Bài tuyển Vinhtruong trên các Diễn Đàn Lính

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • vinhtruong
    Super Member
    • Jun 2010
    • 1924

    #46
    Toán Strata đột nhập Trường Sơn Tây

    nktvinhtruong.blogspot.com/2011/04/toan-strata-ot-nhap...
    Saturday, April 9, 2011 Vinh Truong. The War Stories. Saturday, April 9, 2011. Toán Strata đột nhập Trường Sơn Tây ... [ Combined Area Studies của Project Delta Group] ...

    Hạ Lào, Xa lộ Harriman huyền biến hay mưu đồ trò chơi Khỗ Nhục Kế? bắt mấy thằng Cu Mỹ phải dấn thân, riêng KQVN thì chã bao giờ biết được 4 điễm hậu cần quan trọng mà Không Hải Quân Mỹ không được dội Bom, dù khi bay ngang qua bị dưới đất khai hỏa lên, như dưới 3 chân đè Đèo Mụ Giạ, Đèo Ban karai, Đèo Ban raving, cùng hậu cần 611. Biện-pháp, phi cơ Mỹ khi oanh tạc Bắc Việt đều có 2 phi công, người lo oanh kích còn người kia lo theo dõi nội quy ROE không cho phép phi-công đụng đến 4 mục tiêu trên, làm trở ngại hoàn thành định kiến-1, (axioms)

    Vì đây là trò chơi chiến tranh nên phãi có điều-lệ gọi là ROE [ Rule Of Engagement - axioms): giao miền nam cho Hà Nội] Vì chỉ cần 1 viên đạn 20ly thì tất cả sẽ tan tành như xác pháo ngay sau đó. Một phi tuần chiến thuật lỡ dại F-100 vi phạm vùng cấm được gọi là, “SAM enveloped” bị BV bắn hạ, (xin đọc trang 161-167, Vol-1, The New Legion “The Ban Karai Pass where one Supersabre F-100 had gone down” một chết, một nhảy dù được cứu thoát) Quý bạn sẽ thấy chi tiết cuộc rescue thật ngoạn mục thần kỳ đầy cảm xúc do tình đồng đội giữa những nhân viên phi hành và kỹ luật của quân đội Mỹ

    Dưới đây là Video cuộc rescue 2 phicông F-100 Super Sabre: một chết, một cứu sống được (hảy click)


    Vietnam Air Rescue (There is sound) - YouTube
    ► 2:45► 2:45

    Oct 30, 2008 - Uploaded by RancidElf32
    A Vietnam air rescue with sound color and alot of firepower

    (còn tiếp)

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #47
      Toán Strata đột nhập Trường Sơn Tây (tiếp theo)

      Vietnam Air Rescues, Part 3, The Rescue of Sandy 05 - YouTube
      Hi, this is Dave Richardson. This is the third video of the Vietnam Air Rescues series. In it I describe my 6th rescue that took place in June, 1968. As ...


      Harriman, con người đa nghi, muốn chắc-ăn “Làm sao xác định Đoàn 959 có xuất hiện tại nam Lào đễ dự trò chơi chiến tranh?” Riêng Ðoàn 559, Nhóm Phản gián CIA đã xác định đang hoạt động tích cực tại khởi nguyên mở mang đường Xa lộ Harriman mà cũng là hậu cần 611 (tên hành lang Đường mòn HCM) tại phía Tây vùng Phi quân sự (Tchepone) Còn Ðoàn 759 chuyển vận tiếp tế bằng đường biển đã bị Miền Nam đánh chìm một tàu tại Cà-Mau 1962, tượng trưng một chiếc tàu hạng nhẹ do Trung Cộng sản xuất, viện trợ thành lập Ðoàn vào tháng Bảy, năm 1959; Còn Ðoàn 959 thì sao? W.Colby, (người Trung úy tình báo quân đội OSS, hồi Ðệ-2 thế chiến đã báo cáo cho đại-sứ Mỹ tại LX, W.A Harriman là hồng quân LX đã vào Bertlin, tức khắc Harriman ra lệnh quân Nhãy Dù Mỹ phãi nhãy vào Berlin đễ chụp tay trên những nhà bác học Ðức) được lệnh phải phối-kiểm-chứng sự có mặt của Ðoàn 959 (Pathet Lào cùng BV) dự phần trò chơi chiến tranh tại nam Lào hay không?
      Nhìn tổng quát, xê dịch qua phía nước Lào chưa đầy chục cây-số thì đất đai có vẽ phì-nhiêu hơn, các con suối nước không chảy siết như bên Trường-Sơn Đông mà chảy êm ái qua phía Tây, lượn khúc để nhập vào con Sông Sé-Kông rồi nhập vào các phụ lưu Sông Mê-Kông, nơi đây một thị trấn nhỏ chiến lược có tên là Attopeu mà tình báo Mỹ đang đặt cặp mắt xanh vào đó. Vì thế mới có cuộc hành quân “Lôi-Vủ” do đích thân trùm Tình báo William Colby tổ chức và điều hành. CIA đặt tên cho cuộc hành quân nầy là STRATA Infiltration: [Short Term Road And Target Acquisition] trãi dài gần 900 miles từ đèo Mụ Giạ, Ban-Karai, Ban Raving, Tchepone đến Attopeu, và đây là trục sẽ phát hoạ ra Trường Sơn Tây, tương lai là Xa lộ Liên Bang Ðông Dương theo dự tính của Nhóm tham mưu Harriman để đối chọi với xa-lộ Trung Quốc lén lúc thiết lập con đường từ Côn-Minh chạy xuống đến bờ biển Ấn-độ-dương xuyên dọc theo nước Miến Điện với âm mưu thôn tính Úc Châu. Tướng Vỏ Nguyên Giáp sau một thời gian bị thất sũng ngồi chơi xơi nước cùng với Cụ Hồ một thời gian vừa phải (decent interval) rồi sẽ được CIA qua KGB phục hồi nắm lại quân đội để làm Tư lệnh cuộc hành quân Lam Sơn 719 do NSC (National security Council) chủ đạo trong tương lai. Sau một thời gian dài vận chuyễn tiếp liệu được sơ-tán tràn ngập trên hành lang đường mòn Hồ (đường 559) từ 1965-1970 (đại tá nhị- trùng Bùi Tín sẽ báo cáo cho Mỹ (Donald Rumsfeld) biết để rồi mở cuộc hành quân được gọi (theo danh từ chính trị) càn quét, nhưng khi đại đa số chiến cụ đã được sơ tán vào miền nam cũa hành lang 559. Sau đó Pentagon sẽ mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 để tiêu hũy chiến cụ, trong đó phãi kễ phần lớn là trực thăng, vì những thứ quỹ nầy theo quy định làm ăn cũa WIB là không bao giờ đem thứ quỹ nầy trở lại Mỹ.
      Ỡ Kontum, Colby đặt ban chỉ huy hậu-cứ tại Trung-Đoàn 42/Sư Đoàn 22, còn ở gần giới tuyến Bến Hải, đặt hậu-cứ tại Quận Hương-Hoá, tức Khe-Sanh, Thiếu-Tá LLĐB, Trần Khắc Kính chỉ là Sĩ-quan liên-lạc, phụ tá cho Colby, lo công việc liên lạc hành quân giữa các Toán nhảy thám-sát và các địa phương. Các cuộc hành quân Strata nầy do CIA toàn quyền điều động trực tiếp và tài trợ không giới hạn, mà buổi sơ khai gọi là Biệt Kích Gián Điệp và Queen Bee cho đoàn viên H-34 về trực thăng, phia Việt chĩ là phương tiện cho CIA. Thế thì phi công Gián điệp Biệt kích khác nhau ở chỗ nào? “Máy bay gián-điệp luôn-luôn có đặt chất nỗ sẳn trên đó, nếu bị rớt xuống vùng đất địch, thì phải phá cho nỗ ngay tại chỗ; máy bay không số, không cờ, sơn màu ngụy trang lá rừng, để phi-cơ ở trên cao ngó xuống không thấy, vì tiệp với núi rừng. Phi-hành đoàn không được mang theo giấy tờ tùy thân, thẻ bài kiêm loại, nếu bị địch bắt cũng không nhận mình là người của miền nam, kể cả nước nơi mình sanh ra và lớn lên cũng không nhận mình là công dân của nước họ, không được mang theo thuốc lá của Mỹ, phi hành đoàn trang bị súng y chang như Toán Gián điệp Biệt kích hành quân dưới đất, cũng súng tự-sát tí-hon 6 ly 35, Tiểu-liên và súng lục 9 ly của Thụy-Điễn không có khắc số súng trong điều kiện bí mật, và chỉ đễ tự vệ mà thôi, bá súng có thể xếp gọn lại, hay nói cách khác là không được dùng súng của Mỹ. Áo quần Bà-Ba đen đi dép râu hoặc là giày tùy-tiện. Còn Phi-công Kingbee là bay trong phần đất của mình, nên phải mặc quân-phục của Việt-Nam Cộng-Hòa, tên Kingbee được đặt ngay sau khi thành lập Phi-đoàn 219. Các động thái cũng như hình thức chỉ có khác bấy nhiêu đó thôi giữa đoàn viên Kingbee và Queenbee mà phía CIA gọi là CAS Flight Group [Combined Area Studies của Project Delta Group]
      Giữa năm 1961, được biết nơi thị trấn Attopeu, do Trung-Tá Khâm-Không, Chỉ-huy Trưởng Yếu-khu Attopeu. Tình hình nơi đây được biết, chính phủ Lào chỉ kiểm soát được từ Mường-May đến Mường-Cao, nằm ở hữu ngạn Sông Sé-Kông, cách Mường-May khoảng 12 cây số về hướng Đông mà thôi. Còn như bên kia Sông Sé-Kông là vùng Pathet-Lào thường hoạt động, nơi đó có con đường mòn chiến lược giao liên từ Bản Phya-Ya tới Bản Tà-Xẻng Cuộc hành quân ‘Lôi-Vũ’ đầu tiên trên đất Lào được thực hiện vào tháng August/ 1961 do hai Toán 7 và 8 bí mật nhảy xuống, mỗi Toán gồm 6 người với vũ khí Tiểu-liên Tiệp-Khắc, nhiệm vụ chỉ thám sát, tránh tuyệt đối không đụng độ. Tiếp theo, Toán 1 được thả xuống phía tả ngạn sông Sé-Kông, gần ranh giới giữa 2 tỉnh Attopeu và Saravane, ở phía Đông Cao nguyên Boloven; ngay ngày hôm sau, các Toán 2, 3 và 6 được tiếp tục thả xuống. Các Toán đã được chỉ định trước, chia ra từng vùng khu, khoanh vòng trong bản đồ, vùng trách nhiệm để lục lọi quan sát. Mỗi Toán hành quân cách nhau chừng vài cây số như đã ấn định trong vòng chu-vi bản đồ, sau cùng, Trung-úy Toán-trưởng Cao-Ngọc-Huân chỉ-huy tổng quát được thả xuống sau hết, đó là Toán 4 chỉ huy
      Các Toán 1, 2, 3 và 6 hoạt động trong vùng Phy-Ya, đến đầu tháng October/1961, được lệnh triệt thoái về nơi an toàn gần biên giới Việt-Lào, khi đến mí bìa rừng cạnh chân núi thì được chúng tôi dùng Trực-thăng H.34 sơn màu ngụy trang, không cờ, số bốc về. Giữa tháng October /1961, đến phiên, Hai Toán 5 và 10 được thả xuống nam Bản-Đông, gần Mường-Nông, một Huyện đang do nhóm Đại-úy Không-Le phe Hữu kiễm soát, nơi đây có một con đường mòn huyết mạch nối liền từ Bản-Đông đến Mường-Nông rồi vào tỉnh lỵ Saravane. Đây cũng là vùng mà quân Pathet-Lào phối-hợp với lính Bắc-Việt, thuộc Đoàn 959 dùng bảo vệ sự chuyển quân và tiếp liệu lén lúc vào Miền-Nam Lào đến ba biên giới. Harriman rất mừng vì BV ngoan ngoản theo lệnh KGB tham dự trò chơi.
      Mọi việc đang diễn tiến vô cùng tốt đẹp với những kết quả thu lượm được rất đáng khích lệ, thì thình lình có lệnh William Colby bảo phải rút ra khỏi Nam Lào khẩn cấp, dĩ nhiên là có mật lệnh của Harriman cho Colby, vì đã “kiểm chứng” được sự có mặt của quân Bắc-Việt và Pathet Lào để tham dự trò chơi chiến tranh CIP/NLF. Trong thời Đệ II Thế chiến, Harriman và Colby là cặp bài trùng, mọi diển tiến xảy ra khi Hồng-quân Liên-Xô tiến về Berlin, Trung-úy OSS, W.Colby phải báo cáo cho Harriman kịp thời, lúc đó Harriman là Đại-sứ Hoa-kỳ ở Liên-Xô. Mục đích chính là chụp cho được nhiều nhà Bác-học Đức càng nhiều càng tốt, nhưng lại muốn tiết kiệm sinh mạng quân sĩ Mỹ. Sư-Đoàn Dù chỉ nhãy vào Berlin đúng lúc và đúng chỗ để chụp các nhà Bác-học Đức trên tay Liên-Xô. Harriman lợi dụng Nhóm Bác-học nầy cho quyền lợi Tư-bản về phát triển kỷ nghệ chiến tranh qua thế-hệ “phản-lực” giữa Liên Xô cùng Hoa Kỳ trong một bó [package Aid to Russia 1941-1946 Plan] Thật là may mắn, Hoa kỳ đã vồ-chụp được nhà bác học Ðức Dr. Werner von Braun và một số khoa học gia Đức về hỏa tiển chạy qua phía Mỹ và trốn khỏi bị rơi vào tay Soviet. Prescott Bush, chủ tịch Hội đồng Kỹ nghệ chiến tranh WIB bèn đi thẳng vào ngay chương trình dọ thám qua vệ tinh [American Spy Satellite Program] qua đó Hoa kỳ mới phát hiện được những tài nguyên thiên nhiên nằm sâu dưới thềm lục địa, trong đó có ở Việt Nam và đão Lý Ngư gần Nhật/Trung, cũng như nằm sâu dưới lớp tuyết vùng Tây Bá Lợi Á và những nước Cộng hòa Trung-Á trong âm mưu tương lai của Harriman dùng “tối huệ quốc” [US Freedom-Support-Act] dụ khị họ sau nầy trong thế chiến lược Eurasian, làm cho người dân 8 nước Cọng Hoà nầy sẽ được hưởng mực sống cao hơn dân Moscow.
      Hành-pháp Kennedy khi nắm chính quyền đã thực tâm quan niệm rằng phải thực hiện một nước Lào trung lập thật sự, Kennedy không muốn dính dấp quân sự ở vùng quá xa-xôi nầy; Tất cả các lực-lượng ngoại quốc phải rút ra khỏi Lào và cấm xử dụng lãnh thổ Lào vào các mục tiêu quân sự, sẽ có Hiệp ước hoà-bình tại Lào vào ngày 23/July/1962 do Kennedy chủ trương. Một chính phủ trung lập do Souvanna-Phouma lãnh đạo sẽ cai-trị toàn lãnh thổ Lào. Nhưng có ai biết được chính sách Mỹ không nằm trong tay của tổng thống Mỹ mà nằm trong tay Đại-đế-1 dấu mặt William Averell Harriman. Cái gọi là W.A Harriman được TT Kennedy ủy nhiệm công việc tái lập Hiệp-định hoà bình trung lập cho nước Lào, nhưng ông lại làm theo kế hoặch của riêng ông như Free-wheeling-Diplomat với Nhóm học-giã xuất chúng đã thiết kế từ 1950 bằng một Tam đầu chế Skull and Bones.
      Sách lược khai phá Trường Sơn Tây từ đèo Mụ-Giạ băng ngang qua phần đất của lảnh thổ Lào, như Tchepone và Attopeu, đó là khúc đường dài 900 miles đến Ba biên giới Việt-Miên-Lào là mục tiêu siêu chiến lược cho mai hậu; nhưng phải do công cụ gián-tiếp mà nhiệm vụ lại là “trực-tiếp” khai phá, do quân lính CSBV mở mang con đường Trường Sơn Tây. Trong khi các tưởng lãnh BV từ Văn Tiếng Dũng trở xuống, thích xuyên qua Trường Sơn Đông hơn, vì lý do di-chuyễn trong một tháng mà Trường Sơn Tây phải mất 4 tháng. Riêng chỉ trừ công cụ gián tiếp Võ Nguyên Giáp, vì là thành viên OSS (trong hình giãi mật trang 32, tập-1) là chấp nhận đánh trận xa không đánh trận gần – Thuốc khai quang sẽ phóng đường (tracking) làm dấu hiệu vàng lá và tróng trải, kèm theo hàng trăm ngàn cây “sensor-antenna” ghi-chuyễn-âm được thả xuống dọc theo hành lang, mốc trên cành cây hoặc ghim xuống đất để “kiểm chứng” âm thanh, theo dỏi các hoạt động của quân BV. Arc Light B.52 sẽ phá và bình địa những vùng núi đá qua chiến dịch Rolling-Thunder, nếu như làm đường theo kiểu phương giác-từ, phát xuất từ dưới đất, phóng thẳng theo đường chim bay sẽ có vô-vàn trở ngại, như phải làm quá nhiều cầu-cống, lên xuống quá nhiều dốc đứng, thay vì chỉ lệch qua Trái hay Phãi vài độ giạc, đã dễ làm đường mà ít tốn phí nhiều công xây dựng cầu cống chằng chịt qua những con suối dưới đó. “Con người dẩm chân mò-mẩm trên mặt đất mới thật sự là “Hoàng-đế của sự khai phá đường xá” Có một điều nên ghi nhớ “Quân sự yễm trợ Kinh-tế, theo định luật Malthus”
      Sau khi đã biết chắc Hà Nội chịu chấp nhận trò chơi CIP/NLF qua toán Lôi-Hổ thám sát, Harriman làm một cú dò la tin tức: Tháng 6 năm 1962, vào một buổi sáng chúa nhựt không đẹp trời cho lắm, Harriman và một nhà ngoại giao trẽ tuổi William H Sulliam đã bí mật đến họp với phái đoàn BV tại Genève để thăm dò quan điểm của Hà Nội. Harriman lái xe đậu bên lề đường gần Ga Xe lửa để tránh các viên chức của phái đoàn VNCH ở bên kia đường có thể nhìn qua trông thấy Harriman và Sulliam đi ngả cửa sau của một khách sạn nhỏ do người Miến Ðiện làm chủ, rồi leo lên cầu thang để đến gặp Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm và Ðại tá Hà Văn Lâu của Hà Nội. Họ đang nóng lòng chờ hai ông đến, sau khi trà dư qua lại thăm hỏi xả giao
      Harriman đi thẳng vào vấn đề: “Trong thời gian chiến tranh, cá nhân Tôi có nghe nói Ðồng minh chống lại việc Pháp trở lại Ðông Dương, nhưng sau đó Hoa kỳ không thể làm gì được để ngăn chận việc nầy!” (Làm sao những vị nầy hiểu được trước mặt họ là người nắm giữ chính sách Mỹ quyết tâm khuấy động chiến tranh lần thứ-2 để đáp ứng nhu cầu quyền lợi của Bọn Ðại tư bản WIB, chính họ đã bí mật chỉ thị cho Ðại tá OSS, Alfred hướng dẩn quân đội Pháp đổ bộ tại Hải phòng 6/3/1946) để khuấy động lại chiến tranh lần thứ-1 (1946-54) cho quyền lợi WIB Bones
      Ông Ung Văn Khiêm cũng nói rằng: “Tôi cũng nghe như vậy và rất ngạc nhiên khi thấy Hoa kỳ chấp nhận việc Pháp trở lại các thuộc địa củ!”
      (Ðại tá OSS Alfred Kitts nếu không phải là hướng dẩn viên nhưng ít nhứt cũng là một nhân chứng a tòng với quân đội Pháp trở lại Ðông dương vào ngày 6/3/1946 tại bờ biển Hải Phòng do sư chủ đạo của Harriman. Tháng 7/1946. Theo lệnh tình báo quân đội OSS, Cụ Hồ đang ở Pháp cho lệnh Vỏ Nguyên Giáp mở cuộc tổng tấn công VNQDÐ từ Thanh hóa trở ra, Tướng Giáp công khai hợp tác với Bộ tư lệnh Pháp ở Bắc Việt qua tình báo OSS giới thiệu [2 điệp-viên trẽ Lucien Conein và Russell Flynn Miller nói tiếng Pháp rất giỏi] Tướng Giáp xin Pháp giúp pháo binh tấn công VNQDÐ và ÐMH. Ngày 12/7/1946, Tướng Giáp mở cuộc tấn công vào trụ sở VNQDÐ ở phố Ðổ hửu Vệ, Cửa Bắc và Quan Thánh; Chiến xa Pháp hổ trợ Việt Minh theo lời yêu cầu của Giáp, chặn các ngả đường giúp VM mở cuộc tấn công. Chiến xa Pháp bắn đại liên và trung liên xối xả (xem Vỏ Nguyên Giáp, “Những tháng năm không thể nào quên” [Des journees inoubliables] bản dịch pháp-văn HN 1975, tr.290-295)
      Cán Bộ Tình Báo OSS ai cũng thông thạo tiếng Pháp (trích dịch của CTD – Jean Sainteny, Histoire d’une paix manqué, Paris 1953,p.171) Cụ Hồ nghe theo sự hướng dẩn của OSS thoả hiệp với Pháp để dựa vào Pháp thanh toán Phe đối lập tạp nhạp. (Sau nầy CIA cũng nhờ Tướng Trịnh Minh Thế cùng hiệp với quân đội Quốc-Gia dẹp các lực lượng đối kháng tạp nhạp) Và để cho Quân đội Pháp tiến vào Bắc bộ qua cảng Hải Phòng do ĐạiTá Alfred Kitts Tình báo OSS hướng dẩn.- Kitts theo nguyên tắc tình báo đã đích thân làm nhân-chứng toán quân Pháp đầu tiên đổ bộ trên bờ biển Hải Phòng vào ngày 6-3-1946. Quân đội Pháp trang bị từ chân tới đầu đều là trang cụ làm ra tại Mỹ; ngay đến những trang-cụ nặng như tàu đổ bộ, xe-cộ trang bị quân dụng đều thặng-dư làm ra vào chiến tranh thứ II; Những Sĩ quan Việt Minh nhìn quân đội Pháp tiến vào bằng cặp mắt câm thù; nhưng ngặc nổi Cụ Hồ lại cứ tin theo Mỹ khuyến dụ nên để cho quân đội Pháp thành lập những trại lính tại Hải Phòng cũng như tại Hà nội và những thành phố khác. Và cũng không bao lâu quân đội Pháp lại nghe theo bọn OSS (Cụ Hồ và Pháp đều nghe theo lời khuyến dụ của Phản gián OSS vì miệng đã cắn nhằm viện trợ Mỹ) bắn xối xã vào quân đội Việt Minh có nghĩa là gây chiến để có cớ bọn buôn súng Mỹ giải tỏa số vũ-khí thặng dư đồng thời thí nghiệm và phát triển loại vũ-khí mới vào một nơi xa-xôi không bị bẫn-đục môi trường sống tại Mỹ!.
      Như Tôi đã có trình bày nhiều lần, “Việt Nam có thể tránh khỏi cuộc chiến 9 năm với Pháp, đi từ tự trị đến độc lập như Philippines; Dù tham vọng và ngoan cố thế nào, Pháp cũng phải trả lại độc lập cho Việt Nam như Hòa Lan ở Nam Dương, Anh ở Ấn Ðộ … nhưng Harriman [Thủ lảnh Skull and Bones] không muốn vậy vì khẩn thiết sẽ phải hoàn thành kế hoặch 1960-CIP [Counter Insurgency Plan]
      Có một điều rất buồn cười, một hôm chiếc xe Jeep cũa Đại-tá Alfred Kitts dù có treo cờ Mỹ, nhưng Việt Minh vẩn bắn xối xả vào; Sáng hôm sau một Đại-úy Việt Minh phải đi xin lổi vị Đại tá Kitts nầy vì sự nhầm lẩn. Họ đều mặc cùng trang phục, cùng xe Jeep giống nhau thì VM làm đếch gì biết phân biệt được, vả lại họ đều là người da trắng; Cụ Hồ ra lệnh coi cho kỹ không phải là người Mỹ thì mới bắn. Các bạn có ý kiến gì về vụ nầy!? Hồ Chí Minh theo lệnh OSS chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài và gian khổ gọi là “tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp để cho Mỹ giải tỏa hết số bom đạn tồn kho sau thế chiến-Hai! Nếu chúng ta không bị cái nhóm (WIB) Kỹ Nghệ Chiến Tranh của Mỹ để con mắt cú-vọ đầy tham vọng thì cũng như 60 nước thời đó trên thế giới sẻ phục hồi lại nền độc lập đương nhiên vào thời điểm sau Thế chiến thứ 2. Việt Nam có thể tránh khỏi cuộc chiến 9 năm với Pháp, đi từ tự trị đến độc lập; Dù tham vọng và ngoan cố cách nào đi nửa, Pháp cũng phải trả lại độc lập cho Việt Nam như Hòa Lan ở Nam Dương, Anh ở Ấn Độ v.v…Dĩ nhiên, đem lên bàn cân thì sự căm thù của Cụ Hồ về sự lừa bịp của Mỹ hơn gấp nhiều lần hai vị Tổng-thống Diệm, Thiệu. Dĩ nhiên người Việt chúng ta rất quý mến người Mỹ, nhưng với chính sách Mỹ thì thật rất buồn lòng! Cộng-Sản là phương tiện, cứu cánh là cứu nước, trong hoàn cảnh nầy Cụ Hồ bị Harriman xô đẫy phải vướng dây thòng-lọng của khối CS mỗi ngày mỗi siết chắc hơn mà cũng theo mưư đồ của Harriman. Đó là định luật đương nhiên! Sự kiện nầy sẽ phải trả lại tính trung thực cho lịch sữ mà chỉ có lịch sử mới có quyền phán quyết công bằng, còn bây giờ coi như thời buổi nhiễu nhương tranh tối tranh sáng, người viết vô cùng e ngại dù rằng chứng cớ rành rành trong thư-viện.(Library of Congress) Nhưng chắc chắn chĩ có lịch sữ mới phán quyết, cá nhân, đoàn thể, phe nhóm nên im cái miệng lại đừng cho rằng mình biết quá nhiều mà sự thật không biết gì cả!
      . Đến chừng nào thì Cụ Hồ mới hết tin Mỹ? Vì những năm trước đó, sau khi gia nhập OSS 1943, vào một buổi trưa, trên Miền Sơn Cước xa-xôi thuộc vùng Tây Bắc Hà-Nội, bầu trời tuy nhiều mây, nhưng không xấu lắm, chiếc Phi-cơ vận tải hai chong-chóng CAT-46, không cờ số, lấp-lánh trần-trụi với lớp võ sáng lòe màu Nhôm, đang thả dù các khẩu súng Trung-Liên BAR, Garant, và Carbine xuống mật khu vùng Tây Bắc Châu-Thổ, xuôi lên thượng nguồn sông Hồng-Hà, mật khu Pat-Pó để giúp Cụ Hồ chống quân phiệt Nhật, đồng thời Toán NCO của OSS sẽ huấn luyện cho Trung-đội võ trang tuyên truyền của Võ-Nguyên-Giáp và Văn-Tiến-Dũng làm phó; Ngoài ra Bác-sĩ Mỹ, ông Paul Hoaglant, thành viên của phái bộ “Deer Team Mission” lo săn-sóc bệnh hoạn cho Cụ Hồ đang bị sốt rét rừng và kiết lỵ (hình giãi mật trang 32).
      Sau khi bị Mỹ phỉnh gạt, Cụ Hồ trực diện một cuộc khủng hoảng Kinh-tế một cách trầm-trọng do giặc Pháp để lại: Mất mùa, hạn hán, cầu-kỳ sụp đổ, đặc biệt là sự thất bại thê-thảm từ năm 1954 đến năm 1956 của chính sách cải cách ruộng đất. Nhưng sau đó để xoa dịu dư luận, Cụ đã phải hy-sinh Tổng bí-thư Trường Chinh và một số Cán-bộ thân tín; Cụ Hồ ra lệnh đầu năm 1957 rút trên 100.000 quân từ Nam về Bắc. (Đọc Stanley Karnow “Việt-Nam A history” Editions Viking, New-York, năm 1983, trang 225) Nhờ vậy, nhiều cơ sở Việt Cộng tại đồng bằng sông Cửu-Long bị phía VNCH tiêu hủy, dân chúng sống được một thời gian tuyệt-đối an-bình từ năm 1954 đến năm 1959; cũng thời gian ấy, Cụ Diệm đã hai lần triệt hạ các cuộc nổi loạn tại Nông-thôn, vào năm 1956 và lần nữa vào năm 1958 làm Harriman vô cùng lo lắng cho ảnh hưởng thành quả của thế siêu chiến lược toàn cầu Eurasian)
      Có ai hiểu đây là nguyên cớ chính mà Harriman quyết loại Cụ Hồ ra khỏi cơ quan quyền lực!? . Từ 1957 đến 1959 là thời gian sóng gió nhứt trong nội bộ lãnh đạo đảng, và đây là khúc quanh lịch sữ đánh dấu ngày đại hội đảng thứ 15, vào tháng 4, 1959, qua sức ép của trục Ma-Quỹ [CIA và KGB] đã cưởng bức Cụ Hồ rời khỏi cơ quan quyền lực, nhưng vẫn còn giữ chiếc ghế Chủ tịch đảng hư vị, và nếu Hồ chết thì đễ chiếc Ghế-Tróng muôn đời không ai được ngồi trên đó, nhưng trục Ma Quỷ lại huyền biến chiếc ghế nầy như bức tường Thép để cho đảng CS cầm quyền núp dưới chiếc ghế đó bằng hệ thống cai trị siêu Mafia trong bí-mật… đến 50 năm sau (1959-2009) … Ðã đến lúc phải nên làm sáng tỏ thêm câu nói trên của Thượng Nghĩ Mc Cain tại Paris, Cụ Hồ là người quốc gia, cái đỉnh cao trí tuệ lại khai-thác các nhà truyền giáo như Linh mục Nguyễn Hửu Lễ, đúng 50 năm sau: Ngày 11/7/2009 (1959-2009) Trần Quốc Bảo, giám đốc sản xuất cuốn phim (dĩ nhiên CIA đưa các tài liệu mật và Linh mục Lễ mới thực là người đứng mũi chịu sào) DVD, “Sự Thật Về Hồ Chi Minh” là người yêu nước, có công giành được độc lập cho dân tộc, thống nhứt đất nước …thì dân tộc Việt vẩn phải mãi mãi nhớ ơn Hồ Chi Minh! “Giá trị mà Cụ Hồ Chí Minh coi trọng nhứt trong suốt cuộc đời mình là những giá trị của nền “CỘNG-HÒA” dựa trên cơ sở “TỰ-DO, BÌNH-ÐẲNG, BÁC-ÁI” Thêm vào câu nói dưới đây chưa được phối kiểm mà tự vì người viết suy diển qua 20 năm miệt-mài nghiên cứu nơi thư-viện. Một hôm, tại Congress Library tình cờ tìm thấy: “Cụ Hồ khi còn ở trong tù đã được OSS móc nối, và đã được Quốc Dân Ðảng thả tự do qua Tướng Trương Phát Khuê, vào tháng Tám, 1944 Cụ Hồ được QDÐ Trung Hoa thả và chuẩn bị về Việt Nam để vào mật khu Pat-Pó chống lại quân phiệt Nhựt theo mưu-đồ của OSS và chính OSS, bởi điệp-viên 19 sẽ nhảy dù tiếp tế súng đạn xuống Pat-pó để giúp Cụ sau nầy, như huấn luyện quân-sự cho Trung đội Vỏ trang tuyên truyền của Vỏ Nguyên Giáp và Văn Tiếng Dũng là trung đội phó. Lời tâm sự đáng chúng ta ghi nhớ khi tỏ-bày với Tướng Trương Phát Khuê, “Tuy tôi là người Cộng Sản, nhưng bây giờ vấn đề mà tôi quan tâm không phải là chủ nghĩa CS mà là độc lập tự do cho dân tộc; Tôi xin hứa với ngài một lời hứa đặc biệt trong vòng 50 năm tới sẽ không còn thực hiện chủ nghĩa CS ở Việt Nam [Vì đã đến 50 năm sau, 1945-1995 theo lộ-đồ thiết lập bang giao, chỉ còn có Cụ Giáp còn sống, nên Giáp luôn luôn ở phía Mỹ như vẩn còn là một thành viên OSS trung thành kết nạp từ Patpó 1945] 1995 là ‘điểm-mốc’ giải thể chế độ CS tại VN thành Bộ chính trị Tư bản Ðõ để thu-gọn cung-cách trao đỗi bằng đưa nguyên liệu qua tay Trái, rút về bằng tay Phải với dollar Xanh qua trương mục tín dụng ngân hàng thâu gọn trong tay một số ít người mà Mỹ yêu quý như “đại-cồ tư-bản Ðỏ” vào các trương mục tại Hoa Kỳ, trong ấy Việt Kiều cũng được đặc-ân dễ-dãi, vui vẽ hàng năm gởi về hàng tỹ dollar, các nước Nhựt, Nam Hàn, Thái Lan, Phi, Mả-lai … cũng vui vẽ giúp Mỹ một tay xây dựng hậu chiến. Tiền ở đâu mà VN phát triển to thế!? Nhưng họ lại cứ kích-thích truyền thông văn hóa thúc đẩy Việt-kiều mãnh liệt với luận cứ hung-hãn tấn công CSVN hầu che dấu kín-đáo, làm lu-mờ âm mưu độc-ác của WIB về “cuộc bỏ phiếu bằng chân” tạo nên một nghĩa trang vĩ đại nằm sâu dưới đáy biển Thái Bình Dương mà Việt kiều đang trong cơn mê ngũ. Tuy nhiên cái đỉnh cao trí tuệ nầy cũng chứng minh cho Việt kiều thấy rằng “What you get what you pay”
      Trong khi quốc tế CS cho rằng Hồ khẵng định: “Ðối với các dân tộc thuộc địa ở phương đông, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” điều quan tâm của Cụ Hồ không phải là chủ nghĩa CS mà là độc lập, tự do của Việt Nam (dĩ-nhiên cái thế lực ghê gớm 6 người nầy sẽ phục hồi danh dự cho Cụ Hồ, sau khi buộc phải phản bội Cụ vì quyền lợi sống còn, và hiện nay, đầu thế kỹ 21, đang hé mở như chúng ta cũng đang ngạc nhiên qua những tin tức giựt-gân từ truyền thông văn hóa làm đảo lộn khá nhiều về thành kiến đã đong đá trong khối ốc chúng ta tự bấy lâu nay; Tôi đưa ra một sự kiện đáng chú-ý: Ngày 25/4/2005 qua The News-week Paris Match, có một cuộc phỏng vấn dành cho cựu tù binh Thượng nghị sĩ John McCain, người đã bị cai tù Hà-Nội hành hạ đến nổi ông phải toan tự sát 2 lần nhưng đều thất bại. Ông tuyên bố: (vì quyền lợi dân tộc, lương tâm kẻ sĩ, hay một siêu thế lực trong bóng tối cần tiếng nói của ông để giải bày bí mật của lịch sử đã đến điểm mốc thời gian phải toát ra từ cuối đường hầm tâm-tối, và hiện tại đang sáng lạng đối với McCain trong sự tài trợ để trở thành một tổng thống tương lai? thể theo tạ-từ của Emperor-1 nhưng với Emperor-II thì lại chọn Thái-tử George-Bush con của mình) “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays” Người dân miền Nam không bao giờ cho rằng chánh phủ hiện tại Saigon là hợp pháp; Họ cho rằng Hồ Chi Minh mới là người quốc-gia tìm kiếm sự thống nhứt đất nước. Và chắc chắn một thời gian ngắn sau đó, cái thế lực ghê-gớm nầy sẽ cho ra nhiều tài liệu minh xác Cụ Hồ phải được vinh danh vì chiến công cứu nguy dân tộc, nhưng họ lờ đi cái đoạn (1954-1975) “kỳ đà cản mũi” vì quyền lợi hẹp hòi của chúng mà buộc phải có được sự hoàn tất cho xong chiến lược CIP [Vì sự hạn hẹp của đề-mục nầy, xin đọc giả nghiên cứu thêm chi tiếc nơi Chapter-9: Comment, critical analysis/ The New Legion] Dĩa DVD nầy cũng không khác gì cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống” 1955, do CIA Mỹ tài trợ có sự trợ giúp kỹ thuật của Phi Luật Tân. Hậu thuẩn cuốn DVD nầy quy tụ nào là giáo-sư, luật-sư, kỹ-sư, bác-sĩ…họ đều là những tinh hoa của người Việt hải ngoại; Cuốn phim nầy theo tôi nghĩ nó có nhiều giá trị, vì có những nhân chứng sống động là những nhà nghiên cứu thật sự nổi tiếng, trong đó có những nhà nghiên cứu ngoại quốc, họ dựa theo những tài liệu cũa nhiều tác giả có giá trị khác nhau ở trên thế giới, rồi đúc kết lại (sách tài liệu trong Library of Congress) Cuốn phim nầy sẽ bị những người chống cộng cuồng tính hung-hãng tấn công … trong khi chúng ta đối xử lịch sự có văn hoá với kẻ thù tại sao không thể đối xữ lịch sự có văn hoá với những người không đồng quan điễm với mình? Một siêu thế lực “Bố-Già” quyền hạn bao la cưởng bức giao cho tam đầu chế 3 anh em Lê Đức Thọ, từ 1959 cho mục tiêu chiến lược Eurasia-1 vào thời điểm "Roll-Back 2010" mới chịu nhúng tai vào mà từng bước giải quyết …

      KQ: Trương Văn Vinh
      Nha Kỷ Thuật - War Stories, 9/April/2011

      Comment

      • vinhtruong
        Super Member
        • Jun 2010
        • 1924

        #48
        Mỹ buộc phải đánh Trung Quốc


        .Có phải chăng thời thế tạo anh hùng nên người con của Tướng Nguyễn Chí Thanh có thể làm cuộc cách mạng như Nguyễn Cao Kỳ của Miền nam cách đây nữa thế kỹ nhờ nội ứng của CIA? (Tướng Nguyễn Chí Vịnh từng giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng, phụ trách tình báo quân đội (như một Phạm Xuân Ẩn, điệp-viên của TQ nhưng âm thầm làm việc mật thiết với phản gián CIA, Ông bắt đầu giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng từ tháng 02/2009) Gần đây, Thứ trưởng Vịnh xuất hiện nhiều trong các tiếp xúc với công chúng, thế nên người viết mới nghi ngờ về một vai trò lớn hơn cho ông trong tương lai, vào giờ chót, ông sẽ trở cờ như Tướng Tôn Thất Ðính 1/11/63, nhưng Tướng Vịnh trở về với dân tộc, còn Tướng Ðính là phản loạn vì háo danh.
        “Bắt đầu từ vị Ðại sứ Mỹ thứ Tư sẽ bắn một phát súng hiệu lệnh …

        Trong thập niên 2010-2020 Mỹ phải đánh Trung Quốc vỡ ra từng mãnh vì bầu trời biễn Ðông không thể có hai mặt trời cùng mọc, kết thúc thế chiến lược toàn cầu Eurasian Great Game 1920-2020 - Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 100 năm qua theo như chiến lược Eurasian Great Game 1920-2020, là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng-2 của thế giới, những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ đều bị Mỹ đánh cho suy yếu vỡ ra từng mảnh. Từ 1880 Mỹ đứng làm chủ cái chia bài (dealer) muốn nước nào hạng-2 phãi phục tùng theo quyền lợi American First; Hay nói cách khác Mỹ là Soạn-giả vở bi-hài-kịch Tam Quốc Chí tân thời nhưng có “quyền chọn bạn một thời gian rồi trở nên thù” cho trò chơi chính trị. Biện chứng rõ ràng nhứt thể hiện tại chiến trường Việt Nam, hơn nữa triệu quân Mỹ (thay phiên mỗi một năm đỗi lính G.I một lần, cho đũ 3 triệu air passagers (on booked schedule) và một triệu quân VNCH, con thêm quân Đồng minh mà vẫn thua mới ngộ chớ nhĩ?
        Mục tiêu đưa Liên Xô hạng-2, qua chiến lược “on the strongman side” đến khi Mỹ bứng hạng-2 của LX cho TQ như hiện nay và bây giờ Mỹ đang muốn đưa Ấn Độ lên hạng-2 thế Trung Quốc như một dư âm hồn ma vì Ấn-Độ chưa đũ điều kiện cần và đũ (criteria) để trở nên Đệ 2 anh hùng trong thiên hạ, vì thế Mỹ muốn chêm thêm phần công lực bằng cách nhập Việt Nam vào trục Ấn Độ đễ chận cữa ĐNÁ và Đông Á. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tổng tư lệnh quân đội Ấn Ðộ, nước này tới Việt Nam trong suốt 15 năm.- Thời gian gần đây, Việt Nam và Ấn Độ đã có nhiều trao đổi cấp cao về an ninh-quốc phòng. Hai nước cũng vừa tiến hành đối thoại về chiến lược quốc phòng lần thứ năm tại New Delhi từ 23/06- 25/06 - Truyền thông Ấn Độ nói trong chuyến thăm lần này, Tướng Singh sẽ có tiếp xúc với giới lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam kể cả về chính phủ và quân đội- Ông sẽ gặp Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hai bên sẽ bàn thảo việc thúc đẩy quan hệ giữa hai quân đội. Thông cáo của quân đội Ấn Độ cũng nói Tướng Singh sẽ đi thăm TP Saigon và tiếp xúc lãnh đạo một số Quân khu, tăng cường quan-hệ Tháng 11 năm ngoái, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, đã tới New Delhi, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ AK Anthony thăm Việt Nam năm 2007, mở ra thời kỳ mới trong quan hệ quốc phòng hai nước. Từ đó tới nay, Ấn Độ nổi hiện lên như một đối tác tiềm năng của Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng ở khu vực, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc đang củng cố năng lực quốc phòng của mình. Ấn Độ đã cung cấp trang thiết bị hải quân, đồng thời tham gia tập huấn cho nhiều sỹ quan Việt Nam, Delhi cũng có thể tham gia huấn luyện thủy thủ đoàn tàu ngầm cho Việt Nam trong tương lai; Quân đội Ấn Độ có tới 1,130..000 lính, thuộc loại hùng mạnh trên thế giới. Tướng bốn sao VK Singh, 59 tuổi, mới nhậm chức Tổng tư lệnh quân đội hồi đầu năm nay, thay Tướng Deepak Kapoor trong nhiệm kỳ hai năm.

        -1) Từ năm 1880, thu nhập quốc gia (GDP) Mỹ vượt qua Anh, và đứng hạng-1 thế giới cho đến năm nay, 2010. Thế là Mỹ giữ ngôi vị đứng nhất đã được 130 năm .
        -2) 1918 chiến tranh thế giới thứ-1 nỗ ra: tiêu nước Anh đang hạng nhì thế giới.
        Mỹ là vua xúi-bẫy, viện trợ và xúi Đức (Đức hạng tư thế giới) và Áo đánh Anh và Pháp, gây nên chiến tranh thế giới thứ-I – Sau chiến tranh thế giới thứ-1, Anh suy yếu, Nước Nga ngoi lên đứng nhì thế giới,
        -3) 1939 chiến tranh thế giới thứ-2 nỗ ra: tiêu tùng nước Nga đang hạng nhì thế giới.
        Mỹ viện trợ xúi Đức đánh Nga, gây nên chiến tranh thế giới thứ-2, sau chiến tranh thế giới thứ-2, Nga suy yếu, nước Trung Hoa ngôi lên đứng nhì thế giới nhờ Mỹ viện trợ cho sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa.
        -4) Thập niên 1950 cộng sản hóa Trung Quốc nhờ Mỹ đi ngỏ sau với Mao, Mao giúp Mỹ tiếp tục chia 2 Triều Tiên và Việt Nam như vừa chia 2 Đức sau thế chiến-2. Tiêu nước Trung Hoa đang hạng nhì thế giới; Nhờ phản gián móc nối, Mỹ đưa kỹ thuật Bom nguyên tử cho Mao Trạch Đông, giúp Mao cân bằng đối lực với LX, và đánh bại Tưởng Giới Thạch, và phi cơ CAT của CIA lo cưỡng bức chỡ di tãn T.G Thạch và đồng bọn ra đảo Taiwan, đến phiên Miền Nam Việt Nam, Mỹ giúp Hà Nội thôn tính miền nam, cộng sản hóa toàn nước Trung Quốc và Việt Nam cho nghèo đói ăn Bo Bo một thời gian, (decent interval) gây nên 1 Trung Quốc và Việt Nam kiệt quệ về kinh tế rồi sẽ dồn nỗ lực giúp đỡ tái thiết sau, để có cớ kéo lên tiếp nối theo tư bản. Trung Quốc cộng sản suy yếu, Liên Xô gượng dậy sau thế chiến, ngôi lên hạng-2 thế giới; nhờ Mỹ viện trợ 1941-1946 Aid to Russia Plan. Tất cả các nước nhận viện trợ đều bắt buộc phãi nhận nguyên vật liệu và khoa học kỹ thuật điện tữ từ Mỹ như là điều kiện bắt buộc có nghĩa phãi hoàn toàn lệ thuộc Mỹ
        -5) 1991 Mỹ đánh Liên Xô vỡ ra từng mảnh qua New Euarasian Great Game by 2nd Dynasty Skull and Bones, World-Emperor George H W Bush. Tiêu nước Liên Xô đang hạng-2 thế giới: Lần đầu tiên Mỹ diệt 1 quốc gia hạng-2 sừng sõ nhứt là Liên Xô mà không cần dùng đến hành động quân sự, mà dùng chiến tranh phản tình báo (Intelligence War) LX chỉ bị tiêu hao rĩ máu về kinh tế rồi ngã chết (còn như Tổng Thống Kennedy đạo đức hơn tuyên bố: muốn tiêu-diệt Cộng Sản, không cần tốn 1 viên đạn với chủ nghĩa thực tiễn căn bản về tư bản, nhưng trái lại đối với Triều đại 2 Skull and Bones phãi sãn xuất vũ khí là phương tiện và nắm cứng ngắt vòi xăng để thống lãnh thế giới) Mỹ dùng chiến tranh kinh tế và khí tượng để phá hoại Liên Xô, Cuba, và Việt Nam (đến nổi sông ngòi Cửu long giang trứng cá cũng bị tiêu diệt, giây trồng khoai lang, hom khoai Mì đều bị khô cháy phải ăn Bo Bo, nhưng Trung Quốc thì lại không dám, vì sợ quăng một cục đá vào ỗ kiến lữa, thì thế giới sẽ đại loạn ngay) LX vỡ ra từng mảnh vì giúp các nước đàn em bị mê hoặc thiên đàng Cộng Sản. Nước Trung Quốc ngoi lên hạng-2 thế giới như Nixon đã hứa 1972 hạng-2 thế giới, (nhưng chĩ tạm thời thôi nhé!)
        -6) 2010 đến 2020 Mỹ đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh: Tiêu nước Trung Quốc đang hạng-2 thế giới. Vì Mỹ quan niệm không thể có 2 mặt trời mọc một lượt trên Biễn Đông đưa Ấn Ðộ lên cường quốc hạng-2
        Tại sao Mỹ phải đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh trong 10 năm tới ?
        Theo chiến lược Eurasian: năm 2020 nếu Trung Quốc vẫn duy trì được đà phát triển như hiện nay, GDP Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ, và đứng nhất thế giới. Nếu Mỹ không đánh gục Trung Quốc trước năm 2020 ,thì Mỹ sẽ xuống vị trí thứ hai, nhưng người viết nghĩ không thễ xãy ra vì Mỹ đã chuẩn bị chu đáo cho tương lại phãi hạ bệ TQ sau khi đưa lên một thời gian theo nhịp điệu cung cầu. Làm gì Mỹ sẽ chịu kiếp Quốc Gia hạng hai, như các bạn đã thấy kiếp quốc gia hạng hai như Trung Quốc, Liên Xô…. Chẳng nước nào coi trọng , nói chẳng ai nghe, đồng tiền chẳng ai thèm xài, dân nghèo, nước lạc hậu , …Vì bị nước hạng nhất (Mỹ) dùng sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị vượt trội để kèm kẹp LX và TQ có thể đưa Ấn Độ lên hạng-2 thời gian thật ngắn đễ dằn mặt hai nước kia. Dùng sức mạnh đồng USD: chuyển USD vào nhiều thì hình thành bong bóng tài sản, đợi giá thật cao bán sạch, rút USD ra thật nhanh làm bể bong bóng, gây khủng hoảng kinh tế như hiện nay chính ông nội Mỹ là thủ phạm (khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – thị trường chứng khoán Trung Quốc và Nga giảm giá trị 4 lần, 4 đồng còn 1 đồng. Đánh bằng quân sự không vui nên đổi qua kinh tế vui hơn)
        August, -2008 Mỹ ra lệnh cho Georgia đánh 2 vùng ly khai, cho Nga tham chiến, để Nga không được Georgia ủng hộ vào WTO, Nga đứng trước tương lai chậm được vào WTO trong nhiều năm nay là Mỹ chơi, làm các nhà đầu tư rút vốn khỏi nước Nga, Stock Nga rớt 4 lần. Nếu Mỹ đánh vỡ được Trung Quốc ra từng mảnh, thì Mỹ sẽ giữ được vì trí quốc gia hạng nhất cả 100 năm nữa, từ 2020-2120. Vì không còn nước nào dành vị trí nhất thế giới với Mỹ, tiếp tục chiến lược toàn cầu lần thừ-2 là “Eurasian-Great Game-2”
        -Trung Quốc bị nội loạn vỡ ra, Tây Tạng Đức Đạt Lai như hồn ma và 1 vài tỉnh tách ra từ các tĩnh theo đạo Hôi, Tân Cương làm cho diện tích Trung Quốc chỉ còn 1/2 của Mỹ, Mỹ sẽ kềm kẹp Trung quốc giống như kềm kẹp kinh tế Nga bây giờ, không cho phát triển. Kết quả, một nước Trung Hoa thay đỗi lá cờ theo ý nguyện người dân và Việt Nam cũng rứa. Các bạn hãy kiên nhẩn chờ xem
        -Quốc gia hạng ba là Ấn Độ có dân số gấp 3 lần Mỹ, nhưng có diện tích 1/2 của Mỹ, và là xứ nhiệt đới nóng bức không thuận lợi cho những người sử dụng trí não nhiều, nên sẽ thiếu nhân tài để phát triển quốc gia. Nên cả 100 năm nữa Ấn Độ mới đe dọa vị trí đứng nhất của Mỹ, nhưng Mỹ nâng lên hạng-2 là vui vẽ lắm rồi như đang có kế hoặch nhập với VN, một nước chịu chơi ưa-thích đánh đấm đễ hù doạ TQ (như vừa qua có chuyện gọi là ngư dân VN bắn chìm tàu Trung Quốc qua bàn tay bí mật CIA vào lúc đang có sự hiện diện của Bà Hillary Clinton)
        Tiếp nối âm mưu CIA, đúng vào đợt kỷ niệm 50 năm ngày khởi nghĩa bất thành của người Tây Tạng chống lại Trung Quốc (10/3/1959) các dân biểu Mỹ đưa ra một nghị quyết mang tính không ràng buộc, hối thúc Trung Quốc phải chấm dứt "sự đàn áp" trên vùng mái nhà thế giới. Trong buổi họp báo mới đây, người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc nói: "Chúng tôi yêu cầu các dân biểu Mỹ có liên quan phải tuân theo các chuẩn mực cơ bản trong quan hệ quốc tế và ngừng ngay việc gây sức ép cho dự luật về Tây Tạng".-"Vấn đề Tây Tạng là vấn đề hoàn toàn mang tính nội bộ của Trung Quốc. Chính phủ và nhân dân Trung Quốc luôn phản đối bất cứ quốc gia hay cá nhân nào muốn can thiệp vào công chuyện nội bộ của Trung Quốc dựa trên vấn đề Tây Tạng".
        Nhưng Hoa Kỳ đã có dự mưu từ lâu, ngày khỡi nghĩa bất thành cũa Tây Tạng, Đại-Tá USAF, Harry Aderholt chuyên viên nhà nghề về hành quân thâm nhập bí mật vào không phận Trung-Quốc, ông đã bay chiếc C130A không bảng số vào sâu trong không phận Tây-Tạng do Trung-Quốc chiếm đóng để thả dù tiếp-tế cho kháng chiến quân bảo vệ Đức Dalai Lama trong cái thế siêu chiến lược Eurasian sẽ gây xáo trộn tình hình trong nửa thế kỷ tới về các sắc tộc ở quanh vùng nổi loạn tại Trung-Á, đây cũng là cái cớ để lật đỗ ngôi hạng-2 của Trung Quốc vào đúng lộ đồ chiến lược toàn cầu trong thế kỹ 21th.
        Nhưng đánh Trung Quốc bằng cách nào? Từ ngày làm anh cả thế giới được 130 năm, có bao giờ Mỹ ra tay trước đâu! Toàn bắt đàn em nhảy vào đánh đấm túi-bụi trước cho đến khi đối-thủ mệt đừ rồi mới nhảy vào dứt điễm, như hiện nay tạo ra sự kiện ở vùng Ðông Bắc để lập lại biến cố Vịnh Bắc Bộ 1964 bằng biến cô tàu Cheonan bị Bắc Hàn đánh chìm, đồng thời tại vùng biển Ðông Nam là tàu Trung Quốc la hoảng bị tàu lạ tấn công.
        . Cái gút mắc của nghị-quyết mà Trung Quốc phản đối là do dân biểu đảng Dân chủ, Rush Holt, chủ xướng, vào dưới thời Tổng thống George W Bush, khi phe Cộng hòa còn đang mạnh, Quốc hội Mỹ năm 2007 cũng có cử-chỉ tặng lãnh tụ tinh thần của người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma huân-chương Vàng cao quý nhất cho một nhân vật dân sự, khi đó Bắc Kinh đã triệu đại sứ Mỹ đến để phản đối. Lần này nghị quyết cho thấy dù thay đổi cấp lãnh đạo đi nữa, Hoa Kỳ vẫn muốn lên tiếng về Tây Tạng.(như tôi đã nói dù chính phủ nào đi nữa cũng phải đi đúng theo lộ đồ chính sách đã vạch sẳn)
        Lời qua tiếng lại trong động thái được coi là phản ứng mới của chính quyền Obama, Hoa Kỳ đã chê trách cách cư xử của Trung Quốc với sáu triệu người Tây Tạng, nói rằng họ "hết sức quan ngại" về tình trạng nhân quyền Tây Tạng và kêu gọi Bắc Kinh tái tục đối thoại với Đức Đạt Lai Lạt Ma – Người phát ngôn TQ nói Mỹ không nên can thiệp vào chuyện nội bộ của họ. Hôm thứ Ba, ông Robert Wood, quyền phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ, ra tuyên bố nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc khởi nghĩa bất thành của người Tây Tạng, nói rằng: "Hoa Kỳ tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và coi Tây Tạng là một phần của Trung Quốc. Đồng thời, chúng tôi hết sức quan ngại về tình hình dân quyền tại các vùng dân tộc Tây Tạng" - Ông Wood nói rằng Hoa Kỳ "hối thúc Trung Quốc cân nhắc lại các chính sách tại Tây Tạng, vốn đã tạo ra nhiều căng thẳng do tác động xấu tới tôn giáo, văn hóa và mưu sinh của người Tây Tạng".Trung Quốc đã phản ứng một cách giận dữ trước những chỉ trích của quốc tế về vấn đề Tây Tạng. Họ yêu cầu Hoa Kỳ nên ngừng can thiệp vào chuyện nội bộ của nước khác, và gọi Đức Đạt Lai Lạt Ma là đứa trẻ mèo nheo.
        Đúng hôm 10/3, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã chỉ trích mạnh Trung Quốc, nói rằng cuộc sống của người dân Tây Tạng dưới sự cai trị của TQ là "địa ngục trần gian", và rằng Trung Quốc đã phạm tội "diệt chủng về văn hóa" tại Tây Tạng. .Đáp lại, Tân Hoa xã có bài xã luận nói rằng "Cái gọi là "địa ngục trần gian" thực ra lại chính là "thiên đàng trên hạ giới" đối với người dân Tây Tạng".
        Căng thẳng ngoại giao giữa Mỹ/TQ – Trước khi ông Obama lên cầm quyền, nhiều người cho rằng chính quyền mới của Mỹ vì bị khó khăn về kinh tế, nên có thể sẽ ‘nhẹ tay' hơn trong việc xử lý vấn đề nhân quyền của Trung Quốc, lo ngại động chạm đến cường quốc mới nổi lên về kinh tế này, nhưng sự thật dù tổng thống nào lên cũng phải tiếp tục tiến bước theo sách lược đã định trước -.Tuy nhiên, trong chuyến công du đầu tiên tới Trung Quốc trong cương vị Ngoại trưởng, bà Hillary Clinton cũng đã đề cập tới tình hình nhân quyền ở Trung Quốc như tôi đã nêu ở trên là theo đúng lộ đồ của sách lược đã thiết kế từ trước. Việc Hoa Kỳ lên tiếng về tình hình nhân quyền Tây Tạng diễn ra sau khi hai nước đã có lời qua tiếng lại về chuyện "gây hấn" tàu hải quân tại khu vực hải phận quốc tế bên ngoài đảo Hải Nam cuối tuần vừa rồi.
        Căng thẳng hiện nay diễn ra ngay trước chuyến thăm Hoa Kỳ của Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì- Chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì tới Mỹ còn là để chuẩn bị cho cuộc gặp cấp cao giữa chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Barack Obama bên lề hội nghị thượng đỉnh khối G20 tại London vào tháng tới. Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc lâu nay vốn phức tạp, hai nước hiện còn đang phải lo đối phó với những hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu; Nhưng trên thực tế Trung Quốc đã nhượng bộ bắng cách tăng lên mức giá đồng nhân dân tệ, hơn là đễ Mỹ chủ động tăng thuế nhập cảnh hàng Trung Quốc. Nhưng cũng vì đã đến điễm mốc thời gian (decent interval) phải giãi quyết nên Mỹ phải cần bạo lực để “giựt-nợ”, dù Trung Quốc có đưa ra cây bài 9 nút hay Ba-Tây gì cũng không bằng Ba Chú Sam đứng chần-dần đòi chơi theo luật gian hồ! Cũng như ngang nhiên cho rằng Saddam vì có vũ khí giết người hàng loạt để có lý do gây chiến thì làm gì nhau?
        Còn Nga thì diện tích lớn hơn Mỹ một ít mà không hữu dụng, quanh năm tuyết phủ, dân số được phân nửa Mỹ, nên không bao giờ qua mặt Mỹ được – Brazil thì còn thua Ấn Độ nữa mà còn bị Mỹ đì vì lỡ dại chơi với Trung Quốc. Nếu Mỹ đánh vỡ Trung Quốc, Mỹ được ở ngôi vị số một thêm 100 năm vinh quang, hoặc mãi mãi đứng nhất thế giới với điều kiện phải chia năm xẽ bãy TQ, nhưng TQ rất khôn sẽ nhường Mỹ và mềm như con bún để bám được hạng-2 thế giới. Vì thế rất may cho sự khôn ngoan của TQ Mỹ sẽ xét lại và cho TQ quản lý việc khai thác dầu khí vùng phụ cận với giá nhân công rẽ mạt, như tại Biễn Đông và đóng thuế cho các nước có chũ quyền trên thềm lục địa do LHQ quyết định, chũ yếu bán sản phẫm bằng dollar Xanh do Mỹ độc quyền quyết định thương trường phân phối sản phẫm.
        Những điều trên nầy không thễ duy trì như còn đại đế dấu mặt George H W Bush thống lãnh mà phãi chia TQ ra nhiều mãnh như LX theo lộ-đồ nguyên thũy của người tiền nhiệm William Averell Harriman cho chiến lược toàn cầu “Eurasian-1” Nếu Mỹ không đánh Trung Quốc, Mỹ chỉ còn 10 năm vinh quang nữa, sau đó như Anh, Pháp bây giờ, phải ôm chân Mỹ cùng hưởng giàu sang. Chống Mỹ thì nghèo đói như Nga, Trung Quốc – Nghĩa là Mỹ phải ôm chân quốc gia đứng nhất là Trung Quốc, Trung Quốc nói gì cũng phải nghe? Vậy chỉ còn con đường duy nhất là Mỹ phải đánh Trung quốc trong thập niên nầy (2010-2020) đúng theo Eurasian Great Game-1 để chuyển qua Eurasian-2, vì vòm trời không bao giờ có hai mặt trời cùng mọc một lượt.trên Biển Ðông?
        Trước tiên Mỹ đánh Trung Quốc bằng kinh tế phối hợp cùng chính trị (giống như đánh tan Liên Xô năm 1991) như Mỹ kiếm cớ tố Trung Quốc là "nước thao túng tiền tệ" tạo cớ để Mỹ đánh thuế nhập khẩu lên hàng Trung Quốc 30 % chỉ trong 6 tháng. Tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, vì nền sản xuất Trung Quốc tồn tại chính yếu dựa vào thị trường tiêu thụ Mỹ, (đó là cái láo cá của Mỹ khi bắt tay Mao Trạch Đông 1972 và hứa sẽ nâng TQ lên Hạng-2) Không bán được hàng, tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, còn Mỹ mua hàng các nước khác mắc hơn 10 % không sao cả, và chũ mưu như thế. Mỹ sẽ tố Trung Quốc giữ giá trị đồng tiền thấp, để tạo ra phong trào trên toàn cầu áp thuế chống bán phá giá lên hàng Trung Quốc, để hàng Trung Quốc khó tiêu thụ trên toàn thế giới. Trò chơi chiến tranh kinh tế kiểu mới nầy Mỹ đang rất Exciting và muốn thí nghiệm thành công như ước tính
        Áp thuế phá giá 30% lên từng ngành hàng của Trung Quốc thay phiên nhau, gây phá sản lần lượt từng ngành sản xuất của Trung Quốc, sau khi chơi trò Chó Mèo ngộ độc, trẽ con bị đe doạ qua trò chơi mới … Nếu Trung Quốc nghe lời Mỹ tăng giá trị đồng tiền so với USD, thì Mỹ sẽ nâng giá đồng USD vừa đủ cho kinh tế Mỹ phát triển ổn định, còn đồng tiền Trung Quốc tăng giá vượt qua tốc độ tăng của USD sẽ ngăn cản sự tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc sẽ đi xuống, các nhà đầu tư sẽ rút ra khỏi Trung Quốc, Trung Quốc sẽ gặp khủng hoảng (Như khủng hoảng kinh tế Trung Quốc năm 2008, Stock Trung Quốc xuống 4 lần) TQ không bình yên với Mỹ đâu dù có tỏ ra dễ dạy! Còn nếu Trung Quốc hạ giá đồng tiền so với USD, các nhà đầu tư Mỹ sẽ rút đầu tư ra khỏi Trung Quốc, và chuyễn qua VN như là “cơ duyên nghiệp quả” mà Mỹ đã dự mưu theo đáp số cho ra từ máy tính điện tữ. Vì đầu tư vào nơi có đồng tiền xuống giá sẽ lỗ, gây khủng hoảng kinh tế Trung Quốc triền miên, Mỹ đánh Iran, mượn cớ chiến tranh cản đường vận chuyển dầu đến Trung Quốc trong 6 tháng, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phá sản vì không có dầu để sản xuất, lập lại chuyên cô lập dầu hoả cho Nhật trong thế chiến-2, để công nhân không còn phương tiện di chuyển đến sở làm, hãng xưởng sẽ phá sản hàng loạt. Ra lệnh cho các nước có mâu thuẫn biên giới với Trung Quốc, kiếm chuyện cho Trung Quốc tấn công đó là nghề cũa chàng (giống như Nga ỡ vị thế kẹt buộc phải tấn công Georgia) Mỹ tố Trung Quốc chiếm nước khác bất hợp pháp, lập lại vụ Geogia nhưng lần nầy Mỹ bạo tàn hơn vào trường hợp nầy, tuyên bố cấm vận Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc tan ra tro sau đó. Mỹ rất tự tin tự mãn vì diệt Trung Quốc dễ hơn diệt Liên Xô, như người viết có tầm nhìn: LX là võ trái Xoài-Riêng gai gốc cứng ngắt mà đã tét ra rồi …TQ chĩ là muối thịt thơm ngon tại sao không hẫu sực?
        Chiến tranh thế giới thứ III : Nếu đánh bằng kinh tế mà Trung Quốc chưa vỡ thì bắt buộc Mỹ phải đánh bằng nước cờ cuối cùng đánh bằng quân sự, Mỹ đánh Irắc để có nguồn cung cấp dầu bảo đảm, trong lúc chiến sự xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc, Mỹ đánh Afghanistan để đưa quân Mỹ sát biên giới Trung Quốc để cùng Ấn Ðộ phò trợ các nước Tây Hồi cũa TQ nỗi dậy xáp nhập thành các nước Cộng Hoà y-chang như 8 nước Cộng Hòa LX mà W.A Harriman cho là chiến lược Trung-Á (“Eurasian”) Mỹ bán và dàn trận các hoả tiển chống hỏa tiễn SM3 khắp Trung Đông, để bảo vệ các mỏ dầu chống hỏa tiễn Trung Quốc, bảo đảm nguồn cung cấp dầu, bán hỏa tiễn SM3 cho các nước có biên giới giáp Trung Quốc, kể cả Việt Nam sau nầy theo kế hoặc (vì Mỹ không muốn làm khỗ VN thêm một lần nữa, là bãi chiến trường tiên khởi nên chưa muốn bán) Nhưng đừng vội mừng khi cần VN sẽ tiên phuông là mũi nhọn cho nỗ lực chính, Mỹ sẽ xúi VN làm mũi dùi xung kích đánh chiếm Căn Cứ chiến lược tàu ngầm ở Hải Nam, tạo nên một huyền thoại Iwo-Jima Memorial cho VN với 100.000 binh sĩ hy sinh cho sự xáp nhập lãnh thỗ đảo nầy cùng HS và TS về với VN. Theo sau cùng với đạo quân Ðài Loan, Nam Hàn và Phi Luật Tân do Nhựt yễm trợ bao vùng bằng hoả-yễm. Mỹ thuê căn cứ Manas ở Kyrgyzstan giáp biên giới phía Tây của Trung Quốc. Mỹ đặt căn cứ quân sự trên đảo của Tây Ban Nha gần Venezuela nhằm cản Venezuela vận chuyển dầu cứu Trung Quốc. Mỹ triễn khai máy bay 747 cải biến trang bị vũ khí Laser, bắn hạ các hỏa tiễn nguyên tử của Trung Quốc bắn lên. Mỹ sẽ ra lệnh cho các quốc gia đệ tử Mỹ, xung quanh Trung Quốc, khiêu khích cho Trung Quốc ra tay, ví dụ như: Đài Loan bắn chìm 1 chiếc tàu của Trung Quốc. Việt Nam chịu thiệt hại nặng nề tấn chiếm Căn Cứ chiến lược tàu ngầm ở Ðão Hãi Nam xác nhập vào thành phần lãnh thổ của mình bằng máu xương gần 100.000 binh sĩ, tấn chiếm lại Hoàng Sa, Trường Sa. Nhật đánh chiếm mỏ dầu ở đảo Ðiếu Ngư của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp. Ấn Độ đánh Trung Quốc hùa với người đạo Hồi trên biên giới Ấn Hoa, tố-cáo Trung Quốc xâm phạm biên giới, Ngụy-tạo điều kiện lập lại Vịnh Bắc Việt (Tonkin Incident 1964) gọi là Bắc Hàn bắn chìm 1 tàu chiến Mỹ, nhưng đoàn viên có phao cứu không ai chết, Mỹ đánh chiếm Bắc Hàn, Trung Quốc tham chiến… thế là un point final
        Mỹ mượn cớ đó cùng với các nước đánh Trung Quốc tứ phía, kể cả đánh bằng nguyên tử: Phía Đông Bắc có Nhật, Nam Triều Tiên - Phía Đông có Đài Loan - Phía Đông Nam có Philipines, Thái lan, (có Việt Nam tham chiến vào giờ chót vì Mỹ muốn vậy để VN không thành bãi chiến trường) vì Việt Nam cần chiếm lại Hoàng Sa, Trường Sa (vào cơ hội nầy VN chấm dứt sách lược đu dây đễ không thành bãi chiến trường, đó là cái khôn ngoan của VN nhưng qua lời cố vấn CIA xúi bẫy)- Mỹ đang ve vãng Việt Nam và Miến Điện, phía Nam có Ấn Độ, phía Tây có quân đội Mỹ và NATO ở Afghanistan; Trung Quốc bắn vào quân Mỹ ở Afghanistan sẽ trúng quân NATO, Các nước NATO cùng nhau tấn công Trung Quốc .
        Kết quả nước Trung Quốc tan hoang, vỡ ra từng mảnh vụng, mỗi nước chiếm 1 miếng, Việt Nam chiếm 1 miếng (xác nhập đảo Hải Nam, HS, TS) Nhật chiếm 1 miếng, (đão Điếu Ngư) Ấn Độ chiếm 1 miếng, Tây tạng, Tân Cương, Ðài Loan giành độc lập, hình thành nhiều quốc gia Cộng-Hoà theo sau như y-chang LX. được đồng hưởng tối huệ quốc của Mỹ. Sự mâu thuẫn giữa các tôn giáo, các dân tộc thiểu số với Cộng Sản như: quốc gia Hồi Giáo, quốc gia Thiên Chúa Giáo , các quốc gia của các dân tộc thiểu số: Duy Ngô Nhỉ, Quảng Đông, Tiều, Quang Thoại,.… đều độc lập dưới cái dù LHQ.
        Đoạn kết Eurasian-1, Nam Hàn thống nhất nam bắc Hàn trong tình trạng huy hoàng không đau khổ như ở VN, Việt Nam sẽ giống như các nước Đông Âu: Ba-Lan, Rumani sau 1991. Giải phóng Iran, Venezuela, Cuba , Việt Nam , Bắc Hàn, Miến Điện sẽ được bầu cử tự do giống như Iraq, một nước dân chủ là cơ chế mẫu cho các nước Trung Đông, có sự kiểm tra của Liên Hiệp Quốc. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều nằm trong lòng bàn tay của Mỹ, Mỹ muốn nước nào sống thì sống, mà muốn chết thì chết. Hy vọng rằng sẽ không có thế chiến thứ III, mà Trung Quốc vẫn vỡ ra, đó là ước mong lớn nhất của những nhà lãnh đạo Mỹ trong Eurasian Great Game-1 trước khi chuyển qua Eurasian-II

        Tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam? Mỹ muốn chơi trò Tam Quốc Chí tân thời, nhưng Mỹ có quyền chọn ai là bạn ai là thù! Trong cuộc chiến Việt Nam, Mỹ là người chiến thắng, o-bế đưa Liên Xô lên hạng-2 một thời gian coi cho được (decent interval) rồi đưa Trung Quốc lên hạng-2 thế Liên Xô; Vì mục đích của việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam là nhằm ngăn cản Trung Quốc chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc, đưa Trung Quốc thành quốc qia đứng nhất thế giới , Trung Quốc sẽ giành chức Đế Quốc của Mỹ (trong nầy quan trọng nhứt là Mỹ âm-mưu xã-rác vũ khí cũ và thí nghiệmt vũ khí thời đại trên một vùng an toàn xa nước Mỹ) Sau khi Mỹ âm thầm giao Việt Nam cho Liên Xô trong thế “Bên Kẽ Mạnh” (Việt Nam muốn đánh với Mỹ phải cần vũ khí Liên Xô, nên Việt Nam sẽ dựa hẳn vào Liên Xô qua “Aid to Russia 1941-1946 Plan” do Mỹ dự mưu Liên Xô cà Credit Card ngân hàng Mỹ trả tiền cho nhân công LX, sau thế chiến quá dư thừa) Mỹ an tâm là Trung Quốc không thể chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc. Trung Quốc muốn chiếm Đông Nam Á thì phải chiếm Việt Nam trước đã, phải đánh nhau với Liên Xô, làm như vậy Hoa Kỳ lại áp dụng triết gia Socrat “Khi 2 con chó CS nô đùa với nhau mà ta quăng cục xương Indochina ra thì chúng giành nhau, cắn nhau đến chết, thì Mỹ vô tay vui mừng” Trung Quốc đánh với Liên Xô trên chiến trường Việt Nam năm 1979 qua vũ khí hai bên làm ra, cũng do tiền Ðôla Mỹ.
        Vì mục tiêu của Mỹ đã đạt nên Mỹ rút đi năm 1973, chức Đế Quốc của Mỹ đứng nhất thế giới vẫn còn giữ được cho đến ngày nay; Người Mỹ vốn thực tế và thẳng thắn nên chính họ là nước lên tiếng trước chúng ta, Việt Nam cần bắt lấy cơ hội này mà đa phương hóa vấn đề tranh chấp biển Đông, (cũng do CIA xúi bẫy) Một số quốc gia khác cũng đang lo ngại Trung Quốc, ít nhất cũng có chung 1 quan điểm với VN là phải giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.
        Việt Nam phải dựa vào Mỹ, là nước có quyền lợi kinh tế bị đe dọa ở biển Đông, làm lá chắn cho mình; VN không nhất thiết phải đối đầu quân sự với TQ nhưng bằng ngoại giao và chính trị có thể ràng buộc TQ tuân thủ luật pháp quốc tế nếu không muôn trực tiếp đối đầu với Mỹ (Nên lưu ý có chiến tranh VN sẽ là bãi chiến trường mà CIA tìm mọi cách cố vấn ngầm để không bị ảnh hưởng xúi bậy ở bên ngoài) VN nên mời gọi các công ty Mỹ hợp tác khai thác biển Đông vì Mỹ đã chính thức phản đối việc TQ gây áp lực lên các công ty của họ; Cái ông Đại Tướng Thanh nói là có toan tính của đảng trong đó; Có nhiều người không thích cộng sản, nhưng cộng sản có nhiều cái đúng hoàn toàn, nhờ CIA cố vấn. Đó là chỉ có mình mới tự giải phóng cho mình được (đấu tranh giải phóng dân tộc theo tư tưởng HCM) Độc lập và tự chủ (chiến tranh 1979 với TQ, Liên Xô muốn can thiệp nhưng VN qua Mỹ nói nhỏ chỉ muốn viện trợ vũ khí tạo cơ hội 2 bên thí nghiệm thực tập. Dầu sao TQ nó cũng ở gần bên, có nhiều ràng buộc mà không phải ta bỏ là được, rồi giải pháp hòa bình thông qua quốc tế hóa là vẩn còn nguyên hy vọng. Phản ứng của Mỹ nó như một tín hiệu Mỹ muốn móc nối thôi; Việc đi nhờ quốc gia khác giải quyết vấn đề của mình là không thể; Trong khi Việt Nam củng không theo chiến lược diều hâu nếu chưa quá nghiêm trọng. Phản ứng ở đây không phải là ai gan dạ hơn, can đảm hơn, cái đầu nóng vào lúc nầy là vô cùng nguy hại, nhưng ứng xử khéo léo sẽ quan trọng khi mình muốn quốc tế hóa nó; Không phải mấy cái đầu nóng hỗi là bảo vệ được chủ quyền, nhưng phát triển quan hệ mới với Hoa Kỳ, đó là một lựa chọn đúng đắn cho sự cân bằng, không phải là sự trông cậy, không phải hăm dọa Trung Quốc theo như sự chỉ dẫn ngầm của CIA .
        Người viết tin chắc rằng tướng Phùng Quang Thanh biết rất rõ tình hình phải đối đầu (với TQ) khi cần, ngày càng gia tăng tại biển đông, không ai ngoài ông là một trong những người chịu nhiều áp lực nhất trước khi trả lời báo chí về vấn đề vô cùng nhạy cảm này.
        Người lãnh đạo tài ba (là nhóm siêu Mafia tư bản Ðõ do Mỹ giựt dây chớ không phải ÐCS) phải là người biết lèo lái con thuyền đi vòng qua những thác ghềnh, nhất là khi tránh con thác này thì buộc phải đụng con thác khác thì ta mới chọn con thác nào dể vượt qua nhất. Nên nhớ rằng nếu có chiến tranh dù Mỹ hay TQ gây ra, VN vẫn là bãi chiến địa điêu tàn nhứt; Tuy HK đã nêu quan điểm về biển đông, nhưng mình cũng không nên tin tuyệt đối vào người đồng minh cũ này được vì đã có nhiều hành vi bất tín, không khéo để xãy ra chiến tranh tại biển đông thì chắc chắn dân ta lại rơi vào cảnh lầm than nghèo đói và chết chốc, nhưng rất may CIA không muốn gây cảnh thãm khốc thêm một lần nữa, chĩ khi nào CIA cần thì VN lấy sinh mạng đổi lấy đất đai như HS, TS, và đão Hãi Nam khi làm mũi xung kích tấn công tràn ngập Căn Cứ tàu ngầm tại Hãi Nam.
        Chúng ta không nên ngồi ỡ nước ngoài mà ý kiến này nọ, mà hãy nên cùng nắm chặt tay nhau, cùng tạo thành một khối thống nhất, thì kẽ thù nào dù có muốn thôn tính biển đảo của ta cũng phải kiên dè. Tôi muốn nói hãy xóa bỏ hận thù mà nghĩ đến món nợ thù chung. Vì đụng vấn đề gì cũng thấy người Việt mình chia rẽ quá, chẳng ai chịu ai, ai cũng cho rằng chỉ có mình là đúng, là sáng suốt hơn người khác. Nhất là đang còn một bộ phận không nhỏ "tử thù", chống Cộng (tức cộng sản) đến cùng, nhưng lại không có “thần tượng” Thần tượng như một người tài ba mà nước Mỹ kính nể, thế giới kính nể như Bác học Nguyễn Xuân Vinh mà cũng có người không ra gì chỉ trích cho mình chính mới là thần tượng, thật nhục vì NVHN không có lãnh tụ, phần nhiều “stupid man talk bad things about other people” nhưng lại quá ít “Good man think about goods ideas”. Duy chỉ có điều kiện duy nhứt là 2 triệu người nước ngoài đều là lãnh tụ hết; Nếu chúng ta đoàn kết dân tộc, trên dưới một lòng thì sẽ chẳng có kẻ thù nào giám xâm-lăng; Vì vậy, để bảo vệ Tổ Quốc, không gì tốt hơn là phải có chính sách hoà hợp hoà giải dân tộc thực sự như cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt từng kêu gọi, nhưng còn quá sớm chưa phải lúc nên đành phải hy sinh, trước khi bàn đến các giải pháp khác. Lại ác nghiệt thay CIA chưa muốn vi còn quá sớm, nhứt là còn thành phần “tữ-thù” như tôi nêu ở trên, CIA sợ tạo ra cảnh tắm máu không lường trước được như hận thù vừa nói trên. Lúc đó là một đại thãm họa cho VN, lấy oán trã oán nhân lên bao nhiêu!?
        Ai đã tìm hiểu về lịch sử Việt Nam thì sẽ hiểu, hợp tác với tất cả các nước trến thế giới là một điều quan trọng, việc này làm cho chúng ta hoc hỏi được nhiều hơn trên mọi lĩnh vực; Bắt tay với Hoa Kỳ, hay với Trung Quốc đều có lợi cả, những cũng không tránh khỏi việc các nước này lợi dụng trong một số vấn đề. Vì vậy cần phải cân nhắc trong từng trường hợp cụ thể. Hạn chế tối đa việc đối đầu trực diện, vì điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của dân tộc, nhưng mọi giải pháp đàm phàn không thành, thì chúng ta hãy cùng nhau hợp sức lại để chống lại bất kỳ sự xâm lược nào của kẻ thù, dù kể thù đó lại ai; Chúng ta hãy cùng đứng lên, không nên phân biệt Tư Bản hay Công Sản đã là người Việt Nam thì kẻ thù nào xâm lược đất nước thì đó là kẻ thù chung của toàn dân Việt Nam như vậy mới đúng nghĩa yêu nước, dân tộc. Nhân dân Việt Nam đến lúc đó sẽ tự lựa chọn ra người lãnh đạo của mình, quý vị cùng đừng nên nhìn vấn đề một chiều để đánh giá, hãy tự hỏi bản thân đã làm gì cho đất nước để nâng cáo hình ảnh Dân tộc, phát triển đất nước; Chừng nào hết trí tuệ rồi thì chúng ta mới dùng sức lực! Mà sức lực thì phải dựa vào dân, người viết tự cho mình là đại diện những người dân Việt Nam ủng hộ Việt Nam chống đối mạnh mẽ về việc xác định ranh giới tại Biển Đông! Dù một tất cũng không cho, mất một tất nước là một tất máu của đồng bào và chiến sĩ Việt Nam đã bỏ ra mà độ sâu là vô tận, Việt Nam đã chờ đợi sự lên tiếng của Mỹ. Bây giờ Mỹ đã lên tiếng ủng hộ VN toàn vẹn chủ quyền lãnh thỗ rồi, đây là cơ hội chung hợp tác với Mỹ để bảo vệ lãnh hải đảo; Tuy nhiên, cần khéo léo để tránh phật ý TQ; Có như vậy mới đạt được mục tiêu giữ vững chủ quyền của tổ quốc mình. Việt Nam cần đoàn kết 82 triệu người như một như các thời kỳ kháng chiến trước đây để đương đầu với lũ bành trướng phương bắc là kẻ thù truyền kiếp của đất nước ta
        Vận mệnh Thế-giới nằm trong thế chiến lược tại Việt-Nam
        Như những nhận định nêu trên cùng qua sự gặp gở của TT Nixon, Kissinger và Mao, Chu An Lai (1972) Bốn người nầy đều cho rằng Đông-Dương vốn là một điểm chiến lược quan trọng nhất Á- Châu và toàn Thế-giới. Trung-Cộng sẽ có lợi rất nhiều khi lôi cuốn Việt-Nam về với mình; Và từ đó sẽ làm Bá-chủ Á-Châu và khống chế toàn Thế-giới; Như những năm gần đây, Trung-Cộng đã chứng tỏ cho Thế-giới biết sức mạnh về Kinh-tế của mình và sau đó sẽ khống chế Chính-trị trong tương lai. Khác với hồi còn Mao Chủ-Tịch, Bắc-Kinh và Hà-Nội thường coi nhau như môi hở răng lạnh, sông liền sông, núi liền núi. Còn như những năm tháng sau nầy, Hồ Cẩm-Đào cũng theo gương Giang Trạch-Dân, sau khi kết thúc cuộc viếng thăm Việt-Nam, rất lấy làm tự hào, cứ cho rằng thằng đàn em nầy đừng hồng rời khỏi cái thòng-lọng của Ta. Hồ Cẩm-Đào vào Hội An thăm khu phố Cỗ Minh-Hương, nhìn về Biển-Đông hỉ-hả muốn thét lên như át hẳn tiếng sóng biển “Hai nước tắm chung một dòng nước biển-Đông” Trung-Cộng đang chuẩn bị cùng Việt-Nam bàn thảo một hiệp ước cho thuê Cảng Cam-Ranh, chỉ còn vấn đề là 99 năm hay 49 năm. Mục đích chuyến du hành Việt-Nam của Hồ Cẩm-Đào là chủ động sắp xếp thành phần nhân sự cho Bộ Chính-Trị ĐCSVN kỳ 10, cho năm 2.006; Điểm tối quan trọng là ngăn chận không cho Việt-Nam CS được ngã vào vòng tay Hoa-Kỳ. Bắc-Kinh bằng mọi giá nắm chặt Việt-Nam bằng bàn tay sắt, có nghĩa là nắm chặt trọng điểm Chiến-Lược sinh tồn của Bắc-Kinh ở phía Nam. Điều quan trọng là Hoa-Kỳ có chịu để yên cho Trung-Quốc muốn làm gì thì làm hay sao! Con Ó mẹ đã lót ổ nơi nầy, chẳng lẽ chịu để Vịt-Trời hay Le-Le-Con nở ra nơi ổ đó? Dù hơn 58.000 binh sĩ hy sinh tại đây cho chiến dịch “khỗ nhực kế” như một món tiền deposit cho vùng có trữ lượng dầu hoả lớn nhứt tại ÐNÁ.
        Ngược lại, Nhóm Học Giả hậu-sanh khả quí của Harriman đã biết trước đều đó nên đã và đang tìm cách nắm chặt Việt-Nam qua việc giao lưu văn hoá và truyền bá lối sống tự do dân chủ thực dụng của Mỹ thâm ngấm từ từ vào không những trong máu mà còn luôn cả trong mọi tế bào của tất cả tầng lớp dân chúng Việt. Điều khá đặc biệt là những chính khách Việt trẻ tuổi trong những thế hệ kế tiếp dù rằng họ đã du học và đào luyện rất cẩn thận tại Hoa-Kỳ (13.000 sinh viên) nhưng họ có chịu cảm thông “sự bất tín chính trị” của Hoa-Kỳ khi bỏ rơi Miền-Nam trước đây, không thương tiếc là vì quyền lợi và sự phồn vinh hùng mạnh của nước Mỹ, gài dính liền trong cái thế siêu chiến lược mà họ phải làm và không thể đi chệch ra ngoài quỷ đạo được, trong sách lược đã thiết kế một cách rất tỉ-mỉ và thần thánh? Có nên đặt niềm tin vào Hoa-kỳ một lần nữa hay không!? Qua những sự kiện về tấn thảm kịch đau thương đã qua, những chính trị gia khôn ngoan sau nầy của chúng ta có nên đặt hết niềm tin tuyệt đối nơi Hoa-kỳ hay không? Chúng ta nên suy nghĩ “hai lần hay nhiều lần càng tốt; Vì hiện nay, Hai Siêu cường nầy đang cố dụ dỗ, giành giật nhau ôm chặt Việt-Nam của chúng ta; Nhưng bất hạnh thay, dù ta có theo bên nào, thì trên mãnh đất nầy lại một lần nữa là bải chiến-trường vô cùng tàn khốc, khi quyền lợi của chúng bị đe doạ trầm trọng, đến đổi chúng phải lấy sự độc ác, tàn sát hủy diệt ra mà giải quyết. Chúng ta không thể tránh né thảm-họa lây nầy? Con cháu chúng ta thừa khôn ngoan áp dụng phương pháp “nhu thắng cang, nhược thắng cường” Tôi vẫn đặt nhiều tin tưởng nơi con cháu của chúng ta, đúng nghĩa với câu “Hậu Sanh Khả Quý” đừng để chiến tranh xãy ra.
        Đối với Harriman và nhóm Học-giả, Đông-Dương chỉ là ‘Diện” còn Mông-Cỗ mới chính là ‘Điểm’; theo như học-thuyết ‘không Mầy là Tao chớ không có Nó’ Họ [Harriman chiến lược gia] cho rằng chỉ có Liên-Xô và Hoa-Kỳ là siêu cường duy nhất lãnh đạo bảo vệ an toàn cho Thế-giới bằng biểu tượng 2 cây sung AK và M-16 và bằng mọi cách phải hủy diệt mầm mống ‘họa Da Vàng’. Trung-Quốc bị bao vây bốn hướng, Tây có cả một Khối Liên Xô án ngữ, Đông có cả Hạm Đội 7 cùng Nam Triều-Tiên, Nhật và Trung-Hoa Quốc-Gia. Còn phía Bắc và Nam ngày xưa thuộc ảnh hưởng Liên-Xô, ngày nay hoàn toàn dưới sự bảo trợ và ảnh hưởng của Hoa-Kỳ; Ta thử nhìn cuộc chiến Iraq thì biết ngay: “Lính Mông Cổ đã góp phần cùng Hoa-kỳ trong cuộc chiến Iraq”(Mông-Cổ và các Nước Cộng-Hòa tách rời khỏi ảnh hưởng của Liên-Xô đã đều được hưởng “tối-huệ-quốc”(U.S Freedom Support Act) sớm nhất do Hoa-kỳ trân-trọng dưng tặng không ngoài mục đích làm cho Liên-Xô và Trung-Quốc nhìn thấy mức sống của người dân các nước ấy mà thèm chảy nước miếng)
        Đặc biệt biên giới phòng thủ nước Mỹ, để ngăn ngừa chiến tranh, Mỹ cần đặt biên giới phòng thủ ở xa, càng xa càng tốt, để lôi cuốn sự chú tâm vào vùng Nóng-bỏng đó mà quên đi những vùng khác. Lịch-sử đã chứng minh trong những năm từ 1960 đến 1975, chiến tranh Việt Nam đã ngăn chận hẳn làn sóng Đỏ Cộng-Sản, dù rằng Harriman đã táo-bạo gạc bỏ ‘thuyết Domino’ của TT Eisenhower qua thuyết ‘bên kẽ mạnh’đưa đến sự an toàn cho thế giới và những nước Đông-Nam Á không những không bị Cộng-Sản nhuộm Đỏ mà càng giàu mạnh thêm. Chiến tranh Việt-Nam là một sách-lược tài tình của Harriman và bộ tham mưu của Ông đã giải thể cuộc chiến tranh lạnh một cách cụ thể và làm cho Hoa-kỳ phồn vinh hơn, với nhiều khoa học tiến bộ, kỹ-thuật, siêu kỹ-thuật, nhiều khái niệm về học thuyết chiến tranh và thế chiến lược quân sự cũng được cặp nhật hóa hoàn toàn. Có lẽ bởi những nguyên nhân trên mà nước Mỹ trở nên Siêu-cường số một và không có nước nào trên Thế-giới bắt kịp
        Nếu Liên-Bang Xô-Viết bị giải thể bởi Liên-Xô chủ trương làm chiến tranh bành trướng mà không tính đến hậu quả vì chế độ không thực với hoàn cảnh xã-hội trên Thế-giới; Nếu lãnh đạo Trung-Cộng tiếp tục đường lối bảo thủ khôn ngoan như Mao Trạch-Đông , và Ông đã thành công giữ vững Hoa-Lục từ năm 1949 đến khi ông chết năm 1976, thì làm gì Bắc-Kinh ngày nay phải trong cái thế trực diện với Mỹ và đối đầu với Việt-Nam. Chính sách bảo thủ của Mao, Chu khẳng định vị trí và lập trường của Trung-Cộng một cách khôn ngoan: “Dù cho Trung-Quốc phát triễn kinh-tế, muốn nhanh chóng hiện đại hoá các ngành công nghiệp, Trung-Quốc không tự coi mình là một cường-quốc” Đó là chuyện Trung-Quốc hồi đời Mao, còn chuyện Trung-Quốc đời nay có còn giữ lập trường nầy nữa hay không? Để trả lời câu hỏi nầy, xin đọc giả xem một đoạn văn trên tờ báo China Daily “Has China the will to become a big Power?” Trong đó có một đoạn văn “xanh-dờn” lý giải như sau: “Để ổn định tình hình bất ổn của Thế-giới, Trung-Quốc phải có quyền quyết định và sẵn sàng đóng vai trò của một Cường-quốc. Nếu không là một siêu cường làm sao Trung-Quốc có thể mang lại hoà bình cho Thế-giới!?
        Nên nhớ rằng, cách đây hơn 50 năm, sở dĩ Harriman giải nhiệm Tướng Mc Arthur là vì sợ quăng hòn đá xuống ổ Kiến lửa thì nó sẽ bung ra gây thảm hại cho Thế-giới. Nhưng bây giờ đã có thiết lập nhiều cục than hồng xung quanh miệng ổ Kiến, nếu chòi ra con nào thì chết queo ngay con đó! Ngày nay cũng đã đến lúc Trung-Quốc cần tạo thêm nhiều dịch vụ làm ăn với Tư-bãn Mỹ đễ phát triễn còn hơn đương đầu với Mỹ để tự sát? Hoa-kỳ đã mở đường cho Trung-Quốc vào LHQ và hai nước tái lập quan hệ ngoại giao; Điều nầy phía Trung-Quốc đã nêu ra nhận định về phía Mỹ như sau: “Washington không muốn thấy thế lực của Nga bành trướng quá đáng ở Á- Châu, cảm thấy sự uy hiếp của Liên-Xô, lợi ích chung của hai nước tăng lên, nên đã thỏa hiệp với Trung-Quốc” Những câu trên đây sẽ đổi chủ từ khi Trung-Quốc trở nên mối lo ngại cho quyền lợi Hoa-kỳ cũng trong vùng Châu Á nầy. Hoa-Kỳ qua tư-tưởng Harriman vẫn luôn sợ ảnh hưởng bành trướng về Họa Da-Vàng và mong muốn Liên-Xô là Đệ II cường-quốc sau Mỹ (Cứ xem những chuyến viếng thăm nồng thắm giữac gia đình Bushes và Putin ở tại Mỹ cũng như LX thì rõ)
        Tuy nhiên, sự suy nghĩ của Bắc-Kinh nếu gây ra cuộc chiến, trước khi khởi chiến thì kẻ gây chiến phải hiễu rằng sẽ có sự lôi cuốn với những tình huống ngoài sự tiên liệu, như chiến tranh có thể leo thang thành chiến tranh nguyên tử với nhiều nước khác nhảy vào, hoặc có thể lan rộng thành đại chiến Thế-giới. Chỉ riêng một vấn đề nếu chiến tranh với Mỹ ở phía Đông, trong khi với Nga có thể tấn công phía Tây-Bắc và Việt-Nam nhân cơ hội tiến chiếm lấy lại quyền sở hữu của chùm đảo Hoàng-Sa, Trường-sa của mình. Bao nhiêu đó cũng đủ làm cho bất cứ chiến lược gia nào cũa Bắc-Kinh phải điên đầu; Đó là chưa kể đến Hoa-Lục rộng mênh mông thì làm sao điều động nhanh hàng triệu quân vào ngay điểm Nóng! Làm sao phòng thủ hay trải rộng khắp lãnh thổ Biên-giới? Còn như vấn đề chiến tranh nguyên tử với vũ khí hạt nhân, chiến tranh siêu kỹ thuật (high-Tech) Lại còn phải nghĩ đến làm sao tấn công trước để chiếm ưu thế, tấn công thật nhanh, thật bất ngờ? Thêm vào những rối rắm vì vấn đề các Tỉnh Bang rối loạn hay nỗi loạn thì phải ứng phó làm sao! Trung-Quốc có rất nhiều sự yếu đuối, nhiều sơ hở, thiếu sót khác nữa; Nhưng phần đông chúng ta bị lịch sử của quá khứ ám ảnh nên nơm nớp sợ Trung-Quốc; Tại sao phải sợ?Trong khi Hoa-Kỳ đã phát họa gần 100 năm trước (từ 1917) Việt Nam là con Ó Con sừng sỏ nhất ở Á-Châu.và nhiều lần nhắc nhở Trung-Quốc đừng hòng đụng đến Nó, nhưng Trung-Quốc sẽ đụng vì quyền lợi sống còn, để rồi Thế-chiến sẽ bùng nổ tại Vùng Chiến Lược Thái Bình Dương?
        Mao Trạch Đông hiểu rằng Trung-Quốc chỉ có thể giữ vững “thế-thủ” với sự toàn vẹn lãnh thổ và không bao giờ nên bung ra ngoài với chiến tranh xâm lăng đễ bành trướng Đế-quốc. Mao chỉ răn-đe dọa-nạt thôi, chứ không bao giờ làm thật; Vì Mao hiễu rằng, Ông phải cũng-cố và nắm vững nội bộ, vì chính nôi bộ Hoa-Lục mới nguy hiễm cho chính bản thân Ông và chế độ. Mao cũng hiễu rằng không nên tấn công Đài-Loan vì nếu gây chiến tranh là Trung-Quốc bị cấu xé tan tành phân chia ra nhiều tiễu quốc ngay. Cho đến ngày hôm nay, Bắc-Kinh cũng hiễu như vậy, Đài-Loan chính là cái mồi lửa dễ cháy thành chiến tranh ngoài cục bộ địa phương, Bắc-Kinh không dại gì châm mồi lữa Đài-Loan; Nhưng Biển-Đông Việt-Nam [South China Sea] mới sẽ là ngòi nỗ chiến tranh của Trung-Quốc cùng với các nước đàn em của Mỹ và sẽ trở nên Đại chiến Thế-giới. Hoa-Kỳ sẽ là nước tham chiến sau cùng; Theo quy luật tất yếu phải có chiến tranh vì quyền lợi dầu khí ở thềm Lục-địa; Trung-Quốc không thể tồn tại được vì nhu cầu phát-triễn kỹ-nghệ không thể thiếu được; Chiến tranh là một sự có tính toán hay là phương tiện chọn lựa sau cùng hoặc đôi khi là một chuyện bất đắc dĩ ở vào cái thế chẳng đặng đừng hay thế thời phải thế! Có lẽ đôi khi Hoa-kỳ làm bộ chủ hoà, không muốn chiến tranh, mà nước Mỹ thường phải ra tay sau khi bị khiêu-khích trước. Có phải Hoa-Kỳ luôn luôn chủ động một cách tuyệt đối khi lừa các nước nhỏ vào cái thế lâm trận trước!? Chúng ta nên nghiên cứu về Tu Chính Án Cooper-Church 1970, đây là cái bẩy do Mỹ đặt ra để giăng lưới cho Trung-Cộng vướng vào mà Nhóm học giả cho rằng “Di tản Chiến lược” bỏ South China Sea về Honolulu thành lập PACOM (From 1970, Manage the defeat to roll-back at 2010)
        Tưởng nên nhắc lại một câu chuyện nhỏ thời Đệ II Thế-Chiến, năm 1938-1939, Hitler hung-hăng xé Hiệp-ước, xua quân đi xâm lăng các nơi tại Âu-Châu, ông Bộ-Trưởng Ngoại-Giao Hoa-Kỳ đòi phải tuyên chiến với Hitler ngay tức khắt, thì Tổng-Thống Roosevelt (sau lựng là Harriman) ôn tồn chậm rải trả lời theo hiến pháp Hoa-kỳ nhưng qua sự chủ đạo của Lảnh-tụ Skull and Bones: “Hãy khoan, đừng vội, vì Ông không phải là Bộ-Trưởng-Quốc Phòng, không phải là Hội-Đồng An- Ninh Quốc-Gia, cũng không phải là Tổng Tư-Lệnh Quân-đội, cũng không phải là Quốc-Hội Hoa-Kỳ” Nhưng sự thật bên trong, Ông Harriman, vị Đại-đế giấu mặt đã có một kế hoặch can thiệp bằng một cuộc “chiến tình-báo” nhập trận sau cùng để bớt đổ máu cho quân đội Mỹ, trong khi Ba nước Đồng-Minh: Pháp, Anh và Liên-Xô dấn thân vào cuộc chiến đẫm máu trước, lãnh nhiều thiệt hại trước, rồi quân Mỹ mời tà-tà tham chiến sau cùng, Có lẽ dựa vào lý do vì ỡ xa nên Hoa-kỳ can thiệp có chậm? (Harriman thay mặt Siêu-Chánh-Phủ (Permanent- Government) chỉ ngầm ra dấu thì Quốc-Hội Hoa-kỳ O.Kay ngay, như Hai cuộc chiến Iraq và Việt-Nam với số phiếu thuận giống nhau là 98/100 Thượng Nghị-Sĩ bỏ phiếu thuận; Cuộc chiến thường kéo dài tùy theo sự thiết kế của Bộ máy Tư-bản chiến tranh (WIB) rồi lại tạo dựng ra cuộc biểu tình phản chiến, phối hợp nhịp nhàng với truyền thông văn hóa phát động để dễ bề tạo thêm uy quyền cho Quốc-Hội phải chấp thuận rút quân về vì lòng dân ta thán và cứ phương thức như vậy mà tiếp nối cuộc chiến kế tiếp. Như hồi chiến tranh Việt-Nam, phải trang điễm phấn son cấp tốc cho Trung-úy John Kerry (Harriman và Bushes tuyển chọn Kerry vì định-kiến tốt nghiệp Đại-học Yale?) trong vòng vài tháng có tuyên dương nhiều huy chương Lèo, trong đó có Ba chiến thương nhưng băng bó bằng băng keo First-Aid, (Thượng Nghị Sĩ Bob Dole tuyên bố) không có vết sẹo, không có nằm nhà thương dù là 1 phút, rồi lôi về Mỹ làm Tài-tử chính trong cuốn phim “kích-động-phản-chiến” mục đích xuất hiện trên truyền hình thế giới để Hà-Nội tin tưởng hầu rút mấy thằng Cu Mỹ về theo như định-kiến-3 của Harriman và Nhóm học giả của Ông đã giải nghĩa trước nơi khuôn-viên Đại-học từ 1960 trước khi quân Mỹ vào VN (The US could not have won the war under any circumstances) Bất cứ tình huống nào, Hoa-kỳ cũng không thể thắng nổi cuộc chiến!
        Nhưng trong tư tưởng hiếu hòa đó của Mao, không che dấu, ngầm ý có ngày phải bung ra vươn mình để trở thành một Siêu-cường số Một của Thế-giới. Đó là quy luật tất yếu của lịch-sử loài người theo vận hành thế thiên hạ đại loạn. Và rằng thế kỷ thứ 19 là thế kỷ của Âu-Châu, thế kỷ thứ 20 là thế kỷ của Mỹ và thế kỷ thứ 21 là cũa Trung-Quốc. Lịch-sử đã chứng minh những Đại-Đế khi lên cao đến tuyệt đĩnh rồi cũng phải tụt xuống theo định lý toán học. Như Đại-Đế La- Mã, Nã-Phá-Luân, Thành-Cát Tư-Hản, Đức-Quốc-Xã, Quân phiệt Nhựt, Đại-Đế CS Liên-Xô, và Đế quốc Mỹ…
        Nhưng có một điều kỳ lạ là chính sách Bắc-Kinh dựa trên 2 điều căn bản: khôn ngoan trong “thương trường” và giải quyết thế thượng phong về “nhân mãn.” Sách-lược của Bắc-Kinh lại phát khởi do nạn nhân mãn hay nói nôm-na là chính sách cho dân Tàu sinh đẻ tự do không cần kiểm soát trong kế hoạch 10 năm từ 1962 đến 1972 của Mao, với kết quả dân số trội lên quá mức khoảng 350 triệu người! Mao Trạch Đông chỉ cần O.K “mặc-kệ” cho họ tha hồ đẻ; Rồi hoảng hốt, có một trường phái đề nghị nên bắt dân Tàu ngừa-thai kiểm soát sanh đẻ tối đa, để phòng ngừa nạn nhân mãn. Mao phán không cần phải lo “dân Tàu đẻ nhiều là nằm trong chủ trương có dự mưu” Khi lợi dụng sự khôn khéo về mậu dịch với tất cả các nước trên Thế-giới, kể cả hối lộ, lo lót hay cần tặng biếu không cũng được, miễn sao đưa người Tàu vào nước họ càng nhiều càng tốt, chú trọng nhứt là Phi Châu và phía nam lục địa Mỹ, riêng các nước khác chỉ cần đạt được trung bình 3% dân số người Hoa trong nước họ là được rồi. Lúc đó Ta sẽ năn-nỉ bất cứ siêu cường nào cùng ta nên giao chiến nguyên tử, người Tàu sẽ không chết hết và sẽ còn một số lớn tồn tại; Thế là theo vận hành của Thiên-Cơ Trung-Quốc thống lãnh Thế-giới! Bắc-Kinh không cần biết là Nga hay Mỹ suy nghĩ gì, và họ có liên minh với nhau để chống Bắc-Kinh hay không? Bề nào thì con đường duy nhất mà Bắc-Kinh phải đeo cũng vẫn là đánh đổ cả Mỹ lẫn Nga, và tiêu diệt luôn cả các Giáo-hội lớn như Hồi-giáo, Thiên-Chúa-giáo, và tiến tới bá chủ Thế-giới – Lúc nầy một nước Tàu biết nói tiếng Anh trên lục địa Mỹ với nguồn nước Ngũ-đại-hồ vô tân trong khi thế giới đang hạn-hán và mặt bằng của đất rất hiếm (xụp đỗ chày xuống đại dương)
        Vì những lý do mộng bá quyền trên đây nên Mỹ bằng mọi giá phãi triệt tiêu Trung Quốc trước năm 2030, khi đó TQ có đũ khoa học kỹ thuật đễ khoan dầu dưới độ sâu thềm lục địa có đá cứng như quần đảo Ðiếu-ngư và Hoàng Sa, làm sao Mỹ chịu nhục cho TQ dẵn đầu thế giới? Ðó là lý do 10 năm sau cùng của chiến lược Eurasian 1920-2020, Mỹ phải hoàn tất chia TQ ra nhiều tiểu quốc bằng mọi giá!
        Cũng như trong tài liệu mật đã khẳng định rằng: Mỹ rút khỏi Việt Nam là theo sự yêu cầu của Trung-Quốc qua Mao- Trạch-Đông? (Tôi nghĩ đây là do Đỉnh-cao trí-tuệ vẽ vời) Như trong tác phẩm nầy đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhu cầu cần thiết phải có chiến tranh cho Tư-bản phát triễn kỹ nghệ, xong công trình là tới giai đoạn họ cần nghĩ’ để tu chỉnh lại cho kỳ phát động chiến tranh tới; Vì thế đã đến giai đoạn họ cần rút, chỉ đơn giản là thế, chớ không phải là theo sự yêu cầu của Trung-Quốc (Chúng ta đừng tin vào tài liệu mật về câu nầy vì Tôi đã có những dẩn chứng khá rỏ rệt vì sao cần có CIP trong chiến tranh VN) Thế nên mặc dù Liên-Xô muốn cho Hoa-kỳ phải sa-lầy ở Việt-Nam, áp-lực không cho Hà-Nội ký hoà đàm Paris. Nhưng một khi Mỹ đã quyết định rồi thì họ lợi dụng ngay ưu thế mà họ đã cố ý ngụy-tạo dựng lên trước đó: “Vụ Vịnh Bắc-Việt” (Tonkin Gulf Incident) để giành thế thượng phong là: B.52 thả ngay Hà-Nội qua chiến dịch ‘Linebacker 2’ trong 11 ngày đêm là buộc Hà-Nội phải ngồi vào bàn Hội- Nghị ngay, Hà Nội không còn một trái Hoả-tiển SAM nào để chống trả? Còn như Trung-Quốc thì Họ dùng kế “Rung cây nhát khỉ” (shake the tree to scare monkeys) Ngày xa xưa lắm, khi mà mối tình nồng cháy giữa anh em hai nước lớn Cộng-Sản; Mao có lời thúc giục Liên-Xô nên thừa lúc trên chưn Hoa-kỳ về khoa học không gian mà tiêu diệt địch thủ lợi hại nhất Thế-giới, vì Mỹ là con Cọp Giấy nhưng Liên-Xô đáp lời: “Tuy là con Cọp giấy đấy, nhưng nó có nanh-vuốt nguyên tử!” Khi Hoa-kỳ đưa qua chiến trường Việt-Nam với quân số lên đến 543.500 (1969) quân thì Trung-Quốc muốn tè trong quần, nghĩ hối hận vì trước đó mình lỡ dại xúi Liên-Xô nên bây giờ nó đem quân qua chơi mình một mách! Mao-Trạch-Đông bèn nói một câu bâng-quơ: “Người không đụng đến Ta thì Ta không đụng đến ngươi!”
        Nhưng những đòn phép cũa Harriman là “như vậy nhưng không phải vậy,” đem qua nhiều quân như vậy là để “Hù-dọa” rồi rút quân về; Cũng như khi Harriman khuyên TT Truman đem Hạm- Đội 7 vào eo biển Đài-Loan nên Trung-Quốc không dám đụng tới Đài-Loan mà rút về thế thủ, và Hoa-Kỳ không những không muốn dùng lực lượng cực mạnh về nguyên tử để tiêu diệt Trung-Quốc mà còn cách chức Tư-Lệnh Chiến trường của Tướng Mc Arthur vì Arthur hiếu chiến và hiểu lầm ý nghĩ của Harriman, cũng như trong cuộc tháo chạy ở Việt-Nam, Đại-sứ Martin đã hiểu lầm ý nghĩ của Kissinger là thi hành những điều khoản của Hiệp định Paris. Chính-trị nó lắc-léo khó hiễu là vậy, cho nên trong tài liệu giải mật, nên suy nghĩ nhiều lần: “Hoa-Kỳ rút khỏi Việt-Nam là do sự yêu cầu của Trung-Quốc?” Có phải thật như vậy không!? Hay như Tôi đã nêu trên là: Đã đến lúc tới giai đoạn “Trồi lên để thở”
        Mao và Chu lại hiễu theo cách khác khi gặp Kissiger và Nixon (1972) Chu-An-Lai có lời khen TT Eisenhower là có hành động sáng suốt và can đảm khi đưa ra quyết định chấm dứt chiến tranh Triều-Tiên. Chu cũng bày tỏ quan điểm của Trung-Quốc thời bấy giờ, là sở dĩ Trung-Quốc phải đưa quân vào Triều-Tiên là kẹt vào thế bị ép buộc do TT Truman gây ra, vì ông ta đưa Hạm-Đội 7 đến phòng thủ Đài-Loan nên Trung-Quốc thời đó không thể thu hồi lại hòn đảo nầy được. Quân Mỹ lại tiến gần đến bờ sông Áp-Lục (Yalu-River) Trong khi Trung-Quốc đã ra tuyên bố nếu quân Mỹ mà tiến đến Sông Áp-Lục thì Trung-Quốc sẽ không ngồi yên cho dù Trung-Hoa lục địa mới được giải phóng; Vì thế khi TT Truman đưa quân đến Sông Áp-Lục, cho dù Trung- Quốc không chắc thắng và Liên-Xô nhất định không gỡi quân qua tham chiến, Trung-Quốc không còn chọn lựa nào khác phải nghênh chiến thôi.
        Nhưng trong thế Siêu-Chiến-Lược và phát triễn kỷ nghệ quốc phòng như để lại tại Triều-Tiên 50.000 quân và NSC-68 đã chấp thuận tăng ngân quỷ quốc phòng trong cuộc hợp ngày 28/11/1950 với danh ngôn: “US Objectives and Programs for National Security” xong mục tiêu đi đến thời kỳ phải ngưng chiến để kiểm kê kế-toán (inventory) theo cung cách làm ăn của Tư-Bản Mỹ là đều lập đi lập lại như vậy. Chúng ta đã từng chứng kiến nhiều lần trong quá khứ của lịch-sử, từ thế-chiến-1, rồi-2, Triều tiên, Việt Nam, Afghanistan, Iraq…mà cái lò thuốc súng đó đã xây dựng năm 1918 khi Prescott Bush được những thành viên Skull and Bones bầu làm Chủ tịch WIB (War Industries Board)

        Thế-Giới khó tránh khỏi thế chiến thứ Ba giữa Hoa-Kỳ và Trung-Quốc?
        Dường như thế Siêu-Chiến-Lược do Kiến trúc sư Harriman phát hoạ từ 21/9/1960, lúc nầy có xuất hiện phụ họa thêm Prescott Bush cùng đức con ‘Vua-Tình-báo’ là George H.W.Bush qua Hội-đồng NSC đã từ từ lộ ra dưới con mắt cũa chiến lược gia Trung-Quốc? Chuyến công du Á-Châu cũa TT Bush-Con vào cuối năm 2005 cho thấy Trung-Quốc không phải là mục tiêu chính của cuộc viếng thăm, với chỉ có tính cách xã giao, mà Mông-Cỗ mới là trọng điểm, một pháo đài mới của Mỹ ở Trung-Á. (Tới giờ nầy mới hiễu được thế siêu chiến lược của Harriman “không Mầy là Tao chớ không phải Nó” thì ông đã xuống chín tầng Hỏa-ngục ngày 26/July/1986) Thế chiến lược mới của Hoa-kỳ đã thấy rõ; Từ vòng vây vô hình càng ngày càng hiện rõ là vòng vây hữu hình bao chặt xung quanh Trung-Quốc; Nhưng những sự kiện nầy không thể tránh khỏi viễn kiến sâu sa của Mao Trạch-Đông, khi Ông cùng Chu-An-Lai từ tốn tuyên bố (1972): “Dù cho Trung- Quốc có phát triển kinh tế, muốn nhanh chóng hiện đại hóa các nghành công nghiệp nặng, Trung-Quốc không tự coi mình là một Cường-Quốc! Không ngoài mục đích để cho Hoa-Kỳ bớt chú tâm đến Trung-Quốc, và câu gợi ý về âm mưu của Liên-Xô cùng đồng lỏa với Mỹ vây chặt vòng tròn Trung-Quốc không khác gì những cục than hồng nóng bỏng bao vây trên miệng ổ Kiến lửa! Chu-An-Lai xác định lại lập trường mà Trung-Quốc cho là tối quan trọng, không những cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước mà còn cho tương lai của Thế-giới; Một khi hai bên đã thỏa thuận không có tham vọng chiếm đất đai, cũng không có tham vọng xâm lăng lẫn nhau, mà muốn giảm sự căng thẳng trên toàn Thế-giới, thì điều trước tiên là làm sao giảm tình trạng căng thẳng tại vùng Viễn-Đông, mà vấn đề Đông-Dương là vấn đề tối quan trọng! Nhưng sự thật bên trong Mao chỉ thị trong 10 năm phải tăng nhân số thêm 350 triệu và kế hoạch phân tán di dân giống như ổ Kiến làm đường hầm ra thật xa khỏi miệng tổ để tránh những cục than hồng bao chung quanh phía trên ổ Kiến, bung ra khắp cả trên Thế-giới, nước nào cũng có người Trung-Hoa tập trung thành khu phố, nhất là trên lục địa Mỹ-Châu, để chuẩn bị một cuộc chiến tranh nguyên-tử không thể nào tránh khỏi, đánh lạc hướng thế bao vây của Mỹ và Liên-Xô. Thành lập một nước Trung-Hoa nói tiếng Anh ngoài lục-địa Trung-Quốc để thống lãnh Thế-giới, sau cuộc chiến tranh nguyên tử thứ Ba sẽ phải xảy ra, dù phải hy sinh 1, tỉ 4 dân Tàu trong một nước Trung Hoa Củ tại Á-châu!
        Lịch-sử Thế-giới thường được xác định bởi quan hệ giữa các nước lớn, và lịch-sử của thế kỷ hiện tại cũng vậy; Hai Quốc-gia xác định hình thù của thế kỷ 21 là Hoa-kỳ, đương kim cường quốc và Trung-Quốc một sức mạnh đang vươn lên “long trời lở đất” mà bị một nước khác cố tình dìm xuống thì việc gì sẽ xảy ra? Trước Đại-tướng Chi-Hao Tian là Đại-Tướng Zhu Chenghu, Giải-Phóng quân Trung-Quốc, nhân vật đầy quyền lực.Tổng quân ủy ĐCSTQ tuyên bố một câu động trời: “người Mỹ sẽ phải chuẩn bị hàng trăm thành phố sẽ bị tàn phá bởi người Trung- Quốc (nguyên văn) Lẽ tất nhiên Chu Đại-tướng đưa ra lời động trời như trên không phải do Ông bốc đồng cao hứng. Tướng lãnh dưới chế độ CS không được phép nói năng lạng quạng như vậy
        Sau đó, bài nói chuyện dầy 10 trang, của Tướng Chi HaoTian mang tựa đề “chiến tranh sẽ xảy ra cho chúng ta không còn xa nữa”(The war is not far from us!) Bằng mọi giá khi Trung- Quốc bị Hoa-kỳ chèn-ép dồn vào sự khan hiếm năng lượng dầu hỏa như Quân Phiệt Nhật hồi năm 1941, thì phải bất thần khởi xuất phát động chiến tranh chốp nhoáng. Nếu Trung-Quốc không đánh Mỹ thì Mỹ cũng sẽ đánh Trung-Quốc do Trung-Quốc đụng vào cái huyệt-đạo của Nam Tây Bán Cầu, nơi mà từ xưa đến nay trong vòng ảnh hưởng sân sau an-toàn của Mỹ.
        Trung-Quốc bất thần tấn công Mỹ theo chiến thuật, “tấn công là cách phòng thủ tốt nhất” Trung- Quốc sẽ làm chủ con Đường Xa-lộ Trường-Sơn Tây của Việt-Nam, phối họp song song với Xa-lộ từ Côn-Minh qua Miến-Điện xuống tận Ấn-Độ-Dương mở đường xuống Đông-Nam-Á và làm chủ biển Đông. Ðồng thời từ căn-cứ Tàu ngầm nguyên tử từ Ðảo Hải-Nam, điểm xuất phát đường tiến sát qua Hoàng-Sa, Trường-Sa, các Lộ, Quân-đoàn xung kích gồm các Sư-đoàn Dù và TQLC thẳng tiến xuống eo biển Malacca, đánh phủ đầu tấn công xuống tận Úc-Châu và Tân-Tây-Lan. Các hỏa-tiển liên lục địa (tầm ngắn) từ các chiến hạm, cũng như từ tiềm thủy đĩnh thừa lúc hộ tống các tàu dầu khi băng ngang Kinh-đào Suez, cùng một lúc trên đất liền và phi thuyền không gian sẽ quét sạch vào Ngũ-Giác-Đài, vì Mỹ là kẻ thù cần tiêu diệt trước hết. Đồng thời để bảo toàn lực lượng chiến đấu, Trung-Quốc điều động 1 triệu quân thẳng xuống Việt-Nam án ngử để giữ làm con tin, chiếm ngay hải cảng Đà-Nẵng và Qui-Nhơn, rồi tràn xuống Úc-Châu, và tránh hỏa-tiển Hoa-kỳ trả đủa; 1 triệu quân sẽ tiến vào Mông-Cỗ đễ thống lãnh Âu-Châu và nữa triệu quân sẽ tiến vào Tây-Tạng để thống lãnh Trung-Đông. Sau đó, chỉ vài giờ tất cã các nước còn lại sẽ cúi đầu vâng lệnh Trung-Quốc; Như Đại- Tướng Trì Hạo Điền (Chi Hao Tian) cựu Bộ-trưởng Quốc-phòng Trung-Quốc công khai nói với dân Trung-Quốc: “Quả thật là tàn nhẩn khi phải giết một hai trăm triệu người Mỹ, nhưng đó là con đường duy nhứt bảo đảm cho chúng ta mở ra một thế-kỷ của người Trung Hoa, một thế kỷ trong đó Ðảng Cộng Sản Trung Quốc lảnh đạo thế giới!” (toàn văn từ bản dịch Hoa ngữ) Chúng ta cũng nên hiễu rằng, lời phát ngôn của Tướng Chi Hao Tian không phải là tự ý Ông nỗi hứng nói lên, mà đó là câu nói của Bộ Chính Trị, ĐCSTQ, theo như cách làm việc của họ. Dĩ nhiên sau đó Chi Hao Tian bị cách chức để xoa dịu dư luận Thế-giới
        Trong một bài báo nói tràng giang đại hải trên internet cho biết chủ trương của Đảng CSTQ là “dùng phương tiện đặc biệt để quét sạch Hoa-Kỳ” hầu lập một nước Trung-Hoa trên đất Mỹ…ngay sau khi tiêu diệt Hoa-kỳ…Tướng Chi Hao Tian tiếp: “…thì các nước Tây phương ở Âu-Châu sẽ cúi đầu trước chúng ta, không kể Đài-Loan, Nhật-Bản và những nước nhỏ khác. Vì vậy, giải quyết vấn đề Hoa-kỳ là sứ mệnh lịch-sử chỉ định cho các đảng viên CSTQ Chủ trương của Đảng CSTQ là tập trung các loại vỏ khí nguyên tử để quét sạch Hoa-kỳ một cách bất ngờ trong nháy mắt…Giải quyết vấn đề Hoa-kỳ là chuyện căn bản đễ giải quyết tất cả những vấn đề khác; Đã đến kỷ nguyên, thời điểm Trung-Quốc thống lãnh Thế-giới!” Trung-Quốc thừa khôn ngoan, họ sẽ không bao giờ tấn công Đài-Loan để tiêu diệt chủng-tộc Hán mà Hoa-kỳ mới là mục tiêu tối thượng; “Nên nhớ rằng người Trung-Hoa sẽ không bao giờ tiêu diệt chủng-tộc Hán”
        Dùng phương tiện đặc biệt để quét sạch Hoa-kỳ là gì!? Có lẽ Họ sẽ dùng các loại hỏa-tiển tầm trung MRBM, bắn xa từ 1,000 đến 3,000 miles, có gắn đầu đạn nguyên tử chuyên chở bởi các tàu lặn nguyên tử, theo hộ tống các tàu Dầu của Trung-Quốc qua kinh đào Panama, và bỗng chốc trong nháy mắt tấn công vào bộ đầu nảo Pentagon của Hoa Kỳ, từ các vùng biển cận Nam- Mỹ? Ðồng loạt các phi thuyền không gian sẽ phóng xuống vô số hỏa-tiển trực thẳng vào nước Mỹ hoà nhịp với các chiến hạm trên Thái-Bình-Dương
        Một điều mà Hoa-kỳ đang lo ngại là từ xưa tới nay sân sau Hoa-kỳ không ai động đến Nhưng đổi lại, ngày nay Trung-Quốc lại chơi cái trò ‘triều cống’ và ‘điếu-đóm’ qua kế hoạch ‘vết dầu loan’đến các nước Nam-Mỷ như Ba-Tây (Brasil) Argentina, Peru, Chile, Venezuela…
        Địa vị Trung-Quốc càng ngày càng lớn và lan rộng ở sân sau Hoa-kỳ, có sự ủng hộ nhiệt tình của Cuba, Venezuela trở thành tiền đồn bành trướng của Trung-Quốc ở Tây-Bán-Cầu, Vancouver biến thành một Thượng-Hải ở Miền-Tây Canada, còn Toronto trở thành một Hồng-Kông ở trung tâm Canada. Hoa-kỳ đang bị thương trường của Trung-Quốc lấn ngay tại huyệt đạo ở Nam-Mỹ, đẩy lùi, hoá giải thế bao vây vô hình cũng như hữu hình của Harriman và Nhóm học-giả Dân sự; Nói trắng ra Trung-Quốc dùng “Thương trường” đánh gục Mỹ thay vì trên “Chiến trường” Cho đến một ngày nào đó, sau hàng loạt con người mang Bom tự sát, rồi các Toán, các Nhóm tự sát để sau cùng cả một nước tự sát, thì lúc nầy mới thật sự là một nước “Trung-Hoa Mới” ngoài nước Trung-Hoa là duy nhất một “Siêu-cường” độc đáo của nhân loại. Biết đâu lúc nầy Dân-tộc Bách Việt sẽ trở lại địa vị của mình thống lãnh Á-Châu như từ thời thủy tổ cách đây 7.000 năm do sự khôn ngoan của hậu sanh khả quý?
        Ngày xưa, TT Theodor Roosevelt bị khiêu khích bởi những nhóm loạn quân ở Trung Nam- Mỹ thì ông chủ trương là nước Mỹ nên cầm trong tay một cây gậy thật to trong khi ăn nói mềm dẽo (speak softly and carry a big stick) nghĩa là tiên lễ hậu binh. Hoa-Kỳ sẽ sẳn-sàng ra tay hành động nếu thuyết phục không xong. Chiến thuật nầy được gọi là “Gun-boat diplomacy”, mỗi khi có chuyện lộn xộn ở Trung Nam Mỹ là TT Mỹ ra lệnh cho Thũy-Quân Lục-Chiến đổ bộ và can thiệp mau lẹ để dẹp loạn như ở Dominican Republic, Grenada, Panama, Guatemala…Điều bất lợi là chính sách nầy sẽ khiến cho một số nước lo ngại là quân đội Mỹ sẽ trở thành một thứ cảnh sát Quốc-Tế, đơn phương hành động trên thế giới theo kiểu đàn-áp thô bạo để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của nước Mỹ bị đe doạ dù là thiệt hay giả. Nhưng ngày hôm nay thì thấy Mỹ đã bị yếu thế ngay tại sân sau nhà của mình, mà anh chàng Trung-Quốc đã ngang nhiên xé rào chường mặt tới
        Ngay trong cuộc Hội-Nghị Thượng Đĩnh các nước Tây Bán Cầu, thì Hugo Chavez rời hội nghị đến vận động trường khích động và dẫn đầu cuộc biễu tình đầy sát khí. Chavez trở thành anh hùng, được hoan hô cuồng nhiệt như ông thánh sống cứu tinh của những nước Nam-Mỹ; với lời hứa hẹn sẽ chôn vùi chủ-nghĩa Tư-bản kiểu Mỹ trên khắp Châu-Mỹ La-Tinh. Chavez cho rằng: “Tự do mậu dịch là một loại Ðế-quốc kinh tế mà Hoa-kỳ trùm lên đầu các nước nghèo, để thống trị theo kiễu đế quốc kinh tế Mỹ!” Venezuela giàu có nhờ dầu hõa, nhờ vậy, với 26, 5 triệu dân, tổng sản lượng Quốc-gia GDP lên đến 110 tỷ đô-la, lợi tức đầu người là 4,140 đô-la; Cho nên Chavez không sợ Mỹ: dọa cúp sản xuất dầu qua Mỹ và giành ưu tiên độc nhất cho Trung-Quốc nhập cảng dầu của Venezuela. Cho nên khó khăn không phải là nhỏ cho Hoa-kỳ giữa một Chavez càng ngày càng hung-hăng đe-dọa, ông ta thề đánh gục Đế-quốc kinh tế Mỹ ở tại Tây Bán Cầu
        Chiến lược của Mao-Trạch-Đông là: dựng một nước Tàu vĩ đại ngoài nước Tàu để không những chống lại thế bao vây Trung-Quốc của Mỹ mà còn áp đặt Mỹ phải trỡ về thế phòng thủ và co cụm (có phải vì thế mà hiện nỗi lên nhân vật Dick.Cheney và Nhóm học-giả mới để thay đổi thế siêu chiến lược quá lỗi thời của Harriman? Chúng ta trông ngóng để chào mừng kết quả của các chiến lược gia Hoa-kỳ, thiên tài tái thế của thế hệ trẻ ra đời! Nhưng theo cá nhân tôi nghĩ sẽ không bao giờ xảy ra với cái Nhóm Dầu-Hỏa đầy vị-kỷ của Dich Cheney và Bushes cùng Tham mưu Donald Rumsfeld và Lewis Libby)

