Bài tuyển Vinhtruong trên các Diễn Đàn Lính

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • hieunguyen11
    Super Member
    • May 2011
    • 2230

    #16
    Thố-lộ của các vị tổng thống:


    1. Thố-lộ cũa các vị tổng thống:
    “Mất miền nam không phải lỗi của Tôi!” … vì tôi phải tiếp nối công việc cũa người tiền nhiệm để lại! Có nghĩa tổng thống Mỹ là người quản lý tổng quát, mà người chủ là siêu chính phủ (Permanent Government)
    -Eisenhower: Thuyết Domino, “Việc Á-châu để người Á-châu lo!” Ông cho rằng TT Diệm là con người mầu nhiệm. Cái giá phòng thủ và bảo vệ tự do cho Hoa kỳ buộc phải trả bằng nhiều nơi và nhiều hình thức qua viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam là cần thiết.

    -J.F.Kennedy: Ông cũng ca ngợi TT Diệm là Winston Churchill ở Châu-Á, và “chiến tranh VN sẽ phải do người Việt tự chiến đấu, người Mỹ không thể chiến đấu thế cho họ!” Còn TT Diệm tự tin VNCH sẽ tự vệ để chiến thắng Cộng phỉ qua Quốc sách Ấp Chiến Lược và Chiêu-hồi!

    -L.B.Johnson: Không thể để cho Bọn Siêu Mafia thao túng nước Mỹ, Ông cùng Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy sẽ tiếp tục tiến trình theo kế hoặch của người tiền nhiệm đem cái Bọn Skull and Bones ra toà án như đã xảy ra 1943, bằng bản án “mua bán đổi chác” với kẻ thù “The trade with the-Enemy Act of December 1941.” Thình lình Robert Kennedy cũng bị ám-sát y chang người anh, Johnson bèn tuyên bố không tái ứng cử kỳ hai, đây là một hiện tượng chưa từng thấy xảy ra tại Mỷ quốc, còn Ðệ nhất phu nhân bèn chua thêm vào, “dù ai đó có yêu cầu!”. Lấy luật rừng áp đảo chính quyền nên tại sao chúng phải đặt cho cái tên Ðảng Ðầu-lâu và Xương người!

    -Richard Nixon: “Quốc hội đã tước đoạt chiến thắng trong tầm tay!” (do một thế lực sau hậu trường được gọi là Permanent Government) vì đã cắt đứt mọi viện trợ cho VNCH để hoàn thành định-kiện-1. Hội-đồng Kỹ nghệ Quốc-phòng (WIB) đã tạo ra vụ tai-tiếng Watergate để vô hiệu hóa các văn-thư bảo đảm sự trường tồn của VNCH, thay vào một Tổng Thống không có dân bầu để ôm lấy một nỗi nhục nhìn sự sụp đổ của một đồng minh đã có một thời kỳ cùng chiến đấu chung một chiến hào!

    -Gerald Ford: President confessed. “It looks like we just quit and ran. Yet I did all that I could for them. However, it still remains very difficult for me to sit here as President of the United States and watch South Vietnam collapse.”

    -TT Thiệu: Hoa-kỳ đã đâm sau lưng đồng-minh, làm sao chúng ta chống lại một lực lượng hùng hậu với 700 triệu tấn vũ khí đời mới của Liên Xô vừa viện trợ, còn ta thì mòn-cạn hỏa lực! (Permanent Government has turned it back. Deserted us in the breach! How do we stand in defense against such forces when they can now so easily overwhemlm us”.

    Tất cả những lời thố-lộ trên đây đều bị tròng tréo trong thế “Chiến-Lược-Toàn-Cầu” của Mỹ mà các vị tổng thống chỉ là người quản lý tổng quát chuyển tiếp mà thôi, còn chủ đạo là do một thế lực cực mạnh ở sau hậu trường gọi là ‘siêu chính phủ’ mới là cơ quan quyền lực nắm chắc chính sách đưa đến Liên-Bang Xô-Viết phải bị giải thể bởi Liên-Xô chủ trương làm chiến tranh bành trướng mà không tính đến hậu quả vì chế độ không thực với hoàn cảnh xã-hội trên Thế-giới; Nếu lãnh đạo Trung-Cộng tiếp tục đường lối bảo thủ khôn ngoan như Mao Trạch-Đông, và Ông đã thành công giữ vững Hoa-Lục từ năm 1949 đến khi ông chết năm 1976, thì làm gì Bắc-Kinh ngày nay phải trong cái thế ngồi phải cọc, trực diện với Mỹ và đối đầu với Việt-Nam; Chính sách bảo thủ của Mao, Chu khẳng định vị trí và lập trường của Trung-Cộng một cách khôn ngoan: “Dù cho Trung-Quốc phát triển kinh-tế, muốn nhanh chóng hiện đại hoá các ngành công nghiệp, Trung-Quốc không tự coi mình là một cường-quốc” Đó là chuyện Trung-Quốc hồi đời Mao, còn chuyện Trung-Quốc đời nay cũa tụi nhỏ có còn giữ lập trường nầy nữa hay không? Để trả lời câu hỏi nầy, xin độc giả xem một đoạn văn trên tờ báo China Daily “Has China the will to become a big Power?” Trong đó có một đoạn văn “xanh-dờn” lý giải như sau: “Để ổn định tình hình bất ổn của Thế-giới, Trung-Quốc phải có quyền quyết định và sẵn sàng đóng vai trò của một cường-quốc. Nếu không là một siêu cường làm sao Trung-Quốc có thể mang lại hoà bình cho Thế-giới!?

    Lịch-sử Thế-giới thường được xác định bởi quan hệ giữa các nước lớn, và lịch-sử của thế kỷ hiện tại cũng vậy; Hai quốc-gia xác định hình thù của thế kỷ 21 là Hoa-kỳ, đương kim cường quốc và Trung-Quốc một sức mạnh đang vươn lên “long trời lở đất” mà bị một nước khác cố tình dìm xuống thì việc gì sẽ xảy ra? Trước Đại-tướng Chi-Hao Tian là Đại-Tướng Zhu Chenghu, Giải-Phóng quân Trung-Quốc, nhân vật đầy quyền lực.Tổng quân ủy ĐCSTQ tuyên bố một câu động trời: “người Mỹ sẽ phải chuẩn bị hàng trăm thành phố sẽ bị tàn phá bởi người Trung-Quốc (nguyên văn) Lẽ tất nhiên Chu Đại-tướng đưa ra lời động trời như trên không phải do Ông bốc đồng cao hứng. Tướng lãnh dưới chế độ CS không được phép nói năng lạng quạng như vậy.

    Sau đó, bài nói chuyện dầy 10 trang, của Tướng Chi HaoTian mang tựa đề “chiến tranh sẽ xảy ra cho chúng ta không còn xa nữa”(The war is not far from us!) Bằng mọi giá khi Trung-Quốc bị Hoa-kỳ chèn-ép dồn vào sự khan hiếm năng lượng dầu hỏa như Quân Phiệt Nhật hồi năm 1941, thì phải bất thần khởi xuất phát động chiến tranh chớp nhoáng. Nếu Trung-Quốc không đánh Mỹ thì Mỹ cũng sẽ đánh Trung-Quốc do Trung-Quốc đụng vào cái huyệt-đạo của Nam Tây Bán Cầu, nơi mà từ xưa đến nay trong vòng ảnh hưởng sân sau an-toàn của Mỹ.

    Nên nhớ rằng, cách đây hơn 50 năm, sở dĩ Harriman giải nhiệm Tướng Mc Arthur là vì sợ quăng hòn đá xuống ổ Kiến lửa thì nó sẽ bung ra gây thảm hại cho Thế-giới. Nhưng bây giờ đã có thiết lập nhiều cục than hồng xung quanh miệng ổ Kiến, nếu chòi ra con nào thì chết queo ngay con đó! Ngày nay cũng đã đến lúc Trung-Quốc cần tạo thêm nhiều dịch vụ làm ăn với Tư-bản Mỹ để phát triển còn hơn đương đầu với Mỹ để tự sát? Hoa-kỳ đã mở đường cho Trung-Quốc vào LHQ và hai nước tái lập quan hệ ngoại giao; Điều nầy phía Trung-Quốc đã nêu ra nhận định về phía Mỹ như sau: “Washington không muốn thấy thế lực của Nga bành trướng quá đáng ở Á-Châu, cảm thấy sự uy hiếp của Liên-Xô, lợi ích chung của hai nước tăng lên, nên đã thỏa hiệp với Trung-Quốc cho nên phải để cho TQ làm tàng chút đỉnh” Nhưng TQ có biết không, những câu trên đây sẽ đổi chủ từ khi Trung-Quốc trở nên mối lo ngại cho quyền lợi Hoa-kỳ cũng trong vùng Châu Á nầy. Hoa-Kỳ qua tư-tưởng Harriman vẫn luôn sợ ảnh hưởng bành trướng về Họa Da-Vàng nên đang để cho người Da-Vàng Ấn-Ðộ ra sức cân bằng ãnh hưỡng. Và Hoa-Kỳ mong muốn Liên-Xô là Đệ II cường-quốc sau Mỹ (Cứ xem những chuyến viếng thăm nồng thắm giữa gia đình Bushes và Putin ở tại Mỹ cũng như LX thì rõ)

    Tuy nhiên, sự suy nghĩ của Bắc-Kinh nếu gây ra cuộc chiến, trước khi khởi chiến thì kẻ gây chiến phải hiểu rằng sẽ có sự lôi cuốn với những tình huống ngoài sự tiên liệu, như chiến tranh có thể leo thang thành chiến tranh nguyên tử với nhiều nước khác nhảy vào, hoặc có thể lan rộng thành đại chiến Thế-giới. Chỉ riêng một vấn đề nếu chiến tranh với Mỹ ở phía Đông, trong khi với Nga có thể tấn công phía Tây-Bắc và Việt-Nam nhân cơ hội tiến chiếm lấy lại quyền sở hữu của chùm đảo Hoàng-Sa, Trường-sa của mình, chưa biết chừng Hoa Kỳ bấm đít VN chiếm luôn hòn đảo Hải Nam có căn cứ tàu ngầm nguyên tữ và tạo nơi đây thành mảnh đất cấm cờ Việt Nam như Iwo-Jima memorial cũa VN không chừng. Bao nhiêu đó cũng đủ làm cho bất cứ chiến lược gia nào cũa Bắc-Kinh phải điên đầu; Đó là chưa kể đến Hoa-Lục rộng mênh mông thì làm sao điều động nhanh hàng triệu quân vào ngay điểm Nóng! Làm sao phòng thủ hay trải rộng khắp lãnh thổ Biên-giới? Còn như vấn đề chiến tranh nguyên tử với vũ khí hạt nhân, chiến tranh siêu kỹ thuật (high-Tech) Lại còn phải nghĩ đến làm sao tấn công trước để chiếm ưu thế, tấn công thật nhanh, thật bất ngờ? Thêm vào những rối rắm vì vấn đề các Tỉnh Bang rối loạn hay nổi loạn thì phải ứng phó làm sao! Trung-Quốc có rất nhiều sự yếu đuối, nhiều sơ hở, thiếu sót khác nữa; Nhưng phần đông chúng ta bị lịch sử của quá khứ ám ảnh nên nơm nớp hoảng-sợ Trung-Quốc, tại sao phải sợ!

    Trong khi Hoa-Kỳ đã phát họa gần 100 năm trước (từ 1917) Việt Nam là con Ó Con sừng sỏ nhất ở Á-Châu, và nhiều lần nhắc nhở Trung-Quốc đừng hòng đụng đến Nó, nhưng Trung-Quốc sẽ đụng vì quyền lợi sống còn, để rồi Thế-chiến sẽ bùng nổ tại Vùng Chiến Lược Thái Bình Dương?

    Mao Trạch Đông hiểu rằng Trung-Quốc chỉ có thể giữ vững “thế-thủ” với sự toàn vẹn lãnh thổ và không bao giờ nên bung ra ngoài với chiến tranh xâm lăng để bành trướng Đế-quốc. Mao chỉ răn-đe dọa-nạt thôi, chứ không bao giờ làm thật; Vì Mao hiểu rằng, Ông phải củng-cố và nắm vững nội bộ, vì chính nôi bộ Hoa-Lục mới nguy hiểm cho chính bản thân Ông và chế độ. Mao cũng hiểu rằng không nên tấn công Đài-Loan vì nếu gây chiến tranh là Trung-Quốc bị cấu xé tan tành phân chia ra nhiều tiểu quốc ngay. Cho đến ngày hôm nay, Bắc-Kinh cũng hiểu như vậy, Đài-Loan chính là cái mồi lửa dễ cháy thành chiến tranh ngoài cục bộ địa phương, Bắc-Kinh không dại gì châm mồi lửa Đài-Loan; Nhưng Biển-Đông Việt-Nam [South China Sea] mới sẽ là ngòi nổ chiến tranh của Trung-Quốc cùng với các nước đàn em của Mỹ và sẽ trở nên Đại chiến Thế-giới. Hoa-Kỳ sẽ là nước tham chiến sau cùng, đó là âm mưu cũa Mỹ lúc nào cũng vậy; “chơi khôn và trật thượng”

    Theo quy luật tất yếu phải có chiến tranh vì quyền lợi dầu khí ở thềm Lục-địa; Trung-Quốc không thể tồn tại được vì nhu cầu phát-triển kỹ-nghệ không thể thiếu được; Chiến tranh là một sự có tính toán hay là phương tiện chọn lựa sau cùng hoặc đôi khi là một chuyện bất đắc dĩ ở vào cái thế chẳng đặng đừng hay thế thời phải thế! Có lẽ đôi khi Hoa-kỳ làm bộ chủ hoà, không muốn chiến tranh, mà nước Mỹ thường phải ra tay sau khi bị khiêu-khích trước trong mưu đồ của Mỹ như 1941 bắt chẹt dầu hoả đối với Nhựt, buộc nước nầy vào bức tường phải gây chiến để Mỹ tiêu diệt rồi tái thiết, theo học thuyết Malyhus. Có phải Hoa-Kỳ luôn luôn chủ động một cách tuyệt đối khi lừa các nước nhỏ vào cái thế lâm trận trước!?

    Chúng ta nên nghiên cứu về Tu Chính Án Cooper-Church 1970, đây là cái bẫy do Mỹ đặt ra để giăng lưới cho Trung-Cộng vướng vào mà Nhóm học giả cho rằng “Di tản Chiến lược” bỏ South China Sea về Honolulu thành lập PACOM (From 1970, Manage the defeat then to roll-back at 2010).

    Tưởng nên nhắc lại một câu chuyện nhỏ thời Đệ II Thế-Chiến, năm 1938-1939, Hitler hung-hăng xé Hiệp-ước, xua quân đi xâm lăng các nơi tại Âu-Châu, ông Bộ-Trưởng Ngoại-Giao Hoa-Kỳ đòi phải tuyên chiến với Hitler ngay tức khạch can thiệp bằng một cuộc “chiến tình-báo” nhập trận sau cùng để bớt đổ máu cho quân đội Mỹ, trong khi Ba nước Đồng-Minh: Pháp, Anh và Liên-Xô dấn thân vào cuộc chiến đẫm máu trước, lãnh nhiều thiệt hại trước, rồi quân Mỹ mời tà-tà tham chiến sau cùng, Có lẽ dựa vào lý do vì ở xa nên Hoa-kỳ can thiệp có chậm? (Harriman thay mặt Siêu-Chánh-Phủ (Permanent-Government) chỉ ngầm ra dấu thì Quốc-Hội Hoa-kỳ Okay ngay, như Hai cuộc chiến Iraq và Việt-Nam với số phiếu thuận giống nhau là 98/100 Thượng Nghị-Sĩ bỏ phiếu thuận; Cuộc chiến thường kéo dài tùy theo sự thiết kế của Bộ máy Tư-bản chiến tranh (WIB) rồi lại tạo dựng ra cuộc biểu tình phản chiến, phối hợp nhịp nhàng với truyền thông văn hóa phát động để dễ bề tạo thêm uy quyền cho Quốc-Hội phải chấp thuận rút quân về, vì lòng dân ta thán “sự kiên nhẫn cũa người dân Hoa Kỳ có giới hạn”và cứ phương thức như vậy mà tiếp nối cuộc chiến kế tiếp. Như hồi chiến tranh Việt-Nam, phải trang điểm phấn son cấp tốc cho Trung-úy John Kerry (Harriman và Bushes tuyển chọn Kerry vì định-kiến tốt nghiệp Đại-học Yale?) trong vòng vài tháng có tuyên dương nhiều huy chương Lèo, trong đó có Ba chiến thương nhưng băng bó bằng băng keo First-Aid, (Thượng Nghị Sĩ Bob Dole công khai tuyên bố) không có vết sẹo, không có nằm nhà thương dù là 1 phút, rồi lôi về Mỹ làm Tài-tử chính trong cuốn phim “kích-động-phản-chiến” mục đích xuất hiện trên truyền hình thế giới để Hà-Nội tin tưởng hầu rút mấy thằng Cu Mỹ về theo như định-kiến-3 của Harriman và Nhóm học giả của Ông đã giải nghĩa trước nơi khuôn-viên Đại-học từ 1960 trước khi quân Mỹ vào VN (axiom-3: The US could not have won the war under any circumstances) Bất cứ tình huống nào, Hoa-kỳ cũng không thể thắng nổi cuộc chiến! Chưa đem lính vào mà có đáp-số thua rồi!

    Nhưng trong tư tưởng hiếu hòa đó của Mao, không che dấu, ngầm ý có ngày phải bung ra vươn mình để trở thành một Siêu-cường số Một của Thế-giới. Đó là quy luật tất yếu của lịch-sử loài người theo vận hành thế thiên hạ đại loạn. Và rằng thế kỷ thứ 19 là thế kỷ của Âu-Châu, thế kỷ thứ 20 là thế kỷ của Mỹ và thế kỷ thứ 21 là cũa Trung-Quốc. Lịch-sử đã chứng minh những Đại-Đế khi lên cao đến tuyệt đĩnh rồi cũng phải tụt xuống theo định lý toán học. Như Đại-Đế La-Mã, Nã-Phá-Luân, Thành-Cát Tư-Hản, Đức-Quốc-Xã, Quân phiệt Nhựt, Đại-Đế CS Liên-Xô, và Đế quốc Mỹ…đặc biệt La-Ma không ai đánh phá mà chỉ có enjoyed quá độ mà tiêu tán thoàn!

    Nhưng có một điều kỳ lạ là chính sách Bắc-Kinh dựa trên 2 điều căn bản: khôn ngoan trong “thương trường” và giải quyết thế thượng phong về “nhân mãn.” Sách-lược của Bắc-Kinh lại phát khởi do nạn nhân mãn hay nói nôm-na là chính sách cho dân Tàu sinh đẻ tự do không cần kiểm soát trong kế hoạch 10 năm từ 1962 đến 1972 của Mao, với kết quả dân số trội lên quá mức khoảng 350 triệu người! Mao Trạch Đông chỉ cần O.K “mặc-kệ” cho họ tha hồ đẻ; Rồi hoảng hốt, có một trường phái đề nghị nên bắt dân Tàu ngừa-thai kiểm soát sanh đẻ tối đa, để phòng ngừa nạn nhân mãn. Mao phán không cần phải lo “dân Tàu đẻ nhiều là nằm trong chủ trương có dự mưu” Khi lợi dụng sự khôn khéo về mậu dịch với tất cả các nước trên Thế-giới, kể cả hối lộ, lo lót hay cần tặng biếu không cũng được, miễn sao đưa người Tàu vào nước họ càng nhiều càng tốt, chú trọng nhứt là Phi Châu và phía nam lục địa Mỹ, riêng các nước khác chỉ cần đạt được trung bình 3% dân số người Hoa trong nước họ là được rồi. Lúc đó Ta sẽ năn-nỉ bất cứ siêu cường nào cùng ta nên giao chiến nguyên tử, người Tàu sẽ không chết hết và sẽ còn một số lớn tồn tại; Thế là theo vận hành của Thiên-Cơ Trung-Quốc thống lãnh Thế-giới! Bắc-Kinh không cần biết là Nga hay Mỹ suy nghĩ gì, và họ có liên minh với nhau để chống Bắc-Kinh hay không? Bề nào thì con đường duy nhất mà Bắc-Kinh phải đeo cũng vẫn là đánh đổ cả Mỹ lẫn Nga, và tiêu diệt luôn cả các Giáo-hội lớn như Hồi-giáo, Thiên-Chúa-giáo, và tiến tới bá chủ Thế-giới – Lúc nầy một nước Tàu biết nói tiếng Anh trên lục địa Mỹ với nguồn nước Ngũ-đại-hồ vô tận trong khi thế giới đang hạn-hán và mặt bằng của đất rất hiếm (sụp đổ chày xuống đại dương)

    Vì những lý do mộng bá quyền trên đây nên Mỹ bằng mọi giá phải triệt tiêu Trung Quốc trước năm 2030, khi đó TQ có đủ khoa học kỹ thuật để khoan dầu dưới độ nghiên sâu xuống thềm lục địa có đá cứng như quần đảo Ðiếu-ngư và Hoàng Sa, làm sao Mỹ chịu nhục cho TQ dẫn đầu thế giới? Ðó là lý do 10 năm sau cùng nầy của chiến lược Eurasian 1920-2020, Mỹ phải hoàn tất chia TQ ra nhiều tiểu quốc bằng mọi giá qua thế “roll back” Việt Nam phải giúp Mỹ một tay.

    Cũng như trong tài liệu mật đã khẳng định rằng: Mỹ rút khỏi Việt Nam là theo sự yêu cầu của Trung-Quốc qua Mao-Trạch-Đông? (Tôi nghĩ đây là do Đỉnh-cao trí-tuệ vẽ vời, điều cần lưu ý là đừng tin hoàn toàn vào tài liệu mật!) Như trong tác phẩm nầy đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhu cầu cần thiết phải có chiến tranh cho Tư-bản phát triển kỹ nghệ, xong công trình là tới giai đoạn họ cần nghĩ’ để tu chỉnh lại cho kỳ phát động chiến tranh tới; như có ai làm trong hang xưỡng Mỹ thì dễ biết, có nghĩa xong một công trình là họ lay-off. Vì thế đã đến giai đoạn họ cần rút, chỉ đơn giản là thế, chớ không phải là theo sự yêu cầu của Trung-Quốc (một lần nữa, chúng ta đừng tin tưởng quá nhiều vào tài liệu mật về câu nầy, vì Tôi đã có những dẩn chứng khá rõ rệt vì sao cần có CIP trong chiến tranh VN) Thế nên mặc dù Liên-Xô muốn cho Hoa-kỳ phải sa-lầy ở Việt-Nam, áp-lực không cho Hà-Nội ký hoà đàm Paris. Nhưng một khi Mỹ đã quyết định rồi thì họ lợi dụng ngay ưu thế mà họ đã cố ý ngụy-tạo dựng lên trước đó: “Vụ Vịnh Bắc-Việt” (Tonkin Gulf Incident) để giành thế thượng phong là: B.52 thả ngay Hà-Nội qua chiến dịch Linebacker -2’ trong 11 ngày đêm là buộc Hà-Nội phải ngồi vào bàn Hội-Nghị ngay, Hà Nội không còn một trái Hoả-tiển SAM nào để chống trả? Còn như Trung-Quốc thì Họ dùng kế “Rung cây nhát khỉ” (shake the tree to scare monkeys) Ngày xa xưa lắm, khi mà mối tình nồng cháy giữa anh em hai nước lớn Cộng-Sản; Mao có lời thúc giục Liên-Xô nên thừa lúc trên chưn Hoa-kỳ về khoa học không gian mà tiêu diệt địch thủ lợi hại nhất Thế-giới, vì Mỹ là con Cọp Giấy nhưng Liên-Xô đáp lời: “Tuy là con Cọp giấy đấy, nhưng nó có nanh-vuốt nguyên tử!” Khi Hoa-kỳ đưa qua chiến trường Việt-Nam với quân số lên đến 543.500 (1969) quân thì Trung-Quốc muốn tè trong quần, nghĩ hối hận vì trước đó mình lỡ dại xúi Liên-Xô nên bây giờ nó đem quân qua chơi mình một mách! Mao-Trạch-Đông bèn nói một câu bâng-quơ: “Người không đụng đến Ta thì Ta không đụng đến ngươi!”

    Nhưng những đòn phép cũa Harriman là “như vậy nhưng không phải vậy,” đem qua nhiều quân như vậy là để “Hù-dọa” rồi rút quân về; Cũng như khi Harriman khuyên TT Truman đem Hạm-Đội 7 vào eo biển Đài-Loan nên Trung-Quốc không dám đụng tới Đài-Loan mà rút về thế thủ, và Hoa-Kỳ không những không muốn dùng lực lượng cực mạnh về nguyên tử để tiêu diệt Trung-Quốc mà còn cách chức Tư-Lệnh Chiến trường của Tướng Mc Arthur vì Arthur hiếu chiến và hiểu lầm ý nghĩ của Harriman, cũng như trong cuộc tháo chạy ở Việt-Nam, Đại-sứ Martin đã hiểu lầm ý nghĩ của cái loa Kissinger là thi hành những điều khoản của Hiệp định Paris. Chính-trị nó lắc-léo khó hiễu là vậy, cho nên trong tài liệu giải mật, nên suy nghĩ nhiều lần: “Hoa-Kỳ rút khỏi Việt-Nam là do sự yêu cầu của Trung-Quốc?” Có phải thật như vậy không!? Hay như Tôi đã nêu trên là: Đã đến lúc tới giai đoạn “Trồi lên để thở” gọi là nghỉ xả-hơi.

    Mao và Chu lại hiểu theo cách khác khi gặp Kissinger và Nixon (1972) Chu-An-Lai có lời khen TT Eisenhower là có hành động sáng suốt và can đảm khi đưa ra quyết định chấm dứt chiến tranh Triều-Tiên. Chu cũng bày tỏ quan điểm của Trung-Quốc thời bấy giờ, là sở dĩ Trung-Quốc phải đưa quân vào Triều-Tiên là kẹt vào thế bị ép buộc do TT Truman gây ra, vì ông ta đưa Hạm-Đội 7 đến phòng thủ Đài-Loan nên Trung-Quốc thời đó không thể thu hồi lại hòn đảo nầy được. Quân Mỹ lại tiến gần đến bờ sông Áp-Lục (Yalu-River) Trong khi Trung-Quốc đã ra tuyên bố nếu quân Mỹ mà tiến đến Sông Áp-Lục thì Trung-Quốc sẽ không ngồi yên cho dù Trung-Hoa lục địa mới được giải phóng; Vì thế khi TT Truman đưa quân đến Sông Áp-Lục, cho dù Trung-Quốc không chắc thắng và Liên-Xô nhất định không gỡi quân qua tham chiến, Trung-Quốc không còn chọn lựa nào khác phải nghênh chiến thôi.

    Nhưng trong thế Siêu-Chiến-Lược và phát triển kỹ nghệ quốc phòng như để lại tại Triều-Tiên 50.000 quân và NSC-68 đã chấp thuận tăng ngân quỹ quốc phòng trong cuộc hợp ngày 28/11/1950 với danh ngôn: “US Objectives and Programs for National Security” xong mục tiêu đi đến thời kỳ phải ngưng chiến để kiểm kê kế-toán (inventory) theo cung cách làm ăn của Tư-Bản Mỹ là đều lặp đi lặp lại như vậy. Tại Triều Tiên ưu tiên thí nghiệm vũ khí “quốc-phòng” bắt đầu thế hệ phản lực cơ Mig-15/F-84, kế tiếp cũng thế hệ phản lực cơ về “thương mãi” sẽ lấy chiến trường Việt Nam bằng Boeing và trực thăng. Cuộc chiến nầy chia ra hai giai đoạn, Westmoreland đem hành khách Boeing lên đến 534.000 air-tickets gọi là “Search and destroy” và Abrams rút về “Clear and hold” đến người lính Mỹ cuối cùng như chấm dứt một cuộc “Pinic thao dượt quân sư”. Riêng trực thăng là trợ huấn cụ (training aid) để tập luyện đổ quân, dĩ nhiên theo thủ tục làm ăn phải tiêu xài cho hết chớ chắc chắn sẽ không đem về Mỹ. Các sư đoàn không kỵ tiêu hủy hành quân, KQVN cũng đập phá thả giàn, các xạ thủ học ở LX về bắn hoả tiễn 107, 122 ly vào phi trường để phá hủy càng nhiều càng tốt, vì nếu chẳng may còn nhiều trực thăng thay vì Mỹ yểm trợ thành lập 28 phi đoàn, 4 phi đội thì phải 50 hay 60 phi đoàn thì tốn kém quá nhiều tiền. Nhưng cũng không sao, Mỹ sẽ tạo ra cái tên rất là chính trị “Việt Nam Hoá Chiến Tranh” để rồi thành đống sắt vụn vì không có bộ phận thay thế.

    Chúng ta đã từng chứng kiến nhiều lần trong quá khứ của lịch-sử, từ thế-chiến-1, rồi-2, Triều Tiên, Việt Nam, Afghanistan, Iraq… mà cái lò thuốc súng đó đã xây dựng năm 1918 khi Prescott Bush được những thành viên Skull and Bones bầu làm Chủ tịch WIB (War Industries Board). Thế kỷ 20 có nguy cơ về “nhân-tai” chủ yếu cho thế kỷ 21 là “Thiên-tai” W.A.Harriman làm thế nào thế giới sống yên lành dưới cái dù của Liên Hiệp Quốc trong thế kỷ nầy ./.

    KQ TRUONG VAN VINH
    Last edited by chieutim; 06-05-2013, 08:36 PM.

    Comment

    • vinhtruong
      Super Member
      • Jun 2010
      • 1924

      #17
      Bài tuyển LLĐB/NKT/VNCH - 9:04PM

      (Lịch sử là gì nếu ta không căn cứ và góp nhặt những dư luận dữ kiện và phản ứng hiện tại thêm vào đó những nhận xét khách quan? Như “THUA chiến-thuật THẮNG chiến-lược” là gì? – Trung tá John Paul Vann phải bị giải ngũ, nhưng vì thắng "chiến-lược" nên Secret Society tái bổ nhiệm qua lại VN để trở thành tướng dân-sự tương đương ba sao, nhưng sau đó Vann lại làm bể sách-lược Eurasian cuả WIB, nên đành để J.P.Vann phải bị hy sinh, (theo như luật giang hồ là phản đảng) - Thật nghịch lý, một nơi xa xôi như thành phố nhỏ xíu Kontum, 3 sư-đoàn BV, cùng 4 Thiết đoàn chiến xa thuộc trung-đoàn 203, không kể pháo bình phòng không và diện địa... mà không chiếm được Kontum đã bị cô lập từ lâu?

      Theo lăng-kính của tam đầu chế [Harriman, Prescott Bush, Georgew H W Bush] vào ngày ký Hiệp định hoà bình Paris 1973, “Ba thực-thể” hiện diện tại chiến trường VN mà trên bàn hợp phải có tượng trưng 3 lá cờ: Sàigon cờ Vàng, Hà-Nội cờ Máu, và Kontum cờ Xanh Đỏ…Vann đã ỷ vào sự tín-nhiệm của TT Nixon tóm thâu tất cà B-52 (kể cả ưu tiên cho các vùng Chiến Thuật) mà trải thảm trên đầu quân BV, để đến nỗi chỉ có Địa phương quân và Nghĩa quân thôi mà cũng tiêu diệt các chiến xa BV nằm rải rác vòng đai Tỉnh Kontum. Đây là điều khó tin nhưng có thật, “Vann phải trả cho cái giá làm bể sách-lược của P.G”)

      *****


      Vann từ trên chiếc L.19 nhìn xuống tuyệt vọng, không thể làm cách nào để tránh khỏi thiệt hại khi đoàn Trực-thăng trái Chuối cứ chàng ràng trước mũi súng của VC. (nhưng Vann có hiểu không các thứ quỷ nầy phải xả rác trên vùng đồng lúa nầy vì quá lỗi thời để WIB sản xuất thứ mới "ngầu" hơn). Cả hàng tháng nay, Cán bộ VC đã bỏ biết bao nhiêu công sức để thực tập bắn xuyên táo máy bay lên thẳng theo lịnh của trục KGB/CIA, và đây là cơ hội nghìn vàng tốt nhất và dễ dàng nhất để VC bắn hạ. Suốt cả các cuộc đổ quân bằng Trực thăng trong mấy tháng vừa qua, có một chuyên viên Cơ-Phi trên Trực Thăng H.21 vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy một VC đang quỳ một chân trong tư thế bắn lên Trực-thăng, hắn cố nhắm cho được người Mỹ đứng ngay cửa và cứ như thế mà bắn mãi, dĩ nhiên làm sao mà trúng được vì tốc độ của Phi cơ đang bay. Khi người Cơ phi thông báo cho các Phi hành đoàn đều biết… thì tất cả đều bật lên cười rộ! Có vẽ khinh thường! Nhưng hoàn cảnh thực hành trong trận nầy thì ai nấy trong phi hành đoàn đều... thót-dái (!!) lên cần cổ! Nhưng đặc biệt là ngày hôm nay, nụ cười khinh thường ấy sẽ đổi lại bằng một sự lo âu, như tim phi hành đoàn Mỹ muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, khi bay đổ quân ở Ấp Bắc.

      Vào ngày 20/7/1962, quân đội Miền Nam đã hành quân và tịch thu được tài liệu giảng dạy của Cán bộ Cộng Sản dạy về cách bắn máy bay, tại biên giới Việt-Miên, bằng Đại liên 50 (12ly7) đồng thời sau đó không lâu, họ đổi qua thế dùng súng cá nhân để bắn phi cơ. Và đặc biệt về cách bắn hạ Trực-thăng H.21 trái Chuối thì rất dễ, vì sự to lớn quá kềnh càng, cho nên điều kiện dễ hạ nhất là khi máy bay đang lúc cất cánh cũng như lúc sắp đáp xuống; Kinh nghiệm của một sát thủ chuyên nghiệp bắn hạ H.21 cho rằng: “cứ nhắm vào một phần ba phía trước của Trực Thăng mà bắn thì tất cả đạn đều ghim vào trong đó”.

      Người chỉ huy Phi hành đoàn Trực-thăng không chịu nghe lời hướng dẫn của Vann, mà tự ghim trong đầu, và quả quyết rằng: VC ở bìa rừng cây phía Nam vì nơi ấy mới vừa đụng độ, cho nên hắn tự quyết định ở phía Tây tương đối không có địch, trong khi đó ở dưới Ấp Tân Thới, thì thành phần còn lại của Tiểu Đoàn 514 địa phương đang có lệnh tập trung lại, và quyết hạ cho được đoàn Chuồn Chuồn sắt đang bay nhởn nha nhởn nhơ, muốn giỡn mặt với tử thần. 10 chiếc trái Chuối rà thấp như muốn đáp gần đâu đó, quả thật không bao lâu, đoàn Trực-thăng bay thấp và hạ dần đến phía rìa cây hàng Dừa tận bờ Tây của Ấp, rồi tuần tự đáp đại xuống hai thửa ruộng ngập nước. Trong khi đó VC thừa thời gian để phối trí lực lượng và quyết tâm bắn hạ cho hết đoàn Chuồn Chuồn lạc lối, bay rà qua rà lại thêm ngứa mắt; Kết quả, tất cả chúng đều bị trúng đạn, vì thân hình quá lớn, nên khắp thân đều bị ghim dấu đạn, nhưng cũng còn bay được, duy chỉ có một chiếc H-21 sau cùng là bị quá nhiều vết đạn nên phải nằm ụ dưới ruộng như con Khủng Long bị ngã qụy trên hoang đảo (xem hình trước trang 331& 333 The New Legion, Vol-1)

      Thế là hai Phi công và hai chuyên viên của Hoa-Kỳ đeo sát theo Đại đội trừ bị, lội bì bõm dưới ruộng nước. Tuy nhiên có lệnh khẩn cấp là bằng mọi giá phải đem đoàn viên Phi hành nầy ra khỏi vùng hành quân, dù rằng, họ đang được bao quanh bởi quân bạn. Thình lình trơ-trọi một chiếc H.21 quay trở lại để đón bạn, nhưng lại không cứu được ai, mà một mình chịu trận với hàng chục khẩu súng (toàn made in USA thế mới đau) nhắm vào đến đổi phải lại nằm ù tại chỗ, cách chiếc trước chưa đầy 100 thước.

      Lại thêm một lệnh khẩn cấp thứ 2 truyền ra, là phải cấp cứu tất cả 2 đoàn viên Phi hành H.21 về Hậu cứ gấp.
      Vị phi tuần Trưởng-trực thăng võ trang HU1.B nói trong vô tuyến, để đích thân ông sẽ đi cứu họ; Vann bảo Phi-công L.19 bay thật thấp trên đầu địch và lấy trọng tâm nơi 2 chiếc Trực Thăng bị rớt làm trung tâm bay vòng tròn. Dù rằng Vann chẳng sợ súng đạn, nhưng súng đạn của VC lại sợ Vann nên không dám bắn lên. ‘Đây là một trò chơi chiến tranh rất khôn ngoan củaVC’ để khỏi bị lộ vì Biên Hoà có oanh tạc cơ B-26; Còn đối với Hoa-kỳ lại là 1 bài học vở lòng, ở trang đầu về học thuyết chiến tranh du kích. Đó là lý do Secret Society nuôi quân để luyện tập: Vì muốn bảo vệ hoà bình thì phải chuẩn bị chiến tranh?

      Vann vô cùng tức giận: “Sao họ (phi hành đoàn) lại không chịu nghe lệnh của mình?” Đúng ra, Phi hành đoàn phải tuyệt đối nghe theo lệnh của vị Tư-lệnh chiến trường, hơn nữa Vann nắm vững tình hình chiến trận, vì ông đã ngồi quan sát trên 2 chiếc L.19 thay phiên nhau bao vùng hành quân từ lúc tờ mờ sáng tới giờ lựng. Nhưng có điều hơi lạ, là Vann biết chắc vị Sĩ quan chỉ huy Phi hành đoàn sẽ không để ý gì đến huấn lệnh của ông, nhưng tại sao Vann không bàn thẳng-thắn ngăn chận hủy bỏ cuộc đổ quân, hay điều động họ đáp qua chỗ khác, mà trong phóng đồ hành quân đã ấn định? Đây cũng là một bài học đáng kể, nhưng trước sau gì thì Hoa-kỳ cũng sẽ kiện toàn lại cơ cấu chỉ huy, tại chiến trường VN, sự học hỏi về chiến thuật du kích của họ đã phải hy sinh oan uổng cho một số binh sĩ của VNCH. Đó cũng nằm trong kế hoạch về tham mưu của Nhóm Harriman để ép buộc TT Kennedy phải cho quân đội Mỹ tập trận thiệt tại thao trường thật tiễn tại Việt Nam, còn TT Diệm không chịu đem quân Mỹ vào thì còn phương cách lấy máu để giải quyết và TT Kennedy cũng phải làm thịt thôi.

      Vị Sĩ quan chỉ huy của Toán Trực-thăng UH.1 đang bay vòng chung quanh trên 2 chiếc trái Chuối đã bị bắn nằm ụ dưới ruộng nước (Phi hành đoàn UH.1-A gồm có 3 người) để tìm kiếm 2 đoàn viên Trực- thăng H.21 đang lẩn quẩn dưới đó, trong khi 4 chiếc Võ trang UH-1B đang nhả đạn và hỏa tiễn theo dọc hàng cây quanh đó, để áp đảo VC, đồng thời cũng yểm trợ cho một chiếc UH-1A đáp xuống để cứu 2 Phi hành đoàn H.21. Chiếc HU.1-A của Phi đội Trưởng đang giảm máy làm vòng cận tiến xuống thấp để đáp. Khi chiếc UH.1-A toan đáp, nhưng không biết rõ địch tình, quá tin tưởng vào 4 chiếc Võ trang đang quần thảo áp đảo VC mà quên rằng bên dãy hàng Dừa và ở các bụi Tre-gai, nơi đó có vô số hầm trú ẩn được ngụy trang rất là cẩn thận chắc chắn dưới các gốc Tre bao phủ dưới đó. Lúc chiếc UH.1-A gần như ngóc đầu khựng lại để đáp thì chỉ trong vòng một phút thôi, tất cả xạ thủ của VC đều ra khỏi hầm và tập trung hỏa lực vào chiếc UH.1-A nầy, vô số đạn ghim vào Trực-thăng đến nỗi nó phải lật úp qua bên phải và nằm một đống, cách 50 thước sau 2 chiếc H.21 (xem hình 3 chiếc nằm ụ nơi trang 331, Volume-1)

      Hôm nay VC đã lập được thành tích trong chiến tranh là đã bắn rơi được 4 chiếc Trực- thăng; Chiếc H.21 thứ 3 vì trúng đạn quá nặng nên trên đường về, phải đáp ép buộc xuống trên một thửa ruộng , cách đây vào khoảng 5 cây số về hướng nam, Phi hành đoàn được cứu thoát, bình an vô sự. Du kích của VC đã hồ-hởi khi nhắm vào một đoàn Trực-thăng, gồm 15 chiếc thì có 14 chiếc đã bị trúng đạn, chỉ trừ có 1 chiếc UH.1-C là đã may mắn không trúng viên nào cả! Phi-công Hoa-kỳ chắc chắn đã tởn mặt cho biết thế nào là lễ độ, không còn dám cười khinh-khỉnh khi nghe người Cơ phi thông báo cho họ biết là đã thấy một du kích, trong vị thế quỳ một chân để bắn lên Trực Thăng.

      Trung Sĩ Bowers, nhún mình đứng dậy chạy phóng tới chiếc UH.1-A vừa mới bị bắn rớt, nước dưới ruộng cạn lấp xấp như kéo chân hắn lại, không cho hắn đến để tiếp cứu đồng đội. Hắn mừng thầm trong bụng, chắc Chúa đánh động hay sao mà hắn được đi chung với một Tiểu đội gan dạ và nhạy bén trong chiến đấu như vậy. Chiếc UH.1-A, nằm nghiêng một đống bên phải như một con quái vật nổi lên trên hồ nước. Trên cánh đồng ngập đầy nước giống như một cái đập được chấn ngang bằng bờ đê khá lớn, nơi đó tiếng động cơ của Phản-lực gầm thét tức tối vì bị rớt gãy văng ra khỏi buồng máy; Với cái trớn vẫn còn quay của cánh quạt chính, đang bị cong vòng, chém xuống mặt ruộng rời rạc, dẫy dụa oằn-oại như một con quái vật dẫy chết; Bowers đang lo sợ sẽ bị phát hỏa và nổ tung, vì số xăng JP-4 vẫn còn nhiều ở giữa bụng Trực-thăng. Viên Phi-công phụ, ngồi bên ghế trái, chưa hoàn hồn, hắn lui cui mò mẫm để tìm lối thoát ra ngoài, và đang lom khom chạy đến mô đất khá to gần đó để tránh đạn.

      Bowers la to gọi người Phi-công phụ, nhưng nó cũng chẳng ơi hỡi trả lời mà cứ ngồi lì nơi đó như kẻ mất hồn. Hắn thấy không trông mong gì về viên Phi-công phụ nầy sẽ cùng chung phụ lực để lôi đoàn viên ra, vì còn kẹt ở trong buồng lái. Con quái vật hoàn toàn nằm bẹp lún sâu xuống ruộng, nằm nghiêng hẳn về phía trái. Cũng may cánh cửa bên phải đã gãy một phần rơi cách đó không xa mấy. Bowers cố gắng đẩy phần còn lại của cánh cửa, và mở dây nịt an-toàn, lôi mạnh viên Phi công ra, Phi công trưởng đang ở trong trạng thái thẩn thờ, ngớ ngẩn, gần như mất hồn không còn biết gì cả; Ông bị thương ở chân vì lúc rơi ngả về bên phải, nhưng cũng còn lại được chút ít trí khôn để quàng qua vai Bowers, cà nhắc đi vào mô đất cùng với viên Phi công phụ mới vừa thoát hiểm.

      Bowers hấp tấp trở lại để cứu viên Cơ-phi, viên Trung-sĩ già, da đen có cái tên trên túi áo là William Deal; Tiếng máy phản lực UH-1 vẫn còn nổ gầm thét như muốn đe dọa sẽ nổ tung ra từng mảnh. Trước khi UH.1 rơi, cơ-phi Deal ngồi nai nịt cẩn thận, bắn trả lại với khẩu súng trung-liên trong tay, Bowers nghĩ rằng: chắc khi rơi xuống đất quá mạnh nên hắn bị bất tỉnh và đang ngồi ở vị thế ngồi chổng ngược, theo vị thế khung-phòng Trực-thăng bị vặn uốn cong queo, Bowers nghĩ làm cách nào lôi nó ra trước khi Trực-thăng phát hỏa. Chỉ còn một cách duy nhất là, đi từ trước ra sau; và lôi nó ra ngược lại về phía trước; Bowers đạp mạnh mớ kiếng nhựa vụn bể dở dang ở đằng trước trực-thăng, xong ông leo vào trong. Deal vẫn ngồi chổng ngược, nên Bowers cho rằng Deal bị bất tỉnh, vì lúc rơi chạm xuống đất quá mạnh. Chiếc nón bay bằng nhựa cứng và sợi dây nghe đang xoắn tréo vào cổ của Deal trong thế ngồi bị chổng ngược. Bowers gỡ sợi dây nịt an-toàn, và sợi dây dưới cằm của Deal ra và lột cái nón bay ra khỏi đầu của hắn để không còn vướng mắc khi phải kéo lê hắn ra khỏi Trực-thăng. Trong khi Bowers lột chiếc nón bay của Deal ra khỏi đầu hắn, thì lúc đó Bowers mới phát hiện ra là vì “Ông đang cố gắng hết mình để cứu một người bạn đã chết, mà không sợ trực-thăng phát hỏa!” Deal đã bị một viên đạn khắc nghiệt ghim ngay vào đầu, và chết ngay tức khắc, lổm chổm gần quanh đó có vô số vết đạn ghim thủng.

      Thình lình, tiếng động cơ của phản-lực sau một thời gian gầm thét, giờ thì cũng đã tắt lịm vì đã hết nhiên liệu, (hình đầu của bài nầy, chiếc HU-iA đâm xuống ruộng nước, văng đầu transmission ra xa cách đó khoảng vài chục thước nhưng may mắn không bị phát nổ, khi Bowers vào cứu Phi hành đoàn). Dù sao đi nữa, Bowers cũng phải rán gồng mình kéo lê cái xác của Deal ra khỏi Trực-thăng. Bowers là người nhà quê, khỏe mạnh của Tiểu bang Minnesota, thói đời thường khinh rẻ chê bai người nhà quê nầy nọ, nhưng thử nghĩ có được mấy nhà trí thức, mà làm được những việc như Bowers đã làm? Bowers là người Nông dân nên gân guốc nổi lên cuồn cuộn; Thuộc thế hệ thứ 3 của dòng dõi có 2 dòng máu Đức và Do Thái, từ lowa di chuyển qua Minnesota, dòng họ Bowers xuất thân từ công nhân mỏ than ở North Dakota. Bowers cao, khoẻ, vạm vỡ hơn Vann rất nhiều; Còn Vann, chỉ cân nặng có 150 cân Anh, dạng người Mỹ như vậy là quá mảnh khảnh, nhưng cái đầu thì nặng và chứa chất lì hàng tấn.

      Cơ-phi Deal, vì quá nặng, nên Bowers ì-à, ì ạch mãi mới kéo được Deal ra khỏi Trực-thăng, sức cũng đã cạn dần, nhưng Ông vẫn tiếp tục, một tay sốc nách, còn tay kia nắm chặt chiếc áo bay màu xám Army Phi hành của Deal, kéo lê người chiến hữu vắn số qua khỏi phần ruộng nuớc… đến một mô đất cao, để nhập chung với 2 Phi-công đang ngồi bệt trên đó trông như kẻ mất hồn, thình lình có tiếng nổ ì-đùng sau khi nghe tiếng rú, dường như bazooka của VC đang nhắm bắn về hướng mô đất mà Bowers và Phi hành đang cố bám để ẩn núp? Bowers tự nhủ “Sao mình đần độn đến thế, Deal đã chết rồi mà” Mình không thể cứu hắn sống lại được! Và hắn vội thả nhẹ Deal nằm xuống dưới ruộng khô mà lòng vẫn còn bị cắn rứt vì đã không tôn trọng người vắn số; Nhưng có ai nỡ trách Bowers trong hoàn cảnh phải tự bảo vệ lấy mạng sống của mình chứ, dù sao thì Deal cũng đã chết rối, Bowers đang cùng ẩn núp dưới mô đất với 2 Phi-công.

      Tại Hoa-Kỳ, xuất TV đầu tiên trình chiếu cuộc chiến nóng bỏng tại Việt-Nam, và đứa con trai lên 7 tuổi của Deal, nhà ở Mays-Landing, New-Jersey, nó nhìn thấy được hình ảnh của Cha nó đang tham dự hành quân và bị tử thương. Gia đình Deal, cùng mọi người đang chăm chú theo-dõi truyền hình, khi thấy rõ chiếc Trực-thăng UH.1-A bị bắn rớt, thì thằng nhỏ 7 tuổi thét lên! “Coi kìa, Cha tôi” và nó đã òa lên khóc nghe rất thảm thiết, 6 tiếng đồng hồ sau, gia đình Deal đã nhận được một tin sét đánh, từ Ngũ-Giác-Đài báo về xác nhận Deal đã chết.

      Bowers trườn đến chiếc Trực-thăng H.21 thứ 2 bị rơi cách đó không xa, hắn thấy rõ người xạ thủ của Phi hành đoàn đang nằm núp dưới nước sau bánh xe của Trực-thăng H-21, bỗng dưng tiếng rít gió của tạc đạn hỏa pháo Bazooka nổ đoành cách đó khoảng trăm thước, nhưng chỉ làm nước văng lên tung tóe, hắn hụp đầu xuống bùn trong giây lát rồi lại tiếp tục trườn đến Trực thăng. Người chỉ huy của VC điều động một Tiểu đội chạy dọc xuống hàng cây, song song hướng Bắc của các Trực-thăng bị nằm ụ, và bắn từng phát một những trái phóng lựu đến Trực-thăng, toan phá hủy để làm di tích chiến thắng, nhưng rất tiếc là tầm đạn đạo không đến được, nên chỉ phát nổ lưng chừng hoặc làm bùn nước văng lên tung tóe khi chạm nổ.

      Bây giờ cảnh vật đồng quê trở lại thanh vắng lạ thường, xem ra ngay đến một trái đạn rơi gần nơi đó cũng không thấy; sự thật chẳng qua đây là lần đầu tiên họ xử dụng súng cối vì trái đạn nầy rất quý hiếm, làm gì họ có cơ hội để luyện tập! Khi Bowers vừa bò trườn tới chiếc H-21 thứ 2 thì tiếng súng hoàn toàn yên lặng đến dễ sợ, Bowers suy diễn một hồi lâu, có lẽ VC đã tìm cách rút lui vì chúng không còn hoả lực mạnh và rút lui để bảo toàn lực lượng, chúng cũng rất khôn ngoan không dại gì chịu bị một trận địa pháo hay phi cơ oanh kích. Người Binh nhất, xạ thủ trẻ đang run rẩy cố dìm thân mình xuống sâu hơn dưới nước bùn một tí nữa để tránh đạn, lấp ló đôi mắt cạnh bánh xe Trực Thăng nhìn về phía có tiếng xào xạc đang trườn tới của Bowers; trông ngoại cảnh như một con quái vật khổng lồ đang dẫm một chân nghiền nát con mồi.

      Bowers la to lên như muốn trấn an người chiến hữu cùng một Tổ-quốc đang thi hành chính sách quân dịch G.I “Họ đâu cả rối”
      Người lính trẻ thều thào trả lời tiếng được tiếng không: “Phi-công đã bỏ chúng tôi chạy theo Bộ Binh VN rồi!” Vừa nói nó vừa chỉ tay về hướng bờ đê bên trái, nhưng tôi không thể nào bỏ bạn tôi một mình ở nơi đây!“. Chỉ là một chiến sĩ quân-dịch G.I mà còn nêu cao tình đồng đội như vậy, không bỏ anh em, không bỏ bạn bè trong lúc nguy-nan nầy, thật cảm động và đáng khen cho tình nghĩa phi hành!
      Bowers ngắt lời hỏi ngay “Hắn đâu rổi!” hắn đang bị thương, tôi không thể trèo lên đem hắn xuống, vì đã nhiều lần tôi toan nhảy lên thì VC bắn vào xối xả nên tôi phải nằm xuống nước núp lại, vừa nói hắn vừa chỉ ngón tay về phía rừng Tre trước mặt. Bowers chỉ tay về phía sau lưng, nơi mô đất mà 2 Phi-công đang núp ở đó và bảo “Anh bò trườn tới mô đất ở đàng kia, núp ở đó chờ Tôi… và anh sẽ gặp Trung-úy Đai-đội trưởng và 2 người bạn anh ở nơi đó!”

      Bowers uốn mình, nhanh như chớp phóng lên sàn Trực-thăng, có vài tràng đạn súng nhỏ rời rạc bay đến nhưng rơi lõm bõm xuống nước ở đàng xa, trên mặt ruộng nước tạo thành những vòng tròn, giống như vài con cá to đang trồi mình lên ăn móng. Bowers cũng lăn-cuộn tròn trên sàn nhôm, cố đến gần người thanh niên trẻ đang bị thương, hắn bàng hoàng khi nhìn thấy khung phòng Trực-thăng bị vô số mảnh đạn xé nát; Rồi không khí trở nên im lặng một cách kỳ lạ đến khó thở! VC đã bỏ ý định bắn vô ích vào một chiếc Trực-thăng đã nằm ngã quỵ bất động trên ruộng nước tự bao giờ. Cơ-phi Braman như kẻ mất hồn bàng hoàng nhìn Bowers với đôi mắt cầu cứu nơi quới nhân, nhưng trông hắn không có vẻ gì là bị thương trầm trọng. Hắn vừa mới bị trúng đạn khi anh dũng bắn trả hết băng đạn Carbine và đang nạp vào băng đạn thứ 2, khi lom khom cuối xuống thì một viên đạn xuyên qua bả vai bên phải, buộc hắn ngã bật ngữa trên sàn nhôm.

      Rốt cuộc, phi hành đoàn H-21, gồm 4 người mà chả giúp gì được nhau Bowers lấy dao rọc cắt chiếc áo phi-hành dài xuống tận lưng của Braman và đang chăm chú nhìn vào tình trạng vết thương để tìm cách săn sóc. Dường như nó không có gì gọi là trầm trọng cho lắm, chiếc áo giáp thì lố nhố nhiều vết đạn của mẫu quốc chế tạo, xa ra khỏi viền áo là 1 viên đạn xuyên qua ngọt ngào dưới cánh xương bả vai để lại một lổ tròn đang rỉ máu. Mọi người lính chiến đấu ai cũng phải được trang bị một loại băng cứu thương, thế nên Bowers chụp ngay băng cứu thương nơi dây nịt của Braman, mở toạc ra úp ngay vết thương, rồi Bowers lấy cuộn băng của mình băng vào lổ sau lưng của vết thương, cuốn quanh nơi cổ và nách để giữ chặt vết thương khỏi bị nhiễm trùng. Rồi thì Bowers đặt nhẹ lưng Braman xuống sàn tàu để giữ vết thương bớt rỉ máu
      Bowers đang suy gẩm một hồi lâu, rồi đi đến kết luận, Braman phải ở lại trong long cabin Trực- thăng để được an toàn hơn vì ra ngoài vết thương có thể trở nên trầm trọng, dễ bị làm độc bởi nước bùn quá dơ bẩn khi thấm vào. Bowers ôn tồn giải nghĩa cho người Cơ phi trẻ tuổi và được sự gục đầu hiểu biết của Braman
      Bowers lấy bình nước của mình đưa cho Braman hớp vài ngụm và nằm bên cạnh hắn giây lát để an-ủi qua những câu chuyện tâm tình tự nhiên hơn bao giờ hết, Braman cảm thấy quá gần gủi và thân mật với Bowers. Hắn tâm tình và dường như muốn nhắn nhủ điều gì với Bowers; Braman vói tay qua bên cánh tay không bị thương một cách khó khăn, lấy ra trong bóp một chiếc ảnh vợ của hắn và nói: “Gee, tôi hy vọng sẽ được trở về nước sớm để gặp lại nàng!” Với cặp mắt tin tưởng bao đảm của Bowers: “Đừng lo, anh không đến nổi gì trầm trong...chắc chắn sẽ gặp lại nàng thôi” Bowers nói tiếp cho hắn vững lòng: “Đừng lo, Chúng tôi sẽ tìm mọi cách đưa anh ra khỏi chỗ nầy càng sớm càng tôt!” Và Bowers nói hắn nằm yên nơi đây chờ đợi, Bowers phải rời khỏi nơi đây để tìm cách cứu phi hành đoàn, cũng không xa lắm quanh quẩn đâu đây, hứa chắc không bỏ rơi hắn, Bowers bò trên sàn tàu đến cửa Trực-thăng, và lăn nhào xuống ruộng nước, lại thêm một tràng đạn vô ích, nổ rời rạc bay tới rơi lỏm bỏm xuống nước

      Đến giờ nầy vị Trung-úy Đại đội trưởng mới có thì giờ nói được tiếng Anh khi Bowers đến gần ông; Bowers dồn dập hỏi: Tại sao Lieutenent phải cho đại đội dừng quân tại chỗ để ẩn núp bên cạnh sườn phía Nam của dãy hàng cây, chờ pháo binh bắn yểm trở với tình trạng như thế nầy thì quá nguy hiểm khi phải phân tán đại đội để tấn kích vào một mục tiêu mà mình đang ở ngoài đồng trống, trong khi VC có thế đất phòng thủ vô cùng vững chắc; vì thế toàn đại đội phải tập trung lại để chống đỡ nếu chẳng may VC điên rồ bung ra tấn công mọi hướng. Nhưng đây VC không tấn công mà chỉ để bắn sẻ vì Phi-công Trực-thăng đã thả đại đội ngay tầm đạn của địch không hay biết; chỉ có một cách duy nhất và linh động lui quân về sau xa hơn tầm đạn của VC, điều nầy lại xa rời với lệnh hành quân tấn kích chớ không phải lui binh. Hậu quả quân bạn sẽ bị thiệt hại nặng nề do Phi Công dẩn đạo chỉ huy không thèm nghe lệnh của Vann: thoạt đầu VC dùng tất cả hỏa lực để bắn Trực-thăng, sau đó họ tập trung nổ lực tiêu diệt Bộ-binh càng nhiều càng tốt, cho đến khi mặt trời lặn thì mới mon men rút lui dọc theo các mương rạch; điều dễ hiểu rút lui vào ban ngày sẽ bị tiêu diệt lần mòn trên đường rút lui, còn như cố thủ sẽ được các hầm hố đào sẳn cũng như các chướng ngại vật thiên nhiên như các gốc Tre che chở, được bảo vệ an toàn hơn qua bao thế hệ kinh nghiệm chống Nhựt và Pháp
      Quả thật, đại đội nầy phải nằm đây chịu trận trong tầm bắn sẻ của VC, một số chết tốt và một số bị thương bởi những viên đạn xuyên qua từ hướng Đông, bên cánh phải bay vút đến trúng vào mông hay phần sườn dưới sau lưng, trong khi cả đại đội đều nằm sát cạnh bờ đê của ruộng nước được che phủ tương đối là khá bảo đảm. Dưới tầm nhìn từ trên không, tôi nghĩ, trong khi Đại đội đang chú trọng về vùng hàng cây trước mặt, phía trước có một con kinh tương đối ở ví trí cao hơn bờ ruộng và đó cũng là điểm thuận lợi cho tầm quan sát và điều chỉnh đạn đạo; mà quên rằng quân du kích bắn sẻ đã leo lên trên các ngọn cây dừa về cạnh sườn phía Đông để bắn sẻ từng phát một, mà quân bạn khó phát hiện từ đâu bắn tới, khiến cho phần lộ diện lú ra, được trông thấy rõ qua điểm cao của bờ đê. Toán VC nhiều nhất ở tuyến hàng cây bờ Bắc đang lên tinh thần vì họ đã khóa chân đại đội Bộ Binh đang nằm trong tầm đạn của chúng, mọi cuộc động binh của đại đội đều bị VC khống chế, Bộ-binh bị lần lượt rụng rơi qua cuộc bắn sẻ của 1 Tiểu đội của VC đang ở vị thế thượng phong là trên các đọt cây Dừa, cây Cau. Và tại sao Trung úy Đại đội trưởng phải cho lệnh nằm thật sát vào cạnh gốc bờ đê chìm sâu xuống ruộng nước để tránh đạn, và một điều vô cùng bất lợi là không có ai dám nhoi người lên lộ diện để bắn trả, hay chỉ đưa nòng súng tựa qua bờ đê bắn trả một cách như lấy lệ giữa sự chứng kiến của VC trên hàng Dừa cao nhìn xuống. Quả thật phi công Mỹ cần tập luyện chiến trận là hoàn toàn đúng trong ống kính của Permanent Government cảnh báo hành pháp Kennedy, “Muốn bảo vệ hoà bình phải chuẩn bị chiến tranh là vậy đó” Chờ gì mà không đem G.I qua tập luyện chiến trận thiệt?
      Cuộc chiến Ấp Bắc gây ra không biết bao nhiêu chuyện xích mích giữa TT Diệm và hành pháp Hoa-Kỳ, về cấp giữa thì có Tư-lệnh Sư-đoàn-7 với John Paul Vann, còn dưới cấp nhỏ giữa Trung-úy ĐĐT và Thượng Sỉ Bowers. Trên thực tế thì Bowers muốn liên lạc với Vann trên L.19 để điều động pháo binh cũng như phi cơ oanh kích, giãi tỏa áp lực của địch và cứu phi hành đoàn, vì Bowers tự cho rằng mình đã có khá nhiều kinh nghiệm về ‘tiền sát viên’ cho súng cối 81 ly của một đại-đội chiến thuật, nhưng Trung-úy ĐĐT vẫn không cho vì những tần số nầy phải được thường xuyên liên lạc với Thượng cấp. Cấp nhỏ với nhau thật dễ giải quyết, mặc dù Bowers viện dẫn cũng như hù rằng, pháo binh và phi cơ chiến thuật sẽ cứu họ ra khỏi chỗ nầy, nếu không chốc lát đây VC sẽ tấn công tràn ngập vào Đại đội, nhưng một lần nữa Trung-úy dứt khoát không được (người viết vẫn luôn đồng ý với Trung úy vì đây là trách nhiệm của đương sự) Dầu sao ở cấp dưới từ chối hay đối chọi với Mỹ cũng dễ dàng hơn ở cấp cao, tôi còn nhớ hồi còn làm Phi-đoàn trưởng, tôi đã từ chối không muốn nhận có Cố vấn trong Phi đoàn của tôi. Trong một buổi họp tôi có trình với Đại Tá Cố Vấn Trưởng Surrat tại Sư-Đoàn 1 K.Q, Đà-Năng: “với cấp Thiếu-tá chỉ làm Phi-đội trưởng là cao nhất, thì làm sao có kinh nghiệm để làm Cố-vấn Phi Đoàn) Tôi lập bập lỏm bỏm tiếng Anh: “Have advisor having problem, No advisor no problem” thế là từ đó trở đi phi đoàn tôi không có Cố vấn.
      Vị Thiếu-úy tiền sát viên được chỉ định theo Đai đội đang theo dõi liên lạc với hậu cứ tại phi trường Tân-Hiệp, Mỷ Tho. Ông đang nằm cách đại đội khoảng 10 thước; Và cũng đang hướng dẫn tác xạ, truyền chuyển tọa độ về Trung Tâm Hỏa Lực thuộc Bộ Chỉ Huy Sư-Đoàn 7; Thỉnh thoảng những trái đạn hú trên không gian rơi xuống vào những nơi xa về hướng Bắc, trật mục tiêu gần 500 thước, tiền sát viên chủ đích bắn hơi xa, để rồi điều chỉnh kéo lần về hướng mục tiêu, như thế an toàn cho quân bạn hơn, sau khi 8 trái đạn 105 ly nỗ vang dội ngoài ruộng nước, Bowers xỏ miệng xía vào “kéo về Nam 100 thước”, thậm chí còn đòi chụp máy liên lạc, nhưng 2 sĩ quan từ tốn trả lời: “không được chúng tôi đang điều chỉnh pháo binh kéo về mục tiêu ngay dãy hàng Dừa trước mặt” Dầu sao phải thông cãm ở cấp dưới rất dễ dàng giãi quyết với nhau hơn

