Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #1

    Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020


    10 năm trong lộ đồ trù dập TQ (2010-2020): Đây là một đề tài khá thú vị nhưng cũng rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu 100 năm [1920-2020] của siêu sách lược Eurasia như thế nào, dĩ nhiên bài nầy sẽ truy cứu trở lại 90 năm về trước làm chứng liệu hậu quả cho 10 năm sau cùng. Người viết chấp nhận những ai muốn tra cứu hãy PM cho người viết trong ngôn từ lịch sự dù rằng quan điểm nhận thức chính trị có khác biệt theo trình độ: Dưới đây là kể lại những đoạn đường dài trải qua 90 năm để đối chứng hiện tại và tương lai ... kế sách đoạn đường đã đi qua để cho các vị nghiên cứu sẽ thấy rõ đoạn kết như thế nào, và tại sao Hoa Kỳ muốn nâng đỡ Ấn Độ vào ngôi vị thứ-2 thế Trung Quốc kết thúc Eurasia-1 để sang Eurasia-2 khởi đầu 2020?

    Cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger cũng úp mở lập lại những gì kiến trúc sư George F Kennan, người lý thuyết gia phụ tá cho W A Harriman, thiết kế lộ trình dẹp bỏ chủ nghĩa CS bắt đầu từ Soviet Union và kế tiếp là Trung Quốc. Như người Á đông ta khi muốn ăn những múi thơm ngon trong trái Sầu Riêng việc khó nhứt là tét vỏ {Soviet Union] Vị thế Liên Xô là nỗ lực chính trên trục đường tiến sát của xung kích Mỹ. Sự sụp đổ Soviet Union bị bắt nguồn từ Mỹ chơi trò tiên-lễ “on the strong-man side” biến Liên Xô thay vào vị trí của Mỹ là viện trợ cho các nước cò con CS để lần hồi đi đến chỗ ngã quỵ vì kinh tế lôi theo những biến cố thay đổi chính trị bằng TBT Mikhai-Gorbachov 56 tuổi chấm dứt trên 70 năm lá cờ CS búa liềm phải bỏ xuống để cho là cờ tượng trưng cho người dân Nga phất phới trên điện Kremlin. Chấm dứt cuộc chiến tranh theo đúng diễn-tiến lộ đồ của George Kennan vào mùa Noel 1991..Khởi đầu bằng phá vỡ bức tường Bá-Linh 1989, người thủ lãnh thế hệ-2 Skull and Bones vẫn yên lặng ẩn mình trong vị trí Phó TT George H W Bush để mưu cầu cho giai đoạn lật đổ Trung Quốc bằng sách lược của lý thuyết gia George F Kennan “Phải xây dựng một minh ước quân sự NATO” và hiện tại, tại Á Châu, Mỹ đang lập lại những gì George Kennan khuyên bảo, thế nên chúng ta thấy thêm Ấn Độ một nước ngang ngữa với TQ đứng hạng nhì đông dân số. “If the Soviet Union were not allowed to expand …it would soon to collapse. Mùa Noel 1991, Liên Sô chính thức tuyên bố chấm dứt chế độ CS hơn 70 năm: Liền tức thời các nước Cộng Hoà cực miền đông nam Liên Sô tách rời tự nguyện xin gia nhập LHQ có Estonia, Lithuania vào LHQ, ngày 17/91991.

    Ngày 2/3/1992 thêm Armenia, Kazakhstan, Republic of Modova, Turmenistan, Uzbekistan Ngày 31/7/1992 thêm Georgia (nước nầy và Mông Cổ là 2 nước được Mỹ cưng yêu nhứt, khi Nga chiếm Georgia, Bà Rice chính thức tuyên bố đuổi quân Nga phải về xứ ngay tức khắc, còn Mông Cổ, TT Bush-Con và Phó TT Biden khi qua TQ buộc phải qua Mông-Cổ để dằn mặt sự an nguy của TQ!
    Rồi đây Việt Nam sẽ dễ dàng tự nguyện nhờ LHQ can thiếp để hợp thức hoá nên dân chủ của Việt Nam với một lá cờ mới thay vào cờ đỏ sao vàng bằng cuộc thật sự tự do bầu phiếu Thế nên Kissinger mới lập lại và đoan chắc Trung Quốc đang lo sợ về việc bị Hoa Kỳ bao vây như Liên Sô trước đây, trong cuộc chiến tranh lạnh do chiến lược gia W A Harriman nhàu-nặn ra, và Kissinger kêu gọi hai nước phát triển một mối quan hệ hợp tác thay vì đối đầu với nhau, đó chẳng qua Kissinger biết trước đây là thế siêu chiến lược Eurasia và lần lần từng bước TQ phải tuân thủ những gì mà Hoa Kỳ qua Harriman đã ước tính như là một Gia Cát Lượng hoàn vũ. Nhà ngoại giao Mỹ nổi tiếng về những hoạt động ngoại giao “đi đêm” thời Chiến tranh Lạnh đã kêu gọi như thế hôm thứ 3 vừa qua trong lúc một số nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Washington đang lợi dụng vụ tranh chấp Biển Đông để lôi kéo các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và các quốc gia Đông Nam Á chống lại Bắc Kinh.
    Cũng trong ngày thứ ba, một bài viết cổ võ cho việc gây chiến với Việt Nam và Philippines đăng trên một tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tạo ra điều mà các nhà quan sát cho là “một động lượng xấu xí” (ugly momentum) ở Biển Đông. Dưới đây người viết trình bày vài chi tiết mà Hoa Kỳ đang kỳ vọng về Á Châu sau đây: Trong thời gian gần đây ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc nhận định rằng Hoa Kỳ đang lợi dụng vụ tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á ở Biển Đông. Nhưng theo như người viết thì khác hẳn, đây là những biến cố do Mỹ áp đặt theo lộ-đồ Eagle Pull 1975 và Roll-back 2010 do Bộ Ngoại giao và Quốc phòng cùng xác định một mục tiêu Hoa Kỳ phải trở lại Á Châu, TBD đúng vào mốc thời gian (decent interval). Và TQ đang buộc tạo ra căng thẳng càng tăng thêm sự lo ngại của Nhật Bản, Ấn Độ và Australia đối với sự phát triển sức mạnh trên biển của Trung Quốc để lôi kéo các nước này vào một trận tuyến chống Bắc Kinh. Dĩ nhiên vì thời thế buộc phải sinh nở ra một Liên Minh Quân Sự mới như trong thiết kế của George Kennan. Những nhận định đó đã được đưa ra mặc dù giới hữu trách ở Washington nhiều lần tỏ ý hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc và hy vọng rằng một nước Trung Quốc thịnh vượng và hùng cường hơn sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu như sức nóng tăng dần của bầu khí quyển, bệnh hoạn khác thường sinh ra do vận tốc bộc phát triển của con người, thiên tai, nhu cầu tài nguyên bị cạn dần, nhân mãn đói khát phải giải quyết … Hoa Kỳ muốn TQ phải dùng khoa học kỹ thuật cùng giúp đỡ môi sinh cho con người và ngừng ngay việc tạo ra sự thắm nước biển vào đồng bằng Sông Cửu Long có thể đe doạ môi trường sống của nhân loại…

    Cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger thừa nhận rằng Trung Quốc đang lo ngại về việc bị Hoa Kỳ bao vây như Liên Sô trước đây. Ông phát biểu như sau tại một cuộc hội thảo ở Washington hôm thứ ba vừa qua (27-09-2011). Theo như người viết sự lo ngại nầy là nhậy bén và có lý căn cứ theo dĩ vãng đã chứng minh
    Ông nói" "Vấn đề khó khăn thật sự và thách thức thật sự là ứng phó với điều mà tôi cho là hai sự sợ hãi mâu thuẫn nhau. Trung Quốc lo sợ hay lo ngại về việc bị Hoa Kỳ bao vây. Họ e rằng chúng ta sẽ đối phó với họ như Liên Sô trước đây. Họ lo sợ như vậy vì từ trước tới nay lúc nào cơn ác mộng chiến lược của Trung Quốc cũng là các nước láng giềng của họ có thể đoàn kết lại với nhau để giành ưu thế. Và chính sách ngoại giao của Trung Quốc từ trước đến nay là tìm mọi cách để chia rẽ các nước láng giềng. Trong khi đó, mối quan tâm của Hoa Kỳ là làm thế nào để không xảy ra tình trạng một nước làm bá chủ toàn bộ châu Á, một tình trạng đã dẫn tới thế chiến thứ hai." Nhà ngoại giao Mỹ Kissinger nổi tiếng về những hoạt động ngoại giao “đi đêm” thời chiến tranh Lạnh cho rằng nếu Hoa Kỳ và Trung Quốc có mối quan hệ đối địch, hai mối lo sợ đó sẽ đụng độ với nhau, mang lại những hậu quả vô cùng tai hại cho cả thế giới. Kissinger cũng bác bỏ nhận định cho rằng Trung Quốc là một nước đang lên, chưa chắc vì bị Mỹ kèm kẹp còn hơn Liên Sô ngày xưa; Mỹ chưa bao giờ dùng chiến tranh khí tượng với Trung Quốc, nhưng đã dùng với Liên Sô, Cuba và Việt Nam đến nỗi đồng bằng Sông Cửu Long Cá và trứng đều chết vào những năm đầu thống nhứt, Hom Mì và dây khoai Lang đều bị cháy khô, Cuba nước chuyên môn trồng Miá làm đường phải bị bỏ đất hoang, Liên Sô lúa Mì bị úng thối vì freezing bởi vũ khí khí tượng (Weather Weaponry quá bí mật không thể phát hiện).

    Ông nói: "Hầu hết sách vở ở Mỹ đều mô tả Trung Quốc hiện nay như một nước đang lên. Không có người Trung Quốc nào nghĩ rằng Trung Quốc là một nước đang lên. Trong 18 của 20 thế kỷ qua, trong 18 thế kỷ đó, Trung Quốc là nước hùng mạnh nhất thế giới. Nhưng rồi một sự bất thường đã xảy ra trong tâm thái và kinh nghiệm của Trung Quốc trong thế kỷ 19 và trong phần đầu của thế 20, khi Trung Quốc không bắt kịp cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành một nước tương đối yếu. Nhưng trong đầu óc của người Trung Quốc họ không nghĩ rằng họ đang trỗi dậy. Người Trung Quốc nghĩ rằng họ đang lấy lại vị thế lịch sử của mình và họ đang trở về với vị trí của mình. Ông Miles Yu, giáo sư môn quân sử của Trường Võ bị Hải quân Hoa Kỳ, cho rằng tuy giới hữu trách Bắc Kinh không ngớt trấn an thế giới về chủ trương phát triển trong hòa bình, nhưng những lời lẽ về sự quật khởi của Trung Quốc làm cho các lân bang của Trung Quốc cảm thấy lo ngại.
    Ông cho biết: "Trung Quốc đang dốc sức để quật khởi. Nói một cách khác, giờ đây Trung Quốc tin rằng đã tới lúc Trung Quốc trở thành cường quốc bá chủ thế giới. Trung Quốc chưa bao giờ né tránh hay ngại ngùng khi nói như vậy. Quí vị đã nghe cụm từ 'thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc'. Và mọi người dân bình thường ở Trung Quốc đều nói một cách tự nhiên như vậy. Nhưng đối với người viết đứng ở bên ngoài, đặc biệt là những người của một nước láng giềng, tuyên bố này thật là đáng sợ vì không ai biết rõ ý nghĩa cụ thể của điều này" Nhưng đối với George H W Bush-Cha thì Trung Quốc buộc phải co rút để nắm giữ nội tình đồng thời ngoan ngoãn nghe theo Mỹ để không bị chia năm xẻ bẩy và triệt để tuân thủ những điều khoản COC do LHQ ấn định. Sự lo ngại này đã gia tăng trong mấy ngày qua, sau khi tờ Hoàn Cầu Thời Báo ở Trung Quốc cho đăng một bài viết hô hào cho việc tấn công Việt Nam và Philippines để đạt mục tiêu gọi là “dĩ chiến chỉ chiến”. Bài viết của tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nói rằng Biển Đông là nơi tốt nhất để Trung Quốc tiến hành chiến tranh vì “trong số hơn 1000 giàn khoan dầu ở đó, không có cái nào là của Trung Quốc; 4 phi trường ở quần đảo Trường Sa, không có cái nào là của Trung Quốc; một khi chiến tranh xảy ra mọi thứ sẽ bị thiêu rụi. Ai sẽ thiệt hại nhiều nhất khi các đại công ty dầu khí Tây phương rút đi?” Điều nầy Bush-Con đả biết trước, nên trước khi rời toà Bạch Ốc, Bush-Con đã chính thức mời 2 nguyên thủ Việt Nam và Phi Luật Tân với những lời vàng ngọc nhắn nhủ đừng sợ ma bắt.
    Trong khi đó, một số các nhà nghiên cứu an ninh quốc tế đã lên tiếng kêu gọi thiết lập một diễn đàn để ngăn chận điều mà họ cho là một cuộc chạy đua vũ trang ở Á châu trong bối cảnh Trung Quốc nhanh chóng tăng cường sức mạnh quân sự của mình. Phát biểu tại một cuộc hội thảo hôm 29 tháng 9 ở Hồng Kông về chính sách an ninh quốc tế vùng Nam và Đông Nam Á, tướng hồi hưu Klaus Olshausen của Đức nói rằng sự tăng cường sức mạnh quân sự của các nước trong khu vực đang gây ra nhiều nỗi bất an. Những biến cố nầy, người viết nhắc lại George H W Bush đang tái diển cái màn trước khi trù dập Liên Sô vào năm 1980 đến 1990 (đem so sánh nó từa tựa như 2010 đến 2020) mối căng thẳng quân sự với Liên Sô qua âm mưu ngầm với Iran, Afghanistan, và Iraq sóng ngầm sôi sục như hiện nay tại Biển Đông trước khi tình báo Mỹ làm sụp đổ Liên Sô tan từng mảnh năm 1991 tạo ra ngay tức khắc tám nước Cộng Hoà: như Caucasua và Transcaspia, sau đó tiếp nối Khanates, Circassian thuộc vùng núi … theo đúng diễn tiến lộ đồ Eurasia 1920-2020. Người ta cho rằng Chúa đang nói với Bush-Cha: “Con đã tạo dựng Neoimperialists like Paul Wolfowitz and Richard Perle. Thế là vùng dầu mỏ nầy do Mỹ kiểm soát gồm Caucasian và Transcaspian bởi sự mời mọc Tối Huệ Quốc [The US Freedom Support Act] làm cho mực sống người dân của 8 nước Cộng Hoà sung túc hơn người dân tại Moscov. “Trung Quốc nên nhìn lại dĩ vãng để không bị lầm lỡ trong tương lai ”Olshausen nói tiếp: "Nếu chúng ta nhìn vào tỉ lệ của chi tiêu quân sự đối với tổng sản lượng quốc nội của mỗi nước ở Á châu, chúng ta không thể nói rằng một cuộc chạy đua vũ trang đang diễn ra. Tỉ lệ chi tiêu quốc phòng của tất cả hoặc đại đa số các nước Á châu trong năm 2010 đều tương đương hoặc thấp hơn tỉ lệ của những năm 2000 và 2001. Tuy nhiên, có một điều hiển nhiên là những hành động nhằm nâng cao khả năng quân sự trong những năm gần đây đã khiến cho các nước trong khu vực, Hoa Kỳ và các nước khác cảm thấy khó hiểu, lo lắng và bất an".

    Ông Trương Bạc Hối, giáo sư chính trị học của Đại học Lĩnh Nam ở Hồng Kông, tán thành những nỗ lực để giảm thiểu mối rủi ro xung đột quân sự. Nhưng ông nói thêm rằng Trung Quốc có trách nhiệm đi tiên phong trong nỗ lực này.

    Ông cho biết: "Sự trỗi dậy của Trung Quốc rốt cuộc sẽ làm cho nhiều nước trong khu vực phải tính toán tới trường hợp xấu nhất. Bởi vì không một nước nào có thể hoàn toàn tin tưởng vào những tuyên bố của một nước khác về những ý đồ trong lãnh vực quân sự của họ. Vì vậy, tôi cho rằng cách giải quyết rốt ráo là Trung Quốc phải tự mình thực hiện sự khắc chế về chiến lược, phải hạn chế việc phát triển khả năng tấn công những mục tiêu ở xa. "Các chuyên gia quốc phòng cho biết trong 10 năm qua Trung Quốc đã chi tiêu hơn 150 tỉ đô la cho các trang thiết bị quân sự và chi tiêu quốc phòng của họ đã gia tăng với tốc độ hai con số mỗi năm. Các nước khác ở Á châu như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Australia, Việt Nam và Ấn Độ cũng đã dành ra những ngân khoản lớn để trang bị tàu ngầm và các loại vũ khí khác. Biến cố do Mỹ nhàu nặn ra cũng không khác gì việc làm ăn chính trị phải có cho sự lặp lại như hồi 1980-1990 và hiện tại 2010-2020. Vì lịch sử là sự tái diễn không ngừng.

    còn tiếp
    Last edited by Phòng Trực; 09-21-2012, 07:54 PM.
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #2
    Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020


    Trước khi đi vào nội dung, hãy kiên nhẫn NÊN TÌM HIỄU TIỂU-SỮ NHÂN VẬT W-A-HARRIMAN (1891-1986) Đại đế giấu mặt của Triều đại thứ-1 Skull and Bones. Sở dĩ Harriman dùng danh từ Đảng Sọ Xương người là vì đường lối và sách lược: “Không bao giờ có người bạn lâu đời, cũng như không bao giờ có kẻ thù truyền kiếp, vì quyền lợi “America first”, quyền lợi, chỉ quyền lợi mới xác định thế liên minh, thế nên đi với Bụt mặc áo Cà sa, vì ở đây phải đi với Ma nên mặc áo giây, xin thông cảm nick name “Skull and Bones! Gentlemen …!

    - Về cuốn sách “Aid to Russia”: Harriman vừa tốt nghiệp Yale với 27 tuổi đời đã trở nên một nhà triệu phú nhờ tài sản kết-xù của người cha để lại và là một thiên tài xuất chúng, một chiến lược gia có tầm cỡ hoàn vũ không như Gia Cát Lượng chỉ hạn hẹp trong đất nước Trung Hoa. Lợi dụng trong thời buổi chiến tranh 1917, Harriman báo động chính quyền phải phát triển hạm đội thương thuyền trong thế mạnh mục đích giao thương với Âu Châu mà nước Đức là mục tiêu chính. Ông dám đi thẳng vào cuộc chiến tư tưởng hệ với Karl Marx (1818-1883) và Lenin (1870-1924) Nhưng đối với Harriman thì biến đổi giai cấp “công-nông” thành giai cấp “sản-xuất” [human resources] làm ra của cải cho xã hội. Năm 1917 dựa vào thời kỳ chiến tranh, thiên-tài 27 tuổi nầy áp lực chính quyền phải ký hợp đồng thành lập Hạm đội thương thuyền lớn nhứt thế giới, đồng thời thuyết phục chính quyền tạo điều kiện giúp đỡ cách mạng Liên Xô qua Aleksandr Kerensky số tiền cho vay là $325 triệu để sản xuất chiến cụ tự vệ, nhưng nguyên vật liệu phải được xuất cảng từ Mỹ. Làm sao cách mạng LX tránh được ‘cái-bẫy’ đầy hấp dẫn như vũ khí tự vệ kinh qua quá trình bị đế-quốc xâm lược: Thành Cát Tư Hãn, Napoleon, và Ðức quốc Xã {Ðây cũng là chước: đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, nhưng đối với tầm nhìn bao quát của Harriman là nắm ngay nhân-lực [giai cấp sản xuất vũ-khí] khi Cách mạng Nga mới vừa chớm nở).

    Năm 1920, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có mỏ Manganese và dầu hỏa. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng Sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn tư bản gây ra nhiều tội ác bóc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rõ ràng bọn Bolsevik vẫn cần dollar và kỹ thuật Tây Âu để sống còn. Ðặt văn phòng tại Bá-linh, Harriman dám cùng chung với công ty Ðức và chính quyền LX tạo nên Công-ty Hỗn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ. Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể. Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà Liên Xô không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường tình báo.

    Ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tính dụng $1 triệu dollar đặt cọc và điều động J.Speed Elliot, Phó giám đốc Công-ty Harriman and Company qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolshevik do trùm mật vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký [vì thế chiến lược toàn cầu, tình-báo quân-đội Mỹ OSS được lệnh kết thân với KGB] Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn đạm của War Industries Board. Thế là “Kế hoạch Eurasia” đã lồng vào ống kính của Harriman về những nước Cộng hòa phía cực Ðông nam của LX sẽ rơi vào tay của Mỹ sau nầy với vô vàn tài nguyên nằm sâu dưới lớp tuyết mà LX chưa đủ kỹ thuật để khai thác.

    Năm 1941 Harriman giúp đỡ Hitler qua công ty hỗn hợp Hamburg-Amerika, tờ báo New-york Herald Tribune đăng trang 1 “Hitler’s angel has $3 million in US bank”. Tại sao Harriman chơi với kẻ thù!? Chủ trương bá-đạo của Harriman là không có người bạn lâu đời cũng như kẻ thù truyền kiếp, quyền lợi trên hết, quyền lợi xác định thế liên minh! Chơi với ma-quỷ thì phải lấy cái đảng hội “Skull and Bones” làm vũ khí, Vì đi với Bụt thì mặc áo Cà-sa, nhưng ở đây đi với Ma thì mặc áo giấy! Gentlemen thông cảm!

    -Sách “Peace with Russia” của Harriman, 1959: Chủ nợ thường thường nói gì con nợ nghe nấy. Nhưng làm sao khuyến dụ LX nhảy vào trò chơi chiến tranh “Mặt Trận Giải Phóng” [National Liberation Front] để chống lại với “Kế hoạch Chống Nổi Dậy” [Counter Insurgency Plan] Thế giới làm sao quên được là năm 1957, Liên bang Xô viết từng đề nghị 2 chính phủ đương đại của VN cùng được gia nhập LHQ, không kể là Trung Quốc cũng thích sự hiện hữu của 2 nước VN. Thật đã rõ là ngoài 2 phe VN, các thành phần tham gia hội nghị Genève-1954 đều thiên về cách giảm thiểu nguy cơ đụng độ toàn cầu; Sau khi chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Cụ Hồ không muốn gây thêm chiến tranh cho người dân lầm than, vì quá nhiều khó khăn tàn phá, cầu cống sụp đổ tan hoang, hạn hán, bão lụt mất mùa, thêm vào cách mạng ruộng đất bị thất bại làm nhân dân Nghệ-An nổi dậy chống đối. Trong bối cảnh nầy, Cụ Hồ quyết định qua bút tích “Miền Nam độc lập, trung lập và giàu mạnh” có nghĩa là không đụng đến miền nam, với mong mỏi Miền Nam sẽ phồn vinh chỉ có đứng sau Nhựt và sẽ “hiệp thương sau đó, Cụ Hồ ra lệnh rút 100.000 quân về Bắc, thế nên Miền Nam được hưởng một sự thanh bình tuyệt đối từ 1954 đến 1959, (Stanley Karnow “VN Viking, New York, 1983, page 225).

    Harriman vô cùng bấn loạn với số vũ khí thặng dư còn quá nhiều, dù chiến tranh Triều Tiên và Lính Pháp đã xử dụng trong 8 năm nhưng vẫn còn tồn kho, theo sự thiết kế của nhóm tham mưu dân sự George Kennan, phải xử dụng cho đến cuối 1968 [Tết Mậu-Thân] mới hết, cho nên khi phía CSBV dùng AK.47 nhưng VNCH vẫn dùng Garant M.1 bắn từng viên một. Vì Harriman đã có ý đồ trong thời gian thế chiến-2, [trong kế hoạch Aid to Russia 1941-1946 Plan] đang là đại sứ Mỹ tại Liên Xô (1943-46), Harriman cũng thúc dục công nhân LX sản xuất vũ khí cứ tha hồ mà cho ra hàng loạt như T-34, -54 chẳng hạn sẽ có chổ tiêu thụ sau nầy. Ðó cũng là ỷ vào vị thế chủ nợ nên buộc LX phải tham dự trò chơi chiến tranh CIP và NLF với điều kiện dễ-dãi là không cần quân LX tham chiến như tại Triều tiên cũng như VN mà chỉ có lợi ích duy nhứt là công nhân LX có việc làm ăn như sản xuất vũ khí trong khi dư thừa nhân lực cần có công ăn việc làm sau thế chiến. Harriman đả tước quyền làm chủ của Chủ hãng xưởng tại LX, nói về business Costumer mới là người nuôi công nhân, người chủ làm gì có tiền để trả!?!?

    Nói theo lời mộc-mạc của dân Miền-Nam, thế thì ông William Averell Harriman là ai mà “thấy ghê” vậy? Là người của giai-cấp thống lãnh nước Mỹ, người đặt đẻ ra chính sách, đường lối chủ trương sách-lược của Mỹ, mà ông là tiêu-biểu (Tôi xin lập lại một lần nữa, trong tác phẩm nầy, một đoạn của bình luận gia danh tiếng Gore-Vidal…”Tất cả mọi kế hoạch hay chương trình được đưa ra, trên hình thức coi như là chính sách Quốc-Gia, nhưng trong thực tế là để phục vụ quyền lợi của giới Đại-Tư-Bản, American First”).

    Harriman đã từng áp lực Tổng-Thống Truman phải triệu hồi và giải nhiệm Đại-Tướng Mac Arthur liền tức khắc; Dĩ nhiên, TT Truman phải ít nhiều do dự rồi cũng phải giải nhiệm một Tướng tài ba mà nhân dân Mỹ yêu thương cũng như các nước ở dọc Thái Bình Dương quý mến, khi thấy Arthur đại diện Hoa Kỳ cùng ký hiệp định Nhựt đầu hàng. Tại sao? Theo sách lược Eurasia, thế kỷ 20 bạo hành thế kỷ 21 hòa giải trên bàn mổ LHQ buộc tạo thành trật tự thế giới mà Harriman cho là New World, vì thế phải cách chức tướng Mc Arthur để đưa TQ vào LHQ, còn tại chiến trường VN phải cách chức tướng Westmoreland để thống nhứt VN cho quyền lợi Mỹ đúng 3 thập niên chiến tranh để tiêu dùng và thí nghiệm vũ khí, rồi mới cho phép VN độc lập thống nhứt, nhắc lại lời hứa độc nhứt của Hoa Kỳ khi không chịu ký chia đôi VN. Thế nên CIA phải tài trợ đảng Việt Tân, Vỏ Văn Ái tại Pháp, và nhiều thành phần trí thức đánh bóng ngày 30/4 là ngày Quốc khánh VN được thống nhứt qua chiến dịch HCM là người QUỐC-GIA đã giành lại độc lập từ tay ngoại bang. Permanent Government đã phải dùng một TNS tù binh bị Hà Nội hành hạ độc ác nhứt, đến nỗi Mc Cain đã 2 lần toan tự sát nhưng bất thành, để nói lên sự thật: (trích một đoạn trong sách “The New Legion” Vinh Trương) The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent Government, was explained the Vietnam-War in universities 1960: “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était “un nationaliste” qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” Once McCain came back at Hoa-Lo “Hilton Prison, he said “The bad guys won the war!”.

    Harriman lý giải cho rằng cuộc đổ quân Mỹ trên bờ biển Inchon, Triều Tiên thành công là do Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự George Kennan của ông thiết kế chớ không phải do tài của các tướng-tá, cũng như ông muốn Võ Nguyên Giáp trở nên nổi tiếng vì nhu cầu chiến lược cuộc chiến VN như một công cụ gián tiếp cho quyền lợi Mỹ, vì thế sau khi bi oanh tạc 11 ngày đêm Hà Nội tuyên bố đầu hàng Mỹ đâu có chịu vì theo lịch trình Hà Nội được chỉ định “Chiến thắng Ðiện Biên Phủ dưới đất và trên không 1954 và 1972” chứ sự thật Giáp thiếu căn bản quân sự, điều dễ hiểu: chả lẽ tất cả sĩ quan BV đều là thiên tài hết? Trong khi không tốt nghiệp một trường ốc đại học quân sự nào?

    Đứng trên phương diện quân-sự thuần túy, bỏ qua chính-lược, ngay đến những người lính Hải-Quân bình thường cũng không dám chọn Inchon làm bãi đổ quân; Vì nơi đây toàn là San-hô và đá ngầm, tàu đổ bộ chỉ có đi vào mà không đi ra vì San-hô và đá ngầm sẽ đánh, cắt thủng và chìm tàu; Với tư-tưởng và góc nhìn của con mắt Đại Tư-Bản, Harriman cần đổ quân an-toàn và lấy yếu tố bất ngờ mà địch quân không thể tưởng-tượng được để bảo vệ 100% cho sinh mạng các Binh-sĩ và nơi đây cũng là cái ‘thùng rác’ để hủy bỏ các tàu nầy, vì quân đội Mỹ sẽ phải trang bị trong tương-lai loại tàu tối tân hơn. Còn hành quân LS 719 phải tiêu hủy nhiều trực thăng với gần 800 khẩu phòng không cổ điển, cả hai đều phải hủy bỏ tại thùng rác lộ thiên nầy bắng tính dụng của Mỹ cho kế hoạch “Aid to Russia 1941-1946 Plan renewed” dĩ nhiên phải chấp nhận sự hy sinh nhiều đoàn viên phi hành Army Aviation cho cuộc chiến vì America First.

    Cuộc đổ quân tại Inchon cũng không khác gì cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy, chỉ khác ở chỗ là, Inchon bảo vệ sinh mạng con người Mỹ, còn Lam Sơn 719 tiêu diệt con người bản xứ được gọi là Cộng Sản/Quốc Gia.. Duy có một điều giống nhau là, Tư-Bản sản xuất ra các loại vũ-khí mới và hủy bỏ những chiến cụ lỗi thời tại nơi hành-quân và có sự cấu kết, đồng lõa của Liên-Xô cùng phế thải tại vùng núi-non hiểm-trở đó, những chiến cụ dư thừa, lỗi thời từ Thế chiến thứ 2. Trước khi từ giã chính trường, Harriman lại áp-lực Hành-Pháp cách chức Tướng Westmoreland và triệu hồi về Mỹ giống như Tướng Mac Arthur; Lý do đã công khai xác nhận trong một buổi họp ở Thượng-Viện. “Lực-lượng Đồng-Minh nên đánh qua Nam-Lào, để cắt đứt đường “Xa lộ Harriman” [mòn Hồ] phá tất cả ống dẫn dầu và hệ thống tồn trữ vũ-khí của CS” Cũng như Tướng háo thắng Mac Arthur, ngày 5/April/1951 gởi thơ cho Dân-Biểu Joseph Martin, lãnh-đạo dân tộc thiểu số; Xin được phong tỏa dọc bờ biển Trung-Quốc và tấn công những Căn-Cứ ở Mãn-Châu (Manchuria) có sự hiệp lực với Quân-Đội Trung-Hoa Quốc-Gia ở Đài-Loan; Vì trước đó Tướng Arthur có xin phép TT Truman để đánh Trung-Quốc dựa vào độc quyền Bom nguyên-tử, nhưng TT Truman bị sức ép của W A Harriman nên từ chối cho là quá nguy-hiểm, (Dĩ nhiên tướng Arthur làm sao hiểu nổi Harriman muốn đặt TQ vào ngồi chiếc ghế hội-viên LHQ, nên phải bỏ rơi THQG và VNCH, đem Hạm đội 7 vào gần Đài Loan là chận Mao làm ẩu chiếm Đ.L chớ không phải làm thịt Mao) Tướng Arthur lại qua mặt TT Truman bằng cách viết thư cho Toà Lập-Pháp với mong muốn Quốc-Hội sẽ chấp thuận. Kết cuộc, Tướng Mac Arthur bị giải nhiệm vì lý do mà TT Truman cho rằng: “không được quyền phát ngôn về chính sách Quốc-Gia” (Unauthorized Policy Statements) giấy chứng-từ giải nhiệm Tướng Arthur do đích thân Harriman soạn thảo văn thư để cho TT Truman ký khán.

    Tưởng cũng nên biết qua tiểu-sử của W.A.Harriman: Ông sanh vào ngày 15/Nov/1891 tại New-York. Là một chính khách gây nhiều ảnh-hưởng lôi cuốn người khác theo mình, là một Cố-vấn lỗi-lạc, kiệt xuất trong ngành ngoại-giao và đặc biệt là thủ-phạm số ‘Một’ trong mưu đồ giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa Việt-Nam. Tốt nghiệp Đại-học Yale 1913, ông hưởng một gia tài kếch xù của người cha là E.H.Harriman, người có nhiều thế lực trong ngành Hỏa-Xa, năm 1916 cai quản thêm một xưởng đóng tàu. Từ năm 1917 đến năm 1925 là đầu nậu của một Công-ty thương thuyền, Harriman cai quản một đội thương thuyền lớn nhất Thế-giới. Ông mới thật sự là giai cấp Đại Tư-Bản, giai cấp thống lãnh nước Mỹ.

    Năm 1930, Harriman bỏ cuộc hưởng giàu sang ra chính trường để dấn thân bảo vệ quyền lợi cho giới Đại Tư-bản? Hay ông là người Ái-quốc dấn thân để bảo vệ Tổ-Quốc khỏi rơi vào tay Chủ Nghĩa Cộng-Sản? Cả 2 trên đều đúng, bằng chứng, tới giờ nầy nước Mỹ vẫn là Đệ-Nhất Anh-hùng trong thiên hạ; Thoạt đầu, ông phục vụ trong ngành Hành-Pháp của Tổng-Thống Franklin Roosevelt với chức vụ rất khiêm nhường trong Bộ phục hồi Quốc-Gia (National Recovery Administration) Cố-vấn Hội-đồng thương mãi kiêm quản-lý sản-xuất, kiêm ngành vật-liệu thô (raw materials) Sau một thời gian học hỏi lấy đà, Harriman được Roosevelt chọn làm sứ-thần đặc-biệt, phối hợp trung gian hợp-đồng mua bán giữa Liên-Xô và Anh-Quốc (1941-1943) và năm 1943 ông muốn được bổ nhiệm làm Đại-Sứ tại Moscow cho sách lược chia đôi hai quốc-gia Đức, Triều Tiên và Việt Nam được trôi chảy theo đúng trục lộ trình do nhóm tham mưu của Harriman thiết kế.

    Trong suốt thời gian làm Đại-Sứ 1943-1946, Harriman được người Nga kính mến vì đã đem rất nhiều phúc lợi cho họ, mục tiêu của Harriman là nhắm vào giai cấp sản xuất [công nông] của Liên Xô, tại sao chủ nghĩa Cộng sản đối xử con người như Bầy-Ong, Bầy Kiến? Harriman tin vào chế độ dân chủ, bởi vì dân chủ đã mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người, hảy xây dựng thế giới thành nơi an toàn cho nền dân chủ! Ngược lại, Harriman cũng không muốn người Nga và Âu-Châu sẽ đổ máu vì chiến tranh cứ liên tục xảy ra trên Lục-địa văn minh nầy; cũng như theo ông đang xảy ra Đại chiến-2 và từ đó trong tâm ông đã nẩy ra tư-tưởng đổi vùng bạo-loạn hay nói trắng ra là “đổi màu da trên xác chết” được gọi là hoạ da vàng, mà mãi đến sau nầy (năm 1964) Giáo Sư Francois Xavier Winters mới cho rằng cuộc chiến Việt-Nam là một cuộc chiến thế mạng (surrogate) “một cuộc tế thần, lấy da Vàng thế vào chỗ da Trắng!” được thể hiện qua tình cảm với một nước [Nga] bị nhiều lần ngoại bang xâm chiếm (Pháp, Đức, Nguyên-Mông) Harriman là tác giả của hai Tác-phẩm: Peace with Russia (1959) và American and Russia in a Changing World (1971) Đọc xong 2 cuốn nầy, và phối kiểm với ROE (Rules Of Engagement) trong cuộc chiến VN, người ta có cảm tưởng Ông như một người ‘Nga-kiều’ yêu nước, nhưng thật sự không phải vậy mà ông muốn cải biến chế độ Cộng Sản thành Siêu Cộng Sản toàn vẹn như nước Mỹ sau nầy, và chỉ có Liên Xô trong ngôi vị số-2 cho mục tiêu giải trừ hoạ Da-Vàng đang là nguy cơ hăm doạ nhân loại; LX là nạn nhân bị dân Tàu lấn đất giành dân ở cực đông nam LX. Đến thời Tổng-Thống Harry S Truman, Ông phục vụ với chức vụ Bộ-trưởng Thương-mại (1946-1948) Giám-đốc chương trình Marshall, tái thiết Âu-Châu (1948-1950) Người Đại diện của Hoa-kỳ trong Minh-Ước Bắc Đại Tây-Dương (NATO) và cũng là Ủy-viên nghiên cứu phòng thủ Tây-Âu (1951) Trong thời gian nầy, Harriman xử dụng William E Colby một nhân viên tầm thường của Tòa Đại-Sứ Hoa-Kỳ ở Stockholm và Rome để điều hành thuê mướn những dịch-vụ loại trừ phe Tả cũng như Cộng-Sản trong những nước Tây-Âu bằng công-cụ vô cùng hửu-hiệu là Mafia, thế nên Harriman rất có kinh-nghiệm khống-chế bộ máy Hành-Pháp của các vị Tổng-Thống nước Mỹ sau nầy. Nếu ta nhìn cho kỹ thì quả thật nước Mỹ lảnh đạo bằng một Ðảng siêu Mafia Skull and Bones, (Đả lâu lắm rồi, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter (1882 – 1965) đã dám nói trước khi chết) “Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.” tất cả đều tốt nghiệp từ lò luyện thép duy nhứt: Ðại học Yale và Harvard chỉ là công cụ chuyên viên cho Yale như 4 đời giòng họ Bush và Harriman.

