Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #16
    2013 giải quyết Biển Đông tại LHQ

    Theo người viết, nó nằm trong lộ-trình Eurasia: Mỹ phải nhào nặn ra các biến cố xung đột đi đến việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) phản đối việc sử dụng vũ lực; ủng hộ các nước có quyền khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình; hoan nghênh các nỗ lực tiến tới hình thành Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

    “Nói tóm lại, sau 2013, người viết nói ra một câu nghe quen lá nhĩ như: Riêng về Hoàng Sa, Việt Nam cứ làm Chủ, TQ quản lý, và Mỹ lãnh đạo” Đó là mô hình mà Mỹ cố nhào nặn ra nhiều biến cố trong thập niên qua, mà họ gọi là Political Affairs phải có trong lộ trình chính trường, ép Trung Quốc vào khuôn-khổ phải tuân hành luật pháp quốc tế, và đây cũng là lý do tại sao 1949 Permanent Government [Harriman+Bushes] phải dùng nguyên phi đội Civil Air Transport Service của CIA, áp buộc Tưởng Giới Thạch và phe nhóm ra Đảo Đài Loan định cư, rồi nhường cái ghế LHQ cho Mao Trạch Đông và xóa bỏ miền nam Việt Nam để cho đến ngày hôm nay Trung Quốc không còn chơi luật rừng nữa, và cũng là điều kiện không thể đảo ngược vì TQ không muốn bị cô lập, đó là cái lưới thiên la địa võng mà Mỹ đã chắc ăn khi giăng ra bởi tu chánh án ”Cooper Church” (di tản chiến lược) Không còn bao lâu nữa độc giả sẽ thấy rõ những lời tiên đoán của người viết vào 2013 là y chang như trên trong trật tự thế giới mới mà Permanent Government gọi là “The New World”.

    Nhìn vào các hoạt động ngoại giao của Mỹ trong thời gian vừa qua, có thể thấy trong thời gian tới, dù ai lên nắm quyền thì cũng phải quan tâm tới ưu tiên chiến lược dầu lửa; Một mặt để bảo đảm năng lượng cho sự tăng trưởng ổn định và lâu dài của kinh tế Mỹ và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của dân chúng Mỹ. Mặt khác, vũ khí dầu lửa được dùng để khống chế các đối thủ đang và sẽ cạnh tranh kinh tế quyết liệt với Mỹ trong tương lai. Tuy nhiên, thế giới hiện nay đang thay đổi theo hướng mà ngay cả cường quốc mạnh nhất cũng không thể đạt được một số mục tiêu quốc tế cơ bản bằng hành động đơn phương. Do đó, sớm muộn thì Mỹ cũng sẽ phải điều chỉnh chính sách cả về chính trị-an ninh và kinh tế đối ngoại cho phù hợp với những chiều hướng và thách thức mới trong đó có hiện tượng đặc biệt là “tư nhân hoá chiến tranh” từ các nước nhỏ trước khi Mỹ thật sự can thiệp, điều nầy lập lại kinh nghiệm từ các thế chiến trước đây.

    Trong giai đoạn mới nầy, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam trong cuộc gặp với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Hawai mới đây. Trong cuộc gặp, Ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước hoan nghênh việc Mỹ tăng cường hợp tác với khu vực vì hòa bình, ổn định và phát triển ở châu Á-Thái Bình Dương; có sự chuẩn bị chu đáo cho Hội nghị cấp cao APEC 2011, đúng theo mưu đồ ước tình của Mỹ.

    Ông Sang, Chủ tịch nước đồng thời bày tỏ tin tưởng Hội nghị sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy hợp tác, liên kết và phục hồi kinh tế trong khu vực, nâng cao vị thế của APEC. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược; xem như sự đóng góp của Ngoại trưởng Clinton đối với sự phát triển quan hệ Việt-Mỹ thời gian qua là đáng khích lệ.

    Chủ tịch nước bày tỏ vui mừng trước sự phát triển sâu rộng của quan hệ hai nước, trên cả bình diện song phương và đa phương, tạo cơ sở quan trọng để đưa quan hệ Việt-Mỹ lên một tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên thế giới. Ông Sang nhờ Ngoại trưởng Clinton chuyển lời mời Tổng thống Barack Obama thăm Việt Nam, đồng thời mời Ngoại trưởng và gia đình sớm thăm lại Việt Nam. Vì đả đến thời điểm roll-back Hoa Kỳ không để VN rơi vào tay Trung Quốc như trước 2010, và VN đã phải khôn ngoan giữ chặt chủ quyền biển đảo nếu không có Mỹ phò trợ?

    Ngoại trưởng Clinton chuyển lời cảm ơn của Tổng thống Obama tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về sự ủng hộ, hợp tác và những đóng góp tích cực của Việt Nam trong suốt năm APEC 2011. (Vì VN có số lượng dầu lớn nhứt trong vùng theo như kế hoạch Mỹ phải nắm chắc vòi xăng từ Trung Đông qua Á Châu nên phải hy sinh chiếc ghế LHQ lấy từ THQG cho Trung Cộng và xóa bỏ Việt Nam Cộng Hoà ngay sau khi hệ thống vệ tinh phát hiện tài nguyên dưới lòng đất).

    Ngoại trưởng Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược. Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác với tất cả các nước liên quan đóng góp vào tự do và an toàn hàng hải; ủng hộ việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); phản đối việc sử dụng vũ lực; ủng hộ các nước có quyền khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình; hoan nghênh các nỗ lực tiến tới hình thành Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Cũng trong dịp nầy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp gỡ Thống đốc Hawaii Neil Abercrombie, lãnh đạo các tập đoàn của Mỹ và người Việt ở Hawaii.

    Riêng ông đại sứ Shear cho biết các ưu tiên cao nhất trong nhiệm kỳ của ông là gia tăng hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ và thúc đẩy tiến trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Ông bình luận rằng để xây dựng được một mối quan hệ như vậy thì điều quan trọng nhất là phải xây dựng lòng tin. Nhưng có một điều chắc chắn “làm kẻ thù với Mỹ thì dễ, còn làm bạn với Mỹ thì rất khó”

    Tân đại sứ Mỹ cũng khẳng định một trong những ưu tiên quan trọng nhất của ông là phát triển hợp tác kinh tế song phương và nỗ lực để tăng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam. Tổng kim ngạch hai chiều kể từ khi hai nước ký hiệp định thương mại cách đây 10 năm đã tăng từ 1,5 tỷ lên 18,6 tỷ USD tính đến năm 2010. Nên nhớ rằng kinh-tế là “diện” nhân quyền là” điểm”, đó là cái lưới thiên la điạ vỏng mà một nước nhỏ bé như VN làm sao mà thoát được. Theo quý bạn đó là may hay rủi? Nhưng theo tôi may nhiều rủi ít.

    Mối quan hệ quân sự Việt - Mỹ cũng "có cải thiện đáng kể", theo lời nhận xét của đại sứ Shear. Liên quan đến vấn đề Biển Đông, ông nhắc lại quan điểm ủng hộ tiến trình ngoại giao hòa bình của tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền; phản đối sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Ông nhấn mạnh Mỹ chia sẻ lợi ích cùng các nước trong việc bảo đảm tự do hàng hải và ủng hộ giải pháp đa phương đối với vấn đề Biển Đông.

    Cũng theo đại sứ Shear, việc hợp tác giáo dục sẽ cho các sinh viên và học sinh hai nước cơ hội học hỏi lẫn nhau. Việt Nam hiện có 13.000 du học sinh đang theo học tại Mỹ, trong đó có nhiều sinh viên và học giả xuất sắc được đưa sang đào tạo qua các chương trình của Bộ Ngoại giao Mỹ, dĩ nhiên là tư tưởng người Mỹ và số người nầy sẽ đặt ngồi vào ngôi vị điều hành chính quyền trong tương lai chiếm 80%, lúc nầy không phải đảng cầm quyền mà là Quốc Hội; dĩ nhiên mọi việc sẽ chuyển tiếp từ từ rất khoa học (art de transition) Hai nước cũng có các chương trình trao đổi giáo dục dành cho bậc phổ thông để gài-trồng nhân lực.

    Trước đó, khi được nghị viện Mỹ phê chuẩn làm đại sứ mới tại Việt Nam thay ông Michael Michalak hồi đầu tháng August, ông Shear đã gửi lời chào tới Việt Nam bằng tiếng Việt với chất giọng đầy truyền cảm. Khi được hỏi ông chuẩn bị như thế nào để đảm trách vai trò là đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông cho biết việc đầu tiên sẽ làm là học tiếng Việt.

    Sau khi trình quốc thư tại Hà Nội, đại sứ Mỹ tiết lộ đang học tiếng Việt và đã nhận "lời thách" của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về việc ông có thể nói chuyện bằng tiếng Việt vào cuối nhiệm kỳ. Tân đại sứ Mỹ bày tỏ ông cùng vợ và con gái "đã bị Việt Nam quyến rủ" ngay từ lần đầu đến Việt Nam 2007 bởi sự thân thiện của người Việt Nam và thích thú các món ăn Việt. Chúng ta nên nhớ những câu nói ngoại giao bằng cách tiên học lễ hậu học văn như vị đại sứ đầu tiên là một POW [Peterson] để cho biết người Mỹ đả thua trận nên phải dùng bàn tay bọc nhung trong buổi sơ giao vô cùng khiêm tốn, nhưng hảy coi chừng?

    Trước khi đến Việt Nam, ông David Shear đã trải qua 30 năm kinh nghiệm trong ngành ngoại giao và giữ chức phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương. Ông từng công tác tại một số nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Malaysia.

    Ông tốt nghiệp ngành Quan hệ quốc tế của Trường nghiên cứu quốc tế cấp cao John’s Hopkins, sau đó có thời gian theo học tại các trường đại học của Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Đại sứ Mỹ có thể nói tốt tiếng Nhật cùng tiếng Trung-Hoa và ông có ý định sẽ học thêm tiếng Việt. Sau nầy Bạn có thể đặt các câu hỏi phỏng vấn đại sứ Mỹ David Shear.

    Dân quyền cho VN dưới áp lực Mỹ từng bước khá chậm qua phương thức kinh tế là “điểm”, dân quyền là “diện”. Phải nói thẳng sự thật quá phủ phàng cho Miền Nam VN, ngày hôm nay trang sử (thực thể nửa nước VNCH) đã sang trang mà, Siêu Chính Phủ (permanent government) xem những người Việt hải ngoại như đã được đền bù và đang đến điểm mốc thời gian decent interval 2023 biến họ thành “Cứt Trâu để lâu hóa bùn” vì không còn tồn tại; Thế là xong, không còn nhân chứng nào của cuộc chiến đã qua còn nhởn nha trên mặt đất. Chúng ta sẽ chứng kiến các Hội đoàn sẽ tắt lịm theo thời gian, như vài sợi nắng chiều thoi thóp sau rặng núi Trường Sơn trên diễn tiến của trục lộ đồ Eurasia Great Game-1 chậm rãi trôi qua).

    Ngày nay, dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ trong cuộc Đối thoại Nhân quyền Mỹ-Việt là Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách nhân quyền, dân chủ và lao động Michael Posner, và trưởng phái đoàn Việt Nam, Vụ trưởng Hoàng Chí Trung. Đây là vòng thảo luận thứ 16 trong cuộc đối thoại song phương, mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mô tả trong một thông cáo báo chí hôm 7 tháng 11, là “dựa trên các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau... nhằm thu hẹp những khác biệt giữa hai bên trong lĩnh vực nhân quyền.”

    Tiến sĩ Scott Flipse là một chuyên gia về Việt Nam và là Phó Giám đốc Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ, ông từng nhiều lần tới thăm Việt Nam và đã gặp một số nhân vật bất đồng chính kiến trong các nhà tù, kể cả Linh mục Nguyễn văn Lý và các luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân.

    Bất chấp những quan hệ nồng ấm hơn về nhiều phương diện, kể cả kinh tế, thương mại và quân sự, nhân quyền vẫn là lĩnh vực mà Việt Nam và Hoa Kỳ có nhiều khác biệt quan điểm nhất. Trong phúc trình nhân quyền thường niên công bố hồi tháng Tư năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ lưu ý rằng trong năm 2010, nhà nước Việt Nam đã “tăng các biện pháp hạn chế các quyền riêng tư của công dân, và các quyền tự do báo chí, ngôn luận, tụ tập, đi lại và lập hội”.

    Hồi tháng 9, hơn 10 nhà lập pháp Mỹ đã gửi thư kêu gọi tân đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam hãy nêu bật các quan tâm về vấn đề pháp quyền, tự do Internet, và chiến dịch đàn áp giới bất đồng chính kiến tại nước cộng sản Việt Nam.

    Tiến sĩ Scott Flipse, phó Giám đốc USCIRF, nhận định về cuộc đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt: “Tôi tin rằng việc hai nước nói chuyện với nhau rất là quan trọng, nhưng Việt Nam cần nghe rằng các quan hệ tốt đẹp sẽ tùy thuộc vào những cải thiện đạt được trong lĩnh vực nhân quyền. Đó là điều rất quan trọng cho phía Hoa Kỳ, và đó là thông điệp chúng ta nên gửi tới Việt Nam một cách rõ ràng.”

    Tiến sĩ Scott Flipse cho biết ông đã đề cập tới vấn đề nhân quyền tại Việt Nam trong cuộc tiếp xúc với Trợ lý Ngoại Trưởng Michael Posner.

    Ông nói: “Tôi nói với ông rằng ở Việt Nam có quá nhiều người tù tội, nhiều người bị giam vì các hoạt động tôn giáo, và vẫn có nhiều người bị ép buộc từ bỏ niềm tin tín ngưỡng, có những du đãng đến đánh đập, bắt bớ giáo dân Ky tô tham gia các buổi cầu kinh ban đêm. Có nhiều Phật tử, kể cả những người theo phái Làng Mai, bị chính quyền dùng bạo lực cấm hoạt động, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thì không được công khai hoạt động hợp pháp. Đó là chưa kể các chiến dịch đàn áp tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài... Rất nhiều điều tôi muốn ông Posner nêu lên với phía Việt Nam.”

    Được hỏi về phản ứng của Trợ lý Ngoại Trưởng Posner về yêu cầu đó, Tiến sĩ Scott Flipse cho biết: “Ông ấy nói tự do tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc đối thoại song phương. Tôi không nghi ngờ gì điều đó, nhưng vấn đề là nếu các cuộc thảo luận ấy diễn ra mà hai bên không tìm cách đạt các mục tiêu cụ thể và khả thi, những cải thiện cụ thể, thì sẽ có tác động ngược, chúng chỉ là những lời nói suông.”

    Tiến sĩ Scott Flipse nói cách duy nhất để buộc Việt Nam phải chú ý là liên kết nhân quyền với toàn bộ cấu trúc các quan hệ Mỹ-Việt, từ Tòa Bạch Ốc, tới các cuộc thương thuyết thương mại, và các phái đoàn quân sự vv. Ông nói: “Người Việt Nam cần nghe chúng ta khẳng định nhân quyền là một vấn đề quan trọng và không thể xúc tiến quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ, nếu không có những cải thiện cụ thể về nhân quyền”.

    Trong một phúc trình công bố hồi tháng Ba năm nay, Tổ chức Ký giả Không biên giới xếp hạng Việt Nam thứ 165 trong tổng cộng 178 nước về chỉ số tự do báo chí, và mô tả Việt Nam là “kẻ thù của Internet”. Tiến sĩ Scott Flipse cho biết ý kiến của ông về vấn đề này: “Tự do Internet là một vấn đề thiết yếu, không nên coi tự do internet là chỉ liên quan tới nhân quyền, nó còn là một vấn đề thương mại, Việt Nam nên nghe không những ông Posner nói tới tự do internet, mà cả Bộ trưởng Thương Mại và các phái đoàn thương mại Mỹ đi thăm Việt Nam cũng nên nêu lên vấn đề này”.

    Tiến sĩ Scott Flipse nhắc tới một số tù nhân lương tâm ở Việt Nam, đặc biệt là Linh mục Nguyễn văn Lý, hiện đã bị đưa trở lại vào tù. Ông nói: “Tôi đã gặp Linh mục Lý 2 lần trong tù trong các chuyến đi thăm Việt Nam. Tôi biết Cha Lý là một người can đảm. Tôi biết Cha Lý tranh đấu ôn hòa cho tự do, và sự kiện Cha Lý vẫn tiếp tục bị cầm tù là một vết nhơ trong các quan hệ Việt-Mỹ”.

    Tiến sĩ Scott Flipse nói ông hy vọng Linh mục Nguyễn văn Lý sẽ được trả tự do lập tức, một điều mà ông cho là rất có thể xảy ra sau vòng đối thoại nhân quyền lần này, nhưng ông nói ngoài Cha Lý, còn có nhiều trường hợp khác, những tín hữu đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Ky tô giáo, Tin Lành khác đang bị cầm tù, cùng với các nhà hoạt động nhân quyền, các luật sư bênh vực cho các cộng đồng tôn giáo cũng nên được phóng thích.

    Tiến sĩ Scott Flipse nói ông không phải là người duy nhất nêu lên các trường hợp cá biệt vừa kể, mà các tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia về Việt Nam khác cũng nhắc tới các trường hợp này trong cuộc tiếp xúc với Trợ lý Ngoại Trưởng Posner.

    Ông nói: “Đã đến lúc nên làm nhiều hơn là chỉ nói suông, phải làm thế nào để Việt Nam phải hành động bằng cách phóng thích những vị này, hơn thế nữa, ngay từ đầu Việt Nam lẽ ra đã không nên bắt giữ họ.”

    Tiến sĩ Flipse lặp lại đề nghị của Ủy ban Tự Do Tôn giáo Quốc Tế, là nên liên kết nhân quyền với các quan hệ khác, kể cả trong lĩnh vực chiến lược và an ninh.

    Tiến sĩ Flipse nói: “Thông điệp mà chúng ta cần gửi đến người Việt Nam là đây là quyền lợi của người Mỹ, và chúng tôi sẽ không tiến hành các chương trình phục vụ quyền lợi kinh tế và an ninh của Việt Nam, đặc biệt liên quan tới cuộc tranh chấp Biển Đông, cho tới khi nào có tiến bộ về các quyền lợi của Hoa Kỳ như nhân quyền và tự do tôn giáo.”

    Mới đây, trong một bài tham luận về quan hệ Mỹ-Á Châu, Ngoại trưởng Clinton khẳng định rằng hơn cả sức mạnh quân sự và quy mô của nền kinh tế Mỹ, tài sản quốc gia quý báu nhất là sức mạnh của các giá trị Mỹ, đặc biệt là lập trường ủng hộ dân chủ và nhân quyền, mà theo bà là trọng điểm của chính sách đối ngoại, kể cả chính sách nhìn về khu vực Châu Á-Thái bình dương hiện nay.

    Ngoại trưởng Clinton nói: “Giữa lúc chúng ta thắt chặt hơn các quan hệ với những đối tác mà chúng ta còn nhiều bất đồng về các vấn đề ấy, chúng ta sẽ tiếp tục kêu gọi họ hãy cải cách để nâng cao kỹ năng cai trị, bảo vệ nhân quyền và thăng tiến các quyền tự do chính trị.” Việt Nam lại thêm một lần nữa là chư hầu của Mỹ, nhưng điều quan trọng là vễn giữ được Biển Đảo của cha ông để lại.

    Ngoại trưởng Clinton nêu lên trường hợp Việt Nam, nói rằng Washington đã khẳng định rõ ràng với Việt Nam rằng sự phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt-Mỹ đòi hỏi Hà nội phải đề ra những bước để bảo vệ tốt hơn các quyền làm người và thăng tiến các quyền tự do chính trị. Tiến sĩ Scott Flipse kết luận rằng những lời lẽ ấy đã làm ông ấm lòng, mặc dù ông chưa biết ngoài đời thực, chính sách ấy sẽ được áp dụng như thế nào cho có hiệu quả, dĩ nhiên nó phải nằm dưới chiếc đủa thần huyền biến của Bà Phù Thủy!


    QUEENBEE-ONE
    Last edited by Phòng Trực; 06-07-2013, 03:02 PM.

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #17
      Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

      Những biến chuyển kinh ngạc từ khởi điểm roll-back 2010

      Trước đó, theo phúc trình thì mặc dù Canberra và New Delhi đã ký tuyên bố chung về hợp tác an ninh hồi năm 2009, nhưng mức độ thao dượt quân sự đã chậm lại kể từ đó vì chưa đến thời điểm roll-back (Mỹ phải trở lại TBD năm 2010) Tài liệu này theo diễn tiến Eurasia cũng nhấn mạnh đến một loạt dự trù những vụ gây hấn của TQ đối với các nước nhỏ hơn kể từ năm 2009, nhất là ở Biển Đông, và nói thêm rằng sự cạnh tranh Ấn-Trung ở trên Biển-Đông có thể gia tăng.

      Một phúc trình chuyên môn cho rằng Úc và Hoa Kỳ nên hình thành kế hoạch đối thoại an-ninh tay ba với Ấn Độ để giúp ngăn chận mọi hành động gây hấn của hải quân Trung Quốc. Bản phúc trình phổ biến của 3 nhóm chuyên gia gồm Viện Lowy của Úc, hội Khảo sát-Quan sát độc lập của Ấn Độ và Hội Heritage ở Hoa Kỳ, kêu gọi Úc và Mỹ gia tăng hợp tác với Ấn Độ: Kế hoạch hợp tác giữa Mỹ-Úc-Ấn tại Ấn Độ-Dương và Thái Bình Dương lưu ý rằng hiện New Delhi vẫn chưa xem Úc là đối tác an ninh ưu tiên nhưng Mỹ sẻ hoà nhập hai nước cùng keo sơn với nhau.

      Thế liên hoàn Mỹ-Úc-Ấn-Nhật phải hình thành 2011
      Các nước có hợp tác phòng ngừa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc; Nga cũng tiến hành tập trận và tăng cường binh lực đề phòng Trung Quốc.
      Cuối năm 2011, Mỹ và Úc sẽ tăng cường đáng kể quan hệ quân sự; Ấn Độ và Mỹ cũng tích cực thúc đẩy một cơ chế đối thoại an ninh tay ba Mỹ-Ấn-Nhật. Thủ tướng Nada dự định thăm New Delhi. Một thế liên hoàn đang dần dần hình thành để đối phó với sự trỗi dậy tham vọng của Trung Quốc; Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông và tăng cường tiềm lực hải quân, không ngần ngại đe dọa, chèn ép hầu hết các nước có tranh chấp với họ, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ. Điều này gây lo âu cho các nước liên quan trong vùng và Mỹ, cường quốc cho đến nay, vẫn đóng vai trò bảo đảm ổn định cho khu vực Thái Bình Dương là nằm trong kế hoặch Eurasia-1 (1920-2020).

      Tàu chiến Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ tập trận tại Vịnh Tokyo:
      Hợp tác tay ba, tay tư mang tính phòng ngừa. Từ năm 2009, bốn nước này đã khởi động sự hợp tác tay ba, tay tư. Nhưng các hành động gần đây của Trung Quốc đã thúc đẩy bốn nước lớn châu Á-Thái Bình Dương nói trên xích lại gần nhau hơn trong lĩnh vực an-ninh quốc phòng; Hồi giữa năm vừa rồi 2010, decent interval roll-back, hải quân Mỹ, Úc, Nhật Bản lần đầu tiên tập trận chung tại Biển Đông. Tàu chiến Úc cũng đi lại thường xuyên hơn tại Ấn Độ Dương.

      Tàu chiến Úc và Ấn Độ tập trận tại Ấn Độ Dương.
      Nổi bật nhất là việc củng cố thêm liên minh quân sự Mỹ-Úc; Ngày 15/9/2011 vừa rồi, kỷ niệm 60 năm ngày ký hiệp ước phòng thủ chung giữa hai nước này, Bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao hai nước hội đàm tại San Francisco (Mỹ) đã đạt các thỏa thuận mở đường cho quân đội Mỹ quyền tự do tiếp cận các căn cứ tại Úc, cung cấp cho Mỹ với một chỗ đứng vững chãi nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
      Đại diện hai nước còn thảo luận các biện pháp thúc đẩy hợp tác song phương trong các dự án về không gian và tên lửa phòng thủ. Tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ 7 Barack Obama dự định thăm Úc để tăng cường quan hệ liên minh với nước này; Năm 2010, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã cam kết cùng với Úc chia sẻ quyền sử dụng các hải cảng và căn cứ. Quân đội Mỹ có thể bố trí sẵn thiết bị của mình trên đất Úc để sử dụng dễ dàng hơn các cơ sở và hải cảng của nước này.
      Patrick Cronin, chuyên gia quân sự đặc trách vùng Đông Á tại trung tâm nghiên cứu Center for a New American Security của Mỹ, nói trên Thời báo tài chính (Anh), cho rằng: “Úc đóng một vai trò bản lề trong khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương”. Sự hợp tác Mỹ-Úc “làm cho toàn thể khu vực được yên tâm hơn”.
      Ngày 12/9, tại Washington, đã mở ra cuộc đối thoại chiến lược Mỹ-Ấn lần thứ tư liên quan Châu Á-Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương và chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á sắp tới tại Indonesia. Hai bên còn bàn thảo về cuộc họp đầu tiên của cơ chế đối thoại tay ba Mỹ-Nhật-Ấn, sẽ được mở ra từ nay đến cuối năm 2011 tại Nhật Bản.

      Nga cũng tham gia nhưng chủ yếu độc diễn
      Mạng Sina.com ngày 15/9 bình luận “Nga sẽ không dễ dàng theo Mỹ, Nhật để bao vây Trung Quốc”, đưa lại tin của tạp chí Tin tức kinh tế Nhật Bản, cho biết, bắt đầu từ tháng 9/2011, Hạm đội Thái Bình Dương của Nga sẽ lần lượt cùng với Nhật Bản và Mỹ tiến hành diễn tập quân sự liên hợp. Mạng Sina.com cho rằng “Nếu Nga liên kết cùng Mỹ, Nhật kiềm chế Trung Quốc thì vòng vây đối với Trung Quốc không còn là hình chữ C mà sẽ là khép kín, thành hình chữ 0, điều này có ảnh hưởng to lớn đối với Trung Quốc”. Tuy cho rằng Nga không tham gia vào thế liên hoàn nhằm bao vây Trung Quốc, nhưng nêu lên mấy hiện tượng:

      (1) Trung Quốc, Nga và 4 nước thuộc Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) vốn dự định tổ chức diễn tập quân sự liên hợp 2 năm 1 lần, nhưng cuộc diễn tập dự định sẽ tổ chức vào mùa hè năm nay đã bị hoãn lại. Nga chủ trương diễn tập quân sự trên Biển Nhật Bản, Trung Quốc lại tránh khu vực biển này

      (2) Nga bằng việc tiếp cận gần hơn với Bắc Triều Tiên và các nước, tăng cường ưu thế đối với châu Á, nhân tố thực chất phía sau của vấn đề này là quan hệ Trung Quốc – Nga đang có những thay đổi không tốt. Quan chức ngoại giao của Nga từng tiết lộ, việc Hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo Triều Tiên và Nga thực chất là do phía Bình Nhưỡng đề xuất. Triều Tiên muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc, còn Nga cũng muốn kiềm chế Trung Quốc và tìm kiếm chỗ đứng chân vững chắc tại châu Á

      (3) Quan hệ Mỹ-Nga không ngừng được cải thiện dưới chính quyền Obama, trong khi Trung Quốc không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự thời gian qua, Nga đã bắt đầu chú ý đến “mối đe dọa Trung Quốc”. Những năm gần đây vũ khí Nga bán cho Trung Quốc giảm dần, Nga còn thành lập bộ Tư lệnh tác chiến liên hợp Hải Lục Không quân vùng Viễn Đông gần với khu vực biên giới Trung Quốc. Chủ nhiệm Sở nghiên cứu phòng vệ thuộc Phòng vệ tỉnh Nhật Bản nhận xét: “Việc bố trí binh lực của Nga cho thấy Nga đã đưa Trung Quốc vào phạm vi cần nghiên cứu đối phó”.
      Theo một số chuyên gia nghiên cứu các vấn đề quân sự Nga của Trung Quốc, gần đây Nga không có bất kỳ báo cáo nào về vấn đề tổ chức diễn tập quân sự liên hợp với Mỹ và Nhật Bản. Trước một sự kiện quan trọng như vậy mà báo chí Nga không có bất kỳ tin tức nào liên quan là điều rất không bình thường. Điều này có thể có hai nguyên nhân: một là, tin tức từ tạp chí trên của Nhật Bản có thể chỉ là suy đoán, thậm chí là bịa đặt. Hai, có thể là, việc diễn tập quân sự trên là thực tế, nhưng công tác bảo mật của Nga rất tốt, nên báo chí Nga không thể có tin tức gì.
      Tuy nhiên Thời báo Moscova của Nga gần đây cho rằng mặc dù Nga cũng có những lo lắng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng Nga khó liên kết với Mỹ để chống Trung Quốc vì Mỹ nhất định sẽ đưa Nga đi đầu “làm bia đỡ đạn”. Ngoài ra Nga còn có những tính toán chiến lược riêng của mình đối với thế giới, với khu vực châu Á và Trung Quốc.

      Mục tiêu kép động thái quân sự của Nga: Lo ngại Trung Quốc
      Từ đầu tháng 9 đến nay, Nga liên tục có các động thái quân sự tại các khu vực xung quanh Nhật Bản khiến nước này vô cùng lo ngại.
      Hai máy bay ném bom chiến lược TU95 của Không quân Nga hôm 8/9 đã áp sát không phận Nhật Bản, trong khi 24 tàu chiến Nga đã đi ngang qua eo biển Soya của Nhật Bản. Ngay sau đó, Thư ký Hội đồng An ninh Nga Nikolai Patrushev hôm 11/9 đã tới thăm các hòn đảo thuộc vùng Lãnh thổ Phương Bắc (Nga gọi là quần đảo Nam Kurils). Tiếp đó, ngày 13/9, Hạm đội Thái Bình Dương thuộc quân khu Viễn Đông của Nga đã tập trận bắn đạn thật quy mô lớn ở Biển Nhật Bản, Biển Okhod và khu vực Tây-Bắc Thái Bình Dương với sự tham gia của hơn 50 tàu chiến, 35 tàu hộ tống-tiếp ứng, 50 máy bay tiêm kích và lên thẳng cùng 10.000 lính thủy. Trong cuộc điện đàm với người đồng cấp Nga Sergei Lavrov hôm 9/9, Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Genba đã nói rằng động thái và ý đồ của Nga khiến cho người dân Nhật Bản lo ngại, do đó yêu cầu Mátxcơva có các hành động kiềm chế hơn để không gây kích động tâm lý của người dân Nhật Bản.

      Tàu chiến Mỹ, Nhật Bản, Úc tập trận tại Biển Đông.
      Một điều cũng gây chú ý không kém là việc Nga mới đưa vào chạy thử tàu ngầm nguyên tử đa chức năng lớp Borei mang tên Yuri Dolgoruky, vốn được lên kế hoạch trang bị cho căn cứ Vilyuchinsk ở phía Đông bán đảo Kamchatka ngay trong năm nay. Loại tàu này có thể lắp đặt 10 hoả-tiển đạn đạo Bulava-M có tầm bắn 8.000 km
      Máy bay ném bom chiến lược của Nga tham gia tập trận tại biển Okhotsk.
      Mục tiêu của loại hoả-tiển này sẽ là nước Mỹ. Tuy nhiên, cũng có nhận định cho rằng việc Nga tăng cường sức mạnh quân sự tại vùng Viễn Đông là nhằm đối phó với Trung Quốc; Trưởng phòng Nghiên cứu Mỹ-châu Âu-Nga thuộc Viện Nghiên cứu Phòng vệ Nhật Bản Hyodo Shinji cho rằng hiện nay quan hệ an ninh giữa Nga-Mỹ và Nga-Châu-Âu tương đối ổn định nên Moscova bắt đầu chuyển hướng quan tâm sang khu vực Đông Á. Mặc dù Nga và Trung Quốc đang muốn xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, song Nga vẫn không thể không đề phòng Trung Quốc trước việc nước này phát triển quá nhanh và ngày càng gia tăng sức mạnh quân sự. Nga lo ngại rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động của Hải quân tới tận vùng biển Okhod nên họ đã tiến hành tập trận tại đây như một lời nhắn gửi tới Bắc Kinh rằng đây là vùng biển thuộc phạm vi ảnh hưởng của Moscova

      Lộ Trình chiến lược tái cam kết của Mỹ tại châu Á
      Sau hai cuộc chiến tranh tại Trung Đông và ĐNÁ, Washington đã bắt đầu chuyển sự chú ý của mình sang nơi khác, đặc biệt là vào một Trung Quốc đang trỗi dậy. Trong khi ông Obama còn nhiều việc để làm để định hình các thể chế kinh tế và chiến lược như EAS và APEC cho phù hợp với lợi ích của nước mình, chuyến công du sắp tới của ông có thể thúc đẩy sự chuyển đổi trong cán cân quyền lực Châu Á/Thái Bình Dương.
      Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ công du Australia và Indonesia vào tháng 11; Và ông vừa chủ trì một hội nghị của Hợp tác Kinh tế Châu Á/ Thái Bình Dương (APEC) hôm 12-13/Nov/2011 tại Honolulu, Hawaii, và dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) lần thứ sáu vào ngày 18-19/Nov/2011 tại Bali (Indonesia) lần đầu tiên trong vai trò một thành viên đầy đủ của tổ chức này. Chuyến thăm diễn ra đồng thời với một loạt các chuyến thăm ngoại giao và các phát biểu của các quan chức kinh tế và an ninh của chính quyền Obama nhằm chứng tỏ cam kết trở lại của Mỹ đối với khu vực Châu Á/Thái Bình Dương và gắn khu vực này với các lợi ích quốc gia của Mỹ.
      Chiến lược của Mỹ tái cam kết với Đông Á, lần đầu tiên được thông báo vào năm 2009, trong chừng mực nào đó vì chưa tới decent interval roll-back, bởi chắc chắn Mỹ chưa bao giờ bỏ rơi khu vực này. Tuy nhiên, sự tập trung của Washington trong thập kỷ vừa qua đã hướng về Trung Đông để nắm vòi-xăng trước rồi Biển Đông sau; Điều này, cộng với sự ảnh hưởng được mở rộng nhanh chóng về chính trị và kinh tế của Trung Quốc trong khu vực, đã khiến Mỹ nhận ra rằng các lợi ích của Washington tại Đông Á đang suy yếu.
      Hiện nay, khi Mỹ đang chuẩn bị rút hết quân đội khỏi Iraq qua Úc Châu và giảm các chiến dịch tại Afghanistan, chính quyền Obama có thể sử dụng nhiều nguồn lực hơn để mở rộng sự can dự của mình vào Đông Á theo lịch trình của Permanent Government. Trong khi Washington còn nhiều việc để làm nhằm định hình các thể chế chiến lược và kinh tế cho phù hợp với lợi ích của mình, chuyến thăm sắp tới của Tổng thống Obama có thể thúc đẩy sự chuyển đổi trong cán cân quyền lực tại Châu Á/Thái Bình Dương.

      Hoa Kỳ đang theo dõi về sự trỗi dậy của Trung Quốc
      Trong những năm gần đây, quân đội Trung Quốc đã tỏ ra ngày càng xác quyết hơn, với việc Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa đóng một vai trò lớn hơn trong các quyết định chính sách của Trung Quốc. Đặc biệt, chiến lược của quân đội phát triển một lực lượng hải quân “viễn-chinh-biển” xa đã tạo điều kiện thay đổi trọng tâm của lực lượng này, hướng tới khả năng kiểm soát lớn hơn trên các hải trình quốc tế, đặc biệt tại biển Đông.
      Trong giai đoạn này, Bắc Kinh đã muốn tạo dựng quan hệ với các nước láng giềng, nhưng những lo ngại về mối đe dọa của “sức mạnh cứng” của Trung Quốc đã khiến các nước ở Châu Á/Thái Bình Dương kêu gọi sự can dự lớn hơn của Mỹ trong khu vực nhằm làm đối trọng với sự ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc. Điều nầy nó đả nằm trong lăng kính của Permanent Government từ lúc Nixon và Mao gặp nhau 1972.
      Sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là “chiến lược biển” hiếu chiến của họ, đặt ra một thách thức đối với các lợi ích của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Sức mạnh toàn cầu của Mỹ dựa vào quyền kiểm soát của nước này trên các đại dương, và Mỹ thấy Đông Á là một sân khấu chính cho các quan hệ kinh tế và chính trị trong tương lai gần.
      Vì vậy, chính quyền của Tổng thống Obama đã đầu tư đáng kể nguồn vốn chính trị vào Châu Á kể từ sau thông báo tái cam kết của Washington năm 2009, nhưng bắt đầu vào thời điểm 2010 sẽ bọc phát làm kinh ngạc thế giới để kềm hảm cường lực trên biển của TQ. Cùng với đó, Mỹ đã vượt qua các quan hệ với các đồng minh truyền thống ở Thái Bình Dương – như Australia, Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc – để kết nối với các cường quốc khu vực như Indonesia và Ấn Độ. Washington tìm cách thúc đẩy chỗ đứng của mình tại Indonesia, nước vốn là một lãnh đạo khu vực trong một loạt vấn đề, bằng việc tăng cường hợp tác quân sự và thông qua Đối Tác toàn diện Mỹ – Indonesia, cũng như tham dự Hội nghị EAS do Indonesia chủ nhà năm nay. Với Ấn Độ, Mỹ đã đi xa hơn các quan hệ kinh tế, vươn tới hợp tác chiến lược, đặc biệt trong các vấn đề biển, Washington cũng tiến gần hơn tới các đồng minh truyền thống của Trung Quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia và cả Miến Điện.
      Washington cũng nỗ lực định hình các thể chế đa phương trong khu vực, như một cách để hợp nhất các nước khác chống lại Trung Quốc, đồng thời tránh sự ra đời của một đồng minh mạnh trong khu vực mà không có sự tham gia của Mỹ. Các thể chế có mặt Washington bao gồm ASEAN – mà Ngoại trưởng Mỹ ví là “điểm tựa cho kiến trúc đang nổi của khu vực” – và một số thể chế kinh tế và chiến lược do ASEAN đứng đầu, như EAS và APEC. Mỹ cũng phối hợp với một loạt các khối tiểu khu vực như Diễn đàn Các đảo Thái Bình Dương và Hội nghị thượng đỉnh sông Mekong
      Washington đặc biệt quan tâm tới APEC và EAS, các cấu trúc và lịch trình của hai tổ chức này đang trong quá trình định hình lại, cho phép Mỹ có một tiếng nói có trọng lượng hơn trong tương lai; Vì vậy, các cuộc gặp sắp tới của ông Obama sẽ cho thấy hai điểm tựa quan trọng cho chiến lược tái cam kết của Mỹ tại Thái Bình Dương.

      Hợp tác kinh tế Châu Á/Thái Bình Dương là quyền lợi sống còn của Mỹ
      APEC thành lập năm 1989 tại Canberra, Australia, với mục đích quy tụ các nền kinh tế năng động ở bên bờ Thái Bình Dương lại với nhau. Dần dần, nhóm này đã thu hút 21 quốc gia thành viên, trong đó có Mỹ, và trở thành tổ chức kinh tế hàng đầu khu vực. Các nước thành viên APEC có vai trò rất quan trọng đối với các lợi ích thương mại của Mỹ – cùng nhau, họ chiếm 60% hàng hóa xuất khẩu của Mỹ – cũng như đối với nền kinh tế toàn cầu, và vì vậy, Washinton đã sử dụng khối này để thể hiện sự ảnh hưởng kinh tế lớn hơn trong khu vực. Tuy nhiên, sự nổi lên của một số nhóm kinh tế khu vực trong thập kỷ qua, đứng đầu là các quốc gia Châu Á – hoặc bị chế ngự bởi Trung Quốc – đã làm giảm vai trò của APEC, và vì thế, Mỹ đã phải tìm kiếm các con đường khác để định hình chính sách thương mại châu Á của mình.
      Để đạt mục đích này, TT Bush vào cuối nhiệm kỳ năm 2008 sẽ tham gia các cuộc thương lượng về một thỏa thuận tự do thương mại đa phương với tên gọi Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP ban đầu có hiệu lực năm 2006 và bao gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore. Sau thông báo của Mỹ năm 2008, Australia, Malaysia, Peru và Việt Nam đều đã tham gia các cuộc đàm phán; Các nền kinh tế như Canada, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan cũng thấy có lợi.
      Cam kết của Mỹ đã thúc đẩy đáng kể các cuộc đàm phán, và Washington đang trong quá trình chốt lại các thỏa thuận tự do thương mại song phương với các nước tham gia. Chính quyền Obama hy vọng có thể thông báo một khuôn khổ cho TPP tại diễn đàn APEC năm nay; Dù khâu Việt Nam và Nhật Bản đang bị đình trệ, nhưng Washington hy vọng thỏa thuận này sẽ cải thiện quan hệ thương mại xuyên Thái Bình Dương, đặt nền mống cho một lịch trình thương mại tự do do Mỹ đứng đầu, và cải thiện nhận thức của các nước châu Á về cam kết của Mỹ trong khu vực.
      Nước vắng mặt rõ nhất trong các cuộc thương thảo về TPP là Trung Quốc; Bắc Kinh bày tỏ quan tâm tới việc tham gia đối tác này, vì nó bao gồm rất nhiều đối tác thương mại lớn, nhưng một lịch trình thương mại do Mỹ đứng đầu có thể đồng nghĩa với việc Trung Quốc chỉ có thể tham gia bằng cách mở cửa nền kinh tế theo đường hướng mà Mỹ định ra. Sự “quay lưng” của Trung Quốc khiến một số đối tác đàm phán nhỏ hơn phản đối, vì e rằng động thái này sẽ hủy hoại quan hệ kinh tế giữa họ với Bắc Kinh; Trung Quốc có thể sẽ tham gia TPP trong tương lai, nhưng không tham gia hoạch định chương trình cho thể chế này, Bắc Kinh cho rằng việc đó đi ngược lại lợi ích kinh tế của mình.