      Hỏa lực yểm trợ hành quân bao vùng gồm có Đai bác 105 ly và súng cối nặng 4.2-inch đang trải dài theo trục lộ phía Nam của cuộc hành quân, Bowers vô cùng nóng ruột muốn liên lạc với Vann trên L.19 và với Ziegler ở Bộ chỉ huy tiền phương Tân Hiệp mà không đươc “làm sao báo cáo tình trạng của phi hành đoàn để Vann cứu họ ra khỏi vùng khói lửa đây” Chắc hắn tức muốn ói máu, nhưng đây là giá phải trả đối với một chính sách trịch thượng của chính quyền nước hắn. Tại sao những lần hành quân trước, hắn không bị một chút trở ngại nào khi mượn vô tuyến của Bộ-binh Miền Nam; Vì thế hắn đinh ninh cũng sẽ được như trước, nên không đem theo máy vô tuyến để liên lạc với những người đồng hương!
      Một viên đạn vô tình đã làm trọng thương người lính mang máy truyền tin ở sau lưng, rồi thêm một viên đạn nữa trúng vào máy làm anh chúi mũi chìm xuống vũng bùn không một tiếng rên-xiết; Bỗng chốc xa về phía chân trời từ hướng Bắc, 2 chiếc khu trục AD-6 Skyraider cánh quạt đang hùng dũng bay đến, một hiện tượng cứu nguy đang làm đại-đội nầy lên tinh thần, giờ họ chỉ còn chờ đợi những quả bom chính xác tiêu diệt chúng. Tuần tự từng chiếc một nhào xuống thật thấp để thả bom napalm, nhưng lại không trúng vào mục tiêu như đã ước đoán, Phi công AD-6 lại thả phá hủy dãy nhà tranh mà hồi sáng Trực-thăng võ trang đã oanh kích xong, thay vì mục tiêu chính yếu là chỗ VC núp sau bờ đê của con kinh đào khá lớn. Sau tiếng bùng nổ ấm áp của napalm, sức nóng kinh khủng kéo dài được đôi phút làm nghẹt thở những người ảnh hưởng gần nơi đó; Làm sao VC chịu nổi sức nóng khủng khiếp như vậy; Cả đại đội bừng dậy nhìn hiệu quả của bom napalm mà tự cho rằng cơn nguy kịch đã bắt đầu trôi qua, từng cái chúi mũi thẳng đứng xuống.rồi từng chùm bom, rockets phóng hỏa vào những dãy nhà tranh trong sự hớn hở lên tinh thần cho quân bạn; nhưng thình lình 2 chiến sỉ đứng cạnh Bowers ngã lăng ra chết tốt vì những tràng đạn từ bìa rừng cây trước mặt bắn tới; mọi người lại cùng một lượt, không ai bảo ai, nằm úp mặt sâu xuống bùn để tránh đạn, báo hiệu VC vẫn bám trụ vào những công sự phòng thủ để được che chở và chờ đến đêm tối mới chịu rút lui trong êm thấm.
      Bowers cố lỏ con mắt nhìn về phía rừng Dừa, nhưng chẳng thấy có dấu hiệu nào VC chịu rút lui, hoặc động binh đổi vùng, có nghĩa là VC ở lì và cho ăn-thua đủ; Hắn nói với Trung úy ĐĐT như van xin: “cho tôi mượn máy để liên lạc”, nhưng vô ích Vị Trung úy, “tôi sẽ cho khu-trục dội Bom ngay xuống hàng cây trước mặt”

      Vann như một tù nhân bị nhốt chặt trên không ở ghế sau của chiếc L.19 quan sát với đầy sự kinh hoàng lẫn giận dữ cùng nỗi thất vọng chán chường, Vann đang nghĩ đến trách nhiệm cứu sống 1 Cố vấn và 3 phi hành đoàn Trực-thăng đang kẹt lại ở dưới vùng lửa đạn, dù họ có chết hay bị thương làm sao Vann biết được, nên sự bồn chồn trong dạ làm thân người của ông đã bé nhỏ càng thêm teo-tắt, xuống sắc vì trách nhiệm đang đè nặng lên ông. Trong khi từ lúc triễn khai cuộc hành quân cho đến giờ quân bạn chưa thấy mặt kẻ đối địch, mà chỉ biết được những loạt đạn từ bìa rừng Dừa trước mặt bắn tua tủa về hướng Nam vào Đại đội đang núp; và rời rạc vài viên đạn bắn sẻ từ trên ngọn cây Dừa, Cau bắn xuống vô chừng khó phân định được hướng. Suốt cả ngày hôm nay, quân bạn chỉ thấy được 1 tên du-kích chạy băng ngang hàng cây về phía bìa Nam, có lẽ tên giao liên đưa tin; và sau đó 2 tên du-kích bên kia bờ kinh đào chạy thoáng qua để đổi vị thế.
      Ngay sau khi chiếc UH-1.A bị bắn rớt, Vann kẹp chiếc máy truyền tin không lớn lắm vào hai bắp vế, gọi ơi-ới trên những tầng số đã điều chỉnh sẳn để chuyền lệnh cho Đai-úy James Scanlon và Robert Mays. Scranton người Sĩ quan gương mẫu và can đảm luôn luôn thích thú với chi-đoàn M-113 hành quân ngoài mặt trận, thật ông xứng đáng là Cố vấn của Lữ đoàn thiết kỵ do Thiếu-tá Lâm-Quang-Thơ kiêm Tiểu-khu trưởng Mỹ Tho chỉ huỵ. Dù rằng làm Cố vấn cho Lữ-đoàn nhưng ông lại luôn tham dự bên cạnh Chi-đoàn của Đại-úy Lý Tòng Bá
      Vann bấm máy kêu gọi: “Walrus, đây là Topper Six, gọi...trả lời” Ông ép ống nghe sát vào tai để nghe được rõ hơn, mắt dáo dác trông ngóng sự trả lời của Đai-úy Mays hoặc Scanlọn. Bỗng có âm thanh rồ rồ trong tai Vann: “Topper Six, đây Walrus, tôi nghe 5/5 trả lởi” Vann hiểu ngay tiếng nói của Scanlon (Walrus là danh-hiệu của Cố-vấn Mỹ đi trên M-113) Hắn tiếp tục với giọng nói run rẩy như linh tính, chờ một tin xấu sắp được Vann cho biết. Trong hơi thở nóng hổi dồn dập, Vann trả lời: “Walrus đây Topper Six, Tôi cho anh biết, tôi đã được 3 lần báo cáo rằng: 3 chiếc Trực-thăng bị bắn rớt tại vùng hành quân cùng với 1 đại đội đang bị sa lầy trong tầm đạn của VC, ở tọa độ X.S 309539, tôi lập lại X.S 309539, Walrus nhận rõ chưa trả lởi” Khi biết chắc rằng Scanlon nhận được, Vann tiếp tục: “Nói với người chỉ huy M.113 (đại-úy Bá) điều động tất cả con Cua chạy thẳng về đó, và phải cho Ông ấy biết rằng, đây là trường hợp vô cùng khẩn cấp”
      Scanlon mau mắn trả lời “Topper Six, Walrus đã nhận rõ… hết” Đồng thời Vann cũng đáp lại “Topper Six...hiểu…chấm dứt,” liền sau đó Vann ra lệnh cho Phi cơ L.19 bay xuống thấp về chỗ 3 chiếc Trực-thăng bị rớt, ông cũng thấy được Ðại đội đang dàn ngang sau con kinh đào, nhưng không có ý định toan tính tiến về phía hàng cây phía Tây của Ấp Bắc, vùng vừa bị đạn và bom napalm đốt cháy sạch. Người chỉ huy VC ra lệnh rán cố gắng hạ cho được chiếc Phi-cơ quan sát L-19 để cho có đủ loại Phi cơ hòng khoe với thế giới. Mỗi lần L.19 bay sà ngang, VC đợi vừa lướt qua là nổ súng vói ngay phía sau đuôi, như thế Phi công không biết chúng ở đâu, nhưng nhờ vào những viên đạn lửa nên Phi-công cũng biết để cố tránh. Người Phi-công Hoa-kỳ lái chiếc L.19 cũng rất gan dạ, ông sà xuống hơn chục lần trên đầu quân bạn để nắm vững tinh thần cũng như 3 phi hành đoàn Trực thăng đang chờ cấp cứu, nhưng mỗi lần sà xuống như vậy đều khác hướng. Dĩ nhiên tốc độ phải gia tăng để tránh né tránh tầm đạn của địch, chiếc L.19 nhào qua nhào lại không biết bao nhiêu lần mà không trúng dù chỉ một viên đạn, có lẽ L.19 quá nhỏ?
      Khi chiếc L.19 lấy cao độ, thì Vann nghe được trong vô tuyến tiếng của Scanlon:
      “Topper Six, tôi có vấn đề trở ngại, người chỉ huy M113 không chịu điều động mấy con Cua đến vùng hành quân” (Đại-úy Lý Tòng Bá)
      Vann sau một hồi chưởi thề tùm lum, ông tiếp “Họ có biết đây là trường hợp khẩn cấp không, nếu trái lệnh sẽ bị ra toà án quân sự” Scanlon đáp ngay: “Topper Six, tôi đã mô tả tình trạng khẩn cấp y như Topper Six đã nói, nhưng họ đáp lại vắn tắt có vài chữ: “Tôi không được quyền nhận lệnh của người Mỹ!” (Thiếu tá Thơ ra lệnh cho Ðại-úy Lý Tòng Bá theo chỉ thị của TT Diệm? Trận chiến nầy "nữa nạc nữa mở" thiếu phối hợp nên thất bại là đúng)
      Vann đáp lai: “Tôi sẽ liên lạc Walrus sau”, rồi đổi qua tần số của Ziegler tại Tăng-lều chỉ huy ngay phi trường Tân-Hiêp. Ra lệnh cho Ziegler phải mau gặp Đai-tá Đạm ra lệnh cho Đai-úy Bá đem các con Cua vào vùng hành quân gấp, tình trạng nầy không thể chậm trể được. Nhưng trên thực tế nhờ có máy móc theo-dõi, nên nơi Tăng lều chỉ huy tại Tân Hiệp, tôi đang túc trực hành quân nên được biết mọi việc vừa xãy ra; Vài phút sau, Zeigler trả lời cho Vann biết rằng, Đai Tá Đạm đã đồng ý và đang ra lệnh bằng hệ thống truyền tin của Sư-Đoàn
      Chiếc L.19 của Vann đang bay vòng chờ trên 1000 bộ thuộc vùng Ấp Bắc, không ngoài mục đích đánh dấu nơi vùng đang hành quân, tuy nhiên sau một hồi, Vann lại ra lệnh cho Phi-công bay đến 13 chiếc M.113 đang chuẩn bị tiến đến vùng hành quân, liền tức khắc, Vann đổi qua tần số gọi Scanlon, chú trọng đến đám khói trắng những nhà lá vừa bị Trực-thăng võ trang bắn cháy, cứ theo đám khói trắng đục đó mà nhào tới. Chắc giờ nầy Đại-úy Bá đã nhận được lệnh của Sư-Đoàn rồi thì phải! Mau mau chạy nhanh về mục tiêu, Scanlon có trách nhiệm thúc dục người bạn của mình lời cảnh báo của Vann
      Ngay sau khi nhận được lệnh, Đai-úy Bá cho Thiết đoàn chạy thẳng đến Áp Bắc, nhưng gặp trở ngại trước mặt là con kinh với bờ đê quá cao, dòng suối hơi sâu và con sông uốn khúc, đó là những chướng ngại vật chính mà những con Cua phải vượt quạ; M.113 có thể lội qua sông không khó lắm, nhưng những mắc xích có thể bị trượt qua trên những vùng đất bùn mềm nhuyễn trước khi lội qua bờ kinh bên kia, lại thêm một lần nữa phải lên một dốc đứng, với sức nặng 10 tấn í-ạch có thể bị lật úp (vì sự cố-ý không trang bị và tháo gở ra khỏi hệ thống lội sình, cũng như bức chống đạn trên M-113) Rồi một Đại đội tùng thiết phải nhảy xuống chặt những bụi cây, thân cây lót xuống vũng sình; tuần tự từng chiếc một chạy qua, sau cùng là một chiếc M.113 phải kéo theo sau một chiếc mắc dịch bị hư, để cuối cùng tất cả 13 con Cua đã qua được bên nầy con kinh; nhưng đã giết thời gian hơn 1 tiếng đồng hồ (đây là ý đồ của P.G muốn cố tạo ra sự trì trệ để kích thích phía Việt Cộng lên tinh thần chiến đấu tự tồn để kéo dài chiến tranh, còn phía chính phủ Saigòn cần phải nhờ vào sự giúp đở của đơn vị tác chiến Mỹ sẽ nhảy vào vòng chiến trong tương lai, trong khi xa lộ Harriman (đường mòn Hồ) CSBV đang chuyển vào Nam lên đến cấp Trung-đoàn hoàn chỉnh)
      Đại-úy Bá có lý do để thối thác cũng như không tán thành về sự hấp tấp can thiệp của Chi-đoàn M-113 của ông vào trận chiến, vì nhiều trở ngại do chướng ngại vật gây ra, mà trong khi đó cũng có 1 Đại đội, sao không xử dụng, 1 đại đội có sẳn gần nơi chiến trận, và sau đó Đại đội thứ 2 và 3 lại đáp gần vào mục tiêu hơn vì đã trể quá 2 tiếng rưởi sau. Sao không xử dụng 3 đại đội nầy để ứng phó mà phải hấp tấp thiếu chuẩn bị xử dụng chỉ 1 Đại đội Tùng thiết nẩy; Scanlon vô cùng ngạc nhiên khi tìm hiểu sự thối thác tiêu cực của Bá, ghi sâu vào tâm tưởng người Mỹ rằng Sĩ quan VN quá cẩn thận nếu không muốn nói là Thỏ đế!? Lý Tòng Bá và Scanlon là 2 chiến hữu cùng cấp bậc cùng tuổi tác (Bá nhỏ hơn Scanlon 10 tháng) họ chiến đấu vì chung một lý tưởng chống Cộng, nhưng họ lại đối chọi với nhau trên quan điểm chiến thuật. Nhưng về quá trình chiến đấu thì Scanlon không xứng đáng là học trò của Bá; Hồi thời Pháp thuộc, Bá đã từng nắm giữ chỉ huy Chi-đoàn xe bọc thép, tốt nghiệp trường Thiết giáp nỗi tiếng của Pháp, Saumur nằm trong thung-lủng của dòng sông Loire; rồi thì vào những năm 1957-1958, Bá lại tốt nghiệp trường Thiết Giáp ở Mỹ ở Fort-Knox, Kentuckỵ
      Scanlon lại càng ngạc nhiên hơn bởi ví chưa bao giờ Bá do dự khi thi hành những cuộc hành quân có VC trước mặt, Bá không những không do dự mà tiến thẳng đến mục tiêu không cần đo lường sức địch; nhưng lần nầy là một điều rất lạ có lẻ đả có lệnh của TT Diệm, mà Scanlon phải đặt nhiều câu hỏi. Chiếc M113 được xem như là vô địch với hỏa lực cũng như sự di động trên mọi thế đất tương đối linh hoạt đưa địch quân vào vị thế bị động; nếu VC có đại bác không giựt 57 ly thì mới là mối đe dọa, nhưng làm sao chịu nổi hỏa lực của Đại liên 50 (12,7 ly) có tầm đạn đạo khá xa, trước khi đạn Đại bác ở trong phạm vi tầm tác xạ hữu hiệu, thêm vào đó súng phun lửa là một lý do sợ hãi của đối phương; trong Thiết-giáp xa còn có 1 Tiểu đội Tùng thiết với trang bị hỏa lực khá mạnh bằng những trung liên Bars và đại liên M.30. Bá luôn luôn tự hào là chi-đoàn M113 là sức mạnh vô địch khống chế VC dù bất cứ thế ở đất nào, như ngày 18/September/1962 vừa qua, Bá đã chứng minh đơn-vị ông đã tiêu diệt khá nhiều và bắt sống vô số VC trội hơn cả đơn vị nào trong Sư-Đoàn 7
      Vậy thì đâu có gì mà Scanlon khó hiểu, người lính VNCH không muốn người Mỹ chỉ huy và điều động đơn vị của đất nước mình, không muốn trở thành một công cụ bù nhìn, chỉ đơn giản có thế thôi, sự thiếu phối hợp là do bất đồng quan điểm trong cuộc chiến đấu chống Cộng. Vì thế, dựa vào chỗ đứng chính trị, Bá thẳng thừng tuyên bố ra mặt không muốn đến và hãy để cho Bộ binh hiện diện can thiệp trực tiếp vào chiến trận.
      Đích thân Bá và Mays bỏ chân xuống đi bộ đến bờ đê thứ hai mới phát hiện bên ấy dốc bờ đê khá cao có thể M.113 khó vượt qua đươc; Nơi đây, hai ông dự trù phải tốn ít nhất là 2 tiếng đồng hồ mới lội qua được bờ đê, Bá dựa vào thế đất như vậy với mưu toan trì hoản để chờ lệnh trên điều động Tiểu đoàn Bộ-binh đến can thiệp, như vậy còn mau hơn. Trong khi đó Scanlon và Mays kêu gọi bản năng cứu người, để mong Bá mau chóng đem quân đến giải cứu Phi hành đoàn và 1 Đại đội bị H-21 thả vào tử địa, có thể bị VC tràn ngập vào bắt sống hoặc tiêu diệt trọn gói. Trong khi đó ở trên không, Vann vòng tròn sốt ruột hối thúc cả 3 người, như muốn dùng gậy chỉ huy gõ lên đầu Scanlon và Mays bảo áp lực Bá mau mau di chuyển đến trận tuyến
      Bá tiếng Anh khá vững nên ông đã thấu hiểu hết mọi chuyện đối thoại giữa Scanlon và Vann qua ống loa của máy phát tuyến và khi cần trả lời, Scanlon cứ việc bấm nút là phát thanh được ngạy; Cả 3 đều có thể đo lường được sức giận dữ của Vann đến chừng mực nào qua những lời nói hằn học gằn từng tiếng Vann quở trách:
      “Tôi đã nói với mấy người nhiều lần mà mấy người làm ăn chả ra cái quái gì!”
      Vann tiếp: “Tại sao mấy người không đá đít cái con Chó đẻ đó tiến tới…Cái con Chó đẻ đó đã nhận được lệnh của cấp trên rồi…thì còn chờ đợi gì nữa” Bá tức giận nhưng cố dằn ...
      Scanlon bèn cằn nhằn cố chạm vào máu anh hùng của Bá, nên nói khích:
      “Bá! Anh sợ VC ở đàng kia hay sao mà không chịu tiến tới”
      Bá bực dọc trả lời: “sức mấy mà sợ chúng!”
      Scanlon: “vậy tại sao anh không cho tiến quân!”
      Bá đang ôn-tồn trả lời: “Tôi đang tìm một con đường khác, tương đối dễ vượt qua hơn là ngồi đây để bàn cải 2 con kinh xếp hàng trước mặt!”

      Cái mũi của Vann dán kín vào cạnh máy truyền tin, cất cao giọng:
      “Chúa ơi! Như vầy là không thể nào tha thứ được! Cái thằng khốn nạn đó (Đại úy Bá) nó có đại liên 50 mà sợ hãi một nhúm VC với súng nhỏ! Bộ thằng nầy dở chứng sao mà kỳ lạ vậy, tôi sẽ nói cấp trên bỏ tù nó”

      Với một giọng trầm buồn như hối tiếc, Scanlon đáp lại: “Topper Six, chúng tôi đang tìm mọi cách, cố gắng hết mình!”
      Vann vẫn còn cái giọng nói khó chịu: “Walrus…các anh cố gắng cái con mẹ gì mà dở như cức! đây là trường hợp vô cùng khẩn cấp, quân bạn đang nằm trong tầm đạn của đich, tôi muốn anh bằng mọi cách phải đá đít cái thằng Chó đẻ đó để buộc nó mau mau tiến tới…anh có làm được điều đó không?”

      Scanlon rất lấy làm ngạc nhiên, ít thấy Vann bực bội nóng nãy như vậy, mà hôm nay văng tục nhiều quá; Hắn có thể hình dung được một tù nhân bị nhốt chặt sau ghế lái của chiếc L.19, đang nghiến răng giận dữ mà lại kêu Chúa ỏm tỏi, gương mặt đỏ ngầu như… người say rượu, máu tụ xuống nơi cổ,…như bị rám nắng mặt trời từ tờ mờ sáng cho đến giờ, …như con Gà đang hăng-xung đá độ, sừng sỏ, những sợi giây gân quanh cổ đang nỗi phồng lên vì điên tiết. Còn Scanlon, con người đầm tính, nhưng trước hoàn cảnh nầy, hắn không nghĩ rằng, Vann dồn vào tội lỗi nơi hắn và Mays, Vann nỗi nóng là có lý do riêng của ông mà không thể kềm hảm được: “Lính Việt đâu có bao giờ nhận chịu sự chỉ huy của người Mỹ, mà người Mỹ thì biết con mẹ gì là chiến tranh du-kích!” Tinh-thần thiếu phối hợp là yếu tố chính của sự thất trận (P.G muốn có rắc rối về phối hợp chỉ huy để hành pháp Kennedy phải cho G.I tập trận tại VN và tái tổ chức quân đội phải ứng xử mọi tình huống chiến tranh du kích)
      Về cá nhân của Đại úy Bá, thì ông xem 2 ông Cố vấn nầy chẳng ra cái thá gì, nhưng vì lịch sự ông ôn tồn hợp tác và chính 2 người Mỹ nầy cũng đồng quan điểm với Bá là điều động Bộ-binh có mặt ngay trận tuyến đã nhanh hơn và không bị chậm trệ. Bởi lẽ dễ hiểu là Vann không phải là Sĩ quan Thiết giáp nên chẳng hiểu tý gì về Xe bọc thép M.113; Làm sao M.113 di chuyển đều đặn và đúng giờ đến mục tiêu, khi phải vượt qua biết bao nhiêu con kinh đào khá lớn, mà từ đây đến Ấp Bắc vẫn còn phải qua nhiều kinh đào như vậy. Nhưng khổ nổi, Vann đã không hiểu tí gì về Thiết giáp mà khi giận thì mất khôn càng chả hiểu gì cả; Scanlon, mong Chúa đánh động cho Vann đủ sáng suốt để dùng phương tiện cấp cứu khác nhanh hơn như đúng nghĩa chữ cấp cứu, chớ vẫn duy trì ý định như thế nầy, thì sự thất bại thảm hại sẽ phải xãy ra. Nhưng tất cả sự lủng củng nầy đều nằm trong vị thế đã tính toán của Nhóm học giả hầu buộc hành pháp phải đem quân đội Mỹ qua Việt Nam thực tập; Cho nên có một điều ngộ nghĩnh, ở cách đó gần nữa vòng trái đất, có một bộ Óc và con mắt tinh vi, siêu-đẳng đang nhìn biết được những hiện tượng trên sắc mặt điên-dại của một tù nhân [Vann] bị nhốt ở ghế sau trên L.19 như thế nào! Nên chỉ mỉm cười, gât gù tự đắc, vì đây là mưu-kế chính họ đã sách động dựng lên; Chỉ hai chữ ’Cố-vấn’mà Siêu-Chánh Phủ đã chủ trương thai nghén từ lâu vì mục tiêu quyền lợi riêng tư. Họ thừa hiểu rằng người thi hành chính sách qua trách nhiệm “Cố-vấn”sẽ hoàn toàn thất bại vì lẻ: thứ nhất, chưa hiểu gì là chiến tranh du kích; thứ hai, với chức vụ Trung-tá, chỉ cao lắm là nắm giữ Tiểu đoàn và chưa bao giờ chỉ huy Trung-đoàn thì làm sao đủ tài Cố vấn Sư-doàn, mà đây là chức vụ Tư lệnh chiến trường đòi hỏi có tài thao lược điều họp liên quân, gồm Bộ binh, Thiết giáp, Pháo binh, Không-quân .. Họ cũng dư biết Vann, chỉ có khả năng lái M.113 chớ không tài nào vác nổi chiếc M.113 lên vai, như vậy là để con Trâu trước cái cày với chủ đích của P.G? Nhưng đây không phải là chính sách trịch thượng mà họ cố tình tạo dựng một “quái-thai cần thiết”cho nhóm Bác sĩ và Y-tá (tập đoàn công-ty) có cơ hội khai triển tài năng, nhưng không cho dụng cụ dao-kéo để giải phẩu. Sự bại trận của Vann, dĩ nhiên trên phương-diện quân sự, phải bay chức hay giải ngũ… nhưng đây lại thêm một điều rất ngộ nghĩnh là Vann lại lên chức một Tướng lảnh Dân-sự ba sao theo sự ban thưởng của Secret Society/Skull and Bones 322, "thua chiến thuật thắng chiến lược" (xem hình trang 330, Volume-1, The New Legion)


      KQ: Trương Văn Vinh
      Last edited by chieutim; 05-17-2013, 04:09 PM.

      Comment

      • vinhtruong
        Super Member
        • Jun 2010
        • 1924

        #18
        3 diển đàn cùng chọn một đề bài

        Trên you tube

        (1) Tôi nhìn Ðồi-31 thất thủ - Hưng Việt
        hungvietsite.org/blog/2010/11/04/toi-nhin-ðồi-31-thất-thủ
        Tôi nhìn Ðồi-31 thất thủ. Tác giả/Nhân vật: Trương Văn Vinh |04-11-2010| 673 lần xem ... đã bị hạ trên Đồi 31, ...

        (2) Tôi nhìn Ðồi-31 thất thủ - Trương Văn Vinh - ÁI TỬ ...
        forum4.aimoo.com/aitubinhdien/QU-N-L-C-VNCH/T-i-nh-n-i-31-th-t-th...
        Tôi nhìn Ðồi-31 thất thủ ... đã bị hạ trên Đồi 31, họ là những Phi hành đoàn tài ba và gan dạ nhất của Không-quân VN, ...

        (3) Tôi nhìn đồi 31 thất thủ - Trang Chính
        batkhuat.net/tl-doi31-thatthu.htm
        Truong Bo Binh Thu Duc ... Tôi nhìn đồi 31 thất thủ. Ðêm 26, February 1971 … qua chưa mà trời sao lại sáng – trong đôi mắt nhắm nghiền ...

        ****
        Tôi nhìn đồi 31 thất thủ

        Ðêm 26, February 1971 … qua chưa mà trời sao lại sáng – trong đôi mắt nhắm nghiền vì quá mệt mỏi suy-tư cho số phận của 2 đoàn viên H-34 đang bị kẹt trong Ðồi-31 không biết sống chết như thế nào, Tôi bỗng giựt mình choàng mở to đôi mắt vì một tràng đại bác bắn quấy rối (neutralization) gì đó cho quân bạn của Mỹ, tiếng cũa đạn đại bác175ly Long Tom không chát chúa bằng 8 inch đang mỗi lúc càng thêm ác liệt. Giữa tờ mờ sáng trong sương mù, 42 khẩu đại bác nầy ở đây, Mỹ yểm trợ cho ai! ? Ðồi-31 đã bị quân BV tràn ngập vào chiều hôm qua, làm sao họ hiểu nổi cái nhóm “phản chiến và phản tình báo đã cho Tướng Giáp biết mọi chi tiết của cuộc hành quân, vì Tướng Giáp là một thành viên OSS kết nạp 1945 tại mật khu Pat-Pó, [hình giải mật của Allan Squiers, trong khi Cụ Hồ mặc quần xà-lỏn dơ 2 cái ống quyển xương xỏ teo ngắt, lúc nầy Võ Nguyên Giáp đang ở trong rừng là Trung đội trưởng Võ trang tuyên truyền, nhưng cũng phải mặc áo trắng thắt cà vạt đàng hoàng để mừng lễ được gia nhập OSS 1945 qua sự kết nạp của Ðiệp-viên số 19 Lucius và Hạ-sĩ quan Huấn Luyện viên OSS]
        Bạn có thể vào you tube click và xem 4 cái trò khỉ "Secret Society" đâm sau lưng VNCH

        4= Videos of john kerry help vo nguyen giap bing.com/videos

        - (1-6) Indo-China Battle (1945-197… YouTube Click to view 10:00

        - (4-6) Indo-China Battle - North Vi… YouTube Click to view 10:00

        - (3-6) Indo-China Battle, North Vie… YouTube Click to view 8:23

        - (6-6) Indo-China Battle(1945-197… YouTube


        Trung đoàn trưởng 24B/Sư-đoàn 304BV đã áp lực Ðại tá Thọ thông báo về Khe Sanh là Ðồi-31 đã rơi vào tay quân đội BV, lúc 16 giờ 05 phút, ngày 25 February theo như đồng hồ của tôi: Mấy ngày qua, 2 chiếc H.34 của Phi-đoàn 219, đã bị hạ trên Đồi 31, họ là những Phi hành đoàn tài ba và gan dạ nhất của Không-quân VN, khi phải nói đến Phi-hành-đoàn Queen-Bee thì người Mỹ phải nghiêng mình khâm phục, Trung-úy Khôi, rước Toán Delta bị 88 lỗ đạn, nhưng vẫn đem cả Toán SOG về được, phải tranh giành Toán từ trong tay địch, Trung-úy Hùng “râu-kẽm”cũng 66 lỗ, nhưng cũng tha mồi về được…Những Toán viên Biệt-kích Mỹ SOG được cứu sống không bao giờ quên được Phi-hành-đoàn Queen-Bee đã cứu họ. Lời Thiếu-Tá Ban-3/SOG, Scotty Crerar: “Neither impossible ground fire nor unflyable-weather stopped Cowboy and Mutachio; dozen of SOG men survived purely because “can’t” was not in these Queenbee-pilots .vocabularies they were absolutely fearless!

        Trưa ngày 23 February, tôi sắp đến tọa độ hành quân cách Đồi-31 chừng vài cây số ở hướng Đông Nam và cũng đang nóng lòng hướng dẫn cho hai đại đội Trinh-sát thuộc Tiểu-đoàn-8 Dù di chuyển tiếp cứu Đồi-31, được bắt tay với một Lực-lượng của Tiểu đoàn-3 Dù đang trấn đóng trên đỉnh Ðồi-31 từ phía Nam. Hai đại đội Dù đang dung rủi cặp theo giòng suối giữa đường thông thủy, tôi và Trung úy Lưu phải bay trên đầu Dù bằng những vòng lượn tròn quẹo gắt, thỉnh thoảng phải bắn chụp vào những bụi Tre khả nghi trước mặt để cho Dù tiến lên. Trên cao xa về hai đầu cánh quạt hai bên tôi đã khám phá ra những bụi cát đỏ tung toé từ những hầm miệng ếch trên sườn đồi giả xuống, nhưng chúng tôi cương quyết vẫn giữ ở trên đầu Dù, và chịu chấp nhận cùng chung với Dù những cột khói dựng đứng của đạn pháo BV bắn xuống để yểm trợ cho trung đoàn 24B thuộc Sư đoàn 308 và bên kia là một trung đoàn 27 cơ động.

        Chúng âm mưu lấy thịt đè người, còn như chiến xa T-54 có PT-76 yểm trợ thì chàng ràng lên xuống bọc hai bên sườn đồi trọc. Chúng không thể nào bịt mắt chúng tôi bằng để lại phía sau hai hàng song song với đất đỏ còn tươi rói; Nếu như tôi không có lệnh yểm trợ cho Dù thì cũng phải cùng chúng tranh tài cao thấp xem những xạ thủ trên PT-76 có dám chường mặt chạm trán với Minigun hay không, chúng đang núp phục kích trên đường 92, vây bọc hai bên vệ đường nơi khúc cong đáng sợ, nằm im-lìm trong bụi Tre che khuất. Thình lình FAC/OV-10 Bronco có tiếng người Việt hối giục chúng tôi phải rời vùng tức khắc để cho 42 khẩu đại pháo của Mỹ bắn yểm trợ cho Tiểu đoàn 8 Dù, Chúng tôi về lại trên đầu Tiểu đoàn-1 Dù trên vùng A-Luối, nhìn lại phía sau từng tràng các đám khói dựng đứng lên như nấm rơm đang trổ nụ.

        Tôi lại nghe tiếng người Việt cho biết chúng tôi không được rời A-Luối vì 5 phút nữa B-52 Arc-Light sẽ trải thảm để tiêu diệt 2 trung đoàn BV đang toan tấn công hai đại đội Trinh Sát TÐ/8 Dù. Nửa giờ sau, tôi trở lại yểm trợ cho 2 Ðại đội Trinh Sát Dù, thì mới phát hiện được B-52 trải thảm quá chính xác hai bên sườn núi cách quân Dù vào khoảng 300 thước; Chúng chết lền khên chụm lại từng đống người, thân thể bầm nát, thật đáng tội nghiệp cho số kiếp sanh Bắc tử Nam.

        Sương lam chiều không đủ sức che đậy không gian, đó đây khói Bom đạn vẫn còn luyến tiếc núi rừng, đâu đâu cũng toàn là màu khói ám chướng mờ ảo. Tôi không dại gì bay trong những cụm bông gòn của phòng không 37 và 57 ly nổ lưng trời đang rượt theo những phi cơ chiến thuật, mà cũng không phải thế ‘độn-thổ’ mà nên gọi là ‘độn-rừng’ chăng? không phải vậy mà là “ngụy âm thanh” làm cho địch thủ không biết chúng tôi từ đâu đến bằng xa xa âm thanh lớn dần của cánh quạt điên cuồng chém gió, rồi trận mưa đạn gầm thét khiếp đảm đương nhiên tự động địch phải kiếm chỗ núp khi chúng tôi bay áp đảo trên đầu chúng, dựa vào ưu điểm cường tập của các hung thần xạ-thủ có tẩm trực xạ áp-đảo trải rộng từ trước ra sau khác hẳn phi cơ tiềm-kích kể cả trực thăng Cobra.

        Dù rằng nơi đây mùi cháy khét của cây rừng không át nổi mùi sình thối của xác chết; “đây quả thật là một bầu trời đầy kinh hoàng” Nhìn về hướng Đồi-31, nơi mà trước đó vài ngày, 2 chiếc H.34 đang uốn mình sà xuống như con Đại-bàng đớp mồi: Chiếc đầu tiên của Trung-úy Giang tuông xuống như chiếc lá trong cơn gió lốc và chiếc của Trung-úy Bửu xuất hiện bất thần, sau khi rà xát rạt trên các ngọn cây giữa trận địa pháo của BV đã điều chỉnh rất chính xác, đáng sợ nhứt là súng cối 120ly; CSBV chỉ giã vào ngay khi nghe tiếng máy nổ của trực thăng vào Căn-cừ Hỏa-lực; Dù rằng phi công Queenbee có tài ba trong mọi chiêu thức để đáp nhưng khi chui vào lưới tạc đạn dầy dặt như thế nầy thì chỉ như là những con thiêu thân mà thôi.

        Thử hỏi đoàn viên Kingstar-4 của TPC Thiếu Phúc có dám nhảy phóc lên chiếc thứ 2 của Trung úy Ðạt đang đáp chờ đoàn viên bị nạn. Bụi mảnh đạn như thế nào chắc đoàn viên 4 người nầy đều am hiểu và chỉ trong nháy mắt anh xạ thủ chiếc 2 trúng mảnh đạn ngay. Dỉ nhiên ngươì không dự trận thì thật khó mà tin!? Là chứng nhân trong cơn bảo lửa, đích thân Trung úy Bửu, chiếc Lead ra lệnh chiếc thứ 2 của Trung-úy Yên … “đừng xuống!”: Queenbee dù thần thánh đến đâu nhưng khi phi cơ gần đến mặt đất sẽ bị các mảnh tạc đạn chạm-nổ vung-rải vào cơ phận cánh quạt đuôi làm cho phi cơ mất phương hướng điều khiển và sẽ bị vùi dập xuống mặt đất khi chưa toan đáp xuống bãi đáp (undershoot) Trường hợp Tr/úy Giang, phi cơ gãy đuôi vì trúng mảnh đạn phát hỏa nơi phần xăng ít ỏi còn lại của 2 bình xăng giữa và sau, đã hết trống từ lâu và chiếc của Trung úy Bửu thì bị các mảnh đạn chạm nổ xoáy rải vào làm tê liệt bộ phận điều khiển của cánh quạt đuôi buộc rơi xuống tại chỗ, trong vị thế counter-clockwise, với cường độ trận địa pháo cùng cả ngàn tạc-đạn như mưa rải xuống các căn cứ hỏa lực nầy thì chẳng bao lâu các chiếc trực thăng nầy đều lại trúng đạn thêm một lần nữa và phát hỏa hủy diệt, để lại bằng các cột khói đen xì lên cao ngất trời như chiếc của Tr/úy Ðạt và Thiếu Phúc ở Căn Cứ Hồng Hà-2 và ở Ðồi-31 của Trung úy Giang, và Ðồi-30 là của Thiếu úy Lộc. Bạn có thể tưởng tượng con kiến nơi đây cũng phải chết, còn Mìn Claymore cho L/Ð/1Dù trực thăng vừa thả xuống là trúng đạn nổ tan tành như xác pháo ngay. Ðiều nầy các chiến sĩ văn phòng chắc khó tin!?

        Lúc nầy, cả Căn-cứ 31 đang quằn mình chịu những loạt trận địa pháo; dù rằng Tiểu đoàn-6 Dù đã được trực thăng vận xuống Tây Bắc của Ðồi-31, nhưng lại bị đụng trận dữ-dội, rồi bị một trận địa pháo khiếp đảm, coi như TÐ/6 bị bể, 28 chết, 49 bi thương, và 23 mất tích; Trung-úy Châu yểm trợ quyết liệt đã chận đứng nhiều đợt xung phong của trung đoàn-9, vẫn luôn giữ cao độ trên đầu quân Dù và chỉ chấp nhận AK-47 qua những đợt xung phong biển người của trung đoàn-9/308. Quả thật Trung úy Châu đã bị các AK-47 chụm lại bắn thẳng xuyên qua Burble vào Chicken-plate mảnh dội văng vào cổ, bắp tay máu ra lênh láng, chúng tôi bỏ Ðại đội trinh sát qua yểm trợ TÐ-6. Tôi ra lệnh chiếc Wing hướng dẫn Medivac Trung úy Châu về Khe Sanh liền: “Trời ơi cuộc chiến mới có hơn 2 tuần mà sự thiệt hại quá sức tưởng tượng của tôi".

        Hai đoàn viên UH1-H bị bắn tan xác trên không, dưới Ðồi-31 cũng 2 đoàn viên đang kẹt ở dưới không biết sống chết như thế nào …rồi Trung úy Châu một Top Gun lỗi lạc của Phi Ðoàn 213, Tôi như con chó điên, thề phải chết trước khi con em mình phải gục ngã thêm để bảo vệ an toàn cho toà Lâu-đài LÐ51TC. Qua lời nguyền nầy, Tôi bắt đầu điên tiết tự đưa tôi vào những chuyến bay oanh kích liều lĩnh, quá đáng, đôi khi có thể nói vượt ra khỏi kỷ cương của cấp lãnh đạo. Từ đây trở đi những viên đạn 7ly62 của xạ thủ phải xuyên phá vào mục tiêu không quá 75 thước trên đầu địch, có nghĩa là trục-tiến-sát “độn-rừng.” Tôi không cho phép bắn xuống như phi cơ vận tải hay Cobra mà là sát thủ như đã bắn tàn sát trên chiếc tàu cận duyên ở Mỹ Thủy, Hương Ðiền, Quảng Trị, với tham vọng sẽ không còn phi hành đoàn nào lâm nạn [xin chờ xem giấc mơ ở đoạn kết]

        Ðịa thế nơi đây, phản tình báo Mỹ [WIB] đã cho Tướng Giáp biết trước lúc tháng 10, 1970 và cũng là ngày thành lập Quân đoàn 70B, và Trung đoàn 24B nầy là giữ an ninh hậu cần cho Ðoàn 559 tại đây và cũng là thổ địa tai mắt dẫn đường cho các sư đoàn 304, 308, và 320 cùng Trung-đoàn chiến xa 202 nữa. Chúng tôi yểm trợ hỏa lực hết mình để mong TÐ/8 ở đông nam từ A-Luối tiến lên và TÐ/6 ở tây bắc mau mau tiếp cứu Ðồi-31, nhưng hoàn toàn thất vọng, vì các trung đoàn BV đang chiếm các cao điểm quen thuộc để không chế hai T/Ðoàn Dù tiếp cứu đang còn xa lạ với địa hình.

        Còn trung đoàn 9 và 66 mới vượt từ bắc DMZ ngày 9 February qua đây, sau khi biết chắc QLVNCH không Bắc-tiến mà thực sự qua Lào. Ngày 23 February đặc công BV đã đột nhập vào phòng tuyến hướng Tây, nhưng Tiểu đoàn-3 Dù đã tiêu diệt ngay vòng rào 15 tên chết tại chỗ. Từ lúc chiếc H-34 của Trung úy Giang bị bắn hạ trên đồi nầy đến nay không có chuyến tiếp tế và tải thương nào vào đây cấp cứu cả

        Giờ phút nguy-biến đã điểm: từ 11 giờ ngày 25 February, một trận địa pháo rất chính xác, khiếp đảm, kinh hoàng vì đã tiền điều-chỉnh từ lâu, đại bác 152ly xuyên phá hầm hố, 130ly tàn phá diện địa, súng cối 120ly khắc tinh khống chế trực thăng, và tất cả hoả tiển 122, 107ly, riêng 100ly trực xạ của T-54, không leo lên được thì bắn hù doạ từ dưới chân đồi cho PT-76 leo lên với bộ binh tùng thiết theo sau.

        Ðúng 13 giờ Ðại đội/1/3 Dù báo cáo tiếng chiến xa đang gầm thét [đoàn chiến xa nầy bị chúng tôi bắn đứt xích chiếc đi đầu, cách phía nam 4 cây số trên đường 92, nhưng chúng lại xem thường chúng tôi không phải đối thủ nên không thèm bắn trả mà lại hấp tấp né một bên, rồi tiếp tục bôn tập về Ðồi-31] Lúc đầu, tôi còn thấy Căn-cứ lờ mờ dưới lớp khói pháo kích, lần lần Tôi không còn thấy gì nữa cả, mà chỉ còn là những lớp khói cứ chồng chất dầy thêm lên “Làm sao tôi hiểu được 2 chiếc H-34 đang bị cả ngàn mảnh đạn đại pháo chạm nổ đang vung vải như bảo cát trên mặt đất bao trùm trên bãi đáp! Và bộ phận cánh quạt đuôi trúng mảnh, hoàn toàn bị tê liệt không điều khiển được”

        Tôi cũng không biết số phận của 2 chiếc H.34 đã cất cánh được chưa trong hai ngày qua bao trùm sự tuyệt vọng, hay đã loay hoay vì quân bạn đang bấn loạn kinh hoàng tràn ngập leo lên đến độ quá nặng không thể nhúc-nhích được, chớ nói chi cất cánh. Cách đó không xa, về hướng Bắc của Đồi-31, quan sát cơ OV.10 đang hướng dẫn F-4 .Phantom thả xuống sát mặt đất bằng những trái Bom lửa Napal, nhờ ở đầu 2 cánh chém gió, tạo ra 2 vệt trắng, tôi mới phát hiện đang lướt qua ở trước mặt. Tôi mở tần số Guard (khẩn cấp) gọi Queen-Bees cả chục lần mà không thấy trả lời “tôi bắt đầu quặn đau, xót-xa lo-lắng cho số phận của 2 Phi hành đoàn gan dạ nầy”

        Trước đó, ngày 23/2/71, Trung-úy Thục, một lead gunship sừng sỏ của Biệt-đội Gunship PÐ-213 được lệnh bảo vệ Trung úy Chung Tử Bửu bay vào cấp cứu phi hành đoàn lâm nạn của Trung-úy Giang; Trên đường vào có chuyên chở những sensor-detector đặc biệt. Họp đoàn Gunship của Trung úy Phạm Vương-Thục đang ôm sát trên đám rừng già chờ đợi yểm trợ cho Trung úy Bửu. Nhưng làm sao tránh khỏi lưới đạn cầu vòng chụp xuống như đã tiền điều chỉnh sẳn, một lưới lửa vô tận từ căn cứ hậu cần 611 với 67.000 tấn đạn đủ loại. Thế nên cơn hấp hối của ngọn đồi oan-nghiệt đang bắt đầu xảy ra. Bắt đầu vào khoảng 4 giờ chiều ngày 25/2/1971: Khi 3 trung-đoàn CSBV đang cố tràn ngập trên đỉnh đồi 31, nơi đây chỉ đơn độc có duy nhứt một Tiểu đoàn-3 Dù [trừ] 300 chiến binh và Bộ tham mưu trấn giữ.

        Ðợt xung phong đầu tiên của CSBV bằng 2 PT-76 tùng thiết với vô số bộ đội chính quy ở phía sau, vì không có súng chống chiến xa như M-72, nên Dù phải dùng đại bác hạ nòng trực xạ. Kết quả thổi bay hai chiếc PT.76 và một số lớn tùng thiết. Ðể trả giá cho sự chiến thắng nầy, nhiều thiên thần mũ đỏ TÐ/3 đã nằm xuống vắt ngang trên những khẩu pháo của mình; Có phải Pháo-đội-trưởng Nguyễn Văn Ðương, người hy sinh đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó! CSBV chuẩn bị đợt xung phong lần thứ hai cũng lặp lại bằng hai chiếc PT-76 khác tùng thiết với bộ đội; Nhưng lần nầy, quan sát cơ OV-10 Bronco do quan sát viên người Việt hướng dẫn hai F-4 Phantom phá hủy chúng trước khi bò lên tới lần ranh phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Dù.

        Cho đến 14 giờ, thật khốn nạn không có chiếc FAC cũa Mỹ nào trên Ðồi-31, Quân BV bắt đầu xung phong từ bốn hướng. 2 PT-76 đến được bãi đáp phía nam phòng tuyến dưới, bất ngờ chiếc FAC/OV-10 Bronco đến, yên trí có người Việt ngồi phía sau. Sau 2 pass 2 chiếc PT-76 bay lên rớt xuống nằm lật ngửa bao trùm khói đen. BV quyết tâm tràn ngập Ðồi-31 với khoảng 20 PT-76 xung phong 2 hướng đồi thoai-thoải hướng Ðông và Tây Bắc. Thình lình một chiếc Phantom F-4 trúng đạn phòng không 37ly xịt khói phi công nhảy dù ra khỏi phi cơ. Lúc nầy chẳng anh Mỹ nào chịu ngó ngàng đến Ðồi-31, mà họ dồn hết nổ lực để câp cứu người của họ người Việt ngồi sau FAC đành phải bó tay ngậm ngùi cho định mệnh của ngọn Ðồi oan nghiệt nầy.

        15 giờ 20 trên ngọn đồi nầy chỉ còn trơ-trọi chiếc UH1-H của tôi là C&C với Sĩ-quan Tham mưu Tiền-phương Dù đang vần-vũ trên Ðồi-31; Dù rằng 2 khẩu M-60 và vài cây M-18 nhưng chúng tôi cứ bắn xuống yểm trợ trong tuyệt vọng, Trung-úy Tiến Top-Gun đang vần vũ trên đầu TÐ-8 Dù chờ lệnh tôi bay vào cứu bạn, trong lúc Pháo đội từ Ðồi-30 và Aluối vẫn dồn dập tác xạ yểm trợ.

        45 phút sau, Căn cứ bị tràn ngập quân BV, khốn nạn nhứt là từ nảy đến giờ không có FAC có nghĩa là không có không yểm. Hậu qua Ðại tá Thọ bị quân BV bắt cầm tù đúng vào lúc 16giờ ngày 25/February/1971, Tôi đang se thắt vì đoán mò rằng, tiếng đại liên M-60 trên trực thăng là nguyên do chính khiến 2 đoàn viên H-34 dưới đó quyết đóng trụ tại đây để chờ chúng tôi sẽ xuống cứu bạn. Có một đại đội đang toan thoát vòng vây chạy về Ðồi-30, trong đó có Không-quân Ðại úy Nghĩa, Sĩ quan Ðiều không Tiền tuyến đang chạy thoát cùng với quân Dù; Ngày mai tôi sẽ liên lạc tìm cách đón họ, may ra có đoàn viên H-34? [Sau vài ngày tôi biết được 2 chết, 4 bị bắt đem ra Bắc trong sự đau xót có lẽ vì tiếng M-60 trên C&C?]

        Dù rằng tiếng trực thăng nóng lòng cứu bạn từ đôi mắt và khối óc thần sầu quỷ khốc của người Phi-đội-trưởng Queenbee đầu tiên do Lực-lượng Seal-Delta-Force dày công trắc-nghiệm để tuyển chọn, vẫn còn đang vần-vũ trên nền trời chờ đợi cơ may nào đến… bên cạnh cùng phụ họa tiếng động cơ H-34… nhưng trong tuyệt vọng vì làm sao có thể chui vào lưới đạn cầu vòng chụp xuống rải thảm như không bao giờ ngừng nghỉ … trong nửa khối cây số không gian bao chụp trên căn cứ Ðồi-31 như đang chìm đắm trong bão lửa, dù có một vật nhỏ tý hon nào chui vào được bên trong, nhưng khi vật ấy hạ thấp còn chục thước thì làm sao thoát khỏi hàng trăm ngàn mảnh sắt vung-vãi xoáy cuồn như trận bão cát trong sa-mạc…và dĩ nhiên vật nhỏ nầy sẽ bị gục ngã không lay động ngay trên mảnh đất nầy… thôi đành ngậm-ngùi nhỏ lệ bỏ lại vĩnh-viễn nơi ngọn đồi vô danh nầy, 2 chiến hữu Queebees [Giang cùng Em] và các thiên thần Tiểu đoàn/3 Dù cùng 4 Queenbees khác [Bửu, Khánh, Sơn, On] đang bị bọn CSBV cột chung với nhau bắng giây điện thoại bôn tẩu về Bắc qua con lộ 92B vì sợ B-52 sẽ bay đến cường tập liền sau đó.

        Ðịa hình hiểm trở nơi Hạ Lào với đồi núi chập chùng và rừng cây rậm rạp đúng ra không thích hợp với chiến thuật càn lướt căn bản trong việc xử dụng chiến xa, nhưng đối với Trực thăng võ trang có xạ trường tự do cho người xạ thủ trổ tài cao thấp. Ðối với Phi-Ðội 213 đây là khung trời lý tưởng dễ tung-hoành ẩn hiện trên các chướng ngại vật thiên nhiên - Ngược lại, tại các trường Kỵ Binh nổi tiếng trên thế giới như Saumur (Pháp), Saint Cyr (Pháp), Sandhurst (Anh), Fort Knox (Hoa Kỳ) v.v… các chiến lược gia thường giảng dạy phương pháp xử dụng chiến xa trên sa mạc, vùng đất rộng lớn hay trên địa hình bằng phẳng.

        Những trận xa chiến lớn và nổi tiếng trong quân sử thế giới cũng thường diễn ra trong sa mạc hay vùng bình nguyên, chẳng hạn như những trận đánh của con "cáo Sa mạc" Rommel thuộc đoàn Panzer của Ðức tại Phi Châu, hoặc tướng Patton Hoa Kỳ xử dụng chiến xa thần tốc trong trận "Battle of the Bulge" tại vùng đồng bằng sông Rhin trong lãnh thổ Ðức vào cuối Ðệ Nhị Thế Chiến. Gần đây hơn, những trận xa chiến lớn giữa Do Thái và khối Ả Rập cũng xảy ra tại vùng sa mạc Sinai trong trận chiến 1967 và trận đánh 7 ngày. Trong chiến dịch Desert Storm năm 1991, và trận chiến tại Iraq mới đây, quân đội Hoa Kỳ cũng dùng chiến xa tại sa mạc để càn lướt tốc chiến tiêu diệt lực lượng Iraq, tiến chiến thủ đô Bagdagh trong một thời gian kỷ lục;

        Những trận đụng độ chiến xa nổi tiếng này đều có đáp số, đó là địa hình bằng phẳng, tiếp vận dư thừa và hỏa lực yểm trợ đầy đủ. Ðể đi vào kết luận cụ thể như chứng minh trong quá khứ, đặc biệt nơi trận mạc rừng rú 719, Trực thăng vỏ trang Phi Ðoàn 213 phải chắc chắn là khắc-tinh đối với các chiến xa như T-54 trở nên kịch kợm mà là những con cua sẳn sàng để lên lò nướng của các Top Gun 213. [làm sao ai hiểu được cuộc đụng độ chiến xa với chiến xa mà phía VNCH toàn thắng không bị thiệt hại …thì có lẽ nhân chứng chính phải là các chiến hữu Thiết đoàn 11 và Chi đoàn 17, còn báo chí Mỹ ca ngợi, đến nỗi xạ thủ trên PT-76 phải bỏ chạy để cho quân Dù tới chiếm đoạt còn nguyên vẹn … đó là công của ai? cũng như chiếc tàu cận duyên bị TQLC chiếm đoạt tại bờ biển Mỹ Thủy, Phong Ðiền 1972 … Quân-sử sẽ phải nói sự thật]

        Khi chuẩn bị kế hoạch hành quân Lam Sơn 719 nhằm đánh vào Hạ Lào để cắt đứt đường tiếp vận của Cộng quân, tin tình báo [nhóm phản chiến WIB Bones cố tình lừa gạc] cho biết Cộng quân không có chiến xa tại vùng hành quân. Do đó, những chiến xa thuộc LÐ1/TK vào Hạ Lào coi như không có đối thủ, nhưng khi nhập vùng hành quân, ngoài địa thế xa lạ, khó khăn, chỉ sau vài cuộc đụng độ, thực tế đã cho thấy trái ngược hẳn với dự đoán. Cộng quân chẳng những có cả một Trung Ðoàn Thiết Giáp mang bí số 202, mà còn có cả chiến xa hạng trung loại T-54 với thiết giáp dầy hơn và đại bác 100 ly có hỏa lực trội hơn chiến xa hạng nhẹ M-41 chỉ được trang bị đại bác 76 ly của QLVNCH. Theo tài liệu Cộng quân, bí số 202 bắt nguồn từ khi mới thành lập Trung Ðoàn thiết giáp đầu tiên này của Cộng quân gồm có 202 người được huấn luyện tại Nga Sô và Trung Cộng.

        Quân BV có cả một Trung Ðoàn 202 chiến xa tại Hạ Lào là một sự thật hiển nhiên ai cũng công nhận, nhất là sau các trận đánh tại CCHL 31 và CCHL 30 do quân LÐ3 Dù trấn giữ. Nhưng việc Cộng quân có chiến xa hạng trung loại T-54 hay không lại có nhiều người đặt thành nghi vấn. Nhưng đối với Top-gun 213 thì hiểu rỏ chúng chỉ là nhửng tên khổng lồ có đôi chân đất sét, sự thật chúng chỉ quanh quẩn di chuyển trên những mặt đường tương đối bằng phẳng như dọc theo đường-9, thường vào các ngả băng qua đường 9, đường 92, 92B, 914, 913, 922… và lại dựa dẫm vào các PT-76 dể càn bướng trên mọi thế đất.

        Nhưng chúng cũng chỉ tung-hoành bên triền Tây của các dãy núi vì sợ bắt chợt 42 khẩu đại pháo của Mỹ bắn qua hên xui như chim mỗ lỡ trúng thì nguy, cũng kẹt, và "Thật ra, trong Trận Hạ Lào, Cộng Sản Bắc Việt chỉ sử dụng loại chiến tăng PT-76, ngang bằng với chiến xa M-41 của ta là cũng phiền cho ta lắm rồi". Trực thăng vỏ trang 213 buộc vào thử thách thế trận mới trên đường rút lui: Vào khoảng 8 giờ sáng khi mới rời A Lưới được chừng 4 cây số, toán thiết giáp bị sa vào một ổ phục kích khi băng qua môt con suối nhỏ. Cộng quân từ triền núi cao bắn xuống dữ dội khiến chiến xa đi đầu bị bắn cháy, trong lúc 4 chiếc khác và 18 GMC chở đồ tiếp liệu còn chưa qua được giòng suối.

        Vì đây là con đường độc đạo nên các xe khác theo sau không thể lách qua những chiếc xe bị hư hại để đi qua được, lợi dụng thế đất nầy làm nơi phục kích. Một số quân Dù tùng thiết nhảy xuống khỏi chiến xa để nghênh địch, trận phục kích kéo dài chừng 3 tiếng đồng hồ; Khi địch quân bị đẩy lui, tổng kết cho biết có 4 chiến xa M-41, 3 M-113 và toàn thể 18 GMC chở đồ tiếp liệu bị hư hại nặng bắt buộc phải bỏ lại. LĐ1/TK sau đó tiếp tục di chuyển về biên giới, nhưng vì địa thế quá hiểm trở rất khó di chuyển, gần 20 xe thiết giáp trước đây được kéo theo từ A Lưới đều bị bỏ lại để các chiến xa khiển dụng có thể di chuyển nhanh và chiến đấu hữu hiệu hơn; Sau đó, OV-10 không thám cho biết một số chiến xa PT-76 và bộ binh địch tràn vào địa điểm phục kích quân BV leo lên các chiến xa bị hư hại của QLVNCH ở phía trước, dùng súng trên xe bắn lên máy bay; cuối cùng, phi cơ được gọi đến để dội bom phá hủy hết các chiến xa bị hư hại này.

        Trực thăng võ trang tiếp tục hộ tống đoàn xe trong tầm súng đại pháo 130, 152ly của BV thỉnh thoảng chụp xuống. Tuy vượt qua được tuyến phục kích đầu tiên, nhưng toán Thiết Giáp vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại, đặc biệt những “lủng củng nội bộ” giữa toán quân Dù tùng thiết và Thiết Giáp đã có trước đây nơi Ðồi-31, giờ nầy càng thêm trầm trọng. Có dư luận cho biềt bên Thiết Giáp than phiền quân Dù không chịu đi sâu vào hai bên lộ trình để mở đường và phát hiện những ổ phục kích phía trước; Sự lủng củng nầy theo sư nhận xét của tôi là Ðại-tá Lưởng giao banh cho Ðại tá Luật bằng câu “Tôi luôn luôn muốn được thi hành những nhiệm vụ được giao phó” Nhưng rất tiếc Đại Tá Luật đã không ra lệnh, không có những quyết định và xử dụng quyền hạn như một vị Tư Lệnh khi chỉ huy một lực lượng quan trọng gồm những đơn vị Thiết Giáp và Nhảy Dù dưới quyền” Thiết tưởng, nếu những nhận xét này là chính xác, đã ít nhiều nói lên được một số những khó khăn của Đại Tá Luật trong lúc chỉ huy. Kết quả, Ðại tá Luật được TT Thiệu đem về giao chức hành chánh …xem như Ðại-tá Luật là một chén kiểu quý giá không nên xài mãi có ngày sẽ bị bể mà chỉ nên để chưng-diện trong tủ kín cho mọi người chiêm ngưỡng.

        [Trích một đoạn nhỏ trong sách THE NEW LEGION của VINH TRUONG: During a visit to Vietnam, General Haig had strewn a certain amount of Chaos in his Wake: At forward XXIV Corps on 18 March General Haig told General Sutherland that “Washington would like to see ARVN stay in Laos through April,” The following day he visited II Field Force and told General Commander there “his tentative conclusion is that the time has come for an orderly close-out of the ground operations in Laos.” Both field commanders dutifully reported these Haig observation to Abrams, who must have been somewhat bemused. I thought all U.S generals were totally bemused by all the activity around them due to operation’s objective that was blow-out and kill all two crucial-opponents for Hanoi regime taking over Saigon be not a real blood-bath and Saigon not a “Pebble-Capital”]

        TTVT/213 vì những khó khăn về địa thế, yểm trợ cũng như chỉ huy: Con chim đầu đàn bị PT-76 bắn hạ, PHÐ bị xây xác vì flexiglass, Tư lệnh SÐ1KQ cho Ðại úy Trần Duy Kỳ thế nhưng ông bướng bỉnh không chịu về R&R … để rồi phải mất tới 2 ngày, những chiến xa và các TĐ/7 và 8 Dù tùng thiết mới từ A Lưới về được đến CCHL Alpha, một đoạn đường dài chừng 12 cây số vào ngày 20 tháng 3. Trong lúc đoàn thiết giáp lui về biên giới, các pháo đội đại bác cơ giới của Hoa Kỳ cũng triệt thoái khỏi Lao Bảo và Khe Sanh về Đông Hà vì TT Thiệu phá bỉnh kế hoặch đã quyết định 18/1/1971 của Tướng Haig, NSC, Pentagon. Ðó là lý do Tướng Haig bất mãn nên phần lớn hỏa lực của không quân Hoa Kỳ được dùng để bảo vệ cho riêng lực lượng của họ mà thôi, do đó LĐ1/TK lại gặp thêm trở ngại vì thiếu pháo và không yểm khi về gần tới biên giới.

        Hành động can đảm nầy của TT Thiệu khiến nhiều báo chí Mỹ ca ngợi TT Thiệu còn có quyền định đoạt chuyện nội bộ của nước mình, trong khi TT Johnson đáng ghét, không làm được chức trách Tổng tư lệnh tối cao quân đội như là sự đề nghị hữu lý theo hệ thống quân giai: Tư lệnh chiến trường Westmoreland đề nghị lên Tổng tham mưu trưởng Liên quân chỉ cho quân lực VNCH được phép hợp lý đánh đuổi quân thù ra khỏi biên giới Lào/Việt mà có được với người Số-3 trong vị thế ở Bộ Ngoại giao là William Averell Harriman, vì Harriman là thủ lảnh của War Industries Board. TT Johnson vì liêm sĩ và không dẹp nổi bọn WIB nầy, nên đành tuyên bố trên TV quyết định sẽ không tái ứng cử kỳ 2, một hiện tượng hiếm hoi trong lịch sữ Hoa Kỳ; Cũng vào lúc Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy bị ám sát y chang người anh TT Kennedy; Ðệ nhứt phu nhân Johnson quá sợ hải bèn chêm thêm một câu “dù ai đó có tha thiết đề nghị!” Sự thật 1964 TT Johnson đã ký OK nhưng Harriman không khán ký [xem trong sách The New Legion để rỏ thêm] thì làm gì có cuộc Hành Quân Lam Son 719 nầy! Tại sao người anh em phía bên kia có cơ hội hoà hợp hòa giải dân tộc mà đổi lại trả thù đày-ải chúng tôi, không chịu hiểu được chúng ta đều là tay sai của ngoại nhân?

        Với một nhúm Trực thăng vỏ trang của Phi đoàn 213 chỉ có yểm trợ cho Dù, bây giờ phải cán-đán công việc yểm trợ cuộc hành quân lui binh bay dưới sự đe doạ thường xuyên của Pháo binh BV bắn chụp xuống. Chúng tôi đặt trọng tâm cover về Khe Sanh càng nhanh càng tốt, để BV không kịp đuổi theo … chúng tôi bắn xuyên phá trước mặt đoàn convoy từ 50 đến 100 thước vào những bụi Tre gai đáng nghi và bất chấp pháo binh BV rà đuổi theo.

