Võ Quang Thẩm
---oo0oo---

Tâm mua hai khúc bánh mì, một cho mình và một cho Nhân, người bạn bay chung với Tâm đêm nay. Hai chiếc bánh khô khan, những mảnh fromage thịt nguội với tâm giờ đây không có một sức hấp dẫn nào, nhất là sau buổi cơm chiều. Nhưng Tâm vẫn tự nhủ những thức đó sẽ đầy đủ ý nghĩa và tác dụng khôn lường ở chuyến bay nửa đêm. Tâm còn nhớ, những đêm sau tết, sự đòi hỏi của tình thế với những chuyến bay đêm liên tục. Đã nhiều phen, tâm thức dậy từ một cơn đói nửa đêm, cơn đói của một ngày biến cố, không quán ăn, không câu lạc bộ. Tâm cũng như các bạn đồng cảnh ngộ, phải đi bay trong cơn đói phũ phàng suốt hai tiếng đồng hồ túc trực trên trời, trong quãng đêm dầy đặc. Tự nhiên Tâm nghĩ đến Phận, nghĩ đến sự ra đi vĩnh viễn của một người bạn được tiếng gương mẫu và hiền hòa, nghĩ đến những điều kiện an phi, nghĩ đến những giả thuyết cho rằng khi người ta đói thì dễ bị ‘vertigo’. Nghĩ đến những chuyện đã rồi, đã qua. Đau thương thay! Mỗi một kinh nghiệm phải trả bằng một giá quá đắt.
Tâm khẽ thở dài. Không muốn nghĩ gì thêm. Chàng trao tiền cho cô hàng, cơ hồ quên đi nụ cười xã giao duyên dáng. Tâm lẳng lặng cho bánh mì vào túi. Tâm đạp máy xe, trở vào Biệt Đội.
Năm giờ rưỡi chiều. Còn ba mươi phút nữa mới đến giờ túc trực. Tâm không biết Nhân đã vào chưa. Thông thường Nhân vào sớm. Nhân là người thật thà, dễ tính. Thật thà như chính chiếc áo bay rộng lớn của anh không một đường cắt sửa. Nhân chủ trương ‘trời sinh sao để vậy’. Nhân bằng lòng với tất cả những gì cuộc đời mang đến cho anh, bằng lòng tất cả những phi vụ dù vào giờ cơm, nửa đêm hay ngày nghỉ lễ. bằng lòng cả danh từ ‘nụ cười nham nhở’ muôn năm nở trên môi anh mà các bạn thường gọi.
Vào đến Biệt Đội, Tâm thấy Nhân đã ngồi vất vưởng trên những bao cát của hầm trú ẩn, đang ngáu nghiến những hạt bắp ngon lành. Thoạt thấy Tâm, Nhân nhanh nhảu kéo từ trong túi áo bay trái bắp đã lột sẵn vỏ, ném cho Tâm. Tâm phải vất vả để vừa nhận qua của Nhân vừa giữ xe cho khỏi ngã. Đến khi trái bắp nằm gọn trong tay Tâm, Nhân thích chí, chân đu đưa đập vào thành cát:
--Ăn đi, ăn đi. Còn nhiều lắm. Tao để trong trailer. Kể cả hai đòn bánh tét để dành cho chuyến bay đêm.
Tâm đến bên Nhân, sau khi nguyền rủa Nhân với trò ‘cho như cho ăn mày’, Tâm vất bỏ những mảnh thuốc lá vụn bám vào những hạt bắp trắng nuốt no tròn. Tất cả đều xuất xứ từ chiếc túi hỗn độn của Nhân. Tâm đưa bắp lên miệng. Tâm thấy vị bắp nấu ngọt ngào. Nguyền rủ như một thói quen giữa Tâm và những bạn nơi Phi Đoàn. Như những lần biệt phái trở về, tay bắt mặt mừng. Tối thiểu cũng phải chào nhau bằng câu:
--Sư mày, sao đi lâu vậy?