    (CÒN TIẾP)
    Last edited by Phòng Trực; 08-30-2012, 02:05 PM.

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #3
      Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020


      Năm 1950, Khi chiến tranh Triều-Tiên bắt đầu, sáng lòe trong tâm tưởng của ông, đã đến lúc ông phải thực thi những gì mà ông hằng đeo đuổi. Harriman tức tốc bay về gặp TT Truman, xin ở ngay tại văn phòng điều hành (Executive Office Building) bên cạnh TT Truman như là một người phụ-tá về những dịch-vụ An-Ninh Quốc-Gia. Ông đề nghị TT Truman cho ông tháp tùng với Trung-Tướng Matthew Ridway đến Tokyo gặp Tướng Mc.Arthur, mục đích chuyến đi nầy là căn dặn Tướng MacArthur đừng có gây hấn với Trung-Quốc cũng như xúi bẩy Đài-Loan ăn phần vào và Ông cũng bảo-đảm cho Mc Arthur đổ bộ vào Inchon mà không sợ bị Liên-Xô can thiệp vì Liên Xô là bầu-bạn gắn bó ngầm với Mỹ qua tiền viện trợ giúp-đỡ tính dụng của công ty Harriman Co. Aid to Russia 1941-1946 Plan.

      Quả thật sự hoài nghi của Harriman thành sự thật, nên ông buộc lòng phải ép TT Truman giải nhiệm cả hai ông, Bộ-Trưởng Quốc-Phòng Louis.A.Johnson và Tướng McArthur; Harriman đề nghị vị Tướng tay chân của ông lên thay thế Bộ-Trưởng Quốc-Phòng là Tướng Bộ-Binh, George C. Marshall. Harriman thay mặt cả Truman soạn thảo công lệnh, Tướng-lãnh không được tuyên bố vung-vít về Sách-lược Quốc-Gia nữa, rút ra từ sự giải nhiệm Tướng Arthur; Trong năm nầy (1950) Ông tuyển chọn những tài hoa kiệt xuất của Hoa-Kỳ vào làm việc tại một Viện Nghiên-Cứu đặc biệt mà phần trên tôi có giải thích chưa rõ đó là Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự của lý thuyết gia George Kennan, gồm nhiều học giả nghiên cứu khác nhau và đây là ‘những hoàn-ngọc ẩn của nước Mỹ được hoàn toàn dấu kín cho cơ mật quốc gia.

      Một học giả sáng chói trong Nhóm nghiên cứu nầy cho biết: Chắc-chắn sẽ xảy ra cuộc chiến tranh nguyên-tử ở Âu-Châu, hậu quả sẽ tàn phá Bắc bán-cầu, bao gồm Âu-Châu, Mỹ, Canada. Học-giả nầy đề nghị nên đổi trục chiến tranh qua Á-Châu và cũng để giải tỏa sự thăng bằng nạn nhân mãn cho thế-giới “Họa Da Vàng,” Đó là nguyên nhân thãm trạng chiến tranh Việt Nam phải xảy thay vì theo trào lưu tiến hoá của phong trào giải trừ chế độ thực dân (decolonalism) mà hơn 60 nước trên thế giới đã tìm sự độc lập cho dân tộc mình trước 1960. Thế thì xuất phát tại nơi nào ở Châu-Á: Theo nhận thức của giáo-sư Sử-Điạ, George Kennan: Tất cả những loài động vật trên trái đất đều có khởi nguyên của nó, có đường Hưu-Nai chạy, loài Kiến biết trước trời giông bão, cũng có đường bầy Voi qua lại (La Piste des Elephants) cho đến hang động sau cùng gởi nắm xương tàn của chúng, vì chúng có linh-tính biết trước ngày chết. Còn loài người thì có con đường gây ra bạo hành do cơ trời “thiên-hạ đại loạn” Từ Đại-Đế La-Mã, đến Nã-Phá-Luân, đến Hốt Tất-Liệt (Khoubilai) cho đến Đức-Quốc-Xã, Quân phiệt Nhựt…cái trục ‘bạo-loạn’ đó vẫn là từ Âu sang Á, sang Nga, Ba-Tư, Đông-Âu, Nam-Âu, Ai-Cập, tràn qua Thổ-Nhĩ-Kỳ (turkey) Iraq, Iran, Ấn-Độ…phía Đông Tân-Cương, Tây-Tạng, Nội-Mông, Mãn-Châu, Cao-Ly, bao trùm cả Trung-quốc nhưng khi đến Việt-Nam thì bị khựng lại; như quân Nguyên-Mông đã 3 lần dừng bước tại Việt Nam vì thua trận phải chạy về Xứ. Kết quả, Harriman chọn Triều Tiên làm “diện” phát khởi còn Việt Nam làm “điểm” tận cùng ở Á-Châu, là cái trục dứt điểm chuyển hướng từ bên trời Tây hướng về trời Đông, lấy Đông-Dương làm nơi chạm tuyến sau cùng (Jet-stream front).

      Giáo-sư Sử-địa, William A.Withington tại Đại-Học Kentucky thì cho rằng: qua Lịch-sử, người dân ở các nước Á-Châu, nhất là Vùng Đông Nam-Á không thích sự đô hộ của người da trắng, dù rằng chủ nghĩa thực dân không còn nữa, muốn lấy lòng họ nên để cho người cùng màu da hay may ra chế độ CS dầy xéo lên đất họ một thời gian lâu mau tùy trình độ dân trí giác ngộ. Theo như ý đồ của Harriman, nên dựa vào chiến thắng Điện-Biên-Phủ để tạo cho phe Cộng-Sản một uy tín rất cao đẹp, lần đầu tiên một Nhóm Du-kích Á-châu đã đánh bại một đạo quân của một cường quốc Âu-Châu, rồi trở thành mô hình gương mẫu cho các phong trào giải phóng dân tộc khác, gồm gần 60 Nước trên toàn thế giới, như ở Bắc-Phi, Nam-Dương, Phi-Luật-Tân, Mã-Lai, Phi-Châu, Trung Nam-Mỹ, và Trung-Đông..Phía Thế-Giới Tự-Do bị đẩy vào vị thế phòng thủ; Làm thế nào để phục hồi chính nghĩa, kéo họ về với Mỹ...? Sau một thời gian kinh qua thế sự, dù Hồ-Chí-Minh đã bị dụ-dỗ để trở thành Đồng-Minh của Mỹ cũng phải chờ thêm một thời gian trắc nghiệm coi cho được; Vì “Freedom is not for Free!” nên để Việt Nam phải trả một cái giá cho sự Tự do của Họ như tại đất nước Mỹ lịch sử đả chứng minh qua Concord. Dù rằng, theo tin từ tình báo Quân-Đội OSS, nhóm Hồ là một tổ-chức có kỷ-luật vững chắc, chấp nhận gian nguy chiến đấu chống Nhật và giúp Mỹ tìm cứu khi Phi-công bị nhảy dù xuống vùng của họ. Hành-Pháp Mỹ thời TT Truman bị Harriman ép buộc phải từ khước lời thỉnh cầu của Cụ Hồ, tháng 8 và 9 năm 1945 qua 8 bức thư xin Mỹ bảo đảm độc lập như Phi Luật Tân như bảo đảm Hiến pháp VN giống y chang như Mỹ, trong khi HCM đang kiểm soát Hà-Nội, và đặt hoàn toàn niềm tin tuyệt đối vào Mỹ.

      Hồ-Chí-Minh cầu khẩn qua trung gian của văn phòng “Cơ-quan Chiến-lược” Hoa-kỳ, đã gởi yêu cầu lên TT Truman xin cho Việt-Nam được hưởng quy chế như Phi-Luật-Tân để được bảo hộ trong thời gian giành độc-lập; Từ tháng 10/1945 cho đến tháng 2/1946, Hồ đã viết cho TT Truman ít nhất 8 văn-thư, chính thức kêu gọi Hoa-kỳ và Liên-Hiệp-Quốc can thiệp để ngăn chận chính sách thuộc địa của Pháp cho thích hợp theo trào lưu hiện tại, nhưng … cứ cho rằng nghiệp quả thiên định cho dân Việt như sách lược “vòng Kim-Cô” của Harriman áp đặt lên trên dầu dân tộc VN 30 năm theo thiết kế của Kennan 1945-1975 rồi mới được độc lập thống nhứt (một chứng liệu đả có trong thiết kế nho nhỏ do anh ThienLe: tài liệu của US Defense Supply Center Philadelphia (DSCP) thì C-ration used trong chiến tranh Việt Nam là phần thặng dư còn lại trong Đệ Nhị Thế Chiến (WWII).

      Tổng-Thống tiền nhiệm Franklin D. Roosevelt cũng được Harriam thuyết phục: “Hoa-Kỳ chủ-trương không để cho Pháp trở lại Đông-Dương và đề nghị đặt Việt-Nam dưới quyền quản-trị tạm thời của Liên-Hiệp-Quốc” Điều quan trọng ở đây là theo ý-đồ toan tính của Harriman, khi Liên-Xô và Trung-Quốc cùng nhau công nhận Hồ-Chí-Minh vào tháng 1/1950, thì cũng đúng vào lúc mà William Averell Harriman cảm thấy phải thật sự dấn thân nhảy vào chính-trường để bảo-đảm sự phồn vinh cho quyền lợi nước Mỹ [đây tôi muốn nói có phần nguồn dầu khí ở thềm lục địa VN qua sự phát hiện của Vệ-tinh tình báo spy satellite] Liền sau đó ông tuyển mộ những nhân tài học giả kiệt xuất để nghiên cứu giúp ông trong vấn đề chiến thắng ý-thức-hệ Cộng-Sản trong chiến tranh lạnh (Cold War) Harriman coi trọng Nhóm Học-Giả Dân-Sự nầy là bộ óc của nước Mỹ. Tôn chỉ, nên dùng một ‘đấu pháp’ tuy nhẹ nhàng với Liên-Xô nhưng phải chiến thắng đối thủ qua môn võ-thuật, dùng sức mạnh tối đa của địch để tạo thành sức mạnh của ta ‘trong cái thế bên kẻ mạnh’ (on strong-man side) mà chúng ta cần sẽ phải áp dụng tại Đông-Dương: Hãy tạm bỏ qua thuyết Domino cũa Eisenhower. Ðó là lý do sâu-xa mà Harriman không muốn Hoa-kỳ ký tên vào Hiệp định Genève-1954 chia 2 miền Nam và Bắc! Ranh mãnh trong vấn đề hiệp định Geneve nầy để vỗ ngực chỉ có Hoa Kỳ là muốn Việt Nam được thống nhứt cho thế chiến lược toàn cầu của Mỹ với thâm ý xô đẩy VN vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn cho mưu đồ quyền lợi của thế lực trong Hội Đồng Kỹ Nghệ quốc phòng. Nhưng rốt cuộc cũng vào quĩ đạo cũa Mỹ tuy được độc lập thống nhứt dưới cái dù của Mỹ, và phải trả một cái giá quá đắt ? Vì freedom is not for free.

      William Averell Harriman (1891-1986) kiến trúc sư cuộc chiến VN
      Trong những nhân vật sừng-sỏ trên đây, chỉ có W.A. Harriman là người có nhiều tham vọng, nhưng thật ra ông cũng là một thiên tài “giấu-mặt” làm nên lịch-sử Hoa-kỳ. Theo cá nhân tôi nghĩ đem so với Quân sư Gia-Cát-Lượng để đánh giá thì Harriman quả thật xứng đáng là một “Đại-đế giấu mặt” không những trong nước Mỹ mà cả thế giới; báo chí thời đó cũng như hai văn hào Walter Isaacson và Evan Thomas mô tả Harriman là người lãnh đạo trong Nhóm “Sáu người thông-thái” nắm vận mệnh thế giới. Riêng Harriman biết xử dụng đồng tiền của người Cha để lại và mở kinh doanh ngân hàng W.A.Harriman and Company rồi trở nên Tổng Giám-Đốc đội thương thuyền lớn nhất thời đó, năm (1917-1925) Sự thành công theo phóng đồ thẳng đứng của ông làm “thôi miên” giòng họ Bushes, trong đó có George Herbert Walker, là tiền bối bốn đời của TT Bush-Con, Tổng-thống thứ 43 của Hoa-kỳ và ông Prescott Bush là cha của George H.W. Bush, Tổng-thống thứ 41 của Hoa-kỳ. Thật cũng là điều lạ, ở trên đời nầy ít ai chịu thuần phục một kẻ nhỏ hơn mình 16 tuổi như so sánh Harriman với Walker, ấy thế mà cả hai ông Bushes nầy đã thích-thú học-hỏi, tự-nguyện làm thành viên trong thương nghiệp mà người Chủ là Harriman; Chẳng bao lâu từ một người đại-lý buôn bán vỏ xe khiêm-nhường, Ông nội Bush con là Prescott Bush đã trở nên nhà triệu phú, với số tiền chuyên ngân từ Fritz Thyssen (Đức).
      Harriman, tuổi vừa tròn 27 và mới tốt nghiệp 4 năm Đại-Học Yale; Năm 1917, lợi dụng trong thời chiến áp-lực chính quyền phải ký hợp đồng vào sự nghiệp đóng tàu hàng-hải dù cha Ông nổi tiếng là ông Vua về sở hỏa-xa. Harriman đóng tàu thành công trong thời chiến, chẳng bao lâu Harriman trở nên ông Vua về đội thương thuyền hàng hải lớn nhất vào thời đó, được củng cố phát triển qua danh xưng United American Lines, ông đặt vào trọng tâm tham vọng lợi nhuận qua hợp đồng với nước Đức bằng đường hàng-hải Hamburg-American Trong khi hơn nửa thế kỷ, người ta đều nghe danh ngân hàng tín dụng thương mại Quốc-tế BCCI (Bank of Credit and Commerce International) do sư tổ dòng họ Bush, George Herbert Walker sáng lập truyền lại cho cả dòng họ Bush sau nầy.

      Trong Đảng Công-Ty, đáng kể là nhánh Cộng-Hòa có dòng-tộc Rockerfeller và Stillman, nhưng tất cả không ai chịu dấn thân ra làm chính khách để bảo vệ quyền lợi Công-ty, mặc dù phần đông, bản chất của họ phát xuất từ Đảng Cộng-Hòa. Đứng trên góc cạnh nước Mỹ, Harriman là một thương gia giàu có, một chiến lược gia có tằm cở quốc tế, một chính trị gia có tầm nhìn sâu-sắc, một chính khách lỗi-lạc, một nhà ái-quốc hiếm có, một đảng viên Dân-chủ đúng nghĩa để lo cho quyền lợi của tất cả Tập đoàn Tư bản không phân biệt lớn nhỏ, chịu dấn thân xa rời sự hưởng thụ giàu sang, hy-sinh và tận-tụy cho sự hùng-mạnh của đất nước Hoa-Kỳ. Yêu nước là yêu Tư-bản Chủ-nghĩa, vì Hoa-kỳ là tiêu biểu.

      Khi Cách Mạng Nga thành lập chính quyền (năm 1917) và thành phần Tư-sản bị đày ải cho đến chết tại vùng đông lạnh Tây-Bá-Lợi-Á (Siberia) Harriman nhìn xa hơn vào lá cờ ‘Búa-Liềm’ ông đã đặt nhiều quan tâm đến giai cấp Công-nhân là chính, ông không sợ những giáo điều của Lenin sẽ đi vào thực tế như tư tưởng Lenin: “Trước hết, chúng ta sẽ chiếm Đông-Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á-Châu, sau đó bao vây Hoa-kỳ và thành lũy cuối cùng của Chủ-nghĩa Tư-bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa-kỳ cũng sẽ phải rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rục. Vì thế đã là người Cộng-Sản phải đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù là giai cấp Tư-Sản” và ‘Chính sách cải tạo’ là kỷ thuật đánh lừa người Tù “luôn luôn làm cho chúng có ý hy-vọng được tự-do, chuyển trại thường xuyên để nuôi dưỡng hy-vọng giả tạo đó, cuối cùng chúng gặp nhau và chết ở Siberia còn ở Mỹ là Alaska.

      Sau nầy Phạm Văn Đồng và toàn thể CBCS cũng nghĩ như vậy: “Đem 10.000 nhân viên quan chức miền nam có nợ máu với nhân dân ra đày ải ở vùng sơn cước thâm u nầy cho chúng chết lần chết mòn tại Siberia/VN, bằng cách cho chúng ăn thật ít bắt chúng làm thật nhiều”; duy chỉ có Mafia-Lê Đức Thọ thì biết chắc chúng sẽ nối tiếp theo sau diện ODP.

      CÒN TIẾP
      Last edited by Phòng Trực; 08-30-2012, 02:02 PM.

      Comment

      • vinhtruong
        Super Member
        • Jun 2010
        • 1924

        #4
        Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020


        Harriman không căm ghét người Nga mà trái lại Ông rất có cảm tình với người Nga qua nỗi lòng của Ông, lồng vào hai tác phẩm “Peace with Russia” 1959 (hòa bình với Liên-Xô) và “America and Russia in a Changing World” 1971 (Hoa-Kỳ và Liên-Xô cùng thay đổi cục diện thế-giới) Một tư-tưởng vĩ-đại đang nảy sinh trong khối óc của ông, người Công-nhân và Nông dân là nguồn nhân lực “sản xuất”, xứng đáng được hưởng những của cải do họ làm ra, nổi bật hơn, là tại sao không để cho họ chia phần làm chủ (Profit Sharing) ông vẽ ra một thế-giới phồn thịnh do người công-nhân sản xuất ra của-cải và chỉ có vài người bỏ vốn đầu tư thì chính họ mới là người lãnh-đạo, vì trên thực-tế “người nào chi tiền người đó chỉ-huy” (như trong chiến-tranh Việt-Nam, có lần Tướng O’Daniel nói toạc ra ‘ai chi tiền người đó chỉ-huy) Sự bỏ vốn đầu tư ở Liên-Xô không ngoài mục đích trên và sau nầy là Trung-Quốc; Đây là hình thức cũng như chân lý thực tế nắm chắc giai cấp thợ thuyền một cách tinh-vi với giá rẻ mạt, nhưng căn cứ trên sự hài lòng tự nguyện, thay vì đối xử với Họ như bầy Ong bầy Kiến, Harriman mảnh liệt tin tưởng phải xây dựng thế giới thành nơi an-toàn cho nền dân chủ, bởi vì chế độ Dân chủ sẽ mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người.

        Thật vậy, khi cướp được chính quyền vào năm 1917, hăng say trong chiến thắng, Lenine thường chủ quan với đề tài: Cộng-sản, Tư-bản, ai thắng ai?” Và càng đi xa hơn bằng cách tuyên bố: “Tụi Tư bản, nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nỗi, nó biết người ta mua dây thòng lọng để treo cổ chúng nó, thế mà chúng nó vẫn sản xuất và bán cho người ta” Từ đó đến nay đã gần 100 năm, và nếu chúng ta lấy mốc điểm thời gian 160 năm khi Karl Marx (1818-1883) viết tuyên ngôn thư Ðảng Cộng sản, suy ngẫm những biến cố lịch sử đã xảy ra: Chúng ta thấy nó hoàn toàn trái ngược lời tiên tri của Marx và Lenine. Marx tiên tri là Tư bản dãy chết, cách mạng tất yếu sẽ xảy ra tại những nước Tư bản, Lenine tiên đoán Cộng sản sẽ treo cổ Tư-bản; Nhưng Tư bản không dãy chết, không bị Cộng sản treo cổ, mà ngược lại, câu nói của Marx trở thành: Cộng sản dãy chết. Cách mạng tất yếu sẽ xẩy ra tại các nước Cộng sản “Và câu nói của Lenine cũng trở thành: “Tụi Cộng sản nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nỗi, nó biết người ta bán Coca Cola, Mac Donald, quần Jeans, hàng hóa cho nó, để dụ nó vào sập-bẫy, để bóp cổ nó chết, nhưng nó vẩn cứ mua!” W.A Harriman quả thật là một chiến-lược gia thiên tài, nếu chúng ta nghiên cứu chiến lược “Eurasian” của Skull and Bones đánh sập các nước Liên Xô và Ðông âu, thì chúng ta thấy họ đến với các nước nầy đầu tiên bằng những bang giao kinh tế, thương mại, đến với Coca Cola, Mac Donald, sau đó từ từ biến kinh tế quốc doanh thành kinh tế tư doanh, với tuyệt chiêu là “tối-huệ-quốc” làm cho xã hội dân sự các nước nầy mỗi ngày một trở nên mạnh; dỉ nhiên Ðảng và nhà nước CS mỗi ngày một yếu đi, đến lúc không thể cưỡng lại được, thì chế độ sụp đổ. Lẽ tất nhiên sự sụp đổ của Liên Xô và Ðông âu còn nhiều lý do qua sự nối-tiếp điều hành kiệt xuất của giòng họ Bush: Chiến tranh Tình-báo Phản-gián là một cú đấm sau cùng của loài Ma Ðầu-lâu Skull and Bones, vì đi với Ma phải mặc “Áo-Giấy” là vậy, cho nên Harriman không ngại ngùng khi sáng lập ra Ðảng Ðầu-lâu Xương-người. [Skull and Bones]

        Ngày hôm nay, Hoa kỳ cố gắng đưa-đẩy Việt Nam vào Tổ chức Thương Mại Quốc-tế (WTO) theo lộ-đồ, giúp VN trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An LHQ, rồi có Vệ-tinh riêng để bảo vệ lãnh thổ (Hoa-kỳ đã hủy diệt những thám thính cơ bí-mật với âm mưu tìm kiếm hơi đốt cũng như dầu hỏa trên thềm lục địa VN, [kẻ lén lúc dọ thám tìm mỏ, nhưng có người âm thầm triệt hạ cho biết tay mảnh vun rớt trên đảo Phú Quốc] Kẻ bành trướng không chịu hiểu: “Cái ổ con Ó-Mẹ làm ra không thể Le-Le hay Vịt trời-Con nở ra nơi đó!”) Tình báo Hoa-kỳ theo lộ trình sơ khởi về phát họa những chiến thuật ngắn hạn, nằm trong một chiến lược dài hạn, đó là thay thế mô hình tổ chức xã hội độc đoán, độc tài CS, bằng mô-hình tổ chức xã hội Dân chủ, Tự do và kinh tế thị trường. Hoa kỳ tiên đoán theo lộ-đồ: Chế độ Cộng sản chỉ sụp đổ dưới Ba sức ép:
        - (1) Nhất là giới trí thức, sĩ phu, sinh viên, học sinh sẽ phải can đãm đứng lên đấu tranh càng ngày càng đông hơn, đấu tranh cho quyền sống và quyền làm người
        - (2) Sức ép đến từ quốc-tế, đến từ hành động của Cộng đồng người Việt hải ngoại
        - (3) Sức ép đến từ sự rạn nứt, (đây là tuyệt chiêu của CIA) chia rẻ trong Ðảng Cộng sản qua tố cáo chỉ mặt các quan chức tham nhũng.

        Dưới thời Cách-Mạng Nga thành lập chính quyền năm 1917 bởi Aleksandr Kerensky, đảng Công-ty nầy cho mượn ngay tín-dụng số tiền là 325 triệu dollars để mua các vật liệu làm chiến-cụ, dĩ nhiên vật liệu nầy phải từ Hoa-Kỳ chuyển qua Liên-Xô. Mặt khác Harriman với con mắt nhìn xa thấy rộng, đang dòm ngó nguồn tài nguyên ‘dầu khí’ và mỏ ‘manganese’ để luyện thành hợp kim ‘alloy’ làm vũ-khí, nhất là các túi dầu chạy dài dọc theo các nước Cộng-Hòa Trung-Á đang nằm sâu dưới lớp Tuyết dày đặc mà chỉ có Hoa-kỳ mới có đủ khoa-học và kỷ-thuật để khai thác. Một tư-tưởng kinh-dị về “Eurasian Great Game” đang thoáng in sâu trong óc của Harriman từ dạo đó (1920) Đây là một kế hoạch chiến lược dài lê thê đến hàng thế kỷ mà một đời người không đủ thời gian đảm trách.

        Harriman chụp lấy cơ hội nhảy vào chính-trường, Thủ-tướng Anh, là Winston Churchill và Chủ-Tịch Liên-Xô, Stalin biết mọi việc ở Mỹ qua Harriman; Trong suốt thời gian Đệ II thế chiến, Harriman là người trao mật tin giữa London và Moscov, ông chọn con số cho gọn trong hồ-sơ phối hợp giữa hai bên là 322 (his diplomatic case the numerals 322) cho tiện giữ bí mật. Dù rằng cuộc đời thương-mại đang quá thành công trong việc làm ăn với hai chính quyền đang xung đột với nhau là Đức và Liên-Xô. Bên cạnh đó Công-ty Remington-Arms của Rockerfeller lại buôn lậu bí mật vũ-khí từ Hoa-kỳ bán cho Đức qua ngã Holland vào đầu năm 1930; Đối với Tập-đoàn Tư-bản nầy chỉ biết có quyền lợi qua đồng Dollar, không có bạn mà cũng không có thù, chỉ có quyền lợi quyết định sự liên-minh.

        Harriman bỏ ngành Hỏa-xa qua ngành đóng tàu chiến và trở nên Đại-đế ngoài nước Mỹ, (Overseas-Empire) Theo như báo chí Saint-Louis thời đó mô tả, khi con người quá thành công về tiền-tài thì người ta lại muốn bước vào đài danh-vọng, Harriman biết chuẩn bị cho mình rất chu đáo để trở nên một nguyên thủ Quốc-gia Hoa-kỳ. Nhưng Chúa lại không chìu lòng người, hai lần ra ứng-cử đều bị thất bại, năm 1952 và năm 1956; Mặc dù đã chuẩn bị sẳn-sàng lấy đà lên chức cuối cùng làm Thống-đốc của một tiểu bang lớn nhất nước Mỹ, là New-York.

        Năm 1962, Tổng-thống Diệm được sự mách nước của vị Đại-sứ khả ái Frederick Nolting, nên đã đề cử ông Cố-vấn Ngô-Đình-Nhu qua Genève để gặp Phù-thủy Harriman và thuyết phục Harriman đừng ký vào hiệp định Trung-Lập Lào, vì biết chắc rằng Hà-Nội sẽ vi phạm và lợi dụng phần đất Lào để lấn chiếm Miền-Nam. Theo chương trình thì Harriman chỉ tiếp ông Nhu có 30 phút, nhưng cuộc bàn thảo kéo dài đến 3 tiếng; Khi Harriman tiển chân ông Nhu ra về, ông Bộ-trưởng Cao Xuân Vỹ nhận thấy vẽ mặt hai người hầm-hầm như bực tức một điều gì. Khi Cụ Nhu gặp ông Vỹ, Cụ Nhu bèn xả ra cho nhẹ người: “cái thằng Cha nầy không biết gì cả”. Làm sao Cụ Nhu biết được thế siêu chiến lược của Harriman về Eurasian! Định kiến Axiom-1 biến con đường mòn HCM thành Xa-lộ Harriman có ống dân dầu chạy song song theo nó do LX chịu thiết bị?

        Đây là sự suy diễn có tính cách riêng tư của người viết: Một ông già 71 tuổi, đầy mưu-mô và bản-lãnh, kiên-nhẫn để cho cậu nhỏ [Cố vấn Nhu] đáng con mình hằn-học, chẳng lẽ Harriman nói toạc ra rằng: vì quyền lợi của Liên-Xô và Mỹ đã đồng thuận dùng Đông-Dương làm nơi thí nghiệm vũ khí mới vừa chế tạo và giải tỏa số Bom đạn thặng dư sau thế chiến-2, bằng cái trò chơi chiến tranh lấy danh từ hào nhoáng, về phía Liên-Xô “chiến tranh giải phóng” (NLF) và huê dạng về phía Hoa-Kỳ như “kế hoạch chống nổi dậy” (CIP) Đối với Harriman và Nhóm tham-mưu Học-giả kiệt xuất của ông sẽ không có Đại chiến thứ-3 mà chỉ có cuộc chiến khu-vực, lấy Triều-Tiên và Đông-Dương làm chiến tuyến thuộc Màn-2 của Eurasian Great Game. Trận Triều-Tiên vì quyền lợi tức thời nên để lại 50.000 quân, còn Đông-Dương vì quyền lợi tiềm-tàng để thành lập một nước VNCH lớn hơn, và sẽ thắt chặt hơn nửa thế kỷ sau đó 1995; Cái thâm-thúy là dùng khuôn viên các trường Đại-học để lý-giải hậu quả nơi chiến trường tại Việt Nam qua ba đáp sổ dưới đây:
        - (1) Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon.
        - (2) Axiom-2: The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affaires.
        - (3) Axiom-3: The US could not have won the war under any circumstances.
        Cùng với 3 định-đề (axioms) đã được bàn luận sâu rộng tại các Đại-Học về cuộc chiến VN trong giai đoạn năm 1960-1971 như Kenneth E. Sharpe trong “The Post Vietnam Formula Under Siege” và “Political Science Quarterly” đây là thời kỳ giải kết của Mỹ. Cái nhóm Tham-mưu nầy đã có chủ trương đưa Trung-Cộng gia nhập vào Liên-Hiệp-Quốc, nên buộc phải giải nhiệm Tướng Mc Arthur trong cuộc chiến Triều-Tiên và bức tử Miền Nam thuộc VNCH. Chiến-lược giải kết nầy đã tạo nên một tầm vóc Quốc-Tế dù kết quả có bị mang tiếng nhất thời “con Cọp giấy”, “người khổng-Lồ với đôi chân đất sét” và đưa nước Mỹ vào thời kỳ suy thoái. Nhưng tập đoàn Tư-bản cho là thời kỳ nghỉ-ngơi sau khi hoàn-tất một công trình (Inventory năm 1973-1980) Còn Nhóm Học-giả Tham-mưu thì cho rằng, trò chơi cử-tạ để phô trương bắp thịt của Hoa-kỳ đã xong, bây giờ tới phiên người Nga phải trả giá về sự cho ra đời Chủ-nghĩa Cộng-sản khắp Năm châu, bằng cách đặt Liên-Xô vào vị trí của Hoa-kỳ, như quân-đội Nga tiến vào Afghanistan. Ngoài ra Hoa-kỳ cũng phong tỏa kinh-tế các nước chư-hầu của Liên-Xô, buộc Liên-Xô phải tăng cường viện trợ kinh-tế cho họ. Mặt khác Hoa-kỳ cũng gây rối khắp nơi, làm cho Liên-Xô phải quân viện hay chính thức tham chiến để lộ bộ mặt thực dân Đỏ. Để kết cuộc qua đó mà người dân trong khối Cộng-Sản mới có cơ-hội sáng mắt, so-sánh giữa hai thể chế “Dân-chủ Tư-bản” và “Dân-chủ Cộng-sản” ai thắng ai? Một cuộc bỏ phiếu bằng chân! Một cuộc chiến thắng thầm lặng với thủ đoạn Thần sầu Quỹ khóc, nhưng không dám nói ra, sợ lương-tri nhân loại nguyền rủa, vì gieo rắc tai-ương cho các nước nhược tiểu; Cái danh xưng nổi lên cho là thất bại thảm hại của Hoa-kỳ để làm mờ đi cái “mục-tiêu” chủ yếu là đồng Dollar hốt vào qua kỷ nghệ sản-xuất chiến tranh, và nước Mỹ vẫn là Đệ Nhứt siêu cường không nước nào địch nổi.

        Sau cuộc chiến khá dài tại Việt Nam, nhưng họ không dám tuyên bố đó là một chiến thắng thầm lặng (Quiet-Victory) biết bao thảm họa cho người dân của ba nước Đông Dương, vì Họ không dám nhận những danh từ không tốt đẹp gì dù đã làm phong phú hoá trong tự điển Anh Ngữ như, “Bỏ phiếu bằng chân” (voted with theirs feet) “Cánh Đồng Chết” (Killing field) “Thuyền Nhân” (Boat People) “Học Tập Cải Tạo” (Reeducation-Camp) “Vùng Kinh Tế Mới” (New Economical Zone)
        -12 năm sau, và cũng đã đến lúc kết thúc mật-kế Pennsylvania giao Miền-Nam cho Hà-Nội Năm 1974 đệ tử ruột của Harriman là William H.Sullivan cựu Đại-sứ Lào và đương kiêm thứ trưởng Ngoại-Giao cho Kissinger đã phán một câu rất mất dạy về quan điểm Hoa-kỳ lúc ấy: “Chúng tôi hy vọng rằng, Đông-Dương sẽ lui vào chỗ của nó trong bóng tối, và nó xứng đáng như vậy”. Thật tội nghiệp cho các nước nhược tiểu, phù-thủy Harriman đâu cần biết Đông-Dương là gì, ông chỉ coi đó như là một vùng hoang dã chỉ xứng đáng là nơi để thí nghiệm vũ-khí như chúng ta thường cho là “vùng oanh kích tự-do” Dĩ nhiên Tổng-thống Diệm dễ gì để cho đất nước mình trở thành lò luyện thép. Phù-thủy Harriman đích thực trở nên thủ phạm số một đã giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa và ra lệnh giết chết hai anh em TT Diệm, Miền Nam trở thành chính phủ bù nhìn từ đấy! Ấy thế mà ngày sinh nhứt thứ 90 của W A Harriman, người em út cuối cùng của dòng họ Kennedy còn sống là Edward Kennedy lại tuyên bố: “Nếu không có Ngài nước Mỹ và loài người không thể sống trong một trật tự thế giới mới” [The New World] “We couldn’t have held the twentieth century without him” như thế kỷ-21 nầy.

        CÒN TIẾP
        Last edited by Phòng Trực; 08-30-2012, 02:21 PM.

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #5
          Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

          TRIỀU-ĐẠI-2 SKULL and BONES
          (Prescott Bush, người tiền bối tham vọng đưa con cháu mình vào danh sách tổng thống nước Mỹ?)

          Prescott Bush, chất Xám kiệt xuất của ngành tình-báo, An-Ninh Quốc Gia Hoa-kỳ?
          Lợi dụng thời Thế-chiến thứ-1, Nhóm Yale-Skull áp lực chính quyền ký hợp đồng sản xuất kỹ nghệ chiến tranh, Họ tự ý thành lập “Hội-đồng Kỹ-nghệ Chiến-tranh” [War Industries Board] do Wall Street bảo trợ, người Giám-đốc là Bernard Baruch chuyên lo liên lạc đặt hàng giữa chính phủ và công xưởng về đóng tàu cho Hải quân. Vào mùa Xuân 1918, thình lình có mật lệnh [Harriman] từ ông Bernard Baruch gởi thẳng cho Prescott Bush, chỉ định P. Bush làm Chủ tịch Hội đồng WIB, ngày 1/6/1918 P. Bush chấp hành và trình diện tại Washington; Thực thi đúng theo tuyên ngôn của các trường Ðại-học Quân-sự: “Muốn củng cố hoà-bình phải chuẩn bị chiến tranh”. Liền sau đó không lâu, Thượng nghị sĩ bang Mississippi, James Vardarman phàn nàn rằng: “nên giải tán Hội-đồng buôn xác chết nầy, vì tự nó nói lên sự ăn-chận trên tay các công ty khác và giành giựt độc quyền lợi nhuận!” (Thí dụ như công-ty Halliburton của Phó TT Dick-Cheney sau nầy).