        Tuy rằng, đoạn đường ngắn từ CCHL Alpha đến CCHL Bravo không xảy ra biến cố quan trọng nào; Nhưng khoảng 5 cây số còn lại là một quãng đường dài như vô tận đối với các chiến xa của LĐ1/TK, khi về gần đến biên giới, đoàn thiết giáp lại bị phục kích lần nữa. Lúc nầy chúng tôi cùng TTVT Cobra phối hợp yểm trợ cuộc lui binh; Mỗi buổi sáng hợp hành quân tôi luôn gặp Ðại tá Cockerham Tư lệnh Lữ-đoàn 1 Không Kỵ. Chúng tôi thường ăn sáng tại Mess-Tentshelter và thường gặp phi công thuộc Ðại đội C/7/7/1 Air-Cacalry/Cobra để bàn [briefing] chuyện yễm trợ trong ngày - Trên đường về, chúng tôi 3 chiếc Gun đang đổ xăng và tái trang bị hỏa lực để tiếp tục công tác ngay. Vì bay cả ngày, đêm không ngủ được, tiếng đại bác yểm trợ cứ luân hồi tác xạ, nên tôi chĩ bay copilot ngồi bên trái vào vị trí chiếc wing-2 hoặc-3. Trên đường thay thế air cover cho LÐ1ÐN - Lúc nầy, Ðại úy phi công Farrell thuộc Ðại-đội C/7/17 Không Kỵ Hoa Kỳ đang hùng dũng oanh kích quân BV,.chiếc trực thăng võ trang Cobra cùng với một viên phi công Warrant Officer gan dạ khác. Chiếc Cobra thứ nhì do hai viên phi công Lancaster và Jim Manthel điều khiển. Hai chiếc trực thăng võ trang Cobra đang lao vào vùng rừng núi Hạ Lào.

        Vừa qua khỏi biên giới không xa, họ đã nhìn thấy đoàn thiết giáp đang bị chận đứng tại một khúc đường cong về hướng Nam nhìn trên không giống hình chiếc móng ngựa; Bên trong khúc quanh là một khu rừng rậm rạp âm u trông giống miệng rắn đang hả to ma quái. Đoạn đầu của đoàn thiết giáp đang bị chận đánh dữ dội ở khúc cong phía đông, để lại phía sau gồm các chiến xa chỉ huy còn đang ở khúc cong phía tây bị rừng cây che khuất; Trong khi các chiến xa đi đầu còn đang lúng túng chưa khai hỏa được vì sợ bắn trúng chiến xa bạn ở khúc quanh bên kia, may mắn Chiến-đoàn trưởng Dù, Trung tá Ngọc dùng Anh ngữ hướng dẫn các trực thăng võ trang Cobra vào trận. Từ trên không, Đại Úy Farrell nhìn thấy rõ một toán quân BV ẩn nấp tại sườn đồi phía bắc đang dùng súng B-40 và B-41 nã đạn xối xả vào đoàn xe. Chúng tôi vừa tới nhìn thấy những làn khói trắng từ đuôi đạn tuôn ra trúng vào một chiến xa và một thiết vận xa khác, xăng và đạn trong hai chiếc thiết giáp này bốc cháy dữ dội, pháo tháp của chiến xa M-41 không còn kiểm soát được quay qua quay lại như đầu lân trong đám lửa khói và đạn nổ.

        Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên thầm nhủ:
        -“Trời! Với tằm mắt điên-tiết hiếu chiến của tôi, cảnh tượng hệt như trong phim chiến tranh thời thế chiến-2”
        -Chiếc Cobra của phi công Lancaster nhào xuống trước; Đại Úy Farrell bay sát phía sau để yểm trợ theo đúng chiến thuật, bắn đại liên, phóng lựu và hỏa tiễn vào khu đồi dọc theo hướng từ nam lên bắc. Đột nhiên, ba vị trí phòng không 12 ly 7 của Cộng quân đồng loạt khai hỏa từ khu rừng cây phía dưới. Ðây là thế bắn mà Tam trùng Phạm Xuân Ẩn đã nói và thách thức sự hiểu biết của tôi trên [khi quá giang] chiếc C-119; Trong thế liên hoàn ba góc hỏa lực của tam giác cân mà lúc phi cơ xạ kích đang kéo đầu lên sau khi nhủi xuống xạ kích.

        Những lằn đạn chỉ đỏ rực theo đường bay sát hai chiếc Cobra, gần đến nỗi tôi tưởng chừng chỉ với tay ra là có thể nắm được! Farry vội liên lạc vô tuyến báo cho phi công Lancaster về ba họng súng phòng không nguy hiểm đang khạc lửa từ khu rừng cây phía dưới. Hai chiếc Cobra vội bay tạt ra xa rồi dùng tất cả hỏa lực salvo vào các ổ phòng không. Sau ba vòng oanh kích, chỉ còn một ổ phòng không hoạt động, Trực thăng của Đại Úy Farrell cũng đã bắn hết các hỏa tiễn mang theo nên thông báo cho chiếc Cobra dẫn đầu biết cần về Khe Sanh để tái vũ trang. Phi công Lancaster cho biết mình cũng chỉ còn vài trái hỏa tiễn và sẽ nhào xuống lần nữa để tiêu diệt nốt ổ phòng không cuối cùng; Đại Úy Farrell cố thuyết phục Lancaster đừng làm như vậy vì oanh kích không có đồng đội bắn yểm trợ sẽ rất nguy hiểm, nhưng chiếc trực thăng kia vẫn ngoan cố lao xuống mục tiêu.

        Gần như cùng một lúc với những trái hỏa tiễn nổ tung tại vị trí địch, một loạt đạn phòng không bắn trúng vào chiếc Cobra, Lancaster thông báo bị trúng đạn vào cánh quạt sau đuôi rồi yêu cầu Lead Farrell yểm trợ cho anh đáp khẩn cấp. Farrell vội hướng dẫn chiếc trực thăng bạn bay xa hơn về hướng Nam, nơi có một bãi cỏ tranh khá rậm. Phi công Lancaster vừa ráng bay theo vừa cố giữ cho phi cơ thăng bằng. Nhưng chiếc trực thăng vì cánh quạt đuôi đã bị hư hại nên mât thăng bằng, rung chuyển tăng dần high frequency dữ dội, bắt đầu đảo lộn rồi rơi xuống đất; Khi phi cơ tản thương Dusk stuff tới được nơi chiếc Cobra lâm nạn, họ tìm thấy xác hai viên phi công đã chết vì bị gẫy cổ khi trực thăng rơi counter clockwise xuống đất.

        Nhờ vào kinh nghiệm chứng kiến và địa hình trước mặt, nãy giờ chúng tôi làm vòng chờ khuất tầm quan sát của địch, ở sau đồi trọc và có đám rừng cây, trên đầu quân bạn, Chúng tôi chưa chắc đã ngán họ, nhưng mục tiêu chính là làm cách nào cho đoàn quân xa được an toàn rút lẹ về Khe Sanh để khỏi bị các “Chốt-chận” cấp Tiểu đoàn hay tệ hại hơn là cấp trung đoàn, vì theo tin tù binh chúng có hai trung đoàn toan làm chốt chận và quyết tử với quân bạn có chiến xa yểm trợ; T-54 đối với chúng tôi như là những người khổng lồ với đôi chân đất sét chậm chạp đáng thương hại, nhưng đối với quân bạn là một trở ngại chính. Như các T-54 đã cố làm nút chận không cho chiến xa ta tiến đến tiếp viện cho Ðồi-31; Bây giờ đội hình tác chiến của phi đội 213 có nhiều thay đổi về mặt chiến thuật; Hoàn toàn không còn ngụy hóa âm thanh như lần yểm trợ cho Ðại đội trinh sát Dù.

        Chúng tôi dùng chiến thuật 90 độ ngược lại đoàn xe. Ðội hình tác chiến luân phiên yểm trợ che kín, 3 chiếc hình thang bên trái [Left-Echelon] Trung úy Tiến Lead, Tôi wing-1 và Trung úy Lưu wing-2; Chúng tôi dùng chiến thuật “Ðộn rừng” núp sau sườn đồi móng ngựa. Khi vừa ló dạng khỏi sườn đồi, Lead Tiến ra lệnh đồng loạt tác xạ; Các xạ thủ chồm hẳn ra ngoài dí đầu súng 6 nòng quay tít, một bầu lửa đỏ trước mũi phun ra 4000 viên phút xuống rừng Tre gai, bụi rậm, bên cạnh lưng sườn đồi là các hầm hố quân BV đang phục kích theo như con mắt cú-vọ kinh nghiệm chiến trường của các xạ thủ mà tôi nhớ lại lời nói của Nã Phá Luân “Les sous officiers font l’armeé” [Các Hạ sỉ quan nầy là kẻ quyết định chiến trường] 6 anh không những gan dạ đứng xổng lưng chiến đấu mà còn kinh nghiệm tác xạ, nên những cây minigun nổ đều với nhịp điệu khi nương khi mạnh; Khi chúng tôi trên đầu quân BV 50 thước; Thật điều quái lạ không nghe một tiếng súng nào bắn trả? Khác hẳn mọi khi có tiếng lóc cóc, hoặc nổ như bắp rang của AK-47 mỗi lúc mỗi gần hơn.

        Nhưng chả lẽ chúng chết hết!? Không phải vậy đâu đừng ham! Vì tiếng mưa bão của đạn đạo từ 6 cây minigun quá ghê gớm nên họ đành tạm thời núp trước rồi tính sau; Quân BV nầy có kinh nghiệm, vì họ thừa hiểu muốn chường mặt ra để đối chọi với chúng tôi thì đã bị gục ngã vài giây dưới cơn mưa đạn tàn sát trước mũi trực thăng và không có dịp mở mắt nhìn thấy sát-thủ vừa bay qua.. Dựa vào thế thượng phong nầy, Chiếc Lead của Tiến quẹo gắt qua Phải lấy chút cao độ quan sát và làm C&C cho đội hình xạ kích, Tôi quẹo gắt qua Trái lead 4 minigun bao vùng trên điểm phục kích bắn xối xả vào luôn chiến xa bạn vì quân BV vẩn còn ở trong đó. Cho đến lúc nầy trên cao độ 75 thước vòng tròn chúng tôi vẩn cảm thấy không một tiếng súng nào bắn lên.

        Tôi cho lệnh tất cả chiến xa kể cả bạn và địch nằm phía trước đoàn quân xa đều phải tiêu diệt, Tiều đoàn 8/Dù cho lệnh như vậy; Chiếc Lead bắn hết rockets xuống làm trail cho chiếc 3; Tôi lấy cao độ và tiếp tục phá hủy các chiến xa còn lại, trong khi luôn luôn 4 khẩu minigun vẫn tiếp tục cover 2000 viên phút; Nhưng có lẽ vì quá mệt mỏi, nên những chiếc rockets của tôi bắn ra đều gởi thiên gởi địa hết. Tôi bảo đảm đoàn convoy nên mau tiếp tục di chuyển với phần hoả lực còn lại của chúng tôi; Trong khi đó, đoàn thiết giáp của LĐI/TK đã củng cố được đội hình và đang bắn trả dữ dội; Phi cơ phản lực được gọi tới để dội bom vào các vị trí phục kích của Cộng quân, nhưng không may một trái bom Napalm lại đánh lầm vào quân bạn khiến 12 người chết và gần 100 người khác bị thương! Tôi điên tiết, liền vặn qua UHF 233.7 “Stop held it Charlie …Mother fucker you pissed Goddamn wrong place…”

        Chiếc A-6 Intruder vẫn còn rán chơi một pass nữa mới chịu ngừng rồi bay ra biển. Làm sao tôi không điên tiết cho được, cũng trục lộ nầy, cũng Tiểu đoàn-8 Dù nầy trong những ngày đầu Skyspot đã “cố tình thúc đít” quân bạn bằng Bôm Bi CBU-24, bây giờ lại “Vô tình thả lạc” làm chết và bị thương một số cũng Dù và Thiết Giáp trong đó có Tiểu đoàn Phó TÐ-8, con người lỗi lạc nầy chưa kịp nhập trận thì đã bị thương. Hai đại đội Trinh Sát TÐ-8 Dù xuất sắc nầy đã chiến đấu cùng chúng tôi như môi với răng. Tiểu đội mũi nhọn tiên phuông phải choàng panel Vàng-Cam nơi lưng kẹp vào nón sắt để chúng tôi cover từ 50 đến 100 thước, trước các buị Tre gai thường có hầm trú ẩn trên đường tiến sát, thỉnh thoảng nơi bụi Tre lại có một tiếng nổ phụ làm kinh hoàng tiểu đội xung kích. Lỗi thả bom lầm nầy do FAC Mỹ Việt thiếu phối hợp. Cuối cùng, địch quân cũng bị đẩy lui, nhưng có thêm 6 xe thiết giáp bị cháy.

        Đại Tá Luật phải tập trung các xe còn lại để củng cố đội hình di chuyển. Cung từ của tù binh bị bắt trong trận phục kích cho biết còn có khoảng 2 Trung Đoàn địch đang phục kích sẵn ở phía trước chờ tiêu diệt đoàn xe, Đại Tá Luật vội thông báo tin này về BCH/SĐ Dù và yêu cầu cho quân mở đường. Tướng Đống lập tức đáp ứng bằng cách điều động một đơn vị quân Dù khai thông đoạn đường còn lại để giữ an ninh lộ trình cho đoàn thiết giáp. Nhưng theo tôi, không rõ vì sơ sót hay vì lý do nào khác giữa sự lủng củng của Dù và Thiết giáp. SĐ/Dù không thông báo cho biết lộ trình đã được giữ an ninh. Vì vậy, Đại Tá Luật đã ra lệnh cho toán thiết giáp rời đường số 9, băng rừng về hướng Tây Nam tương đối bằng phẳng để tránh các ổ phục kích.

        Thật sự, nếu Đại Tá Luật cứ xử dụng đường số 9 như dự trù, có lẽ các chiến xa còn lại sẽ về tới phần đất Việt Nam an toàn hơn. Quyết định “băng rừng” quan trọng này của Đại Tá Luật không biết đúng hay sai, hoặc lỗi phải vế ai, nhưng đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho đoàn thiết giáp. Di chuyển trên đường số 9 đã khó, khi xử dụng đường rừng lại càng gian-nan hơn, cây cối rậm rạp, đất-đai ẩm thấp lại nhiều khe suối nên dễ bị lún; Hơn nữa, vì phải tự mở đường đi trong rừng xe cộ chẳng còn giữ được đội hình nên di chuyển rất hỗn loạn, nhiếu khi bị địch quân bắn cũng không phản pháo tiếp cứu được nhau, với đội hình tác chiến ra sao? Trong khi đó, các đơn vị Dù tùng thiết vẫn tiếp tục rút theo trục lộ đường số 9 có sự yểm trợ đáng tin cậy của Gunship-Song Chùy-213 như Tướng Ðống đặt hết niềm tin nơi tôi trước khi xung trận tại cứ điểm Fuller, Ðông Hà.. Cảnh hỗn độn như vậy, việc phối hợp yểm trợ với không quân và pháo binh hầu như không thể nào thực hiện được. Trên trời nhìn xuống lòng tôi quặn đau! Tuy nhiên với con mắt của TT Thiệu: Xem như đại tá là một chén kiểu cần phải cất giữ trong tủ kiếng để chiêm ngưỡng nên sau đó, đại tá được bổ nhiệm chức hành chánh là Tỉnh Trưởng BMT.

        Kết quả thiệt hại của Sư-đoàn 101 Không Kỵ và Liên Ðoàn 51 Tác chiến:
        - Không Kỵ/S/Ð/101: 215 chết, 38 mất tích. Phi cơ: 618 trúng đạn; 82 rớt bên Lào, 26 nội địa VN.
        - LÐ51TC: 10 chết, 4 mất tích, 11 bị thương (phần nhiều đoàn viên gunship) Hầu hết phi cơ đều trúng đạn ít nhứt một lần. Bên Lào, 4 chiếc bắn rơi trên không; Tại các Ðồi-31: 2 H-34 + 2 UH1-H; -Ðồi-30: 3 UH1-H, -A-Luối 1 UH1-H, -Hồng-Hà-2 UH1H, và 1 Gunship nội địa

        LÐT51TC: TRƯƠNG VĂN VINH
        Last edited by Phòng Trực; 04-12-2013, 03:23 PM.

        Comment

        • vinhtruong
          Super Member
          • Jun 2010
          • 1924

          #19
          Biệt Kích Nha Kỹ Thuat at 8:27 AM

          Biệt Kích Nha Kỹ Thuật at 5:47 PM

          TRẬN ẤP-BẮC: Không từ bài viết tay của tướng Lý Tòng Bá, không từ những lời phóng đại của phía Việt Cộng, lại không vì những bài báo thành kiến xuyên-tạc chủ đích của Mỹ, mà tôi nên viết lại cho có ngọn ngành để trả lại tính trung thực cho "lịch quân-sử", một trận đánh nhỏ nhưng là chìa khóa chính, mở cửa khai màu một cuộc chiến đẫm máu khủng khiếp nhứt trong lịch sử Việt-Nam, nhưng khôi hài đến chảy nước mắt, nó chỉ là một màn "diễn-phụ" của vở bi-kịch dài 100 năm có ác-nhãn là "Eurasian 1920-2020".

          Dĩ nhiên, tôi phải dẫn-giải thực-chất mục tiêu Trận Ấp Bắc, vì thật quá khó khi phải chuẩn bị chấm dứt ngay giải pháp thực trạng cuộc chiến ‘Nửa-Nạc Nửa-Mỡ’. Tôi muốn nói một thế lực ghê gớm dám lấy máu để giải quyết, hầu đạt cho bằng được cuộc “Mỹ-Hoá Chiến Tranh” bằng sách-lược CIP (Counter Intergency Plan) phía quân sự gọi là chiến-dịch “Commando Vaught”: Thêm một lần nữa là không do chính quyền Mỹ, mà do một thế lực trong bóng tối là Secret Society chủ đạo; Vì thế mới xảy ra thảm trạng phải lấy máu giải quyết bằng hành động hạ sát anh em Diệm/Nhu và Kennedys, vì những người nầy là chướng ngại vật chận đứng trục lộ CIP/NLF.

          Sau nhiều lần suy nghĩ, trăn-trở tôi vẫn phải cầm viết hầu phơi bày một sự thật để góp phần cùng các sử gia soi sáng những vùng tối đen định mệnh của Lịch Sử Việt Nam. Đây là vấn đề lịch sử, mà lịch sử phải là khách quan, trung thực; Tôi phải bổ túc thêm một lần nữa, đây là trận đánh nhỏ qua ngòi viết trung thực, không mạ-lỵ, không đả-kích, không tố-cộng, mà chỉ đơn thuần là trình bày sự thật bằng nhãn quan của người ngoại cuộc nhìn vào một đất nước bị quân của một nước lớn đem hơn nửa triệu lính chiến vào VN mà nước sở tại không một ai dám chính thức mời vào. Lại cũng là khách quan, tôi buộc phải về phía người dân nổi lên chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược; Dĩ-nhiên sự hiện diện của hơn nữa triệu quân xâm lược tự-tung tự tác biến cái Dù chính nghĩa của nước sở tại phải bị rách tả tơi liền sau đó.

          Làm sao chúng ta cố gắng định nghĩa chữ “Miền Nam tự vệ chiến đấu cho chính nghĩa mà thật ra chúng ta đâu có “chủ-quyền” để bảo-vệ, không có chủ quyền làm sao ăn nói với đối thủ? Vì thế tôi chỉ chĩa mủi dùi vào nền Đệ-2 Cộng Hoà mà thôi! Bị buộc phải cho rằng trận đánh thiếu chính nghĩa của miền nam chỉ vì quân Mỹ xâm lược, để góp phần tâm huyết cộng tác với các sử gia trong tương lai… Tôi phải viết về huyền-thoại trận Ấp Bắc, Nguồn gốc và khuyết điểm: Trong chiến tranh Việt Nam, một số ký giả như Neil Sheehan, Robert Shaplen, Francois Sully, Phạm Xuân Ẩn, Home Bigart … qua chủ trương của một thế lực ở Mỹ, với mục đích viết lách cách nào làm cho cuộc chiến của chính quyền miền nam trở nên mất chính nghĩa, thất bại cho mục tiêu theo kế-sách định-kiến-1 vào ngày 29/11/1960 của National Security Council (axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon).

          Sheehan như một người chịu khó, khá thông minh, đỗ đạt từ một Harvard nổi tiếng, được mua chuộc cho mục đích chính trị, tự do viết lách mà chỉ viết những bài báo lập luận phê bình ác ý và không chính xác nhắm vào QLVNCH. Nhứt là sau ngày 30/4/75, anh ta đã cho xuất bản quyển "The Bright Shining Lie" với những biện luận bất công nhắm vào QLVNCH, một quân lực bị bất ngờ "ngã ngựa" vì sự phản bội của đồng minh cùng với 13 thiên truyền hình về cuộc chiến Việt Nam bị cố tình bóp méo để đánh bóng cho định-kiến-1, và để viện-dẫn trả lời tại sao Quốc Hội Mỹ cắt viện trợ cho VNCH?

          Tôi có suy nghĩ rằng - Không biết mặt trận trò chơi "hỏa mù "này của một thế lực có quỷ đen về phía Việt Cộng bỏ ra nuôi dưỡng hay không? (Cái Permanent Government bỏ ra, vì thực tế, trên thế giới, lĩnh vực báo in và viễn thông thường bị chi phối bởi một nhóm nhỏ (War Industries Board) tài phiệt, có tài sản kếch xù và ảnh hưởng sâu rộng qua ngân quỷ từ ngân hàng Thụy-Sỉ tài-trợ)vì xét ra thì cũng có lợi khỏi đưa tội-phạm chiến tranh (War Criminal) chường mặt ra mà chỉ núp sau lưng dùng Dollar cho chúng nó (người Việt) đánh nhau, ôm nhau mà chết, thề không đội trời chung, cuồng sát đến tận tuyệt.... để rồi sau đó Việt Cộng từ từ đi thu dọn chiến trường mà thôi, cũng may Permanent Government không thả dây cương, nếu như giao cho VNCH nhiều ngòi nổ (warhead) của loại Bom CBU-55 hoặc BLU-82Al thì thảm hoạ sẽ như thế nào? Khi lính già BV chết hết, thì lính trẻ dưới 18 tuổi sẽ chỉã mũi súng AK-47 vào người lính già thiện-chiến nhưng tiếc thay cây súng M-16 đã hết đạn phải đầu hàng. Ðó là vở bi-hài kịch mà soạn giả George Kennan thiết kế rất tỉ mỉ theo lộ-đồ Eurasian-1 (xin xem trọn bộ tác-phẩm “The New Legion” để biết thêm chi tiết) Mấy lời thô thiển này nếu có sai xin các đọc-giả tha cho tôi vì cái tội thấy sao nói vậy đối với lịch sử!

          Ðối với cà hai dân tộc Việt, còn Mỹ G.I (government issue: quân dịch) cho “chiến-dịch khổ nhục kế” [Everything worked but nothing worked enough] có nghĩa cuộc Picnic thao dượt tập trận lớn nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ, nhưng tuyệt đối không đụng đến hành lang Xa lộ Harriman (đường mòn Hồ) để cho quân BV vào nam cùng tập trận, và không có kẻ thắng người bại mà chỉ có lợi nhuận cho tài phiệt Mỹ. và quân BV có cơ may rèn luyện để chống TQ sau nầy. Sự kiện nghịch-lý đó đã trở thành thảm họa và cho đến nay lịch sử của cuộc chiến tranh đó vẫn còn những bí mật cần phải được soi sáng trong vùng tối của lịch sử sau nầy … nhưng đối với tôi nó chỉ nằm trong hai chử “American First” .

          "The Bright Shining Lie" của Sheehan buộc bóp méo và hiểu lệch khác đi, nếu như anh ta xứng đáng thì chắc anh ta phải lãnh giải "nobel" ở Thụy Điển chứ không phải giải Pulitza mà anh ta nhận ở Mỹ như một phần thưởng từ thế lực trong bóng tối đặt hàng để đánh bóng vì mục tiêu chính trị qua định-kiến-1. Đúng như trong bài viết thêm của Neil Sheehan - về trận Ấp Bắc trong nguyệt san "The New Yorker" với bài "After the war was over", bài viết có đoạn P.Vann, một sĩ quan cố vấn, nóng nảy hồ-đồ, hăng say quá trớn, sợ bị qui trách nhiệm … Mục tiêu của trận đánh “thua chiến thuật, thắng chiến lược” Vì thế sau nầy tuy bị giải ngũ nhưng J.P Vann vẩn lên tướng dân sự theo sự ban thưởng của Permanent Government, một hiện tượng hiếm có trong chiến tranh? Nhưng đối với Mỹ khi cần “yêu-cầu”, Permanent Government cũng thừa khả năng dựng nó lên. Thí-dụ: Gắn lon 4 sao cho tướng Haig; TT Nixon chỉ nghe lén Watergate nhưng không có quyền tự ân xá mình theo hiến-định, nhưng Thái-tử George Bush vi phạm hiến quyền gây chiến Power Act, nói dối về Iraq có vũ khí giết người hàng loạt … nhưng vẫn ngồi trên chiếc ghế quyền lực cho đến phút chót. TT Johnson buộc phải từ chối tái ứng cử TT nhiệm-kỳ-2, đây cũng là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử? P.G có thể làm đảo lộn cả chân-lý một cách kinh-dị như: Da màu thắng Da trắng; nhà nghèo thắng nhà giàu; vô danh tiểu tốt thắng nổi danh trên chính trường; thiếu niên thắng thâm niên TNS; tiểu bang nhỏ thắng tiểu bang lớn New York; người chưa ở Bạch Ốc thắng người đã từng ở Bạch Ốc. (trường hợp, Obama, Hillary, Mc Cain).

          Trận Ấp-Bắc khúc quanh lịch-sử. Vì phải trả lại tính trung lực cho lịch sử, tôi cảm nhận phải viết lại trận chiến trong cái nhìn của dân tộc, mới dẫn giải rõ ràng tại sao Siêu chính phũ Mỹ (Permanent Government) phải lấy máu để giải quyết vì không còn giải pháp nào hơn! Dĩ nhiên bài viết nầy sẽ có tính chất tưa-tựa Wikileaks, vì thế phần Anh Ngữ sẽ dễ dàng sưu tra thêm những điều cần hiểu rõ qua tài liệu, sự kiện có thực trên internet, cựu tướng Lý Tòng Bá đã gửi tới tòa soạn một bài ký viết tay, trong đó, tướng Bá đã viết lại tỉ mỉ những sự thực về trận Áp Bắc, những sự thực mà một số sách báo ngoại quốc và cộng sản đã xuyên tạc hay bóp méo sự kiện. Mà thật ra (khách quan ngoại cuộc nhìn vào) trận chiến nhỏ nầy mới là chìa khoá chính của lò thuốc súng bùng nổ trên chiến trường VN lần thứ hai cho cuộc chuẩn bị Mỹ hoá chiến tranh bằng chiến dịch “Commando Vaught” 1959-1973 – Phải lấy máu giải quyết vì:

          - Cương định cũa TT Diệm quyết không cho quân tác chiến Mỹ qua với bất cứ hình thức nào
          - TT Kennedy: “không muốn đưa quân Mỹ qua một nơi quá xa-xôi”
          - Siêu Chính Phũ [Permanent Government]: bằng mọi giá phãi “Mỹ hoá cuộc chiến”

          John Paul Vann và Trận chiến Ấp Bắc
          Lời nói mở đầu: Dù tôi là chứng nhân có tham dự trận đánh, nhưng đứng trên lập trường phi chính-trị, không giới tuyến cũng như ý thức hệ, và khách quan góp phần ghi chép trung thực để bảo-vệ tính trung thực cho lịch-sử, chỉ chú trọng đến về mặt chiến thuật quân-sự mà thôi, dựa trên nền tảng niềm tự hào chống “thực-dân-Mới” của dân tộc. Ðây là một chiến trận được ghi vào Quân-sử cận đại của một dân tộc quật khởi chống lại quân xâm lược mà Ngũ Giác Đài (Pentagon) đã trân trọng soạn thảo ghi chép vào “Học-thuyết Quân-sự” về chiến tranh “du kích”. Sau cuộc chiến thảm hại tại Ấp Bắc, Trung-tá John Paul Vann bị Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Maxwell Taylor triệu hồi về Pentagon họp cùng tất cả vị Tư-lệnh: April/1963, Vann vẽ lại phóng đồ hành quân với màu sắc rõ rệt trên những chạm tuyến với dãy hàng Dừa, hàng Tre, Cau để khống chế và tiêu diệt, chỉ có một Đại-đội của Tiểu-đoàn 261 Chủ lực VC. Và thuyết trình diển tiến trong phòng họp tối mật Quân-sự tại Ngủ Giác Đài (Vì thua trận nên ông phải bị giải ngủ, nhưng trên bình diện chiến lược, Vann sẽ được một thế lực sau hậu trường nâng đỡ Vann sẽ là tướng dân sự tương đương 3 sao).

          Trong cuốn “The New Legion” 2010, Tôi chỉ nêu lên hai cuộc chiến mà tôi có tham dự là Trận chiến Ấp-Bắc và Lam-Sơn 719 – Hai trận nầy, SCP không chính thức công bố, vì định-kiến-2, phải đợi năm tới, 1964 ngụy tạo ra sự kiện “Vịnh Bắc-Việt” (Gulf Tonkin Incident) có nghĩa CSBV khiêu khích để có lý do trả-đủa. Còn 60.000 Lính Mỹ tiếp tục rút về trong thời gian xảy ra cuộc Hành quân Lam Sơn 719, nhưng cũng phải đợi 27/1/73 Hịệp định hòa bình Paris mới chính thức công bố rút quân trong danh dự, báo hại tướng Giáp không hiểu nên phải nướng 100.000 quân trong mùa Hè đỏ lữa 1972.

          Dù gì đi nữa, về mặt chỉ huy, Vann là người bại trận nên phải bị giải-ngũ trong khi Ông rất yêu đời binh nghiệp, khi ông mới vừa được 18 tuổi; Cuộc chiến tuy nhỏ nhưng đã làm rung-chuyển Ngủ-Giác-Đài, và Ngũ Giác Đài buộc phải điều nghiên học hỏi ghi chép trong Học viện Quân-sự, thuộc khoa nghiên cứu chiến thuật; Đây là khúc quanh lịch sử, khi người Mỹ đã chuẩn bị nhúng sâu vào chính tình VN, giữa sự mâu thuẩn đẫm máu: “chính sách và hành pháp chõi ngược (political conflict) trong nội bộ Hoa-Kỳ”, buộc chính quyền Diệm phải cương quyết bảo vệ chủ quyền dù phải bị cúp viện trợ!

          Cuộc họp “định-mệnh” hồi đời TT Eisenhower, ngày 21/September/1960, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa-Kỳ họp (National Security Council) Trên trục thế Chiến-lược toàn cầu đã phải thay đổi qua Á-châu 1950, vào Màn-2, giai đoạn 2 của “Eurasian Great Game” – Miền Nam hết còn là tiền đồn chống Cộng Sản của Thế Giới Tự Do, và biến Việt Nam thành nơi thí nghiệm đối đầu với Liên Xô bằng cuộc “Chiến tranh lạnh biến thể” qua sự dàn dựng của Kiến-trúc sư William- Averell-Harriman. Là một nhà ngoại giao huyền thoại kiệt xuất, vô địch có một không hai (Freewheeling Diplomat) nhưng lại cấu kết chặc chẻ với kẻ thù là Liên Xô – Ðây là trục Ma Quỷ mang tới thãm-họa cho người dân Việt vô tội trong khi thế giới đương-thời hầu hết đã giành được độc lập trên tay thực dân: Anh, Pháp, Hòa Lan, Bồ đào nha…nhưng Việt Nam phải bị rước lấy tai-họa vì quyền lợi của Tập-đoàn Tư bản WIB cấu kết với loài Quỷ Ðỏ gây chiến thủ lợi qua thương ước bằng món hàng giết người “Aid to Russia 1941-46 Plan”.

          Vì quyền lợi của họ (American First) cho nên cậy vào thế Siêu-cường của Thế Giới Tự Do, nhúng tay thao túng vào chính trường Miền Nam, không chịu để yên cho Miền Nam được đấu tranh tự vệ để bảo đảm sự an bình cho quê hương của mình. Họ dùng Việt Nam như một thế đất để dụng võ, thí nghiệm nhiều loại vũ khí, và trắc nghiệm việc thao túng nội tình, rút kinh nghiệm để áp dụng sau nầy trên các nước chịu ảnh hưởng của Mỹ bằng ‘bữu-bối’ gây xáo trộn nội bộ bằng cái gọi là “Dân-quyền Dân-chủ”. Thật là một điều bất hạnh, sự thãm họa cho các nước nhược tiểu nào bị cặp mắt xanh để ý tới.

          Chúng ta chỉ ao ước được tự vệ đễ sinh tồn trên nền tảng chủ quyền Quốc-gia do người dân tự quyết mà không yên với người bạn lớn; thay vì giúp như một Hiệp sĩ (Noble-cause) họ lại phá hoại nội tình để dễ bề thao túng, hầu lấy đất nước nầy làm một tử thi để thí nghiệm cho cuộc thực tập giải phẩu. Chúng ta phải can đãm, thành thật với chúng ta khi người Mỹ đã đem vào Nam Việt Nam với số Lính trên nữa triệu mà không ai mời, là xâm lược chớ gì? Phải dẹp tự ái dân tộc của chúng ta (Đệ-2/VNCH) mà nhìn nhận rằng: Chính phủ “bù-nhìn” và loại lính Lê-Dương của thực dân mới, từ đôi giày, quân phục, chiến-cụ, lương bỗng cho đến những khóa đào luyện chuyên môn cũng từ tiền Dollar Mỹ mà ra: Dĩ nhiên tôi không ám chỉ thời Ðệ-1 Cộng Hòa của TT Ngô Đình Diệm! Dù uất hận đến đâu: “Tổ- quốc” đã bị người ta cướp đi, nhưng khi tôi cầm lái chiếc gunship, trong tôi vẩn còn lại “Danh-dự” của người chiến sĩ VNCH và “Trách-nhiệm” của con chim đầu đàn quyết bảo vệ đồng đội bằng dội lên đầu quân địch với một hoả lực cuồng sát.

          Từ năm 1954 đến năm 1963, dưới chính quyền Ngô Đình Diệm người dân sống rất an-bình, TT Diệm cũng yêu cầu vi chính quyền Hoa Kỳ (Kennedy) ký một hiệp ước phòng thủ như tại Nam Hàn của Park-Chung-Hee, nhưng liền bị Hoa Kỳ thẳng thừng bác bỏ; Từ đó mối giao hảo giữa Miền Nam VN và Hoa Kỳ trở nên tồi tệ, và bộc phát rất rõ rệt sau trận Ấp Bắc; Người Mỹ muốn dùng Quân Lực VNCH như một con múa rối dưới ngón tay điều khiển của Trung-tá John Paul Vann thiếu kinh nghiệm và ngu-ngơ. TT Diệm không những không cho Quân-đội tác chiến của Mỹ qua VN dù bất cứ hình thức nào mà còn không muốn số Cố vấn Mỹ bành trướng tới tận Xã-Ấp, thì đừng nói gì đến cuộc chiến ‘Mỹ Hóa’ nửa nạc, nửa mở như thế nầy xãy ra trên mảnh đất Miền Nam VN.

          Tức giận, TT Diệm đã không còn do dự khi tuyên bố với báo chí thế-giới rằng: “Tôi nghĩ rằng người Mỹ không có khả năng để cố vấn chúng tôi về chiến tranh du kích” (I don’t thinh The Americans are able to advise us on subversive warfare).

          Ông cố vấn Ngô Đình Nhu lại chua thêm: “Tôi e rằng người Mỹ không biết nhiều bằng chúng tôi” (I’m afraid The Americans don’t know as much as we do).

          Nhân dịp nầy, báo chí quốc-tế tha hồ bu lại phỏng vấn các viên chức của Tòa Bạch ốc về thái độ của TT Kennedy; bị tự ái dồn dập là một Siêu cường , Kennedy bèn khẳng định và bảo đảm với báo chí rằng: “ Chúng tôi sẽ rút bớt số Cố-vấn, bất cứ bao nhiêu, lúc nào mà chính phủ Miền Nam yêu cầu” (We would withdraw the troops, any number of troops, anytime the government of South Việt Nam would suggest it). Sự thật họ [Siêu chánh phủ] có muốn như vậy mà để yên cho TT Ngô Đình Diệm hay không (Điều nầy tôi muốn ám chỉ ‘chính sách’ do Siêu Chính Phủ nắm chớ không phải TT Kennedy) Thêm một cương quyết trong lỗi lầm vô cùng nguy hiểm nhất cho TT Diệm là đã trục xuất nhà báo CIA, Francois Sully của tuần báo Newsweek, lý do là đã nói xấu chế độ, gây ảnh hưởng không hay đền tinh thần chống Cộng của Quân Dân Miền Nam. Đây là một điều vô cùng tối kỵ mà chính quyền Diệm khó lường được hậu quả “Một bầy Ong nguy hiểm” Đây cũng là cơ hội tốt cho SCP bỏ tiến ra mua chuộc Báo chí để rồi hậu quả TT Diệm lại phải đối đầu với một kẽ thù đáng sợ là cơ quan truyền thông của Mỹ châm chít, CIA phải nhường ngôi công cụ “truyền thông” là số MỘT.

          Hiện tại miền nam có hai kẻ thù là Cộng Sản BV và kẻ thù nguy hiểm nhứt là Báo chí Mỹ.
          Trong trận chiến nhỏ nầy nhưng tầm mức quan trọng của nó thật khó có ai hiểu nổi; Vì sau khi nghiên cứu tỉ mỉ, Tôi cho nó là khúc quanh bi thảm nhứt của lịch sử Việt Nam là sự cương quyết cho ra đời của chính sách CIP (Chống Nổi Dậy) Chính sách CIP nầy đang đụng độ rất ác liệt giữa TT Diệm và TT Kennedy và Kennedy với W.A. Harriman, Thủ lảnh Skull and Bones, Lảnh tụ của tập đoàn Tư bản thống trị nước Mỹ. Nội dung của cuốn sách nầy sẽ giải bày ai là người nắm chính sách của Hoa Kỳ và kể cả vận mệnh thế giới.

          Chính sách nầy được nghiên cứu rất hệ-thống bởi một nhóm học giả tài ba kiệt xuất do Harriman ra công tuyển lựa và nuôi dưỡng từ 1950. Để hoàn thành định-kiến-1 qua trục Ma-Quỷ (CIA và KGB) áp-lực CSBV vào tháng Tư, 1959 Ðại-hội Trung ương đảng thứ 15 để thành lập Đường 559 (đường Mòn Hồ) trong khi CIA ngụy tạo tên Đường Mòn Hồ Chí Minh xuất phát từ các nước Tây âu với dụng ý chính trị mà tôi cho đó là Xa lộ Harriman sẽ có ống dẫn dầu huyết mạch song song do LX thiết-bị và được Harriman cương quyết bảo vệ bằng mọi giá. Và lý do gì, tại sao Hoa Kỳ dụ dổ được Liên Xô vào trò chơi chiến tranh nầy bằng một cuộc chiến tranh “phản gián” và “chống phản gián,” có “Nhị trùng” có “Tam-trùng.” (A Triple-Cross Phạm Xuân Ẩn, a double-cross Bob Anson) – Nhị trùng Bod Anson, người có công cứu vớt Việt kiều ở Takeo, Cambodia thoát khỏi bàn-tay Lonol bị Việt Cộng bắt giữ ở đó vì bị tình nghi là Phi công Mỹ bị bắn rớt giả dạng ký giả đã chĩ được thả nhờ sự can thiệp của “Tam-trùng” Phạm Xuân Ẩn. Khi thã Bob Anson, VC gọi là đồng chí, được tặng Dép râu làm bằng vỏ xe Mỹ. Nhờ uy tín nầy CIA đề nghị Ẩn qua Mỹ bổ túc thêm các khóa tình báo, nhưng phía Hà Nội Mai Chí Thọ đã không cho Ẩn đi. CIA buộc phải dùng Tam trùng Ẩn phối hợp cùng điệp viên 19 Lucien conein, Russell F Miller, George Carver, Landsdale, Jane Fonda, John F Kerry…thông dịch bằng tiếng Việt qua Ẩn để chỉ vẻ rỏ ràng như Vỏ Nguyên Giáp được OSS móc nối 1943 cho rằng: Nhờ tam-trùng Ẩn: “Chúng ta nay đang ngồi chần-dầng trong War-Room của Tướng Haig” tại Pentagon (Pomonti, p, 19)
          LX, TQ muốn chia 2 VN, Mỹ không muốn.

          Người ta dễ mau quên là năm 1957 (con nợ Liên Xô bị kẹt cứng Aid to Russia Plan) nên bị Mỹ thuyết phục nhảy vào trò chơi chiến tranh, NLF & CIP, Liên Bang Xô Viết từng đề nghị hai chính phủ đương đại của Việt Nam cùng gia nhập LHQ, không kể là Trung Cộng cũng rất ưa thích sự hiện hửu của hai nước Việt Nam. Thật đã rỏ ràng ngoài hai phía Việt Nam, các thành phần tham dự Hiệp định Genève 1954 đều thiên về cách giảm thiểu nguy cơ đụng độ toàn cầu. Việc xác định lý thuyết về một nước Việt Nam thống nhứt trong thông cáo-chung của hội nghị; bản thông cáo mà không quốc gia tham dự nào chịu ký; đả đẩy vấn đề pháp lý của cái chính phủ Việt Nam thống nhứt kia qua những bất trắc và mơ hồ của một cuộc tổng tuyển cử sẽ tiến hành hai năm sau? (nó nằm trong thế chiến lược Cold War của lý thuyết gia George F Kennan để tránh một thãm họa cho loài bằng trận chiến nguyên tử).

          Nhưng 50 năm sau, từ khởi đầu cuộc chiến (1945-1995) trong thế chiến lược toàn cầu, Hoa Kỳ sẽ chính thức hợp thức hoá bằng công hàm ngoại giao, công nhận bảo vệ một nước VN thống nhứt trong cái dù cũa Mỹ bắng chuyễn biến từ từ để không bị tắm máu. (Những ai muốn chuyển biến nhanh theo Mỹ chưa đúng thời điễm đều phải bị tế thần như: Đinh Bá Thi, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt …) VN sẽ thống nhứt và mang ơn Mỹ vì hiện tại (1954) Mỹ không chịu ký chia đôi VN, Hoa Kỳ tự tin trên trục lộ-đồ thế chũ động toàn cầu của Mỹ đã chứng minh sách-lược 100 năm nắm vững vận mệnh thế giới dù nước nào ươn ngạnh nhưng sau cùng cũng phải khúm núm chui vào khuôn khổ ứng xữ do Mỹ áp đặt. Như những tháng gần đây, TQ đã hung-hăng rồi cũng phải tuân thủ khuôn phép do Mỹ nhào nắn ra. Thí-dụ phương thức mẫu hình chia đôi hai quốc gia: Đức, Triều Tiên, và VN nằm trong thiết kề cũa George F Kennan, lý thuyết gia Chiến Tranh Lạnh, mục tiêu tạo ra sự phồn thịnh bằng món hàng vũ khí giết người. Sau một thời gian thâu hoặch khá nhiều lợi nhuận, rồi ba nước nầy sẽ thống nhứt sau, mà kết quả nước nào có quân đội Mỹ ở lại như căn cứ hậu cần để giữ nhà, thì cứ tự nhiên đem quân qua giãi phóng nước kia. Còn như VN đuổi Mỹ: Khách bị chủ nhà đuổi nên không còn lính Mỹ thì nước đối nghịch sẽ cưởng chiếm. Cái thế chia đôi rồi thống nhứt chỉ đơn giản qua giải pháp như thế.

          Nhóm tham mưu của Harriman đả đưa ra kế hoặc theo lộ trình “Eurasian” sẽ thống nhứt Việt Nam sau khi Hoa Kỳ hốt được khá nhiều lợi nhuận bằng cuộc chiến tranh lạnh biến-thể, rằng muốn có độc lập tự do VN phải trả một giá phải chăng, vì “Freedom is not for free!” Thế cho nên tám bức thư thĩnh cầu của cụ Hồ Chí Minh gởi TT Truman xin bảo trợ nền độc lập cho VN y chang như Phi Luật Tân đều bị bỏ vào xọt rác, thực tế Mỹ cũng phải trả giá cho nền độc lập bằng cuộc nội chiến? Trục Ma Quỷ cách ly Cụ Hồ Chí Minh bằng Lê-Duẩn từ Miền Nam về Hà Nội lảnh đạo, Lê Ðức Thọ vào Nam thế Lê Duẩn và Mai Chí Thọ là người nắm giữ cơ quan tối cao quyền-lực, Tam-trùng Phạm Xuân Ẩn làm gạch nối vì đơn giản Ẩn biết tiếng Việt rỏ hơn điệp-viên 19 Lucus Conein, Russell Flynn Miller, Jane Fonda, và John.F.Kerry.

          Ðể kết luận, Ắp Bắc là trận chiến mà người Mỹ can thiệp thô bạo vào chủ quyền miền Nam qua hành động trịch thượng của John Paul Vann. Cũng như hồi Ðệ-2-Cộng Hòa, Mỹ áp lực TT Thiệu bổ nhiệm Tướng Ngô Quang Trưởng ra vùng-1 là để thực thi chiến dịch cường tập “Hậu-vệ-1972” (Linerbacker-1) ngăn chận CSBV chiếm miền Nam vì chưa đến thời điễm (trong lộ đồ Eurasian đã có sẳn điểm mốc thời gian 20 năm thù địch qua hệ thống PRAISE vì ngày xưa chưa có máy tính computer, hostility 1975-1995).



          TRẬN CHIẾN ẤP-BẮC: không từ bài viết tay của tướng Lý Tòng Bá, không từ những lời phóng đại của phía Việt Cộng, mà tôi nên viết lại cho có ngọn ngành để trả lại tính trung thực cho lịch sữ, một trận đánh nhỏ nhưng là chìa khóa của một cuộc chiến đẫm máu nhứt trong lịch sữ Việt Nam và trong lịch sữ Hoa Kỳ chưa bao giờ có một cuộc thao dượt huấn luyện quân sự lớn nhứt như tại VN theo phương châm “Everything worked but nothing worked enough” kể cả tình báo đấu lại với phản tình báo thả biệt kích ngoài bắc giữa William Colby và Lucius Conein, chiếc Cò Trắng C-47 tự động nổ trên vùng trời Ninh Bình là chứng cớ?

          Ba ngày sau lễ Giáng Sinh năm 1962, Sư Đoàn 7 nhận lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu phải mở cuộc hành quân trên vùng trách nhiệm. Ngay sau khi nhận được nguồn tin mật báo đáng tin cậy, Việt Cộng đang tập trung tại vùng Ấp Tân Thới, cách 25 cây số về phía Tây Bắc Mỹ Tho. Nguồn tin nầy cũng được báo ngay qua văn phòng của Tướng Harkin; Phi Cơ trắc giác Otters thuộc đơn vị số 3 Bộ Binh vô tuyến tìm hướng phát hiện ra nơi xuất phát của Việt Cộng tại vùng nói trên. John Paul Vann và những cộng sự viên được tin hấp dẫn nầy nên vô cùng sốt ruột chờ đợi lệnh mở cuộc hành quân tấn công vào cứ điểm. Cuộc hành quân nầy có nhiều đặc điểm ‘hơi lạ’, vì cái gì cũng ‘mới’:

          -Đầu năm mới, sáng tinh sương ngày 2/1/1963 mở cuộc hành quân.
          -Chiến thuật ‘Trực Thăng Vận’ mới có lần đầu tiên trên thế giới, tại chiến trường VN.
          -Chiến thuật ‘Thiết Xa Vận’ mới có lần đầu tại Nam Việt Nam
          -John Paul-Vann mới bắt đầu ‘Mỹ hóa’ chiến tranh ‘nữa nạc, nữa mở’.
          -Trung Tá Bùi Đình Đạm mới vinh thăng Đại Tá
          -Và cũng mới nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 7 BB
          -Đại Úy Richard-Ziegler, mới lần đầu tiên thiết kế hành quân cho mặt trận thật tại VN

          Đại Tá Đạm, là người Công giáo, Miền Bắc được Tướng Huỳnh Văn Cao tin cẩn đề nghị lên Tổng Thống Diệm, và được TT chấp thuận ngay; Vì Đại Tá tên là Đạm, cho nên tánh tình rất là điềm đạm, khôn ngoan, mối giao hòa giữa Việt Mỹ vẫn luôn luôn tốt đẹp trong sự tôn trọng lẫn nhau; Vann đề nghị, tiếp tục kế hoạch hành quân đang bỏ dở trong thời gian Tướng Cao còn nắm quyền Tư-lệnh Sư-đoàn, Đại-tá Đạm am hìểu tình thế nên đành vui vẽ chấp nhận, nhưng trong bụng không vui tí nào vì biết chắc rằng TT Diệm rất bực mình cho cái hành động rất trịch thượng kẻ cả của người Mỹ. Vann gọi Phone cho Đại Úy Ziegler, cựu cầu thủ đá banh có tiếng tại trường Sĩ-quan West-Point, ông nầy có khả năng thiết kế phóng đồ hành quân, hiện đang nghĩ phép tại khách sạn Trung-Thu Hồng-Kông, buộc phải trở về lại SàiGòn gấp trong chuyến bay sớm nhất.

          Theo hệ thống quân giai, Đại Tá Đạm phải trình kế hoạch hành quân của Đại Úy Richard-Ziegler cho Tướng Cao duyệt xét; Dĩ nhiên là phải O.K thôi; Tuy nhiên, Đại-tá Đạm e ngại Việt Cộng có nhiều thì giờ để chuẩn bị đối phó nên đề nghị cuộc hành quân phát xuất sớm hơn 24 tiếng đồng hồ, nhưng có được đâu, Vann dẩy nẩy, lớn giọng không chịu “Làm như vậy là kéo đầu mấy thằng Phi-công Trực-thăng H-21 phải thức dậy 4 giờ sáng, của đầu năm mới, mà trong khi tâm trí họ còn đang lâng-lâng mùi vị ngày tết của năm mới”. Hay nói toạc móng heo ra, đây là sơ-khởi cuộc Mỹ hóa chiến tranh theo kiểu nữa nạc, nữa mở, mà Quân Lực VNCH là con cờ dưới ngón tay trỏ của Vann…muốn đi lên đi xuống đi dọc đi ngang gì tùy ý. Thật cay đắng cho cuộc chiến trên đất nước mình, mà người ta xử dụng mình như một con cờ không hơn không kém. Vì tự ái dân tộc, tôi đang mong chờ xem phản ứng của TT Diệm ra sao!

          Ngày 2/1/1963, sau một đêm dài tỉnh mịch, vào một buổi sáng tinh sương, không khí chiến tranh lại tái diễn như mọi ngày, với bụi khói mịt mù hòa lẫn với tiếng xe nổ máy rú ga, tiếng động cơ trực thăng phản lực UH-1A xé không gian, cùng tiếng máy nổ nhức óc của Trực-thăng H-34, tiếng cánh quạt chặt gió nghe bành bạch bao trùm khắp sân bay Tân Hiệp, Mỹ Tho. Qua rồi của một sáng sớm êm dịu, mát mẻ trên vùng Bắc châu-thổ sông Cửu Long. Bây giờ mọi người buộc phải cuộn mình trổi dậy sau một đêm dài mệt mõi để lo đi kiếm sống; Trên nền trời xanh thẳm, tiếng động cơ nổ đều đều của một chiếc L.19 nghe như quen thuộc đối với người dân địa phương, đó đây có vài cụm mây Cumulus lảng vãng trôi dạt về một phương trời vô định như muốn cuốn theo biết bao oan hồn Tử sĩ vất vuởng, sẽ đang chờ được siêu thoát!

          Đúng 6 giờ 30 sáng, Phi cơ cất cánh tại phi-trường Tân Hiệp, Vann xông xáo ngồi ghế sau của một chiếc Phi Cơ L.19 Army Hoa-Kỳ, với một niềm tin là sẽ hốt trọn ổ bọn Việt Cộng. Tay phải cẩn thận nắm chặt tấm phóng đồ hành quân, để theo dỏi tình hình khi một Đại-đội đầu tiên của Sư-đoàn 7 đáp xuống vùng hành quân nằm phía Bắc của ấp Tân Thới.

          Tướng Harkin và Ban Tham Mưu cũng như Vann đều nghĩ rằng: Việt Cộng cũng giống như mọi Da Đỏ ngày xưa hồi “Tây tiến” chỉ cần bắn vài phát súng là chúng hùa nhau chạy có cờ, mà theo ngôn từ trịch thượng của họ là “Those raggedy-ass little bastards” nhưng sự thật sẽ trái ngược không như họ tưởng, vì nơi đây là Thánh địa chống ngoại xâm Nhật-Pháp, Quân-đội Việt Minh không cho phép ngoại nhân được lò mò đến vùng đất bất khả xâm phạm nầy. Vì cách đây chưa đầy 3 tháng (October) một trung đội Biệt Động Quân đã bị phục kích gây thiệt hại và Việt Cộng rút lui rất êm-ái trong đêm tối, dù rằng Pháo-binh và Không-quân có can thiệp.

          Đúng 7 giờ 5 phút, 10 chiếc Trực Thăng trái Chuối H.21 thả một Đại-đội Bộ-binh xuống một đám ruộng có nước ao tù lầy lội bỏ hoang. Phi công Hoa-kỳ thiếu kinh nghiệm, nên họ đáp đại giữa ruộng cho dễ, nhưng cũng may là chỗ nầy không có VC, nếu không thì chỉ tội cho lính Bộ-binh phải chịu cảnh bị bắn sẽ, đến khi mà lội lỏm bỏm chân thấp chân cao vào được tới bờ đê thì không còn bao nhiêu Lính nữa. Những chiếc Trực-thăng H-21 nầy, chả lẽ Hoa-Kỳ đem quẳng vào thùng rác! Bèn đem qua VN để dùng tập trận (training aid) rồi sau đó sẽ phế thải tại chỗ (400 chiếc) Thân hình thì to lớn kình càng, khi bay thì lại chậm rì, xê dịch thì lại khó khăn, chỉ chở được 8 anh Lính là ì à, ì ạch mới cất cánh nỗi, thế nên Phi công cứ lựa chỗ nào rộng rãi dễ đáp thì sà xuống đáp ngay, mặc kệ cho số mạng của mấy anh Lính VN…thật là tội nghiệp!

          Những chiếc Trái Chuối cứ lề mề bay qua bay lại vì bị lạc lối, cũng như chưa quen với địa thế ở vùng, giống như bầy Ruồi Xanh nhỡn nha trước miệng Chó, thì làm sao chúng không bị táp cho được. Ngày hôm nay, Việt Cộng đang bị dồn vào bức tường, nên sống chết gì họ cũng phải chơi một trận cho nễ mặt anh hùng, vùng đất bất khả xâm phạm và cũng để giữ vững niềm tin của đồng đội, cũng như dân làng đã từ lâu che chở cho họ, trong đó cũng có con em ruột thịt của họ. Vào khoảng 10 giờ tối đêm qua, Tiểu Đoàn Trưởng 261 Chủ Lực Miền đã thuyết trình cách ứng xử chiến thuật tác chiến trên vùng nước có lau sậy phải ẩn náu kín đáo dưới các mương, dọc theo hàng Dừa, như phải dùng ống Sậy, ống Trúc để thở dưới nước, chỉ cần tấn công khi địch nằm trong tầm đạn và ngụy trang kín đáo là phương cách tối ư là quan trọng. Ngay đến tên của Tiểu đoàn-trưởng cũng hoàn toàn phải giữ kín và đó cũng là truyền thống trong tổ chức của Việt Minh, họ chỉ gọi nhau bằng anh Hai…anh Ba…anh Năm mà thôi.

          Trên chiếc Phi cơ trắc giác Otters, có Jim Drummond, là một Sĩ Quan quân báo của Vann và bên phía VN có Đại Úy Lê Nguyễn Bình, báo cáo cho Vann biết rằng: “vùng Tân Thới là nơi đầu não của Việt Cộng, và nơi đây đang tăng cường thêm 120 tay súng nữa. Kế hoạch hành quân của Zeigler là tấn công 3 hướng, một Tiểu-đoàn của Sư-đoàn khoảng 330 người sẽ được Trực-thăng vận chuyển xuống phía Bắc, tấn công xuống mục tiêu. Cùng lúc, 2 Tiểu-đoàn Địa-phương tiến lên từ phía Nam, nhưng chia ra bằng 2 đường tiến sát, và sau cùng là một Chi-đoàn thiết-vận-xa M.113 gồm có 13 chiếc, có Bộ Binh tùng thiết tiến dọc từ hướng Nam cạnh sườn Tây. Nhiệm vụ tùng thiết cơ động nầy là lực lượng phản ứng nhanh khi VC lộ diện là xung trận ngay; Nhìn chung theo lý thuyết nhà trường thì okay, nhưng thực tế sẽ ra sao…xin chờ xem giữa lý thuyết nhà trường và thực tế nơi chiến trận ra sao?

          Với một lực lượng hùng hậu như thế nầy, bằng 3 mũi giáp công, gồm có 1 Tiểu-đoàn Bộ Binh, 2 Tiểu-đoàn Địa-phương quân, như vậy đủ dư sức để tiêu diệt, chỉ có 1 Đại-đội VC. Ngoài ra, còn có một lực lượng cơ động can thiệp ngay khi có chạm súng, rồi còn có Phi-cơ và Pháo binh yểm trợ nữa thì làm gì mà không đem đến chiến thắng cho được? Còn ở tại Phi-trường Tân Hiệp, có 2 Đại-đội ứng trực, khi khẩn cấp sẽ được Trực-thăng vận xuống ngay trận địa. Chả lẽ không tìm ra được 120 lính VC hay sao? Tin tức thì rất chính xác 100% là đúng; không lẽ tin tức dõm! Vì đài trắc giác đã xác định đến 3 lần có tin như vậy! Việt Cộng đang bí mật giàn quân xuống sâu từ Tân Thới tới Ấp Bắc, cho nên chiến trận nầy có tên là trận Ấp Bắc thay vì Tân Thới
          Vị chỉ huy Tiểu-đoàn của VC, 261 và nhóm Tham Mưu đã thành lập một lực lượng phòng thủ hỗn hợp gồm có 1 thành phần của Tiểu-đoàn 320 chủ lực Miền và du kích địa phương; ngoài ra họ được tăng cường thêm dân-công của 30 làng-ấp nằm san-sát ở cạnh vùng đó để thay thế di tản thương binh, cũng như khuân vác tiếp liệu đạn dược, giao liên đưa tin…

          Tỉnh ủy VC đã thông báo trước cho Tiểu-đoàn-trưởng biết ngày và giờ địch sẽ tấn công (rạng sáng ngày 2/January/1963) để chuẩn bị, tuy nhiên không biết rõ chính xác nơi nào là mục tiêu xuất phát, nhưng chắc chắn cũng lẩn quẩn đâu đó thuộc vùng phụ cận Ấp Bắc và Tân Thới. Họ đã dự trù, tới mùa khô, quân VNCH sẽ mở chiến dịch hành quân càn quét dọc theo con kinh lớn Tổng Đốc Lộc, người dân địa phương thường gọi là Kinh Bà Bèo; một dãy toàn các Làng, Ấp nằm kế cận nhau như một vòng đai thuộc ranh giới phía Đông của “cánh đồng Lau Sậy”.Vừa rồi tình báo Tỉnh-ủy VC ở Định Tường có cho họ biết rằng: có 70 chiếc Xe GMC chở đạn dược và tiếp liệu từ Sàigòn xuống. Vào những ngày đầu năm, hội đồng Tỉnh-ủy VC đã đúc kết tin tức chắc chắn địch sẽ tấn công vào sáng mai, đúng như ngày nói trên.

          (Xem tiếp phần-2)
          Last edited by Phòng Trực; 04-26-2013, 04:19 PM.

          Comment

          • vinhtruong
            Super Member
            • Jun 2010
            • 1924

            #20
            (tiếp theo)

            Vann rất bằng lòng vì lý do VC chịu chấp nhận giao tranh với Quân Lực VNCH. Vì chúng không có con đường nào khác phải bảo toàn niềm tin nơi dân làng, cũng như đồng đội đã đặt hết trách nhiệm nơi họ. Vann cũng muốn trắc nghiệm sự mới mẻ xuất hiện của 2 loại phương tiện cơ động của ‘Trực Thăng Vận’ và ‘Thiết Xa Vận’ trên phần đất vùng Bắc Châu Thổ sông Cửu Long. Ông cũng tự mãn cho rằng với sự ‘hòa nhịp’ của bản nhạc kích động nầy, gồm giữa những người phụ tá của ông như tình báo tin tức, Drummond và thiết kế phóng đồ hành quân, Zeigler sẽ như chiếc Đũa Thần làm thay đổi cục diện chiến trường! Và Việt Cộng sẽ bàng hoàng kinh hãi nhắm mắt không kịp lời trăn-trối! Nghĩa là sau đó chúng phải tái hội thảo học tập đường lối Quân sự mới thích hợp với tình hình, vì 2 loại phương tiện cơ động nhanh nầy (chủ tâm của Nhóm Học giả Harriman là Trực Thăng H-21 đã quá cũ bay không nổi dùng để tập trận rồi bỏ, số bất khả dụng sẽ không đủ để yểm trợ hành quân gây nhiều trở ngại còn Thiết Vận xa không cho trang bị bức chắn đạn, cũng như cảng lội bùn như thế sẽ giới hạn, trì-trệ bớt khả năng di động hữu hiệu, và người chỉ huy sẽ đem lại thất bại vì thiếu khả năng điều động, có thất bại thì mới có lý-do áp lực hành pháp Kennedy gởi Lính qua đây tập trận theo đúng phương châm “Muốn củng cố hoà bình phải chuẩn bị chiến tranh”).

            Ngay sau chiến thắng trận Ấp Bắc, từ đó trở đi, một số lớn VC từ bỏ gia đình đi theo Cách Mạng, lôi cuốn theo một số dân làng trở lại hồi kháng chiến chống Nhật-Pháp; họ đồng lòng nhất trí kêu gọi những Cán bộ nòng cốt đã tập kết từ Miền Bắc, nên mau mau trở về Nam để thành lập chính quyền tại đây, hầu chiến đấu tiếp tục giữ vững vùng giải phóng, không bị chính quyền bù nhìn Miền Nam cai trị. Họ cương quyết phải hủy diệt Mỹ, dù Mỹ có nhiều loại vũ khí giết người tinh-vi hơn; Thế là trò chơi chiến tranh giữa hai đấu pháp CIP và NLF sẽ trở nên ác liệt, đúng theo khởi điểm từ tháng 4/1959 cho đến nay (dự kế theo lộ-đồ hoặch sẵn trong chiến tranh lạnh) Nhưng trở ngại chính lại là do hai cục ‘Gù” Tổng Thống Diệm và TT Kennedy có chịu dự phần trò chơi nầy không? Harriman và Prescott Bush sẽ cương quyết dùng phẫu thuật để lấy chúng nó ra.

            Tỉnh ủy cũng như vị chỉ huy Tiểu đoàn là Cán Bộ nồng cốt hồi thập niên 1940, trong 2 cuộc kháng chiến chống Nhật rồi Pháp, họ buộc phải ở lại để chờ cơ hội giải phóng Miền Nam. Đây cũng là nằm trong ‘thai nghén’ của thế chiến lược “binh kẻ mạnh”(on strong-man side) của Hoa-Kỳ. Tài liệu tịch thu được có câu: “sở dĩ chúng tôi không muốn trở về Bắc vì sợ cuộc cách mạng sẽ bị thất bại không thành đạt được!” trong đó có điểm nhấn mạnh rằng: “chúng ta cần giáo dục những thanh thiếu niên trẻ phải nối gót theo Cha-ông, chúng ta phải phù trợ con em, làm gương bằng nhiều chiến thắng lẫy lừng, khuyến khích con em hoàn thành mục tiêu giải phóng cho toàn dân tộc và thống nhất đất nước, phục hồi cơ nghiệp và tiền đồ của Cha-ông để lại”.