--Tiên tổ mày, đói rách gần chết. Ở biệt Đội ăn cái giải gì? Về còn chửi.
Nguyền rủa cả những cử chỉ thân ái thương yêu. Như giữa Tâm và Nhân hôm nay những cử chỉ làm Tâm cảm động. Cái cảm động thoáng qua nhanh giữa những người cùng chung cuộc sống, nhất là ở mội chuyến bay đêm với những gian nguy thử thách sự thông cảm giữa Nhân và Tâm càng sâu xa bao nhiêu.
Gần Nhân cũng như những bạn nơi phi đoàn. Giữa những chuyện phiếm ồn ào, đề tài không giới hạn, giữa những cuộc cờ đang hồi gay cấn, giữa xã hội bay bổng trẻ trung, trí óc Tâm như bị quay cuồng lôi cuốn theo giúp Tâm dễ quên lãng. Tâm trạng Tâm nhẹ nhàng hơn những lúc quay quần bên gia đình, bên vợ, bên con. Trí óc nặng trĩu bởi những hình ảnh gian nguy của một chuyến bay đêm. Con người ta khi không thấy hạnh phúc thì dễ lãng quên. Nhưng khi được hạnh phúc thì sợ mất. Tâm buồn cười cho tâm trạng của mình. Cũng như buồn cười cho câu húa đưa đẩy ban chiều với vợ mà Tâm không biết mình đã trấn an cho vợ hay cho chính mình.
--Mùa này hay mưa. Tối nay anh không bay đâu. Chỉ vào Biệt Đội ngủ túc trực. Ngoan lên. Mai anh về dẫn đi ăn sáng.
“Mai anh về dẫn đi ăn sáng”. Câu hứa chỉ đơn sơ và dễ dàng đến thế, mà giờ Tâm chưa thể trả lời được. Câu hứa như một bến bờ hạnh phúc mà trong cuộc sống bay bổng của Tâm đã nhiều người không đạt đến, sau một chuyến bay…
Tâm không muốn nghĩ thêm những cảnh đợc chờ mà Tâm đã chứng kiến. Những cảnh đợi chờ thấp thỏm nhưng hy vọng của những người vợ có chồng là hoa tiêu. Hy vọng bao nhiêu trong lúc trước mắt Tâm cũng như những bạn nơi Phi Đoàn, đang gạt lệ, xúc tiến thủ tục ma chay. Hy vọng bao nhiêu để rồi chợt thấy bầu trời quay cuồng, sụp đổ với những chiếc áo vàng thắt cà vạt đen thoáng ngoài khung cửa…
Những hạt bắp Tâm đang nhai đã thành sỏi đá. Tâm khẽ lắc đầu. Nhân ngạc nhiên quay sang:
--Làm gì ủ rũ như gà mắc mưa vậy cưng? A! hay trưa nay bị ‘bà xã’ cho treo mỏ rồi. Thôi, mai về lạy lục năn nỉ như tao đây. Làm gì bà ấy chẳng xiêu lòng.
--Tại vì không tiền mua sữa cho con. Tâm trả lời bâng quơ.
--Thôi, nhờ anh tí. Trời sanh voi sanh cỏ. Từ hồi nhỏ đến giờ, ta có ‘bú’ một giọt sữa nào đâu, vẫn sống nhăn răng ra đây cưng ạ.
Nhân tự cho mình bông đùa ý nhị, cười khanh khách, hai tay dang rộng, nhực ưõn to:
--Này, cưng về dạy con của cưng, ráng thở khí trời như bác của nó đây, mau lớn cưng ạ.
Tâm không trả lời, chỉ gật đầu, ra chiều tán thưởng, nhìn ra xa. Khoảng trời mênh mông của vùng Tân Sơn Nhất, sau cơn mưa chiều chỉ còn lại vài áng mây vương vất nắng. Vùng trời bao la đó, Tâm đã hằng ao ước sống, vào những ngày còn nhỏ Tâm theo mẹ lên phi trường. Giờ đã thành sự thật, hơn cả điều Tâm mơ ước. Khoảng trời đêm bao la, tầm nhìn không giới hạn, ở mỗi lần cuộc đời Tâm gắn liền theo cánh gió.