        Để đối phó với tình hình đã đến hồi gay cấn quyết liệt, Hoa- Kỳ với bất cứ giá nào cũng phải giành lại quyền khống chế kinh-đào Panama
        Ngày 31/December/1999, Hoa Kỳ đã chuyễn quyền sở hữu kinh đào cho chính quyền Panama Sáu năm sau, ngày 8/November/2005, TT George Bush trở lại thăm kinh đào, sau khi dự Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-châu, ở Argentina, TT Bush cùng TT Panama, Martin Torrijo dạo trên cầu tàu dọc theo kinh đào ở cầu Miraflores. Hoa Kỳ sẽ yểm trợ ngân khoản 10 tỷ để canh tân kinh đào, TT Bush nhấn mạnh, đây là kinh đào Quốc-tế, mọi nước đều có quyền xử dụng như nhau, gọi là “equal access”.
        Mưu-sự nhẹ nhàng trước mắt là tại sân nhà Trung-Quốc phải làm chủ biển Đông, sự lắc-léo, hay là cái bẫy mà ngày 19/Janvier/1974, Kissinger ẩm-ờ làm bộ “bật đèn Xanh” qua tin nơi hành lang, giao miếng mồi béo-bở mà Trung-Quốc thèm đến chảy nước miếng về sự chiếm lỉnh chùm đảo chiến-lược Hoàng Sa của Việt Nam, gây ra sự hư hại cũa 4 chiến hạm VNCH, thiệt mạng 18 binh sỉ, bị thương 43 và bị bắt 48. Trung Cộng chiếm lĩnh Hoàng-Sa, kiễm soát đường giao thông quốc tế Đông-Tây, và sẽ đánh bật Hoa-kỳ ra khỏi ĐNÁ và TBD! Hay buộc phải va-chạm với Mỹ và các nước đàn em của Mỹ trong đó Việt-Nam và Phi luật tân sẽ là mũi nhọn phối hợp hải chiến …rồi Trung Quốc lâm vào cảnh tự sát? Trước đó cả thập niên, khi Đế-quốc Liên-Xô tự giải thể, tan rã, vỡ ra thành từng mãnh; Tại sao Bắc-Kinh không làm nhanh, làm mạnh, làm ẩu đúng lúc ngay khi Khối Liên-Xô tan rả với tình trạng nội bộ hỗn loạn, hoang mang vô trật tự, thì Họ có thể tràn lên chiếm Tây-Bá-Lợi-Á! Và 5 tiểu bang phía Nam của Nga với dân tộc gốc người Tàu từ Trung-Hoa tràn sang vào thế kỷ thứ 13 cùng với đại quân Mông-Cỗ? Vấn đề quan trọng là Bắc-Kinh không biết tổ chức chiến dịch hành quân, không có khả năng dùng đường lối hành động sắc bén, thần tốc, cũng như không biết lợi dụng tình thế chiến lược vô cùng thuận lợi cho Bắc-Kinh. Chứng tỏ Bắc-kinh, từ Đặng Tiễu Bình xuống đến chính quyền Bắc-Kinh hiện nay, hoàn toàn không có chiến lược gia nào thuộc loại tài ba, xuất chúng; Tài động binh hạng chót-bẹt như vậy mà đòi đánh gục Hoa-kỳ để làm bá chủ toàn cầu.
        Nói được mà làm có được không! Thế giới và nhất là Mỹ có chịu ngồi khoanh tay chờ Trung-Quốc tấn công bằng nguyên tử trước rồi mới phản ứng sau… như vậy thì quá trễ vào kỷ nguyên nầy? Thật sự Trung-Quốc đã thành một Siêu cường, Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố từ Hà-Nội: Tự đề cao Trung-Quốc là đang lên đến đĩnh cao phát triễn “long trời lỡ đất” Các báo chí trên thế giới khuyên Hoa-kỳ nên xem Trung-Quốc là một cơ hội chớ đừng coi là mối đe dọa; Nhưng lại đi đến kết luận rằng nếu ta nghiên cứu vào lịch-sử thì thấy rằng đại cường mà Mỹ có một ngày phải đụng độ lại là đại cường Trung-Quốc đang vươn lên
        Lịch-sử đã chứng minh không chỉ một thời gian ngắn mà Mỹ ngoi lên đĩnh cao siêu cường của Thế-giới; Sự hùng mạnh đó là một tiến trình trải qua hàng trăm năm, khi hạm đội Hoa-kỳ trở thành sức mạnh ở Địa Trung-Hải, đánh tan lũ hải tặc hoành-hành trong vùng mà thường là lũ hải tặc là bọn người Hồi-giáo. Sau khi bình định con đường biển huyết mạch, rồi cứ như diều gặp gió, Hoa-kỳ cùng Anh tìm ra dầu lửa ở Iran, Iraq rồi Saudi-Arabia….Lấy đà vào đầu thế kỷ 20 Hoa-kỳ đã bành trướng tới khắp biển Thái-Bình-Dương (có lẽ người xưa đã nghi ngờ nơi đây sẽ là ngòi nỗ xảy ra “tận thế” cho nên đặt cho cái tên là biển ‘Thái-Bình’ trái ngược chăng?) từ Hawai đến Wake,Guam, Samoa….Còn Trung-Quốc ngày nay phát triễn nhanh quá như đôi hia ngàn dậm, bắt đầu tranh lấn trên “thương trường” khắp Thế-giới bằng cách làm ăn theo phương cách cạnh-tranh với giá rẻ mạt. Kết quả, kinh-tế các nước trên Thế-giới đã bắt đầu rên xiết vì người dân nước họ thích chử mua đồ Sale hay mua đồ tiêu-dùng rẽ tiền mà Trung-Quốc đang phát triễn rất hấp dẵn đối với họ.
        Tuy nhiên, Con-Rồng Đõ đang chới với, vì uống dầu, hít khí đốt, ăn than, như Voi ăn lá Tre thì biết bao nhiêu cho đủ. Sau Mỹ, Trung-Quốc là nước thứ Hai tiêu thụ nhiên liệu nhiều nhất trên Thế-giới cho nên dưới thềm lục địa từ đảo Điếu Ngư dài xuống Hoàng-Sa, Trường-Sa chạy tận xuống chùm đảo Indonesia là miếng mồi gần nhất và béo bở nhất, mà Trung-Quốc cần tử tế, lịch sự mời Mỹ rời khỏi nơi đó đễ Trung-Quốc không buộc phải dùng võ lực tiêu diệt từ gốc rễ, qua lời hù dọa thách thức của các Tướng Tàu như đã nêu trên. Trung-Quốc đang lửng-lờ dùng từ tiên- lễ hậu-binh; Đổi lại, phản ứng của Hoa-kỳ: “Chúng tôi đã ở đây từ cuối thế kỷ 19, chúng tôi vẫn tiếp tục ở đây, hôm nay, ngày mai và mãi-mãi. Còn đối với những nước ở vùng Thái-Bình-Dương nầy, chúng tôi bày tỏ sự cam kết vững chắc keo sơn của Hoa-kỳ đối với họ dưới sức mạnh và quyền lực tuyệt đối của chúng tôi! Trung-Quốc nghe hiểu câu nầy nên tạm thời co mình chùng lại
        Sau các chuyến bay gián điệp từ Tây-Tạng dọc biên giới Miến-Điện của Đại-Tá Harry- Aderholt từ đầu năm 1960 cho đến nay làm một vòng rào cãng ở phía Nam và Tây-Nam của Trung-Quốc, bằng cách tiếp tế cho các kháng chiến quân ủng hộ Đức Đạt Lai, và ngày nay đang hâm nóng lại làm Bắc-Kinh đau đầu! còn phía Đông thì có đồng minh son sắc của Mỹ, nên mới đây, Hoa-Kỳ cần nghĩ đến hướng Bắc của Trung-Quốc qua sự viếng thăm nước Mông-Cỗ lần đầu tiên cũa một vị Tổng-thống Mỹ (Bush Con) Nước Mỹ thường thích chử “danh chính ngôn thuận” nên đặt cho cái tên cuộc viếng thăm nầy là: “cám-ơn” Mông-Cỗ đã gỡi 160 quân qua Iraq chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ. Lẽ dĩ nhiên cuộc viếng thăm của TT Bush làm cho Bắc-Kinh vô cùng khó chịu nếu không muốn nói đến rất hoảng-hốt cho tương lai nước Tàu sẽ bị chia năm xẻ bẩy đúng theo kế hoạch của Nhóm Học Giả Harriman hồi 1950’ “Rồi đây!...sẽ không có nước nào dân số trên 200 triệu dân, ngoại trừ Mỹ!” với chiêu bài “Dân-quyền, Dân-chủ” rộng khắp Thế-giới, bắt nguồn dùng chiến tranh Việt-Nam làm thí điểm mô-hình kiểu mẫu sẽ lan dần ra khắp Thế-giới như vết dầu loang, để cho Thế-giới sẽ chiêm ngưỡng nước Mỹ như một ngọn hải đăng cần thiết trong đêm tối mờ mịch, hàm ý buộc Miến điện và Bắc Hàn nên noi gương Việt Nam để được tồn tại trong thịnh vượng..
        Vì Liên-Xô là Đế-quốc Cộng-Sản sừng-sõ nhứt, theo thế chiến lược Eurasian, Hoa-kỳ phải đặt ưu tiên chia nó trước hết, cũng không khác gì khi ăn Trái ‘Soài-Riêng’ phải tét võ là điều khó nhất mà Hoa-kỳ đã làm xong 1991, qua sách-lược “Bênh Kẻ Mạnh” cùng sự ngụy tạo chiến lược là ‘Tháo-Chạy’ tại Việt-Nam. Nhưng thật ra các kỹ nghệ Tư-bản thuộc bộ máy chiến tranh cần nghĩ qua một chu-kỳ khá dài gọi là Inventory, sau khi thu-nhập quá nhiều lợi nhuận; Nếu như muốn thắng cuộc chiến tại VN, Hoa Kỳ cứ rút bình thường (1973) nhưng giao đầu nổ (warhead) cho KQ Miền Nam thả loại Bom CBU.55 và dùng EC.130B bắn đạn 106 ly tầm nhiệt tiêu diệt chiến xa (xe máy nỗ) thì không còn con người và chiến cụ nào chạy vào tới Miền Nam; nhưng đó là không được rồi, vì đi ngược lại với thế siêu chiến lược của Harrimam và Nhóm Học Giả của ông George Kennan. Nhưng, ngạc nhiên thay! 1995 khi thiết lập ban giao với Hà-Nội, phái đoàn Mỹ qua Việt Nam tưng bóc vì VN đã giúp họ thành công trên trục lộ đồ chiến lược toàn cầu, hàm ý gọi là “thán phục cuộc chiến đấu ngoan cường, thần thánh của người Việt!” (Ý muốn tôn vinh Cụ HCM là người quốc gia thực tâm muốn thống nhứt đất nước nhưng bị Mỹ (Permanent Government) phãn bội vì cần khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi nên buộc phải cách ly trở ngại chính là HCM. Trục ma-quỹ CIA và KGB phối hợp đưa siêu Mafia bằng công-cụ Lê Ðức Thọ, Mai Chí Thọ, và Lê Duẩn, tam đầu chế nầy nắm chặc guồng máy “Mafia-trị” chuyên chế bằng lớp sơn bên ngoài với danh nghĩa Cộng Sản trị: “The Hanoi leadership was like an Asian version of Skull and Bones (U.S) secretive and select. While US Permanent Government was not exactly in the club, she was generally trusted by its members”
        Sau Việt-Nam, hay sau một chu-kỳ nghĩ ngơi kết toán sỗ sách (inventory) mà thế-giới cứ nghĩ rằng Hoa-Kỳ đang yếu thế co cụm. Nhóm Tư-bản của bộ máy chiến tranh tìm cách phát triễn lại kỹ nghệ chiến tranh qua chủ đề khác‘Siêu Kỹ-thuật’ trong thập niên 80 mươi, hay nói theo kiễu khác, họ cho rằng: “Tại sao phải chạy đua vũ trang?” Chạy đua thì có lúc người nầy qua mặt người kia hay ngược lại. Tập đoàn tài phiệt Đại Tư-bản do Đại-đế-II giấu mặt George H.W Bush trị vì [dù ở ngôi vị Phó tổng thống] đã đồng lòng đầu tư hết vốn liếng vào cuộc thí nghiệm vũ khí siêu kỹ thuật (hi-tech) mục đích bỏ xa Liên-Xô gần vài thập niên. Trên Thế-giới sẽ không còn nghe lải-nhãi danh từ “chạy đua vủ trang” nữa, Họ cũng rất sợ sự hung-ác của Cộng-Sản khi nắm vận mệnh thế-giới, vì “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” nên Tư-bản Mỹ đành phải trút hết hầu-bao ra cho mục tiêu phát triển vũ khí tối-tân bỏ xa đối thủ rồi từ từ hốt lại dollar sau đó. Ðồng Ðôla có chạy lẩn quẩn đâu đó cũng trở về hầu bao của đại cồ tư bản Mỹ
        Năm 1983, sau khi phóng thành công phi thuyền con thoi (Space Shuttle) TT Ronald Reagan tuyên bố: “người Cộng-Sản đang giỡ những trang sử kinh-thánh nhựt tụng cuối cùng của họ” nhưng có ai biết đâu nhờ vào tài-ba của người Phó TT (George H W Bush) Lùi lại năm 1968, sau khi dùng chiến tranh khí tượng (weather-weaponry) phá hoại nông nghiệp chuyên trồng Mía làm đường và hoa màu của Cuba, để cho một nước Cộng-Sản của Tây Bán Cầu phải nghèo xơ nghèo xác, hầu dằn mặt các nước theo Cộng-Sản. Rồi tới phiên Liên-Xô, một mặt buộc Nga-Cộng phải leo thang thi đua với Hoa-kỳ trong trò chơi chiến tranh NLF nêu trên, càng tăng thêm việc chế tạo những vũ khí về chiến tranh làm người dân Nga đói khổ và dồn bọn Cộng-Sản Nga buộc phải rời bỏ chính quyền. Nhưng chủ tâm trong bụng dạ của Harriman cũng chỉ muốn, Nga là nước siêu cường hạng-2 nhưng phải dưới cơ của Mỷ, và bị ràng buộc cũng như lệ thuộc vào lúa mì của Mỹ và Canada. Còn Trung-Quốc là kẻ thù tiềm tàng, vì địa lý giống Mỹ mà dân số gấp 6 lần, khó áp đảo và rất nguy hiễm cho ngôi vị thống lãnh toàn cầu của Mỹ. Đặc biệt Hoa-kỳ không dám dùng chiến tranh khí tượng đối với Trung-Quốc, ví không ai dại gì lấy cây tâm xĩa răng soi vào ổ Kiến-Lửa.
        Trong ba mùa liên tiếp (1968-1970) dùng chiến tranh khí tượng (weather weaponry) Liên-Xô thường xuyên mất mùa, thiếu lương thực trầm trọng và triền miên vào những năm nầy qua năm khác, phải nhập cảng hằng mấy chục triệu tấn lương thực mễ cốc từ Mỹ và Canada; Mùa Đông ở Liên-Xô khởi đầu từ cuối tháng October, trời bắt đầu trở lạnh, nhưng hạt lúa mì vẫn tăng trưởng cho đến khi chín hẳn vào tháng December; Khi mùa Đông đến, tuyết phủ trắng cả cánh đồng và các bông lúa được mặc một lớp áo tuyết xớp không bao giờ lạnh dưới 0 độC; Trong lớp áo tuyết bông lúa vẫn tăng trưởng rồi chín cho kịp mùa gặt vào tháng December, để kịp thời thu hoạch nuôi sống người dân Nga. Nhưng mùa Đông năm 1970, hoàn toàn giá lạnh và không có tuyết; Độ lạnh mau chống sụt xuống dưới -5 độ hay -10 độ âm (độ C) khiến hạt lúa băng giá rồi đông lạnh (frozen) tê liệt chết cống không tăng trưởng. Khi thời tiết vụt thay đỗi hay tuyết rơi, hoặc khí hậu ấm hẵn lên thì bông lúa tan đá và úng-thối. Thành thử người nông dân Nga chỉ cần nhìn tuyết rơi, nếu không có tuyết trắng cánh đồng, thì cầm chắc là mất mùa và chịu đói rét; Cũng vào năm ấy 1970, nước Nga thiếu 20 triệu tấn lúa mì và 20 triệu tấn khoai tây và yêu cầu Mỹ và Canada cấp cứu khẩn cấp. Chính nạn thiếu lương thực nầy đã làm cho người Nga tỉnh mộng “Cộng-Sản hóa toàn cầu bằng chiến tranh giải phóng (NLF) quả thật đã thất bại” Cũng cái mốc từ năm 1970 trở đi, người Nga bắt đầu nhìn thấy một thực tế chiến lược khá phủ phàng. Bọn CS Quốc-tế ở các nước chỉ là một lủ ngu dốt bịp-bợm, khoác lác, dối trá, ăn hại và chỉ bám vào sức mạnh chiến tranh của Liên-Xô để hống hách, dọa nạt và xâm lăng toàn Thế-giới.
        Muốn giải quyết chiến tranh mà không cần tàn phá hay đỗ máu, bằng cách nào và bằng cái gì từ vệ tinh bay cùng tốc độ với trái dất (stationed spy satellite project) hay phi thuyền bắn tỏa xuống hàn-âm-khí để làm cho mùa Đông giá lạnh ở Liên-Xô hoàn toàn khô ráo, không ẩm ướt nghĩa là không có tuyết có nước…đây có thể là một trong nhiều bí mật chiến tranh siêu vũ khí của Mỹ (hi-tech) mà không tài nào phát hiện nổi! Vì do vấn đề thiếu lương thực trầm trọng, người Nga hiễu rằng nếu đánh nhau với Mỹ thì thua và chết hết. Trung-Cộng sẽ tràn lên tiến chiếm Tây-Bá-Lợi-Á phì nhiêu đầy tài nguyên thiên nhiên chưa từng được khai thác, Harriman cũng hiễu rằng nếu đánh nhau với Liên-Xô thì hầu như cả Thế-giới sẽ chết hết, chỉ còn người Tàu làm bá chủ Thế-giới. Nga Mỹ tính toán chiến lược thế nào thì vẫn nhìn thấy Trung-Quốc là kẽ thù chung của cả Nga lẫn Mỹ, Nó nằm chình ình ra đó trước mắt. Vậy tốt nhất là áp dụng biện pháp Tam-Quốc-Chí tân thời của Tàu, là Nga và Mỹ cùng bắt tay hợp tác, cùng tiêu diệt Trung-Quốc để trừ hậu hoạn, đó là lý do chiến lược gia có tầm cở quốc-tế như W.A.Harriman phải viết cho ra hai tác-phẩm: Liên Xô và Hoa kỳ xiết tay nắm giữ an toàn cho vận-mệnh thế giới (Cuốn “Peace with Russia 1959” và “America and Russia in a Changing world 1971,”nếu đọc giả nào xem bài tóm gọn nầy mà nghĩ “Biết được là chết liền” thì nên mua trên Internet 2 cuốn sách nêu trên và chêm. thêm một cuốn “The Wise-Men” Six friends and the world they made, do đồng 2 tác giả: Walter Isaacson và Evan Thomas phãi để trong tũ sắt đợi ngày Harriman xuống 9 tầng hoả ngục mới cho phát hành 1986)
        Khi cần phải giải thể chế độ CS, Đế-quốc Liên-Xô để cứu nước Nga thì người dân Nga làm một cái rụp, và chỉ cần qua một đêm là thế giới thoát khỏi chiến tranh lạnh và hiễm họa chiến tranh nguyên tử. Còn CS Trung-Quốc thì mãi đến năm 2003 mới chịu công khai giải thể Cộng- Sản nhưng chỉ còn chế độ Tư-Bản Đỏ với chủ trương “Đế-quốc bành trướng công an trị” mà Mỹ cho là siêu Mafia rất nguy hiểm cho sư bình an của thế giới
        Để bảo đảm vững chắc, lâu dài vị thế bá chủ của mình trong viễn cảnh siêu chiến lược toàn cầu, kể từ khi Liên-Xô hoàn toàn lui về vị thế thủ và chấm dứt chiến tranh lạnh, Hoa-kỳ đang trên đà phát triển “Dân chủ hóa” và “Kinh tế thị trường” Những đời Tổng-thống vừa qua cũng phải đi theo con đường mà Siêu-Chánh-Phủ (Nhóm Đại Tư-Bản) đã vạch sẵn, và ‘siêu-chiến-lược’ nầy được xem như phương cách duy nhất để bảo đảm bền vững và lâu dài chính sách của Hoa-kỳ (1920-2020).
        Đặc biệt với Trung-Quốc, đứng trên quan điễm chính thức của Hoa-kỳ là hoan nghênh sự phát triễn thịnh vượng của một nước Trung-Quốc hiếu hòa để trở thành một nhân tố tích cực vì lợi ích trong cộng đồng thế-giới; Thực ra trong thâm tâm, Trung-Quốc rất thèm khát như vậy, cho nên trong chiến tranh chống khũng bố mà Hoa-kỳ phát động từ ngày 11/Sept/2,001, Trung-Quốc đã có một vài đóng góp tích cực để làm hài lòng Hoa-kỳ. Tuy nhiên kể từ khi Hoa-kỳ tung ra chiến lược ‘đánh phủ đầu’ và tấn công Iraq thì Trung-Quốc bắt đầu lo sợ nguy hại đến quyền lợi của mình (mà thật đúng như vậy, vì ngôi vị hạng-2 đã đến thời điễm (decent interval) phãi bị chính Mỹ hạ bệ) Thêm vào đó Trung-Quốc cũng tự cảm nhận rằng, mặc dù ngày nay hai nước liên hệ chặt chẻ với nhau về mặt kinh tế nhưng chưa bao giờ Hoa-kỳ ngỏ lời với Trung-Quốc như một đối tác chính trị để cùng gìn-giữ hoà bình thế-giới; cũng như VN về mặt ngoại giao Hoa Kỳ lờ lững để cho các lảnh tụ VN phải len-lén đi vào ngã sau, thay vì Mỹ có thể làm rào cãng 500 thước là lảnh tụ VN có thể vào ngả trước, cho chúng ta thấy rõ một nước VNCH đang lần lần hiện rỏ ra trước 2023 đễ phục hồi danh dự cho VNCH và rửa mặt 58.000 binh sĩ đã hy sinh cho dân quyền dân chũ VN.
        Hiện rỏ từ ngày Hoa-kỳ thành lập “Bộ Tư-Lệnh Thái-Bình-Dương”PACOM (có sỉ quan Việt Nam tu nghiệp phối hợp quân-sự tại Hawai) đã khiến cho những nhà lãnh đạo Trung-Quốc giật mình và đoán chắc trong suy nghĩ kiên định: là Quốc-gia họ đang bị bao vây và có nguy cơ bị tấn công bất cứ lúc nào bởi một đối thủ đã từng thất tín với đồng minh, mà lại có tìm năng nguyên tử mạnh nhất thế-giới và những phản ứng cực kỳ nguy hiễm trong nháy mắt có thể hũy diệt thế-giới mà chắc chắn Trung-Quốc không kịp đối phó để ngăn chận.
        Sau chiến tranh lạnh, thế chiến lược quân sự của Hoa-kỳ tại Thái-Bình-Dương và trên thế giới đã hoàn toàn thay đỗi, Hệ thống quân sự đó là Bộ Chỉ-Huy Thái-Bình-Dương PACOM được dựng lên để đương đầu với những chuyễn biến chính trị và quân sự bất thần xãy ra, có thể làm tổn hại đến thế quân bình lực lượng trong vùng. Và đây là trọng tâm chiến lược của Hoa-Kỳ trên toàn thế giới; Nó đặt trụ sở tại Honolulu, nơi mà nhiều năm nay, các Sĩ-quan Việt Nam (CSVN) do kế hoạch chiến lược của kiến trúc sư Harriman đã thiết kế ‘CIP-1960’bằng định kiến-1 (để CS chiếm Miền-Nam rồi Việt-Nam sẽ được vỉnh viễn miển nhiễm Cộng-Sản, như là mủi thuốc tiêm ngừa, Communist-Vaccination for immunization” hay nói trắng ra là Việt-Nam sẽ là một nước VNCH nguyên vẹn lớn hơn cho quyền lợi Mỹ. Nhưng việc nầy còn quá sớm chưa xảy ra (Mỹ và Trung-Quốc chưa đụng độ phãi đợi 10 năm cuối cùng cũa 1920-2020 là từ 2010-2020) nên cuốn sách “The New Legion” nầy đả không chứng minh đi đúng thời cuộc mà lại quá sớm theo như sự diển tiến hòa bình từ từ nhưng khá phức tạp của Hoa-Kỳ, và theo sau đó là “Món nợ Hội-Chứng Việt-Nam vẩn còn đó chưa giải quyết được” Nhưng sẽ giải quyết được khi Hoa Kỳ ăn-mừng 50 năm chiến tranh Việt Nam vào 2.023 (1973-2023) lúc nầy đối với Việt Nam phải mang ơn Hoa kỳ có công xây dựng thống nhứt thành Một VNCH trong khi Trung Cộng và Liên Xô đã đồng ý chia đôi qua Hiệp định Genève 1954 chỉ riêng có một mình Mỹ không có chử ký, nhưng Mỷ chỉ có duy nhứt nhìn nhận Miền Nam có hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa đã thành văn trong nội-quy Hiệp định Genève-54.
        Sĩ-quan VN Mới nầy cũng được gởi sang đễ thụ huấn binh pháp và chiến lược của Hoa-kỳ để sau nầy khi cần phải phối hợp hành quân liên minh với PACOM hầu thu-hồi lại Đảo Hoàng-Sa và Trường Sa. PACOM là Bộ Chỉ Huy quan trọng nhất trong các Bộ chỉ huy quân sự Hoa-Kỳ. Nó có nguồn gốc từ chiến tranh Phi Luật-Tân (1899-1902) là lúc mà quân đội Hoa-kỳ có những đơn vị hùng hậu chiếm đóng tại vùng biển nầy. Ngày nay vùng kiểm soát của PACOM trải dài từ bờ biễn miền Đông Phi-Châu đến vòng-đai Thái-Bình-Dương, bao trùm nữa diện tích địa cầu và kiễm soát hơn nữa tiềm năng kinh tế của Thế-giới; Gần như toàn bộ Hải-lực và những Binh-đoàn thiện chiến nhất của Hoa-kỳ đều đang tập trung tại vùng do PACOM kiểm soát điều hành.
        Nhưng có một điều quan ngại là hai lực lượng mạnh nhất đang tập trung tại vùng do PACOM trách nhiệm. Đó là hai lực-lượng của Hoa-kỳ và lực lượng của Trung-Quốc, cả hai đang thi đua hiện đại hóa quân sự về mọi mặt; Vì không thễ ngồi khoanh tay chờ đối phương tiêu diệt bằng chiến tranh nguyên tử nên Trung-Quốc đưa ra vài Tướng lãnh ‘cò-mồi’ tuyên bố hù-dọa bành trướng lấn-áp ngôi vị bá chủ của Hoa-kỳ. Như năm 1972, Mao đã cho Nixon và Kissinger biết vài thập niên sau Thái-Bình-Dương là ngòi nỗ của thế chiến, Mao Trạch-Đông cũng thừa bản lãnh để lấy chiếc lá Tre che con ngươi màu xanh của Đế-quốc Mỹ để không còn thấy được ngọn núi Thái-Sơn ở trước mặt. Có nghĩa chúng ta sẽ dùng mưu chước mà chĩ cần một chiếc lá Tre để che lấp ngọn núi Thái Sơn. “Sau đại chiến thứ 3…chấp nhận hủy diệt hoàn toàn một nước Tàu Củ trong nước để chiếm lĩnh bằng một nước Tàu trên lục địa Mỹ-Châu!” với kế hoạch chiến lược về sanh sản trong 10 năm có được thêm 350 triệu dân (1962-1972) và độn thổ hay biến hóa thành lập một nước Tàu ngoài nước Tàu cho mục tiêu chiến lược sau nầy qua kinh nghiệm thương trường thay chiến trường
        Nhìn thấy sự lớn mạnh cũa PACOM và trước những phản ứng khó lường được qua cuộc tấn công Iraq, Trung-Quốc phải có một số phản ứng được coi là cần thiết cho vấn đề an-ninh của mình; Như phối trí hỏa-tiển tầm xa của Trung-Quốc. Loại hỏa-tiển nầy không chỉ nhắm vào Đài-Loan mà còn hướng tới những mục tiêu tại nhiều Quốc-gia khác; Tự xem mình là một Cường- quốc, Trung-Quốc ký một thỏa hiệp an ninh với Pakistan và một thỏa hiệp về quốc phòng với Phi-Luật-Tân. Đặc biệt Bộ-Quốc-Phòng Hoa-Kỳ cũng theo dõi và chú ý đến sự góp mặt của Trung-Quốc trong “Tổ chức cộng đồng Đông Á” gồm các quốc gia từ Ấn-Độ đến Nhật-Bản đễ âm mưu hất chân Hoa-kỳ và Úc ra khỏi quỷ-đạo Thái-Bình-Dương mà chỉ có Da Vàng mình chơi với nhau. Những chỉ dấu nầy khiến dư luận tại Hoa-kỳ cho rằng Trung-Quốc đang có những quyết định táo-bạo có thể làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự tại vùng Đông-Á, cho nên chiến tranh Thái-Bình-Dương là điều khó tránh; Nhưng đối với Mao thì chiến tranh tại Thái-Bình-Dương chỉ là ‘Diện’ còn ngay tại Tây Bán-Cầu mới là ‘Điểm’ “chịu hy sin hủy diệt một nước Trung-Hoa Cũ để thành lập một nước Trung-Hoa mới tại Mỹ” trong một cuộc chiến siêu kỹ thuật chốp nhoáng sau nầy mà chỉ có cơ chế độc đảng CS mới bí mật chớp nhoáng hành-động, trước khi nhân loại tĩnh giấc bàng hoàng thì chuyện đã rồi.
        Trong khi các nghiên cứu gia Mỹ chủ quan cứ cho rằng Trung-Quốc chưa bao giờ có một đại chiến lược theo như nghĩa mà người ta hiểu. Thêm vào đó về mặt địa dư chính trị Trung-Quốc thường xuyên phải chịu áp lực từ tứ phía bởi các Cường-quốc cở lớn như Nga phía Bắc, Nhật Bản phía Đông, Ấn-Độ phía Tây và Việt-Nam phía Nam. Trong thời gian hiện tại Trung-Quốc có nhiều triễn vọng phải đối phó với những quốc gia nầy hơn là phải đối phó với Hoa-kỳ, cách xa Trung-Quốc bằng cả một đại dương rộng lớn; Đây cũng là trong tầm nhìn bén nhậy của Harrimans và Bushes trên phương diện địa lý chiến lược.
        Những điều suy diễn trên đều đúng, nhưng có một ngày gần tận thế nào đó Trung-Quốc không cần chạm tráng với những nước ‘Cò-con’ như chiến lược gia Mỹ ước tính bao quanh TQ mà chỉ có mục tiêu duy nhất là giáng xuống toàn khối nguyên tử trong ‘nháy mắt’ vào nước Mỹ mà thôi đễ rồi vài giờ sau các nước ‘Cò-con’ sẽ cuối đầu quỳ-lụy. Trung-Quốc không còn con đường nào khác chỉ vì nạn nhân-mản phải lợi dụng ưu thế nầy cùng lợi điểm thương-mãi ranh mãnh mà tóm thâu toàn cầu sau khi đã hủy diệt vài tỷ người
        Dù bất cứ thế đứng nào, Việt-Nam cần tìm một thế tựa chiến lược của Hoa-kỳ ở Đông-Nam-Á và Thái-Bình-Dương. Nghĩa là Việt-Nam cần phải hợp tác và quan hệ chặt-chẽ với Hoa-kỳ. Nhưng sẽ sai lầm, có thể coi là trọng tội với Tổ-quốc, đối với tiền đồ Dân tộc nếu Việt-Nam lạc vào quỹ đạo của bất cứ đại cường nào để đối đầu với Trung-Quốc, vì dù gì đi nửa khi chiến tranh xảy ra, “Việt-Nam vẩn là bãi-chiến địa khởi điểm”. Các con cháu ta sẽ thừa khôn ngoan để tránh thảm cảnh cho Dân-tộc mình qua thế “đu-dây” chờ thời coi Mèo nào thắng miểu nào! Trong cái thế ngư-ông đắc lợi vẩn khôn ngoan hơn
        Những nhà Tư Bản Mỹ phải nên kềm chế tham vọng về lợi nhuận của mình!
        Ðể bình luận về cách đối phó với đà lớn mạnh của Trung-Quốc, tôi có cãm-nghĩ: “Hoa-Kỳ chỉ cần kềm chế tham vọng của mình thì chắc chắn nguy cơ đe doạ của Trung-Quốc sẽ phải giảm theo” Nhưng dù thế nào đi nửa, các chính khách đứng sau hậu trường cũa Hoa-kỳ cũng ít nhiều thắc mắc về chính sách đối ngoại, lo xa cho rằng: Trung-Quốc sẽ trở thành một lực lượng đối đầu với Hoa-kỳ không cách gì tránh khỏi. Vấn đề là chừng nào!? Do đó các chính khách nầy chủ trương Hoa-kỳ cần áp dụng một chính sách đối ngoại nhầm chận sự phát triễn cũa Trung-Quốc lên hàng ‘một Cường-quốc’ có nghĩa phải truất phế ngôi vị hạng-2
        Để trả lời cho sự thắc-mắc của các chính khách nầy, đây không phải là một chính sách dễ thực hiện vì sự lớn mạnh hay trì trệ của một Quốc-gia tùy thuộc vào dân số, hệ thống giáo dục, tài nguyên, văn hoá, chính sách kinh tế, sự ổn định chính trị và chính sách đối ngoại của Quốc-gia đó. Cho nên chưa chắc Hoa-kỳ có khả năng ngăn chận sự lớn mạnh của Trung-Quốc ngay cả khi Hoa-kỳ ao ước; Đó là tôi chưa bàn đến chính sách nguy hiểm; Vì điều dễ hiểu, nếu Trung-Quốc nhận thấy Hoa-kỳ chơi cha, tìm cách làm yếu mình. Trung-Quốc sẽ trả đủa bằng một chính sách gây thiệt hại trầm trọng cho quyền lợi của Hoa-Kỳ trên Thế-giới; Trung-Quốc thừa khả năng để làm điều đó; Các chính khách nầy cũng cho rằng quan tâm chính yếu là làm sao giữ được thế đàn anh lâu dài trên toàn thế-giới; Tình trạng nầy có thể kéo dài nếu Hoa-kỳ đóng chốt được một cách trường cửu trên lục địa Âu-Á theo thế chiến lược Eurasian và đặc biệt là tại nút chận Đông-Á. Lịch-sử loài người đã biểu diễn cho Hoa-Kỳ cũng như chúng ta thấy rõ những lực lượng khuynh đảo của Thế-giới thường chỉ xuất phát tại hai lục địa lớn nầy; Do đó Hoa-kỳ phải tìm mọi biện pháp để cách nào không cho một lực-lượng quân sự khuynh đảo nào xuất hiện tại đây. Ðó là lý do Hoa Kỳ phải triệt tiêu ngôi vị khống-chế của TQ tại Biển Ðông.
        Muốn được như vậy, Hoa-kỳ cần cấp bách làm sao tạo được thế quân bình tương-quan lực lượng bền vững thông qua giữa hai bán cầu, lục địa Âu-Á và Tây Bán-Cầu mà còn tương-quan giữa các nước lớn nhỏ với nhau, qua học thuyết “Quân bình Lực-lượng” Điều nầy vay mượn từ chiến lược gia người Đức Otto Von Bismark, được Hoa-kỳ áp dụng từ sau Đệ II thế chiến tại Âu-Châu và Đông-Á đã đưa đến kết quả là hai vùng nầy được hưởng dưới cái dù che của Hoa-kỳ lâu dài để phát triễn trong hòa bình và thịnh vượng nhưng khốn nạn thay trong đó không có Việt-Nam, như chúng ta đã nhận thấy tình trạng đau thương trong quá khứ.
        Điều quan trọng là Hoa-kỳ phải tự kềm hãm tham vọng của bất cứ một Cường-quốc bá chủ nào, như đã vấp ngã tại các nước ở Tây Bán-Cầu trong hội nghị kinh tế vừa qua mà Vị T.Thống Venezuela đã cùng các nước chống đối quyết liệt. Vì vấn đề quân bình lực lượng tại vùng Đông-Á đòi hỏi một sự chia sẻ trách nhiệm giữa Hoa-kỳ, Trung-Quốc và cả Nhật-Bản nữa. Hoa-Kỳ phải chứng minh cho Trung-Quốc thấy là cho dù có thể nhanh chóng trở thành một Cường-quốc khu vực với đà phát triễn hiện nay, Trung-Quốc cũng không thể một sớm một chiều trở thành một đại cường cũng như Hoa-kỳ đã phải trải qua bao chông gai mới trở nên siêu cường. Và cho Trung-Quốc biết đà phát triễn kinh tế không thễ nào liên tục mãi; Ngoài ra chi phí quốc phòng gia tăng ngân sách một cách quá bình thường như vậy, thường sẽ kéo theo cuộc chạy đua vũ trang, vừa nguy hiểm vừa có hại cho sức phát triễn đang lên.
        Trước hết, Hoa-kỳ có thể cùng với Nhật-Bản, Ấn-Độ và các nước khác tay trong tay vận dụng một chính sách đối ngoại thích hợp để giúp Trung-Quốc hội nhập vào cộng đồng thế-giới xứng đáng vai trò một Cường-quốc như ai. Vì rằng Trung-Quốc và Hoa-kỳ đều có nhu cầu, trách nhiệm tránh đụng độ lẫn nhau; Vì tương lai của thế kỷ 21 phụ thuộc vào câu hỏi liệu Hoa-kỳ và Trung-Quốc có thành công trong việc nương nhau để cùng tồn tại hay không! Hoa-kỳ cũng cần giải thích cho Trung-Quốc biết rằng: Đài-Loan không phải là vấn đề hoàn toàn có tính cách nội bộ của Hoa-lục. Xử dụng võ lực để thống nhất Đài-Loan sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nguy hại và một trong những sự nguy hiểm đó là sự rút ra của các nhà đầu tư Quốc-tế khỏi lục địa Trung-Hoa là một sự thiệt thòi đáng kể, vì Trung quốc ngoan-cố ươn ngạnh nên Hoa kỳ dần dần rút đầu tư ra khỏi nước để chuyển qua chổ con Ó Con đang lớn mạnh là Việt Nam Cộng Hoà như đóa hoa đang nỡ nhụy.
        Bằng như, một sự gia tăng ảnh hưởng chính trị của Trung-Quốc trong vùng sẽ không hại gì cho sách lược đối ngoại của Hoa-kỳ; Cụ thể như việc Trung-Quốc yểm trợ Pakistan là một việc tốt vì làm như vậy sẽ loại bỏ những tham vọng của Ấn-Độ nhầm thu phục nước nầy. Sự lớn mạnh của Trung-Quốc thật ra rất cần thiết cho quyền lợi của Hoa-kỳ vì cả hai nước có khá nhiều chương trình để cần tới nhau, tôi nghĩ Hoa-kỳ nên xây dựng Trung-Quốc thành một đồng minh chiến lược giống hệt như vai trò của các nước Tây-Âu trong thời kỳ cuộc chiến tranh lạnh.
        Nhìn về Nhật-Bản, từ lâu Hoa-kỳ đã đễ cho họ hiễu rằng: một nước Nhật-Bản dân chủ và thịnh vượng luôn luôn là một đồng minh cần thiết của Hoa-kỳ trong việc chia xẻ trách nhiệm quản lý những công việc chung của thế-giới.
        Đứng trên một góc nhìn thực tế, chúng ta nên chủ trương rằng: “trong bối cảnh Thế-giới ngày nay, nếu có những trung tâm sức mạnh khác cùng tồn tại, thì một số vấn đề nan giải của Thế-giới sẽ dễ được giải quyết hơn như sư lan tràn vũ khí nguyên tử, siêu kỹ thuật, từng người ôm bom tự sát, từng Toán ôm mìn tự sát, rồi có ngày nguyên một nước tự nguyện tự sát, rồi vấn đề chống khủng-bố, nhân mãn, thiếu thức ăn, bệnh truyền nhiễm ghê gớm hủy diệt loài người, nạn ma túy và theo dỏi, kiểm soát sự nóng dần cũa bầu khí quyển và môi trường sống …Thử hỏi biết bao vấn đề đặt ra cho nhân loại, cho nên Trung-Quốc không dại gì mà gây chiến với Hoa-kỳ vào lúc nầy; Còn nghĩ về chuyện tương lai thì Trung-Quốc cũng không nên quên rằng nhân loại đã bỏ lại phía sau sự chém giết tràn ngập xác người của thời Trung-Cỗ và đang cố tìm cách sống chung hòa bình để phát triển tự tồn. Lịch-sử của nhân loại đang sang trang. Thế kỷ 21 là thế kỷ của hợp tác tích cực để phát triễn chứ không còn là thời kỳ của các ý thức hệ đối đầu ngu-xuẩn vô nghĩa lý; qua đó, viễn ảnh của chiến tranh trên điểm nóng Thái-Bình-Dương như Mao Trạch Ðông đã tiên đoán chỉ có thể coi như một huyền thoại không thể có vì quá xa rời thực tế … theo như tôi nghĩ?
        Vậy nên vấn đề cần đặt ra không phải là lo Trung-Quốc lớn mạnh mà nên hỏi Trung-Quốc sẽ dùng sức mạnh của mình như thế nào…? Kết luận, đều cốt lõi là chính sách đối ngoại nào làm cho sức mạnh của Trung-Quốc biến thành một sức mạnh phục vụ hoà bình thế-giới là một chính sách đối ngoại tuyệt hảo của chính khách Hoa-kỳ, nhưng chắc chắn không phải là chính khách George H.W.Bush, và Dick Cheney. Vì các ông nầy chỉ biết đến quyền lợi cá biệt Phe-nhóm về dầu hỏa và buôn súng, không nghĩ gì đến quyền lợi chung của Tập đoàn Tư Bản Lớn cũng như Nhỏ; thế nên đã xảy ra vụ tai-tiếng Burlington, về tiết lộ danh tính điệp-viên Valerie Plame, do cựu phát ngôn viên chính phủ, Ông Ari-Fleischer khai trước toà rằng chính ông chánh văn phòng Libby cũa ông Phó TT Cheney tiết lộ tên tuổi điệp viên nầy cho ông ngày 7 tháng 7, 2.003. Coi như sự nghiệp chính trị của Nhóm Skull and Bones nầy sẽ bị nhiều rối rắm sau nầy và vĩnh viễn lùi vào bóng tối; Và dữ kiện trên như một bằng chứng ngày tàn của Skull and Bones!
        Tôi mãnh liệt tin tưởng rằng: “Nước Mỹ sẽ xuất hiện những nhân tài kiệt xuất phát minh ra những tài nguyên bất tận thay thế xăng dầu bằng nguồn Nước, sức Gió thiên nhiên, Mặt trời ánh sáng của Thượng đế và Khí methanol!” Rồi đây các nước tồn trử vũ khí nguyên tử là cái gai khó ưa của nhân loại
        Trung Quốc đã chính thức lên tiếng phản đối kế hoạch tập trận chung Hàn Mỹ vừa qua. Người phát ngôn cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Tần Cương, nói "các bên cần bình tĩnh, kiềm chế, không gây căng thẳng, không làm tổn hại đến lợi ích an ninh của các quốc gia trong khu vực" Trong khi đó, tờ Quang Minh Nhật báo của Trung Quốc đăng bài của tác giả Tôn Nhất Sơn phân tích về những việc nước này cần làm khi Hoa Kỳ mang hàng không mẫu hạm tham gia tập trận ở Hoàng Hải. Bài báo viết thông qua cuộc tập trận này, Mỹ chứng tỏ nhiều dụng ý. Đầu tiên là gây áp lực lên Trung Quốc. Thứ hai là ngăn chặn sự phát triển lớn mạnh của Trung Quốc, Mỹ tin rằng nếu có chiến tranh với Trung Quốc lúc này thì Mỹ sẽ thắng; Thứ ba, nếu xảy ra chiến tranh giữa hai bên, thì Mỹ sẽ không phải trả nợ Trung Quốc nữa. Nhưng thứ tư, Mỹ cho rằng Trung Quốc sẽ chẳng ḍại gì mà gây chiến với Mỹ vì khoản nợ khổng lồ của Mỹ với Trung Quốc giống như "gót chân Achilles" của Trung Quốc vậy. (chưa chắc đâu, đừng chũ quan) Tác giả Tôn Nhất Sơn phân tích rằng trong tình hình khủng hoảng tài chính hiện tại, Hoa Kỳ đang rất cần nước ngoài gánh nợ và do vậy, đang gây áp lực lên các nước nhất là Trung Quốc để nước này "mua" các khoản nợ khổng lồ của chính phủ Mỹ. Cuộc tập trận sắp tới cũng là một dạng áp lực quân sự đối với TQ; Bài báo cũng viết rằng Hoa Kỳ tin tưởng sẽ thắng nếu có chiến tranh với Trung Quốc vì công nghệ tin của Mỹ phát triển nhất thế giới và Mỹ có thể vô hiệu hóa hệ thống chỉ huy điện tử của Trung Quốc trong vòng một tiếng đồng hồ. Thêm nữa, quân đội Trung Quốc còn yếu tính chiến đấu, mà quân đội VN là lực lượng tổng trừ bị cho Lực lượng Phãn ứng nhanh của Mỹ nếu Mỹ muốn, Mỹ cho rằng bây giờ là thời điểm lý tưởng để gây chiến với Trung Quốc. Ông Tôn Nhất Sơn cho rằng vì những lý do như vậy mà Hoa Kỳ quyết định tập trận tại Hoàng Hải nhưng đó là một quyết định sai lầm? Người viết không cho là sai lầm mà là ngòi nỗ đầu tiên kích hoả trong một kho đạn khỗng lồ biến thành xác pháo đã có thiết kế tĩ-mĩ, nếu TQ không cúi đầu nhượng bộ!
        Mỹ hoàn toàn chũ động: Bài trên Quang Minh Nhật báo viết cần phải hiểu rằng gần như toàn bộ các vấn đề mà Trung Quốc đang phải giải quyết đều nảy sinh từ trò chơi xấu của Mỹ (đúng vậy, vì Mỹ đã có mưu đồ từ lâu) Các vấn đề như Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, Ấn Độ, Việt Nam, Biển Đông, Trung Á và Pháp Luân Công, bộ tộc Tây Hồi… dĩ nhiên ai cũng biết trò chơi xấu là truyền thống đặc thù cũa Mỹ mà lị; Vì thế, đương đầu với Mỹ cũng là giải quyết tận gốc các vấn đề trên. Tôi nghĩ, Trung Quốc trước hết cần tự hoàn thiện, sau đó quay sang trấn áp ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Cách thức nhanh chóng và đơn giản nhất là tấn công trực diện. "Trong quá khứ nếu ai nói thế này thì chắc bị coi là điên rồ. Nhưng ngày nay, đây là điều hoàn toàn thực tế" vì TQ chỉ cần 3 người quyền lực là có thế tấn công chớp nhoáng và bí mật vô cùng, trong khi Hoa Kỳ cần phải có lệnh họp hành của Quốc Hội – Trong khi Hoa Kỳ trỗi dậy nhờ một loạt họp hành thiết kế tĩ mĩ, như các cuộc chiến tranh, từ chiến tranh với Tây Ban Nha, tới Thế chiến I, rồi Thế chiến II, tất cả đều có liên quan trực tiếp tới sự lớn mạnh c̉ả nước Mỹ. Thế nhưng tác giã Tôn cho rằng cũng có những cuộc chiến tranh khiến Mỹ "thân bại danh liệt" như chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến Việt Nam, Iraq và Afganistan, Tôi cho rằng tác giã Tôn không biết gì cả: Cuộc chiến Triều Tiên, Việt Nam, và trước đó là Ðức trong ống kính của chiến lược gia George Kennan, chia 2 quốc gia để kéo dài chiến tranh bằng mục tiêu để thũ lợi giữa ba thằng cường quốc Mỹ, LX, và TQ. Còn cuộc chiến VN và Iraq giống nhau ỡ cái chỗ “Tàn phá để xây dựng” theo học thuyết kinh tế gia người Anh Malthus.
        Họ cho rằng xung đột vũ trang với Trung Quốc ở Hoàng Hải hay Biển Đông sẽ là cơn ác mộng khủng khiếp nhất của nước Mỹ? Tôi không nghĩ như vậy, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chỉ có cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991 là mang lại lợi ích cho Hoa Kỳ? Lợi ích như thế nào!? Theo tôi nghĩ thì lợi ích có khác theo ý nghĩ cũa tác giả Tôn. Tôi giãi nghĩa: nếu quân đội Mỹ đánh thẳng vào Badgda sẽ không hoàn thành được học thuyết Malthus, vì không có sự thanh toán câm thù giữa người Shite và Sunny có nghĩa không có sự tàn phá vào cuộc chiến Iraq sau cùng, nó cũng giống như chiến dịch Phượng Hoàng tại VN đễ kéo dài câm thù giữa ngưới quốc gia và MTGPMN, cho nên không thễ hàn gắng nếu như miền nam và MTGP vào mật khu chống lại quân BV sau 1975 thì chưa biết việc gì sẽ xãy ra, nhưng lại làm bể kế hoặch chiến lược cũa Mỹ.
        Trong khi đó, cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính ở nước Mỹ này tuy đã khá hơn nhưng chưa phải đã chấm dứt. Có ý kiến cho rằng ngành ô tô có phục hồi đôi chút là vì "chơi bẩn" với tập đoàn Toyota của Nhật Bản và những rắc rối gần đây với tập đoàn BP của Anh cũng là để giúp các tập đoàn dầu khí Mỹ; Thế cho nên, Mỹ sẽ không dám chiến tranh với Trung Quốc vì ngay cả trong trường hợp chiến thắng, Mỹ sẽ "mất máu nặng" (Hãy chờ xem …đây là nằm trong dự mưu cũa Mỹ). Bài trên Quang Minh Nhật báo nói nếu thực muốn đánh nhau với Trung Quốc, thì cuộc chiến này sẽ là dấu chấm hết cho quyền lực của Hoa Kỳ (Tác giã nói ngược rồi) "Xung đột vũ trang với Trung Quốc ở Hoàng Hải hay Biển Đông sẽ là cơn ác mộng khủng khiếp nhất của nước Mỹ." (Vụ đấm tàu Cheonan và tàu lạ tấn công tàu TQ là nằm trong dự mưu của CIA) Nếu như Mỹ đụng độ với Trung Quốc, thì đồng Mỹ kim sẽ mất vị thế thống lĩnh trong thanh toán thương mại quốc tế vì nhiều quốc gia sẽ cho rằng Mỹ sẽ phá sản nếu thua trận. Nhưng nếu Mỹ thắng thì sao? Tác giả Tôn phải hiểu rằng làm sao Mỹ thua TQ "Đối thủ của Mỹ là Trung Quốc, chứ không phải một quốc gia nào khác, Mỹ đã không thể đối phó với Iraq và Afghanistan, thì cơ hội với Trung Quốc là bao nhiêu" Báo nầy lại lầm to nữa
        "Ban lãnh đạo của Hoa Kỳ đang hành xử như những kẻ điên dại, nhưng chúng ta không sợ những kẻ điên dại đó." Không điên đâu, đây là kế hoặc thiết kế cho 100 năm Eurasian 1920-2020 có từ lâu nên phải hy sinh cách chức tướng Mac Arthur, Westmoreland, ám sát Kennedy, không cho Johnson tái ứng cũ kỳ-2, lấy cái ghế quyền lực của TT Nixon bằng Watergate …Bài báo đặt câu hỏi: "Khi mà Mỹ có trong tay bom hạt nhân và Trung Quốc không có, chúng ta đã chẳng sợ gì Mỹ, tại sao bây giờ chúng ta lại phải sợ?" Tôi nghĩ tác-giả Tôn nầy điên chớ không phải Mỹ. Hoa Kỳ muốn TQ vào LHQ đễ chấp hành luật pháp thế giới, chấm dứt xài luật rừng, bây giờ vào LHQ rồi mà xài luật rừng là tự sát cho đáng kiếp cái mộng bá quền.
        Nhận xét người viết: “Theo lời của linh mục Nguyễn Văn Lý trên Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ, thuộc hệ thống http://www.paltalk.com, các linh mục miền Bắc ở các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh đã đồng loạt cho chiếu DVD Sự Thật Về HCM do linh mục Nguyễn Hữu Lễ xuất bản, (theo tôi nghĩ cuốn phim nầy cũng tượng tự như cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống” do CIA tài trợ, hay nói trắng ra là “Bõ phiếu bằng chân = Commando Vaught) Hàng ngàn đồng bào đã đến tham dự trong khuôn viên nhà thờ một cách công khai, có cả nhiều cán bộ, công an, viên chức nhà nước tham dự Ðây là một hiện tượng đột biến mới lạ khó tin trong chế độ CS khiến chúng ta phải suy gẫm có sự thay đổi nào trong chuyến viếng thăm của Bà Bộ Trưởng ngoại giao Mỹ Hillary Clinton? [Decent Interval, thời gian hửu lý] Hay là đã tới điễm mốc cho cuộc diển tiến hoà bình trong phần mềm hậu chiến?
        Sau khi xem xong DVD trên, nhiều người đã hiểu ra bản chất những trò bịp bợm của ÐCS từ 1959 đến nay, sự thật là tập đoàn Mafia của Lê Ðức Thọ (do CIA) là công cụ “gián-tiếp” bấy lâu nay của siêu chính phủ Mỹ dựng lên (Permanent Government) từ bao nhiêu năm qua, nên họ đã đồng lòng "lộng kiếng" hình HCM, ngay cả các cán bộ, công an, viên chức nhà nước cũng đồng lòng xóa bỏ tất cả những gì gọi là "thần tượng HCM", có nghĩa chấm dứt chế độ Mafia-trị do trục ma quỹ dựng lên từ tháng 4/1959, và quay qua ủng hộ tinh thần đấu tranh yêu nước của linh mục Nguyễn Văn Lý. Họ nhận định việc bắt linh mục Lý là điều sai lầm, và hứa hẹn trong tương lai sẽ ra sức bảo vệ cho linh mục Lý; Tình trạng sức khỏe của linh mục Lý tạm ổn định, nhưng không khả quan mấy
        Ðã đến thời điễm (decent interval) ÐCS núp dưới bức tường thép HCM để vinh thân phì da, quái-quắc không còn nữa, theo mưu đồ của trục ma quỹ đã đến lúc phải đập-đổ xuống trả lại tính trung thực cho lịch sữ VN. Bây giờ hiện nguyên hình là bức tường bằng Bùn trộn với Rơm-rác, có nghĩa ÐCS hết còn chỗ dựa cho kỳ Ðại hội đảng tới, cũng đúng vào lúc một người Mỹ góc Việt làm Tõng Lãnh Sự và người con của Tướng Nguyễn Chí Thanh đang quay về với cội nguồn dân tộc, đúng vào lúc vị Ðại-sứ thứ 4 của Hoa Kỳ nhậm chức (Phản tình báo Hoa Kỳ đã thần thánh nắm chắc nội tình TQ và VN trong nhiệm kỳ ba ông đại-sứ vừa qua, những năm qua bằng bàn tay sắt bọc nhung: Vì người đại-sứ đầu tiên là một cựu tù binh chĩ cần mỗi ngày chỡ vợ Việt đi ăn phở là đũ. Vi thứ 2, thứ 3 và riêng vi Tổng Lảnh Sự tại Saigon tương lai, là người Mỹ gốc Việt đã am-tường nhân sự về hệ thống tinh báo của TQ sau một thời gian miệt mài nghiên cứu phản gián trong nội địa nước Tàu để sẳn sàng tương lai qua VN nhúng tay nối tiếp vào việc có nhiều hiệu lực tình báo hơn.
        Giờ đã đến lúc viên Ðại Sứ Mỹ (thứ 4) mới phải phối hợp hành động vì lợi ích (America First) của nước Mỹ cho giai đoạn lật đổ ngôi vị hạng-2 của TQ; Dưới đây người viết nhắc sơ qua cuộc biến cải đảng hội Mafia VN do sự cấu kết của KGB và CIA về mặt chìm nhưng mặt nỗi vẫn là ÐCS chuyên chính đễ có mục tiêu cho thiên hạ chữi bới đi chệch con đường hỏa mù của chúng
        Ngay sau khi biến dạng từ OSS qua CIA 1947, CIA đã tài tình móc nối dược Ðặng Tiểu Bình và Lê Dức Thọ làm công cụ cho Mỹ. Trước hết, hãy nhắc lại vài nét về "triều đại Lê Đức Thọ, ông Thọ nắm toàn quyền thực sự trong đảng CSVN từ đại hội 3 năm 1960 với sự áp đặt cùng đồng tình của Quyền tổng bí thư Lê Duẩn, nhưng thực ra vào cuộc họp bí mật thứ 15 của Bộ Chính Trị vào tháng 4/1959 và khẩn cấp thành lập ngay cứ sau 2 tháng cho ra một Ðoàn để chuyển tiếp vận và người vào Nam: Tháng 5 thành lập Ðoàn 559 (chuyễn người qua đường mòn HCM) tháng 7 thành lập Ðoàn 759 (chuyễn tiếp liệu quân dụng vào Nam bằng đường Biển, Port-Sihanook Ville, Cambodia) tháng 9 thành lập Ðoàn 959 (lực lượng Pathet Lào bảo vệ nam Lào trên trục đường mòn HCM) Trục ma quỷ sắp sếp xong mọi việc, 2 điệp viên Lucius Conein vùng Bắc VN và Russell Flynn Miller vùng Nam VN, cả 2 đồng báo cáo về Mỹ để phát động sách lược “Commando Vaught” cho đến khi hoàn thành ‘định-kiến-1’ (30/4/1975) Ngày 21/9/1960. HÐAN (NSC) họp trong nghị trình có đoạn cho ra “Chiến dịch Bội tinh” về chiến tranh VN cho lính Mỹ sẽ tham chiến (theo lộ-trình bắt đầu 1965, 2 TÐ US Marine đổ bộ Ðànẳng) Liền sau đó phía Hànội cho thành lập MTGPMN cuối 1960 (để chắc ăn CIA bảo-đãm nhắc lại ngày xưa CIA đã giúp VN đánh cho ‘Pháp cút Linh Lê Dương nhào’ và kỳ tới đánh cho ‘Mỹ cút Ngụy nhào’ và đừng lo dù chúng tôi có đem hơn nữa triệu quân thì cũng chĩ để huấn luyện chiến trường thôi và không đụng đến đường mòn HCM để cho các ông tư do di chuyễn vật cụ.
        Thế nên trong đảng CS không ai có thể ngờ vực bạo-quyền tuyệt đối của ông Thọ được gọi một cách kinh sợ là “Sáu Búa”= Skull and Bones – Theo hồi ký "Viết cho Mẹ và Quốc Hội" của ông Nguyễn Văn Trấn (xuất bản năm 1993) quyền hành của ông Thọ lớn đến nỗi ông có thể cấm cả Cụ HCM phát biểu trong một hội nghị mà Cụ HCM cũng đành chịu, chưa kễ ám hại vợ con Cụ, bắt buộc Cụ phải độc-thân để xứng đáng là cha già dân tộc mà thật ra là như bức tường thép, chỗ dựa vững chắc cho bọn Tam đầu chế Mafia nầy (Ðức Thọ, Chí Thọ, và Lê Duẫn) dựa-dẫm, riêng Chí Thọ luôn luôn theo dõi chăm sóc Cụ hằng ngày tưới cây Dấu Sữa miền nam - Được ông Trấn hỏi về ông Lê Đức Thọ, ông Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước, thú nhận một cách mộc mạc: "Đ.M., tao cũng sợ nó!
        Lúc nầy Mỹ đang có 2 công cụ trung thành là Thọ và Ðặng Tiểu Bình mà Mỹ hướng dẫn áp dụng hệ thống “Mafia-Trị” trên hai nước gọi là CS nhưng trong ống kính là “Skull and Bones trị” giống y chang như Mỹ, nhưng mà so với Mỹ còn nhẹ tay hơn nhiều. Thí dụ như trong thời kỳ chiến tranh VN, Skull and Bones ám-sát lãnh tụ “The king of World -Peace Kennedy” roi Bộ trưởng tư pháp Robert Kennedy, cấm không cho TT Johnson tái ứng cử kỳ 2, vì ngoan cố tiếp tục đường lối người tiền nhiệm, cấu kết chặc chẻ với Bộ trưởng tư pháp Robert Kennedy quyết tâm theo đuổi đưa gia đình Bushes và Harrimans ra tòa để tịch thu tài sản vì mua bán làm ăn với kẻ thù vi phạm hiến quyền Trading with Enemy Act 1941, tạo ra một hiện tượng đặc thù kỳ quái của guồng máy hiến quyền Mỹ, kế tiếp tạo ra vụ “Watergate” hất cái ghế quyền-lực TT cũa Nixon để hoá giãi những bức thư riêng tư với TT Thiệu, trong khi theo hiến-quyền Nixon có quyền tự ân xá cho chính mình … Những điều trên đây các sữ gia Hoa Kỳ sẽ phải viết ra sự thật cho lịch sữ Mỹ và lịch sữ chiến tranh VN sau khi bọn Skull and Bones lùi vào bóng tối, như 2003, đúng 50 năm chiến tranh Triều Tiên, tiết lộ W.A.Harriman ra lệnh TT Truman lột chức Tư Lệnh TBD của Mac Arthur (hình giãi mật trang 41 Vol-1, Vietnam War) vừa rồi TT Obama phục hồi danh dự cho Tướng John Daniel Lavelle cách đây 40 năm bị lột xuống còn 2 sao bây giờ phục hồi lại 4 sao như trước, cách đây 40 năm Obama còn nhỏ xíu biết gì đâu mà bây giờ có lệnh một thế lực Permanent Government thì thi hành thôi (trong Volume-2 có nói rõ lý do tại sao Tướng Lavelle bị lột lon chỉ vì là con cở thí của Permanent Government) Ðến 2023 sữ gia sẽ bạch hóa sự việc đẻ đem lại tính trung thực cho lịch sữ, đánh dấu 50 năm người Lính Mỹ rời VN sẽ được phục hồi danh dự hơn 58.000 lính Mỹ hy sinh cho một nước VNCH thống nhứt, có được dân quyền dân chũ và cường thịnh như hiện đang..

        Theo nhiều nhân chứng, ông Thọ từng xác quyết nhiều lần: "Đảng là tao!" Ông Thọ không chính thức là nhân vật số 1 trong đảng (cũng như Harriman ỡ số 3 trong bộ ngoại giao thời Kennedy và George H W Bush là ở vị Phó TT, thời Reagan) Trong danh sách Bộ Chính Trị ông L.Ð.Thọ chỉ đứng hàng thứ năm, sau các ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng. Nhưng ông nắm bộ máy đảng và là nhân vật quyền lực nhất, sau lưng ông có KGB và CIA. Ông có thể bắt giam những cộng sự viên của các nhân vật này mà không ai dám chống lại, Ông cũng đích thân chỉ huy những công tác quan trọng nhất của chế độ khi cần giám sát Hội Nghị Paris và trực tiếp thương thuyết với WA Harriman; Chỉ huy cuộc tổng tấn công dứt điểm Miền Nam năm 1975 với vai trò chính ủy sau khi Kissinger trõ ngón cái lên trời, O.kay! là Thọ cho thi hành ngay. Theo lệnh Kissinger, việc đầu tiên phải làm khi vào Saigon là đuổi ngay Ðại sứ Pháp về nước gấp để tránh lôi thôi về trung gian thương lượng trung lập hóa miền nam là sẽ bễ kế hoặch thống nhứt … cứ bỏ tróng miền Bắc đừng sợ Trung Quốc đem quân vào với cái cớ giữ an ninh cho miền Bắc, Kissinger bảo đãm và Ðặng Tiểu Bình okay ngay vì Mỹ sẽ giúp TQ trở nên cường quốc hạng-2 thế Liên Xô, cho nên TQ không dại gì làm bậy..
        Lê Đức Thọ có thể thay đổi đường lối của đảng theo ý mính qua chủ đạo của phản tình báo CIA. Cho tới 1968 ông chủ trương thân Trung Quốc và tiêu diệt khuynh hướng thân Liên Xô trong đảng theo mưu đồ của phản gián CIA để đánh lận con đen trong sách lược khỗ nhục kế (mà ông buộc tội là "bọn xét lại chống đảng") Bất thần CIA xúi bẩy từ 1968 trở đi ông quay sang thân Liên Xô gấp, chống Trung Quốc. Rồi sau khi Gorbachev lên cầm quyền ông quay lại với Trung Quốc theo lệnh CIA vi LX sắp xụp đổ tan rả. Nói chung, Lê Đức Thọ muốn làm gì thì làm, muốn hướng đảng và chế độ CSVN theo hướng nào tùy ý. Ông có toàn quyền. Và chính quyền lực của Lê Đức Thọ đã giúp cho đảng CSVN thắng lợi mặc dù những sai lầm khủng khiếp: Cải cách ruộng đất; Phát động cuộc chiến với Miền Nam; Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968; Chiến dịch mùa hè đỏ lửa 1972. Tất cả những sai lầm đó gây thiệt hại ghê gớm cho đảng và chế độ, đồng thời cũng là những thảm kịch đối với Việt Nam, nhưng mà trong lộ đồ của CIA muốn như vậy; nhưng cái độc đáo nhứt là trút mọi trách nhiệm lên đầu Cụ HCM đang được tôn vinh là thần tượng như chiếc ghế để tróng dành riêng chỉ cho HCM, Chủ tịch Ðảng mà thôi. Một đảng cầm quyền bình thường có thể sụp đổ chỉ vì một trong những sai lầm như thế, nhưng đảng CSVN vẫn trụ được và sau cùng giành được thắng lợi nhờ có Lê Đức Thọ nghe lời CIA linh động thay đổi nguyên tắc lảnh đạo, đồng thời CIA muốn bảo vệ chế độ vững chắc cho mục đích chiến lược lâu dài cũa Mỹ, khác hẳn VNCH luôn luôn bị xáo trộn để rồi dứt điễm theo định-kiến-1. Một chứng cớ rõ rệt: cũng như theo nguyên tắc, cương-lĩnh ÐCS, khi đã phân loại 10.000 tù chính trị đem ra bắc là có nợ máu và phải giết hết qua lao động khỗ sai, kềm theo bõ đói, nhưng thình lình phản gián CIA bảo phải đem họ vào nam để đi Mỹ theo lộ trình tiếp nối ODP rồi đến HO, thì Thọ vâng lời ngay. Thế là tù ngoài bắc được lần lượt đưa vào nam để thã rồi đi Mỹ. (nhưng CIA không muốn cho đi nhiều, cố vấn Thọ về ‘sàn-lọc’ ở chỗ để cho tù chính trị VNCH tự xác định vị trí của mình, nên đại tá đi tù 6 tháng, còn thiếu úy đi tù 4 năm, kết quả thiếu úy đi Mỹ đại tá “thích hợp chế độ” nên phải ở lại)
        Bí quyết thành công của Lê Đức Thọ là vâng lời cùng phối họp nhịp nhàng giữa CIA và KGB điều khiển Thọ như người máy robot biết nói và hành động ăn khớp với trục ma quỹ nầy cũng như phía Mỹ là Robot Kissinger, Thọ đã tạo ra một điều mà anh Nguyễn Gia Kiểng, trong nhiều bài viết, gọi là "một đảng cầm quyền trong đảng" (như Mỹ một thành viên Skull and Bones ảnh hưởng bao trùm trong Quốc hội là Presscott Bush trong ngành lập pháp quyền lực qua chức Thượng Nghị Sĩ) một thứ ban trật tự trong đảng (ở Mỹ, thành viên NSC, trong ngành hành pháp như Kissinger) khống chế đảng nhưng giữ được kỷ luật trong đảng và dùng đảng để khống chế phần còn lại của xã hội. Cũng phải nói là Lê Đức Thọ đã rất may – và đất nước Việt Nam đã rất khốn-nạn – là trước mặt đảng cộng sản không có một chính đảng đúng nghĩa theo bản chất của nó, mà chỉ vì nó là hệ thống Mafia-Trị, nếu Việt Nam Cộng Hòa có được một đảng cầm quyền đúng nghĩa thì lịch sử cận đại Việt Nam đã rất khác nhưng Mỹ muốn giãi thể VNCH như định kiến-1. Thực tế là Lê Đức Thọ đã cầm quyền trong suốt thời gian từ giữa 1957 trở đi cho đến khi ông chết; Ở một khía cạnh nào đó, theo tôi nghĩ là Mỹ cần sư ổn định chính trị vĩnh cữu cho thế chiến lược lâu dài, qua tổ chức cai trị kiểu Mafia, nắm quyền lực như ông còn kéo dài sau khi ông đã chết (người mới lên vẫn tiếp tục theo lộ-đồ CIA đã hướng dẩn) Trước khi chết Lê Đức Thọ đưa Nguyễn Văn Linh ra làm Tổng bí thư sau đại hội 6 để buộc qua cái gọi là cách mạng thị trường (từ 12-1986 tái thiết hạ từng cơ sở …Mỹ sẽ ào ạt bỏ vốn đầu tư khi hất chiếc ghế hạng-2 của TQ) để thực hiện những biện pháp đổi mới bắt buộc. Khi Nguyễn Văn Linh đã làm xong nhiệm vụ, ông trao quyền cho những người kế thừa mà ông đã chọn: Đỗ Mười và Lê Đức Anh.
        Cũng nhờ có nền tảng đảng Mafia Lê Đức Thọ để lại, lần này do hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh cùng lãnh đạo, mà đảng CSVN đã trụ được sau những sai lầm khủng khiếp – chính sách hạ nhục tập thể và bỏ tù cả nước đối với miền Nam sau 1975, cuộc chiếm đóng Campuchia, chính sách đánh tư sản – và sau khi chủ nghĩa cộng sản và khối cộng sản sụp đổ. Liên minh Mười–Anh, mà nhiều người có ác cảm gọi là "đảng Ăn Cướp", vẫn còn cầm quyền cho tới nay. Hai ông thái thượng hoàng Đỗ Mười và Lê Đức Anh vẫn trị vì sau hậu trường do CIA chủ đạo; Nồng Đức Mạnh chỉ là một con cờ; Cả hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh đều là những người có bản lãnh nhưng thời cuộc đã biến chuyển quá nhanh chóng và mãnh liệt đối với họ; Sự phát triển dồn dập của các phương tiện giao thông và truyền thông hiện đại, phong trào toàn cầu hóa, sự sụp đổ của ý thức hệ Mác–Lênin và sự tăng cường hợp tác giữa các quốc gia, v.v., đều là những vấn đề vượt tầm hiểu biết ngu-dốt của họ. Họ đã chỉ biết lúng túng chống đỡ và noi theo Bắc Kinh như chỉ thị của CIA. Vì không làm chủ được hoàn cảnh mới, họ đã không tìm ra được những con người phù hợp để bàn giao quyền hành như ông Lê Đức Thọ đã bàn giao cho họ; Kết quả là cả hai đã ngoài 90 tuổi mà vẫn không có người kế thừa; cái "đảng cầm quyền trong đảng" dần dần mất thực chất đồng nhịp với sức khỏe mỗi ngày suy yếu thêm của hai ông; Trong tình huống đó, Ngyễn Tấn Dũng đã được chọn như một người kế thừa tự nhiên dù không phải là người kế thừa hợp lý, qua KGB và CIA thân LX chọn, vả lại đảng cộng sản cũng không có một nhân vật nào đủ tầm vóc để lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới

        KQ: Truong Van Vinh

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #49
          Sách lược đổi màu da tráng bàng da vàng trên xác chết:

          (Neu quy ban quen xem bai duoc tuyen tren dien dan LINH la mot su mat mat)
          Posted by Biệt Kích Nha Kỹ Thuat at 10:50 AM
          SÁCH LƯỢC ĐỔI MÀU DA TRÊN XÁC CHẾT:
          KQ: TRUONG VAN VINH

          Sau thế chiến-2, chiến lược gia W A Harriman (1891-1986) cấu kết chặt-chẻ với Liên Xô để chuyển điểm nóng từ Âu Châu quá Á-Châu lấy Trung Quốc làm trung tâm điễm bằng những biến cố dưới đây: 1949 cưởng bức Tướng Tưởng Giới Thạch và phe nhóm ra đảo Đài Loan bằng phi đội CAT của CIA, 1975 cưởng bức TT Thiệu cũng qua Đài Loan giao VN cho triều-đại Mafia Lệ Đức Thọ làm tiểu bá, thay LX trông coi ba nước Đông Dương, trong thế “bên kẻ mạnh” (on the strong-man side) điều kiện cấp thiết buộc Mao phải chia Triều Tiên và Việt Nam ra làm hai quốc gia, giúp di tản Đức Đạt Lai ra khỏi Tây Tạng để nửa thế kỹ sau hù doạ TQ khi có xung đột tại biển đông thì TQ giựt mình nhớ lại sự yếu kém trong nội bộ của mình mà bỏ đi thái độ “du-côn” và Đại tá tình báo Harry Aderholt có kế hoặch tiếp tế kháng chiến quân phò Đức Đạt lai ở mật khu, sau khi giúp một số lớn vũ khí trung liên BAR và Carbins cho HCM 1945 chống Nhựt/Pháp bằng điệp-viên 19 Lucius Conein và cho phi cơ THQG C-46 dọ thám trên lục địa Trung Hoa điều nghiên tình hình, nhưng chỉ một thời gian theo phương thức tình báo khai thác uy tín tối đa rồi bỏ vào xọt rác bằng triều đại Ðặng Tiểu Bình và Lê Ðức Thọ

          Dưới đây người viết đưa ra những dữ kiện để đọc giả suy gẫm, truy cập tìm hiểu:
          [ http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman, 1/22/2006, page 1 of 7] Trang 1 và 3 có Bốn cuốn sách:
          - (a) Tác-giả Walter Isaacson và Evan Thomas, “THE WISE MEN” Six Friends and the World they made (1986 khi Har
          iman- (b) Tác-giả George C. Herring, jr “AID TO RUSSIA” 1941-1946 (1973) và
          - (c) Ðồng tác-giả 2 cuốn, chiến lược gia William Averell Harriman “PEACE WITH RUSSIA” (1959)
          - (d) Và “AMERICA AND RUSSIA IN A CHANGING WORLD (1971)

          Hai tác phẫm cuối nầy có những con số ngẩu nhiên trùng hợp giữa trò chơi NLF/CIP của trục Ma-Quỷ KGB/CIA để ghi vào hồ-sơ văn-khố quốc gia Mỹ và Liên Xô: Hai số sau tượng trưng cho năm và trước là tháng về phía Liên Xô, như 559, 759, 959 còn phía Mỹ là hai số đầu là năm 71 và sau là địa danh đường 9 nam Lào, đưa chử KHE-SANH vào quân-sử và lịch-sử Hoa-kỳ trong khi đó cái tên đẹp đẻ là Quận HƯƠNG-HÓA như hoàn toàn bị xóa bỏ trên bản đồ, như cuộc hành quân LS-719, tác giả dấu tên và mặt là “Permanent Government” mà công cụ bị sai khiến như Tiến sĩ Kissinger phải thố lộ trong hồi-ký: “Khi chiến thắng thì có nhiều người cha nhưng thất bại thì đứa con không ai thừa nhận”, có nghĩa tên tiếng Việt nhưng người Việt không phải tác giả!


          -Sách “The Wise Men” tạm dịch là 6 người nắm vận mệnh thế giới: (1) W.A.Harriman, (2) E.R Harriman, (3) R.A Lovett, (4) J. Forrestal, (5) Artemus Gates, và (6) Prescott Bush
          Prescott Bush từ một đại lý bán vỏ xe bình thường sau một thời gian ngắn làm việc với thủ lảnh Skull and Bones (W A Harriman) đã trở nên triệu phú và được Harriman tin cẩn đặt để là Chủ tịch WIB [Hội đồng kỹ nghệ chiến tranh, War Industries Board] nhưng sau nầy trở nên một Giuda của thế kỷ 20, đành đoạn tách rời chân lý đúng đắn của Harriman cho sự ích kỷ tham lam về dầu hoả thay vì phải thực thi lời khuyên mau-mắn phát triển về xăng hóa học [synthetic-fuel] như Hitler đả thực thi 1933, bất kể giết hại môi trường sống của động vật và gây ra thảm hoạ thiên tai cho nhân loại!
          -Sách “Aid to Russia”: Harriman vừa tốt nghiệp Yale với 26 tuổi đời đã trở nên một nhà triệu phú nhờ tài sản kết-xù của người cha để lại và là một thiên tài xuất chúng, một chiến lược gia có tầm cở hoàn vũ không như Gia Cát Lượng chỉ hạn hẹp trong đất nước Trung Hoa. Ông dám đi thẳng vào cuộc chiến tư tưởng hệ với Karl Marx (1818-1883) và Lenin (1870-1924) Nhưng đối với Harriman thì biến đổi giai cấp “công-nông” thành giai cấp “sản-xuất” (manpower) làm ra của cải cho xả hội. Năm 1917 dựa vào thời kỳ chiến tranh, thiên-tài 26 tuổi nầy áp lực chính quyền phải ký hợp đồng thành lập Hạm đội thương thuyền lớn nhứt thế giới, đồng thời thuyết phục chính quyền tạo điều kiện giúp đở cách mạng Liên Xô qua Aleksandr Kerensky số tiền cho vay là $325 triệu để sản xuất chiến cụ tự vệ, nhưng nguyên vật liệu phải được xuất cảng từ Mỹ? Làm sao cách mạng LX tránh được ‘cái-bẩy’ đầy hấp dẩn như vũ khí tự vệ kinh qua quá trình bị đế-quốc xâm lược: Thành Cát Tư Hản, Napoleon, và Ðức quốc Xả. Ðây cũng là chước: đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, nhưng đối với tầm nhìn bao quát của Harriman là nắm ngay nhân-lực [giai cấp sản xuất vũ-khí] khi Cách mạng Nga mới vừa chớm nở

          (Căn nguyên Eurasian Great Game) Năm 1920, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có mỏ Manganese và dầu hỏa. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng Sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn tư bản gây ra nhiều tội ác bốc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rỏ ràng bọn Bolsevik vẩn cần dollar và kỷ thuật Tây âu để sống còn. Ðặt văn phòng tại Bá-linh, Harriman dám cùng chung với công ty Ðức và chính quyền LX tạo nên Công-ty Hổn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ. Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể. Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà LX không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường tình báo, ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tính dụng $1 triệu dollar đặt cộc và điều động J.Speed Elliot, Phó giám đốc Công-ty Harriman and Company qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolshevik do trùm mật vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký [vì thế chiến lược toàn cầu, tình-báo quân-đội Mỹ OSS được lệnh kết thân với KGB để sau cùng TT Nga Putin là người đồng tịch đồng sàn với Mỹ] Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn dậm của WIB. “Kế hoặch Eurasian 1920-2020” đã lồng vào ống kính của Harriman về những nước Cộng hòa phía cực Ðông nam của LX sẽ rơi vào tay của Mỹ sau nầy với vô vàng tài nguyên nằm sâu dưới lớp tuyết mà LX chưa đủ kỷ thuật để khai thác. Năm 1941 Harriman giúp đở Hitler qua công ty hổn hợp Hamburg-Amerika, tờ báo New-york Herald Tribune đăng trang 1 “Hitler’s angel has $3 million in US bank”


          Tại sao Harriman chơi với kẻ thù!? Chủ trương bá-đạo của Harriman là không có người bạn lâu đời cũng như kẻ thù truyền kiếp, quyền lợi trên hết, quyền lợi xác định thế liên minh! Chơi với ma-quỷ thì phải lấy cái đảng hội “Skull and Bones” làm vũ khí, Vì đi với Bụt thì mặc áo Cà-xa, nhưng ở đây đi với Ma thì mặc áo giấy! Gentlemen thông cảm!
          -Ý nghĩa sách “Peace with Russia” 1959: Chủ nợ thường thường nói gì con nợ nghe nấy. Nhưng làm sao khuyến dụ LX nhảy vào trò chơi chiến tranh “Mặt Trận Giải Phóng” [National Liberation Front] để chống lại với “Kế hoặch Chống Nổi Dậy” [Counter Insurgency Plan] Thế giới làm sao quên được là năm 1957, Liên bang Xô viết từng đề nghị 2 chính phủ đương đại của VN cùng được gia nhập LHQ, không kể là Trung Quốc cũng thích sự hiện hửu của 2 nước VN. Thật đã rỏ là ngoài 2 phe VN, các thành phần tham gia hội nghị Genève-1954 đều thiên về cách giãm thiểu nguy cơ đụng độ toàn cầu; Sau khi chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Cụ Hồ không muốn gây thêm chiến tranh cho người dân lầm than, vì quá nhiều khó khăn tàn phá, cầu cống xụp đổ tan hoang, hạn hán, bảo lụt mất mùa, thêm vào cách mạng ruộng đất bị thất bại làm nhân dân Nghệ-An nổi dậy chống đối. Trong bối cảnh nầy, Cụ Hồ quyết định qua bút tích “Miền Nam độc lập, trung lập và giàu mạnh” có nghĩa là không đụng đến miền nam, với mong mỏi Miền Nam sẽ phồn vinh chỉ có đứng sau Nhựt và sẽ “hiệp thương sau đó, Cụ Hồ ra lệnh rút 100.000 quân về Bắc, thế nên Miền Nam được hưởng một sự thanh bình tuyệt đối từ 1954 đến 1959, (Stanley Karnow “VN Viking, New York, 1983, page 225) Harriman vô cùng bấn loạn với số vũ khí thặng dư còn quá nhiều, dù chiến tranh Triều Tiên và Lính Pháp đã xữ dụng trong 8 năm nhưng vẩn còn tồn kho, theo sự thiết kế của nhóm tham mưu dân sự, phải xử dụng cho đến cuối 1968 [Tết Mậu-Thân] mới hết, cho nên khi phía CSBV dùng AK.47 nhưng VNCH vẫn dùng Garant M.1 bắn từng viên một.
          Harriman đã có ý đồ trong thời gian thế chiến-2, [trong sách Aid to Russia 1941-1946] khi là đại sứ Mỹ tại Liên Xô, ông cũng thúc dục công nhân LX sản xuất vũ khí cứ tha hồ mà cho ra hàng loạt như T-34, T-54 chẳng hạn sẽ có chổ tiêu thụ sau nầy. Ðó cũng là ỷ vào vị thế chủ nợ nên buộc LX phải tham dự trò chơi chiến tranh CIP/NLF với điều kiện dễ dải là không cần quân LX tham chiến như tại Triều tiên cũng như VN mà chỉ có lợi ích duy nhứt là công nhân LX có việc làm ăn như sản xuất vũ khí trong khi dư thừa nhân lực cần có công ăn việc làm. Ðó là nguyên nhân vũ khí LX mà tiền nhân công do Mỹ trả: năm 1964 AK-47; 1973, 700 triệu tấn vũ khí hiện đại cho Hà Nội chiếm miền nam, Cambodia và SAM tối tân phòng thủ Hà Nội, và hiện nay tàu lặn phi cơ tối tân cho VN với mục đích không cho giàn khoan tối tân TQ khoan sâu 3000 thước vào gần thềm lục địa VN gần Tuy Hoà, Nha Trang

          Đả đến thời điểm (decent interval) mà bất cứ tổng thống nào cũng phải… như TT Obama nhắc lại chiến tranh VN chỉ võn vẹn hai chữ Khe Sanh, vậy Khe Sanh mang ý nghĩa gì trong chiến tranh VN? Có phải Khe Sanh đã góp phần chuyển cuộc chiến VN đã kéo dài quá lâu từ “đánh” sang “đàm”. Rồi từ “đàm” sang kết thúc (kéo dài mà nuôi dưởng để PG thủ lợi: “phần nóng” để thí nghiệm và tiêu thụ vũ khí, và “phần mềm” khuyến khích Mafia VN ăn cắp tiền cho nhiều để sau cùng đảo chánh và tịch thu tiền các chóp bu, qua bửu-bối Dân quyền Dân chủ khắp nơi nổi lên recycling từ nguyên liệu ăn-cắp thành đồng Đôla Xanh sẽ chạy về Mỹ)

          Sau đó “Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự…” (Điều 15d/HĐ Paris 1973) Đó chính là mục tiêu của HK ở Việt Nam mà TT Johnson đã tuyên bố tại Đại học John Hopkins ngày 7/4/1965: “Nơi đây [VN] không phải là căn cứ quân sự cho nước nào và cũng không liên minh với nước nào”. Trong điều kiện độc lập đó, một dân tộc vốn có truyền thống tự chủ tự cường sẽ phát huy sức mạnh bằng sự họp tác toàn dân để mang lại phồn vinh cho đất nước, không còn hợp tác liên minh với ngoại bang đem thảm họa lại cho dân tộc. Nhắc Khe Sanh cũng chưa đủ, TT Obama còn nhắc Gettysburg, cho thấy nhân dân Mỹ cũng có truyền thống cao đẹp như dân tộc Việt Nam “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Nhờ đó mà sau nội chiến, họ không còn thù hận, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh nhanh chóng, đất nước trở nên phú cường; Đây có thể là thông điệp mang nhiều ý nghĩa mà TT Obama muốn gởi đến người Việt Nam yêu nước vừa giúp HK xóa đi “hội chứng Việt Nam” đã ám ảnh họ từ bấy lâu nay, để trả công cho Mỹ về sự quyết tâm không ký chia đôi đất nước VN, nhưng cũng phải để trong đầu “Freedom is not for free?

          Soi sáng vùng tối của lịch sữ VN
          Hạ sỉ quan OSS và điệp-viên 19 Lucien Conein đang huấn luyện cho Trung-đội Vỏ trang tuyên truyền của Tướng Giáp và Cụ Hồ tại mật khu Pát-Pó (hình 32, volume-1) Sau khi được mốc nối tại Trùng-Khánh 1943 qua Cơ quan Thông tin Chiến tranh: Service of War Information, từ đây Cụ Hồ được lệnh về Mật khu Pát-Pó, còn thống chế Tưởng Giới Thạch 1949 được mật lệnh cưởng bức di-tản ra khỏi lục địa về Ðài Loan tử thủ bằng phương tiện hàng không CAT của CIA, điều nầy lập lại 1975 một chiếc DC-6 cưởng bức chở TT Thiệu cũng rời khõi VN đáp xuống Ðài Loan để giao cho Hà Nội thống lảnh ba nước Ðông Dương, hoàn thành phần 2, giai đoạn 2 của sách lược Eurasia, để chuẩn bị một cuộc chiến ý thức hệ lâu dài của Chiến tranh lạnh
          Nhìn bức hình trên đây, làm sao mà Cụ Hồ-Chí-Minh không đặt hết niềm tin vào Hoa-Kỳ!? (bên trái cụ là bác sĩ Paul Hoaglant, Deer-Team lo chăm sóc sức khoẻ cho cụ) Nhưng độc hại thay, mưu đồ khai thác để kiếm lợi nhuận qua cái nhìn cách xa nữa vòm trái đất; Lợi-dụng cuộc cách mạng giành lại Độc-lập tại Việt-Nam, Ðảng Công-ty WIB nầy cho mở ra chiến dịch bí mật (Foreign Covert Operations) của họ ở nước ngoài bằng công-cụ bén nhọn là Toán tình báo quân-đội OSS, bởi điệp viên 19 điều hành. Đó là điệp viên Lucius (tên Mỹ) còn tên Pháp trong khai sanh là Lucien Conein, vì ông là người Quốc-tịch Mỹ nhưng sanh ở Pháp

          Tất cả những nhà lãnh-đạo nam bắc tại Việt-Nam đều bị Mỹ lừa gạt một cách tinh-vi; Tổng-thống Thiệu không ghét Mỹ, nhưng ghét chính sách của Mỹ, ông sợ Mỹ ám-sát hơn sợ Cộng-Sản thảm hại, không chiến trận tàn khốc nào mà TT Thiệu không đến ủy-lạo Binh-sĩ như chiến trường Quảng-Trị, Kontum, và An-Lộc. TT Thiệu run sợ vì bị ám-ảnh qua cái chết của Tổng Thống Park Chung Hee do CIA đứng sau lưng điều khiển. Người Giám-Đốc Tình-Báo do chính TT Park tin cậy bổ nhiệm cũng như sự phản trắc của Bác sỉ Trần-Kim-Tuyến thời kỳ TT Diệm. Dù sao TT Thiệu cũng đã cảnh giác; Còn TT Diệm, thì Cụ đã hiểu ý đồ của Mỹ cũng như hai người em của Cụ là (Nhu và Luyện) Đặc biệt sự phản ứng bằng ngôn-từ của Cụ Ngô-Đình-Luyện như “Ông anh của tôi ngu-xuẩn đến đổi phải chui vào cái lỗ (trou)…bị người ta chơi cái trò hiểm độc (coup de vache) mà sự sống còn chỉ có một phần mười… Cụ Diệm làm sao quên được lý do nào mà CIA [điệp viên OSS-19 Lucius] đã kéo Cụ ra khỏi bàn tay của đối thủ Hồ-Chí-Minh, rồi đem ẩn dật nơi sự bảo trợ của Giám-Mục Spellman tại Mỹ? Sự việc Mỹ triệt tiêu Cụ là để cho người Việt hiểu rằng Cụ là bạn của Mỹ chớ không phải là người của Mỹ mà thật ra Cụ là nhà chí-sĩ ái-quốc! Nhà lãnh tụ khí-phách, bị đồng minh phản bội, dân-tộc hiểu lầm, thân-tín trở mặt, và kẻ thù Cộng-Sản reo mừng (với chỉ mặt nổi nhưng mặt chìm là Mafia VN, ám chỉ cứ tha hồ vơ-vét, cướp bóc rồi gởi qua Mỹ)
          Dù sao thì hai vị Tổng-thống trên đều biết được mưu đồ của Mỹ, để đề cao cảnh giác, còn như Cụ Hồ-Chí-Minh thì hoàn-toàn tin-tưởng tuyệt-đối vào Mỹ như lời Tổng-thống Wilson công bố trước thế-giới cương quyết giãi thể chế độ thực dân. Sự tin-tưởng tuyệt đối vào Mỹ bảo vệ tuyên ngôn Độc-lập dân quyền in tạc như đúc vào Mỹ cùng kèm theo bài Quốc-ca của Hoa-kỳ, đã bị bội phản một cách phủ-phàng quá sức tưởng-tượng của Cụ. Thế hệ trước 1945 cũng như Tình báo Quân đội OSS đả đánh giá Cụ Hồ như một tổ chức duy nhất có kỹ luật là người “Quốc-gia” kiên-cường quyết tâm làm cách mạng để khôi phục độc lập cho đất nước dù với danh nghĩa nào cũng chỉ là phương tiện, còn cứu cánh là đem lại độc lập cho đất nước của Cụ. OSS cho Cụ là một đồng minh trung thành giúp Hoa kỳ trong việc tìm kiếm cấp cứu những phi công lâm nạn, trao đỗi những tin tức tình báo khá chính xác, phá hoại những cơ sỡ quan trọng của Quân Phiệt Nhựt và cuối cùng là một thành viên son-sắc với Hoa kỳ từ 1943.
          Phái bộ Hoa-kỳ ở Trùng Khánh đã kết nạp được Cụ Hồ gia nhập vào Cơ quan Tình báo OSS, tiền thân của CIA, từ năm 1943 khi Cụ làm việc cho sở Thông tin Chiến tranh ở Côn Minh (Service of War Information) Và theo kế hoặch của OSS, tháng 10/1944 Cụ Hồ phải về Mật khu Pắc-Bó, Cao-Bằng thành lập chiến khu, nơi đây Điệp-Viên 19 Lucien Conein kết nạp thêm Tướng Vỏ Nguyên Giáp và nhảy dù xuống Pát-Bó để huấn luyện cho Trung đội Vỏ trang Tuyên truyền (nên hiện giờ con cháu Cụ Giáp đang ở Mỹ, và nhiều lần Cụ Giáp bị ám sát hụt cũng nhờ KGB giữ lời bảo đảm với CIA trong cái trò chơi CIP và NLF) Tướng Giáp lãnh trách nhiệm giống y chang như Tướng Trịnh Minh Thế giúp TT Diệm qua Landsale, ám-thị từ Thiếu-tá Archimedes Patti, trưởng đoàn The Deer Team, sau nầy thanh toán các toán đối lập tạp-nhạp để ổn định tình thế cho Cụ Hồ Chí Minh. Thế nên Vỏ Nguyên Giáp tàn sát Việt Cách và VNQDĐ rất tàn bạo từ mùa Thu 1945 đến suốt năm 1946 (nên nhớ cho rỏ theo chỉ thị của OSS) Để rồi ngày 2-9-1945 Cụ Hồ đọc tuyên ngôn độc lập dân quyền 100 phần 100 in như đúc theo Mỹ. Tuyên cáo VN Độc Lập ở Vườn Hoa Ba Đình, Cụ Hồ long trọng với 5 lời thề, trong đó chúng ta nên chú tâm một lời thề độc đáo do OSS xúi bảo, “Thà chết chớ không thỏa hiệp với Pháp!” có nghĩa là phát động chiến tranh để cho Bọn Tư-bản kỷ nghệ chiến tranh làm giàu [War Industries Board] Sau khi nhờ Pháp ổn định tình hình rồi khai chiến với Pháp, OSS ngầm ý: “Cụ Hồ cần dựa vào sự giúp đở của Pháp một cách hiển nhiên để củng cố địa vị và đè bẹp đối lập trước, cũng như sau nầy cụ Diệm về nước cũng phải nhờ tướng Trịnh Minh Thế qua Lansdale”
          Tháng 7/1946, Cụ Hồ đang ở Pháp cho lệnh Vỏ Nguyên Giáp mở cuộc tổng tấn công VNQDÐ từ Thanh hóa trở ra, Tướng Giáp công khai hợp tác với Bộ tư lệnh Pháp ở Bắc Việt qua tình báo OSS giới thiệu [điệp-viên Lucien Conein và Russell Flynn Miller nói tiếng Pháp rất giỏi] Tướng Giáp xin Pháp giúp pháo binh tấn công VNQDÐ và ÐMH. Ngày 12/7/1946, Tướng Giáp mở cuộc tấn công vào trụ sở VNQDÐ ở phố Ðổ hửu Vệ, Cửa Bắc và Quan Thánh; Chiến xa Pháp hổ trợ Việt Minh theo lời yêu cầu của Giáp, chặn các ngả đường giúp VM mở cuộc tấn công. Chiến xa Pháp bắn đại liên và trung liên xối xả (xem Vỏ Nguyên Giáp, “Những tháng năm không thể nào quên” [Des journees inoubliables] bản dịch pháp-văn HN 1975, tr.290-295)
          Cán Bộ Tình Báo OSS ai cũng thông thạo tiếng Pháp (trích dịch của CTD – Jean Sainteny, Histoire d’une paix manqué, Paris 1953,p.171) Cụ Hồ nghe theo sự hướng dẩn của OSS thoả hiệp với Pháp để dựa vào Pháp thanh toán Phe đối lập tạp nhạp. Và để cho Quân đội Pháp tiến vào Bắc bộ qua cảng Hải Phòng do ĐạiTá Alfred Kitts Tình báo OSS hướng dẩn. Kitts theo nguyên tắc tình báo đã đích thân làm nhân-chứng toán quân Pháp đầu tiên đổ bộ trên bờ biển Hải Phòng vào ngày 6-3-1946. Quân đội Pháp trang bị từ chân tới đầu đều là trang cụ làm ra tại Mỹ [trong ống kính của Harriman, Pháp là lính Lê Dương của Mỹ] ngay đến những trang-cụ nặng như tàu đổ bộ, xe-cộ trang bị quân dụng đều thặng-dư làm ra của chiến tranh thứ II: Những Sĩ quan Việt Minh nhìn quân đội Pháp tiến vào bằng cặp mắt câm thù, nhưng ngặc nổi Cụ Hồ tin theo Mỹ khuyến dụ nên để cho quân đội Pháp thành lập những trại lính tại Hải Phòng cũng như tại Hà nội và những thành phố khác. Và cũng không bao lâu quân đội Pháp lại nghe theo bọn OSS (Cụ Hồ và Pháp đều nghe theo lời khuyến dụ của Phản gián OSS) bắn xối xã vào quân đội Việt Minh có nghĩa là gây chiến để có cớ bọn buôn súng Mỹ giải tỏa số vũ-khí thặng dư đồng thời thí nghiệm và phát triển loại vũ-khí mới.
          Như Tôi đã có trình bày nhiều lần, “Việt Nam có thể tránh khỏi cuộc chiến 9 năm với Pháp, đi từ tự trị đến độc lập như Philippines; Dù tham vọng và ngoan cố thế nào, Pháp cũng phải trả lại độc lập cho Việt Nam như Hòa Lan ở Nam Dương, Anh ở Ấn Ðộ … nhưng Harriman [Thủ lảnh Skull and Bones] không muốn vậy vì khẩn thiết sẽ phải hoàn thành kế hoặch 1960-CIP [Couter Insurgency Plan] Harriman người nắm giữ chính sách Hoa Kỳ muốn VN phải trả một cái giá rất đắt cho nền tự do dân chủ của mình vì “Freedom is not for free” Cho nên 8 bức thơ Cụ Hồ gởi cho TT Truman đều bị bỏ vào thùng rác.