          Sau Thế chiến-2, 1946 một sự chạy đua phát triển vũ-khí để gây chiến, từ một cuộc chiến Nóng (1941-1945) đến cuộc chiến Lạnh được thống kê qua sự sản xuất như sau: 38 phần trăm 1941-1947; 40 phần trăm cho 1953 (chiên tranh Triều-Tiên); từ 45 phần trăm cho 1959, đến 49 phần trăm cho 1968 trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam là nhiều nhứt. 1947 Prescott Bush và Robert A Lovett cùng Brown Brothers Harriman đồng quyết định cải đổi OSS thành CIA để làm công cụ bạo lực cho WIB; Nhóm nầy mở rộng Ngủ Giác Ðài tăng quân số Tướng lãnh nhiều hơn xưa, tăng tốc cho chương trình không gian, điện tử hoá siêu kỹ thuật cho quân đội. Bộ tam sên: Prescott Bush chắc chắn sẽ thành Thượng nghị sỉ 1950, gây ảnh hưởng bao trùm Quốc-hội, còn W.A.Harriman, người Cố-vấn tổng thống, nhưng lại có nghĩa nắm chính sách ngoại giao với nước ngoài, riêng Robert A Lovett sẽ đi từ Thứ-trưởng rồi Bộ-trưởng quốc phòng để điều động các cuộc hành quân bí-mật trên những nước đem lại quyền lợi cho Tư bản Mỹ. [như trước đó có hai cuộc hành quân bí mật: [covert operation] đáng kể là khuyến dụ Cụ Hồ vào OSS nơi Trùng Khánh, Côn Minh, Sở thông tin Chiến tranh (Service of War Information) và qua cuộc hành quân bí mật của điệp viên OSS-19, Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pát-Pó giúp Cụ huấn luyện quân sự cho Trung-đội Võ trang tuyên truyền của Trung đội Trưởng Võ Nguyên Giáp và CIA phải hoàn thành cuộc di tản về Ðài-Loan Thống chế Trưởng- giới-Thạch và phe phái.

          Prescott Bush hăng-say tham dự những năm tháng chiến tranh ác liệt, đôi khi người ta lầm tưởng chỉ có một mình ông đơn độc chiến đấu trên trận mạc, ông chia ra hai phần thời gian ở Washington và trận mạc, ít khi về thăm nhà, sự làm việc nhiệt thành đã đặc vào ống kính của Harriman. June, 1918 P.Bush mau lẹ đáp ứng sản xuất qua Pháp cho Lữ-đoàn Pháo Dã-chiến 158th một số lớn đạn dược gọi là sản-phẩm lấy tên là Tiểu-đoàn Yale cung cấp. Có nghĩa Tiểu đoàn-Yale Pháo binh của ông sẽ tham dự vào chiến tuyến phía Tây [Western Front] Ðại-úy Prescott Bush và pháo thủ của ông đang chịu áp-lực trận địa pháo dữ dội của địch. Chúng đang cố tâm hủy diệt tất cả pháo-đội Hoa kỳ, Tuy nhiên sự phản pháo của Lử-đoàn pháo 158th đã làm tiêu tan các công sự kiên-cố của quân Ðức. Dưới con mắt làm ăn của P.Bush, lấy thịt đè người nên phía WIB đả bán ra được 4.2 triệu quả đạn sau khi tàn cuộc chiến đem một số tiền quá lớn về cho War-Industries-Board.

          Mới chỉ 23 tuổi đời vào năm 1918, Prescott Bush là một Ðại-úy Pháo binh năng nổ, một hôm ông viết một bức-thư khôi hài về cho mẹ, sau khi đọc xong bà mẹ tự hào về con mình nên đem tin vui nầy cho tờ báo địa phương “The Ohio State Journal” đăng tin ở trang đầu: “Ðại-úy P. Bush chỉ một mình nhận được ba huy chương cao quý của chính phủ Pháp, Anh và Hoa-kỳ, vì đã cứu ba vị Tướng lãnh đồng minh, Pershing, Foch, và Haig đang đến thăm viếng đơn vị Tiểu đoàn Yale Pháo binh của ông. Ngày 15, July, P.Bush đang hướng dẫn ba Tướng nầy tham quan đơn vị, thì thình lình một trái đạn 77mm từ trên không rơi xuống, sự phản ứng tự nhiên P. Bush rút con dao (bolo-knife) hất mạnh lên như chơi baseball vào trái đạn, cho nên trái đạn không chạm nổ và rơi xuống bên cạnh như một hòn đá tảng vô hại. 24 tiếng đồng hồ sau P. Bush được ân tặng huy chương “Cross of the Legion of Honor của chính-phủ Pháp, The Victoria Cross của chính phủ Anh, và The Distinguished Service Cross của Hoa-kỳ”. Nhưng khi P. Bush nhận được một mẫu giấy đính chính trên tờ báo Pháp, liền lập tức ông nói cho mẹ hay, “đó chỉ là bức thư khôi hài để làm cho mẹ vui, chớ chuyện đó không bao giờ có!” Ngày hôm sau, September 6, 1918 tin nầy được đính chính trên báo chí là Tin Vịt-Cồ! Kể từ giờ phút nầy, trong đầu P. Bush luôn luôn in sâu về sức mạnh của “truyền thông văn hóa” vẫn có tác dụng gây ảnh hưởng, dù thật hay không thật và ông muốn con cháu ông phải xuất thân từ quân đội để lãnh đạo đất nước trong trật tự và kỷ luật

          Năm 1950, là người Phụ tá cho Harriman, P. Bush quyết định công-cụ Truyền thông văn hóa nặng ký hơn CIA và cho ra quyền bất khả xâm phạm về “Tự do ngôn luận” một vũ khí lợi hại khi cần khủng bố chính quyền buộc họ phải đi đúng American-First. P. Bush qua đời 1972, làm sao ông biết được Con và Cháu nội sẽ là Phi-công Tổng thống thứ 41 và 43 của Hiệp chủng Quốc đã khai thác tuyệt vời truyền thông văn hóa cho quyền lợi của bọn dầu-hỏa qua sự chuyển ngân vào ngân hàng Thụy Sĩ. Ðúng theo di-truyền của giòng họ Bushes là: năng-lượng, tình báo, và an ninh quốc gia. Dòng họ Bushes không bao giờ chịu đào tạo Bác-sỉ, luật sư, thầy giáo, khoa học gia … mà chỉ chuyên về 3 địa hạt nêu trên.

          Nguyên nhân nào W.A Harriman chịu chấp nhận Prescott làm phụ tá Ðảng hội Skull and Bones: Tình cờ, đầu năm 1926, người em của Harriman là Bunny Harriman đang uống rượu với P. Bush và nói chuyện công việc làm ăn. Prescott vẫn còn làm việc với hãng nhựa U.S Rubber, đại lý bán vỏ xe, còn Bunny đang bề bộn công việc ở Wall Street. Sau khi họ nhận ra nhau cùng tốt nghiệp Ðại học Yale, Bunny mới thú nhận tại Công ty người anh W.A Harriman and Company rất cần những nhân tài phụ giúp, hỏi P.Bush có muốn cùng giúp việc cho anh mình không? P. Bush nhận lời ngay, sau đó không lâu từ một Ðại lý bán vỏ xe khiêm nhường, Prescott trở nên một triệu-phú quá dễ dàng. Tóm lại W.A Harriman tin tưởng nhận P. Bush vào làm việc và tin cẩn chọn P. Bush như người phụ tá tham mưu tin cậy của ông [http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman 1/22/2006, trang 4 of 7] Prescott Bush là người sau chót trong 6 nhân vật nắm vận mệnh thế giới nhưng được Harriman cân nhắc lên làm Phụ-tá tham mưu cho Harriman.

          Harriman vở mộng vì đặt quá nhiều tin cậy vào viên Phụ tá của mình, Prescott Bush, trong khi Harriman muốn hợp-lý hóa bằng những quyết định phức tạp chia ra cho hai nhóm rõ rệt: Nhóm Dân chủ do W.A.Harriman và Lovett, còn nhóm Cộng hòa do P. Bush và Bunny Harriman. Nhưng nhìn vào hai nhóm nầy thì chẳng có công bằng tý nào vì phía bên kia vẫn còn người em của Harriman. Nhưng điều cấm kỵ là không được phê bình đàm tiếu nói xấu cãi vã nhau, P. Bush giữ thái độ im lặng về những hành động của Harriman làm việc với hai vị tổng thống, F.D.Roosevelt và Truman; Sư thật làm sao P. Bush hiểu được trong tương lai của trận chiến Triều Tiên chỉ dựa vào môi trường chạy đua và phát triển thế hệ phản lực cơ chiến đấu cho quốc-phòng giữa Liên Xô và Mỹ. Còn như tới phiên chiến tranh Ðông Dương mới qua giai đoạn phát triển thế hệ phản lực cơ cho Hàng không dân dụng và trực thăng. Có một điều quan trọng nữa là làm cách nào để dùng xăng hoá học (synthetic fuel) để làm diệu bớt sự thay đổi nhiệt độ cho môi trường sống như Hitler đã thành công từ 1933, nhưng vì lòng tham vô đáy, dòng họ Bushes đã đi chệch ra khỏi quỹ-đạo chiến lược của Harriman! Quên đi quyền lợi của các loại Tư-bản lớn-nhỏ khác!

          1950, Prescott Bush đã là một Thượng nghị sĩ sừng-sỏ trong Quốc hội, ông nắm ảnh hưởng trong chức vụ Trưởng ban Hội đồng an ninh và tình báo gián điệp và nắm luôn Trưởng Hội-đồng về cơ quan quốc phòng, trong đó đáng kể có người bạn chí thân chuyên môn về tình báo là Allen Dulles. P. Bush quá hăng-say về chương trình “dọ thám bằng vệ tinh”. Sau Thế chiến-2, ông giành ưu tiên tài chánh không giới hạn cho Bác-học Werner Von Braun và các Khoa học gia người Ðức chạy trốn về với Hoa kỳ, chuyên trách hoả-tiễn, đồng thời tối tân hoá chương trình phóng hoả tiễn liên lục địa. Ðặc thù, P. Bush ghét cay ghét đắng TT Kennedy về vụ thất bại tại Vinh Con Heo vì Kennedy phản bác (P. Bush thố lộ bằng lời nói với lịch-sử, sự thất bại chỉ vì Kennedy không muốn đứng về phía sau nhóm nổi dậy, có nghĩa là đem Hải lục không quân ra can thiệp mà xem việc làm của Bushes qua công cụ CIA như con Voi rừng kinh-dị khó dại).

          Với tham vọng người con trai của mình sẽ chạy đua vào nhà Trắng, 11 ngày trước khi Kennedy bị ám sát, đứa con Trai của ông là George H.W. Bush đứng trước bục phòng họp báo Thủ-đô ở Austin, tuyên bố sẽ ứng cử vào Thượng nghị sĩ của Ðảng Cộng Hòa. Vào được chức vị Thượng nghị sỉ trong khi TT Kennedy đã bị ám sát, nhưng George H.W Bush mở pháo trận đầu tiên tấn công Civil-right của Kennedy vì cho rằng đe-dọa hiến pháp, trong khi Barry Goldwater biện luận Hoa-kỳ vấp phải vấn đề kỳ thị màu da. George H.W. Bush cũng chống lại đường lối Liên bang tước đoạt quá nhiều quyền hạn của Tiểu bang. Về phương diện ngoại giao, ông chống đối Kennedy về lời đề nghị kiểm soát việc chạy đua vũ trang, biện luận thay vì phải cứng-cựa với chính sách chống Cộng sản; Những đặc điểm không kém phần quan trọng, George.H.W. Bush với 40 tuổi, thành công và là phi-công tác chiến anh hùng của tổ quốc. Có một tài sản đáng kể về thương nghiệp dầu hoả, nhưng vì tham vọng dầu-hoả mà dòng họ Bushes phải mai một sau nầy! Hơn nửa thế kỷ nay, dòng họ Bushes vẩn tự hào là “chống-Kennedys” vì Bushes xem giòng họ Kennedy là những kẻ muốn tranh tài với họ! Tuổi trẻ có phải vì nóng tính, nông nổi nên nói toạc móng heo!? Jeb Bush đã dám tuyên bố và thách-thức (có lẽ cũng bị thọc gậy bánh xe đang lăn ngon trớn theo đà mạnh tiến vào toà Bạch-ốc) “Tôi nghĩ, chúng tôi có thể hạ giòng họ Kennedy trong trận football, chúng tôi cũng hạ họ trong trận basketball, baseball, và bất cứ cái trò chơi quỷ-quái nào mà họ muốn đấu!”(Dịch theo nguyên văn, cuốn sách “The Bushes”, 2004, page 497 Petter and Rochelle Schweizer).

          Thế nhưng! thế hệ trước là thủ phạm nhưng lại vô cùng khôn khéo, Bush-Cha vẩn tỉnh bơ giữ mối giao hảo bề ngoài rất tốt đẹp, ông [George H.W Bush] dựa vào vị thế thượng phong làm Phó, rồi Tổng thống nên phía đối địch cũng ngậm bồ-hòn cười nhe răng trong giao tế. Người em út còn sót lại của TT Kennedy, Thượng nghị-sĩ Ted Kennedy 1990 cũng giúp TT Bush-Cha cho qua Disabilities Act và luật cải-bổ Di-dân. Khi rời Nhà trắng hai vợ chồng của Bush-Cha cũng làm bộ tiếp nối tình cảm, nhưng lần nầy qua nhà người Chị của Ted Kennedy, Eunice Shriver.

          Vâng lời Bush-Cha, Bush-Con, năm 2000 vừa nhậm chức Tổng thống, hâm nóng thêm tình cảm giữa hai họ, nhân dịp đám tang của Thượng nghị sĩ Paul Coverdell của Georgia, Bush cùng Ted Kennedy dự đám tang, sau giờ tan lể, Bush-Con lỏ con mắt tìm kiếm Ted Kennedy ẩn hiện trong đám đông. Khi gặp Ted, Bush-Con cười khà đưa tay bắt: “Tôi nghe anh có đi dự nên kiếm, Tôi ghi nhận anh đã làm những việc ích lợi cho dân cho nước” Ted cười khô cho qua. Tuy nhiên dù mối liên hệ tình cảm khó hiểu, nhưng cũng tiếp nối được đến thế hệ thứ-3.

          Vào tháng chạp, 2000 TT Bush-Con mời gọi Ted Kennedy, họ nói chuyện với nhau như hâm nóng lại tình cảm khắng-khít ngoài mặt giữa hai họ và cùng giúp đỡ chia sẻ cho nhau vì lợi ích cho đất nước. Ted Kennedy vui lòng chấp nhận vì đại cuộc, Bush-Con bèn mời Ted cùng họ hàng Kennedy đến dự một cuộc họp mặt riêng tư để xem cuốn phim những ngày căng thẳng về cuộc khủng hoảng đe dọa Hoả tiễn nguyên tử của Liên Xô 1961; Sau đó Ted giúp Bush cho qua sự cải bổ Giáo dục vào 2001 và hai năm sau, TT Bush-Con tuyên dương công trạng Ted về sự tận tụy giúp đỡ dân chúng Hoa kỳ. Nhưng Ted Kennedy vẩn ngoan cường giữ vững lập trường, chiến tranh Iraq là một sai lầm, móng vuốt của thất bại và chính sách khánh tận (a failed, flawed, bankrupt policy) Tháng 11/2001 Bush-Con thông báo sẽ đặt tên Robert Kennedy trên Cơ quan chính phủ, Bộ Tư-pháp, có sự tham dự của Ted Kennedy với vẻ mặt gượng cười chua xót.

          Giòng họ Bushes thì quá nhiều tham vọng về xăng dầu và quá nóng ruột về phát triển Hàng- không Dân-dụng muốn hấp-tấp bắt chước như Harriman đã thâu vào quá nhiều lợi nhuận khi phát triển Ðội hàng-hải đi biển lớn nhứt vào thời gian Thế chiến-1, vì tham vọng vào xăng dầu nên bị Dick Cheney lấn lướt đến nỗi thân bại danh liệt cho triều-đại-2 Skull and Bones, rồi ngã quỵ.

          Kết quả, sự phản trắc, thất trung thể hiện trong bữa cơm tối của Ðảng Cộng hòa, Prescott Bush đã thẳng thừng tấn-công Harriman, “xem như Harriman, một công nhân đả cởi bỏ nón nhựa an-toàn ra khỏi đầu, và quăng đôi găng-tay lao động xuống đất, đi ra về một mạch không ngó lại” ngụ ý vô trách-nhiệm. Từ dạo đó P.Bush âm thầm theo dỏi từ chiến tranh Triều Tiên đến vấn đề giao tế thế giới. Dựa vào đó, Harriman đùn trách nhiệm cho dòng họ Bushes để cho George H.W. Bush nhảy vào cuộc chiến Việt Nam từ 1960 nhưng dưới sự diu dắt truyền nghề của Harriman cho đến khi mật kế Pennsylvania hoàn tất, có nghĩa là tạo nên một mô hình kiểu mẫu cho Hà Nội thống nhứt Việt Nam thành một qua mô-hình hiệp định Paris và cũng là lúc TT Nixon lên ngôi 1969. Thế là công cụ CIA do Dân-chủ Harriman thành lập 1947, bây giờ 1960 Cộng-hòa George H.W Bush được hưởng trọn vẹn. Thế nên chúng ta đoán chắc sự thất bại tại Vịnh Con Heo, thủ phạm chính là George H.W. Bush nhưng Kennedy phải chịu trách nhiệm vì đương kim tổng thống. Vì Harriman biết cuộc chiến VN sẽ đem lại thãm hoạ nên muốn lẩn trốn thì tội tình gì George H.W.Bush phải lộ diện, nên Bush-Cha đã khoán trắng cho Donald Rumsfeld muốn làm gì thì làm

          Sau Tết Mậu thân 1968, để chuẩn bị cho phong trào phản chiến, trong giai đoạn Tướng Abram trách nhiệm về việc lần lượt rút quân Mỹ về nước theo lộ trình sắp xếp hành khách lên phi-cơ. Trong khi Trung-úy phản chiến thuộc đại học Yale, John F.Kerry, Duyên tốc đỉnh cùng Thượng nghị sỉ Joe Lieberman, ứng cử viên Tổng thống, cầm đầu tờ báo Yale Daily News cùng một số đông sinh viên Yale đòi hỏi không tham dự cuộc chiến VN. Năm vừa qua 10/1967 họ trả lại thẻ quân-dịch cho Bộ tư pháp; Nhưng hơn ai hết, là người thay thế Harriman nắm giử chính sách, và cũng là lần đầu tiên George H.W.Bush công khai xuất hiện nhưng lại không muốn cho ai biết đến sự xuất hiện nầy, coi như đây là một trách nhiệm quan sát tại chổ cho biết sự tình, giai đoạn phải lần lượt rút quân về theo lịch trình của hệ thống các hãng Hàng-không Dân-dụng đã thiết kế.

          Ðể chuẩn bị thay thế Harriman sẻ từ giã chính trường 1969, và thời gian chuyển tiếp cũng sắp đến, ngày 26/12/1967 Bush-Cha sẽ đi thăm Việt Nam bàn thảo với Ðại sứ Ellsworth Bunker như một cuộc thăm không chính thức, lặng-lẽ không ồn-ào, Ông đi thăm các chiến sỉ Mỹ ngoài mặt trận, dùng trực thăng HU-1 đi thăm các tiền đồn từ Mekong Delta đến Ðà-Nẳng. ông đáp xuống Hàng không mẫu hạm dự một cuộc thuyết trình oanh tạc Bắc Việt. Vào một buổi sáng đến phi trường Ðà Nẳng đang bị pháo kích. Trong khi thăm viếng, phi công phải bay vòng để khỏi bị hoả lực ở dưới bắn lên. Ðược hỏi, các người lính đều có ý kiến như nhau: “Chỉ đơn giản nếu Hoa kỳ giữ lời cam kết thì chiến thắng sẽ đến!” Bush-Cha giữ trong óc “sự kiện Vịnh BV và Trân Châu Cảng đều giống nhau vì số nhân viên tham chiến có quá nhiều” chỉ có một điều tối kỵ là quân Mỹ sẽ rút ra hết để lại biết bao thãm trạng bi lụy cho người dân miền Nam mà ông là người nối tiếp chính sách đó!

          Ngày 11/5/1970 theo lộ trình John Kerry và số đông Yale và các phân khoa sẽ đến hành lang Quốc hội: “Chúng tôi bầu các người để chấm dứt chiến tranh hay chúng tôi phải tống các ông các bà ra khỏi chiếc ghế Quốc hội?” Trong đám đông nầy có Giám đốc Ðại học Yale, Kingman Brewster; riêng Prescott Bush, Chủ tịch Hội-đồng Kỹ nghệ Quốc phòng, hiểu rất rõ đường lối của Skull and Bones, đành phải phàn nàn “làm như vậy sẽ là một nhục khí cho Yale” Trong dòng họ Bushes, người cháu họ George Walker đang là lính chiến Sư-đoàn Dù, còn người cháu họ John Ellis đang hoạt động để chấm dứt chiến tranh.

          Khi TT Nixon thắng cử 1968, ông giúp đỡ Bush-Cha được bầu là Dân biểu cho nhiệm kỳ đầu vì là đứa con của Prescott Bush, được chỉ định làm Ðại-sứ tại Liên Hiệp quốc 1970, Trưởng Hội đồng của Ðảng Cộng hòa 1973-1974, được ở trong tham mưu của TT Nixon. Nixon xem gia đình Bushes như là những thiên tài giúp đỡ tham mưu cho ông, 1976 được sự tín nhiệm giữ chức trưởng ngành CIA, Bush-Cha hy vọng được làm Phó cho TT Ford trong nội các dù không được dân bầu. Nhưng Tôi vẩn nghĩ rằng: Bush-Cha là cố-vấn trong bóng tối cho Nixon 1969 về chính sách vì ông mới thực sự là người nắm giữ chính sách ngay sau khi Harriman rời khỏi chính trường 1969.

          Khi TT Nixon từ chức, Chủ tịch Quốc hội Gerald Ford lên làm Tổng thống, theo Tu chánh án 25th [The Twenty-fifth Amendment] TT Ford phải chờ Lưỡng viện của Quốc hội chấp nhận theo phổ thông đầu phiếu. Riêng Ông Dean Burch, cố vấn Tổng thống Ford đề nghị: “Cá nhân tôi chọn George H.W Bush [Bush-Cha]” và Richard A Moore, một thành viên tham mưu toà nhà trắng: “Cha và ông của Bush-Cha, cả hai đều được mọi người kính nể và là chủ của nhửng nhà Bank lớn ở New-York. Nhưng không may thay, Bush-Cha đã bị thua phiếu của Nelson Rockefeller 68/101, TT Ford rất lấy làm tiếc, vì hai người cùng là bạn thân, Ford mời Bush-Cha vào phòng bầu dục hàn huyên nhưng tiếc thay không còn ghế nào cho Bush.

          Nhưng không sao vì nắm chính sách, biết được thế chiến lược toàn cầu nên Bush-Cha cần qua Bắc kinh ngay để thương thảo về việc bỏ vốn làm ăn của Tư bản Mỹ. Như thay thế nhiệm vụ của Kissinger còn đang dang-dở và vô số đường lối ngoại giao của hai nước chưa được sáng tỏ cho lắm, Bush-Cha cần kiểm điểm cho đúng lộ trình. Harriman dù xa lìa chính trường nhưng luôn luôn bám-víu, theo-dõi kế hoạch Eurasian, ông tin tưởng tài ba của Bush-Cha, đặc biệt là về phương diện tình báo và phản tình báo; là một cố vấn thật tốt cho Bushes. Sự thiên tài độc đáo về tình báo chuyên trách của dòng họ Bush làm cho Harriman yên tâm, Bush-Cha sẽ đánh bại Cộng sản không khó lắm; Harriman cũng nhấn mạnh cho người kế vị của thế hệ sau biết rằng: “Phải tuyệt đối quan tâm và theo dõi sát nút về vấn đề ngoại giao, nhứt là với Trung quốc. Dù sao cũng phải rút kinh nghiệm như Harriman, con người tuy quyền hạn bao la nhưng người dân không biết đến, còn Tướng nổi tiếng Eisenhower thì làm sao họ không bầu cho ông. Harriman hai lần ra ứng cử Tổng thống đều thất bại (1952 và 1956) Con đường tốt nhứt nên dựa vào liên danh nào mà người cầm đầu phải là nổi tiếng mà người dân sẽ bầu như trường hợp tài tử Ciné hay Tướng tài [Eisenhower, Reagan…] Bằng giá nào cho kịp nếu phải làm Phó trước để lấy đà vào năm 1980 là thuận lợi nhứt theo lời Tổ-sư cố vấn W.A.Harriman, cuối cùng Bush-Cha chịu làm phó cho Liên danh Reagan, nhưng mà là phó với quyền hạn bao la.

          CÒN TIẾP
          Last edited by Phòng Trực; 09-07-2012, 01:17 PM.

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #6
            Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

            Vì là một bài quá dài nhưng lại chỉ dành riêng cho đọc giả phải thích thú trước khi vào nội dung của siêu chiến lược Eurasia. Người viết phải sơ-lược phần đầu và chút ít phần cuối trước khi đi vào chi tiết: Nhãn tiền phần cuối 2020 Ấn độ được Hoa Kỳ nâng lên cường quốc số-2 thế vào vị trí TQ?

            Ngoại trưởng Mỹ cam kết trở lại Châu Á, Bà Hillary Clinton vừa có bài viết dài khẳng định cam kết của Washington với Châu Á Thái Bình Dương. Trong bài viết mang tựa đề "Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ", bà ngoại trưởng nói Châu Á Thái Bình Dương trải dài Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với gần một nửa dân số trên thế giới đã trở thành "động lực chính của chính trị toàn cầu." Bà nhấn mạnh: “Châu-Á TBD có ý nghĩa quan trọng đối với Hoa Kỳ và thế giới”.

            Người đứng đầu ngành ngoại giao Hoa Kỳ nhận định: "Vào lúc khu vực này đang xây dựng những cơ cấu kinh tế và an ninh chín chắn hơn để thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng, cam kết của Hoa Kỳ tại đây là hết sức cần thiết. "Nó [cam kết của Hoa Kỳ] giúp xây dựng cơ cấu đó và giúp Hoa Kỳ giữ vai trò lãnh đạo trong nhiều năm trong thế kỷ này, cũng giống như cam kết hậu Thế Chiến II của chúng ta đối với việc xây dựng các quan hệ và hệ thống định chế xuyên Đại Tây Dương mang tính chiến lược và lâu dài đã mang lại kết quả lớn hơn nhiều so với đầu tư ban đầu và vẫn tiếp tục như vậy."

            Bà Clinton nói việc đảm bảo hòa bình và an ninh tại Châu Á Thái Bình Dương ngày càng có ý nghĩa quan trọng cho tiến bộ toàn cầu cho dù đó là chuyện bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), ngăn chặn cố gắng phổ biến vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động quân sự của những nước lớn trong khu vực. "Chúng tôi là cường quốc duy nhất với mạng lưới liên minh mạnh mẽ trong khu vực nhưng không có tham vọng lãnh thổ trong khi có lịch sử phụng sự lợi ích chung," Điều nầy lập lại “Phải có NATO (Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương “ thì mới đánh bại LX tan ra từng mãnh, ngày nay đang thành lập một khối mới “Liên Phòng Đ6ng Á TBD” có thêm Ấn-độ, Úc, Tân Tây Lan.

            Bà Clinton tiếp: Hoa Kỳ hiện có hiệp ước liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan. Riêng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đã có 50.000 quân nhân Hoa Kỳ hiện diện và Nhật Bản đã bỏ ra năm tỷ đô la để đảm bảo binh lính Hoa Kỳ tiếp tục có mặt ở nước này.
            Bà Clinton nói bản thân bà đã chọn Châu Á là nơi đầu tiên tới thăm trong vai trò ngoại trưởng còn Tổng thống Barack Obama vào tháng 11 năm nay sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tham dự Diễn đàn Đông Á diễn ra tại Indonesia.

            Vấn đề nhân quyền TQ phải tuân thủ vì là một thành viên LHQ, đó cũng là lý do Hoa Kỳ hy sinh VN và THQG để lấy cái ghế LHQ cho TQ.
            Ý Bà muốn nhắc lại TQ phải bắt chước theo Mỹ vận-dụng áp lực chính trị để cho miền Bắc thống nhứt miền Nam bằng 72 giờ chuyển tiếp 3 tổng thống và kết thúc bằng một công điện sau cùng chấm dứt chế độ bằng “ĐUỔI MỸ”, và ngược lại TQ phải dùng áp lực buộc Bắc Hàn phải mời Nam Hàn thống nhứt vì có 50.000 quân Mỹ ở đó như ở Đức vậy. Nhắc lại ngày xưa Hoa Kỳ đả dùng nguyên Phi-đội CAT mà cưỡng bức Tưởng Giới Thạch và phe nhóm ra đảo Đài-Loan, cho Mao thống nhứt lục địa với trách vụ chia hai Triều Tiên rồi Việt Nam…

            Nhắc tới Trung Quốc, ngoại trưởng Hoa Kỳ nói cả hai nước sẽ được lợi hơn nhiều từ hợp tác thay vì đối đầu. "Sự thật là một nước Hoa Kỳ hùng mạnh tốt cho Trung Quốc và một nước Trung Quốc hùng mạnh tốt cho Hoa Kỳ." Bà Clinton nói Hoa Kỳ khuyến khích Trung Quốc tích cực tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu và cùng lúc tăng tính minh bạch trong các hoạt động quân sự để không có sự hiểu nhầm giữa quân đội Hoa Kỳ và Trung Quốc. Vị ngoại trưởng cũng nhắc tới những lo ngại của Washington về tình trạng nhân quyền ở đất nước đông dân nhất thế giới. Trên thực tế, nhìn vào bản đồ TQ như bị bao vây cô lập còn gắt-gao hơn LX ngày xưa và TQ chỉ có duy nhứt một con đường chọn lựa là vâng lời Mỹ để tồn tại "Chúng tôi đã nêu rất rõ, cả công khai và trong các cuộc gặp kín, những lo ngại sâu sắc của chúng tôi về nhân quyền. "Chúng tôi đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị. "Có nghĩa TQ và Việt Nam phải có một lá cờ mới như Liên Xô xuất phát từ ý dân qua Quốc Hội phán quyết. Một hiện tượng lạ như chúng ta đang thấy, một đệ tử ruột của TQ đã âm thầm đi chung với Ấn-Độ do Mỹ bật đèn Xanh.

            Hillary Clinton tiếp: "...Chúng tôi đã giải thích cho các đồng nghiệp Trung Quốc rằng sự tôn trọng đúng mực luật lệ quốc tế và một hệ thống chính trị cởi mở hơn sẽ tạo cơ sở để Trung Quốc phát triển và ổn định hơn nhiều - đồng thời tăng niềm tin cho các đối tác của Trung Quốc.
            "Nếu không Trung Quốc đã tự hạn chế sự phát triển của chính họ một cách không cần thiết."
            Bà Clinton nói sức mạnh các giá trị Hoa Kỳ còn quan trọng hơn cả sức mạnh quân sự và kinh tế.
            Bà nói trong khi họ thắt chặt thêm quan hệ với các nước mà Washington có khác biệt về hệ giá trị, người Mỹ luôn thúc giục các nước này thúc đẩy cải cách để cải thiện hệ thống quản trị, bảo vệ nhân quyền và tăng cường tự do chính trị.

            Vị ngoại trưởng cũng đưa Việt Nam ra làm ví dụ.
            "Chúng tôi đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị." Có nghĩa phải tuần tự sửa đổi thế chế theo đúng thời điểm decent interval của Mỹ qua diển tiến hoà bình không cần thiết phải “tắm máu”.

            "...Chúng tôi không thể và không định áp đặt hệ thống của chúng tôi lên các nước khác, nhưng chúng tôi tin rằng một số giá trị có tính phổ quát và người dân của mọi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Châu Á, đều coi trọng - chúng [Những giá trị này] là những giá trị của những nước thịnh vượng, hòa bình và ổn định".

            "Suy cho cùng chính người Châu Á sẽ tự theo đuổi những quyền và hoài bão của họ giống như chúng tôi thấy người dân đã làm ở khắp nơi trên thế giới."

            Ám chỉ Hoa Kỳ 'Lãnh đạo toàn cầu'
            Bà Clinton nói có nhiều người hoài nghi sức bền của Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới và bà nói những hoài nghi này không có gì mới. Bà Clinton nói Hoa Kỳ vẫn có nhiều cái nhất trên thế giới trong đó có quân đội mạnh nhất.

            "Khi Cuộc chiến Việt Nam kết thúc, có vô vàn các nhà bình luận toàn cầu đưa ra ý tưởng rằng Hoa Kỳ đang rút lui và đây là đề tài cứ vài thập niên lại được lặp lại. Chả lẽ nói ra đây là một chiến thắng thầm lặng cho thế giới nguyền rủa, trong khi nó chính là cuộc chiến bẩn thĩu, nhưng mục tiêu chính là Mỹ có rất nhiều lợi nhuận trong cuộc chiến đó, cái nhứt nhứt là Hoa Kỳ Siêu Cường Số-1 đứng vị trí cao chót vót không nước nào vói tới

            "Nhưng bất cứ khi nào Hoa Kỳ gặp trở ngại, chúng tôi đều có thể vượt qua nhờ tái sáng tạo và đổi mới. "Khả năng trở lại “roll-back” với tư cách mạnh hơn của chúng tôi là chưa từng có trong lịch sử hiện đại, vì nó nằm trong sách lược toàn cầu Eurasia tới phiên “Ấn Độ sẽ nắn gân TQ” nếu khôn ngoan đừng đụng chạm tuyến lửa đầu tiên VN và Phi Luật Tân. Nếu có đụng thì chỉ một thời gian thật ngắn để Hoa Kỳ nhân cơ hội thử một loại vũ khí mới như vừa rồi tại Trung Đông.

            "Nó bắt nguồn từ mô hình dân chủ tự do và doanh nghiệp tư do của chúng ta, mô hình hiện vẫn là phương tiện mạnh mẽ nhất sản sinh ra sự thịnh vượng và tiến bộ mà loài người từng biết tới." Vị ngoại trưởng nhắc lại cho thế giới thấy Hoa Kỳ vẫn có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, quân đội có vị trí số một, hiệu suất lao động của người Mỹ cao nhất thế giới và các trường đại học của Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới. "Bởi vậy không thể nghi ngờ chuyện Hoa Kỳ có khả năng giữ vững và đảm bảo sự lãnh đạo toàn cầu trong thế kỷ này như chúng ta đã đạt được trong thế kỷ trước," Sự trì trệ cũng như suy thoái kinh tế toàn cầu là do Hoa Kỳ cần có theo chu kỳ phải có … thế thôi.

            Bà Clinton khuyến khích vai trò của Ấn Độ
            Ấn Độ sẽ làm trụ cột châu Á? Ngoại trưởng SM Krishna đón bà Clinton ở Dehli hôm 19/7/2011. Trước khi tới Bali họp ASEAN về an ninh vùng tuần này, Ngoại trưởng Hillary Clinton khuyến khích Ấn Độ nhận trách nhiệm "lãnh đạo chính trị" và có vai trò mạnh mẽ hơn ở châu Á - Thái Bình Dương. Hiện đang ở thăm Ấn Độ, bà Clinton đã đọc bài diễn văn tại thành phố Chennai, nói rằng nước chủ nhà cần tăng sức mạnh chính trị cho xứng đáng với phát triển kinh tế. Hoa Kỳ đưa ra quan điểm rằng mối quan hệ Mỹ - Ấn sẽ tạo dựng đối tác cho thế kỷ 21 ở khu vực.
            Theo lời bà Hillary Clinton, "đây không phải là thời gian để bất cứ quốc gia nào có cái nhìn hướng nội, bỏ qua tầm nhìn ra bên ngoài. Đây là thời gian để nắm bắt các cơ hội của thế kỷ 21 và dẫn dắt nó."
            Các quan chức Hoa Kỳ nói diễn văn của bà Clinton một lần nữa xác tín viễn kiến về quan hệ của Washington với Dehli để thay đổi diện mạo châu Á.

            Ủng hộ Ấn Độ hết mình
            Tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Barack Obama đã thăm Ấn Độ và công khai ủng hộ Dehli có một ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Ông Obama cũng nói Hoa Kỳ muốn thấy Ấn Độ, nền dân chủ đông dân nhất thế giới trở thành đối tác rõ rệt hơn để cùng giải quyết các vấn đề toàn cầu. Nay, bà Clinton nêu ra một loạt các lĩnh vực hai bên đang hợp tác, từ công nghệ năng lượng sạch đến lo ngại về chương trình nguyên tử của Iran. Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi.