            Việt Cộng điều nghiên bộ máy chiến tranh Mỹ và Chính-quyền Miền Nam, ôn lại những chiến thuật đã làm thất vọng mưu toan của địch, ra sức nhiều gian khổ hơn nữa để tìm cách giáo dục bảo vệ niềm tin cho Sĩ-quan, Hạ-sĩ-quan và Binh-lính, nếu họ bị rơi vào một tình cảnh sa sút tinh thần hoặc hoảng sợ, phải lanh lẹ biểu diễn những kỹ thuật điêu luyện khi phòng thủ cũng như khi ngụy trang, chướng ngại vật thiêng liêng ưu đãi của vùng Châu-thổ bao la, và là nơi dung thân tốt nhất khi lâm trận cũng như phối hợp điều quân hay lẩn trốn. Bài học đầu tiên vẫn còn nóng hổi là: phục kích môt trung đội thiện chiến Biệt Động Quân địch, ở một Ấp chỉ cách vài cây số vào vùng Tây-bắc Tân Thới và bắn hạ 2 Trực-thăng trái Chuối chuyển quân tiếp viện, trong đó có một chiếc mà John Paul Vann đã có lần ngồi trên đó. Nhưng đó chỉ là thành quả của một đơn vị nhỏ (Đại-đội-1 của Tiểu-đoàn địa phương 514). Sáng hôm nay Đại-đội 1/514 nầy cũng đang chờ đợi để chiến đấu thử sức một lần nữa.

            Nghe tin thảm bại, TT Diệm bèn nổi giận phản ứng với báo chí Thế-giới về sự ngang ngược của Mỹ đã nhúng tay thô bạo vào nội tình Việt Nam. Về quân sự, Hoa Kỳ như một người Mù bước vào một chỗ bùn lầy để bị mắc cạn; Theo như kế hoạch dự trù của chính phủ Diệm, sẽ dùng chiến thuật “vết dầu loang”, lấy một Ấp đầu tiên làm kiểu mẫu như Ấp chiến đấu Bến Tượng chẳng hạn, rồi bành trướng lan rộng khắp vùng, song hành, mở chiến dịch chiêu hồi rộng khắp nơi, như một phương pháp tát nước cho ao cá cạn dần, thì bắt buộc cá không thể sống được, nếu không có nước.Và như thế chiến dịch “chiêu hồi” sẽ được thành công mỹ mãn như đã và đang làm, và đã quy tụ được trên 4 triệu người dân nông thôn về hội nhập với chính quyền. Trong khi đó thì phía cố vấn Mỹ đổ thừa rằng, phía chính phủ Miền Nam đã để cho VC nghỉ xả hơi 2 tháng rưỡi chuẩn bị, không chịu mở cuộc hành quân trước, thế nên một Tiểu-đoàn cùng một Đại-đội VC có thời gian để chỉnh đốn lực lượng, rèn cán dưỡng quân, với chiến thuật và thêm nhiều vũ khí mới vừa chiếm được qua công đồn đã viện. Dĩ nhiên Hoa-Kỳ có lý do riêng của họ trong cuộc chiến nầy, còn TT Diệm thì muốn chiến thắng không phải từ súng đạn mà trong lòng yêu thương của dân tộc!


            Ngay sau khi chiến thắng trận Ấp Bắc, lực lượng chủ lực vừa từ Bắc vào qua xa lộ Harriman (Đường mòn HCM) hiệp cùng du kích địa phương, thừa thắng xông lên đánh chiếm và cướp được từ các cuộc công đồn đã viện thâu được vũ khí vừa đủ để trang bị cho đồng đội. (Lúc nầy Việt Cộng dùng súng Mỹ cướp được, vì Liên Xô vừa renewed Aid to Russia Plan với Mỹ sẽ có AK và B-40 sau).

            Tướng Harkin đã không thèm kiểm soát để ý đến một số lớn vũ khí bị thất thoát khi trao xuống tận Tiểu Khu và Chi Khu qua mưu đồ mật của CIA, VC đã tuyển mộ được 2.500 người tình nguyện vào các tiểu đoàn tân lập địa phương. Hầu hết Bộ đội Việt Cộng đều được trang bị các loại vũ khí như: Súng bán tự động Garant M-1, Carabines, hoặc Tiểu Liên Thompson. Mỗi Đại Đội đều có tiêu chuẩn 1 Đại Liên M-30 và một giây đạn, và hầu như tất cả Trung đội đều có một cặp Trung Liên BAR (Browning Automatic Rifles).

            Nhưng đối với Đảng viên CS thuộc vùng Bắc Châu Thổ Sông Cửu Long thì cho rằng Tướng Cao đã lầm lẫn khi mở cuộc hành quân, thay vì bao vây để tiêu diệt từng cụm nhỏ như theo ý của Trung ương Sàigòn, trong khi ngược lại Vann đã bao lần đòi hỏi phải tấn công sớm hơn nhưng vô ích. Ấp Bắc và Tân Thới là khu giải phóng nổi tiếng trên vùng đồng bằng sông Cửu Long và cũng là cái nôi của Cách Mạng VN, Việt Minh cố tạo ra cách tốt nhất là làm trở ngại chán nản khi quân đội Sàigòn có mưu đồ lấn chiếm vùng giải phóng bằng cách trì hoãn bước tiến của quân đội Sàigòn, qua những chướng ngại vật thiên nhiên như Lau Sậy cao hơn đầu người, dựa vào Chông Mìn, và bắn sẽ, dùng ‘Mo cau’ làm phương tiện trượt bùn để thoát chạy, hoặc dụ địch vào bẫy phục kích. Vì cấp chỉ huy không những chỉ bảo vệ đất-đai mà còn phải chiến đấu để tìm sự sống bằng những thao dượt sẵn có trong chiến thuật và điều binh; Họ cũng cần đụng trận để rút thêm nhiều kinh nghiệm và họ sẳn sàng chấp nhận hy sinh chờ đợi trong chiến đấu.

            Mãnh đất nầy vẫn có nhiều thuận lợi, dù rằng mùa khô sắp đến, có vô số con rạch và kinh đào của cánh đồng Lau sậy vẫn quanh năm giữ được cho đồng ruộng có nước, để giúp cho người dân ở đây sống dễ thở với Tôm Cá bạt ngàn. Cái điều cốt lõi là người dân của 2 Ấp nầy có nhiều thuận lợi qua những ngõ ngách quen thuộc với tinh thần bất khuất để bảo vệ quyền sống còn, và bảo toàn mãnh đất, mà đã qua nhiều đời của Cha-ông họ đã trìu mến nhắn nhủ để lại. Và đây cũng là điều thuận tình, thuận lý của lòng người và lòng trời! Hoa Kỳ vì lý do riêng [móc nối với phía Lê Duẩn, Lê Đức Thọ qua lảnh đạo của Liên Xô] nên không muốn chính quyền Diệm có cơ hội để bình định, giải nghĩa cho họ về lý tưởng Quốc Gia, như những vùng đã giải phóng ở Tuy Hòa dọc lên hướng Bắc đến vùng đất Quãng Ngãi: “lý tưởng hiền hòa, mộc mạc, và quyền tự vệ của người dân Miền Nam” nhưng khắc nghiệt thay nó chỏi lại quyền lợi của Tư bản Mỹ WIB.

            Thế nên Việt Cộng của 2 làng nầy cũng có lợi điểm chung là bà con chòm xóm, cùng chung vai góp sức để bảo vệ xóm làng. Nhưng du kích quân là người của vùng Châu Thổ, gồm cả Sĩ quan và Quân lính, Cán bộ CS trong Tiểu Đoàn 514 của địa phương, trong đó có Đại đội 1 túc trực án ngữ tại Ấp Tân Thới và cũng là Tiểu-đoàn nồng cốt của Tỉnh-ủy Định Tường. Một nữa binh lính của Đại-đội-1 thuộc Tiểu-đoàn 261 chủ lực, đang chờ đợi tại Ấp Bắc, còn một số khác đang án ngữ để đợi lệnh tại vùng phụ cận, và một Trung đội khác cũng đang tăng cường tiếp viện từ ranh giới Bến Tre, đang băng qua sông Mê-Kông.

            Đây là cuộc chiến sống còn, có tính cách quyết định vận mạng đi vào lịch-sử của họ; Những người dân Nông-thôn, thuộc vòng đai của chuổi dài, gồm có vô số Làng, Ấp, dọc theo phía Đông của cánh đồng Lau Sậy, mà họ đã theo Việt Minh từ lúc phát động cuộc kháng chiến chống Pháp tại vùng đồng lầy nầy từ tháng 11 năm 1940. Quân đội Pháp đã bẻ gãy nhiều cuộc nỗi dậy bằng cách cày nát bằng bom đạn, hủy diệt hoàn toàn những Làng Ấp nơi đây, dùng xuồng máy có gắn Đại Liên cày nát và bắt tất cả Thanh niên trong làng bỏ trên các xà lan kéo theo sau. Tất cả tù binh đều bị đưa về Sàigòn trên một chiếc Xà-lan và bị lôi xuống Cảng vào ban đêm, dưới ánh đèn mù mờ. Họ bị thực dân Pháp, cột chùm với nhau, bằng cách là xỏ dây kẻm qua lòng bàn tay của tù binh kết thành một hàng dài lê thê, hết sức là tàn nhẫn. Còn dân quê thì bị hù dọa đủ thứ; Trong cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm, họ đã được tự hào với danh nghĩa là “Việt Minh”, CIA lại không muốn người dân phân biệt định nghĩa rò hai chử Việt Minh và Việt Cộng

            Vào lúc 4 giờ sáng, có vài du kích giao liên, bung ra xa vài cây số, từ 2 Ấp nầy đề dò la tin tức, với mật khẩu chuyên nghiệp qua ám hiệu riêng của du kích. Họ có nghe tiếng máy nổ của quân xa cũng như máy tàu đang dồn dập lớn dần; Vị chỉ huy của Tiểu-đoàn bèn ra lệnh, quân lính cứ giàn trận theo đội hình như đã thực tập ngày hôm qua. Khi được lệnh, mọi người đều thủ vũ khí chạy ùa vào nơi ấn định để triễn khai thế trận; người dân quê đã lo giúp cho họ việc đào những hầm cá nhân, và ngụy trang dưới những hàng cây của ngày trước đó; Ấp Tân Thới được nối liền với Ấp Bắc bằng một con lạch dính liền, với hàng cây chạy dọc theo hai bên bờ, tạo thành một đường di chuyển khá kín đáo, dù rằng giữa ban ngày. Nhưng 2 làng nầy cũng có thể tương quan yểm trợ lẫn nhau khi xung trận; Vị chỉ huy của Tiểu Đoàn điều động phân nữa chủ lực mạnh nhất, có nghĩa là nguyên một Đại-đội-1 của Tiểu-đoàn, tăng cường thêm vài Tiểu-đội Cảm tử và một Trung đội nằm cạnh Tiểu đoàn có được 1 Đại-liên M.30 và súng cối 60 ly, ở trong vòng phạm vi của Ấp Bắc; vì nơi đây vị thế rất khó để phòng thủ. Tin tức cho biết rằng: Quân đội Miền Nam sẽ tấn công Ấp nầy từ hướng Nam hoặc là hướng Tây.

            Căn cứ theo địa hình, phía Nam của Ấp Bắc, có một con suối, nhưng bị ngắt quảng ở đầu hướng Tây, tuy nhiên hàng cây hai bên vẫn chạy dài ra theo đó. Tiều đoàn-trưởng đặt nơi đó một Trung-đội dưới 2 hàng cây được ngụy trang cẩn thận, dọc theo bờ của con suối. Nơi đây tầm quan sát của Trung đội xung kích được trải rộng xuống khắp đồng ruộng ở phía Nam, không có một chướng ngại vật nào nằm trên đường tiến sát cả. Tuyến phòng thủ về phía Tây của Ấp, có một con kinh đào rất lớn, nó chạy thẳng từ Nam đến Bắc. Và có một bờ đê khá lớn chạy dài xuống tận kinh đào, bề ngang nhỏ nhất là 1 thước rưỡi, riêng các chỗ khác có thể trải rộng ra thêm đến 2, 3 thước, và trên bờ đê nầy mọc lên những cây dừa cành lá xum xê um tùm nối thành hàng dài. Nơi đây người chỉ huy đặt lực lượng còn lại nằm rải rác, dọc theo trên các bờ đê, dưới những hầm trú ẩn bán thân (vị thế ngồi để bắn sẻ) được ngụy trang rất cẩn thận, vì bờ đê ở thế đất cao hơn nên rất thuận tiện cho việc quan sát trận chiến trước mặt, lại thêm một lợi điểm khác để phòng thủ là bờ đê có nhiều đoạn hình zic-zac, nên xạ thủ có thể đổi hướng mà vẫn có chướng ngại vật là cạnh bờ đê để che thân, rất dễ ứng xử khi địch đền gần trong tầm đạn. Nơi đây người chỉ huy Tiểu-đoàn đặt 2 Trung-liên BAR để tác xạ chéo góc khi quân đội Sàigòn xung phong; Hắn cũng điều động phân nữa lực lượng của 1 Đại đội thuộc Tiểu đoàn 514 Địa phương, chia ra từng Trung đội cách khoảng nhau để yểm trợ qua lại.

            Ở trên trời nhìn xuống, hay ở xa ngoài ruộng nhìn vào, cả 2 Ấp Bắc và Tân Thới đều không có dấu hiệu gì là một thành lũy kiên cố cả. Hầu hết những cây cối mọc dọc theo các bờ đê là các hàng Dừa, Cau, Chuối. Dọc theo các mái nhà tranh thì cây lá xum xê, um tùm chằng chịt những bụi Tre, những cây ăn quả mọc đều hàng thẳng lối, bên cạnh đó còn có cả ao nước, dưới ao đều có những lá đài Sen trông rất là hiền hòa mộc mạc, không ai nghĩ rằng nơi đây sẽ phải xãy ra cảnh máu đổ thịt rơi giữa những con người với con người cùng một Tổ-quốc! Ôi thiện tai!

            Phải thành thật nhìn nhận người chỉ huy điều động cuộc phòng thủ nầy thật là tài tình, vì đã qua nhiều kinh nghiệm của thời quá khứ chống Nhật, Pháp, hắn đã chỉ vẽ cho người dân cũng như du kích, cách đào hầm trú ẩn mà không đụng đến các cảnh vật chung quanh như các cành lá thiên nhiên ở trên đầu, đằng trước cũng như đằng sau, những đất mới xúc lên đều phải dấu đi, hoặc là phải bỏ xa nơi khác, cho nên nếu không đến gần thì không thể nào dùng con mắt phàm tục mà phát hiện được, ngoài ra nơi trú ẩn nào mà thiếu cây cảnh thiên nhiên, thì họ phải chặt những cành lá phủ lên trên ấy, vì là đất bùn nên họ dễ dàng trồng quanh đó bằng gốc chuối, hoặc cành tre. Thế nên dù Phi-cơ quan sát L.19 hoặc Trực-thăng có bay thấp đến đâu cũng không thể nào phát hiện ra được “Tất cả ngoại cảnh đều thiên nhiên…hiền hòa, mộc mạc”!

            Những hố (hầm) cá nhân đào sâu vừa đủ, để một người có thể đứng ở trong mà không bị trở ngại khi cần tác xạ; riêng hầm súng Đại-liên M.30 hoặc là Trung Liên BAR thì rộng hơn, để cho ít nhất là 2 binh lính (xạ thủ và nạp đạn) và cũng có phần sâu hơn để che chở, và tránh Phi-cơ hoặc Pháo-binh oanh kích. Nếu muốn giết một người nằm trong hầm với vị thế như vậy, thì đòi hỏi phải thả chính xác và phải ngay hầm, còn như bom lửa (napalm) thì ít ra cũng phải gần kề nơi miệng hầm; Còn như Pháo-binh nổ chụp trên đầu thì cũng phải chụp trên mục tiêu với một góc cạnh chạm thẳng, trừ khi người núp sơ ý mà nhỗng người đứng dậy thì mới bị thiệt mạng, còn như giữ yên tại chỗ thì Hỏa-tiễn 2.75 cũng như súng máy trên Trực-thăng võ trang cũng chẳng ăn thua gì mà chỉ gây ra tiếng nổ ồn ào vô ích thôi.

            Con kinh đào nầy là một đường hầm nổi, rất lý tưởng để liên lạc, binh lính có thể tiến lên, rút xuống rất là kín đáo bên 2 mép của bờ đê; và có thể tiêu diệt đối phương trong tầm mắt dễ nhắm. Thêm một con kinh lạch nhỏ nữa, bề ngang khoảng 2 thước và nước lấp xấp qua khỏi bụng, du kích có thể lội qua, rất là lý tưởng để khi cần tiến thối cũng như dùng bè để chuyển tiếp liệu hoặc là thương binh. Khi Phi cơ quan sát đến, họ có thể dùng ống trúc hay ống tre hoặc là ống sậy ngậm vào miệng và nằm sâu dưới nước để lẩn tránh Phi cơ, hoặc nơi cạn thì họ chỉ mặc quần đùi và trét bùn quanh người để ngụy trang. Nếu có đủ thì giờ thì họ lẩn vào rừng Tre, hoặc Dừa cạnh đó; Con kinh đào lớn vẫn là đường huyết mạch để khi cần phải tiếp tế đạn duợc, nhưng chỉ vào lúc màn đêm bao phủ, hoặc sương mù, Cán bộ, Đảng viên rà lên rà xuống để khích động tinh thần chiến đấu của binh lính họ. Hầu hết Phụ nữ và trẻ em vào khoảng 6000 người của 2 Ấp chạy sang cái Vùng Đầm lầy cách xa đó để mà tránh đạn, khi có lệnh hành quân, nhưng đàn ông khỏe mạnh thì ở lại, để thi hành nhiệm vụ đưa tin hoặc là giúp tản thương khi du kích bị nạn.

            Sương mù vào buổi sáng hôm ấy là một yếu tố quan trọng, đã thay đổi hẳn cục diện chiến trường. Khắp nơi, đâu đâu cũng bị sương mù dày đặc; từ trên cao cảnh vật mờ ảo một màu trắng đục bao phủ khắp đồng ruộng, thỉnh thoảng ẩn hiện vài mái tranh như Thượng Đế muốn che lấp tầm nhìn của con Diều-hâu sẵn sàng chụp gắp một bầy chuột con lố nhố dưới đồng ruộng. Vann có tham vọng muốn huy động một lần 30 chiếc H.21 trái Chuối để đổ bộ được 1 Tiểu-đoàn (Harriman muốn trì trệ cuộc đổ quân có mưu đồ), nhưng thất vọng vì bị trở ngại, việc bảo trì Phi-cơ nằm ụ quá nhiều. Thế nên, Vann phải có kế hoạch đổ quân từng một Đại đội 1 lần về phía Bắc của Ấp Tân Thới.

            Ngay ngày hôm ấy, Tướng Harkins cũng ra lệnh ưu tiên mở cuộc hành quân gọi là: “Tên Lửa” (Burning-arrow) 1,250 lính nhảy Dù và một Tiểu đoàn Bộ Binh sẽ được Trực Thăng Vận xuống ‘mật khu’ của Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN) một vùng rừng già bị mưa lũ quanh năm, có tên là chiến khu C, là một thành trì kiên cố của vùng Tây Bắc Sàigòn (chiến khu Dương Minh Châu) sau một cuộc oanh tạc dữ dội cày nát vùng hành quân. Cuộc hành quân có tên nghe hùng quá, nhưng lại bị thất bại: ‘tên lửa’ mà không có đủ lửa để nhìn thấy được ‘bộ chỉ huy đầu não của TƯCMN’, nên đành bye-bye rút về.

            Thượng Đế lúc nào cũng che chở cho kẻ yếu thế, sương mù ngày hôm nay cứ vẫn còn bao phủ dày đặc trên Phi-trường Tân Hiệp nhỏ bé nầy, nhưng nơi đây là bóng Ma của sự chết-chóc. Phi-công Hoa-kỳ cực lực từ chối, vì thiếu An-phi nên có thể xảy ra tai-nạn; Vừa rồi Phi-công phải cố gắng lắm mới thả bừa xuống một Đại đội, sau khi may mắn tìm ra được một khoảng trống giữa ruộng phía dưới, trong sự hồi hộp của Vann từ trên chiếc L.19 nhìn xuống lúc ẩn lúc hiện, cũng may là không trúng vào ổ kiến lửa.

            Thượng Đế hình như muốn đình trệ sự chém giết lẩn nhau, nên lớp sương mù vẫn bao phủ mỗi lúc một dày đặc thêm lên, hậu quả Đại-tá Đạm và Trung-tá Vann phải dời lại cuộc đổ quân đến 2 tiếng rưỡi sau, theo kinh nghiệm, phải chờ đợi cho mặt trời phải lên cao mới mong sương mù tan bớt. Trong khi đó, 1 Đại Đội lẻ loi buộc phải tiến quân theo đội hình của một Tiểu-đoàn với đầy đủ quân số, tiến xuống dọc theo phía Nam đến án ngữ tại Bắc Tân Thới. Với số quân chỉ có một Đại đội, thói đời thường nói tiền hung thì hậu sẽ kiết, nhưng kỳ nầy chắc không ‘kiết’xảy ra? Vì sự chậm trễ nầy, dọc theo hàng cây, trên bờ đê của tuyến phòng thủ của Ấp Tân Thới, một Trung đội VC của địa phương di chuyển theo con suối nhỏ đến để tăng cường nhóm du kích tiền đạo của chu vi phòng thủ, họ giàn thế trận theo đường tiến sát về đồng ruộng hướng Bắc, mà một Đại đội Bộ-binh Sàigòn đang di chuyển xuống hướng Nam. Ngay khi Toán Tiền đạo biết có lực lượng tăng cường đến tiếp viện, người chỉ huy Tiểu đoàn của VC ra lệnh cho Đại đội trưởng đóng tại Ấp Bắc phải mau ra lệnh cho Trung đội dưới quyền, phải núp kín bên cạnh dòng suối và là đơn vị Tiên phuông nổ súng trước. Phía VC nhờ chiếm được máy truyền tin SCR-300 của binh lính Sàigòn, nên đã theo dõi được diễn tiến cuộc hành quân, vả lại phía Sàigòn cũng không mã hóa tất cả các mật mã hành quân nên dễ bị VC điều nghiên các hoạt động của đối phương.

            Bộ chỉ huy của Tiểu đoàn VC nghe được sự di chuyển của quân đội Sàigòn, qua theo dõi từng diễn tiến của tọa độ đã ghi chép, và đánh dấu trên bản đồ, nhờ vậy mà các toán tăng cường, cũng như đưa tin băng ngang trước mặt của quân đội Miền Nam, hoặc chạy thoát một cách êm ái và bí mật. Việt Cộng từ những hầm trú ẩn, dưới những lùm cây nhiều lá bao quanh, cuối cùng họ cũng phát hiện ra một Tiểu đoàn địa phương quân của Miền Nam đang tiến gần về hướng họ, trên một con đê qua lối mòn sình lầy, băng ngang qua những con đê nhỏ của các thửa ruộng. Nhanh như chớp, toán du kích của VC vùng phía cánh phải, đang ẩn núp dưới hàng Dừa sẵn sàng trong đội hình tác chiến, họ được căn dặn rõ rệt “bằng mọi giá phải kềm hãm sự tiến quân của địch, ở cạnh sườn bờ đê nầy, để cho chủ lực quân của Tiểu đoàn VC tấn công, gây bất ngờ cho địch ở trước mặt”. Vị Đại úy của Tiểu đoàn Địa phương quân Miền Nam, đang khả nghi về hàng cây trước mặt, nên báo động cho toàn thể Tiểu đoàn tiến quân trong sự thận trọng có thể bị phục kích trước mặt, khi tiến gần vào tầm đạn của VC, thì Đại-úy Tiểu đoàn trưởng ra lệnh dừng quân trên một bờ đê của một đám ruộng, xong ra lệnh cho một toán nhỏ tiền đạo ra xa ngoài thửa ruộng để quan sát, trong khi thành phần còn lại nằm án ngữ yểm trợ cho toán cách bờ đê khoảng 15 thước. Toán du kích của VC án-ngữ tiền đạo để chờ cho toán thám sát của địa phương quân lọt vào tầm đạn khoảng từ 30 thước là phát hỏa ngay. Đến khi toán thám sát của ĐPQ lội bì bỏm trên vũng nước bùn lầy, để đến một bờ đê an toàn trước mặt , thì lập tức Trung đội Tiền phương của VC, từ dưới các hầm trú ẩn, nơi dãy hàng Dừa bên cạnh, đồng loạt nổ súng. Hai Sĩ quan Đại đội-trưởng và phó chết ngay tại chỗ; Toàn thể tiểu đoàn ĐPQ còn lại đang nằm yểm trợ bên bờ đê đối diện cùng đồng loạt bắn chống trả một cách mãnh liệt, vào 2 cạnh sườn trước mặt và bên trái; Vị Đại úy TĐT của địa phương quân ra lệnh rút lui để tái phối trí lại và kêu Pháo binh đến yểm trợ tác xạ; Lúc nầy là 7 giờ 45 sáng, sương mù vẫn còn bao phủ vùng chiến địa.

            Vào khoảng 2 giờ sau, thì có lệnh của Thượng-cấp báo phải thanh toán mục tiêu, Đại-úy Tiểu đoàn-trưởng ĐPQ phải mưu toan bứng gốc lực lượng của VC ra khỏi Ấp nầy bằng cách xử dụng tối đa Pháo binh do Tiểu đoàn của ông chịu trách nhiệm hướng dẫn tác xạ, nếu cần thì có thể bắn hàng loạt vào một tụ điểm và chịu trách nhiệm hướng dẫn bãi đáp Trực-thăng xa phòng tuyến hay nói cách khác là phải xa tầm súng của VC. Cuộc điều quân của Đại-úy phải xong trước 10 giờ sáng nay, trong khi ông cũng đang bị thương nhẹ ở nơi chân.

            Trong khi Vann chưa biết gì về một cuộc đụng độ vừa mới xảy ra ở phía Nam của Ấp Bắc, dọc theo dãy hàng Dừa, cho đến khi kết thúc, thì đã gây tử thương cho một số Sĩ-quan của Đại đội. Còn Thiếu-tá Lâm Quang Thơ, Tiểu khu trưởng Định Tường, là người chịu trách nhiệm về diện địa của Tiểu khu, trên cơ sở lý thuyết, ông như người thay mặt cho Đại-tá Đạm, vào các cuộc hành quân, nhưng cũng không quan tâm đến sự thông báo cho vị Đại-tá Tư-lệnh biết về sự việc vừa mới xảy ra, Thiếu-tá Thơ là người mà TT Diệm tin tưởng, nên đã giao cho ông trách nhiệm Lữ đoàn Thiết kỵ để phòng khi chống đảo chánh, bởi vì dòng họ Thơ là gia đình giàu có, là điền chủ ở Miền Châu-thổ Delta, và cũng đã có những kết cấu sâu đậm với gia đình họ Ngô, cho nên Thơ rất lạnh nhạt, khi phải gởi đi tăng cường cho cuộc chiến thêm một Tiểu đoàn ĐPQ nữa, trong khi đó Tiểu đoàn đầu tiên chờ tăng cường như người ở Sa-mạc nóng bức trông chờ mưa xuống! Vị Tiểu đoàn trưởng ĐPQ đầu tiên đang nóng lòng chờ Tiểu đoàn ĐPQ thứ 2 đến để cùng nhau phối hợp thanh toán chiến trường, nhưng vô ích. Dĩ nhiên, Thiếu-tá Thơ ít ra cũng có chỗ dựa vững chắc nên không ái ngại gì đến vị Tư-lệnh chiến trường. Thêm vào đó có một Trung úy cố vấn của Hoa-Kỳ cùng đi theo cuộc hành quân, đã chụp máy kêu gọi Thiếu-tá Thơ can thiệp gởi gấp Tiểu đoàn thứ 2 đến để phối hợp cùng xung phong nhưng vô ích.

            Sự lủng củng giữa Việt-Mỹ, đã gây ra thiệt hại cho những ai đã trực tiếp chiến đấu và thua trận trong sự nhục nhã. Sau khi đúc kết lại sự thiệt hại sơ khởi, thì phía ta có 8 người chết và 14 người bị thương, gồm có một Tiểu đoàn trưởng bị thương nhẹ nơi chân. Thiếu-tá Thơ quá cẩn thận ra lệnh chậm chạp theo thủ tục hành chánh, ông không đá động gì đến một Tiểu đoàn thứ 2 ĐPQ mà gọi máy đề nghị với Đại-tá Đạm, gởi 2 Đại đội trừ bị tại sân bay Tân Hiệp vào ứng chiến, và đáp xuống ngay hậu trường phía Nam dọc theo hàng Dừa của tuyến phòng thủ, nhưng rất bất lợi cho tầm súng trên trục tiến sát của VC.

            Queenbee-1
            Last edited by Phòng Trực; 05-03-2013, 04:27 PM.

            Comment

            • vinhtruong
              Super Member
              • Jun 2010
              • 1924

              #21
              Những anh hùng trực thăng vùng Hoả-Tuyến?

              (tvnd.fr.yuku.com › Trên Diễn đàn: "Ta-Vẫn-Nhàn-Du")
              Sự thật cuộc chiến Hạ-Lào, trực thăng của VNAF rơi rụng khắp các Căn Cứ Hoả Lực cố định, vì trận địa pháo mà BV đã điều chỉnh trước rất chính xác vào những toạ-độ nầy. Khi nghe tiếng trực thăng bay vào đáp là khai hoả ngay. Pháo nổ dồn dập từ khắp mọi nơi chụp phủ xuống trên các Đồi Hoả-lực. Chúng ta thử hình dung một màu đất đỏ của căn cứ bị phủ lên trên đó những cột khói chồng chất lên nhau đến nỗi không còn thấy màu đất đỏ mà toàn một lớp khói đục ngầu bao phủ lên trên ấy, ngay đến con kiến, con mối cũng không thể sống sót, vì vùng đất bị đào xới với không biết bao nhiêu hố tạc đạn nhỏ to chồng-chất lên nhau, mà chỉ có trực thăng KQVN là phải lủi vào để tải thương, tiếp tế đạn nhỏ cho quân bạn, còn Sư đoàn 101 Không Kỵ thì thẳng thừng từ chối, vì lẽ họ được lịnh không được đáp xuống những CCHL đã được điều chỉnh tác xạ rất chính xác từ lâu.

              Những "cơn uất" nầy nếu tôi không viết ra cho hậu thế thì khi chết tôi không thể nào nhắm mắt một cách an lành, ngay trong những người anh em phía bên kia mà cũng còn tỏ bày những tâm tình của một con người cùng chủng tộc. Chúng ta hãy cùng nghe tâm sự của người lính bắc việt khi đọc xong bài viết này:

              (Trang A Pao | July 20th, 2011 at 9:37 am)
              Tôi là một người lính cộng sản, 40 năm trước, đứng bên kia chiến tuyến của các anh, tôi còn quá dại khờ để hiểu ra một điều rằng chúng ta chỉ là nạn nhân của sự khác biệt giữa 2 ý thức hệ, Cộng sản và Dân chủ, cớ sao chỉ vì sự khác biệt này lại có thể đẩy cả triệu người con Việt Nam lao vào đâm chém bắn giết lẫn nhau, cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này hỏi ai là người hưởng lợi, chắc không phải là anh, cũng không phải là tôi. Chúng ta đâu có thù hận gì nhau mà để hàng triệu bà mẹ của chúng ta phải bạc trắng mái đầu vì thương nhớ những đứa con thân yêu của mẹ ra đi không bao giờ trở về.

              Chiến tranh đã qua rồi, 38 năm qua tôi luôn đau đầu trong nỗi ân hận dày vò vì ngô nghê nông nổi của tuổi 20. Nỗi dày vò của kẻ được coi là chiến thắng. Có vẻ vang gì đâu khi chiến thắng người thân của mình, có dũng cảm gì đâu khi giết chết những người thân của mình mà lân hồi nay mới ngộ ra. Thực chất là giữa chúng ta không có hận thù mà chỉ là sự khác biệt tại sao không thể cùng tồn tại trong sự khác biệt, thời gian sẽ chứng minh ai đúng ai sai. Có lẽ mấy triệu sinh linh của các anh, của chúng tôi và sự đau khổ tột cùng của những bà mẹ chúng ta chỉ là cái giá của những tham vọng, những toan tính bá quyền. Chính bá quyền đã làm máu của anh, của tôi, của chúng ta đổ xuống và chính bá quyền đã đẩy anh và tôi đến miệng hố hận thù, chính bá quyền đã Làm cho Việt Nam của chúng ta đến ngày nay còn nghèo, mẹ của chúng ta vẫn khổ.

              Tôi mong rằng chúng ta hay cùng nhau gác lại quá khứ và giáo dục thế hệ con cháu chúng ta tính nhân văn, lòng vị tha, nhân hậu, hãy tập cho chúng biết buông bỏ. Thế hệ chúng ta đổ máu nhiều rồi. Mẹ chúng mình đã hết nước mắt khóc con rồi… Chỉ mong chúng ta hãy yêu thương nhau.


              *** - Quý bạn nên click vào Google search: Videos of operation lam son 719 ... sẽ mục kích hầu như toàn cảnh cuộc hành quân một cách sống động. Riêng tác giả vô cùng hối tiếc tướng Nguyễn Duy Hinh được đặt hàng nên không viết một tí gì về VNAF vì trong lăng kính Secret Society, trước sau gì miền nam cũng bị bức tử nói tốt để làm gì? Chỉ tội cho những phi hành đoàn trực thăng Huey của VNAF tuy vẫn có ghi khắc tên trên tấm bản đồng tại Newseum, Washington DC, không thể nói ra điều đó dù cả trăm bài viết trên you tube không được lịnh nhắc đến!

              Tôi chỉ tìm được duy nhứt một tài liệu: Forum military images photos pictures: American aircraft losses to inventory included 10 OH-6As, 8 OH-58s, 53 UH-1Hs, 26 AH-1Gs, 3 CH-47s and 2 CH-53s. The VNAF also lost 7 UH-1Hs. Combat damage accounted for the loss of 90 helicopters while the rest were lost to non-combat related incidents; Damage not resulting in loss figures are difficult to pin down; There were 644 aircraft damage incidents to 451 different aircraft reported, but this does not impact availability figures because few damaged aircraft were down more then 24 hours. A very effective recovery operation brought back almost all aircraft that were salvageable and more then a few that weren’t.

              -Losses to helicopter crews in the 45 days of combat flying over Laos amounted to a total of 210 casualties; of this total 152 were WIA, 26 KIA and 32 MIA.
              VNAF tham dự gồm 3 Phi-đoàn 213, 219, 233. Tất cả phi cơ đều trúng đạn ít nhứt một lần, 3 gunship hư hại nặng không thể sửa chữa, 1 gunship và 6 Slicks trúng đạn phòng không rớt bên Lào và gần chục chiếc bị hạ tại các CCHL vì trúng mảnh tạc đạn pháo diện địa. Thế nên, Mỹ thẳng thừng từ chối không đáp xuống các CCHL cố-định bị BV tiền điều-chỉnh (khi nghe tiếng trực thăng bay đến, BV liền mở màn trận địa pháo ngay, các cột khói trắng đục che lấp màu đất đỏ của ngọn đồi dưới con mắt của phi hành đoàn)

              Danh sách 7 trực thăng và địa điểm bị trúng đạn phòng không đủ loại:

              - (1)-TPC/H-34/PĐ-219, Thiếu-úy Giang rớt tại Đồi-31 vì trúng mãnh đạn pháo;-
              - (2) TPC/H-34/PĐ-219, Thiếu-úy Bửu rớt tại Đồi-31 vì trúng mãnh đạn pháo; -
              - (3) HTC/UH1-H/PĐ-213, Thiếu-úy Hoà nổ tan xác trên không, trúng đạn phòng không ngay bình xăng JP4;
              - (4) HTC/UH1-H/PĐ-233, Thiếu úy Tín nổ tan xác khi chạm đất vì trúng đạn phòng-không gảy cánh quạt chính; -
              - (5) HTC/UH1-H/PĐ-233, Trung-úy Đạt trúng đạn 37ly, cháy phun lửa và khói ra sau đuôi, vì trúng hợp số dầu transmission trên không, autorotation, nổ tan xác ngay sau khi phi hành đoàn chạy thoát ra khỏi phi cơ, 2 cây số đông bắc CCHL Hồng-Hà-2; -
              - (6) HTC/UH1-H/PĐ-213, Thiếu úy Phúc bị trúng mảnh tạc đạn vào đầu gối phải, đáp tại LZ, CCHL, Hồng-Hà-2/Tr/đ-3/BB; -
              - (7) Sư thầy IP/gunship-trail/PĐ-213, Song Chùy-1, bị 2 Thiết vận xa PT-76 từ trên đồi cổ-chai núi Coroc bắn quạt chéo liên-hoàn xuống trúng bộ phận đuôi rớt xuống sau đó; Chiếc gunlead, Trung úy Trần Lê Tiến đáp xuống cứu thoát.

              *** - Các gunship đã bao lần released 2 bó rockets để nhào xuống cứu đồng đội do đó đem lại sự thiệt hại quá khiêm nhường về nhân mạng như đã chứng minh trên thực tế mà Việt/Mỹ cũng phải nhìn nhận qua kiểm chứng?
              Nói tóm lại, tất cả mọi phi cơ đều trúng đạn ít nhứt một lần, có 3 gunship đầy vết đạn dù bay lạng quạng như ngựa sút cương về hậu cứ, nhưng hư hại nặng không thể sửa chữa được: (3 chiếc gunship của Châu, Tiến và Song Chùy-1)

              *** - Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật quân sử cũng được phơi bày qua internet, youtube, sách vở ghi chép; Vả lại khi viết về cuộc chiến tranh mà mình là nhân chứng trực tiếp, không khỏi phải nói nhiều, và rất nhiều chuyện độc diễn về mình, nói đi nói lại nói dai đến đổi người ta phải ganh ghét … cái mà tôi không hề thích nên âm thầm im lặng đến nay. Vì như Pascal nói: “Cái tôi là đáng ghét” (Le moi est haissable) nhưng sau cùng, tôi lại tự cảm nhận bị buộc có bổn phận với những người đã hy sinh và những người còn sống, cùng gia đình họ, tôi phải mở miệng to ra nói lại cho rõ để không phụ lòng những chiến sĩ anh hùng đã cùng tôi chấp nhận chiến đấu trong máu lửa cho đến ngày cuối cùng thứ 45, e ngại gì ... sợ gì ... giữa thời đại vi tính và hình ảnh chứng liệu showed up sờ sờ ra đó? … Nhưng bằng tiếng Anh (The New Legion) thì hay hơn, vì ít đụng chạm và dễ mất lòng, như cuốn sách "Bên Thắng Cuộc" đã bị tấn kích gay gắt của cả 2 bên

              Và chỉ có chúng tôi thực thi bằng máu và nước mắt để thể hiện tình nghĩa đồng đội cao quí “Không bỏ anh em không bỏ bạn bè” dù trong hoàn cảnh thừa chết thiếu sống; Chúng tôi đã thể hiện bằng hành động thay lời nói bóng bẩy! Dĩ nhiên tôi đã phải ôm ấp cuốn nhựt ký hành quân đơn vị như một bảo vật gia-phả của gia đình truyền lại; Chỉ cần một nhân chứng nhắc đến giai đoạn nào, dù binh chủng nào, thì như cuốn phim cuộn khói chiến trận từ cặp mắt nhân chứng của tôi đang ngòì trên chiếc chòi canh di động, quay kể lại câu chuyện như mới xảy ra ngày hôm qua, dù đã gần nửa thế kỉ qua.
              Thật … đây là cảnh khổ nạn cho dân tộc mình, chúng ta hãy nghĩ đơn giản hàng ngàn chiếc trực thăng đem qua VN tập trận như là trợ huấn cụ (training aid) cho mục tiêu thao dượt quân sự “Everything worked but nothing worked enough” lịnh từ ngôi mộ “secrets of the Tomb” (nên vào google search để thêm nhiều chi tiết) để phát triển kinh tế. Đây là hàng tiêu dùng phải xài cho hết, đổi lấy biết bao sinh mạng dân bay Việt/Mỹ, cũng chỉ vì hai chữ America First. “Mỹ không bao giờ có người bạn lâu đời cũng như kẻ thù truyền kiếp… mà chỉ có quyền lợi, quyền lợi xác định thế liên minh”. Nên nhớ!!! Nhóm WIB (War Industries Board trong secrets of the Tomb) ra lịnh không bao giờ đem thứ quỷ nầy trở về lại Mỹ? Thế mà ít ai chịu nghĩ đến: Trong thời đại tân kỳ của tin học ngày nay, việc phối kiểm data rất dễ: Google search. Thế nhưng không ai chịu khó làm công việc ấy để rồi suy diễn miên man, tranh luận, chụp đủ thứ loại mũ, phê phán bậy bạ mất đi tình chiến hữu, thật mất thì giờ và tốn biết bao giấy mực, tạo hoang mang cho mọi người, phụ lòng của biết bao tác giả cố moi óc với ao ước chúng ta biết được sự thật của lịch sử mà tội nghiệp cho dân tộc mình phải chịu 30 năm khổ nạn, để rồi chính mình được yên tâm ngủ yên dưới lòng đất lạnh không còn trăn trở nhức nhối khi đã tự xác định mình là nước nhược tiểu, con cờ của cường quốc.

              Vì thế lực trong ‘ngôi mộ 322’ tạo ra cảnh thù hằn tinh vi đã đong đá trong khối óc người Việt khờ khạo cho một giai đoạn, nên Skull and Bones-322 conspiracy, vì đến decent interval phải cho toát ra một đòn phép chính trị phỉnh gạt tinh-vi hơn cái cớ chất độc màu da cam hồi thế kỷ 20, là bửu bối bị cho là sơ ý rò-rĩ Wikileaks để cùng rò rỉ trên Internet những hồ sơ đến thời điểm decent interval phải giải mật với dạng vô tình tiết lộ (declassified) để không gây hoang man nguy hiểm cho dư luận, miễn xoá bỏ các tên tuổi Bonesmen trong hội đồng kỹ nghệ chiến tranh (War Industries Board) nhưng nếu xem trong 2 tác phẩm “The New Legion” thì có đủ mặt mũi, không bị bôi đen như chúng ta thấy nơi hồ sơ mật.

              Nửa thế kỷ qua mà sự thật về cái chết của Diệm/Nhu vẫn còn mù mờ, như tài liệu mới nhé-cạnh trên internet cũng mù mờ dù rằng đuợc gọi là declassified. Tất cả người ta cứ lải nhải rất chi tiết về cái NGỌN mà không biết gì về cái GỐC, tả cảnh rất kỹ về nhánh, cành, cọng, lá non còn đó lá vàng bay xa … nơi đây, tôi trích một đoạn cái GỐC về tài liệu declassified, Đòn phép từ Wikileak qua Internet: “ … Mãi đến năm 2005, trong tác phẩm “The Secret History of CIA” do tác giả Joseph J. Trento, có ghi lại cuộc phỏng vấn với viên chức cao-cấp CIA, William R. Corson, ông nầy tiết lộ chính đích thân William Averell Harriman ra lệnh giết hai anh em Diệm-Nhu. Hai ký giả Anh-Quốc Michael Charlton và Anthony Moncrieff cho rằng TT Kennedy chịu trách nhiệm về vụ giết TT Diệm vì không hề ra chỉ thị rõ ràng để bảo toàn sinh mạng của TT Diệm, thì cũng như các Tướng lãnh đổ tội cho nhau như Đôn đổ lỗi cho Minh, Minh đổ lỗi cho Khiêm…tất cả đều đổ lỗi cho viên đạn tàn phá thân xác mà không biết ai đã bóp cò? Giờ đây thì chúng ta đã biết rõ ai bóp cò súng? Và bỏ tiền thuê mướn báo chí ngoài nước (Paris, thủ đô ánh sáng văn hoá) đổ cả tội lỗi cho TT Kennedy và Johnson”

              Dưới đây là 3 bước sưu tra, nghiên cứu và phối kiểm trên diễn đàn HQPD để tìm ra sự thật:

              - Bước (1), dành vài tuần hay tháng nghiên cứu Google search: Skull and Bones 322 conspiracy, The OSS and Ho Chi Minh, Kennedy Assassination, Harriman highway by Vinh Truong.

              - Bước (2), được thư giãn hơn đọc bài tiếng Việt “Siêu Chiến Lược Eurasian 1920-2020” sẽ phối kiểm những chứng liệu vừa mới được giải mật phát ra từ Ngôi Mộ năm 2012, cũng trùng hợp với những gì tôi đã viết từ lâu, Henry Kissinger chỉ là cái tổng đài phát tin từ ngôi mộ sau bức tường Skull and Bones-322 conspiracy mà thôi (bấy lâu nay người Việt lên án Kissinger là hoàn toàn sai như các tài liệu archives bạn vừa khám phá trong internet, các bạn không ưa trung úy phản chiến John Kerry, nhưng lần nầy, BTNG kerry sẽ thật sự ra mặt giúp VN như chuyện Lưu Bình Dương Lễ.

              - Bước (3) Đọc bài “Dưới rặng Trường Sơn Tây” để khám phá nguồn gốc phải có cuộc chiến VN do Ngôi Mộ bí-hiểm nầy khuấy động. Tại sao thế hệ thứ-2 Skull and Bones phải trang điểm cho trung úy hải quân Yale, Bonesman John F Kerry thành một hoạt náo viên “phản-chiến” với 3 chiến thương bội tinh Lèo (băng bằng First aid) để hùng hổ ra Quốc hội Mỹ trả lại huy chương, và thường xuyên xuất hiện trên TV hằng ngày ai ai cũng thấy bộ mặt Hippy sách động biểu tình phản chiến … để thình lình bí mật phóng qua Hà Nội chỉ vẽ những đòn phép đấu đá với phái đoàn VNCH và Hoa Kỳ cho mục tiêu hoàn thành “axiom-1” … (những dữ kiện viết ra trong hai tác phẩm “The New Legion” về trung úy phản chiến John F Kerry 1970 bây giờ (2013) đã lộ diện trong các Video “Skull and Bones 322 conspiracy” và thêm một nhân vật tuyên bố: “Người dân miền Nam không chịu đấu tranh cho tư do nên ngày hôm nay họ không có? Thế hệ thứ-3 phải tuyên bố những gì thế hệ thứ-2 bàn giao lại như vinh danh cô đào Jane Fonda, phục hồi danh dự 4 sao cho cựu Tư lịnh Đệ 7 Không Lực, tướng Lavelle …)

              Hy vọng các bạn sẽ bình tỉnh tìm ra nguồn gốc cuộc khổ nạn của vận nước nổi trôi mà thương dân tộc mình nhiều hơn và thôi bớt ồn ào đi, “không có Cộng Sản mà là Mafia đội lốt CS” mà thôi, có người cho là “tư bản đỏ” bồ tèo làm ăn với Mỹ? Thì cũng đúng luôn! Nếu đứng vào vị trí của quí vị chả lẽ mình nhìn nhận mình là lũ ăn cướp sao, phải oang oang cái miệng mình là Cộng Sản cho oai thế thôi? Nếu con người có mắt tinh đời không phải là Sến để nhận xét về sự nghi lễ đón tiếp thì biết ngay: Đón TT Diệm ngay Bạch Ốc, Quốc hội; đón TT Thiệu tệ hơn nhưng ở toà Bach Ốc miền tây; cỏn Phan Văn Khải ở cửa sau, nếu muốn đón cửa trước cũng dễ thôi, chỉ cần làm hàng rào cách cửa chính vài trăm thước là xong ngay. Nhưng làm vậy thì chạm danh dự của Mỹ quốc vì không thể đón đảng cướp Mafia rình rang như vậy coi sao được?

              Vì thật ra thể chế nầy là do “secrets of the Tomb” nhào nặn ra dành cho công cụ gián-tiếp chịu quá nhiều thiệt thòi trong cuộc chiến, nó là một “Thực-thể Chính-trị” có tính giai đoạn, tạm thời cướp công của Cộng Sản và luôn cả Miền Nam VNCH, là khúc quanh chuyển tiếp diển biến hoà bình cho thực-chất một nước VN có dân chủ phú cường cũng vì mục tiêu ích kỷ (sau khi đã kiếm được quá nhiều lợi nhuận và đặc biệt giữ vị thế siêu cường cao chót vót) là đến thời điểm decent interval xoá bỏ “Hội Chứng VN” (Vietnam’ trauma) và phục hồi danh dự cho lính Mỹ đã hy sinh cho một trật tự thế giới mới (The New World Order) Sư thầy từ ngôi mộ “Secrets of the Tomb” bào chế ra thuốc độc dĩ nhiên cũng phải có thuốc giải chứ?

              Rồi đây, chúng ta sẽ không còn nghe câu “đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” nó như một tảng nước đá to lắm nhưng sẽ tan dần rồi mất dạng ngay trước sân nhà! Nhưng ác nghiệt thay nơi ngôi mộ secrets of the Tomb nầy không chịu nói toạc móng heo ra vì sợ người Việt nguyền rủa chúng, thà để người Việt khù-khờ nguyền rủa với nhau vui hơn, để chúng cười khúc–khích, vì chỉ có ‘thiên-lý-nhĩ’ mới nghe được nụ cười chọc quê xuyên bức tường Skull and Bones-322 conspiracy? (Như quí bạn vừa xem Video mà nhà sử học Steven Alvis dẫn giải về Old Crocodile) Cũng như vụ sóng gió Biển Đông cũng do secrets of the Tomb “dựng lên” các biến cố xung đột tài nguyên dưới thềm lục địa như là nhu cầu dịch vụ chính trị phải có về sinh hoạt hàng ngày (political business affairs) trong lăng kính của Secret Society, rồi đi đến kết luận trước 2020, kết thúc Eurasian-1 với đáp số là:

              “COC/LHQ= Các nước có chủ quyền cứ làm chủ, nhưng Trung Quốc quản lý, và Hoa Kỳ độc quyền lãnh đạo”. Chia động từ theo kiểu phương Tây: Tôi ăn một mình là không được rồi, anh ăn một mình là tôi tức lộn gan lên đầu, thôi chúng ta cùng ăn cho vui vẻ cả làng!!!

              … Cho một thế giới trật tự an-toàn trong quỹ đạo của Mỹ, mà sư-tổ thủ lãnh Nhóm 15 Bonesmen, W A Harriman được nhắc nhở vào ngày sinh nhựt thứ 90 của ông (1981). Người em út cuối cùng của giòng họ Kennedy, Edward đã nói “Nếu ngài Harriman không nhúng tay vào thế kỷ 20 thì trong thế kỷ tới chúng ta khó mà có một thế giới an toàn như ngày nay” “The New World”.

              QUEENBEE-ONE


              - PS: Diễn đàn "TA VẪN NHÀN DU" , nếu có ai muốn nghiên cứu trọn vẹn cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy thì qua diễn đàn HQPD, click vào 100 bài Top số người đọc nhiều, sẽ thấy bằng tiếng Việt bài “Lam Sơn 719 và LĐ/51/TC” (29 bài) - bằng tiếng Anh “Operation Lam Son 719” (35 bài).
              In short, I came to the conclusion that war is sometimes necessary and war is at some level on expression of human feelings. American has helped underwrite global security for more than six decades with the blood of its citizens and the strength of its arms. I hope the service and sacrifice of its men and women in uniform has promoted peace and prosperity from Vietnam to Iraq and enabled democracy to take hold in places like the Balkans – and its actions matter, and can bend history in the direction of justice for the 21st Century as we hope.
              - Askives? Possible Answer:
              Losses were heavy in Lam Son 719 both for the Army of Vietnam and the US Army supporting helicopter crews. The ARVN lost almost 50% of their force. U.S. aviation units lost 168 helicopters; another 618 were damaged. ... 101st DIV [RETURN to TEXT] - read more (Secret Society rất hài lòng vì Sản Xuất phải được tiêu dùng")
              Possible Answer:
              During Lam Son 719, ... The 101st Airborne Division alone, for example, had 84 of its aircraft destroyed and another 430 damaged. Combined U.S./ARVN helicopter losses totaled 168 destroyed and 618 damaged. - read more

              KQ: TRƯƠNG VĂN VINH, LĐT/LĐ/51/TC
              Last edited by Phòng Trực; 05-03-2013, 03:45 PM.

              Comment

              • vinhtruong
                Super Member
                • Jun 2010
                • 1924

                #22
                Bài tuyển Vinhtruong trên các Diển Đàn Lính

                Biệt Kích Nha Kỹ Thuật at3:05 PM
                Mối tình tay ba phản trắc Mỹ Việt Trung

                Thời điểm 1979, Trung Quốc đem quân đánh Việt Nam ở miền Bắc với ý định của họ là đỡ đòn cho Pol Pot của Campuchia, nhưng thực tề do tình báo Mỹ là để cho TQ có cơ hội thí nghiệm sự hiệu quả vũ khí do TQ làm ra để đấu với vũ khí Liên Xô, theo sự gật đầu trên trục lộ trình sách lược của Mỹ Eurasia, nhưng trong phạm vi sáu tỉnh biên giới mà thôi, trong khi đó B-52 trang bị Bom nguyên tử bay ứng trực để ngăn ngừa TQ làm ẩu. Trong khi hỏa tiễn SAM tối tân bậc nhứt của LX đang bố trí phòng thủ Hà Nội dĩ nhiên là TQ không dám làm phiền Hoa Kỳ để hưởng được viện trợ khoa học kỹ thuật, trở thành siêu cường hạng nhì, tước đoạt từ tay LX như Permanent Government đã hứa Lèo với Mao 1972, và lập-lờ tặng Hoàng Sa như là món quà giao tiếp, nên khi quân BV vào hết trong nam, bỏ trống miền Bắc, nhưng TQ không được lấy danh nghĩa đem quân TQ vào để giữ sân nhà giùm cho Hà Nội theo như sự cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ.

                Đánh sáu tỉnh miền bắc được gọi là dạy cho VN một bài học, cũng một cách nữa là họ trả thù cho Pol Pot. Nhưng Mỹ chỉ cho phép làm VN chảy máu tay chớ không mất mạng. Đồng thời lúc bấy giờ ông Đặng Tiểu Bình cũng muốn quan hệ với Mỹ cho nên đánh VN để cho Mỹ thấy rằng là giữa Trung Quốc và Việt Nam không phải là đồng minh, không phải là cùng nhau Cộng sản nữa. (Nhưng sự thật TQ và VN không phải là Cộng Sản mà chế độ Mafia toàn trị theo sự thú nhận trong sách “The bushes” 2004….)

                Đặng Tiểu Bình qua Mỹ xin chỉ thị để phát triển quan hệ với Trung Quốc theo ý của Mỹ, vì Trung Quốc lúc bấy giờ muốn phát triển quan hệ với Mỹ. Đánh Việt Nam là một món quà tặng cho Mỹ bề ngoài là theo Mỹ đánh đàn em của LX, đánh đàn em của kẻ thù là bạn của Mỹ (Nhưng sự thật W A Harriman đang áp dụng Tam Quốc Chí “tân-thời” trên thế giới) Nhưng sự thật nằm trong sách lược Mỹ/Xô nhân cơ hội gài Mìn các hải cảng Bắc Việt 1972, phi cơ hạng nặng AN-12 của LX chở các hoả tiễn SAM đời mới nhứt thời đó để phòng thủ Hà Nội cho ngày mà Mỹ gọi là TQ có cơ hội thí nghiệm hiệu quả vũ khí do TQ làm ra trên 6 Tĩnh giáp ranh TQ (dĩ nhiên là vũ khí thua xa LX nhưng trái lại CIA cũng muốn hiểu qua khoa học kỹ thuật của TQ đã đi đến đâu?)

                Gần đây có thông tin nói rằng 1979, hồi đó chiến dịch của Trung Quốc không chỉ là để dạy cho Việt Nam một bài học ở mấy tỉnh biên giới mà thật ra là họ đã có kế hoạch vào cả nước Việt Nam, nhưng rất sợ lời cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ và TQ cũng ước mong trở thành cường quốc hạng-2 với sự giúp đỡ khoa học của Mỹ. Dĩ nhiên Thầy dạy võ cho học trò thì phải giữ những đòn bí ẩn để phòng khi học trò phản trắc chớ? Thế là nhân cơ hội nầy nhân viên tình báo CIA thâm nhập một cách tinh vi vào TQ. Ta thử nghiệm các đại sứ Mỹ tại VN cũng như Ông Tổng Lãnh Sự người Mỹ gốc Việt, có phải những vị nầy trước khi qua VN lãnh chức vụ quan trọng phải làm việc một thời gian cần và đủ về am-tường nội tình TQ trước khi được bổ nhiệm chức vụ quan trọng tại VN?
                Nhưng mà đánh biên giới Việt Nam thì lúc bấy giờ đường sá biên giới giữa TQ và VN khó khăn lắm, chưa có mở được đường sá ở các tỉnh biên giới, toàn là đường hẹp, đường núi; Cho nên Trung Quốc hành quân rất khó. Mà Trung Quốc tiếp tế cũng khó, tải thương cũng khó, vì thiếu kinh nghiệm làm sao bằng VN, cho nên khả năng Trung Quốc cũng chỉ đánh VN ở mấy tỉnh biên giới chứ không đánh sâu xuống được nữa đâu.

                Ngày nay, không ai xác định là bao nhiêu nhưng mà vì đánh nhau trong hoàn cảnh rừng núi của bắc VN như thế, đường sá hẹp hòi như thế cho nên Trung Quốc thương vong cũng nhiều, vì Mỹ khi hấp tấp tháo chạy lỡ dại bỏ lại vài ngòi nổ (war-head) của Bom CBU-55? Mà xui cho TQ Hà Nội lượm được! Cho nên TQ phải rút thôi vì bị thiệt hại quá nặng, kể từ lúc đó, TQ chuẩn bị sau 15 ngày họ phải rút theo đúng lời cảnh báo của Mỹ.

                Với tinh thần Việt Nam cùng Trung Quốc bình thường hóa quan hệ như hiện nay thì liệu khả năng xảy ra chiến sự trong tương lai, theo như chúng ta ước đoán, có nhiều biến cố xảy ra? Trong thế kĩ 21, W A Harriman sẽ không thể để xảy ra vì mọi việc sẽ phải được giãi quyết trên bàn mổ LHQ, như chuyện Biển Đông, TQ phải triệt để nghiêm chỉnh nghe lời cảnh báo của Mỹ COC để tuân thủ luật quốc tế.

                Nhưng lỡ đã có chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay Việt Nam có thua trước rồi cũng tìm cách thắng lại sau; Về phía VN chúng ta chẳng nghĩ đánh Trung Quốc, nhưng về phía Trung Quốc làm sao mà biết được trong tư tưởng, trong ý đồ của họ là muốn bành trướng xuống phía nam mà VN là cửa ngỏ. Nhưng có một điều rằng, trong tình hình hiện nay thì Trung Quốc cũng không dễ dàng gây một cuộc chiến tranh lớn đâu, bởi vì Trung Quốc họ còn phải thể hiện mặt đẹp với thế giới nữa; Cho nên là cũng khó. Hai nữa là họ cũng phải dè chừng dư luận thế giới, chứ trong thời đại thế kỷ 21 hiện nay đâu phải dễ dàng phát động chiến tranh! Mà phát động một cuộc chiến tranh thì dù Trung Quốc lớn, VN nhỏ, nhưng đã là chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay, VN vẫn giữ được mảnh đất cha ông để lại theo lịch sử chứng minh.

                Cách nhìn cuộc chiến 1979 từ hai phía. Tuy nhiên, văn bản này còn cho biết thêm về vai trò quan trọng của ông Đặng Tiểu Bình trong quyết định đánh Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế có cả quan hệ với Washington và Moscow; Vừa qua BBC Tiếng Việt khai thác thêm các góc độ trong tài liệu và so sánh với một số đánh giá đã nêu từ trước về cuộc chiến 1979, sự kiện vẫn chưa được thảo luận công khai ở cả Việt Nam và Trung Quốc, nhưng lại nằm chình ình trong lịch trình Eurasia là TQ được Mỹ cho phép có cơ hội thí nghiệm vũ khí do mình làm ra để tự lượng giá tầm cỡ.

                'Hoa Kỳ không tha-thiết tán thành' - Đặng Tiểu Bình được trích lời nói rằng ông đã tuyên bố dạy cho Việt Nam 'một bài học' trước đó, khi thăm Hoa Kỳ, mở đầu chiến lược liên kết với chính quyền TT Carter, nhằm chống lại Moscow và các đồng minh, trong đó có Hà Nội để nịnh Hoa Kỳ vì TQ là kẻ thù của kẻ thù là bạn với Mỹ. Ông Đặng giả-vờ nói với các tướng lĩnh Quân Giải phóng rằng Hoa Kỳ không tán thành việc Bắc Kinh trừng phạt Hà Nội nhưng cũng giúp một ít tin tình báo, sự thật Hoa Kỳ đã thẳng thắng nghiêm cấm Bắc Kinh tấn công vào Hà Nội, vì quân lực Hoa Kỳ đã trực báo động nếu TQ làm ẩu thì hoa lục sẽ bị bình địa ngay tức khắc vì đã đi chệch lộ đồ chiến lược Eurasia của Mỹ .

                Cuộc đưa quân sang Campuchia của Việt Nam nó nằm trong kế hoạch renewed Aid to Russia 1941-1946 Plan (1973 Paris Peace Talk) với 700 triệu tấn vũ khí hiện đại của Liên Xô cho Hà-Nội với ba mục tiêu
                (1) cưỡng chiếm miền nam,
                (2) tấn công Cambodia,
                (3) phòng thủ Hà Nội
                bằng hệ thống phòng không tối tân nhứt hồi thời đó. Ngay sau khi tướng LX qua Hànội đầu tháng March 1972 gọi là Inventory, ngày 23/12/1972, (Hanoi bombardment) tám chiếc AN-12 chở vào Hà Nội 80 tấn hệ thống điện-tử phòng không SAM tối tân nhứt thời đó.

                Ngày 8/1/1975 Lê Đức Thọ được sự bảo đảm của Kissinger là chiếm miền nam, có mặt người cùng vị trí với ông về phía Liên Xô, Nicolai Firyunbin, và Tướng LX, JCS V, A Jukilov ngang hàng với tướng Al Haig phía Mỹ để bảo đảm sự giao hàng sớm nhứt tại hải cảng Hải Phòng. Khi đó cũng là chủ đề đáng được nhắc lại vì phía TQ cho rằng cuộc chiến 1979 chủ yếu để 'dạy cho VN một bài học' vì 'xâm lăng Campuchia', trước khi đó là đồng minh, và hiện nay cũng đang gần lại với Trung Quốc trong chiến lược Đông Nam Á của Bắc Kinh theo ý đồ mong ước của TQ, nhưng sự thật VN buộc phải đu dây qua lại LX rồi TQ qua sự xúi bẩy của Mỹ bằng công cụ tam trùng Nguyễn Chí Vịnh sao theo đúng diển tiến sách lược Eurasia.

                Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy đăng tại một số trang mạng cá nhân ở Việt Nam như Nguyễn Xuân Điền. blog nhân kỷ niệm 32 năm Chiến tranh Biên giới: - Đặng Tiểu Bình tiết lộ: "Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới, (có ý cảnh báo TQ phải kềm chế không được làm lớn chuyện vì biên giới Trung Xô) hù rằng chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số". Có vẻ như chi tiết này khiến TQ tiến hành cuộc chiến họ gọi là 'Đối Việt tự vệ phản kích chiến' nhanh chóng và sau khi tàn phá sáu tỉnh biên giới của VN thì rút quân về ngay: "Ba phần tư binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài."

                Trong bài nói chuyện đó, ông Đặng Tiểu Bình cũng gọi Việt Nam là 'Cuba Phương Đông', hàm ý nước này là 'tay sai Liên Xô', cho vừa lòng Mỹ và gọi các lãnh đạo Hà Nội là 'điên cuồng'. Với giới trí thức bên ngoài, kể cả ở Phương Tây, cuộc chiến ngắn ngày nhưng dữ dội là một cột mốc quan trọng để đánh giá Trung Quốc trong quá trình tìm con đường mới, thoát khỏi thời kỳ tự cô lập của Mao Trạch Đông, và xác định vị trí trên trường quốc tế, chỉ đánh với một nước nhỏ như VN mà TQ đã bị thiệt hại đáng kể (sự thật tình báo Mỹ đã nghiên cứu trận mạt rừng núi hiễm trổ khó chuyễn quân rầm rộ nên sơ ý bỏ quên vài đầu nổ (warhead CBU-55) cho VN tự vệ, và vì quyền lợi America first bằng mọi giá Mỹ sẽ che chở VN không bị ngả vào bàn tay TQ hay LX).