      Hội nghị thượng đỉnh Đông Á
      Mầm mống đầu tiên cho EAS là đề xuất của Malaysia năm 1991 về một khối thương mại đối trọng với phương Tây; Cuộc họp đầu tiên của EAS đã diễn ra năm 2005, hội tụ 16 quốc gia với Nga là quan sát viên, và không bao gồm Mỹ. Washington ban đầu thấy cơ chế này là một âm mưu của các nước thành viên nhằm loại trừ sự ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực; Nhưng như một phần của chiến lược tái cam kết, mới đây họ đã đã thay đổi quan điểm và sẽ tham gia hội nghị thượng đỉnh năm nay, lần đầu tiên trong vai trò một thành viên đầy đủ.
      EAS ban đầu là một hội nghị về năng lượng và kinh tế. Các nước thành viên đã bắt đầu định hình lại lịch trình và cấu trúc của EAS và tạo ra một cơ sở mềm dẻo cho Mỹ tham gia nhằm tập trung vào các vấn đề an ninh khu vực và hướng tới trở thành thể chế ưu việt cho các vấn đề an ninh tại Thái Bình Dương. Từ nay tới đó, Washington hy vọng hội nghị sẽ định hình chương trình của các cơ chế khu vực khác, như ASEAN.
      Một số đối tác khu vực đã hoan nghênh sự tham gia của Mỹ trong EAS, coi đây là một đối trọng tốt cho sự chế ngự của Trung Quốc, đặc biệt trong các tranh chấp biển, khi thái độ xác quyết ngày càng mạnh của Trung Quốc làm gia tăng cẳng thẳng trên biển Đông. Trong bối cảnh này, những lời đề nghị của Washington trong năm nay có thể giúp đánh giá cam kết của họ đối với an ninh của Châu Á/Thái Bình Dương – đặc biệt đối với quyền tự do hàng hải trên biển Đông. Các nước Đông Nam Á, cũng như các bên liên quan thứ ba như Nhật Bản và Ấn Độ, đã tiến hành một chiến lược ngoại giao tăng cường nhằm thu hút sự chú ý lớn hơn của quốc tế vào vấn đề này. Trong khi các nỗ lực này không chỉ nhằm trực tiếp vào Mỹ, chúng lại giúp thống nhất các nước trong khu vực chống lại Bắc Kinh, điều cũng thể hiện trong chiến lược Eurasia Great Game-1 của Washington.
      Trung Quốc theo dõi sát vấn đề biển Đông, và Bắc Kinh đặc biệt quan tâm đến việc Mỹ có thể đưa ra các biện pháp thông qua EAS cho thấy một cam kết mạnh hơn trong vấn đề này. Trong khi một cuộc hội nghị riêng-rẽ khó tạo ra một ảnh hưởng lớn, nó lại có thể ra hiệu cho thấy một sự chuyển đổi trong định hướng của khối này dưới vai trò lãnh đạo của Mỹ trong siêu chiến lược toàn cầu.

      QUEENBEE-ONE
      Last edited by Phòng Trực; 09-15-2012, 09:55 PM.

      Comment

      • vinhtruong
        Super Member
        • Jun 2010
        • 1924

        #18
        Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

        Theo diễn tiến Eurasia sẽ phải có NATO phương đông
        Như nhiều bài trên đây, tôi đã viết về diễn tiến của trục lộ đồ Eurasia vào giai đoạn cuối (1920-2020) sẽ có một liên minh quân sự như theo lý thuyết gia George Kennan (1904-2005) sẽ phải lập lại một khối NATO phương đông để ổn định tình hình dưới sự thống lãnh của Mỹ.

        Có giả thuyết cho rằng độ ít năm nữa một liên minh quân sự mới sẽ hình thành tại Thái Bình Dương có tên là Tổ Chức Phòng Thủ Châu Á -Thái Bình Dương gọi tắt là APTO (Asia-Pacific Treaty Organization) Đây là một Liên minh An ninh Quốc phòng Thái Bình Dương. Và theo giả thuyết đó thì chỉ vài ngày trước đây, tranh chấp biên giới trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ nổ ra một cuộc giao tranh quân sự vô tiền khoáng hậu, một trường hợp điển hình. Hiện nay họ đang chơi trò chơi đổ lỗi cho nhau như "Ai đã khai pháo đầu tiên?" Dĩ nhiên bàn tay lông lá sẽ bấm đít Việt Nam chơi ẩu trước trong sự kiểm soát theo dõi bên ngoài của Mỹ, qua đó Mỹ cũng cần để Việt Nam nhân cơ hội thử vài vũ khí bí mật của Mỹ trong vòng an toàn dù rằng Trung Quốc có phản ứng quyết liệt. Đây cũng là cuộc giảo nghiệm thử coi Mỹ có đủ khả năng bảo vệ sự an toàn cho trái đất và đồng thời cần biết gân-cốt của TQ đi tới đâu rồi?

        Nhưng vấn đề đã vượt xa hơn việc đi tìm ai có lỗi. Đối với APTO, câu hỏi quan trọng là ai đã khai pháo đầu tiên và lý do tại sao, và những gì xảy ra tiếp theo đó? Cũng giống như NATO, các thành viên của APTO đang bị ràng buộc phải tiếp cứu để bảo vệ đồng minh của họ. Nhưng liệu họ có tới cứu đồng minh của họ không?
        Khởi đầu của một liên minh mới APTO (Asia-Pacific-Treaty Organization)

        Tương tự khối NATO về phương diện hình thành và hoạt động, APTO được hình thành để đáp ứng các đe dọa khủng bố và hải tặc. Khởi thủy là một liên minh không chính thức giữa các quốc gia đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ như Úc, Nhật, Đại Hàn, Thái Lan và Philippines, nhóm này mau chóng mở rộng bao gồm cả Ấn-độ, Miến Điện, Indonesia, Mã Lai, Tân Tây Lan và Việt Nam. Mục tiêu của liên minh này là thống nhất và tăng cường khả năng phòng thủ, với hy vọng sẽ đem lại ổn định và an ninh cho Thái Bình Dương do trong âm mưu của Mỹ có tính toán trước.

        Khối mười quốc gia đó được các quốc gia Brunei, Chile, Ấn Độ, Singapore, và dĩ nhiên cả Hoa Kỳ, tham gia với tư cách thành viên không chính thức, trong khi chính Hoa Kỳ giúp đỡ hình thành APTO theo như ước tính.
        Dĩ nhiến, đối chọi lại, Trung Quốc đã bày tỏ không chấp nhận khối APTO, mà Trung Quốc cho là sự nối dài chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Mặc dù vậy, Trung Quốc không dám tấn công các thành viên của APTO, vì biết rõ rằng không bị khiêu khích mà tấn công có thể sẽ đưa tới một cuộc chiến tranh không cần thiết với Hoa Kỳ và điều chắc chắn là TQ đã rơi vào cái bẩy Eagle pull (di tản chiến lược về Hawaìi) của tu chánh áng Cooper-Church 1970 và Case-Church 1973.

        Cuộc hội đàm viễn liên giả tưởng hiện nay của các lãnh đạo APTO là một hoạt động tìm hiểu dữ kiện hơn là chuẩn bị chiến tranh. Ngôn từ chuyên môn trong minh ước phòng thủ nói rằng các thành viên không bị đòi hỏi trợ giúp Việt Nam nếu thấy Việt Nam bị tấn công trước? theo người viết không phải TQ mà chính VN sẽ tấn công tự vệ trước? Và họ sẽ có lý do vững chãi để cùng nhau tránh chiến tranh vì Hoa Kỳ không sẵn sàng gửi quân tới như các thành viên chính thức.

        Chỉ mới vừa phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế, và với ngân sách quốc phòng bị giảm thiểu một cách đáng kể, nhân dân và Quốc Hội Hoa Kỳ ít có ý định tham gia một cuộc chiến khác. Mặc dù Hoa Kỳ thường xuyên tuyên bố rằng tương lai của mình gắn chặt với Thái Bình Dương? Điều nầy khó lường lắm, nhưng có một điều chắc chắn là nếu TQ đụng đến vòi xăng là Hoa Kỳ sẽ phản ứng thích đáng ngay. Nhưng nếu không có Hoa Kỳ tham gia với tư cách thành viên chính thức thì mọi liên minh quân sự đều chỉ là hình thức và sẽ thất bại chăng? dỉ nhiên điều nầy không thể chối cãi được.


        Nền tảng của một liên minh APTO thành công
        Lý thuyết gia chiến tranh lạnh, George F Kennan có câu hỏi đó không sai. NATO thành công vì Chiến Tranh Lạnh là một cuộc chiến, phần lớn xảy ra giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Và Hoa Kỳ với quyết tâm đánh gục Liên Xô, cùng với chiến lược chạy đua vũ trang làm cho Liên Xô kiệt quệ về kinh tế đã đưa NATO tới thành công. Trái lại APTO sẽ không được hình thành trong cùng một hoàn cảnh. Bất cứ cuộc xung đột nào trong tương lai cũng sẽ không xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc mà giữa Trung Quốc và các quốc gia lân bang. Đó là cái kiểu trò chơi trật thượng của đàn anh để cho mấy thằng nhóc đánh túi bụi rồi tà tà mới nhảy vào như lịch sử thế chiến đã chứng minh.

        Có thể nói Hoa Kỳ láu cá làm bộ theo đuổi một chính sách đối ngoại không can thiệp vào công việc của các lân quốc của Trung Quốc. Biết vậy, thì thử hỏi Hoa Kỳ nên đóng vai trò gì và nên làm gì trong một liên minh quân sự như APTO? Ngư Ông đắc lợi. Rõ ràng là để cho APTO thành công, Hoa Kỳ phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, và Hoa Kỳ chỉ lãnh đạo khi mà sự thành công của liên minh đó là cần thiết cho sự thành công của mục tiêu của Hoa Kỳ. Nói một cách giản dị, APTO phải được cấu trúc quanh nhu cầu của Hoa Kỳ.

        Bất hạnh thay, một tổ chức đã tồn tại trong quá khứ và đã thất bại, đó là Liên Phòng Đông Nam Á, SEATO. Nhưng có ai biết được nó nằm trong kế hoặch nhường ảnh hưởng cho Liên Xô ở vùng ĐNÁ mà Việt Nam là tiểu bá của LX nắm giử 3 nước Đông Dương; Do đó APTO không thể chỉ là bản sao chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Nó phải được thiết kế nhằm giải quyết những nhu cầu của các quốc gia Thái Bình Dương thành viên, nhưng lần nầy có củng-cố thêm Ấn-độ và quân đội Mỹ ứng chiến đang có đầu cầu tại Úc.

        Hoa Kỳ đã phản ánh các quan ngại của một số quốc gia Đông Nam Á về sự bành trướng của Trung Quốc bằng cách tổ chức để các quốc gia đó tiếp tục tham gia các cuộc tập trận chung và tiếp cận vũ khí của Hoa Kỳ. Vả lại, Hoa Kỳ trong nhiều dịp cả công khai lẫn hội kín đã tuyên bố hy vọng Trung Quốc sẽ trở thành một đối tác chiến lược và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế dưới hình thức đại loại như Hội nghị Thượng đỉnh G-2 Hoa Kỳ-Trung Quốc.

        Cho dù trong tương lai Hoa Kỳ có trở thành một thành viên chính thức, thì để thành công, APTO phải hoạt động với Trung Quốc, làm cầu nối giữa Trung Quốc và các quốc gia lân bang. Hoa Kỳ chẳng được lợi gì nếu APTO chỉ đẩy Trung Quốc đi xa; và trong hoàn cảnh như thế, Hoa Kỳ không có lý do để trở thành một thành viên thường trực của tổ chức này. Nếu APTO thành hình trong tương lai thì nó phải được thiết kế để xây dựng mối quan hệ giữa các quốc gia chứ không phải cắt đứt các mối quan hệ đó.


        Tóm lại, không đối đầu với Trung Quốc, đáp ứng nhu cầu của các quốc gia thành viên, đồng thời mang lại quyền lợi cho Hoa Kỳ là ba yếu tố để APTO thành công.
        Không lâu sau cuộc gặp hai ngoại trưởng Việt Nam và Trung Quốc bên lề kỳ họp của Liên Hiệp Quốc tại New York để cải thiện quan hệ, báo Trung Quốc lại lên tiếng chỉ trích nặng nề cả Việt Nam và Philipines trong chuyện Biển Đông. Vì theo dự đoán của Mỹ về sự đụng độ sơ khởi phải bắt đầu chạm tuyến là VN và Phi để Mỹ thí nghiệm vài vũ khí mới phát minh

        Nhưng hiện nay cũng có tiếng nói trên báo Trung Quốc đề nghị chính Bắc Kinh làm rõ về bằng chứng "vi phạm" của các nước khác trong bối cảnh các bên đều mơ hồ và không công bố bản đồ hay ranh giới gì cho những tuyên bố của họ. Nhằm giải toả căng thẳng sau những bất đồng trong đó có tranh chấp tại Biển Đông, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì đã gặp người tương nhiệm phía Việt Nam, ông Phạm Bình Minh trong khuôn khổ một loạt các cuộc gặp của lãnh đạo ngoại giao Trung Quốc với một số nước ở Hoa Kỳ. Theo tin Tân Hoa Xã hôm 25/9, hai bộ trưởng đều nói chính phủ hai nước sẵn sàng hợp tác để giải quyết bất đồng. Cuộc nói chuyện tay đôi nầy sẽ không đem đến kết quả nếu không có bàn tay lông lá đứng ra giàn xếp.


        Trung Quốc muốn kiếm chuyện gây sự:
        Nhưng báo China Daily hôm đầu tuần 26/9 vừa có thêm bài với tựa đề "Manila, Hanoi at it again" (tạm dịch: 'Manila và Hà Nội lại gây chuyện') để phê phán hai nước này "lôi kéo Hoa Kỳ và Ấn Độ vào Biển Nam Trung Hoa". Báo nầy chả biết chính trị chính em gì cả, thủ phạm là Mỹ nhào nặn ra Bài xã luận của báo Đảng Trung Quốc nói hai nước thuộc Asean này gần đây "bận bịu với chuyện gây khó khăn cho Trung Quốc, nuốt lời hứa để giải quyết tranh chấp biển Nam Trung Hoa song phương với Bắc Kinh".Làm sao song phương được, song phương để bị bắt nạt sao?

        Ngoài ra, cây bút Bấm Lý Hồng Mai cũng có bài trong ngày thứ Hai 26/6 trên bằng tiếng Anh của Tân Hoa Xã cảnh báo rằng những nước theo chiến lược 'kéo bè kéo cánh' ở Biển Đông 'sẽ vỡ mộng'. Kéo bè kéo cánh là biện pháp duy nhứt làm TQ e-dè không dám có xuẩn động tự cô lập mình!

        Bà Lý Hồng Mai nói thẳng đến Ấn Độ và Nhật Bản đang dính líu vào biển Nam Trung Hoa trong hai động thái cùng liên quan đến 'chủ quyền của Trung Quốc'. Tác giả nhắc đến kế hoạch của công ty Ấn Độ OVL và Việt Nam tại hai lô khai thác khí đốt ở Biển Đông "hiện được các nước khác theo dõi một cách lo ngại và là chuyện vi phạm chủ quyền trên biển của Trung Quốc".

        "Thay vì phản ứng mơ hồ như thế, các cơ quan của Trung Quốc nêu trình ra các bằng chứng rõ rệt cho thế giới thấy các nước khác vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ra sao" Thậm chí, đây là điều mà đã khiến một số nhà quan sát đem ra so sánh với tranh chấp ảnh hưởng lâu nay của Ấn Độ với Trung Quốc tại vùng Kashmir và Pakistan.

        Bà Lý Hồng Mai cũng nói đến chuyện Nhật Bản hội đàm với Philipinnes về vùng biển này trong nỗ lực của Manila muốn 'cân bằng quan hệ'. Ngoài ra là các hoạt động tăng cường quốc phòng của Philippines như mua sắm phi cơ, chiến hạm từ Mỹ. Nhưng bà Lý Hồng Mai cho rằng kể c̉a khi Philippines vươn tay ra phía Nhật Bản và Việt Nam cố tìm cách kéo Ấn Độ vào phía mình, thì chuyện "đưa bên thứ ba" vào tranh chấp biển "chẳng thể nào xứng lại được với sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc".

        Còn bài trên China Daily của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng nghiêm khắc cảnh báo Việt Nam trong vụ làm ăn với Ấn Độ. Bài xã luận bằng tiếng Anh viết rằng Việt Nam, cũng như Philippines vì "liên tục nuốt lời nên bị mất uy tín và làm suy giảm niềm tin chính trị (political trust) giữa họ v̀a Trung Quốc

        Tuy vậy, bên cạnh các bài nặng nề chỉ trích Hà Nội và Manila, hiện trên trang Nhân dân Nhật báo, bản tiếng Anh có đăng bài từ bản tiếng Hoa của báo Hoàn Cầu tại Trung Quốc, có ý kiến nêu ra một cách nhìn khác. Giải thích vì sao giới chức Bắc Kinh không phê Hà Nội nặng lời qua vụ khai thác khí với Ấn Độ, tác giả Ding Gang cho rằng các bên đều cần nêu rõ vấn đề.

        Theo tác giả Ding Gang thì sau khi kiểm mọi thông tin do cả Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc công bố, ông cũng chưa thể tìm thấy bằng chứng rằng vụ khai thác của Việt Nam "vi phạm lãnh hải của Trung Quốc", vì tất cả còn "rất mù mờ". Đặc biệt, bài báo cũng kêu gọi chính phủ Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ cùng công bố các bản đồ về các khu vực họ nói đến.

        Tác giả cũng nói những năm qua, tranh chấp biển Nam Trung Hoa gia tăng, khiến truyền thông Hoa Kỳ và các nước Phương Tây cùng một số quốc gia xung quanh vùng biển này cũng xây dựng thuyết 'Mối đe dọa từ Trung Quốc' trên nền tảng đó. Nhưng tác giả viết cần phải cảnh giác trước cái bẫy của việc tạo ra nhãn hiệu 'bá quyền Trung Quốc", và truyền thông Trung Quốc cần tránh gọi vùng biển này là "Biển Nam của nước Trung Quốc", và tránh gọi mọi hành động của các nước ở khu vực này là "vi phạm lợi ích cốt lõi của Trung Quốc". Thay vì phản ứng mơ hồ như thế, các cơ quan của Trung Quốc nêu trình ra các bằng chứng rõ rệt cho thế giới thấy các nước khác vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ra sao. Tác giả Ding Gang cũng kêu gọi vấn đề ở vùng biển này "phải được giải quyết hòa bình" và Trung Quốc không nên tham gia trò chơi "cút-bắt" mãi mãi với các nước khác.

        Thông tin về dự án hợp tác ngoài khơi Biển Đông của hai tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam và Ấn Độ từ khi đưa ra đã thu hút sự chú ý đặc biệt, nhất là trong truyền thông Trung Quốc. Mới đây, tập đoàn ONGC Videsh (OVL) của Ấn Độ loan báo về quá trình thảo luận với đối tác PetroVietnam để thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128 ngoài khơi hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận, có thể bắt đầu từ năm tới.

        Việt Nam nói hai lô 127 - 128 nằm hoàn toàn tại bể trầm tích Phú Khánh trong thềm lục địa của Việt Nam và rất gần bờ biển. Vị trí hai lô này cũng gần với bể Nam Côn Sơn mà Việt Nam và các đối tác nước ngoài đã thăm dò, khai thác nhiều năm nay. Tuy nhiên, giới chức Trung Quốc đã phản ứng gay gắt trước dự án chung Việt-Ấn. Các phát ngôn viên của Trung Quốc, mới nhất là ông Hồng Lỗi vào hôm thứ Hai 19/09, lặp lại khẳng định rằng "Trung Quốc có chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi ở Biển Ðông".

        “Bất cứ nước nào thăm dò dầu khí ở trong vùng này mà không có sự chấp thuận của chính quyền Trung Quốc cũng đều vi phạm chủ quyền và lợi ích quốc gia của Trung Quốc, là bất hợp pháp và vô giá trị.” Một số quan sát viên Trung Quốc nhìn nhận dự án hợp tác dầu khí trên như bước tiến của Ấn Độ vào Biển Đông nhằm đối trọng với Trung Quốc trong việc giành ảnh hưởng ở khu vực.

        Đối trọng với Bắc Kinh: Ông Thẩm Đinh Lập, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Mỹ thuộc Viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Phúc Đán, nói đây là "hành động khiêu khích cho thấy sự tức giận của Ấn Độ trước việc Bắc Kinh phát triển quan hệ thân cận với các nước như Miến Điện và Pakistan", nhưng có một điều bất ngờ vào giờ chót Miến điện đi theo Ấn độ có nghĩa là theo Mỹ theo Asian. "Ấn Độ cần nhớ rằng hành động của họ tại Nam Hải (Biển Đông) sẽ đẩy Trung Quốc tới bờ giới hạn. Trung Quốc quý trọng quan hệ hữu nghị Trung-Ấn, nhưng không có nghĩa quý hơn mọi thứ trên đời."

        Hoàn cầu Thời báo: Ông Thẩm nhận định trên tờ Hoàn cầu Thời báo: "Những năm gần đây, Trung Quốc đã xây dựng quan hệ với các nước như Miến điện, Pakistan … cũng cậy nhờ Trung Quốc giúp về an ninh và đề xuất cho hải quân Trung Quốc sử dụng một cảng biển của mình ở Ấn Độ Dương. Tất cả những động thái này khiến cho Ấn Độ cảm thấy lo lắng". Một giáo sư khác cũng từ trung tâm nghiên cứu trên, ông Ngô Tâm Bá, thì nói việc hai nước Việt Nam và Ấn Độ cùng thăm dò dầu khí không phải là chuyện ngẫu nhiên mà phù hợp với chính sách hướng về phía Đông những năm gần đây của New Delhi. Thêm nữa, ông Ngô cho rằng trong chuyện này có bàn tay của Mỹ.

        "Hoa Kỳ lợi dụng mọi cơ hội để đối chọi lại Trung Quốc, như tham gia tập trận với Nhật Bản và các nước khác trong khu vực ngày càng thường xuyên." Theo vị giáo sư Đại học Phúc Đán, dự án với Việt Nam giúp Delhi "ném một hòn đá giết hai con chim", vừa mang lại lợi ích kinh tế cho Ấn Độ, vừa đối trọng chính trị với Trung Quốc. Truyền thông Trung Quốc cũng nhanh chóng vào cuộc, với nhiều bài báo và chương trình truyền hình phân tích việc Việt Nam và Ấn Độ hợp tác dầu khí ở Biển Đông.

        Kênh CCTV-4 của Truyền hình Trung ương Trung Quốc có buổi tọa đàm về chủ đề này hôm Chủ nhật 18/09, trong đó các khách mời nhận xét rằng việc này "chắc chắn sẽ tăng căng thẳng trong khu vực". Ông Vinh Ưng, Phó Chủ tịch Viện Quan hệ Quốc tế Trung Quốc, nói Việt Nam đã tìm cách quốc tế hóa chủ đề Biển Đông bằng cách chịu cho các công ty dầu khí nước ngoài lấy tới 70% lợi nhuận trong tương lai và Ấn Độ có vẻ quyết tâm giơ đầu chịu báng khi tham gia dự án mà ngay cả tập đoàn khổng lồ British Petroleum cũng cho là quá rủi ro.

        Ông Vinh Ưng cũng cho hay chính phủ Ấn Độ đã không thông báo qua các kênh chính thức cho Trung Quốc về dự án liên doanh với Việt Nam mà chỉ đề cập việc này sau khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản ứng mạnh.
        "Với tư cách một cường quốc đang lên, Ấn Độ đang trở thành quốc gia ở giữa mà các nước trong khu vực, kể cả Hoa Kỳ, muốn kéo về phía mình. Quyết định của Ấn Độ có khả năng xác lập tình hình an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương, cũng như vị thế của chính nước này trong khu vực."


        Khởi đầu của xung đột?
        Các kênh thông tin của Trung Quốc, ngoài việc phân tích động thái của Ấn Độ, cũng cảnh báo nước này cân nhắc lại quyết định của mình, nhất là sau khi Bộ Ngoại giao ở Delhi khẳng định họ không rút khỏi dự án đã được lên kế hoạch. Một bài xã luận đăng trên Hoàn cầu Thời báo nói một cách thẳng thừng: "Ấn Độ cần nhớ rằng hành động của họ tại Nam Hải (Biển Đông) sẽ đẩy Trung Quốc tới bờ giới hạn". "Trung Quốc quý trọng quan hệ hữu nghị Trung-Ấn, nhưng không có nghĩa quý hơn mọi thứ trên đời."

        Xã luận của tờ Hoàn cầu còn kêu gọi: "Trung Quốc đã hòa hoãn quá lâu, khiến nhiều nước nghi ngờ rằng Trung Quốc sẽ thực hiện những gì đã tuyên bố. Trung Quốc cần nhắc lại cho các nước này về quan điểm rõ ràng của mình." Phản ứng giận dữ của Trung Quốc đang khiến các chuyên gia an ninh khu vực dò đoán về khả năng gia tăng căng thẳng ở khu vực Biển Đông vốn tiềm tàng xung đột.

        "Trong khi một cuộc chiến tranh trên đất liền đòi hỏi nhiều cân nhắc tính toán kỹ lưỡng từ các bên trước khi có thể xảy ra... thì trên biển thật dễ bị lâm vào một sự đối đầu quân sự nghiêm trọng mà chẳng bên nào dự định cả."


        Bình luận gia Gwynne Dyer
        Tạp chí Time của Hoa Kỳ tuần này đăng bài tựa đề 'Liệu chiến tranh bắt đầu thế này chăng?' nhận định rằng bất đồng lãnh thổ thuộc ḷai khó phân giải nhất thế giới "đang trở nên hầm hập" và nếu các quốc gia liên quan không kiềm chế thì nguy cơ xung đột 'khó mà tính trước được'. Tạp chí này nhắc tới một sự kiện cũng mới xảy ra, là tàu chiến Airavat của Ấn Độ khi thăm Việt Nam đã nhận cảnh báo từ nguồn tự nhận là hải quân Trung Quốc nói tàu này đang ở trong lãnh hải Trung Quốc; và nhận định rằng "nguy cơ xung đột trên biển khó có thể đoán trước" hơn là trên bộ.

        Time dẫn lời một nhà quan sát lâu năm ở Á châu, ông Gwynne Dyer, nói trong khi một cuộc chiến tranh trên đất liền đòi hỏi nhiều cân nhắc tính toán kỹ lưỡng từ các bên trước khi có thể xảy ra, thì trên biển "thật dễ bị lâm vào một sự đối đầu quân sự nghiêm trọng mà chẳng bên nào dự định cả". Bài báo cũng nhấn mạnh rằng một khi Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia hạt nhân với dân số chung chiếm 1/3 dân số trái đất, chạm trán nhau thì hậu quả khôn lường. Chết bớt là vừa vì nạn nhân mãn, nhân loại đang thiếu ăn trầm trọng, làm sao giải quyết?

        QUEENBEE-ONE
        Last edited by Phòng Trực; 06-07-2013, 03:11 PM.

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #19
          Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

          Nước VNCH hùng mạnh đang từ từ ló dạng

          Sách lược áp-đặt mô hình những nước chư-hầu của Mỹ là: “Muốn ăn một chiếc bánh Mì tay phải dính bột” đặc biệt, trong giai đoạn cuối thập niên Eurasia (1920-2020) biến đổi Miến Điện và Việt Nam từ 2 thể chế độc tài quân phiệt và ĐCS, bằng chỉ những người can đảm dấn thân trong tù tội mới đủ tư cách lãnh đạo đất nước, còn như nhửng cái gọi là chính phủ lưu vong như quốc trưởng Nguyễn Khánh, rồi thủ-tướng Lâm Nguơn Tánh chỉ vui chơi hay để thúc dục Việt Nam một điều gì như gấp gấp mua Boeing, sản phẩm, trao đổi kinh tế ...

          CIA đã huyền biến trong nội bộ của Đảng CSVN, từ những nhân vật mà họ muốn bắt nhốt như Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì bị cú điện thoại từ cấp lãnh đạo Công An bảo phải thả ra ngay. Bác sĩ Quế cũng là người mà sau 30/4 Lê Đức Thọ có lịnh CIA không được nhốt mà phải đợi chương trình ODP sẽ qua Mỹ, nhưng BS Quế lại muốn như bác-sỉ Mandela nên bị bắt nhốt, nhưng con bài nầy hết sáng chói rồi, quay qua một nhóm trí thức gồm phần nhiều là luật sư, mà người được chú tâm là Cù Huy Hà Vũ phải bị bắt nhốt để có một cái resumé tốt, sau nầy soạn thảo một bộ pháp lịnh về kinh tế để Mỹ ồ ạt bỏ vốn đầu tư.

          Hoa kỳ xếp đặt, ngày 1-11-2011, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở thành phố New York, Trung tâm Luật bảo vệ môi trường (EDLC – Environmental Defender Law Center) cho phổ biến đến tất cả các đại biểu của 196 nước thành viên một thông cáo báo chí cho biết Ủy ban Giám sát việc bắt giữ vô căn cứ (Working Group on Arbitrary Detention ) của Liên Hiệp Quốc đã phát hiện việc bắt giam nhà hoạt động xã hội: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là «vô căn cứ» và «vi phạm Điều 9 và Điều 19 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là một thành viên». Ủy ban yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông Cù Huy Hà Vũ và «cho ông quyền được hưởng bồi thường». Đây là phản ứng chính thức của Liên Hiệp Quốc (thời buổi nầy Hoa Kỳ dùng cái bàn LHQ để áp đặt TQ cũng như mọi nước trên thế giới phải tuân thủ - Nếu không chịu ăn củ Cà rốt thì bị Cây-gập đập vào đít. Cái kiểu chơi cha người ta và rất trật thượng của Mỹ như khi gây chiến Iraq lần-2: Các nước cho rằng Mỹ không nên đem quân vào Iraq, 2 nước láng giềng Mexico và Canada cũng bảo rằng không nên, Ông TTK/LHQ Kofi A Annan tuyên bố đem quân vào Iraq là bất hợp pháp, nhưng Mỹ cứ đem quân vào thì ai dám làm gì nhau? Chỉ vì vòi xăng, vì thế tôi dám quả quyết TQ không dám làm gì về nguồn lợi dầu khí trên Biển Đông của VN).

          Hoa Kỳ tạo nên một tin mừng cho người dân Mỹ gốc Việt quan tâm đến tình hình đất mẹ, cho tất cả những ai ủng hộ thái độ ngay thẳng yêu nước thương dân của ông Hà Vũ; cho bà Dương Hà, người bạn đời của ông; và cho mọi người thân trong gia đình rộng lớn của ông. Đồng thời, nó cũng là một tin vui cho hàng nghìn trí thức, văn nghệ sỹ, thanh niên ngưỡng mộ, tin yêu ông, đã ký tên đòi nhà nước phải tôn trọng luật pháp và đối xử công bằng với ông, một trí thức yêu nước vừa có tâm lại có tầm, vì họ thấy rằng đất nước đang cần những người như ông. Thật không thể chê được mưu lược có kế hoạch ước tính trước của phản tình báo Mỹ, dù rằng Miến Điện sẽ là nước đàn em của Việt Nam sẽ bảo trợ (sponsor) cho Miến Điện về kinh tế, quân sự… sau nầy, nhưng lại thể hiện hành động thả tù lương tâm trước VN.

          Đây quả là một tin mừng cho mọi người Việt Nam quan tâm đến tình hình đất nước, cho tất cả những ai ủng hộ thái độ ngay thẳng yêu nước thương dân của ông Hà Vũ; cho bà Dương Hà, người bạn đời của ông; và cho mọi người thân trong gia đình rộng lớn của ông. Đồng thời, nó cũng là một tin vui cho hàng nghìn trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên ngưỡng mộ, tin yêu ông, đã ký tên đòi nhà nước phải tôn trọng luật pháp và đối xử công bằng với ông, một trí thức yêu nước vừa có tâm lại có tầm, vì họ thấy rằng đất nước đang cần những người như ông.

          Ngược lại, đây là một tin buồn rất đáng lo âu cho giới cầm quyền Việt Nam, trước hết cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người mà dư luận đang đặt ra nghi vấn là đã ra lệnh bắt giữ ông Cù Huy Hà Vũ vì ông đã dám nhiều lần lên tiếng báo động về nguy cơ thảm họa chất độc đối với cuộc sống của nhân dân do việc khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên gây ra.

          Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, những người đã hứa hẹn thực hiện một nền pháp chế nghiêm minh lúc nhậm chức, sẽ trả lời ra sao trước cáo buộc và yêu cầu của Liên Hiệp Quốc? Thì từng bước sẽ thi hành như diễn tiến CIA cố vấn. Và Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cùng đại diện Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc sẽ chống chế ra sao, sau khi ông Minh vừa lớn tiếng thuyết giảng về tôn trọng nhân quyền tại diễn đàn quốc tế lớn này? Hoa Kỳ đưa vào vị thế gộng kềm bắt buộc Mafia VN phải tuân thủ thi hành.

          Đã đến thời điểm Việt Nam từng bước đi vào quỹ-đạo của Mỹ là trở thành một nước VNCH, và đây là những lời mở đầu: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố Việt Nam cần phải làm nhiều hơn nữa để cải thiện thành tích nhân quyền nếu muốn tăng cường các mối quan hệ với Washington.

          Trong bài diễn văn đọc tại Trung tâm Đông Tây ở Hawaii hôm thứ 5 về chính sách Á châu, nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ nói:

          “Chúng tôi đã nói rõ với Việt Nam là nếu muốn chúng tôi phát triển một mối quan hệ đối tác chiến lược, như sự mong muốn của cả hai nước, Việt Nam phải làm nhiều hơn nữa để tôn trọng và bảo vệ các quyền của công dân của mình.”

          Theo lịch trình đã được ấn định, bà Clinton hội kiến Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang xế ngày thứ 5 tại Honolulu, trong lúc Hoa Kỳ và Việt Nam kết thúc cuộc đối thoại thường niên về vấn đề nhân quyền.

          Theo tin của hãng thông tấn AP, tại cuộc đối thoại trong hai ngày thứ Tư và thứ Năm ở Washington, Hoa Kỳ đã nêu lên những mối quan tâm về sự hạn chế của giới hữu trách Việt Nam đối với quyền tự do truyền thông và những vấn đề nhân quyền khác mà Washington xem là một chướng ngại cho việc xây dựng mối quan hệ chiến lược giữa hai nước cựu thù.

          Một giới chức Mỹ tham gia cuộc đối thoại cho biết cuộc thảo luận đã diễn ra “với tinh thần tôn trọng lẫn nhau nhưng rất thẳng thắn.” Đôi bên đã đề cập tới các vấn đề tù nhân chính trị, tự do tôn giáo của các tín đồ Cơ đốc giáo và Phật giáo, và những sự hạn chế đối với giới luật sư và xã hội dân sự.

          Phía Hoa Kỳ cũng nêu lên việc Hà Nội hạn chế truy cập internet và sử dụng mã độc để phá hoại các kho dữ liệu trên máy tính của các nhà hoạt động nhân quyền.

          Ngoài ra, phía Hoa Kỳ cũng nêu lên những trường hợp cụ thể của những người bị giam vì lý do chính trị, trong đó có Linh mục Nguyễn Văn Lý, là một nhà tranh đấu kỳ cựu năm nay 65 tuổi và đang thọ án tù 8 năm vì những hoạt động tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.

          Linh mục Lý được tạm thả hồi năm ngoái sau khi bị đột quị ba lần, nhưng lại bị đưa vào nhà tù trở lại hồi tháng 7. Giới chức Mỹ tham dự cuộc họp ở Washington nói rằng phía Việt Nam đã không trả lời thỏa đáng về những câu hỏi mà phía Hoa Kỳ đã nêu ra về trường hợp của linh mục Lý.

          Cho đến ngày thứ Năm, các giới chức trong phái đoàn Việt Nam vẫn chưa bình luận gì với các cơ quan truyền thông Tây phương, nhưng trước đây chính phủ Việt Nam vẫn thường nói rằng họ không hề bỏ tù hay sách nhiễu người dân vì quan điểm chính trị mà chỉ giam cầm những ai vi phạm pháp luật.

          Một ngày trước đó, một liên minh quốc tế của các tổ chức nhân quyền cho biết năm nay Việt Nam đã siết chặt hơn nữa những biện pháp hạn chế đối với báo giới và những người sử dụng internet.

          Liên minh, trong đó có Hội nhà báo không biên giới, cho biết 20 nhà báo, blogger và những người hoạt động tích cực đang bị cầm tù ở Việt Nam vì đã nói về tình trạng nhân quyền bị chà đạp.

          Tổ chức Human Rights Watch nói rằng gần 500 tù nhân chính trị và tôn giáo đang bị giam ở Việt Nam.


          QUEENBEE-ONE
          Last edited by Phòng Trực; 09-28-2012, 06:40 AM.

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #20
            Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

            Tại sao Obama cảnh báo Ôn Gia Bảo về Biển Đông ?

            Siêu chính phủ (Permanent Government) là nhóm người điều khiển chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Người viết thiết tưởng phải nói lên những chứng liệu lịch sử đả xảy ra trên lục lộ đồ Eurasia: Cái thế lực nầy như bà phù thủy dư thừa khả năng làm đảo lộn ngay cả chân lý để hoàn thành một mục tiêu như: Khi cần lần đầu tiên trong lịch sử, một tổng thống da màu biểu-tượng là nền dân chủ tuyệt vời của nước Mỹ để có sức nặng khi đến thời điểm (decent interval) phải hù-doạ răn-đe Trung Quốc.

            Làm sao trong mùa tranh cử Obama phải phải hạ trước tiên là Mc Cain và Bà Hillary đang nổi tiếng hơn Obama về mọi mặt, như phải đảo lộn chân lý: (1) da Đen thắng da Trắng – (2) nhà nghèo thắng nhà giàu – (3) vô danh tiểu tốt thắng nổi danh – (4) tiểu bang nhỏ thắng TB New York – (5) thiếu niên TNS thắng thâm niên TNS – (6) chưa từng ở Bạch Ốc thắng người 8 năm đả ở Bạch Ốc… Nhưng điều cốt yếu quan trọng là phải tiếp tục giữ Robert Gate là Bộ trưởng QP, vì có nguy cơ phải đụng độ chiến tranh thứ 3 tại Biển Hoàng Hải khi HKMH Washington tập trận ngay ao nhà của Trung Quốc, sẽ xảy ra vào thời điểm roll-back 2010? Việc nầy không xẩy ra vì chỉ có một tổng thống 1000 lần dân chủ da màu Obama cương quyết …

            Tháng rồi, ngày cuối cùng của hội nghị thượng đỉnh Đông Á ở Bali, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã gặp riêng Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Một giới chức cao cấp Hoa Kỳ cho biết hai ông đã thảo luận căng thẳng khu vực liên quan đến Biển Đông như hàm ý theo quỹ-đạo của Mỹ, đúng lịch trình của Siêu chính phủ 10 năm sau cùng (Eurasia 1920-2020) để đi đến hậu quả: Các nước có chủ quyền thềm lục địa được LHQ phán quyết “làm-chủ” Trung Quốc “quản-lý” khai thác với giá công nhân rẻ mạt, và Mỹ “lảnh-đạo” độc quyền lo việc buôn bán sản phẩm bằng dollar Xanh.