          Có một điều rất buồn cười, một hôm chiếc xe Jeep cũa Đại-tá Alfred Kitts dù có treo cờ Mỹ, nhưng Việt Minh vẩn bắn xối xả vào; Sáng hôm sau một Đại-úy Việt Minh phải đi xin lổi vị Đại tá Kitts nầy vì sự nhầm lẩn. Họ đều mặc cùng trang phục, cùng xe Jeep giống nhau thì làm sao phân biệt được vả lại họ đều là người da trắng; Cụ Hồ ra lệnh coi cho kỹ không phải là người Mỹ thì mới bắn. Các bạn có ý kiến gì về vụ nầy!? Hồ Chí Minh theo lệnh OSS chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài và gian khổ gọi là “tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp để cho Mỹ giải tỏa hết số bom đạn tồn kho sau thế chiến-Hai! Nếu chúng ta không bị cái nhóm (WIB) Kỹ Nghệ Chiến Tranh của Mỹ để con mắt cú-vọ đầy tham vọng thì cũng như 60 nước trên thế giới sẻ phục hồi lại nền độc lập đương nhiên vào thời điểm sau Thế chiến thứ 2. Việt Nam có thể tránh khỏi cuộc chiến 9 năm với Pháp, đi từ tự trị đến độc lập; Dù tham vọng và ngoan cố cách nào đi nửa, Pháp cũng phải trả lại độc lập cho Việt Nam như Hòa Lan ở Nam Dương, Anh ở Ấn Độ v.v…Dĩ nhiên, đem lên bàn cân thì sự căm thù của Cụ Hồ về sự lừa bịp của Mỹ hơn gấp nhiều lần hai vị Tổng-thống Diệm và Thiệu?. Cộng-Sản là phương tiện, cứu cánh là cứu nước, trong hoàn cảnh xô đẩy nầy Cụ phải bị dây thòng-lọng của khối CS mỗi ngày mỗi siết chắc hơn; Đó là định luật đương nhiên trong ống kính chiến lược của Harriman?
          . Đến chừng nào thì Cụ Hồ mới hết tin Mỹ? Vì những năm trước đó, sau khi gia nhập OSS 1943, vào một buổi trưa, trên Miền Sơn Cước xa-xôi thuộc vùng Tây Bắc Hà-Nội, bầu trời tuy nhiều mây, nhưng không xấu lắm, chiếc Phi-cơ vận tải hai chong-chóng CAT, C-46, không cờ số, lấp-lánh trần-trụi với lớp võ sáng lòe màu Nhôm, đang thả dù các khẩu súng Trung-Liên BAR, Garant, và Carbine xuống mật khu vùng Tây Bắc Châu-Thổ, xuôi lên thượng nguồn sông Hồng-Hà, mật khu Pat-Pó để giúp Cụ Hồ chống quân phiệt Nhật, đồng thời Toán NCO của OSS sẽ huấn luyện cho Trung-đội võ trang tuyên truyền của Võ-Nguyên-Giáp và Văn-Tiến-Dũng làm phó; Ngoài ra Bác-sĩ Mỹ, ông Paul Hoaglant, thành viên của phái bộ “Deer Team Mission” lo săn-sóc bệnh hoạn cho Cụ Hồ.
          Sau khi bị Mỹ phỉnh gạt, Harriman đưa cụ Hồ trực diện một cuộc khủng hoảng Kinh-tế một cách trầm-trọng do giặc Pháp để lại [Harriman cho rằng theo Cộng Sản là phải nghèo đói trước rồi Mỹ sẽ giúp sau]: Mất mùa, hạn hán, cầu-kỳ sụp đổ, đặc biệt là sự thất bại thê-thảm từ năm 1954 đến năm 1956 của chính sách cải cách ruộng đất. Nhưng sau đó để xoa dịu dư luận, Cụ đã phải hy-sinh Tổng bí-thư Trường Chinh và một số Cán-bộ thân tín; Cụ Hồ ra lệnh đầu năm 1957 rút trên 100.000 quân từ Nam về Bắc (đọc Stanley Karnow “Việt-Nam A history” Editions Viking, New-York, năm 1983, trang 225) Nhờ vậy, nhiều cơ sở Việt Cộng tại đồng bằng sông Cửu-Long bị phía VNCH tiêu hủy, dân chúng sống được một thời gian an-bình từ năm 1954 đến năm 1959; cũng thời gian ấy, Cụ Diệm đã hai lần triệt hạ các cuộc nổi loạn tại Nông-thôn, vào năm 1956 và lần nữa vào năm 1958 làm Harriman vô cùng lo lắng bấn loạn cho ảnh hưởng thành quả của thế siêu chiến lược toàn cầu Eurasian, ra lệnh cho CIA lập tức lật đổ cụ Hồ bằng Lê Ðức Thọ và thay đổi hiến pháp lập tức (1959) Ðại hội bí mật 15 tạo dựng triều đại Mafia Lê Ðức Thọ vào nam thế Lê Duẩn về Hà Nội làm cảnh quền TBT. Ngay lập tức Thọ sáng lập ngay ba đơn-vị để khuấy động lại chiến tranh chiếm miền nam bằng ba Ðoàn ngay sau khi Ðại hội 15: Ðoàn 559 do tướng Vỏ Bam tư lệnh để đưa người vào nam; Ðoàn 759 để tiếp tế bằng đường biển vào nam và hải cảng Sihanouk Ville (Tàu đánh cá trá hình của LX và Mỹ phối hợp nhắc nhở, theo dỏi trên trực hải hành quốc tế) Ðoàn 959 gọi là lực lượng Pathet Lào giữ an ninh nam Lào cho quân BV vào nam
          Căn-cứ theo “định kiến-1” của Harriman thể hiện nơi khuôn viên đại-học là đã đến thời gian điểm mốc (vì thời gian nầy chưa có máy Computer nhắc nhở nên căn-cứ vào hệ thống phóng đồ PRAISE system) Nhóm Học-giả của Harriman nghĩ rằng nếu chờ đợi lâu hơn thì bỏ lở dịp ngăn-ngừa sự ổn định của một Chính-phủ không Cộng-Sản trong Nam trong khi Trung quốc và Liên Xô lại muốn duy trì Hai nước Việt: Đỉnh cao trí tuệ giải nghĩa từ khuôn viên đại-học phải làm cho Miền-Nam suy yếu và đưa Miền-Bắc có chính nghĩa là người Quốc-Gia kiên trì giành Độc-lập [nên ghi nhớ, nữa thế kỷ sau, SCP lại móm lời cho con Gà ứng cử tổng thống, Tù binh Thượng nghị sĩ John Mc Cain làm sáng tỏ thêm về định-kiến-1 “Người dân miền Nam không bao giờ tưởng rằng chính phủ Saigon là hợp pháp mà họ cho rằng Hồ Chí Minh là người “Quốc-gia” tìm kiếm thống nhứt đất nước…” (Les Sud Vietnamiens n’ont jamais croique le gouvernement en place à Saigon était legitime, Ils savaient que Hô Chi Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays….) Trong cuộc phỏng vấn tờ Paris Match, qua The Newsweek, xin nhớ xác định Cụ Hồ không phải là người Cộng Sản! và giải pháp nầy ít tốn kém hơn để Miền Nam chiếm Miền Bắc và đồng thời đáp lại lời hứa với Cụ Hồ [“What you get what you pay, independent isn’t for free”] Thế là bọn quyền lực đen trong bóng tối tung tiền thuê mướn bọn báo chí nước ngoài xuyên tạc chính quyền Miền Nam; Tổng thống Diệm phãi đương đầu với hai kẻ thù lợi hại là Cộng Sản và Báo chí. Cái thế lực trong bóng tối nầy đã bỏ hàng trăm triệu dollar tại nhà Băng Thụy-Sĩ để trả tiền cho các nhà báo viết bài chống lại chính quyền Mỹ và chống chiến tranh VN kể cả ngụy tạo vụ Phó TT Johnson giết TT Kennedy để trả thù câu nói mà TT Johnson tỏ bày với Phó TT Humphrey về cái chết của TT Diệm muốn ám chỉ Harriman là thũ phạm và dỉ nhiên làm sao không dính dấp tới vụ TT Kennedy bị sát hại!
          Xuất phát từ dollar qua trục Ma-Quỷ, cả hai bên Liên-Xô và Mỹ bèn tìm cách truất phế hoặc cách ly cả Cụ Hồ và Cụ Diệm ra khỏi cơ quan quyền-lực – Trong Nam thì chúng ta đã rõ những gì Đại-Sứ E. Durbrow kiếm chuyện với TT Diệm, còn ngoài Bắc KGB và CIA đã móc nối được với Lê-Đức-Thọ đưa vào Nam thế Lê Duẩn về Hà Nội lãnh đạo đảng, còn Cụ Hồ như tấm bình phong ngồi chơi xơi nước ngày ngày vung tưới cây “Vú-Sửa” miền Nam (vì cả hai Cụ đều không muốn người dân mình đổ máu, thì bọn Tư bản buôn súng lấy gì mà sống) Con đường Trường Sơn được thiết lập qua lãnh đạo Đảng, người quyền lực là triều đạ i Lê-Đức-Thọ đư ợc CIA và KGB dựng lên và đứng sau lưng, đường tên 559 do Tướng một sao Võ Bam làm Đoàn trưởng. Cái tên đường mòn Hồ-Chí-Minh do phương Tây thường gọi qua thâm ý tuyên truyền của Nhóm học-giả nầy để trả ơn lại cho sự hối tiếc phải phản bội Cụ Hồ và sẽ ghi danh Cụ vào danh sách Danh-Nhân Thế-Giới sau nầy (From Enemy to Friend của Đại-tá nhị-trùng Bùi Tín, không gọi là đường mòn Hồ Chí Minh mà là đường 559 “về sau khi ném bom bằng B-52 Đường 559 cũng chỉ có 0.18% số bom trúng vào mặt đường…Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu Hà-Nội e ngại đến lo sợ Mỹ cho bộ binh chiếm một đoạn dù nhỏ của đường 559 sẽ làm đảo lộn…) nhưng tôi tự cho đó là Xa-lộ Harriman có huyết mạch là ống dẩn dầu do LX thiết bị, chạy song-song với nó trong sự hoàn thành định kiến-1 (là không thể có một Chính-Phủ chống Cộng hợp pháp tại Sàigòn)
          19 năm sau, Lucien Conein được cân nhắc làm phụ tá về quân sự cho Thái-Thú Cabot Lodge năm 1963. Khi hay tin anh em TT Diệm chạy trốn ra khỏi Dinh Gia-Long, Conein bèn phun ra ngay câu ngạn-ngữ bằng tiếng mẹ đẻ [Pháp] “trứng đã đập vỡ ra rồi…không còn cách nào hơn là phải làm món chả chiên” Theo tác giả William Rust cho biết sáng 1/11/1963, qua Trưởng nhiệm sở CIA David Smith, Trung tá Conein nhận được lệnh của Harriman qua Lodge từ Washington phải tìm bắt cho kỳ được Diệm Nhu. Khi được các Tướng đảo chánh báo cáo sáng 2/11/1963 TT Diệm có điện thoại xin đầu hàng và chịu lưu vong với Nhu. Chính Ðại sứ Lodge (vì Hai Cụ ra khỏi Dinh Gia Long) ra lệnh David Smith cho họ biết không có máy bay trước 24 giờ đồng hồ nhưng sự thật chiếc DC-6 vẩn còn nằm chình-ình tại sân bay Tân Sơn nhứt. Khi hay tin động trời nầy, TT Kennedy hơ-hải chạy như bay tới máy gọi khẩn cấp Tướng Taylor, ra lệnh phải báo cáo lập tức các sự việc cho rõ-ràng, “Tại sao các anh làm vậy?” Đại-Sứ Lodge lúng-túng chuyển giao banh cho Conein; Thoạt đầu báo cáo Hai ông tự tử và nhiều nguồn tin trái ngược khó tin là quân đảo chánh làm ẩu TT Kennedy và Bộ-Trưởng Tư-Pháp Robert Kennedy không thể để yên cho bất cứ viên chức nào dám làm những điều sĩ nhục đến Quốc-thể Hoa-kỳ. Nên nhớ rằng, đương kim TT Kennedy đã tuyên bố trước Thế-giới “TT Diệm là Winston Churchill ở Á-Châu” và vị TT tiền nhiệm Eisenhower cũng đã ca ngợi TT Diệm là con người “Mầu nhiệm”. Hai anh em Kennedy phải làm cho ra lẽ, vì đây là một vết dơ muôn đời trong chính sách ngoại giao của Hoa-kỳ tại Á-Châu, đã làm cho thế-giới ngỡ-ngàng, sửng-sốt “Có phải vì thế mà hai anh em Kennedy cũng phải bị thảm hại” [nên xem 2 Volumes “The New Legion” sẽ rỏ hơn]
          Mãi đến năm 2005, trong tác phẩm “The Secret History of CIA” do tác giả Joseph J. Trento, có ghi lại cuộc phỏng vấn với viên chức cao-cấp CIA, William R. Corson, ông nầy tiết lộ chính đích thân William Averell Harriman ra lệnh giết hai anh em Diệm-Nhu. Hai ký giả Anh-Quốc Michael Charlton và Anthony Moncrieff cho rằng TT Kennedy chịu trách nhiệm về vụ giết TT Diệm vì không hề ra chỉ thị rỏ ràng để bảo toàn sinh mạng của TT Diệm, thì cũng như các Tướng lãnh đổ tội cho nhau như Đôn đổ lỗi cho Minh, Minh đổ lỗi cho Khiêm…tất cả đều đổ lỗi cho viên đạn tàn phá thân xác mà không biết ai đã bóp cò? Giờ đây thì chúng ta đã biết rỏ ai bóp cò súng rồi? Và bỏ tiền thuê mướn báo chí ngoài nước đổ cả tội lổi cho TT Kennedy và Johnson
          “Bài nầy chỉ nhé cạnh một ít soi rọi về vùng tối tâm của lịch sử, nhưng phải đến 2023 (ngày kỹ niệm 50 năm chiến tranh VN (1973-2023) thì các sử gia sẽ làm sáng tỏ với những chứng cớ tài liệu mà CIA sẽ thố lộ như cuốn DVD sự thật HCM, lúc đó người dân Việt sẽ hiểu được cụ Hồ được thán phục không phải vì sự thắng-lợi mà vì sự phản-bội của sách lược Mỹ (Hội Ðồng Kỹ Nghệ Chiến Tranh WIB)” Lúc nầy thế hệ có dính liếu đến cuộc chiến đều nằm sâu dưới đất không thể trồi lên mà ồn ào nửa!

          KQ: TRUONG VAN VINH

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #50
            Bài tuyển dược chiếu cỏ nhiểu nhầt

            Khoảng 5.330.000 kết quả (0,52 giây) Có phải bạn muốn tìm: bai tuyen sinh truong tren cac dien dan linh

            Kết quả Tìm kiếm - Bài tuyển Vinhtruong trên các Diễn Đàn Lính - Page 6hoiquanphidung.com › ... › Trang Thời Sự Vinhtruong ‎Bản lưu07-10-2013 - 6 bài đăng - ‎2 tác giả

            Bài tuyển trên diễn đàn Thiên Thần Mũ Đỏ Chiến Thuật “Cạ-Càng Lướt trên cây” Theo ... Trương Văn Vinh-Chiến lược toàn cầu Eurasia

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #51
              Sorry! Bài dành cho học-giả

              [Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020 -1
              https://www.truclamyentu.info/...onl...n-luoc-eurasia...

              Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... ]
              -nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về nhân-sinh quan và vũ-trụ quan đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan
              Tin Tức Thời Sự Việt Nam Quốc Tế - Thư-Viện Bồ Đề Online_Thư Viện Hoa Sen
              Tác giả Trương-văn-Vinh | Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020


              10 năm trong lộ đồ trù dập TQ (2010-2020): Đây là một đề tài khá thú vị nhưng cũng rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu 100 năm [1920-2020] của siêu sách lược Eurasia như thế nào, dĩ nhiên bài nầy sẽ truy cứu trở lại 90 năm về trước làm chứng liệu hậu quả cho 10 năm sau cùng. Người viết chấp nhận những ai muốn tra cứu hãy PM cho người viết trong ngôn từ lịch sự dù rằng quan điểm nhận thức chính trị có khác biệt theo trình độ: Dưới đây là kể lại những đoạn đường dài trải qua 90 năm để đối chứng hiện tại và tương lai ... kế sách đoạn đường đã đi qua để cho các vị nghiên cứu sẽ thấy rõ đoạn kết như thế nào, và tại sao Hoa Kỳ muốn nâng đỡ Ấn Độ vào ngôi vị thứ-2 thế Trung Quốc kết thúc Eurasia-1 để sang Eurasia-2 khởi đầu 2020?

              Cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger cũng úp mở lập lại những gì kiến trúc sư George F Kennan, người lý thuyết gia phụ tá cho W A Harriman, thiết kế lộ trình dẹp bỏ chủ nghĩa CS bắt đầu từ Soviet Union và kế tiếp là Trung Quốc. Như người Á đông ta khi muốn ăn những múi thơm ngon trong trái Sầu Riêng việc khó nhứt là tét vỏ {Soviet Union] Vị thế Liên Xô là nỗ lực chính trên trục đường tiến sát của xung kích Mỹ. Sự sụp đổ Soviet Union bị bắt nguồn từ Mỹ chơi trò tiên-lễ “on the strong-man side” biến Liên Xô thay vào vị trí của Mỹ là viện trợ cho các nước cò con CS để lần hồi đi đến chỗ ngã quỵ vì kinh tế lôi theo những biến cố thay đổi chính trị bằng TBT Mikhai-Gorbachov 56 tuổi chấm dứt trên 70 năm lá cờ CS búa liềm phải bỏ xuống để cho là cờ tượng trưng cho người dân Nga phất phới trên điện Kremlin. Chấm dứt cuộc chiến tranh theo đúng diễn-tiến lộ đồ của George Kennan vào mùa Noel 1991..Khởi đầu bằng phá vỡ bức tường Bá-Linh 1989, người thủ lãnh thế hệ-2 Skull and Bones vẫn yên lặng ẩn mình trong vị trí Phó TT George H W Bush để mưu cầu cho giai đoạn lật đổ Trung Quốc bằng sách lược của lý thuyết gia George F Kennan “Phải xây dựng một minh ước quân sự NATO” và hiện tại, tại Á Châu, Mỹ đang lập lại những gì George Kennan khuyên bảo, thế nên chúng ta thấy thêm Ấn Độ một nước ngang ngữa với TQ đứng hạng nhì đông dân số. “If the Soviet Union were not allowed to expand …it would soon to collapse. Mùa Noel 1991, Liên Sô chính thức tuyên bố chấm dứt chế độ CS hơn 70 năm: Liền tức thời các nước Cộng Hoà cực miền đông nam Liên Sô tách rời tự nguyện xin gia nhập LHQ có Estonia, Lithuania vào LHQ, ngày 17/91991.

              Ngày 2/3/1992 thêm Armenia, Kazakhstan, Republic of Modova, Turmenistan, Uzbekistan Ngày 31/7/1992 thêm Georgia (nước nầy và Mông Cổ là 2 nước được Mỹ cưng yêu nhứt, khi Nga chiếm Georgia, Bà Rice chính thức tuyên bố đuổi quân Nga phải về xứ ngay tức khắc, còn Mông Cổ, TT Bush-Con và Phó TT Biden khi qua TQ buộc phải qua Mông-Cổ để dằn mặt sự an nguy của TQ!
              Rồi đây Việt Nam sẽ dễ dàng tự nguyện nhờ LHQ can thiệp để hợp thức hoá nên dân chủ của Việt Nam với một lá cờ mới thay vào cờ đỏ sao vàng bằng cuộc thật sự tự do bầu phiếu. Thế nên Kissinger mới lập lại và đoan chắc Trung Quốc đang lo sợ về việc bị Hoa Kỳ bao vây như Liên Sô trước đây, trong cuộc chiến tranh lạnh do chiến lược gia W A Harriman nhàu-nặn ra, và Kissinger kêu gọi hai nước phát triển một mối quan hệ hợp tác thay vì đối đầu với nhau, đó chẳng qua Kissinger biết trước đây là thế siêu chiến lược Eurasia và lần lần từng bước TQ phải tuân thủ những gì mà Hoa Kỳ qua Harriman đã ước tính như là một Gia Cát Lượng hoàn vũ. Nhà ngoại giao Mỹ nổi tiếng về những hoạt động ngoại giao “đi đêm” thời Chiến tranh Lạnh đã kêu gọi như thế hôm thứ 3 vừa qua trong lúc một số nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Washington đang lợi dụng vụ tranh chấp Biển Đông để lôi kéo các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và các quốc gia Đông Nam Á chống lại Bắc Kinh.
              Cũng trong ngày thứ ba, một bài viết cổ võ cho việc gây chiến với Việt Nam và Philippines đăng trên một tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tạo ra điều mà các nhà quan sát cho là “một động lượng xấu xí” (ugly momentum) ở Biển Đông. Dưới đây người viết trình bày vài chi tiết mà Hoa Kỳ đang kỳ vọng về Á Châu sau đây: Trong thời gian gần đây ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc nhận định rằng Hoa Kỳ đang lợi dụng vụ tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á ở Biển Đông. Nhưng theo như người viết thì khác hẳn, đây là những biến cố do Mỹ áp đặt theo lộ-đồ Eagle Pull 1975 và Roll-back 2010 do Bộ Ngoại giao và Quốc phòng cùng xác định một mục tiêu Hoa Kỳ phải trở lại Á Châu, TBD đúng vào mốc thời gian (decent interval). Và TQ đang buộc tạo ra căng thẳng càng tăng thêm sự lo ngại của Nhật Bản, Ấn Độ và Australia đối với sự phát triển sức mạnh trên biển của Trung Quốc để lôi kéo các nước này vào một trận tuyến chống Bắc Kinh. Dĩ nhiên vì thời thế buộc phải sinh nở ra một Liên Minh Quân Sự mới như trong thiết kế của George Kennan. Những nhận định đó đã được đưa ra mặc dù giới hữu trách ở Washington nhiều lần tỏ ý hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc và hy vọng rằng một nước Trung Quốc thịnh vượng và hùng cường hơn sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu như sức nóng tăng dần của bầu khí quyển, bệnh hoạn khác thường sinh ra do vận tốc bộc phát triển của con người, thiên tai, nhu cầu tài nguyên bị cạn dần, nhân mãn đói khát phải giải quyết … Hoa Kỳ muốn TQ phải dùng khoa học kỹ thuật cùng giúp đỡ môi sinh cho con người và ngừng ngay việc tạo ra sự thắm nước biển vào đồng bằng Sông Cửu Long có thể đe doạ môi trường sống của nhân loại…

              Cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger thừa nhận rằng Trung Quốc đang lo ngại về việc bị Hoa Kỳ bao vây như Liên Sô trước đây. Ông phát biểu như sau tại một cuộc hội thảo ở Washington hôm thứ ba vừa qua (27-09-2011). Theo như người viết sự lo ngại nầy là nhậy bén và có lý căn cứ theo dĩ vãng đã chứng minh
              Ông nói" "Vấn đề khó khăn thật sự và thách thức thật sự là ứng phó với điều mà tôi cho là hai sự sợ hãi mâu thuẫn nhau. Trung Quốc lo sợ hay lo ngại về việc bị Hoa Kỳ bao vây. Họ e rằng chúng ta sẽ đối phó với họ như Liên Sô trước đây. Họ lo sợ như vậy vì từ trước tới nay lúc nào cơn ác mộng chiến lược của Trung Quốc cũng là các nước láng giềng của họ có thể đoàn kết lại với nhau để giành ưu thế. Và chính sách ngoại giao của Trung Quốc từ trước đến nay là tìm mọi cách để chia rẽ các nước láng giềng. Trong khi đó, mối quan tâm của Hoa Kỳ là làm thế nào để không xảy ra tình trạng một nước làm bá chủ toàn bộ châu Á, một tình trạng đã dẫn tới thế chiến thứ hai." Nhà ngoại giao Mỹ Kissinger nổi tiếng về những hoạt động ngoại giao “đi đêm” thời chiến tranh Lạnh cho rằng nếu Hoa Kỳ và Trung Quốc có mối quan hệ đối địch, hai mối lo sợ đó sẽ đụng độ với nhau, mang lại những hậu quả vô cùng tai hại cho cả thế giới. Kissinger cũng bác bỏ nhận định cho rằng Trung Quốc là một nước đang lên, chưa chắc vì bị Mỹ kèm kẹp còn hơn Liên Sô ngày xưa; Mỹ chưa bao giờ dùng chiến tranh khí tượng với Trung Quốc, nhưng đã dùng với Liên Sô, Cuba và Việt Nam đến nỗi đồng bằng Sông Cửu Long Cá và trứng đều chết vào những năm đầu thống nhứt, Hom Mì và dây khoai Lang đều bị cháy khô, Cuba nước chuyên môn trồng Miá làm đường phải bị bỏ đất hoang, Liên Sô lúa Mì bị úng thối vì freezing bởi vũ khí khí tượng (Weather Weaponry quá bí mật không thể phát hiện).

              Ông nói: "Hầu hết sách vở ở Mỹ đều mô tả Trung Quốc hiện nay như một nước đang lên. Không có người Trung Quốc nào nghĩ rằng Trung Quốc là một nước đang lên. Trong 18 của 20 thế kỷ qua, trong 18 thế kỷ đó, Trung Quốc là nước hùng mạnh nhất thế giới. Nhưng rồi một sự bất thường đã xảy ra trong tâm thái và kinh nghiệm của Trung Quốc trong thế kỷ 19 và trong phần đầu của thế 20, khi Trung Quốc không bắt kịp cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành một nước tương đối yếu. Nhưng trong đầu óc của người Trung Quốc họ không nghĩ rằng họ đang trỗi dậy. Người Trung Quốc nghĩ rằng họ đang lấy lại vị thế lịch sử của mình và họ đang trở về với vị trí của mình. Ông Miles Yu, giáo sư môn quân sử của Trường Võ bị Hải quân Hoa Kỳ, cho rằng tuy giới hữu trách Bắc Kinh không ngớt trấn an thế giới về chủ trương phát triển trong hòa bình, nhưng những lời lẽ về sự quật khởi của Trung Quốc làm cho các lân bang của Trung Quốc cảm thấy lo ngại.
              Ông cho biết: "Trung Quốc đang dốc sức để quật khởi. Nói một cách khác, giờ đây Trung Quốc tin rằng đã tới lúc Trung Quốc trở thành cường quốc bá chủ thế giới. Trung Quốc chưa bao giờ né tránh hay ngại ngùng khi nói như vậy. Quí vị đã nghe cụm từ 'thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc'. Và mọi người dân bình thường ở Trung Quốc đều nói một cách tự nhiên như vậy. Nhưng đối với người viết đứng ở bên ngoài, đặc biệt là những người của một nước láng giềng, tuyên bố này thật là đáng sợ vì không ai biết rõ ý nghĩa cụ thể của điều này" Nhưng đối với George H W Bush-Cha thì Trung Quốc buộc phải co rút để nắm giữ nội tình đồng thời ngoan ngoãn nghe theo Mỹ để không bị chia năm xẻ bẩy và triệt để tuân thủ những điều khoản COC do LHQ ấn định. Sự lo ngại này đã gia tăng trong mấy ngày qua, sau khi tờ Hoàn Cầu Thời Báo ở Trung Quốc cho đăng một bài viết hô hào cho việc tấn công Việt Nam và Philippines để đạt mục tiêu gọi là “dĩ chiến chỉ chiến”. Bài viết của tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nói rằng Biển Đông là nơi tốt nhất để Trung Quốc tiến hành chiến tranh vì “trong số hơn 1000 giàn khoan dầu ở đó, không có cái nào là của Trung Quốc; 4 phi trường ở quần đảo Trường Sa, không có cái nào là của Trung Quốc; một khi chiến tranh xảy ra mọi thứ sẽ bị thiêu rụi. Ai sẽ thiệt hại nhiều nhất khi các đại công ty dầu khí Tây phương rút đi?” Điều nầy Bush-Con đả biết trước, nên trước khi rời toà Bạch Ốc, Bush-Con đã chính thức mời 2 nguyên thủ Việt Nam và Phi Luật Tân với những lời vàng ngọc nhắn nhủ đừng sợ ma bắt.
              Trong khi đó, một số các nhà nghiên cứu an ninh quốc tế đã lên tiếng kêu gọi thiết lập một diễn đàn để ngăn chận điều mà họ cho là một cuộc chạy đua vũ trang ở Á châu trong bối cảnh Trung Quốc nhanh chóng tăng cường sức mạnh quân sự của mình. Phát biểu tại một cuộc hội thảo hôm 29 tháng 9 ở Hồng Kông về chính sách an ninh quốc tế vùng Nam và Đông Nam Á, tướng hồi hưu Klaus Olshausen của Đức nói rằng sự tăng cường sức mạnh quân sự của các nước trong khu vực đang gây ra nhiều nỗi bất an. Những biến cố nầy, người viết nhắc lại George H W Bush đang tái diển cái màn trước khi trù dập Liên Sô vào năm 1980 đến 1990 (đem so sánh nó từa tựa như 2010 đến 2020) mối căng thẳng quân sự với Liên Sô qua âm mưu ngầm với Iran, Afghanistan, và Iraq sóng ngầm sôi sục như hiện nay tại Biển Đông trước khi tình báo Mỹ làm sụp đổ Liên Sô tan từng mảnh năm 1991 tạo ra ngay tức khắc tám nước Cộng Hoà: như Caucasua và Transcaspia, sau đó tiếp nối Khanates, Circassian thuộc vùng núi … theo đúng diễn tiến lộ đồ Eurasia 1920-2020. Người ta cho rằng Chúa đang nói với Bush-Cha: “Con đã tạo dựng Neoimperialists like Paul Wolfowitz and Richard Perle. Thế là vùng dầu mỏ nầy do Mỹ kiểm soát gồm Caucasian và Transcaspian bởi sự mời mọc Tối Huệ Quốc [The US Freedom Support Act] làm cho mực sống người dân của 8 nước Cộng Hoà sung túc hơn người dân tại Moscov. “Trung Quốc nên nhìn lại dĩ vãng để không bị lầm lỡ trong tương lai ”Olshausen nói tiếp: "Nếu chúng ta nhìn vào tỉ lệ của chi tiêu quân sự đối với tổng sản lượng quốc nội của mỗi nước ở Á châu, chúng ta không thể nói rằng một cuộc chạy đua vũ trang đang diễn ra. Tỉ lệ chi tiêu quốc phòng của tất cả hoặc đại đa số các nước Á châu trong năm 2010 đều tương đương hoặc thấp hơn tỉ lệ của những năm 2000 và 2001. Tuy nhiên, có một điều hiển nhiên là những hành động nhằm nâng cao khả năng quân sự trong những năm gần đây đã khiến cho các nước trong khu vực, Hoa Kỳ và các nước khác cảm thấy khó hiểu, lo lắng và bất an".

              Ông Trương Bạc Hối, giáo sư chính trị học của Đại học Lĩnh Nam ở Hồng Kông, tán thành những nỗ lực để giảm thiểu mối rủi ro xung đột quân sự. Nhưng ông nói thêm rằng Trung Quốc có trách nhiệm đi tiên phong trong nỗ lực này.

              Ông cho biết: "Sự trỗi dậy của Trung Quốc rốt cuộc sẽ làm cho nhiều nước trong khu vực phải tính toán tới trường hợp xấu nhất. Bởi vì không một nước nào có thể hoàn toàn tin tưởng vào những tuyên bố của một nước khác về những ý đồ trong lãnh vực quân sự của họ. Vì vậy, tôi cho rằng cách giải quyết rốt ráo là Trung Quốc phải tự mình thực hiện sự khắc chế về chiến lược, phải hạn chế việc phát triển khả năng tấn công những mục tiêu ở xa. "Các chuyên gia quốc phòng cho biết trong 10 năm qua Trung Quốc đã chi tiêu hơn 150 tỉ đô la cho các trang thiết bị quân sự và chi tiêu quốc phòng của họ đã gia tăng với tốc độ hai con số mỗi năm. Các nước khác ở Á châu như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Australia, Việt Nam và Ấn Độ cũng đã dành ra những ngân khoản lớn để trang bị tàu ngầm và các loại vũ khí khác. Biến cố do Mỹ nhàu nặn ra cũng không khác gì việc làm ăn chính trị phải có cho sự lặp lại như hồi 1980-1990 và hiện tại 2010-2020. Vì lịch sử là sự tái diễn không ngừng.
              Trước khi đi vào nội dung, hãy kiên nhẫn NÊN TÌM HIỄU TIỂU-SỮ NHÂN VẬT W-A-HARRIMAN (1891-1986) Đại đế giấu mặt của Triều đại thứ-1 Skull and Bones. Sở dĩ Harriman dùng danh từ Đảng Sọ Xương người là vì đường lối và sách lược: “Không bao giờ có người bạn lâu đời, cũng như không bao giờ có kẻ thù truyền kiếp, vì quyền lợi “America first”, quyền lợi, chỉ quyền lợi mới xác định thế liên minh, thế nên đi với Bụt mặc áo Cà sa, vì ở đây phải đi với Ma nên mặc áo giây, xin thông cảm nick name “Skull and Bones! Gentlemen …!

              - Về cuốn sách “Aid to Russia”: Harriman vừa tốt nghiệp Yale với 27 tuổi đời đã trở nên một nhà triệu phú nhờ tài sản kết-xù của người cha để lại và là một thiên tài xuất chúng, một chiến lược gia có tầm cỡ hoàn vũ không như Gia Cát Lượng chỉ hạn hẹp trong đất nước Trung Hoa. Lợi dụng trong thời buổi chiến tranh 1917, Harriman báo động chính quyền phải phát triển hạm đội thương thuyền trong thế mạnh mục đích giao thương với Âu Châu mà nước Đức là mục tiêu chính. Ông dám đi thẳng vào cuộc chiến tư tưởng hệ với Karl Marx (1818-1883) và Lenin (1870-1924) Nhưng đối với Harriman thì biến đổi giai cấp “công-nông” thành giai cấp “sản-xuất” [human resources] làm ra của cải cho xã hội. Năm 1917 dựa vào thời kỳ chiến tranh, thiên-tài 27 tuổi nầy áp lực chính quyền phải ký hợp đồng thành lập Hạm đội thương thuyền lớn nhứt thế giới, đồng thời thuyết phục chính quyền tạo điều kiện giúp đỡ cách mạng Liên Xô qua Aleksandr Kerensky số tiền cho vay là $325 triệu để sản xuất chiến cụ tự vệ, nhưng nguyên vật liệu phải được xuất cảng từ Mỹ. Làm sao cách mạng LX tránh được ‘cái-bẫy’ đầy hấp dẫn như vũ khí tự vệ kinh qua quá trình bị đế-quốc xâm lược: Thành Cát Tư Hãn, Napoleon, và Ðức quốc Xã {Ðây cũng là chước: đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, nhưng đối với tầm nhìn bao quát của Harriman là nắm ngay nhân-lực [giai cấp sản xuất vũ-khí] khi Cách mạng Nga mới vừa chớm nở).

              Năm 1920, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có mỏ Manganese và dầu hỏa. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng Sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn tư bản gây ra nhiều tội ác bóc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rõ ràng bọn Bolsevik vẫn cần dollar và kỹ thuật Tây Âu để sống còn. Ðặt văn phòng tại Bá-linh, Harriman dám cùng chung với công ty Ðức và chính quyền LX tạo nên Công-ty Hỗn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ. Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể. Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà Liên Xô không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường tình báo.

              Ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tính dụng $1 triệu dollar đặt cọc và điều động J.Speed Elliot, Phó giám đốc Công-ty Harriman and Company qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolshevik do trùm mật vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký [vì thế chiến lược toàn cầu, tình-báo quân-đội Mỹ OSS được lệnh kết thân với KGB] Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn đạm của War Industries Board. Thế là “Kế hoạch Eurasia” đã lồng vào ống kính của Harriman về những nước Cộng hòa phía cực Ðông nam của LX sẽ rơi vào tay của Mỹ sau nầy với vô vàn tài nguyên nằm sâu dưới lớp tuyết mà LX chưa đủ kỹ thuật để khai thác.

              Năm 1941 Harriman giúp đỡ Hitler qua công ty hỗn hợp Hamburg-Amerika, tờ báo New-york Herald Tribune đăng trang 1 “Hitler’s angel has $3 million in US bank”. Tại sao Harriman chơi với kẻ thù!? Chủ trương bá-đạo của Harriman là không có người bạn lâu đời cũng như kẻ thù truyền kiếp, quyền lợi trên hết, quyền lợi xác định thế liên minh! Chơi với ma-quỷ thì phải lấy cái đảng hội “Skull and Bones” làm vũ khí, Vì đi với Bụt thì mặc áo Cà-sa, nhưng ở đây đi với Ma thì mặc áo giấy! Gentlemen thông cảm!

              -Sách “Peace with Russia” của Harriman, 1959: Chủ nợ thường thường nói gì con nợ nghe nấy. Nhưng làm sao khuyến dụ LX nhảy vào trò chơi chiến tranh “Mặt Trận Giải Phóng” [National Liberation Front] để chống lại với “Kế hoạch Chống Nổi Dậy” [Counter Insurgency Plan] Thế giới làm sao quên được là năm 1957, Liên bang Xô viết từng đề nghị 2 chính phủ đương đại của VN cùng được gia nhập LHQ, không kể là Trung Quốc cũng thích sự hiện hữu của 2 nước VN. Thật đã rõ là ngoài 2 phe VN, các thành phần tham gia hội nghị Genève-1954 đều thiên về cách giảm thiểu nguy cơ đụng độ toàn cầu; Sau khi chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Cụ Hồ không muốn gây thêm chiến tranh cho người dân lầm than, vì quá nhiều khó khăn tàn phá, cầu cống sụp đổ tan hoang, hạn hán, bão lụt mất mùa, thêm vào cách mạng ruộng đất bị thất bại làm nhân dân Nghệ-An nổi dậy chống đối. Trong bối cảnh nầy, Cụ Hồ quyết định qua bút tích “Miền Nam độc lập, trung lập và giàu mạnh” có nghĩa là không đụng đến miền nam, với mong mỏi Miền Nam sẽ phồn vinh chỉ có đứng sau Nhựt và sẽ “hiệp thương sau đó, Cụ Hồ ra lệnh rút 100.000 quân về Bắc, thế nên Miền Nam được hưởng một sự thanh bình tuyệt đối từ 1954 đến 1959, (Stanley Karnow “VN Viking, New York, 1983, page 225).

              Harriman vô cùng bấn loạn với số vũ khí thặng dư còn quá nhiều, dù chiến tranh Triều Tiên và Lính Pháp đã xử dụng trong 8 năm nhưng vẫn còn tồn kho, theo sự thiết kế của nhóm tham mưu dân sự George Kennan, phải xử dụng cho đến cuối 1968 [Tết Mậu-Thân] mới hết, cho nên khi phía CSBV dùng AK.47 nhưng VNCH vẫn dùng Garant M.1 bắn từng viên một. Vì Harriman đã có ý đồ trong thời gian thế chiến-2, [trong kế hoạch Aid to Russia 1941-1946 Plan] đang là đại sứ Mỹ tại Liên Xô (1943-46), Harriman cũng thúc dục công nhân LX sản xuất vũ khí cứ tha hồ mà cho ra hàng loạt như T-34, -54 chẳng hạn sẽ có chổ tiêu thụ sau nầy. Ðó cũng là ỷ vào vị thế chủ nợ nên buộc LX phải tham dự trò chơi chiến tranh CIP và NLF với điều kiện dễ-dãi là không cần quân LX tham chiến như tại Triều tiên cũng như VN mà chỉ có lợi ích duy nhứt là công nhân LX có việc làm ăn như sản xuất vũ khí trong khi dư thừa nhân lực cần có công ăn việc làm sau thế chiến. Harriman đả tước quyền làm chủ của Chủ hãng xưởng tại LX, nói về business Costumer mới là người nuôi công nhân, người chủ làm gì có tiền để trả!?!?

              Nói theo lời mộc-mạc của dân Miền-Nam, thế thì ông William Averell Harriman là ai mà “thấy ghê” vậy? Là người của giai-cấp thống lãnh nước Mỹ, người đặt đẻ ra chính sách, đường lối chủ trương sách-lược của Mỹ, mà ông là tiêu-biểu (Tôi xin lập lại một lần nữa, trong tác phẩm nầy, một đoạn của bình luận gia danh tiếng Gore-Vidal…”Tất cả mọi kế hoạch hay chương trình được đưa ra, trên hình thức coi như là chính sách Quốc-Gia, nhưng trong thực tế là để phục vụ quyền lợi của giới Đại-Tư-Bản, American First”).

              Harriman đã từng áp lực Tổng-Thống Truman phải triệu hồi và giải nhiệm Đại-Tướng Mac Arthur liền tức khắc; Dĩ nhiên, TT Truman phải ít nhiều do dự rồi cũng phải giải nhiệm một Tướng tài ba mà nhân dân Mỹ yêu thương cũng như các nước ở dọc Thái Bình Dương quý mến, khi thấy Arthur đại diện Hoa Kỳ cùng ký hiệp định Nhựt đầu hàng. Tại sao? Theo sách lược Eurasia, thế kỷ 20 bạo hành thế kỷ 21 hòa giải trên bàn mổ LHQ buộc tạo thành trật tự thế giới mà Harriman cho là New World, vì thế phải cách chức tướng Mc Arthur để đưa TQ vào LHQ, còn tại chiến trường VN phải cách chức tướng Westmoreland để thống nhứt VN cho quyền lợi Mỹ đúng 3 thập niên chiến tranh để tiêu dùng và thí nghiệm vũ khí, rồi mới cho phép VN độc lập thống nhứt, nhắc lại lời hứa độc nhứt của Hoa Kỳ khi không chịu ký chia đôi VN. Thế nên CIA phải tài trợ đảng Việt Tân, Vỏ Văn Ái tại Pháp, và nhiều thành phần trí thức đánh bóng ngày 30/4 là ngày Quốc khánh VN được thống nhứt qua chiến dịch HCM là người QUỐC-GIA đã giành lại độc lập từ tay ngoại bang. Permanent Government đã phải dùng một TNS tù binh bị Hà Nội hành hạ độc ác nhứt, đến nỗi Mc Cain đã 2 lần toan tự sát nhưng bất thành, để nói lên sự thật: (trích một đoạn trong sách “The New Legion” Vinh Trương) The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent Government, was explained the Vietnam-War in universities 1960: “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était “un nationaliste” qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” Once McCain came back at Hoa-Lo “Hilton Prison, he said “The bad guys won the war!”.

              Harriman lý giải cho rằng cuộc đổ quân Mỹ trên bờ biển Inchon, Triều Tiên thành công là do Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự George Kennan của ông thiết kế chớ không phải do tài của các tướng-tá, cũng như ông muốn Võ Nguyên Giáp trở nên nổi tiếng vì nhu cầu chiến lược cuộc chiến VN như một công cụ gián tiếp cho quyền lợi Mỹ, vì thế sau khi bi oanh tạc 11 ngày đêm Hà Nội tuyên bố đầu hàng Mỹ đâu có chịu vì theo lịch trình Hà Nội được chỉ định “Chiến thắng Ðiện Biên Phủ dưới đất và trên không 1954 và 1972” chứ sự thật Giáp thiếu căn bản quân sự, điều dễ hiểu: chả lẽ tất cả sĩ quan BV đều là thiên tài hết? Trong khi không tốt nghiệp một trường ốc đại học quân sự nào?

              Đứng trên phương diện quân-sự thuần túy, bỏ qua chính-lược, ngay đến những người lính Hải-Quân bình thường cũng không dám chọn Inchon làm bãi đổ quân; Vì nơi đây toàn là San-hô và đá ngầm, tàu đổ bộ chỉ có đi vào mà không đi ra vì San-hô và đá ngầm sẽ đánh, cắt thủng và chìm tàu; Với tư-tưởng và góc nhìn của con mắt Đại Tư-Bản, Harriman cần đổ quân an-toàn và lấy yếu tố bất ngờ mà địch quân không thể tưởng-tượng được để bảo vệ 100% cho sinh mạng các Binh-sĩ và nơi đây cũng là cái ‘thùng rác’ để hủy bỏ các tàu nầy, vì quân đội Mỹ sẽ phải trang bị trong tương-lai loại tàu tối tân hơn. Còn hành quân LS 719 phải tiêu hủy nhiều trực thăng với gần 800 khẩu phòng không cổ điển, cả hai đều phải hủy bỏ tại thùng rác lộ thiên nầy bắng tính dụng của Mỹ cho kế hoạch “Aid to Russia 1941-1946 Plan renewed” dĩ nhiên phải chấp nhận sự hy sinh nhiều đoàn viên phi hành Army Aviation cho cuộc chiến vì America First.

              Cuộc đổ quân tại Inchon cũng không khác gì cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy, chỉ khác ở chỗ là, Inchon bảo vệ sinh mạng con người Mỹ, còn Lam Sơn 719 tiêu diệt con người bản xứ được gọi là Cộng Sản/Quốc Gia.. Duy có một điều giống nhau là, Tư-Bản sản xuất ra các loại vũ-khí mới và hủy bỏ những chiến cụ lỗi thời tại nơi hành-quân và có sự cấu kết, đồng lõa của Liên-Xô cùng phế thải tại vùng núi-non hiểm-trở đó, những chiến cụ dư thừa, lỗi thời từ Thế chiến thứ 2. Trước khi từ giã chính trường, Harriman lại áp-lực Hành-Pháp cách chức Tướng Westmoreland và triệu hồi về Mỹ giống như Tướng Mac Arthur; Lý do đã công khai xác nhận trong một buổi họp ở Thượng-Viện. “Lực-lượng Đồng-Minh nên đánh qua Nam-Lào, để cắt đứt đường “Xa lộ Harriman” [mòn Hồ] phá tất cả ống dẫn dầu và hệ thống tồn trữ vũ-khí của CS” Cũng như Tướng háo thắng Mac Arthur, ngày 5/April/1951 gởi thơ cho Dân-Biểu Joseph Martin, lãnh-đạo dân tộc thiểu số; Xin được phong tỏa dọc bờ biển Trung-Quốc và tấn công những Căn-Cứ ở Mãn-Châu (Manchuria) có sự hiệp lực với Quân-Đội Trung-Hoa Quốc-Gia ở Đài-Loan; Vì trước đó Tướng Arthur có xin phép TT Truman để đánh Trung-Quốc dựa vào độc quyền Bom nguyên-tử, nhưng TT Truman bị sức ép của W A Harriman nên từ chối cho là quá nguy-hiểm, (Dĩ nhiên tướng Arthur làm sao hiểu nổi Harriman muốn đặt TQ vào ngồi chiếc ghế hội-viên LHQ, nên phải bỏ rơi THQG và VNCH, đem Hạm đội 7 vào gần Đài Loan là chận Mao làm ẩu chiếm Đ.L chớ không phải làm thịt Mao) Tướng Arthur lại qua mặt TT Truman bằng cách viết thư cho Toà Lập-Pháp với mong muốn Quốc-Hội sẽ chấp thuận. Kết cuộc, Tướng Mac Arthur bị giải nhiệm vì lý do mà TT Truman cho rằng: “không được quyền phát ngôn về chính sách Quốc-Gia” (Unauthorized Policy Statements) giấy chứng-từ giải nhiệm Tướng Arthur do đích thân Harriman soạn thảo văn thư để cho TT Truman ký khán.

              Tưởng cũng nên biết qua tiểu-sử của W.A.Harriman: Ông sanh vào ngày 15/Nov/1891 tại New-York. Là một chính khách gây nhiều ảnh-hưởng lôi cuốn người khác theo mình, là một Cố-vấn lỗi-lạc, kiệt xuất trong ngành ngoại-giao và đặc biệt là thủ-phạm số ‘Một’ trong mưu đồ giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa Việt-Nam. Tốt nghiệp Đại-học Yale 1913, ông hưởng một gia tài kếch xù của người cha là E.H.Harriman, người có nhiều thế lực trong ngành Hỏa-Xa, năm 1916 cai quản thêm một xưởng đóng tàu. Từ năm 1917 đến năm 1925 là đầu nậu của một Công-ty thương thuyền, Harriman cai quản một đội thương thuyền lớn nhất Thế-giới. Ông mới thật sự là giai cấp Đại Tư-Bản, giai cấp thống lãnh nước Mỹ.

              Năm 1930, Harriman bỏ cuộc hưởng giàu sang ra chính trường để dấn thân bảo vệ quyền lợi cho giới Đại Tư-bản? Hay ông là người Ái-quốc dấn thân để bảo vệ Tổ-Quốc khỏi rơi vào tay Chủ Nghĩa Cộng-Sản? Cả 2 trên đều đúng, bằng chứng, tới giờ nầy nước Mỹ vẫn là Đệ-Nhất Anh-hùng trong thiên hạ; Thoạt đầu, ông phục vụ trong ngành Hành-Pháp của Tổng-Thống Franklin Roosevelt với chức vụ rất khiêm nhường trong Bộ phục hồi Quốc-Gia (National Recovery Administration) Cố-vấn Hội-đồng thương mãi kiêm quản-lý sản-xuất, kiêm ngành vật-liệu thô (raw materials) Sau một thời gian học hỏi lấy đà, Harriman được Roosevelt chọn làm sứ-thần đặc-biệt, phối hợp trung gian hợp-đồng mua bán giữa Liên-Xô và Anh-Quốc (1941-1943) và năm 1943 ông muốn được bổ nhiệm làm Đại-Sứ tại Moscow cho sách lược chia đôi hai quốc-gia Đức, Triều Tiên và Việt Nam được trôi chảy theo đúng trục lộ trình do nhóm tham mưu của Harriman thiết kế.

              Trong suốt thời gian làm Đại-Sứ 1943-1946, Harriman được người Nga kính mến vì đã đem rất nhiều phúc lợi cho họ, mục tiêu của Harriman là nhắm vào giai cấp sản xuất [công nông] của Liên Xô, tại sao chủ nghĩa Cộng sản đối xử con người như Bầy-Ong, Bầy Kiến? Harriman tin vào chế độ dân chủ, bởi vì dân chủ đã mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người, hảy xây dựng thế giới thành nơi an toàn cho nền dân chủ! Ngược lại, Harriman cũng không muốn người Nga và Âu-Châu sẽ đổ máu vì chiến tranh cứ liên tục xảy ra trên Lục-địa văn minh nầy; cũng như theo ông đang xảy ra Đại chiến-2 và từ đó trong tâm ông đã nẩy ra tư-tưởng đổi vùng bạo-loạn hay nói trắng ra là “đổi màu da trên xác chết” được gọi là hoạ da vàng, mà mãi đến sau nầy (năm 1964) Giáo Sư Francois Xavier Winters mới cho rằng cuộc chiến Việt-Nam là một cuộc chiến thế mạng (surrogate) “một cuộc tế thần, lấy da Vàng thế vào chỗ da Trắng!” được thể hiện qua tình cảm với một nước [Nga] bị nhiều lần ngoại bang xâm chiếm (Pháp, Đức, Nguyên-Mông) Harriman là tác giả của hai Tác-phẩm: Peace with Russia (1959) và American and Russia in a Changing World (1971) Đọc xong 2 cuốn nầy, và phối kiểm với ROE (Rules Of Engagement) trong cuộc chiến VN, người ta có cảm tưởng Ông như một người ‘Nga-kiều’ yêu nước, nhưng thật sự không phải vậy mà ông muốn cải biến chế độ Cộng Sản thành Siêu Cộng Sản toàn vẹn như nước Mỹ sau nầy, và chỉ có Liên Xô trong ngôi vị số-2 cho mục tiêu giải trừ hoạ Da-Vàng đang là nguy cơ hăm doạ nhân loại; LX là nạn nhân bị dân Tàu lấn đất giành dân ở cực đông nam LX. Đến thời Tổng-Thống Harry S Truman, Ông phục vụ với chức vụ Bộ-trưởng Thương-mại (1946-1948) Giám-đốc chương trình Marshall, tái thiết Âu-Châu (1948-1950) Người Đại diện của Hoa-kỳ trong Minh-Ước Bắc Đại Tây-Dương (NATO) và cũng là Ủy-viên nghiên cứu phòng thủ Tây-Âu (1951) Trong thời gian nầy, Harriman xử dụng William E Colby một nhân viên tầm thường của Tòa Đại-Sứ Hoa-Kỳ ở Stockholm và Rome để điều hành thuê mướn những dịch-vụ loại trừ phe Tả cũng như Cộng-Sản trong những nước Tây-Âu bằng công-cụ vô cùng hữu-hiệu là Mafia, thế nên Harriman rất có kinh-nghiệm khống-chế bộ máy Hành-Pháp của các vị Tổng-Thống nước Mỹ sau nầy. Nếu ta nhìn cho kỹ thì quả thật nước Mỹ lãnh đạo bằng một Ðảng siêu Mafia Skull and Bones, (Đả lâu lắm rồi, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter (1882 – 1965) đã dám nói trước khi chết) “Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.” tất cả đều tốt nghiệp từ lò luyện thép duy nhứt: Ðại học Yale và Harvard chỉ là công cụ chuyên viên cho Yale như 4 đời giòng họ Bush và Harriman.
              Năm 1950, Khi chiến tranh Triều-Tiên bắt đầu, sáng lòe trong tâm tưởng của ông, đã đến lúc ông phải thực thi những gì mà ông hằng đeo đuổi. Harriman tức tốc bay về gặp TT Truman, xin ở ngay tại văn phòng điều hành (Executive Office Building) bên cạnh TT Truman như là một người phụ-tá về những dịch-vụ An-Ninh Quốc-Gia. Ông đề nghị TT Truman cho ông tháp tùng với Trung-Tướng Matthew Ridway đến Tokyo gặp Tướng Mc.Arthur, mục đích chuyến đi nầy là căn dặn Tướng MacArthur đừng có gây hấn với Trung-Quốc cũng như xúi bẩy Đài-Loan ăn phần vào và Ông cũng bảo-đảm cho Mc Arthur đổ bộ vào Inchon mà không sợ bị Liên-Xô can thiệp vì Liên Xô là bầu-bạn gắn bó ngầm với Mỹ qua tiền viện trợ giúp-đỡ tính dụng của công ty Harriman Co. Aid to Russia 1941-1946 Plan.

              Quả thật sự hoài nghi của Harriman thành sự thật, nên ông buộc lòng phải ép TT Truman giải nhiệm cả hai ông, Bộ-Trưởng Quốc-Phòng Louis.A.Johnson và Tướng McArthur; Harriman đề nghị vị Tướng tay chân của ông lên thay thế Bộ-Trưởng Quốc-Phòng là Tướng Bộ-Binh, George C. Marshall. Harriman thay mặt cả Truman soạn thảo công lệnh, Tướng-lãnh không được tuyên bố vung-vít về Sách-lược Quốc-Gia nữa, rút ra từ sự giải nhiệm Tướng Arthur; Trong năm nầy (1950) Ông tuyển chọn những tài hoa kiệt xuất của Hoa-Kỳ vào làm việc tại một Viện Nghiên-Cứu đặc biệt mà phần trên tôi có giải thích chưa rõ đó là Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự của lý thuyết gia George Kennan, gồm nhiều học giả nghiên cứu khác nhau và đây là ‘những hoàn-ngọc ẩn của nước Mỹ được hoàn toàn dấu kín cho cơ mật quốc gia.

              Một học giả sáng chói trong Nhóm nghiên cứu nầy cho biết: Chắc-chắn sẽ xảy ra cuộc chiến tranh nguyên-tử ở Âu-Châu, hậu quả sẽ tàn phá Bắc bán-cầu, bao gồm Âu-Châu, Mỹ, Canada. Học-giả nầy đề nghị nên đổi trục chiến tranh qua Á-Châu và cũng để giải tỏa sự thăng bằng nạn nhân mãn cho thế-giới “Họa Da Vàng,” Đó là nguyên nhân thãm trạng chiến tranh Việt Nam phải xảy thay vì theo trào lưu tiến hoá của phong trào giải trừ chế độ thực dân (decolonalism) mà hơn 60 nước trên thế giới đã tìm sự độc lập cho dân tộc mình trước 1960. Thế thì xuất phát tại nơi nào ở Châu-Á: Theo nhận thức của giáo-sư Sử-Điạ, George Kennan: Tất cả những loài động vật trên trái đất đều có khởi nguyên của nó, có đường Hưu-Nai chạy, loài Kiến biết trước trời giông bão, cũng có đường bầy Voi qua lại (La Piste des Elephants) cho đến hang động sau cùng gởi nắm xương tàn của chúng, vì chúng có linh-tính biết trước ngày chết. Còn loài người thì có con đường gây ra bạo hành do cơ trời “thiên-hạ đại loạn” Từ Đại-Đế La-Mã, đến Nã-Phá-Luân, đến Hốt Tất-Liệt (Khoubilai) cho đến Đức-Quốc-Xã, Quân phiệt Nhựt…cái trục ‘bạo-loạn’ đó vẫn là từ Âu sang Á, sang Nga, Ba-Tư, Đông-Âu, Nam-Âu, Ai-Cập, tràn qua Thổ-Nhĩ-Kỳ (turkey) Iraq, Iran, Ấn-Độ…phía Đông Tân-Cương, Tây-Tạng, Nội-Mông, Mãn-Châu, Cao-Ly, bao trùm cả Trung-quốc nhưng khi đến Việt-Nam thì bị khựng lại; như quân Nguyên-Mông đã 3 lần dừng bước tại Việt Nam vì thua trận phải chạy về Xứ. Kết quả, Harriman chọn Triều Tiên làm “diện” phát khởi còn Việt Nam làm “điểm” tận cùng ở Á-Châu, là cái trục dứt điểm chuyển hướng từ bên trời Tây hướng về trời Đông, lấy Đông-Dương làm nơi chạm tuyến sau cùng (Jet-stream front).

              Giáo-sư Sử-địa, William A.Withington tại Đại-Học Kentucky thì cho rằng: qua Lịch-sử, người dân ở các nước Á-Châu, nhất là Vùng Đông Nam-Á không thích sự đô hộ của người da trắng, dù rằng chủ nghĩa thực dân không còn nữa, muốn lấy lòng họ nên để cho người cùng màu da hay may ra chế độ CS dầy xéo lên đất họ một thời gian lâu mau tùy trình độ dân trí giác ngộ. Theo như ý đồ của Harriman, nên dựa vào chiến thắng Điện-Biên-Phủ để tạo cho phe Cộng-Sản một uy tín rất cao đẹp, lần đầu tiên một Nhóm Du-kích Á-châu đã đánh bại một đạo quân của một cường quốc Âu-Châu, rồi trở thành mô hình gương mẫu cho các phong trào giải phóng dân tộc khác, gồm gần 60 Nước trên toàn thế giới, như ở Bắc-Phi, Nam-Dương, Phi-Luật-Tân, Mã-Lai, Phi-Châu, Trung Nam-Mỹ, và Trung-Đông..Phía Thế-Giới Tự-Do bị đẩy vào vị thế phòng thủ; Làm thế nào để phục hồi chính nghĩa, kéo họ về với Mỹ...? Sau một thời gian kinh qua thế sự, dù Hồ-Chí-Minh đã bị dụ-dỗ để trở thành Đồng-Minh của Mỹ cũng phải chờ thêm một thời gian trắc nghiệm coi cho được; Vì “Freedom is not for Free!” nên để Việt Nam phải trả một cái giá cho sự Tự do của Họ như tại đất nước Mỹ lịch sử đả chứng minh qua Concord. Dù rằng, theo tin từ tình báo Quân-Đội OSS, nhóm Hồ là một tổ-chức có kỷ-luật vững chắc, chấp nhận gian nguy chiến đấu chống Nhật và giúp Mỹ tìm cứu khi Phi-công bị nhảy dù xuống vùng của họ. Hành-Pháp Mỹ thời TT Truman bị Harriman ép buộc phải từ khước lời thỉnh cầu của Cụ Hồ, tháng 8 và 9 năm 1945 qua 8 bức thư xin Mỹ bảo đảm độc lập như Phi Luật Tân như bảo đảm Hiến pháp VN giống y chang như Mỹ, trong khi HCM đang kiểm soát Hà-Nội, và đặt hoàn toàn niềm tin tuyệt đối vào Mỹ.

              Hồ-Chí-Minh cầu khẩn qua trung gian của văn phòng “Cơ-quan Chiến-lược” Hoa-kỳ, đã gởi yêu cầu lên TT Truman xin cho Việt-Nam được hưởng quy chế như Phi-Luật-Tân để được bảo hộ trong thời gian giành độc-lập; Từ tháng 10/1945 cho đến tháng 2/1946, Hồ đã viết cho TT Truman ít nhất 8 văn-thư, chính thức kêu gọi Hoa-kỳ và Liên-Hiệp-Quốc can thiệp để ngăn chận chính sách thuộc địa của Pháp cho thích hợp theo trào lưu hiện tại, nhưng … cứ cho rằng nghiệp quả thiên định cho dân Việt như sách lược “vòng Kim-Cô” của Harriman áp đặt lên trên dầu dân tộc VN 30 năm theo thiết kế của Kennan 1945-1975 rồi mới được độc lập thống nhứt (một chứng liệu đả có trong thiết kế nho nhỏ do anh ThienLe: tài liệu của US Defense Supply Center Philadelphia (DSCP) thì C-ration used trong chiến tranh Việt Nam là phần thặng dư còn lại trong Đệ Nhị Thế Chiến (WWII).

              Tổng-Thống tiền nhiệm Franklin D. Roosevelt cũng được Harriam thuyết phục: “Hoa-Kỳ chủ-trương không để cho Pháp trở lại Đông-Dương và đề nghị đặt Việt-Nam dưới quyền quản-trị tạm thời của Liên-Hiệp-Quốc” Điều quan trọng ở đây là theo ý-đồ toan tính của Harriman, khi Liên-Xô và Trung-Quốc cùng nhau công nhận Hồ-Chí-Minh vào tháng 1/1950, thì cũng đúng vào lúc mà William Averell Harriman cảm thấy phải thật sự dấn thân nhảy vào chính-trường để bảo-đảm sự phồn vinh cho quyền lợi nước Mỹ [đây tôi muốn nói có phần nguồn dầu khí ở thềm lục địa VN qua sự phát hiện của Vệ-tinh tình báo spy satellite] Liền sau đó ông tuyển mộ những nhân tài học giả kiệt xuất để nghiên cứu giúp ông trong vấn đề chiến thắng ý-thức-hệ Cộng-Sản trong chiến tranh lạnh (Cold War) Harriman coi trọng Nhóm Học-Giả Dân-Sự nầy là bộ óc của nước Mỹ. Tôn chỉ, nên dùng một ‘đấu pháp’ tuy nhẹ nhàng với Liên-Xô nhưng phải chiến thắng đối thủ qua môn võ-thuật, dùng sức mạnh tối đa của địch để tạo thành sức mạnh của ta ‘trong cái thế bên kẻ mạnh’ (on strong-man side) mà chúng ta cần sẽ phải áp dụng tại Đông-Dương: Hãy tạm bỏ qua thuyết Domino cũa Eisenhower. Ðó là lý do sâu-xa mà Harriman không muốn Hoa-kỳ ký tên vào Hiệp định Genève-1954 chia 2 miền Nam và Bắc! Ranh mãnh trong vấn đề hiệp định Geneve nầy để vỗ ngực chỉ có Hoa Kỳ là muốn Việt Nam được thống nhứt cho thế chiến lược toàn cầu của Mỹ với thâm ý xô đẩy VN vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn cho mưu đồ quyền lợi của thế lực trong Hội Đồng Kỹ Nghệ quốc phòng. Nhưng rốt cuộc cũng vào quĩ đạo cũa Mỹ tuy được độc lập thống nhứt dưới cái dù của Mỹ, và phải trả một cái giá quá đắt ? Vì freedom is not for free.

              William Averell Harriman (1891-1986) kiến trúc sư cuộc chiến VN
              Trong những nhân vật sừng-sỏ trên đây, chỉ có W.A. Harriman là người có nhiều tham vọng, nhưng thật ra ông cũng là một thiên tài “giấu-mặt” làm nên lịch-sử Hoa-kỳ. Theo cá nhân tôi nghĩ đem so với Quân sư Gia-Cát-Lượng để đánh giá thì Harriman quả thật xứng đáng là một “Đại-đế giấu mặt” không những trong nước Mỹ mà cả thế giới; báo chí thời đó cũng như hai văn hào Walter Isaacson và Evan Thomas mô tả Harriman là người lãnh đạo trong Nhóm “Sáu người thông-thái” nắm vận mệnh thế giới. Riêng Harriman biết xử dụng đồng tiền của người Cha để lại và mở kinh doanh ngân hàng W.A.Harriman and Company rồi trở nên Tổng Giám-Đốc đội thương thuyền lớn nhất thời đó, năm (1917-1925) Sự thành công theo phóng đồ thẳng đứng của ông làm “thôi miên” giòng họ Bushes, trong đó có George Herbert Walker, là tiền bối bốn đời của TT Bush-Con, Tổng-thống thứ 43 của Hoa-kỳ và ông Prescott Bush là cha của George H.W. Bush, Tổng-thống thứ 41 của Hoa-kỳ. Thật cũng là điều lạ, ở trên đời nầy ít ai chịu thuần phục một kẻ nhỏ hơn mình 16 tuổi như so sánh Harriman với Walker, ấy thế mà cả hai ông Bushes nầy đã thích-thú học-hỏi, tự-nguyện làm thành viên trong thương nghiệp mà người Chủ là Harriman; Chẳng bao lâu từ một người đại-lý buôn bán vỏ xe khiêm-nhường, Ông nội Bush con là Prescott Bush đã trở nên nhà triệu phú, với số tiền chuyên ngân từ Fritz Thyssen (Đức).
              Harriman, tuổi vừa tròn 27 và mới tốt nghiệp 4 năm Đại-Học Yale; Năm 1917, lợi dụng trong thời chiến áp-lực chính quyền phải ký hợp đồng vào sự nghiệp đóng tàu hàng-hải dù cha Ông nổi tiếng là ông Vua về sở hỏa-xa. Harriman đóng tàu thành công trong thời chiến, chẳng bao lâu Harriman trở nên ông Vua về đội thương thuyền hàng hải lớn nhất vào thời đó, được củng cố phát triển qua danh xưng United American Lines, ông đặt vào trọng tâm tham vọng lợi nhuận qua hợp đồng với nước Đức bằng đường hàng-hải Hamburg-American Trong khi hơn nửa thế kỷ, người ta đều nghe danh ngân hàng tín dụng thương mại Quốc-tế BCCI (Bank of Credit and Commerce International) do sư tổ dòng họ Bush, George Herbert Walker sáng lập truyền lại cho cả dòng họ Bush sau nầy.

              Trong Đảng Công-Ty, đáng kể là nhánh Cộng-Hòa có dòng-tộc Rockerfeller và Stillman, nhưng tất cả không ai chịu dấn thân ra làm chính khách để bảo vệ quyền lợi Công-ty, mặc dù phần đông, bản chất của họ phát xuất từ Đảng Cộng-Hòa. Đứng trên góc cạnh nước Mỹ, Harriman là một thương gia giàu có, một chiến lược gia có tằm cở quốc tế, một chính trị gia có tầm nhìn sâu-sắc, một chính khách lỗi-lạc, một nhà ái-quốc hiếm có, một đảng viên Dân-chủ đúng nghĩa để lo cho quyền lợi của tất cả Tập đoàn Tư bản không phân biệt lớn nhỏ, chịu dấn thân xa rời sự hưởng thụ giàu sang, hy-sinh và tận-tụy cho sự hùng-mạnh của đất nước Hoa-Kỳ. Yêu nước là yêu Tư-bản Chủ-nghĩa, vì Hoa-kỳ là tiêu biểu.

              Khi Cách Mạng Nga thành lập chính quyền (năm 1917) và thành phần Tư-sản bị đày ải cho đến chết tại vùng đông lạnh Tây-Bá-Lợi-Á (Siberia) Harriman nhìn xa hơn vào lá cờ ‘Búa-Liềm’ ông đã đặt nhiều quan tâm đến giai cấp Công-nhân là chính, ông không sợ những giáo điều của Lenin sẽ đi vào thực tế như tư tưởng Lenin: “Trước hết, chúng ta sẽ chiếm Đông-Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á-Châu, sau đó bao vây Hoa-kỳ và thành lũy cuối cùng của Chủ-nghĩa Tư-bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa-kỳ cũng sẽ phải rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rục. Vì thế đã là người Cộng-Sản phải đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù là giai cấp Tư-Sản” và ‘Chính sách cải tạo’ là kỹ thuật đánh lừa người Tù “luôn luôn làm cho chúng có ý hy-vọng được tự-do, chuyển trại thường xuyên để nuôi dưỡng hy-vọng giả tạo đó, cuối cùng chúng gặp nhau và chết ở Siberia còn ở Mỹ là Alaska.

              Sau nầy Phạm Văn Đồng và toàn thể CBCS cũng nghĩ như vậy: “Đem 10.000 nhân viên quan chức miền nam có nợ máu với nhân dân ra đày ải ở vùng sơn cước thâm u nầy cho chúng chết lần chết mòn tại Siberia/VN, bằng cách cho chúng ăn thật ít bắt chúng làm thật nhiều”; duy chỉ có Mafia-Lê Đức Thọ thì biết chắc chúng sẽ nối tiếp theo sau diện ODP.
              Harriman không căm ghét người Nga mà trái lại Ông rất có cảm tình với người Nga qua nỗi lòng của Ông, lồng vào hai tác phẩm “Peace with Russia” 1959 (hòa bình với Liên-Xô) và “America and Russia in a Changing World” 1971 (Hoa-Kỳ và Liên-Xô cùng thay đổi cục diện thế-giới) Một tư-tưởng vĩ-đại đang nảy sinh trong khối óc của ông, người Công-nhân và Nông dân là nguồn nhân lực “sản xuất”, xứng đáng được hưởng những của cải do họ làm ra, nổi bật hơn, là tại sao không để cho họ chia phần làm chủ (Profit Sharing) ông vẽ ra một thế-giới phồn thịnh do người công-nhân sản xuất ra của-cải và chỉ có vài người bỏ vốn đầu tư thì chính họ mới là người lãnh-đạo, vì trên thực-tế “người nào chi tiền người đó chỉ-huy” (như trong chiến-tranh Việt-Nam, có lần Tướng O’Daniel nói toạc ra ‘ai chi tiền người đó chỉ-huy) Sự bỏ vốn đầu tư ở Liên-Xô không ngoài mục đích trên và sau nầy là Trung-Quốc; Đây là hình thức cũng như chân lý thực tế nắm chắc giai cấp thợ thuyền một cách tinh-vi với giá rẻ mạt, nhưng căn cứ trên sự hài lòng tự nguyện, thay vì đối xử với Họ như bầy Ong bầy Kiến, Harriman mảnh liệt tin tưởng phải xây dựng thế giới thành nơi an-toàn cho nền dân chủ, bởi vì chế độ Dân chủ sẽ mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người.

              Thật vậy, khi cướp được chính quyền vào năm 1917, hăng say trong chiến thắng, Lenine thường chủ quan với đề tài: Cộng-sản, Tư-bản, ai thắng ai?” Và càng đi xa hơn bằng cách tuyên bố: “Tụi Tư bản, nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nỗi, nó biết người ta mua dây thòng lọng để treo cổ chúng nó, thế mà chúng nó vẫn sản xuất và bán cho người ta” Từ đó đến nay đã gần 100 năm, và nếu chúng ta lấy mốc điểm thời gian 160 năm khi Karl Marx (1818-1883) viết tuyên ngôn thư Ðảng Cộng sản, suy ngẫm những biến cố lịch sử đã xảy ra: Chúng ta thấy nó hoàn toàn trái ngược lời tiên tri của Marx và Lenine. Marx tiên tri là Tư bản dãy chết, cách mạng tất yếu sẽ xảy ra tại những nước Tư bản, Lenine tiên đoán Cộng sản sẽ treo cổ Tư-bản; Nhưng Tư bản không dãy chết, không bị Cộng sản treo cổ, mà ngược lại, câu nói của Marx trở thành: Cộng sản dãy chết. Cách mạng tất yếu sẽ xẩy ra tại các nước Cộng sản “Và câu nói của Lenine cũng trở thành: “Tụi Cộng sản nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nỗi, nó biết người ta bán Coca Cola, Mac Donald, quần Jeans, hàng hóa cho nó, để dụ nó vào sập-bẫy, để bóp cổ nó chết, nhưng nó vẩn cứ mua!” W.A Harriman quả thật là một chiến-lược gia thiên tài, nếu chúng ta nghiên cứu chiến lược “Eurasian” của Skull and Bones đánh sập các nước Liên Xô và Ðông âu, thì chúng ta thấy họ đến với các nước nầy đầu tiên bằng những bang giao kinh tế, thương mại, đến với Coca Cola, Mac Donald, sau đó từ từ biến kinh tế quốc doanh thành kinh tế tư doanh, với tuyệt chiêu là “tối-huệ-quốc” làm cho xã hội dân sự các nước nầy mỗi ngày một trở nên mạnh; dỉ nhiên Ðảng và nhà nước CS mỗi ngày một yếu đi, đến lúc không thể cưỡng lại được, thì chế độ sụp đổ. Lẽ tất nhiên sự sụp đổ của Liên Xô và Ðông âu còn nhiều lý do qua sự nối-tiếp điều hành kiệt xuất của giòng họ Bush: Chiến tranh Tình-báo Phản-gián là một cú đấm sau cùng của loài Ma Ðầu-lâu Skull and Bones, vì đi với Ma phải mặc “Áo-Giấy” là vậy, cho nên Harriman không ngại ngùng khi sáng lập ra Ðảng Ðầu-lâu Xương-người. [Skull and Bones]

              Ngày hôm nay, Hoa kỳ cố gắng đưa-đẩy Việt Nam vào Tổ chức Thương Mại Quốc-tế (WTO) theo lộ-đồ, giúp VN trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An LHQ, rồi có Vệ-tinh riêng để bảo vệ lãnh thổ (Hoa-kỳ đã hủy diệt những thám thính cơ bí-mật với âm mưu tìm kiếm hơi đốt cũng như dầu hỏa trên thềm lục địa VN, [kẻ lén lúc dọ thám tìm mỏ, nhưng có người âm thầm triệt hạ cho biết tay mảnh vun rớt trên đảo Phú Quốc] Kẻ bành trướng không chịu hiểu: “Cái ổ con Ó-Mẹ làm ra không thể Le-Le hay Vịt trời-Con nở ra nơi đó!”) Tình báo Hoa-kỳ theo lộ trình sơ khởi về phát họa những chiến thuật ngắn hạn, nằm trong một chiến lược dài hạn, đó là thay thế mô hình tổ chức xã hội độc đoán, độc tài CS, bằng mô-hình tổ chức xã hội Dân chủ, Tự do và kinh tế thị trường. Hoa kỳ tiên đoán theo lộ-đồ:
              Chế độ Cộng sản chỉ sụp đổ dưới Ba sức ép:
              - (1) Nhất là giới trí thức, sĩ phu, sinh viên, học sinh sẽ phải can đãm đứng lên đấu tranh càng ngày càng đông hơn, đấu tranh cho quyền sống và quyền làm người
              - (2) Sức ép đến từ quốc-tế, đến từ hành động của Cộng đồng người Việt hải ngoại
              - (3) Sức ép đến từ sự rạn nứt, (đây là tuyệt chiêu của CIA) chia rẻ trong Ðảng Cộng sản qua tố cáo chỉ mặt các quan chức tham nhũng.