                Trong một nghiên cứu hồi 2010, tác giả Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cho rằng ông Đặng có vai trò cá nhân nổi bật trong quyết định đánh Việt Nam nhưng tuyệt đối nghe lời Mỹ là đúng nghĩa dạy cho VN một bài học không đi xa hơn, hay nói cách ngầm ý của Mỹ là lấy cơ hội nầy mà trắc nghiệm vũ khí chính do TQ làm ra. Theo ông, nhìn từ quan điểm của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có ba yếu tố khiến bối cảnh xảy ra cuộc chiến trở nên khả thi; Đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp định 1978; vai trò thống trị của Việt Nam ở Đông Dương và quan hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

                Còn về nội bộ, theo TS Trương, chính việc thăng chức của ông Đặng Tiểu Bình, từ vị trí phó thủ tướng khi Mao chết năm 1976, lên chức vụ cao nhất, nắm Quân uỷ Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết định cho việc đánh VN do CIA ngầm yễm trợ ngôi vị cho Đặng. Việc làm nầy CIA lập lại hồi 1959, trục ma quỷ CIA/KGB triệu hồi Lê Duẩn từ miền nam về làm Quyền TBT và Lê Dức Thọ vào nam lãnh đạo MTGPMN khởi nguyên triều đại Mafia toàn trị (không phải Cộng Sản) Lê Đức Thọ trị vì cho đến khi Thọ chết …


                Trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy, ông Đặng tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác thường, dĩ nhiên hai ca-sĩ [Thọ/Đặng] có thương yêu nhau bao giờ? Nhưng Mỹ không cho phép Đặng làm quá đáng, trong phát biểu ngày 16/3/1979, ông được trích lời nói: "Đồng thời khi kinh doanh chuyện chống đối Trung Quốc, Việt Nam đã đánh nhau nhiều năm, ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng, có công sự đã xây bẩy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế." Tạo ra tình trạng nầy, Mỹ như một ngư ông ngồi rung đùi hưởng lợi.

                Một số nhà quan sát đã từng cho rằng ông Đặng phụ trách chuyện viện trợ của TQ cho Hà Nội thời chiến tranh Mỹ-Việt nên cảm thấy bị 'phản bội' bởi thái độ quay sang Liên Xô của nước Việt Nam cộng sản sau chiến tranh. Vì thế, quyết định trừng phạt của ông được nói rõ: "Nó cũng nghĩ là cậy hiệp ước này kéo Liên Xô xuống nuớc, cũng cậy có hiệp ước này cho rằng chúng ta không dám áp dụng trừng phạt qui mô tương đối lớn. Ngay trước khi chúng ta ra quân mấy ngày nó còn dự đoán rằng chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn. Chúng ta cương quyết là đã tỉnh táo ước đoán phản ứng của phía bắc lớn đến đâu".

                Các nguồn tin của phía Việt Nam, chẳng hạn như lời kể của cựu đại tá Bùi Tín, cho rằng mâu thuẫn giữa ông Lê Duẩn và Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình lên cao trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979, điều dễ hiếu là Lê Đức Thọ nghe lời Mỹ từ chấm đến phết để bảo vệ ngôi vị thủ lãnh đảng Mafia toàn trị của ông cho đến cuối đời vì sự bảo vệ ngôi vị nầy do PG Mỹ.

                Một số giới tại Việt Nam tin rằng ban lãnh đạo Bắc Kinh không thực sự muốn hai miền Nam Bắc VN thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hà Nội. Bằng chứng suốt Hoà đàm Paris, TQ luôn luôn hậu thuẫn Bà Nguyễn Thị Bình; Ngoài ra, trong dư luận Việt Nam có niềm tin rằng Trung Quốc chỉ lợi dụng tình thế để kiếm lợi về địa chính trị và cả lãnh thổ, với bằng chứng là vụ đưa quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 từ tay Việt Nam Cộng Hòa nhưng mà lại bị xập bẩy của Mỹ trong chiến dịch di tản chiến thuật, lùi một bước tiến lên ba bước mà Mỹ cho rằng: “Overhauling the damage control and roll-back 2010-2020”.

                Hệ quả lâu dài: - Về vai trò của Mỹ, các bình luận cho tới nay phần nhiều đồng ý rằng chiến lược lôi kéo Trung Quốc để bao vây Liên Xô của cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski là yếu tố cơ bản để Washington liên kết với Bắc Kinh trong vấn đề Đông Dương sau nầy vào diễn tiến hoà bình trong phần mềm. Điều này cũng được chính giáo sư Brzezinski, người gần đây lại một lần nữa kêu gọi chính quyền Obama xây đắp trở lại quan hệ với Trung Quốc, xác nhận trong nhiều bài viết và sách của ông để bảo vệ cho một trật tự thế giới mới. Đổi lại, Trung Quốc được mở lối vào lại với Phương Tây để hiện đại hóa nền kinh tế nhờ các thí điểm về đầu tư tư bản và công nghệ; Về phía Hoa Kỳ, chiến lược Brzezinski tạo liên minh không tên với Trung Quốc khiến Washington phá vỡ khối xã hội chủ nghĩa châu Á mà không phải tham chiến theo như Eurasian Great Game là mọi xung đột đều phải nghiêm chỉnh giải quyết tại bàn mổ LHQ.

                Tóm lại, chiến tranh Biên giới 1979 và cuộc chiến Việt Nam - Campuchia đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế này, xung đột quân sự nổ ra giữa các nước cùng ý thức hệ là do tài ba ưu-việt của siêu chiến lược gia W A Harriman (1891-1986)


                Kế hoạch Bốn Hiện Đại hóa của Trung Quốc cuối thập niên 1970, đầu 1980 có cả phần về quân sự. Và dù thiệt hại nặng trong cuộc chiến biên giới, Quân Giải phóng Trung Quốc đã rút kinh nghiệm trong việc tổ chức và tiến đến hiện đại hóa; Việc tăng cường quân bị theo mô hình dùng Không quân, Hải quân và hoả tiển nhiều hơn bộ binh, lực lượng chịu nhiều thiệt hại năm 1979, khiến Trung Quốc ngày nay ước ao trở thành một cường quốc khu vực với tham vọng toàn cầu nhưng khó mà qua mặt Mỹ hay LX. Còn với Việt Nam, ngoài thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xung đột vẫn kéo dài, gây chảy máu nền kinh tế; Cuộc chiến và việc đóng quân lại Campuchia cũng khiến Hà Nội bị cô lập nhiều năm về chính trị và kinh tế đối với nước ngoài. Tới khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc 10 năm sau, cùng thời gian cách mạng dân chủ rung chuyển Đông Âu, ban lãnh đạo Việt Nam đã quay trở lại làm thân với Bắc Kinh qua khuyến khích ngầm của Mỹ, cuộc gặp Thành Đô, tạo ra một loạt hệ luỵ mới cho quan hệ song phương tới ngày nay, nhưng đối với Mỹ là thời gian dài cần thiết cho sách lược Mỹ ở Á-Châu trước 2010 (roll-back) rồi sẽ ám hại TQ lại làm cho TQ phải bị nội thương kể cả ngũ tạng lục phủ. Vì Biển Đông mỗi buổi sáng chúng ta không bao giờ thấy hai mặt trời cùng mọc một lượt?

                Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển dần dần được giải quyết nhưng hòa bình qua đường biên giới, giao thương tăng nhanh với phần lợi nghiêng về Trung Quốc, vẫn chưa thực sự đem lại hòa giải giữa hai nước Việt Trung

                Việc các trang mạng cá nhân và blog ở Việt Nam nhắc lại nhiều về cuộc chiến 1979 cho thấy giới trí thức e ngại Trung Quốc vẫn muốn lên tiếng, trong khi truyền thông chính thức không đả động gì đến chủ đề lịch sử này, tại vì sao? Việt Nam sẽ hoàn toàn vào qủy-đạo của Mỹ qua cái gọi là thảo luận tập trận Việt Mỹ mà bề ngoài Nguyễn Chí Vịnh ởm ờ đu dây TQ/Mỹ, nhưng bây giờ là thời điểm chính muồi (decent interval 2010), CIA ra mặt cho tướng Vịnh công khai tuyên bố chính thức theo Mỹ!

                Khi TT Johnson (bị áp lực của siêu chinh phủ, W A Harriman) quyết định ném bom miền Bắc VN là đã mắc một sai lầm không thể bào chữa! Nó đã khuyến khích những người trung lập ở miền Nam và thế giới hướng tình cảm của mình về phía Hà-Nội, và, cũng chính nó đã kích động lòng yêu nước và căm thù kẻ xâm lược càng thêm sâu sắc; Hình như hiện nay CP Mỹ vẫn chưa thật sự rút ra bài học từ VN trong các cuộc chiến bên ngoài nước Mỹ? Không có mục đích nào (dù là tốt đẹp) có thể bào chữa cho những hành động như thế! Tất cả những câu ghi trên đều tóm gọn trong ống kính của siêu chính phủ Mỹ cho giải đáp “axiom-1” của kinh tế gia người Anh Malthus, “tàn phá khủng khiếp rồi xây dựng lại” theo lời nói mà CIA đả có lần móm cho cụ Hồ, “đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây lại 10 lần đẹp hơn” Quả thật ngày nay ai đả gián tiếp xây dựng VN 30 lần lần hơn cụ Hồ đả nói? (người bán rau và người đi lượm rác vẫn có Cell phone như ai, có thể hơn Mỹ?)

                Thông thường ai cũng cho rằng, vì Hoa Kỳ có chiến lược sai lầm (đây là cố tình sai lầm theo đúng trục lộ trình sách lược Eurasia, rất tinh-vi kín đáo cũa Permanent Government) cho nên mới có 2 triệu người Việt được là công dân Hoa Kỳ. Hàng năm gửi về 7, 8 tỷ dollar để nuôi sống chế độ trong nước, tai sao Cuba lại cấm triệt để … làm sao bạn hiểu nổi? Nếu Hoa Kỳ không sai lầm thì cộng sản VN chết từ lâu rồi, nhưng phải nói cho đúng Mafia VN chớ không phải CS, là công cụ cũa Mỹ mới đúng, (từ trước tới giờ những bài tôi viết đều dùng đúng nghĩa Mafia VN) Nhiệm vụ ngắn gọn ăn cướp vơ vét cho nhiều rồi đương hhiên gởi vào các trương mục; Còn phía Mỹ đợi đến thời điễm (decent interval) ngày N tháng T thì có cuộc lật đổ, lúc nầy Mỹ lấy tiền đôla Xanh nơi các trương mục và trả lại cho dân sứ sở tại bằng hàng tiêu dùng sắp expired, thế P.G là ai? Là Saigon, là Hànội, là MTGPMN (vì nơi nào cũng có CIA sau lưng) đi xa hơn nửa là LX,TQ, Ấn Ðộ, Nhựt ... phần Nóng, còn phần mềm hậu chiến là Mafia VN, người Việt Hải ngoại, là các hội đoàn, là Asia, Paris by Night ... là Lý Tống là Việt Tân ... (vì không am tường sự việc nên chụp mũ loạn xạ, kết án tùm lum làm cho Permanent Government cười mũi cho một sự ngu ngốc trong nhận thức, nhưng P.G mới đúng là đỉnh cao trí tuệ với mưu chước thần sầu quỷ khóc vì họ có thế chiến lược Eurasia 100 năm trồng người ... Gorbachoy, Putin, Ðặng Tiểu Bình, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Vịnh ... Harriman đả (1968 tại Paris) khuyên Lê Ðức Thọ nên nuôi dưỡng đứa con nghĩa-tử 11 tuổi Nguyễn Chí Vịnh, vì cha nó vừa bị B-52 trải thảm chết tại một bệnh xá lớn tam biên) các băng nhạc Paris by night, Asian …trong đó có thành phần ẩn và hiện. Nhưng tất cả đều do một trung-ương Mỹ đạo diễn theo xu-hướng chú trọng vào thời-điểm decent interval.


                Thời gian khá lâu không thấy có cờ Vàng, bây giờ đến thời điểm Cờ Vàng rợp trời nhiều tiểu bang công nhận, vì đã đến decent interval. Công cụ gián tiếp của Mỹ là Hànội qua HCM, Võ Nguyên Giáp, Lê Ðức Thọ; MTGPMN, có Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hữu Thọ. Hậu chiến, phần mềm thì có Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh. Tất cả đào kép nầy đều là diể64n viên của màn kịch do Permanent Government dàn dựng qua CIA tuyển chọn nhân lực và bảo vệ.

                “Có khổ chỉ là khổ dân đen VN mà thôi” Ðúng vậy P.G mới lấy Ðôla Xanh của nhóm Mafia ăn cắp trả lại cho dân VN bằng hàng tiêu dùng sắp phế thải; Vì theo sách lược Harriman thế kỷ 20 bạo hành, thế kỷ 21 thương lượng trên bàn mổ LHQ, cho nên bắt đầu thế kỷ 21 sẽ thấy nhan-nhãn nổi lên biểu tình đòi Dân quyền Dân chủ để Mỹ lấy lại của cải của những lãnh tụ ăn cướp của dân rồi sẽ trả lại cho dân, lấy green dollar bằng bửu-bối dân quyền dân chủ có vẻ cao thượng hơn mà P.G tạm gọi là: “Thế Thiên Hành Ðạo”.

                Một cuộc nghiên cứu do một nhóm giáo sư thực hiện ở Hoa Kỳ mới đăng tải trên tạp chí điện tử ECN kết luận rằng việc lực lượng Hoa Kỳ và quân đồng minh rải bom xuống thường dân Việt Nam là một chiến lược sai lầm và vô hiệu quả, càng đẩy những người trung lập đi theo phía quân cộng sản. Cuộc nghiên cứu phối hợp các dữ liệu của chính phủ và của quân đội Hoa Kỳ nói về cuộc chiến Việt Nam đặc biệt ở thời điểm năm 1969, cao điểm 540.300 quân, nhưng phải lần lượt rút về theo định kiến-3 (axiom-3).

                Chi tiết và kết quả của cuộc nghiên cứu này cũng được đăng trên tạp chí American Journal of Political Science. Tất cả lời nói trên đây đều đúng 1000 phấn 100,nhưng đây mới thật là mục tiêu chiến lược của một siêu thế lực gọi là Permanent Government, muốn tàn phá để xây dựng theo định luật kinh tế gia người Anh là Malthus, sau khi tàn phá để xây dựng lại thì có tham nhũng, ăn cắp công quỷ, ngân khoản viện trợ gởi vào trương mục ngân hàng, rồi đảo chánh lật đổ thì chính phủ Mỹ sẽ lấy lại từ các lãnh tụ tham nhũng và trả lại cho dân địa phương bằng hàng tiêu dùng cũa Mỹ, sự kiện nầy đang nhan nhản lần lượt xảy ra khắp thế giới như chúng ta đả mục kích.

                Theo kế hoạch tình báo Mỹ, cụ thể tại VN, sau nhiều ngày nghiên cứu các cuộc đấu tranh thành công ở Tunisia và Ai Cập chính là sự quyết tâm của nhân dân và tận dụng tối đa 2 phương tiện hữu hiệu nhất là cell phone và internet (email, blogs, facebook...) . Đồng thời CIA chỉ vẻ qua truyền thông báo chí và các cuộc trao đổi với các quí vị ở hải ngoại đã ủng hộ và cung cấp lượng thông tin rất có giá trị; Họ cũng đã dùng 2 phương tiện là cell phone và internet để trao đổi từ khắp tỉnh thành Việt Nam để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh sắp tới... Cuộc đấu tranh này mệnh danh là cuộc cách mạng Hoa Sen."Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" cũng ám chỉ người đảng viên CS trong sạch, yêu nước. Sống và lớn trong chế độ cộng sản nhưng không bị cộng sản đầu độc, mà họ muốn sống Tự Do
                Đó là khát vọng Tự Do của toàn dân Việt Nam. Đảng và nhà cầm quyền CSVN đã báo động và đang ráo riết tìm cách điều tra để tiêu diệt mầm mống đấu tranh Tự Do Dân Chủ. Đảng CSVN hoang man lo sợ “hương thơm hoa lài” nên đã bắt đầu hành động là bao vây nhà và bắt giam các chiến sĩ đấu tranh dân chủ, trấn áp tinh thần và gây nhiều khó khăn để cho các Chiến sĩ Dân chủ không còn tinh thần và khả năng ủng hộ tham gia hay tổ chức xuống đường biểu tình. Nhưng người dân tin rằng các Chiến sĩ Dân chủ sẽ giữ vững tinh thần và không lùi dù chỉ là lùi một bước trước cường quyền gian ác CSVN; Một người bị bắt thì có hàng trăm, hàng ngàn người tiếp tục đứng lên… vì khát vọng Tự Do; Ngay cả khi họ bị bắt thì hàng vạn vạn thanh niên khác cũng sẽ tiếp tục đứng lên…Đảng CSVN đã thiếu một món nợ là một câu trả lời với Tuổi Trẻ Việt Nam khi họ xuống đường biểu tình chống Trung Cộng (Tàu phù) xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì đảng CSVN ra lệnh công an ngăn cản và đàn áp. Cho dù hiện nay những khẩu hiệu TS, HS là của VN cũng bị công an CSVN bắt bớ giam cầm chỉ vì lòng yêu thương đất nước Việt đã bị bọn Trung Cộng (Tàu Phù) xâm chiếm. Tại sao tuổi trẻ Việt Nam biểu tình chống Trung Cộng (tàu phù) xâm lược mà chính công an người Việt Nam lại đàn áp? Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam hay của bọn Đại Hán? Bây giờ bọn Trung Cộng (Tàu phù) lại khoanh vùng lưỡi bò chiếm luôn biển của nưóc ta. Ai bảo vệ đất nưóc khi giặc xâm chiếm tổ quốc Việt Nam? Tại sao bọn Đại Hán vào Tây Nguyên khai thác bauxite? TẠI SAO? Sẻ có một yêu cầu từ người biểu tình: “Chúng tôi cần nhiều, thật nhiều xe thùng để chở chúng tôi tất cả cùng đi tù và chúng tôi đang đợi tại đây!”


                Dĩ nhiên, người trong nước hoan nghênh và vô cùng xúc động khi biết đưọc đồng bào hải ngoại biểu tình biểu dương tinh thần cách mạng của nhân dân Tunisia và Ai Cập. Niềm phấn khởi cho Tuổi Trẻ Việt Nam là thấy Liên Hiệp Quốc đã lên án và trừng phạt nhà độc tài Gadhafi của Lybia đã dùng bạo lực đàn áp nhân dân đấu tranh đòi Tự Do Dân Chủ. Ngay cả Tổng Thống Obama của Hoa Kỳ cũng kêu gọi nhà độc tài Gadhafi phải ra đi. Điều này cho thấy cả thế giới đã quay lưng với các nhà nưóc cộng sản và độc tài đã chống lại nhân loại vì đàn áp dã man nhân dân đòi Tự Do; Ở Trung Hoa, người dân Trung Hoa cũng đã bước sang tuần thứ 2 trong công cuộc đấu tranh đòi Tự Do Dân Chủ. Họ bắt đầu bằng một Lời Kêu Gọi bí mật đưa lên internet và đưọc nhân dân yêu chuộng Tự Do Dân Chủ tiếp tay phổ biến rộng lan truyền khắp nưóc Trung Hoa. Hương thơm hoa lài đã toả sang Châu Á, chính vì sự lo ngại nhân dân ta đứng lên biểu tình cho nên Đảng và nhà nước CSVN đã cho lực lượng công an, Cảnh Sát Cơ Động (CSCĐ) thao dượt chống biểu tình. Sinh viên học sinh cũng đã theo dõi các cuộc thao diễn này và rút ra những biện pháp đối phó khi bị công an đàn áp. Theo một bài báo do người nước ngoài viết được dịch sang tiếng Việt, tác giả đã phỏng vấn và được những người dân Ai Cập cho biết họ đã tự nghiên cứu, học hỏi và trang bị như thế nào để tự bảo vệ khi bị đàn áp như đội nón bảo hiểm, chuẩn bị giấy bìa cứng để chống lại đạn cao su, chanh, dấm và khăn hay vải để chống lại hơi cay… Nay sinh viên học sinh chia sẻ với đồng bào khi xuống đưòng biểu tình: Kêu gọi mọi người khi xuống đường luôn luôn đội nón an toàn (còn gọi là mũ bảo hiểm) là loại nón đội khi lái xe mô tô. Lý do: công an bắn đạn cao su hay dùng dùi cui đập vào đầu thì có nón bảo hiểm, dùng vòi rồng xịt nước thì kéo kiếng xuống không bị ngộp nước… Nên nhớ đội nón bảo hiểm là hợp pháp là đúng với luật pháp Việt Nam, Công an đã diễn tập chống biểu tình thì toàn dân Việt Nam cũng phải có những diễn tập tương tự để đánh giá sự phản ứng của đảng và chính quyền CSVN mà công an là một công cụ bảo vệ đảng.

                Chúng tôi đề nghị đồng bào mỗi sáng vẫn giữ những sinh hoạt sinh kế hàng ngày, nhưng khi đến giờ cao điểm như buổi sáng mọi người ra đưòng đi làm việc chiều đến giờ mọi người về nhà thì trong những giờ cao điểm đó tất cả mọi người cùng dùng phương tiên giao thông của mình như đi xe mô tô… và đầu đội nón bảo hiểm cùng chạy cho các ngỏ đường đều bị kẹt xe nhất là những con đưòng chính. Sau những lần diễn tập và biết những phản ứng của công an thì đến một khi ngày giờ bí mật đưọc ấn sau khi đã chuẩn bị xong thì cùng xuống đưòng ở tất cả các tỉnh thành làm kẹt tất cả các trục lộ giao thông chính tại địa phương …. -Sinh viên học sinh thì lúc nào cũng có tập sách, lận vào người để chống lại đạn cao su, gạch đá mà bọn công an có thể chọi, bắn vào người. Nếu đồng bào không phải là sinh viên học sinh thì nên chuẩn bị những bìa thùng carton, cắt nhỏ bằng thân thể của mình rồi gấp lại, để quấn xung quanh bụng khi cần thiết:
                -Chuẩn bị chanh, dấm và vải hay khăn tay khi bị hơi cay thì vắt chanh hay đổ dấm vào khăn hay vải rồi bịt mũi và miệng lại, đồng thời kéo cái kiếng của nón an toàn (mũ bảo hiểm) xuống để che chắn cho bớt hơi cay
                -Dùng máy quay phim, máy chụp hình, cell phone để chụp hình, quay phim những tên công an đánh đập, đàn áp ngưòi biểu tình để đưa lên internet phổ biến khắp thế giới.
                -Khẩu hiệu nên viết trên các bìa cứng để dể cầm tay và dùng để che chắn khi bị công an bắn đạn cao su hay chọi đá, vật cứng…
                -Chuẩn bị bao nylon, dẻ rách nếu có bao tay thì tốt và vài thùng sơn (không có sơn) có nắp đậy hay các keo thủy tinh có nắp, dây thung, dây kẽm và vài thùng nước hay chai nước… khi bị công an liệng lựu đạn cay thì dùng dẻ rách lượm bỏ vào thùng đổ nước vào rồi đậy nắp lại. Có khi dùng bao tay lượm lựu đạn cay hay khói cay liệng ngược lại bọn công an…
                -Nếu có loa phóng thanh thì dùng thay phiên để có thể có tiết kiệm pin.
                -Cần sắp xếp sự thông tin liên lạc vì khi xuống đưòng đấu tranh bất bạo động nhưng công an sẽ dùng mọi phương tiện đàn áp thì chúng sẽ đem các xe phá sóng và nghe lén đến gần khu biểu tình do đó sẽ rất khó khăn trong việc xử dụng điện thoại di động để gọi thông tin cho nhau. Bằng chứng là khy sinh viên học sinh biểu tình chúng Trung Cộng (Tàu phù) xâm lược, công an đã đem xe phá sóng và nghe lén đến gân khu biểu tình. Cần có những người tuờng thuật và thu băng sau đó cấp tốc chuyển tải lên internet toàn cầu để đồng bào ở hải ngoại tiếp tay phổ biến và vận động quốc tế.
                -Yêu cầu đồng bào ở hải ngoại đoàn kết chuẩn bị tinh thần vận động Liên Hiệp Quốc và các cường quốc Tự Do sẳn sàng can thiệp về ngoại giao khi CSVN bắt đầu đàn áp nhân dân ta giống như Lybia. Chúng tôi tin rằng Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Tự Do nhất là Hoa Kỳ sẽ trừng phạt và can thiệp về ngoại giao quốc tế như trưòng hợp Lybia hiện nay. Cuối cùng chúng tôi tin rằng nhân dân ở Lybia sẽ đấu tranh thành công và chế độ độc tài Gadhafi phải ra đi thì nhân dân Việt Nam chúng ta đấu tranh cũng sẽ thắng lợi (đồng bào yên tâm đã đến thời điểm CIA cần lật đổ để lấy lại tiền ăn cướp mà trả lại cho dân Việt Nam toàn quốc).
                -Điều nhân dân mong đợi là Quân Đội và Công An đừng nghe theo lệnh của đảng CSVN đàn áp đồng bào khao khát Tự Do mà thực sự vì quốc gia dân tộc hãy đứng về phiá nhân dân để thay đổi vận mạng của đất nưóc Việt Nam.
                -Cuộc đấu tranh nào cũng phải có một ban tham mưu hoạch định sách lưọc đấu tranh và tiến đến các giải pháp chính trị để duy trì an ninh trật tự xã hội lẫn kinh tế quốc gia trong giai đoạn chuyển tiếp. Do đó cần phải có hội đồng quốc dân lâm thời điều hành đất nưóc và tổ chức tổng tuyển cử.
                -Cuộc đấu tranh Tự Do Dân Chủ không thể để đất nước hổn loạn cả về chính trị lẫn kinh tế. Yêu cầu toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cần đoàn kết và hình thành ban tham mưu chiến lược để đưa cuộc tranh đấu đến thành công.


                Toàn dân Việt Nam tổng nổi dây làm cuộc cách mạng Hoa Sen để cứu đất nưóc thoát khỏi ách cai trị tàn ác của đảng CSVN và nanh vuốt của Trung Cộng.
                Chúng tôi ủng hộ và hưởng ứng Lời Kêu Gọi tổng nổi dậy đăng tại trang mạng:

                Nay sinh viên học sinh kính mong đồng bào trong và ngoài nước có đầy đủ phương tiện thông tin như điện thoại và internet: blogs, Facebook, email, web, … tiếp tay phổ biến thật nhanh nội dung email này vì CSVN đã bắt đầu hành động truy tìm email và phương tiện truyền thông như celll phone, internet… khi dò ra là sẽ tiến hành bắt bớ, đàn áp tiêu diệt chúng tôi. Sinh Viên Hanoi-Hue-Saigon và các Tỉnh Thành
                Toàn dân Việt Nam nhìn rõ ÐCS hợp tác toàn diện với TQ thì mất một phần đất ở thác Bản Giốc ở Ải Nam Quan… còn Hoàng Sa và Trường Sa thì khó lòng thu hồi lại được, trong khi đất nước ngày càng tụt hậu. Tất cả chỉ vì ý tưởng “chống Mỹ” Nhưng đến nay Secret Society đã cho một ấn tượng trong lòng mọi người dân Việt để rốt cuộc phải theo Mỹ mà tồn tại, lấy lại biển đảo, như chúng ta đả thấy nếu không có CIA nhúng tay vào thì sức mấy ÐCS dám chọi lại với thiên triều về vụ quốc tế hoá Biển Ðông? bắn đạn thật không cho TQ đem giàn khoan tối tân vào thềm lục địa VN ... Thời điểm đã đến!


                KQ: Truong Van Vinh
                Last edited by Phòng Trực; 05-06-2013, 10:11 PM.

                Comment

                • vinhtruong
                  Super Member
                  • Jun 2010
                  • 1924

                  #23
                  Tình yêu và đồng đội

                  Posted by Lực Lượng Đặc Biệt và Nha Kỹ Thuật Việt Nam Cộng Hòa at 9:37 AM


                  Nếu giải đoán không ảnh hình trên đây (trang 276, Vol-1 “The New Legion) là hình chụp từ trên cao do phi cơ trinh sát U-2 hay Woodo RF-101E chụp thì cho rằng: Một đại đội quân Bắc Việt với đầy đủ trang bị súng đạn, đang băng qua con Sông cạn Xepon. Nhưng với hình chụp trên trực thăng H.34, đang bay Cạ càng bánh xe trên ngọn cây thì rõ ràng đây là toán Dân-công khuân vác những tạc đạn đại bác phòng không, từ tuyến đường cuối cùng của đoàn xe Molotova cho đến các đỉnh cao đặt súng. Họ đang ngụy trang bằng những nhánh lá cây, kể cả cây gậy để mò mẫm qua sông cũng ngụy trang để nguyên cành lá; Cảnh một chiếc trực thăng H.34 bất chợt lướt qua, phi công do phản xạ tăng tốc lực cho mau qua khỏi vùng nguy hiểm, còn người buộc dây nịt an-toàn đang tòn-ten nơi cánh cửa trực thăng như Th/sĩ Donald Duncan và Chuẩn úy Huỳnh Thuận Nhã LLÐB (sau qua Không Quân lên Trung Tá và chết khi lệnh bỏ Pleiku) thì tha hồ mà bóp chụp hình lia-lịa không dứt. Còn người Cơ-phi ở không Chuẩn úy Nguyễn Văn Mai thì làm gì trong cảnh tao-ngộ nầy! Một cái quơ-ngoắt tay chào đón “vô thức” qua hành động lịch sự phản xạ tự nhiên của người chiến sĩ Không quân hào hoa dù nơi chiến trận. Nếu Họ có súng sẵn trên tay, Họ có kịp bắn lên không? Tôi xin trả lời chắc chắn với độc giả: “Là không kịp rồí!”

                  Thời tiết vùng núi sáng nào cũng như ngày nào, khí lạnh toát ra từ đá núi, cây rừng còn đọng lại hơi sương, thỉnh thoảng vài cơn gió biển thổi vào đem hơi ấm cần thiết cho dân miền Sơn cước. Vài cụm mây ngàn bỏ núi bay xa, nơi đây lá rừng lung-lay xào xạc, trên bầu trời xanh thẳm điểm vài sợi mây vảy cá Cirrus nằm bất động, báo hiệu một ngày dài với trời nắng đẹp. Thượng đế như chìu lòng cảm thông cho sự lo âu của phi hành đoàn Biệt-kích Delta sẽ dấn sâu vào vùng lửa đạn với những phi vụ âm thầm không danh xưng trong bóng tối.

                  Trên bãi cỏ, hai chiếc trực thăng CH-34 lù lù nằm im lìm trên đó, ướt đẩm hơi sương như hai con kình-ngư vừa trườn lên bờ phơi nắng. Cơ-phi Mai đang hì hục, hấp tấp dang tay đẩy liên tục cần bơm xăng từ các thùng phuy chuyền qua trực thăng. Mồ hôi Mai nhuể nhoải ướt đẫm chiếc áo Bà ba đen, nhưng không phải là bác nông dân cày bừa mà là người hùng cày sâu nơi vùng lửa đạn. Mai dang tay lau bớt mồ hôi tuôn trên trán và dụi nhẹ vào đôi mắt đang cay. Tôi đang bước nhanh đến Mai:

                  “Anh Mai! Anh nghỉ tay một chút cho khỏe, để Tôi bơm cho… khi nào khỏe hẳn anh giúp Tôi kiểm soát mức độ dầu, xăng, nhớt thủy điều và các cơ phận xoay chuyển, okay!

                  “Mình chỉ bơm chiếc của mình mà thôi, để Huệ và Khôi bay ra Quảng Trị đổ xăng cho đỡ khỏi phải dùng xăng ở đây; Một công hai việc vừa để dành xăng ở đây mà cũng vừa an toàn hơn phải lấy trong thùng phuy lâu ngày đọng nước trong đó”

                  “Chút nữa anh bơm nhớ chừa cặn lóng ở dưới đáy thùng, và kiểm soát lại coi xăng đã hết hạn chưa… vi xăng để lâu trong thùng phuy sẽ bay mất nhiệt lượng octane, sẽ nguy hiểm khi mình dùng sức máy tối đa… Chút nữa đây lên trực thăng, anh nhớ nhắc Thượng-sĩ Donald-Duncan xiết dây nịt an toàn cho chắc, vì trước khi mình vào chụp hình ở Bộ chỉ huy Tiền phương Ðoàn 559, Tôi phải thử trước một động tác “8-chậm,” phi công Mỹ gọi là “Lazy-8,” có nghĩa là bay quẹo chữ I thay vì chữ U, nói cách khác đó là phương thức bay ngược 180 độ nhưng ở đây dùng khoảng cách Ðứng chớ không thể dùng khoảng cách Ngang. Làm như vậy không đụng vào vách núi dựng đứng nơi đó và tránh bay qua vùng mà hai Tiểu đoàn phòng không Bắc Việt luôn luôn sẵn sàng nhả đạn… Anh nhớ Tôi sẽ đâm đầu xuống tăng tốc lực tối đa, xong sẽ cất mũi trực thăng chỗng ngược thẳng đứng lên trời, đợi khi nào tốc lực xuống đến 25 hải-lý sẽ đạp phối-hợp nhẹ nhàng chân phải cho trực thăng từ từ hạ mũi xuống, rồi uyển chuyển phối hợp động tác tay lái đem phi cơ lên thăng bằng; như vậy là mình đang trở lại 180 độ trên trục mà mình đã bay qua… biết đâu Lính BV thấy cảnh ngoạn mục nầy nên người anh em thù địch sẽ vỗ tay mà quên bắn mình... Anh tin như vậy không!?

                  Mai hiểu được ý nghĩa bông đùa của Tôi khi phải giáp mặt với sự hiểm nguy, hắn nhanh nhẹn trả lời cho tôi yên tâm: “Anh lo việc lớn đi, còn việc nhỏ để tôi lo… tôi đã kiểm rất kỹ rồi anh yên chí, ống hút của cần bơm xăng không đụng đáy thùng mà cách gần tới hai tấc an toàn lận”.

                  “Anh Mai! Những chuyến bay có anh bên cạnh tôi rất yên tâm, vì chuyến bay nầy rất muôn phần nguy hiểm Tôi cảm thấy phải cho anh biết để chuẩn bị ứng xử”

                  Trong Không quân ngành trực thăng, chúng tôi xem nhau như anh em ruột thịt, người nào cũng là quan trọng cần thiết như nhau không thể thiếu được; Sự thật chúng tôi là những chiến sĩ anh hùng không tên tuổi. Các phi vụ thường được giữ tuyệt đối bí mật, âm thầm chiến đấu trong bóng tối hay trong giông bão để tạo sự bất ngờ, vào những đêm trời không trăng sao, thời tiết càng xấu càng tốt, địa hình càng khắc nghiệt càng tăng thêm yếu tố bất ngờ, rồi càng tăng thêm sự kín đáo khi thả Toán nơi chốn rừng già hoang-dã. Những phi vụ cảm-tử như vậy mà ngay người chiến hữu Không quân cùng binh chủng cũng không ai biết được, ngoài Sở Liên lạc, Nha Kỹ thuật và Bộ Tư lệnh lực lượng Ðặc Biệt. Nghe đến danh từ Queen-Bee, Delta-Alpha-1, 2, các phi công sừng sỏ xuất sắc nhứt của Không lực Hoa Kỳ và U.S Army Aviation cũng phải chào thua bái phục. Ðâu cần phải thâm niên quân vụ, đâu cần phải mang trên ngực cánh “hoa tiêu lãnh đạo” có vòng nguyệt quế và tinh cầu dẫn độ; Những phi công mới ra trường đã đi vào huyền thoại lịch sử chiến tranh Việt Nam ngang hàng với các bậc đàn anh của họ. Trong hỏa tuyến xung vào vùng trời lửa đạn, làm gì có sự phân biệt cấp bực giữa chiến sĩ với nhau, chỉ có lòng can đảm, sự hy sinh cho chiến hữu mới là những trang “chiến-sử” để đời của người Lính trận. Ðó mới chính là gia tài trang trọng và cao quý nhứt mà người chiến sĩ quân lực VNCH ít khi phải đem rao hàng giữa chợ đời.

                  Thông thường những chuyến bay nguy hiểm Tôi thường bay một mình, không có cơ-phi. Tôi rất tiết kiệm, tránh né tối đa sự thương vong vô ích có thể xảy ra cho đồng đội. Nhưng đặc biệt hôm nay tôi phải chấp nhận loại đạn AK hơn loại súng phòng không hoặc hoả tiễn cầm-tay SA-7. Vì Tôi biết phải giỡn mặt với hai Tiểu đoàn phòng không của CSBV bảo vệ Bộ chỉ huy Tiền phương Ðoàn 559; vùng mật khu vô cùng huyền bí, phía SOG Mỹ cho là vùng kiên cố “Oscar-8.” Tôi sẽ bay theo kiểu Cá lia-thia lách mình tránh né dưới rặng đá bén nhọn của san-hô, chôm-chổm dựng đứng. Bỗng dưng tôi nhớ lại những lời Ni ân-cần dặn dò. “Khi đi bay Anh nhớ đừng bao giờ quên đeo chiếc Tượng ảnh Thánh-giá nầy… Chúa Mẹ sẽ bao che cho Anh suốt chuyến bay được an-lành, nhớ hỉ... nhớ hỉ! Nàng muốn tôi luôn luôn bám giữ niềm tin như vậy, nhưng Tôi lại cứ bình thường; “Thôi thì cứ nghe theo nàng, không có lợi thì thôi chớ cũng chẳng có gì gọi là hại cả!”

                  Tôi sẽ bay cùng với Hảo, anh bay rất vững nhưng ít chịu liều mạng, không giống như Khôi và Huệ, hai hiện tượng nầy thôi khỏi nói, “Ðúng anh hùng tử chí hùng nào tử” do đó Tôi cắt đặt hai anh túc trực cấp cứu khi Tôi chẳng may bị nạn. “Ðúng ngựa hay thường sanh chứng!” Riêng Huệ, anh đã làm cho Tôi và Thiếu tá Thơm thuộc LLÐB phải bị Thiếu-tướng Cao Văn Viên, Tư lệnh Quân khu-3 kêu lên chửi cho một trận nên thân. Tôi còn nhớ rõ ngày ấy vào một buổi chiều tối, khi tôi đi kiếm vài món gì nhét vào bao tử cho xong. Trên đường trở về Khách sạn mà CIA mướn trọn hết cho Phi đội chúng tôi để bảo mật, thì được ông chủ khách sản chạy ra phân bua: Có ông Thiếu-úy của Ðại-úy, tướng đi nghiêng nghiêng, gương mặt đỏ ngầu, tôi biết ngay là Huệ, xách súng và rủ các ông khác bao vây Ðồn quân cảnh ở ngả tư đàng kia. Tôi hối hả hỏi ông “Ông biết tại sao, lý do gì vậy” Tại vì các ông ăn mặc và súng ống của Việt Cộng, nên Cảnh sát đã phối hợp với Quân cảnh ụp vào khách sạn xét hỏi, khi ông Thiếu úy đi về thấy vậy, ông nổi điên chửi thề “Ð.M quân cảnh Mỹ mà thấy tụi nầy chở trên xe Jeep Delta cả chục người kể cả đàn bà con nít mà tụi nó không dám đụng đến mà quân cảnh Việt Nam là cái thá gì mà dám phiền nhiểu tụi nầy?” Nói xong ông Thiếu úy tập họp tất cả lại điều động bao vây Ðồn quân cảnh bảo Trung úy Ðồn trưởng phải đích thân đi ra xin lỗi vì dám vào khách sạn của ông hạch hỏi lôi thôi; Tôi có linh tính ngày mai thế nào cũng bị Tư lệnh Vùng chửi bới. Y như rằng, Tôi và Thiếu-tá Thơm bị Thiếu tướng Viên kêu lên chửi cho một trận vuốt mặt không kịp: “Các anh đừng ỷ các anh là đơn vị cảm tử, ưu tú nhứt của quân lực VNCH rồi muốn làm gì thì làm à, càng giỏi mà đừng kiêu binh thì người dân mới kính phục quân đội… Trung úy trưởng đồn thông-cảm sự hy sinh của các anh, chớ người khác họ lấy xe tăng cán đè lên các anh nát đầu dẹp lép, các anh hiểu chưa? Ăn mặc đồ Việt Cộng mà dám vây đồn quân cảnh, các anh liều thật… súng AK-50 của các anh thì làm được gì với xe tăng?”

                  Tôi về lại khách sạn gặp Huệ, tôi cũng chẳng nói tiếng nào, có phải con người mà hằng đêm bay phi vụ đùa giỡn với tử thần đã đem lại một tinh thần bất ổn, căng thẳng vì giao động mạnh? Thế nhưng Huệ sửa lại tư thế càng kính trọng và nể phục tôi hơn, Tôi có thể hiểu được qua nét mặt của Huệ. Còn Khôi, con người cứ lầm lầm lì lì khó hiểu. Thì giờ anh bỏ ra nhiều nhứt là mài dao trên một miếng đá mài tí hon. Thật là một hiện tượng kỳ quái; đêm đó tôi còn nhớ, Vũng Tàu một thành phố kết hợp nhiều binh chủng nhứt, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Người Nhái, Biệt kích Lôi hổ, Biệt Ðộng quân….Tôi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu cao của một quán Kiosque ở Bãi trước, thì nghe tiếng súng nổ khắp nơi, mọi người đều nằm rạp xuống đất để tránh đạn, nhìn qua nhìn lại chỉ có một mình tôi thản nhiên ngồi uống rượu. Vì tôi biết chắc chắn họ chỉ bắn lên trời thôi chớ chẳng có gì phải sợ, sau một hồi nổ súng, các binh chủng khác đều rút lui chỉ còn lại lác đác vài anh Biệt kích gan lì ở lại lăm le khẩu súng. Tôi nhìn ra thấy Trung-sĩ Ðức, hắn vừa được tôi bốc ra trong chiến khu D tuần trước; Tôi trừng mắt quát lớn (không biết sao hồi đó tôi dữ quá):

                  “Ðức…Ð.M đi về ngay” Hắn riu-ríu đi về nhưng vẫn chu-miệng lên trời la lớn: “Ð.M không có ông thầy tao kêu về…thì chết mẹ tụi bây hết”. Một lát sau, không khí bãi trước vẫn vui lại như không có chuyện gì xẩy ra trước đó. Một người đàn bà trạc tuổi 40 mươi, mặt mày phấn son tươm tất đi ra chào hỏi như muốn làm thân: “Em thấy Ðại úy anh hùng quá chẳng sợ súng đạn là gì…cứ ngồi uống tỉnh-bơ”
                  “Có gì đâu mà sợ… họ bắn dọa lên trời thôi chớ có gì đâu mà sợ”
                  “Em đề nghị Ðại úy chuyện nầy nghe”
                  “Ðâu chị nói thử
                  “Tụi em ước ao Ðại úy đỡ đầu cho quán của tụi em, chúng em sẽ biết điều với Ðại-úy…có như vậy quán tụi em sẽ không bị phá-phách… nghe Ðại-úy”
                  Tôi cảm thấy khó chịu và tội nghiệp cho người dân trong thời buổi chiến tranh:
                  “Thôi đi bà nội… Tụi tôi ở đây có vài tuần xong chiến trận Bình-Giả chúng tôi sẽ đi chỗ khác…Chị coi bao nhiêu tiền tôi trả, Tôi phải về khuya rồi”
                  “Không có bao nhiêu thôi để em xin mời Ðại úy”
                  Tôi bèn đặt tấm giấy bạc lên bàn, cẩn thận dằn ly rượu lên trên rồi ra về một mạch.

                  Vừa nằm xuống chưa kịp chợp mắt, đã có ai gõ cửa rầm rầm nơi phòng mình, vừa mở cửa đã thấy Trung-úy Ðỗ Cao Luận, Ðại đội trưởng Biệt-kích Dù, mặt đỏ kè có lẽ uống quá nhiều rượu. Tôi nghe tiếng nói không chững chạc qua hơi rượu:
                  “Anh Vinh! Tôi muốn đấu súng với anh!”
                  “Luận…ê… bộ hôm nay Bồ có chuyện buồn”
                  Hắn gật gù trả lời: “Không có gì buồn mà chỉ có rửa hận thôi! Anh có đàn em mà không biết dạy-dỗ… mũi dại thì lái phải chịu đòn… có thế thôi”
                  Tôi điên tiết lên nhưng phải vuốt cơn giận xuống “Chuyện đâu còn có đó… không lẻ trong chiến trận mình đã hy sinh cho nhau mà bây giờ vì một người đàn bà mà mình phải hy sinh sanh mạng thật nhục quá…Tôi vẫn biết giữa anh và tôi, ai cũng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng mình phải dành cái chết nơi xứng đáng.”
                  “Thôi anh về ngũ đi…sáng mai tôi sẽ khuyên Khôi vụ nầy… anh yên chí tôi biết tánh nó”
                  Luận bước lùi xiểng niểng, nặng nề lảo đảo ra xe để lại mùi hơi rượu nồng nặc.

                  Tôi không thể nào chợp mắt lại: “Tại sao có việc nầy… lỗi bởi do ai?” T.Lan là vợ bé của một cựu Tổng Bộ trưởng quyền thế, đã có liên hệ tình ái với Luận, chàng Trung- úy rất đẹp trai phải nói nhứt nhì trong quân đội, còn Khôi…so ra còn xấu hơn mình, tình yêu gì mà khó hiểu quá? Mà cũng thiệt kỳ quái, chiều nầy đi vào phi trường để bay thám sát LZ, xe Jeep thiếu gì, nhưng kẹt nỗi ai cũng muốn leo lên chiếc xe Cortina Trắng mui trần của T.Lan để vào phi trường; gót giày nhà binh nện lên làm trầy trụa cả lớp sơn trắng.
                  Chính tôi đã hỏi nàng “Sao cô không để các anh tự lái xe đi… như vầy thì nát xe hết”
                  T.Lan nhoẻn miệng cười: “Em dự định trầy sơn em sẽ sơn màu đỏ cho nó ngầu và hợp thời trang hơn!”

                  Thôi mình rán dỗ giấc ngủ, ngày mai tính sau nhưng lại nghĩ mông lung tới Trung-sĩ Ðức, vừa rồi nếu mình không cứu hắn từ trong lòng địch từ Chiến khu D ra thì sức mấy đang hăng-tiết vịt mà nó chịu nghe lời mình trở về Trại. Nghĩ cho kỹ Toán hắn hên và thật may, mới thả chiều hôm qua thì sáng hôm nay lại được bốc về liền. Hắn kể chuyện mà bắt tức cười:
                  “Chiến thuật ngụy-âm” Chúng tôi thả Toán của Tùng và Nhựt bằng phương cách tạo nhiểu loạn âm thanh. Trên thế đất bằng phẳng rừng cây cao dầy đặt bạt ngàn như Chiến khu D, hoặc rừng cao-su bát ngát như Bình Giả; Tâm lý ở vùng rừng núi người ta thường chuẩn bị cho một đêm dài trước khi trời sắp sụp tối. Trưa ngày hôm đó, hai Toán-trưởng, hai Phi-công trưởng và hai sĩ quan Việt Mỹ đặc trách hành quân, Thiếu tá Tất và Thiếu tá da màu Thompson. Chúng tôi được một chiếc phi cơ của quân đội Úc “Otter” chở đi thám sát bãi đáp, Tôi đề nghi phi công của chiếc Otter bay cao ngang qua vùng hành quân lấy trục thẳng từ Ðông sang Tây và khi trở về đáp lại Vũng Tàu, tránh tuyệt đối không bay trở lại trên vùng đó, làm như vậy để khỏi bị sự chú ý của địch.

                  Chỉ còn vài phút nữa là bay ngang vùng phải chọn bãi đáp cho tối nay. Bốn nhân vật quan trọng nhứt trong phi vụ thám sát nầy là hai cặp, Nhựt và Khôi, Tùng và Tôi. Chỉ duy có vài phút trôi qua nhanh chóng, mỗi cặp tự bàn thảo với nhau trong việc chọn bãi đáp, nhưng phần nhiều phi công quyết định; Toán trưởng chỉ có việc ghi chấm bãi đáp theo ý định của phi công. Chúng tôi thường chọn một bãi Chính và một bãi Phụ; Trên bản đồ có khoanh vùng thám sát cho từng Toán trách nhiệm. Thời gian bay ngang qua bãi đáp quá nhanh, bốn đứa chúng tôi, ai mặt mày cũng đỏ kè vì phải vận dụng trí óc quá nhiều căng thẳng thần kinh; Tôi nhìn qua Khôi và Nhựt thì họ cũng vừa trỏ ngón tay cái lên báo hiệu okay.

                  Thế là từ giờ phút nầy trở đi bãi đáp như một nhân tình không thể xóa mờ trong tâm trí chúng tôi; Thiếu tá Thompson có hỏi tôi hai toạ độ bãi đáp nhưng tôi do-dự, làm sao tin ai được, Tôi có trách nhiệm phải bảo vệ tuyệt đối bí mật cho Toán, cho nên Tôi thối thoát: “Tối nay Tôi sẽ cho Thiếu-tá biết ngay lúc về đáp vì có thể giờ chót đáp vào bãi phụ thứ hai”

                  Ánh nắng ban chiều còn bãng lãng dưới trời Tây như muốn nhắn nhủ loài người thôi dừng lại sự chém giết lẫn nhau vì tất cả rồi đây sẽ chôn vùi vào bóng tối âm ti. Ba chiếc trực thăng tuần tự nổ máy giữa gốc phi trường nhưng không át nổi tiếng động-cơ gầm thét khi lên xuống. Tôi cất cánh trước rồi Huệ và Khôi sau cùng. Huệ bay chiếc thứ hai không có chở Toán mà chỉ để cấp cứu khi có chiếc nào bị nạn và cũng để đánh lạc hướng đối phương. Phi cơ đang bay đội hình nấc thang, chút nữa đây giữa đám cây cao dầy đặc; Lính Bắc Việt chỉ nghe một đoàn trực thăng bay ngang qua như mọi ngày, không biết từ phương hướng nào tới, âm thanh nhiễu loạn, lẫn lộn lớn dần rồi vụt một cái ào lướt qua, âm thanh tiếp tục nhỏ dần đấn đến khi không còn âm vang. Làm sao Lính Bắc Việt biết được chỉ có vài giây, một chiếc vừa thả Toán cách đó không xa!

                  “Hai, Ba sẳn sàng… mình xuống thấp 100 bộ, hãy giữ cao độ nầy, mỗi chiếc cách nhau 7 giây okay?”
                  Tôi xuống thấp… bãi đáp trước mặt, làm động tác đứng khựng nhịp nhàng tay-lái…không được rồi, chúng gài chông cao năm thước để chống trực thăng đầy lố-nhố trên trãng tranh của bãi đáp, Tôi cất cánh lại tiến về bãi đáp dự phòng, vừa lúc nầy thì chiếc thứ Ba của Khôi vừa lướt qua; Tôi bám theo sau hắn giữ khoảng cách 7 giây. Bây giờ tới phiên Khôi thả, tôi giữ khoảng cách sau hắn. Khôi đang giảm sức máy, đầu phi cơ ngốc lên, chuẩn bị đáp. Tôi giữ nguyên tốc độ vượt qua trên đầu hắn, chưa được 7 giây thì Khôi đang nối đuôi sau lưng tôi. Giờ tới phiên Tôi thả, bãi đáp trước mặt hơi nhỏ khó khăn hơn. Tôi nhẹ nhàng giảm tốc lực máy, đáp xuống… một, hai rồi năm giây Toán phóng xuống quá nhanh. Tôi cất cánh nối đuôi theo chiếc trước của Huệ, bay thẳng một mạch không đổi hướng về lại căn cứ. Cuộc thâm nhập thật hoàn hảo!

                  Ðúng 10 giờ sáng hôm sau, Toán của Trung úy Tùng cho biết đã bắt được một tù binh xin được bốc về gấp, gần chỗ bãi đáp hôm qua bị gài nhiều chong chóng trực thăng. Lời nhắn của Toán trưởng, nên bay từ hướng Bắc xuống, từ nơi có nhiều cây cao dầy đặc nhưng rất an toàn, không nên lấy hướng từ Xóm sình, Bầu-Cạn, Bầu Phụng trở lên sẽ bay qua đầu một trung đòan trừ của Bắc Việt chốt ở đó, Toán chỉ trải báo hiệu bằng tấm vải nhựa màu vàng cam khi nghe tiếng trực thăng, tuyệt đối không đốt khói màu.

                  Trung sĩ Ðức là người lập công đầu; Hắn mừng rỡ vừa nhảy xuống phi cơ, bu lô bu loa trong niềm tự hào, hắn kể cho phi hành đoàn nghe: “Tôi nghe ở đàng xa có tiếng chân người bước vội, tôi núp ngay xuống bụi rậm dầy nhứt ở bên cạnh lối mòn. Tim tôi đập thình thịch, súng lườm lườm ở vị thế sẳn sàng nhả đạn, tuy tôi được lịnh tránh tối đa không được nhả đạn. Tiếng lá xào xạc mỗi lúc một gần, tôi nghĩ thằng Việt Cộng nầy chắc chắn nó không biết có tụi tôi ở nơi đây, nên nó vừa đi vừa thản nhiên hút gió. Khi nó vừa qua mặt tôi thì nó đi vào một bụi cỏ gần đó; Tôi ngó qua thấy nó không cách tôi xa lắm và đang cởi quần; Tôi nghĩ nó đi Ể. Tôi liền tiến tới ngay sau lưng nó la hét to lên, cốt cũng để báo động cho Toán biết luôn. “Dơ tay lên…Ð.M dơ tay lên”. Tôi thấy nó chẳng chút gì sợ hãi mà thản nhiên trả lời: “Ð Một …đây, Ð một đây!”. Tôi tức giận thét lớn: “Ð.M… Ð Một cũng phải dơ tay lên” lúc nầy Hắn mới sợ hãi quay lại nhìn tôi một lát rồi mới chịu dơ tay lên mà không kịp kéo quần, Ð.M thúi quá! Tôi xông tới trói tréo tay hắn lại bằng chiếc còng dã chiến Nilông thì cũng vừa lúc Trung úy Tùng chạy đến, chúng tôi kéo hắn chạy trối chết ra bãi đáp… Tôi không hiểu ám số Ð-Một là cái con mẹ gì?...”

                  Nằm trong phòng ngủ hạng sang có máy đều hòa mà Tôi không tài nào ngủ được, Tôi nhảy xuống giường chơi thêm một chai beer nữa họa may dỗ được giấc ngủ rồi ngày mai còn phải gặp Khôi để giải quyết chuyện tình cảm lăng-nhăng giữa đồng đội cùng sống chết có nhau. Thật tình yêu phức tạp khó hiểu quá! Ðẹp trai không chịu mà chịu xấu trai mới nên nông nỗi, ngày mai Tôi sẽ phải giải quyết sao đây!

                  Mặt trời đã lên cao nhưng Tôi vẫn còn ngủ vùi như khúc gỗ, bỗng có tiếng gõ cửa dồn dập; Tôi nhảy ra khỏi giường như chiếc lò xo ra mở cửa. Khôi xuất hiện vui vẽ mời tôi đi ăn sáng.
                  “Tôi định gặp anh thì anh đã đến”
                  Khôi vồn vã hỏi tôi “Có chuyện gì quan trọng không đại-ca”
                  “Ối, cũng chẳng có gì là quan trọng, anh đồng ý tính mạng của anh em mình mới quan trọng”
                  Khôi cướp lời “Khỏi nói đúng là như vậy”
                  Chúng tôi lái xe Jeep ra Bãi sau ăn sáng, trên đường đi tôi không nhắc nhở gì chuyện tối qua Trung úy Ðổ Cao Luận đòi đấu súng với tôi.
                  “Bữa nay hai anh em mình đi thi tài bắn súng, ai thua thì trả ăn sáng?”
                  Khôi dẫy nẫy, “Tôi hứa bao anh ăn sáng rồi mà… vả lại tôi làm sao bắn giỏi bằng đại-ca?”
                  Chúng tôi vào một cái quán xa nhứt và cũng vắng vẻ nhứt. Sau khi ăn uống no nê, tôi từ từ nói:
                  “À Khôi nè, đừng nói Tôi hay tò mò … Anh làm quen với cô T.Lan được bao lâu”
                  “Cũng không lâu lắm… mới được vài ngày đây thôi”
                  “Anh đừng nghĩ tôi tò mò, chỗ anh em mình sống chết có nhau… vì thế cuộc sống của chúng mình có những mấu chốt dính dấp chặt chẽ như ruột thịt… anh đồng ý điều đó”
                  “Chắc chắn dĩ nhiên là vậy”
                  “Anh có biết T.Lan là người yêu của Luận, Ðại đội trưởng Biệt Kích Dù”
                  “Biết chớ, nhưng T.Lan đâu phải vợ của thằng Luận”
                  “Ðành rằng như vậy nhưng giữa T.Lan và Luận anh quý người nào hơn”
                  “Tôi quý cả hai, Luận là chiến hữu cùng sống chết có nhau nhưng T.Lan là người yêu, dầu mới quen nhau nhưng tôi không thể bỏ nàng được”
                  “Một bên là tình bạn cố hữu lâu đời và một bên là tình yêu mới chớm nở, chả lẽ chuyện nầy anh không thể giải quyết được sao?”
                  “Anh Vinh à, mặc-dù anh lớn tuổi và là cấp chỉ huy của tôi, nhưng anh làm sao hiểu được khi yêu con tim nó có lý lẽ riêng của nó!”
                  “Khôi à… tôi rất hiểu điều đó, nhưng đây mình bỏ qua cấp bực mà chỉ lấy tình chiến hữu cao quý để đối xử với nhau, Tôi thấy nó trọn tình vĩnh cửu, dù sao mình cũng tự hào là người trai anh hùng của thế hệ. Tôi nghĩ Khôi con người tài ba mà chẳng lẽ chỉ có một T.Lan trong cuộc đời mình, ngoài xã hội thiếu chi người đã đẹp mà nết na chung thủy… hay là anh chịu khuất phục không đủ bản lãnh hay tài ba để tìm một người đẹp hơn T.Lan?”
                  “Ðúng, Anh là cấp chỉ huy tài ba không những trong nghề nghiệp mà còn thầy đời về tâm lý, anh đã khơi đúng lòng tự trọng của thằng Khôi nầy… Bây giờ trở đi tôi xin hứa với anh, mối liên hệ giữa T.Lan và tôi sẽ chấm dứt từ đây”
                  Ðể cho không khí bớt căng thẳng tôi cà-rỡn nói đùa như có lời khích bác, “Nếu mình o- mèo dở ẹt không kiếm nổi cô nào khác thì tội gì mà nhả ra… phải không”
                  “Anh Vinh à! Đây là lần cuối, thôi đừng nhắc nhở chuyện đó nửa, anh nói đúng: Mình không thể bỏ anh em, bạn bè chiến hửu cùng sống chết có nhau!”
                  Bây giờ nghĩ đến hai hiện tượng Khôi và Huệ túc trực cấp cứu, Tôi vô cùng yên tâm, vừa suy tư đến đây thì cũng vừa lúc Khôi và Huệ đến tôi; Huệ có cầm trên tay cho tôi một ca-nhôm càfê đen.
                  Hắn nói: “Trong thời gian nghiên cứu bản đồ, anh uống chút cho tỉnh!”
                  Tôi, Hảo, Huệ và Khôi, bốn đứa ngồi cho hỏ trên bải cỏ. Tôi chậm chạp thuyết trình: “Dự trù Tôi sẽ cất cánh lúc 10 giờ, hai anh cất cánh sau tôi một chút bay thẳng về Ðà Nẳng, nhớ giữ tần số UHF… VHF… F.M… thỉnh thoảng các anh gọi tôi hoặc ngược lại, Hảo sẽ gọi các anh. Xuống Ðà-Nẵng các anh đổ xăng vẫn luôn luôn giữ ba tần số nầy có gì khẩn cấp thì gọi, Okay..? Khi cất cánh lại nhớ bay về hướng Quảng Ngãi, khi bay xuống gần đến Benhét tôi sẽ trở về Quảng Ngãi đổ xăng và gặp các anh ở đó. Chúng ta sẽ gặp người đẹp Quảng Ngãi, Cô Mầu bán kẹo Gương, nhìn nàng rửa con mắt cho thỏa chí rồi lên nhà hàng Thế giới Tửu gia dùng cơm.”
                  “À còn quên một chuyện rất quan trọng, ngay sau khi cất cánh, các anh đừng vội bay một lèo về Ðà Nẵng mà bay vòng vòng ở Sông Mỹ Chánh, vì Tôi sẽ không bay chụp ảnh từ biên giới Lào Việt dọc xuống miền Nam, trọng điểm từ đỉnh núi đá vôi Coroc xuống lần theo Sông Xe-pon mà bay thẳng một mạch đến sào-huyệt Tiền phương Ðoàn 559 trước, vì rằng Tôi không muốn chúng sẵn sàng chào đón, nếu mình ló dạng nơi nào khác trước đó thì chúng sẽ báo động ngay. Mình sẽ bị lãnh đủ vì nơi đó là vùng tử địa, núi non chôm chổm, vách đá đứng sựng, nơi hai Tiểu đoàn pháo phòng không bảo vệ chặt chẽ, phi cơ khu trục chiến thuật rớt quanh đó rất nhiều, mới vừa rồi một gunship AC-130E bị bắn rớt phi hành đoàn coi như tan xác, vi theo ROE chỗ này có Sam- enveloped… Các anh có gì để hỏi…? Okay chúng ta chuẩn bị cất cánh”

                  LLDB Huỳnh Thuận Nhã xuất hiện trong bộ đồ ngụy trang da-beo lốm đốm và Thượng Sĩ Donald Duncan trong bộ đồ rằn-ri TQLC, trên bộ đồ ngụy trang nầy chằng chịt nhiều thứ máy chụp hình, phim ảnh, dây súng đạn đủ thứ. Người Mỹ ỷ vào sự lớn xác nên họ mang rất nhiều thứ lỉnh kỉnh trên mình, như ống nhòm, gun flare, bản đồ thậm chí còn có kiếng mát nữa. Tất cả đều được điều động ngồi gọn lên phần trước của Trực thăng, Cơ-phi Mai đang tháo hai khúc gỗ chèn bánh xe quăng vội một bên, rồi nhảy phóc lên sàn tàu, dơ ngón tay cái ám hiệu sẵn sàng nhưng không quên nhe hàm răng ngó lên cười để củng cố sự can đảm. Mọi người đều hiểu được đây là chuyến bay định mệnh, đúng nghĩa vào sanh ra tử!

                  Tôi vừa làm thử một thao tác “Lazy-8” rất ngoạn mục nhưng không biết tới đó, vach núi chập chùng chận cao trước mặt mình có làm được đẹp như vậy không, hay là quá căng thẳng thần kinh cùng sự mệt mỏi, rồi không làm được thì chết mẹ cả lũ năm mạng người. Sào-huyệt Ðoàn 559 (Oscar-Eight) cách Khe Sanh 25 dặm về phía Ðông-Nam, nơi đây tôi phải bay sạt trên ngọn cây không phải vì sợ Radar theo dõi mà sợ chúng biết tụi tôi mon men tới, chúng sẽ vui vẻ chuẩn bị chào mừng bằng những tiếng pháo phòng không đủ loại. Tôi cứ bám hướng 155 độ, bay sạt trên ngọn cây, dợn sóng lên xuống theo địa hình lồi lõm của thế đất. Xa xa là tiền đồn Satram của ngày xa xưa nay bỏ ngỏ như một đồn ma hoang vắng, đã bị bỏ hoang từ thời Ðệ-I Cộng Hòa; Trước mặt là dãy núi Tam Bôi, ánh nắng ban mai chói chang đang tỏa xuống cạnh sườn Ðông của thung lũng với vách núi đá sừng sững dựng đứng, lác đác đó đây trên điểm cao, những ổ phòng không lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn. Dưới đó có một con suối lớn ngoằn ngoèo chảy ngược nhưng lại xuôi về Ðông Nam, tiếp nối thung lũng ALuôi, Ashau như tấm thảm xanh bằng phẳng trải dài bát ngát với cỏ rạ sình lầy.