Khác chăng, ngày trườc Tâm với một tâm trạng vô tư, với một mơ ước mơ hồ, nhiều màu sắc như cánh bướm mỗi lần Tâm theo đuổi. Ngày nay Tâm với một tâm trạng suy tư, với một thực tế khác, một trách nhiệm nặng nề như một số bom đạn nơi đôi cánh của dãy phi cơ ngoài bến đậu. Số bom đạn mà Tâm phải tiêu thụ đêm nay, số bom đạn mà Tâm phải trút đổ trên phần đất quê hương, mục tiêu chưa biết, số bom đan mà cả khối dân đô thành, trong đó có mẹ Tâm, vợ con Tâm, anh em Tâm đang kỳ vọng ở sự tiêu thụ chính xác của Tâm. Bất giác tâm thở dài với trách vụ nặng nề đó và tâm muốn trở về tâm trạng vô tư ngày trước, tâm trạng của những trẻ thơ, khi mộng ước chưa thành.
Nhân vẫn ngồi bên Tâm, vừa đập muỗi, vừ chửi đổng:
--Tiên sư mấy con muỗi này. Ngu si không biết chọn phi trường mà đáp. Đáp ẩu rồi vô tình hút nhằm máu chịu chơi, máu đọi của ông. Khốn nạn lắm con ạ. Ông làm phước giết cha nó cho rồi.
Mỗi lần hạ được một con Nhân lại cẩn thận cho xác vào bao giấy kiến thuốc lá. Đến khi Nhân kiểm lại, Nhân báo cáo kỹ lưỡng: “Mười hai con bỏ xác tại chỗ, một số được đồng bọn mang đi”. Cũng vừa lúc ánh nắng lẫn vào bóng đêm. Chiếc thánh giá từ nóc nhà bên kia phi trường đắm chìm vào bóng tối. Chân trời thu hẹp đến vòng đai. Sao đã lố nhố trên nền trời. Nhân xáp lại, kè Tâm vào “trailer”.
Đã quá mười giờ đêm. Tiếng ngáy ngủ của Nhân vẫn đều đều từ bên kia giường vọng lại. Qua khung cửa nhỏ bé, ánh sáng vàng vọt từ ngoài chiếu vào, đủ thấy hai chiếc bánh tẹ mà Nhân đã cẩn thận treo trên nóc trailer. Nhân vẫn thường nói suốt đời Nhân chỉ sợ đám ruồi bầy kiến, những thứ miệng nhỏ nhưng tầm ăn hại rất đáng lo. Nguy hiểm cũng không vừa, không “chích” thì thôi, hễ “chích” ắt phải đau điếng. Tấm thân to lớn của Nhân, muốn được yên thân, muốn thoát ra khỏi họa ruồi muỗi cũng lắm công phu…
Giấc ngủ đến với Nhân thật dễ dàng mà Tâm Không thể có được. Nghĩ đến thời gian đằng đẵng của hai giờ bay đêm Tâm muốn được ngủ. Dù giấc ngủ có ngắn ngủi, vội vàng nhưng để Tâm đủ sức chịu đựng suốt hai giờ liền trong phòng lái nóng bức, trong vòng tay nhỏ bé quanh quẩn thủ đô, trong sự quan sát và chăm chú tối đa. Tâm muốn được sự sáng suốt và minh mẫn của loài dã thú. Sự nhanh nhẹn của loài dơi đen về đêm. “Black Bat” danh hiệu của phi tuần Tâm bay đên nay như nhắc nhở Tâm những đặc tính cần thiết của loài vật về đêm, Tâm cần phải hội đủ cho một chuyến bay đêm. Như thầm nhắc nhở Tâm đến cuộc sống hiện tại, cuộc sống của những bóng đen Vô Danh âm thầm chiến đấu.