              Dưới thời Cách-Mạng Nga thành lập chính quyền năm 1917 bởi Aleksandr Kerensky, đảng Công-ty nầy cho mượn ngay tín-dụng số tiền là 325 triệu dollars để mua các vật liệu làm chiến-cụ, dĩ nhiên vật liệu nầy phải từ Hoa-Kỳ chuyển qua Liên-Xô. Mặt khác Harriman với con mắt nhìn xa thấy rộng, đang dòm ngó nguồn tài nguyên ‘dầu khí’ và mỏ ‘manganese’ để luyện thành hợp kim ‘alloy’ làm vũ-khí, nhất là các túi dầu chạy dài dọc theo các nước Cộng-Hòa Trung-Á đang nằm sâu dưới lớp Tuyết dày đặc mà chỉ có Hoa-kỳ mới có đủ khoa-học và kỷ-thuật để khai thác. Một tư-tưởng kinh-dị về “Eurasian Great Game” đang thoáng in sâu trong óc của Harriman từ dạo đó (1920) Đây là một kế hoạch chiến lược dài lê thê đến hàng thế kỷ mà một đời người không đủ thời gian đảm trách.

              Harriman chụp lấy cơ hội nhảy vào chính-trường, Thủ-tướng Anh, là Winston Churchill và Chủ-Tịch Liên-Xô, Stalin biết mọi việc ở Mỹ qua Harriman; Trong suốt thời gian Đệ II thế chiến, Harriman là người trao mật tin giữa London và Moscov, ông chọn con số cho gọn trong hồ-sơ phối hợp giữa hai bên là 322 (his diplomatic case the numerals 322) cho tiện giữ bí mật. Dù rằng cuộc đời thương-mại đang quá thành công trong việc làm ăn với hai chính quyền đang xung đột với nhau là Đức và Liên-Xô. Bên cạnh đó Công-ty Remington-Arms của Rockerfeller lại buôn lậu bí mật vũ-khí từ Hoa-kỳ bán cho Đức qua ngã Holland vào đầu năm 1930; Đối với Tập-đoàn Tư-bản nầy chỉ biết có quyền lợi qua đồng Dollar, không có bạn mà cũng không có thù, chỉ có quyền lợi quyết định sự liên-minh.

              Harriman bỏ ngành Hỏa-xa qua ngành đóng tàu chiến và trở nên Đại-đế ngoài nước Mỹ, (Overseas-Empire) Theo như báo chí Saint-Louis thời đó mô tả, khi con người quá thành công về tiền-tài thì người ta lại muốn bước vào đài danh-vọng, Harriman biết chuẩn bị cho mình rất chu đáo để trở nên một nguyên thủ Quốc-gia Hoa-kỳ. Nhưng Chúa lại không chìu lòng người, hai lần ra ứng-cử đều bị thất bại, năm 1952 và năm 1956; Mặc dù đã chuẩn bị sẳn-sàng lấy đà lên chức cuối cùng làm Thống-đốc của một tiểu bang lớn nhất nước Mỹ, là New-York.

              Năm 1962, Tổng-thống Diệm được sự mách nước của vị Đại-sứ khả ái Frederick Nolting, nên đã đề cử ông Cố-vấn Ngô-Đình-Nhu qua Genève để gặp Phù-thủy Harriman và thuyết phục Harriman đừng ký vào hiệp định Trung-Lập Lào, vì biết chắc rằng Hà-Nội sẽ vi phạm và lợi dụng phần đất Lào để lấn chiếm Miền-Nam. Theo chương trình thì Harriman chỉ tiếp ông Nhu có 30 phút, nhưng cuộc bàn thảo kéo dài đến 3 tiếng; Khi Harriman tiển chân ông Nhu ra về, ông Bộ-trưởng Cao Xuân Vỹ nhận thấy vẽ mặt hai người hầm-hầm như bực tức một điều gì. Khi Cụ Nhu gặp ông Vỹ, Cụ Nhu bèn xả ra cho nhẹ người: “cái thằng Cha nầy không biết gì cả”. Làm sao Cụ Nhu biết được thế siêu chiến lược của Harriman về Eurasian! Định kiến Axiom-1 biến con đường mòn HCM thành Xa-lộ Harriman có ống dân dầu chạy song song theo nó do LX chịu thiết bị?

              Đây là sự suy diễn có tính cách riêng tư của người viết: Một ông già 71 tuổi, đầy mưu-mô và bản-lãnh, kiên-nhẫn để cho cậu nhỏ [Cố vấn Nhu] đáng con mình hằn-học, chẳng lẽ Harriman nói toạc ra rằng: vì quyền lợi của Liên-Xô và Mỹ đã đồng thuận dùng Đông-Dương làm nơi thí nghiệm vũ khí mới vừa chế tạo và giải tỏa số Bom đạn thặng dư sau thế chiến-2, bằng cái trò chơi chiến tranh lấy danh từ hào nhoáng, về phía Liên-Xô “chiến tranh giải phóng” (NLF) và huê dạng về phía Hoa-Kỳ như “kế hoạch chống nổi dậy” (CIP) Đối với Harriman và Nhóm tham-mưu Học-giả kiệt xuất của ông sẽ không có Đại chiến thứ-3 mà chỉ có cuộc chiến khu-vực, lấy Triều-Tiên và Đông-Dương làm chiến tuyến thuộc Màn-2 của Eurasian Great Game. Trận Triều-Tiên vì quyền lợi tức thời nên để lại 50.000 quân, còn Đông-Dương vì quyền lợi tiềm-tàng để thành lập một nước VNCH lớn hơn, và sẽ thắt chặt hơn nửa thế kỷ sau đó 1995; Cái thâm-thúy là dùng khuôn viên các trường Đại-học để lý-giải hậu quả nơi chiến trường tại Việt Nam qua ba đáp sổ dưới đây:
              - (1) Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon.
              - (2) Axiom-2: The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affaires.
              - (3) Axiom-3: The US could not have won the war under any circumstances.
              Cùng với 3 định-đề (axioms) đã được bàn luận sâu rộng tại các Đại-Học về cuộc chiến VN trong giai đoạn năm 1960-1971 như Kenneth E. Sharpe trong “The Post Vietnam Formula Under Siege” và “Political Science Quarterly” đây là thời kỳ giải kết của Mỹ. Cái nhóm Tham-mưu nầy đã có chủ trương đưa Trung-Cộng gia nhập vào Liên-Hiệp-Quốc, nên buộc phải giải nhiệm Tướng Mc Arthur trong cuộc chiến Triều-Tiên và bức tử Miền Nam thuộc VNCH. Chiến-lược giải kết nầy đã tạo nên một tầm vóc Quốc-Tế dù kết quả có bị mang tiếng nhất thời “con Cọp giấy”, “người khổng-Lồ với đôi chân đất sét” và đưa nước Mỹ vào thời kỳ suy thoái. Nhưng tập đoàn Tư-bản cho là thời kỳ nghỉ-ngơi sau khi hoàn-tất một công trình (Inventory năm 1973-1980) Còn Nhóm Học-giả Tham-mưu thì cho rằng, trò chơi cử-tạ để phô trương bắp thịt của Hoa-kỳ đã xong, bây giờ tới phiên người Nga phải trả giá về sự cho ra đời Chủ-nghĩa Cộng-sản khắp Năm châu, bằng cách đặt Liên-Xô vào vị trí của Hoa-kỳ, như quân-đội Nga tiến vào Afghanistan. Ngoài ra Hoa-kỳ cũng phong tỏa kinh-tế các nước chư-hầu của Liên-Xô, buộc Liên-Xô phải tăng cường viện trợ kinh-tế cho họ. Mặt khác Hoa-kỳ cũng gây rối khắp nơi, làm cho Liên-Xô phải quân viện hay chính thức tham chiến để lộ bộ mặt thực dân Đỏ. Để kết cuộc qua đó mà người dân trong khối Cộng-Sản mới có cơ-hội sáng mắt, so-sánh giữa hai thể chế “Dân-chủ Tư-bản” và “Dân-chủ Cộng-sản” ai thắng ai? Một cuộc bỏ phiếu bằng chân! Một cuộc chiến thắng thầm lặng với thủ đoạn Thần sầu Quỹ khóc, nhưng không dám nói ra, sợ lương-tri nhân loại nguyền rủa, vì gieo rắc tai-ương cho các nước nhược tiểu; Cái danh xưng nổi lên cho là thất bại thảm hại của Hoa-kỳ để làm mờ đi cái “mục-tiêu” chủ yếu là đồng Dollar hốt vào qua kỷ nghệ sản-xuất chiến tranh, và nước Mỹ vẫn là Đệ Nhứt siêu cường không nước nào địch nổi.

              Sau cuộc chiến khá dài tại Việt Nam, nhưng họ không dám tuyên bố đó là một chiến thắng thầm lặng (Quiet-Victory) biết bao thảm họa cho người dân của ba nước Đông Dương, vì Họ không dám nhận những danh từ không tốt đẹp gì dù đã làm phong phú hoá trong tự điển Anh Ngữ như, “Bỏ phiếu bằng chân” (voted with theirs feet) “Cánh Đồng Chết” (Killing field) “Thuyền Nhân” (Boat People) “Học Tập Cải Tạo” (Reeducation-Camp) “Vùng Kinh Tế Mới” (New Economical Zone)
              -12 năm sau, và cũng đã đến lúc kết thúc mật-kế Pennsylvania giao Miền-Nam cho Hà-Nội Năm 1974 đệ tử ruột của Harriman là William H.Sullivan cựu Đại-sứ Lào và đương kiêm thứ trưởng Ngoại-Giao cho Kissinger đã phán một câu rất mất dạy về quan điểm Hoa-kỳ lúc ấy: “Chúng tôi hy vọng rằng, Đông-Dương sẽ lui vào chỗ của nó trong bóng tối, và nó xứng đáng như vậy”. Thật tội nghiệp cho các nước nhược tiểu, phù-thủy Harriman đâu cần biết Đông-Dương là gì, ông chỉ coi đó như là một vùng hoang dã chỉ xứng đáng là nơi để thí nghiệm vũ-khí như chúng ta thường cho là “vùng oanh kích tự-do” Dĩ nhiên Tổng-thống Diệm dễ gì để cho đất nước mình trở thành lò luyện thép. Phù-thủy Harriman đích thực trở nên thủ phạm số một đã giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa và ra lệnh giết chết hai anh em TT Diệm, Miền Nam trở thành chính phủ bù nhìn từ đấy! Ấy thế mà ngày sinh nhứt thứ 90 của W A Harriman, người em út cuối cùng của dòng họ Kennedy còn sống là Edward Kennedy lại tuyên bố: “Nếu không có Ngài nước Mỹ và loài người không thể sống trong một trật tự thế giới mới” [The New World] “We couldn’t have held the twentieth century without him” như thế kỷ-21 nầy.
              TRIỀU-ĐẠI-2 SKULL and BONES
              (Prescott Bush, người tiền bối tham vọng đưa con cháu mình vào danh sách tổng thống nước Mỹ?)

              Prescott Bush, chất Xám kiệt xuất của ngành tình-báo, An-Ninh Quốc Gia Hoa-kỳ?
              Lợi dụng thời Thế-chiến thứ-1, Nhóm Yale-Skull áp lực chính quyền ký hợp đồng sản xuất kỹ nghệ chiến tranh, Họ tự ý thành lập “Hội-đồng Kỹ-nghệ Chiến-tranh” [War Industries Board] do Wall Street bảo trợ, người Giám-đốc là Bernard Baruch chuyên lo liên lạc đặt hàng giữa chính phủ và công xưởng về đóng tàu cho Hải quân. Vào mùa Xuân 1918, thình lình có mật lệnh [Harriman] từ ông Bernard Baruch gởi thẳng cho Prescott Bush, chỉ định P. Bush làm Chủ tịch Hội đồng WIB, ngày 1/6/1918 P. Bush chấp hành và trình diện tại Washington; Thực thi đúng theo tuyên ngôn của các trường Ðại-học Quân-sự: “Muốn củng cố hoà-bình phải chuẩn bị chiến tranh”. Liền sau đó không lâu, Thượng nghị sĩ bang Mississippi, James Vardarman phàn nàn rằng: “nên giải tán Hội-đồng buôn xác chết nầy, vì tự nó nói lên sự ăn-chận trên tay các công ty khác và giành giựt độc quyền lợi nhuận!” (Thí dụ như công-ty Halliburton của Phó TT Dick-Cheney sau nầy).

              Sau Thế chiến-2, 1946 một sự chạy đua phát triển vũ-khí để gây chiến, từ một cuộc chiến Nóng (1941-1945) đến cuộc chiến Lạnh được thống kê qua sự sản xuất như sau: 38 phần trăm 1941-1947; 40 phần trăm cho 1953 (chiên tranh Triều-Tiên); từ 45 phần trăm cho 1959, đến 49 phần trăm cho 1968 trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam là nhiều nhứt. 1947 Prescott Bush và Robert A Lovett cùng Brown Brothers Harriman đồng quyết định cải đổi OSS thành CIA để làm công cụ bạo lực cho WIB; Nhóm nầy mở rộng Ngủ Giác Ðài tăng quân số Tướng lãnh nhiều hơn xưa, tăng tốc cho chương trình không gian, điện tử hoá siêu kỹ thuật cho quân đội. Bộ tam sên: Prescott Bush chắc chắn sẽ thành Thượng nghị sỉ 1950, gây ảnh hưởng bao trùm Quốc-hội, còn W.A.Harriman, người Cố-vấn tổng thống, nhưng lại có nghĩa nắm chính sách ngoại giao với nước ngoài, riêng Robert A Lovett sẽ đi từ Thứ-trưởng rồi Bộ-trưởng quốc phòng để điều động các cuộc hành quân bí-mật trên những nước đem lại quyền lợi cho Tư bản Mỹ. [như trước đó có hai cuộc hành quân bí mật: [covert operation] đáng kể là khuyến dụ Cụ Hồ vào OSS nơi Trùng Khánh, Côn Minh, Sở thông tin Chiến tranh (Service of War Information) và qua cuộc hành quân bí mật của điệp viên OSS-19, Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pát-Pó giúp Cụ huấn luyện quân sự cho Trung-đội Võ trang tuyên truyền của Trung đội Trưởng Võ Nguyên Giáp và CIA phải hoàn thành cuộc di tản về Ðài-Loan Thống chế Trưởng- giới-Thạch và phe phái.

              Prescott Bush hăng-say tham dự những năm tháng chiến tranh ác liệt, đôi khi người ta lầm tưởng chỉ có một mình ông đơn độc chiến đấu trên trận mạc, ông chia ra hai phần thời gian ở Washington và trận mạc, ít khi về thăm nhà, sự làm việc nhiệt thành đã đặc vào ống kính của Harriman. June, 1918 P.Bush mau lẹ đáp ứng sản xuất qua Pháp cho Lữ-đoàn Pháo Dã-chiến 158th một số lớn đạn dược gọi là sản-phẩm lấy tên là Tiểu-đoàn Yale cung cấp. Có nghĩa Tiểu đoàn-Yale Pháo binh của ông sẽ tham dự vào chiến tuyến phía Tây [Western Front] Ðại-úy Prescott Bush và pháo thủ của ông đang chịu áp-lực trận địa pháo dữ dội của địch. Chúng đang cố tâm hủy diệt tất cả pháo-đội Hoa kỳ, Tuy nhiên sự phản pháo của Lử-đoàn pháo 158th đã làm tiêu tan các công sự kiên-cố của quân Ðức. Dưới con mắt làm ăn của P.Bush, lấy thịt đè người nên phía WIB đả bán ra được 4.2 triệu quả đạn sau khi tàn cuộc chiến đem một số tiền quá lớn về cho War-Industries-Board.

              Mới chỉ 23 tuổi đời vào năm 1918, Prescott Bush là một Ðại-úy Pháo binh năng nổ, một hôm ông viết một bức-thư khôi hài về cho mẹ, sau khi đọc xong bà mẹ tự hào về con mình nên đem tin vui nầy cho tờ báo địa phương “The Ohio State Journal” đăng tin ở trang đầu: “Ðại-úy P. Bush chỉ một mình nhận được ba huy chương cao quý của chính phủ Pháp, Anh và Hoa-kỳ, vì đã cứu ba vị Tướng lãnh đồng minh, Pershing, Foch, và Haig đang đến thăm viếng đơn vị Tiểu đoàn Yale Pháo binh của ông. Ngày 15, July, P.Bush đang hướng dẫn ba Tướng nầy tham quan đơn vị, thì thình lình một trái đạn 77mm từ trên không rơi xuống, sự phản ứng tự nhiên P. Bush rút con dao (bolo-knife) hất mạnh lên như chơi baseball vào trái đạn, cho nên trái đạn không chạm nổ và rơi xuống bên cạnh như một hòn đá tảng vô hại. 24 tiếng đồng hồ sau P. Bush được ân tặng huy chương “Cross of the Legion of Honor của chính-phủ Pháp, The Victoria Cross của chính phủ Anh, và The Distinguished Service Cross của Hoa-kỳ”. Nhưng khi P. Bush nhận được một mẫu giấy đính chính trên tờ báo Pháp, liền lập tức ông nói cho mẹ hay, “đó chỉ là bức thư khôi hài để làm cho mẹ vui, chớ chuyện đó không bao giờ có!” Ngày hôm sau, September 6, 1918 tin nầy được đính chính trên báo chí là Tin Vịt-Cồ! Kể từ giờ phút nầy, trong đầu P. Bush luôn luôn in sâu về sức mạnh của “truyền thông văn hóa” vẫn có tác dụng gây ảnh hưởng, dù thật hay không thật và ông muốn con cháu ông phải xuất thân từ quân đội để lãnh đạo đất nước trong trật tự và kỷ luật

              Năm 1950, là người Phụ tá cho Harriman, P. Bush quyết định công-cụ Truyền thông văn hóa nặng ký hơn CIA và cho ra quyền bất khả xâm phạm về “Tự do ngôn luận” một vũ khí lợi hại khi cần khủng bố chính quyền buộc họ phải đi đúng American-First. P. Bush qua đời 1972, làm sao ông biết được Con và Cháu nội sẽ là Phi-công Tổng thống thứ 41 và 43 của Hiệp chủng Quốc đã khai thác tuyệt vời truyền thông văn hóa cho quyền lợi của bọn dầu-hỏa qua sự chuyển ngân vào ngân hàng Thụy Sĩ. Ðúng theo di-truyền của giòng họ Bushes là: năng-lượng, tình báo, và an ninh quốc gia. Dòng họ Bushes không bao giờ chịu đào tạo Bác-sỉ, luật sư, thầy giáo, khoa học gia … mà chỉ chuyên về 3 địa hạt nêu trên.

              Nguyên nhân nào W.A Harriman chịu chấp nhận Prescott làm phụ tá Ðảng hội Skull and Bones: Tình cờ, đầu năm 1926, người em của Harriman là Bunny Harriman đang uống rượu với P. Bush và nói chuyện công việc làm ăn. Prescott vẫn còn làm việc với hãng nhựa U.S Rubber, đại lý bán vỏ xe, còn Bunny đang bề bộn công việc ở Wall Street. Sau khi họ nhận ra nhau cùng tốt nghiệp Ðại học Yale, Bunny mới thú nhận tại Công ty người anh W.A Harriman and Company rất cần những nhân tài phụ giúp, hỏi P.Bush có muốn cùng giúp việc cho anh mình không? P. Bush nhận lời ngay, sau đó không lâu từ một Ðại lý bán vỏ xe khiêm nhường, Prescott trở nên một triệu-phú quá dễ dàng. Tóm lại W.A Harriman tin tưởng nhận P. Bush vào làm việc và tin cẩn chọn P. Bush như người phụ tá tham mưu tin cậy của ông [http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman 1/22/2006, trang 4 of 7] Prescott Bush là người sau chót trong 6 nhân vật nắm vận mệnh thế giới nhưng được Harriman cân nhắc lên làm Phụ-tá tham mưu cho Harriman.

              Harriman vở mộng vì đặt quá nhiều tin cậy vào viên Phụ tá của mình, Prescott Bush, trong khi Harriman muốn hợp-lý hóa bằng những quyết định phức tạp chia ra cho hai nhóm rõ rệt: Nhóm Dân chủ do W.A.Harriman và Lovett, còn nhóm Cộng hòa do P. Bush và Bunny Harriman. Nhưng nhìn vào hai nhóm nầy thì chẳng có công bằng tý nào vì phía bên kia vẫn còn người em của Harriman. Nhưng điều cấm kỵ là không được phê bình đàm tiếu nói xấu cãi vã nhau, P. Bush giữ thái độ im lặng về những hành động của Harriman làm việc với hai vị tổng thống, F.D.Roosevelt và Truman; Sư thật làm sao P. Bush hiểu được trong tương lai của trận chiến Triều Tiên chỉ dựa vào môi trường chạy đua và phát triển thế hệ phản lực cơ chiến đấu cho quốc-phòng giữa Liên Xô và Mỹ. Còn như tới phiên chiến tranh Ðông Dương mới qua giai đoạn phát triển thế hệ phản lực cơ cho Hàng không dân dụng và trực thăng. Có một điều quan trọng nữa là làm cách nào để dùng xăng hoá học (synthetic fuel) để làm diệu bớt sự thay đổi nhiệt độ cho môi trường sống như Hitler đã thành công từ 1933, nhưng vì lòng tham vô đáy, dòng họ Bushes đã đi chệch ra khỏi quỹ-đạo chiến lược của Harriman! Quên đi quyền lợi của các loại Tư-bản lớn-nhỏ khác!

              1950, Prescott Bush đã là một Thượng nghị sĩ sừng-sỏ trong Quốc hội, ông nắm ảnh hưởng trong chức vụ Trưởng ban Hội đồng an ninh và tình báo gián điệp và nắm luôn Trưởng Hội-đồng về cơ quan quốc phòng, trong đó đáng kể có người bạn chí thân chuyên môn về tình báo là Allen Dulles. P. Bush quá hăng-say về chương trình “dọ thám bằng vệ tinh”. Sau Thế chiến-2, ông giành ưu tiên tài chánh không giới hạn cho Bác-học Werner Von Braun và các Khoa học gia người Ðức chạy trốn về với Hoa kỳ, chuyên trách hoả-tiễn, đồng thời tối tân hoá chương trình phóng hoả tiễn liên lục địa. Ðặc thù, P. Bush ghét cay ghét đắng TT Kennedy về vụ thất bại tại Vinh Con Heo vì Kennedy phản bác (P. Bush thố lộ bằng lời nói với lịch-sử, sự thất bại chỉ vì Kennedy không muốn đứng về phía sau nhóm nổi dậy, có nghĩa là đem Hải lục không quân ra can thiệp mà xem việc làm của Bushes qua công cụ CIA như con Voi rừng kinh-dị khó dại).

              Với tham vọng người con trai của mình sẽ chạy đua vào nhà Trắng, 11 ngày trước khi Kennedy bị ám sát, đứa con Trai của ông là George H.W. Bush đứng trước bục phòng họp báo Thủ-đô ở Austin, tuyên bố sẽ ứng cử vào Thượng nghị sĩ của Ðảng Cộng Hòa. Vào được chức vị Thượng nghị sỉ trong khi TT Kennedy đã bị ám sát, nhưng George H.W Bush mở pháo trận đầu tiên tấn công Civil-right của Kennedy vì cho rằng đe-dọa hiến pháp, trong khi Barry Goldwater biện luận Hoa-kỳ vấp phải vấn đề kỳ thị màu da. George H.W. Bush cũng chống lại đường lối Liên bang tước đoạt quá nhiều quyền hạn của Tiểu bang. Về phương diện ngoại giao, ông chống đối Kennedy về lời đề nghị kiểm soát việc chạy đua vũ trang, biện luận thay vì phải cứng-cựa với chính sách chống Cộng sản; Những đặc điểm không kém phần quan trọng, George.H.W. Bush với 40 tuổi, thành công và là phi-công tác chiến anh hùng của tổ quốc. Có một tài sản đáng kể về thương nghiệp dầu hoả, nhưng vì tham vọng dầu-hoả mà dòng họ Bushes phải mai một sau nầy! Hơn nửa thế kỷ nay, dòng họ Bushes vẩn tự hào là “chống-Kennedys” vì Bushes xem giòng họ Kennedy là những kẻ muốn tranh tài với họ! Tuổi trẻ có phải vì nóng tính, nông nổi nên nói toạc móng heo!? Jeb Bush đã dám tuyên bố và thách-thức (có lẽ cũng bị thọc gậy bánh xe đang lăn ngon trớn theo đà mạnh tiến vào toà Bạch-ốc) “Tôi nghĩ, chúng tôi có thể hạ giòng họ Kennedy trong trận football, chúng tôi cũng hạ họ trong trận basketball, baseball, và bất cứ cái trò chơi quỷ-quái nào mà họ muốn đấu!”(Dịch theo nguyên văn, cuốn sách “The Bushes”, 2004, page 497 Petter and Rochelle Schweizer).

              Thế nhưng! thế hệ trước là thủ phạm nhưng lại vô cùng khôn khéo, Bush-Cha vẩn tỉnh bơ giữ mối giao hảo bề ngoài rất tốt đẹp, ông [George H.W Bush] dựa vào vị thế thượng phong làm Phó, rồi Tổng thống nên phía đối địch cũng ngậm bồ-hòn cười nhe răng trong giao tế. Người em út còn sót lại của TT Kennedy, Thượng nghị-sĩ Ted Kennedy 1990 cũng giúp TT Bush-Cha cho qua Disabilities Act và luật cải-bổ Di-dân. Khi rời Nhà trắng hai vợ chồng của Bush-Cha cũng làm bộ tiếp nối tình cảm, nhưng lần nầy qua nhà người Chị của Ted Kennedy, Eunice Shriver.

              Vâng lời Bush-Cha, Bush-Con, năm 2000 vừa nhậm chức Tổng thống, hâm nóng thêm tình cảm giữa hai họ, nhân dịp đám tang của Thượng nghị sĩ Paul Coverdell của Georgia, Bush cùng Ted Kennedy dự đám tang, sau giờ tan lể, Bush-Con lỏ con mắt tìm kiếm Ted Kennedy ẩn hiện trong đám đông. Khi gặp Ted, Bush-Con cười khà đưa tay bắt: “Tôi nghe anh có đi dự nên kiếm, Tôi ghi nhận anh đã làm những việc ích lợi cho dân cho nước” Ted cười khô cho qua. Tuy nhiên dù mối liên hệ tình cảm khó hiểu, nhưng cũng tiếp nối được đến thế hệ thứ-3.

              Vào tháng chạp, 2000 TT Bush-Con mời gọi Ted Kennedy, họ nói chuyện với nhau như hâm nóng lại tình cảm khắng-khít ngoài mặt giữa hai họ và cùng giúp đỡ chia sẻ cho nhau vì lợi ích cho đất nước. Ted Kennedy vui lòng chấp nhận vì đại cuộc, Bush-Con bèn mời Ted cùng họ hàng Kennedy đến dự một cuộc họp mặt riêng tư để xem cuốn phim những ngày căng thẳng về cuộc khủng hoảng đe dọa Hoả tiễn nguyên tử của Liên Xô 1961; Sau đó Ted giúp Bush cho qua sự cải bổ Giáo dục vào 2001 và hai năm sau, TT Bush-Con tuyên dương công trạng Ted về sự tận tụy giúp đỡ dân chúng Hoa kỳ. Nhưng Ted Kennedy vẩn ngoan cường giữ vững lập trường, chiến tranh Iraq là một sai lầm, móng vuốt của thất bại và chính sách khánh tận (a failed, flawed, bankrupt policy) Tháng 11/2001 Bush-Con thông báo sẽ đặt tên Robert Kennedy trên Cơ quan chính phủ, Bộ Tư-pháp, có sự tham dự của Ted Kennedy với vẻ mặt gượng cười chua xót.

              Giòng họ Bushes thì quá nhiều tham vọng về xăng dầu và quá nóng ruột về phát triển Hàng- không Dân-dụng muốn hấp-tấp bắt chước như Harriman đã thâu vào quá nhiều lợi nhuận khi phát triển Ðội hàng-hải đi biển lớn nhứt vào thời gian Thế chiến-1, vì tham vọng vào xăng dầu nên bị Dick Cheney lấn lướt đến nỗi thân bại danh liệt cho triều-đại-2 Skull and Bones, rồi ngã quỵ.

              Kết quả, sự phản trắc, thất trung thể hiện trong bữa cơm tối của Ðảng Cộng hòa, Prescott Bush đã thẳng thừng tấn-công Harriman, “xem như Harriman, một công nhân đả cởi bỏ nón nhựa an-toàn ra khỏi đầu, và quăng đôi găng-tay lao động xuống đất, đi ra về một mạch không ngó lại” ngụ ý vô trách-nhiệm. Từ dạo đó P.Bush âm thầm theo dỏi từ chiến tranh Triều Tiên đến vấn đề giao tế thế giới. Dựa vào đó, Harriman đùn trách nhiệm cho dòng họ Bushes để cho George H.W. Bush nhảy vào cuộc chiến Việt Nam từ 1960 nhưng dưới sự diu dắt truyền nghề của Harriman cho đến khi mật kế Pennsylvania hoàn tất, có nghĩa là tạo nên một mô hình kiểu mẫu cho Hà Nội thống nhứt Việt Nam thành một qua mô-hình hiệp định Paris và cũng là lúc TT Nixon lên ngôi 1969. Thế là công cụ CIA do Dân-chủ Harriman thành lập 1947, bây giờ 1960 Cộng-hòa George H.W Bush được hưởng trọn vẹn. Thế nên chúng ta đoán chắc sự thất bại tại Vịnh Con Heo, thủ phạm chính là George H.W. Bush nhưng Kennedy phải chịu trách nhiệm vì đương kim tổng thống. Vì Harriman biết cuộc chiến VN sẽ đem lại thãm hoạ nên muốn lẩn trốn thì tội tình gì George H.W.Bush phải lộ diện, nên Bush-Cha đã khoán trắng cho Donald Rumsfeld muốn làm gì thì làm

              Sau Tết Mậu thân 1968, để chuẩn bị cho phong trào phản chiến, trong giai đoạn Tướng Abram trách nhiệm về việc lần lượt rút quân Mỹ về nước theo lộ trình sắp xếp hành khách lên phi-cơ. Trong khi Trung-úy phản chiến thuộc đại học Yale, John F.Kerry, Duyên tốc đỉnh cùng Thượng nghị sỉ Joe Lieberman, ứng cử viên Tổng thống, cầm đầu tờ báo Yale Daily News cùng một số đông sinh viên Yale đòi hỏi không tham dự cuộc chiến VN. Năm vừa qua 10/1967 họ trả lại thẻ quân-dịch cho Bộ tư pháp; Nhưng hơn ai hết, là người thay thế Harriman nắm giử chính sách, và cũng là lần đầu tiên George H.W.Bush công khai xuất hiện nhưng lại không muốn cho ai biết đến sự xuất hiện nầy, coi như đây là một trách nhiệm quan sát tại chổ cho biết sự tình, giai đoạn phải lần lượt rút quân về theo lịch trình của hệ thống các hãng Hàng-không Dân-dụng đã thiết kế.

              Ðể chuẩn bị thay thế Harriman sẻ từ giã chính trường 1969, và thời gian chuyển tiếp cũng sắp đến, ngày 26/12/1967 Bush-Cha sẽ đi thăm Việt Nam bàn thảo với Ðại sứ Ellsworth Bunker như một cuộc thăm không chính thức, lặng-lẽ không ồn-ào, Ông đi thăm các chiến sỉ Mỹ ngoài mặt trận, dùng trực thăng HU-1 đi thăm các tiền đồn từ Mekong Delta đến Ðà-Nẳng. ông đáp xuống Hàng không mẫu hạm dự một cuộc thuyết trình oanh tạc Bắc Việt. Vào một buổi sáng đến phi trường Ðà Nẳng đang bị pháo kích. Trong khi thăm viếng, phi công phải bay vòng để khỏi bị hoả lực ở dưới bắn lên. Ðược hỏi, các người lính đều có ý kiến như nhau: “Chỉ đơn giản nếu Hoa kỳ giữ lời cam kết thì chiến thắng sẽ đến!” Bush-Cha giữ trong óc “sự kiện Vịnh BV và Trân Châu Cảng đều giống nhau vì số nhân viên tham chiến có quá nhiều” chỉ có một điều tối kỵ là quân Mỹ sẽ rút ra hết để lại biết bao thãm trạng bi lụy cho người dân miền Nam mà ông là người nối tiếp chính sách đó!

              Ngày 11/5/1970 theo lộ trình John Kerry và số đông Yale và các phân khoa sẽ đến hành lang Quốc hội: “Chúng tôi bầu các người để chấm dứt chiến tranh hay chúng tôi phải tống các ông các bà ra khỏi chiếc ghế Quốc hội?” Trong đám đông nầy có Giám đốc Ðại học Yale, Kingman Brewster; riêng Prescott Bush, Chủ tịch Hội-đồng Kỹ nghệ Quốc phòng, hiểu rất rõ đường lối của Skull and Bones, đành phải phàn nàn “làm như vậy sẽ là một nhục khí cho Yale” Trong dòng họ Bushes, người cháu họ George Walker đang là lính chiến Sư-đoàn Dù, còn người cháu họ John Ellis đang hoạt động để chấm dứt chiến tranh.

              Khi TT Nixon thắng cử 1968, ông giúp đỡ Bush-Cha được bầu là Dân biểu cho nhiệm kỳ đầu vì là đứa con của Prescott Bush, được chỉ định làm Ðại-sứ tại Liên Hiệp quốc 1970, Trưởng Hội đồng của Ðảng Cộng hòa 1973-1974, được ở trong tham mưu của TT Nixon. Nixon xem gia đình Bushes như là những thiên tài giúp đỡ tham mưu cho ông, 1976 được sự tín nhiệm giữ chức trưởng ngành CIA, Bush-Cha hy vọng được làm Phó cho TT Ford trong nội các dù không được dân bầu. Nhưng Tôi vẩn nghĩ rằng: Bush-Cha là cố-vấn trong bóng tối cho Nixon 1969 về chính sách vì ông mới thực sự là người nắm giữ chính sách ngay sau khi Harriman rời khỏi chính trường 1969.

              Khi TT Nixon từ chức, Chủ tịch Quốc hội Gerald Ford lên làm Tổng thống, theo Tu chánh án 25th [The Twenty-fifth Amendment] TT Ford phải chờ Lưỡng viện của Quốc hội chấp nhận theo phổ thông đầu phiếu. Riêng Ông Dean Burch, cố vấn Tổng thống Ford đề nghị: “Cá nhân tôi chọn George H.W Bush [Bush-Cha]” và Richard A Moore, một thành viên tham mưu toà nhà trắng: “Cha và ông của Bush-Cha, cả hai đều được mọi người kính nể và là chủ của nhửng nhà Bank lớn ở New-York. Nhưng không may thay, Bush-Cha đã bị thua phiếu của Nelson Rockefeller 68/101, TT Ford rất lấy làm tiếc, vì hai người cùng là bạn thân, Ford mời Bush-Cha vào phòng bầu dục hàn huyên nhưng tiếc thay không còn ghế nào cho Bush.

              Nhưng không sao vì nắm chính sách, biết được thế chiến lược toàn cầu nên Bush-Cha cần qua Bắc kinh ngay để thương thảo về việc bỏ vốn làm ăn của Tư bản Mỹ. Như thay thế nhiệm vụ của Kissinger còn đang dang-dở và vô số đường lối ngoại giao của hai nước chưa được sáng tỏ cho lắm, Bush-Cha cần kiểm điểm cho đúng lộ trình. Harriman dù xa lìa chính trường nhưng luôn luôn bám-víu, theo-dõi kế hoạch Eurasian, ông tin tưởng tài ba của Bush-Cha, đặc biệt là về phương diện tình báo và phản tình báo; là một cố vấn thật tốt cho Bushes. Sự thiên tài độc đáo về tình báo chuyên trách của dòng họ Bush làm cho Harriman yên tâm, Bush-Cha sẽ đánh bại Cộng sản không khó lắm; Harriman cũng nhấn mạnh cho người kế vị của thế hệ sau biết rằng: “Phải tuyệt đối quan tâm và theo dõi sát nút về vấn đề ngoại giao, nhứt là với Trung quốc. Dù sao cũng phải rút kinh nghiệm như Harriman, con người tuy quyền hạn bao la nhưng người dân không biết đến, còn Tướng nổi tiếng Eisenhower thì làm sao họ không bầu cho ông. Harriman hai lần ra ứng cử Tổng thống đều thất bại (1952 và 1956) Con đường tốt nhứt nên dựa vào liên danh nào mà người cầm đầu phải là nổi tiếng mà người dân sẽ bầu như trường hợp tài tử Ciné hay Tướng tài [Eisenhower, Reagan…] Bằng giá nào cho kịp nếu phải làm Phó trước để lấy đà vào năm 1980 là thuận lợi nhứt theo lời Tổ-sư cố vấn W.A.Harriman, cuối cùng Bush-Cha chịu làm phó cho Liên danh Reagan, nhưng mà là phó với quyền hạn bao la.
              Vì là một bài quá dài nhưng lại chỉ dành riêng cho đọc giả phải thích thú trước khi vào nội dung của siêu chiến lược Eurasia. Người viết phải sơ-lược phần đầu và chút ít phần cuối trước khi đi vào chi tiết: Nhãn tiền phần cuối 2020 Ấn độ được Hoa Kỳ nâng lên cường quốc số-2 thế vào vị trí TQ?

              Ngoại trưởng Mỹ cam kết trở lại Châu Á, Bà Hillary Clinton vừa có bài viết dài khẳng định cam kết của Washington với Châu Á Thái Bình Dương. Trong bài viết mang tựa đề "Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ", bà ngoại trưởng nói Châu Á Thái Bình Dương trải dài Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với gần một nửa dân số trên thế giới đã trở thành "động lực chính của chính trị toàn cầu." Bà nhấn mạnh: “Châu-Á TBD có ý nghĩa quan trọng đối với Hoa Kỳ và thế giới”.

              Người đứng đầu ngành ngoại giao Hoa Kỳ nhận định: "Vào lúc khu vực này đang xây dựng những cơ cấu kinh tế và an ninh chín chắn hơn để thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng, cam kết của Hoa Kỳ tại đây là hết sức cần thiết. "Nó [cam kết của Hoa Kỳ] giúp xây dựng cơ cấu đó và giúp Hoa Kỳ giữ vai trò lãnh đạo trong nhiều năm trong thế kỷ này, cũng giống như cam kết hậu Thế Chiến II của chúng ta đối với việc xây dựng các quan hệ và hệ thống định chế xuyên Đại Tây Dương mang tính chiến lược và lâu dài đã mang lại kết quả lớn hơn nhiều so với đầu tư ban đầu và vẫn tiếp tục như vậy."

              Bà Clinton nói việc đảm bảo hòa bình và an ninh tại Châu Á Thái Bình Dương ngày càng có ý nghĩa quan trọng cho tiến bộ toàn cầu cho dù đó là chuyện bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), ngăn chặn cố gắng phổ biến vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động quân sự của những nước lớn trong khu vực. "Chúng tôi là cường quốc duy nhất với mạng lưới liên minh mạnh mẽ trong khu vực nhưng không có tham vọng lãnh thổ trong khi có lịch sử phụng sự lợi ích chung," Điều nầy lập lại “Phải có NATO (Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương “ thì mới đánh bại LX tan ra từng mãnh, ngày nay đang thành lập một khối mới “Liên Phòng Đ6ng Á TBD” có thêm Ấn-độ, Úc, Tân Tây Lan.

              Bà Clinton tiếp: Hoa Kỳ hiện có hiệp ước liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan. Riêng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đã có 50.000 quân nhân Hoa Kỳ hiện diện và Nhật Bản đã bỏ ra năm tỷ đô la để đảm bảo binh lính Hoa Kỳ tiếp tục có mặt ở nước này.
              Bà Clinton nói bản thân bà đã chọn Châu Á là nơi đầu tiên tới thăm trong vai trò ngoại trưởng còn Tổng thống Barack Obama vào tháng 11 năm nay sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tham dự Diễn đàn Đông Á diễn ra tại Indonesia.

              Vấn đề nhân quyền TQ phải tuân thủ vì là một thành viên LHQ, đó cũng là lý do Hoa Kỳ hy sinh VN và THQG để lấy cái ghế LHQ cho TQ.
              Ý Bà muốn nhắc lại TQ phải bắt chước theo Mỹ vận-dụng áp lực chính trị để cho miền Bắc thống nhứt miền Nam bằng 72 giờ chuyển tiếp 3 tổng thống và kết thúc bằng một công điện sau cùng chấm dứt chế độ bằng “ĐUỔI MỸ”, và ngược lại TQ phải dùng áp lực buộc Bắc Hàn phải mời Nam Hàn thống nhứt vì có 50.000 quân Mỹ ở đó như ở Đức vậy. Nhắc lại ngày xưa Hoa Kỳ đả dùng nguyên Phi-đội CAT mà cưỡng bức Tưởng Giới Thạch và phe nhóm ra đảo Đài-Loan, cho Mao thống nhứt lục địa với trách vụ chia hai Triều Tiên rồi Việt Nam…

              Nhắc tới Trung Quốc, ngoại trưởng Hoa Kỳ nói cả hai nước sẽ được lợi hơn nhiều từ hợp tác thay vì đối đầu. "Sự thật là một nước Hoa Kỳ hùng mạnh tốt cho Trung Quốc và một nước Trung Quốc hùng mạnh tốt cho Hoa Kỳ." Bà Clinton nói Hoa Kỳ khuyến khích Trung Quốc tích cực tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu và cùng lúc tăng tính minh bạch trong các hoạt động quân sự để không có sự hiểu nhầm giữa quân đội Hoa Kỳ và Trung Quốc. Vị ngoại trưởng cũng nhắc tới những lo ngại của Washington về tình trạng nhân quyền ở đất nước đông dân nhất thế giới. Trên thực tế, nhìn vào bản đồ TQ như bị bao vây cô lập còn gắt-gao hơn LX ngày xưa và TQ chỉ có duy nhứt một con đường chọn lựa là vâng lời Mỹ để tồn tại "Chúng tôi đã nêu rất rõ, cả công khai và trong các cuộc gặp kín, những lo ngại sâu sắc của chúng tôi về nhân quyền. "Chúng tôi đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị. "Có nghĩa TQ và Việt Nam phải có một lá cờ mới như Liên Xô xuất phát từ ý dân qua Quốc Hội phán quyết. Một hiện tượng lạ như chúng ta đang thấy, một đệ tử ruột của TQ đã âm thầm đi chung với Ấn-Độ do Mỹ bật đèn Xanh.

              Hillary Clinton tiếp: "...Chúng tôi đã giải thích cho các đồng nghiệp Trung Quốc rằng sự tôn trọng đúng mực luật lệ quốc tế và một hệ thống chính trị cởi mở hơn sẽ tạo cơ sở để Trung Quốc phát triển và ổn định hơn nhiều - đồng thời tăng niềm tin cho các đối tác của Trung Quốc.
              "Nếu không Trung Quốc đã tự hạn chế sự phát triển của chính họ một cách không cần thiết."
              Bà Clinton nói sức mạnh các giá trị Hoa Kỳ còn quan trọng hơn cả sức mạnh quân sự và kinh tế.
              Bà nói trong khi họ thắt chặt thêm quan hệ với các nước mà Washington có khác biệt về hệ giá trị, người Mỹ luôn thúc giục các nước này thúc đẩy cải cách để cải thiện hệ thống quản trị, bảo vệ nhân quyền và tăng cường tự do chính trị.

              Vị ngoại trưởng cũng đưa Việt Nam ra làm ví dụ.
              "Chúng tôi đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị." Có nghĩa phải tuần tự sửa đổi thế chế theo đúng thời điểm decent interval của Mỹ qua diển tiến hoà bình không cần thiết phải “tắm máu”.

              "...Chúng tôi không thể và không định áp đặt hệ thống của chúng tôi lên các nước khác, nhưng chúng tôi tin rằng một số giá trị có tính phổ quát và người dân của mọi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Châu Á, đều coi trọng - chúng [Những giá trị này] là những giá trị của những nước thịnh vượng, hòa bình và ổn định".

              "Suy cho cùng chính người Châu Á sẽ tự theo đuổi những quyền và hoài bão của họ giống như chúng tôi thấy người dân đã làm ở khắp nơi trên thế giới."

              Ám chỉ Hoa Kỳ 'Lãnh đạo toàn cầu'
              Bà Clinton nói có nhiều người hoài nghi sức bền của Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới và bà nói những hoài nghi này không có gì mới. Bà Clinton nói Hoa Kỳ vẫn có nhiều cái nhất trên thế giới trong đó có quân đội mạnh nhất.

              "Khi Cuộc chiến Việt Nam kết thúc, có vô vàn các nhà bình luận toàn cầu đưa ra ý tưởng rằng Hoa Kỳ đang rút lui và đây là đề tài cứ vài thập niên lại được lặp lại. Chả lẽ nói ra đây là một chiến thắng thầm lặng cho thế giới nguyền rủa, trong khi nó chính là cuộc chiến bẩn thĩu, nhưng mục tiêu chính là Mỹ có rất nhiều lợi nhuận trong cuộc chiến đó, cái nhứt nhứt là Hoa Kỳ Siêu Cường Số-1 đứng vị trí cao chót vót không nước nào vói tới

              "Nhưng bất cứ khi nào Hoa Kỳ gặp trở ngại, chúng tôi đều có thể vượt qua nhờ tái sáng tạo và đổi mới. "Khả năng trở lại “roll-back” với tư cách mạnh hơn của chúng tôi là chưa từng có trong lịch sử hiện đại, vì nó nằm trong sách lược toàn cầu Eurasia tới phiên “Ấn Độ sẽ nắn gân TQ” nếu khôn ngoan đừng đụng chạm tuyến lửa đầu tiên VN và Phi Luật Tân. Nếu có đụng thì chỉ một thời gian thật ngắn để Hoa Kỳ nhân cơ hội thử một loại vũ khí mới như vừa rồi tại Trung Đông.

              "Nó bắt nguồn từ mô hình dân chủ tự do và doanh nghiệp tư do của chúng ta, mô hình hiện vẫn là phương tiện mạnh mẽ nhất sản sinh ra sự thịnh vượng và tiến bộ mà loài người từng biết tới." Vị ngoại trưởng nhắc lại cho thế giới thấy Hoa Kỳ vẫn có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, quân đội có vị trí số một, hiệu suất lao động của người Mỹ cao nhất thế giới và các trường đại học của Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới. "Bởi vậy không thể nghi ngờ chuyện Hoa Kỳ có khả năng giữ vững và đảm bảo sự lãnh đạo toàn cầu trong thế kỷ này như chúng ta đã đạt được trong thế kỷ trước," Sự trì trệ cũng như suy thoái kinh tế toàn cầu là do Hoa Kỳ cần có theo chu kỳ phải có … thế thôi.

              Bà Clinton khuyến khích vai trò của Ấn Độ
              Ấn Độ sẽ làm trụ cột châu Á? Ngoại trưởng SM Krishna đón bà Clinton ở Dehli hôm 19/7/2011. Trước khi tới Bali họp ASEAN về an ninh vùng tuần này, Ngoại trưởng Hillary Clinton khuyến khích Ấn Độ nhận trách nhiệm "lãnh đạo chính trị" và có vai trò mạnh mẽ hơn ở châu Á - Thái Bình Dương. Hiện đang ở thăm Ấn Độ, bà Clinton đã đọc bài diễn văn tại thành phố Chennai, nói rằng nước chủ nhà cần tăng sức mạnh chính trị cho xứng đáng với phát triển kinh tế. Hoa Kỳ đưa ra quan điểm rằng mối quan hệ Mỹ - Ấn sẽ tạo dựng đối tác cho thế kỷ 21 ở khu vực.
              Theo lời bà Hillary Clinton, "đây không phải là thời gian để bất cứ quốc gia nào có cái nhìn hướng nội, bỏ qua tầm nhìn ra bên ngoài. Đây là thời gian để nắm bắt các cơ hội của thế kỷ 21 và dẫn dắt nó."
              Các quan chức Hoa Kỳ nói diễn văn của bà Clinton một lần nữa xác tín viễn kiến về quan hệ của Washington với Dehli để thay đổi diện mạo châu Á.

              Ủng hộ Ấn Độ hết mình
              Tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Barack Obama đã thăm Ấn Độ và công khai ủng hộ Dehli có một ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Ông Obama cũng nói Hoa Kỳ muốn thấy Ấn Độ, nền dân chủ đông dân nhất thế giới trở thành đối tác rõ rệt hơn để cùng giải quyết các vấn đề toàn cầu. Nay, bà Clinton nêu ra một loạt các lĩnh vực hai bên đang hợp tác, từ công nghệ năng lượng sạch đến lo ngại về chương trình nguyên tử của Iran. Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi.

              Bà Clinton nói về tam giác Mỹ - Ấn - Trung
              Hồi năm 2008, hai nước đã ký hiệp ước về năng lượng nguyên tử dùng cho mục tiêu dân sự nhưng các công ty Mỹ vẫn chưa triển khai được dự án hợp tác với Ấn Độ.

              Về địa chính trị, bà Clinton nay nhấn mạnh đến tính tương đồng Mỹ - Ấn trong việc phối hợp vai trò dẫn dắt châu Á và nêu cao các giá trị chung từ an ninh biển, dân chủ đến nhân quyền trong thời điểm Washington đang va chạm với Trung Quốc, theo bản tin của Reuters 20/7/2011.
              "Vì Ấn Độ chia sẻ các giá trị và quyền lợi đó, nên hoạt động mở rộng hợp tác với chúng ta [Hoa Kỳ] sẽ chỉ có lợi cho cả hai," 'Quyền lợi'. Nhưng bà Clinton cũng nói cả New Delhi và Washington sẽ vẫn phải có "quan hệ mạnh, mang tính xây dựng với Trung Quốc".
              Ngoại trưởng Mỹ cũng thừa nhận: "Đây không phải là điều dễ dàng. Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi". Bà tin rằng cả Ấn Độ, Trung Quốc và Hoa Kỳ "đều phải phối hợp các nỗ lực".

              Bà Clinton bắt đầu chuyến thăm ba ngày đến Ấn Độ bằng cuộc gặp với lãnh đạo nước chủ nhà ở Dehli hôm thứ Hai. Hai bên đã hội đàm cả về chương trình hạt nhân của Ấn Độ, và tình hình Pakistan, Afghanistan. Theo phóng viên Suvojit Bagchi của BBC News từ Delhi thì Ngoại trưởng Krishna tỏ ý lo ngại với bà Clinton về kế hoạch Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan. Ông nêu lý do chính quyền Karzai sẽ không đủ sức tự vệ trước phe Taliban, và nguy cơ hỗn loạn tại đây có thể lan rộng.

              Ngoại trưởng Mỹ sau đó đến Madras (Chennai), nơi có đầu tư nhiều của Mỹ và thăm nhà máy xe hơi của hãng Ford. Ấn Độ hiện là bạn hàng thứ 12 thế giới của Hoa Kỳ với trao đổi thương mại hai bên đạt gần 50 tỷ USD năm ngoái. Hoa Kỳ muốn Ấn Độ vươn lên vị trí một trong 10 nước là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ.

              (còn tiếp)

              Comment

              • vinhtruong
                Super Member
                • Jun 2010
                • 1924

                #52
                Sorry! Bài dành cho học-giả (2)

                (Thư-Viện Hoa Sen, Thư-Viện Bồ Đề Online,
                http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia... -nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan )

                ****

                Mặt trái cuộc chiến VN

                Tham chiếu nghiên cứu thẳng vào nguồn gốc, hệ quả cuộc chiến: Nhắm vào trang 3/7 http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman: “Aid to Russia 1941-46” bởi chiến lược gia, George F Kennan, sáng lập chương trình chiến tranh lạnh (Cold War) chia hai quốc gia Đức, Triều-Tiên và VN, rồi tuần tự sẽ thống nhứt sau, đặt biệt VN vì không có quân đội Mỹ ở lại nên theo lộ đồ đúng 50 năm sau (1945-1995) sẽ thống nhứt theo dưới sự bảo trợ gián-tiếp của Mỹ, như trong ống kính của George Kennan là 1995 bằng sự chính thức công nhận trên công hàm ngoại giao; còn hai nước Đức và Triều Tiên theo yêu cầu tình thế vì trọng điểm Eurasian Great Game là phải chia Liên Xô và Trung Quốc ra nhiều tiểu quốc với cái dù “Tối huệ quốc” [Freedom-Support Act] dĩ nhiên mực sống của người dân trong những nước Cộng Hoà mới nầy sẽ cao hơn người dân tại Moscova và Bắc Kinh).

                Khi mà Thượng nghị-sĩ Dân-chủ, Idaho Frank F.Church và Thượng nghị-sỉ, Kentucky, Cộng-hoà, John Sherman Cooper, hai ông quyết định tu-chánh án bằng danh xưng của hai ông “Cooper-Church”-1970 ra lệnh cúp mọi chi tiêu về quân sự trên toàn vùng Ðông Nam Á, có nghĩa sẽ mớm những lời lập-lờ ẩn-ý để Kissinger cho Trung Quốc chiếm Hoàng-Sa sau khi Hoa kỳ rút khỏi nơi đây. Lúc nầy Chiến lược gia Harriman lại cho ra đời cuốn sách “Hoa kỳ và Liên Xô cùng thay đổi cục diện thế giới” [America and Russia in a Changing World 1971] có nghĩa nhường ảnh các nước ÐNA cho Liên-Xô (Theo sự nhận xét của cá nhân tôi, chính trị nói một đường nhưng làm thì trái ngược vì 1972 Nixon qua gặp Mao sẽ hứa giúp Trung Quốc về khoa học kỹ thuật để trở thành cường quốc số 2, chiếm ngôi vị của Liên Xô đương-đại).

                Thấy Hoa-kỳ lùi bước về Honolulu, sau khi cưỡng chiếm Hoàng-Sa, nhóm trẻ Trung quốc lấy đà chiếm các đảo san-hô (Mischief Reef) của Phi Luật Tân và quần đảo Trường-sa (Spratlys) nhưng Phi Luật Tân vì yếu thế nên cứ la hoảng bằng hình thức ngoại giao. Tổng thống Fidel Ramos: “Tôi sẽ dùng những biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền!” Thế là Mỹ bán cho Phi Luật Tân khoảng 2 tỷ dollars chiến cụ để tự vệ trong khi đó Hoa kỳ được “save money” về chi tiêu, nhờ CIA tạo cảnh rời bỏ hai căn cứ Hải và Không, Clark field và Subic 1992 với lý-do dân Phi biểu tình đuổi Mỹ! cũng như Tổng Thống Minh chỉ nắm quyền trong 72 giờ, vừa đủ để đuổi Mỹ để bàn giao.

                Thấy những sự việc khó hiểu về chính sách Mỹ, báo chí có đặt câu hỏi với Ðô-đốc Richard Macke, Tư lệnh Thái bình dương về các biến cố như kể trên, Macke trả lời: “Chúng tôi không ngạc nhiên gì về dữ kiện biến-cố đó đả xảy ra!” Báo chí không hài lòng câu trả lời nầy, nên một tuần sau, họ hỏi Ðô đốc William Owens, Phó Tham mưu trưởng Liên quân một lần nữa và được trả lời: “Hiện đang có quá nhiều biến cố xảy ra tại quần-đảo Trường sa do nhiều nước dính líu tới, nhưng chúng tôi là quân nhân nên không dính líu gì về chính sách, tuy nhiên chúng tôi cũng chia bớt những tin tức tình báo mà chúng tôi biết được cho đồng minh của chúng tôi!” Tuy Hạm đội 7 của Hoa kỳ không có mặt ở biển Ðông nhưng chiến hạm Mỹ với cái gọi là “tìm phi-công Mỹ mất tích” dưới lòng Vịnh Bắc Việt và biển Ðông vẩn tiếp tục đi đi lại lại, đôi khi ghé vào thăm viếng VN và dĩ nhiên phải xuyên qua duyên hải VN cũng thuận theo công pháp quốc tế về biển.

                Ðịnh mệnh của VNCH nằm trong tu chánh án “Case-Church": Ngày 29/6/1973, lại cũng do Thượng nghị sĩ Frank F Church, Dân chủ, Idaho và Thượng nghị sĩ, Công-hòa, New-Jersey Clifford P.Case, lại một lần nữa nhập tên hai ông nầy thành tu chánh án “Case-Church,” ra lệnh nghiêm-cấm mọi hoạt động quân sự của quân đội Mỹ tại Lào, Cambodia, và Việt Nam. Có nghĩa lực lượng Hoa kỳ không còn ở lại Ðông Nam Á. Thế là 700 triệu tấn vũ-khí mới-tinh của Liên Xô trả bằng tín-dụng dollar Mỹ cho giai cấp thợ-thuyền Liên-Xô trong thế “bênh kẻ mạnh”, đem vào Hà Nội cho chiến dịch Hồ Chí Minh và chiếm Cambodia sau nầy. Kết thúc Màn-2 giai-đoạn-2 để qua Màn-3 là Trung-Ðông! Có nghĩa bức chắn ngang Âu-Á. Nhưng trọng điểm của vở bi kịch Eurasian lại nhấn mạnh ở hậu quả từ Màn-2, giai đoạn-2 do vệ tinh gián điệp [American spy satellite program] đã khám phá các nguồn tài nguyên dưới thềm lục địa sau thế chiến-2, gây hệ quả: phải giải nhiệm Tướng Mac Arthur, Trung Hoa Quốc gia buộc phải nhường ghế LHQ cho Trung quốc, giải thể VNCH tại vùng sẽ tranh chấp, sau khi khoan thử vài mũi khoan kiểm chứng có dầu khí tại đây, rồi đóng nút lại chờ phân giải trên bàn mổ LHQ vào đầu thế kỷ 21: Thềm lục địa có trữ lượng dầu khí nầy sẽ đem ra bàn luận tại LHQ vì có nhửng văn bản thành văn và những, chưa thành văn cần tái xác định điều chỉnh lại bằng công pháp quốc tế nhẹ nhàng không cần phải dao to búa lớn!Nhưng nó đã nằm trong kế hoặch do George Kennan thiết kế rất tỉ mỉ từ lâu, không thế nào đảo ngược được dù Hoa Kỳ có rất nhiều khó khăn về kinh, mà tôi biết chắc nịt TQ không dám nổi chứng

                “Hoa-kỳ muốn bảo đảm rằng các nước có thể có lợi ích trong đó nên hiểu, vùng biển Ðông có những luật lệ thành văn (điều khoảng trong HÐ Genève-1954) và bất thành văn (Hoa kỳ bằng mọi giá phải đưa TQ vào cộng đồng quốc tế để dự phần bảo vệ trật tự thế giới) không ai được quyền ra đó “Xí-được” rồi đấm ngực ầm ầm và tuyên bố Tôi có quyền khai thác mỏ dầu ngay tại chổ nầy!” Hoa kỳ sẽ không quay lưng và cũng đúng vào lúc phải trở lại (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) theo đúng trên trục tiến đồ để giữ lời cam kết với đồng minh của mình, chủ yếu là Việt Nam phải có sự bảo đảm được an toàn cho các công ty khai thác, nếu không thì VN chưa có thể là quốc gia có dầu khí chính thức trong vùng! Vì thế Hoa-kỳ sẽ trang bị tối tân hóa hải quân cho VN để tiếp-tục keo sơn hiệp ước Việt-Phi tháng bảy, 1995 cũng chỉ là để bảo vệ chủ quyền lảnh hải của hai nước nhưng chủ yếu vẩn là quyền lợi Mỹ.

                Trong thời gian nầỳ thỉnh thoảng chiến hạm Mỹ tới thăm VN, Ðô-đốc Timothy Keating, Tổng tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái bình dương lại qua thăm VN một lần nữa ngay sau khi Bắc-Kinh công bố sắc lệnh thành lập thành phố Tam-sa bao gồm Hoàng-sa và Trường-sa. Trung Quốc âm thầm xây dựng căn cứ tàu ngầm nguyên tử tại thành phố Sanya cực nam đảo Hải-Nam để chuẩn bị khai triển lực lượng tàu ngầm nguyên tử có khả năng chơi trò đuổi bắt và săn tìm với hạm đội tàu ngầm của Hoa kỳ trên biển cả bao gồm Thái Bình Dương, Ấn Ðộ dương và cả Ðại Tây dương khi cần hộ tống các tàu dầu Trung Quốc chạy qua kinh đào Suez.

                Ðể chuẩn bị cho Tổng thống thứ 44 của Hoa kỳ sẽ tái xác định chính sách “tái can dự” của Hoa kỳ ở Á châu và đặc biệt ÐNÁ- TBD. Chính sách chiến lược Eurasian là mục đích chính “bảo vệ VN” trong giai đoạn trở lại [“roll back.”] Tháng Sáu, 2008, TT Bush có mời TT Dũng và TT Phi xác nhận chủ quyền của hai nước, đồng thời khuyên hai nước hợp tác quân sự để bảo vệ lãnh hải của mình, dĩ nhiên Hoa Kỳ sẽ tìm cách bán vũ khí sau, và sẽ có Hiệp ước hợp tác quân sự Việt Mỹ trong nhiệm kỳ Tổng thống thứ 44 . Biết cái thế yếu kém của VN, Hoa kỳ đã từ lâu im lặng trước các động thái khiêu khích của Trung Quốc và âm thầm chuẩn bị đánh những đòn trả lại, Hoa kỳ tìm cách thuyết phục VN về mối nguy hiểm đã kinh qua do Trung Quốc, và hình như đã thành công phần nào. Kết quả Hoa kỳ cam kết ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lảnh thổ VN. Dĩ nhiên phản tình báo CIA sẽ lập lại qua con bài chống tham nhũng để loại ra các phần tử thân Trung Quốc bằng tam-trùng Nguyễn Chí Vịnh, và thế vào đó thành phàn thân Hoa kỳ, cấu trúc guồng máy lảnh đạo quân đội để sẵn sàng tối tân hóa hỏa lực, và sau nầy thành lập nội các có 8/10 sẽ đào luyện tại Mỹ và do đồng bào ruột thịt sẽ tự nguyện đem chất xám về phục vụ dân tộc, với 10.000 tiến sĩ gương mẫu đào tạo tại Hoa-kỳ. Ðiều nầy người viết chắc chắn sẽ xảy ra 100%, còn những người Việt hải ngoại mang máu hận thù sẽ không thấy có tắm máu trở lại mà Hoa Kỳ có trách nhiệm sẽ giải quyết êm đẹp, khi nhóm người nầy nằm yên dưới ba tất đất không thể đội mồ mà lội ngược dòng lịch sử.

                Năm 1947 biến hóa OSS thành CIA, Harriman và Prescott đã chuẩn bị đem chiến tranh từ Âu Châu qua Á Châu, đồng thời ngay thập niên 60, khi vệ-tinh gián điệp đã phát hiện mỏ dầu dưới thềm lục địa của VN, và đả khoan thử chắc có rồi mới đóng lại để chờ đến ngày hôm nay (Tổng thống 44) TQ nên hiểu rằng Con Ó làm tổ thì nơi đó chỉ nở ra Ó-Con, chớ không thể Le-le hay Vịt trời nở ra nơi đó! Hoa kỳ phải cách chức vị Tướng tài Mac Arthur để đưa Trung Quốc vào trò chơi pháp lý; Còn đối với Hoa kỳ nơi nào có thể làm ăn hợp pháp mới dám bỏ vốn làm ăn, bất chấp sự bất bình của Trung Quốc là một quốc gia đang lớn mạnh và có khả năng làm khó Hoa-kỳ thì Hoa kỳ cũng sẽ làm khó lại. Trung quốc đừng quên rằng 1949 CIA đã hoàn thành cưỡng bức di tản Thống chế Trưởng Giới Thạch qua đảo Ðài-Loan và 1959 đả bí mật giúp bảo-vệ Ðức Ðạt Lại Lama và vận tải cơ C-130A do Ðại-tá Harry Aderbolt, chuyên viên nhà nghề về hành quân thâm nhập vẫn thường xuyên tiếp tế cho du kích của ngài, Trung Quốc khôn ngoan nên ôn hoà với Mỹ vì nội bộ mới là cái cơ nguy cho Trung Quốc mà CIA đã quậy nát bấy rồi, và hơn nữa TQ bề ngoài xem như mạnh nhưng thật sự rất còn yếu kém nhiều phương diện. Gương trước mắt, Liên Xô là một nước CS chuyên chế mà Hoa kỳ còn làm sụp đổ từng mảnh, Hoa kỳ xem Liên Xô cứng và gai gốc như vỏ trái Soài Riêng, còn Trung Quốc như những múi thơm hay thúi gì đó tùy sự khôn ngoan của đối tượng biết cư xử thế nào cho phải đạo.

                Ðã đến lúc Hoa kỳ phải tỏ ra bênh vực VN bằng cách “Tái khẳng định sự ủng hộ của chính quyền Mỹ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của VN” qua một số ngôn từ làm giới quan sát quốc tế đánh đổi ngạc nhiên: Hoa-kỳ và VN phải trao đổi việc mở rộng và tăng cường đối thoại giữa các quan chức cao cấp của hai nước, sẽ ủng hộ việc lập cơ chế đối thoại mới về chính trị, quốc phòng và chính sách nhằm tăng cường sự trao đổi thường xuyên và sâu hơn nữa về các vấn đề chiến lược và an ninh. Ngay vào lúc nầy, về phía VN, bị dồn vào chân tường, VN khó chọn thái độ đẩy đưa đu-dây như trước mà phải dứt khoát, mạnh mẽ làm bất cứ những gì cần thiết để chứng tỏ chủ quyền lãnh thổ của mình. Theo trong tầm ống kính của Skull and Bones [Harriman] cho biết rằng: “nếu việc tranh chấp chủ quyền trên biển được đưa ra quốc tế thì VN có nhiều điều kiện để thắng” Vì thế cho nên Hoa kỳ chường mặt bằng ExxonMobil không thể đơn giản rút lui như công ty người Anh BP đã phải chùn bước năm vừa qua, mặc dù áp lực của TQ không làm cho Công-ty ExxonMobil ngưng tiến hành các cuộc thảo luận với Petro-VN.

                Về chuẩn bị dư luận thế giới là môn tuyệt chiêu của thủ lãnh Skull and Bones [Harrimen, Bushes] lại lấy trung tâm văn hóa thế giới là Thủ đô Paris qua nguồn tài trợ Ngân hàng Thụy-Sỉ như: nữ tiến sĩ Monique Chemillier Gendreau, giáo sư Luật và Khoa học Chính trị đại-học Paris, vì lương tâm khách quan, vì công lý lẽ phải của một luật gia tầm cỡ quốc tế. Giáo sư Monique đả bỏ ra nhiều năm tận tụy sưu khảo và viết bộ sử tựa đề “La Souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys” L’Harmattan, Paris 1996, 306 pp (Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trong đó gần nhứt là Hiệp định Genève 1954 có các Ðại-sứ cường quốc như Liên Xô và Chu An Lai công nhận bằng chử ký, miền Nam VN có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước khi nhường ghế cho T.Thống thứ 44, George Bush ghé Tổng thư ký khối ASEAN ở Thai Lan tái xác định chính sách “can-dự” của Hoa kỳ ở Á-châu và đặc-biệt ở ÐNA, TBD. Nói tóm lại Bush tuyên bố thẳng thừng là bảo vệ VN để giữ nguồn dầu khí nơi đây không thể rơi vào tay Trung Quốc và sau đó VN sẽ thể hiện đường lối cứng rắn với TQ để đi theo Mỹ đúng như ý đồ cũa Harriman qua chiến lược gia George F Kennan trong thế chiến lược Eurasian 1920-2020.

                “Làm gì có sự lạ trên đời khi Con Ó làm ổ, đẻ trứng nơi đó mà lại nở ra con Le-Le Vịt trời” Trung quốc cũng thừa hiểu khi đụng độ với VN và Phi Luật Tân thì có các nước khác nhảy vào như Nhựt, Thái-lan, Ðài-Loan, Mả-Lai, Borneo… Trung quốc không muốn rằng mình trở nên con Heo-rừng bị một bầy chó săn tấn công mọi mặt, đến khi kiệt sức, thì người thợ Chú Sam dứt nộc. Dĩ nhiên Trung quốc không dại gì phải… hơn nữa dù là “Di tản chiến-lược”[theo lộ-đồ Eurasian] về Hawai 1970 ngay sau khi Quốc hội Hoa kỳ ban ra Tu chánh án “Cooper-Church,” nhưng Hoa kỳ ngầm ý để cho Nhựt thay mặt bảo quản an ninh vùng Thái bình dương sau khi Mỹ di tản chiến lược. Ngoài ra từ thập niên 1970, Nhật bản được Mỹ bật đèn xanh bung ra viện trợ cho các nước trên thế giới, đứng vào hàng đầu là ưu tiên cho VN, qua viện trợ để các nước tiêu dùng hàng hóa Nhựt, đồng thời gây ảnh hưởng để mở rộng thị trường. Mỹ và Nhựt sáng lập Ngân hàng phát triển Á-châu ADA để tận tình giúp đỡ VN, cũng như Hoa kỳ lờ luôn cho Việt kiều tuôn về hàng tỷ dollar theo như lộ-đồ chiến lược Eurasian. Hoa kỳ bàn giao lại cho Nhựt những tin tức tình báo gài bẩy sự khao khát dầu khí của TQ qua 1974 cưởng chiếm Hoàng Sa của VNCH, đánh chiếm một số đảo Trường Sa năm 1982, trên biên giới trận đánh cưỡng chiếm đất đai Thanh-Thủy, Lão-Sơn 1984. Thấy TQ với âm mưu Ðại-Hán và chiến lược Hải Dương, Nhựt Bản thay mặt Hoa kỳ đã công bố một bạch thư về “An ninh quốc phòng Nhựt Bản về Á-châu” cho Việt Nam: 1988 hải quân TQ chủ trương chiếm các đảo San-hô của Phi và Trường-Sa và 2008 trong mùa bầu cử tổng thống, hải quân TQ sẽ tiến xuống Trường Sa, đánh bật Mỹ ra khỏi biển Ðông, cô lập vùng biển của Phi Luật Tân và VN. Nhưng Bushes rất bình tỉnh sẽ có một tổng thống da màu biểu tượng 1000 lần dân chủ, sẽ cứng rắn bằng những lời đanh thép với TQ.

                (còn tiếp)

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #53
                  Sorry! Bài dành cho học-giả (3)

                  http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...

                  Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan

                  *******

                  Hoa-kỳ muốn Nhựt trở nên một nước hùng mạnh tại Á-châu! Nhưng phải có nanh-vuốt quân sự, thông thường “Ai buộc, người đó gỡ”: Ngày 14/8/1945, Nhựt đầu hàng sau khi lãnh hai trái bom nguyên-tử ở Hiroshima và Nagasaki, Thống tướng Mc Arthur đại diện Ðồng minh, tiếp nhận cuộc đầu hàng của Nhựt trên mẫu hạm Missouri neo ở cảng Tokyo cùng với 11 đại diện các nước Ðồng minh, trong đó có Nga-Sô, Trung-hoa, Canada, Anh, Úc … Tướng Mc Arthur cầm đầu Hội đồng tối cao Ðồng minh quân-quản một nước Nhựt đầu hàng [một Vị Tướng tài ba như vậy mà bị W.A.Harriman áp lực TT Truman phải cách chức, thì chúng ta cũng dể hiểu, Ông Harriman nầy quả là một thế lực ghê-gớm nhứt sau hậu trường nước Mỹ và chính ông nầy là thủ phạm ra lệnh giết chết TT Diệm] Ban Quân pháp Hoa-kỳ được lệnh soạn thảo hiến pháp mới cho Nhựt – Hiến-pháp 1946, có hiệu lực từ 1947 cho đến nay, chưa một lần tu chỉnh. Dù hiến pháp do do Ban Quân pháp của Bộ Tổng Tư Lệnh Mỹ soạn thảo, nước Nhựt trong 60 năm qua vẩn triệt để trung thành và là một trong những nước dân chủ nhứt thế giới.