                  Còn vài phút nữa là chúng tôi sẽ đâm đầu vào ổ kiến lửa. Nó ở giữa lưng chừng của hai tiền đồn đã bỏ hoang từ lâu là Litôn và Tourout, cảm giác ngoại cảnh khác lạ trong tôi, bỗng dưng toát lên hai thái cực đối nghịch với nhau. Hồi còn là phi công quan sát, ở vị trí từ trên cao nhìn xuống, tôi thường chép miệng khen thầm “quê hương mình quả thật quá đẹp, núi non hùng vĩ bạt ngàn. Nhưng giờ đây ngoại cảnh trước mắt quá hãi hùng, buộc chặt trong tằm mắt phải nhìn thật gần, thật sát, thật rõ được những gì đang đe dọa cho đất nước miền Nam. Dưới đây, hoạt cảnh đổi thay nhộn nhịp đến kinh hoàng trên dọc tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, chi chít đường xá mới mọc, lối mòn tua tủa song song chạy về hướng Nam, biết bao là cầu mới dựng tạm bắt ngang. Những doanh trại, nhà kho nằm ẩn dật dưới lùm cây dọc theo con Suối, có nơi lá ngụy trang đã rụng rời phơi bày mái nóc lợp bằng “Tre-đan đập-dập” lộ thiên như thách thức, rẫy nương tạp nhạp lẫn lộn với đủ loại hoa màu, Sắn, Ngô, Khoai, Cải bẹ… để ngụy trang đánh lạc hướng sự chú ý của các phi cơ trinh sát không ảnh U-2 và RF-101 nhưng làm sao lừa được những cặp mắt cú-vọ của Nhã và Duncan qua những thước phim để đời.

                  Ai dám bảo đảm cho Cộng Sản Hà Nội thôn tính Miền Nam! Tôi nghĩ không phải Liên Xô mà cũng không phải Trung Quốc mà là người bạn quý của chúng ta! Nếu phải nêu đích danh là W.A.Harriman, thủ lãnh đảng hội Skull and Bones thì quả là không sai – Một trò chơi chiến tranh chớ không phải là cuộc chiến tranh thực sự. Nếu Hoa kỳ muốn làm tiêu tan ý đồ của Cộng Sản Bắc Việt, cứ mỗi tuần lễ chỉ một lần thôi, thả vào nơi đường Xa lộ Harriman: Vì đã nhiều lần CSBV tuyên bố trước thế giới không có quân lính của họ ở nơi đó, có nghĩa là chỉ có Khỉ và Vượn mà thôi. Ðể phòng thủ tự vệ, Không-quân miền Nam chỉ thả một trái Bom CBU-55, và cứ một tuần một lần rồi dùng AC-130E bay dọc theo hành lang xa lộ dùng đại bác không giật 106ly loại đạn tầm nhiệt mà chơi. Không bao lâu chẳng còn chiếc xe máy nổ nào ở trên tuyến hành lang và chỉ còn lại một loại xe “cải tiến” (nói theo danh từ CS, chớ là Xe-thùng) nhưng lại không có người hay trâu bò để kéo. Dĩ nhiên là tiêu tan ý đồ cưỡng chiếm Miền Nam bằng vỏ lực.

                  Phía Cộng Sản thường nói: Mỹ là tay sen đầm quốc tế, còn các nước khác cho Mỹ là cảnh sát thế giới. Riêng Tôi thì cho rằng, Mỹ là Chủ cái chia bài rất điệu nghệ, phát hiện tay Con nào thua quá nhưng muốn cầm chưn để chơi tiếp. Chủ Cái Mỹ bèn có hai cách: Một, lấy tiền của tay Con kia cho tay nầy ăn để chơi tiếp – Hai, Chủ Cái chơi đẹp cho tất cả tay Con đều “hẩu-sực” rồi từ từ lùa hốt sau. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam , Hoa Kỳ vừa viện trợ cho Pháp (nhưng thực tâm Mỹ muốn nhờ Pháp tiêu thụ những thứ vất đi nầy và chịu lệ thuộc cho quyền lợi của Mỹ).
                  Năm 1949, Bộ trưởng ngoại giao Mỹ, Acheson [một thành viên Skull and Bones] thuyết phục TT Truman giúp viện trợ cho Pháp sơ khởi 15 triệu Mỹ kim, 4 năm sau lại đề nghị 2 tỉ đôla, nhưng đồng thời trước đó vấn đề Tình báo OSS, do Ðiệp viên 019 Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pác-pó giúp Hồ Chí Minh cả ngàn khẩu súng Carabin và Trung liên Bar, cho Hạ Sĩ quan OSS huấn luyện Trung đội Võ trang tuyên truyền của Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng làm Trung đội phó. Hồi Ðệ-II Cộng Hòa, CSBV chơi trội, pháo kích ác liệt vào phi trường Biên Hòa chẳng hạn như năm 1967 phá hủy một số lớn phi cơ (Mỹ muốn CSBV tiêu hủy dùm hàng tiêu dùng). Ðể cân bằng lực lượng của hai tay Con, Hoa-Kỳ dùng B-52 tiêu diệt lực lượng CSBV gây ra sự thiệt hại đáng kể để dung hòa. Khi dùng chiến dịch khai hoang đến hồi cao điểm, Quân CSBV đói, thì CIA tìm cách xúi bẩy Tiểu Khu trưởng chở vài chục GMC gạo vào cứu đói, còn Vùng Duyên hải, thì Hải-Ðoàn 759 thả gạo trôi từ ngoài biển vào bờ, trong khi Đệ-7 hạm đội ngó lơ. Còn MTGPMN rên rỉ quá thì CIA buộc VNCH thả ngay các tay gộc cán bộ MTGPMN để họ được ra Bắc nghỉ ngơi R&R.

                  Vào những ngày cuối cùng của tháng Sáu, 1972, Quân Dù của VNCH chưa được lệnh mà đòi xung phong chiếm Cổ Thành Ðinh Công Tráng làm ngược thế thương lượng theo kế hoạch hòa đàm, thì bị nướng một Ðại đội Dù tại bức tường thành gọi là thả bom “lầm” – Làm gì nhau? chiến tranh mà (theo kế hoạch là TQLC chiếm từ phía Ðông quốc lộ-I, ngoài biển tiến lên để Mỹ phối-hợp yểm trợ) phải đúng thời điểm mặc cả tại Hòa đàm Paris mới được phép, còn CSBV muốn Tổng nổi dậy chiếm Miền Nam 1972, nhưng chưa đúng thời điểm nên phải bị hy sinh 100.000 quân, khiến Tướng Giáp phải từ nhiệm. Nhưng quyền hạn do lãnh đạo Mỹ chỉ định là Sư-đoàn TQLC tái chiếm Cổ thành. Báo hại trong buổi hợp tại Camp Evan khi TQLC được chỉ định chiếm Cổ thành, thì bị ngay sự phản ứng của Trung tướng Dư Quốc Ðống phẫn nộ ngay buổi hợp. Tôi xin phát biểu nguyên văn “Ð.M thằng nào ở Dù ra mà phản bội lại Dù thì đéo khá được” Có lẽ Tướng Ðống nghĩ rằng đây là phóng đồ hành quân do Tướng Trưởng quyết định. [Chúng ta cũng đừng nên nghĩ rằng cuộc hành quân Lam Sơn 719 là tiếng Việt nhưng Mỹ đã đặt tên qua sự cố vấn của CIA trước một tháng, 18/1/1971, do Richard Helms va Donald Rumsfeld] làm mất đi tình huynh đệ chi binh giữa các Tướng lãnh với nhau.

                  Tôi phải mở to mắt ra để nhìn về phía trước, bằng mọi giá phải khóa chặt tầm nhìn của súng phòng không BV. Thông thường chúng điều chỉnh tầm tác xạ ở góc bắn bao quát lên trời chớ không bắn tầm ngang hoặc chĩa xuống dòng Suối của thung lũng. Ðây cũng là cách bay nhũi vào lửa đạn mà tôi đang nghĩ tới cách thoát thân trong luồn lách. Tôi quyết định bay thẳng góc với con đường mòn trước mặt giao tiếp với một con Suối lớn bắt nguồn từ giòng Sông Xê-Pon chảy ngược lên mạn Tây Bắc của Tỉnh lỵ Tchepone.

                  Bất chợt, như phản xạ, Tôi tự động chúi mũi tăng tốc độ tối đa để vượt qua tầm mắt của Toán người đang cố lội qua Suối. Họ đang còng lưng vác vật gì nặng lắm! có lẽ đạn phòng không? Mình mẩy ngụy trang đầy cành lá! Tại sao Họ không bắn chúng tôi mà lại vẫy tay chào mừng như đồng chí?
                  Tôi nghe trong nón bay, ở dưới buồng lái Mai nói nhắn lên: “Anh nghe thấy gì không?”
                  Tay chân đều kẹt đang lái, Tôi vừa ngậm micro vừa nói ú ớ: “Thấy lính BV vẫy tay chào anh”
                  “ Duncan và Nhã đang bận bấm liên tục chiếc máy hình, Tôi đâu có việc gì làm… mà không biết tại sao Tôi tự động vẫy tay, cho nên họ mới vẫy tay lại”
                  “Tôi hỏi gặng lại, “Tại sao họ không bắn mình”
                  Mai cười hô hố trả lời “Có lẽ Toán dân công khuân vác, Họ đâu có mang súng, anh nào cũng ì-ạch xiểng niểng chống gậy qua Suối, dường như Họ mang cái khỉ gì trên lưng nặng lắm, qua uối không vững… nếu như U-2 hoặc RF-101 mà chụp không ảnh… thì Họ cứ cho là một đại-đội hay trung-đội nào đó với đầy đủ súng ống đang băng qua Sông, chớ đâu có biết đây là Toán dân công khuân vác, có người chặt cả cành cây còn lá để ngụy trang, làm gậy chống chõi qua suối. Những cái vẫy tay qua lại vô tâm hay lịch sự vô thức? Hay phản ứng tự nhiên? Không phải “tao-ngộ chiến”… trong giây lát ngỡ ngàng không dự đoán phải làm sao.

                  Chúng tôi sắp lướt nhanh qua con đường đất đỏ trước mặt, lần nầy chắc Mai vẫy tay có ý thức, chớ ở không làm gì, vẫy tay ra cái điều là dân lịch sự hào hoa cũng nên lắm! Quả thật ở ngay trên đường đất đỏ nầy có một chiếc xe ‘hũ-lô’ làm đường, kiểu có ống khói hồi lý-toét xa xưa, vài chục người bu quanh, hai tay cầm cái Rế cái Xọt, dường như đang hất đất đá xuống những lỗ trũng làm đường. Làm sao biết được đàn ông hay đàn bà dưới những vành nón lá nhỏ hơn kiểu Miền Nam một chút. Chúng tôi đang nghĩ rằng họ sẽ ngước mặt lên khi nghe tiếng động cơ bay ngang; người ngước lên nhìn trước nhứt là ngay vào lúc Tôi đang bay ngang đầu họ, còn lại phần đông chưa kịp phản ứng. Những chiếc hình nầy của Duncan và Nhã sẽ tái xác định vào lúc nào thì tất cả đều biết chúng tôi bay ngang.

                  Ðã đến nơi tử địa rồi, Tôi đang căng thẳng thần kinh, hồi hộp mím môi ghìm tay lái. Bay lách qua, lách lại như con cá lia-thia ẩn hiện trong hóc đá san hô, cạnh sườn bên trái con Suối lớn, để tầm quan sát chụp ảnh được rõ ràng hơn, bên phải tôi, trên cao vách đá, đã phát hiện ra ít sự hoạt động của người qua lại trên lối mòn, cỏ vẹt ra nằm rạt hai bên. Nhưng cảnh vật vẫn yên tịnh, có lẽ là họ không ngờ rằng giờ nầy có chúng tôi đến thăm mà không hẹn trước. Trên vách đá cao hơn đã thấy có dấu vết phơi áo quần bộ đội, Tôi cảm thấy vững tâm vì các ổ phòng không đang chốt ở các cao điểm, hơn cao độ chúng tôi đang bay dọc theo dưới con suối. Và dĩ nhiên tầm tác xạ của chúng không làm gì được để gây thiệt hại cho chúng tôi.

                  Thình lình, Tôi nghe khoảng cách sau đuôi hai tiếng nổ ầm ầm, Tôi nhũi mũi tăng tốc độ bay sát vào vách đá, nương vào các chướng ngại vật thiêng liêng để lẩn tránh. Rồi cũng phía sau đuôi tiềng AK nổ dòn tan như bắp rang. Tôi chẳng sợ sệt gì cả vì tầm đạn còn quá xa không thể nào đến đây được. Dường như chúng đã báo động, tôi đã nhìn thấy rõ những vệt khói trắng từ bên kia suối. Có lẽ B-40 hay 41 gì đó bắn qua nhưng đạn đạo không tới, nên rơi nổ giữa dưới lòng suối. Thời gian bay qua Ðoàn 559 Tiền phương sao lâu quá mà khúc quẹo con suối lại quá gắt, đôi khi lượn trái đôi khi lượn phải mà vách núi đá thì đứng sừng sựng như muốn chụp xuống trực thăng.

                  (Xin xem tiếp Phần-2)
                  Last edited by chieutim; 05-12-2013, 05:34 PM.

                  Comment

                  • vinhtruong
                    Super Member
                    • Jun 2010
                    • 1924

                    #24
                    Bài tuyển Vinhtruong trên các Diễn Đàn Lính

                    Bây giờ ở phía sau đuôi thì hình như không còn đe-dọa nữa, nhưng ác nghiệt thay những mảnh đạn súng cối tối tân nhứt thời đó của Liên Xô là Cối 120ly lại bốc lên trước mặt, có những cột khói nổ tung rải rác không biết đâu mà tránh. Chúng bắn từ những cao điểm ở trên chóp núi dọc theo dưới con Suối, nên luôn luôn chúng tôi phải lướt trên những cụm khói của hỏa pháo, mùi khói thuốc khét nghẹt đến muốn ngạt thở. Trong phản ứng, Tôi dùng hết sức máy để qua khỏi vùng tử địa càng nhanh càng tốt, trực thăng thoáng nhanh có lúc muốn chui vào vách đá bên trái con Suối. Bay như thế nầy có thể tránh khỏi những mảnh đạn của súng cối không, nhưng vô cùng nguy hiểm vì phải đòi hỏi tay nghề khá điêu luyện. Tôi đang thấy rõ hai vệt khói trắng đục bên phải, từ vách núi phía trên cánh quạt chính phụt xuống, Tôi lại cứ ngỡ rằng loại B-40 hay 41 gì đó; Nhưng khi chúng bay ngang tôi sức gió thật mãnh liệt và theo sau một vệt khói dài nơi sau đuôi. “Thôi chết rồi SA-7, 5, 3 gì đây” Trong nón bay Tôi vẫn nghe được tiếng gió rít, cảm nhận tốc lực và âm thanh thật hãi hùng, rồi hai tiếng nổ kinh hoàng …ầm ầm trên thành đá bên trái của chúng tôi chừng 20 thước. Trực thăng bị ảnh hưởng luồng gió cực mạnh rùng mình đôi chút.

                    Con người thường khi gặp nguy hiểm hay quá thất vọng thường nghĩ đến Thượng đế. Lúc nầy tự nhiên Tôi nhớ đến lời Ni dặn, “Chúa Mẹ Maria ơi cứu con!” Tôi Amen loạn xạ! Có lẽ hai trái hoả tiễn SA-7 cầm tay nầy hay đạn pháo 85 ly, 75 ly gì đó. Nếu đạn 85 hay 75 ly thì làm gì có vệt khói mạnh thẳng bon ở sau trái đạn, mà đạn đạo làm gì đi xa thẳng đường như hỏa tiễn; Nếu như ống thoát khói của H-34 ở bên phải thì mình đã bị nó hút vô rồi; vả lại khi bắn hoả tiễn sẽ không có hiệu quả chính xác, trừ phi trái hoả tiễn có đủ tốc lực và cao độ thì nó mới được chính xác nhũi vào mục tiêu. Cho nên chúng tôi đã thoát chết do hai đều may mắn kể trên: cao độ thấp và ống thoát khói ở ngoài tầm nhiệt phi đạo của hoả tiễn.

                    Thôi qua khỏi rồi, đừng quan tâm gì nữa để trí não lo chuyện khác, trước mặt lại lặp lại cảnh cũ, những cột khói súng cối lại cường độ nhiều hơn trước, nhưng thời gian và tâm trí đâu mà đoán ước lượng cỡ bao nhiêu cự ly; Thôi đành cứ bay sạt ngang cạnh vách đá chớ biết làm sao hiểu được ở đâu mà tránh. Ðạn tránh người chớ người làm sao tránh đạn! Chúng tôi đang thấy một số rất đông người ở dưới Suối, dường như họ đang thản nhiên tắm giặt; Ô coi kìa! Họ đang tủa chạy lên bờ, một lát sau chúng tôi nghe tiếng AK như chưa bao giờ được nghe nhiều như vậy, nhưng chúng tôi cứ tỉnh-bơ vì quá xa sau ấy; Nhưng nếu mà đừng hồi hộp thì nghe tiếng AK dòn như pháo Tết, pháo nổ trước mũi Lân đang múa giao thừa. Nơi đây cảnh vật bắt đầu yên tĩnh, núi đá cao dần, tôi bớt sức máy giữ trong chế độ bay bình thường.

                    Tôi giựt mình thấy chân ngọn núi Tam Bôi dựng đứng như cánh cửa sắt khổng lồ chấn ngang chực ụp xuống chúng tôi – rán gò tay lái, Tôi bình tỉnh ấn nhanh mũi phi cơ lấy tốc lực, nhanh lần, nhanh hơn đến vận tốc tối đa… đủ tốc độ, kéo mũi phi cơ thẳng đứng, xung quanh toàn vách núi… thân thể mọi người dính chặt vào ghế lái, thân tàu, mặt dài thộn ra…mũi phi cơ ngóc lên thẳng gốc, cao cao dần, một màu xanh bầu trời trước mặt, không còn thấy đất mà chỉ có trời và không-gian …tốc độ giảm dần còn 25 hải lý; đạp nhẹ đều chân phải, mũi phi cơ lắc nhẹ, rồi từ từ đâm đầu xuống Suối… tốc độ nhanh dần đến bình phi. Chúng tôi đang vòng lại 180 độ trong chiều thẳng đứng chữ I. Tôi nghe trong nón bay tiếng Mai phàn nàn “Anh ra khỏi vòng nguy hiểm một chút để chúng tôi nghỉ mệt, rồi vào lại sau!” Tôi hiểu được sức chịu đựng có hạn, nghĩ chỉ còn cách dựa vào đám rừng nguyên thủy dầy đặc cây cao trước mặt bay qua đó cho anh em nghỉ mệt một chút.

                    “Okay mọi người nằm đại xuống sàn tàu nghĩ 5 phút rồi tiếp tục!”
                    Lúc nầy Tôi mới có thời gian để hỏi Hảo: “Anh có liên lạc gì với Huệ chưa?”
                    “Tụi nó ở không, rảnh quá cho nên cứ gọi hoài làm sốt cả ruột”
                    “Thì anh cũng rảnh, nên trả lời cho Huệ yên tâm… liên lạc tốt chớ”
                    “UHF và VHF thì rất tốt, duy có FM thì không nghe rõ”

                    Nhìn tận mắt thung lũng với vách đá sừng sững hiểm trở như vậy, quả thật đây là thánh địa khá vững chắc của Bộ chỉ huy tiền phương Ðoàn 559 mà phía Bắc Việt cho là Trung tâm đầu não lãnh đạo cuộc chiến miền Nam. Còn phía SOG thì đặt tên cho nó là “Oscar-Eight” – CIA với mục tiêu chiến lược họ gọi rằng: “Mọi nơi miền Nam đều bị đụng trận nhưng chưa hoàn tất và chỉ để gây tiếng vang mà thôi” (Everything worked, but nothing worked enough) Vì thế nên mặc dù Miguez bị mổ ruột và thiêu sống, dù đây là một hành động vô cùng tàn ác trước sự chứng kiến của Toán SOG nhưng lệnh CIA buộc họ phải nhảy vào “Oscar-Eight”.

                    Giữa tháng Sáu năm 1967, lực lượng Hatcher Force được lệnh phải thâm nhập vào Trung Tâm đầu não Ðoàn 559 nầy, nó nằm vào khoảng 40 cây số phía tây-bắc thung lũng Ashau/ALuoi mà vừa rồi chúng tôi đã bay qua đó. Nơi đây đường xá cũng như sự hoạt động điều binh rất nhộn nhịp nối liền giữa Ðường 92 từ Lào qua 922 cùng nối liền 548 qua phần đất Việt Nam; Nơi đây ghi nhận số phi cơ đủ loại bị bắn rơi ngoài H-34 Queen Bee của Việt Nam là không hề hấn gì. Với lối bay khóa chặt các họng súng cũng như hóa giải sức thu-hút của hỏa tiễn cầm tay của BV. Phi hành đoàn chúng tôi không ngạc nhiên gì về công sự phòng thủ kiên cố, những hầm trú ẩn nằm sâu trong hóc núi đá như những cánh cửa sắt có thừa sức chịu đựng của B-52, hai Tiểu đoàn phòng không già kinh nghiệm đang bảo vệ vùng trời của Tướng một sao Võ Bẩm trấn giữ tại đây. Ðây mới thật là Trung tâm kiểm soát và điều động hành quân trên trục Xa lộ Harriman.

                    CIA mật báo cho biết, nơi đây là kho tiếp liệu lớn nhứt ngoài phạm-vi miền Bắc. Dĩ nhiên cái kiểu làm ăn của CIA là phải vào hang Cọp mới bắt được Cọp. Trung sĩ John Meyer trước đây đã vào một lần, ông cho đây là “ổ kiến Lửa” (the area was really hot. I mean, every team that went in there got the shit shot out of it) Chỉ trước khi Toán thám sát SOG cho lệnh B-52 oanh tạc, máy dò tìm tình báo của họ phát hiện từ nơi đây phát đi hàng ngày 2300 công điện đi đến từ miền Bắc và song song với Lào. Do đó Tướng Westmoreland tin chắc có một Tướng lãnh tư lệnh nơi đây; Dù rằng rừng nào Cọp nấy, nhưng Tướng Westmoreland rất hăng hái gởi Toán thám sát vào nơi đó định chuẩn rồi đề nghị TT Johnson đưa quân đội Mỹ vào hành quân tiêu diệt. Hậu quả Westmoreland bị triệu hồi về trong im lặng.

                    Nơi đây chúng tôi kiếm một chỗ tương đối đáp được an-toàn không thể có, chỉ duy nhứt là bãi đáp ở trong lòng chảo sâu như cái chén, mà xung quanh đó chúng tôi cũng thừa hiểu chằng- chịt những ổ phòng không lộ-thiên trên các sưòn núi đá. Dưới chân núi là các hầm và hang động có thể chứa chấp từ cấp Tiểu đoàn đến Trung đoàn. Nhưng kết cuộc chúng tôi cũng lựa vào thời điểm mà những người ở vùng rừng núi thường chuẩn bị chỗ ngủ cho một đêm dài trước đó. Mặt trời tuy ngả về Tây ánh sáng vẫn còn le lói, chúng tôi cách bãi đáp chừng năm mười phút. Bỗng dưng ở núi rừng bóng đêm chụp xuống một cách mau lẹ, là lúc đó tầm viễn kính thâu ngắn lại. Chúng tôi đã tìm được một hóc đá ở bên sườn xa về hướng Tây, tiếng động bị ngăn cản bằng một triền núi sau lưng chúng; Một cuộc ‘thâm-nhập’ coi như khá chu-toàn!

                    Sáng sớm hôm sau, thung lũng của cứ điểm chìm đắm dưới bức màn sương lờ mờ dưới con mắt của Toán SOG-Hatcher, B-52 sẽ thả đúng vào lúc 10 giờ sáng, gồm 9 chiếc, ba đợt, mỗi đợt ba chiếc với danh hiệu là “Arc-Light” cách nhau 5 phút. Hai toán viên người Mỹ là Thượng sị Billy Waugh và Covey từ cao điểm qua ống dòm: Gần 1000 trái bom loại nhỏ “mắt-Rắn” 250, 500, và lớn nhứt là 750 cân anh trải thảm trên thung lũng Ðoàn 559 Tiền phương. Hai người Mỹ đồng báo cáo ghi nhận có khoảng 50 tiếng nổ-phụ; Waugh vô cùng ngạc nhiên, ngay sau khi ngưng tiếng Bom nổ, Nó thấy lính Bắc Việt chạy ra từ những hang động dưới hóc đá và từ hầm đào sâu trong núi. Chúng ùa ra như ổ kiến lửa bị động, xô đẩy, lăn các thùng phuy xăng còn nguyên vẹn ra thật xa chỗ cháy.

                    Thượng sĩ Waugh liền gọi máy cho Trung tá Harold Rose ở Trại LLÐB Khe Sanh: “Thật đồ chó đẻ, chúng ta thả Bom chẳng ăn-thua gì cả, dường như chúng chẳng thằng nào bị chết nhờ ở trong hầm đá hang động được che chở an toàn, Tôi thấy họ đang dập tắt các đám cháy và di chuyển xăng dầu ra chỗ an toàn!”.

                    Vì là trò chơi chiến tranh của trục Ma Quỷ, 9 chiếc máy bay Arc-Light B-52 nầy là oanh tạc cơ chiến lược cất cánh tại đảo Guam, và các chiếc tàu Liên Xô ngụy trang là tàu đánh cá đả ước lượng giờ B-52 sẽ ở trên mục tiêu là 10.00 giờ sáng, thế nên Tướng Vỏ Bam mới ra lệnh cho lính của Ông núp vào hang động trước đó, chớ còn B-52 bay trên 30.000 bộ có nghe tiếng động gì đâu mà xuống hầm. Vì thế nên trục Ma Quỷ mới gọi là chiến dịch “tiếng sấm rền” nghe cho vui tai chẳng có tiêu diệt ai cả, đây là điều lệ trò chơi gọi là ROE (Rule Of Engagement) Ðổi lại, lấy thí dụ thành phố Ðà Nẵng chẳng hạn, vào một buổi chiều nào đó khi chiếc Tàu Bệnh-viện của Ðức Helgolan bắt đầu rời bến cảng Ðà Nẵng chạy ra khơi thì y như rằng Phi trường Ðà Nẵng bị pháo kích; Ở trong phi trường thì sáng hôm đó có máy phóng thanh cho quân đội Mỹ ở trong Main Compound biết trước vào giờ ăn sáng, thường thường họ cho biết giờ nào, bao nhiêu trái đạn sẽ rơi vào phi trường. Ðến khi trước giờ pháo kích 5 phút thì còi báo động nơi Main Compound hụ lên để nhắc nhở mấy thằng Cu Mỹ nào chẳng may ngủ sớm thì thức dậy mà chui xuống hầm, không thì toi mạng ngay. Mục đích trò chơi nầy là để tiêu hủy các phi cơ tại chỗ vì chúng nhứt định sẽ không đem về Mỹ, nếu còn nhiều phi cơ trong việc chuyển tiếp qua Việt Nam Hoá chiến tranh phải tốn kém thêm, vì phải bổ xung quân số, tăng cường số đơn vị rất nhiều tốn kém. Cái đỉnh cao trí tuệ dự trù CSBV pháo tiêu hủy càng nhiều càng tốt để sự chuyển tiếp các đơn vị tân lập sẽ thu gọn khi Mỹ rút về nước. [Ðiều nầy làm tôi nhớ lại, khi VC pháo vào phi trường Ðà-Nẵng, Tôi phải di tản các trực thăng vào các bãi đậu an toàn, xa các trực thăng đang bị cháy, thì người cố vấn, Thiếu tá Waitt bảo tôi không cần di tản, cháy chiếc nào, Không kỵ Mỹ sẽ giao cho chiếc khác ngay lập tức để đủ cấp số phi đoàn]

                    Những điều trên đây phải khen vợ Lính Không quân chúng tôi, không am tường chính trị cũng như quân sự, nhưng cứ mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ, mấy bà nghe léo nhéo tiếng Mỹ gì đó ở Main Compound, thì các bà thản nhiên đợi đến 5 giờ chiều ra bến cảng Chợ Hàn, Ðà-Nẵng mà thấy chiến Tàu Bệnh viện biến dạng là các bà chạy một mạch về nhà kêu réo mấy ông chồng “Tối nay Việt Cộng pháo kích, Tôi ẵm mấy đứa nhỏ ra phố trốn… còn Ông muốn chết thì cứ ở lại đây mà đợi Pháo!” Quả thật đúng như vậy!

                    Tôi bay trở vào lại gặp ngay con đường đất đỏ thẳng bon trên thế đất bằng phẳng, nhưng cây to dầy dặc của một khu rừng già nguyên thủy chưa có người khai phá. Bay ôm sát bên trái con đường để Nhã và Duncan được dễ dàng xoay sở chụp những gì khả nghi hoặc khác lạ về hoạt động của địch. Con đường bắt đầu chui xuống thấp rồi mất dạng trong đám rừng quá dầy. Tôi không cách nào tìm ra nó, bay cao thêm một chút để tăng tầm quan sát, thêm mười phút nữa để mò tìm, nhưng hoàn toàn không thấy nó đâu mà chỉ thấy trùng trùng điệp điệp toàn rừng cây cao. Theo chiến thuật đột kích chụp ảnh chớp nhoáng không cho phép tôi trên nguyên tắc bay ngược lại tìm nó mà vẫn tiếp tục bay. Tôi lấy qua trái 30 độ bay trong vòng 3 phút, rồi lấy qua phải 60 độ bay trong vòng 3 phút, rồi trở lại 60 độ qua trái…cứ như thế mà bay cho đến khi nào gặp con đường thì bay theo nó, tiếp tục phi vụ, nhưng tuyệt đối không được bay lên cao vòng tròn tìm kiếm con đường. Những con mắt cú vọ lõ ra tìm kiếm, không bao lâu tất cả chúng tôi đã phát hiện được không những một con đường mà 3, 4 con đường, giống 4 con rắn đỏ đang bò trườn song song lượn mình trên đám cỏ. Tất cả chúng đều xuôi xuống về Ðông-nam, Tôi chúi mũi xuống sạt ngọn cây, mắt nhắm vào con đường lớn nhứt vì nó gần với chướng ngại vật thiêng liêng là đám rừng già. Lúc nầy Nhã và Duncan với con mắt kinh nghiệm nên không tránh khỏi thần kinh đang giao động. Họ cũng biết rằng không còn con đường nào khác, tòn ten chắc nịch trong sơi nịt an toàn mà bấm nút.

                    Ðang suy nghĩ mông lung thì nghe sau đuôi tiếng AK nổ dòn tan như rang bắp. Chúng tôi nghe cũng quen rồi nên ước lượng không đáng ngại vì quá xa, vả lại Họ giựt mình nên bắn hoảng đấy thôi làm sao trúng được; Con đường trước mặt sắp sửa băng qua con Suối lắp sắp nước. Nhìn kỹ con đường làm dấu bởi dây rừng song song hai bên nối qua tận bên kia bờ, để làm gì? Thỉnh thoảng mỗi đoạn còn cột một cái gì như miếng vải đỏ để làm điểm chuẩn, rải rác đều nhau qua tận bên kia bờ, dường như để làm dấu cho tài xế khi lái xe qua Suối không bị sụp lỗ. Ấy chết! bên kia có chòi tranh, có anh bộ đội vừa trong chòi bước xuống nấc thang. Còn một anh nữa thì đang lom khom dưới Suối; Họ không kịp ngó lên huống hồ gì mà kịp đi tìm súng để bắn. Chúng tôi lướt qua êm ái không nghe một phát súng chào mừng nào cả.

                    Trên Xa lộ Harriman, chúng tôi đã bay qua hơn 100 cây số từ Vĩ-tuyến 17 đến thung lũng Ashau, nơi đây SOG hành quân được thi hành một các bí mật để thám sát hoạt động mức độ thâm nhập của Hà nội. Thung lũng nằm dọc như một bức tường thành cách bở biển 60 cây số từ Phú Bài đổ dài lên gần Vĩ tuyến theo trục hướng Ðông-nam về Tây-bắc với chìều dài khoảng 40 cây số, song song biên giới Lào/Việt có thảm cỏ xanh bề ngang 3 cây số lau-sậy khắp nơi. Tuy rằng thung lũng bằng phẳng nhưng vô cùng nguy hiểm cho đủ loại phi cơ bay qua vùng nầy với bất cứ cao độ nào; Khi chúng tôi sẽ bay ngang đây, chúng tôi đều cảnh giác không biết bao nhiêu cặp mắt thù địch đang theo dỏi và quyết tâm bắn hạ. Dưới thềm cỏ của thung lũng nầy, hai phi trường Ma ALuối và AShau vừa phải bị hủy bỏ vì áp lực địch cũng như cùng số phận của Ba Căn Trại Ma trống vắng dật dờ dưới lớp mây Stratus phủ ngập lên đó vào những lúc tờ mờ sáng. Trong khi con đường lớn 548 được nối dài từ Lào bởi hương lộ 922. Bây giờ con đường lớn nầy được cải bổ với vận-tốc xe có thể lên đến 50 cây số một giờ là con đường chạy nhanh duy nhứt trên Xa lộ Harriman với một tốc lực đáng được khích lệ như trên.

                    Trên những điểm mà chúng tôi vừa bay qua vùng núi Tam-Bôi phía Tây bắc Ashau là những hang động núi đá bao la và cũng là thành trì kiên-cố chống đỡ B-52 một cách hiệu quả, như Tôi vừa mới nêu trên qua Toán thám sát SOG của Thượng sĩ Billy Waugh báo cáo.

                    10 ngày sau khi cuộc hành quân Lam Sơn 719 bắt đầu, là ngày 18/2/1971, Sáu Toán thám sát SOG được thả xuống dọc theo đường 548, trên những cao điểm để quan sát đồng thời điều động phi cơ oanh kích yểm trợ cho trục tiến quân của quân lực VNCH qua cuộc hành quân Lam Sơn 719 rút lui trở lại đường tiến sát về phía biên giới Việt Nam. Như khóa chận các đoàn quân tăng cường và tiếp liệu từ Căn cứ 559 chuyển qua. Nhưng việc đó đã không xẩy ra, vì TT Thiệu không muốn quân lực VNCH vướng vào cái bẫy của trục Ma-Quỷ!

                    Thoạt tiên, Tướng Abrams muốn chuyển một Lữ đoàn của Sư đoàn 101 Nhảy Dù xuống nơi đây với 4 Tiểu đoàn tinh nhuệ cũa Lữ đoàn. Nhưng giờ chót Tướng Haig cho lệnh hủy bỏ thay vì đem vào 3000 chiến binh của Sư đoàn 101 thì thay vào đó bởi một số ít người gồm 6 Toán thám sát để giảm bớt sự thiệt hại. Phía phản tình báo Mỹ qua Phạm Xuân Ẩn đã cho Tướng Giáp biết trước, nên Tướng Võ Bam liền thành lập 11 đại đội đặc trách về chống Biệt kích thám sát thâm nhập với một Toán Chó săn chuyên nghiệp tại thung lũng nầy và các Tiểu đoàn xung kích biệt lập sẵn sàng cơ động đến nơi để tiêu diệt tức khắc Toán thám sát.

                    Nhưng thung lũng Ashau vẫn được yên tịnh vì TT Thiệu dám ra lịnh cho Tướng Lãm thả một đơn vị nhỏ của Sư Ðoàn-1 xuống Tchepone, “đái một bãi rồi về”, ngay sau khi TT Thiệu phát hiện trên phóng đồ hành quân có tên bãi đáp với danh nhân minh tinh màn bạc như LOLO, (Lolobrigida) LIZ, (Liz Taylor) SOPHIA, (Sophialorren) HOPE, (Bob-Hope) cũng như trước đó vài tháng nữ tài tử Jane Fonda ăn nói bố láo với sinh viên Ðại học Michigan, như là một khổ nhục kế hay chiến tranh Siêu Tình Báo. Ðứng trên phương diện chiến lược của SCP, TT Thiệu cũng thừa hiểu Hoa Kỳ muốn bẻ gãy cái xương sống của Quân Lực VNCH qua tiêu diệt các Sư Ðoàn thiện chiến nhứt của VNCH như Sư Doàn Dù, TQLC, Sư Ðoàn-1 BB, Lử đoàn 1 thiết kỵ, Liên Ðoàn BÐQ…Các Tướng lãnh Mỹ như Westmoreland rất đau buồn vì SCP muốn cho quân lực VNCH không còn những sĩ quan ưu tú trung cấp để thay thế cho cuộc chiến.

                    Ðây cũng nằm trong ý đồ của trục Ma Quỷ biến vùng núi phía Tây dưới quyền kiểm soát của CSBV để năm sau 1972 chuyển qua mà SCP gọi là Easter Offensive, tấn công từ vùng núi (tây) ra vùng đông dân cư, (đông) Tam trùng Phạm Xuân Ẩn, điệp-viên CSBV được nhiều huy chương do sự báo cáo chính xác, nhưng lần nầy quá hấp tấp suy diễn cho cuộc cưỡng chiếm Miền Nam 1972 qua cuộc Tổng công kích, nổi dậy quá sớm, kết quả CSBV phải hy sinh 100.000 quân cho chiến dịch Hậu-vệ (Linebacker) Làm sao điệp viên Ẩn hiểu nổi thế chiến lược 20 thù địch (1975-1995) Eurasian trong Á-châu chiến lược. Cưỡng chiếm miền Nam 1972 thì quá sớm mà làm sao Ẩn hiểu nổi giữa chiến dịch oanh tạc Rolling Thunder và Linebacker khác nhau như thế nào.

                    Chúng tôi đang bay ngang một cánh rừng chồi, nằm bên trái con đường, “rừng chồi gì?” nương rẫy của lính BV đây mà! Những luống Khoai-lang lẫn lộn Khoai mì nhánh lá xum xê phủ lấp lên trên ấy, thỉnh thoảng lại có vài cây Bắp chêm-châm thêm trên luống, không ảnh làm sao phát hiện và giải đoán cho được! Chỉ có những chuyến bay kỳ quái trong “chiến-sử” Việt-Nam mới phát hiện được huyền thoại nầy. Giữa vườn bắp lại có hình nộm mặt đồ bộ-đội Cộng Sản. Chim rừng đói quá chúng đâu có sợ Cộng Sản là gì!

                    Con đường đất đỏ nầy sắp sửa băng qua một con Suối cạn, những hoạt cảnh khác hơn con Suối trước một chút. Không có dây rừng làm dấu chuẩn, Họ lấp đá lên cao khỏi mặt nước, mà chả có chòi gác; Chúng tôi lướt qua quá nhanh trong yên tịnh, Tôi nghĩ: Hồi nãy là “cầu chìm” bây giờ là “cầu nổi.” Nếu như trời mưa bão ngập nước, tài xế cứ việc chạy giữa những gút vải Ðỏ là an-toàn, Chúng tôi bắt đầu bay vào thung lũng Aluối chạy dài tới Ashau rồi tới Atep. Thung lũng là một thãm xanh đồng cỏ, chiều ngang 2 cây số, chiều dài 40 cây số, nhưng Tôi lại không dám bay giữa thung lũng dù bất cứ vận tốc hoặc bất cứ cao độ nào. Vì hai bên bìa đồi là lính BV đã thiết lập những ổ phòng không cố định chĩa về phía Ðông nơi các phi cơ thường hay xuất hiện từ hướng đó, Tôi căn cứ vào địa lý cũng như quan điểm quân sự thì nỗ lực phòng không của BV chỉ nhắm vào phi cơ chiến thuật oanh kích từ ngoài biển đi vào. Tuy không dữ dội như ở Căn Cứ Tiền phương, Sào-huyệt Ðoàn 559, nhưng đây là vị thế rất bất lợi cho trực thăng vì thiếu các chướng ngại vật thiêng liêng như vách núi, đồi cây, sườn núi, rừng già, khe tránh hướng gió tránh âm thanh, không có những cụm mây Stratus thấp lè tè che khuất tầm quan sát của địch.

                    Nói tóm lại hai cạnh đồi hai bên của thung lũng, lính BV chỉ có phối trí cố định súng phòng không ở bên sườn đồi phía Ðông để mở rộng tầm quan sát, làm sao đây, chúng tôi đang bay về hướng Nam đến đỉnh núi Atep thuộc vùng Tà-Bạt, nhưng bắt buộc phải bay phía Tây của dãy đồi trọc đe dọa, làm sao để tránh tối đa trong tầm đạn phòng không, cánh cửa chính lại nằm ở bên phãi mà phi vụ chính là bay chụp “không ảnh” thì làm sao? Tôi thét lớn trong nón bay: “Ê Mai! Mở hai cánh cửa sổ bên trái… mau lên, tạm thời bảo Duncan và Nhả qua bên đó chụp… không thể ở bên nầy chụp… phải đổi chiến thuật vì địa hình thế đất thay đổi đột ngột”

                    Phi cơ đang thoáng nhanh trên đồi trọc, bỗng thế đất tuột về hướng Tây quá gắt, không kịp phản ứng nhưng phải chúi mũi xuống thấp ôm sát sườn đồi. Gió đập mạnh phi cơ hụp xuống quá nhanh. Những cảnh hãi hùng đến kinh hoàng đang chui vào mắt chúng tôi. Có lúc bánh xe càng đáp như muốn đụng vào ổ phòng-không, những cột antène và lẫn lộn các cột bằng Tre với dây điện thoại nối dài chằng chịt trên đó. Tôi tin chắc cánh quạt đã dớt đi một vài cộc Tre cùng dây nhợ trên ấy không chừng? Ổ phòng không với hầm miệng Ếch màu đất còn đỏ tươi của đất núi đập vào ngay mắt chúng tôi, thậm chí còn thấy được anh bộ đội mặc áo thung chưa kịp nhìn lên; Hai nòng súng song song chĩa lên đen ngòm, nhưng tại sao chúng không ngụy trang bằng những sợi dây leo có lá như những chỗ khác mà chúng tôi đã bay qua? Tôi chắc rằng sẽ có những tấm hình chụp cách họng súng chưa đầy 20 thước, nhưng tiếc không có xạ thủ trên giàn súng. Rồi thì xa về phía đồi bên kia, giữa cảnh màu xanh của đồi trọc, rải rác biết bao nhiêu cái miệng Ếch màu đất đỏ đã trở nên màu bầm dập như gạch nung, nhiều đến nỗi chúng tôi phải rùng mình. Mong rằng các xạ thủ đừng nhìn thấy những người bạn không mời mà tới; Tôi đoán chắc rằng gió biển thổi vào sẽ che lấp âm thanh máy nổ của chúng tôi xuôi sau hướng gió.

                    Bên trái, dưới thung lũng có nhiều đường mòn cũng hướng trục về Ðông-nam, màu đất của sình lầy không phải màu đất đỏ mà chúng tôi thường bay song song, nhưng lại Tôi không dám bay sát gần đường mòn, vì không những hàng trăm mà hàng ngàn con mắt đang theo dõi, và sẽ bị bắn rụng ngay trên đó. “Can đảm nhưng phải có trí-tuệ” đó là câu nhựt tụng mà tôi thường đem ra dạy dỗ các phi công biệt kích; Bất chợt chúng tôi phát hiện hai chiếc xe Trâu, chiếc trước chiếc sau cách nhau vài thước vừa ló dạng sau đám rừng cỏ-lau cao hơn đầu người, làm sao biết chúng chở những gì trong đó vì đang ngụy trang đầy cành lá, đang đến cuối thung lũng Tà-Bạt. Thế đất cao dần, chỉ nhập lại thành một con đường lớn mà chiếc xe đầu đang vào. Tôi tăng tốc lực ôm sát đọt cây trở về bên trái con đường. Tôi báo cho Mai biết để thông báo cho Duncan , Nhả biết để trở lại vị thế bên cửa chính bên phải như thường lệ.

                    Con đường đang từ từ lên cao, Tôi sợ mất nên bám sát thật kỹ, lá rừng dầy đặc, cây cối mỗi lúc một cao dần; Con đường đất đỏ lúc ẩn lúc hiện chúng tôi càng dỏi mắt theo nó. Lại mất hút nữa rồi. Tôi bấn xúc-xích hỏi Ba người ngồi dưới phụ giúp tìm nó ra giùm tôi. Tôi nghe trong nón bay, Hảo nói “Nó bên trái nè” Tôi nhìn qua Hảo thấy hắn chỉ ngón tay trái xuống dưói cánh cửa, quẹo gắt qua trái chụp nó ngay không nó sẽ mất. Chúng tôi đang bay lướt trên ngọn cây cách phía Tây Bạch Mã chừng khoảng chục cây số. Con đường đang hiện rõ ràng dưới ánh nắng chang chói của một vùng trống trải. Càng trống trải càng có nguy cơ bị trúng đạn, Tôi bay thật thấp như muốn đụng vào ngọn cây, với vận tốc tối đa, dĩ nhiên trên phi cơ ai ai cũng trống ngực đập thình thịch. Ở nơi đây mọc ra chi chít nhiều đường quá, có người kéo xe thùng mà Cộng sản gọi là xe cải tiến cho oai, không biết chở những gì trong đó. Tôi cố bám theo bên trái con đường lớn vì nó nằm gần rừng hơn. Nơi đây khá trống trải qua một cánh rừng chồi nên hiện rõ lộ ra song song với con đường như có ống cống nổi, chắc là ống dẫn dầu? Ồ, ở trước mặt có một làng nhà tranh to nhỏ đủ loại; Hình như trang trại hoặc nhà kho, Hội trường, Nhà hát chiếu phim; Ô! Họ đang chơi đấu bóng chuyền, Tôi liền tăng thêm vận tốc mặc dù máy đã quay tối đa rồi. Họ ham vui nên không có chuyện gì xảy ra cho chúng tôi.

                    Chúng tôi đã qua vùng nguy hiểm, bây giờ Tôi bớt sức máy, tiếp tục ôm sát bên trái như ôm một nhân tình, chẳng lẽ suốt đoạn đường đời? Trước mặt lại xuất hiện nhiều ụ đất, cái gì nơi đó, Chẳng lẽ kho đạn lộ thiên! Trên đó lại có nhiều đường cắt ngang giống như cây thánh giá bao quanh trọng điểm một nhà tranh khá lớn, trên nóc lại che một tấm ni-lông màu xanh nước biển để làm gì!? Ðể che mưa vì sợ dột, hay để làm dấu cho chúng tôi khỏi bị bay lạc; Sao chỗ nầy vắng tanh như âm phủ trên trần gian vậy? Chúng đi đến chỗ chúng tôi vừa bay qua để xem đánh bóng chuyền!? Nơi đây Toán thám sát biệt kích người Thượng Yard và Mỹ đã khám phá ra vô số như là một trái núi hoả tiễn 122 và 107 Katyusha của Liên Xô để pháo vào phi trường Ðà Nẳng, nhưng Toán chỉ được lệnh chụp hình lãnh thưởng chớ không được đốt phá nổ. Trò chơi chiến tranh nầy thật vô cùng dã man! Biến những trái hoả tiễn nầy thành quà tặng hãi hùng cho người dân Ðà Nẵng. Chỉ tội nghiệp gây biết bao thảm trạng cho người dân hai Miền, tai-họa từ đâu đến! làm sao thế giới hiểu được đây là tấm bi thảm kịch “Eurasian Great Game”mà SCP Mỹ đã cho ra đời từ 1920 cho đến khi kết thúc cuộc chiến Việt Nam sau 50 năm (2025) khi mà những thế hệ dính líu hai cuộc chiến tranh Việt Nam không còn nữa thì sử gia mới có đủ bằng chứng để dẫn-giải. Lúc nầy là thời gian bức thiết nhứt, họ buộc phải kéo dài chiến tranh vì số quân Mỹ phải từ từ rút về theo đúng lịch trình để nâng đỡ các hãng hàng không không bị vỡ nợ và nó cũng là một quyền lợi cấp thiết nhứt cho chương trình CIP. Nhưng nuôi dưỡng đến chừng nào? bao lâu? Cũng tương đương thời gian người Pháp gây chiến; Trong khi quân đội Mỹ mở các cuộc hành quân “Lùng và diệt địch” thì CIA nuôi dưỡng tìm mọi cách che chở bảo vệ địch. Nhưng nhiệm vụ của họ cũng rất rõ rệt: Quân đội lo trau dồi học tập trận chiến, còn CIA chăm lo quyền lợi của Ðảng Công ty WIB [War Industries Board]

                    Tôi giao tay lái cho Hảo, cảm nhận nên ngồi thư giản thần kinh một lát.
                    “Hảo … Anh lái đi…bay cách nào mà Duncan và Nhả chụp được tổng quát” Theo kinh nghiệm dưới con mắt nhà nghề của Tôi, nơi nầy cũng chẳng có những gì để chụp… toàn rừng già, không có sự hoạt động của loài người, Hảo lại cẩn thận bay cao lên đôi chút, nhưng không sao. Nơi đây không có chỉ dấu một sự đe dọa nào, bỗng nhiên, một bầy chim Két xanh mỏ đỏ nghe tiếng động vọng tới, ù bốc bay lên từ những lùm cây cao rậm rạp, có tới cả trăm con. Không kịp né…vài chú đang bị cánh quạt chánh chém vào, máu me lông lá dính vào mặt kính của phòng lái; Bầy Két nầy mà xà xuống vườn Bắp thôi đừng hòng còn dính lại một hột.

                    “Hảo ơi … Anh mang tội sát sanh rồi!” Tôi thét lớn lên không ngoài mục đích để phổi tống ra những ám khí không trong lành mà nảy giờ đang ém nhẹm nơi đó, trong phòng lái qua khung cửa kính, Tôi lặng yên kéo hơi thuốc lá đầu ngày, đã được dành sẳn trên túi áo nơi cánh tay, đôi mắt mơ màng ôn lại những câu thỏ thẻ của người đẹp Ni căn dặn phải làm như kinh nhựt tụng của mỗi chuyến bay. Không khác gì phi công làm “tiền-phi” đọc check list, nhưng có bao giờ tôi nhớ đâu. Như tận hưởng những giây phút thoải mái hiếm hoi nầy, tiếng cánh quạt chém gió hòa vào âm thanh động cơ đều đều xen lẫn với tiếng gió ve vuốt nơi cửa kính, thân tàu, đã giúp tôi trong khoảng khắc tạm quên bao khổ ải hiểm nghèo trong đời phi công biệt kích, cũng như những sự chú tâm rình rập của người anh em thù nghịch dưới đây. Chả trách gì có lúc thế nhân cứ thi vị hóa lối sống của những người như chúng tôi; Những nhà văn, nhà thơ, những nàng kiều nữ mộng mơ thường tả “mây” là những gì thơ mộng, huyền ảo, nhưng nếu là phi công biệt kích như chúng tôi: “mây” là bức tường thành bảo vệ chúng tôi che cặp mắt người xạ thủ phòng không nhưng chúng tôi cũng dựa vào mây trong những đêm về sáng để chấp nhận những yếu tố bất ngờ. Nhưng có ai hiểu cho chúng tôi đã phải hy sinh mạng sống 100% vì thời tiết, trong khi chúng tôi chưa bao giờ bị thiệt hại do súng đạn của người anh em thù địch. Có chiếc H-34 đã chịu đựng đến 88 viên đạn AK mà vẫn lết về được nơi an-toàn và cứu sống cả một Toán thám sát. Sự thật mây đâu có phũ phàng mà là kinh hoàng cho chúng tôi! Nhưng đôi khi nó cũng cứu chúng tôi che những cặp mắt thù địch! Tuy nhiên cũng có dăm sự ganh tị nho nhỏ khá dễ thương của các cánh chim bạn, sao không được tuyển vào kinh qua lẽ sống ngang dọc của phi hành đoàn Thần Phong-83!

                    Chúng tôi đang bay ngang bên phải là Bến-Hiên, còn bên trái là Bến-Giang, xa về phía biên giới Lào Việt là tiền đồn Poste-6 chỉ cách biên giới vài cây số. Trước mặt là Aro và chệch qua trái là đồn Rô nó nằm ngay trên quốc lộ 14 do thực dân Pháp xây dựng từ khi chế độ thuộc địa được thành lập, nhằm mục đích khai thác các tài nguyên và khống chế các lực lượng nghĩa quân của phong trào Cần Vương ngày xưa. Ngày hôm nay chúng tôi đã có cơ duyên cũng như diễm phúc được bay ngang hai cái ‘nôi’ của Cách mạng Việt Nam . Cái đầu tiên ở phía Ðông Bắc ngọn núi Vôi Coroc, bên kia vĩ-tuyến 17 ngay đèo Lập-Cập, nơi mà Vua Hàm-Nghi mai phục chờ cơ hội lấy lại ngai vàng. Nơi đây cũng là địa điểm phân phối vàng và thuốc phiện từ Lào sang qua ngỏ Poste-6, Bến Giang, Thường Ðức, do những tay tứ chiến giang hồ trong giới trùm buôn lậu quốc tế.

                    Bây giờ, bắt đầu bay qua vùng đất đầy thử thách, đe dọa, Tôi liền chụp tay lái đâm đầu mau xuống thấp theo bên trái con đường mòn ngoằn ngoèo như con rắn Ðỏ-cam trườn qua đám cỏ Lau xanh. Thế đất bắt đầu cao dần báo hiệu sắp đến vùng núi cao hiểm trở; Những ngọn đồi thoai- thoải dợn sóng nằm ngang với những luống đất trồng những cây khoai mì, lá phủ xum xuê, lác đác vài cây Bắp vươn lên èo-uột không đủ cho loài Két liên-hoan vào buổi giao mùa. Ở giữa hai luống còn dặm thêm vài bụi Cải bẹ xanh, đứng sừng sững ở giữa lại một hình nộm với áo bộ đội để hù dọa bầy Két.

                    Kể ra thì người anh em cũng có sáng kiến ngụy trang khá khéo léo vì trinh-sát cơ U-2 và RF-101 làm sao giải đoán không ảnh với hình tiệp với lá rừng nhưng duy không thể che cặp mắt soi mói của Duncan và Nhã. Nơi đây khá nhiều sinh hoạt của lính BV. Cây cầu Khỉ bắt ngang con Suối nhỏ với lối mòn hiện rõ nét biết bao sự qua lại trên đó, cỏ rạp rộng ngả qua hai bên lối mòn, bên kia Suối nhiều mái lá còn mới toanh mọc dọc theo dòng Suối với khoảng cách khá đều. Họ cũng rất tinh khôn không dám đụng đến phần đất của đồng bào Thượng. Rất dễ hiểu vì đồng bào Thượng thường ở chung với nhau trong một Sóc-Làng, nhà sàn cao hơn mặt đất chừng hai thước, nằm trên một chiều hình chữ I. Hoa màu người Thượng chỉ cần trồng một thứ như Bắp, Khoai. Họ không có trồng tạp nhạp để ngụy trang như lính BV, có nhiều trảng đất bỏ hoang vì đất hết mầu mỡ, nhưng họ sẽ trở lại trồng trong vài năm sau khi đất tái hấp thụ màu mỡ thiên nhiên, vì không có phân trồng nên họ phát rẫy, đợi bụi lá vàng khô lâu ngày, rồi lúc đó họ mới đốt để lấy phân tro-muối. Tro tàn lá mục là lớp phân duy nhứt rất cần thiết cho sự sinh tồn đối với họ.

                    Bắt đầu lại bay vào vùng nguy hiểm, trước mặt là cây rừng bị phá để khai hoang, hai bên đường nhà tranh mọc rải rác xen kẽ như vùng kinh tế mới, lại có xe trâu kéo, xe hủ-lô ống khói chần-dần như ống khói tàu, lại có vài chiếc xe Molotova dường như đang ngừng lại. Con đường đất đỏ bỗng đổi qua màu đất sình, nhưng trở nên rộng rãi hơn, dường như đang băng qua vùng lầy lội. “À đây rồi” Bọn chúng chặt thân cây lót ngang đường nằm lúp xúp dưới lớp sình lầy và bên kia lưng chừng đồi xuất hiện nhiều chiếc Molotova đang từ từ lăn bánh. Vài chiếc đi đầu đang mất hút dưới những tàn cây rậm rạp; Chúng tôi bay vèo qua nhanh quá, nên chẳng con ma nào chịu nhìn lên dung nhan tái mét của Nhã và Duncan đang tòn-ten nơi cửa bấm nút liên tục. Nếu lúc nầy chẳng may hết phim hay máy ảnh trục trặc thì thật là quá uổng, dịp may không thể có hai lần.

                    Trước mặt là vùng Mật khu mà ngày xưa ba chiếc H-34 ngụy trang không bảng số đã đáp ba đầu nguồn con Suối. Ba Toán xung kích (Killer Team) mưu toan bắt sống Tướng Nguyển Ðôn Tư lệnh vùng Khâm Ðức nầy; Tôi không nhớ rõ vào năm nào nhưng chắc chắn là thời Ðệ-I Cộng Hoà của TT Diệm và Trung tướng Trần Văn Ðôn, Bộ tư lệnh đóng tại Huế. “Làm sao bắt sống một cách dễ dàng Tướng BV Nguyển Ðôn” Nhưng Ðại úy Richardson, sĩ quan hành quân Delta Force bắt chúng tôi phải thi hành. Chắc cũng chỉ là thực tập như trực thăng Sikorsky CH-53 cứu tù binh Mỹ ở Sơn Tây 1970 – Tôi còn nhớ rõ, Ðại úy Richardson bảo chúng tôi, ba chiếc cất cánh khi mặt trời chưa mọc, mỗi chiếc H-34 chở một Toán xung kích 10 người, trang bị tiểu liên xung kích của Tiệp Khắc và phóng lựu, đột kích chớp nhoáng chỉ trong vòng 5 phút ngay khi có tia nắng đầu tiên của mặt trời ló dạng, rồi rút về ngay. Khi đáp xuống sườn đồi thoai thoải nghiêng trái, Tôi cũng chẳng cần vội vã cất cánh bay vòng vòng. Nhìn xuống bánh đáp càng bên phải, Tôi phát hiện ra một ngôi mộ còn mới không hương khói, xung quanh trồng đủ loại hoa màu làm tôi bỡ ngỡ ngạc nhiên trong tầm mắt.


                    (xem tiếp phần-3)
                    Last edited by chieutim; 05-12-2013, 02:48 PM.

                    Comment

                    • vinhtruong
                      Super Member
                      • Jun 2010
                      • 1924

                      #25
                      Xem tiếp phần-3

                      Bảy phút sau, các Toán đều trở về trực thăng, chúng tôi bay trở về hậu cứ. Chả thấy Toán nào báo cáo bắt được Tướng Nguyễn Ðôn mà chỉ nghe Cơ-phi Vàng nói: “Chỉ tịch thu được một bộ đồ Tướng, một cái quần Jean và một mớ bao cao-su ngừa thai. “khó tin… ở trong rừng mà Tướng CSBV cũng ‘en-doi’ nữa sao?”

                      Ðồn Chalang cách đây chừng hơn một cây số đường chim bay, hồi trước rừng già trùng điệp bây giờ quá quang đãng, đồn nằm ngay ngả ba con Suối nhỏ. Những khi trần mây chụp xuống thấp, phủ kín thung lũng, các vận tải cơ C-47 thả dù tiếp tế bó tay. Lại phải nhờ vào các chiếc quan sát cơ L-19 thả gạo như khu trục thả Bom, báo hại các quan sát viên nào yếu sức phải ói mửa tùm lum, vì không có cách nào để thả cho được chính xác, bằng cách chúi mũi phi cơ với gốc độ đáng kể, nhưng một bao như vậy chỉ được 8 kilô gạo để sống lay lất qua ngày chờ trời tốt lại. Xa hơn nữa là tiền đồn Dak-Prau, tiền đồn cao nhứt nằm trên chóp núi gần 4000 bộ, chệch về phía Tây nam một tí là ngọn núi cao nhứt của miền Nam Việt Nam, đó là đỉnh Ngọc Lĩnh cao 6200 bộ. Nơi đây biết bao nhiều huyền thoại xảy ra có lúc được xem như là “Tam Giác Quỷ” của miền Nam hồi đó, không thua gì “Tam Giác Quỷ” của Ðại Tây dương, nhiều phi cơ Việt Nam và Hoa Kỳ đã rớt rải rác nơi đó như những cuộc lễ tế thần nhưng không chiếc nào bị phòng không của địch hạ.
                      “Hảo, Anh lái… mình về Quảng Ngãi ăn cơm…đói rồi”
                      Tôi đang lim-nhim đôi mắt trong giấc ngủ chập chờn cùng âm thanh đều đều thoảng mát

                      Thời điểm 1979, Trung Quốc đem quân đánh Việt Nam ở miền Bắc với ý định của họ là đỡ đòn cho Pol Pot của Campuchia, nhưng thực tề do tình báo Mỹ là để cho TQ có cơ hội thí nghiệm sự hiệu quả vũ khí do TQ làm ra để đấu với vũ khí Liên Xô, theo sự gật đầu trên trục lộ trình sách lược của Mỹ Eurasia, nhưng trong phạm vi sáu tỉnh biên giới mà thôi, trong khi đó B-52 trang bị Bom nguyên tử bay ứng trực để ngăn ngừa TQ làm ẩu. Trong khi hỏa tiễn SAM tối tân bậc nhứt của LX đang bố trí phòng thủ Hà Nội dĩ nhiên là TQ không dám làm phiền Hoa Kỳ để hưởng được viện trợ khoa học kỹ thuật, trở thành siêu cường hạng nhì, tước đoạt từ tay LX như Permanent Government đã hứa Lèo với Mao 1972, và lập-lờ tặng Hoàng Sa như là món quà giao tiếp, nên khi quân BV vào hết trong nam, bỏ trống miền Bắc, nhưng TQ không được lấy danh nghĩa đem quân TQ vào để giữ sân nhà giùm cho Hà Nội theo như sự cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ.

                      Đánh sáu tỉnh miền bắc được gọi là dạy cho VN một bài học, cũng một cách nữa là họ trả thù cho Pol Pot. Nhưng Mỹ chỉ cho phép làm VN chảy máu tay chớ không mất mạng. Đồng thời lúc bấy giờ ông Đặng Tiểu Bình cũng muốn quan hệ với Mỹ cho nên đánh VN để cho Mỹ thấy rằng là giữa Trung Quốc và Việt Nam không phải là đồng minh, không phải là cùng nhau Cộng sản nữa. (Nhưng sự thật TQ và VN không phải là Cộng Sản mà chế độ Mafia toàn trị theo sự thú nhận trong sách “The bushes” 2004….)

                      Đặng Tiểu Bình qua Mỹ xin chỉ thị để phát triển quan hệ với Trung Quốc theo ý của Mỹ, vì Trung Quốc lúc bấy giờ muốn phát triển quan hệ với Mỹ. Đánh Việt Nam là một món quà tặng cho Mỹ bề ngoài là theo Mỹ đánh đàn em của LX, đánh đàn em của kẻ thù là bạn của Mỹ (Nhưng sự thật W A Harriman đang áp dụng Tam Quốc Chí “tân-thời” trên thế giới) Nhưng sự thật nằm trong sách lược Mỹ/Xô nhân cơ hội gài Mìn các hải cảng Bắc Việt 1972, phi cơ hạng nặng AN-12 của LX chở các hoả tiễn SAM đời mới nhứt thời đó để phòng thủ Hà Nội cho ngày mà Mỹ gọi là TQ có cơ hội thí nghiệm hiệu quả vũ khí do TQ làm ra trên 6 Tỉnh giáp ranh TQ (dĩ nhiên là vũ khí thua xa LX nhưng trái lại CIA cũng muốn hiểu qua khoa học kỹ thuật của TQ đã đi đến đâu?)