            Bà Clinton nói về tam giác Mỹ - Ấn - Trung
            Hồi năm 2008, hai nước đã ký hiệp ước về năng lượng nguyên tử dùng cho mục tiêu dân sự nhưng các công ty Mỹ vẫn chưa triển khai được dự án hợp tác với Ấn Độ.

            Về địa chính trị, bà Clinton nay nhấn mạnh đến tính tương đồng Mỹ - Ấn trong việc phối hợp vai trò dẫn dắt châu Á và nêu cao các giá trị chung từ an ninh biển, dân chủ đến nhân quyền trong thời điểm Washington đang va chạm với Trung Quốc, theo bản tin của Reuters 20/7/2011.
            "Vì Ấn Độ chia sẻ các giá trị và quyền lợi đó, nên hoạt động mở rộng hợp tác với chúng ta [Hoa Kỳ] sẽ chỉ có lợi cho cả hai," 'Quyền lợi'. Nhưng bà Clinton cũng nói cả New Delhi và Washington sẽ vẫn phải có "quan hệ mạnh, mang tính xây dựng với Trung Quốc".
            Ngoại trưởng Mỹ cũng thừa nhận: "Đây không phải là điều dễ dàng. Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi". Bà tin rằng cả Ấn Độ, Trung Quốc và Hoa Kỳ "đều phải phối hợp các nỗ lực".

            Bà Clinton bắt đầu chuyến thăm ba ngày đến Ấn Độ bằng cuộc gặp với lãnh đạo nước chủ nhà ở Dehli hôm thứ Hai. Hai bên đã hội đàm cả về chương trình hạt nhân của Ấn Độ, và tình hình Pakistan, Afghanistan. Theo phóng viên Suvojit Bagchi của BBC News từ Delhi thì Ngoại trưởng Krishna tỏ ý lo ngại với bà Clinton về kế hoạch Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan. Ông nêu lý do chính quyền Karzai sẽ không đủ sức tự vệ trước phe Taliban, và nguy cơ hỗn loạn tại đây có thể lan rộng.

            Ngoại trưởng Mỹ sau đó đến Madras (Chennai), nơi có đầu tư nhiều của Mỹ và thăm nhà máy xe hơi của hãng Ford. Ấn Độ hiện là bạn hàng thứ 12 thế giới của Hoa Kỳ với trao đổi thương mại hai bên đạt gần 50 tỷ USD năm ngoái. Hoa Kỳ muốn Ấn Độ vươn lên vị trí một trong 10 nước là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ.

            CÒN TIẾP
            Last edited by Phòng Trực; 09-07-2012, 01:38 PM.

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #7
              Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

              Mặt trái cuộc chiến VN

              Nguồn gốc, hệ quả cuộc chiến: Căn cứ theo trang 3/7 http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman: “Aid to Russia 1941-46” bởi chiến lược gia, George F Kennan, sáng lập chương trình chiến tranh lạnh (Cold War) chia hai quốc gia Đức, Triều-Tiên và VN, rồi tuần tự sẽ thống nhứt sau, đặt biệt VN vì không có quân đội Mỹ ở lại nên theo lộ đồ đúng 50 năm sau (1945-1995) sẽ thống nhứt theo dưới sự bảo trợ gián-tiếp của Mỹ, như trong ống kính của George Kennan là 1995 bằng sự chính thức công nhận trên công hàm ngoại giao; còn hai nước Đức và Triều Tiên theo yêu cầu tình thế vì trọng điểm Eurasian Great Game là phải chia Liên Xô và Trung Quốc ra nhiều tiểu quốc với cái dù “Tối huệ quốc” [Freedom-Support Act] dĩ nhiên mực sống của người dân trong những nước Cộng Hoà mới nầy sẽ cao hơn người dân tại Moscova và Bắc Kinh).

              Khi mà Thượng nghị-sĩ Dân-chủ, Idaho Frank F.Church và Thượng nghị-sỉ, Kentucky, Cộng-hoà, John Sherman Cooper, hai ông quyết định tu-chánh án bằng danh xưng của hai ông “Cooper-Church”-1970 ra lệnh cúp mọi chi tiêu về quân sự trên toàn vùng Ðông Nam Á, có nghĩa sẽ mớm những lời lập-lờ ẩn-ý để Kissinger cho Trung Quốc chiếm Hoàng-Sa sau khi Hoa kỳ rút khỏi nơi đây. Lúc nầy Chiến lược gia Harriman lại cho ra đời cuốn sách “Hoa kỳ và Liên Xô cùng thay đổi cục diện thế giới” [America and Russia in a Changing World 1971] có nghĩa nhường ảnh các nước ÐNA cho Liên-Xô (Theo sự nhận xét của cá nhân tôi, chính trị nói một đường nhưng làm thì trái ngược vì 1972 Nixon qua gặp Mao sẽ hứa giúp Trung Quốc về khoa học kỹ thuật để trở thành cường quốc số 2, chiếm ngôi vị của Liên Xô đương-đại).

              Thấy Hoa-kỳ lùi bước về Honolulu, sau khi cưỡng chiếm Hoàng-Sa, nhóm trẻ Trung quốc lấy đà chiếm các đảo san-hô (Mischief Reef) của Phi Luật Tân và quần đảo Trường-sa (Spratlys) nhưng Phi Luật Tân vì yếu thế nên cứ la hoảng bằng hình thức ngoại giao. Tổng thống Fidel Ramos: “Tôi sẽ dùng những biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền!” Thế là Mỹ bán cho Phi Luật Tân khoảng 2 tỷ dollars chiến cụ để tự vệ trong khi đó Hoa kỳ được “save money” về chi tiêu, nhờ CIA tạo cảnh rời bỏ hai căn cứ Hải và Không, Clark field và Subic 1992 với lý-do dân Phi biểu tình đuổi Mỹ! cũng như Tổng Thống Minh chỉ nắm quyền trong 72 giờ, vừa đủ để đuổi Mỹ để bàn giao.

              Thấy những sự việc khó hiểu về chính sách Mỹ, báo chí có đặt câu hỏi với Ðô-đốc Richard Macke, Tư lệnh Thái bình dương về các biến cố như kể trên, Macke trả lời: “Chúng tôi không ngạc nhiên gì về dữ kiện biến-cố đó đả xảy ra!” Báo chí không hài lòng câu trả lời nầy, nên một tuần sau, họ hỏi Ðô đốc William Owens, Phó Tham mưu trưởng Liên quân một lần nữa và được trả lời: “Hiện đang có quá nhiều biến cố xảy ra tại quần-đảo Trường sa do nhiều nước dính líu tới, nhưng chúng tôi là quân nhân nên không dính líu gì về chính sách, tuy nhiên chúng tôi cũng chia bớt những tin tức tình báo mà chúng tôi biết được cho đồng minh của chúng tôi!” Tuy Hạm đội 7 của Hoa kỳ không có mặt ở biển Ðông nhưng chiến hạm Mỹ với cái gọi là “tìm phi-công Mỹ mất tích” dưới lòng Vịnh Bắc Việt và biển Ðông vẩn tiếp tục đi đi lại lại, đôi khi ghé vào thăm viếng VN và dĩ nhiên phải xuyên qua duyên hải VN cũng thuận theo công pháp quốc tế về biển.

              Ðịnh mệnh của VNCH nằm trong tu chánh án “Case-Church": Ngày 29/6/1973, lại cũng do Thượng nghị sĩ Frank F Church, Dân chủ, Idaho và Thượng nghị sĩ, Công-hòa, New-Jersey Clifford P.Case, lại một lần nữa nhập tên hai ông nầy thành tu chánh án “Case-Church,” ra lệnh nghiêm-cấm mọi hoạt động quân sự của quân đội Mỹ tại Lào, Cambodia, và Việt Nam. Có nghĩa lực lượng Hoa kỳ không còn ở lại Ðông Nam Á. Thế là 700 triệu tấn vũ-khí mới-tinh của Liên Xô trả bằng tín-dụng dollar Mỹ cho giai cấp thợ-thuyền Liên-Xô trong thế “bênh kẻ mạnh”, đem vào Hà Nội cho chiến dịch Hồ Chí Minh và chiếm Cambodia sau nầy. Kết thúc Màn-2 giai-đoạn-2 để qua Màn-3 là Trung-Ðông! có nghĩa bức chắn ngang Âu-Á. Nhưng trọng điểm của vở bi kịch Eurasian lại nhấn mạnh ở hậu quả từ Màn-2, giai đoạn-2 do vệ tinh gián điệp [American spy satellite program] đã khám phá các nguồn tài nguyên dưới thềm lục địa sau thế chiến-2, gây hệ quả: phải giải nhiệm Tướng Mac Arthur, Trung Hoa Quốc gia buộc phải nhường ghế LHQ cho Trung quốc, giải thể VNCH tại vùng sẽ tranh chấp, sau khi khoan thử vài mũi khoan kiểm chứng có dầu khí tại đây, rồi đóng nút lại chờ phân giải trên bàn mổ LHQ vào đầu thế kỷ 21: Thềm lục địa có trữ lượng dầu khí nầy sẽ đem ra bàn luận tại LHQ vì có nhửng văn bản thành văn và những, chưa thành văn cần tái xác định điều chỉnh lại bằng công pháp quốc tế nhẹ nhàng không cần phải dao to búa lớn!

              “Hoa-kỳ muốn bảo đảm rằng các nước có thể có lợi ích trong đó nên hiểu, vùng biển Ðông có những luật lệ thành văn (điều khoảng trong HÐ Genève-1954) và bất thành văn (Hoa kỳ bằng mọi giá phải đưa TQ vào cộng đồng quốc tế để dự phần bảo vệ trật tự thế giới) không ai được quyền ra đó “Xí-được” rồi đấm ngực ầm ầm và tuyên bố Tôi có quyền khai thác mỏ dầu ngay tại chổ nầy!” Hoa kỳ sẽ không quay lưng và cũng đúng vào lúc phải trở lại (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) theo đúng trên trục tiến đồ để giữ lời cam kết với đồng minh của mình, chủ yếu là Việt Nam phải có sự bảo đảm được an toàn cho các công ty khai thác, nếu không thì VN chưa có thể là quốc gia có dầu khí chính thức trong vùng! Vì thế Hoa-kỳ sẽ trang bị tối tân hóa hải quân cho VN để tiếp-tục keo sơn hiệp ước Việt-Phi tháng bảy, 1995 cũng chỉ là để bảo vệ chủ quyền lảnh hải của hai nước nhưng chủ yếu vẩn là quyền lợi Mỹ.

              Trong thời gian nầỳ thỉnh thoảng chiến hạm Mỹ tới thăm VN, Ðô-đốc Timothy Keating, Tổng tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái bình dương lại qua thăm VN một lần nữa ngay sau khi Bắc-Kinh công bố sắc lệnh thành lập thành phố Tam-sa bao gồm Hoàng-sa và Trường-sa. Trung Quốc âm thầm xây dựng căn cứ tàu ngầm nguyên tử tại thành phố Sanya cực nam đảo Hải-Nam để chuẩn bị khai triển lực lượng tàu ngầm nguyên tử có khả năng chơi trò đuổi bắt và săn tìm với hạm đội tàu ngầm của Hoa kỳ trên biển cả bao gồm Thái Bình Dương, Ấn Ðộ dương và cả Ðại Tây dương khi cần hộ tống các tàu dầu Trung Quốc chạy qua kinh đào Suez.

              Ðể chuẩn bị cho Tổng thống thứ 44 của Hoa kỳ sẽ tái xác định chính sách “tái can dự” của Hoa kỳ ở Á châu và đặc biệt ÐNÁ- TBD. Chính sách chiến lược Eurasian là mục đích chính “bảo vệ VN” trong giai đoạn trở lại [“roll back.”] Tháng Sáu, 2008, TT Bush có mời TT Dũng và TT Phi xác nhận chủ quyền của hai nước, đồng thời khuyên hai nước hợp tác quân sự để bảo vệ lãnh hải của mình, dĩ nhiên Hoa Kỳ sẽ tìm cách bán vũ khí sau, và sẽ có Hiệp ước hợp tác quân sự Việt Mỹ trong nhiệm kỳ Tổng thống thứ 44 . Biết cái thế yếu kém của VN, Hoa kỳ đã từ lâu im lặng trước các động thái khiêu khích của Trung Quốc và âm thầm chuẩn bị đánh những đòn trả lại, Hoa kỳ tìm cách thuyết phục VN về mối nguy hiểm đã kinh qua do Trung Quốc, và hình như đã thành công phần nào. Kết quả Hoa kỳ cam kết ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lảnh thổ VN. Dĩ nhiên phản tình báo CIA sẽ lập lại qua con bài chống tham nhũng để loại ra các phần tử thân Trung Quốc bằng tam-trùng Nguyễn Chí Vịnh, và thế vào đó thành phàn thân Hoa kỳ, cấu trúc guồng máy lảnh đạo quân đội để sẵn sàng tối tân hóa hỏa lực, và sau nầy thành lập nội các có 8/10 sẽ đào luyện tại Mỹ và do đồng bào ruột thịt sẽ tự nguyện đem chất xám về phục vụ dân tộc, với 10.000 tiến sĩ gương mẫu đào tạo tại Hoa-kỳ. Ðiều nầy người viết chắc chắn sẽ xảy ra 100%, còn những người Việt hải ngoại mang máu hận thù sẽ không thấy có tắm máu trở lại mà Hoa Kỳ có trách nhiệm sẽ giải quyết êm đẹp, khi nhóm người nầy nằm yên dưới ba tất đất không thể đội mồ mà lội ngược dòng lịch sử.

              Năm 1947 biến hóa OSS thành CIA, Harriman và Prescott đã chuẩn bị đem chiến tranh từ Âu Châu qua Á Châu, đồng thời ngay thập niên 60, khi vệ-tinh gián điệp đã phát hiện mỏ dầu dưới thềm lục địa của VN, và đả khoan thử chắc có rồi mới đóng lại để chờ đến ngày hôm nay (Tổng thống 44) TQ nên hiểu rằng Con Ó làm tổ thì nơi đó chỉ nở ra Ó-Con, chớ không thể Le-le hay Vịt trời nở ra nơi đó! Hoa kỳ phải cách chức vị Tướng tài Mac Arthur để đưa Trung Quốc vào trò chơi pháp lý; Còn đối với Hoa kỳ nơi nào có thể làm ăn hợp pháp mới dám bỏ vốn làm ăn, bất chấp sự bất bình của Trung Quốc là một quốc gia đang lớn mạnh và có khả năng làm khó Hoa-kỳ thì Hoa kỳ cũng sẽ làm khó lại. Trung quốc đừng quên rằng 1949 CIA đã hoàn thành cưỡng bức di tản Thống chế Trưởng Giới Thạch qua đảo Ðài-Loan và 1959 đả bí mật giúp bảo-vệ Ðức Ðạt Lại Lama và vận tải cơ C-130A do Ðại-tá Harry Aderbolt, chuyên viên nhà nghề về hành quân thâm nhập vẫn thường xuyên tiếp tế cho du kích của ngài, Trung Quốc khôn ngoan nên ôn hoà với Mỹ vì nội bộ mới là cái cơ nguy cho Trung Quốc mà CIA đã quậy nát bấy rồi, và hơn nữa TQ bề ngoài xem như mạnh nhưng thật sự rất còn yếu kém nhiều phương diện. Gương trước mắt, Liên Xô là một nước CS chuyên chế mà Hoa kỳ còn làm sụp đổ từng mảnh, Hoa kỳ xem Liên Xô cứng và gai gốc như vỏ trái Soài Riêng, còn Trung Quốc như những múi thơm hay thúi gì đó tùy sự khôn ngoan của đối tượng biết cư xử thế nào cho phải đạo.

              Ðã đến lúc Hoa kỳ phải tỏ ra bênh vực VN bằng cách “Tái khẳng định sự ủng hộ của chính quyền Mỹ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của VN” qua một số ngôn từ làm giới quan sát quốc tế đánh đổi ngạc nhiên: Hoa-kỳ và VN phải trao đổi việc mở rộng và tăng cường đối thoại giữa các quan chức cao cấp của hai nước, sẽ ủng hộ việc lập cơ chế đối thoại mới về chính trị, quốc phòng và chính sách nhằm tăng cường sự trao đổi thường xuyên và sâu hơn nữa về các vấn đề chiến lược và an ninh. Ngay vào lúc nầy, về phía VN, bị dồn vào chân tường, VN khó chọn thái độ đẩy đưa đu-dây như trước mà phải dứt khoát, mạnh mẽ làm bất cứ những gì cần thiết để chứng tỏ chủ quyền lãnh thổ của mình. Theo trong tầm ống kính của Skull and Bones [Harriman] cho biết rằng: “nếu việc tranh chấp chủ quyền trên biển được đưa ra quốc tế thì VN có nhiều điều kiện để thắng” Vì thế cho nên Hoa kỳ chường mặt bằng ExxonMobil không thể đơn giản rút lui như công ty người Anh BP đã phải chùn bước năm vừa qua, mặc dù áp lực của TQ không làm cho Công-ty ExxonMobil ngưng tiến hành các cuộc thảo luận với Petro-VN.

              Về chuẩn bị dư luận thế giới là môn tuyệt chiêu của thủ lãnh Skull and Bones [Harrimen, Bushes] lại lấy trung tâm văn hóa thế giới là Thủ đô Paris qua nguồn tài trợ Ngân hàng Thụy-Sỉ như: nữ tiến sĩ Monique Chemillier Gendreau, giáo sư Luật và Khoa học Chính trị đại-học Paris, vì lương tâm khách quan, vì công lý lẽ phải của một luật gia tầm cỡ quốc tế. Giáo sư Monique đả bỏ ra nhiều năm tận tụy sưu khảo và viết bộ sử tựa đề “La Souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys” L’Harmattan, Paris 1996, 306 pp (Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trong đó gần nhứt là Hiệp định Genève 1954 có các Ðại-sứ cường quốc như Liên Xô và Chu An Lai công nhận bằng chử ký, miền Nam VN có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước khi nhường ghế cho T.Thống thứ 44, George Bush ghé Tổng thư ký khối ASEAN ở Thai Lan tái xác định chính sách “can-dự” của Hoa kỳ ở Á-châu và đặc-biệt ở ÐNA, TBD. Nói tóm lại Bush tuyên bố thẳng thừng là bảo vệ VN để giữ nguồn dầu khí nơi đây không thể rơi vào tay Trung Quốc và sau đó VN sẽ thể hiện đường lối cứng rắn với TQ để đi theo Mỹ đúng như ý đồ cũa Harriman qua chiến lược gia George F Kennan trong thế chiến lược Eurasian 1920-2020.

              “Làm gì có sự lạ trên đời khi Con Ó làm ổ, đẻ trứng nơi đó mà lại nở ra con Le-Le Vịt trời” Trung quốc cũng thừa hiểu khi đụng độ với VN và Phi Luật Tân thì có các nước khác nhảy vào như Nhựt, Thái-lan, Ðài-Loan, Mả-Lai, Borneo… Trung quốc không muốn rằng mình trở nên con Heo-rừng bị một bầy chó săn tấn công mọi mặt, đến khi kiệt sức, thì người thợ Chú Sam dứt nộc. Dĩ nhiên Trung quốc không dại gì phải… hơn nữa dù là “Di tản chiến-lược”[theo lộ-đồ Eurasian] về Hawai 1970 ngay sau khi Quốc hội Hoa kỳ ban ra Tu chánh án “Cooper-Church,” nhưng Hoa kỳ ngầm ý để cho Nhựt thay mặt bảo quản an ninh vùng Thái bình dương sau khi Mỹ di tản chiến lược. Ngoài ra từ thập niên 1970, Nhật bản được Mỹ bật đèn xanh bung ra viện trợ cho các nước trên thế giới, đứng vào hàng đầu là ưu tiên cho VN, qua viện trợ để các nước tiêu dùng hàng hóa Nhựt, đồng thời gây ảnh hưởng để mở rộng thị trường. Mỹ và Nhựt sáng lập Ngân hàng phát triển Á-châu ADA để tận tình giúp đỡ VN, cũng như Hoa kỳ lờ luôn cho Việt kiều tuôn về hàng tỷ dollar theo như lộ-đồ chiến lược Eurasian. Hoa kỳ bàn giao lại cho Nhựt những tin tức tình báo gài bẩy sự khao khát dầu khí của TQ qua 1974 cưởng chiếm Hoàng Sa của VNCH, đánh chiếm một số đảo Trường Sa năm 1982, trên biên giới trận đánh cưỡng chiếm đất đai Thanh-Thủy, Lão-Sơn 1984. Thấy TQ với âm mưu Ðại-Hán và chiến lược Hải Dương, Nhựt Bản thay mặt Hoa kỳ đã công bố một bạch thư về “An ninh quốc phòng Nhựt Bản về Á-châu” cho Việt Nam: 1988 hải quân TQ chủ trương chiếm các đảo San-hô của Phi và Trường-Sa và 2008 trong mùa bầu cử tổng thống, hải quân TQ sẽ tiến xuống Trường Sa, đánh bật Mỹ ra khỏi biển Ðông, cô lập vùng biển của Phi Luật Tân và VN. Nhưng Bushes rất bình tỉnh sẽ có một tổng thống da màu biểu tượng 1000 lần dân chủ, sẽ cứng rắn bằng những lời đanh thép với TQ.

              Hoa-kỳ muốn Nhựt trở nên một nước hùng mạnh tại Á-châu! Nhưng phải có nanh-vuốt quân sự, thông thường “Ai buộc, người đó gỡ”: Ngày 14/8/1945, Nhựt đầu hàng sau khi lãnh hai trái bom nguyên-tử ở Hiroshima và Nagasaki, Thống tướng Mc Arthur đại diện Ðồng minh, tiếp nhận cuộc đầu hàng của Nhựt trên mẫu hạm Missouri neo ở cảng Tokyo cùng với 11 đại diện các nước Ðồng minh, trong đó có Nga-Sô, Trung-hoa, Canada, Anh, Úc … Tướng Mc Arthur cầm đầu Hội đồng tối cao Ðồng minh quân-quản một nước Nhựt đầu hàng [một Vị Tướng tài ba như vậy mà bị W.A.Harriman áp lực TT Truman phải cách chức, thì chúng ta cũng dể hiểu, Ông Harriman nầy quả là một thế lực ghê-gớm nhứt sau hậu trường nước Mỹ và chính ông nầy là thủ phạm ra lệnh giết chết TT Diệm] Ban Quân pháp Hoa-kỳ được lệnh soạn thảo hiến pháp mới cho Nhựt – Hiến-pháp 1946, có hiệu lực từ 1947 cho đến nay, chưa một lần tu chỉnh. Dù hiến pháp do do Ban Quân pháp của Bộ Tổng Tư Lệnh Mỹ soạn thảo, nước Nhựt trong 60 năm qua vẩn triệt để trung thành và là một trong những nước dân chủ nhứt thế giới.

              Vì Trung-Quốc đã vướng vào cái bẫy của Mỹ giăng ra đầu tiên 1/1974 vụ cưởng chiếm Hoàng-sa của miền Nam VN, sau đó quần đảo san-hô và Trường-sa do nhiều nước có chủ quyền nơi đó, nhiều nơi thành-văn còn nơi khác bất thành văn, kể cả đảo Ðiếu-ngư không biết Nhựt hay Trung hoa là chủ quyền; Vì thế Hoa-kỳ phải hy sinh hai nước đồng minh là Trung Hoa Quốc Gia và VNCH để đưa Trung quốc vào trò chơi công pháp quốc tế để yên tâm bỏ vốn khai thác dầu khí đúng theo sự thiết-kế của George Kennan. Trung quốc quá ham dầu hỏa và hơi đốt dưới vùng biển trong hải phận VN, điều nầy quá đúng theo sự dọ thám của vệ-tinh sau thế chiến-2, dầu khí ở thềm lục địa VN dẩn đầu các nước ÐNA. Tổng số dầu khí VN là 1.9 tỷ BOE (1 bbl tương đương 5,300 ft3) Dù rằng Trung quốc có hung hăng công bố bản đồ mới của TQ 2007 với lưỡi-bò từ vùng An-vạn bắc và biển Ðông rộng 5 triệu km2, thêm một thách đố khác đối với Nhựt, Úc mà Úc cũng như Tân Tay Lan đã tự coi thuộc về Á châu và ÐNA. Nhưng Mỹ thì cứ nhởn-nhơ vì biết chắc rằng, ít nhứt cho đến năm 2030, còn như hiện tại kỹ nghệ dầu hỏa TQ chưa có đủ khả năng khai thác dầu khí ở Biển Ðông, nhứt là vùng Trường-Sa và Hoàng-Sa. Nhưng trước 2030 hay trước 2023 kỷ niệm 50 chiến tranh VN thì mọi việc đã dàn-xếp trên bàn họp tại Liên Hiệp Quốc mà chắc chắn Trung quốc sẽ bị thua vì pháp lý, căn cứ những dẩn chứng mà Tôi hiểu được! .

              Hoa-kỳ, ngay sau khi Quốc hội cho ra Tu chánh án “Cooper-Church-1970” bèn nói nhỏ Nhựt cứ việc âm thầm sản xuất chiến cụ để thay mặt Mỹ trông coi an ninh trong vùng, Nhựt sẽ đóng Hàng không mẫu hạm và các giàn hỏa tiễn tầm xa; ai cấm Nhựt bí mật chế tạo vũ khí nguyên tử, tàu ngầm nguyên tử với đầu đạn nguyên tử? Sức mạnh quân sự của Nhựt vẩn gắn bó với sức mạnh quân sự Hoa-kỳ, nối kết với Úc-Ðại-Lợi, một thử thách ghê gớm khiến TQ phải suy nghĩ hai lần hoặc nhiều lần! Cho đến khi Bắc-Kinh điên khùng ngang nhiên ra tay cho liên quân tập trận ở Trường Sa và ban hành sắc lệnh thành lập thành phố Tam Sa, huyện đảo Tam Sa, thuộc Tỉnh đảo Hải-Nam. Ðây là lúc mà Hoa-kỳ muốn Nhựt trực tiếp đối đầu [cũng là phương thức gây chiến kiểu đàn anh, bắt mấy thằng em nhập trận trước, cho đến khi địch thủ mệt nhòai, là chọt một cái nhẹ địch thủ cũng sẽ ngã quỵ; Trong thế chiến-2, Ðại sứ W.A Harriman tại Liên Xô chỉ ngồi chờ đợi, cho đến khi Hồng quân tiến vào Bá-Linh, lúc đó Trung-úy OSS William Colby mới cho Harriman biết để thả Sư-đoàn Dù vào phỏng tay trên chụp trước các nhà bác học Ðức].

              Sự kiện hung-hăng diễn tập quân sự bắn đạn thật của TQ, khiến Nhựt bản phải tái võ trang theo sự gật đầu của Mỹ. Năm 2008 TQ vươn lên đến đỉnh cao thịnh vượng với Thế vận hội Bắc kinh; thực tế, Nhựt Bản chuẩn bị tái võ trang đã từ lâu, nay vì sự hung-hăng của TQ, nên mới công khai hóa. Ðây cũng là một khúc quanh thách đố lớn đối với TQ, chính phủ Nhựt công bố quyết định tháng 9/2007 nầy, Tự vệ quân Nhựt ra đời sau hiến pháp “chủ-hòa” 1947 sẽ trở thành Quân đội chính qui. Sau khi quốc-hội Nhựt thông qua đạo luật mới cho phép Tổng Nha Tự Vệ (The Agency of Self Defense) trở thành Bộ Quốc Phòng; Thế nên Tổng Giám Ðốc Tự Vệ đã trở thành Tân Bộ Trưởng Quốc Phòng. Ðương nhiên là một đồng minh son-sắt nhứt của Mỹ, Nhựt sẽ phát triển sức mạnh quân sự thành một cường quốc quân sự số 1 Á-châu chậm nhứt là năm 2010 với 3 quân chủng Hải, Lục, Không quân cùng bảo-trợ quân sự cho VN để cùng chia sẻ trật tự tại vùng ÐNÁ, Việt Nam sẽ được trang bị sơ khởi bằng tàu ngầm Kilo, các diệt lôi hạm có trang bị hỏa tiễn tối tân liền sau đó và các trực thăng võ trang tuần tra UH-1H cải tiến đậu trực alert trên các tuần dương hạm.

              CÒN TIẾP
              Last edited by Phòng Trực; 09-07-2012, 05:15 PM.

              Comment

              • vinhtruong
                Super Member
                • Jun 2010
                • 1924

                #8
                Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

                Sự thật huyền thoại HCM

                Để soi sáng những vùng tối của lịch sử, người viết cảm nhận phải đưa ra những sự kiện trung thực về con người và sự nghiệp của Hồ Chí Minh vào khi có quá nhiều thông tin trái ngược nhau về nhân vật lịch sử nấy, không nên mạt sát, không nên đả kích. Đây không phải bài viết tố-cộng, mà là một diễn giải bởi cá nhân người viết, muốn trình bày sự thật về một con người, mà phía Cộng Sản đã cố tình che giấu bằng những huyền thọai, họ coi như là một vị thánh, vị thần, thậm chí còn thở phượng. Nhưng thật ra có ai biết đâu là do một khối óc tinh-ranh thần sầu quỷ khốc, họ có thể làm đảo lộn cả căn thực chất chân-lý kinh dị mà chúng ta có thể chứng kiến nhãn tiền như tại Mỹ: da đen hạ da trắng, vô danh tiểu tốt hạ nổi tiếng trên chính trường, nhà nghèo thắng nhà giàu, tiểu niên TNS thắng thâm niên TNS, chưa ở Bạch Ốc thắng người đã từng ở 8 năm Bạch-Ốc, tiểu bang nhỏ thắng tiểu bang nổi tiếng New-York… nói tóm lại cái Tập-đoàn War Industries Board ghê-gớm nầy muốn làm gì chả được? Tổng thống Bush-Con đã thua Gore, giờ chót “bồ-nhà” Tối Cao Pháp Viện quyết định cho thắng, nghe lén Watergate bị buộc từ chức, nhưng lừa gạt dân Mỹ và Quốc hội tuyên bố gây chiến vì Iraq có vũ khí nguyên tử… nhưng không có, vẫn ngồi trên chiếc ghế quyền lực đến mãn nhiệm kỳ thì làm gì nhau?

                Qua một thời điểm tranh cử ngắn ngũi “chiến-thuật” do chính họ bảo trợ, như vậy thì trong kế hoạch siêu “chiến-lược” toàn cầu, nhóm người nầy muốn Võ Nguyên Giáp hay tướng lãnh Hà Nội dù không học trường lớp nào vẫn nổi tiếng như cồn, chẳng lẽ tất cả đều là thiên tài? Mọi đường lối chính sách thường qua quyết định bởi người thống lãnh thế giới William Averell Harriman (1891-1986) xác quyết cho mục tiêu chiến lược toàn cầu, điển hình như nhân vật Hồ Chí Minh với nhiều huyền thoại trong sự nghiệp bí ẩn đầy gian dối do chính tham mưu chiến lược gia George F Kennan (1904-2005) sáng tạo dựng lên cho chủ đích chính trị trong giai đoạn lấy màu da Vàng làm vật tế thần thay cho người da Trắng, hay nói cách khác đem chiến tranh từ Âu Châu qua Á-Châu bắt đầu từ 1950 …

                Nhưng thật sự, sau khi nghiên cứu kỹ, thì HCM cũng chỉ là một con người bình thường, mà là một con người có rất nhiều điều phải nói, một trong những điều phải nói là để lại một di sản rất là tai hại cho dân tộc VN (nhưng không phải do HCM chủ động mà là bị đặt để?) Về một cuốn phim mà tôi cho rằng: “Trình bầy Sự thật HCM đã đến thời điểm phải tuyên bố đâu là sự thật mà người Việt cần phải biết” theo đơn đặt hàng. Để thực hiện cuốn phim này, người ta tìm kiếm, góp nhặt, thẩm định và ghi chụp tài liệu của nhiều sử gia và nhà nghiên cứu, các nhân chứng sống, và nhất là những tài liệu đã được giải mật từ văn khố của nhiều chính quyền, cũng như cơ quan tình báo các nước đã giữ chặt trong tủ sắt, nay mới chịu khui ra cho thế gian biết vào đúng thời điểm decent interval trên trục lộ đồ phải diển tiến. Ngoài ra còn phải kể đến các cuộc gặp gỡ, phỏng vấn 31 nhân chứng sống tại 15 địa điểm khác nhau, như nhà văn Vũ Thư Hiền, nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng, Vũ Ngự Chiêu, GS Sophia Quinn-Judge, cựu đại tá và nhà báo Bùi Tín, GS Nguyễn Ngọc Bích, GS Lê Hữu Mục, ông Nguyễn Minh Cần, ông Nguyễn Tường Bách, ông Minh Võ, đại sứ Bùi Diễm, nhà báo Oliver Todd và LM Phan Văn Lợi …

                Cuốn phim muốn trình bày sự thật về một con người, mà phía ĐCS, nhứt là phía Hà-Nội, tay sai gián tiếp của Mỹ, bằng sự lựa chọn Mafia Lê Đức Thọ. Vì được hưởng lợi khi buộc phải núp dưới bức tường Thép, nên đã cố tình che giấu bằng những huyền thọai, người ta coi như là một vị thánh, vị thần. Hồ Chí Minh lẩn khuất sau những lớp màn che tối tăm hay mờ ảo để cho người ta không nhận diện được ông, cho nên từ đầu chí cuối, tôi thấy từ ngày sanh cho tới ngày chết của cụ Hồ Chí Minh đều dối trá, không thật chỉ vì một lý do chính trị nào đó của thế lực trong bóng tối muốn thế. Vì sự thật OSS cũng như CIA sau nầy không muốn ai hiểu rõ lai lịch của lá bài tẩy đang thế úp như HCM để theo dõi mà chỉ có bọn họ [Permanent Government] độc quyền mà thôi cho mưu đồ chính trị; ngay cái tên đường mòn Hồ Chí Minh, Chiến dịch HCM, thành phố HCM, và nếu Harriman còn sống thì HCM sẽ nằm trong danh sách danh nhân thế giới như Nguyễn Trải qua quỷ tài trợ ngân hàng Thuỵ-Sĩ cũng như đã ban thưởng giải hoà bình Nobel cho Kissinger, còn Lê Đức Thọ không được nhận như lời vàng thước ngọc của Harriman dặn dò Thọ tại Paris Peace Talks: “Phải chiếm miền nam và Cambodia”.

                Tôi hết sức tôn trọng, không chỉ trích nặng nề, và cũng không ca tụng cụ Hồ Chí Minh là một hình nộm lịch sử, những gì tôi hiểu được, từ nơi cuốn phim, đó là phim tài liệu. Tôi không thể cả quyết được rằng tất cả đều là sự thật theo nhãn quan của tôi, mà chỉ nói, tôi đang tiến tới sự thật về Hồ Chí Minh theo những chứng cớ thấy rờ được qua những tài liệu đi vào thực tế, như chính HCM cũng thừa nhận cụ là người bình thường như mọi người, dù rằng bị gán ép là học thuyết gia, tác giả … nhưng cụ rất khiêm nhường tự thú cho rằng cụ chỉ là người hành động, mọi người nghe chữ Leninìst, Maoist .. chớ có ai bao giờ nghe Hoist chưa? Ai muốn thần thánh hoá cụ để làm gì?

                Di sản Hồ Chí Minh, nội dung tổng quát của phim “Sự Thật về HCM” được trình bày mạch lạc như có chủ đích từ lâu trong 6 lãnh vực: Thân thế, đạo đức, tư tuởng, bản chất, di sản và tội ác của HCM. Trong mỗi lãnh vực, cuốn phim nêu lên những gì đang được rao giảng về HCM ở trong nước và đưa ra những chứng tích lịch sử dưới nhiều hình thức để chứng minh là những gì đang được truyền bá trong nước hầu hết là những điều được thêu dệt lên để thần thánh hóa ông với chủ đích không tốt, là cái dù cho bọn Mafia Lê Đức Thọ và đồng bọn núp dưới mà hưởng thụ cướp bóc đúng nghĩa đảng cướp Mafia.