                  Vì Trung-Quốc đã vướng vào cái bẫy của Mỹ giăng ra đầu tiên 1/1974 vụ cưởng chiếm Hoàng-sa của miền Nam VN, sau đó quần đảo san-hô và Trường-sa do nhiều nước có chủ quyền nơi đó, nhiều nơi thành-văn còn nơi khác bất thành văn, kể cả đảo Ðiếu-ngư không biết Nhựt hay Trung hoa là chủ quyền; Vì thế Hoa-kỳ phải hy sinh hai nước đồng minh là Trung Hoa Quốc Gia và VNCH để đưa Trung quốc vào trò chơi công pháp quốc tế để yên tâm bỏ vốn khai thác dầu khí đúng theo sự thiết-kế của George Kennan. Trung quốc quá ham dầu hỏa và hơi đốt dưới vùng biển trong hải phận VN, điều nầy quá đúng theo sự dọ thám của vệ-tinh sau thế chiến-2, dầu khí ở thềm lục địa VN dẩn đầu các nước ÐNA. Tổng số dầu khí VN là 1.9 tỷ BOE (1 bbl tương đương 5,300 ft3) Dù rằng Trung quốc có hung hăng công bố bản đồ mới của TQ 2007 với lưỡi-bò từ vùng An-vạn bắc và biển Ðông rộng 5 triệu km2, thêm một thách đố khác đối với Nhựt, Úc mà Úc cũng như Tân Tay Lan đã tự coi thuộc về Á châu và ÐNA. Nhưng Mỹ thì cứ nhởn-nhơ vì biết chắc rằng, ít nhứt cho đến năm 2030, còn như hiện tại kỹ nghệ dầu hỏa TQ chưa có đủ khả năng khai thác dầu khí ở Biển Ðông, nhứt là vùng Trường-Sa và Hoàng-Sa. Nhưng trước 2030 hay trước 2023 kỷ niệm 50 chiến tranh VN thì mọi việc đã dàn-xếp trên bàn họp tại Liên Hiệp Quốc mà chắc chắn Trung quốc sẽ bị thua vì pháp lý, căn cứ những dẩn chứng mà Tôi hiểu được! .

                  Hoa-kỳ, ngay sau khi Quốc hội cho ra Tu chánh án “Cooper-Church-1970” bèn nói nhỏ Nhựt cứ việc âm thầm sản xuất chiến cụ để thay mặt Mỹ trông coi an ninh trong vùng, Nhựt sẽ đóng Hàng không mẫu hạm và các giàn hỏa tiễn tầm xa; ai cấm Nhựt bí mật chế tạo vũ khí nguyên tử, tàu ngầm nguyên tử với đầu đạn nguyên tử? Sức mạnh quân sự của Nhựt vẩn gắn bó với sức mạnh quân sự Hoa-kỳ, nối kết với Úc-Ðại-Lợi, một thử thách ghê gớm khiến TQ phải suy nghĩ hai lần hoặc nhiều lần! Cho đến khi Bắc-Kinh điên khùng ngang nhiên ra tay cho liên quân tập trận ở Trường Sa và ban hành sắc lệnh thành lập thành phố Tam Sa, huyện đảo Tam Sa, thuộc Tỉnh đảo Hải-Nam. Ðây là lúc mà Hoa-kỳ muốn Nhựt trực tiếp đối đầu [cũng là phương thức gây chiến kiểu đàn anh, bắt mấy thằng em nhập trận trước, cho đến khi địch thủ mệt nhòai, là chọt một cái nhẹ địch thủ cũng sẽ ngã quỵ; Trong thế chiến-2, Ðại sứ W.A Harriman tại Liên Xô chỉ ngồi chờ đợi, cho đến khi Hồng quân tiến vào Bá-Linh, lúc đó Trung-úy OSS William Colby mới cho Harriman biết để thả Sư-đoàn Dù vào phỏng tay trên chụp trước các nhà bác học Ðức].

                  Sự kiện hung-hăng diễn tập quân sự bắn đạn thật của TQ, khiến Nhựt bản phải tái võ trang theo sự gật đầu của Mỹ. Năm 2008 TQ vươn lên đến đỉnh cao thịnh vượng với Thế vận hội Bắc kinh; thực tế, Nhựt Bản chuẩn bị tái võ trang đã từ lâu, nay vì sự hung-hăng của TQ, nên mới công khai hóa. Ðây cũng là một khúc quanh thách đố lớn đối với TQ, chính phủ Nhựt công bố quyết định tháng 9/2007 nầy, Tự vệ quân Nhựt ra đời sau hiến pháp “chủ-hòa” 1947 sẽ trở thành Quân đội chính qui. Sau khi quốc-hội Nhựt thông qua đạo luật mới cho phép Tổng Nha Tự Vệ (The Agency of Self Defense) trở thành Bộ Quốc Phòng; Thế nên Tổng Giám Ðốc Tự Vệ đã trở thành Tân Bộ Trưởng Quốc Phòng. Ðương nhiên là một đồng minh son-sắt nhứt của Mỹ, Nhựt sẽ phát triển sức mạnh quân sự thành một cường quốc quân sự số 1 Á-châu chậm nhứt là năm 2010 với 3 quân chủng Hải, Lục, Không quân cùng bảo-trợ quân sự cho VN để cùng chia sẻ trật tự tại vùng ÐNÁ, Việt Nam sẽ được trang bị sơ khởi bằng tàu ngầm Kilo, các diệt lôi hạm có trang bị hỏa tiễn tối tân liền sau đó và các trực thăng võ trang tuần tra UH-1H cải tiến đậu trực alert trên các tuần dương hạm.
                  Sự thật huyền thoại HCM

                  Để soi sáng những vùng tối của lịch sử, người viết cảm nhận phải đưa ra những sự kiện trung thực về con người và sự nghiệp của Hồ Chí Minh vào khi có quá nhiều thông tin trái ngược nhau về nhân vật lịch sử nấy, không nên mạt sát, không nên đả kích. Đây không phải bài viết tố-cộng, mà là một diễn giải bởi cá nhân người viết, muốn trình bày sự thật về một con người, mà phía Cộng Sản đã cố tình che giấu bằng những huyền thọai, họ coi như là một vị thánh, vị thần, thậm chí còn thở phượng. Nhưng thật ra có ai biết đâu là do một khối óc tinh-ranh thần sầu quỷ khốc, họ có thể làm đảo lộn cả căn thực chất chân-lý kinh dị mà chúng ta có thể chứng kiến nhãn tiền như tại Mỹ: da đen hạ da trắng, vô danh tiểu tốt hạ nổi tiếng trên chính trường, nhà nghèo thắng nhà giàu, tiểu niên TNS thắng thâm niên TNS, chưa ở Bạch Ốc thắng người đã từng ở 8 năm Bạch-Ốc, tiểu bang nhỏ thắng tiểu bang nổi tiếng New-York… nói tóm lại cái Tập-đoàn War Industries Board ghê-gớm nầy muốn làm gì chả được? Tổng thống Bush-Con đã thua Gore, giờ chót “bồ-nhà” Tối Cao Pháp Viện quyết định cho thắng, nghe lén Watergate bị buộc từ chức, nhưng lừa gạt dân Mỹ và Quốc hội tuyên bố gây chiến vì Iraq có vũ khí nguyên tử… nhưng không có, vẫn ngồi trên chiếc ghế quyền lực đến mãn nhiệm kỳ thì làm gì nhau?

                  Qua một thời điểm tranh cử ngắn ngũi “chiến-thuật” do chính họ bảo trợ, như vậy thì trong kế hoạch siêu “chiến-lược” toàn cầu, nhóm người nầy muốn Võ Nguyên Giáp hay tướng lãnh Hà Nội dù không học trường lớp nào vẫn nổi tiếng như cồn, chẳng lẽ tất cả đều là thiên tài? Mọi đường lối chính sách thường qua quyết định bởi người thống lãnh thế giới William Averell Harriman (1891-1986) xác quyết cho mục tiêu chiến lược toàn cầu, điển hình như nhân vật Hồ Chí Minh với nhiều huyền thoại trong sự nghiệp bí ẩn đầy gian dối do chính tham mưu chiến lược gia George F Kennan (1904-2005) sáng tạo dựng lên cho chủ đích chính trị trong giai đoạn lấy màu da Vàng làm vật tế thần thay cho người da Trắng, hay nói cách khác đem chiến tranh từ Âu Châu qua Á-Châu bắt đầu từ 1950 …

                  Nhưng thật sự, sau khi nghiên cứu kỹ, thì HCM cũng chỉ là một con người bình thường, mà là một con người có rất nhiều điều phải nói, một trong những điều phải nói là để lại một di sản rất là tai hại cho dân tộc VN (nhưng không phải do HCM chủ động mà là bị đặt để?) Về một cuốn phim mà tôi cho rằng: “Trình bầy Sự thật HCM đã đến thời điểm phải tuyên bố đâu là sự thật mà người Việt cần phải biết” theo đơn đặt hàng. Để thực hiện cuốn phim này, người ta tìm kiếm, góp nhặt, thẩm định và ghi chụp tài liệu của nhiều sử gia và nhà nghiên cứu, các nhân chứng sống, và nhất là những tài liệu đã được giải mật từ văn khố của nhiều chính quyền, cũng như cơ quan tình báo các nước đã giữ chặt trong tủ sắt, nay mới chịu khui ra cho thế gian biết vào đúng thời điểm decent interval trên trục lộ đồ phải diển tiến. Ngoài ra còn phải kể đến các cuộc gặp gỡ, phỏng vấn 31 nhân chứng sống tại 15 địa điểm khác nhau, như nhà văn Vũ Thư Hiền, nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng, Vũ Ngự Chiêu, GS Sophia Quinn-Judge, cựu đại tá và nhà báo Bùi Tín, GS Nguyễn Ngọc Bích, GS Lê Hữu Mục, ông Nguyễn Minh Cần, ông Nguyễn Tường Bách, ông Minh Võ, đại sứ Bùi Diễm, nhà báo Oliver Todd và LM Phan Văn Lợi …

                  Cuốn phim muốn trình bày sự thật về một con người, mà phía ĐCS, nhứt là phía Hà-Nội, tay sai gián tiếp của Mỹ, bằng sự lựa chọn Mafia Lê Đức Thọ. Vì được hưởng lợi khi buộc phải núp dưới bức tường Thép, nên đã cố tình che giấu bằng những huyền thọai, người ta coi như là một vị thánh, vị thần. Hồ Chí Minh lẩn khuất sau những lớp màn che tối tăm hay mờ ảo để cho người ta không nhận diện được ông, cho nên từ đầu chí cuối, tôi thấy từ ngày sanh cho tới ngày chết của cụ Hồ Chí Minh đều dối trá, không thật chỉ vì một lý do chính trị nào đó của thế lực trong bóng tối muốn thế. Vì sự thật OSS cũng như CIA sau nầy không muốn ai hiểu rõ lai lịch của lá bài tẩy đang thế úp như HCM để theo dõi mà chỉ có bọn họ [Permanent Government] độc quyền mà thôi cho mưu đồ chính trị; ngay cái tên đường mòn Hồ Chí Minh, Chiến dịch HCM, thành phố HCM, và nếu Harriman còn sống thì HCM sẽ nằm trong danh sách danh nhân thế giới như Nguyễn Trải qua quỷ tài trợ ngân hàng Thuỵ-Sĩ cũng như đã ban thưởng giải hoà bình Nobel cho Kissinger, còn Lê Đức Thọ không được nhận như lời vàng thước ngọc của Harriman dặn dò Thọ tại Paris Peace Talks: “Phải chiếm miền nam và Cambodia”.

                  Tôi hết sức tôn trọng, không chỉ trích nặng nề, và cũng không ca tụng cụ Hồ Chí Minh là một hình nộm lịch sử, những gì tôi hiểu được, từ nơi cuốn phim, đó là phim tài liệu. Tôi không thể cả quyết được rằng tất cả đều là sự thật theo nhãn quan của tôi, mà chỉ nói, tôi đang tiến tới sự thật về Hồ Chí Minh theo những chứng cớ thấy rờ được qua những tài liệu đi vào thực tế, như chính HCM cũng thừa nhận cụ là người bình thường như mọi người, dù rằng bị gán ép là học thuyết gia, tác giả … nhưng cụ rất khiêm nhường tự thú cho rằng cụ chỉ là người hành động, mọi người nghe chữ Leninìst, Maoist .. chớ có ai bao giờ nghe Hoist chưa? Ai muốn thần thánh hoá cụ để làm gì?

                  Di sản Hồ Chí Minh, nội dung tổng quát của phim “Sự Thật về HCM” được trình bày mạch lạc như có chủ đích từ lâu trong 6 lãnh vực: Thân thế, đạo đức, tư tuởng, bản chất, di sản và tội ác của HCM. Trong mỗi lãnh vực, cuốn phim nêu lên những gì đang được rao giảng về HCM ở trong nước và đưa ra những chứng tích lịch sử dưới nhiều hình thức để chứng minh là những gì đang được truyền bá trong nước hầu hết là những điều được thêu dệt lên để thần thánh hóa ông với chủ đích không tốt, là cái dù cho bọn Mafia Lê Đức Thọ và đồng bọn núp dưới mà hưởng thụ cướp bóc đúng nghĩa đảng cướp Mafia.

                  Có rất nhiều nhà nghiên cứu ngọai quốc về phim đời sống của HCM, về con người của HCM khi họ xin phép để phỏng vấn thì bị từ chối, lý do là nếu họ trả lời, trình bày những sự thật thì CSVN sẽ không cho họ vào VN để mà nghiên cứu nữa. Cho nên phải nói là họ rất là may mắn nhờ CIA giúp đỡ! Phỏng vấn được hai người đó là nhà văn nhà báo Oliver Todd, và GS Sophia Quinn-Judge, là hai nhà nghiên cứu về VN có tăm tiếng quốc tế, và một lần nữa có thể nói đó là cái may mắn nhờ đúng vào thời điểm. Nhưng họ cứ yên tâm, Hoa kỳ sẽ đợi đúng thời điểm 50 sau khi người Lính Mỹ rời khỏi VN (1973-2023) lúc nầy thế hệ dính dấp với chiến tranh đã nằm yên đưới đất thì lúc đó câu nói của Thượng Nghị Sĩ Mc Cain sẽ làm sáng tỏ thêm: Mc Cain bị CS giam cầm hành-hạ đến nỗi hai lần toan tự tử mà không được toại nguyện đã nói, “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” sẽ phong phú hoá câu nói để rồi cùng trùng hợp với câu nói của Donald Rumsfeld, tác giả tháng Tư Đen: “Miền Nam bù nhìn Miền bắc yêu nước” Tại vì vở bi-kịch nầy trả lại lời hứa với cụ Hồ là sẽ giúp cho VN thống nhứt độc lập, nhưng trước tiên phải trả một cái giá là để cho họ khai thác lợi nhuận qua khuấy động chiến tranh, trong lúc chúng ta đang nằm yên dưới ba tấc đất không thể đội mồ lên mà lội ngược dòng lịch sử? Cái giá quá đắt 1945-1975 khói lửa!

                  Thật ra đối với người quen tìm đọc các tài liệu lịch sử, thì những điều được trình bầy trong cuốn phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” không mang đến cho họ điều gì mới mẻ đáng kinh ngạc, nhưng theo LM Nguyễn Hữu Lễ thì nếu đối tượng là những người ở trong nước thì lại khác. Đó là lý do vào thời điểm thả chiếc bong bóng nhẹ nhàng bay bồng bềnh trên bầu trời Việt Nam là chủ đích. Nếu là người ngọai quốc, thì người ta nói rằng ồ, chẳng có cái gì mới cả, bởi vì dầu sao về HCM thì họ đã biết rồi, có người thì đọc sách, có người thì nghe băng, có người thì coi hình, thì nói ồ dầu sao tôi đã biết rồi, HCM có vợ có con, HCM lấy đàn bà con gái, HCM giết người, HCM v.v…, HCM cũng đặt điều nói dóc về mình khi mà tự lấy tên là Trần Dân Tiên? Nhưng mà giới trẻ trong nước có biết không? Người dân trong nước không biết gì cả, cho nên mục đích chánh cuốn phim này, là họ làm để phổ biến về trong nước theo đơn đặt hàng có chủ đích như cuốn phim “Chúng tôi muốn sống” qua thâm ý, di cư 1954 và cuộc chạy tán loạn 1975 bởi “Vote On Foot”. Bọn chúng tìm cách chạy trốn tội tàn sát người Việt nhứt là biến Thái Bình Dương thành một nghĩa trang vĩ đại với gần nửa triệu người Việt vô tôi phải làm mồi cho cá, nhưng tuyệt đối không dám dựng một cuốn phim nào cả?

                  Thành ra cái giá trị việc làm của LM Nguyễn Hữu Lễ là cho thấy được cái sự thật như thế nào, đó là một điều rất là cần thiết cho những thế hệ sau này của chúng ta theo ý đồ của một thế lực Permanent Government. “Đây là một công trình hết sức là công lao, và rất là khó khăn mà quý vị ấy đã bỏ công bỏ sức ra trong vòng hai năm vừa rồi để mà thực hiện. Tôi nghĩ là không cần cả cuốn phim, chỉ cần một phần của cuốn phim này, một phần tư của cuốn phim này thôi, mà về tới cho tất cả những người ở Việt Nam thì chắc chắn là họ biết là từ trứơc đến nay họ bị lường lọc, họ bị nhồi sọ một cách sai lầm.” Vì đã đến thời điểm Hoa Kỳ muốn chứng minh bấy lâu nay họ dựng bức tường Thép HCM cho bọn Mafia-Việt núp mà hưởng lợi thời gian như vậy là đủ rồi, và bắt đầu từ nay sẽ trở thành bức tường bùn đất trộn lẫn rơm rác, có nghĩa chấm dứt chế độ Mafia và đã đến lúc tiền bạc mà Đảng Mafia nầy cướp giựt của dân bấy lâu nay, tiến viện trợ, tiến người Việt gởi về, hùn vốn phải trả lại cho người dân như Marcos ở Phi, Trần Thủy Biền ở Đài Loan… bằng hàng tiêu dùng của Mỹ, dĩ nhiên những tai to mặt lớn vi phạm hiến quyền Mỹ thì đừng hòng đoàn tụ gia đình ở Mỹ khi bị đảo chánh vì đã bị từ chối Visa theo luật-pháp của Mỹ.

                  Người ta cho rằng sẽ có một cuộc chiến giữa sự thật về Hồ Chí Minh ở hải ngọai và sự thật về Hồ Chí Minh ở trong nước. Giới trẻ trong nước cũng có một số người đã xem phim này và cho rằng DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” sẽ là một món hàng bị cấm lưu hành tại Việt Nam, nhưng các sử gia hậu cận đại sẽ đồng kết luận: “Hồ Chí Minh được thán phục không phải vì sự thắng lợi mà vì sự bội phản của Mỹ” (Skull & Bones 322 conspiracy)


                  (Còn tiếp)

                  Comment

                  • vinhtruong
                    Super Member
                    • Jun 2010
                    • 1924

                    #54
                    Sorry! Bài dành cho học-giả (4)

                    http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...
                    Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan

                    ******

                    Bất đồng về chủ quyền tại Biển Ðông
                    Những vụ tranh chấp chủ quyền ở biển nam Trung Hoa mà VN gọi là Biển Ðông rất khó giải quyết và tình hình đã trở nên xấu đi vì khả năng chấp hành các đòi hỏi của TQ đang trở nên gia tăng và những mưu toan của nước nầy nhằm ngăn chận những nỗ lực của VN để hình thành một mặt trận Asian thống nhứt. Ðâu ai hiểu được có sự bấm đít VN của phản tình báo Mỹ cho rằng họ cương quyết bảo vệ đồng minh khi roll-back 2010: Mỹ muốn ám chỉ “Chúng tôi đã ở đây từ cuối thế kỷ 19, chúng tôi vẫn tiếp tục ở đây, hôm nay, ngày mai và mãi-mãi. Còn đối với những nước ở vùng Thái-Bình-Dương nầy, chúng tôi bày tỏ sự cam kết vững chắc keo sơn của Hoa-kỳ đối với họ dưới sức mạnh và quyền lực tuyệt đối của chúng tôi” Trung-Quốc nghe hiểu câu nầy nên tạm thời co mình chùng lại dù VN không có lời cam kết nào với Mỹ, nhưng Mỹ coi trọng VN như Con Ó-Con thì làm gì được VN!

                    Vấn đề đòi hỏi chủ quyền sẽ tiếp tục khó giải quyết, và tính chất thiếu minh bạch của TQ đã tạo ra những nghi vấn chính đáng về ý đồ chiến lược của họ; Trong năm nay, VN đã tăng cường những nỗ lực để đạt được thoả thuận về một quy tắc hành xử có tính cách ràng buộc COC ở Biển Ðông. Một tuyên bố năm 2002 đã ký giữa TQ và khối Asian kêu gọi các bên liên hệ giải quyết tranh chấp lãnh thổ bằng đường lối hoà bình và tránh thực hiện những hành động có thể gây nên căng thẳng. Trong khi TQ đã tìm cách ngăn chận những nỗ lực của VN, là nước đang giữ chức chủ tịch của khối Asian, nhằm hình thành một mặt trận thống nhứt chống lại TQ ở Biện Ðông vào những năm ấy

                    Tháng 7 vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ Boneswoman Yale/Hillary tuyên bố tại hội nghị diễn đàn khu vực Asian ở Hà Nội rằng: việc thông qua đường lối ngoại giao đa phương để giải quyết vụ tranh chấp ở Biển Ðông là “quyền lợi quốc gia” của Mỹ, tuyên bố nầy đã gặp phải sự phản bác kịch liệt của ngoại trưởng TQ. Trung Quốc lâu nay vẫn chủ trương là giải quyết vụ tranh chấp nầy bằng đường lối song phương. Thế nên, trong thời gian qua TQ đã liên tục bắt giữ các tàu đánh cá của VN và ban hành các luật cấm đánh bắt cá ở biển nam Trung Hoa. Nói nôm na là TQ đã nâng cao vị thế của vùng biển nầy tới mức gọi là “lợi ích cốt lõi” Nhưng TQ có biết chăng Mỹ đã có mưu đồ từ 1959 giải cứu Ðức Ðạt Lai, như các chuyến bay gián điệp từ Tây-Tạng dọc biên giới Miến-Điện của Đại-Tá tình báo Harry- Aderholt từ đầu năm 1960 cho đến nay làm một vòng rào cản ở phía Nam và Tây-Nam của Trung-Quốc, bằng cách tiếp tế cho các kháng chiến quân ủng hộ Đức Đạt Lai, và ngày nay đang hâm nóng lại làm Bắc-Kinh đau đầu! Còn phía Đông thì có đồng minh son sắt của Mỹ, nên mới đây, Hoa-Kỳ cần nghĩ đến hướng Bắc của Trung-Quốc qua sự viếng thăm nước Mông-Cỗ lần đầu tiên cũa một vị Tổng-thống Mỹ (Bush Con) Nước Mỹ thường thích chữ “danh chính ngôn thuận” nên đặt cho cái tên cuộc viếng thăm nầy là: “cám-ơn” Mông-Cỗ đã gởi 160 quân qua Iraq chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ. Lẽ dĩ nhiên cuộc viếng thăm của TT Bush làm cho Bắc-Kinh vô cùng khó chịu nếu không muốn nói đến rất hoảng-hốt cho tương lai nước Tàu sẽ bị chia năm xẻ bẩy đúng theo kế hoạch của Nhóm Học Giả Harriman hồi 1950’ do tham mưu trưởng George Kennan thiết kế “Rồi đây!...sẽ không có nước nào dân số trên 200 triệu dân, ngoại trừ Mỹ!” (có nghĩa sau Nga, tới TQ và Ấn độ sẽ …) với chiêu bài “Dân-quyền, Dân-chủ” rộng khắp Thế-giới, bắt nguồn dùng chiến tranh Việt-Nam làm thí điểm mô-hình kiểu mẫu (The Social Scientists War) sẽ lan dần ra khắp Thế-giới như vết dầu loang, để cho Thế-giới sẽ chiêm ngưỡng nước Mỹ như một ngọn hải đăng cần thiết trong đêm tối mờ mịt, hàm ý buộc Miến điện và Bắc Hàn nên noi gương Việt Nam để được tồn tại trong thịnh vượng...

                    Vì Liên-Xô là Đế-quốc Cộng-Sản sừng-sõ nhứt, theo thế chiến lược Eurasian, Hoa-kỳ phải đặt ưu tiên chia nó trước hết, cũng không khác gì khi ăn Trái ‘Sầu-Riêng’ phải tét vỏ là điều khó nhất mà Hoa-kỳ đã làm xong 1991, qua sách-lược “Bênh Kẻ Mạnh” cùng sự ngụy tạo chiến lược là ‘Tháo-Chạy’ tại Việt-Nam. Nhưng thật ra các kỹ nghệ Tư-bản thuộc bộ máy chiến tranh cần nghĩ qua một chu-kỳ khá dài gọi là Inventory, sau khi thu-nhập quá nhiều lợi nhuận; Nếu như muốn thắng cuộc chiến tại VN, Hoa Kỳ cứ rút bình thường (1973) nhưng giao đầu nổ (warhead) cho KQ Miền Nam thả loại Bom CBU.55 và dùng EC.130B bắn đạn 106 ly tầm nhiệt tiêu diệt chiến xa (xe máy nổ) thì không còn con người và chiến cụ nào chạy vào tới Miền Nam; nhưng đó là không được rồi, vì đi ngược lại với thế siêu chiến lược của Harrimam và Nhóm Học Giả của ông George Kennan. Nhưng, ngạc nhiên thay, 1995 khi thiết lập bang giao với Hà-Nội, phái đoàn Mỹ qua Việt Nam tưng bốc vì VN đã giúp họ thành công trên trục lộ đồ chiến lược toàn cầu, hàm ý gọi là “thán phục cuộc chiến đấu ngoan cường, thần thánh của người Việt!” (Ý muốn tôn vinh Cụ HCM là người quốc gia thực tâm muốn thống nhứt đất nước nhưng bị Mỹ (Permanent Government do Averell Harriman làm TT suốt đời) phản bội vì cần khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi nên buộc phải cách ly trở ngại chính là HCM; Trục ma-quỷ CIA và KGB phối hợp đưa siêu Mafia bằng công-cụ Lê Ðức Thọ, Mai Chí Thọ, và Lê Duẩn, tam đầu chế nầy nắm chặt guồng máy “Mafia-trị” chuyên chế bằng lớp sơn bên ngoài với danh nghĩa Cộng Sản trị: “The Hanoi leadership was like an Asian version of Skull and Bones (U.S) secretive and select. While US Permanent Government was not exactly in the club, she was generally trusted by its members” tài liệu lượm được tại Library of Congress.

                    Sau Việt-Nam, hay sau một chu-kỳ nghỉ ngơi kết toán sổ sách (inventory) mà thế-giới cứ nghĩ rằng Hoa-Kỳ đang yếu thế co cụm càng tốt. Nhóm Tư-bản của bộ máy chiến tranh tìm cách phát triển lại kỹ nghệ chiến tranh qua chủ đề khác‘Siêu Kỹ-thuật’ trong thập niên 80 mươi, hay nói theo kiểu khác, họ cho rằng: “Tại sao phải chạy đua vũ trang?” Chạy đua thì có lúc người nầy qua mặt người kia hay ngược lại. Tập đoàn tài phiệt Đại Tư-bản do Đại-đế-II giấu mặt George H.W Bush trị vì [dù ở ngôi vị Phó tổng thống 2000] đã đồng lòng đầu tư hết vốn liếng vào cuộc thí nghiệm vũ khí siêu kỹ thuật (hi-tech) mục đích bỏ xa Liên-Xô gần vài thập niên. Trên Thế-giới sẽ không còn nghe lải-nhải danh từ “chạy đua vũ trang” nữa, Họ cũng rất sợ sự hung-ác của Cộng-Sản khi nắm vận mệnh thế-giới, vì “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” nên Tư-bản Mỹ đành phải trút hết hầu-bao ra cho mục tiêu phát triển vũ khí tối-tân bỏ xa đối thủ rồi từ từ hốt lại dollar sau đó. Ðồng Ðôla có chạy lẩn quẩn đâu đó cũng trở về hầu bao của đại cồ tư bản Mỹ, điển hình như nghị quyết 36 mà người Việt không hiểu gì cả nên chống đối chụp đủ thứ mủ. Người Việt chống người Việt cái gọi là quốc gia, càng lúc càng quyết liệt hơn chống người Việt cộng sản

                    Năm 1983, sau khi phóng thành công phi thuyền con thoi (Space Shuttle) TT Ronald Reagan tuyên bố: “người Cộng-Sản đang giỡ những trang sử kinh-thánh nhựt tụng cuối cùng của họ” nhưng có ai biết đâu nhờ vào tài-ba của người Phó TT (George H W Bush). Lùi lại năm 1968, sau khi dùng chiến tranh khí tượng (weather-weaponry) Link dưới đây trong sách “The New Legion” Vinh Trương:

                    -[Vietnam War: The New Legion
                    books.google.com/books?isbn=1426927444
                    Vinh Truong - 2010 - ‎History
                    The New Legion Vinh Truong ... Together Cuba and Vietnam were subjected to the weather weaponry. ...ambassador to Soviet, A Harriman 1943-1946 about his two books: “Peace with Russia” and “America and Russia in a Changing World”.-]

                    Phá hoại nông nghiệp chuyên trồng mía làm đường và hoa màu của Cuba, để cho một nước Cộng-Sản của Tây Bán Cầu phải nghèo xơ nghèo xác, hầu dằn mặt các nước theo Cộng-Sản. Rồi tới phiên Liên-Xô, một mặt buộc Nga-Cộng phải leo thang thi đua với Hoa-kỳ trong trò chơi chiến tranh NLF nêu trên, càng tăng thêm việc chế tạo những vũ khí về chiến tranh làm người dân Nga đói khổ và dồn bọn Cộng-Sản Nga buộc phải rời bỏ chính quyền. Nhưng chủ tâm trong bụng dạ của Harriman cũng chỉ muốn, Nga là nước siêu cường hạng-2 nhưng phải dưới cơ của Mỹ, và bị ràng buộc cũng như lệ thuộc vào lúa mì của Mỹ và Canada. Còn Trung-Quốc là kẻ thù tiềm tàng, vì địa lý giống Mỹ mà dân số gấp 6 lần, khó áp đảo và rất nguy hiểm cho ngôi vị thống lãnh toàn cầu của Mỹ. Đặc biệt Hoa-kỳ không dám dùng chiến tranh khí tượng đối với Trung-Quốc, ví không ai dại gì lấy cây tâm xỉa răng soi vào ổ Kiến-Lửa.

                    Trong ba mùa liên tiếp (1968-1970) dùng chiến tranh khí tượng (weather weaponry) Liên-Xô thường xuyên mất mùa, thiếu lương thực trầm trọng và triền miên vào những năm giá lạnh năm nầy qua năm khác, phải nhập cảng hằng mấy chục triệu tấn lương thực mễ cốc từ Mỹ và Canada; Mùa Đông ở Liên-Xô khởi đầu từ cuối tháng October, trời bắt đầu trở lạnh, nhưng hạt lúa mì vẫn tăng trưởng cho đến khi chín hẳn vào tháng December; Khi mùa Đông đến, tuyết phủ trắng cả cánh đồng và các bông lúa được mặc một lớp áo tuyết xớp không bao giờ lạnh dưới 0 độC; Trong lớp áo tuyết bông lúa vẫn tăng trưởng rồi chín cho kịp mùa gặt vào tháng December, để kịp thời thu hoạch nuôi sống người dân Nga. Nhưng mùa Đông năm 1970, hoàn toàn giá lạnh và không có tuyết; Độ lạnh mau chống sụt xuống dưới -5 độ hay -10 độ âm (độ C) khiến hạt lúa băng giá rồi đông lạnh (frozen) tê liệt chết cống không tăng trưởng. Khi thời tiết vụt thay đổi hay tuyết rơi, hoặc khí hậu ấm hẳn lên thì bông lúa tan đá và úng-thối.
                    Thành thử người nông dân Nga chỉ cần nhìn tuyết rơi, nếu không có tuyết trắng cánh đồng, thì cầm chắc là mất mùa và chịu đói rét. Cũng vào năm ấy 1970, nước Nga thiếu 20 triệu tấn lúa mì và 20 triệu tấn khoai tây và yêu cầu Mỹ và Canada cấp cứu khẩn cấp. Chính nạn thiếu lương thực nầy đã làm cho người Nga tỉnh mộng “Cộng-Sản hóa toàn cầu bằng chiến tranh giải phóng (NLF) quả thật đã thất bại” Cũng cái mốc từ năm 1970 trở đi, người Nga bắt đầu nhìn thấy một thực tế chiến lược khá phũ phàng. Bọn CS Quốc-tế ở các nước chỉ là một lũ ngu dốt bịp-bợm, khoác lác, dối trá, ăn hại và chỉ bám vào sức mạnh chiến tranh của Liên-Xô để hống hách, dọa nạt và xâm lăng toàn Thế-giới.

                    Siêu chiến lược gia Harriman muốn giải quyết chiến tranh mà không cần tàn phá hay đổ máu, bằng cách nào và bằng cái gì từ vệ tinh bay cùng tốc độ với trái dất (stationed spy satellite project) hay phi thuyền bắn tỏa xuống hàn-âm-khí để làm cho mùa Đông giá lạnh ở Liên-Xô hoàn toàn khô ráo, không ẩm ướt nghĩa là không có tuyết có nước…đây có thể là một trong nhiều bí mật chiến tranh siêu vũ khí của Mỹ (hi-tech) mà không tài nào phát hiện nổi! Vì do vấn đề thiếu lương thực trầm trọng, người Nga hiểu rằng nếu đánh nhau với Mỹ thì thua và chết hết. Trung-Cộng sẽ tràn lên tiến chiếm Tây-Bá-Lợi-Á phì nhiêu đầy tài nguyên thiên nhiên chưa từng được khai thác, Harriman cũng hiểu rằng nếu đánh nhau với Liên-Xô thì hầu như cả Thế-giới sẽ chết hết, chỉ còn người Tàu làm bá chủ Thế-giới. Nga Mỹ tính toán chiến lược thế nào thì vẫn nhìn thấy Trung-Quốc là kẻ thù chung của cả Nga lẫn Mỹ, nó nằm chình ình ra đó trước mắt. Vậy tốt nhất là áp dụng biện pháp Tam-Quốc-Chí tân thời của Tàu, là Nga và Mỹ cùng bắt tay hợp tác, cùng tiêu diệt Trung-Quốc để trừ hậu hoạn, đó là lý do chiến lược gia có tầm cở quốc-tế như W.A.Harriman phải viết cho ra hai tác-phẩm: Liên Xô và Hoa kỳ xiết tay nắm giữ an toàn cho vận-mệnh thế giới (Cuốn “Peace with Russia” in ra 1959” và “America and Russia in a Changing world” in ra 1971,”nếu đọc giả nào xem bài tóm gọn nầy mà nghĩ “Biết được là chết liền” thì nên mua trên Internet 2 cuốn sách nêu trên và chêm thêm một cuốn “The Wise-Men” Six friends and the world they made, do đồng 2 tác giả: Walter Isaacson và Evan Thomas phải để trong tủ sắt đợi ngày Harriman xuống 9 tầng hoả ngục mới cho phát hành 1986) rồi sau đó mới được in ra.
                    Nga và người Nga xem Harriman là ân nhân vì chính Harriman khi làm đại sứ Mỹ tại Liên Xô đã hứa với người dân Nga rằng: “Kể từ giờ phút tôi làm đại sứ tại Liên Xô, người Nga hay quên đi sự nhục nhả vì bị người Tàu, Pháp, rồi Đức lấn chiếm và làm nhục và bây giờ trở đi Nga sẽ là một nước hùng cường bằng Hoa Kỳ giúp đở qua “Aid to Russia 1941-46 Plan” [Read Aid To Russia, 1941-46 online/Preview - OPENISBN Projectownload ... Read the book Aid To Russia, 1941-46: Strategy, Diplomacy, The Origins Of The Cold War (Columbia Studies In Contemporary American History) ...]

                    Khi cần phải giải thể chế độ CS, để theo Mỹ theo Chúa In God we truct, Đế-quốc Liên-Xô để cứu nước Nga thì người dân Nga làm một cái rụp, và chỉ cần qua một đêm là thế giới thoát khỏi chiến tranh lạnh và hiễm họa chiến tranh nguyên tử. Và rồi đâ VN cũng vậy … chờ xem. Còn CS Trung-Quốc thì mãi đến năm 2003 mới chịu công khai giải thể Cộng-Sản nhưng chỉ còn chế độ Tư-Bản Đỏ với chủ trương “Đế-quốc bành trướng công an trị” mà Mỹ cho là siêu Mafia rất nguy hiểm cho sư bình an của thế giới.

                    Để bảo đảm vững chắc, lâu dài vị thế bá chủ của mình trong viễn cảnh siêu chiến lược toàn cầu, kể từ khi Liên-Xô hoàn toàn lui về vị thế thủ và chấm dứt chiến tranh lạnh, Hoa-kỳ đang trên đà phát triển “Dân chủ hóa” và “Kinh tế thị trường” Những đời Tổng-thống vừa qua cũng phải đi theo con đường mà Siêu-Chánh-Phủ (Nhóm Đại Tư-Bản) đã vạch sẵn, và ‘siêu-chiến-lược’ nầy được xem như phương cách duy nhất để bảo đảm bền vững và lâu dài chính sách của Hoa-kỳ (1920-2020) sau khi nâng Ấn Độ lên vị thế số 2 thế Trung Quốc!

                    Theo sự cố vấn bên trong cũa CIA, cuộc hội thảo ở Saigon do Học viện ngoại giao, và Hội luật gia VN đồng tổ chức trong hai ngày, thứ 5 và thứ 6 quy tụ gần 70 học giả đến từ các nước vùng ÐNÁ, TQ, Australia, Canada, Ấn-độ, Nhựt Bản, Nam Triều tiên, Mỹ, và các nước thuộc liên hiệp Âu Châu. Hội thảo lần nầy là sự tiếp nối Hội thão Quốc tế về Biển Ðông lần thứ nhứt tổ chức ở Hà Nội, 2009; Tất cả đều do Mỹ ở đàng sau thúc đít nhưng chưa ra mặt mà phải đợi 2010 nhằm vào thời điểm “Roll-Back 2010”

                    Đặc biệt với Trung-Quốc, đứng trên quan điểm chính thức của Hoa-kỳ là hoan nghênh sự phát triển thịnh vượng của một nước Trung-Quốc hiếu hòa để trở thành một nhân tố tích cực vì lợi ích trong cộng đồng thế-giới; Thực ra trong thâm tâm, Trung-Quốc rất thèm khát như vậy, cho nên trong chiến tranh chống khủng bố mà Hoa-kỳ phát động từ ngày 11/Sept/2001, Trung-Quốc đã có một vài đóng góp tích cực để làm hài lòng Hoa-kỳ. Tuy nhiên kể từ khi Hoa-kỳ tung ra chiến lược “đánh phủ đầu” và tấn công Iraq thì Trung-Quốc bắt đầu lo sợ nguy hại đến quyền lợi của mình (mà thật đúng như vậy, vì ngôi vị hạng-2 đã đến thời điểm [decent interval rồi] phải bị chính Mỹ hạ bệ) Thêm vào đó Trung-Quốc cũng tự cảm nhận rằng, mặc dù ngày nay hai nước liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt kinh tế nhưng chưa bao giờ Hoa-kỳ ngỏ lời với Trung-Quốc như một đối tác chính trị để cùng gìn-giữ hoà bình thế-giới, (làm sao Mỹ tin cái ông nội TQ gian manh nầy) cũng như VN về mặt ngoại giao Hoa Kỳ lờ lững để cho các lãnh tụ VN phải len-lén đi vào ngã sau, thay vì Mỹ có thể làm rào cản 500 thước cách cổng chính là lãnh tụ VN có thể vào ngã trước, cho chúng ta thấy rõ một nước VNCH đang lần lần hiện rõ ra trước 2023 để phục hồi danh dự cho VNCH và rửa mặt 58.000 binh sĩ đã hy sinh cho dân quyền dân chũ VN với mục tiêu xoá bỏ “Hội Chứng VN” (VN traumatic syndrome).

                    Hiện rõ từ ngày Hoa-kỳ thành lập “Bộ Tư-Lệnh Thái-Bình-Dương”PACOM (có sĩ quan Việt Nam (Skull & Bones/VN) tu nghiệp phối hợp quân-sự tại Hawai) đã khiến cho những nhà lãnh đạo Trung-Quốc giật mình và đoán chắc trong suy nghĩ kiên định: là Quốc-gia họ đang bị bao vây và có nguy cơ bị tấn công bất cứ lúc nào bởi một đối thủ đã từng thất tín với đồng minh, mà lại có tìm năng nguyên tử mạnh nhất thế-giới và những phản ứng cực kỳ nguy hiểm trong nháy mắt có thể hủy diệt thế-giới mà chắc chắn Trung-Quốc không kịp đối phó để ngăn chận.

                    Sau chiến tranh lạnh, thế chiến lược quân sự của Hoa-kỳ tại Thái-Bình-Dương và trên thế giới đã hoàn toàn thay đổi, Hệ thống quân sự đó là Bộ Chỉ-Huy Thái-Bình-Dương PACOM được dựng lên để đương đầu với những chuyển biến chính trị và quân sự bất thần xảy ra, có thể làm tổn hại đến thế quân bình lực lượng trong vùng. Và đây là trọng tâm chiến lược của Hoa-Kỳ trên toàn thế giới; Nó đặt trụ sở tại Honolulu, nơi mà nhiều năm nay, các Sĩ-quan Việt Nam do kế hoạch chiến lược của kiến trúc sư Harriman đã thiết kế “CIP-1960” bằng định kiến-1 (để CS chiếm Miền-Nam rồi Việt-Nam sẽ được vỉnh viễn miển nhiễm Cộng-Sản, như là mủi thuốc tiêm ngừa, “Communist-Vaccination for immunization” hay nói trắng ra là Việt-Nam sẽ là một nước VNCH nguyên vẹn lớn hơn cho quyền lợi Mỹ. Nhưng việc nầy còn quá sớm chưa xảy ra (Mỹ và Trung-Quốc chưa đụng độ phải đợi 10 năm cuối cùng của 1920-2020 là từ 2010-2020) nên cuốn sách “The New Legion” này đã không chứng minh đi đúng thời cuộc mà lại quá sớm theo như sự diễn tiến hòa bình từ từ nhưng khá phức tạp của Hoa-Kỳ, và theo sau đó là “Món nợ Hội-Chứng Việt-Nam vẫn còn đó chưa giải quyết được”. Nhưng sẽ giải quyết được khi Hoa Kỳ ăn-mừng 50 năm chiến tranh Việt Nam vào 2023 (1973-2023) lúc nầy đối với Việt Nam phải mang ơn Hoa kỳ có công xây dựng thống nhứt thành Một VNCH trong khi Trung Cộng và Liên Xô đã đồng ý chia đôi qua Hiệp định Genève 1954 chỉ riêng có một mình Mỹ không có chữ ký, nhưng Mỷ chỉ có duy nhứt nhìn nhận Miền Nam có hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa đã thành văn trong nội-quy Hiệp định Genève-54 trong mưu đồ nơi đó là cái bẩy lòng tham dầu khí gần và tiện, rồi chắc chắn TQ sẽ dính bẩy

                    Sĩ-quan VN Mới (Skull & Bones) nầy cũng được gởi sang để thụ huấn binh pháp và chiến lược của Hoa-kỳ để sau nầy khi cần phải phối hợp hành quân liên minh với PACOM hầu thu-hồi lại Đảo Hoàng-Sa và Trường Sa. PACOM là Bộ Chỉ Huy quan trọng nhất trong các Bộ chỉ huy quân sự Hoa-Kỳ. Nó có nguồn gốc từ chiến tranh Phi Luật-Tân (1899-1902) là lúc mà quân đội Hoa-kỳ có những đơn vị hùng hậu chiếm đóng tại vùng biển nầy. Ngày nay vùng kiểm soát của PACOM trải dài từ bờ biển miền Đông Phi-Châu đến vòng-đai Thái-Bình-Dương, bao trùm nửa diện tích địa cầu và kiểm soát hơn nữa tiềm năng kinh tế của Thế-giới; Gần như toàn bộ Hải-lực và những Binh-đoàn thiện chiến nhất của Hoa-kỳ đều đang tập trung tại vùng do PACOM kiểm soát điều hành.

                    Nhưng có một điều quan ngại là hai lực lượng mạnh nhất đang tập trung tại vùng do PACOM trách nhiệm. Đó là hai lực-lượng của Hoa-kỳ và lực lượng của Trung-Quốc, cả hai đang thi đua hiện đại hóa quân sự về mọi mặt; Vì không thể ngồi khoanh tay chờ đối phương tiêu diệt bằng chiến tranh nguyên tử nên Trung-Quốc đưa ra vài Tướng lãnh ‘cò-mồi’ tuyên bố hù-dọa bành trướng lấn-áp ngôi vị bá chủ của Hoa-kỳ. Như năm 1972, Mao đã cho Nixon và Kissinger biết vài thập niên sau Thái-Bình-Dương là ngòi nổ của thế chiến, Mao Trạch-Đông cũng thừa bản lãnh để lấy chiếc lá Tre che con ngươi màu xanh của Đế-quốc Mỹ để không còn thấy được ngọn núi Thái-Sơn ở trước mặt. Có nghĩa chúng ta sẽ dùng mưu chước mà chỉ cần một chiếc lá Tre để che lấp ngọn núi Thái Sơn. “Sau đại chiến thứ 3…chấp nhận hủy diệt hoàn toàn một nước Tàu Cũ trong nước để chiếm lĩnh bằng một nước Tàu trên lục địa Mỹ-Châu!” với kế hoạch chiến lược về sanh sản trong 10 năm có được thêm 350 triệu dân (1962-1972) và độn thổ hay biến hóa thành lập một nước Tàu ngoài nước Tàu cho mục tiêu chiến lược sau nầy qua kinh nghiệm thương trường thay chiến trường bằng dựng lên càng nhiều China town khắp thế giới.

                    Nhìn thấy sự lớn mạnh của PACOM và trước những phản ứng khó lường được qua cuộc tấn công Iraq, Trung-Quốc phải có một số phản ứng được coi là cần thiết cho vấn đề an-ninh của mình; Như phối trí hỏa-tiễn tầm xa của Trung-Quốc. Loại hỏa-tiễn nầy không chỉ nhắm vào Đài-Loan mà còn hướng tới những mục tiêu tại nhiều Quốc-gia khác; Tự xem mình là một Cường-quốc, Trung-Quốc ký một thỏa hiệp an ninh với Pakistan và một thỏa hiệp về quốc phòng với Phi-Luật-Tân. Đặc biệt Bộ-Quốc-Phòng Hoa-Kỳ cũng theo dõi và chú ý đến sự góp mặt của Trung-Quốc trong “Tổ chức cộng đồng Đông Á” gồm các quốc gia từ Ấn-Độ đến Nhật-Bản để âm mưu hất chân Hoa-kỳ và Úc ra khỏi quỹ-đạo Thái-Bình-Dương mà chỉ có Da Vàng mình chơi với nhau. Những chỉ dấu nầy khiến dư luận tại Hoa-kỳ cho rằng Trung-Quốc đang có những quyết định táo-bạo có thể làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự tại vùng Đông-Á, cho nên chiến tranh Thái-Bình-Dương là điều khó tránh; Nhưng đối với Mao thì chiến tranh tại Thái-Bình-Dương chỉ là ‘Diện’ còn ngay tại Tây Bán-Cầu mới là ‘Điểm’ “chịu hy sinh hủy diệt một nước Trung-Hoa Cũ để thành lập một nước Trung-Hoa mới tại Mỹ” trong một cuộc chiến siêu kỹ thuật chớp nhoáng sau nầy mà chỉ có cơ chế độc đảng CS mới bí mật chớp nhoáng hành-động, trước khi nhân loại tỉnh giấc bàng hoàng thì chuyện đã rồi.

                    Trong khi các nghiên cứu gia Mỹ chủ quan cứ cho rằng Trung-Quốc chưa bao giờ có một đại chiến lược theo như nghĩa mà người ta hiểu. Thêm vào đó về mặt địa dư chính trị Trung-Quốc thường xuyên phải chịu áp lực từ tứ phía bởi các Cường-quốc cỡ lớn như Nga phía Bắc, Nhật Bản phía Đông, Ấn-Độ phía Tây và Việt-Nam phía Nam. Trong thời gian hiện tại Trung-Quốc có nhiều triển vọng phải đối phó với những quốc gia nầy hơn là phải đối phó với Hoa-kỳ, cách xa Trung-Quốc bằng cả một đại dương rộng lớn; Đây cũng là trong tầm nhìn bén nhậy siêu việc của Harrimans và Bushes trên phương diện địa lý chiến lược.

                    Những điều suy diễn trên đều đúng, nhưng có một ngày gần tận thế nào đó Trung-Quốc không cần chạm trán với những nước ‘Cò-con’ như chiến lược gia Mỹ ước tính bao quanh TQ mà chỉ có mục tiêu duy nhất là giáng xuống toàn khối nguyên tử trong ‘nháy mắt’ vào nước Mỹ mà thôi để rồi vài giờ sau các nước ‘Cò-con’ sẽ cúi đầu quỳ-lụy. Trung-Quốc không còn con đường nào khác chỉ vì nạn nhân-mãn phải lợi dụng ưu thế nầy cùng lợi điểm thương-mãi ranh mãnh mà tóm thâu toàn cầu sau khi đã hủy diệt vài tỷ người, nhưng điều nầy đất nước In God We trust đã có tính trước nên sự kiện đó khó hoàn thành!

                    (còn tiếp)

                    Comment

                    • vinhtruong
                      Super Member
                      • Jun 2010
                      • 1924

                      #55
                      Sorry! Bài dành cho học-giả (5)

                      http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...
                      Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan
                      (Vì bài nầy quá dài phải qua đến 2020, nên tôi vội xen vào vài tin nóng cần thiết phải viết ra)

                      *******

                      Mỹ tìm chỗ dựa siêu cường (Ấn Độ) cho con Ó-Con

                      “Biển Đông Dậy Sóng”, đoạn kết của sách lược “Eurasian Great Game-1” (1920-2020) - 10 năm sau cùng, Hoa-Kỳ phải đưa Ấn-Ðộ thế ngôi vị hạng-2 của T.Q?
                      Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 100 năm qua theo như chiến lược Eurasia-1 Great Game 1920-2020: là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng-2 của thế giới, những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ như hiện nay đều bị Mỹ đánh cho suy yếu vỡ ra từng mảnh. Từ đó Mỹ đứng làm chủ-cái chia bài (dealer) muốn nước nào hạng-2 phải phục tùng theo quyền lợi Amarican First. Hay nói cách khác Mỹ là soạn giả Tam Quốc Chí tân thời nhưng có “quyền chọn bạn một thời gian rồi trở nên thù” cho trò chơi chính trị, rõ ràng nhứt thể hiện tại chiến trường Việt Nam, thoạt đầu Liên Xô hạng-2, đến khi Mỹ bứng hạng-2 của LX hứa cho TQ 1972, và bây giờ Mỹ (Obama) đang muốn đưa Ấn Độ lên hạng-2 như một dư âm hồn ma, vì Ấn-Độ chưa đủ điều kiện cần và có (criteria) vì thế Mỹ muốn chêm thêm phần công-lực bằng cách nhập Việt Nam một nước rất chịu đánh đấm vào trục Ấn Độ để chận cửa ĐNÁ và Đông Á (US President Barack Obama has hailed India's rise as a world power, days ahead of a visit to the country, calling the South Asian nation a "cornerstone" of US engagement in Asia. Obama said " my vision is a US-India partnership in which we work together to shape a more secure, stable, and just world").

                      Ấn độ hạng nhì sẽ làm cho Mỹ yên tâm hơn, vì là một nước đông dân xứ nóng không có nhiều nhân tài đáng sợ và tham vọng như TQ; Nhưng trong ống kính của Siêu chính phủ Mỹ, Nga là nước đàn em tiềm-tàng của Mỹ và luôn biết ơn đại-sứ Mỹ trong Đệ-2 thế chiến, WA Harriman (1891-1986) thực sự là nước số 2, dĩ nhiên sau Mỹ, Harriman đưa ra những dẫn chứng bảo đảm, kể từ bây giờ Nga nên quên đi sự bị xâm lược của Thành Cát Tư Hãn, Pháp, Đức… xâm lược mà hãy cùng Mỹ chung một lý tưởng lấy xác chết màu da Vàng thay chỗ da Trắng bằng sự bảo đảm thương ước “Aid to Russia 1941-1946 Plan” renewed, reactivated, trang 3/7, http://www.answers.com/topic/w-a-harriman vì thế Việt Nam mới có 700 triệu tấn vũ khí tối tân sau Paris Peace Talks để Hà Nội thống nhứt miền nam, Cambodia, và có hệ thống SAM tối tân nhứt thời đó để phòng thủ Hà Nội, ngày nay có tàu ngầm và hoả tiễn để phòng thủ Biển Đảo.

                      Về phía Nga, các hợp đồng với Việt Nam không chỉ là cơ hội làm ăn mà còn mang ý nghĩa chính trị to lớn, theo sự đoán chắc của người viết, lâu nay Nga nghe lời khuyên của Mỹ đã tìm cách bán vũ khí tới các nước Đông Nam Á cũng như phát triển quan hệ năng lượng với các nước này, lập lại năm tháng Mỹ rút lui khỏi ĐNÁ nhường ảnh hưởng cho Nga sau 1973.

                      Nga đã cung cấp khí tài cho Indonesia, thương thuyết hợp đồng với Brunei, Malaysia, Thái Lan và Miến Điện. Chính quyền quân phiệt ở Miến Điện hồi cuối 2009 đã mua 20 chiến đấu cơ MiG-29 và từ 6 tới 10 trực thăng Mi-35 của Nga. Trong khi các hợp đồng này phản ánh không khí ngày càng lo lắng tại khu vực trước hiện diện của Trung Quốc, chúng cũng mang lại cho Moscow cơ hội vươn lại vị trí siêu cường quốc tế mà Mỹ muốn Nga hồi sức.

                      Mỹ đang đưa Nga tìm khách hàng thay thế chỗ Trung Quốc, nước vốn mua nhiều vũ khí nhất từ Nga, vì hai lẽ: nạn làm giả và vì Bắc Kinh nay chỉ muốn mua các mặt hàng công nghệ tân kỳ nhất. Các toan tính của Nga trong việc đối trọng lại quyền lực của Trung Quốc chắc chắn không được Bắc Kinh hoan nghênh và có thể ảnh hưởng quan hệ song phương trong cái thế Mỹ như ngư ông đắt lợi, tuy nhiên, chưa thể phóng đại hiện diện của Nga tại khu vực, vì ngoài vũ khí và dầu lửa cùng năng lượng hạt nhân, Nga không có gi để chào mời các nước Đông Nam Á, trong khi quyền lực kinh tế của Trung Quốc thì quá rõ ràng. Chúng ta phải dõi mắt mới rõ Nga có thể ảnh hưởng các quốc gia Đông Nam Á tới đâu, tôi nghỉ chỉ một giai đoạn thời gian (decent interval) nào đó mà thôi, rồi cũng lập lại những diển biến như giữa thế kỷ hai mươi. Một câu ngạn ngữ của Trung Quốc nói rằng: "Nước xa không cứu được lửa gần". Có nghĩa Trung Quốc dám làm ẩu trên tuyến lửa chạm tráng đầu tiên Việt Nam và Phi Luật Tân? Đối với Việt Nam, các quốc gia Đông Nam Á, và cả Nga, Trung Quốc là một đám lửa gần trong khi quan hệ giữa các nước này với nhau lại vẫn còn lỏng lẻo như nguồn nước ở xa.

                      Hoa kỳ xúi dục Nhật Bản, Việt Nam ký biên bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng


                      Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh được Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda tiếp đón tại Tokyo, ngày 24/10/2011. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Yasuo Ichikawa và người đồng nhiệm Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh đã ký kết một biên bản ghi nhớ nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Theo báo Kyodo, biên bản ghi nhớ được ký kết trong khuôn khổ cuộc hội đàm giữa ông Ichikawa và ông Thanh tại Tokyo của Nhật Bản ngày hôm qua.

                      Các giới chức Nhật Bản cho hay trong cuộc hội đàm này hai bên đã đề cập đến việc Trung Quốc nhiều lần cản trở các hoạt động hàng hải của các nước khác, trong đó có cả Việt Nam, và đồng ý về tầm quan trọng của việc thắt chặt quan hệ song phương trong bối cảnh đó.

                      Cũng tại cuộc hội đàm Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Ichikawa khẳng định Việt Nam là “đối tác chiến lược vì hòa bình và ổn định” của Nhật Bản ở khu vực châu Á. Trong khi Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng nhận định rằng Nhật Bản là đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam.

                      Được biết, biên bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng kêu gọi hai bên thường xuyên thực hiện các cuộc hội đàm cấp thứ trưởng quốc phòng và các chuyến thăm cấp bộ trưởng cũng như các cuộc trao đổi giữa quân đội Việt Nam và Lực lượng Phòng vệ của Nhật Bản.

                      Theo Kyodo, ông Thanh là bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của Việt Nam tới thăm Nhật Bản trong vòng 13 năm qua.

                      VN nhờ Mỹ giúp cái gọi là mua vũ khí từ Nga để tự vệ khi khẩn cấp, như trường hợp vừa rồi TQ định làm ẩu đem giàn khoan tối tân khoan sâu dưới 3000 thước. TQ muốn hành động như chuyện đã rồi, nếu Mỹ không bấm đít Nguyễn Chí Vịnh bắn đạn thật vào vùng kinh tế của VN; Hợp đồng mua tàu ngầm được ký kết trong chuyến thăm của ông Dũng tới Moscow hồi tháng Mười Hai. Việt Nam đã trở thành khách hàng mua vũ khí lớn nhất của Nga trong năm 2009, trang tin DefenseNews đưa tin theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Công nghệ (CAST) ở Moscow. Hà Nội đã đặt mua sáu tàu ngầm chạy cả điện và diesel và 12 máy bay Su-30 trong 12 tháng qua. Hợp đồng mua tàu ngầm ký với Việt Nam là hợp đồng lớn thứ hai về tàu ngầm tại nước Nga hậu Liên Xô. Trước đó, hồi năm 2002, Trung Quốc đã đặt mua tám tàu ngầm loại tương tự của Nga, CAST cho biết.

                      Hợp đồng ký năm 2009 cũng khiến Việt Nam trở thành một trong năm nước mua vũ khí hàng đầu của Nga bên cạnh Ấn Độ, Algeria, Venezuela và Trung Quốc. Thương vụ trị giá hai tỷ đôla mua tàu ngầm hạng Kilo theo cách gọi của NATO và hạng Varshavyanka Project 636 được thực hiện trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Moscow hôm 15/12. DefenseNews nói truyền thông Nga đưa tin Việt Nam cũng đang chuẩn bị mua thêm 12 máy bay chiến đấu Su-30MK2. Tháng Một năm ngoái Hà Nội cũng đã bỏ ra nửa tỷ đô la để mua 12 máy bay chiến đấu loại này. Nhà phân tích Konstantin Makiyenko của CAST được trích lời nói hợp đồng mua tàu ngầm cũng sẽ kéo theo việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam bao gồm cả căn cứ hải quân, cơ sở bảo trì và sửa chữa, một trung tâm liên lạc và đào tạo cho các chuyên gia Việt Nam.

                      Hà Nội sẽ phải chi cho phía Nga thêm hai tỷ đôla nữa cho các khoản này, theo DefenseNews.com. Trang tin này cũng nói tàu ngầm hạng Varshavyanka Project 636 được cho là loại ít gây ồn nhất trên thế giới và có thể hoạt động ở độ sâu 300 mét với tốc độ tối đa đạt 20 hải lý mỗi giờ.

                      Sách lược xảo trá trong cuộc chiến VN
                      Đài BBC và VOA đưa ra Tranh luận về tài liệu CIA rồi khép lại ngay!!!
                      Một số tiết lộ về cuộc chiến từ tài liệu CIA để thả bong bóng nhìn xem coi phản ứng của quần chúng ra thế nào, sự phỉnh gạt tinh vi về B-29 (1954) cho loại Lính Lê Dương tạp-chủng và B-52 (1975) cho loại Lính Lê Dương Mới có còn hiệu quả về lừa đảo nữa không? Nhưng bây giờ nhờ phương tiện và khoa hoc kỹ thuật phân tích rất nhậy bén, nên một thế lực trong bóng tối (Permanent Government) đành phải khép kín lại như những biến cố gây tội ác lịch sử như hồi Đệ-1 và -2 thế chiến, hay nói cách khác khó phỉnh gạt vào thời buổi siêu vi tính dù rằng dân tộc chậm tiến như Việt Nam. Thế kỷ vừa qua ta đã lừa được chúng chém giết nhau tận tuyệt để tiêu xài món hàng giết người mà chính họ là real good Costumer cần thiết cho đại công ty WIB (War Industries Board).

                      Tự nhận thấy những bài phân tích bất lợi như hai tập tài liệu quan trọng về liên hệ CIA và Việt Nam, được gọi là giải mật đầu năm nay, đây là sáu tài liệu, tổng cộng 1600 trang, với tôi là người thật, đọc nhiều tài liệu và là phi công gián-diệp tinh báo, nhân chứng sống viết lại có ngọn ngành cho độc giả, tôi đã đọc hai trong số sáu tài liệu đó và cung cấp nhiều chi tiết mới, dĩ nhiên phải chứng minh với liên hệ thực tế nghe thấy rờ rẫm được cho người đọc, phải được đọc giả cả tâm và khẩu đều phục. Ví dụ, qua đây, người ta biết rằng CIA liên lạc và làm thân với ông Ngô Đình Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông Diệm, nhưng với Ngô Đình Luyện 1953-54 qua CIA từ Bảo Đại chọn cụ Diệm làm thủ tuớng. CIA đã giải thoát cụ Diệm từ tay cụ Hồ đem về tạm trú tại tu viện với mục tiêu sau nầy.

                      Ở tập tài liệu thứ hai về các tướng lĩnh Sài Gòn sau cuộc đảo chính tháng 11, 1963, mục đích CIA muốn gây chia rẽ thù hận, nghi kỵ để dễ sai khiến nhún sâu vào nội bộ trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng lãnh đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chánh, CIA cho là điều kiện cần và có cho ý đồ mưu lược. CIA cũng xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chánh và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967) Giai đoạn thực thi “định kiến-3” (axiom-3: The U.S could not have won the war under any circumstances) sau khi kiểm đủ lợi nhuận, America-first.

                      Mặt khác, một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này (tháng 8 1972 cho đến lúc ký Hiệp Định Paris, tháng 1-1972, áp-lực VNCH thả rất nhiều cán bộ về Hà-nội R&R để nâng tinh thần sau khi hy sinh 100.000 quân cho Mùa Hè Đỏ Lửa) cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

                      Sự thật, hai tên nầy cũng chỉ là con múa rối mà thôi (nhưng người Việt chúng ta lại không hiểu gì cả, mà chỉ tấn công 2 nhân vật “con rối” nầy) Tôi đưa ra bằng chứng cụ-thể, tháng 11, 1972 Kissinger tuyên bố “Hoà bình trong tầm tay” “Peace is at hand”. Nhưng tham mưu trưởng WSAG Donald Rumsfeld ra lệnh cho Kissinger: Phãi thông báo cho Hà nội biết là vi phạm cái gì cũng được theo tài lẹo-lưởi cũa Kissinger đễ oanh tac 11 ngày đêm, biến miền Bắc trở về thời kỳ ‘đồ-đá’, buộc Hà Nội phải vào ký H.Đ hoà-bình Paris, hợp thức hoá việc Mỹ rút quân (axiom-3) nhưng đặc biệt Hà nội không được đầu hàng mà tuyên bố chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, lập lại lộ-đồ chiến thắng Điện Biên Phủ dưới đất 1954.

                      Kissinger sẽ được đại đế hoàn-vũ dấu mặt (George H.W.Bush) dùng ngân quỹ ngân hàng Thụy-Sĩ bảo trợ cho Kissinger đoạt giải hoà bình Nobel thế giới, Nhưng Kissinger phải khuyên cáo nhắc-nhở Mafia Lê Đức Thọ không được nhận mà phải cưỡng chiếm miền nam để hoàn thành sách-lược định-kiến-1 (axiom-1) Tôi đưa ra sơ khởi hai dẫn chứng dễ thấy: Quý vị đánh giá thế nào về nội dung tài liệu của CIA, so với những gì đã công bố lâu nay? Liệu kho tài liệu còn bí mật từ phía Việt Nam sẽ cung cấp thêm nhiều nội dung khác? Các tài liều nầy đều được bóp méo rất tinh vi theo mục tiêu chiến lược toàn cầu của Permanent Government. Lại thêm một lần nữa tài liệu được gọi là giải mật rất cần thiết để phỉnh gạt quần chúng Việt Nam của Permanent Government; Có ai nghĩ, ở miền Bắc có bao nhiêu tình báo của Liên Xô và TQ trong thời chiến không? Bao nhiêu ngàn cố vấn của LX và TQ ở VN làm cho ai ? Âm thầm gián tiếp làm cho Mỹ.
                      Mới đây, Nga cho biết đã đưa lính vào VN, bây giờ người nào nghĩ TQ không có tình báo ở trong bộ chính chính trị VN? Thực ra, nếu đúng như bài trên thì tình hình miền Nam mất nước là đương nhiên vì rắn không đầu và bản thân họ không có tài chính trị vì tất cả đều do CIA nhào nặn ra. Còn Mỹ, bản thân họ thấy chẳng có quyền lợi gì ngoài việc lấy vịnh Cam Ranh đối đầu với Liên xô cũ; lợi dụng Việt Nam có chiến tranh họ thử các loại vũ khí của họ mà thôi qua chương trình CIP (Counter Insurgency Plan).

                      Chuyện sách lược Mỹ này xưa xa lắc, xa lơ rồi, đọc chơi cho vui, cho biết thêm chút thôi; Bây giờ nên nói về chuyện CIA đang làm gì trong Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng. và Tổng Cục II mới là chuyện đáng nói. CIA là cơ quan tình báo thay mặt Skull and Bones hay nói cách khác là công cụ bén nhọn của Permanent Government trong mọi quyết định, thay mặt họ tự do sáng tạo miễn chu toàn mục tiêu là được! Họ qua mặt Tổng thống, Tổng tư lệnh quân lực, họ gây áp lực cả Hạ viện và Thượng viện giám sát, vì vậy có người cho rằng CIA là một cơ quan của chính phủ! Không phải vậy đâu? Nhưng sự thật họ là công cụ bén nhọn chỉ đứng sau công cụ “Truyền Thông Văn Hoá” do một thế lực sau hậu trường lúc đó là Harriman và sau nầy gia đình giòng họ Bush, sử dụng quarterback Kìssinger và Linebacker Richard Helms, còn giòng họ Bushes là Coach, ông Bầu. Bộ tam đầu chế nầy ép-buộc, khũng bố chính quyền đương nhiệm phãi chăm sóc quyền lợi của họ, American First).

                      Sau khi cứu Cụ Diệm khỏi bàn tay Cụ Hồ qua Mỹ, CIA dự trù đưa Cụ Diệm về nước, sự bất ngờ CIA đi đêm với Cụ Nhu trước 1951, còn về mặt nổi là qua sự khuyến dụ của Bảo-Đại bằng Ngô Đình Luyện 1953-54. CIA đứng đằng sau Cụ Ngô Đình Diệm nên buộc Cụ Diệm đã không tuân theo Hiệp Định Geneve để tổng bầu cử toàn quốc sau hai năm vì Cụ cũng biết chắc Hồ Chí Minh sẽ thắng là đương nhiên theo xu thế thời buổi ấy; Điều nầy chỉ đúng một phần thôi, nếu không muốn nói rằng Mỹ cố tâm muốn khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi. Đọc trong sách “The New Legion” của Vinh Trương 2010 thì sẽ rỏ thêm chi tiết và hiện tại tới phiên CIA chơi ĐCS Việt Nam qua con nợ Trung Quốc như thế nào, rút từ kinh nghiệm “đâm sau lưng” VNCH qua con nợ Liên Xô trong cuộc chiến vừa qua: Với sách lược phần mềm (smooth approach) chúng ta có thể dễ dàng chứng kiến bốn Ông cựu Đại Sứ Mỹ vừa qua: Ông thứ Nhứt là một cựu Tù-binh, cưới một bà vợ Việt trẻ đẹp và ngày ngày chở vợ đi ăn Phở và Bánh cuốn Thanh Trì hưởng thụ sau bao năm nằm dài nơi khách sạn Hilton, gọi là giai đoạn bàn tay sắt bọc nhung, còn ông thứ Hai và Ba, và Tổng lãnh sự người Mỹ gốc Việt, học biết chút ít tiếng Tàu, làm việc về phản gián tình báo nội tình nước Tàu một thời gian coi cho được, rồi mới qua VN tăng chức làm đại sứ.

                      Còn sau khi chiếm miền nam, gọi là giai đoạn "phần mềm” CIA bắt đầu dỡ lại tấn tuồng làm rối loạn ĐCS như hồi VNCH trước đó, ngay sau khi hoàn thành những mục tiêu căn bản như đuổi đại sứ Pháp về nước, bứng gốc mầm mống Trung lập hóa miền nam: CIA nhờ người Việt tự phân loại người Việt từ dân chúng ra, ai theo TQ, LX, MTGPMN, VNCH, riêng sĩ quan VNCH ai có nợ máu! Có nghĩa là ai ở tù lâu năm sẽ được ghi danh đi Mỹ ưu tiên theo “niên trưởng ác-ôn có nợ máu” vì thế tại sao Thiếu- úy ở tù 4 năm đi Mỹ, (còn Đại tá ở tù 6 tháng bị ở lại gọi là thích hợp chế độ) theo thứ tự ưu tiên qua Mỹ không phân biệt cấp bực hay chức vụ mà chính xác là thâm niên tù, tiếp nối theo lộ trình ra đi có trật tự ODP diện ưu tiên qua Mỹ. Kế tiếp đến giai đoạn gây xáo trộn chia rẽ nội bộ ĐCS: (Trích một đoạn CIA gây rối loạn VNCH để người anh em phía bên kia biết mà lo tẩu tán tài sản và bớt đi sự bố láo).

                      Ngay sau khi TT Diệm ổn định tình hình, nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập một lực lượng đối lập "ngay sau lưng ông Nhu," để trong trường hợp phải thay đổi cấp lãnh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 tháng 11-1960 là một "hăm dọa" của Hoa Kỳ đối với tổng thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt ở tại bộ chỉ huy của đại tá Nguyễn Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chính. Vì TT Kennedy vẩn luôn luôn sau lưng TT Diệm, nên qua William Colby (chính quyền) buộc điệp viên Russell Flynn Miller (Skull and Bones) khuyên đại tá Thi nên thượng lượng với ông Diệm, trong khi biết rõ quân ủng hộ chính phủ của đại tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, lưới tình báo của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb, ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như lúc được giới thiệu vào làm việc (do Bác-sĩ Trần Kim Tuyến làm việc mật thiết cho CIA nhóm chống Kennedy) người tài xế không điếc mà còn thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp! Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của Nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống Diệm; Nhưng chính gia đình ông Diệm cũng bị hủy hoại vì sách lược đâm bị thóc, thọc bị gạo của CIA vì sự chia rẽ từ anh em trong nhà cũng do CIA đưa Cụ Nhu lên cái gọi là thế Cụ Diệm, lấy địa vị chức quyền ra để làm rối loạn nội bô nhà Ngô. Từ mùa xuân năm 1963 ông Nhu yêu cầu CIA đừng nói lại những gì ông và CIA trao đổi; Và qua nhiều lần nói chuyện với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay tổng thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu thì thường làm hùng làm hổ với tổng thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963, bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà ba ta ưng ý. Ông Diệm không đồng ý, nhưng bà Nhu "cằn nhằn, to tiếng" cho đến khi tổng thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng thắng thêm một lần nữa, khi đòi làm người chủ tọa và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà Trưng, thay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đã chỉ định.

                      Riêng về ông Ngô Đình Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương Trình Ấp Chiến Lược ở Miền Trung. CIA đã thành công chia rẽ nội bộ một gia đình để có kinh nghiệm trong tương lai chia rẽ một đảng CS trong phần hậu chiến.

                      Bây giờ tới phiên tướng lãnh, ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 tháng 7-1963, theo sự gợi ý của toà đại-sứ, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do tòa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lĩnh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau ra quán để uống nữa; Tại quán rượu, tướng Trần Văn Đôn (đã được Lucien Conein mốc nối khi còn là sĩ quan phòng 2 Pháp và 2 người nầy đều sanh đẻ tại Pháp. Cái đặc sắc của CIA là họ sắp xếp một kế hoạch dài hạn và có thời gian điểm mốc được gọi là decent interval, như họ dùng truyền thông văn hoá làm ồn ào kinh sấm ông trạng nầy ông trạng nọ “Khi nào Lúa mọc trên Chì, Voi đi trên giấy, thầy Tăng lại về” Có nghĩa thằng Tây lại về thì thằng Mỹ thế vào thay đồng Xu bằng Chì có nhánh Luá, và giấy bạc con Voi, 100 piastre) nói với nhân viên CIA là các tướng muốn đảo chính tổng thống Diệm đúng ngay tim đen của CIA; Thảm kịch của Nhà Ngô bắt đầu từ đó.

                      Tài liệu thứ hai, CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam (CIA và các Tướng lãnh: Những hỗ trợ ngầm cho chính phủ Quân sự Việt Nam Cộng Hòa) cũng tương đối "tối mật" so với những tài liệu được CIA công bố trước đây. Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chính 1 tháng 11-1963; Những gì đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chính, như một tập thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chính. Với gia đình Cụ Diệm CIA len lỏi gây xào-xáo, ĐCS Việt Nam CIA len lỏi một cách thần sầu quỷ khốc, còn nước Việt Nam anh em ruột thịt muốn chia rẽ phải có “căm-thù” quyết không đội trời chung đi vào chém giết nhau đến chỗ tận tuyệt trong cảnh nồi da xáo thịt bằng ý thức hệ: “căm thù Cộng Sản” đối lại “câm thù giai cấp” để rồi xảy ra thảm sát Tết Mậu Thân tội bên phía CS, còn phía VNCH, nếu Mỹ giao hàng trăm hàng ngàn ngòi nổ (warhead) BLU-82S, BLU-82AL, hoặc CBU-55 (CBU-55 có thể thả bằng trực thăng Huey) thì cuộc tắm máu xảy ra như thế nào? Lịch sử Việt Nam rồi đây sẽ phán-quyết một thế hệ quá ngu-muội như tôi đã nói phạm thượng trong sách “The New Legion”, mà không ai hay biết gì cả, cho đến giờ nầy vẩn còn ôm mối hận thù ? Các phi công hiếu chiến của tôi ơi, nếu có hàng ngàn ngòi warhead để lại bạn có thể giết 10 triệu người miền bắc, thì soạn giả của vở bi kịch nầy cũng viết vào đoạn kết, đứa bé 10 tuổi miền bắc vừa đủ sức cầm cây AK lên đạn và biểu các chiến sĩ đầy kinh nghiệm chiến trường VNCH phải dơ tay lên ... vì cây M-16 đả hết đạn!!!