Đàu óc tâm mỗi lúc thêm nặng trĩu bởi những tư tưởng hỗn độn, dồn dập đến. Cơ hồ Tâm thấy mình như chiêa lá bị lôi cuốn theo bởi những dòng tư tưởng không chủ định, khó xua đuổi. Tâm muốn quên tất cả và muồn dỗ giấc ngủ bằng phương pháp vào những ngày còn nhỏ Tâm thường áp dụng. Tâm bắt đầu đếm: “Một con cừu, hai con cừu…” đến lúc tiếng chuông điện thoại reo lên. Tâm không biết mình đã đạt đến con cừu thứ mấy trăm. Tâm uể oải bước ra khỏi giường. Bên kia Nhân cũng vừa nhỏm dậy. Nhân mở mắt, vươn vai. Gương mặt còn say ngủ. Rồi như can đảm vất bỏ tất cả sự quyến rũ của thú gối ấm chăn êm Nhân vụt thoát ra khỏi giường, đi thay áo bay.
Còn hơn hai mươi phút đến giờ cất cánh. Tâm và Nhân bày thức ăn ra bàn. Bữa ăn bỗng thành thịnh soạn với những khoanh bánh tét mới cắt, những mảnh chả lụa, fromage. Trừ hai chiếc vỏ hộp coca méo mó, lâu ngày, dùng làm hai vật uống nước. Những vật đơn sơ đó, mỗi lần dùng đến, tâm và Nhân vẫn thấy thích thú vì tính cách hữu dụng. Nhất là ở giá trị của việc thích nghi với mọi tình thế. Và trong hoàn cảnh hiện tại, không cho phép Tâm nghĩ đến những giọt cà phê, một ly sữa nóng có thể mang đến sự sảng khoái cho tinh thần trước mỗi cuộc bay đêm.
Bữa ăn vội vã qua mau. Tâm nhận chi tiết của phi vụ từ trung tâm hành quân. Nhân nhặt những vật thừa còn lại, cuộn trong tờ báo cũ cho vào sọt rác. Tâm trao mảnh giấy phi lệnh cho Nhân. Cả hai ra khỏi “trailer”. Căn cứ Tân Sơn Nhất đắm chìm trong giấc ngủ. Những ngọn đèn ủ dột sương đêm. Mặt bến đậu loang loáng nước sau cơn mưa chiều. Trăng mười sáu lên cao. Tâm thở mạnh, không khí mát lạnh đi sâu vào xương tủy. Tâm như vừa thoát ra khỏi một trạng thái bệnh hoạn và đang độ phục sức.
Tâm bước lên phi cơ. Viên cơ trưởng ra hiệu mở máy. Nhân sẵn sàng bên phi cơ kế cận. Những cánh quạt nặng nề chuyển động. Rồi sẵn đà ngon trớn, quay nhanh. Luồng không khí lạnh hắt vào mặt. Những vệt lửa xanh dài, thoát ra từ ống thoát. Âm thanh ròn rã xé đêm thâu, một thứ âm thanh vô duyên trong đêm tịch mịch, một thứ âm thanh gầm thét giận dữ của loài quái vật, trước giờ lâm chiến.
Tâm điều chỉnh ánh sáng trong phòng lái, kiểm soát phi vụ, thử vô tuyến. tất cả đều bình thường. Tâm nối đuôi Nhân di chuyển ra đường bay. Dọc theo đường di chuyển, những vận tải cơ là những bóng đen khổng lồ, mệt mỏi sau một ngày đường xa về, với vẻ buồn của một lữ khách vào mộtđêm xứ lạ, quê người. Những chiến đấu cơ lẩn khuất trong nhựng u đất che thân, mất hết vẻ kiêu hùng như những giờ phút trên trận mạc.