                Có rất nhiều nhà nghiên cứu ngọai quốc về phim đời sống của HCM, về con người của HCM khi họ xin phép để phỏng vấn thì bị từ chối, lý do là nếu họ trả lời, trình bày những sự thật thì CSVN sẽ không cho họ vào VN để mà nghiên cứu nữa. Cho nên phải nói là họ rất là may mắn nhờ CIA giúp đỡ! Phỏng vấn được hai người đó là nhà văn nhà báo Oliver Todd, và GS Sophia Quinn-Judge, là hai nhà nghiên cứu về VN có tăm tiếng quốc tế, và một lần nữa có thể nói đó là cái may mắn nhờ đúng vào thời điểm. Nhưng họ cứ yên tâm, Hoa kỳ sẽ đợi đúng thời điểm 50 sau khi người Lính Mỹ rời khỏi VN (1973-2023) lúc nầy thế hệ dính dấp với chiến tranh đã nằm yên đưới đất thì lúc đó câu nói của Thượng Nghị Sĩ Mc Cain sẽ làm sáng tỏ thêm: Mc Cain bị CS giam cầm hành-hạ đến nỗi hai lần toan tự tử mà không được toại nguyện đã nói, “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” sẽ phong phú hoá câu nói để rồi cùng trùng hợp với câu nói của Donald Rumsfeld, tác giả tháng Tư Đen: “Miền Nam bù nhìn Miền bắc yêu nước” Tại vì vở bi-kịch nầy trả lại lời hứa với cụ Hồ là sẽ giúp cho VN thống nhứt độc lập, nhưng trước tiên phải trả một cái giá là để cho họ khai thác lợi nhuận qua khuấy động chiến tranh, trong lúc chúng ta đang nằm yên dưới ba tấc đất không thể đội mồ lên mà lội ngược dòng lịch sử? Cái giá quá đắt 1945-1975 khói lửa!

                Thật ra đối với người quen tìm đọc các tài liệu lịch sử, thì những điều được trình bầy trong cuốn phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” không mang đến cho họ điều gì mới mẻ đáng kinh ngạc, nhưng theo LM Nguyễn Hữu Lễ thì nếu đối tượng là những người ở trong nước thì lại khác. Đó là lý do vào thời điểm thả chiếc bong bóng nhẹ nhàng bay bồng bềnh trên bầu trời Việt Nam là chủ đích. Nếu là người ngọai quốc, thì người ta nói rằng ồ, chẳng có cái gì mới cả, bởi vì dầu sao về HCM thì họ đã biết rồi, có người thì đọc sách, có người thì nghe băng, có người thì coi hình, thì nói ồ dầu sao tôi đã biết rồi, HCM có vợ có con, HCM lấy đàn bà con gái, HCM giết người, HCM v.v…, HCM cũng đặt điều nói dóc về mình khi mà tự lấy tên là Trần Dân Tiên? Nhưng mà giới trẻ trong nước có biết không? Người dân trong nước không biết gì cả, cho nên mục đích chánh cuốn phim này, là họ làm để phổ biến về trong nước theo đơn đặt hàng có chủ đích như cuốn phim “Chúng tôi muốn sống” qua thâm ý, di cư 1954 và cuộc chạy tán loạn 1975 bởi “Vote On Foot”. Bọn chúng tìm cách chạy trốn tội tàn sát người Việt nhứt là biến Thái Bình Dương thành một nghĩa trang vĩ đại với gần nửa triệu người Việt vô tôi phải làm mồi cho cá, nhưng tuyệt đối không dám dựng một cuốn phim nào cả?

                Thành ra cái giá trị việc làm của LM Nguyễn Hữu Lễ là cho thấy được cái sự thật như thế nào, đó là một điều rất là cần thiết cho những thế hệ sau này của chúng ta theo ý đồ của một thế lực Permanent Government. “Đây là một công trình hết sức là công lao, và rất là khó khăn mà quý vị ấy đã bỏ công bỏ sức ra trong vòng hai năm vừa rồi để mà thực hiện. Tôi nghĩ là không cần cả cuốn phim, chỉ cần một phần của cuốn phim này, một phần tư của cuốn phim này thôi, mà về tới cho tất cả những người ở Việt Nam thì chắc chắn là họ biết là từ trứơc đến nay họ bị lường lọc, họ bị nhồi sọ một cách sai lầm.” Vì đã đến thời điểm Hoa Kỳ muốn chứng minh bấy lâu nay họ dựng bức tường Thép HCM cho bọn Mafia-Việt núp mà hưởng lợi thời gian như vậy là đủ rồi, và bắt đầu từ nay sẽ trở thành bức tường bùn đất trộn lẫn rơm rác, có nghĩa chấm dứt chế độ Mafia và đã đến lúc tiền bạc mà Đảng Mafia nầy cướp giựt của dân bấy lâu nay, tiến viện trợ, tiến người Việt gởi về, hùn vốn phải trả lại cho người dân như Marcos ở Phi, Trần Thủy Biền ở Đài Loan… bằng hàng tiêu dùng của Mỹ, dĩ nhiên những tai to mặt lớn vi phạm hiến quyền Mỹ thì đừng hòng đoàn tụ gia đình ở Mỹ khi bị đảo chánh vì đã bị từ chối Visa theo luật-pháp của Mỹ.

                Người ta cho rằng sẽ có một cuộc chiến giữa sự thật về Hồ Chí Minh ở hải ngọai và sự thật về Hồ Chí Minh ở trong nước. Giới trẻ trong nước cũng có một số người đã xem phim này và cho rằng DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” sẽ là một món hàng bị cấm lưu hành tại Việt Nam, nhưng các sử gia hậu cận đại sẽ đồng kết luận: “Hồ Chí Minh được thán phục không phải vì sự thắng lợi mà vì sự bội phản của Mỹ”

                CÒN TIẾP
                Last edited by Phòng Trực; 09-07-2012, 05:37 PM.

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #9
                  Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

                  Bất đồng về chủ quyền tại Biển Ðông

                  Những vụ tranh chấp chủ quyền ở biển nam Trung Hoa mà VN gọi là Biển Ðông rất khó giải quyết và tình hình đã trở nên xấu đi vì khả năng chấp hành các đòi hỏi của TQ đang trở nên gia tăng và những mưu toan của nước nầy nhằm ngăn chận những nỗ lực của VN để hình thành một mặt trận Asian thống nhứt. Ðâu ai hiểu được có sự bấm đít VN của phản tình báo Mỹ cho rầng: “Chúng tôi đã ở đây từ cuối thế kỷ 19, chúng tôi vẫn tiếp tục ở đây, hôm nay, ngày mai và mãi-mãi. Còn đối với những nước ở vùng Thái-Bình-Dương nầy, chúng tôi bày tỏ sự cam kết vững chắc keo sơn của Hoa-kỳ đối với họ dưới sức mạnh và quyền lực tuyệt đối của chúng tôi! Trung-Quốc nghe hiểu câu nầy nên tạm thời co mình chùng lại.

                  Vấn đề đòi hỏi chủ quyền sẽ tiếp tục khó giải quyết, và tính chất thiếu minh bạch của TQ đã tạo ra những nghi vấn chính đáng về ý đồ chiến lược của họ; Trong năm nay, VN đã tăng cường những nỗ lực để đạt được thoả thuận về một quy tắc hành xử có tính cách ràng buộc ở Biển Ðông. Một tuyên bố năm 2002 đã ký giữa TQ và khối Asian kêu gọi các bên liên hệ giải quyết tranh chấp lãnh thổ bằng đường lối hoà bình và tránh thực hiện những hành động có thể gây nên căng thẳng. Trong khi TQ đã tìm cách ngăn chận những nỗ lực của VN, là nước đang giữ chức chủ tịch của khối Asian, nhằm hình thành một mặt trận thống nhứt chống lại TQ ở Biện Ðông.

                  Tháng 7 vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố tại hội nghị diễn đàn khu vực Asian ở Hà Nội rằng: việc thông qua đường lối ngoại giao đa phương để giải quyết vụ tranh chấp ở Biển Ðông là “quyền lợi quốc gia” của Mỹ, tuyên bố nầy đã gặp phải sự phản bác kịch liệt của ngoại trưởng TQ. Trung Quốc lâu nay vẫn chủ trương là giải quyết vụ tranh chấp nầy bằng đường lối song phương. Thế nên, trong thời gian qua TQ đã liên tục bắt giữ các tàu đánh cá cúa VN và ban hành các luật cấm đánh bắt cá ở biển nam Trung Hoa. Nói nôm na là TQ đã nâng cao vị thế của vùng biển nầy tới mức gọi là “lợi ích cốt lõi” Nhưng TQ có biết chăng Mỹ đã có mưu đồ từ 1959 giải cứu Ðức Ðạt Lai, như các chuyến bay gián điệp từ Tây-Tạng dọc biên giới Miến-Điện của Đại-Tá tình báo Harry- Aderholt từ đầu năm 1960 cho đến nay làm một vòng rào cản ở phía Nam và Tây-Nam của Trung-Quốc, bằng cách tiếp tế cho các kháng chiến quân ủng hộ Đức Đạt Lai, và ngày nay đang hâm nóng lại làm Bắc-Kinh đau đầu! Còn phía Đông thì có đồng minh son sắt của Mỹ, nên mới đây, Hoa-Kỳ cần nghĩ đến hướng Bắc của Trung-Quốc qua sự viếng thăm nước Mông-Cỗ lần đầu tiên cũa một vị Tổng-thống Mỹ (Bush Con) Nước Mỹ thường thích chữ “danh chính ngôn thuận” nên đặt cho cái tên cuộc viếng thăm nầy là: “cám-ơn” Mông-Cỗ đã gởi 160 quân qua Iraq chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ. Lẽ dĩ nhiên cuộc viếng thăm của TT Bush làm cho Bắc-Kinh vô cùng khó chịu nếu không muốn nói đến rất hoảng-hốt cho tương lai nước Tàu sẽ bị chia năm xẻ bẩy đúng theo kế hoạch của Nhóm Học Giả Harriman hồi 1950’ “Rồi đây!...sẽ không có nước nào dân số trên 200 triệu dân, ngoại trừ Mỹ!” với chiêu bài “Dân-quyền, Dân-chủ” rộng khắp Thế-giới, bắt nguồn dùng chiến tranh Việt-Nam làm thí điểm mô-hình kiểu mẫu sẽ lan dần ra khắp Thế-giới như vết dầu loang, để cho Thế-giới sẽ chiêm ngưỡng nước Mỹ như một ngọn hải đăng cần thiết trong đêm tối mờ mịt, hàm ý buộc Miến điện và Bắc Hàn nên noi gương Việt Nam để được tồn tại trong thịnh vượng...

                  Vì Liên-Xô là Đế-quốc Cộng-Sản sừng-sõ nhứt, theo thế chiến lược Eurasian, Hoa-kỳ phải đặt ưu tiên chia nó trước hết, cũng không khác gì khi ăn Trái ‘Sầu-Riêng’ phải tét vỏ là điều khó nhất mà Hoa-kỳ đã làm xong 1991, qua sách-lược “Bênh Kẻ Mạnh” cùng sự ngụy tạo chiến lược là ‘Tháo-Chạy’ tại Việt-Nam. Nhưng thật ra các kỹ nghệ Tư-bản thuộc bộ máy chiến tranh cần nghĩ qua một chu-kỳ khá dài gọi là Inventory, sau khi thu-nhập quá nhiều lợi nhuận; Nếu như muốn thắng cuộc chiến tại VN, Hoa Kỳ cứ rút bình thường (1973) nhưng giao đầu nổ (warhead) cho KQ Miền Nam thả loại Bom CBU.55 và dùng EC.130B bắn đạn 106 ly tầm nhiệt tiêu diệt chiến xa (xe máy nổ) thì không còn con người và chiến cụ nào chạy vào tới Miền Nam; nhưng đó là không được rồi, vì đi ngược lại với thế siêu chiến lược của Harrimam và Nhóm Học Giả của ông George Kennan. Nhưng, ngạc nhiên thay, 1995 khi thiết lập bang giao với Hà-Nội, phái đoàn Mỹ qua Việt Nam tưng bốc vì VN đã giúp họ thành công trên trục lộ đồ chiến lược toàn cầu, hàm ý gọi là “thán phục cuộc chiến đấu ngoan cường, thần thánh của người Việt!” (Ý muốn tôn vinh Cụ HCM là người quốc gia thực tâm muốn thống nhứt đất nước nhưng bị Mỹ (Permanent Government) phản bội vì cần khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi nên buộc phải cách ly trở ngại chính là HCM; Trục ma-quỷ CIA và KGB phối hợp đưa siêu Mafia bằng công-cụ Lê Ðức Thọ, Mai Chí Thọ, và Lê Duẩn, tam đầu chế nầy nắm chặt guồng máy “Mafia-trị” chuyên chế bằng lớp sơn bên ngoài với danh nghĩa Cộng Sản trị: “The Hanoi leadership was like an Asian version of Skull and Bones (U.S) secretive and select. While US Permanent Government was not exactly in the club, she was generally trusted by its members”.

                  Sau Việt-Nam, hay sau một chu-kỳ nghỉ ngơi kết toán sổ sách (inventory) mà thế-giới cứ nghĩ rằng Hoa-Kỳ đang yếu thế co cụm. Nhóm Tư-bản của bộ máy chiến tranh tìm cách phát triển lại kỹ nghệ chiến tranh qua chủ đề khác‘Siêu Kỹ-thuật’ trong thập niên 80 mươi, hay nói theo kiểu khác, họ cho rằng: “Tại sao phải chạy đua vũ trang?” Chạy đua thì có lúc người nầy qua mặt người kia hay ngược lại. Tập đoàn tài phiệt Đại Tư-bản do Đại-đế-II giấu mặt George H.W Bush trị vì [dù ở ngôi vị Phó tổng thống] đã đồng lòng đầu tư hết vốn liếng vào cuộc thí nghiệm vũ khí siêu kỹ thuật (hi-tech) mục đích bỏ xa Liên-Xô gần vài thập niên. Trên Thế-giới sẽ không còn nghe lải-nhải danh từ “chạy đua vũ trang” nữa, Họ cũng rất sợ sự hung-ác của Cộng-Sản khi nắm vận mệnh thế-giới, vì “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” nên Tư-bản Mỹ đành phải trút hết hầu-bao ra cho mục tiêu phát triển vũ khí tối-tân bỏ xa đối thủ rồi từ từ hốt lại dollar sau đó. Ðồng Ðôla có chạy lẩn quẩn đâu đó cũng trở về hầu bao của đại cồ tư bản Mỹ.

                  Năm 1983, sau khi phóng thành công phi thuyền con thoi (Space Shuttle) TT Ronald Reagan tuyên bố: “người Cộng-Sản đang giỡ những trang sử kinh-thánh nhựt tụng cuối cùng của họ” nhưng có ai biết đâu nhờ vào tài-ba của người Phó TT (George H W Bush). Lùi lại năm 1968, sau khi dùng chiến tranh khí tượng (weather-weaponry) phá hoại nông nghiệp chuyên trồng mía làm đường và hoa màu của Cuba, để cho một nước Cộng-Sản của Tây Bán Cầu phải nghèo xơ nghèo xác, hầu dằn mặt các nước theo Cộng-Sản. Rồi tới phiên Liên-Xô, một mặt buộc Nga-Cộng phải leo thang thi đua với Hoa-kỳ trong trò chơi chiến tranh NLF nêu trên, càng tăng thêm việc chế tạo những vũ khí về chiến tranh làm người dân Nga đói khổ và dồn bọn Cộng-Sản Nga buộc phải rời bỏ chính quyền. Nhưng chủ tâm trong bụng dạ của Harriman cũng chỉ muốn, Nga là nước siêu cường hạng-2 nhưng phải dưới cơ của Mỹ, và bị ràng buộc cũng như lệ thuộc vào lúa mì của Mỹ và Canada. Còn Trung-Quốc là kẻ thù tiềm tàng, vì địa lý giống Mỹ mà dân số gấp 6 lần, khó áp đảo và rất nguy hiểm cho ngôi vị thống lãnh toàn cầu của Mỹ. Đặc biệt Hoa-kỳ không dám dùng chiến tranh khí tượng đối với Trung-Quốc, ví không ai dại gì lấy cây tâm xỉa răng soi vào ổ Kiến-Lửa.

                  Trong ba mùa liên tiếp (1968-1970) dùng chiến tranh khí tượng (weather weaponry) Liên-Xô thường xuyên mất mùa, thiếu lương thực trầm trọng và triền miên vào những năm nầy qua năm khác, phải nhập cảng hằng mấy chục triệu tấn lương thực mễ cốc từ Mỹ và Canada; Mùa Đông ở Liên-Xô khởi đầu từ cuối tháng October, trời bắt đầu trở lạnh, nhưng hạt lúa mì vẫn tăng trưởng cho đến khi chín hẳn vào tháng December; Khi mùa Đông đến, tuyết phủ trắng cả cánh đồng và các bông lúa được mặc một lớp áo tuyết xớp không bao giờ lạnh dưới 0 độC; Trong lớp áo tuyết bông lúa vẫn tăng trưởng rồi chín cho kịp mùa gặt vào tháng December, để kịp thời thu hoạch nuôi sống người dân Nga. Nhưng mùa Đông năm 1970, hoàn toàn giá lạnh và không có tuyết; Độ lạnh mau chống sụt xuống dưới -5 độ hay -10 độ âm (độ C) khiến hạt lúa băng giá rồi đông lạnh (frozen) tê liệt chết cống không tăng trưởng. Khi thời tiết vụt thay đổi hay tuyết rơi, hoặc khí hậu ấm hẳn lên thì bông lúa tan đá và úng-thối. Thành thử người nông dân Nga chỉ cần nhìn tuyết rơi, nếu không có tuyết trắng cánh đồng, thì cầm chắc là mất mùa và chịu đói rét. Cũng vào năm ấy 1970, nước Nga thiếu 20 triệu tấn lúa mì và 20 triệu tấn khoai tây và yêu cầu Mỹ và Canada cấp cứu khẩn cấp. Chính nạn thiếu lương thực nầy đã làm cho người Nga tỉnh mộng “Cộng-Sản hóa toàn cầu bằng chiến tranh giải phóng (NLF) quả thật đã thất bại” Cũng cái mốc từ năm 1970 trở đi, người Nga bắt đầu nhìn thấy một thực tế chiến lược khá phũ phàng. Bọn CS Quốc-tế ở các nước chỉ là một lũ ngu dốt bịp-bợm, khoác lác, dối trá, ăn hại và chỉ bám vào sức mạnh chiến tranh của Liên-Xô để hống hách, dọa nạt và xâm lăng toàn Thế-giới.

                  Muốn giải quyết chiến tranh mà không cần tàn phá hay đổ máu, bằng cách nào và bằng cái gì từ vệ tinh bay cùng tốc độ với trái dất (stationed spy satellite project) hay phi thuyền bắn tỏa xuống hàn-âm-khí để làm cho mùa Đông giá lạnh ở Liên-Xô hoàn toàn khô ráo, không ẩm ướt nghĩa là không có tuyết có nước…đây có thể là một trong nhiều bí mật chiến tranh siêu vũ khí của Mỹ (hi-tech) mà không tài nào phát hiện nổi! Vì do vấn đề thiếu lương thực trầm trọng, người Nga hiểu rằng nếu đánh nhau với Mỹ thì thua và chết hết. Trung-Cộng sẽ tràn lên tiến chiếm Tây-Bá-Lợi-Á phì nhiêu đầy tài nguyên thiên nhiên chưa từng được khai thác, Harriman cũng hiểu rằng nếu đánh nhau với Liên-Xô thì hầu như cả Thế-giới sẽ chết hết, chỉ còn người Tàu làm bá chủ Thế-giới. Nga Mỹ tính toán chiến lược thế nào thì vẫn nhìn thấy Trung-Quốc là kẻ thù chung của cả Nga lẫn Mỹ, nó nằm chình ình ra đó trước mắt. Vậy tốt nhất là áp dụng biện pháp Tam-Quốc-Chí tân thời của Tàu, là Nga và Mỹ cùng bắt tay hợp tác, cùng tiêu diệt Trung-Quốc để trừ hậu hoạn, đó là lý do chiến lược gia có tầm cở quốc-tế như W.A.Harriman phải viết cho ra hai tác-phẩm: Liên Xô và Hoa kỳ xiết tay nắm giữ an toàn cho vận-mệnh thế giới (Cuốn “Peace with Russia 1959” và “America and Russia in a Changing world 1971,”nếu đọc giả nào xem bài tóm gọn nầy mà nghĩ “Biết được là chết liền” thì nên mua trên Internet 2 cuốn sách nêu trên và chêm. thêm một cuốn “The Wise-Men” Six friends and the world they made, do đồng 2 tác giả: Walter Isaacson và Evan Thomas phải để trong tủ sắt đợi ngày Harriman xuống 9 tầng hoả ngục mới cho phát hành 1986).

                  Khi cần phải giải thể chế độ CS, Đế-quốc Liên-Xô để cứu nước Nga thì người dân Nga làm một cái rụp, và chỉ cần qua một đêm là thế giới thoát khỏi chiến tranh lạnh và hiễm họa chiến tranh nguyên tử. Còn CS Trung-Quốc thì mãi đến năm 2003 mới chịu công khai giải thể Cộng-Sản nhưng chỉ còn chế độ Tư-Bản Đỏ với chủ trương “Đế-quốc bành trướng công an trị” mà Mỹ cho là siêu Mafia rất nguy hiểm cho sư bình an của thế giới.

                  Để bảo đảm vững chắc, lâu dài vị thế bá chủ của mình trong viễn cảnh siêu chiến lược toàn cầu, kể từ khi Liên-Xô hoàn toàn lui về vị thế thủ và chấm dứt chiến tranh lạnh, Hoa-kỳ đang trên đà phát triển “Dân chủ hóa” và “Kinh tế thị trường” Những đời Tổng-thống vừa qua cũng phải đi theo con đường mà Siêu-Chánh-Phủ (Nhóm Đại Tư-Bản) đã vạch sẵn, và ‘siêu-chiến-lược’ nầy được xem như phương cách duy nhất để bảo đảm bền vững và lâu dài chính sách của Hoa-kỳ (1920-2020).

                  Theo sự cố vấn bên trong cũa CIA, cuộc hội thảo ở Saigon do Học viện ngoại giao, và Hội luật gia VN đồng tổ chức trong hai ngày, thứ 5 và thứ 6 quy tụ gần 70 học giả đến từ các nước vùng ÐNÁ, TQ, Australia, Canada, Ấn-độ, Nhựt Bản, Nam Triều tiên, Mỹ, và các nước thuộc liên hiệp Âu Châu. Hội thảo lần nầy là sự tiếp nối Hội thão Quốc tế về Biển Ðông lần thứ nhứt tổ chức ở Hà Nội, 2009; Tất cả đều do Mỹ ở đàng sau thúc đít.

                  Đặc biệt với Trung-Quốc, đứng trên quan điểm chính thức của Hoa-kỳ là hoan nghênh sự phát triển thịnh vượng của một nước Trung-Quốc hiếu hòa để trở thành một nhân tố tích cực vì lợi ích trong cộng đồng thế-giới; Thực ra trong thâm tâm, Trung-Quốc rất thèm khát như vậy, cho nên trong chiến tranh chống khủng bố mà Hoa-kỳ phát động từ ngày 11/Sept/2,001, Trung-Quốc đã có một vài đóng góp tích cực để làm hài lòng Hoa-kỳ. Tuy nhiên kể từ khi Hoa-kỳ tung ra chiến lược ‘đánh phủ đầu’ và tấn công Iraq thì Trung-Quốc bắt đầu lo sợ nguy hại đến quyền lợi của mình (mà thật đúng như vậy, vì ngôi vị hạng-2 đã đến thời điểm (decent interval) phải bị chính Mỹ hạ bệ) Thêm vào đó Trung-Quốc cũng tự cảm nhận rằng, mặc dù ngày nay hai nước liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt kinh tế nhưng chưa bao giờ Hoa-kỳ ngỏ lời với Trung-Quốc như một đối tác chính trị để cùng gìn-giữ hoà bình thế-giới; cũng như VN về mặt ngoại giao Hoa Kỳ lờ lững để cho các lãnh tụ VN phải len-lén đi vào ngã sau, thay vì Mỹ có thể làm rào cản 500 thước là lãnh tụ VN có thể vào ngã trước, cho chúng ta thấy rõ một nước VNCH đang lần lần hiện rõ ra trước 2023 để phục hồi danh dự cho VNCH và rửa mặt 58.000 binh sĩ đã hy sinh cho dân quyền dân chũ VN.

                  Hiện rõ từ ngày Hoa-kỳ thành lập “Bộ Tư-Lệnh Thái-Bình-Dương”PACOM (có sĩ quan Việt Nam tu nghiệp phối hợp quân-sự tại Hawai) đã khiến cho những nhà lãnh đạo Trung-Quốc giật mình và đoán chắc trong suy nghĩ kiên định: là Quốc-gia họ đang bị bao vây và có nguy cơ bị tấn công bất cứ lúc nào bởi một đối thủ đã từng thất tín với đồng minh, mà lại có tìm năng nguyên tử mạnh nhất thế-giới và những phản ứng cực kỳ nguy hiểm trong nháy mắt có thể hủy diệt thế-giới mà chắc chắn Trung-Quốc không kịp đối phó để ngăn chận.

                  Sau chiến tranh lạnh, thế chiến lược quân sự của Hoa-kỳ tại Thái-Bình-Dương và trên thế giới đã hoàn toàn thay đổi, Hệ thống quân sự đó là Bộ Chỉ-Huy Thái-Bình-Dương PACOM được dựng lên để đương đầu với những chuyển biến chính trị và quân sự bất thần xảy ra, có thể làm tổn hại đến thế quân bình lực lượng trong vùng. Và đây là trọng tâm chiến lược của Hoa-Kỳ trên toàn thế giới; Nó đặt trụ sở tại Honolulu, nơi mà nhiều năm nay, các Sĩ-quan Việt Nam (CSVN) do kế hoạch chiến lược của kiến trúc sư Harriman đã thiết kế ‘CIP-1960’bằng định kiến-1 (để CS chiếm Miền-Nam rồi Việt-Nam sẽ được vỉnh viễn miển nhiễm Cộng-Sản, như là mủi thuốc tiêm ngừa, Communist-Vaccination for immunization” hay nói trắng ra là Việt-Nam sẽ là một nước VNCH nguyên vẹn lớn hơn cho quyền lợi Mỹ. Nhưng việc nầy còn quá sớm chưa xảy ra (Mỹ và Trung-Quốc chưa đụng độ phải đợi 10 năm cuối cùng của 1920-2020 là từ 2010-2020) nên cuốn sách “The New Legion” này đã không chứng minh đi đúng thời cuộc mà lại quá sớm theo như sự diễn tiến hòa bình từ từ nhưng khá phức tạp của Hoa-Kỳ, và theo sau đó là “Món nợ Hội-Chứng Việt-Nam vẫn còn đó chưa giải quyết được”. Nhưng sẽ giải quyết được khi Hoa Kỳ ăn-mừng 50 năm chiến tranh Việt Nam vào 2.023 (1973-2023) lúc nầy đối với Việt Nam phải mang ơn Hoa kỳ có công xây dựng thống nhứt thành Một VNCH trong khi Trung Cộng và Liên Xô đã đồng ý chia đôi qua Hiệp định Genève 1954 chỉ riêng có một mình Mỹ không có chữ ký, nhưng Mỷ chỉ có duy nhứt nhìn nhận Miền Nam có hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa đã thành văn trong nội-quy Hiệp định Genève-54.

                  Sĩ-quan VN Mới nầy cũng được gởi sang để thụ huấn binh pháp và chiến lược của Hoa-kỳ để sau nầy khi cần phải phối hợp hành quân liên minh với PACOM hầu thu-hồi lại Đảo Hoàng-Sa và Trường Sa. PACOM là Bộ Chỉ Huy quan trọng nhất trong các Bộ chỉ huy quân sự Hoa-Kỳ. Nó có nguồn gốc từ chiến tranh Phi Luật-Tân (1899-1902) là lúc mà quân đội Hoa-kỳ có những đơn vị hùng hậu chiếm đóng tại vùng biển nầy. Ngày nay vùng kiểm soát của PACOM trải dài từ bờ biển miền Đông Phi-Châu đến vòng-đai Thái-Bình-Dương, bao trùm nửa diện tích địa cầu và kiểm soát hơn nữa tiềm năng kinh tế của Thế-giới; Gần như toàn bộ Hải-lực và những Binh-đoàn thiện chiến nhất của Hoa-kỳ đều đang tập trung tại vùng do PACOM kiểm soát điều hành.

                  Nhưng có một điều quan ngại là hai lực lượng mạnh nhất đang tập trung tại vùng do PACOM trách nhiệm. Đó là hai lực-lượng của Hoa-kỳ và lực lượng của Trung-Quốc, cả hai đang thi đua hiện đại hóa quân sự về mọi mặt; Vì không thể ngồi khoanh tay chờ đối phương tiêu diệt bằng chiến tranh nguyên tử nên Trung-Quốc đưa ra vài Tướng lãnh ‘cò-mồi’ tuyên bố hù-dọa bành trướng lấn-áp ngôi vị bá chủ của Hoa-kỳ. Như năm 1972, Mao đã cho Nixon và Kissinger biết vài thập niên sau Thái-Bình-Dương là ngòi nổ của thế chiến, Mao Trạch-Đông cũng thừa bản lãnh để lấy chiếc lá Tre che con ngươi màu xanh của Đế-quốc Mỹ để không còn thấy được ngọn núi Thái-Sơn ở trước mặt. Có nghĩa chúng ta sẽ dùng mưu chước mà chỉ cần một chiếc lá Tre để che lấp ngọn núi Thái Sơn. “Sau đại chiến thứ 3…chấp nhận hủy diệt hoàn toàn một nước Tàu Cũ trong nước để chiếm lĩnh bằng một nước Tàu trên lục địa Mỹ-Châu!” với kế hoạch chiến lược về sanh sản trong 10 năm có được thêm 350 triệu dân (1962-1972) và độn thổ hay biến hóa thành lập một nước Tàu ngoài nước Tàu cho mục tiêu chiến lược sau nầy qua kinh nghiệm thương trường thay chiến trường.

                  Nhìn thấy sự lớn mạnh của PACOM và trước những phản ứng khó lường được qua cuộc tấn công Iraq, Trung-Quốc phải có một số phản ứng được coi là cần thiết cho vấn đề an-ninh của mình; Như phối trí hỏa-tiễn tầm xa của Trung-Quốc. Loại hỏa-tiễn nầy không chỉ nhắm vào Đài-Loan mà còn hướng tới những mục tiêu tại nhiều Quốc-gia khác; Tự xem mình là một Cường- quốc, Trung-Quốc ký một thỏa hiệp an ninh với Pakistan và một thỏa hiệp về quốc phòng với Phi-Luật-Tân. Đặc biệt Bộ-Quốc-Phòng Hoa-Kỳ cũng theo dõi và chú ý đến sự góp mặt của Trung-Quốc trong “Tổ chức cộng đồng Đông Á” gồm các quốc gia từ Ấn-Độ đến Nhật-Bản để âm mưu hất chân Hoa-kỳ và Úc ra khỏi quỹ-đạo Thái-Bình-Dương mà chỉ có Da Vàng mình chơi với nhau. Những chỉ dấu nầy khiến dư luận tại Hoa-kỳ cho rằng Trung-Quốc đang có những quyết định táo-bạo có thể làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự tại vùng Đông-Á, cho nên chiến tranh Thái-Bình-Dương là điều khó tránh; Nhưng đối với Mao thì chiến tranh tại Thái-Bình-Dương chỉ là ‘Diện’ còn ngay tại Tây Bán-Cầu mới là ‘Điểm’ “chịu hy sinh hủy diệt một nước Trung-Hoa Cũ để thành lập một nước Trung-Hoa mới tại Mỹ” trong một cuộc chiến siêu kỹ thuật chớp nhoáng sau nầy mà chỉ có cơ chế độc đảng CS mới bí mật chớp nhoáng hành-động, trước khi nhân loại tỉnh giấc bàng hoàng thì chuyện đã rồi.

                  Trong khi các nghiên cứu gia Mỹ chủ quan cứ cho rằng Trung-Quốc chưa bao giờ có một đại chiến lược theo như nghĩa mà người ta hiểu. Thêm vào đó về mặt địa dư chính trị Trung-Quốc thường xuyên phải chịu áp lực từ tứ phía bởi các Cường-quốc cỡ lớn như Nga phía Bắc, Nhật Bản phía Đông, Ấn-Độ phía Tây và Việt-Nam phía Nam. Trong thời gian hiện tại Trung-Quốc có nhiều triển vọng phải đối phó với những quốc gia nầy hơn là phải đối phó với Hoa-kỳ, cách xa Trung-Quốc bằng cả một đại dương rộng lớn; Đây cũng là trong tầm nhìn bén nhậy của Harrimans và Bushes trên phương diện địa lý chiến lược.

                  Những điều suy diễn trên đều đúng, nhưng có một ngày gần tận thế nào đó Trung-Quốc không cần chạm trán với những nước ‘Cò-con’ như chiến lược gia Mỹ ước tính bao quanh TQ mà chỉ có mục tiêu duy nhất là giáng xuống toàn khối nguyên tử trong ‘nháy mắt’ vào nước Mỹ mà thôi để rồi vài giờ sau các nước ‘Cò-con’ sẽ cúi đầu quỳ-lụy. Trung-Quốc không còn con đường nào khác chỉ vì nạn nhân-mãn phải lợi dụng ưu thế nầy cùng lợi điểm thương-mãi ranh mãnh mà tóm thâu toàn cầu sau khi đã hủy diệt vài tỷ người.

                  CÒN TIẾP
                  Last edited by Phòng Trực; 09-08-2012, 04:52 PM.

                  Comment

                  • vinhtruong
                    Super Member
                    • Jun 2010
                    • 1924

                    #10
                    Mỹ tìm chỗ dựa siêu cường cho VN

                    (Vì bài nầy quá dài phải qua đến 2012, nên tôi vội xen vào vài tin nóng cần thiết phải viết ra)
                    Biển Đông, đoạn kết của sách lược “Eurasian Great Game-1” (1920-2020) - 10 năm sau cùng, Hoa-Kỳ phải đưa Ấn-Ðộ thế ngôi vị hạng-2 cũa T.Q?

                    Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 100 năm qua theo như chiến lược Eurasia-1 Great Game 1920-2020: là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng-2 của thế giới, những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ như hiện nay đều bị Mỹ đánh cho suy yếu vỡ ra từng mảnh. Từ đó Mỹ đứng làm chủ-cái chia bài (dealer) muốn nước nào hạng-2 phải phục tùng theo quyền lợi Amarican First. Hay nói cách khác Mỹ là soạn giả Tam Quốc Chí tân thời nhưng có “quyền chọn bạn một thời gian rồi trở nên thù” cho trò chơi chính trị, rõ ràng nhứt thể hiện tại chiến trường Việt Nam, thoạt đầu Liên Xô hạng-2, đến khi Mỹ bứng hạng-2 của LX hứa cho TQ 1972, và bây giờ Mỹ (Obama) đang muốn đưa Ấn Độ lên hạng-2 như một dư âm hồn ma, vì Ấn-Độ chưa đủ điều kiện cần và có (criteria) vì thế Mỹ muốn chêm thêm phần công-lực bằng cách nhập Việt Nam một nước rất chịu đánh đấm vào trục Ấn Độ để chận cửa ĐNÁ và Đông Á (US President Barack Obama has hailed India's rise as a world power, days ahead of a visit to the country, calling the South Asian nation a "cornerstone" of US engagement in Asia. Obama said " my vision is a US-India partnership in which we work together to shape a more secure, stable, and just world").

                    Ấn độ hạng nhì sẽ làm cho Mỹ yên tâm hơn, vì là một nước đông dân xứ nóng không có nhiều nhân tài đáng sợ và tham vọng như TQ; Nhưng trong ống kính của Siêu chính phủ Mỹ, Nga là nước đàn em tiềm-tàng của Mỹ và luôn biết ơn đại-sứ Mỹ trong Đệ-2 thế chiến, WA Harriman (1891-1986) thực sự là nước số 2, dĩ nhiên sau Mỹ, Harriman đưa ra những dẫn chứng bảo đảm, kể từ bây giờ Nga nên quên đi sự bị xâm lược của Thành Cát Tư Hãn, Pháp, Đức… xâm lược mà hãy cùng Mỹ chung một lý tưởng lấy xác chết màu da Vàng thay chỗ da Trắng bằng sự bảo đảm thương ước “Aid to Russia 1941-1946 Plan” renewed, reactivated, trang 3/7, http://www.answers.com/topic/w-a-harriman vì thế Việt Nam mới có 700 triệu tấn vũ khí tối tân sau Paris Peace Talks để Hà Nội thống nhứt miền nam, Cambodia, và có hệ thống SAM tối tân nhứt thời đó để phòng thủ Hà Nội, ngày nay có tàu ngầm và hoả tiễn để phòng thủ Biển Đảo.