                      Vì chúng ta khờ khạo, cuộc chiến VN là một phần của cuộc Chiến Tranh Lạnh do trục Ma Quỷ chủ đạo vì quyền lợi… mà cho đến giờ nầy người Việt vẫn còn hận thù… thật ngu xuẫn hết chỗ biết… dù sao lịch sử vẫn còn đó!

                      CIA là cơ quan tình báo mọi quyết định của họ không phải họ muốn làm gì thì làm như tài liệu đã nêu! Họ có Tổng thống, Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, họ có cả Hạ viện và Thượng viện giám sát, vì vậy cho rằng tài liệu CIA như đã nêu là tào lao. Chính sách Mỹ nắm chắc trong tay của Permanent Government qua 3 định kiến sau đây vào ngày 21/9/1960 thời TT Eisenhower:

                      1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon
                      2) The U.S had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs
                      3) The U.S could not have won the war under any circumstances

                      Với tôi CIA nói riêng, Hoa kỳ nói chung đã hoàn toàn thắng lợi ở VN bằng một cuộc chiến gọi là thua trận bỏ chạy. Dù có công bố bao nhiêu tài liệu đi nữa họ cũng chỉ để che dấu tội ác đối với nhân loại để chiếm ngôi vị siêu cường với đô-la đầy túi, ăn hay thua đâu có gì quan trọng? Mỹ không bao giờ có bạn bè, không có đồng minh lâu dài, chỉ có đồng minh tạm thời. Và, Mỹ không vì quyền lợi của ai hết, Mỹ chỉ vì quyền lợi của nước Mỹ, khi đồng minh không còn phù hợp với lợi ích của nước Mỹ thì Mỹ sẵn sàng bán đứng đồng minh. Đúng như ông Thiệu nói, đại ý: Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn của Mỹ thì vô cùng khó khăn. Đó là bài học lịch sử vỡ lòng về mối quan hệ với nước Mỹ; Bây giờ tới phiên Mafia Việt Nam; Vì vậy, Việt Nam ngày nay đang có mối quan hệ với Mỹ "đang ngày càng phát triển tốt đẹp" và họ đang run sợ!!!


                      (còn tiếp)

                      Comment

                      • vinhtruong
                        Super Member
                        • Jun 2010
                        • 1924

                        #56
                        Sorry! Bài dành cho học-giả (6)

                        http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...
                        Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan

                        Cuộc tế thần thay đổi màu da (Surrogate War)
                        Nguồn gốc, hệ quả cuộc chiến: Trước khi thực thi Màn-2 Eurasia-1, có nghĩa là một sự “TẾ-THẦN” lấy màu da VÀNG thế vào chỗ da TRẮNG, trước tiên Harriman chỉ định OSS phải tìm cách móc nối cho bằng được Cụ Hồ Chí Minh trước và CIA phải tống khứ cho bằng được Thống chế Tưởng Giới Thạch và phe nhóm qua Ðài-loan [Formosa] trễ lắm 1949 bằng phương tiện hàng không CAT của CIA.
                        Bắt đầu năm 1950 Harriman muốn lộ diện là Ðại-đế hay là vị thống lãnh (permanent government) siêu chính phủ: Harriman, Kiến-trúc-sư Chiến-tranh-lạnh đang đổi hướng từ Trung-Âu qua Á-Châu, lấy Triều-Tiên làm “hậu trạm” lâu dài, còn Đông-Dương làm “thí điểm” và cả hai đều bị chia đôi đất nước:
                        Trước tiên Harriman dàn-xếp nội bộ về sự xung đột giữa Bộ trưởng quốc phòng Louis A.Johnson và ngoại giao Dean G Acheson, ông thuyết phục TT Truman cho ông cùng tháp tùng với Trung-tướng Matthew Ridway đi Tokyo tham dự cuộc họp với Tướng Douglas MacArthur, nhiệm vụ của Harriman là thay mặt TT Truman khuyên Tướng Arthur đừng gây chiến với Trung Cộng và lôi kéo Ðài Loan vào trận đánh giải phóng Lục địa. Ông bảo đảm sự đổ bộ tại Inchon [bờ Tây của bán đảo Triều Tiên] sẽ không có sự can thiệp của Liên Xô, vì những năm vừa qua Harriman đã dâng mời viện trợ cho Liên Xô đến hai lần (Aid to Russia Plan).
                        Bề ngoài Harriman giả-bộ cùng quan điểm với Louis A.Johnson, nhưng sau lưng Harriman đã buộc TT Truman phải giải nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng Johnson và thay bằng con Gà của Harriman là Tướng Bộ binh George.C Marshall, tiếp đến Harriman triệu tập một cuộc họp quan trọng NSC-68, cho quyền lợi của bộ máy phát triển quốc phòng WIB (War Industries Board), e-ép TT Truman phải ký bản “mục tiêu và chương trình cho An ninh quốc gia [United States Objectives and Programs for National Security] có nghĩa chi tiêu quân sự tối đa cho sự tân trang vũ khí cho quân đội.
                        Nhìn thấy sự hiếu chiến của Tướng 5 sao Mac Arthur, Harriman cùng với hai Bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng làm áp lực với TT Truman ra chỉ thị ngăn cản sự hứa hẹn của Tướng Arthur đối với Ðài-Loan đòi giải phóng lục địa, nhân buổi nói chuyện với Hội cựu chiến binh 8/1950 [the veterans of Foreign Wars] Tướng Mac Arthur coi thường lời đã khuyến-cáo của Harriman đừng đụng đến Mao Trạch Ðông, dù rằng lệnh của Bộ trưởng quốc phòng Johnson điều động Ðệ thất hạm đội kè sát cạnh eo biển Ðài loan để Mao bỏ ý định xua quân cưỡng chiếm. Harriman tức điên người khi nghe Tướng Arthur dám tuyên bố vớ-vẩn chính sách quốc gia, nhưng cũng phải trầm tỉnh đợi tới tháng 10 đổ bộ xong Inchon rồi hất ghế Tư lệnh thái bình dương của Arthur sau đó cũng không muộn.
                        Trong lăng kính của Harriman là đưa Trung Cộng vào chiếc ghế LHQ thế THQG là để thế kĩ tới 21, Trung Cộng phải tuân thủ những điều lệ mổ xẽ tại LHQ sau khi Hoa Kỳ “roll-back” TBD vào lúc Trung Cộng vướng vào cái bẩy “tham dầu khí” do Mỹ dựng lên ngay Hoàng Sa 1974, được gọi là “Biển Đông dậy sóng”

                        Lúc nầy chúng ta mới thấy quyền lực của thủ lãnh Skull and Bones, Harriman ra mật lệnh cho cố vấn chính trị Charles Murphy lôi cho được TT Truman bay qua đảo Wake mặt đối mặt với Mac Arthur. Harriman ước tính với Murphy, chỉ cần hơn một tiếng đồng hồ giải nghĩa sự lố bịch vì đi quá xa với trách vụ của mình, để cách chức người chỉ huy trực tiếp, Bộ trưởng quốc phòng Louis A Johnson.
                        Ở tại phòng điều hành Washington Executive Office, Harriman tác giả soạn thảo văn kiện giải nhiệm Tướng Arthur vì lý do công kích chính sách của Vị Tư lệnh tối cao của quân đội Hoa kỳ. Phản ứng phía Mac Arthur gởi công điện về Quốc hội, cho vị lãnh đạo thiểu số Ðảng Cộng-hòa, Joseph Martin ngày 5/4/1951, nhưng làm sao Tướng Arthur biết được người nắm Quốc hội lúc nầy là viên phụ-tá Skull and Bones, Prescott Bush, (ông nội của TT Bush-con) hậu quả khiến TT Truman phải triệu tập một cuộc hợp với sự tham dự có ngoại giao: Acheson, quốc phòng: Marshall và tổng tham mưu trưởng Tướng Omar Bradley. Tại đây, Harriman đệ nghị phải giải nhiệm Tướng Mac Arthur liền tức khắc, TT Truman rất bất ngờ, do-dự sau khi tham khảo nhưng rốt cuộc phải nghe theo lời đề nghị của người thật sự nắm chính sách Mỹ, là W A Harriman.
                        Bộ trưởng quốc phòng Johnson và Tướng Arthur hiểu lầm ý định của Harriman đem hạm đội 7 vào eo biển không nghĩa là tấn công vào lục địa, cũng như tại Việt Nam, khi liên quân Việt Mỹ tấn công Cục R bên Cambodia và tấn công qua Lào có nghĩa là rút lui chiến lược về Honolulu bỏ ÐNÁ và biển Ðông giao Hoàng Sa cho TQ … Làm sao ai biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?… Hoa kỳ giúp Trung Quốc vào LHQ để không còn dùng luật rừng, với thế kỷ 21 nhân loại quá chán ghét cảnh chiến tranh, không quốc gia nào muốn xác người nằm tràn ngập nơi chiến địa, Hoa Kỳ làm ăn theo kiểu khác bằng chêm đệm phù trợ một số lãnh tụ độc tài trên thế giới vơ vét của cải của người dân đến giàu sụ, sau một thời gian Hoa Kỳ ra tay nghĩa hiệp “thế thiên hành đạo” lật đổ lấy lại tài sản trả cho người dân nghèo nàn rất cần nhu yếu phẩm của Mỹ sắp hết hạn ...
                        Đúng 50 năm sau, ngày kỷ niệm chiến tranh Triều-Tiên năm (1953-2003) với huy-hiệu như trên, (hình giải mật trang 41, Volume-1) dù rằng phù-thủy Harriman đã nằm sâu dưới hỏa-ngục, nhưng Nhóm học-giả dân-sự do chính Harriman sáng lập, nuôi dưỡng, và chăm sóc bù đắp thêm nhân tài trẻ cho thế hệ kế tiếp, đã in hình ông trong ngày kỷ niệm mừng 50 năm: “như là Cố-vấn đối ngoại toàn quyền của T.T Truman và thúc-giục hay áp-lực TT Truman ký giấy giải nhiệm chức Tư-lệnh chiến-trường của Tướng Mc Arthur với tội trạng “không được quyền phát ngôn về chính sách quốc-gia” (Unauthorized Policy Statement) W.A.Harriman là Ðại-đế giấu mặt mà cũng chính là người lãnh đạo chính sách (policymaker) nước Mỹ từ Thế-chiến-1, rồi 2 cho tới 1960 (1917-1960).
                        Còn chiến tranh Việt-Nam thì sao!? (Theo tính nhậy cảm của người viết) Năm 2023 Hoa-kỳ lại kỷ niêm 50 năm chiến tranh Việt-Nam (1973-2023) y-chang như Triều-Tiên ở trên, họ lại để hình TT Nixon bắt tay Mao-Trạch-Đông Febuary, 1972 chứng minh chấm dứt 20 năm thù địch với Trung-Quốc để biến nước nầy lần lần chấp hành một trật tự chung sống phồn vinh theo lối sống Mỹ. Lúc nầy hàng hoá Trung-Quốc rẻ mạt khắp nước Mỹ và thế giới giống y chang như hàng hoá Nhựt sau thế chiến II. Đây là điều đáng mừng hay đáng buồn cho TQ?
                        Thật mừng cho nhân loại, khi hơn một tỷ người của thế hệ hậu sanh khả quý đã vui lòng chấp nhận là công-nhân “hạng-bét”với giá lương rẻ mạt cho một hãng xưởng độc-nhất trên Thế giới mà người chủ của hãng xưởng duy nhất nầy là “ai bỏ vốn nhiều nhứt vào cổ phần thì người đó làm Chủ,” qua tư-tưởng của Harriman, về thế chiến lược toàn cầu “Eurasian.” Còn trên đất nước Việt-Nam, đường Trường-Sơn Tây là xa lộ Liên-Bang Đông-Dương là huyết mạch cho nền kinh-tế của các nước vùng Đông-Nam-Á, mà đã có một thời người khai phá nó bằng đường bộ phải thường xuyên nghe tiếng dội Bom “tiếng sấm rền” (rolling thunder) phá núi đá với 6 triệu tấn Bom trên 14 tấn cho toàn cõi Đông Dương và Phi-cơ C.123 phun thuốc vẽ đường (tracking) bằng chiến dịch “Hot-Tip” làm vàng lá. Người đặt chân trên mặt đất mới thật sự là Thiên-Thần của sự phóng đường tiện gọn và hữu-hiệu nhất, để tránh khỏi thế đất gồ-ghề, nhiều con suối băng ngang, phải tốn kém để bắt quá nhiều cầu cống hoặc núi non hiểm trở, trong khi người dẫm chân lên mặt đất chỉ cần tìm ra sự xê-chệch qua trái hay phải vài độ dạt. Trục ma quỷ sẽ đặt Thủ đô là Đà Nẳng làm trụ gốc của chiếc quạt cho nền kinh tế mà các thành phố Saigon, Nam Vang, Vientian, và Hà Nội của nước Liên Bang Đông Dương được thế giới ngưỡng mộ, trên gốc độ giao thương tương đối khoảng cách bao vùng bằng nhau?
                        Sau đó Harriman trong mục tiêu siêu chiến-lược “Eurasian” của nhóm ‘Wise-men’ (6 người nắm vận mệnh thế giới) Duy chiến tranh Việt-Nam, có điều đặc biệt là Hoa-Kỳ sẽ không ký vào hiệp định Genève 1954 để dễ bề thi hành kế hoạch CIP; Nhóm tham-mưu Dân-sự George Kennan của Harriman muốn trả lại khát-vọng cho Cụ Hồ, như trong tuyên ngôn Độc-lập dân quyền tha-thiết của Cụ, nhưng phải để cho họ khai thác lợi nhuận trước đã. [“What you get, what you pay!”] Nước Mỹ giành được độc-lập cũng phải trải qua biết bao cuộc nội chiến thê-lương; Thôi thì “Bánh ít đi bánh quy lại” cho nó công bằng, và SCP sẽ vận động ghi danh Cụ Hồ trong danh sách “Danh-nhân thế-giới,” với tên của một Chiến-dịch, rồi một Thành phố, cùng tên một con đường Mòn đi vào huyền thoại lịch sử VN, phải chăng dầu hỏa dưới biển Ðông sẽ đem lại đại thảm họa cho VN?
                        Đúng 60 năm sau, trong bóng tối cuối đường hầm lại lú ra: (1945-2005) cũng tại trung tâm văn hóa Ba-lê, tuần báo Paris Match ra ngày 25/4/2005 có đăng bài phỏng vấn Thượng Nghị-sĩ, cựu tù binh bị hành hạ tàn nhẫn nhứt trong cơ-mưu “khổ-nhục-kế,” John Mc.Cain, một con gà Nòi của Siêu-chính-phủ, như muốn chuộc lại sự lỗi lầm của họ đã lường gạt, phản bội cụ Hồ từ 1945 cho đến nay: “Người dân Miền Nam Việt Nam trước đây chưa hề bao giờ cho rằng chính phủ Saigòn là hợp pháp. Họ hiểu rằng Hồ Chí Minh chính là người Quốc-gia muốn thống nhứt đất nước” (một lần nữa để làm rõ nghĩa “định-kiến-1 qua cuộc họp HÐAN 21/9/1960 và xác định Cụ Hồ không phải là Cộng sản và trước đó Cựu Bộ trưởng quốc phòng, Donald Rumsfeld củng là thủ phạm Tháng Tư Ðen-1975 tuyên bố: Miền Nam bù-nhìn, Miền Bắc yêu nước, dựa vào đâu? dựa vào hơn nửa triệu Lính Mỹ vào Miền Nam mà không có ai mời là xâm lược chớ gì?).
                        Nhưng bánh quy nầy là một thảm kịch dài và dai-dẳng nhất cho dân-tộc Việt-Nam qua hai cuộc phỉnh gạt tinh-vi: Hứa với Pháp, Mỹ sẽ dùng B.29 để tiêu diệt Việt Minh khi họ bu lại tụ điểm Điện-Biên-Phủ như Kiến bu quanh cục đường. Còn VNCH, Mỹ cũng hứa dùng B.52 tiêu diệt, nếu Hà-Nội vi-phạm hiệp định Hòa-bình Paris; Nhưng cả hai đều là một sự lừa gạt lắc-léo đầy trơ-trẻn cho quyền lợi của đảng Công-ty, mà Nhóm tham mưu George Kennan cho rằng: “Pháp là loại lính “Lê Dương tạp chủng” vì nhận 80% vũ khí Mỹ, và miền Nam là lính “Lê Dương Mới” vì nhậm 100% quân viện Mỹ? Vì mục tiêu là công cụ cho America-First.
                        Nhưng mục tiêu chính cho cái thế “bênh kẻ mạnh” là một môn võ thuật kỳ diệu, dùng sức mạnh tối đa của địch, huyền biến thành sức mạnh quyết định của mình, để đo-ván địch thủ thể hiện qua “bỏ phiếu bằng chân” Hoa-kỳ sẽ tạo ảnh hưởng tạm thời cho “con nợ” Liên Xô tại Đông-Dương là phải sản xuất vũ khí theo sự yêu cầu của “chủ nợ” [đảng Công-ty Mỹ: WIB] dựa vào sau đó, mà dân Việt hai miền là khách hàng tiêu dùng những thứ quỷ nầy. Đây mới thật là một Siêu chiến lược của người Thủ-lãnh Đảng Sọ xương người [Skull and Bones] vượt qua cả Karl Marx và Lênin để nắm gọn sự tự-nguyện (không có ép buộc) của “Giai-cấp Công-nhân” vào một thế giới an-bình và thịnh vượng chung.
                        Trong Thế chiến-1, W.A.Harriman đã có tham vọng đầu-tư để nắm vửng những lợi nhuận tại hai nước chủ yếu là Ðức quốc xã và Liên Xô vào năm 1920, dòng-tộc Brown-Brothers Harriman lấy Ðại-học Yale làm lò luyện thép, tôi-luyện ra những Skull and Bones. Cũng tại đại-học Yale nầy, mùa Thu, 1913, Prescott- Bush [ông nội của TT George W Bush-43] Theo bước cha-ông ghi danh vào Yale và hai vị Tổng thống Hoa-Kỳ sau nầy cũng noi theo cha ông cùng tốt nghiệp tại Yale. Sự kiện chứng minh những Skull and Bones tốt nghiệp từ Yale đã nắm chặt chính sách Hoa kỳ cho đến ngưới cuối cùng của Yale-Skull là George-W Bush- 2008 – Nói tóm lại, hơn nửa thế kỷ nay, Hoa-kỳ đang trị-vì bởi cái nhóm Yale-Skull như một “Chính phủ vĩnh-cửu” Ðảng Hội Ðầu Lâu nầy chủ trương “đi với Bụt mặc Cà-sa đi với Ma phải mặc áo giấy” dưới ảnh hưởng tuyệt đối của 2 Triều-đại: W.A.Harriman, Dân-chủ và George H.W.Bush, Cộng-hòa.
                        Hơn ai hết, Harriman hình dung được thế chiến lược Eurasian sẽ đem lại thảm hoạ kinh hoàng cho nhân dân hai nước Việt Nam và Iraq nên ông chỉ lộ-diện vào Thế chiến-2 và chiến tranh Triều Tiên, lý do dễ hiểu vì tại Ðức, Hoa kỳ sẽ để lại 300.000 còn Triều Tiên là 50.000 quân làm tiền trạm. Còn qua Màn-2, giai-đoạn-2 ở Á-châu là Ðông Dương, Harriman núp kín đáo ở ngôi vị thứ-3 của Bộ ngoại giao để không ai biết đến kẻ thủ phạm đem lại một cuộc chiến thắng trầm-lặng (quiet-victory) cho “Hội-đồng Kỷ-nghệ Chiến-tranh”. [War-Industries-Board] Những thảm hại cho quân đội Mỹ qua lá bài “Khổ-nhục-kế”, vài tờ thời báo của thập niên đó đã nhắc tới nhiều lần: “Nước Mỹ từ 1917 đến 1960 xuất hiện một Nhóm 6 Nhà thông-thái [The Wise Men: (1)-W.A.Harriman, (2)- E.R.Harriman, (3)- R.A.Lovett, (4)- James Forrestal, (5)- Artemus Gates, (6)- Prescott Bush] nắm vận mệnh thế giới. Còn hai nhà văn nổi tiếng, Walter Isaacson và Evan Thomas thì cho rằng Nhóm 6 nhà thông thái nầy đã đi săn-lùng tài nguyên từ thượng nguồn Sông Rhine đến hạ nguốn Sông Danube để rồi đưa ra mưu đồ chiến lược “Eurasian Great Game”1920-2020, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có Mỏ manganese và dầu hoả. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng-sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn Tư bản gây ra nhiều tội ác bốc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rõ ràng Bọn Bolshevik vẩn cần dollar và kỹ thuật Tây-âu để sống còn. Ðặt văn phòng ở Bá-Linh, Harriman dám cùng chung với công-ty Ðức và chính quyền Liên Xô tạo nên một công ty hỗn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ.
                        Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể; Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà Liên Xô không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường “tình-báo” Ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tín-dụng $1 triệu dollar đặt cọc [deposit] và điều động J.Speed Elliot, Phó Giám đốc Harriman and Company qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolsheviks do Trùm mật-vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký, Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn dặm của Mỹ? Công việc làm ăn với kẻ thù như thế nầy đã bị các nhà lãnh đạo Tây-âu cho rằng: “giúp cho Hùm thêm mống-vuốc!” Thủ tướng Anh MP Winston Churchill cho rằng: những việc làm-ăn thiếu khôn ngoan cũng như đạo đức. Nhưng Bọn Tài phiệt nầy đếch cần!
                        Vùng nước Cộng-hòa Georgia nằm trên Hắc-Hải, với khối lượng khổng lồ quặng-mỏ Kền để làm vũ khí, chỉ cách Iraq 400 miles, oặn dầu-thô ở Baku cũng khoảng cách không xa lắm. Nhà chiến lược gia kiệt xuất W.A.Harriman bèn nghĩ ra diệu-kế “Eurasian-Great-Game” ngay vào lúc nầy, mãi đến 1959, Ó-Mỹ chọn VN để lót ổ. CIA đã khuyến dụ được KGB để dự trò chơi chiến tranh tại Ðông Dương giữa hai đấu-pháp “Chiến tranh Giải phóng” và “Chiến tranh chống nổi dậy” [gọi theo tiếng Anh là: National Liberation Front (NLF) và Counter Insurgency Plan (CIP)] cũng vào năm nầy, Chiến lược gia Harriman cho ra đời tác phẩm “hoà bình với Liên-Xô” [Peace with Russia-1959]. Ðoạn kết của thế “bênh kẻ mạnh” buộc Hoa-kỳ bỏ vùng biển South China Sea, di tản chiến-lược về Honolulu, qua cuộc giao banh đầu tiên ngoạn mục của Quốc hội Mỹ năm1970, để giăng một cái bẫy cho tham vọng của Trung Quốc vướng-mắc vào vùng có trữ lượng dầu hỏa từ đảo Ðiếu Ngư [Nhựt: Sang-Ka-Xu, Tàu: Diaoyo] xuống Hoàng-Sa, và Trường-Sa.
                        - Là chiến sĩ, chúng ta cho rằng mục tiêu cuộc hành quân Lam Sơn 719 là tiêu hủy kho vũ khí của CSBV trên đường mòn HCM?

                        Cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy, chúng ta (Hà nội và Saigon) là kẻ chiến thắng?

                        * Tất cả hai câu trên đều sai bét như tôi sẽ lý giải dưới đây:
                        …. Nhưng rất tiết nhiều chiếc hình giải mật không được in ra từ hai cuốn sách “The New Legion”, nhứt là chiếc hình đoàn xe thồ (hình phóng viên Đông-Âu chụp) chuyển vận tiếp liệu trên đường mòn HCM, mỗi chiếc thồ hơn 200 kilô tiếp liệu (trang 95, Volume-1 “The New Legion”: Cast your eyes on this picture: If you have a good eye, you can see the words “handle with care”. CIA memorandum, 9/6/1967, Soviet wanted to control the transshipment of Soviet goods from USSR and through China to North Vietnam. However, the Chinese objected and stated that they would assume control at the USSR border. At this point the North Vietnamese officials intervened and said that: “If the USSR and China were going to disagree over this, then North Vietnamese would not continue the war” That made Permanent Government get into a panic ).

                        Ngay sau khi Lê Đức Thọ nhỏng-nhẻo đòi nghỉ chơi không chịu đánh đấm nữa. (Vì 1967 biến cố xung đột quyết liệt giữa TC/LX) TC đòi kiểm soát những chuyến xe lửa băng qua biên giới đến VN mà LX không chịu, sợ TC “cọp-dê” kỹ thuật quân sự. Permanent Government hết hồn hết-vía vì muốn nuôi dưỡng chiến tranh nên phải dùng C-130 không số, (sơn toàn thân tàu một màu xám-tro lam xậm) thả tiếp liệu quân dụng xuống đường mòn HCM, nhưng kẹt nỗi vì quá vội, trên các thùng gỗ quên bôi chữ “HANDLE WITH CARE” không biết phần đông lính BV nhà quê có hiểu không? Nhứt là các chai thuốc như huyết thanh serum … sợ bị bể.
                        Trong lăng kính phi công gián điệp, tại sao tôi chỉ nhấn mạnh chiếc hình đoàn xe thồ nầy từ chiến trường qua chính trường?
                        (1) Để bênh vực lập luận “Trận chiến Lam Sơn 719” là hai bên đều thảm bại nhục nhã nhứt trong lịch sử dân tộc, và nên bỏ đi cái thói cao-ngạo quân ta là kẻ chiến thắng qua quá nhiều chứng liệu hình ảnh chết chóc đau thương cho dân tộc (chứng liệu trên youtube).
                        (2) Cuộc hành quân nầy quá muộn màng, đáng lẽ phải xảy ra hồi chính quyền Kennedy hay trễ lắm là chính quyền Johnson, như trường hợp tướng Westmoreland nổi hùng khí ra quốc hội đòi đem quân Mỹ hành quân chốt chận trên đường mòn HCM thì bị triệu hồi về Mỹ tức khắc, không khác gì tướng Mc Arthur khi ra quốc hội đòi giải phóng lục địa.
                        Tại sao phải trễ, ai nắm chính sách ? Đây là vở bi-kịch tuồng cải-lương mà soạn giả Harriman viết đoạn kết cho phe miền Bắc thắng chỉ đơn giản là thế, và chỉ có thế thôi, nên đạo-diễn Donald Rumsfeld nhắc tuồng nói toạc móng heo ra là “Miền Nam bù nhìn, Miền Bắc yêu nước” làm quê cơ miền nam qua sự thật quá phũ phàng, phải không các chiến hữu?
                        (3) Để người Việt hải ngoại nhìn thấy tài liệu mật trong hai cuốn sách nầy mà hãy quên đi “Chiêu-bài chống cộng”. Nó là “viên-thuốc” tố-cộng mà Harriman đã cho người miền nam uống từ cuốn phim “Chúng tôi muốn sống 1954” nhưng đến giờ nầy nó đả lỗi thời rồi mà trong sách “The New Legion” tôi cho nó là thuốc đã đến thời kỳ hết hiệu-nghiệm “expired” (The old political label “Anti Communist” was already expired in forgetful and nobody buy it).
                        Nói về hoàn cảnh đau thương thì có lẽ TNS Mc Cain và tôi chịu quá nhiều kinh nghiệm bầm dập với CS. Nhưng đứng trên gốc cạnh phải nói sự thật theo lương tâm và danh dự của mình, tôi và Cain phải thẳng thừng nói rằng: cụ Hồ là người quốc gia, để trả lại tính trung thực cho lịch sử Việt Nam [The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent [ Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” Nhửng điều nầy đã có đáp số định kiến-1 [Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon].
                        Trên diễn đàn nầy sẵn dịp, nếu có thì giờ nghiên cứu trong 2 cuốn sách nầy không có hình ảnh giải mật mà chỉ có một chiếc hình rẻ tiền được phô bày là bản đồ đi vượt biên nhỏ bằng chiếc Tem thư, và cái địa bàn như đồ chơi trẻ con thì bạn cũng nhận ra ngay nỗi kinh hoàng như thế nào khi phải chấp nhận căn cước tỵ nạn? (Hình Chapter-3, trang 249 đến 272; còn như anh muốn đọc tiếng Việt thì nơi diễn đàn hoiquanphidung, Mục 30/4, tựa “Chuyến tàu đầu tiên chở Bò Ngũ ra bắc”, từ bài số 20 đến hết … sẽ biết tại sao tôi phải dành hết thì giờ nhàn rỗi mài đũng quần 20 năm nơi thư viện để nghiên cứu tại sao có ngày 30/4/75 mới hiểu ra soạn giả, và đạo diễn tấn bi thảm kịch nầy đã đưa ra đoạn kết là sau khi kiếm đủ lợi nhuận (America First) VN sẽ được độc lập thống nhứt sau 30 năm (1945-1975), đúng y chang âm-mưu Mỹ không chịu ký chia đôi VN Genève 1954, trong khi các nước khác đều muốn… sự thật quá oan-nghiệt cho dân tộc Việt.
                        Viết lách trên một diễn đàn dành riêng cho những người tỵ nạn là sống trên môi trường rất nhạy cảm, tuy nhiên cảm nhận để đối phó với vấn đề nầy là một sự quyết định tùy theo cảm quan và chấp nhận những thử thách cũng chỉ là vì muốn trả lại sự thật cho lịch sử. Là một người viết nhưng KHÔNG MUỐN LÁCH mà chỉ dựa trên đạo đức dân tộc, tuổi đời đã trên 7 bó rồi mà còn viết là 1 điều hiếm có vì cần lưu lại cho Quân-Sử, sao lại khó khăn với nhau? Tôi quan niệm sự thật thời-đại là điều tiên quyết do đó đã quyết định chọn cái mũ tác-giả thay vì mũ tố-cộng, sức mạnh của ngòi viết ở Mỹ là sức mạnh được tu chánh án số 1 của Hoa Kỳ bảo vệ đệ 4 quyền là quyến bất khả xâm phạm, miễn sao người viết đừng lợi dụng quyền đặc miễn để sử dụng chúng như một vũ khí tấn công hoặc phỉ báng mạ lị bất cứ một ai.
                        Phải nhìn nhận sự thật, đây là cơn uất nhưng nếu chúng ta không chịu chấp nhận và lỡ đã binh con bài “mậu thầu mậu dỉ cù lủ” thì cứ tiếp tục binh con bài nầy, cũng chả chết ai … nhưng đường binh nầy là con đường mòn không lối thoát, vì người soạn giả vở bi-kịch nầy cũng đã cho kết quả trong lăng kính với đáp số rõ rệt: “Cứt Trâu để lâu hoá bùn” … Và trái đất vẩn phải quay! Sự thật ai bỏ độc dược thì chỉ người đó có thuốc giải? Ai không biết thì làm cách nào cứu được đây?
                        Như bài Hành Quân Lam Sơn 719, đọc giả có thừa thãi những hình ảnh chứng liệu để nói lên sự tự mãn càn-bướng của quân đội hai miền nam bắc, tự cho mình là kẻ chiến thắng; nhưng thật ra đây mới là một sự thảm-bại nhục-nhã cho cả hai phía trong lịch sử dân tộc Việt Nam vào thời cận đại vì đã dùng súng người để chém giết đồng chủng.
                        Riêng về phía quân lực VNCH thì từ người lính đến tướng đều cho rằng cuộc hành quân nầy là “phá hủy kho vũ khí tại đường mòn HCM” nhưng dưới con mắt của phi công gián điệp tình báo thì hoàn toàn sai bét? Hay nói cách khác cuộc hành quân nầy xảy ra đã quá muộn màng!
                        Thời chính quyền Kennedy thì đã có chiến dịch bí-mật thả Biệt Kích ra ngoài bắc nhắm vào trọng điểm từ Đèo Mụ-Già đến ba biên giới, các toán phá hoại nầy đã bắt cóc, phá hủy cầu cống, công sự nhà máy, đặt Mìn … do Trưởng CIA tài ba từ Đệ-II thế chiến William E Colby điều hành, nhưng lại bị điệp-viên phản tình báo ám số 19 Lucius Conein (bắc) Russel Flynn Miller (nam) cho Trinh-Sát Hà Nội biết các toạ độ để chụp bắt làm điệp viên hàng đôi (double cross) và phá hoại chiếc C-47 Cò Trắng của Trung úy Phan Thanh Vân, và chiếc trực thăng H-19 của Trung úy Bùi Quang Các đi thăm viếng các tiền đồn dọc theo hành lang xa lộ Harriman (Đường mòn HCM) vì vi-phạm vùng cấm bay đang khai phá đường mòn HCM cho định kiến-1 (axiom-1’ solution).
                        Ngay sau khi siêu chính phủ (Permanent Government) triệt hạ được TT Kennedy, thì nhiệm vụ của các toán Biệt Kích nầy trở về cương vị nhàn rỗi là chỉ lấy tin-tức vui chơi thôi, điệp viên 19 bèn đặt cái tên để đời là Toán Easy để đánh dấu “nhàn-rỗi” và cuốn chiếu về nam kết thúc cuối 1968 sẽ không còn Biệt- Hải kích nào ở ngoài vĩ tuyến 17. Chiến hữu nào còn kẹt lại thì rán chịu cảnh đem con bỏ chợ.
                        Thời đệ 1 Cộng Hoà, Siêu chính phủ (Harriman, Bushes) ra lệnh hành pháp Kennedy phải áp lực chính quyền miền nam bỏ quận Hương-Hoá để cho quân BV khai mở xa lộ Harriman, mà phía Tây-Âu đặt cho cái tên Đường mòn HCM với mục tiêu chính trị vinh danh hậu thế để trả nghĩa sự phản bội của Mỹ; còn triều đại Mafia Lê Đức Thọ thì đặt cho cái tên Đường 559, ám chỉ năm 1959 lật đổ cách ly cụ Hồ, Thọ đưa Lê Duẩn về làm Quyền TBT, còn như Cách Mạng VN đặt cho cái tên Đường Trường Sơn.
                        Chính quyền Đệ-1 VNCH, qua cụ cố vấn Ngô Đình Nhu thì có một tầm nhìn xa hơn, Khe Sanh (Tchepone) chưa phải là trọng điểm để hủy diệt đường xâm nhập của BV mà Darto-BanHet (Attopeu) mới thật sự là yết hầu của quân BV, Cụ cố-vấn, biết được ý đồ đó của Harriman về trung lập hoá Lào, nhung vì cần viện trợ để chống đỡ, nên cụ Ngô Ðình Nhu âm thầm với mưu lược chốt chận ngay yết hầu của Ðường-559 bằng điều-động Ðại tá Ðỗ Cao Trí, Tư lệnh Ðệ tam Quân khu sẽ mở cuộc hành quân chốt chận ngay yết-hầu Attopeu, với Thiếu tá Dư Quốc Ðống Chiến đoàn trưởng CÐ Dù, Ðại úy Lý Tòng Bá Thiết đoàn trưởng, cùng một đơn vị bộ binh thuộc SÐ22 với Tiểu đoàn Công Binh khai phá đường qua nam Lào, từ Ben Het, Darto tiến qua Attopeu, Lào.
                        Sự việc nầy bị ngay tay phản-tặc, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Tổng Cục Tình Báo tại phủ tổng thống tiết-lộ cho CIA của nhóm Russell Flynn Miller (nam) và Lucien Conein (bắc) biết ráo trọi. Ðại tá Lansdale là ân-nhân của TT Diệm đã đề nghị (theo lệnh thượng cấp), Ðại tá Carver là cố vấn TUTB phủ tổng thống, nhưng mà ‘Giòi’ trong ấy ngoi ra làm sao TT Diệm hiểu nổi như H.N.Nhạ, Ðinh Xáng, P.N Thảo, Pham Xuân Ẫn… Cái nhóm CIA nầy lại là tay chân của hai nhân vật chủ chốt cuộc chiến Việt Nam (Harriman và Prescott Bush) đang đặt ống kính phải hủy-diệt hai hòn đá tảng (Kennedy và Diệm) cản đường CIP nầy bằng mọi giá như phải lấy máu giải quyết.
                        Thời kỳ chánh-quyền John F. Kennedy muốn việc làm của CIA tại Việt-Nam phải cố-gắng nhiều hơn nữa, khám phá cho được đường thâm nhập của Bắc-Việt vào Miền-Nam, tăng cưòng nhịp độ đột phá và gởi Gián-điệp ra Bắc. Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia Hoa-Kỳ (NSC) đã có cuộc họp số 52 Memorandum bản ghi nhận: cho phép xử dụng Mũ Nồi Xanh và Hải-Quân người Nhái huấn luyện Cố-Vấn cho quân-đội Miền-Nam để họ thi hành những cuộc hành quân xâm nhập ngoài Bắc: Biệt-Hải và Biệt-Kích Gián-Điệp nhưng khổ nỗi tổng thống Mỹ chỉ là một người tổng quản lý nước Mỹ mà ông Chủ là một thế lực sau hậu trường (Permanent Government), mà người sáng lập ra nó từ 1920 cho đến nay là W A Harriman 1920-1960, và từ 1960-1969 là thời gian chuyển tiếp cho George H W Bush, nói cách khác là Bush-Cha học nghề cho đến cuối nhiệm kỳ thứ nhứt của TT Johnson và quan trọng nhứt trước khi rời khỏi chính trường Harriman cần nhắn nhủ lời vàng thước ngọc cho Triều-đại Mafia Lê Đức Thọ tại các cuộc họp mật Paris Peace Talks chỉ có riêng Thọ/Harriman mà thôi. Vì thế khi Kissinger có nhắn nhủ với Thọ: “Khi chiếm miền nam nhớ nhẹ tay với người bạn thân của tôi trong phái đoàn VNCH là Nguyễn Xuân Phong” nhưng Thọ vẩn bắt nhốt như thường, tuy nhiên Phong được thả sớm nhứt là 5 năm sau vừa đủ điều kiện đi diện H.O; duy chỉ có Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì không được đụng đến vì ông có trong danh sách USIS. Vài năm sau ông Bác sĩ Quế bị bắt vì ông muốn hành động như Bác si Mandela ở Phi châu thì phải bị bắt nhốt thôi.
                        Để kết luận phần nầy: Quân đội của hai bên đều thảm bại vì mục tiêu chính là không tắm máu và bàn giao Saigon cho Hà Nội không thành đống gạch vụn. Những thành phần chủ lực chiến đấu xuất sắc phải bị tiêu diệt trước như: sư đoàn Dù/sư đoàn 2 Sao Vàng – sư đoàn TQLC/sư đoàn Thép 320 – sư đoàn 1 BB/sư doàn 324 – BĐQ/304, 308 …
                        -Mục tiêu kinh tế: những vũ khí lỗi thời phải được tiêu dùng, như trực thăng, chiến xa, đại pháo, xe vận tải …để thí nghiệm sản xuất loại mới cho chiến trường Trung Đông.
                        -Mục tiêu chiến lược: tu chính án “Cooper-Church” 1970 chuẩn bị Eagle pull về Hawai, vào thời điểm “Case-Church” 1973, giăng bẫy đồng thời nâng Trung Quốc lên hạng Nhì tạm thời thế Liên Xô (1970-2020).
                        -Mục tiêu chính trị: Việt Nam Hoá Chiến Tranh để Mỹ rút quân, hoàn thành định kiến 3 (axiom-3) bỏ lại chiến cụ ra đi nhẹ re, thời gian sau thành đống sắt vụn vì thiếu cơ phận, theo cung cách làm ăn của War Industries Board, không bao giờ đem thứ quỷ nầy về Mỹ.
                        -Mục tiêu chiến thuật: Tất cả tiếp liệu quân dụng đều được di tản đầy ngập trên hành lang Đường 559 do nhị-trùng đại-tá BV Bùi Tín báo cáo cho phóng-viên trá hình Phạm Xuân Ẩn, sau cùng Richard Helms cho tướng Haig biết để khai diển cuộc hành quân ngày 18/Jan/1971 bằng sự quyết định của TT Richard Nixon và HĐANQG (NSC) [ Hình giải mật, trang đầu “The New Legion” Volume-II ].

                        -Mục tiêu tuyên truyền: Vì Mỹ thua trận, thế giới không bươi móc cuộc chiến “bẩn-thỉu” qua sách lược “Bỏ phiếu bằng chân” như 1954 thì làm rùm beng vì không ai chết với 1 triệu người tỵ nạn … sau tháng tư Đen thì… để người Việt tự hiểu… vì thế “Chiêu bài chống cộng thật sự đã lỗi thời rồi” nhưng đôi khi CIA lại đốc thúc người Việt hải ngoại hung hăng tấn kích là để làm một công cụ cho tư bản Mỹ gây áp lực với phía VN vì quyền lợi thương mãi mà thôi.

                        (còn tiếp)

                        Comment

                        • vinhtruong
                          Super Member
                          • Jun 2010
                          • 1924

                          #57
                          Sorry! Bài dành cho học-giả (7)

                          Tổng thống Mỹ Barack Obama đã bắt đầu chuyến công du châu Á với mục đích (theo tôi là cương quyết “bảo đãm” đụng đến đồng minh coi như đụng đến Mỹ, riêng đặc thù VN dù không có cam kết nhưng VN lại nặng kí hơn hết vì nó là đứa “nghĩa tử”) trấn an đồng minh về cam kết của Mỹ đối với khu vực này là theo đúng trên trục lộ đồ Eurasia-1 từ “huấn thị điều hành” của cẩm nang secrets of the Tomb về “roll-back”. Nó phải như đúng thời-điểm buộc phải tuyên dương bà Jane Fonda, phục hồi 4 sao cho tướng John Lavelle; Họp xăn tay áo, không cà vạt, phạch ngực nói chuyện tay đôi với Tập Cận Bình nơi thành phố nghỉ mát nhỏ, California. Tuyên bố có tính cách khiêu khích: “Nước ông có muốn lập lại, tụi tôi đẩy nước ông vào vị thế của Nhựt Bản 1941? Nếu không thì về mà lo trải thảm đỏ và bắn 21 phát súng chào đón đệ tử cũa chúng tôi là VN mà ký hoà ước không nổ súng tại Hoàng Sa vì có giếng dầu Exxon Mobile đã đóng trụ tại đó từ lâu …

                          *****

                          http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...

                          Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan

                          Luận cổ suy kim
                          (Người viết muốn thay đổi từ món ăn nóng qua món đồ nguội và cũng muốn độc giả có chút ít căn nguyên để luận cổ suy kim)
                          Thượng sách phạt giao để thôn tính và làm giàu bằng món hàng giết người
                          Đầu thế kỷ 19, lợi dụng tình thế khó khăn của Pháp, Mỹ đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ bằng “ngoại giao điền thổ” Tháng 5-1803, với 15 triệu USD và với giá 3 Cent (1 Cent=1/100 USD) một mẫu đất, chính quyền của ông Jefferson đã mua toàn bộ vùng Louisiana từ tay Pháp vì lúc đó Napoleon rất cần tiền để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với Anh. Cuộc mua bán ngoạn mục này đã làm cho diện tích của Hoa Kỳ tăng lên gấp đôi. Tiếp theo là các vụ mua bán khác, gây chiến tranh, sáp nhập nhằm mở rộng lãnh thổ: mua lại Florida từ Tây-Ban-Nha (1819), sáp nhập Texas (1845).

                          Năm 1846 Mỹ tuyên bố chiến tranh với Mexico và sáp nhập bang California và New Mexico vào Mỹ. Năm 1848 sau khi ký hiệp ước hoà bình Mỹ-Mexico, chấm dứt chiến tranh giữa hai nước, Mexico buộc phải từ bỏ chủ quyền đối với Texas, California, Arizona, New Mexico, Utah, Nevada (1/2 lãnh thổ Mexico) Mỹ và Anh ký hiệp ước phân định đường biên của Oregon dọc vĩ tuyến 49. Năm 1853 Mỹ và Mexico ký hiệp định Gadsdeh và Mỹ chiếm thêm 140.000 km2 lãnh thổ của Mexico.

                          Năm 1867, tranh thủ cơ hội khi Nga đang gặp khó khăn về tài chính, Mỹ cũng đã nhanh chóng mua lại toàn bộ vùng Alaska rộng lớn từ Nga với cái giá rẻ khó tưởng tượng – 7, 2 triệu USD. Vùng đất này có vị trí hết sức quan trọng trong việc bố trí chiến lược toàn cầu của Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh và cả hiện nay. Như vậy, có thể thấy chỉ trong hơn nửa đầu thế kỷ 19, bằng “ngoại giao điền thổ” và chiến tranh thôn tính, các chính quyền kế tiếp nhau của Mỹ đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ, tạo cho Mỹ một vị thế địa-chiến lược mới trên bản đồ địa-chính trị quốc tế so với nước Mỹ thuở lập quốc.

                          Vào đầu thế kỷ 20, Mỹ đã vươn lên vượt xa các nước tư bản khác về sức mạnh kinh tế, dần dần chiếm địa vị bá chủ thế giới; Năm 1900, Mỹ chiếm tới 31% tổng sản lượng thế giới so với con số tương ứng của Anh, Đức, Pháp là: 18%, 16% và 7%. Năm 1913 sản lượng gang và thép của Mỹ vượt Đức 2 lần, vượt Anh 4 lần, than gấp 2 lần Anh và Pháp cộng lại. Trong khoảng từ 1900-1913 số vốn đầu tư vào công nghiệp tăng khoảng 2 lần rưỡi (9 triệu USD-22, 8 triệu USD), và giá trị sản phẩm tăng hơn 2 lần (từ 11,4 triệu USD lên 24,2 triệu USD) Tới năm 1914, GDP của Mỹ đạt 37 tỉ USD, trong khi đó con số tương ứng của Đức và Anh là 12 tỉ USD và 11 tỉ USD.

                          Cùng với quá trình tăng cường sức mạnh kinh tế, Mỹ cũng đẩy nhanh xây dựng lực lượng quốc phòng, có những hạm đội mạnh hơn hải quân Anh và có đủ khả năng tranh giành quyền-lực trên các đại dương với các đế quốc châu Âu. Trong cơ cấu của nền kinh tế Mỹ, các tổ hợp công nghiệp quân sự có vai trò quan trọng và đằng sau chúng là những nhóm lợi ích luôn theo đuổi các khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa hiện thực mà thực chất là dùng sức mạnh quân sự để đạt bằng được các lợi ích trong đó có lợi ích kinh tế.

                          Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, Mỹ đã vận dụng thuyết “toạ sơn quan hổ đấu”, bây giờ đang lập lại vụ Biển Đông bằng Việt Nam Phi Luật Tân là chạm tuyến đầu tiên, và Mỹ đứng trung lập ngay từ đầu nhưng vẫn hưởng nhiều lợi nhuận từ buôn bán vũ khí qua gián tiếp đầu tư với Liên Xô cho VN mà cuối cùng là các tàu ngầm Kilô do dollar Mỹ.
                          Đến khi kết cục gần ngã ngũ, năm 1917 Mỹ mới tham chiến hùa theo bên thắng để tạo cơ sở dính líu tới châu Âu và Việt Nam cũng vậy qua thế “On the strong man side” (Liên Xô) Thời kỳ giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới, do bị suy thoái kinh tế như các nước tư bản khác, Mỹ điều chỉnh chiến lược, tạm gác mục tiêu bá quyền thế giới, tập trung sức để khôi phục và phát triển kinh tế trong nước. Thí dụ mở hệ thống Highway giao thông toàn nước Mỹ đem giá hàng tiêu dùng xuống thấp.

                          Khi Chiến tranh thế giới thứ hai đang được châm ngòi, từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1939, Tổng thống Roosevelt đã hai lần yêu cầu Quốc hội thủ tiêu đạo luật cấm bán vũ khí cho các nước tham chiến nhưng vẫn không được Quốc hội chấp nhận vì buôn bán vũ khí là một nguồn lợi lớn của giới công nghiệp quốc phòng. Lúc đầu Mỹ tuyên bố giữ vai trò “trung lập”, nhưng sau sự kiện Trân Châu Cảng (7-12-1941), Quốc hội Mỹ đã chính thức tuyên chiến. Những mục tiêu cuối cùng của Mỹ ở Thái Bình Dương là đánh chiếm đảo Iwo Jima (tháng 2-3/1945) và đảo Okinawa (25-3-1945) nằm ở cửa ngõ đi vào Nhật Bản. Điều này phù hợp với mục tiêu chiến lược mở cửa thị trường và khống chế Nhật Bản từ giữa thế kỷ 19.

                          Để chuẩn bị cuộc Chiến tranh lạnh, Harriman cho ra “Aid to Russia 1941-1946 Plan” nền [“War Industries Board”] công nghiệp quân sự của Mỹ phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy để phục vụ cho chiến tranh và chạy đua vũ trang.

                          Có một sự kiện đáng lưu ý là ngày 23-3-1983, Tổng thống Reagan đưa ra kế hoạch “Chiến tranh giữa các vì sao” (SDI) với chi phí 26 tỉ USD trong 5 năm; Kế hoạch này không chỉ nhằm vào mục tiêu quân sự mà còn tạo đà cho phục hưng kinh tế Mỹ sau một giai đoạn suy thoái.

                          Sau khi bức tường Berlin sụp đổ (1989), Chiến tranh lạnh đi vào hồi kết, vào tháng 1 năm 1991, nhân sự kiện Iraq chiếm đóng Kuwait, Mỹ đã tiến hành chinh phạt Iraq lần thứ nhất. Tháng 3/1999, Mỹ tiến hành chiến tranh ở Cosovo (Nam Tư) Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ tiến hành liên tiếp hai cuộc chiến ở Afghanistan (11-2001) và Iraq (3-2003) Ngoài lý do chính trị-an ninh, còn lộ rõ những lợi ích công nghiệp quân sự.

                          Ở đây cũng có một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa chiến tranh với tình trạng suy thoái của kinh tế Mỹ vào đầu những năm 90 và khả năng chùn lại của kinh tế Mỹ sau một thời kỳ tăng trưởng kéo dài 113 tháng tính tới đầu năm 2000. Chiến tranh đã trở thành liều thuốc kích thích kinh tế Mỹ vì nó tạo ra những đơn đặt hàng mới cho các tổ hợp công-ty quân sự và mặt khác, nó còn tạo cơ hội cho giới quân sự Mỹ thử nghiệm các loại vũ khí mới và giới buôn bán vũ khí chào hàng. Tờ “New York Time” ngày 25/9/2003 trích dẫn báo cáo của Quốc hội Mỹ cho biết năm 2002, Mỹ vẫn giữ vị trí số một trên thị trường xuất khẩu vũ khí thế giới, đặc biệt là bán vũ khí cho các quốc gia đang phát triển, với tổng giá trị là 13, 3 tỉ USD, chiếm 45% khối lượng hợp đồng bán vũ khí thông thường toàn cầu. Riêng về Á Đông tu chánh án “Case-Church” Mỹ “di tản chiến lược” về Hawai để cho các nước nằm gần TQ mua vũ khí của Mỹ, riêng VN mua của LX mà Mỹ có phần hùn TQ sẽ không có cớ buồn Mỹ? Chính sách thương mại bằng ngoại giao pháo hạm (gunboat policy) và thể chế kinh tế, tài chính quốc tế.

                          Cùng với việc mở rộng biên giới lãnh thổ ở các khu vực “cận ngoại biên”, vào đầu thế kỷ 19, Mỹ còn đề xuất Học thuyết Monroe (1823) về “Châu Mỹ của người châu Mỹ” và chủ nghĩa biệt lập. Liệu đây có phải là thực sự tinh thần độc lập và tự trị khu vực hay không ? Như đã biết, vào thời kỳ này, Mỹ còn yếu hơn rất nhiều cả về thế và lực so với các cường quốc khác ở châu Âu mà đặc biệt là so với Anh và Pháp, vì vậy Mỹ chỉ có thể thực hiện chính sách mở rộng lãnh thổ ở “sân nhà” là chủ yếu, chứ chưa thể bành trướng ảnh hưởng ở châu Âu. Do đó, về thực chất, Học thuyết Monroe không phải là một thứ chủ nghĩa biệt lập thuần tuý mà là luận thuyết phân chia khu vực ảnh hưởng, phân chia thị trường. Trong Thông điệp liên bang năm 1823, Tổng thống Monroe nhấn mạnh: “lục địa châu Mỹ, với điều kiện tự do và độc lập đã giành và giữ được, không thể bị coi là đối tượng của việc thực-dân hoá trong tương lai bởi bất kỳ các cường quốc châu Âu nào”, và Mỹ ” coi bất kỳ cố gắng nào nhằm mở rộng hệ thống của họ tới bất kỳ nơi nào của bán cầu này là nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh của Mỹ”.

                          Từ đây có thể thấy là không phải Mỹ muốn biệt lập, không có tham vọng dính líu gì tới bên ngoài mà thực chất Mỹ muốn ngăn cản các cường quốc châu Âu, không cho họ bành trướng ảnh hưởng và buôn bán ở lục địa châu Mỹ vì Mỹ coi đây là “sân sau” tự nhiên, là khu vực ảnh hưởng của riêng Mỹ. Mặt khác, tuy chưa đủ sức tiến vào châu Âu, nhưng sau khi đã xác lập được vị thế khá vững vàng ở lục địa châu Mỹ, Mỹ cũng đã bắt đầu bành trướng sang khu vực Đông Á-Thái Bình Dương theo phương thức “thương mại đi trước, cờ Mỹ đi sau”.

                          Năm 1853 đô đốc Mỹ Perry đã đưa bốn chiến thuyền đến cảng Uraga (trong vịnh Tokyo) yêu cầu Nhật Bản cứu trợ, bảo vệ thuỷ thủ Mỹ, mở cửa thông thương và tiếp than đốt cho tàu Mỹ từ California đến Trung Quốc. Năm 1854 Perry lại đưa bốn chiến thuyền đến và ký hiệp ước Kanagawa buộc Nhật Bản đồng ý mở cửa Shimoda và Hakodate, theo đó Mỹ có quyền lấy than, lương thực, nước cho các chuyến tàu biển qua đó. Năm 1858 Mỹ ký hiệp ước buôn bán bất bình đẳng với Nhật Bản, mở cửa Edo, Nigata, Kobe, Yokohama, Osaka và Nagasaki, giành được quyền tài phán lãnh sự và tối huệ quốc về quan thuế. Như vậy, về phương diện kinh tế-thương mại, sự có mặt của Mỹ ở Nhật Bản đã được hợp thức hoá một bước.

                          Nếu từ cách tiếp cận địa-chiến lược, thì để thống trị đại lục Âu-Á, trước hết Mỹ cần phải lôi kéo, khống chế “hai tuần dương hạm nổi tự nhiên” là Anh và Nhật Bản là hai Ốc-đảo dưới ảnh hưởng của Mỹ. Lúc đó Anh đang còn rất mạnh, còn Nhật Bản thì lại chưa tiến hành công nghiệp hoá, cả thế và lực đều yếu, hơn nữa Nhật Bản vẫn còn là thị trường “vô chủ”. Đây là cơ hội lớn cho Mỹ và Mỹ đã thành công; Bằng “ngoại giao pháo hạm”, Mỹ đã buộc Nhật Bản phải mở cửa thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ xác lập thế đứng vững chắc ở khu vực sau này để phát huy ảnh hưởng cả về chính trị-an ninh và giành giật lợi ích kinh tế-thương mại.

                          Tới cuối thế kỷ 19, Anh đã suy yếu dần, còn Mỹ ngày càng mạnh thêm với lực lượng hải quân hùng hậu; Nắm được quyền lực biển là tiền đề quan trọng để Mỹ giành giật quyền lực thương mại với các cường quốc khác; Mục tiêu tiếp theo của Mỹ ở Đông Á là Trung Quốc. Sau khi gây chiến tranh với Tây Ban Nha và chiếm Philippine (1898) năm 1899 Mỹ đề ra chính sách “mở cửa” để giành giật thị trường ở Trung Quốc với Anh, Pháp, Nga và Nhật. Nội dung của chính sách “mở cửa” gồm có: Bất kỳ hàng của nước nào vào Trung Quốc cũng đều chịu chính sách thuế như nhau và do chính phủ Trung Quốc thu thuế. Không can thiệp vào lợi ích của các nước theo những điều ước đã ký. Không được thu thuế theo khu vực của từng nước quá cao. Với chính sách này, Mỹ muốn xác lập vị thế hợp pháp và bình đẳng của mình ở thị trường Trung Quốc so với các cường quốc khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty Mỹ tiếp cận và cạnh tranh với các công ty nước ngoài ở thị trường to lớn này.

                          Như vậy, có thể thấy cho tới cuối thế kỷ 19, các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau đã triển khai được một bước quan trọng trong chiến lược toàn cầu: khẳng định châu Mỹ là khu vực ảnh hưởng riêng, là “chợ sân nhà” của Mỹ mà các cường quốc Âu-Á không có quyền dòm ngó, đồng thời đã bắt đầu vươn vòi “bạch tuộc” tới Đông Á-Thái Bình Dương, xác lập quyền tự do thương mại ở khu vực quan trọng này.

                          Với Chính sách kinh tế mới “New Deal” của Tổng thống F.D. Roosevelt (sự thật là W A Harriman) kéo dài trong 8 năm (1933-1941) nền kinh tế Mỹ đã có một bước phát triển mới cả về mô hình và cơ cấu. Trong những năm cuối của thế chiến thứ hai, cùng với việc tranh giành khu vực ảnh hưởng, Mỹ đã nỗ lực thiết lập luật chơi mới trên thương trường quốc tế thông qua việc xây dựng hệ thống Bretton Woods, IMF và WB vào năm 1944 – một năm trước khi kết thúc chiến tranh. Điều này có ý nghĩa quan trọng cả trên hai phương diện lý thuyết kinh tế và chính trị đối ngoại bằng thiết kế gia George Kennan, cột trụ như quân sư của Harriman.

                          Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 cho thấy rõ hơn những khuyết tật của mô hình kinh tế thị trường tự do, cần có những điều chỉnh trong lĩnh vực quản lý qui mô cả ở tầm quốc gia và quốc tế. Trong khi cả thế giới và đặc biệt là châu Âu bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc và khi mà lãnh đạo các nước lớn chỉ tập trung vào đàm phán kết thúc chiến tranh và phân chia khu vực ảnh hưởng, thì Mỹ không chỉ tranh thủ làm giàu bằng buôn bán vũ khí mà còn nhanh chóng đổi mới quan-điểm kinh tế đối ngoại và xúc tiến khai triển các hoạt động xây dựng các thể chế kinh tế tài chính quốc tế. Thuyết thể chế đã có ảnh hưởng mạnh hơn cả trên hai phương diện kinh tế và chính trị; Cùng với cạnh tranh tự do, A-Harriman hoạch định chiến lược của Mỹ cũng đã sớm nhận thấy và tận dụng thời cơ dùng các thể chế kinh tế, tài chính quốc tế nhằm tối đa hoá lợi ích và mở rộng ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới.

                          Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh mà A-Harriman là kiến trúc sư, Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự, đặc biệt là vũ khí nguyên tử và chạy đua vũ trang, thiết lập các liên minh chính trị-quân sự như NATO, hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ và gây các cuộc chiến tranh cục bộ v.v. để thực hiện mục tiêu bá chủ thế giới. Đó là một phương diện quan trọng, nhưng chưa phải là tất cả; Bên cạnh chủ nghĩa hiện thực chính trị, chủ nghĩa tự do và thuyết thể chế với các mức độ khác nhau cũng có ảnh hưởng lớn tới quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ và qua triển khai trên thực tế vẫn thấy hiển hiện sợi dây hợp lý vì lợi ích kinh tế của Mỹ ở các châu lục.

                          Sự phát triển kinh tế Mỹ phụ thuộc một phần hết sức quan trọng vào việc mở rộng thị trường, thương mại và đầu tư quốc tế; Chính vì vậy mà trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ không chỉ chú ý tới cuộc đọ sức với Liên Xô mà sự thật cùng Liên Xô thống lãnh thế giới bằng tượng trưng cây AK và M.16, trong khi LX phải chịu lép vế ở hạng đàn em bé nhỏ của Mỹ từ khởi nguyên Aid to Russia 1941-1946 Plan, renewed, reactivated nên ngày hôm nay Việt Nam mới có đủ vũ khí tối tân hơn TQ để bảo vệ công ty dầu hoả Exxon Mobile của Mỹ và bắn đạn thật không cho giàn khoan tối tân của TQ vào neo trong vùng kinh tế 200 hải lý của VN. Còn triển khai nhiều chính sách kinh tế đối ngoại có hiệu quả thiết thực; Ở châu Âu, cùng với việc thành lập NATO (1949) để kiềm chế chủ nghĩa cộng sản, Harriman còn triển khai kế hoạch Mashall nhằm tái thiết Tây Âu, thiết lập Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ GATT, Mỹ lôi kéo và ép buộc các nước khác, đặc biệt là các nước tư bản phát triển ở Tây Âu và Nhật Bản hạ thấp hàng rào thuế quan, chấp nhận các luật chơi chung về tự do hoá thương mại và dịch vụ.

                          Đầu những năm 70, Tây Âu và Nhật Bản trở thành hai cường quốc kinh tế thế giới và có thể cạnh tranh được với Mỹ. Nhưng con số hơn 70% lợi nhuận Mỹ thu được từ Tây Âu cũng cho thấy lợi ích kinh tế mà Mỹ thu được to lớn như thế nào trong quan hệ với Tây Âu. NATO không đơn thuần chỉ là phương tiện “ngăn chặn cộng sản”, mà còn là công cụ quan trọng bảo đảm cho sự dính líu lâu dài cũng như an ninh kinh tế của Mỹ ở châu Âu. Có một khía cạnh đáng lưu ý nữa là, với sự hậu thuẫn quan trọng của Mỹ, các nước Tây Âu trong khối NATO đã nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế mạnh mẽ, đặc biệt là Cộng hoà Liên bang Đức. Trong khi đó thì các nước XHCN trong khối Warsava trong đó có Cộng hoà dân chủ Đức, lúc đầu cũng duy trì được sự phát triển nhất định, nhưng sau đó lâm dần vào khủng hoảng kinh tế-xã hội ngày càng trầm trọng. Chính vì vậy mà lợi thế cạnh tranh kinh tế đã nghiêng dần về phe TBCN do Mỹ hậu thuẫn. Như vậy, với chiến lược hai gọng kìm cả chính trị lẩn quân sự và kinh tế, Mỹ đã từng bước xác lập được vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng chi phối ở Tây Âu, hình thành khung quan hệ chiến lược châu Âu-Đại Tây Dương trong quan hệ giữa các nước tư bản Âu-Mỹ.

                          Còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, song song với việc thiết lập các liên minh quân sự song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine, Australia, Mỹ còn tăng cường các quan hệ kinh tế-thương mại với các nước khác và tạo điều kiện thuận lợi cho một số nền kinh tế khu vực đặc biệt là Hàn Quốc cất cánh trở thành “hổ” và “rồng”. Việc Mỹ chủ động cải thiện quan hệ với Trung Quốc vào đầu những năm 70 không chỉ nhằm vào mục tiêu địa-chính trị – thiết lập Tam Quốc Chí tân thời mà Mỹ có quyền chọn bạn một thời gian rồi biến thành thù cho America First. Đó là nguyên lý Mỹ triển khai chiến lược mở cửa thị trường to lớn tới Trung Quốc trong thời gian qua.

                          Ngay từ thời Tổng thống Lincoln, Bộ trưởng Ngoai giao Mỹ đã khẳng định khu vực châu Á – Thái Bình Dương là “món quà tặng” của tự nhiên cho nước Mỹ, đặc biệt Việt Nam thống nhứt sẽ là con Ó-Con Bald Eagle “cầu tự” của Mỹ để chận bàn chưn khổng lồ Trung Quốc tiến về phía nam . Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, tổng kim ngạch buôn bán của Mỹ với khu vực này đã vượt so với Tây Âu. Với sự hậu thuẫn của Mỹ, năm 1989 APEC được thành lập; Quan hệ kinh tế-thương mại của Mỹ với khu vực cũng đã được thể chế hoá một bước quan trọng và đang tiến bước vào khối thị trường TPP mà Mỹ có trách nhiệm phải baby-sister cho đứa con cầu tự VN đang chập chửng trên con được học hỏi làm ăn.

                          Từ một phương diện khác, sau cuộc khủng hoảng dầu lửa 1972-1973, năm 1975, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Mỹ, Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G.7) ra đời nhằm phối hợp chính sách thương mại, tài chính, đầu tư để đối phó với những bất trắc kinh tế có thể xảy ra trên toàn cầu. Mặt khác, đây còn là thể chế quan trọng để Mỹ có thêm cơ hội thuyết phục, dàn xếp và giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn với các đồng minh trong sân chơi cạnh tranh kinh tế quốc tế.

                          Như vậy, có thể thấy, ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, trong chiến lược đối ngoại, với các mức độ và ưu tiên khác nhau, Mỹ luôn phối hợp và triển khai song song cả hai chiến lược có mối quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau là chính trị-an ninh và kinh tế đối ngoại. Đồng thời, chiến lược kinh tế đối ngoại được hoặch định và triển khai trong mối quan hệ chặt chẽ với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với những đòi hỏi mới của sự phát triển lực lượng sản xuất dưới động lực của biến hoá khoa học-kỹ thuật.

                          Chính sách kinh tế của Tổng thống Reagan (Reaganomics, nhưng sự thật của Bonesmen/Bushes) trong những năm 80 đã tạo dựng cơ sơ hạ tầng thông tin cần thiết cho kinh tế Mỹ nắm bắt kịp những cơ hội mới do xu thế toàn cầu hoá đưa lại và nhanh chóng cất cánh vào thập kỷ sau đó.

                          Sau khi Liên Xô tan rã, cùng với việc điều chỉnh chiến lược đối ngoại, Mỹ cũng nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng những lợi thế so sánh tối ưu trong bối cảnh cách mạng tin học và toàn cầu hoá. Cựu Tổng thống Mỹ B. Clinton đã từng tuyên bố “tập trung vào kinh tế như một tia laser” và cho tới đầu năm 2000, nền kinh tế Mỹ đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kéo dài hiếm có do đảng Cộng Hoà (Bushes) làm cho Dân Chủ (Bill Clinton) hưởng.

                          Trên bình diện toàn cầu, cùng với việc triển khai chiến lược an ninh theo mô hình “đại bàng” với đầu là Bắc Mỹ và hai cánh là châu Âu-Đại Tây Dương (mở rộng NATO) + châu Á-Thái Bình Dương (củng cố hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ) Mỹ đã xúc tiến thiết lập một thể chế thương mại toàn cầu thông qua quá trình thúc đẩy chuyển hoá GATT thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào đầu năm 1995 nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới về tự do hoá thương mại và đầu tư của xu thế toàn cầu hoá. Đây là một thành công kinh tế đối ngoại của Mỹ theo hướng thể chế hoá quá trình cạnh tranh kinh tế toàn cầu bằng việc xác lập những qui tắc và luật chơi chung có lợi cho Mỹ trong khi Mỹ đang ghé mắt vào VN bằng thiết lập bang giao (1995) với thiện ý sẽ nâng đở vào WTO

                          Vai trò và ảnh hưởng của Mỹ trong WTO rất lớn; (cho VN vào gạt LX ra cho thấy rỏ VN là đứa con cầu tự và chuyện gia nhập vào TPP chỉ là thời gian) Các nước còn lại, dù có là nước lớn, nếu muốn trở thành thành viên của tổ chức này đều phải tranh thủ sự hậu thuẫn và “gật đầu” của ông Bầu Mỹ. Trung Quốc cũng đã phải có một số nhân nhượng với Mỹ, đặc biệt là trong vụ sứ quán Trung Quốc ở Belgrade (Nam Tư) bị ném bom khi Mỹ tiến hành không kích Cosovo năm 1999 để tranh thủ sự hậu thuẫn của Mỹ đối với việc gia nhập WTO. Trong sân chơi kinh tế mới này, với thế mạnh về kinh tế-tài chính, Mỹ và một số nước phát triển khác đóng vai trò chủ đạo, nhưng trong cấu trúc phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích, các nước đang phát triển cũng có vai trò nhất định. Tại Hội nghị WTO vừa rồi các nước phát triển đã phải nhượng bộ các nước đang phát triển về vấn đề hàng nông sản là do Mỹ làm thủ phạm cho việc thiện.

                          Còn trên bình diện khu vực, trong hai nhiệm kỳ cầm quyền, chính quyền Bonesman B. Clinton cũng đã có những quyết sách phù hợp khi triển khai chiến lược đối ngoại để tối đa hoá lợi ích kinh tế của Mỹ. Nắm vững xu thế khu vực hoá và cũng để tập hợp lực lượng nhằm cạnh tranh với các tổ chức kinh tế khu vực khác, đặc biệt là với khối kinh tế Tây Âu mà sau này là Liên minh châu Âu (EU), năm 1992, Mỹ đã cùng với một số nước khác thành lập khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Tới tháng 12 năm 1994, 34 nhà lãnh đạo của các quốc gia châu Mỹ từ Canada đến Chilê (trừ Cuba) đã có cuộc họp thượng đỉnh tại Miami và cùng nhất trí với Tổng thống Mỹ B. Clinton về dự án hoàn thành Khu vực thương mại tự do châu Mỹ (FTAA) trước năm 2005.

                          Ở châu Âu, Mỹ thực hiện chiến lược hàng đôi gắn chính trị-an ninh vào kinh tế-thương mại. Biên giới NATO mở rộng tới đâu thì sân chơi kinh tế của Mỹ cũng mở rộng tới đó; Ngay cả cuộc chiến Cosovo do Mỹ chỉ đạo năm 1999 cũng có mục tiêu kinh tế chứ không phải đơn thuần là một cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực với Nga ở bán đảo Balcan. Mỹ muốn cản trở đồng EURO sắp lưu hành và dọn đường để tiếp cận vào khu vực Trung Á có nhiều dầu lửa, luôn luôn Mỹ giữ đồng dollar là giá trị căn bản cho tiền tệ

                          Vào những năm gần đây, đặc biệt là sau Hội nghị Seattle và sau sự kiện 911, Mỹ đã đẩy mạnh việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương với các nước khác nhau; Trong Chiến lược An ninh quốc gia được công bố ngày 30/9 2002, Thái-tử George.W. Bush đã nhấn mạnh cách tiếp cận ba cấp độ về tự do hoá thương mại mang tính cạnh tranh: “Hoa kỳ sẽ hợp tác với từng quốc gia, từng khu vực và cộng đồng thương mại toàn cầu nhằm xây dựng một thế giới tự do thương mại”.

                          Việc Mỹ lựa chọn đối tác để đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương xuất phát từ ba mục tiêu có liên quan với nhau phản ánh mối quan hệ tương tác qua lại giữa kinh tế với chính trị quốc tế: cạnh tranh kinh tế khu vực, tập hợp lực lượng và xác lập vai trò lãnh đạo trong đàm phán WTO. Chẳng hạn, Mỹ đã ưu tiên ký FTA với Australia vì nước này vừa là nước đứng đầu Tổ chức các nước xuất khẩu thuần tuý các sản phẩm nông nghiệp, lại vừa là nước rất tích cực ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố và cuộc chiến ở Iraq. Ký FTA với Australia tạo thêm thuận lợi cho Mỹ trong các cuộc đàm phán về nông nghiệp ở WTO và tăng cường hợp tác chống khủng bố, hỗ trợ cho an ninh của Mỹ.

                          Tháng 5/2003, Mỹ đã ký FTA với Singapore – đối tác đầu tiên ở Đông Á; Đây cũng không phải là hành động ngẫu nhiên; Nó được tính toán phù hợp với nhu cầu và lợi ích của Mỹ cả về chính trị-an ninh và kinh tế. Nước này đã nhiệt thành ủng hộ Mỹ trở lại Đông Nam Á sau các sự kiện Subic và Clark (1992 CIA xúi dân Phi biểu tình đòi đất và 1975 Tổng thống VNCH đuổi Mỹ được gọi là “Di tản chiến lược” để save money Base-maintenance và sẽ “roll-back” vào đầu thế kĩ 21) có chung quan điểm về tiêu chuẩn môi trường và lao động, hơn nữa lại có ngành dịch vụ tiền tệ rất phát triển. Lôi kéo được Singapore, Mỹ sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để tiếp tục mở rộng cửa vào thị trường ASEAN, tăng sức cạnh tranh với cả Trung Quốc và Nhật Bản.

                          Mỹ đã chọn Chilê là nước đầu tiên ở Nam Mỹ để ký FTA không chỉ vì nước này là một trong những nền kinh tế mạnh nhất Nam Mỹ, sẽ hậu thuẫn tích cực cho Mỹ thúc đẩy khu vực thương mại tự do châu Mỹ, mà còn vì Chilê đã từng có quan hệ gắn bó với Mỹ và hơn nữa, nước này đã ký hiệp định thương mại tự do với Canada và một số nước khác. Ở châu Phi, Mỹ đã chọn Maroc để ký FTA là muốn tạo dựng lên một tấm gương tín đồ Hồi giáo thân thiện với Mỹ, đồng thời tạo thế đứng vững chắc hơn để mở rộng ảnh hưởng ở châu Phi nơi cũng có nguồn dầu lửa dồi dào. Đó cũng là lý do lần đầu tiên nước Mỹ có TT Da màu.