Phi cảng Tân Sơn Nhất im lìm, buồn nản cho số phận một cửa ngõ quốc gia trong thời chiến. Tâm nhớ tại đây, vào một đêm khi Tâm đặt chân lên quê hương sau những ngày xa xứ. Cũng vào giờ này, hai giờ đêm. Đón tiếp Tâm, chỉ có bóng dáng những hàng cây xơ xác, chỉ có một phi cảng vắng người vào giới nghiêm, tiêu điều như những thành quách hoang phế lâu đời. Tâm và các bạn phải ngồi nơi bậc thềm chờ đến suốt sáng.
Sau bao ngày xa quê hương, trở về nhìn đất nước điêu linh, thống khổ. Bên tai, không còn âm thanh dịu vợi của một phi cảng thanh bình, mà chỉ còn những tiếng đại bác từ xa vọng lại. Trước mặt không còn những bóng dáng bình thản của một dân tộc phú cường mà chỉ còn lại dáng dấp tả tơi của một vài người dân Việt, sống nghề khuân vác, với tấm thẻ An ninh nơi ngực, co ro ngủ dọc hành lang.
Tự nhiên, Tâm không còn nghĩ đến vòng tay chờ đợi của người yêu. Tâm không còn nghĩ đến cảnh đón tiếp rộn ràng của người thân trong gia quyến mà Tâm hằng mong đợi bấy lâu, Tâm chỉ còn nghĩ đến sự khác biệt của những dân tộc, nghĩ đến nỗi bất hạnh của kiếp người bởi tai nạn chiến tranh. Giờ đi qua chốn cũ Tâm như vô tình vấp phải nỗi đau đớn của vết thương chưa lành hẳn. Một vết thương vẫn tiềm tàng mà bấy lâu Tâm không thấy sức mạnh của đớn đau vì tâm đang sống trong một xã hội mà quanh Tâm mội người đều mang một vêt thương khó trị như Tâm. Vết thương đó sẽ đau đớn bao nhiêu khi con người lạc vào một xã hội an lành. Tâm nghĩ, ngày nay cũng chính vì vết thương chung đó, chính vì hoài bão chung của dân tộc, mong xóa tan những đớn đau đang đè nặng lên quê hương, Tâm cũng như Nhân, cũng như tất cả các bạn cùng chung cuộc sống nơi Phi Đoàn phải chấp nhận mọi kham khổ, gian nguy và cố tìm cho mình ý nghĩa ở mỗi chuyến bay.
Phi cảng lùi dần về sau, như mang theo ánh sáng buồn bã, như theo những suy tư của Tâm hiện thời. Giờ Tâm phải trở về thực tế, trở về với công việc thường xuyên, khiểm soát phi cơ trước khi cất cánh.
Tâm thường đọc bài vè do mình đặt ra:
“Cuộc đời bay bổng đừng quên
PRE TAKE OFF CHECK ta nên sẵn sàng,
Phòng khi gió lớn gió ngang
TRIM, LOCK, OFF, SAFE thẳng đàng mà đi”.
Bài thơ gồm những danh từ chuyên môn, những điểm chính yếu, không cho phép Tâm quên ở mỗi chuyến bay. Tâm vẫn thấy thích thú, dù lời thơ thiếu âm điệu, ý thơ gượng ép. Nhưng Tâm vẫn tự nhủ, bài thơ đó đã giúp Tâm vượt qua được những trở ngại đầu, mỗi lần cất cánh.
Tâm kiểm soát lại một lượt chót bộ phận lái. Các phi kế vẫn bình thường trong ánh sáng lân tinh vừa đủ. Nhìn khoảng đen bao la trước mặt, Tâm có cảm tưởng dãy đen hai bên phi đạo hướng lên cao. Đài kiểm soát cho lệnh cất cánh. Tâm đẩy tay ga vế trước, đến vị thế tối đa. Toàn thân phi cơ rung chuyển. Tâm nhả thắng, phi cơ tròng trành rồi lao về phía trước. Những ngọn đèn phi đạo kéo chạy về sau, càng lúc càng nhanh, đến lúc phi cơ đạt đến vận tốc cất cánh. Tâm nâng nhẹ cần lái, phi cơ lên cao. Tâm nhìn phía trước, phi cơ của Nhân đắm chìm trong khoảng sâu đêm tối mà Tâm chỉ có thể định được vị trí bằng những ngọn đèn nhỏ bé nơi cánh và đuôi.