                      Gần đây có thông tin nói rằng 1979, hồi đó chiến dịch của Trung Quốc không chỉ là để dạy cho Việt Nam một bài học ở mấy tỉnh biên giới mà thật ra là họ đã có kế hoạch vào cả nước Việt Nam, nhưng rất sợ lời cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ và TQ cũng ước mong trở thành cường quốc hạng-2 với sự giúp đỡ khoa học của Mỹ. Dĩ nhiên Thầy dạy võ cho học trò thì phải giữ những đòn bí ẩn để phòng khi học trò phản trắc chớ? Thế là nhân cơ hội nầy nhân viên tình báo CIA thâm nhập một cách tinh vi vào TQ. Ta thử nghiệm các đại sứ Mỹ tại VN cũng như Ông Tổng Lãnh Sự người Mỹ gốc Việt, có phải những vị nầy trước khi qua VN lãnh chức vụ quan trọng phải làm việc một thời gian cần và đủ về am-tường nội tình TQ trước khi được bổ nhiệm chức vụ quan trọng tại VN?

                      Nhưng mà đánh biên giới Việt Nam thì lúc bấy giờ đường sá biên giới giữa TQ và VN khó khăn lắm, chưa có mở được đường sá ở các tỉnh biên giới, toàn là đường hẹp, đường núi; Cho nên Trung Quốc hành quân rất khó. Mà Trung Quốc tiếp tế cũng khó, tải thương cũng khó, vì thiếu kinh nghiệm làm sao bằng VN, cho nên khả năng Trung Quốc cũng chỉ đánh VN ở mấy tỉnh biên giới chứ không đánh sâu xuống được nữa đâu.

                      Ngày nay, không ai xác định là bao nhiêu nhưng mà vì đánh nhau trong hoàn cảnh rừng núi của bắc VN như thế, đường sá hẹp hòi như thế cho nên Trung Quốc thương vong cũng nhiều, vì Mỹ khi hấp tấp tháo chạy lỡ dại bỏ lại vài ngòi nổ (war-head) của Bom CBU-55? Mà xui cho TQ Hà Nội lượm được! Cho nên TQ phải rút thôi vì bị thiệt hại quá nặng, kể từ lúc đó, TQ chuẩn bị sau 15 ngày họ phải rút theo đúng lời cảnh báo của Mỹ.

                      Với tinh thần Việt Nam cùng Trung Quốc bình thường hóa quan hệ như hiện nay thì liệu khả năng xảy ra chiến sự trong tương lai, theo như chúng ta ước đoán, có nhiều biến cố xảy ra? Trong thế kỷ 21, W A Harriman sẽ không thể để xảy ra vì mọi việc sẽ phải được giải quyết trên bàn mổ LHQ, như chuyện Biển Đông, TQ phải triệt để nghiêm chỉnh nghe lời cảnh báo của Mỹ COC để tuân thủ luật quốc tế.

                      Nhưng lỡ đã có chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay Việt Nam có thua trước rồi cũng tìm cách thắng lại sau. Về phía VN chúng ta chẳng nghĩ đánh Trung Quốc, nhưng về phía Trung Quốc làm sao mà biết được trong tư tưởng, trong ý đồ của họ là muốn bành trướng xuống phía nam mà VN là cửa ngỏ. Nhưng có một điều rằng, trong tình hình hiện nay thì Trung Quốc cũng không dễ dàng gây một cuộc chiến tranh lớn đâu, bởi vì Trung Quốc họ còn phải thể hiện mặt đẹp với thế giới nữa. Cho nên là cũng khó. Hai nữa là họ cũng phải dè chừng dư luận thế giới, chứ trong thời đại thế kỷ 21 hiện nay đâu phải dễ dàng phát động chiến tranh! Mà phát động một cuộc chiến tranh thì dù Trung Quốc lớn, VN nhỏ, nhưng đã là chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay, VN vẫn giữ được mảnh đất cha ông để lại theo lịch sử chứng minh.

                      Cách nhìn cuộc chiến 1979 từ hai phía. Tuy nhiên, văn bản này còn cho biết thêm về vai trò quan trọng của ông Đặng Tiểu Bình trong quyết định đánh Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế có cả quan hệ với Washington và Moscow; Vừa qua BBC Tiếng Việt khai thác thêm các góc độ trong tài liệu và so sánh với một số đánh giá đã nêu từ trước về cuộc chiến 1979, sự kiện vẫn chưa được thảo luận công khai ở cả Việt Nam và Trung Quốc, nhưng lại nằm chình ình trong lịch trình Eurasia là TQ được Mỹ cho phép có cơ hội thí nghiệm vũ khí do mình làm ra để tự lượng giá tầm cỡ

                      'Hoa Kỳ không tha-thiết tán thành' - Đặng Tiểu Bình được trích lời nói rằng ông đã tuyên bố dạy cho Việt Nam 'một bài học' trước đó, khi thăm Hoa Kỳ, mở đầu chiến lược liên kết với chính quyền TT Carter, nhằm chống lại Moscow và các đồng minh, trong đó có Hà Nội để nịnh Hoa Kỳ vì TQ là kẻ thù của kẻ thù là bạn với Mỹ. Ông Đặng dã-vờ nói với các tướng lĩnh Quân Giải phóng rằng Hoa Kỳ không tán thành việc Bắc Kinh trừng phạt Hà Nội nhưng cũng giúp một ít tin tình báo, sự thật Hoa Kỳ đã thẳng thắng nghiêm cấm Bắc Kinh tấn công vào Hà Nội, vì quân lực Hoa Kỳ đã trực báo động nếu TQ làm ẩu thì hoa lục sẽ bị bình địa ngay tức khắc vì đã đi chệch lộ đồ chiến lược Eurasia của Mỹ.

                      Cuộc đưa quân sang Campuchia của Việt Nam nó nằm trong kế hoạch renewed Aid to Russia 1941-1946 Plan (1973 Paris Peace Talk) với 700 triệu tấn vũ khí hiện đại của Liên Xô cho Hà-Nội với ba mục tiêu (1) cưỡng chiếm miền nam, (2) tấn công Cambodia, (3) phòng thủ Hà Nội bằng hệ thống phòng không tối tân nhứt hồi thời đó. Ngay sau khi tướng LX qua Hànội đầu tháng March 1972 gọi là Inventory, ngày 23/12/1972, (Hanoi bombardment) tám chiếc AN-12 chở vào Hà Nội 80 tấn hệ thống điện-tử phòng không SAM tối tân nhứt thời đó.

                      Ngày 8/1/1975 Lê Đức Thọ được sự bảo đảm của Kissinger là chiếm miền nam, có mặt người cùng vị trí với ông về phía Liên Xô, Nicolai Firyunbin, và Tướng LX, JCS V, A Jukilov ngang hàng với tướng Al Haig phía Mỹ để bảo đảm sự giao hàng sớm nhứt tại hải cảng Hải Phòng. Khi đó cũng là chủ đề đáng được nhắc lại vì phía TQ cho rằng cuộc chiến 1979 chủ yếu để 'dạy cho VN một bài học' vì 'xâm lăng Campuchia', trước khi đó là đồng minh, và hiện nay cũng đang gần lại với Trung Quốc trong chiến lược Đông Nam Á của Bắc Kinh theo ý đồ mong ước của TQ, nhưng sự thật VN buộc phải đu dây qua lại LX rồi TQ qua sự xúi bẩy của Mỹ bằng công cụ tam trùng Nguyễn Chí Vịnh sao theo đúng diển tiến sách lược Eurasia.

                      Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy đăng tại một số trang mạng cá nhân ở Việt Nam như Nguyễn Xuân Điền. blog nhân kỷ niệm 32 năm Chiến tranh Biên giới: - Đặng Tiểu Bình tiết lộ: "Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới, (có ý cảnh báo TQ phải kềm chế không được làm lớn chuyện vì biên giới Trung Xô) hù rằng chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số". Có vẻ như chi tiết này khiến TQ tiến hành cuộc chiến họ gọi là 'Đối Việt tự vệ phản kích chiến' nhanh chóng và sau khi tàn phá sáu tỉnh biên giới của VN thì rút quân về ngay: "Ba phần tư binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài."

                      Trong bài nói chuyện đó, ông Đặng Tiểu Bình cũng gọi Việt Nam là 'Cuba Phương Đông', hàm ý nước này là 'tay sai Liên Xô', cho vừa lòng Mỹ và gọi các lãnh đạo Hà Nội là 'điên cuồng'. Với giới trí thức bên ngoài, kể cả ở Phương Tây, cuộc chiến ngắn ngày nhưng dữ dội là một cột mốc quan trọng để đánh giá Trung Quốc trong quá trình tìm con đường mới, thoát khỏi thời kỳ tự cô lập của Mao Trạch Đông, và xác định vị trí trên trường quốc tế, chỉ đánh với một nước nhỏ như VN mà TQ đã bị thiệt hại đáng kể (sự thật tình báo Mỹ đã nghiên cứu trận mạt rừng núi hiễm trổ khó chuyễn quân rầm rộ nên sơ ý bỏ quên vài đầu nổ (warhead CBU-55) cho VN tự vệ, và vì quyền lợi America first bằng mọi giá Mỹ sẽ che chở VN không bị ngả vào bàn tay TQ hay LX).


                      Trong một nghiên cứu hồi 2010, tác giả Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cho rằng ông Đặng có vai trò cá nhân nổi bật trong quyết định đánh Việt Nam nhưng tuyệt đối nghe lời Mỹ là đúng nghĩa dạy cho VN một bài học không đi xa hơn, hay nói cách ngầm ý của Mỹ là lấy cơ hội nầy mà trắc nghiệm vũ khí chính do TQ làm ra. Theo ông, nhìn từ quan điểm của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có ba yếu tố khiến bối cảnh xảy ra cuộc chiến trở nên khả thi; Đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp định 1978; vai trò thống trị của Việt Nam ở Đông Dương và quan hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

                      Còn về nội bộ, theo TS Trương, chính việc thăng chức của ông Đặng Tiểu Bình, từ vị trí phó thủ tướng khi Mao chết năm 1976, lên chức vụ cao nhất, nắm Quân uỷ Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết định cho việc đánh VN do CIA ngầm yễm trợ ngôi vị cho Đặng. Việc làm nầy CIA lập lại hồi 1959, trục ma quỹ CIA/KGB triệu hồi Lê Duẩn từ miền nam về làm Quyền TBT và Lê Dức Thọ vào nam lãnh đạo MTGPMN khởi nguyên triều đại Mafia toàn trị (không phải Cộng Sản) Lê Đức Thọ trị vì cho đến khi Thọ chết …

                      Trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy, ông Đặng tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác thường, dĩ nhiên hai ca-sĩ [Thọ/Đặng] có thương yêu nhau bao giờ? Nhưng Mỹ không cho phép Đặng làm quá đáng, trong phát biểu ngày 16/3/1979, ông được trích lời nói: "Đồng thời khi kinh doanh chuyện chống đối Trung Quốc, Việt Nam đã đánh nhau nhiều năm, ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng, có công sự đã xây bẩy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế." Tạo ra tình trạng nầy, Mỹ như một ngư ông ngồi rung đùi hưởng lợi.

                      Một số nhà quan sát đã từng cho rằng ông Đặng phụ trách chuyện viện trợ của TQ cho Hà Nội thời chiến tranh Mỹ-Việt nên cảm thấy bị 'phản bội' bởi thái độ quay sang Liên Xô của nước Việt Nam cộng sản sau chiến tranh. Vì thế, quyết định trừng phạt của ông được nói rõ: "Nó cũng nghĩ là cậy hiệp ước này kéo Liên Xô xuống nuớc, cũng cậy có hiệp ước này cho rằng chúng ta không dám áp dụng trừng phạt qui mô tương đối lớn. Ngay trước khi chúng ta ra quân mấy ngày nó còn dự đoán rằng chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn. Chúng ta cương quyết là đã tỉnh táo ước đoán phản ứng của phía bắc lớn đến đâu".

                      Các nguồn tin của phía Việt Nam, chẳng hạn như lời kể của cựu đại tá Bùi Tín, cho rằng mâu thuẫn giữa ông Lê Duẩn và Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình lên cao trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979, điều dễ hiếu là Lê Đức Thọ nghe lời Mỹ từ chấm đến phết để bảo vệ ngôi vị thủ lãnh đảng Mafia toàn trị của ông cho đến cuối đời vì sự bảo vệ ngôi vị nầy do PG Mỹ. Một số giới tại Việt Nam tin rằng ban lãnh đạo Bắc Kinh không thực sự muốn hai miền Nam Bắc VN thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hà Nội. Bằng chứng suốt Hoà đàm Paris, TQ luôn luôn hậu thuẫn Bà Nguyễn Thị Bình; Ngoài ra, trong dư luận Việt Nam có niềm tin rằng Trung Quốc chỉ lợi dụng tình thế để kiếm lợi về địa chính trị và cả lãnh thổ, với bằng chứng là vụ đưa quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 từ tay Việt Nam Cộng Hòa nhưng mà lại bị xập bẫy của Mỹ trong chiến dịch di tản chiến thuật, lùi một bước tiến lên ba bước mà Mỹ cho rằng: “Overhauling the damage control and roll-back 2010-2020”

                      Hệ quả lâu dài: - Về vai trò của Mỹ, các bình luận cho tới nay phần nhiều đồng ý rằng chiến lược lôi kéo Trung Quốc để bao vây Liên Xô của cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski là yếu tố cơ bản để Washington liên kết với Bắc Kinh trong vấn đề Đông Dương sau nầy vào diển tiến hoà bình trong phần mềm. Điều này cũng được chính giáo sư Brzezinski, người gần đây lại một lần nữa kêu gọi chính quyền Obama xây đắp trở lại quan hệ với Trung Quốc, xác nhận trong nhiều bài viết và sách của ông để bảo vệ cho một trật tự thế giới mới. Đổi lại, Trung Quốc được mở lối vào lại với Phương Tây để hiện đại hóa nền kinh tế nhờ các thí điểm về đầu tư tư bản và công nghệ; Về phía Hoa Kỳ, chiến lược Brzezinski tạo liên minh không tên với Trung Quốc khiến Washington phá vỡ khối xã hội chủ nghĩa châu Á mà không phải tham chiến theo như Eurasian Great Game là mọi xung đột đều phải nghiêm chỉnh giải quyết tại bàn mổ LHQ.

                      Tóm lại, chiến tranh Biên giới 1979 và cuộc chiến Việt Nam - Campuchia đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế này, xung đột quân sự nổ ra giữa các nước cùng ý thức hệ là do tài ba ưu-việt của siêu chiến lược gia W A Harriman (1891-1986)

                      Kế hoạch Bốn Hiện Đại hóa của Trung Quốc cuối thập niên 1970, đầu 1980 có cả phần về quân sự. Và dù thiệt hại nặng trong cuộc chiến biên giới, Quân Giải phóng Trung Quốc đã rút kinh nghiệm trong việc tổ chức và tiến đến hiện đại hóa; Việc tăng cường quân bị theo mô hình dùng Không quân, Hải quân và hoả tiển nhiều hơn bộ binh, lực lượng chịu nhiều thiệt hại năm 1979, khiến Trung Quốc ngày nay ước ao trở thành một cường quốc khu vực với tham vọng toàn cầu nhưng khó mà qua mặt Mỹ hay LX. Còn với Việt Nam, ngoài thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xung đột vẫn kéo dài, gây chảy máu nền kinh tế; Cuộc chiến và việc đóng quân lại Campuchia cũng khiến Hà Nội bị cô lập nhiều năm về chính trị và kinh tế đối với nước ngoài. Tới khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc 10 năm sau, cùng thời gian cách mạng dân chủ rung chuyển Đông Âu, ban lãnh đạo Việt Nam đã quay trở lại làm thân với Bắc Kinh qua khuyến khích ngầm của Mỹ, cuộc gặp Thành Đô, tạo ra một loạt hệ luỵ mới cho quan hệ song phương tới ngày nay, nhưng đối với Mỹ là thời gian dài cần thiết cho sách lược Mỹ ở Á-Châu trước 2010 (roll-back) rồi sẽ ám hại TQ lại làm cho TQ phải bị nội thương kể cả ngủ tạng lục phủ. Vì Biển Đông mỗi buổi sáng chúng ta không bao giờ thấy hai mặt trời cùng mọc một lượt? Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển dần dần được giải quyết nhưng hòa bình qua đường biên giới, giao thương tăng nhanh với phần lợi nghiêng về Trung Quốc, vẫn chưa thực sự đem lại hòa giải giữa hai nước Việt Trung.

                      Việc các trang mạng cá nhân và blog ở Việt Nam nhắc lại nhiều về cuộc chiến 1979 cho thấy giới trí thức e ngại Trung Quốc vẫn muốn lên tiếng, trong khi truyền thông chính thức không đả động gì đến chủ đề lịch sử này, tại vì sao? Việt Nam sẽ hoàn toàn vào quỹ-đạo của Mỹ qua cái gọi là thảo luận tập trận Việt Mỹ mà bề ngoài Nguyễn Chí Vịnh ởm ờ đu dây TQ/Mỹ, nhưng bây giờ là thời điểm chín muồi (decent interval 2010), CIA ra mặt cho tướng Vịnh công khai tuyên bố chính thức theo Mỹ!

                      Khi TT Johnson (bị áp lực của siêu chinh phủ, W A Harriman) quyết định ném bom miền Bắc VN là đã mắc một sai lầm không thể bào chữa! Nó đã khuyến khích những người trung lập ở miền Nam và thế giới hướng tình cảm của mình về phía Hà-Nội, và, cũng chính nó đã kích động lòng yêu nước và căm thù kẻ xâm lược càng thêm sâu sắc; Hình như hiện nay CP Mỹ vẫn chưa thật sự rút ra bài học từ VN trong các cuộc chiến bên ngoài nước Mỹ? Không có mục đích nào (dù là tốt đẹp) có thể bào chữa cho những hành động như thế! Tất cả những câu ghi trên đều tóm gọn trong ống kính của siêu chính phủ Mỹ cho giải đáp “axiom-1” của kinh tế gia người Anh Malthus, “tàn phá khủng khiếp rồi xây dựng lại” theo lời nói mà CIA đả có lần móm cho cụ Hồ, “đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây lại 10 lần đẹp hơn” Quả thật ngày nay ai đã gián tiếp xây dựng VN 30 lần lần hơn cụ Hồ đã nói? (người bán rau và người đi lượm rác vẫn có Cell phone như ai, có thể hơn Mỹ?)

                      Thông thường ai cũng cho rằng, vì Hoa Kỳ có chiến lược sai lầm (đây là cố tình sai lầm theo đúng trục lộ trình sách lược Eurasia, rất tinh-vi kín đáo cũa Permanent Government) cho nên mới có 2 triệu người Việt được là công dân Hoa Kỳ. Hàng năm gửi về 7, 8 tỷ dollar để nuôi sống chế độ trong nước, tai sao Cuba lại cấm triệt để … làm sao bạn hiểu nổi? Nếu Hoa Kỳ không sai lầm thì cộng sản VN chết từ lâu rồi, nhưng phải nói cho đúng Mafia VN chớ không phải CS, là công cụ của Mỹ mới đúng, (từ trước tới giờ những bài tôi viết đều dùng đúng nghĩa Mafia VN) Nhiệm vụ ngắn gọn ăn cướp vơ vét cho nhiều rồi đương hhiên gởi vào các trương mục; Còn phía Mỹ đợi đến thời điểm (decent interval) ngày N tháng T thì có cuộc lật đổ, lúc nầy Mỹ lấy tiền đôla Xanh nơi các trương mục và trả lại cho dân sứ sở tại bằng hàng tiêu dùng sắp expired, thế P.G là ai? Là Saigon, là Hànội, là MTGPMN (vì nơi nào cũng có CIA sau lưng) đi xa hơn nữa là LX,TQ, Ấn Ðộ, Nhựt ... phần Nóng, còn phần mềm hậu chiến là Mafia VN, người Việt Hải ngoại, là các hội đoàn, là Asia, Paris by Night ... là Lý Tống là Việt Tân ... (vì không am tường sự việc nên chụp mũ loạn xạ, kết án tùm lum làm cho Permanent Government cười mũi cho một sự ngu ngốc trong nhận thức, nhưng P.G mới đúng là đỉnh cao trí tuệ với mưu chước thần sầu quỷ khốc vì họ có thế chiến lược Eurasia 100 năm trồng người ... Gorbachoy, Putin, Ðặng Tiểu Bình, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Vịnh ... Harriman đã (1968 tại Paris) khuyên Lê Ðức Thọ nên nuôi dưỡng đứa con nghĩa-tử 11 tuổi Nguyễn Chí Vịnh, vì cha nó vừa bị B-52 trải thảm chết tại một bệnh xá lớn tam biên) các băng nhạc Paris by night, Asian …trong đó có thành phần ẩn và hiện. Nhưng tất cả đều do một trung-ương Mỹ đạo diễn theo xu-hướng chú trọng vào thời-điểm decent interval

                      Thời gian khá lâu không thấy có cờ Vàng, bây giờ đến thời điểm Cờ Vàng rợp trời nhiều tiểu bang công nhận, vì đã đến decent interval. Công cụ gián tiếp cũa Mỹ là Hànội qua HCM, Võ Nguyên Giáp, Lê Ðức Thọ; MTGPMN, có Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hữu Thọ. Hậu chiến, phần mềm thì có Nguyễn Tấn Dũng, Nguyển Chí Vịnh. Tất cả đào kép nầy đều là diễn viên của màn kịch do Permanent Government dàn dựng qua CIA tuyển chọn nhân lực và bảo vệ
                      “Có khổ chỉ là khổ dân đen VN mà thôi” Ðúng vậy P.G mới lấy Ðôla Xanh của nhóm Mafia ăn cắp trả lại cho dân VN bằng hàng tiêu dùng sắp phế thải; Vì theo sách lược Harriman thế kỷ 20 bạo hành, thế kỷ 21 thương lượng trên bàn mổ LHQ, cho nên bắt đầu thế kỷ 21 sẽ thấy nhan-nhãn nổi lên biểu tình đòi Dân quyền Dân chủ để Mỹ lấy lại của cải của những lãnh tụ ăn cướp của dân rồi sẽ trả lại cho dân, lấy green dollar bằng bửu-bối dân quyền dân chủ có vẻ cao thượng hơn mà P.G tạm gọi là: “Thế Thiên Hành Ðạo”

                      Một cuộc nghiên cứu do một nhóm giáo sư thực hiện ở Hoa Kỳ mới đăng tải trên tạp chí điện tử ECN kết luận rằng việc lực lượng Hoa Kỳ và quân đồng minh rải bom xuống thường dân Việt Nam là một chiến lược sai lầm và vô hiệu quả, càng đẩy những người trung lập đi theo phía quân cộng sản. Cuộc nghiên cứu phối hợp các dữ liệu của chính phủ và của quân đội Hoa Kỳ nói về cuộc chiến Việt Nam đặc biệt ở thời điểm năm 1969, cao điểm 540.300 quân, nhưng phải lần lượt rút về theo định kiến-3 (axiom-3). Chi tiết và kết quả của cuộc nghiên cứu này cũng được đăng trên tạp chí American Journal of Political Science. Tất cả lời nói trên đây đều đúng 1000 phấn 100, nhưng đây mới thật là mục tiêu chiến lược của một siêu thế lực gọi là Permanent Government, muốn tàn phá để xây dựng theo định luật kinh tế gia người Anh là Malthus, sau khi tàn phá để xây dựng lại thì có tham nhũng, ăn cắp công quỹ, ngân khoản viện trợ gởi vào trương mục ngân hàng, rồi đảo chánh lật đổ thì chính phủ Mỹ sẽ lấy lại từ các lãnh tụ tham nhũng và trả lại cho dân địa phương bằng hàng tiêu dùng của Mỹ, sự kiện nầy đang nhan nhãn lần lượt xảy ra khắp thế giới như chúng ta đã mục kích.

                      Theo kế hoạch tình báo Mỹ, cụ thể tại VN, sau nhiều ngày nghiên cứu các cuộc đấu tranh thành công ở Tunisia và Ai Cập chính là sự quyết tâm của nhân dân và tận dụng tối đa 2 phương tiện hữu hiệu nhất là cell phone và internet (email, blogs, facebook...) . Đồng thời CIA chỉ vẽ qua truyền thông báo chí và các cuộc trao đổi với các quí vị ở hải ngoại đã ủng hộ và cung cấp lượng thông tin rất có giá trị; Họ cũng đã dùng 2 phương tiện là cell phone và internet để trao đổi từ khắp tỉnh thành Việt Nam để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh sắp tới... Cuộc đấu tranh này mệnh danh là cuộc cách mạng Hoa Sen. "Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" cũng ám chỉ người đảng viên CS trong sạch, yêu nước. Sống và lớn trong chế độ cộng sản nhưng không bị cộng sản đầu độc, mà họ muốn sống Tự Do .

                      Đó là khát vọng Tự Do của toàn dân Việt Nam. Đảng và nhà cầm quyền CSVN đã báo động và đang ráo riết tìm cách điều tra để tiêu diệt mầm mống đấu tranh Tự Do Dân Chủ. Đảng CSVN hoang mang lo sợ “hương thơm hoa lài” nên đã bắt đầu hành động là bao vây nhà và bắt giam các chiến sĩ đấu tranh dân chủ, trấn áp tinh thần và gây nhiều khó khăn để cho các Chiến sĩ Dân chủ không còn tinh thần và khả năng ủng hộ tham gia hay tổ chức xuống đường biểu tình. Nhưng người dân tin rằng các Chiến sĩ Dân chủ sẽ giữ vững tinh thần và không lùi dù chỉ là lùi một bước trước cường quyền gian ác CSVN; Một người bị bắt thì có hàng trăm, hàng ngàn người tiếp tục đứng lên… vì khát vọng Tự Do; Ngay cả khi họ bị bắt thì hàng vạn vạn thanh niên khác cũng sẽ tiếp tục đứng lên… Đảng CSVN đã thiếu một món nợ là một câu trả lời với Tuổi Trẻ Việt Nam khi họ xuống đường biểu tình chống Trung Cộng (Tàu phù) xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì đảng CSVN ra lệnh công an ngăn cản và đàn áp. Cho dù hiện nay những khẩu hiệu TS, HS là của VN cũng bị công an CSVN bắt bớ giam cầm chỉ vì lòng yêu thương đất nước Việt đã bị bọn Trung Cộng (Tàu Phù) xâm chiếm. Tại sao tuổi trẻ Việt Nam biểu tình chống Trung Cộng (tàu phù) xâm lược mà chính công an người Việt Nam lại đàn áp? Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam hay của bọn Đại Hán? Bây giờ bọn Trung Cộng (Tàu phù) lại khoanh vùng lưỡi bò chiếm luôn biển của nưóc ta. Ai bảo vệ đất nưóc khi giặc xâm chiếm tổ quốc Việt Nam? Tại sao bọn Đại Hán vào Tây Nguyên khai thác bauxite? TẠI SAO? Sẽ có một yêu cầu từ người biểu tình: “Chúng tôi cần nhiều, thật nhiều xe thùng để chở chúng tôi tất cả cùng đi tù và chúng tôi đang đợi tại đây!”

                      Dĩ nhiên, người trong nước hoan nghênh và vô cùng xúc động khi biết đưọc đồng bào hải ngoại biểu tình biểu dương tinh thần cách mạng của nhân dân Tunisia và Ai Cập. Niềm phấn khởi cho Tuổi Trẻ Việt Nam là thấy Liên Hiệp Quốc đã lên án và trừng phạt nhà độc tài Gadhafi của Lybia đã dùng bạo lực đàn áp nhân dân đấu tranh đòi Tự Do Dân Chủ. Ngay cả Tổng Thống Obama của Hoa Kỳ cũng kêu gọi nhà độc tài Gadhafi phải ra đi. Điều này cho thấy cả thế giới đã quay lưng với các nhà nưóc cộng sản và độc tài đã chống lại nhân loại vì đàn áp dã man nhân dân đòi Tự Do; Ở Trung Hoa, người dân Trung Hoa cũng đã bước sang tuần thứ 2 trong công cuộc đấu tranh đòi Tự Do Dân Chủ. Họ bắt đầu bằng một Lời Kêu Gọi bí mật đưa lên internet và đưọc nhân dân yêu chuộng Tự Do Dân Chủ tiếp tay phổ biến rộng lan truyền khắp nưóc Trung Hoa. Hương thơm hoa lài đã toả sang Châu Á, chính vì sự lo ngại nhân dân ta đứng lên biểu tình cho nên Đảng và nhà nước CSVN đã cho lực lượng công an, Cảnh Sát Cơ Động (CSCĐ) thao dượt chống biểu tình. Sinh viên học sinh cũng đã theo dõi các cuộc thao diễn này và rút ra những biện pháp đối phó khi bị công an đàn áp. Theo một bài báo do người nước ngoài viết được dịch sang tiếng Việt, tác giả đã phỏng vấn và được những người dân Ai Cập cho biết họ đã tự nghiên cứu, học hỏi và trang bị như thế nào để tự bảo vệ khi bị đàn áp như đội nón bảo hiểm, chuẩn bị giấy bìa cứng để chống lại đạn cao su, chanh, dấm và khăn hay vải để chống lại hơi cay… Nay sinh viên học sinh chia sẻ với đồng bào khi xuống đưòng biểu tình: Kêu gọi mọi người khi xuống đường luôn luôn đội nón an toàn (còn gọi là mũ bảo hiểm) là loại nón đội khi lái xe mô tô. Lý do: công an bắn đạn cao su hay dùng dùi cui đập vào đầu thì có nón bảo hiểm, dùng vòi rồng xịt nước thì kéo kiếng xuống không bị ngộp nước… Nên nhớ đội nón bảo hiểm là hợp pháp là đúng với luật pháp Việt Nam, Công an đã diễn tập chống biểu tình thì toàn dân Việt Nam cũng phải có những diễn tập tương tự để đánh giá sự phản ứng của đảng và chính quyền CSVN mà công an là một công cụ bảo vệ đảng. Chúng tôi đề nghị đồng bào mỗi sáng vẫn giữ những sinh hoạt sinh kế hàng ngày, nhưng khi đến giờ cao điểm như buổi sáng mọi người ra đưòng đi làm việc chiều đến giờ mọi người về nhà thì trong những giờ cao điểm đó tất cả mọi người cùng dùng phương tiên giao thông của mình như đi xe mô tô… và đầu đội nón bảo hiểm cùng chạy cho các ngỏ đường đều bị kẹt xe nhất là những con đưòng chính. Sau những lần diễn tập và biết những phản ứng của công an thì đến một khi ngày giờ bí mật đưọc ấn sau khi đã chuẩn bị xong thì cùng xuống đưòng ở tất cả các tỉnh thành làm kẹt tất cả các trục lộ giao thông chính tại địa phương …. -Sinh viên học sinh thì lúc nào cũng có tập sách, lận vào người để chống lại đạn cao su, gạch đá mà bọn công an có thể chọi, bắn vào người. Nếu đồng bào không phải là sinh viên học sinh thì nên chuẩn bị những bìa thùng carton, cắt nhỏ bằng thân thể của mình rồi gấp lại, để quấn xung quanh bụng khi cần thiết:
                      -Chuẩn bị chanh, dấm và vải hay khăn tay khi bị hơi cay thì vắt chanh hay đổ dấm vào khăn hay vải rồi bịt mũi và miệng lại, đồng thời kéo cái kiếng của nón an toàn (mũ bảo hiểm) xuống để che chắn cho bớt hơi cay
                      -Dùng máy quay phim, máy chụp hình, cell phone để chụp hình, quay phim những tên công an đánh đập, đàn áp ngưòi biểu tình để đưa lên internet phổ biến khắp thế giới.
                      -Khẩu hiệu nên viết trên các bìa cứng để dể cầm tay và dùng để che chắn khi bị công an bắn đạn cao su hay chọi đá, vật cứng…
                      -Chuẩn bị bao nylon, dẻ rách nếu có bao tay thì tốt và vài thùng sơn (không có sơn) có nắp đậy hay các keo thủy tinh có nắp, dây thung, dây kẽm và vài thùng nước hay chai nước… khi bị công an liệng lựu đạn cay thì dùng dẻ rách lượm bỏ vào thùng đổ nước vào rồi đậy nắp lại. Có khi dùng bao tay lượm lựu đạn cay hay khói cay liệng ngược lại bọn công an…
                      -Nếu có loa phóng thanh thì dùng thay phiên để có thể có tiết kiệm pin.
                      -Cần sắp xếp sự thông tin liên lạc vì khi xuống đưòng đấu tranh bất bạo động nhưng công an sẽ dùng mọi phương tiện đàn áp thì chúng sẽ đem các xe phá sóng và nghe lén đến gần khu biểu tình do đó sẽ rất khó khăn trong việc xử dụng điện thoại di động để gọi thông tin cho nhau. Bằng chứng là khy sinh viên học sinh biểu tình chúng Trung Cộng (Tàu phù) xâm lược, công an đã đem xe phá sóng và nghe lén đến gân khu biểu tình. Cần có những người tuờng thuật và thu băng sau đó cấp tốc chuyển tải lên internet toàn cầu để đồng bào ở hải ngoại tiếp tay phổ biến và vận động quốc tế.
                      -Yêu cầu đồng bào ở hải ngoại đoàn kết chuẩn bị tinh thần vận động Liên Hiệp Quốc và các cường quốc Tự Do sẳn sàng can thiệp về ngoại giao khi CSVN bắt đầu đàn áp nhân dân ta giống như Lybia. Chúng tôi tin rằng Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Tự Do nhất là Hoa Kỳ sẽ trừng phạt và can thiệp về ngoại giao quốc tế như trưòng hợp Lybia hiện nay. Cuối cùng chúng tôi tin rằng nhân dân ở Lybia sẽ đấu tranh thành công và chế độ độc tài Gadhafi phải ra đi thì nhân dân Việt Nam chúng ta đấu tranh cũng sẽ thắng lợi (đồng bào yên tâm đã đến thời điểm CIA cần lật đổ để lấy lại tiền ăn cướp mà trả lại cho dân Việt Nam toàn quốc).
                      -Điều nhân dân mong đợi là Quân Đội và Công An đừng nghe theo lệnh của đảng CSVN đàn áp đồng bào khao khát Tự Do mà thực sự vì quốc gia dân tộc hãy đứng về phiá nhân dân để thay đổi vận mạng của đất nưóc Việt Nam.
                      -Cuộc đấu tranh nào cũng phải có một ban tham mưu hoạch định sách lưọc đấu tranh và tiến đến các giải pháp chính trị để duy trì an ninh trật tự xã hội lẫn kinh tế quốc gia trong giai đoạn chuyển tiếp. Do đó cần phải có hội đồng quốc dân lâm thời điều hành đất nưóc và tổ chức tổng tuyển cử.
                      -Cuộc đấu tranh Tự Do Dân Chủ không thể để đất nước hổn loạn cả về chính trị lẫn kinh tế. Yêu cầu toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cần đoàn kết và hình thành ban tham mưu chiến lược để đưa cuộc tranh đấu đến thành công.

                      Toàn dân Việt Nam tổng nổi dây làm cuộc cách mạng Hoa Sen để cứu đất nưóc thoát khỏi ách cai trị tàn ác của đảng CSVN và nanh vuốt của Trung Cộng.
                      Chúng tôi ủng hộ và hưởng ứng Lời Kêu Gọi tổng nổi dậy đăng tại trang mạng:

                      Nay sinh viên học sinh kính mong đồng bào trong và ngoài nước có đầy đủ phương tiện thông tin như điện thoại và internet: blogs, Facebook, email, web, … tiếp tay phổ biến thật nhanh nội dung email này vì CSVN đã bắt đầu hành động truy tìm email và phương tiện truyền thông như celll phone, internet… khi dò ra là sẽ tiến hành bắt bớ, đàn áp tiêu diệt chúng tôi. Sinh Viên Hanoi-Hue-Saigon và các Tỉnh Thành
                      Toàn dân Việt Nam nhìn rõ ÐCS hợp tác toàn diện với TQ thì mất một phần đất ở thác Bản Giốc ở Ải Nam Quan… còn Hoàng Sa và Trường Sa thì khó lòng thu hồi lại được, trong khi đất nước ngày càng tụt hậu. Tất cả chỉ vì ý tưởng “chống Mỹ” Nhưng đến nay Secret Society đã cho một ấn tượng trong lòng mọi người dân Việt để rốt cuộc phải theo Mỹ mà tồn tại, lấy lại biển đảo, như chúng ta đả thấy nếu không có CIA nhúng tay vào thì sức mấy ÐCS dám chọi lại với thiên triều về vụ quốc tế hoá Biển Ðông? bắn đạn thật không cho TQ đem giàn khoan tối tân vào thềm lục địa VN ... Thời điễm đã đến!


                      KQ: Truong Van Vinh
                      Last edited by Phòng Trực; 05-15-2013, 04:56 PM.

                      Comment

                      • vinhtruong
                        Super Member
                        • Jun 2010
                        • 1924

                        #26
                        Bài chọn đăng "CHIẾN SĨ CỘNG HÒA", số 36

                        (Nguyệt san phát hành trên toàn Thế-giới)
                        Cuộc giải cứu đắt nhứt trong chiến tranh VN

                        Thình lình nghe tiếng la-ó của quân BV trên bờ “đuổi theo bắt chúng … đuổi theo bắt chúng!” Norris và Kiệt quạt mạnh tay chèo như điên tiết. Chỉ có Chúa lại ra tay cứu thêm một lần nữa, dòng nước bỗng dưng tuột xuống chảy xiết thật nhanh đẩy chiếc xuồng mau xuôi theo dòng nước, rồi che phủ biết bao tàn cây bụi lá bao bọc, cách xa bờ, rừng cây dầy hơn như bức tường ngăn chận, đưa mau cho chúng đến gần bờ phải, chiếc xuồng xa lần tiếng la-ó khủng khiếp cũa bọn bắc kỳ nhà quê nói ngọng “khẩn trương tiến nên! Tiến nên” Rồi thì Norris gọi phi cơ đến can-thiệp Chúng chèo sát vào bên phải bờ sông càng xa tầm đạn AK càng tốt, chờ đợi phi cơ can-thiệp. Trong giây lát, từng đợt tiếng bom đạn từ 2 phi tuần A-6, Intruder của Marine, thả chụp xuống thành một biển lửa phũ đầy bên bờ bác giữa tiếng kêu la thảm thiết, vì quá gần nên không khí bao trùm nóng rát. Sau đợt bom chính xác trên bờ bắc, Norris và Kiệt bắt đầu chống đẩy xuồng ra giữa dòng sông để nương theo sức mạnh của con nước thủy triều xuôi về tiền đồn. Chẳng bao lâu cả ba về tới tiền đồn giữa tiếng súng qua lại hai bên bờ bắc nam. Liền tức khắc Norris và Kiệt vội vã kéo lê Hambleton vào nơi một ụ-đất để núp và thở nghỉ mệt; Lúc nầy là 9 giờ sáng, Toán viên Kiệt phóng bay từ ngoài cổng gác chạy vào gọi 2 toán viên Biệt hải kia phải gấp rút xuống bờ sông để phụ giúp cõng Hambleton lên, nhìn thấy thân hình viên Phi công tương đối khá cao và gầy, ở nơi chân bị một vết thương khá sâu cùng nơi khuỷu tay bị gãy, vì không thuốc men, nên làm cho chung-quanh vết thưong bị nhầy nhụa, da thịt đã trở thành màu tím bầm. Từ mé sông ngược lên tiền đồn, đường mòn khá dốc, nên 3 Biệt Hải phải thay phiên người trước kẻ sau phụ cõng và nâng bỗng hai chân của Hambleton lên, Chẳng bao lâu họ lên tới tiền đồn, khi đã đặt ông nằm an toàn trong Lô Cốt rồi. Norris đang băng bó vết thương cho Hambleton và chuẩn bị rời khỏi nơi đây tức khắc. Áo quần mọi người ướt đẩm mồ hôi do ánh nắng gay gắt của buổi sáng đầu ngày. Theo dự trù một chiếc M-113 sẽ đến đón họ, khi đã đặt ông nằm an-toàn trong Lô Cốt rồi.

                        Ngay chiều hôm đó, tất cả Biệt Hải được lệnh rời khỏi tiền đồn trở về lại BCH/Tiền-Phương/ Quảng Trị gấp để lại số phận cho tiền đồn nầy phải bị dẫy chết liền sau đó. Tưởng chúng ta cũng nên hồi nghĩ lại những chiến hữu của Đại-đội thuộc Sư-Đoàn 3 Tân lập gồm 80 chiến-sĩ với 2 chiến-xa M.48 ngụy trang phòng thủ. Khi các anh Biệt hải và 4 người Mỹ đã vinh vien rời khoi tiền đồn nầy rồi thì chuyện gì đã xảy ra chỉ vài ngày sau đó: So phan cua mot tien don nam cheo leo tren tuyen phong thu chiến lược có thể quan sát xuyên suốt từ bờ Tây dòng sông Miếu-Giang gồm quốc lộ 9, bao vùng miền Cam lộ đến tận Đông-Bắc Quảng-Tri, há không làm cho linh BV ngứa mắt? Các Chiến-sĩ ta của tiền đồn nầy làm sao hiểu được, họ đang bị bao vây từ 3 hướng bởi 5 Trung-đoàn Pháo và 10 Trung-đoàn Bộ-binh cơ-động BV được chia ra từ 2 Sư-đoàn 304 va 308.

                        “Tổng công kích và Tổng nỗi dậy” đây là lệnh truyền từ các Cán-bộ Chính-ủy từ Trung ương xuống tới đơn-vị nhỏ nhất, bằng mọi giá phải đạt được yêu cầu (Hoa-Kỳ gọi là Easter-Offensive có nghĩa từ trên núi tràn xuống phía Đông, vùng đồng bằng đông dân cư) Bên phía VNCH gọi là: “Mùa-Hè Đỏ-Lửa” Nhưng chiến dịch Tổng công kích nầy còn quá sớm chưa đúng thời gian điểm mốc của lộ-đồ “Eurasian” nên Hoa kỳ đã co du mu phải dùng chiến dịch cường tập Hậu-vệ-1 (Linebacker-1) để tiêu diệt 100.000 quân CSBV (điểm mốc thời gian là 1975 đến 1995, tổng cộng 20 năm thù địch (hostility) rồi sau đó sẽ mua Boeing cua My, y chang như Trung quốc sau 20 nam thu dich (hostility))

                        Đúng 3 ngày sau khi các anh Biệt-Hải và 4 Sĩ-quan Hoa-kỳ rời khỏi nơi đây, vào lúc 12 giờ Trưa, sau một thời gian dài chuẩn bị chu-đáo, Quân-đội BV bắt đầu khai hỏa; Đến nữa khuya, chúng pháo 4,000 trái đủ loại từ súng cối, đến Hỏa-tiển 122 ly, rồi pháo hạng nặng như 152 ly, 130 ly, 122 ly…đến tờ-mờ sáng chúng tràn ngập các tiền đồn từ Cam-Lộ dọc xuống đồng bằng Quãng-Trị, riêng tiền đồn nầy còn bị dưới hỏa-lực bắn trực xạ bằng pháo chiến xa T.54 của BV trước khi chúng tràn ngập vào đồn. Chúng được lệnh đây là trận cuối, đánh dứt điểm và đồng khởi nổi dậy khắp nơi.

                        Trước đây một năm, chiến cuộc Lam-Sơn 719 đã không đi đúng theo dự trù của máy tính điện tử thiết kế mà soạn giả Tướng Haig và Richard Helms đã hoạch định theo lộ trình, lý do TT Nguyễn Văn-Thiệu đã ra lệnh ngầm rút quân không chiếm Tchepone, mà chỉ cho một đơn-vị nhỏ thuộc SÐ-1 nhảy xuống chụp hình ‘đái một bãi’ rồi về ngay, trong khi Trung-úy phản-chiến John Kerry đã móm ngầm” với Võ-Nguyên-Giáp, để tuyên bố gài bẩy thách thức trên đài: “Nếu “Quân-Lực VNCH chiếm được Tchepone xem như kẻ chiến-thắng”. TT Thiệu đã cứu QLVNCH khỏi phải lọt vào cái bẫy của Hội-Đồng An ninh quốc gia Hoa-Kỳ! (January 18/1971, national archives) Mục đích tiêu diệt hai đối lực mạnh nhứt để bàn giao miền nam không tắm máu mà chỉ rỉ-máu. Ðối với Permanent Government là rút ngắn cuộc chiến và giảm thiểu số người phải hy sinh.

                        Đô-Đốc Mc Cain, Tư-Lệnh Đệ 7 hạm đội và Đại-Tướng Abrams, Tư-Lệnh Mỹ ở chiến trường VN đã nắm chắc và hiểu rất rõ chiến dịch nầy, và lần nầy không giống như Lam-Sơn 719, B.52 chỉ để hù qua Rolling Thunder (Neutralization) lính BV, mà tiêu diệt chúng bởi chiến dịch Linebacker-1; Hai vị Tư-Lệnh nầy đã cùng đi đến quyết định xử dụng hỏa-Lực tối đa từ Hải-pháo, Phi-cơ chiến-thuật, nhưng BV vẫn tự cho rằng sẽ thừa thắng xông lên; Sau khi Tướng Liên-Xô Pavel Batitski đến Hà Nội, trước đó một tháng (March/1972) tái kiểm kê cùng đánh giá “hàng-tiêu-dùng”(vũ-khí, chiến cụ lỗi thời) và sẽ sản xuất để viện trợ dồi-dào hơn theo chỉ thị của Chủ nợ Tư bản Mỹ: “Aid to Russia 1941-1946 Renewed-Plan”. Sau chiến tranh, Liên-Xô không đòi nợ Việt-Nam vì Mỹ, người chủ nợ chịu đài thọ vào chổ ngân khoản đó; Thế nên lãnh đạo Hà-Nội liền cho lệnh tổng tấn công và nổi dậy (Easter Offensive) vào ngày March 30, 1972. Cũng phù hợp với tu chánh-án Mỹ ‘Cooper-Church’, giai đoạn chót cần phải giải tỏa cho hết vũ-khí chiến cụ lỗi thời tại Đông-Dương.

                        Trong lúc dầu sôi lửa bỏng như thế nầy, mà Nguyễn-Cao-Kỳ lại xúi bẩy hai Tướng Vùng làm đảo chánh, Tướng Trưởng không chịu nghe vì ông bận rộn với chiến trận, ông cũng chẳng sợ ai vì hậu thuẫn rất mạnh của Mỹ; còn Tướng Dzu thì rất khôn ngoan, cho rằng TT Thiệu đã làm phật lòng Tướng Haig và Kissinger, hai công-cụ bén nhậy của Tham mưu trưởng quyền-lực WSAG, Donald Rumsfeld trong cuộc chiến Hạ Lào thì thế nào cũng phải bị làm vật tế thần như Tướng Tư Lệnh Ðệ Thất Lavelle cho mà xem. Nhưng Tướng Kỳ và Dzu làm sao hiểu được Hoa-kỳ đang ủng-hộ mạnh mẽ cho sự đứng vững của TT Thiệu để dự hòa đàm Paris, đồng thời theo lộ-đồ tuần tự rút quân Mỹ về nước an-toàn. Đại-Sứ Bunker, có tục danh là cái “tủ-lạnh” cho Kỳ là lóc-chóc không đủ bản lãnh là người lãnh đạo, phải có bản lãnh cứng rắn điềm tỉnh như TT Thiệu mới được, thế là TT Thiệu đưa băng Thiết Giáp là Tướng Nguyễn Văn Toàn lên thế Ngô Dzu cũng là để an-ủi băng thiết Giáp Tướng Lãm mới vừa mất chức Tư lệnh do yêu cầu của phía Mỹ để tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Phía Hoa-kỳ, Tướng Lavelle, Tư-Lệnh Ðệ 7 Không-Lực vừa bị Tham-Mưu Trưởng Không-Quân triệu hồi giải nhiệm và giải ngũ, (chỉ lãnh hưu bổng của Tướng hai sao mà thôi, thay vì 4 sao) cái lý do tạm gọi là Tướng Abrams phàn nàn “Phản ứng chậm chạp không thích hợp với chiến trường. Sự thật có phải như vậy không!? Có trời mà biết! Nhưng theo linh cảm của tôi, Tướng John Vogt đến thay đúng vào lúc mà Hoa-Kỳ cần dọn dẹp trước khi rút về. B.52 qua chiến dịch Linebacker-1 sẽ thả tiêu diệt chớ không còn hù dọa như chiến dịch ‘tiếng sấm gầm thét’ (Rolling thunder cho lính BV bị lủng lá nhĩ ‘điếc tai’, để lưu lại kỷ niệm kinh-hoàng như trước đó). Có lẽ như vậy nên sau trận Mùa-Hè Đỏ-Lửa, Tướng Giáp đành ngồi chơi xơi nước, sau khi nướng 100.000 quân? Chỉ có CIA là cảm thông cho sự hy sinh chức vụ của Tướng Giáp: Thay đổi Tướng Không-Quân là thay đổi thế ‘Chiến-Thuật’, cũng như thay đổi Đại-Sứ là đổi thế ‘Chiến-lược’ hay nói cách khác là chính sách đường lối mới. Cứ hồi tưởng lại chế độ VNCH thì rõ:
                        - Khi Lansdale qua VN, để giúp TT Diệm hất chân người Pháp ra khỏi Đông-Dương.
                        - Khi Durbrow qua, sau khi (NSC) Hội-Đồng An-Ninh họp, cần thay đổi chính sách, nên thay đổi chính-phủ Diệm (có sự mâu-thuẩn trầm-trọng về chính sách giữa Kennedy và Harriman (vì nước Mỹ lảnh đạo bằng Tập-đoàn Tư-bản WIB nên TT Kennedy phải bị hy sinh, vì tổng thống Mỹ chỉ là quản lý tổng quát (General Menager) của công ty mà ông chủ là Permanent Government) .
                        - Khi Cabot Lodge qua, phải làm đảo chánh Diệm do mật lệnh Harriman (policymaker)
                        - Khi Bunker qua, giữ tình trạng chính trị ổn định để hòa đàm Paris đi đến rút quân, dù rằng Tướng Kỳ có âm mưu nhiều lần làm đảo chánh nhưng không thành vì bị Mỹ bẽ gãy.
                        - Khi Martin qua, chuẩn bị kế hoạch “rã-ngủ” Quân-lực VNCH, và chấm dứt chế-độ Việt Nam Cộng-Hòa đúng theo “định kiền-1” của kế hoạch siêu chiến lược toàn cầu, giải-kết chiến tranh Việt-Nam, hoàn thành axiom-1.

                        Chỉ trong vòng 5 ngày, quân BV đã tấn công bằng biển người “tiền pháo hậu xung” và tràn ngập tất cả các Căn-cứ Hỏa-lực của ta và tiến sâu về phía Nam gần bờ sông Bến-Hải, nhưng quân-lực VNCH chiến đấu gan dạ, dù rằng lực-lượng rất ít so với quân số của địch, thế nên địch phải dừng khựng lại để tái phối trí và đợi bổ sung, sự thật cũng nhờ B.52, hải-pháo yểm trợ khá hữu hiệu. Trái ngược với lệnh của Chính-ủy là phải tiến chiếm như vũ-bảo, nhưng có cố gắng lắm thì cũng chỉ được chưa đầy 30 cây số trong 3 tuần lễ, nên họ đành án-ngữ trên tuyến phòng thủ, Đông-Hà, Ái-Tử và La-Vang Quãng-Trị [Hà Nội chỉ chiếm được Miền Nam đúng với thời gian coi cho được (decent interval) có nghĩa là 1975 để đúng điểm mốc thời gian 20 năm thù địch sẽ lập bang giao 1995, cũng như mốc thời gian 20 năm thù địch với Trung-cộng 1952-1972] Sau đó sẽ nối tiếp bang giao qua món quà mua “Boeing” khai màu tình chăn gối.

                        Tuy nhiên, Quảng-Trị đã lọt vào tay địch ngày 1/May/1972, Căn-cứ Hỏa-lực Nancy phải di tản chiến thuât 2 ngày sau. Đại-tá Nguyễn-Trọng-Luật, chỉ huy Lữ-Đoàn 1 Thiết kỵ phải ra lệnh rút 1 Thiết-đoàn mà không cần đợi lệnh trên, để bảo toàn Lực-lượng cũng như thông báo cho đơn-vị bạn. (Lệnh ngầm của Mỹ khuyên nên rút lui vì muốn giữ danh dự và mạng sống cho Đại-tá Luật như Đại-tá đã lăn-lóc năm vừa qua tại chiến trận Hạ Lào năm 1971, người Mỹ rất kính trọng sự hy sinh và bị tai tiếng hàm oan trong chiến trận năm vừa qua của vị đại tá nầy khác hẳn với trường hợp của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai bị trực thăng Mỹ bóc ra khõi vị trí hành quân, mà TT Thiệu rất tức giận cho rằng ‘politic sabotage’ do Mỹ dàn dựng để đẹp lòng phía Hà-Nội) Thế nên, quân BV và Chiến xa T.54 mới xuyên thủng phòng tuyến quân bạn.

                        Ngày 24/4/1972 Tướng Abrams gọi cho Bộ-Trưởng Laird đánh giá tình hình “Quân BV đã vào hết Miền-Nam, chỉ còn duy nhất 1 Sư-đoàn trừ bị nhưng đang di chuyển xuống vùng Phi-quân sự và sẽ sẵn-sàng nhập trận 3, 4 ngày sau đó khi nhận lệnh. (Lúc nầy nếu quả tình muốn chiếm Miền Bắc, chỉ cần hai sư đoàn Tổng trừ bị Nhảy Dù và TQLC là Saigon đã nắm phần chắc bằng đổ bộ thẳng ngay Hà Nội và quân Mỹ trấn giữ tại Miền Nam, nhưng như vậy là đi chệch mục tiêu chiến lược của Mỹ là giao miền nam cho Hà Nội) Với sự đồng tình của Mỹ, Lê Đức Thọ (tay sai gián tiếp của Mỹ) tung hết 4 Sư-đoàn và 1 Trung-đoàn độc-lập, cho vào Nam nhập cùng 7 Sư-đoàn khác, 22 Trung-đoàn biệt lập cùng 7 Trung-đoàn Pháo đã lâm trận; họ đang dùng những Vũ-khí tối-tân hơn hẳn Quân-Lực Miền-Nam…Nhưng Quân-lực VNCH chiến đấu rất oanh-liệt trong hoàn cảnh vô cùng khó-khăn (luôn-luôn Quân-đội BV xử-dụng vũ-khí trên cơ QLVNCH.

                        14 năm qua, tại miền Nam quân ta xử-dụng vũ-khí bắn từng phát một như Garant và Carabin M.1, còn CSBV dùng AK.47 tự động hay AK.50 của Trung-Quốc. Hoa-kỳ cố tình để VNCH xử dụng cho hết số đạn dược tồn kho mà không còn thích hợp cho cuộc chiến mai sau, như những quả đạn nặng hàng tấn cồng-kềnh của các pháo hạm như New-Jersey, Oklahoma…xong chiến tranh nầy trở về Mỹ để nằm nghĩa địa. Đồng thời huy động tất cả Phi-cơ chiến-thuật giải tỏa hết những Bom đạn lỗi-thời tại chiến trường VN; Đây là sự thực-thi cho tu-chánh-án “Cooper-Church” cho quân đội Mỷ và “Case-Church” cho quân đội VNCH. Thế là có lệnh huy động hơn 100 B.52 tại đảo Guam, phải đóng bớt đường Phi-đạo cất cánh để làm chỗ đậu Phi-cơ mới đủ chỗ. Hơn 50 đơn-vị chiến đấu từ Không-Quân, Hải-Quân và Thủy-Quân Lục-Chiến, tụ hội từ những Lục-địa Mỹ, Hawaii, Korea, Japan, Okinawa và Philipinne; từ 35 Phi-đoàn chiến thuật gồm cả Không-Quân Miền-Nam lên đến 74 Phi-đoàn. Tính trung bình, mỗi ngày từ 380 đến 650 Phi-vụ chiến-thuật, B.52, từ 33 đến tối đa 150; Sáu hàng không mẫu hạm luôn phiên với 4 chiếc luôn túc trực tại chiến trường. Mục đích phải giải toả (flushing) cho hết thứ quỷ nầy, có thế thôi!

                        Giũa tháng May/1972, B.52 và Hải-Pháo đã gây tổn thất hết sức trầm trọng cho 3 Sư-đoàn 304, 308 và 324 của BV, âm mưu tràn xuống Huế đã vở mộng; Chúng đành trấn giữ tuyến sông Mỹ-Chánh là ranh-giới cực Nam của Tỉnh Quảng-Trị để tái phối trí và chờ tiếp liệu. Ban tham-mưu Quân-sự của Tướng Haig theo dõi các hoạt động quân sự của hai bên và điều chỉnh phối hợp cách nào đi đúng theo lịch trình và thời gian trong kế hoạch đã thiết lập một cách tỉ-mỉ từ trước. Gần cuối tháng 6 năm 1972, Tôi, phi tuần trưởng, 4 Trực-thăng võ trang hướng dẫn 100 chiếc UH.1 gốm (60 chiếc của Mỹ và 40 chiếc của VN) Trực thăng-vận Lữ-đoàn-1 Dù xuống bờ Tây Nam sông Mỹ-Chánh. Trong cuộc chiến, sự lầm lẫn về thời tiết cũng như hướng gió có thể gây ra tai nạn thảm khốc; Nhưng cũng may nhờ sự phản ứng mau lẹ của các Phi-hành đoàn Việt-Mỹ nên mọi việc cũng trôi qua êm đẹp. Chúng tôi đang bay từng họp đoàn 4 chiếc hình nấc thang trong vị thế sẳn sàng tác xạ, thì bỗng dưng một màn khói của Không-quân Hoa-kỳ thả xuống để che lấp sự quan sát của địch phía trong núi bên trái chúng tôi, nhưng không ngờ họ lại tính trật hướng gió nên chúng tôi bị bao phủ bởi màn khói, gió từ biển thổi vào, nhưng lúc nầy tự nhiên ngưng thổi vào núi. Tôi ra lệnh cho tất cả đáp đại xuống đất càng sớm càng tốt, và chờ lệnh cất cánh lại, Tôi nghĩ 60 chiếc của Mỹ đi sau chúng tôi 30 giây, họ cũng sẽ đáp xuống như vậy.

                        Cuối cùng, Tôi đáp xuống trên một mảnh đất của vùng đồi trọc, khi cặp càng chiếc Trực Thăng võ trang vừa chạm đất, thì tầm nhìn xa hoàn toàn thu hẹp lại đến nỗi tôi không thấy gì chung quanh ngoài một màu trắng đục dày đặc khác hơn màu trắng thoang thoảng của mây. Tôi chỉ thị “Tất cả nòng súng Mini-gun đều phải sẵn sàng ở vị thế 160 độ để dễ quay chuyển khi cần phải nhả đạn”. Tôi cũng nghĩ rằng 100 chiếc ‘Slicks’ chở LÐ-1 Dù cũng sẽ phải bung ra hai bên để phòng thủ. Nếu chẳng may chúng tôi đang đáp ngay xuống lòng địch (quân lính Bắc Việt) thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đụng-độ với quân Dù và chúng tôi…cuộc chiến sẽ vô cùng tàn khốc…mà tôi cho rằng đây là cuộc tao-ngộ-chiến do định mệnh!

                        Tuổi trẻ dễ nổi nóng, tôi lầu bầu trong miệng chửi thề loạn xạ một hồi, nhưng có lẽ những Phi công Hoa-kỳ của Sư-đoàn 1 Không-kỵ, cũng xổ ra một tràng tiếng anh như tôi mà mắng nhiếc Không quân Hoa-kỳ “đồ cà chớn cà cháo … thả bức tường khói để giết bạn, chớ không phải bảo vệ bạn…đồ cái thứ đâm sau lưng chiến sĩ” Vì chúng tôi từng Box 4 chiếc một, lần lượt sẽ đáp trên đồi trọc, nhìn xuống đồng bằng sông Mỹ Chánh.

                        15 phút sau, tôi nghe chiếc Trực-thăng ‘C&C chỉ huy’ (Command and Control) ra lệnh chuẩn bị cất cánh lại (dù rằng tôi là vị chỉ huy lớn nhất trong cuộc hành quân nầy) đối với không quân VN, nhưng trong phi vụ nầy tôi chỉ là một Phi-công Trực-thăng võ trang bình thường, và phải chịu dưới quyền điều động của C&C (chiếc Trực thăng chỉ huy) Trong phút chốc, tôi hướng dẫn đoàn Trực-thăng gồm 25 hộp đoàn (formation) từng 4 chiếc hình nấc thang sẽ đáp xuống cạnh một sườn đồi trọc nằm cạnh nguồn Tây dòng sông Mỹ Chánh. Và 4 chiếc Trực Thăng võ trang chia làm 2 hợp-đoàn xung kích, Hợp đoàn 1 gồm có 2 chiếc, hợp đoàn 2 phải cover cho 1. Tôi có trách nhiệm đánh dấu bãi đáp bằng Lựu đạn khói màu và bao trùm vùng tác xạ yểm trợ hoả lực cho 40 chiếc của VN, riêng Trực-thăng võ trang Cobra của Sư-đoàn 1 Không-kỵ Hoa-kỳ thì lo yểm trợ cho 60 chiếc của Mỹ sẽ đáp sau chúng tôi.

                        Dưới bãi đáp, cuộn khói màu vàng bốc lên tỏa về hướng núi như mơn-trớn theo những cơn gió thoảng từ biển cả thổi vào. Tôi quay đầu Phi-cơ lượn gắt qua phải lên cao độ để tác xạ, tôi không nhìn máy nhắm mà dùng đến kinh nghiệm phản xạ tự nhiện, có phần linh động và nhanh nhẹn hơn… những bụi cây nào còn sót lại, mà nghi ngờ, thì tôi có trách nhiệm phải nhổ sạch hết. Đối với kẻ địch, tôi không thù hận họ, vì họ cũng như tôi, “ăn cây nào, phải rào cây đó” và cả hai bên, chúng tôi phải chịu hy sinh cả tuổi Thanh xuân của đời mình cho chiến đấu, cũng chỉ vì những danh-lợi chính-trị hẹp hòi của giai cấp lãnh đạo, quên đi sự đoàn kết dân tộc, và phản bội lại công lao của Tiền-nhân đã dày công xây dựng đất nước. Tôi cũng thừa hiểu rằng, người ‘bạn lớn’ của tôi, cũng chỉ vì quyền lợi riêng tư của họ, nên đã bán đứng chúng tôi qua hành động giật sập nền Đệ 1 Cộng Hòa và cố tình giao cho kẻ địch có một chính nghĩa trong tay (theo như tầm nhìn của Thế giới hồi đó). Tôi không có Quê-hương, “Tổ Quốc”, giờ đây tôi chỉ là loại lính “phi -công Lê Dương Mới”. Nhưng với hỏa lực trong tay, tôi cương quyết và dứt khoát phải tận diệt kẻ địch để bảo vệ “danh dự” vì là một Phi-công của QLVNCH và “trách nhiệm” bảo vệ những cánh chim non, đang lặn hụp dưới bầu trời lửa đạn mà không phải dân Việt Nam đúc ra.
                        Khi đoàn Trực-thăng đầu tiên vừa chạm đất, chúng tôi đã oanh tạc vào những điểm nghi ngờ có quân BV phục kích, những quả Rockets nổ ầm vang sau cái quẹo gắt của chiếc trước và tiếp theo đó 2 Mini-Gun 6 nòng nhả đạn ra như tiếng bò rống…tiếng nổ liên hồi hòa với mùi thuốc súng khét lẹt tỏa ra cả phòng lái, các dây kẽm của rockets bắn vào cổ vào mặt kiến mát đang xụp xuống, nhưng phải cắn răng lỏ con mắt vào mục tiêu…Những bụi rậm, cây cối bị tróc gốc nằm ngỗn ngang dưới các cột khói dựng đứng. Chẳng bao lâu tất cả 40 chiếc Trực Thăng của VN đều đáp xuống an-toàn giữa những màn khói của hỏa tiễn hôi thối còn vương vấn chưa tan; Tôi gọi máy FM 42.5 bàn giao lại trách nhiệm cho AH-1G Cobra yểm trợ hỏa lực bãi đáp cho Lữ đoàn-1 Không-kỵ của Hoa-kỳ.