            Cuộc gặp mặt vừa qua chỉ được loan báo vào giờ chót, trước khi hội nghị thượng đỉnh Đông Á bắt đầu phiên khoáng đại và bữa ăn trưa có làm việc. Cả hai nhà lãnh đạo đều không tuyên bố gì trước và sau khi họp. Nhưng Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Tom Donilon cho biết họ nói trong vòng thời gian ngắn về vấn đề Biển Đông nhằm tiếp tục cuộc trao đổi ngày hôm trước, và sắp tới sẽ có thảo luận thêm giữa cấp lãnh đạo. Dĩ nhiên TQ có quá nhiều rắc rối ngay chính nội bộ, không kể Mỹ có kế hoạch từ thế kỷ trước bao vây TQ tứ phía không thể cựa quậy nổi.

            Cũng vừa rồi, phát biểu trước lãnh đạo ASEAN, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói các giải pháp không nên có sự can dự của “các thế lực bên ngoài dưới bất kỳ chiêu bài nào.” Đó chỉ là những câu nói để nói mà thôi, không có một chút trọng lượng nào; Phát biểu này được nhiều người cho là muốn nhắm vào thỏa thuận quân sự mới đây giữa Hoa Kỳ và Australia, qua đó sẽ có 2.500 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đóng tại phía bắc chạm tuyến Australia, sau khi Mỹ đem quân vào Iraq để nắm giữ vòi xăng ở Trung Đông bây giờ rút quân về làm tiền trạm tại Úc Châu để giữ vòi xăng ĐNÁ, cho nên Việt Nam mới có những hành động ngang ngược với TQ bắt đầu 2010 Roll-back.

            Nói chuyện với báo chí hôm thứ Bảy, Cố vấn Donilon tái xác nhận Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong tranh chấp Biển Đông, và tin rằng vấn đề cần phải được giải quyết một cách ôn hòa là theo trục lộ đồ đã ước tính từ thế kỷ 20: Vì “Hoa Kỳ có lợi ích về tự do hàng hải, luồng thương mại tự do, và giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp. Hoa Kỳ không đòi chủ quyền, không đứng về bên nào trong các nước đòi chủ quyền, nhưng với tư cách là một cường quốc hải dương toàn cầu, Hoa Kỳ có lợi ích khi thấy các nguyên tắc này được áp dụng một cách rộng khắp.”

            Ông nói ông không muốn bàn cụ thể việc đòi chủ quyền của bất kỳ nước nào, nhưng lưu ý rằng vấn đề Biển Đông đã được các nước ASEAN nêu lên trong cuộc họp vừa qua.

            Một nhà báo hỏi Cố vấn Donilon liệu “lời lẽ gay gắt” mà Tổng thống Obama đưa ra trong chuyến đi châu Á Thái Bình Dương lần này có làm một số người trong giới quân sự Trung Quốc cho là Hoa Kỳ có ý định cô lập hay ngăn chận Trung Quốc hay không, đây là câu nói rất lý thú mà siêu chính phủ đả lường trước và TQ cũng thừa hiểu sẽ giải đáp ra sao cho đở quê dạng vì ương ngạnh sẽ bị cô lập ngay.

            Ông Donilon trả lời rằng Tổng thống Obama vẫn nhắc đi nhắc lại ông hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình và thành tựu kinh tế của Trung Quốc, và những gì tổng thống nói trong chuyến đi này “không liên quan gì đến cô lập hay ngăn chận bất cứ ai.” Vì thế giới cần một nền văn minh như TQ, mà TQ có trách nhiệm phải chia xẻ như sự nóng dần của trái đất, bịnh hoạn bằng những siêu vi khuẩn cần giải quyết, thiên tai, nhân mản vì thiếu thực phẫm, hạn hán …

            Phản ứng của ASEAN về việc Mỹ đóng quân tại Australia.

            Loan báo của Tổng thống Barack Obama về chương trình đóng quân tại Australia đã gây nên nhiều phản ứng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Indonesia, nơi những tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông đang là một vấn đề lớn. Bộ trưởng Thông tin Philippines, ông Ricky Carandang, hoan nghênh nguồn tin theo đó Mỹ sẽ bố trí 2.500 nhân viên quân sự tại Australia trong mấy năm sắp tới:

            “Nếu quí vị hỏi tôi một cách tổng quát, rằng tôi nghĩ sao về việc gia tăng tham gia của Hoa Kỳ tại Australia và khu vực này, thì câu đáp sẽ là chúng tôi xem hiện diện của người Mỹ và việc tham gia trở lại của họ tại nơi này rút cục là một sức mạnh giúp ổn định.”

            Philippines từ lâu cổ súy việc tăng thêm hiện diện quân sự của Mỹ, như một đối trọng với sức mạnh quân sự đang gia tăng của Trung Quốc và tình trạng đụng độ nhiều hơn trong vùng tranh chấp tại Biển Đông.

            Chủ tịch ASEAN và cũng là Ngoại trưởng Indonesia, ông Marty Natalegawa, nói Indonesia không muốn thấy vùng Đông Nam Á bị tổn hại giữa sự cạnh tranh của các nước lớn.

            Ông nói, ông muốn triển khai một quy tắc hành xử quân sự, phù hợp với thỏa ước Thân Hữu và Hợp Tác, gọi tắt là TAC, kêu gọi tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào những vấn đề nội bộ của các thành viên khác:

            “Chẳng hạn, quy tắc này bao gồm chuyện từ bỏ sử dụng vũ lực và ưu tiên cho việc dàn xếp hòa hoãn các vụ tranh chấp, chính xác hơn là những chuẩn mực của TAC, lâu nay vẫn điều hành việc bang giao giữa các nước ASEAN”.

            Hôm thứ Tư, các giới chức Trung Quốc đã đặt câu hỏi là liệu việc đóng quân của Hoa Kỳ có nằm trong lợi ích tốt nhất của các nước trong khu vực hay không. Tuy nhiên, tại Bắc Kinh hôm thứ Năm, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vị Dân đã có một đáp ứng mực thước hơn khi được hỏi về liên hệ quân sự Mỹ-Úc:

            “Liên quan đến bang giao diễn ra giữa các nước khác, Trung Quốc không can thiệp. Nhưng Trung Quốc mong rằng trong lúc triển khai các mối quan hệ với nhau, các nước cũng nên quan tâm đến các nước khác, những lợi ích, hòa bình và ổn định của khu vực”.

            TT Obama đưa Australia keo sơn vào cuộc họp thượng đỉnh Đông Á. Nâng cấp liên minh Úc-Mỹ đã có từ 60 năm nay được vùng này cho là một thông điệp rõ ràng của Washington gửi cho Bắc Kinh.

            Sự chuyển hướng chính sách ngoại giao của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tái khẳng định “liên minh không thể phá vỡ được” của Washington với Australia trong một bài phát biểu trước Quốc hội Australia tại Canberra hồi hôm qua. Ông Obama tuyên bố trọng điểm ngoại giao của Hoa Kỳ nay sẽ chuyển từ cuộc chiến chống khủng bố qua các thách thức về kinh tế và an ninh trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Ông là vị tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ nói chuyện với các nhà lập pháp tại thủ đô của Australia. Trong lời giới thiệu Tổng thống Obama trước phòng họp Quốc Hội Australia, Chủ tịch Quốc Hội Australia nói bài diễn văn hôm nay là một dịp quan trọng trong lịch sử Quốc hội Australia.

            Tổng thống Obama đã được các nhà lập pháp Australia đón tiếp một cách nồng nhiệt. Ông nói rằng liên minh an ninh song phương là “không thể phá vỡ” được và những mối liên kết giữa Hoa Kỳ và Australia rất sâu xa.

            Nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nói: “Từ những đường hào của Thế chiến thứ nhất cho đến những đồi núi ở Afghanistan, người Australia và người Mỹ đã sát cánh bên nhau. Chúng ta đã cùng chiến đấu, chúng ta đã cùng dâng hiến mạng sống trong mỗi một cuộc xung đột từ 100 năm qua, từng cuộc xung đột một. Tình đoàn kết đã chống đỡ cho chúng ta vượt qua một thập niên khó khăn. Chúng ta sẽ không bao giờ quên được các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 đã cướp đi sinh mạng không những của người Mỹ, mà cả những người từ các quốc gia khác trong đó có Australia”.

            Ông Obama đọc bài diễn văn trước Quốc Hội ở Canberra 1 ngày sau khi loan báo Hoa Kỳ sẽ bố trí máy bay quân sự và 2 ngàn 500 binh sĩ thủy quân lục chiến ở bắc bộ Australia, một quyết định được nhiều chuyên gia trong vùng coi như là gửi một thông điệp rõ ràng cho Trung Quốc.

            Bắc Kinh đã đáp lại một cách lạnh lùng, và nhấn mạnh rằng việc điều quân này “có thể không thích hợp cho lắm”.

            Tổng thống Obama hoan nghênh sự kiện Trung Quốc nổi lên như một cường quốc kinh tế và quân sự, nhưng nói rằng ông muốn có thêm sự giao tiếp giữa các lực lượng Hoa Kỳ và Trung Quốc “để ngăn tránh những vụ hiểu lầm.”

            Tuy nhiên, ông hứa sẽ mở rộng tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong vùng châu Á Thái Bình Dương và “phô bầy lực lượng và ngăn cản những mối đe dọa hòa bình” ở khu vực này của thế giới.

            Tổng thống Hoa Kỳ nói: “Trong tư cách là khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới và là nơi tập trung hơn phân nửa nền kinh tế toàn cầu, khu vực châu Á Thái Bình Dương là cấp thiết cho việc đạt được ưu tiên cao nhất của tôi và đó là tạo dựng công ăn việc làm và cơ hội cho dân chúng Mỹ. Với phần lớn lực lượng hạt nhân của thế giới và khoảng phân nửa nhân loại, châu Á sẽ góp phần lớn trong việc xác định liệu thế kỷ sắp tới được đánh dấu bởi xung đột hay là hợp tác”.

            Tổng thống Obama cũng nói các vụ vi phạm nhân quyền tiếp tục ở Miến Điện, và ông kêu gọi các quốc gia xây dựng sự hỗ trợ dành cho các quyền cơ bản của tất cả công dân.

            Ông nêu ra rằng mặc dầu lãnh tụ dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi hiện không còn bị quản thúc tại gia nữa và một số tù nhân chính trị đã được phóng thích, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục lên tiếng chống lại những vụ vi phạm nhân quyền.

            Washington đã chuyển trọng tâm chú ý về mặt ngoại giao từ Trung Đông và cuộc chiến chống khủng bố qua các thách thức về an ninh và vận hội kinh tế trong vùng châu Á Thái Bình Dương.

            Tổng thống Hoa Kỳ nói vào lúc Hoa Kỳ chấm dứt sự can dự quân sự ở Iraq và kết thúc dần các hoạt động ở Afghanistan, sẽ có một số cắt giảm về chi phí quốc phòng, nhưng ông hứa sẽ duy trì ảnh hưởng của nước Mỹ trong vùng châu Á Thái Bình Dương.

            Tiếp theo bài diễn văn trước Quốc hội Australia ở Canberra, tổng thống sẽ đáp máy bay đến thành phố Darwin miền bắc trước khi tham dự hội nghị thượng đỉnh 18 nước Đông Á ở đảo Bali của Indonesia.


            QUEENBEE-ONE
            Last edited by Phòng Trực; 09-09-2012, 02:43 PM.

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #21
              Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

              Mỹ kích động hận thù dân tộc giữa VN, TQ

              Hoa Kỳ có mưu lược gây hận thù giữa các dân tộc láng giềng với nhau để thủ lợi, bài nầy viết về khơi tại mối hiềm khích truyền thống giữa hai dân tộc Việt Tàu do 2 tu- chánh áng “Cooper-Church 1970” và “Case-Church 1973” Hoa Kỳ di tản chiến lược về Hawaii, bằng biến cố đầu tiên xúi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng-Sa đầu năm 1974.
              1) Cooper-Church Amendment From Wikipedia, the free encyclopedia
              The Cooper-Church Amendment was introduced in the United States Senate during the Vietnam War. The proposal of the amendment was the first time that Congress had restricted the deployment of troops during a war against the wishes of the president.[1]
              The amendment sought to:
              1. End funding to retain U.S. ground troops and military advisors in Cambodia and Laos after 30 June 1970
              2. Bar air operations in Cambodian airspace in direct support of Cambodian forces without congressional approval
              3. End American support for Republic of Vietnam forces outside territorial South Vietnam.
              The amendment was presented by Senators John Sherman Cooper and Frank Church and attached to a major bill, the Foreign Military Sales Act (HR 15628). After a seven week filibuster and six months of debate, the amendment was approved by the Senate by a vote of 58 to 37 on 30 June 1970. The bill failed in the House of Representatives, which opposed inclusion of the amendment by a vote of 237 to 153. President Richard M. Nixon threatened to veto the bill if it contained the Cooper-Church provisions, and the foreign assistance bill was subsequently passed without it.
              A revised Cooper-Church amendment, Public Law 91-652, passed both houses of Congress on 22 December 1970, and was enacted on 5 January 1971, although this version had limited restrictions on air operations and was attached to the Supplementary Foreign Assistance Act of 1970. By that time, U.S. ground forces had already officially withdrawn from Cambodia, while U.S. bombing missions in Cambodia (Operation Freedom Deal) continued until 1973. The Nixon administration denounced all versions of the amendment, claiming that they harmed the military effort and weakened the American bargaining position at the Paris peace talks.
              Author David F. Schmitz stated that the amendment was a landmark in the history of opposition to the war, congressional initiatives to bring the fighting to an end, and efforts to control executive power in foreign policy

              (2)Case–Church Amendment From Wikipedia, the free encyclopedia
              The Case-Church Amendment was legislation approved by the U.S. Congress in 1973 that prohibited further U.S. military activity in Vietnam, Laos and Cambodia. This ended direct U.S. military involvement in the Vietnam War, although the U.S. continued to provide military equipment and economic support to the South Vietnamese government. It is named for its principal co-sponsors, Senators Clifford P. Case (R-NJ) and Frank Church (D-ID). The Amendment was defeated 48-42 in the U.S. Senate in August 1972, but revived after the 1972 election. It was reintroduced on January 26, 1973 and approved by the Senate Foreign Relations Committee on May 13.[1] When it became apparent that the Amendment would pass, President Richard Nixon and Secretary of State Henry Kissinger, acting on a suggestion by California Senator Alexander Ware,[2] lobbied frantically to have the deadline extended.[3] It passed the United States Congress in June by a margin of 278-124 in the House, and 64-26 in the Senate.[4] Although U.S. ground forces had been withdrawn earlier under a policy called Vietnamization, bombing continued until August 15, 1973, the deadline set by the Amendment.

              Mối đe dọa mang tên Trung Cộng
              Những biến cố du côn nầy đều nằm trong ống kính của một siêu thế lực Mỹ gọi là Permanent Government dàn dựng ngay sau khi Nixon và Mao gặp nhau 1972 đi đến kế tiếp là TQ xua quân xâm chiếm Hoàng Sa dưới sự chứng kiến kiến của Hạm đội Mỹ cho đến cao điểm … Vào cuối năm 2007, Trung Quốc thành lập một đơn vị hành chính là huyện Tam Sa để quản lý Trường Sa: Vào lúc thời điểm nầy Hoa Kỳ vẫn giữ vị trí “di tản chiến lược” for overhauling the damage control và ngầm giao cho Nhựt trông coi, đây là giai đoạn trước thời điểm Mỹ roll-back 2010.

              Bản chất chính quyền Đại Hán
              Chưa bao giờ bằng lúc này người Việt ta trong và ngoài nước cần tìm hiểu sâu sắc bản chất của chính quyền Đại Hán: Thời gian 1970-2010 là thời điểm Hoa Kỳ giăng bẩy lòng tham khao khát dầu khí của Trung Quốc nhưng chẳng bao giờ Mỹ để cho TQ nắm chặc vòi xăng, đó là lý do Hoa Kỳ phải tách rời 8 nước Cộng Hoà Liên Xô vì nơi đó có vô vàng dầu khí đang ẩn mình nằm sâu dưới lớp tuyết, nắm chặc Trung Ðông dù số lượng dầu xắp cạn và đời nào Hoa Kỳ để cho TQ tung hoành trên Biển Ðông TBD, để nắm độc quyền về xăng dầu trên thế giới qua bửu-bối tối huệ quốc Freedom Support Act cho những nước mà Mỹ để cặp mắt phù thủy vì America-first
              Báo Trung Quốc cảnh báo Việt Nam không nên khiêu khích nước họ, Truyền thông nhà nước Trung Quốc cáo buộc Việt Nam ngày càng tỏ ra quyết liệt và táo bạo hơn bởi có sự ủng hộ từ Hoa Kỳ: Dỉ nhiên bắt đầu 2010 đến 2020, 10 năm trù dập TQ, đây cũng là kế hoặch nằm trong lộ trình roll-back của Mỹ để đưa Ấn Độ thế vị trí TQ mặc dầu Úc là nước đồng minh keo sơn với Mỹ, nhưng kẹt nước Úc tuy to lớn nhưng rất yếu đuối.

              TT Obama hứa Mỹ giữ vai trò mạnh trong các vấn đề châu Á
              Tổng thống Obama nói ông đã nói rõ trong suốt thời gian ông nhậm chức vừa qua là Hoa Kỳ có ý định giữ một vai trò lãnh đạo ở châu Á: Ðúng vào thời điểm decent interval “Roll-Back” bất cứ tổng thống nào cũng phải tỏ ra cứng cựa với TQ và buộc TQ phải vào khuôn khổ là nhượng bộ tại LHQ bằng tuân thủ những điệu lệ COC triệt để áp dụng tại Biển Ðông. Vì thế mà Mỹ đành phản bội đồng minh là VNCH và Ðài Loan cho quyền lợi tối thượng của Mỹ. TQ nên hiểu rỏ mà nên tuân thủ những quy tắc ứng sử COC do các nthành viên LHQ soạn thảo ra.
              Wall Street Journal: Mỹ cứng rắn trước thái độ bắt nạt của TQ
              Bài bình luận đăng trên tờ Wall Street Journal có đề cập đến thông điệp mạnh của Hoa Kỳ đối với cuộc tranh chấp biển Đông: Tiếng nói chính thức của một thế lực ghê gớm sau hậu trường qua sự tỏ bày bằng tờ báo Wall Street, TQ nên khôn ngoan để khỏi bị chia năm xẻ bảy.
              Hoa Kỳ vẫn xem Biển Đông thuộc về quyền lợi quốc gia.
              Hoa Kỳ mong giải quyết các tranh chấp tại châu Á Thái Bình Dương trên cơ sở đa phương: Bằng lời tuyên bố chính thức của Bà BTNG Hillary Clinton đúng vào năm 2010 “trù dập TQ” từ chính trị, kinh tế đến quân sự nếu cần để cô lập TQ.

              Từ biển Tây Hàn Quốc đến biển Đông Việt Nam.
              Cuộc tập trận Mỹ - Nam Triều Tiên đã gặp phải sự chống đối của chính phủ ở Bắc Kinh: Hoa Kỳ thực sự muốn dập TQ sau khi TQ chơi bắn đạn thật bằng sẳn sàng ứng chiến, 3 chiếc tìm thủy đĩnh tối tân nhứt sẽ bình địa TQ trong chốc lát nếu TQ cả gan đánh chìm HKMH của Mỹ. Ðó là nguy cơ lần thứ nhứt, nhưng TQ đã khôn ngoan tự kềm chế? Nguy cơ lần thứ hai, TQ toan đem giàn khoan tối tân có thể khoan dưới độ sâu 3000 thước, Hoa Kỳ ra lịnh cho tướng Nguyễn Chí Vịnh bắn đạn thật không cho TQ đem giàn khoan đóng cộc trong 200 hải lý trong thềm lục địa VN, và TQ biết sợ nên co rút lại. Theo ước tính Hoa Kỳ đả cà Credit Card cho công nhân Liên Xô sản xuất vũ khí tối tân cho VN vừa đủ để làm thất bại âm mưu TQ dám gây chiến.
              TQ tiếp tục đả kích 'âm mưu can thiệp của Hoa Kỳ' ở Biển Ðông.
              Ngoại trưởng Clinton tuyên bố rằng việc giải quyết một cách hòa bình vụ tranh chấp chủ quyền ở biển Ðông là cần thiết: TQ không còn con đường nào khác phải mềm nhủn như Bún nếu không muốn thế giới cô lập mình.
              TQ cảnh cáo Mỹ không nên can thiệp vào vấn đề Biển Ðông.
              Trung Quốc tố cáo Hoa Kỳ tìm cách “khơi lại hận thù” về chủ quyền các hòn đảo ở Biển Đông: Không khơi sao được! đây là cái bẫy đã giăng ra hơn ba thập niên qua, bây giờ mới xập để bắt con Heo-rừng đần-độn!

              Việt Nam mạnh mẽ ủng hộ Hoa Kỳ quay lại Đông Nam Á
              Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, cho biết rằng Việt Nam ủng hộ việc Hoa Kỳ quyết định quay lại Đông Nam Á và Đông-Á: Hoa Kỳ xem VN như một nước nhược tiểu, làm con nuôi như con Ó-Con đã được nuôi dưỡng đúng cách của loài Ó-Mẹ là hành hạ con mình trong 20 năm gọi là thù địch (hostility 1975-1995 - đau đớn trong nghèo khó, phải ăn Bo Bo trong khi có một vựa lúa phi nhiêu, giống như con Ó-Mẹ phải mổ những lông chim, cỏ rơm mềm bỏ xuống đất cho Ó-Con rên la vì da thịt non nớt phải va chạm hằng ngày vào những viên đá nhỏ chêm-đệm chung quanh ổ, cho đến khi đủ lông đủ cánh rồi mới quăng Ó-Con xuống đất để mưu sinh) phải nhờ Mỹ để lấy lại biển đảo đã mất và quyết theo Mỹ để phát triển một nước VNCH thống nhứt trong thịnh vượng dưới cái Dù của Mỹ.
              Tướng Nguyễn Chí Vịnh: VN đủ khả năng ngăn chặn bất kỳ thế lực nào.
              Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cảnh báo rằng Việt Nam có “đủ mọi khả năng” để ngăn chặn bất kỳ thế lực nào chống lại nước mình: Dĩ nhiên VN có vũ khí đặc biệt mà chỉ có tướng Vịnh và CIA biết.
              Việt Nam giữ nguyên kế hoạch khai thác dầu khí ở Biển Đông.
              Hoạt động khai thác-thăm dò dầu khí của Việt Nam ở Biển Đông nằm trong khu vực chủ quyền của VN chiếu theo Công ước LHQ về Luật Biển: VN cứng cựa nhờ Mỹ bảo đảm vùng nầy là của VN gần bờ biển Nha Trang Tuy Hoà.
              Đảng Việt Tân bênh vực vai trò trong các cuộc biểu tình chống TQ.
              Giáo sư Thayer cho rằng tinh thần chống TQ trong nhân dân không phải là mối đe dọa mà còn có lợi cho công tác đối ngoại của Hà Nội: Ông Thayer nầy được đặt mở-hàng cho chính sách Mỹ về phần mềm.
              Philippines chỉ trích TQ không đưa vấn đề Biển Đông ra Tòa án Quốc tế.
              Philippines nói quyết định của Trung Quốc có thể khiến người ta nghi ngờ về tính hợp lệ của các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh: TQ rất sợ đưa ra LHQ sẽ bị thua kiện.
              Philippines đề nghị để LHQ làm trọng tài giải quyết tranh chấp Biển Đông.
              Trung Quốc khăng khăng muốn giải quyết các tranh chấp chủ quyền với từng nước riêng rẽ, theo chiến lược ‘chia để trị’: Dĩ nhên chia bó đũa ra từng chiếc thì dể bẻ gãy hơn.
              Philippines, Trung Quốc cam kết duy trì ổn định ở Biển Đông.
              Vụ tranh chấp chủ quyền giờ đây đã trở thành quan trọng hơn vì có sự gia tăng của những hoạt động thăm dò dầu khí dưới đáy biển: Thế giới cần nhu cầu xăng dầu, nên đang hối thúc giải quyết biển đông gấp hơn dự trù.
              Philippin tỏ ra thân thiện nhưng kiên quyết trong vụ giằng co với TQ về tranh chấp lãnh thổ
              Tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường 'những gì của chúng ta là của chúng ta': Khác VN, Philippine dựa vào sự cam kêt của Mỹ nên rung đùi hưởng lợi.
              Bà Clinton tái khẳng định sự cam kết của Mỹ đối với Philippines giữa vụ tranh chấp hải đảo
              Ngoại trưởng Clinton nói Hoa Kỳ và Philippin sẽ tổ chức thao diễn hải quân chung vào cuối tháng này trong vùng biển phía tây Manila: Hoa Kỳ quyết bảo vệ Philippine là vì quyền lợi của Mỹ trước hết.
              Hoa Kỳ cam kết bảo vệ Philippines trong vụ tranh chấp với Trung Quốc.
              Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario nói nước ông sẵn sàng đứng dậy đối phó với những 'hành động hiếu chiến' trong vùng: Dĩ nhiên TQ sẽ rút cổ lại, từ bỏ hành động côn đồ.
              Philippines mưu tìm hậu thuẫn của Mỹ để đối chọi với Trung Quốc.
              Philippines muốn Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ trong trường hợp xảy ra chiến sự với Trung Quốc: Philippine đả có sự bảo đảm hơn VN còn gì mà phải lo.

              TQ kêu gọi Việt Nam xoa dịu dư luận về vụ tranh chấp Biển Ðông
              Một giới chức quân sự cao cấp của Trung Quốc hối thúc Việt Nam xoa dịu dư luận trong nước và tránh làm gia tăng căng thẳng: Bây giờ TQ mới thắm nên đổi thái độ hoà hoản và chính quyền VN mới trấn áp biểu tình trong những tuần qua.
              Viện Lowy: Biển Ðông là điểm nóng chiến lược tại Đông Á.
              Viện Lowy khuyến cáo rằng tinh thần quốc gia và những tranh giành tài-nguyên đang đổ thêm dầu vào lửa trong tranh chấp Biển Ðông: Không phải vậy mà vì khan hiếm dầu nên muốn giải quyết sớm hơn, nhưng chỉ có nhửng nước lớn mới có kỷ thuật khai thác dầu mà thôi.
              Tranh chấp Biển Đông: TNS McCain đả kích đòi hỏi chủ quyền 'vô căn cứ' của TQ.
              Thượng nghị sĩ John McCain trở thành người mới nhất kêu gọi Mỹ hỗ trợ các nước Đông Nam Á trong vụ tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông: Sự thật TQ vô cùng thất thế, vì chỉ đơn giản TQ rơi vào cái bẫy của Mỹ đả giăng ra từ bấy lâu nay.

              TNS McCain kêu gọi Mỹ đóng vai trò lớn hơn trong vụ tranh chấp Biển Ðông.
              Ông McCain nói rằng ông bất bình trước những hành động ngày càng hung hãn của Trung Quốc ở Biển Đông: Dĩ nhiên TNS nào của Mỹ cũng phải nói như vậy vì đó là lời phát ngôn có trong lộ trình đã thiết kế.

              Trung Quốc khuyên Hoa Kỳ đứng ngoài trong tranh chấp Biển Đông
              Thứ trưởng Ngoại giao TQ nói các nước trong cuộc tranh chấp biển Đông đang 'đùa với lửa' và hy vọng 'lửa này sẽ không dây dưa' sang Mỹ: Nhóm trẻ làm bộ hù doạ Mỹ nhưng trong bụng rất run-sợ
              Trung Quốc chỉ trích thời biểu các cuộc diễn tập quân sự của Hoa Kỳ tại Biển Đông.
              Trung Quốc nói thời biểu các cuộc diễn tập của hải quân Hoa Kỳ tại khu vực nhạy cảm Biển Đông là không … Hoa Kỳ chỉ thao dượt vào thời điểm cần thiết để ngăn chận những âm mưu của TQ
              Hoa Kỳ-Trung Quốc thảo luận về các tranh chấp ở Biển Đông.
              Đô đốc Mullen nói ông quan ngại về tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines trong tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông: Hai nước nầy nếu có xảy ra chiến tranh hay xung đột, nơi đây là chạm tuyến đầu tiên của ngòi nổ chiến tranh.
              Hoa Kỳ-Trung Quốc thảo luận các vụ tranh chấp lãnh hải và các vấn đề khác.
              Trung Quốc đã đưa ra những lời cảnh báo gay gắt, kể cả việc đe dọa có hành động quân sự để thực thi lời tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông: Dù Hoa Kỳ có những trở ngại nội bộ về kinh tế và Trung Ðông, nhưng TQ cũng không dễ gì ở vị thế thượng phong nên đừng tưởng bở mà bị chia năm xẻ bảy.
              Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài lề trong tranh chấp ở Biển Đông.
              Chính quyền của Obama nói Hoa Kỳ coi việc giải quyết một cách hòa bình những tranh chấp ở Biển Đông là mối quan tâm quốc gia: Nhưng nước nào đụng đến quyền lợi America-first thì biết ngay hậu quả!
              Tranh chấp Biển Đông: Lập trường đàm phán song phương của Trung Quốc có thể thay đổi?
              Trung Quốc mạnh mẽ chỉ trích việc thượng nghị sĩ Jim Webb của Mỹ kêu gọi tiến hành đàm phán đa phương để giải quyết tranh chấp Biển Đông.
              Thượng nghị sĩ Jim Webb là người bảo trợ một nghị quyết được đồng nhất thông qua tại Thượng viện Hoa Kỳ hồi tháng 6 vừa rồi, lên án việc Trung Quốc sử dụng vũ lực trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, và kêu gọi một giải pháp đa phương để giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải tại Đông Nam Á. Văn phòng Thượng nghị sĩ Jim Webb chiều thứ Tư ra thông cáo báo chí cho hay ông sẽ đi thăm Thái Lan, Singapore, Indonesia và Việt Nam từ ngày 12 tới ngày 25 tháng Tám.
              Tại Việt Nam, Thượng nghị sĩ Jim Webb sẽ thảo luận về nỗ lực thăng tiến các quan hệ kinh tế, và cuộc tranh chấp ở Biển Đông, sau khi ông rời VN có thể vụ án Cù Huy Hà Vũ sẽ có nhiều thay đổi để còn nhờ Mỹ giãi bỏ lịnh cấm bán vũ khí sát thương và tăng trưởng kinh tế, dù rằng có một trường phái ngoan cố không cần bỏ lịnh bán vũ khí sát thương; nhưng họ có hiểu rằng tàu lặn Kilo và phi cơ tối tân là tiền của Mỹ cà Credit Card cho công nhân LX làm ra hay không? Coi chừng Mỹ mà giận thì ốc vịt không có máy bay tàu lặn đâu nhé? Ðồng thời Mỹ cũng xúi TQ hù doạ VN buộc VN phải nghe theo lời Mỹ (chính trị mà) cho sớm hơn vì tình hình Biển Ðông đang có nhiều biến cố phức tạp có thể xảy ra đụng độ không thể kiểm soát được vì thời điểm decent interval quá gấp rút.
              Ðó thấy chưa, Trung Quốc đang triển khai quân lực gần biên giới, thử nghiệm hàng không mẫu hạm đầu tiên, gia tăng hoạt động quân sự Biển Đông (biết đâu CIA Mỹ thúc TQ?) Theo tôi nghĩ Việt Nam nên lợi dụng chuyến viếng thăm của TNS Webb để khẳng định sự độc lập và toàn vẹn của lãnh thổ. Được sự ủng hộ của lập pháp Mỹ sẽ dễ dàng hơn cho chính quyền Hoa Thịnh Đốn hỗ trợ Việt Nam trong việc chống lại bá quyền. Hãy thực tế và dứt khoát với thái độ "đu-dây" hay "đi hàng hai" để dân tộc có được "vận hội mới" với hy vọng theo kịp sự phát triển trong vùng ÐNÁ và trở thành nước lảnh đạo NATO phương đông.
              Ông JIM WEBB là một nghị viên HK có dường lối đối ngoại khôn khéo trong vấn đề Biển Đông. Theo tôi nghĩ, lần này Ông ghé thăm VN là một dịp tốt để hai nước Việt-Mỹ tìm biện pháp làm thế nào để vừa bảo vệ đường hàng hải ở khu vực vừa có kế sách cân bằng quyền lực với TQ ở BĐ.
              Nhà lãnh đạo thượng viện Mỹ ông Jim Webb Thứ Năm, 11 tháng 8 2011. Là người Việt, nên yêu cầu ông Jim Webb đặt vấn đề với VN, Dân làm chủ, Dân tự do, Dân cần có công ăn việc làm.
              Theo chương trình, Thượng nghị sĩ Jim Webb, Chủ Tịch tiểu ban Đông Nam Á-Thái bình dương của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, sẽ gặp các vị nguyên thủ quốc gia và các quan chức đặc trách chính sách đối ngoại, thương mại và quốc phòng của mỗi nước, cùng các nhà ngoại giao Mỹ, các học giả và doanh gia hàng đầu.

              Được biết tại Thái Lan, ông Webb sẽ trở thành một trong các giới chức Mỹ đầu tiên gặp các lãnh đạo của chính quyền tân cử dưới quyền Thủ tướng Yingluck Shinawat.

              Tại Singapore, ông sẽ thảo luận về các quan hệ song phương, vấn đề chủ quyền biển và các nỗ lực khu vực chống nạn buôn người.

              Tại Indonesia và Việt Nam, Thượng nghị sĩ Jim Webb sẽ thảo luận về nỗ lực thăng tiến các quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và hai nước này, ông cũng sẽ thảo luận về các cuộc tranh chấp lãnh hải trong Biển Đông, và các vấn đề an ninh khu vực khác.

              Thượng nghị sĩ Jim Webb là người bảo trợ một nghị quyết được nhất trí thông qua tại Thượng viện Hoa Kỳ hồi tháng 6 vừa rồi, lên án việc Trung Quốc sử dụng vũ lực trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, và kêu gọi một giải pháp đa phương để giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải tại Đông Nam Á.
              .
              QUEENBEE-ONE
              Last edited by Phòng Trực; 09-17-2012, 07:24 PM.

              Comment

              • vinhtruong
                Super Member
                • Jun 2010
                • 1924

                #22
                Nhắc lại cuộc chiến biên giới Việt/Trung 1979

                Thời điểm 1979, Trung Quốc đem quân đánh Việt Nam ở miền Bắc với ý định của họ là đỡ đòn cho Pol Pot của Campuchia, nhưng thực tề do tình báo Mỹ là để cho TQ có cơ hội thí nghiệm sự hiệu quả vũ khí do TQ làm ra để đấu với vũ khí Liên Xô, theo sự gật đầu trên trục lộ trình sách lược của Mỹ, nhưng trong phạm vi sáu tỉnh biên giới mà thôi, trong khi đó B-52 trang bị Bom nguyên tử bay ứng trực để ngăn ngừa TQ làm ẩu. Trong khi hỏa tiễn SAM tối tân bậc nhứt của LX đang bố trí phòng thủ Hà Nội dĩ nhiên là TQ không dám làm phiền Hoa Kỳ để hưởng được viện trợ khoa học kỹ thuật, trở thành siêu cường hạng nhì, tước đoạt từ tay LX như Mỹ đã hứa với Mao 1972, nên khi quân BV vào hết trong nam, bỏ trống miền Bắc, nhưng TQ không được lấy danh nghĩa đem quân TQ vào để giữ sân nhà cho Hà Nội theo như cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ.
                Đánh sáu tỉnh miền bắc được gọi là dạy cho VN một bài học, cũng một cách nữa là họ trả thù cho Pol Pot. Nhưng Mỹ chỉ cho phép làm VN chảy máu tay chớ không mất mạng. Đồng thời lúc bấy giờ ông Đặng Tiểu Bình cũng muốn quan hệ với Mỹ cho nên đánh VN để cho Mỹ thấy rằng là giữa Trung Quốc và Việt Nam không phải là đồng minh, không phải là cùng nhau Cộng sản nữa. (Nhưng sự thật TQ và VN không phải là Cộng Sản mà chế độ Mafia toàn trị theo sự thú nhận trong sách “The bushes” 2004, Peter Schweizer…).
                Đặng Tiểu Bình qua Mỹ xin phép, tin để phát triển quan hệ với Trung Quốc theo ý của Mỹ, vì Trung Quốc lúc bấy giờ muốn phát triển quan hệ với Mỹ. Đánh Việt Nam là một món quà tặng cho Mỹ bề ngoài là theo Mỹ đánh đàn em của LX, đánh đàn em của kẻ thù là bạn của Mỹ (Nhưng sự thật W A Harriman đang áp dụng Tam Quốc Chí trên thế giới) Nhưng sự thật nằm trong sách lược Mỹ/Xô nhân cơ hội gài Mìn các hải cảng Bắc Việt 1972, phi cơ hạng nặng AN-12 của LX chở các hoả tiển SAM đời mới nhứt thời đó để phòng thủ Hà Nội cho ngày mà Mỹ gọi là TQ có cơ hội thí nghiệm hiệu quả vũ khí do TQ làm ra trên 6 Tĩnh giáp ranh TQ (dĩ nhiên là vũ khí thua xa LX).
                Gần đây có thông tin nói rằng 1979 hồi đó chiến dịch của Trung Quốc không chỉ là để dạy cho Việt Nam một bài học ở mấy tỉnh biên giới mà thật ra là họ đã có kế hoạch vào cả nước Việt Nam, nhưng rất sợ lời cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ và TQ cũng ước mong trở thành cường quốc hạng-2 với sự giúp đở khoa học của Mỹ. Dĩ nhiên Thầy dạy võ cho học trò thì phải giữ những đòn bí ẩn để phòng khi học trò phản trắc chớ? Thế là nhân viên tình báo CIA thâm nhập một cách tinh vi vào TQ. Ta thử nghiệm các đại sứ Mỹ tại VN cũng như Ông Tổng Lãnh Sự người Mỹ gốc Việt, có phải những vị nầy trước khi qua VN lãnh chức vụ quan trọng phải làm việc một thời gian cần và đủ về am-tường nội tình TQ trước khi được bổ nhiệm chức vụ quan trọng tại VN?
                Nhưng mà đánh biên giới Việt Nam thì lúc bấy giờ đường sá biên giới giữa TQ và VN khó khăn lắm; Chưa có mở được đường sá ở các tỉnh biên giới; Toàn là đường hẹp, đường núi; Cho nên Trung Quốc hành quân rất khó; Mà Trung Quốc tiếp tế cũng khó, tải thương cũng khó, vì thiếu kinh nghiệm làm sao bằng VN đã trưởng thành trong kháng chiến gian-khổ, cho nên Trung Quốc cũng chỉ đánh VN ở mấy tỉnh biên giới chứ không đánh sâu xuống được nữa đâu. Ngày nay, không ai xác định là bao nhiêu nhưng mà vì đánh nhau trong hoàn cảnh rừng núi của bắc VN như thế, đường sá hẹp hòi như thế cho nên Trung Quốc thương vong cũng nhiều; Vì Mỹ khi hấp tấp tháo chạy lỡ dại bỏ lại vài ngòi nổ (war-head) của Bom CBU-55? Mà xui cho TQ Hà Nội lượm được! Cho nên TQ phải rút thôi vì bị thiệt hại nặng, kể từ lúc đó, TQ chuẩn bị sau 15 ngày họ phải rút theo đúng lời cảnh báo của Mỹ.
                Với tinh thần Việt Nam cùng Trung Quốc bình thường hóa quan hệ như hiện nay thì liệu khả năng xảy ra chiến sự trong tương lai, theo như chúng ta ước đoán, có nhiều biến cố xảy ra? Trong thế kỷ 21, W A Harriman sẽ không thể để xảy ra vì mọi việc sẽ phải được giải quyết trên bàn mổ LHQ, như chuyện Biển Đông, TQ phải triệt để nghiêm chỉnh nghe lời cảnh báo của Mỹ DOC để tuân thủ luật quốc tế.
                Nhưng lỡ đã là chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay Việt Nam có thua trước rồi cũng tìm cách thắng lại; Về phía VN chúng ta chẳng nghĩ đánh Trung Quốc; Nhưng về phía Trung Quốc làm sao mà biết được trong tư tưởng, trong ý đồ của họ là muốn bành trướng xuống phía nam mà VN là cửa ngỏ; Nhưng có một điều rằng, trong tình hình hiện nay thì Trung Quốc cũng không dễ dàng gây một cuộc chiến tranh lớn đâu. Bởi vì Trung Quốc họ còn phải thể hiện mặt đẹp với thế giới nữa; Cho nên là cũng khó; Hai nữa là họ cũng phải dè chừng dư luận thế giới; Chứ trong thời đại thế kỷ 21 hiện nay đâu phải dễ dàng phát động chiến tranh; Mà phát động một cuộc chiến tranh thì dù Trung Quốc lớn, VN nhỏ, nhưng đã là chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay, VN vẫn giử được mảnh đất cha ông để lại mà ...