                    Về phía Nga, các hợp đồng với Việt Nam không chỉ là cơ hội làm ăn mà còn mang ý nghĩa chính trị to lớn, theo sự đoán chắc của người viết, lâu nay Nga nghe lời khuyên của Mỹ đã tìm cách bán vũ khí tới các nước Đông Nam Á cũng như phát triển quan hệ năng lượng với các nước này, lập lại năm tháng Mỹ rút lui khỏi ĐNÁ nhường ảnh hưởng cho Nga sau 1973.

                    Nga đã cung cấp khí tài cho Indonesia, thương thuyết hợp đồng với Brunei, Malaysia, Thái Lan và Miến Điện. Chính quyền quân phiệt ở Miến Điện hồi cuối 2009 đã mua 20 chiến đấu cơ MiG-29 và từ 6 tới 10 trực thăng Mi-35 của Nga. Trong khi các hợp đồng này phản ánh không khí ngày càng lo lắng tại khu vực trước hiện diện của Trung Quốc, chúng cũng mang lại cho Moscow cơ hội vươn lại vị trí siêu cường quốc tế mà Mỹ muốn Nga hồi sức.

                    Mỹ đang đưa Nga tìm khách hàng thay thế chỗ Trung Quốc, nước vốn mua nhiều vũ khí nhất từ Nga, vì hai lẽ: nạn làm giả và vì Bắc Kinh nay chỉ muốn mua các mặt hàng công nghệ tân kỳ nhất. Các toan tính của Nga trong việc đối trọng lại quyền lực của Trung Quốc chắc chắn không được Bắc Kinh hoan nghênh và có thể ảnh hưởng quan hệ song phương trong cái thế Mỹ như ngư ông đắt lợi, tuy nhiên, chưa thể phóng đại hiện diện của Nga tại khu vực, vì ngoài vũ khí và dầu lửa cùng năng lượng hạt nhân, Nga không có gi để chào mời các nước Đông Nam Á, trong khi quyền lực kinh tế của Trung Quốc thì quá rõ ràng. Chúng ta phải dõi mắt mới rõ Nga có thể ảnh hưởng các quốc gia Đông Nam Á tới đâu, tôi nghỉ chỉ một giai đoạn thời gian (decent interval) nào đó mà thôi, rồi cũng lập lại những diển biến như giữa thế kỷ hai mươi. Một câu ngạn ngữ của Trung Quốc nói rằng: "Nước xa không cứu được lửa gần". Có nghĩa Trung Quốc dám làm ẩu trên tuyến lửa chạm tráng đầu tiên Việt Nam và Phi Luật Tân? Đối với Việt Nam, các quốc gia Đông Nam Á, và cả Nga, Trung Quốc là một đám lửa gần trong khi quan hệ giữa các nước này với nhau lại vẫn còn lỏng lẻo như nguồn nước ở xa.

                    Hoa kỳ xúi dục Nhật Bản, Việt Nam ký biên bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng

                    Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh được Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda tiếp đón tại Tokyo, ngày 24/10/2011. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Yasuo Ichikawa và người đồng nhiệm Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh đã ký kết một biên bản ghi nhớ nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Theo báo Kyodo, biên bản ghi nhớ được ký kết trong khuôn khổ cuộc hội đàm giữa ông Ichikawa và ông Thanh tại Tokyo của Nhật Bản ngày hôm qua.

                    Các giới chức Nhật Bản cho hay trong cuộc hội đàm này hai bên đã đề cập đến việc Trung Quốc nhiều lần cản trở các hoạt động hàng hải của các nước khác, trong đó có cả Việt Nam, và đồng ý về tầm quan trọng của việc thắt chặt quan hệ song phương trong bối cảnh đó.

                    Cũng tại cuộc hội đàm Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Ichikawa khẳng định Việt Nam là “đối tác chiến lược vì hòa bình và ổn định” của Nhật Bản ở khu vực châu Á. Trong khi Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng nhận định rằng Nhật Bản là đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam.

                    Được biết, biên bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng kêu gọi hai bên thường xuyên thực hiện các cuộc hội đàm cấp thứ trưởng quốc phòng và các chuyến thăm cấp bộ trưởng cũng như các cuộc trao đổi giữa quân đội Việt Nam và Lực lượng Phòng vệ của Nhật Bản.

                    Theo Kyodo, ông Thanh là bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của Việt Nam tới thăm Nhật Bản trong vòng 13 năm qua.

                    VN nhờ Mỹ giúp cái gọi là mua vũ khí từ Nga để tự vệ khi khẩn cấp, như trường hợp vừa rồi TQ định làm ẩu đem giàn khoan tối tân khoan sâu dưới 3000 thước. TQ muốn hành động như chuyện đã rồi, nếu Mỹ không bấm đít Nguyễn Chí Vịnh bắn đạn thật vào vùng kinh tế của VN; Hợp đồng mua tàu ngầm được ký kết trong chuyến thăm của ông Dũng tới Moscow hồi tháng Mười Hai. Việt Nam đã trở thành khách hàng mua vũ khí lớn nhất của Nga trong năm 2009, trang tin DefenseNews đưa tin theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Công nghệ (CAST) ở Moscow. Hà Nội đã đặt mua sáu tàu ngầm chạy cả điện và diesel và 12 máy bay Su-30 trong 12 tháng qua. Hợp đồng mua tàu ngầm ký với Việt Nam là hợp đồng lớn thứ hai về tàu ngầm tại nước Nga hậu Liên Xô. Trước đó, hồi năm 2002, Trung Quốc đã đặt mua tám tàu ngầm loại tương tự của Nga, CAST cho biết.

                    Hợp đồng ký năm 2009 cũng khiến Việt Nam trở thành một trong năm nước mua vũ khí hàng đầu của Nga bên cạnh Ấn Độ, Algeria, Venezuela và Trung Quốc. Thương vụ trị giá hai tỷ đôla mua tàu ngầm hạng Kilo theo cách gọi của NATO và hạng Varshavyanka Project 636 được thực hiện trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Moscow hôm 15/12. DefenseNews nói truyền thông Nga đưa tin Việt Nam cũng đang chuẩn bị mua thêm 12 máy bay chiến đấu Su-30MK2. Tháng Một năm ngoái Hà Nội cũng đã bỏ ra nửa tỷ đô la để mua 12 máy bay chiến đấu loại này. Nhà phân tích Konstantin Makiyenko của CAST được trích lời nói hợp đồng mua tàu ngầm cũng sẽ kéo theo việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam bao gồm cả căn cứ hải quân, cơ sở bảo trì và sửa chữa, một trung tâm liên lạc và đào tạo cho các chuyên gia Việt Nam.

                    Hà Nội sẽ phải chi cho phía Nga thêm hai tỷ đôla nữa cho các khoản này, theo DefenseNews.com. Trang tin này cũng nói tàu ngầm hạng Varshavyanka Project 636 được cho là loại ít gây ồn nhất trên thế giới và có thể hoạt động ở độ sâu 300 mét với tốc độ tối đa đạt 20 hải lý mỗi giờ.

                    CÒN TIẾP
                    Last edited by Phòng Trực; 09-08-2012, 05:06 PM.

                    Comment

                    • vinhtruong
                      Super Member
                      • Jun 2010
                      • 1924

                      #11
                      Sách lược xảo trá trong cuộc chiến VN

                      Đài BBC và VOA đưa ra Tranh luận về tài liệu CIA rồi khép lại ngay!!!

                      Một số tiết lộ về cuộc chiến từ tài liệu CIA để thả bong bóng nhìn xem coi phản ứng của quần chúng ra thế nào, sự phỉnh gạt tinh vi về B-29 (1954) cho loại Lính Lê Dương tạp-chủng và B-52 (1975) cho loại Lính Lê Dương Mới có còn hiệu quả về lừa đảo nữa không? Nhưng bây giờ nhờ phương tiện và khoa hoc kỹ thuật phân tích rất nhậy bén, nên một thế lực trong bóng tối (Permanent Government) đành phải khép kín lại như những biến cố gây tội ác lịch sử như hồi Đệ-1 và -2 thế chiến, hay nói cách khác khó phỉnh gạt vào thời buổi siêu vi tính dù rằng dân tộc chậm tiến như Việt Nam. Thế kỷ vừa qua ta đã lừa được chúng chém giết nhau tận tuyệt để tiêu xài món hàng giết người mà chính họ là real good Costumer cần thiết cho đại công ty WIB (War Industries Board).

                      Tự nhận thấy những bài phân tích bất lợi như hai tập tài liệu quan trọng về liên hệ CIA và Việt Nam, được gọi là giải mật đầu năm nay, đây là sáu tài liệu, tổng cộng 1600 trang, với tôi là người thật, đọc nhiều tài liệu và là phi công gián-diệp tinh báo, nhân chứng sống viết lại có ngọn ngành cho độc giả, tôi đã đọc hai trong số sáu tài liệu đó và cung cấp nhiều chi tiết mới, dĩ nhiên phải chứng minh với liên hệ thực tế nghe thấy rờ rẫm được cho người đọc, phải được đọc giả cả tâm và khẩu đều phục. Ví dụ, qua đây, người ta biết rằng CIA liên lạc và làm thân với ông Ngô Đình Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông Diệm, nhưng với Ngô Đình Luyện 1953-54 qua CIA từ Bảo Đại chọn cụ Diệm làm thủ tuớng. CIA đã giải thoát cụ Diệm từ tay cụ Hồ đem về tạm trú tại tu viện với mục tiêu sau nầy.

                      Ở tập tài liệu thứ hai về các tướng lĩnh Sài Gòn sau cuộc đảo chính tháng 11, 1963, mục đích CIA muốn gây chia rẽ thù hận, nghi kỵ để dễ sai khiến nhún sâu vào nội bộ trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng lãnh đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chánh, CIA cho là điều kiện cần và có cho ý đồ mưu lược. CIA cũng xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chánh và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967) Giai đoạn thực thi “định kiến-3” (axiom-3: The U.S could not have won the war under any circumstances) sau khi kiểm đủ lợi nhuận, America-first.

                      Mặt khác, một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này (tháng 8 1972 cho đến lúc ký Hiệp Định Paris, tháng 1-1972, áp-lực VNCH thả rất nhiều cán bộ về Hà-nội R&R để nâng tinh thần sau khi hy sinh 100.000 quân cho Mùa Hè Đỏ Lửa) cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

                      Sự thật, hai tên nầy cũng chỉ là con múa rối mà thôi (nhưng người Việt chúng ta lại không hiểu gì cả, mà chỉ tấn công 2 nhân vật “con rối” nầy) Tôi đưa ra bằng chứng cụ-thể, tháng 11, 1972 Kissinger tuyên bố “Hoà bình trong tầm tay” “Peace is at hand”. Nhưng tham mưu trưởng WSAG Donald Rumsfeld ra lệnh cho Kissinger: Phãi thông báo cho Hà nội biết là vi phạm cái gì cũng được theo tài lẹo-lưởi cũa Kissinger đễ oanh tac 11 ngày đêm, biến miền Bắc trở về thời kỳ ‘đồ-đá’, buộc Hà Nội phải vào ký H.Đ hoà-bình Paris, hợp thức hoá việc Mỹ rút quân (axiom-3) nhưng đặc biệt Hà nội không được đầu hàng mà tuyên bố chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, lập lại lộ-đồ chiến thắng Điện Biên Phủ dưới đất 1954.

                      Kissinger sẽ được đại đế hoàn-vũ dấu mặt (George H.W.Bush) dùng ngân quỹ ngân hàng Thụy-Sĩ bảo trợ cho Kissinger đoạt giải hoà bình Nobel thế giới, Nhưng Kissinger phải khuyên cáo nhắc-nhở Mafia Lê Đức Thọ không được nhận mà phải cưỡng chiếm miền nam để hoàn thành sách-lược định-kiến-1 (axiom-1) Tôi đưa ra sơ khởi hai dẫn chứng dễ thấy: Quý vị đánh giá thế nào về nội dung tài liệu của CIA, so với những gì đã công bố lâu nay? Liệu kho tài liệu còn bí mật từ phía Việt Nam sẽ cung cấp thêm nhiều nội dung khác? Các tài liều nầy đều được bóp méo rất tinh vi theo mục tiêu chiến lược toàn cầu của Permanent Government. Lại thêm một lần nữa tài liệu được gọi là giải mật rất cần thiết để phỉnh gạt quần chúng Việt Nam của Permanent Government; Có ai nghĩ, ở miền Bắc có bao nhiêu tình báo của Liên Xô và TQ trong thời chiến không? Bao nhiêu ngàn cố vấn của LX và TQ ở VN làm cho ai ? Âm thầm gián tiếp làm cho Mỹ.
                      Mới đây, Nga cho biết đã đưa lính vào VN, bây giờ người nào nghĩ TQ không có tình báo ở trong bộ chính chính trị VN? Thực ra, nếu đúng như bài trên thì tình hình miền Nam mất nước là đương nhiên vì rắn không đầu và bản thân họ không có tài chính trị vì tất cả đều do CIA nhào nặn ra. Còn Mỹ, bản thân họ thấy chẳng có quyền lợi gì ngoài việc lấy vịnh Cam Ranh đối đầu với Liên xô cũ; lợi dụng Việt Nam có chiến tranh họ thử các loại vũ khí của họ mà thôi qua chương trình CIP (Counter Insurgency Plan).

                      Chuyện sách lược Mỹ này xưa xa lắc, xa lơ rồi, đọc chơi cho vui, cho biết thêm chút thôi; Bây giờ nên nói về chuyện CIA đang làm gì trong Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng. và Tổng Cục II mới là chuyện đáng nói. CIA là cơ quan tình báo thay mặt Skull and Bones hay nói cách khác là công cụ bén nhọn của Permanent Government trong mọi quyết định, thay mặt họ tự do sáng tạo miễn chu toàn mục tiêu là được! Họ qua mặt Tổng thống, Tổng tư lệnh quân lực, họ gây áp lực cả Hạ viện và Thượng viện giám sát, vì vậy có người cho rằng CIA là một cơ quan của chính phủ! Không phải vậy đâu? Nhưng sự thật họ là công cụ bén nhọn chỉ đứng sau công cụ “Truyền Thông Văn Hoá” do một thế lực sau hậu trường lúc đó là Harriman và sau nầy gia đình giòng họ Bush, sử dụng quarterback Kìssinger và Linebacker Richard Helms, còn giòng họ Bushes là Coach, ông Bầu. Bộ tam đầu chế nầy ép-buộc, khũng bố chính quyền đương nhiệm phãi chăm sóc quyền lợi của họ, American First).

                      Sau khi cứu Cụ Diệm khỏi bàn tay Cụ Hồ qua Mỹ, CIA dự trù đưa Cụ Diệm về nước, sự bất ngờ CIA đi đêm với Cụ Nhu trước 1951, còn về mặt nổi là qua sự khuyến dụ của Bảo-Đại bằng Ngô Đình Luyện 1953-54. CIA đứng đằng sau Cụ Ngô Đình Diệm nên buộc Cụ Diệm đã không tuân theo Hiệp Định Geneve để tổng bầu cử toàn quốc sau hai năm vì Cụ cũng biết chắc Hồ Chí Minh sẽ thắng là đương nhiên theo xu thế thời buổi ấy; Điều nầy chỉ đúng một phần thôi, nếu không muốn nói rằng Mỹ cố tâm muốn khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi. Đọc trong sách “The New Legion” của Vinh Trương 2010 thì sẽ rỏ thêm chi tiết và hiện tại tới phiên CIA chơi ĐCS Việt Nam qua con nợ Trung Quốc như thế nào, rút từ kinh nghiệm “đâm sau lưng” VNCH qua con nợ Liên Xô trong cuộc chiến vừa qua: Với sách lược phần mềm (smooth approach) chúng ta có thể dễ dàng chứng kiến bốn Ông cựu Đại Sứ Mỹ vừa qua: Ông thứ Nhứt là một cựu Tù-binh, cưới một bà vợ Việt trẻ đẹp và ngày ngày chở vợ đi ăn Phở và Bánh cuốn Thanh Trì hưởng thụ sau bao năm nằm dài nơi khách sạn Hilton, gọi là giai đoạn bàn tay sắt bọc nhung, còn ông thứ Hai và Ba, và Tổng lãnh sự người Mỹ gốc Việt, học biết chút ít tiếng Tàu, làm việc về phản gián tình báo nội tình nước Tàu một thời gian coi cho được, rồi mới qua VN tăng chức làm đại sứ.

                      Còn sau khi chiếm miền nam, gọi là giai đoạn "phần mềm” CIA bắt đầu dỡ lại tấn tuồng làm rối loạn ĐCS như hồi VNCH trước đó, ngay sau khi hoàn thành những mục tiêu căn bản như đuổi đại sứ Pháp về nước, bứng gốc mầm mống Trung lập hóa miền nam: CIA nhờ người Việt tự phân loại người Việt từ dân chúng ra, ai theo TQ, LX, MTGPMN, VNCH, riêng sĩ quan VNCH ai có nợ máu! Có nghĩa là ai ở tù lâu năm sẽ được ghi danh đi Mỹ ưu tiên theo “niên trưởng ác-ôn có nợ máu” vì thế tại sao Thiếu- úy ở tù 4 năm đi Mỹ, (còn Đại tá ở tù 6 tháng bị ở lại gọi là thích hợp chế độ) theo thứ tự ưu tiên qua Mỹ không phân biệt cấp bực hay chức vụ mà chính xác là thâm niên tù, tiếp nối theo lộ trình ra đi có trật tự ODP diện ưu tiên qua Mỹ. Kế tiếp đến giai đoạn gây xáo trộn chia rẽ nội bộ ĐCS: (Trích một đoạn CIA gây rối loạn VNCH để người anh em phía bên kia biết mà lo tẩu tán tài sản và bớt đi sự bố láo).

                      Ngay sau khi TT Diệm ổn định tình hình, nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập một lực lượng đối lập "ngay sau lưng ông Nhu," để trong trường hợp phải thay đổi cấp lãnh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 tháng 11-1960 là một "hăm dọa" của Hoa Kỳ đối với tổng thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt ở tại bộ chỉ huy của đại tá Nguyễn Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chính. Vì TT Kennedy vẩn luôn luôn sau lưng TT Diệm, nên qua William Colby (chính quyền) buộc điệp viên Russell Flynn Miller (Skull and Bones) khuyên đại tá Thi nên thượng lượng với ông Diệm, trong khi biết rõ quân ủng hộ chính phủ của đại tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, lưới tình báo của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb, ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như lúc được giới thiệu vào làm việc (do Bác-sĩ Trần Kim Tuyến làm việc mật thiết cho CIA nhóm chống Kennedy) người tài xế không điếc mà còn thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp! Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của Nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống Diệm; Nhưng chính gia đình ông Diệm cũng bị hủy hoại vì sách lược đâm bị thóc, thọc bị gạo của CIA vì sự chia rẽ từ anh em trong nhà cũng do CIA đưa Cụ Nhu lên cái gọi là thế Cụ Diệm, lấy địa vị chức quyền ra để làm rối loạn nội bô nhà Ngô. Từ mùa xuân năm 1963 ông Nhu yêu cầu CIA đừng nói lại những gì ông và CIA trao đổi; Và qua nhiều lần nói chuyện với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay tổng thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu thì thường làm hùng làm hổ với tổng thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963, bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà ba ta ưng ý. Ông Diệm không đồng ý, nhưng bà Nhu "cằn nhằn, to tiếng" cho đến khi tổng thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng thắng thêm một lần nữa, khi đòi làm người chủ tọa và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà Trưng, thay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đã chỉ định.

                      Riêng về ông Ngô Đình Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương Trình Ấp Chiến Lược ở Miền Trung. CIA đã thành công chia rẽ nội bộ một gia đình để có kinh nghiệm trong tương lai chia rẽ một đảng CS trong phần hậu chiến.

                      Bây giờ tới phiên tướng lãnh, ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 tháng 7-1963, theo sự gợi ý của toà đại-sứ, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do tòa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lĩnh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau ra quán để uống nữa; Tại quán rượu, tướng Trần Văn Đôn (đã được Lucien Conein mốc nối khi còn là sĩ quan phòng 2 Pháp và 2 người nầy đều sanh đẻ tại Pháp. Cái đặc sắc của CIA là họ sắp xếp một kế hoạch dài hạn và có thời gian điểm mốc được gọi là decent interval, như họ dùng truyền thông văn hoá làm ồn ào kinh sấm ông trạng nầy ông trạng nọ “Khi nào Lúa mọc trên Chì, Voi đi trên giấy, thầy Tăng lại về” Có nghĩa thằng Tây lại về thì thằng Mỹ thế vào thay đồng Xu bằng Chì có nhánh Luá, và giấy bạc con Voi, 100 piastre) nói với nhân viên CIA là các tướng muốn đảo chính tổng thống Diệm đúng ngay tim đen của CIA; Thảm kịch của Nhà Ngô bắt đầu từ đó.

                      Tài liệu thứ hai, CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam (CIA và các Tướng lãnh: Những hỗ trợ ngầm cho chính phủ Quân sự Việt Nam Cộng Hòa) cũng tương đối "tối mật" so với những tài liệu được CIA công bố trước đây. Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chính 1 tháng 11-1963; Những gì đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chính, như một tập thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chính. Với gia đình Cụ Diệm CIA len lỏi gây xào-xáo, ĐCS Việt Nam CIA len lỏi một cách thần sầu quỷ khốc, còn nước Việt Nam anh em ruột thịt muốn chia rẽ phải có “căm-thù” quyết không đội trời chung đi vào chém giết nhau đến chỗ tận tuyệt trong cảnh nồi da xáo thịt bằng ý thức hệ: “căm thù Cộng Sản” đối lại “câm thù giai cấp” để rồi xảy ra thảm sát Tết Mậu Thân tội bên phía CS, còn phía VNCH, nếu Mỹ giao hàng trăm hàng ngàn ngòi nổ (warhead) BLU-82S, BLU-82AL, hoặc CBU-55 (CBU-55 có thể thả bằng trực thăng Huey) thì cuộc tắm máu xảy ra như thế nào? Lịch sử Việt Nam rồi đây sẽ phán-quyết một thế hệ quá ngu-muội như tôi đã nói phạm thượng trong sách “The New Legion”, mà không ai hay biết gì cả, cho đến giờ nầy vẩn còn ôm mối hận thù ? Các phi công hiếu chiến của tôi ơi, nếu có hàng ngàn ngòi warhead để lại bạn có thể giết 10 triệu người miền bắc, thì soạn giả của vở bi kịch nầy cũng viết vào đoạn kết, đứa bé 10 tuổi miền bắc vừa đủ sức cầm cây AK lên đạn và biểu các chiến sĩ đầy kinh nghiệm chiến trường VNCH phải dơ tay lên ... vì cây M-16 đả hết đạn!!!

                      Vì chúng ta khờ khạo, cuộc chiến VN là một phần của cuộc Chiến Tranh Lạnh do trục Ma Quỷ chủ đạo vì quyền lợi… mà cho đến giờ nầy người Việt vẫn còn hận thù… thật ngu xuẫn hết chỗ biết… dù sao lịch sử vẫn còn đó!

                      CIA là cơ quan tình báo mọi quyết định của họ không phải họ muốn làm gì thì làm như tài liệu đã nêu! Họ có Tổng thống, Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, họ có cả Hạ viện và Thượng viện giám sát, vì vậy cho rằng tài liệu CIA như đã nêu là tào lao. Chính sách Mỹ nắm chắc trong tay của Permanent Government qua 3 định kiến sau đây vào ngày 21/9/1960 thời TT Eisenhower:

                      1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon
                      2) The U.S had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs
                      3) The U.S could not have won the war under any circumstances

                      Với tôi CIA nói riêng, Hoa kỳ nói chung đã hoàn toàn thắng lợi ở VN bằng một cuộc chiến gọi là thua trận bỏ chạy. Dù có công bố bao nhiêu tài liệu đi nữa họ cũng chỉ để che dấu tội ác đối với nhân loại để chiếm ngôi vị siêu cường với đô-la đầy túi, ăn hay thua đâu có gì quan trọng? Mỹ không bao giờ có bạn bè, không có đồng minh lâu dài, chỉ có đồng minh tạm thời. Và, Mỹ không vì quyền lợi của ai hết, Mỹ chỉ vì quyền lợi của nước Mỹ, khi đồng minh không còn phù hợp với lợi ích của nước Mỹ thì Mỹ sẵn sàng bán đứng đồng minh. Đúng như ông Thiệu nói, đại ý: Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn của Mỹ thì vô cùng khó khăn. Đó là bài học lịch sử vỡ lòng về mối quan hệ với nước Mỹ; Bây giờ tới phiên Mafia Việt Nam; Vì vậy, Việt Nam ngày nay đang có mối quan hệ với Mỹ "đang ngày càng phát triển tốt đẹp" và họ đang run sợ!!!

                      CÒN TIẾP
                      Last edited by Phòng Trực; 09-08-2012, 05:29 PM.

                      Comment

                      • vinhtruong
                        Super Member
                        • Jun 2010
                        • 1924

                        #12
                        Cuộc tế thần thay đổi màu da

                        Nguồn gốc, hệ quả cuộc chiến: Trước khi thực thi Màn-2 Eurasian, có nghĩa là một sự “TẾ-THẦN” lấy màu da VÀNG thế vào chỗ da TRẮNG, trước tiên Harriman chỉ định OSS phải tìm cách móc nối cho bằng được Cụ Hồ Chí Minh trước và CIA phải tống khứ cho bằng được Thống chế Tưởng Giới Thạch và phe nhóm qua Ðài-loan [Formosa] trễ lắm 1949 bằng phương tiện hàng không CAT của CIA.

                        Bắt đầu năm 1950 Harriman muốn lộ diện là Ðại-đế hay là vị thống lãnh siêu chính phủ: Harriman, Kiến-trúc-sư Chiến-tranh-lạnh đang đổi hướng từ Trung-Âu qua Á-Châu, lấy Triều-Tiên làm “hậu trạm” lâu dài, còn Đông-Dương làm “thí điểm” và cả hai đều bị chia đôi đất nước:

                        Trước tiên Harriman dàn-xếp nội bộ về sự xung đột giữa Bộ trưởng quốc phòng Louis A.Johnson và ngoại giao Dean G Acheson, ông thuyết phục TT Truman cho ông cùng tháp tùng với Trung-tướng Matthew Ridway đi Tokyo tham dự cuộc họp với Tướng Douglas MacArthur, nhiệm vụ của Harriman là thay mặt TT Truman khuyên Tướng Arthur đừng gây chiến với Trung Cộng và lôi kéo Ðài Loan vào trận đánh giải phóng Lục địa. Ông bảo đảm sự đổ bộ tại Inchon [bờ Tây của bán đảo Triều Tiên] sẽ không có sự can thiệp của Liên Xô, vì những năm vừa qua Harriman đã dâng mời viện trợ cho Liên Xô đến hai lần (Aid to Russia Plan).

                        Bề ngoài Harriman giả-bộ cùng quan điểm với Louis A.Johnson, nhưng sau lưng Harriman đã buộc TT Truman phải giải nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng Johnson và thay bằng con Gà của Harriman là Tướng Bộ binh George.C Marshall, tiếp đến Harriman triệu tập một cuộc họp quan trọng NSC-68, cho quyền lợi của bộ máy phát triển quốc phòng WIB, e-ép TT Truman phải ký bản “mục tiêu và chương trình cho An ninh quốc gia [United States Objectives and Programs for National Security] có nghĩa chi tiêu quân sự tối đa cho sự tân trang vũ khí cho quân đội.

                        Nhìn thấy sự hiếu chiến của Tướng Mac Arthur, Harriman cùng với hai Bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng làm áp lực với TT Truman ra chỉ thị ngăn cản sự hứa hẹn của Tướng Arthur đối với Ðài-Loan đòi giải phóng lục địa, nhân buổi nói chuyện với Hội cựu chiến binh 8/1950 [the veterans of Foreign Wars] Tướng Mac Arthur coi thường lời đã khuyến-cáo của Harriman đừng đụng đến Mao Trạch Ðông, dù rằng lệnh của Bộ trưởng quốc phòng Johnson điều động Ðệ thất hạm đội kè sát cạnh eo biển Ðài loan để Mao bỏ ý định xua quân cưỡng chiếm. Harriman tức điên người khi nghe Tướng Arthur dám tuyên bố vớ-vẩn chính sách quốc gia, nhưng cũng phải trầm tỉnh đợi tới tháng 10 đổ bộ xong Inchon rồi hất ghế Tư lệnh thái bình dương của Arthur sau đó cũng không muộn.

                        Lúc nầy chúng ta mới thấy quyền lực của thủ lãnh Skull and Bones, Harriman ra mật lệnh cho cố vấn chính trị Charles Murphy lôi cho được TT Truman bay qua đảo Wake mặt đối mặt với Mac Arthur. Harriman ước tính với Murphy, chỉ cần hơn một tiếng đồng hồ giải nghĩa sự lố bịch vì đi quá xa với trách vụ của mình, để cách chức người chỉ huy trực tiếp, Bộ trưởng quốc phòng Louis A Johnson.

                        Ở tại phòng điều hành Washington Executive Office, Harriman tác giả soạn thảo văn kiện giải nhiệm Tướng Arthur vì lý do công kích chính sách của Vị Tư lệnh tối cao của quân đội Hoa kỳ. Phản ứng phía Mac Arthur gởi công điện về Quốc hội, cho vị lãnh đạo thiểu số Ðảng Cộng-hòa, Joseph Martin ngày 5/4/1951, nhưng làm sao Tướng Arthur biết được người nắm Quốc hội lúc nầy là viên phụ-tá Skull and Bones, Prescott Bush, hậu quả khiến TT Truman phải triệu tập một cuộc hợp với sự tham dự có ngoại giao: Acheson, quốc phòng: Marshall và tổng tham mưu trưởng Tướng Omar Bradley. Tại đây, Harriman đệ nghị phải giải nhiệm Tướng Mac Arthur liền tức khắc, TT Truman rất bất ngờ, do-dự sau khi tham khảo nhưng rốt cuộc phải nghe theo lời đề nghị của người thật sự nắm chính sách Mỹ, Harriman.

                        Bộ trưởng quốc phòng Johnson và Tướng Arthur hiểu lầm ý định của Harriman đem hạm đội 7 vào eo biển không nghĩa là tấn công vào lục địa, cũng như tại Việt Nam, khi liên quân Việt Mỹ tấn công Cục R bên Cambodia và tấn công qua Lào có nghĩa là rút lui chiến lược về Honolulu bỏ ÐNÁ và biển Ðông giao Hoàng Sa cho TQ … Làm sao ai biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?… Hoa kỳ giúp Trung Quốc vào LHQ để không còn dùng luật rừng, với thế kỷ 21 nhân loại quá chán ghét cảnh chiến tranh, không quốc gia nào muốn xác người nằm tràn ngập nơi chiến địa, Hoa Kỳ làm ăn theo kiểu khác bằng chêm đệm phù trợ một số lãnh tụ độc tài trên thế giới vơ vét của cải của người dân đến giàu sụ, sau một thời gian Hoa Kỳ ra tay nghĩa hiệp “thế thiên hành đạo” lật đổ lấy lại tài sản trả cho người dân nghèo nàn rất cần nhu yếu phẩm của Mỹ sắp hết hạn ...

                        Đúng 50 năm sau, ngày kỷ niệm chiến tranh Triều-Tiên năm (1953-2003) với huy-hiệu như trên, (hình giải mật trang 41, Volume-1) dù rằng phù-thủy Harriman đã nằm sâu dưới hỏa-ngục, nhưng Nhóm học-giả dân-sự do chính Harriman sáng lập, nuôi dưỡng, và chăm sóc bù đắp thêm nhân tài trẻ cho thế hệ kế tiếp, đã in hình ông trong ngày kỷ niệm mừng 50 năm: “như là Cố-vấn đối ngoại toàn quyền của T.T Truman và thúc-giục hay áp-lực TT Truman ký giấy giải nhiệm chức Tư-lệnh chiến-trường của Tướng Mc Arthur với tội trạng “không được quyền phát ngôn về chính sách quốc-gia” (Unauthorized Policy Statement) W.A.Harriman là Ðại-đế giấu mặt mà cũng chính là người lãnh đạo chính sách (policymaker) nước Mỹ từ Thế-chiến-1, rồi 2 cho tới 1960 (1917-1960).

                        Còn chiến tranh Việt-Nam thì sao!? (Theo tính nhậy cảm của người viết) Năm 2023 Hoa-kỳ lại kỷ niêm 50 năm chiến tranh Việt-Nam (1973-2023) y-chang như Triều-Tiên ở trên, họ lại để hình TT Nixon bắt tay Mao-Trạch-Đông Febuary, 1972 chứng minh chấm dứt 20 năm thù địch với Trung-Quốc để biến nước nầy lần lần chấp hành một trật tự chung sống phồn vinh theo lối sống Mỹ. Lúc nầy hàng hoá Trung-Quốc rẻ mạt khắp nước Mỹ và thế giới giống y chang như hàng hoá Nhựt sau thế chiến II. Đây là điều đáng mừng hay đáng buồn cho TQ?

                        Thật mừng cho nhân loại, khi hơn một tỷ người của thế hệ hậu sanh khả quý đã vui lòng chấp nhận là công-nhân “hạng-bét”với giá lương rẻ mạt cho một hãng xưởng độc-nhất trên Thế giới mà người chủ của hãng xưởng duy nhất nầy là “ai bỏ vốn nhiều nhứt vào cổ phần thì người đó làm Chủ,” qua tư-tưởng của Harriman, về thế chiến lược toàn cầu “Eurasian.” Còn trên đất nước Việt-Nam, đường Trường-Sơn Tây là xa lộ Liên-Bang Đông-Dương là huyết mạch cho nền kinh-tế của các nước vùng Đông-Nam-Á, mà đã có một thời người khai phá nó bằng đường bộ phải thường xuyên nghe tiếng dội Bom “tiếng sấm rền” (rolling thunder) phá núi đá với 6 triệu tấn Bom trên 14 tấn cho toàn cõi Đông Dương và Phi-cơ C.123 phun thuốc vẽ đường (tracking) bằng chiến dịch “Hot-Tip” làm vàng lá. Người đặt chân trên mặt đất mới thật sự là Thiên-Thần của sự phóng đường tiện gọn và hữu-hiệu nhất, để tránh khỏi thế đất gồ-ghề, nhiều con suối băng ngang, phải tốn kém để bắt quá nhiều cầu cống hoặc núi non hiểm trở, trong khi người dẫm chân lên mặt đất chỉ cần tìm ra sự xê-chệch qua trái hay phải vài độ dạt. Trục ma quỷ sẽ đặt Thủ đô là Đà Nẳng làm trụ gốc của chiếc quạt cho nền kinh tế mà các thành phố Saigon, Nam Vang, Vientian, và Hà Nội của nước Liên Bang Đông Dương được thế giới ngưỡng mộ, trên gốc độ giao thương tương đối khoảng cách bao vùng bằng nhau?

                        Sau đó Harriman trong mục tiêu siêu chiến-lược “Eurasian” của nhóm ‘Wise-men’ (6 người nắm vận mệnh thế giới) Duy chiến tranh Việt-Nam, có điều đặc biệt là Hoa-Kỳ sẽ không ký vào hiệp định Genève 1954 để dễ bề thi hành kế hoạch CIP; Nhóm tham-mưu Dân-sự George Kennan của Harriman muốn trả lại khát-vọng cho Cụ Hồ, như trong tuyên ngôn Độc-lập dân quyền tha-thiết của Cụ, nhưng phải để cho họ khai thác lợi nhuận trước đã. [“What you get, what you pay!”] Nước Mỹ giành được độc-lập cũng phải trải qua biết bao cuộc nội chiến thê-lương; Thôi thì “Bánh ít đi bánh quy lại” cho nó công bằng, và SCP sẽ vận động ghi danh Cụ Hồ trong danh sách “Danh-nhân thế-giới,” với tên của một Chiến-dịch, rồi một Thành phố, cùng tên một con đường Mòn đi vào huyền thoại lịch sử VN, phải chăng dầu hỏa dưới biển Ðông sẽ đem lại đại thảm họa cho VN?