Tâm giảm ánh sáng trong phòng lái để tăng thêm tầm nhìn bên ngoài. Thành phố Saigon trở nên nhỏ bé, chỉ còn là một sự tập hợp của những đường đen sâu thẳm.
--Black Bat 2, đây 1 gọi.
--2 : nghe 5/5
--Trăng đẹp quá!
-- Black Bat 2, hiểu.
Tâm mỉm cười khi nghe Nhân truyền cho mình một công điện vu vơ. Giờ nếu không chịu một kỷ luật gắt gao của phương thức vô tuyến chắc Tâm và Nhân sẽ nói chuyện thất nhiều để xua đuổi cơn ngủ có thể đến bất cứ lúc nào hay để chia xẻ những vẻ đẹp trăng sao. Những vẻ đẹp của quê hương mình bên dưới vào một đêm trăng sáng. Quê hương đáng yêu với những dòng sông phù sa uốn khúc, phơi mình trong ánh trăng, như những dòng sữa mẹ hiền hòa. Quê hương của những mái tranh còn đắm chìm trong tăm tối. Quê hương của một giống dân chất phác, thất thà còn mãi lận đận với chiến tranh. Quê hương của những lo âu, sợ hãi. Quê hương của những tràng pháo kích bừa bãi vào thành phố. Quê hương của những tay, những chân, tim, phổi bị phân tán bởi sức công phá của những mảnh hỏa tiễn vô tâm.
Nhìn màu đen bao la bên dưới Tâm tìm cho mình ý nghĩa của phi vụ tuần phòng ban đêm. Tìm giá trị của hy sinh, đánh đổi kham khổ với một giấc ngủ yên lành dù chỉ qua một đêm ngắn ngủi. Tâm nhớ những hôm sống giữa đô thành, vào những lần địch pháo kích, Tâm ôm đứa con trai vào lòng, ngồi bất động. Tâm lý bắt Tâm phải làm một cái gì để được yên tâm, nhưng khi nhớ đến mái ngói đơn sơ, trần nhà mỏng manh Tâm chỉ còn trông cậy vào định mệnh. Rồi khi sóng gió đi qua, con người như những con vật thí nghiệm, vừa thoát ra khỏi một cơn thử thách của tử thần, bắt đầu bàn tán xôn xao, rộn rã như khi đề cập đến một tấn tuồng hấp dẫn mà họ là những nhân vật chính, trong đó có sự góp mặt của những phi tuần khu trục trên trời là nguyên nhân quan trọng để địch rối trí, sợ hãi rút lui. Nỗi vui mừng, hãnh diện đã xâm chiếm tâm hồn Tâm lúc đó, khi Tâm nghĩ những phi tuần họ đang trông cậy, đang nói đến không ai xa lạ hơn những gương mặt quen thuộc của bạn bè nơi Phi Đoàn.
Đêm nay đến lượt Tâm muốn mang niềm hy vọng đó cho muôn người và riêng cá nhân Tâm. Một cá nhân với những hạnh phúc riêng tư. Đến lúc Tâm phải trả những gì Tâm đã hưởng hay những người thân quanh Tâm đã hưởng.