                Cách nhìn cuộc chiến 1979 từ hai phía, tuy nhiên, văn bản này còn cho biết thêm về vai trò quan trọng của ông Đặng Tiểu Bình trong quyết định đánh Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế có cả quan hệ với Washington và Moscow; Vừa qua BBC Tiếng Việt khai thác thêm các góc độ trong tài liệu và so sánh với một số đánh giá đã nêu từ trước về cuộc chiến 1979, sự kiện vẫn chưa được thảo luận công khai ở cả Việt Nam và Trung Quốc, nhưng lại nằm chình ình trong lịch trình Eurasia là TQ được Mỹ cho phép có cơ hội thí nghiệm vũ khí do mình làm ra để tự lượng giá tầm cỡ.
                Vì 'Hoa Kỳ không tha-thiết tán thành' - Đặng Tiểu Bình được trích lời nói rằng ông đã tuyên bố dạy cho Việt Nam 'một bài học' trước đó, khi thăm Hoa Kỳ, mở đầu chiến lược liên kết với chính quyền Carter, nhằm chống lại Moscow và các đồng minh, trong đó có Hà Nội để nịnh Hoa Kỳ vì TQ là kẻ thù của kẻ thù là bạn với Mỹ. Ông Đặng giả-vờ nói với các tướng lĩnh Quân Giải phóng rằng Hoa Kỳ không tán thành việc Bắc Kinh trừng phạt Hà Nội nhưng cũng giúp một ít tin tình báo, sự thật Hoa Kỳ đã thẳng thắng nghiêm cấm Bắc Kinh tấn công vào Hà Nội, vì quân lực Hoa Kỳ đã trực báo động nếu TQ làm ẩu thì hoa lục sẽ bị bình địa ngay tức khắc vì đã đi chệch lộ đồ chiến lược Eurasia của Mỹ.
                Cuộc đưa quân sang Campuchia của Việt Nam nó nằm trong kế hoạch renewed Aid to Russia 1941-1946 Plan với 700 triệu tấn vũ khí hiện đại của Liên Xô cho Hà-Nội với ba mục tiêu (1) cưỡng chiếm miền nam, (2) tấn công Cambodia, (3) phòng thủ Hà Nội bằng hệ thống phòng không tối tân nhứt hồi thời đó. Ngay sau khi tướng LX qua Hànội đầu tháng March 1972 gọi là Inventory, ngày 23/12/1972, tám chiếc AN-12 chở vào Hà Nội 80 tấn hệ thống phòng không SAM tối tân nhứt thời đó.
                Ngày 8/1/1975 Lê Đức Thọ được sự bảo đảm của Kissinger là chiếm miền nam, có mặt người cùng vị trí với Kissinger về phía LX, Nicolai Firyunbin, và tướng LX JCS V, A Jukilov ngang hang với tướng Haig phía Mỹ để bảo đảm sự giao hàng sớm nhứt tại hải cảng Hải Phòng. Khi đó cũng là chủ đề đáng được nhắc lại vì phía TQ cho rằng cuộc chiến 1979 chủ yếu để 'dạy cho VN một bài học' vì 'xâm lăng Campuchia', trước khi đó là đồng minh, và hiện nay cũng đang gần lại với Trung Quốc trong chiến lược Đông Nam Á của Bắc Kinh theo ý đồ mong ước của TQ, nhưng sự thật VN buộc phải đu dây qua lại LX rồi TQ qua sự xúi bẩy của Mỹ bằng công cụ tam trùng Nguyễn Chí Vịnh (đả được Harriman trồng người từ lúc Nguyễn Chí Vinh 11 tuổi với cha đở đầu, Lê Đức Thọ 1968 nơi cuộc hợp mặt tay đôi tại Paris, trước năm 2010 ai ai cũng tin Vịnh là người của TQ nhào nặn ra, nhưng thời điểm roll back thì Vịnh là tam trùng, người của Mỹ)

                Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy đăng tại một số trang mạng cá nhân ở Việt Nam như Nguyễn Xuân Điền, blog nhân kỷ niệm 32 năm Chiến tranh Biên giới: - Đặng Tiểu Bình tiết lộ: "Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới, (có ý cảnh báo TQ phải kềm chế không được làm lớn chuyện vì biên giới Trung Xô) chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số"
                Có vẻ như chi tiết này khiến TQ tiến hành cuộc chiến họ gọi là 'Đối Việt tự vệ phản kích chiến' nhanh chóng và sau khi tàn phá sáu tỉnh biên giới của VN thì rút quân về:
                "Ba phần tư binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài."
                Trong bài nói chuyện đó, ông Đặng Tiểu Bình cũng gọi Việt Nam là 'Cuba Phương Đông', hàm ý nước này là 'tay sai Liên Xô', và gọi các lãnh đạo Hà Nội là 'điên cuồng'. Với giới trí thức bên ngoài, kể cả ở Phương Tây, cuộc chiến ngắn ngày nhưng dữ dội là một cột mốc quan trọng để đánh giá Trung Quốc trong quá trình tìm con đường mới, thoát khỏi thời kỳ tự cô lập của Mao Trạch Đông, và xác định vị trí trên trường quốc tế, chỉ đánh với một nước nhỏ như VN mà TQ đã bị thiệt hại đáng kể (sự thật tình báo Mỹ đã nghiên cứu trận mạt rừng núi hiễm trở khó chuyễn quân rầm rộ nên sơ ý bỏ quên vài đầu nổ (warhead) cho VN tự vệ.

                Trong một nghiên cứu hồi 2010, tác giả Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cho rằng ông Đặng có vai trò cá nhân nổi bật trong quyết định đánh Việt Nam nhưng tuyệt đối nghe lời Mỹ là đúng nghĩa dạy cho VN một bài học không đi xa hơn, hay nói cách ngầm ý của Mỹ là lấy cơ hội nầy mà trắc nghiệm vũ khí chính do TQ làm ra. Theo ông, nhìn từ quan điểm của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có ba yếu tố khiến bối cảnh xảy ra cuộc chiến trở nên khả thi; Đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp định 1978; vai trò thống trị của Việt Nam ở Đông Dương và quan hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
                Còn về nội bộ, theo TS Trương, chính việc thăng chức của ông Đặng Tiểu Bình, từ vị trí phó thủ tướng khi Mao chết năm 1976, lên chức vụ cao nhất, nắm Quân uỷ Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết định cho việc đánh VN do CIA ngầm yểm trợ ngôi vị cho Đặng. Việc làm nầy CIA lập lại hồi 1959, trục ma quỹ CIA/KGB triệu hồi Lê Duẩn từ miền nam về làm Quyền TBT và Lê Dức Thọ vào nam lãnh đạo MTGPMN khởi nguyên triều đại Mafia toàn trị (không phải Cộng Sản trong lăng kính Permanent Government) P.G bảo vệ cho Lê Đức Thọ trị vì cho đến khi Thọ chết …
                Trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy, ông Đặng tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác thường, dĩ nhiên hai ca-sĩ [Thọ/Đặng] có thương yêu nhau bao giờ? Nhưng Mỹ không cho phép Đặng làm quá đáng; Trong phát biểu ngày 16/3/1979, ông được trích lời nói: "Đồng thời khi kinh doanh chuyện chống đối Trung Quốc, Việt Nam đã đánh nhau nhiều năm, ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng (điều dể hiểu vì Hà Nội là tiền đồn của TC nơi nút-chận hơn nửa triệu Lính Mỹ), có công sự đã xây bảy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế." Tạo ra tình trạng nầy, Mỹ như một ngư ông ngồi rung đùi hưởng lợi.

                Một số nhà quan sát đã từng cho rằng ông Đặng phụ trách chuyện viện trợ của TQ cho Hà Nội thời chiến tranh Mỹ - Việt nên cảm thấy bị 'phản bội' bởi thái độ quay sang Liên Xô của nước Việt Nam cộng sản sau chiến tranh. Vì thế, quyết định trừng phạt của ông được nói rõ: "Nó cũng nghĩ là cậy hiệp ước này kéo Liên Xô xuống nuớc, cũng cậy có hiệp ước này cho rằng chúng ta không dám áp dụng trừng phạt qui mô tương đối lớn. Ngay trước khi chúng ta ra quân mấy ngày nó còn dự đoán rằng chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn. Chúng ta hạ quyết tâm này đúng là đã tỉnh táo đánh giá phản ứng của phía bắc lớn đến đâu"
                Các nguồn tin của phía Việt Nam, chẳng hạn như lời kể của cựu đại tá Bùi Tín, cho rằng mâu thuẫn giữa ông Lê Duẩn và Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình lên cao trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979, điều dễ hiếu là Lê Đức Thọ nghe lời Mỹ từ chấm đến phết để bảo vệ ngôi vị thủ lảnh đảng Mafia toàn trị của ông cho đến chết.
                Một số giới tại Việt Nam tin rằng ban lãnh đạo Bắc Kinh không thực sự muốn hai miền Nam Bắc VN thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hà Nội. Bằng chứng suốt Hoà đàm Paris, TQ luôn luôn hậu thuẩn Bà Nguyễn Thị Bình; Ngoài ra, trong dư luận Việt Nam có niềm tin rằng Trung Quốc chỉ lợi dụng tình thế để kiếm lợi về địa chính trị và cả lãnh thổ, với bằng chứng là vụ đưa quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 từ tay Việt Nam Cộng Hòa nhưng mà lại bị xập bẩy của Mỹ trong chiến dịch di tản chiến thuật, lùi một bước tiến lên ba bước mà Mỹ cho rằng: Overhauling the damage control and roll-back 1970-2010. Trung Quốc làm sao biết được lý do Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève-54 chia đôi VN là để sau khi kiếm đủ lợi nhuận sẽ để cho VN thống nhứt và cũng đáp lễ 8 bức văn thư thỉnh cầu của HCM về thống nhứt độc lập cho VN giống y chang Philippine do Hoa Kỳ bảo trợ. Ngày 30/4/75 là được thống nhứt sau 30 năm chinh chiến và Hoa Kỳ đả nhờ Pháp rồi VNCH giải toả một số vũ khí thặng dư còn tồn kho và đồng thời thí nghiệm một số vũ khí mới cho mặt trận Trung Đông.

                Hệ quả lâu dài: - Về vai trò của Mỹ, các bình luận cho tới nay phần nhiều đồng ý rằng chiến lược lôi kéo Trung Quốc để bao vây Liên Xô của cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski là yếu tố cơ bản để Washington liên kết với Bắc Kinh trong vấn đề Đông Dương sau nầy vào diển tiến hoà bình trong phần mềm. Điều này cũng được chính giáo sư Brzezinski, người gần đây lại một lần nữa kêu gọi chính quyền Obama xây đắp trở lại quan hệ với Trung Quốc, xác nhận trong nhiều bài viết và sách của ông để bảo vệ cho một trật tự thế giới mới. Đổi lại, Trung Quốc được mở lối vào lại với Phương Tây để hiện đại hóa nền kinh tế nhờ các thí điểm về đầu tư tư bản và công nghệ; Về phía Hoa Kỳ, chiến lược Brzezinski tạo liên minh không tên với Trung Quốc khiến Washington phá vỡ khối xã hội chủ nghĩa châu Á mà không phải tham chiến theo như Eurasian Great Game-1 là mọi xung đột đều phải nghiêm chỉnh giải quyết tại bàn mổ LHQ mà Hoa Kỳ tin chắc là TQ sẻ tuân thủ.
                Tóm lại, chiến tranh Biên giới 1979 và cuộc chiến Việt Nam - Campuchia đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế này, xung đột quân sự nổ ra giữa các nước cùng ý thức hệ là do tài ba ưu việc của W A Harriman (1891-1986) qua lý thuyết gia George F Kennan.

                Kế hoạch Bốn Hiện Đại hóa của Trung Quốc cuối thập niên 1970, đầu 1980 có cả phần về quân sự. Và dù thiệt hại nặng trong cuộc chiến biên giới, Quân Giải phóng Trung Quốc đã rút kinh nghiệm trong việc tổ chức và tiến đến hiện đại hóa; Việc tăng cường quân bị theo mô hình dùng Không quân, Hải quân và hoả tiển nhiều hơn bộ binh, lực lượng chịu nhiều thiệt hại năm 1979, khiến Trung Quốc ngày nay ước ao trở thành một cường quốc khu vực với tham vọng toàn cầu nhưng khó mà qua mặt Mỹ hay LX. Còn với Việt Nam, ngoài thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xung đột vẫn kéo dài, gây chảy máu nền kinh tế; Cuộc chiến và việc đóng quân lại Campuchia cũng khiến Hà Nội bị cô lập nhiều năm về chính trị và kinh tế đối với nước ngoài; Tới khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc 10 năm sau, cùng thời gian cách mạng dân chủ rung chuyển Đông Âu, ban lãnh đạo Việt Nam đã quay trở lại làm thân với Bắc Kinh qua khuyến khích của tình báo Mỹ, cuộc gặp Thành Đô, tạo ra một loạt hệ luỵ mới cho quan hệ song phương tới ngày nay, nhưng đối với Mỹ là thời gian dài cần thiết cho sách lược Mỹ ở Á-Châu trước 2010 rồi sẽ ám hại TQ lại làm cho TQ phải bị nội thương kể cả ngủ tạng lục phủ. Vì Biễn Đông mỗi buổi sáng chúng ta không bao giờ thấy hai mặt trời cùng mọc một lược?

                Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển dần dần được giải quyết nhưng hòa bình qua đường biên giới, giao thương tăng nhanh với phần lợi nghiêng về Trung Quốc, vẫn chưa thực sự đem lại hòa giải giữa hai nước Việt Trung; Việc các trang mạng cá nhân và blog ở Việt Nam nhắc lại nhiều về cuộc chiến 1979 cho thấy giới trí thức e ngại Trung Quốc vẫn muốn lên tiếng, trong khi truyền thông chính thức không đả động gì đến chủ đề lịch sử nầy, tại sao? Vì quá tế nhị nhạy cảm!

                QUEENBEE-ONE
                Last edited by Phòng Trực; 09-21-2012, 07:13 AM.

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #23
                  Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

                  Trung Quốc bị kèm kẹp vào quỹ đạo của Mỹ bằng COC

                  An-ninh Biển Đông có vai trò then chốt với Châu Á /TBD:
                  Như tôi đã viết theo diễn tiến trên trục lộ đồ Eurasia, thì ngày nay (decent interval roll-back 2010) đã đến thời điểm phải giữ An ninh biển, với vai trò then chốt đối với an ninh toàn bộ khu vực, do vậy khu vực cần một bộ Quy tắc ứng xử có tính “ràng buộc” nhằm bảo đảm an ninh biển chung cho toàn bộ khu vực, không chỉ cho Biển Đông. Đây là nhận định chung của đa số đại biểu dự Cuộc họp Đại hội đồng Hội đồng Hợp tác An ninh châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 8 diễn ra trong hai ngày 21 và 22/11 tại Hà Nội với hơn 300 học giả trong nước và quốc tế. Cuộc họp lần này có chủ đề - Những nguy cơ và thách thức: “Liệu phải có cấu trúc an-ninh khu vực mới có hiệu lực?” Theo mưu đồ lịch trình đã thiết kế của Mỹ của lý thuyết gia George F Kennan từ 1950 (ngay sau khi 1949 một phi đội CAT (Civil Air Transport) của CIA cưởng bức áp tải Tưởng Kinh Quốc và phe nhóm ra định cư tại đảo Đài Loan giúp Mao thống nhứt lục địa với điều kiện tiếp nối chia đôi Triều Tiên và VN y chang như Đông Đức và Tây Đức để Mỹ tiêu thụ cho hết hàng tiêu dùng [hàng giết người] nên chúng ta đừng ngạc nhiên tại sao Hà Nội xài AK.47 tự động mà Sàigòn xài Garant, Carbin M-1 bắn từng viên cho đến 1968 thay vì 1964 như Hà Nội).

                  Tại Quốc hội vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dám làm ngạc nhiên bằng nhấn mạnh, Việt Nam phải giải quyết và khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa - đã bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm năm 1974 từ tay của chính quyền VNCH (cái bẫy bày ra do Kissinger lập lờ nói ngoài hành lang “cái gì của South China Sea hay “Mer de Chine” đều thuộc của China, liền sau 1975 CIA xúi Lê Đức Thọ đem người dân ra “Xí”, và an cư lạc nghiệp tại các đảo kế cận Trường Sa vì spy satellite system đả chụp được có dầu khí dưới thềm lục địa tại nơi đó, riêng Hoàng Sa thì chắc ăn là của VNCH với chứng liệu khá rõ ràng. Nói nôm na Mỹ là người cầm cây gậy trưởng ban nhạc, và những biến-cố Biển Đông là do Mỹ nhào nặn theo dự mưu đã thiết kế political affairs để buộc TQ vào thế kềm kẹp của Mỹ, là một thành viên LHQ vì thế Harriman đã phải hy sinh VNCH và THQG, lấy chiếc ghế LHQ từ THQG… Nói tóm lại ngày nay nếu không có Mỹ thì Việt Nam mất tất cả, nhưng cũng không phải Mỹ thương yêu gì VN mà vì “America-first”.

                  Thảo luận về vấn đề bảo đảm an ninh hàng hải, các đại biểu hoan nghênh việc Hội nghị Cấp cao ASEAN vừa qua tại Bali đã quyết tâm thúc đẩy thực hiện đẩy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và khởi động tiến trình đàm phán bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC), và việc Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo thông báo sẵn sàng đối thoại với ASEAN về vấn đề này.
                  Nhiều đại biểu cho rằng, COC tập trung vào mục tiêu phòng ngừa, kiềm chế xung đột, thúc đẩy hợp tác khu vực bảo đảm an ninh biển khu vực. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cần làm rõ các lĩnh vực liên quan tới an ninh biển, vì các nước có các quan tâm khác nhau. Việc tham gia đàm phán và ký kết COC là một nghĩa vụ của các bên có liên quan đã được nêu tại DOC.

                  Để đạt được COC, các học giả đều cho rằng, ASEAN cần đóng vai trò trung tâm, tạo diễn đàn để các bên đàm phán và thảo luận. Các bên cần lập cơ chế giám sát việc thực hiện DOC.
                  Một COC trong tương lai cần đề cập các cơ chế kiểm soát các mối đe doạ đến an ninh hàng hải. COC cũng cần tái khẳng định sự cam kết của các bên đối với luật pháp quốc tế và Công ước luật biển 1982 của Liên Hợp quốc, COC cũng cần tính đến quyền lợi của các quốc gia sử dụng Biển Đông – “Trung Quốc kẹt cứng làm tan rã mộng bành trướng”.

                  Bên cạnh vấn đề an ninh hàng hải, trong những ngày họp vừa qua, các đại biểu tham dự hội thảo cũng đã thảo luận các vấn đề quan trọng hàng đầu đối với an ninh khu vực, như các biện pháp ứng phó với nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong bối cảnh nhu cầu sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình trên thế giới đang gia tăng, vấn đề quan hệ ASEAN-Trung Quốc, trách nhiệm bảo vệ người dân, vấn đề an ninh nguồn nước, như khu vực hạ lưu Sông Cửu Long, an ninh mạng, tình hình bán đảo Triều Tiên và đánh giá hiệu quả của cấu trúc an ninh khu vực.

                  Về chủ đề an ninh hạt nhân, các đại biểu cho rằng thế giới đang phải đối mặt ngày càng nhiều nguy cơ như khủng bố hạt nhân, tái chạy đua vũ trang hạt nhân, nguy cơ tai nạn hạt nhân xuất phát từ việc vận hành và sử dụng không an toàn nguyên liệu hạt nhân hoặc các nhà máy điện hạt nhân v.v...

                  Các đại biểu cho rằng các nước có vũ khí hạt nhân có trách nhiệm chủ đạo trong việc thúc đẩy một thế giới phi vũ khí hạt nhân; tìm biện pháp hợp tác và xây dựng lòng tin giữa các nước này với nhau nhằm tìm ra các giải pháp chuyển tiếp để tiến tới một thế giới phi hạt nhân.

                  Các đại biểu cũng cho rằng cần tăng cường hợp tác giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển có nhu cầu phát triển hạt nhân vì mục đích hòa bình để tăng cường năng lực và chuyển giao kinh nghiệm cho các nước này, bảo đảm các chuẩn mực khu vực và quốc tế về an ninh và an toàn hạt nhân.

                  Vấn đề an ninh nguồn nước cũng được các học giả đặc biệt chú ý, cho rằng đây là một trong những thách thức lớn nhất của khu vực châu Á thời gian tới do đây là khu vực đông dân nhất, trữ lượng nước đầu người thấp nhất nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa cao nhất trên thế giới, khiến nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh chóng. Trong khi đó, các quốc gia trong khu vực lại chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả trong việc chia sẻ nguồn nước các con sông trong khu vực, làm gia tăng căng thẳng giữa các quốc gia.

                  Các học giả khẳng định cần tiếp cận vấn đề an ninh nguồn nước một cách tổng hợp, do có liên quan tới nhiều loại vấn đề an ninh khác nhau, nhiều loại đối tượng khác nhau, và nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội như giao thông vận tải, môi trường, văn hóa…

                  Nhiều học giả cho rằng việc xây dựng các con đập trên thượng nguồn các con sông lớn đe dọa đến an ninh nguồn nước của các nước hạ nguồn. Tuy nhiên, cũng có học giả cho rằng việc hợp tác và quản lý vận hành các con đập chưa hiệu quả mới là nguyên nhân cơ bản gây ra tranh chấp giữa các nước hạ nguồn và thượng nguồn.

                  Một số ý kiến cho rằng việc sử dụng nước thiếu trách nhiệm cũng là nguyên nhân gây suy giảm chất lượng nguồn nước, do đó các nước cần hợp tác xây dựng các chuẩn mực chung về sử dụng nguồn nước trong khu vực, thậm chí cần hướng tới xây dựng một “văn hóa an ninh nguồn nước” chung. Một số ý kiến đề xuất thiết lập mạng lưới các viện nghiên cứu về an ninh nguồn nước trong khu vực, có thể dựa trên nền tảng mạng lưới các Trường Đại học ASEAN.

                  Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, bà Đồng Hiểu Linh, trong bài phát biểu về 20 năm quan hệ ASEAN-Trung Quốc, cho rằng quan hệ ASEAN-Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng trong những năm qua trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, tài chính, văn hóa, giao thông vận tải.

                  Nhìn nhận về tương lai phát triển của quan hệ, bà Linh cho rằng Trung Quốc sẽ luôn phát triển quan hệ hòa bình với các nước ASEAN, luôn tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ trên tinh thần của Hiệp định Thân thiện và Hợp tác (TAC) mà Trung Quốc và ASEAN đã ký, khẳng định Trung Quốc sẽ giải quyết các tranh chấp với ASEAN thông qua các biện pháp hòa bình, tái khẳng định quyết tâm thực hiện đầy đủ DOC và khởi động đàm phán với ASEAN về COC trước thời điểm 2013.

                  Trong phiên đặc biệt chiều 22/11, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Sheer đã có bài phát biểu về chính sách của Mỹ trong bối cảnh khu vực đang thay đổi, theo đó khẳng định cam kết của Chính phủ Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và sự can dự của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương là vì an ninh và phát triển chung của tất cả các quốc gia trong khu vực.

                  Mỹ mong muốn xây dựng một trật tự khu vực dựa trên luật pháp quốc tế và các thể chế khu vực hiện hành, sự hiện diện của Mỹ ở khu vực không nhằm kiềm chế quốc gia nào; Về quan hệ song phương với Việt Nam, ông David Shear cho rằng quan hệ Việt-Mỹ đang phát triển nhanh chóng và tốt đẹp, khẳng định mong muốn của Chính phủ Mỹ thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

                  Nhận xét về hiệu quả của cấu trúc an ninh khu vực, Thứ trưởng Ngoại giao và Thương mại Australia đánh giá cao vai trò của Cấp cao Đông Á (EAS), nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN không chỉ trong EAS mà còn trong các cơ chế hợp tác hiện có khác như ASEAN+1, ASEAN+3. Bà Thứ trưởng cũng cho rằng EAS vẫn còn là một vấn đề mới và cần thêm thời gian để có thể đóng vai trò hiệu quả hơn; Cấp cao Đông Á có thể không trực tiếp giải quyết các bất đồng trong khu vực nhưng sẽ đóng góp vào giải quyết các vấn đề này.

                  Về cấu trúc an ninh khu vực đang hình thành, các diễn giả đã nêu ra 4 đặc điểm lớn đó là: 1. các liên minh do Mỹ đứng đầu, 2. các cơ chế đa phương với trung tâm là ASEAN, 3. các thỏa thuận hợp tác an ninh song phương, 4. sự nổi lên của Trung Quốc, trong đó đặc điểm thứ nhất và thứ tư là đặc biệt nổi bật. Chính vì vậy, ASEAN cần tránh sự đối đầu Trung-Mỹ tại khu vực và cần phát huy vai trò là nơi các bên có thể thảo luận các vấn đề an ninh khu vực, nhằm giúp xây dựng lòng tin giữa các bên. Điều quan trọng là các cơ chế hiện tại cần có sự gắn kết, bổ trợ cho nhau như ADMM, ARF, EAS.

                  Phát biểu kết thúc cuộc họp, Giám đốc Học viện Ngoại giao, ông Đặng Đình Quý cho rằng các nguy cơ và thách thức mà các đại biểu đã thảo luận trong 2 ngày của cuộc họp không phải là vấn đề mới nhưng những thay đổi trong môi trường khu vực và quốc tế đã làm cho những vấn đề này mang những tính chất mới, vừa đưa đến những thách thức và cả những cơ hội mới cho khu vực. Chính vì vậy mà các cơ chế đối thoại và hợp tác như CSCAP đóng vai trò quan trọng để giúp các chính phủ, các học giả, chuyên gia trong khu vực phản ánh tình hình khu vực một cách tốt hơn, đóng góp có hiệu quả hơn vào thúc đẩy hợp tác và đề xuất các chính sách và hành động đối với tất cả các bên liên quan.

                  Ông Quý cho rằng, cuộc họp này cho thấy những nguy cơ và thách thức mà khu vực đang đối mặt rất lớn; Nhưng cơ hội hợp tác cũng nhiều và hoàn toàn khả thi; Từ vũ khí hủy diệt hàng loạt, an ninh hàng hải, đến an ninh nguồn nước và an ninh mạng, các quốc gia trong khu vực đều có thể xây dựng được các cơ chế đối thoại và hợp tác để thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và tăng cường hợp tác. Điều cần thiết là các quốc gia cần có thái độ cởi mở, cầu thị, linh hoạt và một chút sáng tạo.
                  Những phát triển gần đây ở Bali, từ việc chấp nhận Nhóm các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an P5 tham gia Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANFWZ), đến thỏa thuận của các bên đồng lòng thực hiện tốt Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và bắt đầu việc đối thoại xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) đều là những minh chứng rằng việc hợp tác là khả thi và ASEAN vẫn đang hoạt động rất hiệu quả, tiếp tục đóng trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng cấu trúc an ninh khu vực đang định hình. Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN không phải là một điều ảo tưởng, mà là nỗ lực của ASEAN được các nước trong và ngoài khu vực thừa nhận và ủng hộ rộng rãi hơn.

                  QUEENBEE-ONE
                  Last edited by Phòng Trực; 09-17-2012, 07:35 PM.

                  Comment

                  • vinhtruong
                    Super Member
                    • Jun 2010
                    • 1924

                    #24
                    Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

                    Hoa kỳ xác quyết không ký chia đôi VN

                    Căn-cứ vào Hiệp định Genève 1954, Hoa Kỳ hàm ý sẽ thống nhứt Việt Nam vào ngày 30/4 /1975 nên trước khi đem quân Mỹ qua tham chiến với 3 đáp số định kiến (axiom) rõ rệt dưới đây:

                    -1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon [dissolution GVN]

                    -2) The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs [Tonkin Accident]

                    -3) The US could not have won the war under any circumstances [US troops honorable withdraw 1973]


                    Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa [axiom-1], để cho Hà Nội chiếm cả nước, nhưng thật ra Hoa Kỳ đả tạo nên “sự thống nhứt Việt Nam” như lời chống quyết-liệt chia đôi VN của hầu hết các thành viên ký vào Hiệp định Genève 1954 chia đôi VN; Nhưng đây là những việc Mỹ nhúng sâu không tốt gì cho hành động đẩm máu trong cuộc chiến nầy, cứ để cho lịch sử VN ngầm cám ơn Hoa Kỳ trong sự thống nhứt, vì “Sự tự do nào cũng phải trả giá” Thế nên chúng ta đừng ngạc nhiền gì báo chí Mỹ bươi móc nói xấu VNCH, WIB đả bỏ ra số tiền khổng lồ để đả phá VNCH qua phong trào phản chiến, nhưng trong tài liệu mật thì cho là Liên Xô tạo dựng phong trào phản chiến khắp thế giới

                    Đầu mùa hè năm 2011, thế chiến lược 10 năm sau cùng (2010-2020) “trù dập TQ” hiện lộ ra dưới cuối đường hầm tăm tối của sách lược Eurasian đã gây cho thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng (trong lăng kính dàn-dựng các biến cố nầy sẽ xảy ra trong khi Harriman đã nằm sâu dưới chín tầng hoả ngục. W A Harriman (1981-1986) người đại đế giấu mặt thế hệ thứ-1 thuộc triều đại Skull and Bones; nhưng chuyện phải đến, ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của đồng minh nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói. Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng, mục tiêu của đại đế giấu mặt thế hệ thứ-2 George H W Bush là tìm ngay nguồn nhân công khổng lồ và rẻ mạt, đồng thời đưa TQ lên hạng-2 cường quốc, tạm thời thế ngôi vi Liên Xô theo đúng trục lộ-đồ 1970-2010; và bắt đầu chuyển tiếp qua cho Ấn Ðộ 2020, một nước mà Hoa Kỳ tin chắc rằng sẽ không có tham vọng trồi lên giành ngôi hạng-1 của Mỹ như TQ.

                    Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân vì Kissinger là kẻ có tài được Thống đốc TB New York là Harriman thuê mướn và tài trợ để làm công cụ cho War Industries Board sau nầy, nhưng thực chất của nó là đánh hoả mù và bóp méo sự thật tội lỗi của triều đại Skull and Bones; Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng (America First) cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ như vụ Iraq có vũ khí nguyên tử, do một thế lực ghê-gớm trong ban Hội đồng kỹ nghệ quốc phòng (WIB)

                    Đầu thập niên 1970s chiếu theo tu chánh án “Cooper-Church” Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt; Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, nhưng với điều kiện phải thay đổi quốc kỳ như Việt Nam, và Triều Tiên sau khi thống nhứt!
                    Phải thống nhứt trong một trật tự an toàn thế giới (The New World) thông thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng, như vừa rồi con cò mồi Luât sư Cù Huy Hà Vủ: “không chống đảng, nhưng phải có đa đảng vì ích lợi cho nền “dân chủ pháp trị” Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Mafia Việt Nam (đội lốt Cộng Sản) chiếm cả nước, nhưng thật ra Hoa Kỳ đả tạo nên sự thống nhứt Việt Nam như lời chống mãnh liệt chia đôi VN của hầu hết các thành viên ký vào Hiệp định Genève-54 chia đôi VN giữa đại tướng Pháp Deltheil và Thủ tướng Việt Minh, Tạ Quang Bửu đồng ký; Nhưng đây là những việc làm không tốt gì cho hành động đẩm máu của Mỹ trong cuộc chiến, cứ để cho lịch sử VN ngầm cám ơn Hoa Kỳ trong sự thống nhứt nầy, vì “Freedom is not for free”.

                    Và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Quốc tạo ảnh hưởng với tham vọng vào cái bẫy “dầu-khí”. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nhóm phản tình báo Mỹ như Jane Fonda, trung úy phản chiến John F Kerry quyết liệt thuyết phục Hà Nội nên qua Paris nhận sự đầu hàng của Mỹ về trận Ðiện Biên Phủ trên không, vì đã bắn hết trên 1.300 hoả tiễn SAM và không còn gì trong tay. Nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay; Nhưng thật ra trên 14 triệu tấn Bom đạn cũng vừa đủ để tái thiết hậu chiến theo định luật Malthus, như hiện nay nhà cao từng mọc lởm chởm khắp nước, đường xá cầu cống được mở mang, Hoa Kỳ áp dụng Tam Quốc Chí và Lưu Bình Dương Lễ tân thời cho TQ và VN
                    Cũng vì chính sách gài bẩy nầy và để hợp thức hoá phương thức COC trên thềm lục địa đang bị tranh chấp và buộc TQ phải thi hành đứng đắn những điều khoản mà một thành viên LHQ phải nghiêm chỉnh tuân thủ, nên tháng Giêng năm 1974, như vào cái bẫy, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu (chỉ vì nhân đạo thôi) thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông? Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này với mục đích gì ? Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ ? Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?
                    Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì Theo hiền-triết W. Brayant đã nói: “Sự thật dù có vùi xuống dưới đất rồi cũng sẽ trồi dậy!” Những bí mật lịch-sử mà họ cố tình che giấu hay bóp méo, rồi sẽ xuất hiện nguyên hình khi thế hệ liên quan đến cuộc chiến 50 năm trước đây không còn nữa; Vì chẳng có gì che dấu mà không được tỏ lộ, cũng chẳng có gì bí-ẩn mà không được đưa ra ánh-sáng; ai làm đều ác thì ghét ánh-sáng, để các việc họ làm khỏi bị nguyền rủa. Chúng ta, những kẻ sống với sự thật, thì hãy đến cùng ánh-sáng, để thiên-hạ thấy rõ các việc làm của họ đã bị đưa ra dưới ánh-sáng. Nhưng tôi cũng nhận ra một điều: không một ai có thể giải thích cuộc chiến ấy! Ðối với cá nhân tôi, đó là một bí ẩn và chắc hẳn, đó cũng là bí ẩn trung tâm của thế hệ chúng ta: Và tôi quyết định đi tìm câu trả lời! Vì tôi thuộc vào thế hệ chiến tranh, và tôi không thể lấy cuộc chiến ấy ra khỏi đầu tôi, rỏ ràng là như vậy “Đây là một chiến thắng thầm lặng hay một sự thất bại nhục-nhã?” Đồng thời tôi tin tưởng mãnh liệt vào thế hệ thứ Ba, sẽ xuất hiện nhiều sử gia đồng nhứt cho lịch sử; “Không có Sử gia, sự thật sẽ vĩnh viễn nằm trong bóng tối”.

                    Trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ. Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ. Ngày hôm nay, hai cuốn “The New Legion” Vinh Truong cùng Văn-Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác có thật thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa. Ông Daniel Ellsberg là người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội, Ông từng là nhân viên của RAND Corporation; Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Rand Hanch cho 36 công ty sản xuất chất độc màu da cam, Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ. Họ viết vì lương tâm tôn trọng tính trung thực lịch sử.
                    Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ, Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người. Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng; Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự; Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin, axiom-2: ngụy tạo Hà Nội khiêu khích để trả đũa) .
                    Năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt. Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam thì Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ Đà-Nẳng. Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng; Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944) một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008).
                    Làm việc ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copies) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết; Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers; Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam. Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang Pentagon Papers.
                    Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.” Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng. Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ, Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần; Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất. Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.
                    Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett; Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan. Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ.

                    Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Vì lợi ích lịch sử, Permanent Government phải che dấu thế chiến lược toàn cầu Eurasian trong lăng kính, riêng về vụ Watergate: "Nixon biết rằng khi điều trần trước một Bồi thẩm đoàn, ông sẽ đối diện với việc khai man hay không, vì vậy người viết đoán rằng ông ấy đã nói sự thật” đây là hình thức PG hù doạ, khủng bố một vị tổng thống có danh dự tự buộc mình phải từ chức trong khi Thái-tử George W Bush thì sẽ buộc phải “chai mặt” để làm việc lớn cho ngôi vị cần có chiếc ghế quyền lực, và áp đặt cho bằng được “PATRIOT-ACT” trong nhiệm kỳ của Thái tử và Bush Con đã đạt được (The USA PATRIOT Act (commonly known as the "Patriot Act") is an Act of the U.S. Congress that was signed into law by President George W. Bush on October 26, 2001. The title of the Act is a contrived three letter initialism (USA) preceding a seven letter acronym (PATRIOT), which in combination stand for Uniting and Strengthening America by Providing Appropriate Tools Required to Intercept and Obstruct) với 2 mục tiêu:
                    - (1) Bảo vệ danh dự cho Bush Ông Nội, Prescott Bush, chủ tịch WIB: vì tình yêu tổ quốc (Patriot Act) có nghĩa là làm cách nào đưa nước Mỹ lên đến “đỉnh cao chót vót” dù phải hy sinh triệt tiêu các lảnh tụ ngoài hay trong nước để đạt mục đích
                    - (2) Bênh vực sách lược của Bush-Cha, George H W Bush thực thi axiom-1, bức tử miền nam nên phải tuyên bố: “Người dân miền nam không chịu đấu tranh cho sự tự do. Nên….!”

                    Sử gia Kutler muốn đóng kín hồ sơ do đơn đặt hàng: (họ cần nhửng sử gia, học giả, ký giả … để bóp méo mọi sự thật hồng làm chệch đi sự thật của sự việc đen tối vì quyền lợi hẹp hòi của họ) Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất như TT Nguyễn Văn Thiệu đả nói: “Làm kẻ thù với Mỹ thì dễ, nhưng làm bạn với Mỹ thì khó”

                    Để kết luận: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.
                    Trở lại vấn đề Biển Đông, chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ, TQ bị dụ hay buộc phải làm như vậy vì không còn con đường nào khác? Tôi đưa ra ý kiến như vậy không biết trúng hay trật vì có nhiều trường phái yếu bóng vía cho rằng: Việt Nam xắp có Pass Port bằng tiếng Tàu … Nói tóm lại, chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hoa Kỳ đang thực thi để chuộc lại tội lổi đối với Việt Nam, đồng thời cũng phải keo sơn với VN vì muốn độc quyền nguồn dầu hoả - Biển Đông sẽ giải quyết trước 2013 “VN làm chủ, TQ khai thác, Mỹ độc quyền bán sản phẩm”


                    QUEENBEE-ONE
                    Last edited by Phòng Trực; 09-28-2012, 06:44 AM.

                    Comment

                    • vinhtruong
                      Super Member
                      • Jun 2010
                      • 1924

                      #25
                      Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

                      Việt Nam sẽ là nước bảo trợ cho Miến Điện và Bắc Hàn

                      Theo lịch trình Eurasia, qua giai đoạn giải quyết Biển Đông xong, Việt Nam sẽ là nước bảo trợ cho Miến Điện và Bắc Hàn dưới cái dù của Mỹ, y chang Nhựt đã bảo trợ cho VN mấy thập niên qua. Ngày nay, sau khi giải quyết xong vụ Biển Đông tại LHQ, khác trước kia khi Miến Điện là một trong vài nước khép kín và cô lập trên thế giới, thì Trung Quốc lại là một trong những nước ủng hộ quyết liệt nhất như hơn nửa thế kỷ nay với âm mưu mở con đường xuyên suốt từ Côn Minh đến tận bờ biển Ấn Độ Dương để thôn tính Úc Châu và các nước Đông Nam Á bằng cách lén lút di-dân gần 2 triệu người cùng gia đình lập nghiệp dọc theo xa lộ mà TQ sẽ khai phá đến tận bờ biển. Thế nên Harriman qua CIA phải sử dụng thành viên OSS 1945 là tướng Võ Nguyên Giáp mở Trường Sơn Tây, tức Xa lộ Liên Bang Đông Dương để đối chọi lại với xa lộ xuyên Miến Điện đến bờ biển của TQ lén lút xây dựng hơn nửa thế kỷ qua.