                        Đúng 60 năm sau, trong bóng tối cuối đường hầm lại lú ra: (1945-2005) cũng tại trung tâm văn hóa Ba-lê, tuần báo Paris Match ra ngày 25/4/2005 có đăng bài phỏng vấn Thượng Nghị-sĩ, cựu tù binh bị hành hạ tàn nhẫn nhứt trong cơ-mưu “khổ-nhục-kế,” John Mc.Cain, một con gà Nòi của Siêu-chính-phủ, như muốn chuộc lại sự lỗi lầm của họ đã lường gạt, phản bội cụ Hồ từ 1945 cho đến nay: “Người dân Miền Nam Việt Nam trước đây chưa hề bao giờ cho rằng chính phủ Saigòn là hợp pháp. Họ hiểu rằng Hồ Chí Minh chính là người Quốc-gia muốn thống nhứt đất nước” (một lần nữa để làm rõ nghĩa “định-kiến-1 qua cuộc họp HÐAN 21/9/1960 và xác định Cụ Hồ không phải là Cộng sản và trước đó Cựu Bộ trưởng quốc phòng, Donald Rumsfeld củng là thủ phạm Tháng Tư Ðen-1975 tuyên bố: Miền Nam bù-nhìn, Miền Bắc yêu nước, dựa vào đâu? dựa vào hơn nửa triệu Lính Mỹ vào Miền Nam mà không có ai mời là xâm lược chớ gì?).

                        Nhưng bánh quy nầy là một thảm kịch dài và dai-dẳng nhất cho dân-tộc Việt-Nam qua hai cuộc phỉnh gạt tinh-vi: Hứa với Pháp, Mỹ sẽ dùng B.29 để tiêu diệt Việt Minh khi họ bu lại tụ điểm Điện-Biên-Phủ như Kiến bu quanh cục đường. Còn VNCH, Mỹ cũng hứa dùng B.52 tiêu diệt, nếu Hà-Nội vi-phạm hiệp định Hòa-bình Paris; Nhưng cả hai đều là một sự lừa gạt lắc-léo đầy trơ-trẻn cho quyền lợi của đảng Công-ty, mà Nhóm tham mưu George Kennan cho rằng: “Pháp là loại lính “Lê Dương tạp chủng” vì nhận 80% vũ khí Mỹ, và miền Nam là lính “Lê Dương Mới” vì nhậm 100% quân viện Mỹ? Vì mục tiêu là công cụ cho America-First.

                        Nhưng mục tiêu chính cho cái thế “bênh kẻ mạnh” là một môn võ thuật kỳ diệu, dùng sức mạnh tối đa của địch, huyền biến thành sức mạnh quyết định của mình, để đo-ván địch thủ thể hiện qua “bỏ phiếu bằng chân” Hoa-kỳ sẽ tạo ảnh hưởng tạm thời cho “con nợ” Liên Xô tại Đông-Dương là phải sản xuất vũ khí theo sự yêu cầu của “chủ nợ” [đảng Công-ty Mỹ: WIB] dựa vào sau đó, mà dân Việt hai miền là khách hàng tiêu dùng những thứ quỷ nầy. Đây mới thật là một Siêu chiến lược của người Thủ-lãnh Đảng Sọ xương người [Skull and Bones] vượt qua cả Karl Marx và Lênin để nắm gọn sự tự-nguyện (không có ép buộc) của “Giai-cấp Công-nhân” vào một thế giới an-bình và thịnh vượng chung.

                        Trong Thế chiến-1, W.A.Harriman đã có tham vọng đầu-tư để nắm vửng những lợi nhuận tại hai nước chủ yếu là Ðức quốc xã và Liên Xô vào năm 1920, dòng-tộc Brown-Brothers Harriman lấy Ðại-học Yale làm lò luyện thép, tôi-luyện ra những Skull and Bones. Cũng tại đại-học Yale nầy, mùa Thu, 1913, Prescott- Bush [ông nội của TT George W Bush-43] Theo bước cha-ông ghi danh vào Yale và hai vị Tổng thống Hoa-Kỳ sau nầy cũng noi theo cha ông cùng tốt nghiệp tại Yale. Sự kiện chứng minh những Skull and Bones tốt nghiệp từ Yale đã nắm chặt chính sách Hoa kỳ cho đến ngưới cuối cùng của Yale-Skull là George-W Bush- 2008 – Nói tóm lại, hơn nửa thế kỷ nay, Hoa-kỳ đang trị-vì bởi cái nhóm Yale-Skull như một “Chính phủ vĩnh-cửu” Ðảng Hội Ðầu Lâu nầy chủ trương “đi với Bụt mặc Cà-sa đi với Ma phải mặc áo giấy” dưới ảnh hưởng tuyệt đối của 2 Triều-đại: W.A.Harriman, Dân-chủ và George H.W.Bush, Cộng-hòa.

                        Hơn ai hết, Harriman hình dung được thế chiến lược Eurasian sẽ đem lại thảm hoạ kinh hoàng cho nhân dân hai nước Việt Nam và Iraq nên ông chỉ lộ-diện vào Thế chiến-2 và chiến tranh Triều Tiên, lý do dễ hiểu vì tại Ðức, Hoa kỳ sẽ để lại 300.000 còn Triều Tiên là 50.000 quân làm tiền trạm. Còn qua Màn-2, giai-đoạn-2 ở Á-châu là Ðông Dương, Harriman núp kín đáo ở ngôi vị thứ-3 của Bộ ngoại giao để không ai biết đến kẻ thủ phạm đem lại một cuộc chiến thắng trầm-lặng (quiet-victory) cho “Hội-đồng Kỷ-nghệ Chiến-tranh”. [War-Industries-Board] Những thảm hại cho quân đội Mỹ qua lá bài “Khổ-nhục-kế”, vài tờ thời báo của thập niên đó đã nhắc tới nhiều lần: “Nước Mỹ từ 1917 đến 1960 xuất hiện một Nhóm 6 Nhà thông-thái [The Wise Men: (1)-W.A.Harriman, (2)- E.R.Harriman, (3)- R.A.Lovett, (4)- James Forrestal, (5)- Artemus Gates, (6)- Prescott Bush] nắm vận mệnh thế giới. Còn hai nhà văn nổi tiếng, Walter Isaacson và Evan Thomas thì cho rằng Nhóm 6 nhà thông thái nầy đã đi săn-lùng tài nguyên từ thượng nguồn Sông Rhine đến hạ nguốn Sông Danube để rồi đưa ra mưu đồ chiến lược “Eurasian Great Game”1920-2020, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có Mỏ manganese và dầu hoả. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng-sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn Tư bản gây ra nhiều tội ác bốc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rõ ràng Bọn Bolshevik vẩn cần dollar và kỹ thuật Tây-âu để sống còn. Ðặt văn phòng ở Bá-Linh, Harriman dám cùng chung với công-ty Ðức và chính quyền Liên Xô tạo nên một công ty hỗn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ.

                        Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể; Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà Liên Xô không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường “tình-báo” Ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tín-dụng $1 triệu dollar đặt cọc [deposit] và điều động J.Speed Elliot, Phó Giám đốc Harriman and Company qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolsheviks do Trùm mật-vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký, Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn dặm của Mỹ? Công việc làm ăn với kẻ thù như thế nầy đã bị các nhà lãnh đạo Tây-âu cho rằng: “giúp cho Hùm thêm mống-vuốc!” Thủ tướng Anh MP Winston Churchill cho rằng: những việc làm-ăn thiếu khôn ngoan cũng như đạo đức. Nhưng Bọn Tài phiệt nầy đếch cần!

                        Vùng nước Cộng-hòa Georgia nằm trên Hắc-Hải, với khối lượng khổng lồ quặng-mỏ Kền để làm vũ khí, chỉ cách Iraq 400 miles, oặn dầu-thô ở Baku cũng khoảng cách không xa lắm. Nhà chiến lược gia kiệt xuất W.A.Harriman bèn nghĩ ra diệu-kế “Eurasian-Great-Game” ngay vào lúc nầy, mãi đến 1959, Ó-Mỹ chọn VN để lót ổ. CIA đã khuyến dụ được KGB để dự trò chơi chiến tranh tại Ðông Dương giữa hai đấu-pháp “Chiến tranh Giải phóng” và “Chiến tranh chống nổi dậy” [gọi theo tiếng Anh là: National Liberation Front (NLF) và Counter Insurgency Plan (CIP)] cũng vào năm nầy, Chiến lược gia Harriman cho ra đời tác phẩm “hoà bình với Liên-Xô” [Peace with Russia-1959]. Ðoạn kết của thế “bênh kẻ mạnh” buộc Hoa-kỳ bỏ vùng biển South China Sea, di tản chiến-lược về Honolulu, qua cuộc giao banh đầu tiên ngoạn mục của Quốc hội Mỹ năm1970, để giăng một cái bẫy cho tham vọng của Trung Quốc vướng-mắc vào vùng có trữ lượng dầu hỏa từ đảo Ðiếu Ngư [Nhựt: Sang-Ka-Xu, Tàu: Diaoyo] xuống Hoàng-Sa, và Trường-Sa.

                        CÒN TIẾP
                        Last edited by Phòng Trực; 09-18-2012, 08:37 PM.

                        Comment

                        • vinhtruong
                          Super Member
                          • Jun 2010
                          • 1924

                          #13
                          Từ chiến trường luận qua chính trường

                          - Là chiến sĩ, chúng ta cho rằng mục tiêu cuộc hành quân Lam Sơn 719 là tiêu hủy kho vũ khí của CSBV trên đường mòn HCM?

                          - Cuộc hành quân nầy, chúng ta là kẻ chiến thắng?

                          * Tất cả hai câu trên đều sai bét như tôi sẽ lý giải dưới đây:

                          …. Nhưng rất tiết nhiều chiếc hình giải mật không được in ra từ hai cuốn sách “The New Legion”, nhứt là chiếc hình đoàn xe thồ (hình phóng viên Đông-Âu chụp) chuyển vận tiếp liệu trên đường mòn HCM, mỗi chiếc thồ hơn 200 kilô tiếp liệu (trang 95, Volume-1 “The New Legion”: Cast your eyes on this picture: If you have a good eye, you can see the words “handle with care”. CIA memorandum, 9/6/1967, Soviet wanted to control the transshipment of Soviet goods from USSR and through China to North Vietnam. However, the Chinese objected and stated that they would assume control at the USSR border. At this point the North Vietnamese officials intervened and said that: “If the USSR and China were going to disagree over this, then North Vietnamese would not continue the war” That made Permanent Government get into a panic ).

                          Ngay sau khi Lê Đức Thọ nhỏng-nhẻo đòi nghỉ chơi không chịu đánh đấm nữa. (Vì 1967 biến cố xung đột quyết liệt giữa TC/LX) TC đòi kiểm soát những chuyến xe lửa băng qua biên giới đến VN mà LX không chịu, sợ TC “cọp-dê” kỹ thuật quân sự. Permanent Government hết hồn hết-vía vì muốn nuôi dưỡng chiến tranh nên phải dùng C-130 không số, (sơn toàn thân tàu một màu xám-tro lam xậm) thả tiếp liệu quân dụng xuống đường mòn HCM, nhưng kẹt nỗi vì quá vội, trên các thùng gỗ quên bôi chữ “HANDLE WITH CARE” không biết phần đông lính BV nhà quê có hiểu không? Nhứt là các chai thuốc như huyết thanh serum … sợ bị bể.

                          Trong lăng kính phi công gián điệp, tại sao tôi chỉ nhấn mạnh chiếc hình đoàn xe thồ nầy từ chiến trường qua chính trường?

                          (1) Để bênh vực lập luận “Trận chiến Lam Sơn 719” là hai bên đều thảm bại nhục nhã nhứt trong lịch sử dân tộc, và nên bỏ đi cái thói cao-ngạo quân ta là kẻ chiến thắng qua quá nhiều chứng liệu hình ảnh chết chóc đau thương cho dân tộc (chứng liệu trên youtube).
                          (2) Cuộc hành quân nầy quá muộn màng, đáng lẽ phải xảy ra hồi chính quyền Kennedy hay trễ lắm là chính quyền Johnson, như trường hợp tướng Westmoreland nổi hùng khí ra quốc hội đòi đem quân Mỹ hành quân chốt chận trên đường mòn HCM thì bị triệu hồi về Mỹ tức khắc, không khác gì tướng Mc Arthur khi ra quốc hội đòi giải phóng lục địa.

                          Tại sao phải trễ, ai nắm chính sách ? Đây là vở bi-kịch tuồng cải-lương mà soạn giả Harriman viết đoạn kết cho phe miền Bắc thắng chỉ đơn giản là thế, và chỉ có thế thôi, nên đạo-diễn Donald Rumsfeld nhắc tuồng nói toạc móng heo ra là “Miền Nam bù nhìn, Miền Bắc yêu nước” làm quê cơ miền nam qua sự thật quá phũ phàng, phải không các chiến hữu?

                          (3) Để người Việt hải ngoại nhìn thấy tài liệu mật trong hai cuốn sách nầy mà hãy quên đi “Chiêu-bài chống cộng”. Nó là “viên-thuốc” tố-cộng mà Harriman đã cho người miền nam uống từ cuốn phim “Chúng tôi muốn sống 1954” nhưng đến giờ nầy nó đả lỗi thời rồi mà trong sách “The New Legion” tôi cho nó là thuốc đã đến thời kỳ hết hiệu-nghiệm “expired” (The old political label “Anti Communist” was already expired in forgetful and nobody buy it).

                          Nói về hoàn cảnh đau thương thì có lẽ TNS Mc Cain và tôi chịu quá nhiều kinh nghiệm bầm dập với CS. Nhưng đứng trên gốc cạnh phải nói sự thật theo lương tâm và danh dự của mình, tôi và Cain phải thẳng thừng nói rằng: cụ Hồ là người quốc gia, để trả lại tính trung thực cho lịch sử Việt Nam [The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent [ Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” Nhửng điều nầy đã có đáp số định kiến-1 [Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon].

                          Trên diễn đàn nầy sẵn dịp, nếu có thì giờ nghiên cứu trong 2 cuốn sách nầy không có hình ảnh giải mật mà chỉ có một chiếc hình rẻ tiền được phô bày là bản đồ đi vượt biên nhỏ bằng chiếc Tem thư, và cái địa bàn như đồ chơi trẻ con thì bạn cũng nhận ra ngay nỗi kinh hoàng như thế nào khi phải chấp nhận căn cước tỵ nạn? (Hình Chapter-3, trang 249 đến 272; còn như anh muốn đọc tiếng Việt thì nơi diễn đàn hoiquanphidung, Mục 30/4, tựa “Chuyến tàu đầu tiên chở Bò Ngũ ra bắc”, từ bài số 20 đến hết … sẽ biết tại sao tôi phải dành hết thì giờ nhàn rỗi mài đũng quần 20 năm nơi thư viện để nghiên cứu tại sao có ngày 30/4/75 mới hiểu ra soạn giả, và đạo diễn tấn bi thảm kịch nầy đã đưa ra đoạn kết là sau khi kiếm đủ lợi nhuận (America First) VN sẽ được độc lập thống nhứt sau 30 năm (1945-1975), đúng y chang âm-mưu Mỹ không chịu ký chia đôi VN Genève 1954, trong khi các nước khác đều muốn… sự thật quá oan-nghiệt cho dân tộc Việt.

                          Viết lách trên một diễn đàn dành riêng cho những người tỵ nạn là sống trên môi trường rất nhạy cảm, tuy nhiên cảm nhận để đối phó với vấn đề nầy là một sự quyết định tùy theo cảm quan và chấp nhận những thử thách cũng chỉ là vì muốn trả lại sự thật cho lịch sử. Là một người viết nhưng KHÔNG MUỐN LÁCH mà chỉ dựa trên đạo đức dân tộc, tuổi đời đã trên 7 bó rồi mà còn viết là 1 điều hiếm có vì cần lưu lại cho Quân-Sử, sao lại khó khăn với nhau? Tôi quan niệm sự thật thời-đại là điều tiên quyết do đó đã quyết định chọn cái mũ tác-giả thay vì mũ tố-cộng, sức mạnh của ngòi viết ở Mỹ là sức mạnh được tu chánh án số 1 của Hoa Kỳ bảo vệ đệ 4 quyền là quyến bất khả xâm phạm, miễn sao người viết đừng lợi dụng quyền đặc miễn để sử dụng chúng như một vũ khí tấn công hoặc phỉ báng mạ lị bất cứ một ai.

                          Phải nhìn nhận sự thật, đây là cơn uất nhưng nếu chúng ta không chịu chấp nhận và lỡ đã binh con bài “mậu thầu mậu dỉ cù lủ” thì cứ tiếp tục binh con bài nầy, cũng chả chết ai … nhưng đường binh nầy là con đường mòn không lối thoát, vì người soạn giả vở bi-kịch nầy cũng đã cho kết quả trong lăng kính với đáp số rõ rệt: “Cứt Trâu để lâu hoá bùn” … Và trái đất vẩn phải quay! Sự thật ai bỏ độc dược thì chỉ người đó có thuốc giải? Ai không biết thì làm cách nào cứu được đây?

                          Như bài Hành Quân Lam Sơn 719, đọc giả có thừa thãi những hình ảnh chứng liệu để nói lên sự tự mãn càn-bướng của quân đội hai miền nam bắc, tự cho mình là kẻ chiến thắng; nhưng thật ra đây mới là một sự thảm-bại nhục-nhã cho cả hai phía trong lịch sử dân tộc Việt Nam vào thời cận đại vì đã dùng súng người để chém giết đồng chủng.

                          Riêng về phía quân lực VNCH thì từ người lính đến tướng đều cho rằng cuộc hành quân nầy là “phá hủy kho vũ khí tại đường mòn HCM” nhưng dưới con mắt của phi công gián điệp tình báo thì hoàn toàn sai bét? Hay nói cách khác cuộc hành quân nầy xảy ra đã quá muộn màng!

                          Thời chính quyền Kennedy thì đã có chiến dịch bí-mật thả Biệt Kích ra ngoài bắc nhắm vào trọng điểm từ Đèo Mụ-Giạ đến ba biên giới, các toán phá hoại nầy đã bắt cóc, phá hủy cầu cống, công sự nhà máy, đặt Mìn … do Trưởng CIA tài ba từ Đệ-II thế chiến William E Colby điều hành, nhưng lại bị điệp-viên phản tình báo ám số 19 Lucius Conein (bắc) Russel Flynn Miller (nam) cho Trinh-Sát Hà Nội biết các toạ độ để chụp bắt làm điệp viên hàng đôi (double cross) và phá hoại chiếc C-47 Cò Trắng của Trung úy Phan Thanh Vân, và chiếc trực thăng H-19 của Trung úy Bùi Quang Các đi thăm viếng các tiền đồn dọc theo hành lang xa lộ Harriman (Đường mòn HCM) vì vi-phạm vùng cấm bay đang khai phá đường mòn HCM cho định kiến-1 (axiom-1’ solution).

                          Ngay sau khi siêu chính phủ (Permanent Government) triệt hạ được TT Kennedy, thì nhiệm vụ của các toán Biệt Kích nầy trở về cương vị nhàn rỗi là chỉ lấy tin-tức vui chơi thôi, điệp viên 19 bèn đặt cái tên để đời là Toán Easy để đánh dấu “nhàn-rỗi” và cuốn chiếu về nam kết thúc cuối 1968 sẽ không còn Biệt- Hải kích nào ở ngoài vĩ tuyến 17. Chiến hữu nào còn kẹt lại thì rán chịu cảnh đem con bỏ chợ.

                          Thời đệ 1 Cộng Hoà, Siêu chính phủ (Harriman, Bushes) ra lệnh hành pháp Kennedy phải áp lực chính quyền miền nam bỏ quận Hương-Hoá để cho quân BV khai mở xa lộ Harriman, mà phía Tây-Âu đặt cho cái tên Đường mòn HCM với mục tiêu chính trị vinh danh hậu thế để trả nghĩa sự phản bội của Mỹ; còn triều đại Mafia Lê Đức Thọ thì đặt cho cái tên Đường 559, ám chỉ năm 1959 lật đổ cách ly cụ Hồ, Thọ đưa Lê Duẩn về làm Quyền TBT, còn như Cách Mạng VN đặt cho cái tên Đường Trường Sơn.

                          Chính quyền Đệ-1 VNCH, qua cụ cố vấn Ngô Đình Nhu thì có một tầm nhìn xa hơn, Khe Sanh (Tchepone) chưa phải là trọng điểm để hủy diệt đường xâm nhập của BV mà Darto-BanHet (Attopeu) mới thật sự là yết hầu của quân BV, Cụ cố-vấn, biết được ý đồ đó của Harriman về trung lập hoá Lào, nhung vì cần viên trợ để chống đỡ, nên cụ Ngô Ðình Nhu âm thầm với mưu lược chốt chận ngay yết hầu của Ðường-559 bằng điều-động Ðại tá Ðỗ Cao Trí, Tư lệnh Ðệ tam Quân khu sẽ mở cuộc hành quân chốt chận ngay yết-hầu Attopeu, với Thiếu tá Dư Quốc Ðống Chiến đoàn trưởng CÐ Dù, Ðại úy Lý Tòng Bá Thiết đoàn trưởng, cùng một đơn vị bộ binh thuộc SÐ22 với Tiểu đoàn Công Binh khai phá đường qua nam Lào, từ Ben Het, Darto tiến qua Attopeu, Lào.

                          Sự việc nầy bị ngay tay phản-tặc, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Tổng Cục Tình Báo tại phủ tổng thống tiết-lộ cho CIA của nhóm Russell Flynn Miller (nam) và Lucien Conein (bắc) biết ráo trọi. Ðại tá Lansdale là ân-nhân của TT Diệm đã đề nghị (theo lệnh thượng cấp), Ðại tá Carver là cố vấn TUTB phủ tổng thống, nhưng mà ‘Giòi’ trong ấy ngoi ra làm sao TT Diệm hiểu nổi như H.N.Nhạ, Ðinh Xáng, P.N Thảo, Pham Xuân Ẫn… Cái nhóm CIA nầy lại là tay chân của hai nhân vật chủ chốt cuộc chiến Việt Nam (Harriman và Prescott Bush) đang đặt ống kính phải hủy-diệt hai hòn đá tảng (Kennedy và Diệm) cản đường CIP nầy bằng mọi giá như phải lấy máu giải quyết.

                          Thời kỳ chánh-quyền John F. Kennedy muốn việc làm của CIA tại Việt-Nam phải cố-gắng nhiều hơn nữa, khám phá cho được đường thâm nhập của Bắc-Việt vào Miền-Nam, tăng cưòng nhịp độ đột phá và gởi Gián-điệp ra Bắc. Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia Hoa-Kỳ (NSC) đã có cuộc họp số 52 Memorandum bản ghi nhận: cho phép xử dụng Mũ Nồi Xanh và Hải-Quân người Nhái huấn luyện Cố-Vấn cho quân-đội Miền-Nam để họ thi hành những cuộc hành quân xâm nhập ngoài Bắc: Biệt-Hải và Biệt-Kích Gián-Điệp nhưng khổ nỗi tổng thống Mỹ chỉ là một người tổng quản lý nước Mỹ mà ông Chủ là một thế lực sau hậu trường (Permanent Government), mà người sáng lập ra nó từ 1920 cho đến nay là W A Harriman 1920-1960, và từ 1960-1969 là thời gian chuyển tiếp cho George H W Bush, nói cách khác là Bush-Cha học nghề cho đến cuối nhiệm kỳ thứ nhứt của TT Johnson và quan trọng nhứt trước khi rời khỏi chính trường Harriman cần nhắn nhủ lời vàng thước ngọc cho Triều-đại Mafia Lê Đức Thọ tại các cuộc họp mật Paris Peace Talks chỉ có riêng Thọ/Harriman mà thôi. Vì thế khi Kissinger có nhắn nhủ với Thọ: “Khi chiếm miền nam nhớ nhẹ tay với người bạn thân của tôi trong phái đoàn VNCH là Nguyễn Xuân Phong” nhưng Thọ vẩn bắt nhốt như thường, tuy nhiên Phong được thả sớm nhứt là 5 năm sau vừa đủ điều kiện đi diện H.O; duy chỉ có Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì không được đụng đến vì ông có trong danh sách USIS. Vài năm sau ông Bác sĩ Quế bị bắt vì ông muốn hành động như Bác si Mandela ở Phi châu thì phải bị bắt nhốt thôi.

                          Để kết luận phần nầy: Quân đội của hai bên đều thảm bại vì mục tiêu chính là không tắm máu và bàn giao Saigon cho Hà Nội không thành đống gạch vụn. Những thành phần chủ lực chiến đấu xuất sắc phải bị tiêu diệt trước như: sư đoàn Dù/sư đoàn 2 Sao Vàng – sư đoàn TQLC/sư đoàn Thép 320 – sư đoàn 1 BB/sư doàn 324 – BĐQ/304, 308 …

                          -Mục tiêu kinh tế: những vũ khí lỗi thời phải được tiêu dùng, như trực thăng, chiến xa, đại pháo, xe vận tải …để thí nghiệm sản xuất loại mới cho chiến trường Trung Đông.

                          -Mục tiêu chiến lược: tu chính án “Cooper-Church” 1970 chuẩn bị Eagle pull về Hawai, vào thời điểm “Case-Church” 1973, giăng bẫy đồng thời nâng Trung Quốc lên hạng Nhì tạm thời thế Liên Xô (1970-2020).

                          -Mục tiêu chính trị: Việt Nam Hoá Chiến Tranh để Mỹ rút quân, hoàn thành định kiến 3 (axiom-3) bỏ lại chiến cụ ra đi nhẹ re, thời gian sau thành đống sắt vụn vì thiếu cơ phận, theo cung cách làm ăn của War Industries Board, không bao giờ đem thứ quỷ nầy về Mỹ.

                          -Mục tiêu chiến thuật: Tất cả tiếp liệu quân dụng đều được di tản đầy ngập trên hành lang Đường 559 do nhị-trùng đại-tá BV Bùi Tín báo cáo cho phóng-viên trá hình Phạm Xuân Ẩn, sau cùng Richard Helms cho tướng Haig biết để khai diển cuộc hành quân ngày 18/Jan/1971 bằng sự quyết định của TT Richard Nixon và HĐANQG (NSC) [ Hình giải mật, trang đầu “The New Legion” Volume-II ].

                          -Mục tiêu tuyên truyền: Vì Mỹ thua trận, thế giới không bươi móc cuộc chiến “bẩn-thỉu” qua sách lược “Bỏ phiếu bằng chân” như 1954 thì làm rùm beng vì không ai chết với 1 triệu người tỵ nạn … sau tháng tư Đen thì… để người Việt tự hiểu… vì thế “Chiêu bài chống cộng thật sự đã lỗi thời rồi” nhưng đôi khi CIA lại đốc thúc người Việt hải ngoại hung hăng tấn kích là để làm một công cụ cho tư bản Mỹ gây áp lực với phía VN vì quyền lợi thương mãi mà thôi.

                          QUEENBEE-1
                          Last edited by Phòng Trực; 09-09-2012, 02:25 PM.

                          Comment

                          • vinhtruong
                            Super Member
                            • Jun 2010
                            • 1924

                            #14
                            Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020

                            Luận cổ suy kim
                            (Người viết muốn thay đổi từ món ăn nóng qua món đồ nguội và cũng muốn độc giả có chút ít căn nguyên để luận cổ suy kim)

                            Thượng sách phạt giao để thôn tính và làm giàu bằng món hàng giết người

                            Đầu thế kỷ 19, lợi dụng tình thế khó khăn của Pháp, Mỹ đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ bằng “ngoại giao điền thổ” Tháng 5-1803, với 15 triệu USD và với giá 3 Cent (1 Cent=1/100 USD) một mẫu đất, chính quyền của ông Jefferson đã mua toàn bộ vùng Louisiana từ tay Pháp vì lúc đó Napoleon rất cần tiền để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với Anh. Cuộc mua bán ngoạn mục này đã làm cho diện tích của Hoa Kỳ tăng lên gấp đôi. Tiếp theo là các vụ mua bán khác, gây chiến tranh, sáp nhập nhằm mở rộng lãnh thổ: mua lại Florida từ Tây-Ban-Nha (1819), sáp nhập Texas (1845).

                            Năm 1846 Mỹ tuyên bố chiến tranh với Mexico và sáp nhập bang California và New Mexico vào Mỹ. Năm 1848 sau khi ký hiệp ước hoà bình Mỹ-Mexico, chấm dứt chiến tranh giữa hai nước, Mexico buộc phải từ bỏ chủ quyền đối với Texas, California, Arizona, New Mexico, Utah, Nevada (1/2 lãnh thổ Mexico) Mỹ và Anh ký hiệp ước phân định đường biên của Oregon dọc vĩ tuyến 49. Năm 1853 Mỹ và Mexico ký hiệp định Gadsdeh và Mỹ chiếm thêm 140.000 km2 lãnh thổ của Mexico.

                            Năm 1867, tranh thủ cơ hội khi Nga đang gặp khó khăn về tài chính, Mỹ cũng đã nhanh chóng mua lại toàn bộ vùng Alaska rộng lớn từ Nga với cái giá rẻ khó tưởng tượng – 7, 2 triệu USD. Vùng đất này có vị trí hết sức quan trọng trong việc bố trí chiến lược toàn cầu của Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh và cả hiện nay. Như vậy, có thể thấy chỉ trong hơn nửa đầu thế kỷ 19, bằng “ngoại giao điền thổ” và chiến tranh thôn tính, các chính quyền kế tiếp nhau của Mỹ đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ, tạo cho Mỹ một vị thế địa-chiến lược mới trên bản đồ địa-chính trị quốc tế so với nước Mỹ thuở lập quốc.

                            Vào đầu thế kỷ 20, Mỹ đã vươn lên vượt xa các nước tư bản khác về sức mạnh kinh tế, dần dần chiếm địa vị bá chủ thế giới; Năm 1900, Mỹ chiếm tới 31% tổng sản lượng thế giới so với con số tương ứng của Anh, Đức, Pháp là: 18%, 16% và 7%. Năm 1913 sản lượng gang và thép của Mỹ vượt Đức 2 lần, vượt Anh 4 lần, than gấp 2 lần Anh và Pháp cộng lại. Trong khoảng từ 1900-1913 số vốn đầu tư vào công nghiệp tăng khoảng 2 lần rưỡi (9 triệu USD-22, 8 triệu USD), và giá trị sản phẩm tăng hơn 2 lần (từ 11,4 triệu USD lên 24,2 triệu USD) Tới năm 1914, GDP của Mỹ đạt 37 tỉ USD, trong khi đó con số tương ứng của Đức và Anh là 12 tỉ USD và 11 tỉ USD.

                            Cùng với quá trình tăng cường sức mạnh kinh tế, Mỹ cũng đẩy nhanh xây dựng lực lượng quốc phòng, có những hạm đội mạnh hơn hải quân Anh và có đủ khả năng tranh giành quyền-lực trên các đại dương với các đế quốc châu Âu. Trong cơ cấu của nền kinh tế Mỹ, các tổ hợp công nghiệp quân sự có vai trò quan trọng và đằng sau chúng là những nhóm lợi ích luôn theo đuổi các khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa hiện thực mà thực chất là dùng sức mạnh quân sự để đạt bằng được các lợi ích trong đó có lợi ích kinh tế.

                            Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, Mỹ đã vận dụng thuyết “toạ sơn quan hổ đấu”, bây giờ đang lập lại vụ Biển Đông bằng Việt Nam Phi Luật Tân là chạm tuyến đầu tiên, và Mỹ đứng trung lập ngay từ đầu nhưng vẫn hưởng nhiều lợi nhuận từ buôn bán vũ khí qua gián tiếp đầu tư với Liên Xô cho VN. Đến khi kết cục gần ngã ngũ, năm 1917 Mỹ mới tham chiến hùa theo bên thắng để tạo cơ sở dính líu tới châu Âu và Việt Nam cũng vậy qua thế “On the strong man side” (Liên Xô) Thời kỳ giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới, do bị suy thoái kinh tế như các nước tư bản khác, Mỹ điều chỉnh chiến lược, tạm gác mục tiêu bá quyền thế giới, tập trung sức để khôi phục và phát triển kinh tế trong nước. Thí dụ mở hệ thống Highway giao thông toàn nước Mỹ đem gía hàng tiêu dùng xuống thấp.

                            Khi Chiến tranh thế giới thứ hai đang được châm ngòi, từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1939, Tổng thống Roosevelt đã hai lần yêu cầu Quốc hội thủ tiêu đạo luật cấm bán vũ khí cho các nước tham chiến nhưng vẫn không được Quốc hội chấp nhận vì buôn bán vũ khí là một nguồn lợi lớn của giới công nghiệp quốc phòng. Lúc đầu Mỹ tuyên bố giữ vai trò “trung lập”, nhưng sau sự kiện Trân Châu Cảng (7-12-1941), Quốc hội Mỹ đã chính thức tuyên chiến. Những mục tiêu cuối cùng của Mỹ ở Thái Bình Dương là đánh chiếm đảo Iwo Jima (tháng 2-3/1945) và đảo Okinawa (25-3-1945) nằm ở cửa ngõ đi vào Nhật Bản. Điều này phù hợp với mục tiêu chiến lược mở cửa thị trường và khống chế Nhật Bản từ giữa thế kỷ 19.

                            Để chuẩn bị cuộc Chiến tranh lạnh, Harriman cho ra “Aid to Russia 1941-1946 Plan” nền [“War Industries Board”] công nghiệp quân sự của Mỹ phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy để phục vụ cho chiến tranh và chạy đua vũ trang.

                            Có một sự kiện đáng lưu ý là ngày 23-3-1983, Tổng thống Reagan đưa ra kế hoạch “Chiến tranh giữa các vì sao” (SDI) với chi phí 26 tỉ USD trong 5 năm; Kế hoạch này không chỉ nhằm vào mục tiêu quân sự mà còn tạo đà cho phục hưng kinh tế Mỹ sau một giai đoạn suy thoái.

                            Sau khi bức tường Berlin sụp đổ (1989), Chiến tranh lạnh đi vào hồi kết, vào tháng 1 năm 1991, nhân sự kiện Iraq chiếm đóng Kuwait, Mỹ đã tiến hành chinh phạt Iraq lần thứ nhất. Tháng 3/1999, Mỹ tiến hành chiến tranh ở Cosovo (Nam Tư) Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ tiến hành liên tiếp hai cuộc chiến ở Afghanistan (11-2001) và Iraq (3-2003) Ngoài lý do chính trị-an ninh, còn lộ rõ những lợi ích công nghiệp quân sự.

                            Ở đây cũng có một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa chiến tranh với tình trạng suy thoái của kinh tế Mỹ vào đầu những năm 90 và khả năng chùn lại của kinh tế Mỹ sau một thời kỳ tăng trưởng kéo dài 113 tháng tính tới đầu năm 2000. Chiến tranh đã trở thành liều thuốc kích thích kinh tế Mỹ vì nó tạo ra những đơn đặt hàng mới cho các tổ hợp công-ty quân sự và mặt khác, nó còn tạo cơ hội cho giới quân sự Mỹ thử nghiệm các loại vũ khí mới và giới buôn bán vũ khí chào hàng. Tờ “New York Time” ngày 25/9/2003 trích dẫn báo cáo của Quốc hội Mỹ cho biết năm 2002, Mỹ vẫn giữ vị trí số một trên thị trường xuất khẩu vũ khí thế giới, đặc biệt là bán vũ khí cho các quốc gia đang phát triển, với tổng giá trị là 13, 3 tỉ USD, chiếm 45% khối lượng hợp đồng bán vũ khí thông thường toàn cầu. Riêng về Á Đông tu chánh án “Case-Church” Mỹ “di tản chiến lược” về Hawai để cho các nước nằm gần TQ mua vũ khí của Mỹ, riêng VN mua của LX mà Mỹ có phần hùn TQ sẽ không có cớ buồn Mỹ?Chính sách thương mại bằng ngoại giao pháo hạm và thể chế kinh tế, tài chính quốc tế.

                            Cùng với việc mở rộng biên giới lãnh thổ ở các khu vực “cận ngoại biên”, vào đầu thế kỷ 19, Mỹ còn đề xuất Học thuyết Monroe (1823) về “Châu Mỹ của người châu Mỹ” và chủ nghĩa biệt lập. Liệu đây có phải là thực sự tinh thần độc lập và tự trị khu vực hay không ? Như đã biết, vào thời kỳ này, Mỹ còn yếu hơn rất nhiều cả về thế và lực so với các cường quốc khác ở châu Âu mà đặc biệt là so với Anh và Pháp, vì vậy Mỹ chỉ có thể thực hiện chính sách mở rộng lãnh thổ ở “sân nhà” là chủ yếu, chứ chưa thể bành trướng ảnh hưởng ở châu Âu. Do đó, về thực chất, Học thuyết Monroe không phải là một thứ chủ nghĩa biệt lập thuần tuý mà là luận thuyết phân chia khu vực ảnh hưởng, phân chia thị trường. Trong Thông điệp liên bang năm 1823, Tổng thống Monroe nhấn mạnh: “lục địa châu Mỹ, với điều kiện tự do và độc lập đã giành và giữ được, không thể bị coi là đối tượng của việc thực-dân hoá trong tương lai bởi bất kỳ các cường quốc châu Âu nào”, và Mỹ ” coi bất kỳ cố gắng nào nhằm mở rộng hệ thống của họ tới bất kỳ nơi nào của bán cầu này là nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh của Mỹ”.