                          (còn tiếp)

                          Comment

                          • vinhtruong
                            Super Member
                            • Jun 2010
                            • 1924

                            #58
                            Bài thứ 8 thời sự thế giới

                            (Tại sao tôi có tư tưởng nhận định thời cuộckhá chính xác để viết bài “Siêu Chiến Lược Eurasia 1920-2020” trúng 94% vì như mọi việc xảy ra như tôi đã trình bày qua bài viết (các bạn xem lại trên góc trái ngày và giờ) để phối kiểm thì thấy ngay tại sao bài “TT Dũng tự ý xuống chỉ trúng 80% còn bài nầy trúng 94% theo như chuyện thời sự đang diển tiến tiếp nối ra “đáp-số” TRƯỚC về chuyến thăm 4 nước Á Châu của TT Obama hiện nay)

                            ****

                            (http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...
                            Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan)
                            _______

                            Gió Biển Đông phải xoay chiều
                            Vì đã đến thời điểm decent interval “roll-back” 2010, nên gần đây trên mạng, vài blogger tự do đưa ra nhận định lạc quan về tình hình trong nước, cho rằng đảng Cộng sản (mà từ lâu tôi cho rằng “Tư bản đỏ” hay Skull & Bones/VN) cầm quyền đang điều chỉnh đường lối chính sách đối ngoại, từ chỗ ngả về phía Trung Quốc, phụ thuộc Trung Quốc, chuyển sang thân Hoa Kỳ và phương Tây vào thời điểm Hoa Kỳ (giữa giai-đoạn “roll-back” là 2015, vì đã đến thời điểm decent interval) theo như “huấn thị điều hành” trong cẫm nang secrets of the Tomb: Và đặc biệt chú trọng sức mạnh nuôi sống nhân loại về lúa gạo đã chiếm 20% trên thế giới mà Bonesman Kerry khi bước chân trên mảnh đất VN đã quan sát cảnh sự nguy hại về biến đổi khí hậu (ý cảnh báo TQ trước khi ra nói chuyện với Hà Nội 16/12/2013).
                            Trên mạng Thế Giới Mới, nhiều bài viết về kinh tế toàn cầu, mang tít lớn VN đã khôn ngoan xoay chiều: “Cao trào thân Âu - Mỹ lan rộng trong đảng Cộng sản VN”, đưa ra nhận định “gió đã xoay chiều, vận nước đã xoay chiều…” Nhưng những điều trên đây đều đi đúng bon trên trục lộ trình Eurasia-1 vào thời điểm “decent interval 2010” cho tới nay theo từng bước của mỗi mốc thời gian
                            Bài viết nhấn mạnh đến sự thay đổi trong hàng ngũ quan chức ngoại giao của Hà Nội, gồm các đại sứ, tham tán, bí thư được đào tạo ở phương Tây, nói thạo tiếng Anh, phong cách linh hoạt kiểu Tây phương, kể cả ngoại trưởng mới Phạm Bình Minh (được CIA trồng người với cặp bài trùng tướng Nguyễn Chí Vịnh khá bí mật khó ai phát hiện mà tôi cho rằng Secret Society phải tung hỏa mù Vịnh là điệp-viên phe thân TQ), con cựu Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người có tư tưởng ngoại giao phóng khoáng, am hiểu thời đại, từng cảnh báo tai họa Bắc thuộc. Người con đang đi theo gót cha mình chăng? Đây là kế hoạch CIA trồng người từ lúc Nguyễn Chí Vịnh mới 11 tuổi mà Harriman có lời khuyên Lê Đức Thọ nên nhận đứa con của đại tướng BV làm nghĩa tử giữa cuộc hội đàm bí mật, mặt giáp mặt giữa Harriman/Thọ 1968. (Lê Đức Thọ bị blackmail vì tham vọng nắm tổng tư lịnh toàn quyền, nên giết tướng Nguyễn Chí Thanh để đưa người em ruột của Sáu-Búa Thọ trong coi đường 559.
                            Một số blogger khác cho rằng việc ông Trương Tấn Sang đi Ấn Độ và Philippines là để cân bằng với Trung Quốc, chứng tỏ Việt Nam không còn phụ thuộc Bắc Kinh như trước đây, (cho thấy TBT đảng đã ra rìa rồi), đang cố duy trì vị trí đứng giữa, thăng bằng giữa các nước, một tư thế độc lập rất đáng hoan nghênh do CIA ngầm cố vấn, sau một thời gian dài Nguyễn Chí Vịnh tạo cơ hội cho TQ trúng thầu, các ĐVCS thân TQ tham nhũng nổi lên để bứng gốc, giờ nầy chỉ còn thân Mỹ và LX tượng trưng Sang, Dũng. Vịnh, (nhưng tướng Vịnh chính là người cầm càng) trục tam đầu chế lập lại y-chang tam đầu chế, Lê Đức-Thọ, Lê Duẩn, Mai Chí Thọ năm 1959 (Sáu Búa Thọ mới là người cầm càng).
                            Secret Society đẩy đưa cho thế giới biết đâu là sự thật? Thoạt tiên, Việt Nam đã trở về tư thế độc lập, không ngả về phía nào một thời gian, về nước nào, ở vị trí thăng bằng giữa các nước ư? “Thấy zậy mà không phải zậy!” Việt Nam đã chuyển từ thân Trung Quốc sang thân Âu - Mỹ ư? Thế thì càng tốt hơn nữa ... Theo nghĩa thân Trung Quốc là thân Trung Quốc bành trướng kiểu Đại Hán, và thân Âu - Mỹ là thân những giá trị tự do, dân chủ đa nguyên đa đảng trên cơ sở bầu cử thật sự tự do và định kỳ theo diễn tiến đã có trong lộ đồ từng bước của “Eurasia-1 Great Game”

                            Nhưng…tôi thiển nghĩ, chưa phải như vậy. Cần tỉnh táo thận trọng trong nhận định. Theo lý luận Mác-Lê-nin, theo phép biện chứng mác-xít, những nhà lãnh đạo (CS Việt Nam?) luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Chiến lược hay đường lối chiến lược là để áp dụng cho một giai đoạn dài, cần kiên định vững vàng, không thay đổi, không dao động về những mục tiêu chiến lược, những mục tiêu giai đoạn.
                            Chiến thuật là sách lược, thủ thuật, sáng kiến, mưu mẹo cụ thể, đoản kỳ, phục vụ cho chiến lược, rất linh hoạt, uyển chuyển theo từng thời điểm đã có trong huấn thị điều hành từ Ngôi Mộ Huyền Bí (secrets of the Tomb).
                            Thường chiến lược và chiến thuật ăn khớp với nhau, thuận chiều nhau, cũng có khi có vẻ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng chỉ là về suy luận theo diển biến hình thức, còn về thực chất là vẫn khớp nhau, vẫn phục vụ cho mục tiêu chiến lược, như “Di Tản Chiến Lược Về Hawaii”. Nhiều khi như vậy lại là cao mưu, kín kẽ, lừa được đối phương và người nhẹ dạ nhưng tham lam dầu khí như Trung Quốc mới tự chế kiểu ra “Đường Lưởi Bò” để bao thầu dầu-khí gần và tiện trước miệng mình. Đó là cứng trong chiến lược, mềm trong chiến thuật, là “dây lạt Tre Nứa mềm buộc chặt hơn”
                            Hiện nay nhóm lãnh đạo qua Đại hội XI ngoài mặt vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên trì chủ nghĩa xã hội (mác-xít), kiên trì chế độ một đảng (độc quyền đảng trị do ám lịnh Skull & Bones 322 conspiracy), kiên trì kinh tế quốc doanh là chủ đạo (do đó mà trong 10 tháng qua đã bóp chết 5 vạn xí nghệp tư nhân vừa và nhỏ, đồng thời làm cho các tập đoàn quốc doanh thêm hư đốn vì được quá nuông chiều mà thủ phạm là công cụ Nguyễn Tấn Dũng đở đầu cho TĐNH Nguyễn Văn Bình tráo trở điều hành để gom góp dollar deposit trước cho account TPP). Tập đoàn quốc doanh ngoan cố giữ vững 4 kiên trì hủ lậu, nguy hiểm, mặc cho hàng trăm trí thức cộng sản có trình độ cao nhất bác bỏ bằng lý lẽ chặt chẽ. CIA đưa họ vào một thế phải chọn lựa giữa chén cơm và chén đất sét
                            Trong đường lối đối ngoại từ cuối 1991 sau sự kiện Hỏa Mù Thành Đô, họ theo con đường “Bắc thuộc” (danh từ của công cụ Nguyễn Cơ Thạch) để tồn tại và kiếm lợi cho phe nhóm. Bọn bành trướng Đại Hán rất thâm, rất ác, tìm mọi cách buộc dây lạt Tre Nứa ngày càng chặt, nhóm lãnh đạo vào cỗ xe của chúng, từ mua chuộc tinh vi đến khống chế, đe dọa, làm nhục không thương tiếc, càng nhục càng bám chặt để khỏi đổ dưới con mắt theo dỏi kè sát của CIA (nguyễn Chí Vịnh, Nguyễn Văn Hưởng).
                            Gần đây, nhóm lãnh đạo hám lợi gặp tai nạn lớn, ở trong tình trạng trên đe dưới búa là do tài của Nguyễn Chí Vịnh ban bố cho họ dễ dàng “tham nhủng” để chuẩn bị vào án tử hình hay chung thân. Cái Đe là thế phụ thuộc bọn bành trướng thâm độc, Búa là lòng yêu nước truyền thống căm giận kẻ “hèn với giặc, ác với dân” trong kế thâm độc của CIA khá hơn TQ trên đầu trên cổ các nạn nhân đang hí-hửng nầy.
                            Rồi họ ngày càng lo, Đe thì rất cứng, mà Búa thì rất nặng tay. Họ tìm cách thoát hiểm thì có người lặng lẻ đến nhà cho biết con đường tốt nhứt để sau nầy giữ được tài sản và nếu cần qua Mỹ hưởng an nhàn có bảo đảm cấp Visa thì biết khôn hồn phải nghe răn rắc theo tướng tình báo giỏi nhứt VN mà được CIA chọn rất kỷ Nguyễn văn Hưởng (đừng nghĩ Hưởng về hưu là xong không còn quyền, Hưởng đã từng áp giải Nguyễn Tấn Dũng qua Bắc Kinh để được Tập Cận Bình sức dầu thêm sức mạnh cũng cố chiếc ghế quyền lực. Nói tóm lại Putin hay Bình đều phải nghe lời Mỹ thì mới được bảo vệ cái ghế quyền lực, vì đơng giản nhờ Mỹ nhúng tay đưa họ lên
                            Xin nhớ giải pháp của 16 cái đầu trong Bộ Chính trị hiện nay là giải pháp tình thế, là biện pháp đối phó, là biện pháp chiến thuật, kéo dài hiện trạng để thủ lợi. Chẳng qua kiên trì, ù lỳ, lỳ lợm về chiến lược là đợi lịnh của Secret Society, hay nói cách khác là phải theo những chỉ dẩn từng bước check list của Kerry đã khán ngày 16/12/2013 tại Hà Nội cho các chóp bu Skull & Bones/VN chờ khi bà phụ tá Kerry Wendy Sherman qua là bấm nút cho máy chạy dây chuyền cho ra các sản phẫm: Nhân quyền, Xã hội nhân sự, Guồng máy cai trị thế hệ trẻ Fulbright, Quốc hội chớ không phải đảng hội, phục hồi bảo đãm quyền lợi công nhân đúng nội quy TPP, và quan trọng nhứt là rút lại tiền ăn cắp, ăn chận, ăn cướp qua tham nhủng trả lại cho ngân quỷ quốc gia.
                            Do đó mới có những động thái hơi lạ, khác trước - ông Sang đi Ấn Độ, rồi Philippines, mời công ty Ấn vào vùng biển Đông khoan dầu; bộ trưởng quốc phòng đi Nhật Bản. Họ còn thỉnh thoảng lên tiếng đòi họp đa phương, tuyên bố tăng cường quan hệ chiến lược, kể cả chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh với Hoa Kỳ và vài nước phương Tây…trong tương VN lại sẽ nhận vũ khí từ Nhựt sản xuất. Vũ khí Nhựt Bản sản xuất hơn Trung Quốc là cái chắc vì có khoa học kỹ thuật Mỹ hoàn toàn giúp đở như Mỹ đã giúp Ấn Độ sản xuất và hạ thủy chiến HKMH, Vikrant cho Trung Quốc lé mắt chơi, còn VN sẽ sản xuất phi cơ không người lái
                            Trong khi đó họ càng xử nhũn, mềm mỏng, khéo léo với Bắc Kinh, chịu nhục cả khi bị báo chí chính thống Bắc Kinh gọi là “đàn ruồi”, “đàn gà nuốt dây thung” và “bầy chó dại” theo phương thức khổ nhục kế như Mỹ đã làm khi hy sinh gần 60.000 lính Mỹ như món tiền deposit khai thác dầu hoả sau nầy … Đó xem như con Ó-mẹ đã đẻ trứng nơi này chả lẻ nở ra Le-Le, Vịt Trời??? Phải nở ra Baby Bald Eagle chứ?
                            Xu thế kết thân với Âu-Mỹ có thể là của một bộ phận không nhỏ đảng viên Skull & Bones/VN, nhất là đảng viên trí thức, đảng viên cao tuổi đã về hưu, đảng viên trẻ và đoàn viên cộng sản có lòng yêu nước, thương dân, nhưng quyết không phải là xu thế của Ban Chấp hành Trung ương mới được bầu trong Đại hội XI, càng không phải là xu thế chân thực của nhóm lãnh đạo 16 ủy viên Bộ Chính trị đang toàn quyền lãnh đạo đảng và đất nước, mà là gương mặt trẻ mới của Nhóm Fulbright do Mỹ đào tạo bài bản sẽ hiện ra giúp nước
                            Đảng Cộng sản luôn chú trọng duy trì cái gọi là đoàn kết thống nhất trong đảng, nhất là trong cơ quan lãnh đạo, trong Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là trong Bộ Chính trị. Đã thành nếp, khi trong cơ quan lãnh đạo có ai có ý kiến tỏ ra đi chệch khỏi đường lối chiến lược chung là lập tức người đó bị cô lập và loại bỏ ngay, chuyện nầy xưa rồi. Không một ai có ý kiến trái ngược về đường lối chiến lược có thể tồn tại trong cơ quan lãnh đạo. Đó là quy luật thép. Đó là trường hợp Trần Xuân Bách, sau đó là trường hợp Nguyễn Cơ Thạch. Trường hợp từ chối chức bộ trưởng ngoại giao của ông Trần Quang Cơ cũng là do lý do như thế. Ông Cơ hiểu rằng khi đã nhận chức ông sẽ buộc phải theo con đường Bắc thuộc, một điều trái với lẽ phải và lương tâm, dù cho lợi lộc cá nhân rất lớn. Ông Cơ là một nhân cách hiếm có.
                            Còn ông Phạm Bình Minh, bộ trưởng ngoại giao hiện tại, nhiều người hy vọng ông sẽ theo gót người cha, theo tục ngữ “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”, tôi nghĩ nếu được vậy thì còn gì hơn nữa, nhưng có một điều dễ hiểu tại sao các chóp bu của hai miền đều là thành viên đắc lực cho CIA nếu được họ móc nối?
                            Nhưng…không nên hy vọng dễ dãi để vỡ mộng. Ông Phạm Bình Minh mới được đưa từ ủy viên trung ương dự khuyết lên ủy viên chính thức, chưa có chân trong Bộ Chính trị. Nhưng đó là y kiến đanh thép của CIA không muốn 2 ông Minh Vịnh bị lộ diện ngồi ghế BCT để làm gì, vì VN không phải “thực chất”là cộng sản trong ống kính của Secret Society! Dù ông Minh cũng sẽ phải phó thủ tướng như các bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm. Bộ ngoại giao là một trọng điểm kiểm tra theo dõi của Tổng cục An ninh và Ban bảo vệ Đảng, nhưng CIA đả nằm sẳn ở đây từ lâu rồi ngầm qua cánh tay nối dài Nguyễn Chí Vịnh. Ở các sứ quán, bí thư đảng ủy thường là người của Tổng cục An ninh, có uy quyền hơn cả viên đại sứ về mọi mặt. Dùng ông Phạm Bình Minh là một thủ đoạn chiến thuật. Xin hãy nghe ông ta biện bạch một cách phi lý, nói lấy được, kiểu lưỡi gỗ về tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam thì đủ hiểu con người. Bên cạnh ngạn ngữ “con nhà tông… ”, cũng có ngạn ngữ “cha dựng cơ đồ, cha tạo danh thơm, con cho mồi lửa”, nhưng đây là trò hỏa mù do CIA dựng lên, mọi việc đều do CIA lèo lái cho từng giai đoạn khá phức tạp và khó ai mà phát hiện. Ngày xưa Lê Đức Thọ có chiếc đủa thần biến hóa mọi việc, ngày nay tướng Nguyễn Văn Hưởng rồi Nguyễn Chí Vịnh biến hóa mọi chuyện.
                            Vậy thì khi nào thì Gió có thể xoay chiều? khi nào có thể có Cao trào thân Âu-Mỹ? kể từ lúc Bonesman Kerry bước chân xuống VN không phải là trung úy phản chiến mà BTNG, như mong muốn của luật sư Hà Vũ, người cho rằng liên minh quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại? Dĩ vảng thì khó, khó lắm. Lãnh đạo đã bỏ qua dịp Đại hội XI, khi đã có cả một xu thế trong đảng cất tiếng mạnh mẽ. Nhưng dân gian có câu châm ngôn: điều phải củ cải cũng phải nghe kể từ lúc Kerry bước chân xuống Hà Nột với vai chính BTNG thì mọi việc quây đầu 180 độ.
                            Hãy nghe vang lên khắp nơi từ trong nước tiếng nói của gíớí trí thức thật sự là kẻ sĩ thời đại, của những đảng viên lão thành có tâm huyết và tài năng, từ những văn nghệ sĩ lấy sáng tạo làm lẽ sống, các nhà kinh tế am hiểu thời đại đang được CIA bảo VN hảy để cho họ ra nước ngoài để giải bài sự việc. Tôi chỉ xin kể qua một số tên tiêu biểu (không theo thứ tự nhất định nào) như Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, Lê Hồng Hà, Nguyễn Văn An, Trần Quốc Thuận, Nguyễn Nam Khánh, Lê Văn Cương, Nguyễn Tài, Nguyễn Xuân Mậu, Huỳnh Đắc Hương, Tô Thuận, Trần Phương, Vũ Khoan, Lê Hữu Đằng, Trần Trọng Tân, Võ Thị Thắng, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Đình Hương, Nguyễn Trung, Việt Phương, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Huệ Chi, Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Đào Công Tiến, Phan Văn Tiệm, Đào Xuân Sâm, Hoàng Tụy, Ngô Bảo Châu…
                            Tất cả đều kêu gọi, với lập luận vững chắc, là phải từ bỏ (mà không cần nguyền rủa) chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ bỏ chế độ độc quyền đảng trị, chế độ “vua tập thể”, chế độ độc quyền kinh tế của các tập đoàn quốc doanh, thực hiện cải cách đổi mới đợt sau cùng nầy, thay đổi cả hệ thống chính trị và kinh tế, thực hiện một cuộc “canh tân đất nước”, lựa chọn nhân tài đúng nghĩa ra cầm quyền, đồng thời tiến hành một cuộc vận động văn hóa và giáo dục sâu rộng, vực dậy lương tâm xã hội, nghĩa tình dân tộc, tính cương trực, lòng hảo tâm. Tất cả đang từng bước thi hành theo check list Kerry để lại
                            Các nhân vật sáng suốt trên đây có thể họp lại thành một “think-tank”, túi khôn dân tộc, một hội đồng cố vấn đặc biệt, một nguồn kiến giải và cảm hứng cho bộ máy lãnh đạo biết lắng nghe. Vì đã đến thời điễm gấp rút thực thi vì thời gian không còn cho phép tà tà như xưa nữa với con người Kerry mang bản chất đầy kinh dị khi cần giải quyết tuy quái dị nhưng rất ngoạn mục, khoa học như việc thả tù chính trị mà chúng ta mục kích khá ngạc nhiện; Người tưởng thả như linh mục Nguyễn Văn Lý, Điều Cày thì chưa phải lúc, mà phương Uyên thả, Kha nhốt, 3 Saigon thả Điều Cày chờ …
                            Nếu không có những biện pháp trong đòn phép truyền thông thông tin (mass-media) của Bonesman Kerry để làm đòn bẩy bứng thoát khỏi bế tắc hiện nay, do tình hình có nguy cơ bùng nổ vì nhân dân lương thiện không thể chịu đựng them nữa, bọn tham nhũng mafia xả hội đen do tướng Hưởng mướn cho giai đoạn “gây xáo trộn sẽ lộng hành, đảng Cộng sản càng tha hóa, đất nước chìm đắm trong hỗn loạn, tang thương, đánh đập dân … Kerry muốn cho cái lò-xo nhận xuống càng sâu thì bung lên càng mạnh nhưng chỉ trải qua thời gian ngắn nhứt định nào đó.
                            Đất nước thật sự lâm nguy. Chỉ có một “kịch bản khả dĩ”, là trong bộ máy lãnh đạo, trong Bộ Chính trị, có một người hay một nhóm người có quyền uy, được lương tâm và trí tuệ mách bảo, thức tỉnh, hiểu rõ tình thế thực sự Tổ quốc lâm nguy, quyết tâm cứu nước thật lòng, từ bỏ lợi ích vật chất dù sao đã quá đủ để dốc sức một lòng một dạ cứu dân, để lại tiếng thơm muôn đời. Bạn có biết không chẳng ai xa lạ “tứ trụ” nầy muốn xuống lưng Cọp đói trong an toàn, nhưng Kerry cho rằng còn hơi sớm … cứ bình tỉnh mà run! Kerry sẽ chọn con đường không tắm máu, như đã 2 lần xúi VN đưa phái đoàn qua Vatican cầu khẩn sự can thiệp của ĐGH
                            Đó là cuộc cách mạng ôn hòa mà triệt để, theo kiểu cách Gorbachev, rất độc đáo lại có hiệu quả cao, của một trí thức Nga có tâm lại có tầm là cặp bài trùng Dũng/Sang dù ngoài mặt họ không ưa nhau đứng ra làm việc nầy theo Kerry’s check list
                            Tôi mong rằng trong cơ quan lãnh đạo của cái gọi là đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong Bộ Chính Trị, có người suy ngẫm sâu về khả năng xoay chuyển tình thế của Gorbachev sẽ lập lại.
                            Tôi vốn là con người lạc quan, do tin ở tính bản thiện ở mọi con người. Mỗi con người dù xấu đến đâu cũng có lúc nghĩ lại, cũng có thể có những cơn chợt tỉnh như những biến cố ngoạn mục khó tin mà có thật trong một xã hội được gọi là cộng sản. Xin chớ bao giờ tuyệt vọng sở dĩ lâu như vậy là vì Secret Society (permanent government, siêu chính phủ) không muốn tắm máu mà muốn chuyển tiếp êm-đẹp có các nước trên thế giới hoan nghinh và phù trợ Việt Nam như Miến Điện
                            Các nhà trí thức kẻ sĩ thời đại, những văn nghệ sĩ chân chính sáng tạo, những quân nhân thật sự mang bản chất nhân dân, những anh chị em dân chủ của những ngày Chủ nhật xuống đường… chính các bạn, những Minh Hằng, Kim Tiến, Trần Thị Hường... góp phần tạo nên gió, gió thời đại càng ngày càng mạnh, làm động lực vô địch cho lịch sử nước ta xoay chiều như hiện tại Quốc hội Hoa Kỷ đang tiếp nữ nghệ sĩ Kim Chi nói về nhân quyền ...
                            Hãy tạo nên sức ép mạnh hơn, tạo nên công luận xã hội và xã hội công dân đủ lớn để buộc lãnh đạo phải nâng các biện pháp chiến thuật thành đổi mới chiến lược, đổi mới đường lối đối nội và đối ngoại, trở về với dân tộc và đi với thời đại, mở ra sinh lộ mới bền lâu cho đất nước đúng theo những gì mà Harriman đã ước tính cho thế kỷ 21, để tiếp nối 2020-2120 “Eurasia Great Game-II” Vì mọi việc trên thế giới đều do Mỹ áp đặt lấy một thí dụ nhỏ thôi: Việt Nam vào WTO nhờ ai, tại sao Liên Xô chưa vào được mà VN qua mặt? rồi NQ/LHQ, sẽ gia nhập TPP và sẽ cởi bỏ lịnh cấm vận bán vũ khi sát thương … vân vân và vân vân

                            (còn tiếp)

                            Comment

                            • vinhtruong
                              Super Member
                              • Jun 2010
                              • 1924

                              #59
                              Bài thứ 9 thời sự thế giới

                              (http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...
                              Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan)

                              2015 giải quyết Biển Đông tại LHQ
                              Theo người viết, nó nằm trong lộ-trình Eurasia: Mỹ phải nhào nặn ra các biến cố xung đột đi đến việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) phản đối việc sử dụng vũ lực; ủng hộ các nước có quyền khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình; hoan nghênh các nỗ lực tiến tới hình thành Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

                              “Nói tóm lại, sau 2013, người viết nói ra một câu nghe quen lá nhĩ như: Riêng về Hoàng Sa, Việt Nam cứ làm Chủ, TQ quản lý, và Mỹ lãnh đạo” Đó là mô hình mà Mỹ cố nhào nặn ra nhiều biến cố trong thập niên qua, mà họ gọi là Political Affairs phải có trong lộ trình chính trường, ép Trung Quốc vào khuôn-khổ phải tuân hành luật pháp quốc tế, và đây cũng là lý do tại sao 1949 Permanent Government [Harriman+Bushes] phải dùng nguyên phi đội Civil Air Transport Service của CIA, áp buộc Tưởng Giới Thạch và phe nhóm ra Đảo Formose, Đài Loan định cư, rồi nhường cái ghế LHQ cho Mao Trạch Đông và xóa bỏ miền nam Việt Nam để cho đến ngày hôm nay Trung Quốc không còn chơi luật rừng nữa, và cũng là điều kiện không thể đảo ngược vì TQ không muốn bị cô lập, đó là cái lưới thiên la địa võng mà Mỹ đã chắc ăn khi giăng ra bởi tu chánh án ”Cooper Church” 1970 (di tản chiến lược) Không còn bao lâu nữa độc giả sẽ thấy rõ những lời tiên đoán của người viết vào 2015 là y chang như trên trong trật tự thế giới mới mà Permanent Government gọi là “The New World order Strategy”.

                              Nhìn vào các hoạt động ngoại giao của Mỹ trong thời gian vừa qua, có thể thấy trong thời gian tới, dù ai lên nắm quyền thì cũng phải quan tâm tới ưu tiên chiến lược dầu lửa nó nằm trong “huấn thị điều hành” (SOP = Standard Operation Procedure) của cẩm nang “The Secrets Of The Tomb”. Một mặt để bảo đảm năng lượng cho sự tăng trưởng ổn định và lâu dài của kinh tế Mỹ và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của dân chúng Mỹ. Mặt khác, vũ khí dầu lửa được dùng để khống chế các đối thủ đang và sẽ cạnh tranh kinh tế quyết liệt với Mỹ trong tương lai. Tuy nhiên, thế giới hiện nay đang thay đổi theo hướng mà ngay cả cường quốc mạnh nhất cũng không thể đạt được một số mục tiêu quốc tế căn bản bằng hành động đơn phương. Do đó, sớm muộn thì Mỹ cũng sẽ phải điều chỉnh chính sách cả về chính trị-an ninh và kinh tế đối ngoại cho phù hợp với những chiều hướng và thách thức mới trong đó có hiện tượng đặc biệt là “tư nhân hoá chiến tranh” (có nghĩa những nước cò con tự lo lấy đó là lý do Mỹ khuyến khích Nhựt Bản tự sản xuất vũ khí, và Việt Nam lo sản xuất Drones phi cơ không người lái, hỏa tiển phòng thủ duyên hải …) từ các nước nhỏ trước khi Mỹ thật sự can thiệp, điều nầy lập lại kinh nghiệm từ các thế chiến trước đây mà Mỹ như là sen đầm thế giới.

                              Trong giai đoạn mới nầy, trước đây Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam trong cuộc gặp với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Hawai mới đây. Trong cuộc gặp, Ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước hoan nghênh việc Mỹ tăng cường hợp tác với khu vực vì hòa bình, ổn định và phát triển ở châu Á-Thái Bình Dương; có sự chuẩn bị chu đáo cho Hội nghị cấp cao APEC 2011, đúng theo mưu đồ ước tình của Mỹ, rồi giúp VN vào WTO trước Liên Xô để thể hiện cho thế giới biết VN là “nghĩa tử” của Mỹ, sau đó vận dụng đưa VN vào chiếc ghế Nhân Quyền/LHQ, rồi TPP, bải bỏ lịnh cấm vận bán vũ khí sát thương …

                              Ông Sang, Chủ tịch nước đồng thời bày tỏ tin tưởng Hội nghị sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy hợp tác, liên kết và phục hồi kinh tế trong khu vực, nâng cao vị thế của APEC sơ khởi. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược; (nói là nói thế thôi, chớ VN là “con tin” của Mỹ kể từ ngày chiến thắng ĐBP trên không) xem như sự đóng góp của Ngoại trưởng Clinton đối với sự phát triển quan hệ Việt-Mỹ thời gian qua là đáng khích lệ và trong tương lai sẽ hợp thức hóa toàn diện sau.

                              Chủ tịch nước bày tỏ vui mừng trước sự phát triển sâu rộng của quan hệ hai nước, trên cả bình diện song phương và đa phương, tạo cơ sở quan trọng để đưa quan hệ Việt-Mỹ lên một tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên thế giới. Đó là nói theo ngôn từ ngoại giao cho thuận là nhỉ, chớ Mỹ muốn gì VN răn rắc nghe theo.
                              Ông Sang nhờ Ngoại trưởng Clinton chuyển lời mời Tổng thống Barack Obama thăm Việt Nam, đồng thời mời Ngoại trưởng và gia đình sớm thăm lại Việt Nam. Vì đả đến thời điểm “roll-back” Hoa Kỳ không để VN rơi vào tay Trung Quốc như trước 2010, và VN đã phải khôn ngoan giữ chặt chủ quyền biển đảo nếu không có Mỹ phò trợ? Mà sự thật Mỹ cũng chả tốt lành gì vì quyền lợi Mỹ trên hết là hiện tại giếng dầu Exxon Mobile đang đóng trụ xí trước ở vùng 200 hải lý kinh tế thềm lục địa VN chỉ còn chờ LHQ hợp thức hóa qua COC

                              Ngoại trưởng Clinton chuyển lời cảm ơn của Tổng thống Obama tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về sự ủng hộ, hợp tác và những đóng góp tích cực của Việt Nam trong suốt năm APEC 2011. (Vì VN có số lượng dầu lớn nhứt trong vùng theo như kế hoạch Mỹ phải nắm chắc vòi xăng từ Trung Đông qua Á Châu nên phải hy sinh chiếc ghế LHQ lấy từ THQG cho Trung Cộng và xóa bỏ Việt Nam Cộng Hoà ngay sau khi hệ thống vệ tinh phát hiện tài nguyên dưới lòng đất:

                              - [Discoverer 1 spy satellite launches, February 28, 1959 | EDN
                              ... Discoverer 1 launched as the first in a series of US satellites that were part of the Corona reconnaissance satellite ... spy satellite launches, February 28, 1959. http://www.edn.com/electronics-blogs...ary-28--1959.]

                              Ngoại trưởng Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược. Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác với tất cả các nước liên quan đóng góp vào tự do và an toàn hàng hải; ủng hộ việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); phản đối việc sử dụng vũ lực; ủng hộ các nước có quyền khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình; hoan nghênh các nỗ lực tiến tới hình thành Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Cũng trong dịp nầy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp gỡ Thống đốc Hawaii Neil Abercrombie, lãnh đạo các tập đoàn của Mỹ và người Việt ở Hawaii.

                              Riêng ông đại sứ Shear cho biết các ưu tiên cao nhất trong nhiệm kỳ của ông là gia tăng hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ và thúc đẩy tiến trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Ông bình luận rằng để xây dựng được một mối quan hệ như vậy thì điều quan trọng nhất là phải xây dựng lòng tin. Nhưng có một điều chắc chắn “làm kẻ thù với Mỹ thì dễ, còn làm bạn với Mỹ thì rất khó” Vì Mỹ đang chú tâm coi trọng việc đổi mới thề chế VN bằng con đường diển biến hòa bình

                              Tân đại sứ Mỹ cũng khẳng định một trong những ưu tiên quan trọng nhất của ông là phát triển hợp tác kinh tế song phương và nỗ lực để tăng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam. Tổng kim ngạch hai chiều kể từ khi hai nước ký hiệp định thương mại cách đây 10 năm đã tăng từ 1, 5 tỷ lên 18, 6 tỷ USD tính đến năm 2010. Nên nhớ rằng kinh-tế là “diện” nhân quyền là “điểm”, đó là cái lưới thiên la điạ vỏng mà một nước nhỏ bé như VN làm sao mà chạy đâu cho thoát được. Theo quý bạn đó là may hay rủi? Nhưng theo tôi may nhiều rủi ít, hay nói cách khác “hết cơn bĩ cực tới ngày thái lai

                              Mối quan hệ quân sự Việt - Mỹ cũng "có cải thiện đáng kể" trong tương lai là cái chắc, theo lời nhận xét của đại sứ Shear. Liên quan đến vấn đề Biển Đông, ông nhắc lại quan điểm ủng hộ tiến trình ngoại giao hòa bình của tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền; phản đối sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Ông nhấn mạnh Mỹ chia sẻ lợi ích cùng các nước trong việc bảo đảm tự do hàng hải và ủng hộ giải pháp đa phương đối với vấn đề Biển Đông, có nghĩa là quốc tế hóa

                              Cũng theo đại sứ Shear, việc hợp tác giáo dục sẽ cho các sinh viên và học sinh hai nước cơ hội học hỏi lẫn nhau. Việt Nam hiện có 13.000 du học sinh đang theo học tại Mỹ, trong đó có nhiều sinh viên và học giả xuất sắc được đưa sang đào tạo qua các chương trình của Bộ Ngoại giao Mỹ, dĩ nhiên là tư tưởng người Mỹ và số người nầy sẽ đặt ngồi vào ngôi vị điều hành chính quyền trong tương lai chiếm 80%, lúc nầy không phải đảng cầm quyền mà là Quốc Hội sẽ không còn “đảng hội”; Khi Nhóm trẻ Fulbright lên điều hành guồng máy chính quyền dĩ nhiên mọi việc sẽ chuyển tiếp từ từ rất khoa học (The Social Scientists War/Bonesman Mc Namara) Hai nước cũng có các chương trình trao đổi giáo dục dành cho bậc phổ thông để gài-trồng nhân lực.

                              Trước đó, khi được nghị viện Mỹ phê chuẩn làm đại sứ mới tại Việt Nam thay ông Michael Michalak hồi đầu tháng August, ông Shear đã gửi lời chào tới Việt Nam bằng tiếng Việt với chất giọng đầy truyền cảm. Khi được hỏi ông chuẩn bị như thế nào để đảm trách vai trò là đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông cho biết việc đầu tiên sẽ làm là học tiếng Việt. Có một điều chắc chắn các chính khách đều xem VN như con Ó-Con cùng dòng máu Bald Eagle

                              Sau khi trình quốc thư tại Hà Nội, đại sứ Mỹ tiết lộ đang học tiếng Việt và đã nhận "lời thách" của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về việc ông có thể nói chuyện bằng tiếng Việt vào cuối nhiệm kỳ. Tân đại sứ Mỹ bày tỏ ông cùng vợ và con gái "đã bị Việt Nam quyến rủ" ngay từ lần đầu đến Việt Nam 2007 bởi sự thân thiện của người Việt Nam và thích thú các món ăn Việt. Chúng ta nên nhớ những câu nói ngoại giao bằng cách tiên học lễ hậu học văn như vị đại sứ đầu tiên là một POW [Peterson] để cho biết người Mỹ đả thua trận nên phải dùng bàn tay bọc nhung trong buổi sơ giao vô cùng khiêm tốn, nhưng hảy coi chừng?

                              Trước khi đến Việt Nam, ông David Shear đã trải qua 30 năm kinh nghiệm trong ngành ngoại giao và giữ chức phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương. Ông từng công tác tại một số nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Malaysia. Nói tóm lại các đại sứ kể luôn Tổng Lảnh Sự là người Mỹ gốc Việt cũng phải có vài năm làm việc ở Trung Quốc để biết ít nhứt là tình báo về tình hình TQ.

                              Ông Shear tốt nghiệp ngành Quan hệ quốc tế của Trường nghiên cứu quốc tế cấp cao John’s Hopkins, sau đó có thời gian theo học tại các trường đại học của Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Đại sứ Mỹ có thể nói tốt tiếng Nhật cùng tiếng Trung-Hoa và ông có ý định sẽ học thêm tiếng Việt. Sau nầy Bạn có thể đặt các câu hỏi phỏng vấn đại sứ Mỹ David Shear.

                              Dân quyền cho VN dưới áp lực Mỹ từng bước khá chậm qua phương thức kinh tế là “điểm”, dân quyền là “diện” mà quan trọng nhứt là phải đúng thời điểm hòa nhập với giai đoạn “roll-back”. Phải nói thẳng sự thật quá phủ phàng cho Miền Nam VN, ngày hôm nay trang sử (thực thể nửa nước VNCH) đã sang trang mà, Siêu Chính Phủ (permanent government) xem những người Việt hải ngoại như đã được đền bù và đang đến điểm mốc thời gian decent interval 2023 biến họ thành “Cứt Trâu để lâu hóa bùn” vì không còn tồn tại; Thế là xong, không còn nhân chứng nào của cuộc chiến đã qua còn nhởn nha trên mặt đất. Chúng ta sẽ chứng kiến các Hội đoàn sẽ tắt lịm theo thời gian, như vài sợi nắng chiều thoi thóp sau rặng núi Trường Sơn Tây xa lộ Liên Bang Đông Dương với 6 lanes, và trên diễn tiến của trục lộ đồ Eurasia Great Game-1 chậm rãi trôi qua).

                              Ngày nay, dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ trong cuộc Đối thoại Nhân quyền Mỹ-Việt là Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách nhân quyền, dân chủ và lao động Michael Posner, và trưởng phái đoàn Việt Nam, Vụ trưởng Hoàng Chí Trung. Đây là vòng thảo luận thứ 16 trong cuộc đối thoại song phương, mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mô tả trong một thông cáo báo chí hôm 7 tháng 11, là “dựa trên các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau... nhằm thu hẹp những khác biệt giữa hai bên trong lĩnh vực nhân quyền.” Và theo chương lịch thì rất chậm chạp như giử công việc sợ hết jobs political affairs

                              Tiến sĩ Scott Flipse là một chuyên gia về Việt Nam và là Phó Giám đốc Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ, ông từng nhiều lần tới thăm Việt Nam và đã gặp một số nhân vật bất đồng chính kiến trong các nhà tù, kể cả Linh mục Nguyễn văn Lý và các luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân. Nhưng thật ra những vị nầy chỉ để làm cãnh cho một giai đoạn cần có đào kép trên sân khấu chính trị thế thôi

                              Bất chấp những quan hệ nồng ấm hơn về nhiều phương diện, kể cả kinh tế, thương mại và quân sự, nhân quyền vẫn là lĩnh vực mà Việt Nam và Hoa Kỳ có nhiều khác biệt quan điểm nhất, nhưng cũng do Secret Society dùng dằn kéo dài thời gian cho ăn khớp với các vấn đề khác có liên can dính dấp với nhau cần giải quyết cùng một thể. Trong phúc trình nhân quyền thường niên công bố hồi tháng Tư năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ lưu ý rằng trong năm 2010, nhà nước Việt Nam đã “tăng các biện pháp hạn chế các quyền riêng tư của công dân, và các quyền tự do báo chí, ngôn luận, tụ tập, đi lại và lập hội” là bước Bonesman Kerry gây rắc rối để kéo dài vì chưa đến mốc thời gian phải thực thi.

                              Hồi tháng 9, hơn 10 nhà lập pháp Mỹ đã gửi thư kêu gọi tân đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam hãy nêu bật các quan tâm về vấn đề pháp quyền, tự do Internet, và chiến dịch đàn áp giới bất đồng chính kiến tại nước cộng sản Việt Nam để có chuyện mà nói

                              Tiến sĩ Scott Flipse, phó Giám đốc USCIRF, nhận định về cuộc đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt: “Tôi tin rằng việc hai nước nói chuyện với nhau rất là quan trọng, nhưng Việt Nam cần nghe rằng các quan hệ tốt đẹp sẽ tùy thuộc vào những cải thiện đạt được trong lĩnh vực nhân quyền. Đó là điều rất quan trọng cho phía Hoa Kỳ, và đó là thông điệp chúng ta nên gửi tới Việt Nam một cách rõ ràng.”

                              Tiến sĩ Scott Flipse cho biết ông đã đề cập tới vấn đề nhân quyền tại Việt Nam trong cuộc tiếp xúc với Trợ lý Ngoại Trưởng Michael Posner.

                              Ông nói: “Tôi nói với ông rằng ở Việt Nam có quá nhiều người tù tội, nhiều người bị giam vì các hoạt động tôn giáo, và vẫn có nhiều người bị ép buộc từ bỏ niềm tin tín ngưỡng, có những du đãng đến đánh đập, bắt bớ giáo dân Ky tô tham gia các buổi cầu kinh ban đêm. Có nhiều Phật tử, kể cả những người theo phái Làng Mai, bị chính quyền dùng bạo lực cấm hoạt động, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thì không được công khai hoạt động hợp pháp. Đó là chưa kể các chiến dịch đàn áp tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài... Rất nhiều điều tôi muốn ông Posner nêu lên với phía Việt Nam.” Nhưng thật ra VN phải nghe lời Mỹ vì là trong đòn phép chính trị “truyền thông thông tin” mà CIA muốn vậy để gây bức xúc người dân, cường độ càng bạo tàn càng tốt như cái Lò-Xo càng ấn xuống sâu thì càng bung lên mạnh. Có như vậy khi Mỹ ra tay vào giờ chót thì mọi việc sẽ tốt đẹp, điểm bonus về phía Mỹ!

                              Được hỏi về phản ứng của Trợ lý Ngoại Trưởng Posner về yêu cầu đó, Tiến sĩ Scott Flipse cho biết: “Ông ấy nói tự do tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc đối thoại song phương. Tôi không nghi ngờ gì điều đó, nhưng vấn đề là nếu các cuộc thảo luận ấy diễn ra mà hai bên không tìm cách đạt các mục tiêu cụ thể và khả thi, những cải thiện cụ thể, thì sẽ có tác động ngược, chúng chỉ là những lời nói suông.”

                              Tiến sĩ Scott Flipse nói cách duy nhất để buộc Việt Nam phải chú ý là liên kết nhân quyền với toàn bộ cấu trúc các quan hệ Mỹ-Việt, từ Tòa Bạch Ốc, tới các cuộc thương thuyết thương mại, và các phái đoàn quân sự vv. Ông nói: “Người Việt Nam cần nghe chúng ta khẳng định nhân quyền là một vấn đề quan trọng và không thể xúc tiến quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ, nếu không có những cải thiện cụ thể về nhân quyền” - “Tất cả đều do Secret Society dựng lên kịch bản!”

                              Trong một phúc trình công bố hồi tháng Ba năm nay, Tổ chức Ký giả Không biên giới xếp hạng Việt Nam thứ 165 trong tổng cộng 178 nước về chỉ số tự do báo chí, và mô tả Việt Nam là “kẻ thù của Internet”. Tiến sĩ Scott Flipse cho biết ý kiến của ông về vấn đề này: “Tự do Internet là một vấn đề thiết yếu, không nên coi tự do internet là chỉ liên quan tới nhân quyền, nó còn là một vấn đề thương mại, Việt Nam nên nghe không những ông Posner nói tới tự do internet, mà cả Bộ trưởng Thương Mại và các phái đoàn thương mại Mỹ đi thăm Việt Nam cũng nên nêu lên vấn đề này”.

                              Tiến sĩ Scott Flipse nhắc tới một số tù nhân lương tâm ở Việt Nam, đặc biệt là Linh mục Nguyễn văn Lý, hiện đã bị đưa trở lại vào tù. Ông nói: “Tôi đã gặp Linh mục Lý 2 lần trong tù trong các chuyến đi thăm Việt Nam. Tôi biết Cha Lý là một người can đảm. Tôi biết Cha Lý tranh đấu ôn hòa cho tự do, và sự kiện Cha Lý vẫn tiếp tục bị cầm tù là một vết nhơ trong các quan hệ Việt-Mỹ”.

                              Tiến sĩ Scott Flipse nói ông hy vọng Linh mục Nguyễn văn Lý sẽ được trả tự do lập tức, một điều mà ông cho là rất có thể xảy ra sau vòng đối thoại nhân quyền lần này, nhưng ông nói ngoài Cha Lý, còn có nhiều trường hợp khác, những tín hữu đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Ky tô giáo, Tin Lành khác đang bị cầm tù, cùng với các nhà hoạt động nhân quyền, các luật sư bênh vực cho các cộng đồng tôn giáo cũng nên được phóng thích.

                              Tiến sĩ Scott Flipse nói ông không phải là người duy nhất nêu lên các trường hợp cá biệt vừa kể, mà các tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia về Việt Nam khác cũng nhắc tới các trường hợp này trong cuộc tiếp xúc với Trợ lý Ngoại Trưởng Posner.

                              Ông nói: “Đã đến lúc nên làm nhiều hơn là chỉ nói suông, phải làm thế nào để Việt Nam phải hành động bằng cách phóng thích những vị này, hơn thế nữa, ngay từ đầu Việt Nam lẽ ra đã không nên bắt giữ họ.” Bắt giữ họ là do Secret Society ra lịnh cho tướng Nguyễn Văn Hưởng thực hành kịch bản nầy cho đòn phép “truyền thông thông tin” trong chiến dịch “tâm lý chiến” ồn ào trước khi ổn định trong chương lịch “diển biến hòa bình” sau khi gây xáo trộn nội tình lến đến cực điểm

                              Tiến sĩ Flipse lặp lại đề nghị của Ủy ban Tự Do Tôn giáo Quốc Tế, là nên liên kết nhân quyền với các quan hệ khác, kể cả trong lĩnh vực chiến lược và an ninh.

                              Tiến sĩ Flipse nói: “Thông điệp mà chúng ta cần gửi đến người Việt Nam là đây là quyền lợi của người Mỹ, và chúng tôi sẽ không tiến hành các chương trình phục vụ quyền lợi kinh tế và an ninh của Việt Nam, đặc biệt liên quan tới cuộc tranh chấp Biển Đông, cho tới khi nào có tiến bộ về các quyền lợi của Hoa Kỳ như nhân quyền và tự do tôn giáo.” Đó là lý do tại sao Secret Society muốn kéo dài vụ nhân quyền cho đến khi ăn khớp với vấn đề giải quyết Biển Đông theo kế hoặch “roll back”

                              Đã lâu, trong một bài tham luận về quan hệ Mỹ-Á Châu, Ngoại trưởng Clinton khẳng định rằng hơn cả sức mạnh quân sự và quy mô của nền kinh tế Mỹ, tài sản quốc gia quý báu nhất là sức mạnh của các giá trị Mỹ, đặc biệt là lập trường ủng hộ dân chủ và nhân quyền, mà theo bà là trọng điểm của chính sách đối ngoại, kể cả chính sách nhìn về khu vực Châu Á-Thái bình dương hiện nay.

                              Ngoại trưởng Clinton nói: “Giữa lúc chúng ta thắt chặt hơn các quan hệ với những đối tác mà chúng ta còn nhiều bất đồng về các vấn đề ấy, chúng ta sẽ tiếp tục kêu gọi họ hãy cải cách để nâng cao kỹ năng cai trị, bảo vệ nhân quyền và thăng tiến các quyền tự do chính trị.” Việt Nam lại thêm một lần nữa là chư hầu của Mỹ, nhưng điều quan trọng là vẫn giữ được Biển Đảo của cha ông để lại, nhưng nó lại nằm trong quyền lợi của Mỹ vì VN chẳng có khả năng kỹ thuật khái thác dầu mỏ mà chỉ nhờ vào Mỹ.

                              Ngoại trưởng Clinton nêu lên trường hợp Việt Nam, nói rằng Washington đã khẳng định rõ ràng với Việt Nam rằng sự phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt-Mỹ đòi hỏi Hà nội phải đề ra những bước để bảo vệ tốt hơn các quyền làm người và thăng tiến các quyền tự do chính trị. Tiến sĩ Scott Flipse kết luận rằng những lời lẽ ấy đã làm ông ấm lòng, mặc dù ông chưa biết ngoài đời thực, chính sách ấy sẽ được áp dụng như thế nào cho có hiệu quả, dĩ nhiên nó phải nằm dưới chiếc đủa thần huyền biến của ông Phù Thủy John F Kerry!


                              (còn tiếp)

                              Comment

                              • vinhtruong
                                Super Member
                                • Jun 2010
                                • 1924

                                #60
                                Bài “thứ 10” thời sự thế giới

                                (http://www.truclamyentu.info/...onli...n-luoc-eurasia...)
                                Thư-Viện Hoa Sen Online, Thư-Viện Bồ Đề Online, Trương-văn-Vinh ... (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) ... nơi hội tụ của những tâm hồn trăn-trở về “nhân-sinh quan” và “vũ-trụ quan” đồng thời xiển-dương Chánh Tín_bài trừ Mê-Tín Dị Đoan)

                                Những biến chuyển đáng kinh ngạc từ khởi điểm roll-back 2010
                                (ngày nay giàn khoan Nỗi HD-981)
                                Có nghĩa Mỹ không còn cho phép Trung Quốc hung hăng nữa. Trước đó, theo phúc trình thì mặc dù Canberra và New Delhi đã ký tuyên bố chung về hợp tác an ninh hồi năm 2009, nhưng mức độ thao dượt quân sự đã chậm lại kể từ đó vì chưa đến thời điểm roll-back (phải đợi Mỹ trở lại TBD năm 2010) Tài liệu này theo diễn tiến Eurasia-1 cũng nhấn mạnh đến một loạt dự trù những vụ gây hấn của TQ đối với các nước nhỏ hơn kể từ năm 2009, nhất là ở Biển Đông, và nói thêm rằng sự cạnh tranh Ấn-Trung ở trên Biển-Đông có thể gia tăng trong ống kính của Secret Society.

                                Một phúc trình chuyên môn cho rằng Úc và Hoa Kỳ nên hình thành kế hoạch đối thoại an-ninh tay ba với Ấn Độ để giúp ngăn chận mọi hành động gây hấn của hải quân Trung Quốc. Bản phúc trình phổ biến của 3 nhóm chuyên gia gồm Viện Lowy của Úc, hội Khảo sát-Quan sát độc lập của Ấn Độ và Hội Heritage ở Hoa Kỳ, kêu gọi Úc và Mỹ gia tăng hợp tác với Ấn Độ: Kế hoạch hợp tác giữa Mỹ-Úc-Ấn tại Ấn Độ-Dương và Thái Bình Dương lưu ý rằng hiện New Delhi vẫn chưa xem Úc là đối tác an ninh ưu tiên nhưng Mỹ sẻ buộc hoà nhập hai nước cùng keo sơn với nhau.
                                Nhưng đối với quan điểm của tôi là kế hoặch cũa sách lược “Kim Cương” Nhựt Mỹ Úc Ấn

                                Thế liên hoàn Mỹ-Úc-Ấn-Nhật phải hình thành 2011 ngay sau khi “roll-back”

                                Các nước có hợp tác phòng ngừa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc; Nga cũng tiến hành tập trận và tăng cường binh lực đề phòng Trung Quốc.
                                Cuối năm 2011, Mỹ và Úc sẽ tăng cường đáng kể quan hệ quân sự; Ấn Độ và Mỹ cũng tích cực thúc đẩy một cơ chế đối thoại an ninh tay ba Mỹ-Ấn-Nhật. Thủ tướng Nada dự định thăm New Delhi. Một thế liên hoàn đang dần dần hình thành để đối phó với sự trỗi dậy tham vọng của Trung Quốc; Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông và tăng cường tiềm lực hải quân, không ngần ngại đe dọa, chèn ép hầu hết các nước có tranh chấp với họ, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ. Điều này gây lo âu cho các nước liên quan trong vùng và Mỹ, cường quốc cho đến nay, vẫn đóng vai trò bảo đảm ổn định cho khu vực Thái Bình Dương là nằm trong kế hoặch Eurasia-1 (1920-2020).

                                Tàu chiến Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ tập trận tại Vịnh Tokyo:

                                Hợp tác tay ba, tay tư mang tính phòng ngừa. Từ năm 2009, bốn nước này đã khởi động sự hợp tác tay ba, tay tư. Nhưng các hành động gần đây của Trung Quốc đã thúc đẩy bốn nước lớn châu Á-Thái Bình Dương nói trên xích lại gần nhau hơn trong lĩnh vực an-ninh quốc phòng; Hồi giữa năm vừa rồi 2010, decent interval roll-back, hải quân Mỹ, Úc, Nhật Bản lần đầu tiên tập trận chung tại Biển Đông. Tàu chiến Úc cũng đi lại thường xuyên hơn tại Ấn Độ Dương.

                                Tàu chiến Úc và Ấn Độ tập trận tại Ấn Độ Dương.
                                Nổi bật nhất là việc củng cố thêm liên minh quân sự Mỹ-Úc; Ngày 15/9/2011 vừa rồi, kỷ niệm 60 năm ngày ký hiệp ước phòng thủ chung giữa hai nước này, Bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao hai nước hội đàm tại San Francisco (Mỹ) đã đạt các thỏa thuận mở đường cho quân đội Mỹ quyền tự do tiếp cận các căn cứ tại Úc, cung cấp cho Mỹ với một chỗ đứng vững chãi nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
                                Đại diện hai nước còn thảo luận các biện pháp thúc đẩy hợp tác song phương trong các dự án về không gian và hỏa-tiển phòng thủ. Tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ Barrack Obama dự định thăm Úc để tăng cường quan hệ liên minh với nước này; Năm 2010, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã cam kết cùng với Úc chia sẻ quyền sử dụng các hải cảng và căn cứ. Quân đội Mỹ có thể bố trí sẵn thiết bị của mình trên đất Úc để sử dụng dễ dàng hơn các cơ sở và hải cảng của nước này.

                                Patrick Cronin, chuyên gia quân sự đặc trách vùng Đông Á tại trung tâm nghiên cứu Center for a New American Security của Mỹ, nói trên Thời báo tài chính (Anh), cho rằng: “Úc đóng một vai trò bản lề trong khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương”. Sự hợp tác Mỹ-Úc “làm cho toàn thể khu vực được yên tâm hơn”.
                                Ngày 12/9, tại Washington, đã mở ra cuộc đối thoại chiến lược Mỹ-Ấn lần thứ tư liên quan Châu Á-Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương và chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á sắp tới tại Indonesia. Hai bên còn bàn thảo về cuộc họp đầu tiên của cơ chế đối thoại tay ba Mỹ-Nhật-Ấn, sẽ được mở ra từ nay đến cuối năm 2011 tại Nhật Bản.

                                Nga cũng tham gia nhưng chủ yếu độc diễn

                                Mạng Sina.com ngày 15/9 bình luận “Nga sẽ không dễ dàng theo Mỹ, Nhật để bao vây Trung Quốc”, đưa lại tin của tạp chí Tin tức kinh tế Nhật Bản, cho biết, bắt đầu từ tháng 9/2011, Hạm đội Thái Bình Dương của Nga sẽ lần lượt cùng với Nhật Bản và Mỹ tiến hành diễn tập quân sự liên hợp. Nhưng ngày nay Nga và Trung Quốc đang tập trận trong khi Biển Đông dậy song vì vụ giàn khoan HD-981, Mạng Sina.com cho rằng “Nếu Nga liên kết cùng Mỹ, Nhật kiềm chế Trung Quốc thì vòng vây đối với Trung Quốc không còn là hình chữ C mà sẽ là khép kín, thành hình chữ 0, điều này có ảnh hưởng to lớn đối với Trung Quốc”. Tuy cho rằng Nga không tham gia vào thế liên hoàn nhằm bao vây Trung Quốc, nhưng nêu lên mấy hiện tượng đang diển ra cuộc tập trận chung giữ Nga với Trung Quốc:

                                (1) Trung Quốc, Nga và 4 nước thuộc Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) vốn dự định tổ chức diễn tập quân sự liên hợp 2 năm 1 lần, nhưng cuộc diễn tập dự định sẽ tổ chức vào mùa hè năm nay đã bị hoãn lại. Nga chủ trương diễn tập quân sự trên Biển Nhật Bản, Trung Quốc lại tránh khu vực biển này

                                (2) Nga bằng việc tiếp cận gần hơn với Bắc Triều Tiên và các nước, tăng cường ưu thế đối với châu Á, nhân tố thực chất phía sau của vấn đề này là quan hệ Trung Quốc – Nga đang có những thay đổi không tốt. Quan chức ngoại giao của Nga từng tiết lộ, việc Hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo Triều Tiên và Nga thực chất là do phía Bình Nhưỡng đề xuất. Triều Tiên muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc, còn Nga cũng muốn kiềm chế Trung Quốc và tìm kiếm chỗ đứng chân vững chắc tại châu Á

                                (3) Quan hệ Mỹ-Nga không ngừng được cải thiện dưới chính quyền TT Obama, trong khi Trung Quốc không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự thời gian qua, Nga đã bắt đầu chú ý đến “mối đe dọa Trung Quốc”. Những năm gần đây vũ khí Nga bán cho Trung Quốc giảm dần, Nga còn thành lập bộ Tư lệnh tác chiến liên hợp Hải Lục Không quân vùng Viễn Đông gần với khu vực biên giới Trung Quốc. Chủ nhiệm Sở nghiên cứu phòng vệ thuộc Phòng vệ tỉnh Nhật Bản nhận xét: “Việc bố trí binh lực của Nga cho thấy Nga đã đưa Trung Quốc vào phạm vi cần nghiên cứu đối phó”.
                                Theo một số chuyên gia nghiên cứu các vấn đề quân sự Nga của Trung Quốc, gần đây Nga không có bất kỳ báo cáo nào về vấn đề tổ chức diễn tập quân sự liên hợp với Mỹ và Nhật Bản. Trước một sự kiện quan trọng như vậy mà báo chí Nga không có bất kỳ tin tức nào liên quan là điều rất không bình thường. Điều này có thể có hai nguyên nhân: một là, tin tức từ tạp chí trên của Nhật Bản có thể chỉ là suy đoán, thậm chí là bịa đặt. Hai, có thể là, việc diễn tập quân sự trên là thực tế, nhưng công tác bảo mật của Nga rất tốt, nên báo chí Nga không thể có tin tức gì.
                                Tuy nhiên Thời báo Moscova của Nga gần đây cho rằng mặc dù Nga cũng có những lo lắng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng Nga khó liên kết với Mỹ để chống Trung Quốc vì Mỹ nhất định chơi cha sẽ đưa Nga đi đầu “làm bia đỡ đạn”. Ngoài ra Nga còn có những tính toán chiến lược riêng của mình đối với thế giới, với khu vực châu Á và Trung Quốc.

                                Mục tiêu kép động thái quân sự của Nga: Lo ngại Trung Quốc vì dân quá đông khó kiểm soát
                                Từ đầu tháng 9 đến nay, Nga liên tục có các động thái quân sự tại các khu vực xung quanh Nhật Bản khiến nước này vô cùng lo ngại.
                                Hai máy bay ném bom chiến lược TU95 của Không quân Nga hôm 8/9 đã áp sát không phận Nhật Bản, trong khi 24 tàu chiến Nga đã đi ngang qua eo biển Soya của Nhật Bản. Ngay sau đó, Thư ký Hội đồng An ninh Nga Nikolai Patrushev hôm 11/9 đã tới thăm các hòn đảo thuộc vùng Lãnh thổ Phương Bắc (Nga gọi là quần đảo Nam Kurils). Tiếp đó, ngày 13/9, Hạm đội Thái Bình Dương thuộc quân khu Viễn Đông của Nga đã tập trận bắn đạn thật quy mô lớn ở Biển Nhật Bản, Biển Okhod và khu vực Tây-Bắc Thái Bình Dương với sự tham gia của hơn 50 tàu chiến, 35 tàu hộ tống-tiếp ứng, 50 máy bay tiêm kích và lên thẳng cùng 10.000 lính thủy. Trong cuộc điện đàm với người đồng cấp Nga Sergei Lavrov hôm 9/9, Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Genba đã nói rằng động thái và ý đồ của Nga khiến cho người dân Nhật Bản lo ngại, do đó yêu cầu Moscow có các hành động kiềm chế hơn để không gây kích động tâm lý của người dân Nhật Bản.

                                Tàu chiến Mỹ, Nhật Bản, Úc tập trận tại Biển Đông.
                                Một điều cũng gây chú ý không kém là việc Nga mới đưa vào chạy thử tàu ngầm nguyên tử đa chức năng lớp Borei mang tên Yuri Dolgoruky, vốn được lên kế hoạch trang bị cho căn cứ Vilyuchinsk ở phía Đông bán đảo Kamchatka ngay trong năm nay. Loại tàu này có thể lắp đặt 10 hoả-tiển đạn đạo Bulava-M có tầm bắn 8.000 km
                                Máy bay ném bom chiến lược của Nga tham gia tập trận tại biển Okhotsk.
                                Mục tiêu của loại hoả-tiển này sẽ là nước Mỹ. Tuy nhiên, cũng có nhận định cho rằng việc Nga tăng cường sức mạnh quân sự tại vùng Viễn Đông là nhằm đối phó với Trung Quốc thì đúng hơn; Trưởng phòng Nghiên cứu Mỹ-châu Âu-Nga thuộc Viện Nghiên cứu Phòng vệ Nhật Bản Hyodo Shinji cho rằng hiện nay quan hệ an ninh giữa Nga-Mỹ và Nga-Châu-Âu tương đối ổn định nên Moscow bắt đầu chuyển hướng quan tâm sang khu vực Đông Á. Mặc dù Nga và Trung Quốc đang muốn xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, song Nga vẫn không thể không đề phòng Trung Quốc trước việc nước này phát triển quá nhanh và ngày càng gia tăng sức mạnh quân sự. Nga lo ngại rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động của Hải quân tới tận vùng biển Okhod nên họ đã tiến hành tập trận tại đây như một lời nhắn gửi tới Bắc Kinh rằng đây là vùng biển thuộc phạm vi ảnh hưởng của Moscow

                                Lộ Trình chiến lược tái cam kết của Mỹ tại châu Á

                                Sau hai cuộc chiến tranh tại Trung Đông và ĐNÁ, Washington đã bắt đầu chuyển sự chú ý của mình sang nơi khác, đặc biệt là vào một Trung Quốc đang trỗi dậy. Trong khi ông Obama còn nhiều việc để làm để định hình các thể chế kinh tế và chiến lược như EAS và APEC cho phù hợp với lợi ích của nước mình, chuyến công du sắp tới của ông có thể thúc đẩy sự chuyển đổi trong cán cân quyền lực Châu Á/Thái Bình Dương.
                                Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ công du Australia và Indonesia vào tháng 11; Và ông vừa chủ trì một hội nghị của Hợp tác Kinh tế Châu Á/ Thái Bình Dương (APEC) hôm 12-13/Nov/2011 tại Honolulu, Hawaii, và dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) lần thứ sáu vào ngày 18-19/Nov/2011 tại Bali (Indonesia) lần đầu tiên trong vai trò một thành viên đầy đủ của tổ chức này. Chuyến thăm diễn ra đồng thời với một loạt các chuyến thăm ngoại giao và các phát biểu của các quan chức kinh tế và an ninh của chính quyền Obama nhằm chứng tỏ cam kết trở lại của Mỹ đối với khu vực Châu Á/Thái Bình Dương và gắn khu vực này với các lợi ích quốc gia của Mỹ.
                                Chiến lược của Mỹ tái cam kết với Đông Á, lần đầu tiên được thông báo vào năm 2009, trong chừng mực nào đó vì chưa tới decent interval roll-back, bởi chắc chắn Mỹ chưa bao giờ bỏ rơi khu vực này. Tuy nhiên, sự tập trung của Washington trong thập kỷ vừa qua đã hướng về Trung Đông để nắm vòi-xăng trước rồi Biển Đông sau; Điều này, cộng với sự ảnh hưởng được mở rộng nhanh chóng về chính trị và kinh tế của Trung Quốc trong khu vực, đã khiến Mỹ nhận ra rằng các lợi ích của Washington tại Đông Á đang suy yếu, và tìm ra sách lược “roll-back 2010” khiến Mỹ phục hồi lại sức mạnh tại châu Á
                                Hiện nay, khi Mỹ đang chuẩn bị rút hết quân đội khỏi Iraq qua Úc Châu và giảm các chiến dịch tại Afghanistan, chính quyền Obama có thể sử dụng nhiều nguồn lực hơn để mở rộng sự can dự của mình vào Đông Á theo lịch trình của Permanent Government về 10 năm trù dập TQ. Trong khi Washington còn nhiều việc để làm nhằm định hình các thể chế chiến lược và kinh tế cho phù hợp với lợi ích của mình, chuyến thăm sắp tới của Tổng thống Obama có thể thúc đẩy sự chuyển đổi trong cán cân quyền lực tại Châu Á/Thái Bình Dương.

                                Hoa Kỳ đang theo dõi về sự trỗi dậy của Trung Quốc

                                Trong những năm gần đây, quân đội Trung Quốc đã tỏ ra ngày càng xác quyết hơn, với việc Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa đóng một vai trò lớn hơn trong các quyết định chính sách của Trung Quốc. Đặc biệt, chiến lược của quân đội phát triển một lực lượng hải quân “viễn-chinh-biển” xa đã tạo điều kiện thay đổi trọng tâm của lực lượng này, hướng tới khả năng kiểm soát lớn hơn trên các hải trình quốc tế, đặc biệt tại biển Đông.
                                Trong giai đoạn này, Bắc Kinh đã muốn tạo dựng quan hệ với các nước láng giềng, nhưng những lo ngại về mối đe dọa của “sức mạnh cứng” của Trung Quốc đã khiến các nước ở Châu Á/Thái Bình Dương kêu gọi sự can dự lớn hơn của Mỹ trong khu vực nhằm làm đối trọng với sự ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc. Điều nầy nó đả nằm trong lăng kính của Permanent Government từ lúc Nixon và Mao gặp nhau 1972.
                                Sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là “chiến lược biển” hiếu chiến của họ, đặt ra một thách thức đối với các lợi ích của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Sức mạnh toàn cầu của Mỹ dựa vào quyền kiểm soát của nước này trên các đại dương, và Mỹ thấy Đông Á là một sân khấu chính cho các quan hệ kinh tế và chính trị trong tương lai gần.
                                Vì vậy, chính quyền của Tổng thống Obama đã đầu tư đáng kể nguồn vốn chính trị vào Châu Á kể từ sau thông báo tái cam kết của Washington năm 2009, nhưng bắt đầu vào thời điểm 2010 sẽ bọc phát làm kinh ngạc thế giới để kềm hảm cường lực trên biển của TQ. Cùng với đó, Mỹ đã vượt qua các quan hệ với các đồng minh truyền thống ở Thái Bình Dương – như Australia, Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc – để kết nối với các cường quốc khu vực như Indonesia và Ấn Độ. Washington tìm cách thúc đẩy chỗ đứng của mình tại Indonesia, nước vốn là một lãnh đạo khu vực trong một loạt vấn đề, bằng việc tăng cường hợp tác quân sự và thông qua Đối Tác toàn diện Mỹ – Indonesia, cũng như tham dự Hội nghị EAS do Indonesia chủ nhà năm nay. Với Ấn Độ, Mỹ đã đi xa hơn các quan hệ kinh tế, vươn tới hợp tác chiến lược, đặc biệt trong các vấn đề biển bằng cách giúp Ấn Độ hạ thủy chiếc HKMH Vikrant qua mặt Trung Quốc.,
                                Washington cũng tiến gần hơn tới các đồng minh truyền thống của Trung Quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia và cả Miến Điện.
                                Washington cũng nỗ lực định hình các thể chế đa phương cho VN trong khu vực, như một cách để hợp nhất các nước khác chống lại Trung Quốc, đồng thời tránh sự ra đời của một đồng minh mạnh trong khu vực mà không có sự tham gia của Mỹ. Các thể chế có mặt Washington bao gồm ASEAN – mà Ngoại trưởng Mỹ ví là “điểm tựa cho kiến trúc đang nổi của khu vực” – và một số thể chế kinh tế và chiến lược do ASEAN đứng đầu, như EAS và APEC. Mỹ cũng phối hợp với một loạt các khối tiểu khu vực như Diễn đàn Các đảo Thái Bình Dương và Hội nghị thượng đỉnh sông Mekong mà đích thân Bonesman coi sóc về sự biến đổi khí hậu
                                Washington đặc biệt quan tâm tới APEC và EAS, các cấu trúc và lịch trình của hai tổ chức này đang trong quá trình định hình lại, cho phép Mỹ có một tiếng nói có trọng lượng hơn trong tương lai; Vì vậy, các cuộc gặp sắp tới của ông Obama sẽ cho thấy hai điểm tựa quan trọng cho chiến lược tái cam kết của Mỹ tại Thái Bình Dương và giúp VN biến đổi thế chế cho phù họp với những quy định bảo vệ người công nhân trong các công ty.

                                Hợp tác kinh tế Châu Á/Thái Bình Dương là quyền lợi sống còn của Mỹ
                                (TPP)
                                APEC thành lập năm 1989 tại Canberra, Australia, với mục đích quy tụ các nền kinh tế năng động ở bên bờ Thái Bình Dương lại với nhau. Dần dần, nhóm này đã thu hút 21 quốc gia thành viên, trong đó có Mỹ, và trở thành tổ chức kinh tế hàng đầu khu vực. Các nước thành viên APEC có vai trò rất quan trọng đối với các lợi ích thương mại của Mỹ – cùng nhau, họ chiếm 60% hàng hóa xuất khẩu của Mỹ – cũng như đối với nền kinh tế toàn cầu, và vì vậy, Washinton đã sử dụng khối này để thể hiện sự ảnh hưởng kinh tế lớn hơn trong khu vực. Tuy nhiên, sự nổi lên của một số nhóm kinh tế khu vực trong thập kỷ qua, đứng đầu là các quốc gia Châu Á – hoặc bị chế ngự bởi Trung Quốc – đã làm giảm vai trò của APEC, và vì thế, Mỹ đã phải tìm kiếm các con đường khác để định hình chính sách thương mại châu Á của mình.
                                Để đạt mục đích này, TT Bush vào cuối nhiệm kỳ năm 2008 sẽ tham gia các cuộc thương lượng về một thỏa thuận tự do thương mại đa phương với tên gọi Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP ban đầu có hiệu lực năm 2006 và bao gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore. Sau thông báo của Mỹ năm 2008, Australia, Malaysia, Peru và Việt Nam đều đã tham gia các cuộc đàm phán; Các nền kinh tế như Canada, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan cũng thấy có lợi.
                                Cam kết của Mỹ đã thúc đẩy đáng kể các cuộc đàm phán, và Washington đang trong quá trình chốt lại các thỏa thuận tự do thương mại song phương với các nước tham gia. Chính quyền Obama hy vọng có thể thông báo một khuôn khổ cho TPP tại diễn đàn APEC năm nay; Dù khâu Việt Nam và Nhật Bản đang bị đình trệ, nhưng Washington hy vọng thỏa thuận này sẽ cải thiện quan hệ thương mại xuyên Thái Bình Dương, đặt nền mống cho một lịch trình thương mại tự do do Mỹ đứng đầu, và cải thiện nhận thức của các nước châu Á về cam kết của Mỹ trong khu vực.
                                Nước vắng mặt rõ nhất trong các cuộc thương thảo về TPP là Trung Quốc; Bắc Kinh bày tỏ quan tâm tới việc tham gia đối tác này, vì nó bao gồm rất nhiều đối tác thương mại lớn, nhưng một lịch trình thương mại do Mỹ đứng đầu có thể đồng nghĩa với việc Trung Quốc chỉ có thể tham gia bằng cách mở cửa nền kinh tế theo đường hướng mà Mỹ định ra. Sự “quay lưng” của Trung Quốc khiến một số đối tác đàm phán nhỏ hơn phản đối, vì e rằng động thái này sẽ hủy hoại quan hệ kinh tế giữa họ với Bắc Kinh; Trung Quốc có thể sẽ tham gia TPP trong tương lai, nhưng không tham gia hoạch định chương trình cho thể chế này, Bắc Kinh cho rằng việc đó đi ngược lại lợi ích kinh tế của mình.

                                Hội nghị thượng đỉnh Đông Á

                                Mầm mống đầu tiên cho EAS là đề xuất của Malaysia năm 1991 về một khối thương mại đối trọng với phương Tây; Cuộc họp đầu tiên của EAS đã diễn ra năm 2005, hội tụ 16 quốc gia với Nga là quan sát viên, và không bao gồm Mỹ. Washington ban đầu thấy cơ chế này là một âm mưu của các nước thành viên nhằm loại trừ sự ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực; Nhưng như một phần của chiến lược tái cam kết, mới đây họ đã đã thay đổi quan điểm và sẽ tham gia hội nghị thượng đỉnh năm nay, lần đầu tiên trong vai trò một thành viên đầy đủ.

                                EAS ban đầu là một hội nghị về năng lượng và kinh tế. Các nước thành viên đã bắt đầu định hình lại lịch trình và cấu trúc của EAS và tạo ra một cơ sở mềm dẻo cho Mỹ tham gia nhằm tập trung vào các vấn đề an ninh khu vực và hướng tới trở thành thể chế ưu việt cho các vấn đề an ninh tại Thái Bình Dương. Từ nay tới đó, Washington hy vọng hội nghị sẽ định hình chương trình của các cơ chế khu vực khác, như ASEAN.
                                Một số đối tác khu vực đã hoan nghênh sự tham gia của Mỹ trong EAS, coi đây là một đối trọng tốt cho sự chế ngự của Trung Quốc, đặc biệt trong các tranh chấp biển, khi thái độ xác quyết ngày càng mạnh của Trung Quốc làm gia tăng cẳng thẳng trên biển Đông. Trong bối cảnh này, những lời đề nghị của Washington trong năm nay có thể giúp đánh giá cam kết của họ đối với an ninh của Châu Á/Thái Bình Dương – đặc biệt đối với quyền tự do hàng hải trên biển Đông. Các nước Đông Nam Á, cũng như các bên liên quan thứ ba như Nhật Bản và Ấn Độ, đã tiến hành một chiến lược ngoại giao tăng cường nhằm thu hút sự chú ý lớn hơn của quốc tế vào vấn đề này. Trong khi các nỗ lực này không chỉ nhằm trực tiếp vào Mỹ, chúng lại giúp thống nhất các nước trong khu vực chống lại Bắc Kinh, điều cũng thể hiện trong chiến lược Eurasia Great Game-1 của Washington.
                                Trung Quốc theo dõi sát vấn đề biển Đông, và Bắc Kinh đặc biệt quan tâm đến việc Mỹ có thể đưa ra các biện pháp thông qua EAS cho thấy một cam kết mạnh hơn trong vấn đề này. Trong khi một cuộc hội nghị riêng-rẽ như thượng đỉnh 24th Asean Miến Điện TT Dũng khó tạo ra một ảnh hưởng lớn, nó lại có thể ra hiệu cho thấy một sự chuyển đổi trong định hướng của khối này dưới vai trò lãnh đạo của Mỹ trong siêu chiến lược toàn cầu trong giai đoạn thời điểm “roll-back” như chúng ta đang mục kích nhiều biến động nguy hiểm đáng sợ đang chờ đợi

                                Comment

                                Working...