                      Chính phủ Trung Quốc tự kềm chế cho rằng họ không lo ngại về một cuộc gặp gỡ lịch sử sắp diễn ra giữa các giới chức Miến Điện và Hoa Kỳ, mặc dù các bản tin của giới truyền thông Trung Quốc lên án Washington là dùng Miến Điện trong khuôn khổ một sách lược để kiềm chế Trung Quốc. Từ Bắc Kinh, thông tín viên VOA Stephanie Ho gửi về bài tường thuật sau đây. Mà đúng thật như vậy, Hoa Kỳ đã thiết kế thật tỉ mỉ lộ-đồ trù dập TQ qua lý thuyết, sử gia George Frost Kennan (1904-2005) khi Miến Điện là một trong vài nước khép kín và cô lập trên thế giới, thì Trung Quốc lại là một trong những nước ủng hộ quyết liệt nhất trên toàn cầu. Nay vào lúc Ngoại trưởng Hillary Clinton chuẩn bị cho một cuộc họp lịch sử với các nhà lãnh đạo ở Miến Điện, giới truyền thông Trung Quốc mô tả động thái này nằm trong các nỗ lực của Washington nhằm “cô lập và bao vây Trung Quốc.” Trong một bài xã luận đăng trên báo Global Times hôm nay, giáo sư về truyền thông của trường Đại học Thanh Hoa Lý Hy Quang nói rằng chuyến thăm của Ngoại trưởng Clinton sẽ làm cho Trung Quốc “mất tinh thần.” Nó cũng không khác gì TT Bush và Phó TT Biden qua TQ nhưng mục đích là thăm Mông Cổ.

                      Ông Lý nêu thắc mắc về điều ông gọi là một “chính sách mới về châu Á của Hoa Kỳ” mà ông cho là nhắm chống lại Trung Quốc. Sự thật không phải vậy mà kềm hãm TQ, vì Hoa Kỳ rất hoan nghênh một nước Tàu hùng mạnh để cùng thế giới giải quyết những khó khăn về thiên nhiên, môi trường, bệnh hoạn, sự nóng dần của trái đất… Ông cho rằng cuộc họp của Ngoại trưởng Clinton là một thí dụ điển hình cho sách lược mới này. Ông cũng lập lại những cáo buộc của giới truyền thông Trung Quốc nói rằng Hoa Kỳ đứng sau quyết định hồi tháng 9 của chính phủ Miến Điện đình chỉ công trình xây dựng một đập thủy điện mà một công ty của Trung Quốc đã góp phần đầu tư nhiều tỷ đôla.
                      Bất kể luận điệu gay gắt của giới truyền thông Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi tuyên bố Bắc Kinh không lo lắng mấy. Ông Hồng nói Trung Quốc tin là Miến Điện và cái mà ông gọi là “các nước Tây phương liên hệ” nên tăng cường tiếp xúc và cải thiện quan hệ. Ông nói thêm rằng ông hy vọng cuộc họp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự ổn định và phát triển cho Miến Điện. Trước đó trong tuần, lãnh đạo quân đội cấp cao nhất của Miến Điện đã đi thăm Bắc Kinh và họp với các giới chức quân đội Trung Quốc. Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và tư lệnh quân lực Miến Điện đã tán dương tình hữu nghị lâu đời giữa hai nước và cam kết củng cố hợp tác quân sự.
                      Trong một cuộc họp thường lệ với các phóng viên hôm qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc được hỏi về các bản tin nói rằng các đại diện của chính phủ Miến Điện và các thủ lãnh người Kachin nổi loạn đã họp vào hôm thứ Ba ở tỉnh Vân Nam miền tây nam Trung Quốc.
                      Ông Hồng đáp rằng Trung Quốc hy vọng các bên liên hệ bên trong Miến Điện có thể giải quyết các bất đồng qua những cuộc thương lượng hòa bình.
                      Trong mấy tuần vừa qua, giới lãnh đạo Miến Điện đã công bố chi tiết của một thỏa thuận hòa bình nhắm mục đích chấm dứt nhiều thập niên xung đột giữa chính phủ và các nhóm sắc tộc nổi loạn lâu nay vẫn tranh đấu đòi quyền tự trị. Thỏa thuận hòa bình này cũng là một đòi hỏi chính của các quốc gia Tây phương, kể cả Hoa Kỳ.

                      Tổng thống Obama cho biết ông cử Bộ trưởng Ngoại giao đến Miến Điện để xem Hoa Kỳ có thể làm thế nào để giúp nước này ủng hộ tiến bộ về cải cách chính trị, nhân quyền và hòa giải dân tộc. Nhưng ông Obama cũng nói rằng bang giao của Miến Điện và Bắc Triều Tiên là một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.
                      Thượng nghị sĩ Richard Lugar đại diện tiểu bang Indiana, một thành viên cấp cao của đảng Cộng hòa trong Ủy ban Đối ngoại, đề nghị bất kỳ việc tiếp xúc trở lại nào với Naypyidaw đều phải bao gồm một sự khai báo đầy đủ về “mức độ và ý đồ trong chương trình hạt nhân đang được Miến Điện phát triển.” Vị thượng nghị sĩ này nói ủy ban của ông đã nhận được thông tin cách đây 5 năm cho biết chính phủ Miến Điện có ý định phát triển vũ khí hạt nhân, với sự trợ giúp của Bắc Triều Tiên.
                      Cách đây 1 năm, các thanh sát viên Liên Hiệp Quốc đã công bố một bản phúc trình cáo buộc Bắc Triều Tiên cung cấp thiết bị hạt nhân và phi đạn bị cấm chỉ cho Miến Điện, Iran và Syria, một cách bí mật, để tránh các biện pháp chế tài quốc tế.
                      Miến Điện, còn gọi là Myanmar, là nước ký tên vào Hiệp ước Cấm phổ biến Hạt nhân, và là thành viên của Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế. Theo chuyên gia cấp cao của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế Daniel Pinkston, sự kiện đó có nghĩa là Miện Điện phải khai báo đầy đủ bất kỳ cuộc giao dịch nào trước đây với phía Bắc Triều Tiên.
                      Ông Pinkston nói: “Nếu có bằng cớ rõ ràng về sự hợp tác hạt nhân thì, để cải thiện bang giao với Hoa Kỳ và phần còn lại của cộng đồng quốc tế, Miến Điện sẽ phải hoàn thành các nghĩa vụ theo Hiệp ước Cấm Phổ biến Hạt nhân và theo các thỏa thuận về bảo vệ với Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế. Và sự kiện đó có nghĩa là khai báo bất kỳ công cuộc hợp tác nào đã có với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, tức Bắc Triều Tiên, bất cứ vụ thủ đắc nào về chất liệu, kỹ thuật, cơ phận, vân vân...”
                      Các nhà ngoại giao và chuyên gia phân tích tình báo cũng nêu ra những báo cáo chưa được kiểm chứng về việc hàng trăm kỹ sư và khoa học gia Bắc Triều Tiên đến thăm hay làm việc tại các cơ sở quân đội và các cơ sở khác của Miến Điện. Nhưng nói chuyện với đài VOA với điều kiện không nêu danh tính, các giới chức chính phủ Nam Triều Tiên cho biết họ chưa nhìn thấy bằng chứng cụ thể về mức độ hợp tác đó giữa Bắc Triều Tiên và Miến Điện.
                      Cựu tổng giám đốc Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế, ông Hans Blix, hiện là chủ tịch Ủy ban về Vũ khí có sức tàn sát hàng loạt, cũng đồng ý với đánh giá đó, có liên quan đến một chương trình phát triển vũ khí hạt nhân mà Miến Điện được cho là đang thực hiện.
                      Ông Blix nói: “Thế giới có lý do để lo ngại và tìm hiểu về việc này. Có một vài người đào tỵ đã nói đến chuyện ấy, nhưng nhiều người khác lại gạt hẳn đi. Và kinh nghiệm của tôi cho thấy là phía Bắc Triều Tiên chưa đi xa mấy”.
                      Các giới chức Miến Điện cũng bác bỏ bất kỳ việc theo đuổi vũ khí hạt nhân nào, tuy họ thừa nhận rằng họ có cứu xét việc tìm cách sử dụng kỹ thuật nguyên tử để sản xuất điện năng. Trước đây trong năm, các giới chức Miến Điện đã khẳng định rằng đất nước họ quá nghèo không thể theo đuổi bất cứ hình thức nào của chương trình hạt nhân.
                      Bằng chứng về vũ khí quy ước đi lại giữa Miến Điện và Bắc Triều Tiên trong nhiều năm thì cụ thể hơn. Trong nhiều dịp, Hải quân Hoa Kỳ đã ngăn chặn các tàu của Bắc Triều Tiên, nghi là chở vũ khí, đến các cảng của Miến Điện. Các chuyên gia phân tích nói Bắc Triều Tiên dường như đã tiếp tay cho Miến Điện nâng cao các khả năng phi đạn của họ.
                      Các chuyên gia nêu ra rằng bất kỳ việc giao nhận thành công các vũ khí đó trước đây đều có thể đề ra những rắc rối về ngoại giao cho Miến Điện khi nước này tìm cách bình thường hóa quan hệ với cộng đồng quốc tế. Theo các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc áp dụng đối với Bình Nhưỡng, tất cả mọi vụ mua bán vũ khí của Bắc Triều Tiên, kể cả vũ khí quy ước, đều bị cấm chỉ.
                      Bang giao giữa Miến Điện và Bắc Triều Tiên đã trải qua những thời kỳ bấp bênh kể từ khi được thiết lập vào năm 1962. Miến Điện đã cắt đứt quan hệ với Bình Nhưỡng vào năm 1983, sau khi các điệp viên Bắc Triều Tiên ở Miến Điện tìm cách ám sát tổng thống Nam Triều Tiên. Vụ đánh bom lần đó đã gây thiệt mạng cho 18 viên chức cấp cao của Nam Triều Tiên.
                      Quan hệ quân sự giữa Miến Điện và Bắc Triều Tiên dường như đã được nối lại vào đầu thập niên 1990, nhưng quan hệ ngoại giao chưa được chính thức phục hồi cho mãi đến lúc cách đây 4 năm.Từ nhiều chục năm, cả hai nước đều bị cô lập tách khỏi phần lớn cộng đồng ngoại giao và giao thương toàn cầu vì các chính phủ áp bức.
                      Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã bắt đầu chuyến công du mang tính bước ngoặt tới Miến Điện, trở thành người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ đầu tiên sang thăm nước này trong 50 năm qua.
                      Hôm nay, bà Clinton tới thủ đô Naypyidaw của Miến Ðiện để bắt đầu 3 ngày hội đàm bao gồm các cuộc họp đã lên lịch với Tổng thống Thein Sein và lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi của nước này.
                      Ngoại trưởng Mỹ đi từ Nam Triều Tiên tới Miến Điện. Tại Nam Triều Tiên, bà Clinton cho báo giới biết rằng bà sẽ đích thân xác lập các ý định của chính phủ Miến Điện hiện thời về việc tiếp tục cải cách chính trị và kinh tế.
                      Bà Clinton đề cập tới điều mà Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát biểu trước đây trong tháng về những “tia tiến bộ le lói” của chính quyền dân sự trên danh nghĩa của Miến Ðiện, phe lên nắm quyền trước đây trong năm sau hơn 4 thập niên quân đội cai trị nước này.
                      Tổng thống Obama nói Ngoại trưởng Clinton sẽ thăm dò xem Hoa Kỳ có thể làm gì để hậu thuẫn những tiến bộ trong quá trình cải cách chính trị, nhân quyền, và hòa giải dân tộc ở Miến Điện.

                      Miến Điện và Việt Nam ở gần nhau, nay cùng ở trong khối Đông nam Á, lại cùng loại chế độ độc đoán độc đảng, một bên là độc tài quân phiệt - một bên là độc đảng Cộng sản, nên có ảnh hưởng tác động đến nhau không nhỏ. Miến Điện - nay được gọi là Myanmar - là nước rộng nhất vùng Đông Nam Á (676.000 km2), gấp đôi Việt Nam, với dân số gần 60 triệu, trước là thuộc địa Anh, độc lập từ năm 1948..Những nét đặc sắc của Miến Điện gần đây là: cuộc đấu tranh cho dân chủ khá rộng lớn từ hơn 20 năm nay, trình độ văn hóa, biết đọc biết viết trong toàn dân thuộc hạng loại cao nhất châu Á ngay từ sau Thế chiến II.
                      Miến Điện có những nhân vật xuất sắc. Ông Aung San, lãnh tụ chống thực dân Anh và phát xít Nhật, thân sinh của bà Aung San Suu Kyi, được suy tôn là Anh hùng dân tộc. Ông U Thant từng là Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc 10 năm liền, từ 1961 đến 1971. Bà Aung San Suu Kyi, người đứng đầu Liên minh Toàn quốc Đấu tranh vì Dân chủ, có uy tín cao trong xã hội, được Giải Nobel Hòa bình năm 1991 khi đang ngồi tù; trước đó bà được giải thưởng Sakharov về Tự do Tư tưởng năm 1990. Bà còn được chính phủ Ấn Độ tặng giải thưởng J. Nehru; được chính phủ Venezuela tặng giải thưởng S. Bolivar; và được chính phủ Canada phong tặng danh hiệu là Công dân Danh dự Canada. Bà là một trí thức loại ưu tú, nhà văn, từng tốt nghiệp về kinh tế Đại học New Delhi, Ấn Độ, tốt nghiệp môn chính trị - xã hội tại Đại học Oxford và London, Anh. Bà cũng từng là trợ lý cho ông U Thant ở Liên Hiệp Quốc.
                      Hiện nay có hơn 1 triệu người Miến Ðiện ở nước ngoài, sống làm việc, kinh doanh, du học tại Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp…, cộng đồng này đã tỏ ra rất đoàn kết, đồng thuận trong ủng hộ phong trào dân chủ trong nước. Họ kiên quyết chống thế lực quân phiệt phi pháp từng dùng súng đạn hủy bỏ cuộc tổng tuyển cử vang dội ngày 27-5-1990, khi Liên minh của bà Aung San Suu Kyi dành được đa số tuyệt đối 59% phiếu bầu và 81% ghế trong Quốc Hội, 392 trên 485 ghế. Họ coi cuộc đảo chính quân sự của các tướng lãnh là phản nghịch, phản dân chủ, chống nhân dân. Họ vận động ráo riết cho việc tố cáo và cô lập chính quyền quân phiệt.
                      Đến nay cuộc đấu tranh cho dân chủ đang ở mùa thu hoạch, theo cách nói của bà Aung San Suu Kyi – mà người dân Miến bà thường gọi thân mật là «Đâu Xiu» (Dow Suu) – Cô Xiu.
                      Lần đầu tiên trong 21 năm qua, sau khi bị quản thúc từ ngày 20-7-1989 đến ngày 13-11-2010, Cô Xiu mới tỏ ra lạc quan, khi chính quyền quân phiệt tự giải thể vào tháng 4-2011, khi tổng thống mới được bầu, Thein Sein - tuy vốn là tướng, là thủ tướng - cam kết sẽ theo quy chế dân sự, các tuớng lãnh sẽ không làm bộ trưởng kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, ngoại giao… như trước nữa. Ông Thein Sein đích thân gặp bà Aung San Suu Kyi trong bộ cánh dân sự, với lời hứa sẽ xem xét việc trả tự do cho tù chính trị, nới rộng tự do báo chí và mở rộng dân chủ. Sau đó bà Aung San Suu Kyi được tự do đi lại trong thành phố, còn đi thăm một số địa phương, tự do gặp gỡ các thành viên trong tổ chức của bà, không có mật vụ nào bám theo.
                      Tổng thống Thein Sein đích thân thúc đẩy việc thành lập Ủy ban Quốc gia về Nhân quyền và soạn thảo bộ Luật Lao động mới theo những tiêu chuẩn lao động quốc tế, theo yêu cầu và khuyến nghị xây dựng của các phái viên của Tổng thống Barack Obama và Ngoại trưởng Hillary Clinton.
                      Việc trả tự do cho 6.000 tù nhân, trong đó có 300 tù chính trị mấy hôm nay chính là do khuyến cáo của Ủy ban Quốc gia về Nhân quyền vừa được thành lập.
                      Cô Xiu càng tỏ ra lạc quan có cơ sở khi ông Thein Sein và chính phủ thống nhất ý kiến đình chỉ việc xây dựng đập nước khổng lồ Myitsone trên sông Irrawaddy, công trình trọng điểm của quốc gia, trị giá 3,6 tỷ đôla, do 1 hãng thầu quốc doanh Trung Quốc thực hiện từ 5 năm nay. Đây là một thái độ chính trị mạnh mẽ làm Bắc Kinh đùng đùng nổi giận, nhưng ông Thein Sein nói rõ đây là quyết định đặt cuộc sống an toàn của nhân dân Miến Đlện làm trọng và cũng là nhân dân thuộc ảnh hưởng của dòng Sông Cửu Long. Bắc Kinh cũng không che dấu thái độ vừa lo âu vừa tức giận khi ông Thein Sein dẫn đầu một đoàn cao cấp có 13 bộ trưởng đi thăm Ấn Độ nhằm thắt chặt quan hệ toàn diện một cách thực chất. Báo chí New Delhi ca ngợi ông Thein Sein khác hẳn ông Than Shwe là người tiền nhiệm ở thái độ chính trị «thức thời và tiến cùng thời đại». Sự gắn bó Ấn Độ - Miến Điện còn ở dựa trên cơ sở có chung nền văn hóa Phật Giáo, xa rời chất cộng sản vô thần của Bắc Kinh, nhưng nó nằm trên trục lộ trình siêu chiến lược Eurasia của Permanent Government. Cô Xiu cũng tỏ ra lạc quan khi được mời dự một diễn đàn kinh tế lớn, có đại diện chính phủ, các nhà doanh nghiệp và 37 nhóm và tổ chức chính trị, tôn giáo của cả nước. Tại diễn đàn, ý kiến của bà rất được cử tọa tôn trọng và lắng nghe.

                      Do ảnh hưởng của Mỹ, cấm vận quốc tế đang được nới lỏng nhanh chóng, các tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, cùng với các tổ chức nhân đạo và thiện nguyện Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản và Ấn Độ, đang thực hiện trợ giúp Miến Điện Các nước đang quan sát kỹ việc trả tự do cho tù nhân lương tâm và thực hiện tự do thông tin báo chí để có đối sách thích hợp, và muốn Việt Nam theo đó mà áp dụng trong nước mình. Báo chí ở Miến Điện mấy tuần nay đã đăng tin hoạt động của bà Aung San Suu Kyi khá đầy đủ, khách quan, như về một nhà hoạt động chính trị, không còn cắt xén, xuyên tạc, mạt sát như đối với một người bị án quản thúc như trước.
                      Tất nhiên ông Thein Sein là người tỏ ra biết điều và có thiện chí, ông mong mỏi cuộc cấm vận của quốc tế chấm dứt, rồi thế giới dân chủ sẽ chi viện, đầu tư, hợp tác với quy mô lớn, khi xã hội dân sự được khôi phục, nhân tài Miến Điện ở khắp nơi trở về bắt tay cùng nhân tài và nhân dân trong nước xây dựng lại đất nước phồn vinh cho toàn dân để Việt Nam lỏ con mắt nhìn vào mà bắt chước.
                      Ông Thein Sein và những người cộng tác thân cận nhất đang hy vọng Miến Điện trên con đường hòa hợp dân tộc sẽ có vị trí khác hẳn trước, và những năm trước mắt sẽ được vinh dự đảm nhiệm chức Chủ tịch luân phiên của Tổ chức các Quốc gia Đông Nam Á, với một tư thế mới, ảnh hưởng mới vào năm 2014. Không phải ngẫu nhiên mà có nhà báo Miến Điện cho rằng vận mệnh nước nhà đang chuyển động do 2 nhân vật bắt tay nhau thân thiện và tương kính, cả 2 đều cùng tuổi, cùng một năm sinh - ông Thein Sein ngày 20-4-1945, bà Aung San Suu Kyi ngày 19-6-1945, cùng năm âm lịch Ất Dậu - Hai con gà gáy sáng báo bình minh của nước Myanmar mới. Mừng cho nhân dân Miến Điện đang có cuộc bứt phá đầy triển vọng. Hy vọng cuộc bứt phá sẽ thật sự ngoạn mục, thành một nguồn cảm hứng chính trị sâu rộng cho mọi người Việt Nam yêu nước, yêu dân chủ, cho toàn dân ta, và nhà cầm quyền Mafia VN theo đó mà cải thiện đời sống văn minh cho người dân, dù rằng quá trễ nhưng vẩn còn hơn không… để sau cùng “Việt Nam sẽ là nước hùng mạnh như một nước Do Thái phương Đông”

                      QUEENBEE-ONE
                      Last edited by Phòng Trực; 09-19-2012, 06:56 AM.

                      Comment

                      • vinhtruong
                        Super Member
                        • Jun 2010
                        • 1924

                        #26
                        Kissinger và thời điễm "ROLL-BACK"


                        Henry Kissinger là một chính khách không chỉ là người tiên phuông dấn thân đi mở bức màn Tre, mà còn là một viên chức chính thức của Hoa Kỳ dám đi đêm và thành công vào bốn thập niên qua bởi 50 cuộc gặp mặt, làm chiếc cầu bắc nối giữa hai bên Trung Mỹ với bảy viên chức quyền lực của đôi bên, làm dịu cơn căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hoa Thạnh Đốn. Hơn nữa, Bắc Kinh đang hy vọng chiến lược (strategic trust) không những cùng Hoa Kỳ mà còn thế giới phương Tây, hầu bảo vệ trật tự an toàn cho thế giới. Theo báo giới Mỹ vuốt đuôi cùng tác phẩm On China của Kissinger, ca ngợi sự xứng đáng nhận giải hoà bình Nobel, 1973, The Presidential Medal of Freedom, và The Medal of Liberty, trong những giải thưởng đó, Kissinger còn là tác giả của một số tác phẩm quý giá về đường lối ngoại giao, hiện tại Kissinger là Chủ nhiệm của Kissinger Associatiates, Inc., an international consulting firm,
                        Mới vừa rồi, Kissinger ta ra mắt cuốn sách mới là On China (Penguin,2011) Như đã nói ở phần đầu, mỗi khi ông này có "sách" mới thì đâu đó trong thiên hạ sắp có loạn to ! Bởi nhờ có loạn thì Siêu Chính Phủ Mỹ mới có cớ đi chinh phạt và thâu tóm dần dần cũng như bành trướng ảnh hưởng của mình; Và mầm mống của loạn lạc cũng do Siêu Chính Phủ tạo ra từ sau hậu trường Quốc Hội bắt nguồn từ Tu Chánh Án Cooper Church-70 và Case-Church-73.

                        Tháng 7, 1947, ông Kissinger được cặp mắt của W A Harriman để ý cho quay về Mỹ và tặng học bổng vào trường đại học Harvard (cũng nên biết thêm là những trường đại học như Yale, Harvard; Princeton; Oxford; Sorbonne là những trường do các nhóm [War Industries Board] Hội Đồng Kỹ Nghệ Quốc Phòng có nguồn gốc ở Âu Châu thành lập từ thế kỷ thứ 19. Mục đích sâu xa của đám ma-quỷ này với mục đích sẽ thu hút và chiếm hữu hết những nhân tài khắp thế giới bằng tiền - danh và lợi đối với những sinh viên biểu lộ sự thông minh đặc biệt, hay ít ra chúng cũng đào tạo được những con người, mà Siêu Chính Phủ gọi là "công-cụ chuyên viên", trong tương lai sẽ phục vụ đắc lực cho bộ máy thống trị toàn thế giới gồm toàn những con người được nhào nặn theo siêu chiến lược Eurasia).
                        Năm 1950 ông Kissinger có bằng B.A, năm 1952 lấy bằng M.A và năm 1954 có được bằng Ph.D. Trong thời gian học ở Harvard Kissinger được ưu đãi đặc biệt, vì trường này vốn có một nguồn tài chánh dồi dào do CIA bí mật tài trợ qua một tổ chức trá hình là Hội Học Sinh Quốc Gia (National Student Association. Hội này đã bị "tan biến" năm 1967 do quần chúng phanh phui).

                        Lúc còn đang học, năm 1950 là năm Harriman quyết định thay đổi vùng bạo loạn từ Trung Âu sang Á Châu theo đúng lịch trình Eurasian, nên con rối tài giỏi Kissinger đã được bí mật điều qua làm cố vấn trợ-lý cho Phòng Nghiên Cứu Các Chiến Dịch-Lục Quân (Army-Operations Research Office)
                        1951: Được cử tới Nam Hàn tìm hiểu ước lượng về "mức độ ảnh hưởng tâm lý của dân chúng về sự có mặt của quân đội Mỹ".
                        1952: bí mật được chọn làm cố vấn cho Ủy Ban Chiến Lược Tâm Lý thuộc Bộ Tham Mưu Liên Quân (Psychological Strategy Board of the Joint Chiefs of Staff).
                        1955: Được Siêu Chính Phủ Mỹ cho làm chủ bút tạp chí Ngoại Giao Sự Vụ (Foreign Affairs magazine) Tạp chí này tuy thuộc "tư nhân", nhưng nó là cái loa chính thức và đầy quyền lực đặt ở Mỹ của vương triều nước Anh và con cháu của giới quý tộc tại Châu Âu ( Ở bên Tây, ban đầu nó được trung ương Ủy Hội Tam Điểm (Trilateral Commission) lập ra trong một phòng kín ở khách sạn Majestic, thủ đô Balê nước Pháp vào ngày 30.5.1919 và nấp dưới một cái tên thật "hiền" là Viện Quốc Tế Sự Vụ (Institute of International Affairs) Cụ HCM đã lọt vào ống kính của Siêu Chính Phủ, cũng là hội viên Tam Điểm và được móc nối từ thuở đó nên ngày nay Đảng Cộng Sản Việt Nam có họ hàng, dây mơ rễ má với tài phiệt quốc tế là chuyện đương nhiên. Viện Quốc Tế Sự Vụ có hai chi nhánh, một nằm ở Anh là Học Viện Hoàng Gia về Quốc Tế Sự Vụ (Royal Institute of International Affairs- RIIA), cái khác nằm tại Mỹ từ ngày 21/7/1921 là Hội Đồng về Các Quan Hệ Đối Ngoại (Council on Foreign Relations- CFR) cùng với cái loa của nó là tạp chí Ngoại Giao Sự Vụ. Từ ngày đó đến hôm nay, cái loa này của RIIA và CFR mới là "đầu nậu" làm trùm hết tất cả các hãng điện thoại, truyền hình và những tờ báo v.v lớn nhất, mạnh nhất của nước Mỹ vì giới chủ nhân của truyền thông Mỹ đều là hội viên của WIB gồm các thành viên Skull and Bones trong bí mật, ngoài công khai họ là hội viên của CFR. Ngoài ra, các tổng thống Mỹ, tất cả giám đốc CIA, bộ trưởng quốc phòng, ngoại giao, tài chánh, y tế, giáo dục, thương mại v.v cho tới chủ những siêu công ty về hàng không, hàng hải, xe hơi, dầu hỏa v.v đều là hội viên CFR, một hội "tư nhân" do Siêu Chính Phủ thành lập (mà hầu hết người dân Mỹ không biết chuyện này).

                        1957, W A Harriman, Thống Đốc New York, đích thân chỉ định ông Kissinger phải làm thỉnh giảng-viên ở đại học Harvard, cho con đường dài chuẫn bị thay mặt Siêu Chính Phủ là người quyết định mọi chính sách của Mỹ. năm 1959 thành phụ tá giáo sư tới năm 1962 chính thức là "giáo sư" của trường này. Tháng 10, 1965 Kissinger được Siêu Chính Phủ âm-thầm điều đi đặc tác đến Sài Gòn, Việt Nam, Siêu Chính Phủ (Permanent Government) sai ông tới đó để thẩm định phương diện tinh thần và tâm lý của giới quân nhân, chính trị, tôn giáo v.v của người dân Việt Nam Cộng Hòa nói chung trước sự xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt nói riêng.
                        Tháng 10, 1966, ông Kissinger "đi đêm" tới Sài Gòn một lần nữa để xác định lần chót về nhận xét đường hướng quan điểm của mình trước đó đối với tinh thần chống cộng của quân và dân Việt Nam Cộng Hòa cho Harriman và George H W Bush.
                        Sau khi về Mỹ, những ghi nhận của ông về tinh thần dân chúng và giới lãnh đạo VNCH được phúc trình lên chính phủ Mỹ với một nội dung rất lạc quan để trấn an công luận. Tuy nhiên trong bí mật, ông ta đã phúc trình cho CFR (tức Siêu Chính Phủ, siêu tài phiệt gồm thành viên WIB) một sự thật quan trọng mà công chúng không hề biết, đó là : Ý thức về hiểm họa cộng sản và tinh thần chống cộng của người dân VNCH nói chung rất cao. Điều này sẽ là một trở ngại rất lớn, Cộng Sản Bắc Việt rất khó chiếm được miền Nam-Việt Nam theo như kế hoạch mà Siêu Chính Phủ đã soạn ra và chờ đợi qua 3 đáp-số (axiom) ấn định phải được hoàn thành mỹ mãn:
                        - (1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon
                        - (2) The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs
                        - (3) The US could not have won the war under any circumstances

                        Đây là điểm then chốt nhất nên ngày 27/11/1968, sau khi chọn người và cân nhắc kỹ lưỡng, Siêu Chính Phủ (Permanent Government) giới thiệu ông Kissinger với vị tổng thống tương lai của Mỹ là ông Richard Milhous Nixon (1913-1994, ông này cũng là hội viên cao cấp của CFR và thành viên WIB)
                        Sau đó tổng thống "tân cử" R.M.Nixon bị áp lực của Permanent Government phải đưa ông Kissinger vô nắm Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council) Dù rằng trong suốt mùa tranh cử tổng thống, Kissinger được lệnh P.G phải nói xấu Nixon là hồ sơ “dơ bẩn” (Dirty-File) nhưng không ngờ Nixon thắng cử, nhưng bắt buộc phải nhận Kissinger và từ đây ông ta bắt đầu đại diện cho Permanent Government không phải đại diện cho dân Mỹ kể cả tổng thống Mỹ, khởi sự bí mật tiếp xúc, dàn xếp các thỏa thuận với CSBV do Harriman vạch trước lộ-đồ giữa Thọ/Harriman 1968.

                        Nhưng năm 1955 mới là năm mà cuộc đời ông Henry A. Kissinger rẽ qua một bước ngoặt quan trọng. Tại một hội nghị về chiến lược quân sự ở Quantico, Virginia ông ta được giới thiệu với ông Nelson Aldrich Rockefeller (1908-1979) Ông này thuộc "đảng" Cộng Hòa, từng có mặt trong nhiều nội các chính phủ của những tổng thống như các ông Franklin Delano Roosevelt (1882-1945, hội viên cao cấp của thành viên WIB) Harry S. Truman (1884-1972, hội viên cao cấp của Permanent Government); Dwight David Eisenhower (1890-1969, hội viên cao cấp của P.G) và Richard Milhous Nixon (1913-1994, hội viên cao cấp của P.G). Ông Nelson Aldrich Rockefeller, hạ đối thủ Dân Chủ, William Averell Harriman, chiếm ghế Thống Đốc Tiểu Bang Nữu Ước từ năm 1959 tới 1973, từng là Phó Tổng Thống (1974-1977) cho ông Gerald Rudolph Ford, Jr (1913-2006, hội viên cao cấp của P.G) Ông ta là con của ông John Davison Rockefeller, Jr (1874-1960) và là cháu nội của ông "vua dầu hỏa" John Davison Rockefeller, Sr (1839-1937, lưu ý là tất cà những người đàn ông trong giòng họ Rockefeller đều là hội viên cao cấp của Skull and Bones) Sau cuộc gặp gỡ "lịch sử" đó và thêm vài lần nữa, ông Kissinger được gia tộc Rockefeller mời làm cố vấn cho Quỹ Huynh Đệ Rockefeller và từ 1956 tới 1958 là Giám Đốc của Dự Án Những Nghiên Cứu Đặc Biệt cho Qưỹ Huynh Đệ Rockefeller (Director of the Special Studies Project for the Rockefeller Brothers Fund).
                        Từ đó, "sự nghiệp" chính trị của ông Kissinger lên ào ào như diều trước gió, chức cao nhất mà ông dành được là Bộ Trưởng Ngoại giao (1973-1977) Có người cho rằng nếu ông ta sinh ở Mỹ chắc chắn sẽ làm tổng thống hai nhiệm kỳ, sự thật trường phái nói câu nầy chả hiểu gì Kissinger chỉ là một công cụ chuyên viên nô-bộc cho giòng họ Harriman và Bush mà thôi. Vì quan niệm của 2 vị nầy là Harvard chỉ là chuyên viên, công cụ cho Đại học Yale, dòng họ Bush và Harriman 4 đời lien tiếp tốt nghiệp đại học Yale. Nhưng dù sao chăng nữa những chức vụ mà ông ta có được cũng chỉ là chuyện nhỏ và ngoài công khai; Thật ra trong bóng tối của thế giới siêu quyền lực, ông ta thuộc hạng "lão làng", nắm giữ nhiều vị trí quan trọng thay mặt cho Siêu Chính Phủ (P.G) và những hiệp hội "tư nhân" (vòng ngoài của Siêu Chính Phủ) tại nước Mỹ và quốc tế.
                        Ông Henry A. Kissinger là một người rất say mê có được quyền lực và danh vọng, dù phải nói dối và bội nghĩa bạc tình ông ta cũng làm để thỏa mãn niềm đam mê đó. Ông Kissinger kết hôn với bà Ann Fleischer năm 1949, họ có hai người con nhưng gia đình không được ấm êm vì bà thường than phiền sự vô trách nhiệm của ông đối với gia đình; Năm 1964 ông ta bỏ vợ để được thảnh thơi hoạt động trong trò chơi chính trị kiểu Mỹ. Mãi tới năm 1974, ông Kissinger mới lập gia đình lần nữa với bà Nancy Maginnes sau khi đã ngồi yên vị trong chiêc ghế bộ trưởng ngoại giao.
                        Ông Kissinger "viết" nhiều nhưng phần lớn những gì ông "viết" không phải do chính ông tìm ra ý tưởng. Ông "viết" cũng như làm một bổn phận theo nhu cầu chủ đạo của Siêu Chính Phủ, nói ra giùm những chiến lược quan trọng mà siêu chính phủ không thể công khai nói ra (tựa như ông Karl Heinrich Marx (1818-1883) không phải là tác giả thực sự của bản "Tuyên Ngôn Cộng Sản" (The Communist Manifesto, 1.2.1848), ông này được trả tiền để viết theo triết thuyết của một Hội nghị bí mật có tên "Hội Của Sự Công Chính" ( The League of the Just), một hội vòng ngoài của một Hội WIB lớn hơn là "Hội Dân Ba Lê Ngoài Pháp Luật" (The Parisian Outlaws League). Ông Kissinger có vài cuốn sách tiêu biểu như: The White House Years (1974); Years of Upheaval (1982); Years of Renewal (1999) v.v..nhưng trước đó trong năm 1957 ông "viết" một cuốn làm thay đổi quan niệm quốc phòng của Liên Bang Mỹ đến tận hôm nay, đó là cuốn "Những Vũ Khí Hạt Nhân và Chính Sách Đối Ngoại" (Nuclear Weapons and Foreign Polycy). Ngoài ra các "bài viết" của ông về đề tài chính trị, ngoại giao, quốc phòng v.v đăng trên các báo, tạp chí thì rất nhiều nhưng nói chung, tất cả những gì ông "viết" và "lách" theo đơn đặt hàng, cũng chỉ là cái loa dọn đường cho Siêu Chính Phủ và Hội Đồng Kỹ Nghệ Quốc Phòng (WIB). Chỉ nhằm biện hộ cho các "chính sách" trong quá khứ của "chính phủ" Mỹ mà siêu chính phủ điều khiển trong bóng tối. Hoặc ông "viết" cũng như thay mặt P.G nhắc khéo cho thiên hạ biết trước rằng "chính phủ" Mỹ sắp có một kế sách chiến lược chi đó trong tương lai! như roll-back hiện nay, vậy thôi, suy ra ông Henry A. Kissinger cũng chẳng là nhân tài, là anh hùng chi cả đối với nền "hoà bình" của nhân loại. Nhưng ông ta lại nham nhở đưa tay nhận giải "Nobel Hòa Bình" cũng do đám War Industries Board bày ra để thưởng công cho ông, trong khi Lê Đức Thọ nghe lời W A Harriman không nhận giải vì phải cưỡng chiếm miền nam và Cambodia theo lịnh của Harriman. Kissinger cũng không có chút công lao gì đối với một nước Mỹ đã bị mất chủ quyền vào tay Permanent Government và siêu quyền lực War Industies Board.
                        Ngược lại, chỉ riêng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam thôi, Kissinger đã sỉ nhục công chúng Mỹ khi lén lút thỏa hiệp với đối phương, Ông đã làm cho hàng chục triệu gia đình Mỹ, Việt Nam, Cam Bốt, Lào tới tận hôm nay vẫn còn sống với nhức nhối, khổ đau vì bị mất mát, chia rẽ và thù hận. Nghĩ cho cùng, những thế lực đứng trong bóng tối mới là những kẻ tội ác ngập đầu. Ông Kissinger cũng vì say mê danh lợi quyền lực nên bị lợi dụng, bị thế lực đó đẩy ra ngoài ánh sáng để nói những điều họ không thể nói ra, vì sẽ là tội phạm chiến tranh. Ông ta cũng như Siêu Chính Phủ và siêu quyền lực WIB chẳng có tài cán gì, chỉ là những kẻ biết vận dụng cách nắm quyền lực mà không cần lộ diện, [như tôi đã nêu đích danh William Averell Harriman, triều đại-1 Skull and Bones và triều đại-2, George H W Bush] biết cách tìm người đáng tin cậy, trao quyền để làm những gì có lợi cho mục tiêu cuối cùng của họ là thống trị toàn thế giới dưới nền "văn minh thực dụng" [Pragmatism] của Âu Châu. Vài năm gần đây ông Kissinger lại xuất hiện và tuyên bố vung vít đủ điều, nhưng thật ra đúng vào điễm móc thời gian ông sủa theo lệnh của Siêu Chính Phủ cho đúng trên trục lộ trình phải đi qua.
                        Tháng 5, 2011 ông ta ra mắt cuốn sách mới là On China (Penguin,2011) Như đã nói ở phần đầu, mổi khi ông này có "sách" mới thì đâu đó trong thiên hạ sắp có loạn to! Bởi nhờ có loạn thì siêu chính phủ mới có cớ đi chinh phạt và thâu tóm dần dần cũng như phát triển ảnh hưởng của mình. Và mầm mống của loạn lạc cũng do siêu chính phủ tạo ra từ trong bóng tối.

                        QUEENBEE-ONE
                        Last edited by Phòng Trực; 09-19-2012, 07:17 AM.

                        Comment

                        • vinhtruong
                          Super Member
                          • Jun 2010
                          • 1924

                          #27
                          Mỹ đưa TQ vào LHQ học LUẬT

                          Trước năm 2010, TQ dương oai diệu võ hù doạ các nước nhược tiểu, tuyên bố vung-vít Biển Nam Hải là quyền lợi cốt lõi, đe doạ dùng vũ khí tối tân để tiêu diệt HKMH Mỹ, đe doạ Mỹ dám vào ao nhà Hoàng Hải tập trận, Mỹ không được quyền đụng đến Biển Đông vì ở xa, cũng không nên làm thêm phức tạp tình hình của những nước ĐNÁ, còn đối những nước nhỏ thì dở giọng côn-đồ đe doạ … tất cả những biến cố sự kiện nầy đều có trong dự mưu lịch trình Eurasian nhưng phải đợi đến 10 năm sau cùng (19202020) Mỹ mới có thái độ cho biết thế nào là sống cho phải đạo: “Đã nghèo khó được giúp đỡ chưa chi đã lên mặt!” Thế là bắt đầu 2010, một loạt sự kiện kiên quyết của Mỹ làm cho TQ phải co rút lại như con Đĩa phải Vôi, báo hại người Việt nhẹ bóng vía teo Bougie, sợ Cọp sợ cả cứt Cọp có nghĩa là sợ luôn TQ từ ngàn xưa tới nay.
                          Vừa qua, tuy Hoa Kỳ vẫn bảo tồn Mafia Nguyễn Tấn Dũng y chang như Lê Đức Thọ để lần lần huyền biến thành VNCH mà không phải nổ một tiếng súng, trái lại còn kiếm được một số tiền lớn tham nhũng của những tên chóp-bu Mafia (mà có người gọi là tư bản Đỏ) đang nằm trong ngân hàng, và lịch sử không muốn Mỹ phải tắm máu một lần nữa tại VN như thế kỷ vừa qua. Mỹ sẽ áp lực TQ đích thân giải quyết VN và Triều-Tiên theo ý Mỹ, Miến Điện và Trung đông sẽ được Mỹ nhúng tay vào cho trật tự thế giới mới (New World) bắt đầu 10 năm sau cùng (2010-2020)
                          “Nói tóm lại TQ bị bao vây chỉ còn con đường vào gọng kềm quỹ đạo của Mỹ”.