                            Từ đây có thể thấy là không phải Mỹ muốn biệt lập, không có tham vọng dính líu gì tới bên ngoài mà thực chất Mỹ muốn ngăn cản các cường quốc châu Âu, không cho họ bành trướng ảnh hưởng và buôn bán ở lục địa châu Mỹ vì Mỹ coi đây là “sân sau” tự nhiên, là khu vực ảnh hưởng của riêng Mỹ. Mặt khác, tuy chưa đủ sức tiến vào châu Âu, nhưng sau khi đã xác lập được vị thế khá vững vàng ở lục địa châu Mỹ, Mỹ cũng đã bắt đầu bành trướng sang khu vực Đông Á-Thái Bình Dương theo phương thức “thương mại đi trước, cờ Mỹ đi sau”.

                            Năm 1853 đô đốc Mỹ Perry đã đưa bốn chiến thuyền đến cảng Uraga (trong vịnh Tokyo) yêu cầu Nhật Bản cứu trợ, bảo vệ thuỷ thủ Mỹ, mở cửa thông thương và tiếp than cho tàu Mỹ từ California đến Trung Quốc. Năm 1854 Perry lại đưa bốn chiến thuyền đến và ký hiệp ước Kanagawa buộc Nhật Bản đồng ý mở cửa Shimoda và Hakodate, theo đó Mỹ có quyền lấy than, lương thực, nước cho các chuyến tàu biển qua đó. Năm 1858 Mỹ ký hiệp ước buôn bán bất bình đẳng với Nhật Bản, mở cửa Edo, Nigata, Kobe, Yokohama, Osaka và Nagasaki, giành được quyền tài phán lãnh sự và tối huệ quốc về quan thuế. Như vậy, về phương diện kinh tế-thương mại, sự có mặt của Mỹ ở Nhật Bản đã được hợp thức hoá một bước.

                            Nếu từ cách tiếp cận địa-chiến lược, thì để thống trị đại lục Âu-Á, trước hết Mỹ cần phải lôi kéo, khống chế “hai tuần dương hạm nổi tự nhiên” là Anh và Nhật Bản là hai Ốc-đảo dưới ảnh hưởng của Mỹ. Lúc đó Anh đang còn rất mạnh, còn Nhật Bản thì lại chưa tiến hành công nghiệp hoá, cả thế và lực đều yếu, hơn nữa Nhật Bản vẫn còn là thị trường “vô chủ”. Đây là cơ hội lớn cho Mỹ và Mỹ đã thành công; Bằng “ngoại giao pháo hạm”, Mỹ đã buộc Nhật Bản phải mở cửa thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ xác lập thế đứng vững chắc ở khu vực sau này để phát huy ảnh hưởng cả về chính trị-an ninh và giành giật lợi ích kinh tế-thương mại.

                            Tới cuối thế kỷ 19, Anh đã suy yếu dần, còn Mỹ ngày càng mạnh thêm với lực lượng hải quân hùng hậu; Nắm được quyền lực biển là tiền đề quan trọng để Mỹ giành giật quyền lực thương mại với các cường quốc khác; Mục tiêu tiếp theo của Mỹ ở Đông Á là Trung Quốc. Sau khi gây chiến tranh với Tây Ban Nha và chiếm Philippine (1898) năm 1899 Mỹ đề ra chính sách “mở cửa” để giành giật thị trường ở Trung Quốc với Anh, Pháp, Nga và Nhật. Nội dung của chính sách “mở cửa” gồm có: Bất kỳ hàng của nước nào vào Trung Quốc cũng đều chịu chính sách thuế như nhau và do chính phủ Trung Quốc thu thuế. Không can thiệp vào lợi ích của các nước theo những điều ước đã ký. Không được thu thuế theo khu vực của từng nước quá cao. Với chính sách này, Mỹ muốn xác lập vị thế hợp pháp và bình đẳng của mình ở thị trường Trung Quốc so với các cường quốc khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty Mỹ tiếp cận và cạnh tranh với các công ty nước ngoài ở thị trường to lớn này.

                            Như vậy, có thể thấy cho tới cuối thế kỷ 19, các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau đã triển khai được một bước quan trọng trong chiến lược toàn cầu: khẳng định châu Mỹ là khu vực ảnh hưởng riêng, là “chợ sau” của Mỹ mà các cường quốc Âu-Á không có quyền dòm ngó, đồng thời đã bắt đầu vươn vòi “bạch tuộc” tới Đông Á-Thái Bình Dương, xác lập quyền tự do thương mại ở khu vực quan trọng này.

                            Với Chính sách kinh tế mới “New Deal” của Tổng thống F.D. Roosevelt (sự thật là W A Harriman) kéo dài trong 8 năm (1933-1941) nền kinh tế Mỹ đã có một bước phát triển mới cả về mô hình và cơ cấu. Trong những năm cuối của thế chiến thứ hai, cùng với việc tranh giành khu vực ảnh hưởng, Mỹ đã nỗ lực thiết lập luật chơi mới trên thương trường quốc tế thông qua việc xây dựng hệ thống Bretton Woods, IMF và WB vào năm 1944 – một năm trước khi kết thúc chiến tranh. Điều này có ý nghĩa quan trọng cả trên hai phương diện lý thuyết kinh tế và chính trị đối ngoại bằng thiết kế gia George Kennan, cột trụ như quân sư của Harriman.

                            Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 cho thấy rõ hơn những khuyết tật của mô hình kinh tế thị trường tự do, cần có những điều chỉnh trong lĩnh vực quản lý qui mô cả ở tầm quốc gia và quốc tế. Trong khi cả thế giới và đặc biệt là châu Âu bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc và khi mà lãnh đạo các nước lớn chỉ tập trung vào đàm phán kết thúc chiến tranh và phân chia khu vực ảnh hưởng, thì Mỹ không chỉ tranh thủ làm giàu bằng buôn bán vũ khí mà còn nhanh chóng đổi mới tư duy kinh tế đối ngoại và xúc tiến triển khai các hoạt động xây dựng các thể chế kinh tế tài chính quốc tế. Thuyết thể chế đã có ảnh hưởng mạnh hơn cả trên hai phương diện kinh tế và chính trị; Cùng với cạnh tranh tự do, Harriman hoạch định chiến lược của Mỹ cũng đã sớm nhận thấy và tận dụng thời cơ dùng các thể chế kinh tế-tài chính quốc tế nhằm tối đa hoá lợi ích và mở rộng ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới.

                            Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh mà Harriman là kiến trúc sư, Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự, đặc biệt là vũ khí nguyên tử và chạy đua vũ trang, thiết lập các liên minh chính trị-quân sự như NATO, hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ và gây các cuộc chiến tranh cục bộ v.v. để thực hiện mục tiêu bá chủ thế giới. Đó là một phương diện quan trọng, nhưng chưa phải là tất cả; Bên cạnh chủ nghĩa hiện thực chính trị, chủ nghĩa tự do và thuyết thể chế với các mức độ khác nhau cũng có ảnh hưởng lớn tới quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ và qua triển khai trên thực tế vẫn thấy hiển hiện sợi dây hợp lý vì lợi ích kinh tế của Mỹ ở các châu lục.

                            Sự phát triển kinh tế Mỹ phụ thuộc một phần hết sức quan trọng vào việc mở rộng thị trường, thương mại và đầu tư quốc tế; Chính vì vậy mà trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ không chỉ chú ý tới cuộc đọ sức với Liên Xô mà sự thật cùng Liên Xô thống lảnh thế giới bằng tượng trưng cây AK và M.16, trong khi LX phải chịu lép vế ở hạng đàn em của Mỹ từ khởi nguyên Aid to Russia 1941-1946 Plan, renewed, reactivated nên ngày hôm nay Việt Nam mới có đủ vũ khí tối tân hơn TQ để bảo vệ công ty dầu hoả Exxon của Mỹ và bắn đạn thật không cho giàn khoan tối tân của TQ vào neo trong vùng kinh tế của VN. Còn triển khai nhiều chính sách kinh tế đối ngoại có hiệu quả thiết thực; Ở châu Âu, cùng với việc thành lập NATO (1949) để kiềm chế chủ nghĩa cộng sản, Harriman còn triển khai kế hoạch Mashall nhằm tái thiết Tây Âu, thiết lập Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ GATT, Mỹ lôi kéo và ép buộc các nước khác, đặc biệt là các nước tư bản phát triển ở Tây Âu và Nhật Bản hạ thấp hàng rào thuế quan, chấp nhận các luật chơi chung về tự do hoá thương mại và dịch vụ.

                            Đầu những năm 70, Tây Âu và Nhật Bản trở thành hai cường quốc kinh tế thế giới và có thể cạnh tranh được với Mỹ. Nhưng con số hơn 70% lợi nhuận Mỹ thu được từ Tây Âu cũng cho thấy lợi ích kinh tế mà Mỹ thu được to lớn như thế nào trong quan hệ với Tây Âu. NATO không đơn thuần chỉ là phương tiện “ngăn chặn cộng sản”, mà còn là công cụ quan trọng bảo đảm cho sự dính líu lâu dài cũng như an ninh kinh tế của Mỹ ở châu Âu. Có một khía cạnh đáng lưu ý nữa là, với sự hậu thuẫn quan trọng của Mỹ, các nước Tây Âu trong khối NATO đã nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế mạnh mẽ, đặc biệt là Cộng hoà Liên bang Đức. Trong khi đó thì các nước XHCN trong khối Warsava trong đó có Cộng hoà dân chủ Đức, lúc đầu cũng duy trì được sự phát triển nhất định, nhưng sau đó lâm dần vào khủng hoảng kinh tế-xã hội ngày càng trầm trọng. Chính vì vậy mà lợi thế cạnh tranh kinh tế đã nghiêng dần về phe TBCN do Mỹ hậu thuẫn. Như vậy, với chiến lược hai gọng kìm cả chính trị-quân sự và kinh tế, Mỹ đã từng bước xác lập được vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng chi phối ở Tây Âu, hình thành khung quan hệ chiến lược châu Âu-Đại Tây Dương trong quan hệ giữa các nước tư bản Âu-Mỹ.

                            Còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, song song với việc thiết lập các liên minh quân sự song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine, Australia, Mỹ còn tăng cường các quan hệ kinh tế-thương mại với các nước khác và tạo điều kiện thuận lợi cho một số nền kinh tế khu vực đặc biệt là Hàn Quốc cất cánh trở thành “hổ” và “rồng”. Việc Mỹ chủ động cải thiện quan hệ với Trung Quốc vào đầu những năm 70 không chỉ nhằm vào mục tiêu địa-chính trị – thiết lập Tam Quốc Chí tân thời mà Mỹ có quyền chọn bạn một thời gian rồi biến thành thù cho America First. Đó là nguyên lý Mỹ triển khai chiến lược mở cửa thị trường to lớn tới Trung Quốc trong thời gian qua.

                            Ngay từ thời Tổng thống Lincoln, Bộ trưởng Ngoai giao Mỹ đã khẳng định khu vực châu Á – Thái Bình Dương là “món quà tặng” của tự nhiên cho nước Mỹ. Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, tổng kim ngạch buôn bán của Mỹ với khu vực này đã vượt so với Tây Âu. Với sự hậu thuẫn của Mỹ, năm 1989 APEC được thành lập; Quan hệ kinh tế-thương mại của Mỹ với khu vực cũng đã được thể chế hoá một bước quan trọng.

                            Từ một phương diện khác, sau cuộc khủng hoảng dầu lửa 1972-1973, năm 1975, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Mỹ, Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G.7) ra đời nhằm phối hợp chính sách thương mại, tài chính, đầu tư để đối phó với những bất trắc kinh tế có thể xảy ra trên toàn cầu. Mặt khác, đây còn là thể chế quan trọng để Mỹ có thêm cơ hội thuyết phục, dàn xếp và giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn với các đồng minh trong sân chơi cạnh tranh kinh tế quốc tế.

                            Như vậy, có thể thấy, ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, trong chiến lược đối ngoại, với các mức độ và ưu tiên khác nhau, Mỹ luôn phối hợp và triển khai song song cả hai chiến lược có mối quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau là chính trị-an ninh và kinh tế đối ngoại. Đồng thời, chiến lược kinh tế đối ngoại được hoặch định và triển khai trong mối quan hệ chặt chẽ với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với những đòi hỏi mới của sự phát triển lực lượng sản xuất dưới động lực của biến hoá khoa học-kỹ thuật.

                            Chính sách kinh tế của Tổng thống Reagan (Reaganomics, nhưng sự thật của Bushes) trong những năm 80 đã tạo dựng cơ sơ hạ tầng thông tin cần thiết cho kinh tế Mỹ nắm bắt kịp những cơ hội mới do xu thế toàn cầu hoá đưa lại và nhanh chóng cất cánh vào thập kỷ sau đó.

                            Sau khi Liên Xô tan rã, cùng với việc điều chỉnh chiến lược đối ngoại, Mỹ cũng nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng những lợi thế so sánh tối ưu trong bối cảnh cách mạng tin học và toàn cầu hoá. Cựu Tổng thống Mỹ B. Clinton đã từng tuyên bố “tập trung vào kinh tế như một tia laser” và cho tới đầu năm 2000, nền kinh tế Mỹ đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kéo dài hiếm có do đảng Cộng Hoà làm Dân Chủ hưởng.

                            Trên bình diện toàn cầu, cùng với việc triển khai chiến lược an ninh theo mô hình “đại bàng” với đầu là Bắc Mỹ và hai cánh là châu Âu-Đại Tây Dương (mở rộng NATO) + châu Á-Thái Bình Dương (củng cố hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ) Mỹ đã xúc tiến thiết lập một thể chế thương mại toàn cầu thông qua quá trình thúc đẩy chuyển hoá GATT thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào đầu năm 1995 nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới về tự do hoá thương mại và đầu tư của xu thế toàn cầu hoá. Đây là một thành công kinh tế đối ngoại của Mỹ theo hướng thể chế hoá quá trình cạnh tranh kinh tế toàn cầu bằng việc xác lập những qui tắc và luật chơi chung có lợi cho Mỹ.

                            Vai trò và ảnh hưởng của Mỹ trong WTO rất lớn; (cho VN vào gạt LX ra) Các nước còn lại, dù có là nước lớn, nếu muốn trở thành thành viên của tổ chức này đều phải tranh thủ sự hậu thuẫn và “gật đầu” của Mỹ. Trung Quốc cũng đã phải có một số nhân nhượng với Mỹ, đặc biệt là trong vụ sứ quán Trung Quốc ở Belgrade (Nam Tư) bị ném bom khi Mỹ tiến hành không kích Cosovo năm 1999 để tranh thủ sự hậu thuẫn của Mỹ đối với việc gia nhập WTO. Trong sân chơi kinh tế mới này, với thế mạnh về kinh tế-tài chính, Mỹ và một số nước phát triển khác đóng vai trò chủ đạo, nhưng trong cấu trúc phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích, các nước đang phát triển cũng có vai trò nhất định. Tại Hội nghị WTO vừa rồi các nước phát triển đã phải nhượng bộ các nước đang phát triển về vấn đề hàng nông sản.

                            Còn trên bình diện khu vực, trong hai nhiệm kỳ cầm quyền, chính quyền B. Clintơn cũng đã có những quyết sách phù hợp khi triển khai chiến lược đối ngoại để tối đa hoá lợi ích kinh tế của Mỹ. Nắm vững xu thế khu vực hoá và cũng để tập hợp lực lượng nhằm cạnh tranh với các tổ chức kinh tế khu vực khác, đặc biệt là với khối kinh tế Tây Âu mà sau này là Liên minh châu Âu (EU), năm 1992, Mỹ đã cùng với một số nước khác thành lập khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Tới tháng 12 năm 1994, 34 nhà lãnh đạo của các quốc gia châu Mỹ từ Canada đến Chilê (trừ Cuba) đã có cuộc họp thượng đỉnh tại Miami và cùng nhất trí với Tổng thống Mỹ B. Clintơn về dự án hoàn thành Khu vực thương mại tự do châu Mỹ (FTAA) trước năm 2005.

                            Ở châu Âu, Mỹ thực hiện chiến lược hàng đôi gắn chính trị-an ninh vào kinh tế-thương mại. Biên giới NATO mở rộng tới đâu thì sân chơi kinh tế của Mỹ cũng mở rộng tới đó; Ngay cả cuộc chiến Cosovo do Mỹ chỉ đạo năm 1999 cũng có mục tiêu kinh tế chứ không phải đơn thuần là một cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực với Nga ở bán đảo Balcan. Mỹ muốn cản trở đồng EURO sắp lưu hành và dọn đường để tiếp cận vào khu vực Trung Á có nhiều dầu lửa.

                            Vào những năm gần đây, đặc biệt là sau Hội nghị Seattle và sau sự kiện 911, Mỹ đã đẩy mạnh việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương với các nước khác nhau; Trong Chiến lược An ninh quốc gia được công bố ngày 30/9/2002, Tổng thống G.W. Bush đã nhấn mạnh cách tiếp cận ba cấp độ về tự do hoá thương mại mang tính cạnh tranh: “Hoa kỳ sẽ hợp tác với từng quốc gia, từng khu vực và cộng đồng thương mại toàn cầu nhằm xây dựng một thế giới tự do thương mại”.

                            Việc Mỹ lựa chọn đối tác để đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương xuất phát từ ba mục tiêu có liên quan với nhau phản ánh mối quan hệ tương tác qua lại giữa kinh tế với chính trị quốc tế: cạnh tranh kinh tế khu vực, tập hợp lực lượng và xác lập vai trò lãnh đạo trong đàm phán WTO. Chẳng hạn, Mỹ đã ưu tiên ký FTA với Australia vì nước này vừa là nước đứng đầu Tổ chức các nước xuất khẩu thuần tuý các sản phẩm nông nghiệp, lại vừa là nước rất tích cực ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố và cuộc chiến ở Irắc. Ký FTA với Australia tạo thêm thuận lợi cho Mỹ trong các cuộc đàm phán về nông nghiệp ở WTO và tăng cường hợp tác chống khủng bố, hỗ trợ cho an ninh của Mỹ.

                            Tháng 5/2003, Mỹ đã ký FTA với Singapore – đối tác đầu tiên ở Đông Á; Đây cũng không phải là hành động ngẫu nhiên; Nó được tính toán phù hợp với nhu cầu và lợi ích của Mỹ cả về chính trị-an ninh và kinh tế. Nước này đã nhiệt thành ủng hộ Mỹ trở lại Đông Nam Á sau các sự kiện Subic và Clark (1992 CIA xúi dân Phi biểu tình đòi đất và 1975 Tổng thống VNCH đuổi Mỹ) có chung quan điểm về tiêu chuẩn môi trường và lao động, hơn nữa lại có ngành dịch vụ tiền tệ rất phát triển. Lôi kéo được Singapore, Mỹ sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để tiếp tục mở rộng cửa vào thị trường ASEAN, tăng sức cạnh tranh với cả Trung Quốc và Nhật Bản.

                            Mỹ đã chọn Chilê là nước đầu tiên ở Nam Mỹ để ký FTA không chỉ vì nước này là một trong những nền kinh tế mạnh nhất Nam Mỹ, sẽ hậu thuẫn tích cực cho Mỹ thúc đẩy khu vực thương mại tự do châu Mỹ, mà còn vì Chilê đã từng có quan hệ gắn bó với Mỹ và hơn nữa, nước này đã ký hiệp định thương mại tự do với Canađa và một số nước khác. Ở châu Phi, Mỹ đã chọn Maroc để ký FTA là muốn tạo dựng lên một tấm gương tín đồ Hồi giáo thân thiện với Mỹ, đồng thời tạo thế đứng vững chắc hơn để mở rộng ảnh hưởng ở châu Phi nơi cũng có nguồn dầu lửa dồi dào.


                            QUEENBEE-ONE
                            Last edited by Phòng Trực; 06-07-2013, 02:58 PM.

                            Comment

                            • vinhtruong
                              Super Member
                              • Jun 2010
                              • 1924

                              #15
                              Gió Biển Đông phải xoay chiều

                              Vì đã đến thời điểm decent interval “roll-back” 2010, nên gần đây trên mạng, vài blogger tự do đưa ra nhận định lạc quan về tình hình trong nước, cho rằng đảng Cộng sản (mà từ lâu tôi cho rằng Mafia) cầm quyền đang điều chỉnh đường lối chính sách đối ngoại, từ chỗ ngả về phía Trung Quốc, phụ thuộc Trung Quốc, chuyển sang thân Hoa Kỳ và phương ây vào thời điểm Hoa Kỳ roll-back 2010 và đặc biệt sức mạnh nuôi sống nhân loại về lúa gạo đã chiếm 20% trên thế giới.

                              Trên mạng Thế Giới Mới, nhiều bài viết về kinh tế toàn cầu, mang tít lớn VN đã khôn ngoan xoay chiều: “Cao trào thân Âu - Mỹ lan rộng trong đảng Cộng sản VN”, đưa ra nhận định «gió đã xoay chiều, vận nước đã xoay chiều… » Nhưng những điều trên đây đều đi đúng lộ trình Eurasia vào thời điểm decent interval 2010.

                              Bài viết nhấn mạnh đến sự thay đổi trong hàng ngũ quan chức ngoại giao của Hà Nội, gồm các đại sứ, tham tán, bí thư được đào tạo ở phương Tây, nói thạo tiếng Anh, phong cách linh hoạt kiểu Tây phương, kể cả ngoại trưởng mới Phạm Bình Minh, con cựu Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người có tư tưởng ngoại giao phóng khoáng, am hiểu thời đại, từng cảnh báo tai họa Bắc thuộc. Con đang đi theo gót cha mình chăng? Đây là kế hoạch CIA trồng người từ lúc Nguyễn Chí Vinh mới 11 tuổi mà Harriman có lời khuyên Lê Đức Thọ nên nhận đứa con của đại tướng BV làm nghĩa tử giữa cuộc hội đàm bí mật mặt giáp mặt giữa Harriman/Thọ 1968-69.

                              Một số blogger khác cho rằng việc ông Trương Tấn Sang đi Ấn Độ và Philippines là để cân bằng với Trung Quốc, chứng tỏ Việt Nam không còn phụ thuộc Bắc Kinh như trước đây, (cho thấy TBT đảng đã ra rìa rồi), đang cố duy trì vị trí đứng giữa, thăng bằng giữa các nước, một tư thế độc lập rất đáng hoan nghênh do CIA ngầm cố vấn, sau một thời gian dài Nguyễn Chí Vịnh tạo cơ hội cho TQ trúng thầu, các ĐVCS thân TQ tham nhũng nổi lên để bứng gốc, giờ nầy chỉ còn thân Mỹ và LX tượng trưng Sang, Dũng. Vịnh, trục tam đầu chế lập lại tam đầu chế, Đức- Thọ, Lê Duẩn, Chí Thọ năm 1959.

                              Đâu là sự thật? Việt Nam đã trở về tư thế độc lập, không ngả về phía nào, về nước nào, ở vị trí thăng bằng giữa các nước ư? Việt Nam đã chuyển từ thân Trung Quốc sang thân Âu - Mỹ ư? Thế thì càng tốt hơn nữa. Theo nghĩa thân Trung Quốc là thân Trung Quốc bành trướng kiểu Đại Hán, và thân Âu - Mỹ là thân những giá trị tự do, dân chủ đa nguyên đa đảng trên cơ sở bầu cử thật sự tự do và định kỳ theo diễn tiến đả có trong lộ đồ.

                              Nhưng…tôi thiển nghĩ, chưa phải như vậy. Cần tỉnh táo thận trọng trong nhận định. Theo lý luận Mác-Lê-nin, theo phép biện chứng mác-xít, những nhà lãnh đạo CS Việt Nam luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Chiến lược hay đường lối chiến lược là để áp dụng cho một giai đoạn dài, cần kiên định vững vàng, không thay đổi, không dao động về những mục tiêu chiến lược, những mục tiêu giai đoạn.

                              Chiến thuật là sách lược, thủ thuật, sáng kiến, mưu mẹo cụ thể, đoản kỳ, phục vụ cho chiến lược, rất linh hoạt, uyển chuyển theo từng thời điểm.
                              Thường chiến lược và chiến thuật ăn khớp với nhau, thuận chiều nhau, cũng có khi có vẻ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng chỉ là về suy luận hình thức, còn về thực chất là vẫn khớp nhau, vẫn phục vụ cho mục tiêu chiến lược. Nhiều khi như vậy lại là cao mưu, kín kẽ, lừa được đối phương và người nhẹ dạ. Đó là cứng trong chiến lược, mềm trong chiến thuật, là «dây lạt mềm buộc chặt hơn».

                              Hiện nay nhóm lãnh đạo qua Đại hội XI vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên trì chủ nghĩa xã hội (mác-xít), kiên trì chế độ một đảng (độc quyền đảng trị), kiên trì kinh tế quốc doanh là chủ đạo (do đó mà trong 10 tháng qua đã bóp chết 5 vạn xí nghệp tư nhân vừa và nhỏ, đồng thời làm cho các tập đoàn quốc doanh thêm hư đốn vì được quá nuông chiều). Họ ngoan cố giữ vững 4 kiên trì hủ lậu, nguy hiểm, mặc cho hàng trăm trí thức cộng sản có trình độ cao nhất bác bỏ bằng lý lẽ chặt chẽ. CIA đưa họ vào một thế phải chọn lựa giữa chén cơm và chén đất cát.

                              Trong đường lối đối ngoại từ cuối 1991 sau sự kiện Thành Đô, họ theo con đường «Bắc thuộc» (chữ của Nguyễn Cơ Thạch) để tồn tại và kiếm lợi cho phe nhóm. Bọn bành trướng Đại Hán rất thâm, rất ác, tìm mọi cách buộc ngày càng chặt nhóm lãnh đạo vào cỗ xe của chúng, từ mua chuộc tinh vi đến khống chế, đe dọa, làm nhục không thương tiếc, càng nhục càng bám chặt để khỏi đổ.

                              Gần đây, nhóm lãnh đạo hám lợi gặp tai nạn lớn, ở trong tình trạng trên đe dưới búa. Đe là thế phụ thuộc bọn bành trướng thâm độc, búa là lòng yêu nước truyền thống căm giận kẻ “hèn với giặc, ác với dân”. Họ ngày càng lo, đe thì rất cứng, mà búa thì rất nặng tay. Họ tìm cách thoát hiểm thì có người lặng lẻ đến nhà cho biết con đường tốt nhứt để sau nầy giữ được tài sản và nếu cần qua Mỹ hưởng an nhàn.

                              Xin nhớ giải pháp của 14 cái đầu trong Bộ Chính trị hiện nay là giải pháp tình thế, là biện pháp đối phó, là biện pháp chiến thuật, kéo dài hiện trạng để thủ lợi. Kiên trì, ù lỳ, lỳ lợm về chiến lược.

                              Do đó mới có những động thái hơi lạ, khác trước - ông Sang đi Ấn Độ, rồi Philippines, mời công ty Ấn vào vùng biển Đông khoan dầu; bộ trưởng quốc phòng đi Nhật Bản. Họ còn thỉnh thoảng lên tiếng đòi họp đa phương, tuyên bố tăng cường quan hệ chiến lược, kể cả chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh với Hoa Kỳ và vài nước phương Tây… Trong khi đó họ càng xử nhũn, mềm mỏng, khéo léo với Bắc Kinh, chịu nhục cả khi bị báo chí chính thống Bắc Kinh gọi là «đàn muỗi», «đàn gà» và «bầy chó» theo phương thức khổ nhục kế như Mỹ đả làm khi hy sinh gần 60.000 lính Mỹ như món tiền deposit khai thác dầu hoả sau nầy …

                              Xu thế kết thân với Âu-Mỹ có thể là của một bộ phận không nhỏ đảng viên, nhất là đảng viên trí thức, đảng viên cao tuổi đã về hưu, đảng viên trẻ và đoàn viên cộng sản có lòng yêu nước, thương dân, nhưng quyết không phải là xu thế của Ban Chấp hành Trung ương mới được bầu trong Đại hội XI, càng không phải là xu thế chân thực của nhóm lãnh đạo 14 ủy viên Bộ Chính trị đang toàn quyền lãnh đạo đảng và đất nước.

                              Đảng Cộng sản luôn chú trọng duy trì cái gọi là đoàn kết thống nhất trong đảng, nhất là trong cơ quan lãnh đạo, trong Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là trong Bộ Chính trị. Đã thành nếp, khi trong cơ quan lãnh đạo có ai có ý kiến tỏ ra đi trệch khỏi đường lối chiến lược chung là lập tức người đó bị cô lập và loại bỏ ngay. Không một ai có ý kiến trái ngược về đường lối chiến lược có thể tồn tại trong cơ quan lãnh đạo. Đó là quy luật thép. Đó là trường hợp Trần Xuân Bách, sau đó là trường hợp Nguyễn Cơ Thạch. Trường hợp từ chối chức bộ trưởng ngoại giao của ông Trần Quang Cơ cũng là do lý do như thế. Ông Cơ hiểu rằng khi đã nhận chức ông sẽ buộc phải theo con đường Bắc thuộc, một điều trái với lẽ phải và lương tâm, dù cho lợi lộc cá nhân rất lớn. Ông Cơ là một nhân cách hiếm có.

                              Còn ông Phạm Bình Minh, bộ trưởng ngoại giao hiện tại, nhiều người hy vọng ông sẽ theo gót người cha, theo tục ngữ “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”, tôi nghĩ nếu được vậy thì còn gì hơn nữa, nhưng có một điều dễ hiểu tại sao các chóp bu của hai miền đều là thành viên đắc lực cho CIA nếu được họ móc nối?

                              Nhưng…không nên hy vọng dễ dãi để vỡ mộng. Ông Phạm Bình Minh mới được đưa từ ủy viên trung ương dự khuyết lên ủy viên chính thức, chưa có chân trong Bộ Chính trị. Ông Minh cũng chưa phải phó thủ tướng như các bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm. Bộ ngoại giao là một trọng điểm kiểm tra theo dõi của Tổng cục An ninh và Ban bảo vệ Đảng, nhưng CIA đả nằm sẳn ở đây từ lâu rồi. Ở các sứ quán, bí thư đảng ủy thường là người của Tổng cục An ninh, có uy quyền hơn cả viên đại sứ về mọi mặt. Dùng ông Phạm Bình Minh là một thủ đoạn chiến thuật. Xin hãy nghe ông ta biện bạch một cách phi lý, nói lấy được, kiểu lưỡi gỗ về tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam thì đủ hiểu con người. Bên cạnh ngạn ngữ “con nhà tông… ”, cũng có ngạn ngữ “cha dựng cơ đồ, cha tạo danh thơm, con cho mồi lửa”.

                              Vậy thì khi nào thì Gió có thể xoay chiều? khi nào có thể có Cao trào thân Âu-Mỹ?, như mong muốn của luật sư Hà Vũ, người cho rằng liên minh quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại? Hiện nay thì khó, khó lắm. Lãnh đạo đã bỏ qua dịp Đại hội XI, khi đã có cả một xu thế trong đảng cất tiếng mạnh mẽ. Nhưng dân gian có câu châm ngôn: điều phải củ cải cũng phải nghe.

                              Hãy nghe vang lên khắp nơi từ trong nước tiếng nói của gíớí trí thức thật sự là kẻ sĩ thời đại, của những đảng viên lão thành có tâm huyết và tài năng, từ những văn nghệ sĩ lấy sáng tạo làm lẽ sống, các nhà kinh tế am hiểu thời đại. Tôi chỉ xin kể qua một số tên tiêu biểu (không theo thứ tự nhất định nào) như Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, Lê Hồng Hà, Nguyễn Văn An, Trần Quốc Thuận, Nguyễn Nam Khánh, Lê Văn Cương, Nguyễn Tài, Nguyễn Xuân Mậu, Huỳnh Đắc Hương, Tô Thuận, Trần Phương, Vũ Khoan, Lê Hữu Đằng, Trần Trọng Tân, Võ Thị Thắng, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Đình Hương, Nguyễn Trung, Việt Phương, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Huệ Chi, Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Đào Công Tiến, Phan Văn Tiệm, Đào Xuân Sâm, Hoàng Tụy, Ngô Bảo Châu…

                              Tất cả đều kêu gọi, với lập luận vững chắc, là phải từ bỏ (mà không cần nguyền rủa) chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ bỏ chế độ độc quyền đảng trị, chế độ “vua tập thể”, chế độ độc quyền kinh tế của các tập đoàn quốc doanh, thực hiện cải cách đợt 2, thay đổi cả hệ thống chính trị và kinh tế, thực hiện một cuộc “canh tân đất nước”, lựa chọn nhân tài đúng nghĩa ra cầm quyền, đồng thòi tiến hành một cuộc vận động văn hóa và giáo dục sâu rộng, vực dậy lương tâm xã hội, nghĩa tình dân tộc, tính cương trực, lòng hảo tâm.

                              Các nhân vật sáng suốt trên đây có thể họp lại thành một “think-tank”, túi khôn dân tộc, một hội đồng cố vấn đặc biệt, một nguồn kiến giải và cảm hứng cho bộ máy lãnh đạo biết lắng nghe.

                              Nếu không có những biện pháp cơ bản để thoát khỏi bế tắc hiện nay, tình hình có nguy cơ bùng nổ vì nhân dân lương thiện không thể chịu đựng thêm, bọn tham nhũng – mafia lưu manh mới - sẽ lộng hành, đảng Cộng sản càng tha hóa, đất nước chìm đắm trong hỗn loạn, tang thương.

                              Đất nước thật sự lâm nguy. Chỉ có một “kịch bản khả dĩ”, là trong bộ máy lãnh đạo, trong Bộ Chính trị, có một người hay một nhóm người có quyền uy, được lương tâm và trí tuệ mách bảo, thức tỉnh, hiểu rõ tình thế thực sự Tổ quốc lâm nguy, quyết tâm cứu nước thật lòng, từ bỏ lợi ích vật chất dù sao đã quá đủ để dốc sức một lòng một dạ cứu dân, để lại tiếng thơm muôn đời.

                              Đó là cuộc cách mạng ôn hòa mà triệt để, theo kiểu cách Gorbachev, rất độc đáo lại có hiệu quả cao, của một trí thức Nga có tâm lại có tầm.

                              Tôi mong rằng trong cơ quan lãnh đạo của cái gọi là đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong Bộ Chính trị, có người suy ngẫm sâu về khả năng xoay chuyển tình thế của Gorbachev sẻ lập lại.

                              Tôi vốn là con người lạc quan, do tin ở tính bản thiện ở mọi con người. Mỗi con người dù xấu đến đâu cũng có lúc nghĩ lại, cũng có thể có những cơn chợt tỉnh. Xin chớ bao giờ tuyệt vọng sở dĩ lâu như vậy là vì permanent government không muốn tắm máu mà muốn chuyển tiếp êm- đẹp có các nước trên thế giới hoan nghinh và phù trợ.

                              Các nhà trí thức kẻ sĩ thời đại, những văn nghệ sĩ chân chính sáng tạo, những quân nhân thật sự mang bản chất nhân dân, những anh chị em dân chủ của những ngày Chủ nhật xuống đường… chính các bạn, những Minh Hằng, Kim Tiến, Trần Thị Hường... góp phần tạo nên gió, gió thời đại càng ngày càng mạnh, làm động lực vô địch cho lịch sử nước ta xoay chiều.

                              Hãy tạo nên sức ép mạnh hơn, tạo nên công luận xã hội và xã hội công dân đủ lớn để buộc lãnh đạo phải nâng các biện pháp chiến thuật thành đổi mới chiến lược, đổi mới đường lối đối nội và đối ngoại, trở về với dân tộc và đi với thời đại, mở ra sinh lộ mới bền lâu cho đất nước đúng theo những gì mà Harriman đã ước tính cho thế kỷ 21, để tiếp nối 2020-2120 “Eurasia Great Game-II” Vì mọi việc trên thế giới đều do Mỷ áp đặt lấy một thí dụ nhỏ thôi: Việt Nam vào WTO nhờ ai, tại sao Liên Xô chưa vào được?


                              QUEENBEE-ONE
                              Last edited by Phòng Trực; 09-15-2012, 09:23 PM.

                              Comment

                              Working...