điều an ủi là mọi người, trong đó có anh em KQ ở Oklahoma, không quên ông. Tôi đã vô cùng cảm đông khi được biết người thường xuyên vào thăm nom vị cựu Chuẩn tướng kỹ thuật lại là một cựu hoa tiêu khu trục, Thiếu tá T, cho thấy ông Bê rất được anh em KQ ở Oklahoma thương mến.
Giữa năm 2007, cựu Đại úy Vũ Duy Ty, thuộc Hội KQ Wichita, Kansas, nhân dịp tới thăm Oklahoma City đã được tham dự buổi kỷ niệm Ngày Không Lực 1 tháng 7 của Hội KQ tại đây.
Trước năm 1975, anh Ty giữ chức vụ Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, Khối Chiến Tranh Chính Trị, BCH/KTTV/KQ, đặc trách đoàn Hướng Đạo Sinh Quân Đội của đơn vị, nên cũng là một trong những sĩ quan gần gũi với ông Chỉ huy trưởng, nay anh tới tham dự buổi kỷ niệm Ngày Không Lực của Hội KQ Oklahoma City cũng một phần vì hy vọng sẽ được gặp ông Từ Văn Bê.
Rất tiếc, Thiếu tá T cho anh Ty biết trước đây mỗi lần có họp mặt của KQ anh đều tới nursing home đẩy xe lăn đưa ông Bê tới tham dự nhưng từ gần một năm nay, cùng với sức khỏe ngày càng suy yếu ông Bê còn bị Alzheimer nặng nên không đưa ông tới nữa, vì ông không còn nhớ hoặc nhận ra ai, trừ (đôi lúc hiếm hoi) anh T.
Biết vậy nhưng qua ngày hôm sau, anh Ty vẫn nhờ anh T đưa vào thăm ông Bê; và một viêc lạ đã xảy ra: khi anh Ty nói tên họ và chức vụ của mình trước năm 1975, ông Bê ra vẻ suy nghĩ một vài giây rồi nhận ra anh.
Sau đó anh Ty “double check”:
- Chuẩn tướng có nhớ Trung úy Thiện không?
Ông Bê trả lời ngay:
- Trung úy Thiện đang ở bên Úc phải không!
Nhưng tới khi anh Ty nhắc tới tên các ông đại tá dưới quyền (Chỉ huy phó, Không đoàn trưởng, Chỉ huy trưởng các Trung tâm…) thì ông Bê ngồi im!
Cựu Chuẩn tướng Từ Văn Bê qua đời ngày 25 tháng 2 năm 2008 (trùng với ngày sinh nhật của tôi), hưởng thọ 77 tuổi.
(Còn tiếp)
CHÚ THÍCH
(1) Khóa 53E
Khóa 53E Marrakesh với 50 khóa sinh có lẽ là khóa đông nhất của KQVN thuở ban đầu, với nhiều khóa sinh sau này trở thành những cấp chỉ huy nổi tiếng, như Chuẩn tướng Nguyễn Huy Ánh, các Đại tá Ông Lợi Hồng, Trần Minh Thiện, Nguyễn Hồng Tuyền, Nguyễn Văn Bá, v.v…
Dưới đây là danh sách khóa sinh trong hồi ký của cố Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền.
Hồi Ký "Một chuyến đi Tây nửa kiếp người"
* Ngày đầu cắp sách học bay
Khóa P53E 1 và P53E 2 gồm 12 Sĩ quan cùng hai Thầy đội và 36 khóa sinh binh nhì - đơ dèm cùi bắp.
Mười hai sĩ quan:
1- Trung úy Nguyễn Đức Hớn. Trưởng Khóa P53 E.
2- Tr/úy Đoàn Văn Bang
3- Tr/úy Nguyễn Văn Đẹp
4- Tr/úy Đỗ Xuân Khanh
5- Th/úy Chu Trọng Để
6- Th/úy Phạm Hậu
7- Th/úy Dư quốc Lương
8- Th/úy Lâm Văn Phiếu
9- Th/úy Võ Văn Sứ
10- Th/úy Lê Văn Thịnh
11- Th/úy Trần Minh Thiện
12- Ch/úy Phan Hữu Ngữ
Hai Thầy đội:
1- Thầy Đội Nhứt Trần Văn Nhung (Răng Vàng)
2- Thầy Đội Nguyễn Thành Mãn (Đội Ngù)
Ba mươi sáu lính đơ dèm cùi bắp:
1- Nguyễn Huy Ánh (Hỉnh mũi)
2- Nguyễn Văn Bá (Lèo)
3- Đinh Tấn Chi (Tấn Chì)
4- Đặng Trần Dưỡng (Văn Sỡi)
5- Bửu Đang (Núi Ngự)
6- Hồ Bảo Định (Thấp Tè)
7- Nguyễn Văn Đại (Đại Du)
8- Nguyễn Văn Du (Du Đại)
9- Ông Lợi Hồng (Đại Cù Lũ)
10- Nguyễn Văn Hương (Lại Quan)
11- Nguyễn Văn Hòa (Thục Quan).
12- Trần Văn Hội Jacques (Hôi Nách)
13- Trần Văn Hội (Lùn)
14- Hồ Văn Ứng Kiệt (Peur de Fantome)
15- Nguyễn Thiện Kiều (Mỉm Chi)
16- Bùi Quang Kinh (Xúc Vai)
17- Đặng Huy Lạng (Xẹo)
18- Phạm Công Minh (Ma-Crô)
19- Trần Tấn Nhứt (Nasser)
20- Phan Thế Nghiệp (Lính Bịnh)
21- Nguyễn Quan Phúc (Et Quoi)
22- Công Xuân Phương (Lém)
23- Ngô Văn Quang (Thầy Giáo Làng)
24- Ôn Văn Tài (Còi)
25- Nguyễn Hồng Tuyền (Mập)
26- Võ Thành Tâm
27- Nguyễn Sơn Tòng (Tây Con)
28- Nguyễn Thế Thân (Bristogne)
29- Châu Quang Thanh (Phệ)
30- Nguyễn Hữu Trí (Già Háp)
31- Nguyễn Tấn Trinh (Kim Liên)
32- Nguyễn Văn Trang (Dựt Gân)
33- Lê Quốc Túy (Le Coq)
34- Nguyễn Đình Tuân (Ngắn)
35- Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn Mập)
36- Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn Lụi)
(Nickname của 2 Thầy Đội và 35 vị “đơ dèm cùi bắp” do chính “anh Năm” Nguyễn Hồng Tuyền còn nhớ và ghi ra (chỉ thiếu Võ Thành Tâm). Ông Nguyễn Văn Bá có nickname “Bá Lèo” là vì ông sinh ra ở Lào; riêng “anh Năm” có lẽ ngày ấy... ăn bơ uống sữa hơi nhiều nên mới có nickname “Tuyền mập”)