                          Theo thế chiến lược toàn cầu Âu-Á [Eurasian] của W.A Harriman: "Về lâu về dài [Hoa Kỳ] không thể mãi mãi để Trung Quốc nằm bên ngoài cộng đồng các quốc gia [LHQ] để nghiền ngẫm sự hoang tưởng, ôm ấp hận thù và đe dọa các nước láng giềng" Đó là lý do phải cách chức Tư Lệnh TBD của Tướng Mac Arthur hiếu chiến. Và chuẩn bị việc giải vây và kéo Trung Quốc ra khỏi tình trạng bế quan toả cảng, để sẽ đứng cùng phe với Hoa Kỳ làm cân bằng thế mạnh của Liên Bang Liên Xô đang thời kỳ có thể vượt qua Hoa Kỳ. Vả lại, mục đích của Siêu Chính Phủ (Permanent Government) là giải toả tình trạng cô lập của quốc gia đông dân nhất địa cầu - khi đó có hơn 500 triệu dân - hầu lập thế liên minh Mỹ-Hoa trong mối quan hệ tay ba giữa Hoa Kỳ, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Xô Viết, tạo nên cái thế liên hoàn “Tam Quốc Chí” tân thời, nhưng đặc biệt Hoa Kỳ ở vị thế thượng phong là có quyền chọn bạn và kẻ thù, với châm ngôn: “Hoa Kỳ không bao giờ có người bạn lâu đời, cũng như kẻ thù truyền kiếp” Quyền lợi American First trên hết, và quyền lợi xác định thế liên minh. Người viết có một suy nghĩ, William Averell Harriman là một Gia Cát Lượng hoàn-vũ, và bỏ xa trong hạn hẹp của nội địa nước Tàu, độc giả có thể tìm thấy sách trong Internet “The Wise-Men”: Six Friends and the World They Made 1986 của 2 đồng tác giả Walter Isaacson và Evan Thomas, nhưng phải đợi vị thủ lãnh Harriman nầy qua đời ngày 26/7/1986 thì cuốn sách nầy mới được in ra. Có một chiếc hình nhạy cảm “Harriman nhe răng bắt tay Mac Arthur” chỉ được lộ ra vào đúng 50 năm Anniversary of the Korea War (1950-53)-(2000-03). Người viết tự suy diễn trong khi bắt tay nhe răng trắng xát cười “Tao sẽ lột chức mầy cho chừa cái tật ỷ là tướng tài ra trước Quốc Hội đòi dội Bom nguyên tử giải phóng lục địa” (Hình Volume-1, trang 41, THE NEW LEGION) Và đến 2023, Hoa kỳ cũng kỷ niệm y chang, chỉ khác dòng chữ là 50 years Anniversary of Vietnam War (1965-73)-(2015-23) nhưng lần nầy chắc hình bắt tay Mao-Nixon 1972.
                          Vì mục tiêu trên, SCP phải thành công mỹ mãn, với cái giá là đẩy một đồng minh là Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) ra khỏi chiếc ghế Liên hiệp quốc và cách chức Tư Lệnh Chiến trường Mac Arthur, kế đến là tướng Westmoreland để khai tử chế độ VNCH. Vì thế cho nên, về mặt “nổi” cái gọi là đồng minh nam VN, "tiền đồn thế giới tự do" là Việt Nam Cộng Hoà, phải bị đẩy xuống biển – Câu chuyện ấy khiến người ta cần nhìn lại để còn nhìn tới, là Giáo sư danh dự về kinh tế học tại Howard University ở thủ đô Hoa Kỳ, ông Nguyễn Tiến Hưng từng làm Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng Hoà. Khi miền Nam hấp hối, ông được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao cho các mật thư cam kết của Tổng thống Nixon và phái đi vận động viện trợ của Hoa Kỳ mà không thành. Vì cái Permanent Government nầy đã có kế hoạch đánh mất giá trị của các bức thư đó bằng vụ tai-tiếng Watergate theo lộ đồ của kế hoạch đã được thiết kế tỉ mỉ trước đó bởi Richard Helms.

                          Trong hai tuyển tập Vietnam War: The New Legion đã cung cấp thêm những văn kiện đã được Hoa Kỳ giải mật hoặc được tác giả sưu tập và kết hợp thành một chuỗi dài của bi thảm kịch 10.000 ngày, nhưng là một màn diễn phụ của vở bi-kịch 100 năm (1920-2020) nhầm trong tầm nhìn để đa số sử gia xem vụ lật đổ và ám sát ông Diệm-Nhu tháng 11/1963 là sự kiện cột mốc (Decent Interval) giúp mở đường cho sự leo thang và "Mỹ hóa" chấm dứt cuộc chiến nửa nạc nửa mỡ giữa quân đội Mỹ-Việt. Cuộc xung đột giai đoạn 1964 nhầm vào định kiến-2 (axiom-2: The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs, nên bằng mọi giá phải tạo dựng sự kiện Vịnh Bắc Việt để có cớ “trả-đũa”, không tuyên chiến để về sau rút lui danh dự nghe thuận lá nhĩ hơn).
                          Dù quan trọng về lịch sử như thế, nhân vật Ngô Đình Diệm vẫn được ít người hiểu đúng; Cho tới gần đây, hầu hết sách học thuật về ông Diệm chủ yếu dựa vào nghiên cứu các văn bản chính phủ Mỹ và các nguồn khác của Mỹ. Vài năm qua, một số học giả bắt đầu dùng nguồn tư liệu Việt Nam (gồm cả hồ sơ VNCH được lưu ở Việt Nam) Họ đã đem lại một số góc nhìn mới có giá trị về quyết định và chính sách của Diệm giai đoạn 1954-1963. Nếu được độc lập quyết định chính sách thì Cộng Sản như trong ao cá bị dẫy chết khi trong ao không còn nước qua Quốc sách “Ấp Chiến Lược” kềm theo “Chiêu Hồi”.
                          Nhưng cuộc đời và sự nghiệp trước 1954 của ông Diệm vẫn ít được khảo sát; các học giả vẫn còn tìm cách xác định những kinh nghiệm và tư tưởng đã định hình suy nghĩ của ông. Nói cách khác, chúng ta đã biết nhiều về những gì Ông Diệm làm, nhưng vẫn thật khó để hiểu ông ta là ai; Đa số sử gia xem vụ lật đổ và ám sát Diệm ngày 2 tháng 11.1963 là sự kiện cột mốc giúp mở đường cho sự leo thang và "Mỹ hóa" cuộc xung đột giai đoạn 1964-65 (1964 Tonkin Incident, 1965 Mỹ đổ bộ Đà-Nẳng) Vì theo phản tình báo CIA và KGB đã hoàn thành sau đại hội đảng thứ 15 vào tháng Tư 1959, trong năm ấy, phía Hà Nội đã theo lệnh KGB cách ly HCM, đưa Lê Duẩn về làm Quyền Tổng Bí Thư và Lê Đức Thọ vào nam thay thế Duẩn, riêng Mai Chí Thọ là con hùm xám, ngày ngày theo dõi HCM tưới cây Vú Sữa miền nam. Phiá Hà Nội thành lập 3 Đoàn trong năm 1959, Đoàn 559, 759, và 959 chuẩn bị năm tới 1960 thành lập MTGPMN, đồng thời Liên Xô rút hết cố vấn về nước. Thế là phía Mỹ cho ra đời sách lược Commando Vaught và huy chương Vietnam War Chiến Dịch Bội Tinh để cho quân tác chiến Mỹ sẽ qua tập trận, trừ Xa lộ Harriman (đường mòn Hồ).
                          Thoạt nhìn qua, mỗi cách nhìn kể trên đều có vẻ khả tín, nhưng khi xem xét kỹ, rõ là tất cả chúng chỉ bị bóp méo cho một mục tiêu nào đó hơn là tiết lộ bản chất nhân vật kể cả phía ông HCM; Sự thật hai Cụ chỉ là công-cụ của Mỹ hay là một trái Cam khi vắt hết nước rồi thì liệng vào thùng rác
                          Theo tôi, ngoài Cụ Diệm ra so với Cụ Hồ, với cái nhìn công bằng trong con mắt của sử gia hậu cận đại, xuyên qua đối chứng các tài liệu có thật dính-dấp với liên hệ thực tế, nhìn một cách công bằng hơn và nếu chưa xét đến cách thức giành quyền lực thì cái chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) do cụ HCM góp phần lớn dựng lên đã có giai đoạn đầu đi theo xu thế dân-chủ. Trong giai đoạn đó cụ Hồ đã đồng ý hợp tác với các đảng phái quốc gia khác như Việt Quốc, Việt Cách để thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời VNDCCH, đã tổ chức bầu cử thành lập cơ quan lập pháp theo thể thức phổ thông đầu phiếu, tự do với sự tham gia của nhiều đảng phái khác nhau, đã thành lập ủy ban soạn thảo hiến pháp và đặc biệt là nội dung của Hiến pháp 1946, hoàn toàn sao y theo bản thảo Hoa Kỳ với mong ước nước nầy có dư thừa quyền hạn bảo vệ VN như Philippines, dù còn thiếu sót, đã xác lập được một số nguyên tắc dân chủ cơ bản cho thể chế chính trị và xác định trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ một số quyền cơ bản của con người của thể chế chính trị. Cho dù giai đoạn đó là rất ngắn chưa đầy 1 năm, nếu kể từ ngày thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời VNDCCH (1/1/1946) cho đến ngày Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua (9/11/1946) và nếu tạm chưa xét đến các cách thức cạnh tranh của Việt Minh với các đảng phái quốc gia khác, nhưng khó có thể phủ nhận chính thể VNDCCH lúc đó đã tạo dựng được một số định chế cơ bản của dân chủ.
                          Chỉ sau giai đoạn đó hình thể VNDCCH (vẫn do cụ Hồ đứng đầu, nhưng không có cụ) mỗi ngày càng mất dần đi tính dân chủ và sau đó hoàn toàn trở thành một chính thể độc tài kiểu toàn trị cộng sản, nhưng thực sự trục ma-quỹ đã áp đặt đây là một chính thể toàn trị Mafia nhưng bao quanh lớp võ bề ngoài bằng Cộng Sản để cho thế giới biết mục tiêu mà lên án hầu quên đi cái thế lực ghê gớm sau hậu trường Mỹ (The Harrimans and Bushes). Ðại hội đảng 15, tháng 4/1959 đánh dấu ngày công cụ Mafia Lê Ðức Thọ lên nắm chính quyền và HCM đi vào bóng tối, bằng cách chỉ định Lê Duẩn từ trong nam về Hà Nội làm quyền Tổng bí thư.
                          Theo tôi, từ lúc nầy, (decent interval) cột mốc rõ nhất cho sự phi dân chủ hóa để trở thành độc tài toàn trị cộng sản của chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một cái tên rất dân chủ, là việc Đảng Lao Động Việt Nam phát động Cải cách ruộng đất theo huấn thị của Mao, được cụ Hồ gọi là cuộc “cách mạng long trời lở đất”, vào năm 1953. Bao trùm toàn bộ cuộc “cách mạng” này là sự tùy tiện của chính phủ cụ Hồ trong việc bắt giữ, hành hạ, bắn giết, tịch thu gia sản đối với hàng trăm nghìn người Việt Nam. Các thủ tục tư pháp thông thường đã có từ thời thực dân Pháp hay các qui định phải tôn trọng pháp luật và quyền con người đã được ghi trong Hiến pháp 1946 đều không được đếm xỉa nữa trong Cải cách ruộng đất vì phải nghe theo sự chỉ giáo của Mao. Làm sao Cụ Hồ biết được Mao được tình báo Mỹ giúp đở ngầm ý bắt cóc áp-tải Tưởng Giới Thạch và phe phái ra đảo Ðài Loan bằng phi đội CAT của CIA vừa thành lập; Mục đích để cho Mao thống nhứt lục địa có điều kiện chia 2 nước Triều Tiên và VN để cho Mỹ có cơ hội khuấy động chiến tranh hòng tiêu thụ số lớn vũ khí thặng dư hồi thế chiến-2 còn tồn kho, đồng thời biến 2 nơi nầy thành 2 bãi chiến trường theo dư mưu của chiến lược gia George Kennan, và đương kiêm Ðại sứ Mỹ tại Liên-Xô, William Averell Harriman, liên kết với chương trình “Aid to Russia 1941-1946 Plan” sau khi Mỹ và LX bắt được một mớ nhà bác-học Ðức, việc ưu-tiên một cho quốc phòng là lấy chiến tranh Triều Tiên để thí nghiệm ưu tiên vũ-khí quốc phòng qua thế-hệ phản lực (Nga: Mig 15, 17 và Mỹ: F-84, 86) còn Việt Nam qua kỹ nghệ Hàng Không Dân Dụng như Boeing và Trực thăng phản lực. Vì thế Mỹ không có con đường nào khác, bắt buộc phải loại bỏ hai Cụ Diệm và Hồ (vì hai cụ là bạn của Mỹ chớ không phải người của Mỹ) cho mục tiêu sống còn của tư bản Mỹ (War Industries Board).
                          Theo tôi việc đánh giá cụ Hồ một cách toàn diện còn là một việc không dễ dàng và rất dễ gây tranh cãi, bất hòa bởi các thông tin về cụ Hồ chưa được bạch hóa một cách rộng rãi và nhiều người vẫn giữ nếp nghĩ theo lối duy cảm, tôn sùng thần tượng. Nhiều thông tin về cụ Hồ còn mơ hồ và ngay bản thân cụ Hồ khi sinh thời lại rất kín đáo về quá trình hoạt động và về đời tư của cụ. Chẳng hạn như ngay ngày sinh, nơi chôn nhau cắt rốn hay ông nội của cụ là ai vẫn là một vấn đề tranh cãi. Ở đây tôi chỉ muốn xét riêng dưới góc độ dân chủ và chỉ căn cứ vào những sự kiện đã rõ ràng thì tôi cho rằng cụ Hồ không phải là một chính trị gia không có lý tưởng dân chủ. Chỉ cần căn cứ vào một số sự kiện và chính sách của chính phủ VNDCCH khi cụ Hồ cầm quyền từ 1946 đến khi Cụ Hồ bị bọn Mafia Lê Ðức Thọ tháng 4/1959 thì chúng ta có thể thấy rõ. Tứ 1959 Mỹ dựng lên một bạo-quyền đặc-chế siêu Mafia và cương quyết bảo vệ sự bền vững của chế độ thảo-khấu nầy cho đến khi CIA tạo ra cuốn DVD sự thật về HCM, đây là điểm mốc giựt xập bức tường thép mà bấy lâu nay ÐCSVN dựa dẫm … để dần-dà thật sự xây dựng một nước VNCH hoàn toàn theo Mỹ.
                          -Thứ nhất, sau khi Cụ bị tước hết quyền hành, và nói đến dân chủ là phải nói đến tinh thần tôn trọng ý kiến khác biệt, tôn trọng phe đối lập, phải coi những gì đối lập với mình là sự tồn tại tự nhiên và cần thiết. Tự nhiên là vì không có một xã hội nào mà tất cả mọi người đều có cùng một ý kiến trên cùng một vấn đề: Cần thiết là vì đối lập giúp cho mỗi người ít nhất cũng giảm được khả năng sai lầm, ngộ nhận hay tự phụ. Nhưng bất hạnh thay chính phủ của cụ Hồ nhưng không có Cụ Hồ, cuối cùng đã không để cho một thành phần đối lập hay một đảng đối lập nào có thể tồn tại. Riêng Đảng Dân chủ hay Đảng Xã hội, những đảng vẫn tồn tại sau năm 1954 trên miền Bắc, thực chất chỉ là những tổ chức được xáp nhập vào Đảng “Lao-Động” Việt Nam, nó cũng tưa tựa đồng nghĩa với đảng “Cần-Lao” của cụ Diệm, điều nầy chắc không ai hiểu nổi tình báo Mỹ đã sấp-xếp như như vậy cho mưu đồ chính lược. Trên danh nghĩa bị hội nhập vào cái gọi là của cụ Hồ mà thôi, khó ai mà phát hiện được một thế lực ghê gớm đã nhào nắn ra nó để tái phát động chiến tranh
                          -Thứ hai, cụ Hồ là một trong những người đóng vai trò chính trong việc lập ra Hiến pháp năm 1959 vì áp lực của Tam đầu chế: Ðức Thọ, Chí Thọ, và Lê Duẩn qua cái ách của KGB và CIA cho trò chơi chiến tranh dơ-bẩn qua chương trình CIP/NLF của Mỹ/LX. Vì thế, bản Hiến pháp 1959 không chỉ được thiết lập một cách vi hiến do cái thế lực ma quỷ nầy (theo qui định của bản Hiến pháp 1946) mà còn xóa đi hết tinh thần tiến bộ và dân chủ đã có trong bản Hiến pháp 1946 do chính cụ Hồ ôm-ấp, mục đích để trục ma-quỷ khuấy động lại chiến tranh.
                          Hiến pháp 1959 đã mở đầu cho tính đảng Mafia trị, tính lãnh-tụ, và tính độc-tài toàn trị trở thành nền tảng cơ bản trong các bản hiến pháp tiếp theo mà theo dự trù chiến lược Mỹ, phải bảo vệ chế độ toàn trị Mafia nầy trong hơn một nửa thế kỷ cho sách lược Eurasian 100 năm. Chính Hiến pháp 1959 đã biến Quốc hội, kể từ đó, trở thành một cơ quan bù nhìn không hơn không kém, một cơ quan cấp dưới của Mafia (nhưng lớp bọc ngoài là Đảng Cộng Sản Việt Nam) nhưng sự thật là đảng Mafia do trục ma-quỷ dựng lên cho chúng dựa-dẫm núp dưới bức tường thép HCM, cho dù cụ Hồ chết, Lê Đức Thọ cũng phải để cái ghế trống Chủ tịch đảng chỉ dành riêng duy nhứt cho cụ mà thôi cho đến ngày (decent interval) cuốn DVD ra đời của linh muc Nguyễn Hữu Lễ mới là lúc đập-đổ thần tượng nầy và trả lại tánh trung thực cho lich sử, có nghĩa lật mặt nạ cái bọn đầu Trâu mặt Ngựa siêu Mafia nầy để dần-dà thay vào một chế độ VNCH dân chủ và giàu mạnh tại vùng ÐNÁ. Và cũng chính từ năm 1959, Bộ Tư pháp (một nhánh quyền lực độc lập quan trọng của chế độ dân chủ) bị xóa hẳn cho đến tận năm 1981 mới được lập lại nhưng cũng chỉ là một cơ quan của Đảng Mafia (Cộng Sản Việt Nam thôi).
                          -Thứ ba, sau khi quyền lực chính trị (ở miền Bắc) đã hoàn toàn do đảng Mafia không còn của cụ Hồ nhưng thật ra trong tay Lê Ðức Thọ nắm giữ thì những quyền tự do cơ bản của dân như quyền ra báo tư nhân, quyền xuất bản tư nhân, quyền hội họp và lập hội mà cụ Hồ đã đòi hỏi thực dân Pháp phải trao đầy đủ hơn cho người dân Việt trước đây cũng dần biến mất hẳn trên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì cụ Hồ làm chủ tịch bù-nhìn. Ngay cả một vấn đề mà chính cụ Hồ là người chắc phải rất thấm thía về ích lợi của nó là tính độc lập và tuân thủ pháp luật của tòa án khi cụ Hồ bị bắt và đưa ra tòa tại Hồng Kông vào năm 1932, chúng ta cũng không thấy cụ Hồ đả động gì đến cũng chỉ vì quyền hạn ở trong tay tam-đầu-chế Mafia nầy, khi diễn ra hàng loạt những vụ tống giam không cần xét xử hoặc xét xử hết sức chiếu lệ các trí thức, nhân sĩ trong các vụ án Nhân văn-Giai phẩm hay vụ án Xét lại chống Đảng, tất cả hành động tàn bạo nầy đều nằm trong tay sinh sát của trùm mật vụ Mai Chí Thọ.
                          Nhưng có nguồn tin cho rằng HCM đã có lúc bị khống chế hay chịu sức ép của lãnh đạo nước ngoài hay của các đồng sự khác trong Đảng Cộng Sản Việt Nam như Lê Ðức Thọ, Lê Duẩn… chúng ta nên tìm hiểu sự kiện nầy trong Library of Congress!
                          Nếu giả thuyết đó là đúng thì theo tôi cụ Hồ vẫn còn nguyên quyền và lương tâm để phản đối hay ly khai với những khống chế hay sức ép phi dân chủ đó. Chưa nói đến trách nhiệm của một nguyên thủ quốc gia là phải đặt mục tiêu phụng sự lợi ích dân tộc, đất nước lên hàng đầu; Các lãnh đạo quốc gia có lý tưởng dân chủ và bản lĩnh bao giờ cũng xử sự như thế, nhưng sự thật Cụ Hồ đã bị tước đoạt hết quyền hành, chỉ còn là một người máy biết nói theo những gi bọn Thọ mớm, vì uy-tín trong vấn đề thể hiện qua những cuộc hop ngoại giao. Nhưng chúng ta hầu như chưa bao giờ thấy cụ Hồ phàn nàn gì về quan hệ của cụ với các đồng sự khác trong Đảng Cộng Sản Việt Nam hay với lãnh đạo các nước “anh em’ như Stalin hay Mao Trạch Đông. Do đó giả thuyết trên khó biện hộ hay thuyết phục làm giảm đi trách nhiệm của cụ Hồ trong những hành động tàn nhẫn, phi dân chủ của chính thể VNDCCH. Những sự kiện nầy tôi nghĩ các sử gia hậu cận đại sẽ lý giải rõ hơn cho một nhân vật bị quá nhiều hàm oan nghiệp chướng.
                          Ông Tống Văn Công, một đảng viên cộng sản lão thành, cựu tổng biên tập báo Lao Động, người đã có nhiều bài viết ủng hộ cho việc cải cách chính trị, trong một bài viết gần đây có trích dẫn câu nói của HCM "Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” và cho rằng đây là nội dung cốt lõi về dân chủ mà HCM đã nhấn mạnh. Theo tôi cốt lõi của dân chủ nằm ở chỗ phải xây dựng được các định chế dân chủ (democratic institutions) và bảo đãm cho sự vận hành (practice) các định chế đó được đúng đắn, đầy đủ, không bị cắt xén hay bóp méo nhằm bảo-đảm để những người nắm quyền là những người được lựa chọn từ những người có khả năng nhất trong xã hội và họ phải có trách nhiệm trước xã hội. Nói một cách giản dị là phải tạo ra các công cụ để người dân, người bị trị có thể “đuổi được chính phủ” bất kỳ lúc nào họ muốn. Vậy vấn đề là người dân trước tiên phải nhận thức được và tự tin vào sức mạnh của quyền năng tự có và từng bước đoàn kết, nỗ lực để cùng nhau giành lại các quyền cơ bản từ tay những kẻ cầm quyền độc đoán. Xã hội Việt Nam đã bắt đầu có dấu hiệu của sự nhận thức đó và nỗ lực đó rồi, tuy nhiên còn yếu và chưa đủ, nhưng cái gì chả bắt đầu từ ít và yếu như hiện nay tại Việt Nam.
                          Kính trọng lòng yêu nước của cụ HCM là điều phải có, nhưng tôn thờ thần thánh hoá là không thể bắt buộc mọi người, nhưng phản gián CIA buộc tam-đầu chế nầy phải dựng lên thần tượng HCM để núp dưới hòn đá tảng nầy mà độc tài chuyên chính. Không ai có thể phủ nhận lòng yêu nước của cụ HCM, trong cuộc kháng chiến chống Pháp; nhưng sự độc tài thống trị theo thể chế độc quyền của đảng với thời gian, cho thấy sự sai lầm to lớn, nhưng không thể trách Cu HCM chỉ vì cụ là bù nhìn, ai đem cái gọi là hạt giống Mác Lê cấy vào dân tộc và đất nước VN, nhưng sự thật là một chế độ Mafia chuyên chính do CIA và KGB dựng lên cho cuộc chiến bẩn thỉu. Khởi điểm đó là nguyên nhân chính yếu, để thế lực bên ngoài xen vào chia đôi đất nước ta, gây phân hoá Bắc Nam, tạo nên cảnh huynh đệ tương tàn, xua quân ồ ạt vào Nam, bắn giết đồng bào mình nhân danh “Chống Mỹ Cứu Nước, Giải Phóng Dân Tộc” thật vô cùng khốn nạn cho dân tộc Việt. Lấy chống Pháp chống Mỹ làm bình phong, thủ tiêu thành phần yêu nước không CS, gây phân hoá Bắc Nam cho đất nước, tạo hận thù giai cấp trong cộng đồng dân tộc VN. Tội ác to lớn đó, công cụ gián tiếp của Mỹ là ÐCSVN có thể bưng bít với thành phần trẻ hiện nay, nhưng khó che lấp trước thành phần yêu nước, từng sống trong giai đoạn 1945-54 và suốt hơn 20 năm nội chiến. Chính sự chia rẽ đất nước dân tộc, dẫn đến HS-TS-VN bị CSTQ cưởng chiếm, CSVN chính là đầu mối, dẩn lối đưa đường cho ÐCS/TQ lấn chiếm VN.
                          Cụ HCM đã là chuyện lịch sử, để lịch sử toàn dân Việt phân định phán xét, không một cá nhân hay đảng phái phê phán mà có được giá trị, kể cả ÐCSVN. Phán xét hay tôn thờ sẽ không còn có giá trị với thời gian, bởi cái gì ngày hôm nay được tung hô có thể ngày mai bi đả-đảo. Vì SỰ THẬT không bao giờ có thể che đậy dưới ánh mặt trời chơn lý; Sự xụp đổ tiêu vong của thế giới CS, sẽ phải đánh giá lại tất cả những gì đã sai lầm trước đây; Những sai lầm mà bắt cả dân tộc VN phải gánh chiụ gần suốt thế kỷ, về lâu về dài với gốc rễ Mác Lê còn mãi ăn sâu. Tuy nhiên nhân vật HCM là nhân vật bí ẩn nên cần tìm hiểu toàn diện trước khi khen chê toàn diện; Chúng ta nói nhiều đến dân chủ quá, lại cứ đi chê cụ Hồ. Ngày xưa cụ ra đi tìm con đường để thực hiện lý tưởng của mình và cụ là con người của hành động, nói là làm, và làm cho tới khi thành công. Mặc dù thành công này theo như mọi người thì phải để lịch sử phán xét. Nhưng còn hơn những kẻ chỉ biết nói suông, nếu chúng ta có lý tưởng thì hãy hành động để thực hiện hóa nó đi, cho nên có người cho rằng cụ HCM được thán-phục không phải vì sự thắng lợi của cụ mà vì sự phản bội của Mỹ! Cái gì cũng có lý do của nó tại sao hiến pháp 1959 phải sửa đổi cho phù hợp với âm mưu của Mỹ muốn khuấy động lại chiến tranh, và muốn có được sự ủng hộ của phe CNXH, Liên Xô và Trung Quốc nếu không có sự ủng hộ đó thì có giải phóng miền nam được không? Tại sao cụ Hồ chỉ nói là sau giải phóng miền nam phải chỉnh đốn đảng vì làm sao cu biết được lúc đó phe XHCN sẽ ủng hộ như trước hay không! Tôi thật thán phục cụ Hồ, một người yêu nước và một vĩ nhân của nhân loại. Người là sự kết hợp nhuần nhuyễn phong cách sống đơn giản của Phật, tổ chức chặt chẽ của Chúa, tư tưởng xã hội bình đẳng, cuộc chiến chống xâm lăng, trong đường lối xây dựng đất nước và con người VN. Tôi chỉ học được ở cụ HCM là một người rất tài về cơ hội, đây là lúc phải vùng lên để giành cơ hội thay đổi thể chế chính trị cho đất nước được tự do như phương Tây có nghĩa là một nước VNCH y chang hiến pháp của Mỹ mà cụ Hồ đã ấp ủ và bắt chước như khuôn vàng thước ngọc, nhưng tại sao Mỹ không bảo trợ thì chúng ta cũng thừa hiểu vì American First.
                          Trở về với cụ HCM, thời kỳ 1945 ai ai cũng thán phục cụ Hồ. Người dân trân trọng yêu kính Cụ, mỗi lần chúng ta thời đó vào Bưng Biền thăm người thân và bộ đội cụ Hồ, ai cũng xin cho được bức ảnh cu Hồ. Tôi tự hỏi, tại sao đã đuổi Tây, Nhật mà người Việt vẫn đánh nhau? Tôi tìm hiểu qua sách vở sử liệụ về HCM, phải công nhận cụ ta rất giỏi, nhiều người bật khóc khi nghe những câu chuyện "xúc động" về cụ mặc dù chưa gặp cụ lần nào, nhưng tất cả đều bị nhồi sọ, có thể trên thực tế, cụ chỉ là một con người tầm thường, nhưng chịu dấn thân nằm gai nếm mật tại hang Patpo như đã lỡ lầm theo lệnh của OSS rồi CIA cũng chỉ vì độc lập tự do cho dân Việt, và nhờ truyền thông CS biến cụ thành một vị thánh, nhiều nhà còn thờ Bác trong nhà. Sự việc nầy là CS quá giỏi hay phản gián CIA quá giỏi đã che mắt thế gian một cách thần sầu quỷ khóc. HCM cũng khát vọng muốn nhờ Mỹ giúp để phục hồi độc lập như Philippine, song lúc đó Mỹ cần phải khuấy động lại chiến tranh như tôi đã nêu lý-do ở trên, nên Mỹ thẳng thừng từ chối vì kẹt phải nhờ Pháp gây chiến tranh để tiêu thụ bớt số vũ khí quân dụng thặng dư còn đình đọng quá nhiều và Mỹ cũng muốn đem quân vào Việt Nam để thực thi sách lược CIP rất cần thiết cho sự sống còn của kỹ nghệ quốc phòng WIB.
                          HCM không còn lựa chọn nào khác hơn là phải ngã theo Cộng Sản theo như ý đồ cũa Permanent Government, rất tiếc HCM liền bị Liên Xô Trung Cộng kềm kẹp cứng ngắc trong xà lim CSCN suốt đời không thể dẫy-dụa được, lỗi của ai? Giờ đây CSCN đã chết và HCM đã mất, dân Việt có dịp tự cởi trói xiềng xích Cộng nô cho chính mình và còn chờ đợi gì nữa mà không hòa hợp hòa giải dân tộc; HCM thật sự thương dân nhưng không biết làm sao ngăn chận vi mình là một nước nhược tiểu bi các nước lớn chèn ép xúi dục phải nhảy vào cuộc chiến tương tàn qua trục ma-quỷ nầy dựng lên một bè lũ Mafia và dựng lên một chính phủ bù nhìn để dấn thân làm công cụ cho bọn chúng. Riêng cụ Hồ không bao giờ để xảy ra chiến tranh, không bao giờ xúi đi "giải phóng" miền Nam bởi như thế sẽ gây ra cuộc chiến chém giết giữa người Việt với nhau. Vì câu tuyên bố qua bút tích “Miền Nam trung lập, độc lập và giàu mạnh” nên cụ HCM mới bị bọn ma-quỷ nầy cách ly, tước hết mọi quyền hành; Cụ cho rằng thà để mạnh miền nào miền nấy phát triển rồi tìm dịp thống nhất trong hòa bình như trước, nên cụ đã ra lệnh rút 100.000 quân về bắc.
                          Khi cụ Diệm sắp bị lật đổ, cả hai cụ đã toan cùng hiệp thương với hai miền mà có được với Mỹ đâu (như Đông,Tây Đức) hoặc cứ để nguyên vậy như Đài Loan, TQ, Nam, Bắc Triều Tiên còn hơn là dùng chiến tranh để thống nhất đất nước để rồi gây ra những vết thương cho lịch sử dân tộc mà không bao giờ lành. Trước đây "nhờ"có thực dân Pháp nên VN tạm thời thoát khỏi ảnh hưởng của TQ kéo dài hàng ngàn năm, tuy nhiên sau khi đuổi được Pháp, cái ám ảnh ngàn năm của đất nước là TQ lại có lý do trở lại và ngày càng dọa nạt, bắt chẹt, chiêu dụ, lấn ép VN hơn bao giờ hết. Trong những rối rắm bít bùng như thế, đảng lại đem chiêu bài HCM ra gán cho ông những cái tốt mà ông không có để đánh lạc hướng dư luận, xem ra tội nghiệp cho cu Hồ, chết rồi mà cũng không được để cho yên thân.
                          Nếu mà mọi người đều cảm thấy cụ Hồ là một vĩ-nhân, một thánh nhân, một nhà tư tưởng có giá trị của VN thì đây cũng có thể họ bị lừa bịp bởi CSVN đã thêu dệt, Thần thánh hóa cụ Hồ để đem lợi ích chinh trị đến với tính cách bip bợm và cực kỳ nguy hiểm để làm lợi ích cho CSVN mà thôi! Ðất nước VN người dân thường bị đánh lừa! và kẻ lừa bip thì chẳng ai còn xa lạ! Ðể rồi mới vỡ lẽ! Tôi không theo Cộng Sản, tôi cũng không theo Quốc Gia, tôi không chống ai hết, nhưng tôi biết phân biệt phán đoán: Trên diễn đàn này tôi chỉ nói lên tiếng nói của cá nhân, của sự hiểu biết của tôi. Cho dù tiếng nói của tôi đơn độc thì tôi viết tôi nói cho tôi nghe, có thể cho anh nghe nữa! Tôi viết để tôi đọc, tôi cũng như các sử gia thuộc trường phái hậu-cận-đại, bắt đầu từ 2023, (sau 50 năm người lính chiến Mỹ rời khỏi VN, vào năm nầy tôi đã chết)… Có thể thấy tôi lập dị, nhưng thà lập dị, sống trong mộng ảo hoang tưởng còn hơn là sống trong sự thật, vì sự thật quá phũ phàng, quá tàn nhẫn đau thương… Thà nói chuyện với cây lá cỏ hoa mà thấy mình thanh thản hơn bàn thảo với người chung quanh mình, vì họ chả biết cái đếch gì mà Mỹ đã đặt họ là “Bãi cứt Trâu để lâu hoá bùn”, Họ chết là hết!


                          QUEENBEE-ONE
                          Last edited by chieutim; 06-10-2013, 08:13 AM.

                          Comment

                          • vinhtruong
                            Super Member
                            • Jun 2010
                            • 1924

                            #28
                            Từ lâu Mafia-VN là công cụ của Mỹ

                            Muốn giải quyết chiến tranh mà không cần tàn phá hay đổ máu, bằng cách nào và bằng cái gì từ vệ tinh bay cùng tốc độ với trái dất (stationary spy satellite project) hay phi thuyền bắn tỏa xuống hàn-âm-khí để làm cho mùa Đông giá lạnh ở Liên-Xô hoàn toàn khô ráo, không ẩm ướt nghĩa là không có tuyết làm cho hột lúa bi freezing đi đến ung thúi…đây có thể là một trong nhiều bí mật chiến tranh siêu vũ khí (hi-tech, đọc giả đừng bắt tôi phải giải thích) mà không tài nào phát hiện nổi! Vì do vấn đề thiếu lương thực trầm trọng, người Nga hiểu rằng nếu đánh nhau với Mỹ thì thua và chết hết. Trung-Cộng sẽ tràn lên tiến chiếm Tây-Bá-Lợi-Á phì nhiêu đầy tài nguyên thiên nhiên chưa từng được khai thác, Harriman cũng hiểu rằng nếu đánh nhau với Liên-Xô thì hầu như cả Thế-giới sẽ chết hết, chỉ còn người Tàu làm bá chủ Thế-giới. Nga Mỹ tính toán chiến lược thế nào thì vẫn nhìn thấy Trung-Quốc là kẻ thù chung của cả Nga lẫn Mỹ, nó nằm chình ình ra đó trước mắt. Vậy tốt nhất là áp dụng biện pháp Tam-Quốc-Chí tân thời của Tàu, là Nga và Mỹ cùng bắt tay hợp tác, cùng tiêu diệt Trung-Quốc để trừ hậu hoạn, đó là lý do chiến lược gia có tầm cỡ quốc-tế như W.A.Harriman phải viết cho ra hai tác-phẩm: Liên Xô và Hoa kỳ xiết tay nắm giữ an toàn cho vận-mệnh thế giới: Sách-1 “Peace with Russia” Sách-2 “America and Russia a Changing World”.
                            Khi cần phải giải thể chế độ CS, Đế-quốc Liên-Xô để cứu nước Nga thì người dân Nga làm một cái rụp, và chỉ cần qua một đêm là thế giới thoát khỏi chiến tranh lạnh và hiểm họa chiến tranh nguyên tử. Còn CS Trung-Quốc thì mãi đến năm 2003 mới chịu công khai giải thể Cộng-Sản nhưng chỉ còn chế độ Tư-Bản Đỏ với chủ trương “Đế-quốc bành trướng công an trị” Còn Viet Nam vì trình độ dân trí còn quá thấp không thể đa đảng ngay sẽ có đẫm máu tức thì mà phải độc đảng Mafia độc tài công an trị một thời gian và biến hoá từ từ (nhưng mặt nổi cứ gọi là chế độ CS để phỉnh gạt một số NVHN, đánh lạc hướng về mục tiêu siêu chiến lược của Mỹ, nếu NVHN có tầm nhìn sâu sắc thì họ sẽ phát hiện ngay: Tại sao NVHN gởi về mỗi năm 6, 7 tỉ dollar, còn người Cuba không được gởi về nước?) và chuyển tiếp từ từ bằng quyền lực nằm gọn trong tay Quốc hội VN để sau cùng thành một nước dân quyền dân chủ 2023, sau 50 năm người lính Mỹ rời khỏi VN, đồng thời hoàn toàn hoá giải ”Hội chứng VN” và đem danh dự cho 60 binh si Mỹ hy sinh cho một nước VN độc lập thống nhứt và giàu mạnh.