*
Thời gian nặng nề trôi qua. Mỗi vòng bay quanh thủ đô không đầy năm phút. Tâm không nhớ mình đã bay đến vòng thứ mấy mươi. Chiếc kim dạ quang trên mặt đồng hồ như vẫn cố định. Tâm thấy sức lực mình tiêu hao theo bước chân chậm chạp của thời gian. Mồ hôi ướt đẫm sau lưng, đọng đầy nơi vành tai, giữa hai chiếc 'écouteur' của chiếc nón bay chật hẹp. Ống gió nhỏ bé không đủ sức làm dịu bớt sức nóng trong phòng lái. Cao độ bay thấp dần theo trần mây mỗi lúc một xuống thấp. Những đám mây nặng chĩu kéo về, ánh trăng bị ngăn chặn trên cao. Quanh Tâm chỉ còn lại bầu trời tối đen như mực. Ánh sáng từ thành phố vọng lên chiếu sáng những hạt mưa đầu, rơi trên mặt kính.
--Black Bat 2, đây 1 gọi.
--Black Bat 2 nghe 5.
--Nhớ mở pilot heater ON khi vào mây, nếu lạc 1. Nhớ bay phi cụ.
--2 hiểu.
Lời nhắc nhở nghe nghiêm trang, đanh thép. Tâm biết vào giờ phút này, giờ phút hiểm nguy giữa mưa sa gió táp. Chỉ mình mới có thể định được mạng sống cho mình. Những lời nhắc nhở kia không phải vô ích. Trái lại đã nói lên sự lo lắng sâu xa, trách nhiệm nặng nề của người phi công chỉ đạo.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Sàigòn chỉ còn là một vùng ánh sáng mờ ảo chìm sâu trong biển nước. Ánh đèn từ phi cơ Nhân bị xóa nhòa qua màn mưa, khi ẩn khi hiện với những đám mây vụt thoáng lướt qua. Tâm thấy cuộc sống của mình đã như cây khô trước gió. Chỉ cần một giây sơ ý, một chút lỗi lầm sẽ gãy đổ tang thương, sẽ không còn dịp để ôn lại những gì mình đã làm trong giây phút cuối, sẽ không còn đủ thời giớ dù chỉ để gọi một tên thương yêu.
Tâm bám vào những ngọn đèn chuẩn của Nhân như bám vào niềm tin tưởng, vào ánh đuốc soi đường trong đêm tối. Chưa bao giờ Tâm thấy cuộc đời mình bấp bênh và gắn chặt với cuộc sống của người bạn đường trong chuyến bay đêm nay.
Nhớ đến phi vụ đang thi hành, một phi vụ bỏ dở mà giờ đây Tâm và Nhân đang trên đường trở về vì thời tiết xấu. Phi vụ dở dang như tan vỡ hy vọng của bao người đang trông cậy vào phi tuần túc trực trên không. Tâm thầm mong "Chúng đừng pháo kích trong đêm mưa này" và thấy như muốn lưu lại dù với bầu trời tối tăm giông bão, dù ở lại âm thầm như những bóng DƠI ĐEN, dù với hai giờ túc trực gian khổ trên không để trở về bến đậu với đôi cánh còn đấy bom đạn. Rồi để tự nhủ rằng:
--Địch đã không pháo kích, tấn công. Quê hương thương yêu đã qua khỏi một đêm u sầu, tan tác vì bom, đạn.
Võ Quang Thẩm
(tr. 345- 360 Tập Thơ Truyện KQ Thời Chiến)
Sinh năm 1939 ở Kiến Hòa, Nam Phần.
Xuất thân là hoa tiêu quan sát (1964-65), hoa tiêu khu trục A1H (1965-69) và hoa tiêu phản lực A 37.
Từng bay tham dự hầu hết trên khắp các chiến trường: Bồng Sơn, Tây Ninh, Saigon (Mậu Thân) rồi U Minh, Hà Tiên, Mộc Hóa, Cai Lậy, sầm Giang, Kampuchea. Từng có nhiều truyện ngắn đăng trên tập san Lý Tưởng từ năm 1965. Hiện nay mang cấp bậc Thiếu Tá hoa tiêu, phục vụ ở Sư Đoàn 4 KQ.