                            Để bảo đảm vững chắc, lâu dài vị thế bá chủ của mình trong viễn cảnh siêu chiến lược toàn cầu Eurasia, kể từ khi Liên-Xô hoàn toàn lui về vị thế thủ và chấm dứt chiến tranh lạnh, Hoa-kỳ đang trên đà phát triển “Dân chủ hóa” và “Kinh tế thị trường” Những đời Tổng-thống vừa qua cũng phải đi theo con đường mà Siêu-Chánh-Phủ (War Industries Board) đã vạch sẵn, và ‘siêu-chiến-lược’ nầy được xem như phương cách duy nhất để bảo đảm bền vững và lâu dài chính sách của Hoa-kỳ trong trật tự thế giới mới mà WIB gọi là “The New World”.
                            Đặc biệt với Trung-Quốc, đứng trên quan điểm chính thức của Hoa-kỳ là hoan nghênh sự phát triển thịnh vượng của một nước Trung-Quốc hiếu hòa để trở thành một nhân tố tích cực vì lợi ích trong cộng đồng Thế-giới; Thực ra trong thâm tâm, Trung-Quốc rất thèm khát như vậy, cho nên trong chiến tranh chống khủng bố mà Hoa-kỳ phát động từ ngày 11/Sept/2,001, Trung-Quốc đã có một vài đóng góp tích cực để làm hài lòng Hoa-kỳ. Tuy nhiên kể từ khi Hoa-kỳ tung ra chiến lược ‘đánh phủ đầu’ và tấn công Iraq thì Trung-Quốc bắt đầu lo sợ nguy hại đến quyền lợi của mình. Vì Mao và Đặng Tiểu Bình đã đoán trước Mỹ sẽ qua chiếm vòi xăng Trung Đông trước rồi trở về lại thăm cái bẫy Hoàng Sa 1974 vừa sập xuống mà con mồi khổng lồ đang vướng nằm trong bẫy.
                            Thêm vào đó Trung-Quốc cũng than thân trách phận, tự cảm nhận rằng, mặc dù ngày nay hai nước liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt kinh tế nhưng chưa bao giờ Hoa-kỳ ngỏ lời với Trung-Quốc như một đối tác chính trị để cùng gìn-giữ hoà bình Thế-giới, mà chỉ o-bế Viet Nam như là một nhân tình mơn mởn đầy hấp dẫn, quyến rủ. Hiện rõ qua hành động Hoa-kỳ đã thành lập “Bộ Tư- Lệnh Thái-Bình-Dương”PACOM (đã có từ lâu sĩ quan Việt Nam tu nghiệp phối hợp quân-sự tại Hawaii) đã khiến cho những nhà lãnh đạo Trung-Quốc giật mình và đoán chắc trong suy nghĩ kiên định: Sau khi nắm vòi xăng Trung Đông, Mỹ sẽ đem quân về lại làm đầu cầu tại miền cực bắc nước Úc để răng đe TQ không được làm ẩu. Trung-Quốc tự cảm thấy họ đang bị bao vây và có nguy cơ bị tấn công bất cứ lúc nào bởi một đối thủ đã từng thất tín với đồng minh, mà lại có tìm năng nguyên tử mạnh nhất Thế-giới và những phản ứng cực kỳ nguy hiểm trong nháy mắt có thể hủy diệt Thế-giới mà chắc chắn Trung-Quốc không kịp đối phó.
                            Sau chiến tranh lạnh, thế chiến lược quân sự của Hoa-kỳ tại Thái-Bình-Dương và trên thế giới đã hoàn toàn thay đổi, Hệ thống quân sự đó là Bộ Chỉ-Huy Thái-Bình-Dương PACOM được dựng lên để đương đầu với những chuyển biến chính trị và quân sự bất thần xảy ra, có thể làm tổn hại đến thế quân bình lực lượng trong vùng. Và đây là trọng tâm chiến lược của Hoa-Kỳ trên toàn thế giới mà họ gọi là “Overhauling the damage control” Nó đặt trụ sở tại Honolulu, nơi mà nhiều năm nay, các Sĩ-quan Việt Nam Mới (Chế độ Mafia-VN, công cụ của Mỹchớ bản chất không phải CSVN) do kế hoạch chiến lược của kiến trúc sư Harriman đã thiết kế ‘CIP-1960’(để CS chiếm Miền-Nam rồi Việt-Nam sẽ được vĩnh viễn miễn nhiễm Cộng-Sản, như là mũi thuốc tiêm ngừa CS “Communist-Vaccination for immunization” hay nói trắng ra là Việt-Nam sẽ là một nước VNCH nguyên vẹn lớn hơn cho quyền lợi Mỹ. Nhưng việc nầy không xảy ra tức thì, (Mỹ và Trung-Quốc chưa đụng độ) nên 2 cuốn sách nầy đã chưa chứng minh đi đúng thời cuộc mà lại quá sớm theo như sự diễn tiến hòa bình từ từ nhưng khá vững chắc, tuy phức tạp do Hoa-Kỳ chủ đạo, và theo sau đó là “Món nợ Hội-Chứng Việt-Nam vẫn còn đó chưa giải quyết được và chỉ giãi quyết 50 commemoration anniversary 2023”.
                            Rồi sẽ giải quyết được khi Hoa Kỳ ăn-mừng 50 năm chiến tranh Việt Nam vào khoảng 2.023; lúc nầy đối với Việt Nam, Hoa kỳ có công xây dựng thống nhứt thành Một VN trong khi Trung Cộng và Liên Xô đã đồng ý chia đôi qua Hiệp định Genève 1954 chỉ riêng có một mình Mỹ không có chữ ký, nhưng trọng tâm Mỹ chỉ nhìn nhận Miền Nam có hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa đã thành văn trong nội-quy Hiệp định Genève, đây cũng là âm mưu chiến lược tối mật về quốc phòng của Mỹ sẽ bức tử VNCH và lấy chiếc ghế LHQ từ Trung Hoa Quốc Gia cho Trung-Cộng ngồi vào học luật. Vì thế phải cách chức Tư lệnh chiến trường của 2 danh tướng Mc Arthur và Westmoreland.
                            Sĩ-quan chế độ Mafia-VN nầy cũng được gởi sang sớm nhứt để thụ huấn binh pháp và chiến lược của Hoa-kỳ hầu sau nầy khi cần phải phối hợp hành quân liên minh với PACOM, mục đích thâu-hồi lại Đảo Hoàng-Sa và Trường Sa, rồi đây số du học sinh Mafia-VN sẽ tràn ngập nước Mỹ, nhưng họ rất có kỹ luật không làm gì động đến NVHN đầy mặc cảm thua trận, họ là thành phần trí thức du học, nói theo khách quan hơn một số NVHN tạp nhạp thiếu bén nhạy về chính trị mà tự vỗ ngực ầm ầm chính cá nhân tôi mới là một chính trị gia lãnh đạo lỗi lạc, hãy bầu tôi đi!.
                            PACOM là Bộ Chỉ Huy quan trọng nhất trong các Bộ chỉ huy quân sự Hoa-Kỳ trong thời gian di tản chiến lược “Overhauling the damage control” bởi tu chánh án Cooper-Church. Nó có nguồn gốc từ chiến tranh Phi Luật-Tân (1899-1902) là lúc mà quân đội Hoa-kỳ có những đơn vị hùng hậu chiếm đóng tại vùng biển nầy. Ngày nay vùng kiểm soát của PACOM trải dài từ bờ biển miền Đông Phi-Châu đến vòng-đai Thái-Bình-Dương, bao trùm nửa diện tích địa cầu và kiểm soát hơn nửa tiềm năng kinh tế của Thế-giới; Gần như toàn bộ Hải-lực và những Binh-đoàn thiện chiến nhất của Hoa-kỳ đều đang tập trung tại vùng do PACOM kiểm soát điều hành.
                            Nhưng có một điều quan ngại là hai lực lượng mạnh nhất đang tập trung tại vùng do PACOM trách nhiệm. Đó là hai lực-lượng của Hoa-kỳ và lực lượng của Trung-Quốc, cả hai đang thi đua hiện đại hóa quân sự về mọi mặt; Vì không thể ngồi khoanh tay chờ đối phương tiêu diệt bằng chiến tranh nguyên tử nên Trung-Quốc đưa ra vài Tướng lãnh ‘cò-mồi’ tuyên bố đe dọa bành trướng lấn-áp ngôi vị bá chủ của Hoa-kỳ. Như năm 1972, Mao đã cho Nixon và Kissinger biết vài thập niên sau Thái-Bình-Dương là ngòi nổ của thế chiến, Mao Trạch-Đông cũng thừa bản lãnh để lấy chiếc lá Tre che con ngươi màu xanh của Đế-quốc Mỹ để không còn thấy được ngọn núi Thái-Sơn ở trước mặt. “Sau đại chiến thứ 3 …chấp nhận hủy diệt một nước Tàu Cũ trong nước để chiếm lĩnh bằng một nước Tàu trên lục địa Mỹ-Châu!” với kế hoạch chiến lược về sanh sản trong 10 năm có được thêm 350 triệu dân và độn thổ hay biến hóa thành lập một nước Tàu ngoài nước Tàu cho mục tiêu chiến lược sau nầy.
                            Nhìn thấy sự lớn mạnh cũa PACOM và trước những phản ứng khó lường được qua cuộc tấn công Iraq, Trung-Quốc phải có một số phản ứng được coi là cần thiết cho vấn đề an-ninh của mình; Như phối trí hỏa-tiễn tầm xa của Trung-Quốc. Loại hỏa-tiễn nầy không chỉ nhắm vào Đài-Loan mà còn hướng tới những mục tiêu tại nhiều Quốc-gia khác; Tự xem mình là một Cường- quốc, Trung-Quốc ký một thỏa hiệp an ninh với Pakistan và một thỏa hiệp về quốc phòng với Phi-Luật-Tân. Đặc biệt Bộ-Quốc-Phòng Hoa-Kỳ cũng theo dõi và chú ý đến sự góp mặt của Trung-Quốc trong “Tổ chức cộng đồng Đông Á” gồm các quốc gia từ Ấn-Độ đến Nhật-Bản để âm mưu hất chân Hoa-kỳ và Úc ra khỏi quỹ-đạo Thái-Bình-Dương mà chỉ có Da Vàng mình chơi với nhau. Những chỉ dấu nầy khiến dư luận tại Hoa-kỳ cho rằng Trung-Quốc đang có những quyết định có thể làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự tại vùng Đông-Á, cho nên chiến tranh Thái-Bình-Dương là điều khó tránh; Nhưng đối với Mao thì chiến tranh tại Thái-Bình-Dương chỉ là ‘Diện’ còn ngay tại Tây Bán-Cầu mới là ‘Điểm’ “hủy diệt một nước Trung-Hoa Cũ để thành lập một nước Trung-Hoa mới tại Mỹ” trong một cuộc chiến siêu kỹ thuật chớp nhoáng sau nầy.
                            Trong khi các nghiên cứu gia cứ cho rằng Trung-Quốc chưa bao giờ có một đại chiến lược theo như nghĩa mà người ta hiểu. Thêm vào đó về mặt địa dư chính trị Trung-Quốc thường xuyên phải chịu áp lực từ tứ phía bởi các Cường-quốc cở lớn như Nga phía Bắc, Nhật Bản phía Đông, Ấn-Độ phía Tây và Việt-Nam phía Nam. Trong thời gian hiện tại Trung-Quốc có nhiều triển vọng phải đối phó với những quốc gia nầy hơn là phải đối phó với Hoa-kỳ, cách xa Trung-Quốc bằng cả một đại dương rộng lớn; Đây cũng là trong tầm nhìn bén nhạy của Harriman và Bush-Cha trên phương diện địa lý chiến lược mà họ đã tinh trước bằng Eurasia Great Game-1.
                            Những điều suy diễn trên đều đúng, nhưng có một ngày nào đó Trung-Quốc không cần chạm trán với những nước ‘Cò-con’ chung quanh mà chỉ có mục tiêu duy nhất là giáng xuống toàn khối nguyên tử trong ‘nháy mắt’ vào nước Mỹ để rồi vài giờ sau các nước ‘Cò-con’ sẽ cúi đầu quỳ-lụy. Trung-Quốc không còn con đường nào khác chỉ vì nạn nhân-mãn phải lợi dụng ưu thế nầy cùng lợi điểm thương-mãi ranh mãnh mà tóm thâu toàn cầu sau khi đã hủy diệt vài tỷ người. Hy sinh một tỉ rưỡi người Tàu để thành lập một nước Tàu mới trên lục địa Mỹ châu với một nguồn nước bao la trong Ngũ Đại Hồ mà trên mặt đất loài người đang chết khát.

                            Dù bất cứ thế đứng nào, Việt-Nam cần tìm một thế tựa chiến lược của Hoa-kỳ ở Đông-Nam-Á và Thái-Bình-Dương. Nghĩa là Việt-Nam cần phải hợp tác và quan hệ chặt-chẽ với Hoa-kỳ. Nhưng sẽ sai lầm, có thể coi là trọng tội với Tổ-quốc, đối với tiền đồ Dân tộc nếu Việt-Nam lạc vào quỹ đạo của bất cứ đại cường nào để đối đầu với Trung-Quốc, vì dù gì đi nữa khi chiến tranh xảy ra, Việt-Nam vẫn là chiến địa khởi điểm. Các con cháu ta sẽ thừa khôn ngoan để tránh thảm cảnh cho Dân-tộc.


                            QUEENBEE-ONE
                            Last edited by Phòng Trực; 09-20-2012, 09:17 PM.

                            Comment

                            • vinhtruong
                              Super Member
                              • Jun 2010
                              • 1924

                              #29
                              Saigon hấp hối 27/1/73 và CSLX sụp đổ 30/6/87 không phải 1991

                              Trước hết, phải nói đã đến thời điểm decent interval phải hoàn tất axiom-1 (There was never a legitimate non-communist government in Saigon) nó nằm trong tập bi kịch màn-2 của vở tuồng Eurasia vào lúc phải kết thúc hạ màn xuống, 6 tháng sau vào mùa Hè 1973, Mỹ phải tiếp nối khi 6 chiếc tàu chở đạn cho Saigon vừa vào đến hải phận đã bị Donald Rumsfeld [người tuyên bố “Miền nam bù nhìn, miến bắc yêu nước”, 30 năm sau nhờ Nguyễn Cao Kỳ nhắc lại một lần nữa cho rõ] ra lịnh 6 chiếc tàu chở đạn nầy phải trở đầu chạy thẳng qua Do Thái gấp, kéo màn lên tiếp nối màn-3 (overlapped giai đoạn-3).
                              Để rồi Bạn có biết rằng trong những ngày dầu sôi lửa bỏng của tháng Tư Đen/75 Bush-Cha đã ngồi chần dần tại Bắc Kinh như đưa cái búa to tổ bố, doạ búa vào đầu Đặng Tiểu Bình, nếu Bình thừa nước đục thả câu, lấy cớ giúp gìn giữ an ninh sân sau cho Hà Nội mà đem quân qua miền Bắc-Việt để phù trợ cho MTGPMN, làm bể kế hoạch Mỹ quyết định trả lại độc lập thống nhứt cho VN mà Mỹ vì quyền lợi nên hứa Lèo với cụ HCM, đồng thời Bush-Cha giao khoán trắng quyền hành cho Tham mưu trưởng WSAG Rumsfeld muốn làm gì thì làm miễn hoàn thành chu toàn axiom-1: Trả lại độc lập thống nhứt cho Việt Nam sau 30 năm khói lửa. Đây là món quà ban tặng ngày “Quốc-Khánh” cho VN mà Mỹ không chịu ký chia đôi VN Genève-54 sau khi Mỹ xả rác một số vũ khí khổng lồ còn tồn kho sau Đệ-2 thế chiến.

                              [Xuất phát từ [http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman, page 1 of 7- Trang 4, Political Career, “Aid to Russia 1941-1946 Plan renewed, reactivated]
                              - 1964 Hà Nội có được AK-47, VNCH vẫn còn xài Garant-M1 đến cuối 1968.
                              -1973 sau hiệp định hòa bình Paris, Hà Nội có 700 triệu tấn vũ khí mới toanh, tối tân với 3 mục tiêu: (1) Chiếm miền nam 1975, (2) Chiếm Cambodia, (3) Phòng thủ Hà Nội 1979 bởi TQ sẽ dạy VN bài học.

                              -2010-2020 (10 năm trù dập TQ, reactivated 1941-46 Plan) Tàu ngầm Kilo, Phi cơ siêu thanh, tàu chiến trang bị hoả tiễn hiện đại như được Mỹ bật đèn Xanh, chờ sau đó Mỹ sẽ bỏ lịnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN.
                              Thế nên, Ông Đại sứ Michalak cũng nói Tướng Nguyễn Chí Vịnh không phải là người mà Trung Quốc "dễ nắn gân" Michalak nhắc lại Tướng Nguyen Chi Vịnh từng nói thẳng về khả năng xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc và trong một cuộc gặp với quan chức ngoại giao Hoa Kỳ, tướng Vịnh đưa ra một bức tranh về ... Hoa Kỳ nói ông Vịnh không lảng tránh vấn đề Biển Đông. Ông tướng này bác bỏ tuyên bố chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc và nói Việt Nam "biết cách chiến đấu và chiến thắng" Chúng ta cũng thừa hiểu do động lực nào mà tướng Vịnh mạnh miệng như vây, làm mọi người ngạc nhiên? Bấy lâu nay ai ai cũng tưởng Vịnh là người của TQ nên chửi bới tùm lum, chỉ có người viết đã nói là không từ lâu mà là một Phạm Xuân Ẩn tái sinh!

                              Tướng Nguyễn Chí Vịnh sẽ cho oanh kich đập Tam Hiệp, lấy cớ TQ làm cho vùng châu thổ hậu giang chìm dưới nước mặn, ngăn cản sự sống của vựa lúc VN được thế giới tán đồng để nuôi sống nhân loại. TQ sẽ bị tàn phá sau đó như một cuộc tận-thế đại hồng thủy và tan ra từng mảnh khi có lịnh của Mỹ, đó là thái độ của VN hiện nay (đúng vào thời đểm “roll-back” 2010) đã làm ngạc nhiên các bạn không ít, như những phản ứng của VN vừa qua trong khi kiên quyết bắn hoả lực thực, quyết không cho TQ đem giàn khoan tối tân khoan dầu dưới 3000 thước đến đặt trong vùng 200 hải lý gần Phú Yên, nơi có số lượng dầu lớn nhứt).

                              Dưới đây là mặt trái cuộc chiến cần thiết do CIA/KGB đạo diển:
                              Một tài liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa-Kỳ đã được giải mật, người ta phải sững sờ khi thấy những chuyện không thể ngờ về những điều khoản của ‘luật lệ giao tranh’ ROE, [Rule Of Engagement] mà con người bình thường cho đây là một chỉ thị về điều lệ ngu-xuẩn. Nhưng đối với tư tưởng Harriman, một Chiến-lược-gia chính trị nhà nghề về Liên-Xô cho đây là cái thế để dụ dỗ đối-phương vào cái bẫy mà Nhóm học giả của George Kennan nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ trong cái thế Bên kẻ mạnh (on the strong-man side) Hay nói cách khác Hoa-kỳ đã dùng thế cờ CIP [Counter Insurgency Plan] và chấp cho thế cờ NLF [National Liberation Front] của Liên-Xô không những đi trước một nước, mà nhiều nước, trước khi tới phiên Mỹ. Dĩ nhiên lúc đầu Hoa-kỳ phải chới với, ngất ngư, thất thế vì bị tấn công nhiều mặt. Nhưng sau cùng, còn quá sớm để nói lên: Liên-Xô phải chào thua và nhường lại những nước như Mông Cỗ, và 8 nước Cộng Hòa Trung Á, tài nguyện còn nguyên vẹn ở dưới lòng đất, và sau cùng là Việt-Nam sẽ là thành viên ‘lá-chắn’ (shield) son sắc trong PACOM (Manage the defeat, overhauling the damage control, then to Roll-back) nhưng trên thực tế, không nước nào chịu hy sinh cho nước khác, đó chẳng qua Việt Nam có một số lượng dầu khí đứng hàng đầu của các nước ÐNÁ cho nên Hoa kỳ mới e-ấp che chở?

                              Mà thật vậy, những luật lệ giao tranh ROE xem ra thật ngộ nghĩnh mà Tôi cho rằng “khổ nhục kế” Các chỉ thị nầy đã ngăn cản rất nhiều hiệu năng chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ, chẳng hạn các lệnh cấm máy bay Hoa-Kỳ không được tấn công các dàn hỏa tiễn SAM đang trong giai đoạn lắp ráp vì sợ rằng gây tử thương cho chuyên viên Liên-Xô đang nối ráp; không được tấn kích Phi-Cơ MIG trên phi đạo [runways] chưa cất cánh, hoặc ngay cả khi các phi cơ MIG nầy đang bay nhưng không có hành động khiêu khích, như huấn luyện viên Liên-Xô đang bay thao dợt huấn luyện cho Phi-công BV.

                              Đây cũng là điều lệ mà Hoa-kỳ tự xem như là “Khổ nhục kế”nhường cho Liên Xô có cơ hội phát triển, thí nghiệm vũ khí phòng không qua giai đoạn thế hệ mới, dùng hỏa tiễn tiêu diệt phi cơ Mỹ thay vì súng phòng không đạn cổ điển chạm nổ, trong kế hoạch Khổ-nhục-kế nầy, Hoa-kỳ và Liên Xô chụp các nhà bác-học Ðức để làm gì? nên phải có đấu trường để thí nghiệm vũ khí, Harriman phải đem những Phi-công ưu tú của Hải Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Phi Công VNCH ra làm “Mồi” cho Liên Xô thí nghiệm hỏa tiễn phòng không. Và đồng thời lợi dụng trường hợp gây chiến tranh để tiêu hủy một số phi cơ lỗi thời như: về Không Quân có F.105 Thunderchief, F.100 Suber Sabre, F.101 Woodo, F.4 Phantom…Về Hải Quân có, A.4 Skyhaw, A.7 Corsair, A.8 Crusader, A.6 Intruder…

                              Đã vậy, Phi-công oanh tạc Bắc Việt không được quyền xử dụng bom tinh khôn ‘smart’, bom Laser, CBU-55 hay bom vô tuyến điều khiển, mà phải dùng bom chạm nổ thông thường, và một lần nhào-xuống chỉ được thả xuống hai trái, không được thả hết một lần, có như vậy mới giải quyết bằng nhiều Phi-cơ bị bắn rơi và nhiều Phi-công bị bắt. Trò chơi khổ nhục kế về cuộc huấn luyện tập trận thật lớn nhứt trong lịch sử nước Mỹ để có đủ hành khách booked trước hầu nâng đỡ hãng Hàng Không không bị Bankruptcy hay merge. Cuộc tập trân thiệt lớn nhứt nầy thật thần sầu quỷ khóc, ngoài sự tưởng tượng của con người bình thường, nhưng thật ra cũng để có cơ hội giải tỏa chiến cụ lỗi thời và thay vào thí nghiệm phát triển loại vũ khí mới hiện đại hơn cho cuộc chiến Trung Đông tiếp diển sau nầy qua Màn-3 của trò chơi chiến tranh Eurasian.

                              Trong khi miền Nam quân BV dùng vũ khí tối tân như AT.3 điều khiển bằng vô tuyến bay vào ngay các hầm hố công sự của quân lực VNCH để phá hủy, dùng hỏa tiễn cầm tay SA7 để tiêu diệt Phi-cơ. Họ có B.40, 41 để tiêu diệt xe Tăng, trong khi quân lực VNCH không có thứ vũ khí diệt Tăng. Mãi đến giữa năm 1972, một đợt mới từ Hoa-kỳ qua với loại vũ khí hỏa tiễn TOW diệt Tăng. Nhưng không phải dễ dàng để được nhận đâu. Thoạt tiên Tướng Abrams nói: “Tôi giao 20 trái hỏa tiễn TOW cho Thủy Quân Lục Chiến VN và Sư Đoàn 1 Bộ Binh, bởi vì họ là những chiến sĩ như tôi đã biết gan lì chiến đấu kiên cường; Còn như Binh Chủng Dù, tôi đã nói với Trung Tướng Kroesen Cố-vấn Vùng-1 rằng: Nếu Tướng Trưởng hứa và bảo đảm với tôi là họ không bỏ lại ngoài chiến trận và rồi tôi sẽ suy nghĩ lại có nên giao cho Dù giữ hỏa tiễn TOW hay không?” (Quả thật Tướng Abrams đánh giá quá sai về lực lượng mà chúng ta thường gọi là “Thiên thần mủ Ðỏ”) Trong khi đó, nhóm phản chiến nử Tài tử Jane Fonda, nam Ca Sĩ Bob Dyla, Nữ Ca Sĩ Joan Baez và ngầm trong bóng tối là Trung Úy John Kerry cho Hà Nội biết về vị trí phòng thủ để tiêu diệt phi cơ Mỹ.

                              Như cây cầu Hàm Rồng đã có biết bao nhiêu Phi Cơ bị bắn rơi nơi đó vì chỉ dùng bom nổ thường, thay vì chỉ cần bắn một trái hỏa tiễn Pul-Pulp vô tuyến điều khiển là xong chiếc cầu. Để rồi không biết bao nhiêu tù binh Mỹ phải bị bắn rơi, trong đó có Đại sứ Peterson tại VN sau nầy (1995) và Thượng Nghị Sĩ John McCain…

                              Để đổi lại, Hoa-kỳ khai thác được phương cách chống hỏa tiễn phòng không, bằng cách xử dụng hệ thống quang-tuyến Sensor phát hiện vật lạ với một tốc độ gia tăng bắn tới Phi-cơ và máy dò-tìm sẽ báo động ngay trong nón bay của Phi Công qua tín hiệu SAM-SAM-SAM… lúc nghe được tín hiệu, Phi-công chỉ cần nhào lộn hay đổi hướng thật gắt, là hỏa tiễn sẽ bị mất đà và trượt qua một bên. Ngoài ra, Hoa-kỳ trắc nghiệm tìm hiểu và đánh giá khả năng phát hiện bằng Radar của Liên Xô qua Trực-thăng gián điệp 21-SOS chuyên thả toán thám sát Strata với ám hiệu ‘Pony’, cất cánh từ căn cứ Không Quân Nakhon-Phanom, nằm sát theo biên giới Thái-Lào. Chiếc Trực thăng tối tân HH-3S sẽ bay xuống thấp để tránh hỏa tiễn SAM, đồng thời xem thử Radar Liên-Xô có phát hiện nổi hay không? Nhưng vào những năm đó (1964) khi Tôi bay ra khỏi biên giới Lào Việt là bị ngay 2 chiếc Super Sabre F.100 của Không Quân Hoa Kỳ lên làm thủ tục ngăn chận, ám hiệu ra lệnh cho chúng tôi phải bay trở về biên giới ngay, nếu không sẽ bị hỏa tiễn bắn hạ.

                              LX sụp đổ ngày 30/5/1987 chớ không phải 1991Cho mãi đến ngày 30/5/1987, một thiếu niên người Tây Đức (Không có bằng chứng CIA tài trợ nuôi dưỡng) tên là Matthias Rust lái một chiếc máy bay nhỏ từ thủ đô Helsinki Phần Lan, đã vượt biên giới Liên Xô. Rust như một Phi-công lão luyện bay thẳng một mạch, vượt qua mặt toàn thể hệ thống phòng không Radar và Hỏa-tiễn SAM-2 bay xa đến 550 miles và hạ cánh xuống ngay Công-trường Đỏ ở Mạc Tư Khoa. Người ta cho rằng thiếu niên nầy đã bị bốc đồng nên nổi hứng?! (Tôi không nghĩ như vậy) Thử xem có bay được đến Công Trường Đỏ để gây tiếng vang ngoạn mục lưu đời? Người ta cũng cho rằng, cậu bé Rust ngây thơ không bao giờ nghĩ đến hay sợ hãi hỏa lực ghê gớm của hệ thống phòng không Liên Xô.
                              Phó TT BUSH, Đệ-2 đại đế triều đại Skull and Bones cho rằng vụ thằng bé Rust sẽ có dị-ứng lạ trong biến chuyển mới trên thế giới
                              Cậu bé nầy đã làm cho LX bối rối và quê dạng, coi như hệ thống phòng không củ LX bị tê liệt. Lúc đó Rust mơi có 17 tuổi lái chiếc Cessna 172B từ phi trường Malmi Heisinki đáp xuống quãng trường đỏ Moscow’s Red Square. Cậu bị kết án 8 năm tù khổ-sai. Cậu bay qua biển, rồi đâm đầu xuống thấp tránh giàn Radar thì lúc đó CIA nghĩ rằng cậu đã đâm đầu xuống biển Baltic Sea; CIA cố tìm kiếm trên màn ảnh Radar EC-135 AWACS, vì trên scope radar thình lình biến mất một chấm trắng từ bờ biển Finland mãi cho đến khi LX tuyên bố cậu Rust đã đáp an toàn xuống quãng trường Đỏ.
                              Là phi công quan sát L-19, bạn có ý kiến gì? Khi bạn bay tập phi cụ trên vùng trời Nha Trang bạn đã bị bê trôi giạt như thế nào? Thế thì cậu bé nầy đã nhờ CIA trang bị phi trang tối tân hơn Tacan mà chúng ta đã từng sử dụng trên phi cơ. Theo tài liệu Rust chỉ có học 50 giờ bay tổng cộng kể cả cross country mà sao bay tới Moscow không lạc vả lại là lần đầu???
                              Vào một buổi sáng mùa xuân của tháng May/1987, Một điệp viên tình báo John Pike đã mừng rở đứng ngay cửa sổ toà đại sứ Mỹ ở Moscow, nhìn thấy thằng bé Rust đang làm một vòng trên không trung. Ông Pike chợt nhủ thầm “Làm đếch gì có phi cơ riêng tư, thương mãi nào mà dám bay ngang đây, Rust đã thâu gọn 550 miles là decent interval chấm dứt Cold War trong tâm tưởng tình báo?” Theo sự suy diễn của nhân viên tình báp Pike.
                              Tình báo Mỹ đã móc nối với Mikhail Gorbachev (như hiện nay CIA móc nối với Ông Putin, Ông Tập-Cận-Bình, Nguyển-Tấn-Dũng để làm diệu căng thẳng tại Biển Đông; Việc đầu tiên là ông Tập sẽ viếng thăm VN ưu tiên 1 cho vấn đề Biển Đông cũng do Mỹ cố vấn. Ông Tập như ngày xưa Đặng Tiểu Bình vậy) Từ 2 năm trước 1985, CIA đã bí mật giúp và đưa Gorbachov cũng như hiện nay, lập lại đưa Ông Tập-Cận-Bình trước 2 năm sẽ thay Ôn Gia Bảo làm thủ lãnh TQ, do nằm trong quỹ đạo của Mỹ, sẽ có thay đổi lớn trong nội bộ TQ.
                              Liền sau đó Gorbachov tuyên bố đổi mới theo sự cố vấn CIA “Glasnost”, Ông bắt đầu thanh lọc thay thế từ từ người của ông vào trám chỗ các thành viên bị sa thải, gọi là “Perestroika” chỉ trừ những tướng lãnh thì CIA chỉ dẫn chờ thằng bé Rust đáp xuống công trường đỏ rồi tính luòn một lược.
                              Đặc biệt Gorbachov qua Hà Nội khuyên lãnh đạo VN chuẩn bị mà theo Mỹ gấp gấp vì LX đổi mới không còn gì giúp được cho VN, nhưng Mỹ thì cứ lờ đi vì chưa tới thời điểm “roll-back 2010” để cho VN chuốc thêm nhiều bài kọc đau thương về lịch sử với TQ và ngầm để cho tam-trùng Nguyễn Chí Vịnh làm con cò mối để cho buá rìu dư luận công kích Vịnh là người của TQ, đồng thời nhơn cơ hội đưa cán bộ thân TQ lộ diện như vụ Bau-xít chẳng hạn để loại trừ qua ngả êm xuôi bằng bửu bối “tham nhũng”.

                              TT Reagan bèn tuyên bố mục đích chọc quê LX “Bức tường thép bây giờ bị thắng bé Rust chọc thủng, thế thì rất tốt cho sự phòng thủ của NATO” kết quả sơ khởi Gorbachov đã sa thải 2000 sĩ quan viên chức quan trọng của Bộ Quốc Phòng. Hoa Kỳ đã nhờ khoa hoc kỹ thuật mà đánh bại LX trong giai đoạn chạy đua vũ trang - 1981, George H W Bush vị đại đế hoàn vũ giấu mặt ra tuyên bố tất cả cho đầu tư về cuộc chạy đua vũ trang, Rồi đây người Mỹ sẽ không nghe lải nhải chữ chạy đua vũ trang khi ta bỏ xa LX. Đất nước còn là còn tất cả, mất mất tất cả. Những nhà tài phiệt nhát gan bỏ vốn liếng vào việc chạy đua vũ trang. Siêu chính phủ biết dân Mỹ nhát gan nên hù doạ một nước Cuba láng giềng CS đáng sợ mà khi đóng thuế người dân không còn cằn nhằn nữa?.
                              Bush-Cha trên giấy trắng mực đen phải được bổ nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng an Ninh quốc gia (National Security Directive-3 là cơ quan đặc trách đấu tranh trực tiếp với LX. Lợi dụng cơ hội nầy WIB [War Industries Board] Bush buôn lậu một số vũ khí khổng lồ kiếm không biết bao nhiêu lợi nhuận, ra mặt lấn quyền TT Reagan và mở các cuộc hành quân mật tại Đông Âu mà không cần hỏi ý kiến của TT Reagan, Vì Reagon cấm bán lúa Mi cho LX liền bị nhóm Bush ám sát nhưng hụt. George H W Bush biết chắc rằng CSLX sẽ bị lật đổ do kế sách tình báo của Bush, nhưng tại sao trong lịch sử lại do công TT Reagan?
                              Trong các cuộc hành quân mật có vụ làm mất uy-tín LX trong thế vận hội, như 1983 Mỹ ỷ vào khoa học kỹ thuật vượt trội, đưa LX vào cái bẫy bắn lầm chiếc phi cơ Korea Airline đi lạc vào không phận LX, cũng do CIA dùng khoa học kỹ thuật biến đổi bắc-từ cực mạnh phát ra từ một AWACS, EC-135 (Boeing 707 modified doom radar trên lưng) tạo nên một điện từ cực mạnh, báo hại Pilot Korea Airline là một đại tá không quân biệt phái lái chiếc nầy phải lầm lẫn bay trong điều kiện IFR, không ngờ trong đêm tối nên bị Mig lên nghênh cản và bắn hạ, dù rằng phi công LX đã có báo hiệu intercept theo luật quốc tế. Những ghi âm cuộc đối thoại nầy đều được phía Mỹ đem ra phơi bày trên diễn đàn LHQ, báo hại các nước nghe lời Mỹ tẩy chay không cho LX tham dự Thế Vận Hội: Chuyến bay 007 định mệnh bị AWACS, EC-135 đánh làm lạc hướng bay vào không phận LX, vùng Kamchatka Peninsula, tất cả 269 hành khách đều bị tử nạn.
                              Theo sự nghiên cứu của người viết, LX đã đầu hàng Mỹ ngày 30/5/1987. Còn như cậu bé Matthias Rust bay máy bay nhỏ với cao độ thật thấp, nên không hiện lên trên màn ảnh Radar. Nhưng chúng ta nên hiểu rằng một chiếc phi cơ nhỏ bay dễ bị gió lạc, nhứt là ở cao độ quá thấp, nếu không có radar sensor Tacan thì không cách nào đến được mục tiêu. Ðây là một chiến công lẫy lừng của ngành phản gián CIA, để rồi nhân cơ hội nầy, Gorbachev lập tức ra lệnh thanh trừng và thay đổi cấp chỉ huy: Người thứ nhất là, Bộ-trưởng Quốc-phòng Liên Xô, người thứ hai là, Thống-chế Sergei L. Sokolov, hung thần chiến tranh, đã có lời đe dọa sẽ gởi hạm đội tàu ngầm nguyên tử qua trừng trị Mỹ năm trước, bị cho giải ngũ Việc nầy đã làm cho toàn bộ hệ thống an-ninh phòng thủ Liên Xô và KGB trở thành một trò cười cho cả thế giới, vì chỉ một chuyến bay có tính cách chơi đùa của trẻ con, đã khiến cho đảo lộn cả toàn bộ Chính trị và Quốc phòng Liên Xô. Tôi cho đây là Phó T.Thống, George H.W Bush, [Ðại-đế giấu mặt của thế hệ thứ 2 Skull and Bones] đã dùng chiến tranh tình báo để giúp Gorbachov lật ngược thế cờ loại bỏ những tên Cộng Sản cực đoan, cuồng tín, Liên Xô chỉ chú ý đến qua kinh nghiệm cuộc chiến tại Việt Nam, vào khoảng không với cao độ, nơi mà những hỏa tiễn SAM tìm-nhiệt diệt phi cơ phản lực của Mỹ hay máy bay do thám U.2, R. F.101 thường xuất hiện với cao độ, còn máy bay bay thấp thì Sam được xem như Ốc-Vịt, như trực thăng H-34 bay qua lại trên đường mòn HCM như đan một chiếc thúng mà Sam có làm gì được đâu; điều kiện cần và có của Sam là phải có cao độ hoả tiển mới thăng bằng, có tốc lực cần thiết để đuổi theo tim nhiệt.

                              Đề cử bồ nhà Thống-chế Dimitri T. Yasov lên thay thế, Thượng-tướng Vladimir Kruichkov lên nắm quyền Tư-lệnh KGB, cùng nhiều Tư lệnh an-ninh, quốc phòng và các binh chủng bị thay thế.
                              Hoa-Kỳ đối về mặt Phản-tình báo chiến lược, đây là một thời điểm cực kỳ quan trọng để thay đổi lịch sử vô cùng thuận lợi để dẹp bỏ chế độ Cộng Sản như TT Reagan đã nói: “Đã đến lúc người Cộng Sản phải lật trang sử cuối cùng!” (Quả thật W.A.Harriman có tằm mắt nhìn xa khi chọn dòng họ Bushes, có máu di-truyền về tình-báo, lên ngôi Skull and Bones-2) Vì chuyện thằng bé chơi đùa ngỗ nghịch ở trên mà Ông Gorbachov hầu như không còn ai chống đối.
                              Có phải do cơ-trời hay do sự ảo-thuật của Tình báo Hoa-Kỳ? nên ông Gorbachov không còn do dự gì nữa, thẳng đường tiến tới hợp tác với Mỹ, ra lệnh cho quân đội Liên Xô áng binh bất động, mặc kệ cho nhân dân Đông Âu nổi dậy giành lại chính quyền, phá tan bức tường Bá-Linh, săn lùng các Cán-bộ Cộng Sản và tuyên bố thế chiến lược mới “Ðộc-lập Tự-do thật sự!” Ông Gorbachev cũng đến Hà Nội và nhiều nước Xã Hội Chủ Nghĩa khác, cảnh cáo họ rằng: Phải chuẩn bị tự lực cánh sinh vì Liên Xô đổi mới sẽ không còn khả năng chi viện nuôi Chiến tranh Giải phóng (NLF) nữa.

                              Đặc biệt đáng ghi ngận, ông Gorbachev đến tận Hà Nội và cảnh cáo lãnh đạo Hà Nội rằng: “Liệu đường mà đi với Hoa-kỳ cho nhanh, ông lại ngụ ý, phải cẩn thận vì không còn cái dù che của Liên Xô và có thể bị Trung-Cộng làm thịt. Nhưng ngặt nỗi, Hoa-kỳ không hấp tấp, để kéo dài thời gian coi cho được, cần thiết theo lộ trình rồi mới đưa hai bàn tay ra nâng đỡ VN; Hơn nữa, phải để cho VN thêm một lần nữa thấm đòn và chuốc thêm nhiều đau thương với Trung Cộng vào một thời gian khá lâu, rồi sẽ ôm ấp sau. Cái thế siêu chiến lược của Nhóm dân sự George Kennan theo tư tưởng Harriman là vậy! Việt Nam ao ước được có một tuyên ngôn độc lập dân quyền, như hồi năm 1945, ngày cụ Hồ tuyên bố trước thế giới, hãy nhìn vào lịch sư Hoa Kỳ xem thử họ đã trải qua bao nhiêu thời gian đầy sóng gió, thãm cảnh nội chiến để thành đạt bản tuyên ngôn mà Họ tự cảm nhận “Freedom is not for Free!” có nghĩa “Muốn Ðộc lập Tự do phải trả giá!?”
                              Cấm đánh phá các xe tải Molotova đang chạy trên đường xa lộ Harriman (đường mòn HCM) vào ban đêm mà không mở đèn pha, hoặc không đang di chuyển trên xa lộ, có nghĩa là đang ở bãi đậu, vì thế tài xế Molotova thường chạy ban đêm, còn ban ngày thì núp dưới rừng già để ngủ. Điều nầy đã có chứng-nhân là ông Hồ Sĩ Hãi, tài xế xe tải, quê ở Thái Bình, trong cái gọi là nạn nhân chất độc màu Da Cam. Đơn vị của Hãi được lịnh ngủ vào ban ngày, di chuyển vào ban đêm. Nhưng theo sự hiểu biết của Tôi, thì loại thuốc nầy chỉ có hiệu quả khi rải vào lúc trời tờ mờ sáng vì không khí thăng bằng trong êm tịnh, không lay động,. nên thuốc mới rải, tỏa từ từ theo chiều thẳng đứng xuống rừng cây. Trường hợp của ông Hãi là giai đoạn trong chiến dịch “Hot-Tip”(1966-1968) để khai hoang làm dấu chỉ đường dùm cho CSBV phóng đường Trường Sơn Tây, [dù rằng các Tướng lảnh CSBV không ưa thích vì phải mất gần 4 tháng trong khi Trường sơn Ðông chỉ cần 1 tháng, làm sao ai hiểu được tư-tưởng Harriman muốn biến Trường Sơn Tây sau nầy thành Xa-lộ Liên-bang Ðông-dương] Còn tôi thì thả phun thuốc cho chiến dịch “Ranch-Hand” (1962) Ngoài ra tất cả là đều do vận tải cơ C.123 của Không-quân Hoa-kỳ đảm nhận, H-34 chỉ phun thuốc dọc theo đường xe lửa hoặc các trảng tranh trồng hoa màu đủ loại để hoá trang.

                              Theo mật lệnh siêu chánh-phủ, công cụ Mac Namara (tác giả của sự kiện Vịnh BV và hàng rào điện-tử Mc Namara) đích thân ra các lệnh lạc xuất phát từ Bộ-quốc-phòng, đôi khi cố tình làm trái ngược, không rõ nghĩa, mù mờ và thường xuyên phải chậm chạp gọi là vô cùng cẩn thận, rụt rè, cho có vẽ là tuyệt đối bí mật về Quân Sự, với dụng mưu không đáp ứng được với biến chuyển của tình hình nóng bỏng ở chiến trường sau nầy tướng giả định nhậm chức 4 sao Haig cũng được lịnh của Donald Rumsfeld làm y chang như Mc Namara.

                              Dưới con mắt vô cùng bực mình của các Tướng-lãnh như: Curtis Le-May, Arleigh Burke, Nathan Twining…Các Tướng nầy cho rằng: Cuộc chiến đã có thể thắng dễ dàng, nhanh chóng, nếu không có sự điều hành ngu xuẩn của Nhóm lãnh đạo Dân Sự? Tướng Westmoreland lại không hiểu sâu xa của vấn đề, vì Quân-đội Mỹ qua Việt Nam với nghĩa-vụ “Thao dượt tập trận thật”, nên phàn nàn: TT. Johson phản ứng quá chậm chạp, còn dư luận quần chúng Hoa-kỳ thì cho rằng: Những nhà chính trị kềm hãm quân đội và không cho phép họ chiến thắng.

                              Và theo viện thống kê thì có tới 82% quân đội Mỹ tham chiến các trận khốc liệt nhất cho rằng: Phải, chỉ chấp nhận thua trận, chớ không được quyền thắng. Điều nầy đã rõ theo sự hiểu biết của người viết là: Không cần nhiều quân, chỉ cần E.C.130B với đạn 106, và 40 ly tầm nhiệt và bom CBU-55 là đủ làm thất vọng quân xâm lược CSBV, vì không còn một chiếc xe nào kể cả người và vật được di chuyển dễ dàng trên đường xa-lộ Harriman mà không bị tiêu diệt. Trong khi đó ở Nam VN có nhiều bom CBU-55 nhưng không có đầu đạn (Warhead) Có thể xem đó là loại bom có thể giết tất cả sinh vật sống bằng dưỡng khí, còn vật chất thì không hề hấn gì kể cả màng nhện.

                              Đệ Thất Hạm Đội Hoa-kỳ không được tiêu diệt các tàu viễn-duyên CSBV của Ðoàn 759 điều hành, do Trung Quốc viện trợ cho Bắc Việt để tiếp tế chiến cụ cho Miền Nam VN, thuộc về mặt cung cấp tiếp liệu đường biển. Tuy nhiên cũng phải màu mè chút ít, khi báo động chỉ điểm cho quân lực Miền Nam tiêu diệt 3 chiếc tàu, 2 ở cực Bắc và Nam của Miền Nam và 1 ở ngay giữa Vũng Rô, Tuy Hòa. Còn trong đất liền Không-quân Mỹ đánh phá cầm chừng trong chiến dịch giội bom “Rolling-Thunder” hay nói cách khác để cho lính BV chỉ nghe “tiếng sấm rền thôi”, không ai chết đâu? Hàng rào điện tử Mac Namara thiết lập là không phải mục đích để tiêu diệt quân BV mà chỉ để theo dõi (Flow-Control) cường độ xâm nhập của lính BV, đồng thời cũng có vài trận đụng độ với quân đội Mỹ, nếu quân đội BV vượt qua mức đèn Vàng báo động.
                              Thí dụ, như trận đụng độ tại Pleime trên Cao Nguyên chẳng hạn, để cho quân đội Mỹ có cơ hội thao dượt chiến trường, gọi là ‘tìm và diệt địch’ Tư-tưởng Harriman muốn vậy. Thế mà báo chí Mỹ diễu cợt quân đội VNCH là “tìm và né tránh,” (search and avoid). Họ có hiểu rằng: Người Mỹ đã bảo hộ Miền Nam và họ muốn tạo điều kiện cho quân đội họ có cơ hội để tập trận! (Combat training) Ông Van Marbod, Đệ 1 Phụ-tá Quốc-phòng nói: Mỹ hóa trước rồi Việt hóa sau do chiến cụ Mỹ để lại. Còn Tướng O’Daniel nói toạc ra là “Ai chi tiền thì người đó chỉ huy” (Who pays commands).

                              Trong khi 2 anh em Cụ Diệm, Nhu, không cần chi tiền để giữ vững chủ quyền Quốc-gia mà có được đâu! Sau trận Pleime, một tiền đồn thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ ở đây, đã bị vây khốn bởi những đơn vị đông đảo BV; xung quanh đồn không biết bao nhiêu Phi-cơ Mỹ bị bắn hạ kể cả Phản-lực Cơ F.100, F.105 đặc biệt 4 quân nhân Mỹ đã bị thương và đang chờ Trực-thăng di tản. Phi công Trực thăng Mỹ không dám vào vì đã bị rớt quá nhiều chung quanh đồn; Mỹ lại muốn trắc nghiệm vũ khí mới: Lúc nầy Phi-công Queenbee-2, thuộc phi đội CAS, Project-Delta là Đại-úy Nguyễn-Minh-Vui tình nguyện bay rescue vào cứu, đồng thời trong chuyến bay cảm tử nầy Hoa kỳ đem vào một loại vũ khí khá đặc biệt để tiêu diệt phá vòng vây, đoàn viên Queenbee-2 gồm có Đại-úy Vui, Trung-úy Châu Lương Cang và Chuẩn-úy Nguyễn Văn Mai và 2 quân nhân Mũ Nồi Xanh, Mỹ đem vào loại vũ khí mới.
                              Đại úy Vui, dùng chiến thuật “chiếc lá lốc-cuốn trong cơn bão” để đáp, trong khi trên trời một đoàn Trực thăng UH.1 đang bay đánh lạc hướng đối phương. Từ một góc trời, chiếc H.34 bất thần giảm tối đa tốc lực máy, đâm đầu xuống xoáy tròn khuôn ốc như chiếc lá cuốn tròn trong cơn lốc, trong khi các loại súng phòng không đủ cỡ chỉa vào một chiếc Trực thăng đơn côi đang rùn mình trong cơn bão lửa. Vài viên đạn đại liên 14,5 ly đã xuyên qua thành tàu, bay ngay vào một quân nhân Mỹ, hắn ngã quỵ chết ngay trên sàn tàu, máu chảy lênh láng trôi về cửa chính, bay ra không gian cuốn tan theo gió. Khi Trực-thăng chạm đất, người lính Mỹ còn lại đem vũ khí xuống và liền tức khắc 4 quân nhân Mỹ bị thương được đưa lên H.34.
                              Lúc cất cánh, Đại-úy Vui dùng lối “Khủng Long áp đảo” bay rà sát gầm thét trên đầu địch làm chúng không kịp trở tay, khi thấy được, thì chỉ còn cuộn gió và âm thanh nhỏ lần để lại nơi đó. Đến phi-trường Holloway-Airfield, tất cả Phi công Trực thăng Mỹ chạy ra bồng bế Đại úy Vui như một anh hùng vĩ-đại. Sau đó Đại úy Vui được phía Hoa-kỳ tặng cho một Anh-dũng Bội-tinh với Ngôi-sao Bạc. Phi- công biệt kích Delta (Queen-Bee) anh hùng như vậy! Tất cả Phi công Mỹ đều nghiêng mình thán phục hành động cứu bạn đồng minh của phi công VN.

                              Tháng 10/1966, với sự hiệu quả của vũ khí nguyên tử chiến thuật trên, 2 năm sau, Khe-Sanh bị bao vây bởi 4 Sư-đoàn lính BV cùng với 2 Trung-đoàn Pháo yểm trợ có chiến xa T.54 và PT.76 tùng thiết đưa tổng số 40,000 quân, vây hãm 6,000 TQLC Mỹ, Tướng Westmoreland cũng sẽ dùng loại vũ khí nguyên-tử chiến thuật nầy? (Tactical Nuclear Weapons) để phá vòng vây của quân BV, dù rằng trước đó quân CSBV đã chạm súng dữ dội ngay ngoại-vi hàng rào Khe-Sanh với Tiểu-đoàn 37/BÐQ của VNCH (hiện giờ bạn có thể xem phim giải mật trên youtube) nhưng cảnh Ðiện Biên Phủ ở Khe-Sanh không xảy ra như báo-chí đã ồn ào la hoảng và thêu dệt. Sau đó, 6000 TQLC Mỹ rút ra về lại Ðệ 7 Hạm đội bằng đường bộ, không nghe dù một tiếng súng nhỏ.

                              Về mặt Tình-báo là chỉ để kiểm chứng sự có mặt của Quân đội BV trên đường Trường Sơn Tây qua các toán Thám-sát như Lôi-Vũ, Biệt-kích Hunt, Strata, gián điệp ngoài Bắc, tất cả chỉ để gây tiếng vang, đồng thời kích thích lòng tự hào và cao ngạo của Đảng CSVN (do Cơ-quan Phản-gián CIA sử dụng khéo léo “Tam-trùng” Phạm Xuân Ẩn trong khi Hà Nội chẳng hiểu gì cả) Đoạn đường dài vào khoảng 900 miles từ đèo Mụ-Giạ đến dãy núi phía Bắc Pleime, sau khi được vận tải cơ C.123 phun thuốc khai hoang, B.52 dội bom phá những nơi núi đá hiểm trở cho trống trải chỉ dấu (Tracking) làm đường và đồng thời hàng 100 ngàn ‘Cần Anteme’ thu phát các tiếng động được thả xuống trên đường nầy, để được truyền về cho Tình-báo địa phương theo dõi các hoạt động của quân đội BV, có đúng là di chuyển vào Nam hay không?

                              Càng dễ thấy và dễ hiểu được qua các cuộc hành quân LOKI, bắt người từ ngoài Bắc đem về đảo Cù Lao Ré, Quảng-Ngãi (hay gọi là cù lao Chàm), nuôi thúc cho mập rồi thả về để lộ nguyên hình, với vẽ hồng hào, mập mạp giữa đám người ốm đói, xanh xao kể cả các cán bộ cấp nhỏ,…rồi bị bắt đi cải tạo tư tưởng… trong khi Không-quân Chiến-lược Mỹ (SAC) thả 14 triệu tấn bom ở Miền Nam, trong đó có 6 triệu tấn chỉ dọc biên giới Lào Việt không dài cho lắm, nhưng không phải để tiêu diệt CSBV mà trên thực tế là để biến những hố bom thành hồ cá, và nơi tắm giặt cho cán bộ như Rest Area bên Mỹ (nghe buồn cười nhưng sự thật là như vậy, không tin hỏi người anh em phía bên kia đi? chiến dịch thả bom gọi là tiếng sấm rền “Rolling Thunder” nghe vui tai) và khai phá bình địa vùng núi đá bên trong, dọc theo biên giới Lào để phóng khai phá đường Trường Sơn Tây có nghĩa Xa lộ LBĐD.

                              Mục đích sâu xa và tinh-vi là kích thích CSBV chiếm Miền Nam, nhưng ai hiểu được, trong tương lai Hoa-kỳ sẽ lịch sự nhường cho Trung Quốc qua mộng bành trướng sẽ mở xa lộ Liên-bang Đông-Dương cho đến khi vừa xử dụng được thì nước Tàu đã bị chia ra nhiều Tiểu-quốc và đương nhiên xa lộ nầy sẽ tự động biến từ Quân-sự thành mục tiêu Kinh tế hòa-bình cho các nước vùng lân cận, kể cả Xa lộ mà TQ lén lúc làm từ Côn Minh xuyên qua Miến Điện đến tận bờ biển Ấn Độ Dương Và đảo Hoàng-sa ngày xưa Kissinger đã bật đèn Xanh, lập lờ giao cho Trung Cộng (1/1974) gọi là tin ngoài hành-lang (lobby scandal) Lúc đó, Hoa-kỳ làm trọng tài đứng sau lưng VN để lấy lại tại bàn hội nghị LHQ?.
                              Việc nầy cũng thuận lý, vì là ổ của loài con chim Ó làm ra, sao lại có Le Le, Vịt Trời nở con ra nơi đó? Nhưng Nhóm trẻ Trung Quốc sau nầy có tầm nhìn xa hơn, nên đang tìm cách trả lại Hoàng-sa cho Việt Nam để khỏi bị sa vào cái Bẫy của Mỹ đã giăng ra 1974 và òn ỷ, dụ dỗ xin mướn dài hạn Hải Cảng Cam Ranh với mục đích đồng có lợi song-phương cho việc khai thác lọc dầu gần thềm lục-địa với sự gật đầu của Hoa kỳ, vì họ không muốn lập lại biến-cố Trân Châu Cảng, 1941 khi cô lập Nhựt Bản về đường tiếp tế dầu hỏa buộc Nhựt phải gây chiến trước. Thế kỹ 21 Trung Quốc không dại gì gây chiến trước dù VN có tát vào mặt TQ! Không có chiến tranh xảy ra trong thế kỹ 21 như siêu chiến lược gia William Averell Harriman đã dự tính như vào ngày sinh nhựt thứ 90 của Harriman, người em út sau cùng của giòng họ Kennedy đã tuyên bố trước bá quan văn võ: “We couldn’t have held the twentieth century without him”


                              KQ TRƯƠNG VĂN VINH
                              Last edited by Phòng Trực; 09-20-2012, 10:04 PM.

                              Comment

                              • vinhtruong
                                Super Member
                                • Jun 2010
                                • 1924

                                #30
                                Tại sao Mỹ phải đưa Ấn Độ lên thế chỗ TQ?

                                Biển Đông, đoạn kết của sách lược “Eurasian Great Game-1” (1920-2020) - 10 năm sau cùng Hoa-Kỳ phải đưa Ấn-Ðộ thế ngôi vị hạng-2 của T.Q?
                                Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 100 năm qua theo như chiến lược Eurasian Great Game 1920-2020: là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng-2 của thế giới, những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ như hiện nay đều bị Mỹ đánh cho suy yếu vỡ ra từng mảnh. Từ đó Mỹ đứng làm chủ cái chia bài (dealer) muốn nước nào hạng-2 phải phục tùng theo quyền lợi Amarican First. Hay nói cách khác Mỹ là soạn giả Tam Quốc Chí tân thời nhưng có “quyền chọn bạn một thời gian rồi trở nên thù” cho trò chơi chính trị, rõ ràng nhứt thể hiện tại chiến trường Việt Nam, thoạt đầu Liên Xô hạng-2, đến khi Mỹ bứng hạng-2 của LX hứa cho TQ 1972, và bây giờ Mỹ (Obama) đang muốn đưa Ấn Độ lên hạng-2 như một dư âm hồn ma vì Ấn-Độ chưa đủ điều kiện cần và có (criteria) vì thế Mỹ muốn chêm thêm phần công-lực bằng cách nhập Việt Nam một nước rất chịu đánh đấm vào trục Ấn Độ để chận cửa ĐNÁ và Đông Á. (US President Barack Obama has hailed India's rise as a world power, days ahead of a visit to the country, calling the South Asian nation a "cornerstone" of US engagement in Asia.Obama said "my vision is a US-India partnership in which we work together to shape a more secure, stable, and just world").

                                -1) Từ năm 1880 GDP Mỹ vượt qua Anh, và đứng hạng-1 thế giới đến năm nay, 2010 Mỹ đứng nhất đã được 130 năm .

                                -2) 1918 chiến tranh thế giới thứ-1 nổ ra: (tiêu nước Anh đang hạng nhì thế giới)
                                Mỹ viện trợ và xúi Đức (Đức hạng tư thế giới) và Áo đánh Anh và Pháp, gây nên chiến tranh thế giới thứ-I
                                Sau chiến tranh thế giới thứ-1, Anh suy yếu, Nước Nga ngôi lên đứng nhì thế giới,

                                -3) 1939 chiến tranh thế giới thứ-2 nổ ra: (tiêu tùng nước Nga đang hạng nhì thế giới)
                                Mỹ viện trợ xúi Đức đánh Nga, gây nên chiến tranh thế giới thứ-2, sau chiến tranh thế giới thứ-2, Nga suy yếu, nước Trung Quốc ngôi lên đứng nhì thế giới nhờ Mỹ viện trợ cho sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa.

                                -4) Thập niên 1950 cộng sản hóa Trung Quốc nhờ Mỹ đi ngõ sau với Mao, Mao giúp Mỹ tiếp tục chia 2 Triều Tiên và Việt Nam như vừa chia 2 Đức sau thế chiến-2 (tiêu nước Trung Quốc đang hạng nhì thế giới) Nhờ phản gián móc nối, Mỹ đưa bom nguyên tử cho Mao Trạch Đông, giúp Mao đánh bại Tưởng Giới Thạch, và phi cơ CAT của CIA lo chở di tản T.G Thạch và đồng bọn ra đảo Taiwan, cộng sản hóa toàn nước Trung Quốc, gây nên 1 Trung Quốc kiệt quệ về kinh tế rồi sẽ giúp đỡ, để có cớ kéo lên theo tư bản sau. Trung Quốc cộng sản suy yếu, Liên Xô gượng dậy sau thế chiến, ngôi lên hạng-2 thế giới nhờ Mỹ viện trợ 1941-1946 Aid to Russia Plan. Tất cả các nước nhận viện trợ đều bắt buộc phải nhận nguyên vật liệu từ Mỹ như là điều kiện bắt buộc

                                -5) 1991 Mỹ đánh Liên Xô vỡ ra từng mảnh qua New Euarasian Great Game by 2nd Dynasty Skull and Bones, World-Emperor George H W Bush (tiêu nước Liên Xô đang hạng-2 thế giới).
                                Lần đầu tiên Mỹ diệt 1 quốc gia hạng-2 sừng sỏ nhứt là Liên Xô mà không cần dùng đến hành động quân sự, chỉ bị tiêu hao rỉ máu về kinh tế rồi ngã chết (như Tổng Thống Kennedy đạo đức hơn tuyên bố : muốn diệt Cộng Sản, không cần tốn 1 viên đạn với chủ nghĩa căn bản về tư bản, nhưng triều đại 2 Skull and Bones phải sản xuất vũ khí là phương tiện và nắm vòi xăng để thống lãnh) Mỹ dùng chiến tranh kinh tế và khí tượng để phá hoại Liên Xô, Cuba, và Việt Nam (đến nổi sông ngòi Cửu long giang trứng cá cũng bị tiêu diệt, giây trồng khoai lang, hom khoai Mì đều bị khô cháy phải ăn Bo Bo) LX vỡ ra từng mảnh vì giúp các nước đàn em bị mê hoặc thiên đàng Cộng Sản. Nước Trung Quốc ngoi lên hạng-2 thế giới như Nixon đã hứa 1972 hạng-2 thế giới.

                                -6) 2010 đến 2020 Mỹ đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh: (tiêu nước Trung Quốc đang hạng-2 thế giới) Vì Mỹ quan niệm không thể có 2 mặt trời mọc một lượt trên Biển Đông.

                                Tại sao Mỹ phải đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh trong 10 năm tới ?
                                Theo chiến lược Eurasian: năm 2020 nếu Trung Quốc vẫn duy trì được đà phát triển như hiện nay, GDP Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ, và đứng nhất thế giới. Nếu Mỹ không đánh gục Trung Quốc trước năm 2020 ,thì Mỹ sẽ xuống vị trí thứ hai, nhưng người viết nghĩ không thể xảy ra vì Mỹ đã chuẩn bị chu đáo cho tương lại phải hạ bệ TQ sau khi đưa lên một thời gian theo nhịp điệu cung cầu. Làm gì Mỹ sẽ chịu kiếp Quốc Gia hạng hai, như các bạn đã thấy kiếp quốc gia hạng hai như Trung Quốc, Liên Xô… Chẳng nước nào coi trọng, nói chẳng ai nghe, đồng tiền chẳng ai thèm xài, dân nghèo, nước lạc hậu , …Vì bị nước hạng nhất (Mỹ) dùng sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị vượt trội để kèm kẹp LX và TQ có thể đưa Ấn Độ lên hạng-2 thời gian thật ngắn để dằn mặt hai nước kia. Dùng sức mạnh đồng USD: chuyển USD vào nhiều thì hình thành bong bóng tài sản, đợi giá thật cao bán sạch, rút USD ra thật nhanh làm bể bong bóng, gây khủng hoảng kinh tế như hiện nay chính ông nội Mỹ là thủ phạm (khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – thị trường chứng khoán Trung Quốc và Nga giảm giá trị 4 lần, 4 đồng còn 1 đồng. Đánh bằng quân sự không vui nên đổi qua kinh tế vui hơn).
                                August, -2008 Mỹ ra lệnh cho Georgia đánh 2 vùng ly khai, cho Nga tham chiến, để Nga không được Georgia ủng hộ vào WTO, Nga đứng trước tương lai chậm được vào WTO trong nhiều năm nay là Mỹ chơi, làm các nhà đầu tư rút vốn khỏi nước Nga, Stock Nga rớt 4 lần. Nếu Mỹ đánh vỡ được Trung Quốc ra từng mảnh, thì Mỹ sẽ giữ được vì trí quốc gia hạng nhất cả 100 năm nữa, từ 2020-2120. Vì không còn nước nào dành vị trí nhất thế giới với Mỹ, tiếp tục chiến lược toàn cầu lần thừ-2 là “Eurasian-Great Game-2”:
                                -Trung Quốc bị nội loạn vỡ ra, Tây Tạng Đức Đạt Lai như hồn ma và 1 vài tỉnh tách ra từ các tỉnh theo đạo Hôi, Tân Cương làm cho diện tích Trung Quốc chỉ còn 1/2 của Mỹ, Mỹ sẽ kềm kẹp Trung quốc giống như kềm kẹp kinh tế Nga bây giờ, không cho phát triển. Một nước Trung Hoa thay đổi lá cờ theo ý nguyện người dân và Việt Nam cũng rứa.
                                -Quốc gia hạng ba là Ấn Độ có dân số gấp 3 lần Mỹ, nhưng có diện tích 1/2 của Mỹ, và là xứ nhiệt đới nóng bức không thuận lợi cho những người sử dụng trí não nhiều, nên sẽ thiếu nhân tài để phát triển quốc gia. Nên cả 100 năm nữa Ấn Độ mới đe dọa vị trí đứng nhất của Mỹ, nhưng Mỹ nâng lên hạng-2 là vui vẽ lắm rồi như đang có kế hoạch nhập với VN, một nước chịu chơi ưa-thích đánh đấm để hù doạ TQ.
                                -Còn Nga thì diện tích lớn hơn Mỹ một ít mà không hữu dụng, quanh năm tuyết phủ, dân số được phân nửa Mỹ, nên không bao giờ qua mặt Mỹ được.
                                -Brazil thì còn thua Ấn Độ nữa mà còn bị Mỹ đì vì lỡ dại chơi với TQ ….
                                Nếu Mỹ đánh vỡ Trung Quốc, Mỹ được 100 năm vinh quang, hoặc mãi mãi đứng nhất thế giới nữa với điều kiện phải chia năm xẻ bảy TQ. Nhưng TQ rất khôn sẽ nhường Mỹ và mềm như con bún để bám được hạng-2 thế giới. Vì thế rất may cho sự khôn ngoan của TQ, Mỹ sẽ xét lại và cho TQ quản lý việc khai thác dầu khí vùng phụ cận như tại Biển Đông và đóng thuế cho các nước có chủ quyền trên thềm lục địa do LHQ quyết định, chủ yếu bán sản phẩm bằng dollar Xanh do Mỹ quyết định thương trường phân phối sản phẩm.
                                Nếu Mỹ không đánh Trung Quốc, Mỹ chỉ còn 10 năm vinh quang, sau đó như Anh, Pháp bây giờ, phải ôm chân Mỹ cùng hưởng giàu sang. Chống Mỹ thì nghèo đói như Nga, Trung Quốc, nghĩa là Mỹ phải ôm chân quốc gia đứng nhất là Trung Quốc, Trung Quốc nói gì cũng phải nghe. Vậy chỉ còn con đường duy nhất là Mỹ phải đánh Trung quốc trong 10 năm tới, đúng theo Eurasian Great Game-1 để chuyển qua 2, vì vòm trời không bao giờ có hai mặt trời cùng mọc một lượt.
                                Trước tiên Mỹ đánh Trung Quốc bằng kinh tế và bằng chính trị (giống như đánh vỡ Liên Xô năm 1991) như sau: Mỹ kiếm cớ tố Trung Quốc là "nước thao túng tiền tệ", tạo cớ để Mỹ đánh thuế nhập khẩu lên hàng Trung Quốc 30 % chỉ trong 6 tháng. Tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, vì nền sản xuất Trung Quốc tồn tại chính yếu dựa vào thị trường tiêu thụ Mỹ, đó là cái láu cá của Mỹ khi bắt tay Mao Trạch Đông 1972. Không bán được hàng, tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, còn Mỹ mua hàng các nước khác mắc hơn 10 % không sao cả, và chủ mưu như thế. Mỹ sẽ tố Trung Quốc giữ giá trị đồng tiền thấp, để tạo ra phong trào trên toàn cầu áp thuế chống bán phá giá lên hàng Trung Quốc, để hàng Trung Quốc khó tiêu thụ trên toàn thế giới. Trò chơi chiến tranh kinh tế kiểu mới nầy Mỹ rất Exciting.
                                Áp thuế phá giá 30% lên từng ngành hàng của Trung Quốc thay phiên nhau, gây phá sản lần lượt từng ngành sản xuất của Trung Quốc, sau khi chơi trò Chó Mèo ngộ độc, trẻ con bị đe doạ qua trò chơi mới … Nếu Trung Quốc nghe lời Mỹ tăng giá trị đồng tiền so với USD, thì Mỹ sẽ nâng giá đồng USD vừa đủ cho kinh tế Mỹ phát triển ổn định, còn đồng tiền Trung Quốc tăng giá vượt qua tốc độ tăng của USD sẽ ngăn cản sự tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc sẽ đi xuống, các nhà đầu tư sẽ rút ra khỏi Trung Quốc, Trung Quốc sẽ gặp khủng hoảng (Như khủng hoảng kinh tế Trung Quốc năm 2008, Stock Trung Quốc xuống 4 lần) TQ không bình yên với Mỹ đâu! Còn nếu Trung Quốc hạ giá đồng tiền so với USD, các nhà đầu tư Mỹ sẽ rút đầu tư ra khỏi Trung Quốc, và chuyển qua VN như là cơ duyên nghiệp quả, vì đầu tư vào nơi có đồng tiền xuống giá sẽ lỗ, gây khủng hoảng kinh tế Trung Quốc triền miên. Mỹ đánh Iran, mượn cớ chiến tranh cản đường vận chuyển dầu đến Trung Quốc trong 6 tháng, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phá sản vì không có dầu để sản xuất, lập lại chuyên cô lập dầu hoả cho Nhứt trong thế chiến-2, để công nhân không còn phương tiện di chuyển đến sở làm, hãng xưởng sẽ phá sản hàng loạt. Ra lệnh cho các nước có mâu thuẫn biên giới với Trung Quốc, kiếm chuyện cho Trung Quốc tấn công đó là nghề của chàng (giống như Nga buộc phải tấn công Georgia) Mỹ tố Trung Quốc chiếm nước khác bất hợp pháp, tuyên bố cấm vận Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc tan ra tro.
                                Chiến tranh thế giới thứ III:
                                Nếu đánh bằng kinh tế mà Trung Quốc chưa vỡ thì bắt buộc Mỹ phải đánh bằng nước cờ cuối cùng đánh bằng quân sự, Mỹ đánh Irac để có nguồn cung cấp dầu bảo đảm, trong lúc chiến sự xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc, Mỹ đánh Afghanistan để đưa quân Mỹ sát biên giới Trung Quốc. Mỹ bán và dàn trận các tên lửa chống hỏa tiễn SM3 khắp Trung Đông, để bảo vệ các mỏ dầu chống hỏa tiễn Trung Quốc, bảo đảm nguồn cung cấp dầu, bán hỏa tiễn SM3 cho các nước có biên giới giáp Trung Quốc, kể cả Việt Nam sau nầy nếu chịu đứng chung chiến tuyến với Mỹ đánh Trung Quốc. Mỹ thuê căn cứ Manas ở Kyrgyzstan giáp biên giới phía Tây của Trung Quốc. Mỹ đặt căn cứ quân sự trên đảo của Tây Ban Nha gần Venezuela nhằm cản Venezuela vận chuyển dầu cứu Trung Quốc. Mỹ triển khai máy bay 747 trang bị vũ khí Laser, bắn hạ các hỏa tiễn nguyên tử của Trung Quốc bắn lên. Mỹ sẽ ra lệnh cho các quốc gia đệ tử Mỹ, xung quanh Trung Quốc, khiêu khích cho Trung Quốc ra tay, ví dụ như: Đài Loan bắn chìm 1 chiếc tàu của Trung Quốc. Việt Nam tấn chiếm lại Hoàng Sa, Trường Sa. Nhật đánh chiếm mỏ dầu ở Đảo Điếu Ngư của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp. Ấn Độ đánh Trung Quốc trên biên giới Ấn Hoa tố Trung Quốc xâm phạm biên giới, Ngụy-tạo điều kiện lập lại Vịnh Bắc Việt (Tonkin Incident) gọi là Bắc Hàn bắn chìm 1 tàu chiến Mỹ, Mỹ đánh chiếm Bắc Hàn, Trung Quốc tham chiến. v.v….… Mỹ mượn cớ đó cùng với các nước đánh Trung Quốc tứ phía, kể cả đánh bằng nguyên tử: Phía Đông Bắc có Nhật, Nam Triều Tiên - Phía Đông có Đài Loan - Phía Đông Nam có Philipines, Thái lan, có thể có Việt Nam vì Việt Nam cần chiếm lại Hoàng Sa, (vào cơ hội nầy VN chấm dứt sách lược đu dây để không thành bãi chiến trường, đó là cái khôn ngoan của VN) Trường Sa. Mỹ đang ve vãn Việt Nam và Miến Điện, phía Nam có Ấn Độ, phía Tây có quân đội Mỹ và NATO ở Afghanistan; Trung Quốc bắn vào quân Mỹ ở Afghanistan sẽ trúng quân NATO, Các nước NATO cùng nhau tấn công Trung Quốc.
                                Kết quả nước Trung Quốc tan hoang, vỡ ra từng mảnh vụn, mỗi nước chiếm 1 miếng, Việt Nam chiếm 1 miếng (xác nhập đảo Hải Nam, HS, TS) Nhật chiếm 1 miếng, (đảo Điếu Ngư) Ấn Độ chiếm 1 miếng, Tây tạng độc lập, hình thành nhiều quốc gia theo sau sự mâu thuẫn giữa các tôn giáo, các dân tộc thiểu số với Cộng Sản như: quốc gia Hồi Giáo, quốc gia Thiên Chúa Giáo, các quốc gia của các dân tộc thiểu số: Duy Ngô Nhĩ, Quảng Đông, Tiều, Quan Thoại... Đoạn kết Eurasian-1, Nam Hàn thống nhất nam bắc Hàn trong tình trạng huy hoàng không đau khổ như ở VN, Việt Nam sẽ giống như các nước Đông Âu: Ba-Lan, Rumani ...sau 1991. Giải phóng Iran, Venezuela, Cuba, Việt Nam, Bắc Hàn, Miến Điện… sẽ được bầu cử tự do giống như Iraq, một nước dân chủ là cơ chế mẫu cho các nước Trung Đông, có sự kiểm tra của Liên Hiệp Quốc. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều nằm trong lòng bàn tay của Mỹ, Mỹ muốn nước nào sống thì sống, mà muốn chết thì chết. Hy vọng rằng sẽ không có thế chiến thứ III, mà Trung Quốc vẫn vỡ ra, đó là ước mong lớn nhất của những nhà lãnh đạo Mỹ trong Eurasian Great Game.

                                Tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam?
                                Mỹ muốn chơi trò Tam Quốc Chí tân thời, nhưng Mỹ có quyền chọn ai là bạn ai là thù! Trong cuộc chiến Việt Nam, Mỹ là người chiến thắng. Vì mục đích của việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam là nhằm ngăn cản Trung Quốc chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc, đưa Trung Quốc thành quốc gia đứng nhất thế giới , Trung Quốc sẽ dành chức Đế Quốc của Mỹ (trong nầy quan trọng nhứt là hủy bỏ vũ khí cũ và tái sản xuất vũ khí thời đại) Sau khi Mỹ âm thầm giao Việt Nam cho Liên Xô trong thế “Bên Kẻ Mạnh” (Việt Nam muốn đánh với Mỹ phải cần vũ khí Liên Xô, nên Việt Nam sẽ dựa hẳn vào Liên Xô) Mỹ an tâm là Trung Quốc không thể chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc. Trung Quốc muốn chiếm Đông Nam Á thì phải chiếm Việt Nam trước đã, phải đánh nhau với Liên Xô, Trung Quốc đánh với Liên Xô trên chiến trường Việt Nam năm 1979 qua vũ khí hai bên làm ra. Mục đích của Mỹ đã đạt nên Mỹ rút đi năm 1973. Chức Đế Quốc của Mỹ đứng nhất thế giới vẫn còn giữ được cho đến ngày nay Người Mỹ vốn thực tế và thẳng thắn nên chính họ là nước lên tiếng trước chúng ta, Việt Nam cần bắt lấy cơ hội này mà đa phương hóa vấn đề tranh chấp biển Đông; Một số quốc gia khác cũng đang lo ngại Trung Quốc, ít nhất cũng có chung 1 quan điểm với VN là phải giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.
                                Việt Nam phải dựa vào Mỹ, là nước có quyền lợi kinh tế bị đe dọa ở biển Đông, làm lá chắn cho mình; VN không nhất thiết phải đối đầu quân sự với TQ nhưng bằng ngoại giao và chính trị có thể ràng buộc TQ tuân thủ luật pháp quốc tế nếu không muôn trực tiếp đối đầu với Mỹ (Nên lưu ý có chiến tranh VN là bãi chiến trường!) VN nên mời gọi các công ty Mỹ hợp tác khai thác biển Đông vì Mỹ đã chính thức phản đối việc TQ gây áp lực lên các công ty của họ; Cái ông Đại Tướng Thanh nói là có toan tính của đảng trong đó; Có nhiều người không thích cộng sản, nhưng cộng sản có nhiều cái đúng hoàn toàn; Đó là chỉ có mình mới tự giải phóng cho mình được (đấu tranh giải phóng dân tộc) Độc lập và tự chủ (chiến tranh 1979 với TQ, Liên Xô muốn can thiệp nhưng VN chỉ muốn viện trợ vũ khí. Dẫu sao TQ nó cũng ở gần bên, có nhiều ràng buộc mà không phải ta bỏ là được, rồi giải pháp hòa bình thông qua quốc tế hóa là vẫn còn nguyên hi vọng. Phản ứng của Mỹ nó như một tín hiệu Mỹ muốn móc nối thôi. Việc đi nhờ quốc gia khác giải quyết vấn đề của ta là không thể. Trong khi Việt Nam cũng không theo chiến lược diều hâu nếu chưa quá nghiêm trọng. Phản ứng ở đây không phải là ai gan dạ hơn, can đảm hơn, nhưng ứng xử khéo léo sẽ quan trọng khi ta muốn quốc tế hóa nó. Không phải mấy cái đầu nóng là bảo vệ được chủ quyền, nhưng phát triển quan hệ mới với Hoa Kỳ, đó là một lựa chọn đúng đắn cho sự cân bằng, không phải là sự trông cậy, không phải hăm dọa Trung Quốc.
                                Người viết tin chắc rằng tướng Phùng Quang Thanh biết rất rõ tình hình đối đầu (với TQ) ngày càng gia tăng tại biển đông, không ai ngoài ông là một trong những người chịu nhiều áp lực nhất trước khi trả lời báo chí về vấn đề vô cùng nhạy cảm này.
                                Người lãnh đạo tài ba phải là người biết lèo lái con thuyền đi vòng qua những thác ghềnh, nhất là khi tránh con thác này thì buộc phải đụng con thác khác thì ta mới chọn con thác nào dễ vượt qua nhất. Nên nhớ rằng nếu có chiến tranh dù Mỹ hay TQ gây ra, VN vẫn là bãi chiến địa điêu tàn nhứt; Tuy HK đã nêu quan điểm về biển đông, nhưng ta cũng không nên tin tuyệt đối vào người đồng minh cũ này được vì đã có nhiều hành vi bất tín, không khéo để xảy ra chiến tranh tại biển đông thì chắc chắn dân ta lại rơi vào cảnh lầm than nghèo đói và chết chóc.
                                Chúng ta không nên ngồi đây mà ý kiến này nọ, mà hãy nên cùng nắm chặt tay nhau, cùng tạo thành một khối thống nhất, thì kẻ thù nào dù có muốn thôn tính biển đảo của ta cũng phải kiên dè. Tôi muốn nói hãy xóa bỏ hận thù mà nghĩ đến món nợ thù chung. Đụng vấn đề gì cũng thấy người Việt mình chia rẽ quá, chẳng ai chịu ai, ai cũng cho rằng chỉ có mình là đúng, là sáng suốt hơn người khác. Nhất là đang còn một bộ phận không nhỏ "tử thù", chống Cộng (tức cộng sản) đến cùng, nhưng lại không có “thần tượng”. Thần tượng như một người tài ba mà nước Mỹ kính nể, thế giới kính nể như Bác học Nguyễn Xuân Vinh mà cũng có người không ra gì chỉ trích cho mình chính mới là thần tượng, thật nhục vì NVHN không có lãnh tụ, chỉ có điều kiện duy nhứt là 2 triệu người đều là lãnh tụ hết! Nếu chúng ta đoàn kết dân tộc, trên dưới một lòng thì sẽ chẳng có kẻ thù nào giám xâm lăng. Vì vậy, để bảo vệ Tổ Quốc, không gì tốt hơn là phải có chính sách hoà hợp hoà giải dân tộc thực sự như cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt từng kêu gọi, trước khi bàn đến các giải pháp khác. Nhưng ác nghiệt thay Mỹ chưa muốn vi còn quá sớm, nhứt là còn thành phần “tử-thù” như tôi nêu ở trên, CIA sợ tạo ra cảnh tắm máu như hận thù vừa nói trên!
                                Ai đã tìm hiểu về lịch sử Việt Nam thì sẽ hiểu, hợp tác với tất cả các nước trến thế giới là một điều quan trọng, việc này làm cho chúng ta hoc hỏi được nhiều hơn trên mọi lĩnh vực. Bắt tay với Hoa Kỳ, hay với Trung Quốc đều có lợi cả, những cũng không tránh khỏi việc các nước này lợi dụng trong một số vấn đề. Vì vậy cần phải cân nhắc trong từng trường hợp cụ thể. Hạn chế tối đa việc đối đầu trực diện, vì điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của dân tộc, nhưng mọi giải pháp đàm phàn không thành, thì chúng ta hãy cùng nhau hợp sức lại để chống lại bất kỳ sự xâm lược nào của kẻ thù, dù kể thù đó lại ai. Chúng ta hãy cùng đứng lên, không nên phân biệt Tư Bản hay Công Sản đã là người Việt Nam thì kẻ thù nào xâm lược đất nước thì đó là kẻ thù chung của toàn dân Việt Nam như vậy mới đúng nghĩa yêu nước, dân tộc. Nhân dân Việt Nam đến lúc đó sẽ tự lựa chọn ra người lãnh đạo của mình, quý vị cùng đừng nên nhìn vấn đề một chiều để đánh giá, hãy tự hỏi bản thân đã làm gì để nâng cáo hình ảnh Dân tộc, phát triển đất nước. Chừng nào hết trí tuệ rồi thì chúng ta mới dùng sức lực! Mà sức lực thì phải dựa vào dân, người viết tự cho mình là đại diện những người dân Việt Nam ủng hộ Việt Nam chống đối mạnh mẽ về việc xác định ranh giới tại Biển Đông! Dù một tất cũng không cho, mất một tất nước là một tất máu của đồng bào và chiến sĩ Việt Nam đã bỏ ra mà độ sâu là vô tận, Việt Nam đã chờ đợi sự lên tiếng của Mỹ. Bây giờ Mỹ đã lên tiếng ủng hộ VN, đây là cơ hội chung hợp tác với Mỹ để bảo vệ lãnh hải đảo. Tuy nhiên, cần khéo léo để tránh phật ý TQ. Có như vậy mới đạt được mục tiêu giữ vững chủ quyền của tổ quốc chúng ta. Việt Nam cần đoàn kết 82 triệu người như một như các thời kỳ kháng chiến trước đây để đương đầu với lũ bành trướng phương bắc là kẻ thù truyền kiếp của đất nước ta.


                                Queenbee-One
                                Last edited by Phòng Trực; 09-21-2012, 07:50 AM.

                                Comment

                                Working...