                        Mỗi chiếc võ trang còn lại 6.000 viên đạn 7 ly 62 để phòng khi hữu sự… Tuần vừa rồi, với cây Đại liên 6 nòng nầy (cũng nhờ Đệ 7 Hạm Đội Hoa-Kỳ phát giác 1 chiếc tàu của BV thuộc loại viễn duyên do Trung Quốc chế tạo thuộc Đoàn 759 chuyên trách nhiệm chở quân trang quân cụ cho lính BV vào trong Nam) Chúng tôi đã dùng cây Đại Liên 6 nòng nầy mà ‘rĩa’xuống 4.000 viên trong 1 phút, làm thiệt mạng tất cả đoàn viên trên tàu, và con tàu ma cứ như thế mà lủi vào bờ, thuộc Quận Phong Điền Quãng Trị… rồi thì, sau đó đủ loại súng chĩa vào con tàu Ma, kể cả Chiến xa M-48; đặc biệt trên chiếc tàu nầy chở vô số những hộp thịt, do Trung Quốc làm ra có ghi chữ “Thịt Lợn kho”, tất cả đều là chiến lợi phẩm của Lữ-đoàn (hình như LÐ 258 thì phải?) Thủy Quân Lục Chiến VNCH.

                        Chúng tôi kè hai bên hông để hộ tống đoàn Trực-thăng Slick về lại hậu cứ, vẫn tốc độ và cách bay khiêu khích, hùng dũng như tự bao giờ. Từ xưa tới nay, tôi thích bay ở độ thật thấp như muốn thách đố kẻ địch, vì với cao độ nầy, khi lâm trận thì tôi cảm thấy tin tưởng về sự quan sát cũng như sự phản xạ nhạy bén hơn của phi hành đoàn, còn như nếu bay hơi cao, thì địch có thể bắn lén mình mà mình không thấy, không biết và nhất là từ năm 1970 cho đến nay quân Bắc Việt có nhiều loại phòng không rất là tối tân như: SA3, SA5, SA7 mà súng Đại Liên phòng không 14 ly 5 là lợi hại nhất. Với cao độ sà thấp nầy không những làm cho đối phương sợ hãi, mà còn vô hiệu hóa với các hỏa tiển cầm tay của địch, vì chúng chỉ có thể tìm nhiệt vào mục tiêu với điều kiện có đủ cao độ và tốc lực khá nhanh, vì thế với cao độ nầy thì chúng không thể nhũi vào ống thoát hỏa của Trực-thăng được. Đây cũng là kinh nghiệm trong các phi vụ yểm trợ tản thương tại chiến trường Hạ-Lào (Lam sơn 719) mà phi hành đoàn gunship không có ai phải tử thương; Cũng với cao độ nấy, tôi đang nhìn xuống thấy rõ cảnh điêu tàn của làng xã bỏ hoang, có cả hàng trăm, hàng ngàn hố bom, và lỗ đạn Đại-bác…đất còn tươi, lớn nhỏ rải rác đó đây, đào xới trên nhiều thửa ruộng của làng mạc, khiến cho tất cả nơi nơi thành hoang phế điêu tàn, những làn khói trắng đục tỏa ra mùi khét lẹt, đang bốc cháy dở dang từ nơi các căn nhà đỗ nát do pháo địch tàn phá đêm qua, trên Quốc lộ 1 xe cộ đủ loại nằm ngỗn ngang, lẫn với xác người đang bị sình trướng (mùi xác chết rất quen thuộc đối với lỗ mũi của Phi hành đoàn Trực-thăng chúng tôi). Thì làm sao mà Thế-giới không cho đây là “Đại Lộ Kinh Hoàng”, chứng tỏ tình hình ở đây hiện đang chịu nhiều trận dội pháo, hay nói theo danh từ của BV là “trận địa pháo nặng nề nhất của quân BV”

                        Một nhà Văn và cũng là nhà báo của Pháp, Michel-Tanriac đã lên tiếng tố cáo qua tác phẩm lừng danh “Việt Nam, le dossier noir du Communisme-de 1945 à nos jours” (Hồ sơ đen của Cộng Sản từ năm 1945 đến ngày nay) (Plon, Paris 2001, trang 252). Tác giả dành hẳn một chương mục viết về “Đại Lộ Kinh Hoàng” (Boulevard de la terreur-Quảng Trị, năm 1972) Tác giả Tanriac đã là nhân chứng nhìn thấy tận mắt những nấm mồ tập thể “vĩ đại” mà Việt Cộng là những tên giết người có máu lạnh rất chuyên nghiệp (có khoảng 15.000 người chết, và 24.000 người bị thương, sách đã ghi ở trang 221-223). Dĩ nhiên CSBV sẽ không thể nào chạy tội với lịch-sử!
                        Chúng tôi đã bay qua khỏi vùng tử địa, dọc theo Quốc lộ 1, hướng về Huế, phía bên phải Quốc lộ, cả hàng trăm lều vải màu trắng của cơ quan Hồng Thập Tự dựng lên san sát theo thứ tự, nơi đây làm chỗ tạm trú cho nhiều ngàn người dân tỵ nạn từ khắp thôn quê chạy về ẩn náu.
                        Sau khi Lử-đoàn-1 Dù đặt chân xuống bờ Tây sông Mỹ Chánh, đường tiến sát điều binh một cách thận trọng về hướng Bắc, trục dọc theo phía Tây Quốc-lộ 1, đẩy lùi quân Bắc Việt về ngược lại, cách Quảng Trị 20 cây số về phía Nam, cùng với các đơn vị Bộ-binh và Sư-đoàn TQLC tiến lên hướng Bắc của Quảng Trị. Sở dĩ quân BV yếu lần sau vài đợt tấn công vũ bão, nhưng bị Quân Lực VNCH tuy ít hơn, nhưng vì một lòng một dạ quyết tâm tái chiếm lại Cổ Thành Đinh Công Tráng. Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng: chưa bao giờ quân Mỹ lại tận tình giúp tối đa hoả lực cho Quân Lực VNCH như lấn nầy! B.52 và Hải Pháo dứt điểm những loại đạn tồn kho, nặng hằng tấn như con bò bay vào và cũng đã lỗi thời, không còn dùng vào chiến tranh trong tương lai nữa, và đây là dịp duy nhất mà Mỹ cần chỗ để phế thải cho tận-hết …và cũng ngăn chận Hà Nội chiếm Miền Nam chưa phải lúc! Theo đúng lộ đồ mà PG đã thiết kế trong máy tín điện-tử.
                        Kết cuộc, sau trận mùa hè “Đỏ Lửa” Tướng Võ Nguyên Giáp bị cho đi về vườn, còn tam trùng Phạm Xuân Ẩn tuy mất điểm nhưng sẽ phục hồi sau. Tướng Abrams dù là võ tướng nhưng vô cùng xúc động, nên ông nói: “Cái gì đang xảy ra cho hằng loạt người chết vô ích”. Cuộc họp của Tổng Hội Thánh Tin Lành tại Atlanta, tất cả các Đại Biểu đều lên án Hoa-Kỳ là đã gây ra tội ác chống nhân loại. Thiệt hại giữa 2 miền, Miền Nam có 8.000 người chết, còn số thương binh thì gấp 3 lần, mất tích gần 3.500 người, đào ngũ hơn 40.000 người. Còn Miền Bắc có 40.000 người chết, và 100.000 người bị thương, và tổn thất hơn phân nữa số chiến xa và pháo hạng nặng, vì thế Tướng Giáp buộc phải từ nhiệm.

                        Hãy nghe hồi ký của H.R. Haldeman, vào ngày 1/5/1972 rằng: “Cả hai ông Nixon và Henry Kissinger, bình thản không quan tâm việc gì xảy ra, chiến tranh sẽ chấm dứt vào tháng 8/1972 và cũng đến lúc hai bên đều đã kiệt quệ, ngoài bắc lính già chết hết. Quân của Miền Bắc thiệt hại rất nhiều so với quân của Miền Nam”. Như vậy chúng ta cũng cảm nhận rằng: mục tiêu của họ đã đúng hạn kỳ phải chấm dứt một thời điểm cho nhiều giai đoạn khác nhau (Giai đoạn từ sự ngụy- tạo vụ tàu Maddox (1964) đến cuộc họp giữa Mao và Nixon (1972) “8 năm máu lửa!!!” Thời gian nầy nhóm tham mưu của Harriman không muốn kéo dài hơn thời gian của Pháp (1945-1954)

                        KQ: Trương Văn Vinh
                        Last edited by Phòng Trực; 05-31-2013, 11:45 PM.

                        Comment

                        • vinhtruong
                          Super Member
                          • Jun 2010
                          • 1924

                          #27
                          Cuộc giải cứu đắt nhứt trong chiến tranh VN

                          Anh hùng Biệt-hải dẫm chân trên đất liền cứu Phi-cộng Mỹ:
                          Tất cả tài liệu đều phải giải mật trừ cơ quan kiểm duyệt, The US Information Agency cho phép (“Classified military Secrets to protect the nature of such SAR actions on the ground by The US Naval Special Warfare Archives). Có nghiã là câu chuyện Rescue nầy không được quyền phổ-biến sâu rộng, chi tiết theo luật pháp liên bang của Hoa Kỳ. Chiến hữu sẽ tìm hiểu tại sao Mỹ làm rùm beng chuyện "chất độc màu da cam" mà không chất độc trong bài nầy?

                          Đây thuộc loại “đặc-tác” xâm nhập tìm cách giải thoát hai phi-công Hoa-kỳ đang bị mắc kẹt trong vùng địch kiểm soát; khu-trục-cơ chiến thuật và oanh tạc cơ B-66 của họ đã bị phòng không của quân Bắc-Việt bắn hạ trên không phận Bắc Quảng-Trị hơn 10 ngày qua, Trung-tá phi-công Hambleton và Đại-úy Mark Lack đều nhảy dù đáp xuống đất an toàn, và đang tìm cách lẩn trốn chung quanh địa điểm dọc theo quốc lộ 9, thuộc phía Bắc sông Cam-Lộ, tỉnh Quảng-Trị. Hiện vùng đất nầy đã hoàn toàn do lính Bắc-Việt kiểm soát. Hai phi-công vẫn giữ được liên-lạc với thám thính cơ Bronco OV-10 trên không vào mỗi đầu múi giờ; Các Trung-đoàn quân Bắc-Việt chia ra từng vùng trách nhiệm để truy bắt hai phi-công nầy. Vì thế CIA lập lại cái cảnh thả dù tiếp tế như hồi 6.000 Thủy-Quân Lục-Chiến bị bao vây ở Khe-Sanh; Trong 10 ngày qua có những phi vụ bí mật đã thả những thùng đồ ăn, C.Ration xuống đất tiếp-tế. Các anh hùng Biệt-Hải được ân cần nhắc nhở nhiều lần; anh em hãy tránh xa mỗi khi trông thấy những thùng C-Ration đó, lý do có một số hộp đã bỏ chất độc truyền nhiễm hay bị gài chất nổ rất nguy hiểm, chỉ riêng phi-công Mỹ mới biết được ám số nơi đầu mỗi hộp cũng như biết ám số an toàn của các loại thực phẩm, và đây cũng là nguyên nhân theo những tài liệu thư từ của quân Bắc-Việt; lấy đạn địch để tiêu diệt địch, lấy lương-thực địch để nuôi quân. (Dĩ-nhiên Hoa kỳ không dại gì lấy chất độc loại nầy thay vì chất độc màu Da-Cam ít tội-vạ trong cái gọi là nối lại bang giao (theo lộ đồ 20 năm thù địch (1975-1995) qua cái cớ “Chất độc màu da-cam với người Mỹ mất tích MIA) Bạn có biết không cái gọi là bồi thường và hàn gắn vết thương chiến tranh rất cần thiết cho tập đoàn tư bản để xả-ra (flushing) những thứ thừa thải hết hạn để gọi là bồi thường thay gì phải vất bỏ vào thùng rác.

                          Trong cuộc thuyết trình bỏ túi chớp nhoáng, Toán trưởng chỉ ngón tay trên bản-đồ bao vùng hoạt động tìm kiếm trách nhiệm của Toán, vị trí xuất phát từ một tiền đồn của một Đại-đội thuộc Sư-đoàn 3 bộ binh tân lập, xa về phía Tây tận đến Khe-Sanh dọc theo quốc lộ 9, Cam-Lộ, xuôi theo dòng sông Miếu-Giang chảy ra biển, kể cả vùng Đông-Bắc đều do các Trung đoàn cơ-động Bắc-Việt kiểm soát. Các ngôi sao màu Đỏ tượng trưng cho các Sư-đoàn BV, còn về phiá Đông-Nam màu xanh tượng trưng cho VNCH, chỉ có rải rác các nút chận cấp Tiểu-đoàn hoặc Trung-đoàn hay nhỏ nữa là cấp Đại-đội như ở tiền đồn nầy chẳng hạn. Nhìn tình hình chiến trận tổng quát, làm cho tinh thần của vài người trong toán có phần căng thẳng khi hiểu được tương quan lực lượng giữa hai bên, để kết thúc buổi họp, Toán trưởng hỏi anh em ai có ý kiến gì không? Tất cả đều lặng thinh, các anh em đi đến bàn ghi địa chỉ thân nhân thật rõ ràng khi cần cấp báo, đồng thời đứng chờ lãnh một số quân trang cần thiết cho công tác gồm có: 2 bộ Kaki màu cứt Ngựa (loại lính chính quy BV thường mặc) 2 dây lựu đạn Mini loại nhỏ, giày Bata, súng hỏa-châu tí hon, loại 6 viên đeo nơi cổ (flaregun) còng tay dã chiến bằng nylon, C-Ration đựng trong giấy Nhôm màu Nâu đủ dùng trong 4 ngày; ngoài ra được trang bị một khẩu AK47 và băng được lấp đầy đạn, áo phao chân nhái.v.v..

                          Xa về phía Tây-Bắc của tiền đồn, dưới chân ngọn đồi có cây cầu bắc ngang qua trên con rạch nhỏ nối liền hai đầu Quốc-lộ, các chiến hữu Bộ-binh vừa cho biết Công-binh phe ta đã cố tình giật sập mấy ngày trước, mục đích ngăn chận tiến quân và xe Tăng T54 của BV xâm lăng ồ-ạt cùng mấy Sư đoàn chính quy. Cách đó không xa, vào khoảng vài trăm thước hướng Tây 7 chiếc T54 bị bắn cháy, đang nằm ngổn ngang như đống sắt vụn, các Xạ thủ bị xiềng chân vào ổ súng, bị chết cháy trông như những con Heo quay nhìn thấy thật là tội nghiệp. Vì tình hình khẩn trương, Trung-úy Tom Norris đề nghị với Toán-trưởng cho xuất phát vào khoảng 5 hoặc 6 giờ chiều nay; Toán-trưởng lưỡng-lự, xoay qua đưa tầm mắt nhìn về các Toán-viên như muốn hỏi ý kiến anh em. Châu, một Toán viên thâm niên và đầy kinh nghiệm nhảy Toán liền góp ý kiến: Các hoạt động Biệt-Hải xưa nay chỉ chuyên đột nhập về đêm, thành công hay không đều do yếu tố bất ngờ, nhưng với tình hình nầy, cũng như lộ trình di chuyển xem ra không mấy dễ dàng, nhất là đang lúc ban ngày, ngay đến 2 phi-công nhảy dù thoát hiểm ở vùng nầy cũng phải, ngày trốn, đêm đến thì thả trôi theo giòng sông Miếu-Giang xuôi theo ra Biển, vì một điều quan trọng là Quân BV rất nhiều và kiểm soát khắp nơi, rất nhiều Sư-đoàn Chính-quy từ Bắc mới vào, chúng đang kiểm soát từ tuyến Khe-Sanh dọc theo Quốc lộ 9 và chắc chắn sẽ lan sang những vùng phụ cận, sợ rằng, Toán dễ bị phát giác nhanh chóng bởi các tiền trạm hoặc những Chốt chận của chúng trước khi Toán đến được mục tiêu. Nghe sự giải thích hợp lý, Toán trưởng quyết định bác bỏ lời đề nghị của trung-úy Tom Norris, giờ xuất phát tối nay, khi mặt trời đã hoàn toàn ngủ yên.

                          Đúng 7 giờ tối, Toán chuẩn bị khởi hành, bỗng dưới chân đồi cách Lô-Cốt khoảng độ hơn 1 cây số, ước tính theo tầm mắt, trông khá rõ ràng vì hiện đang là mùa Hè, cho dù mặt trời mới khuất nhưng vẫn còn trông thấy được, xuất hiện một đoàn xe Tăng T54, và Molotova của BV không thể đếm được là bao nhiêu chiếc, tất cả đều bật đèn lên sáng trưng nối đuôi nhau chạy trên Quốc lộ 9, hướng thẳng về phía tiền đồn mà Toán đang chuẩn bị xuất phát, hầu như chúng không sợ chiến đấu cơ của phe ta đến oanh kích, hoặc Pháo-binh sẽ tác xạ, khi sắp gần tới cây cầu mà đơn vị Công-binh đã giật sập trước đó. Bỗng dưng đoàn xe tăng T54 chuyển hướng băng qua nhiều ngọn đồi, chạy thọt sâu vào lãnh thổ Quãng-Trị. Thấy vậy các Chiến-Sĩ Biệt-Hải, lẩm bẩm chửi thề ‘Mẹ kiếp’ tiền hung, hậu có kiết không đây? Hồi 2 giờ trưa nay, từng đoàn Molotova phát xuất từ hướng cửa Việt cùng lần lượt tiến vào, ở trên đồi cao nhìn xuống thấy rất rõ; đoàn xe băng qua nhiều cánh đồng hoang, sát nách cách tiền đồn không xa lắm, và băng qua một cách thản nhiên, không hề kiêng sợ, làm cát buị bay tung lên mù mịt. Nói tóm lại trong khoảng thời gian nầy (không được oanh kích hoặc pháo-binh tác xạ, vì kẹt Trung-tá Hambleton và Đại-úy Mark Lack đang lẩn trốn trong vùng chúng kiểm soát). Quân BV vẫn liên tục, thường xuyên di chuyển, nhất là những ngày Toán Biệt-Hải có mặt tại đây. Điều làm mọi người ngạc nhiên không ít, là ngày và đêm không hề nghe tiếng máy bay hoặc Pháo-binh của phe ta bắn tới yểm trợ cho quân bạn. Xem như tình hình quanh vùng, ngày càng trở nên căng thẳng đến mức vô cùng tồi-tệ; những giờ phút linh cảm đen tối như thế nầy, các Chiến-sĩ đều nhờ vào hơi của thuốc lá nặng (Basto Xanh) để giúp họ trấn an tinh-thần.

                          Đã 10 ngày qua, kể từ 9 giờ tối ngày 2 tháng 4 năm 1972, Không-quân và Hải-quân Hoa-kỳ đã lập vùng “cấm hỏa-lực” (no fire zone) quanh vị trí phi-công, Trung-tá Hambleton và Đại-úy Mark Lack bị phòng không BV bắn rơi với đường kính 27 cây số, vùng cấm hỏa lực bao trùm hầu hết các vị trí QLVNCH đang bị áp lực lực lượng BV bao vây tấn công, nên vì thế các đơn vị QLVNCH không còn được máy bay và pháo binh yểm trợ như thường lệ. Đây là cơ hội quý giá nhất cho quân đội BV chuyển quân vào các tỉnh của tuyến đầu lãnh thổ miền Nam một cách rầm rộ nhanh chóng mà không lo sợ, vì thế cho nên các cứ điểm đóng quân của Sư-đoàn 3 BB, sau đó không lâu đã bị Cộng-quân tràn ngập. Gần 8 giờ tối, màn đêm bắt đầu buông xuống phủ kín cảnh vật chung-quanh, nhường chỗ cho những sinh vật sở trường hoạt động về đêm, trong đó có Toán Biệt-Hải. Tối nay Toán áp dụng đội hình di hành hàng dọc, mỗi người cách nhau 3 thước, theo thứ tự đã được chỉ định trước khi xuất phát; Riêng trung úy Tom Norris luôn luôn đi giữa. Còn Trung-tá Andy Anderson thì nhận trách nhiệm ở lại Tiền đồn làm trục ‘trung gian’ móc nối, liên lạc với thám thính cơ OV-10 với Toán Biệt-Hải cùng với 2 phi-công Hoa-kỳ đang lẩn trốn trong lòng địch.

                          8 giờ 20 tối, Toán bắt đầu rời khỏi tiền-đồn dưới sự hướng dẫn của người lính gác, vượt, luồn lách qua nhiều vòng kẻm gai, mìn bẫy phòng thủ quanh căn cứ. Nhờ buổi chiều lúc vừa đến Toán-trưởng đã nghiên cứu địa hình, nên trong đêm tối, tìm hướng lộ trình dẫn Toán mon-men xuống bờ sông Miếu Giang cảm thấy không mấy khó khăn, con sông được chia ra nhiều nhánh, đặc biệt giòng nước thường chảy cực mạnh dù nhịp độ thủy triều có lên hay xuống; đứng dưới bờ sông nhìn lên Quốc lộ 9 vào lúc nầy không tài nào ước lượng nổi, khoảng cách bao xa! Hơn nữa nhiều cây to cao mọc lên san sát, nên đã che khuất phía trước. Trong màn đêm tịch mịch thanh vắng, mọi người trong Toán vẫn nghe được tiếng ho hay tiếng khua động từ chỗ đóng quân của các Trung-đòan thuộc Sư-đoàn 324B Cộng Sản vọng lại.

                          Bầu trời về khuya cảnh vật càng trở nên tỉnh mịch thanh vắng đến rợn người, ngoại trừ tiếng kêu của các loại côn trùng, như muốn chui rúc vào tai. Ám ảnh bởi những ‘oan hồn sinh Bắc tử Nam’ làm những vị anh hùng vô danh nầy chiến đấu âm thầm trong bóng tối, phải cảm thấy len lẻn một nỗi buồn man mác tẻ lạnh, khi nghĩ đến thần chết vẫn quanh quẩn đâu đây! Phút chốc, vài loài chim đậu ngủ yên trên các nhánh cây vụt bay tán loạn khi nghe tiếng chân của người dù rất thận trọng, vô tình làm lồng ngực cả Toán đập thình thịch, vì tưởng rằng đã bị địch phát giác theo dõi. Di chuyển ban đêm cảm thấy có nhiều khó khăn hơn, vì bất cứ tiếng động nào cũng có thể tạo ra cảm giác lo sợ, vì bị hạn chế tầm nhìn xa, duy chỉ tin tưởng vào thính giác giúp Toán phán đoán sự việc có thể sắp xảy ra, để tùy nghi ứng xử cho hợp với hiện trạng. Tâm trạng của Tiền-sát viên hết sức phân vân lo nghĩ, hình dung những sự việc không may có thể xảy ra thình lình cho Toán. Hắn mau chóng nẩy sinh ý kiến vội vàng thay đổi lộ trình dẫn Toán đi xuống dọc theo mé nước cạnh bờ sông, nhưng phải sâu ít nhất cũng ngang đầu gối, nhưng đôi lúc gặp phải chỗ trũng lên tận tới ngực, tuy sự xê dịch có phần chậm hơn nhưng chắc chắn không gây tiếng động, hoặc không để lại dấu vết giúp Cộng Sản dễ dàng theo dõi.

                          Đúng nửa khuya, 12giờ30, tất cả 6 người đều đến mục tiêu một cách bí mật và kín đáo, nhưng không tài nào đoán được Toán đã di chuyển được bao nhiêu cây số. Theo sự hiểu biết, qua liên lạc được thì hai phi-công sẽ thả trôi theo dòng nước như họ đã làm trong những đêm vừa qua, còn ban ngày thì tìm những bụi rậm, để nghỉ ngơi lấy sức cho đêm tới. Mọi người chia ra tìm các bụi cây gần đó không được cách xa quá để ẩn nấp; Đồng thời phải chú ý nghe ngóng về hướng trên của Quốc-lộ 9 mà hiện quân lính BV đang đóng quân, cũng như ở phía dưới dòng sông; Vì trước giờ khởi hành, Trưởng-toán cho biết tối nay, 1 trong 2 phi-công sẽ từ chỗ lẩn trốn thả trôi theo dòng sông, trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 3 giờ sáng. Mọi Toán viên đều cố để mắt quan sát, nghe ngóng và khi tìm gặp họ, thì bằng mọi cách phải đem họ ra khỏi chỗ nầy càng sớm càng tốt, vì đây là ổ ‘kiến lửa’ trong lòng địch. Đêm nay là mấy! mà sao màn đêm lại mù mịt giống như đêm 30, chỉ có một vài vì sao lờ mờ lộ diện, chỉ nhìn thấy được trong chốc lát, qua đám mây mỏng tìm ẩn phơi bày nhẹ nhàng trôi về phía Tây Trường Sơn. Nhìn về hướng Đông cửa Việt, một vài vì sao nằm rải rác lấp lánh tựa như ánh sáng của loài đom đóm, muốn chia xẻ một chút ánh sáng để giúp cho những Biệt Hải anh hùng chiến đấu trong bóng tối. Quanh đây trên các ngọn cây lớn nhỏ không hề lay động, chứng tỏ thời tiết miền Trung sắp sửa bước qua mùa hè, nóng nực, oi bức, khiến cho ngoại cảnh chung quanh càng thêm ngột ngạt, ngoại trừ hơi thở dồn dập, nhưng không đều của một vài Toán viên đang cố tình nén lại đột biến… đâu đây có một hơi thở nhè nhẹ, nhưng chắc chắn không phải là ngủ mà đang mở to đôi mắt nhìn vào những lùm cây tìm kiếm xem có cây nào lay động không, nhưng chỉ nghe thấy tiếng nước chảy róc rách của dòng thủy triều đang hồi chảy xiết ra hướng Đại Dương...

                          Thình lình ở giữa dòng sông, Toán viên tiền vệ bất chợt phát giác có 1 chấm đen từ trên trôi xuống rất nhanh, một lúc một gần, bập bềnh trôi theo dòng sông đang chảy cuồn cuộn, chỉ vài phút sau, thì đã thấy chấm đen lớn dần rồi vụt qua khỏi tầm mắt của vài Toán viên đứng chận cách đó chừng 10 thước, gần đến độ nghe được tiếng thở phì phào mỏi mệt khá rõ, phát xuất từ chính vật đen đang hấp hối trôi qua… ở trong lòng địch, làm sao ai dám kêu gọi ơi ới?

                          Chẳng bao lâu, Toán tập họp lại đi đến quyết định, ban đêm không thấy nhau để bị ngộ nhận mà lại bất đồng ngôn ngữ, còn ban ngày lại càng không nên, vì Toán Biệt Hải ăn mặc theo lính chính quy BV, nếu đến gần phi-công có thể bị cho ăn kẹo đồng như chơi.

                          Quyết định rồi, nhanh như chớp Tom Norris mang chân nhái một mình phóng xuống nước, dùng hết sức mạnh lặn lội theo cho kịp vật đen; nhưng vào khoảng 20 phút sau Tom Norris lội trở lại vị trí của Toán, có lẽ vì dòng nước trên đã chảy mạnh, đã cuốn vật đen đi xa, nên Tom Norris lội theo không kịp. Vừa rồi, tất cả sự việc xảy ra trong khoảnh khắc, nên cả Toán chẳng ai có đủ thời gian để kịp phản ứng hành động. Dù vậy vẫn án binh bất động chờ đợi lệnh; tuy không nói ra nhưng cả Toán đều nghi ngờ vật đen lúc nãy có thể 1 trong 2 viên Phi Công Mỹ đang nương theo dòng nuớc với hy vọng về tới Đồng bằng có phe ta chờ sẵn, nhưng không may vượt khỏi tầm tay chờ đợi của Toán; xem như cơ hội hiếm hoi đã bị tuột mất, thình lình nghe tiếng đối thoại vừa đủ nghe giữa Tom Norris và Trung Tá Anderson đang trực máy ở tiền đồn, có lẽ đang bàn thảo diễn tiến về sự kiện vừa mới xảy ra. Kể từ lúc phát hiện vật đen đã gần 30 phút trôi qua rồi, Trưởng Toán cho lệnh đi ngược trở lại, nhưng xuôi theo bờ sông về lại tiền đồn, nhìn vào mặt của đồng hồ dạ quang, đã hơn 2 giờ sáng. Trên đường trở lại lộ trình cũ, đi nửa người dưới mực nước nhưng phải thận trọng cảnh giác đề phòng, nhất là những chỗ đáng nghi ngờ, trong đầu mọi người vẫn luôn luôn bị ám ảnh không ít, hiện giờ trời quá tối, vả lại cây cối rậm rạp thế nầy, lỡ mà lọt vào ổ phục kích của lính BV, thì chắc chắn không còn một mống chạy thoát.

                          Theo như tin vừa mới biết, một số dân trong vùng chạy giặc về cho biết, bọn lính BV đang tung ra nhiều toán nhỏ, như ở ngoài Bắc thường truy lùng các Toán gián điệp đột nhập, từ trên không theo thế cài răng lược cho nên hai phi-công Hoa-kỳ nầy khó hy vọng thoát khỏi cái lưới bẫy chặt chẽ nầy của chúng! Vì thế, nên ngày thì vô bụi rậm ngủ lấy sức, đêm thì thả trôi theo dòng sông, hy vọng xuống vùng đồng bằng sẽ gặp quân bạn.

                          Nỗi thắc mắc của mọi người, vật đen và tiếng thở của con người đang trôi vụt qua, đầu óc luôn ám ảnh thắc mắc và tự hỏi, không biết vật đen đó có phải là người… mà là người phi-công Hoa-kỳ mới đúng! Thật Toán Biệt Hải nầy quá khó tánh! phải là phi-công Hoa-kỳ mới đúng? Nên bụi cây nào ở trước mặt, Toán sắp sửa lướt qua là mở to đôi mắt soi bói như tìm một bảo vật đang lẩn trốn trong ấy, nhưng ác nghiệt thay, những bụi cây trước mặt không thèm lay động, thì lại càng làm nản lòng cho những người trông ngóng đi tìm, kể từ khi Toán nhận lệnh, rời khỏi mục tiêu cho đến giờ là hơn một tiếng đồng hồ rồi, thì hy vọng đang tan dần theo những áng sương mù của màn đêm chụp xuống… Rồi bổng chốc, như một điệu nhạc ‘rock and roll’ 6 cái đầu và 12 con mắt đều đồng loạt hướng về một bụi cây phía trước, nằm sát mé sông cách Toán chừng 10 thước, trong màn đêm tỉnh mịch làm sao không nghe rõ được những âm thanh giao động trên dòng nước, mọi người lấy lại bình tĩnh quan sát chung quanh cẩn thận trước khi ứng xử, như phản xạ trong kinh nghiệm chiến đấu, mọi người đều tìm một nơi ẩn nấp thuận lợi gần nhất, tất cả các bụi cây đều đứng yên bất động: và cả Toán không ai bảo ai đều giữ im lặng, đứng yên không lay động… và lắng nghe, theo dõi. Sau một hồi khá lâu, tất cả đều lắng nghe trong hồi hộp phập phồng, quan sát lại một lần nữa bụi cây trở nên yên lặng đến khó thở; vì trời sắp sáng đến nơi rồi không thể chần chờ được nữa. Tiền sát viên được một Toán viên ỳểm trợ cố đến sát mục tiêu, hai nòng súng AK47 chỉa vào bụi cây trước mặt; khi khoảng cách bụi cây thật ngắn, người tiền đạo nhận thấy bụi cây bỗng run lên như sợ hãi, rồi mỗi lúc một mạnh hơn, đồng thời nghe tiếng người phát ra yếu ớt như van xin (có vẽ viên phi-công đã thấy trước Toán người lố nhố từ nơi xa) ‘No, No’ bằng anh ngữ phát ra từ nơi thân cây, làm cho hai Toán viên đi đầu không còn nghi ngờ gì nữa, đích thực đây là viên phi-công Hoa-kỳ mà cả Toán đang vượt mọi nguy hiểm để đi tìm, ngay dưới thân cây lờ mờ trong tầm mắt của Toán chừng 5 thước, viên phi-công đang run rẩy vì bị ám ảnh và in trí rằng đây là những đơn vị bộ đội BV đang lùng bắt ông, tinh thần quá sa sút vì đói khát trong 10 ngày qua, vì đã lẩn trốn nên càng làm cho ông trở nên hoảng sợ khi nhìn thấy Toán người đang lố nhố trước mắt ông.

                          Tiền sát viên xác định mục tiêu có phần chắc chắn, bèn đứng yên bất động tại chỗ, cốt để mắt quan sát, theo dõi, không dám khiêu khích hay động tĩnh, vì sợ viên phi-công hoảng hốt, và sẽ buông tay khỏi gốc cây lần nữa để trốn theo dòng nước đang chảy xiết, hoặc là vì bản năng tự vệ ông ta có thể dùng súng P.38 trong người để bắn trả lại thì sẽ bị lộ tông tích cả lũ. Tiền sát viên đã trông thấy khá rõ viên Phi công, tử trên đỉnh đầu dùng khăn quàng cổ ngụy trang phủ kín đến cổ, hai tay ôm chặt dưới thân cây ngập nước, lom khom dưới mức nước sâu đến lồng ngực của ông, tiền sát viên vỗ nhẹ lên đầu ra dấu cho toán viên trở lại phía sau báo động cho Tom Norris biết; không bao lâu thì có tiếng bì bỏm cuộn quặng trên mặt nước, hai người hiện rõ, đó là Toán-trưởng và Tom Norris. Tiền sát viên chỉ về hướng thân cây đang ngập nước nơi đã phát hiện ra viên Phi công, trong giây lát Tom Norris xác định được vị trí rõ ràng, thì vội vàng lên tiếng vừa đủ nghe, rồi bất ngờ viên Phi công từ trong bụi cây nhanh nhẹn bò ra (giống như Bò mẹ khi sanh Bò con dấu trong lùm cây, khi Bò con nghe tiếng kêu của Bò mẹ thì dựng phóc dậy chạy ra). Thật là cảm động! Cả hai quỳ xuống ôm chầm lấy nhau giống như đôi tình nhân đã xa cách hằng thế kỷ, mà nay bỗng nhiên gặp lại; Mọi người đều nghe rất rõ, tiếng đứt quảng từ người Phi công thốt ra “Thank... Thank” làm cho mọi người ai ai cũng hết sức vui mừng phấn khởi và đầy cảm động! Và có lẽ ông quá xúc động sau 10 ngày lẩn trốn, phần thì bị lính BV truy kích, phần thì đói khát, ông tưởng rằng sớm muộn gì rồi cũng sẽ bị bắt, nhưng không ngờ nay được cứu sống qua sự hy sinh của các chiến hữu cùng một chiến hào Thế Giói Tự Do.

                          Niềm vui sướng nào có thể so sánh cho bằng hai chữ Tự Do, vì tưởng đã vĩnh viễn mất đi, nay tìm lại được, nhưng đối với những chiến sĩ đã âm thầm chiến đấu trong bóng tối là cả một phần thưởng thầm kín, lớn lao vô giá đối với tinh thần thượng võ, Toán đã vượt tất cả khó khăn nguy hiểm để hoàn thành công vụ trong một đêm đầu, càng tăng niềm tin theo những chuyến nối tiếp. Dù vậy, thời gian không cho phép ở đây quá lâu, Toán-trưởng tức khắc ra lệnh rút lui nhanh, không thì sẽ bị lộ ngay, vì quanh đây vẫn là chỗ đóng quân của một Sư-đoàn lính BV, nên mọi người đều phải cảnh giác và cẩn thận đều đó, ngoài ra còn có trách nhiệm phải đưa viên Phi công về phần đất an toàn nữa chớ!

                          (còn-tiếp)
                          Last edited by chieutim; 06-05-2013, 08:17 PM.

                          Comment

                          • vinhtruong
                            Super Member
                            • Jun 2010
                            • 1924

                            #28
                            Bài tuyển Vinhtruong trên các Diễn Đàn Lính

                            (tiếp theo)
                            Tôi thất vọng viết về quân sử “Nhất là những bài viết phỏng theo hay dịch lại trong những tài-liệu không thật - Get real!!! Và tệ nhứt là phim BAT-21 Bravo cũa Hollywood

                            It’s a great movie. However, the REAL story is even better. You can read about it here



                            - Còn Hollywood thì họ cho rằng: “Hollywood không bị bắt buộc phải phóng tác câu chuyện hoàn toàn sự thật” Ðúng thôi! Ngay đến tài-liệu được phổ biến rộng khắp cũng không thực tế xảy ra theo sự hiểu biết của tôi, như Mỹ phản ứng sử-dụng “rãi Mìn chung quang Hambleton dưới đây! Chả lẽ họ muốn Hambleton không được di-chuyển ra khỏi nơi nầy, và cũng không muốn ai đến gần để giải cứu?

                            “As morning dawned on April 3rd, Lieutenant Colonel Hambleton's position had been marked within 30 feet by onboard LORAN (long-range navigation systems) The Air Force knew where the injured survivor the the EB-66 was, but couldn't reach him because of the massive enemy force that surrounded him. Fellow pilots had circled above his position throughout the night, then with the first rays of dawn, they began dropping mines around him. If they couldn't fly in to rescue him, they could at least keep the North Vietnamese from reaching him as well. Then, as the dawn gave way to daylight and the cloud cover lifted, a new rescue effort was mounted”

                            Và thêm nữa “Classified military Secrets to protect the nature of such SAR actions on the ground by The US Naval Special Warfare Archives. (Có nghiã là câu chuyện không được quyền phổ-biến sâu rộng, tổng quát theo luật pháp liên bang của Hoa Kỳ, ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam” Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem. Dù rằng có nguồn tin đáng tin cậy: Thomas Norris (personel conversation) – Micheal Thornton (personel conversation) – Ltc Iceal Hambleton, USAF (ret) who gracious proof-read this report for accyracy – The Rescue of Bat-21 by Darrel D Whitcomb Brave Men, Dark Waters, by Orr Kelly SOG, by John L. Plaster.

                            Vì thế, tôi luôn có quan điểm tôn trọng sự thật đúng như nó có, không thêm không bớt, không tô hồng, nhưng phải lý luận cho đúng thực tế có xảy ra, cũng không bôi đen, không đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại, không vì ghét chinh sách Mỹ, giận Mỹ thì tô-vẽ Mỹ xấu hơn thực tế dù chỉ một chút, cũng không thân với Bên nào, Miền nào (vi cả 2 đều là công cụ bị ngoại bang ủy nhiệm), như ưa bên nào thì tả bên ấy tốt hơn thực tế, che dấu bớt mặt xấu một chút - Làm như thế là thiếu công tâm, thiếu khách quan, thiếu lương thiện của con người “tôi mong ước trả lại tính trung thực cho quân-sử và lịch sử”. Quả thật đánh giá đúng, thật đúng một bài vở không dễ chút nào, mỗi người đều vừa là tác nhân, là chứng nhân của lịch sử, vừa có thể là nạn nhân của lịch sử - Một bài có thể đúng về mặt này, trong phạm vi này, lại sai trái về mặt khác, trong phạm vi khác. Lại còn tuỳ theo điều kiện khách quan, tuỳ theo chỗ đứng và góc nhìn, lại còn tuỳ theo lập trường kiến thức hiểu biết và nhãn quan chính trị nữa. Muốn rõ hơn xin tra cứu hình “giải mật” ở Website: Lý do vì tôi đi tìm hiểu những bí ẩn lịch sử nên trong lúc tra cứu phát giác trên online có preview 178 trang giới thiệu, đang chờ đọc khi in ra.


                            Bài trước tôi viết xong Rescue Nail-38 (Trung úy Quan-sát-viên Mark-Clark) và dưới đây là tiếp theo Rescue Bat-21 Bravo (Trung Tá Hambleton, Ðiều-hành-viên, Navigator B-66)
                            (In one of the most bizarre rescues of the Vietnam War, Lt. Col. Iceal Hambleton was recovered from enemy territory in northern South Vietnam after 11 1/2 days on the ground. This was the largest rescue operation in USAF history.
                            On Easter Sunday, April 2, 1972, Lt. Col. Hambleton was flying as navigator in an EB-66 electronic counter-measures aircraft (call sign Bat-21) When the aircraft was struck by a surface-to-air missile, he was the only man to eject safely, landing near a busy highway junction on a Communist supply route. Intelligence sources reported the area contained 30,000 enemy troops. When he came up on a survival radio an effort was immediately instituted to try and rescue him. A Huey helicopter was shot down with a three-man crew. Two of them were killed and one of them was captured.
                            On the second day, two more helicopters went in and were so badly shot up they had to abort the mission, and a forward air controller aircraft was shot down, putting two more individuals on the ground. One was captured and one became just like Hambleton. They went in with one more rescue attempt. They were shot down and lost a six-man crew. The day after that another forward air control aircraft was shot down with two men aboard. One was killed and the second one, First Lieutenant Bruce Walker, was missing on the ground. After five days effort, we had 14 people killed, we had lost eight aircraft, we had two people captured, and we had three on the ground to be rescued. That's when Lt Tom Norris and a team of 5 ARVN Sea Commandos became involved: (Theo sự thông dịch bình thường, Queenbee-1 dịch Lieutenant=Trung úy, như vậy cũng tạm ổn theo nghĩa bình dân? nhung theo Seal Naval la dai-uy!)

                            Vì quyền lợi hẹp hòi ích kỷ cũa bọn tư bản quốc phòng (War Industries Board) áp đặt nhân viên phi hành Mỹ cũng như Việt Nam phải trả một cái giá quá đắt cho cái gọi là xuất khẩu phi cơ phải tiêu dùng cho hết theo định luật làm ăn “xuất khẩu phải được tiêu xài” Cái giá phải trả cho sự thực tập trắc nghiệm hoả tiển ‘phòng không’ và ‘chống phòng không’ giữa hai thế lực LX và Mỹ, sau khi đã trắc nghiệm chiến đấu cơ lần đầu tiên thế hệ phản lực, Mig-15 (LX) và F-84 (Mỹ) trên bầu trời Triều Tiên là do âm mưu cấu kết giữa Ðại sứ Mỹ tại Moscow là William Averell Harriman và Stalin truoc khi ket thuc WW-2 (sau khi cả hai Mỹ và Liên Sô sẽ chia nhau chụp các nhà bác-học Ðức rồi phải có chiến trường để trắc nghiệm: ưu tiên quốc phòng trên bầu trời Triều Tiên và cho hàng không dân dụng bằng cuộc chiến tại VN; cho nên phải chia 2 nước nầy thành bãi chiến trường để thí nghiệm vũ khí mới và tiêu thụ vũ khí củ)

                            Trung tá Hambleton thình lình bị sức ép tống văng ra khỏi chiếc oanh tạc cơ EB-66, chiếc phi cơ điện-tử không vũ trang bị trúng một hoả tiễn Sam địa không (surface to air missile) nổ tung thành trăm mảnh vụn rơi xuống, trong khi Hambleton vừa thấy thoáng qua hình bóng phi công đang trong vị thế hoảng hốt, toan nhảy dù nhưng đã trễ vì phi cơ đang bùng nổ tan ra thành cả ngàn mảnh vụn, phi hành đoàn 5 người còn lại chắc chắn phải tan xác trong đám lửa. Vừa bị bắn văng ra ngoài, vị trung-tá 53 tuổi đang lững lờ trên trời không biết vận mạng ra sao; May mắn thay chiếc dù đã được Chúa che chở chui vào đám mây dầy-đặc bao-che cho đến xuống tận đám rừng chồi thưa cây. Con người số mạng lớn như thế nầy chắc sẽ thoát khỏi nanh vuốt quân Bắc-Việt như linh cảm của tôi. Số phận trung tá rồi cũng sẽ giống y chang 2 phi hành đoàn UH1-H của Trung úy Ðạt bị phòng không 37 ly bắn cháy trên không và chiếc Thiếu úy Phúc bị bắn tê-liệt khi còn cách LZ Hồng Hà-2 vài chục thước. Tất cả đều được cứu thoát nhờ vào câu nhựt tụng truyền thống cuả KQVN “không bỏ anh em không bỏ bạn bè” dù bất cứ hoàn cảnh nguy hiểm nào.

                            Dưới đây, nằm ngay trung tâm điểm trách nhiệm kiểm soát cũa 30.000 lính BV mà quân BV đã từng có kinh nghiệm chia từng toán nhỏ lục soát từng vùng, cùng đồng loạt bung ra để bắt Biệt kích nhảy toán ngoài bắc, làm sao họ thoát khỏi bi chụp đây? Dĩ nhiên liền sau đó một cuộc Rescue được mật thiết tổ chức (SAR) để càng sớm càng tốt cứu tất cả những người lâm nạn, 2 chiếc trực thăng UH1 được phóng vào liền bị bắn hạ ngay tại trận, nhưng may mắn nhờ phi công gan dạ liều mình của chiếc CH-53 Jolly Green bay dùng Minigun bắn xối xả bao vùng, vào cứu được tất cả đoàn-viên về hậu cứ. Rồi màn đêm buông xuống bao phũ khung cảnh cô đơn hãi hùng vây quanh Hambleton đêm nay, Chúa nhựt 2/4/1972.

                            Sáng tinh sương 3/4/1972, trung tá Hambleton đã được phi cơ trắc-giác xác định vị trí của ông qua trên LORAN (long range navigation system) USAF biết chắc vị thế nhưng chịu thúc-thủ vì ông đang nằm kín mít giữa ranh giới của 2 sư-đoàn 304 và 308 . Dù vậy suốt đêm phi cơ thám thính vần vũ trên ấy, đợi đến sáng phi cơ sẽ vào thả mìn? (Theo tài liệu nầy các bạn quân nhân nên để ra vài phút suy gẫm, việc làm thả Mìn nầy có phải con dao 2 lưỡi… gây ra cảnh gậy ông đập lưng ông? Có nghiã là giết hết kể cả nhân viên phi hành lâm nạn! Trong cuộc rút lui êm thắm của 6.000 TQLC Mỹ từ Khe Sanh, đoàn convoy chạy một mạch từ Khe Sanh ra đến nơi và lên Hạm đội trên hàng không mẫu hạm Okinawa bình-an là sao? Trước đó hơn nửa năm, đầu năm 1968, ngày nào trên TV khắp thế giới đều có rao giảng quân BV có ở miền nam hay không? Và quân BV sẽ bắt TQLC Mỹ giống như Ðiên Biên Phủ vào năm 1954! Ðược Hà Nội trả lời là không! Chỉ có nhân dân miền nam nổi lên chống Mỹ/Diệm, còn Khe Sanh vùng rừng núi thì chỉ có Khỉ ... rồi bao nhiêu sư đoàn của tướng Giáp chết tươi ở đây mà Hà Nội có miệng mà nói không nên lời? Chiếc C-130 thả các chiếc dù tiếp tế thường điều chỉnh ở cao độ thấp để bung dù cho chính xác không bị lạc ra xa, bằng hệ thống sensor “altimeter setting” Tuy nhiên bỗng có sự kiện mới, các chiếc dù đều được thả ở cao độ, cứ cho lý do là phi cơ C-130 và C-123 đáp xuống bị pháo kích cường tập, nên có nhiều chiếc dù lạc ra ngoài, trong mỗi ballet đều có cấp số đan cối và lương thực giống nhau mà lính BV có viết thơ về nhà khoe ta cướp đạn Mỹ để đánh Mỹ (thí dụ đan cối 81 dùng 82ly BV) và lương khô để nuôi quân. Tất cả Ballets đều giống nhau, bỗng dưng thình lình có lệnh chuẩn bị rút khỏi Khe-Sanh, và Tiểu đoàn 37/BÐQ giữ vòng đai Khe Sanh phải rút vào bên trong cùng chuẩn bị lên đường.
                            Một buổi sáng đẹp trời, nhiều cánh dù lơ lững trên cao chung-quanh phi trường. Ngay khi vài chiếc dù rơi vào trong vòng đai phi-trường và bị các MP Mỹ ra gác chận lại không cho ai đụng tới, mà dồn nổ lực sắp xếp chuẩn bị rút. .. Chuyện gì sẽ xảy ra hãy để cho phản tình báo CIA trả lời! Hoặc xem sach Vietnam War “The New Legion”, Vinh Truong, Library of Congress Control Number 2010902134.

                            Khi cần cứu nvph như 7 người trong đoàn viên UH1-H rơi ở bên Lào 1971 và được đại đội Hắc Báo cứu như thế nào hãy xem ở mục Chuyện đời-lính, Canh Thep “Lam Sơn 719” thì rõ qua hình tài liệu, Mỹ đã dùng BLU-82Al và BLU-82S để tiêu diệt nguyên một sư-đoàn nổi tiếng là Sư Ðoàn-2 Sao Vàng đang phục kích cố thủ dưới công sự phòng chống kiên cố tại Căn-cứ hậu cần 604.

                            Nói cách khác họ làm cách nào mà quân BV không thể vào để chụp Hambleton, có nghiã là họ thả dù với lương khô có chất độc và truyền nhiễm (bacteria weaponry, như họ đã có căn dặn nhiều lần cho toán Biệt Hải trước khi xuất phát) để tiêu diệt mọi mầm mống đe doạ tính mạng của Hambleton, Mark Clark miễn làm sao cứu được phi hành đoàn dù phải trả bất cứ giá nào, vì thế các Biệt Hải được nhắc nhở nhiều lần không nên ăn những thức ăn mà Mỹ thả dù xuống hiện trường.

                            Rồi thì thêm một cuộc hành quân rescue khác sẽ được dựng lên để cứu Hambleton, cuộc rescue kỳ nầy đụng phải sự chuẩn bị sẵn sàng chống trả của quân BV, nên vô cùng khó khăn nguy hiểm, làm sao chui vào một màn lửa đạn đang giăng-mắc chung quanh? Hambleton như nằm sau một bức tường lửa, thách đố sư can đảm của phi công Ðế quốc Mỹ, bất chợt chiếc trực thăng Jolly Green CH-53 phải do-dự nhưng vẫn hùng dũng chui vào mây để tránh tầm đạn của địch, thay vì lướt qua vùng lửa đạn để cấp cứu Hambleton. Khi vừa ra khỏi mây phải đương đầu trước mắt với 10 chiến xa T-54 và PT-76, nhưng Trung tá phi công Bill Harris can đảm vận dụng phi cơ luồn lách đến gần cách Hambleton vài trăm thước, nhưng khắc nghiệt thay tình thế rất nguy kịch, 2 minigun trên CH-53 phải giao chiến với thành phần của sư đoàn 304 khắp mọi nơi; Có tiếng phi công chiến thuật muốn can thiệp giúp đỡ, gọi phi công Harris on guard frequency “Where’s the enemy fire coming from?” Harris trả lời khắp mọi nơi trong lúc mưa đạn ghim vào fuselage như tiếng bánh tráng bể vào xuyên thẳng cockpit; Thôi đành bỏ cuộc vì phi cơ trúng đạn quá nặng, Harris phải lấy cao độ và tiềm ẩn trong mây để tránh đạn, May mắn thêm một lần nữa 2 chiếc Jolly Green lại mình mẫy đầy vết đạn nhưng cũng lết được an-toàn về hậu cứ.

                            Vào lúc sương chiều đang xuống thêm một chiếc OV-10 Bronco FAC bị trúng Sam rơi xuống, Ðại úy William Enderson, phi công và quan sát viên ngồi sau Trung úy Mark Clark đang sử dụng ống nhòm quan sát; cả hai nhảy dù ra khỏi phi cơ cũng gần địa phận của Hambleton. Thế là cuộc rescue thứ 3 bắt đầu cứu bạn, hiện giờ tổng số là 3 nhân viên phi hành đang ẩn trú dưới đất. Màn đêm lại sập tối buông xuống không còn thấy đường nữa, 3 chiếc trực thăng phải bay về hậu cứ; Hiện giờ Henderson, Clark và Hambleton đang ẩn núp 3 nơi khác nhau. 24 giờ qua các toan-tính rescue đều thất bại, 3 phi cơ bị hạ, 5 chiếc hư hại nặng, 3 người bay rescue đã chết, và người thứ 4 đang bị bắt làm tù binh và vẩn còn 3 người đang ẩn núp đâu đó giữa vùng địch kiểm soát bao trùm dưới màn đêm u-ám.

                            Suốt đêm 3/4/1972 Ðại úy Enderson bị quân BV lùng bắt được, để rồi còn lại chỉ 2 người là Clark và Hambleton; Ðây là cuộc cấp cứu phải trả một cái giá quá đắt trong cuộc chiến VN, nhưng nghịch lý thay đây là mục tiêu yêu cầu phải có là tiêu-xài cho hết hàng tiêu dùng là đủ các loại phi cơ đã sản xuất quá nhiều mà công nhân Mỹ đã làm quá nhiều giờ Overtime để sắm thêm những tiện nghi cho cuộc đời. “Chỉ có các chiến sĩ tham dự trận chiến khắc nghiệt để trả cho cái nghiệp chướng nầy”

                            Ngày 6/4/1972, Ðại úy Chapman quyết tâm cứu đồng đội, ông phóng nhanh liền vào nơi Hambleton trú ẩn một cách điên cuồng, quân BV bắn ào-ạt vào phi cơ bóc cháy, khói mù mịt bao quanh phi cơ rồi phát hỏa, nổ tung bay ra từng mảnh vụn, Hambleton ôm mặt khóc ngất nhưng không dám gây nên tiếng động, khi nhìn thấy tình đồng-đội quá thắm thiết. Sáu đoàn viên trên chiếc trực thăng nầy đã hy sinh trước mắt Hambleton; Ông khóc tức tưởi cho chính ông trong yên lặng cô đơn, rồi đây những ngày dài trước mắt trong lòng địch với biết bao đói khát, thương tích đầy mình, kèm theo sợ-hãi, kiệt sức… rồi một ngày mai vô định. Ông phải sống để kể lại, nói lên sư hy sinh vô bờ bến của tình huynh đệ chi binh mà chỉ có thể hiện trên chiến trường như thế nầy “Họ không bao giờ bỏ bạn bè nơi chiến địa, thật cao cả thay!” Ðây cũng là truyền thống của dân bay!
                            Cuộc Rescue bằng USAF không thành công, bây giờ đổi sang xử dụng toán Sea Commandos Biệt Hải. Vì phải vào hang Cọp mới bắt được Cọp Con!

                            (còn tiếp)
                            Last edited by chieutim; 06-08-2013, 03:36 PM.

                            Comment

                            • vinhtruong
                              Super Member
                              • Jun 2010
                              • 1924

                              #29
                              i tuyển Vinhtruong trên các Diễn Đàn Lính

                              (tiếp theo)

                              Coi như hoàn thành Rescue NAIL-38 Bravo, (trung úy air-observer Clark OV-10 FAC) Bây giờ theo đây tiếp tục giai đoạn-2 Rescue BAT-21 Bravo, Trung tá navigator/B-66, Hambleton)

                              Vào lúc 7 giờ sáng, ngày 11 April 1972, tất cả Toán cùng Quan sát viên, Trung úy Mark-Lack về tới dưới chân triền đồi của tiền đồn nơi xuất phát, có nghĩa là vùng đất tư do của phe ta, lúc nầy sức khỏe của Quan sát Viên (air-observer) Lack đã quá bết bát không thể tự đi được sau hơn 10 ngày lẩn trốn, vì đã vắt hết sức mạnh của nghị lực tinh thần mà phấn-đấu quyết-liệt đến cạn mòn, nên cả Toán kẻ trước người sau phải thay phiên nhau cõng Lack chạy thẳng lên dốc tiền đồn, vì sợ để lộ thì bị lính BV trông thấy sẽ pháo kích. Khi lên đến đỉnh, phía ngoài hàng rào dây kẻm gai của tiền đồn, lúc nầy tất cả đều ngất ngư và mệt vì đã thức trắng đêm, thêm vào đó thân mình ai cũng bị ướt đẩm mồ hôi vì đã leo dốc mà còn phải thay phiên nhau cõng người bạn Mỹ nữa, nhưng dù sao thì cả Toán đều thở khì sung sướng vì đã hoàn thành công tác một cách mỹ mãn, giờ nầy thì Toán mới cảm thấy an toàn, nên cả Toán đã ngồi bệt xuống trước cổng gác để thở dốc; một số anh em trong tiền đồn thấy vậy, vội chạy ra tiếp ứng, phụ dìu quan sat viên Mark đặt nằm nghỉ trong Lô-Cốt cho an toàn hơn, để tránh đi sự quan sát của tiền sát viên BV và rồi có thể bị pháo kích nữa. Một vài chiến sĩ của Đại-đội đi lục lọi, tìm kiếm những gói càfê trong phần luơng khô C Ration, và họ đã pha nước nóng vào ly nhôm bọc ngoài Bi-đông đưa cho Mark để thể hiện tình chiến hữu. Trung úy Mark cầm ly càfê trên tay với đôi mắt đỏ hoe rơi lệ, anh thốt ra không biết bao nhiêu tiếng Thank… Thank… Ai có chứng kiến được trong hoàn cảnh nầy, thì mới hiểu thấu được tình nghĩa huynh đệ chí binh Việt/Mỹ thắm thiết là dường nào! Tại sao chúng ta không làm một tượng đồng Việt Mỹ, trong đó có ba người: Trung-tá Ðiều hành viên Hambleton và Quan sát viên, Trung-úy Mark Lark đứng hai bên còn một anh Chiến-sĩ Biệt-Hải Nguyễn Văn Kiệt đứng giữa? Trong bảng đồng khắc chữ: “Mùa-Hè Đỏ-Lửa, trên dòng sông Miếu Giang, Cam Lộ, Quảng-Trị, ngày 13/April/1972, để thể hiện tình chiến hữu Việt-Mỹ” rất hay và ý nghĩa muôn đời, phải không các bạn?

                              10 giờ sáng cùng ngày, một chiếc thiết vận xa M 113 xuất hiện thình-lình, không biết từ đâu chạy tới đứng đậu sẵn phía sau Lô-Cốt dùng làm phương tiện chở trung úy Mark về hậu cứ, xem như chuyến công tác đầu tiên đã hoàn thành tốt đẹp. Chiếc M 113 rời khỏi Tiền-đồn tức khắc sau khi đã chuyển tản Mark rời khỏi Lô-Cốt, bây giờ Toán mới yên tâm lấy khẩu phần C Ration ra ngấu nghiến ăn vội-vàng cho xong bữa, và mọi người đi tìm một chỗ tạm trong Lô-Cốt để ngủ lấy sức, nhưng nào có ai yên được giấc nồng! Không tài nào chợp mắt được vì bị ám ảnh của đêm hồi hộp lắng đọng vừa qua.

                              2 giờ 30, trưa cùng ngày mọi người đều nghe một loạt đạn pháo từ phía Tây-Bắc bủa tới, nổ rền vang từng đợt rải rác trên các miệng hố cá nhân, có lẽ chúng đã có tiền sát viên điều chỉnh, nên pháo khá chính xác, tất cả đều xách súng chạy ra ngoài hầm phòng thủ vì lính BV có thể tấn công đồn ban ngày; cứ mỗi tạc đạn sau khi hú rít xé tan không khí là nổ rung chuyển cả Lô-Cốt, bất chợt, có mấy anh lính chia ra hai nhóm đang dìu Trung-tá Anderson và Toán-trưởng Thọ từ ngoài đặt vào sâu trong Lô-Cốt, tìm cách băng bó vết thương cho hai người, trên áo quần cả hai lúc nầy thấm ướt đầy máu. Có vài anh lính tiền đồn thuật lại, trước khi xảy ra khoảng 10 phút, họ thấy hai vị nầy đang đặt ống dòm nhìn về phía bên kia đồi, vì thế lính BV mới pháo tới tấp vào đồn. Ở trong Lô-Cốt Tom Norris đang liên lạc máy vô tuyến để tìm phương tiện di chuyển tản thương về hậu cừ gấp.

                              4 giờ chiều hôm đó, một chiếc thiết vận xa M 113 ló dạng để nhanh chóng đem hai vị Sĩ-Quan bị thương nầy rời khỏi vùng hoả tuyến càng nhanh càng tốt; thể theo lời quyết định của Trưởng-toán Thọ, Toán viên Châu, người có nhiều kinh nghiệm và thâm niên nhất, cùng theo giúp để săn sóc vết thương cho cả hai vị Sĩ-quan. Làm sao đây! Kể như tối nay Toán mất hết 2 người cùng đi hành quân mà đây là hai người giỏi và nhiều kinh nghiệm nhứt trong toán và một Trung-tá Anderson, trực máy vô tuyến phòng khi Toán bị khẩn cấp sẽ dùng không quân chiến thuật can thiệp và liên lạc trung gian với Trung tá Hambleton. Chúng ta hãy khách quan mà nhận xét, chuyến đi tìm cứu tới đây có bao nhiêu phần trăm an-toàn trở về?

                              Không ngờ sự việc xảy ra quá mau chóng trong chiều nay, làm thay đổi hoàn toàn diễn tiến công tác tối nay chỉ dành riêng cho 4 người, coi như ra ngoài chương trình dự liệu; Trung-úy Tom Norris thay thế Trưởng-toán Thọ làm cho 3 toán viên người Việt còn lại thêm hoang mang và lo lắng, đó cũng là điều vô cùng hữu lý và thực tế vì ngôn ngữ bất đồng, Norris chả biết gì về địa hình địa vật trên đất nước xa lạ nầy, công bình mà nói địa lý và địa hình cũng rất lạ đối với người Mỹ dẫn đạo thì làm sao hoàn thành công tác, nhưng có một đều chắc chắn là Tom Norris đã hiểu được tình trạng cũng như vị trí của Trung-tá Hambleton như thế nào, theo như khách quan tôi nghĩ thì cũng không xa tiền đồn là bao nhiêu, và con đường phiêu lưu nầy Norris đã nắm vững trong công tác vừa qua theo đường đi nước bước, ít ra cũng vững tâm như phi công có nhiều kinh nghiệm khi bay trong mây mù, trong điều kiện IFR mà không cần phải nhìn ra ngoài? - Riêng 3 toán viên Việt còn lại như rắn không đầu, họ có quyền suy gẫm, cân-nhắc cho tính mạng cũa họ được thử thách trong hoàn cảnh khắc-nghiệt nầy ra sao? Những cảnh bị pháo kích vừa rồi đập vào mắt họ, gây ám ảnh không ít, càng làm cho họ thêm phân vân hơn, thêm vào đó nhiều đoàn xe Molotova và T54 của BV ngày cũng như đêm ngang nhiên di chuyển quanh vùng, đã làm chấn động đến tâm lý của 3 toán viên còn lại; Tóm lại tình hình ở đây càng ngày càng trở nên đen tối thêm, không kể nhiều đợt pháo kích dồn dập tới tấp của lính BV.

                              Trung-tá Hambleton, trong tình trạng đang bị thương quá nặng, hiện đang lẫn trốn sâu trong vùng địch kiểm soát, thời gian đã 11 ngày qua, sức khỏe đã sa sút đến mức tồi tệ, kiệt sức không thể di-chuyển được xa, đêm đêm chỉ nương theo dòng nước của thủy triều, và mong được vận may trôi đến vùng quân bạn.trú đóng

                              Ngày 11/April/1972, Tom Norris cho Toán khởi hành y như ngày hôm qua, vì quá nôn nóng nên khởi hành ngay khi bóng đêm vừa sụp xuống, nhìn vào đồng hồ dạ-quang đúng 7 giờ tối, Tom Norris nắm được tin khá vững, Hambleton không xa tiền đồn bao nhiêu, nhưng có điều Ông bị thương sốt rất nặng và kiệt sức, với số bốn người nầy chỉ yểm trợ để cố tình kiếm ghe xuôi theo bờ sông mà thôi, chớ không thể cõng hay dìu được trong vùng bị địch kiểm soát về đến vùng đất an-toàn.

                              Hai Toán viên dẫn đầu, có vẻ do dự áy náy, khi nghĩ đến vấn đề ngôn-ngữ, nếu lỡ có chuyện đụng-độ gì xảy ra, thì không biết phải ứng xử ra làm sao, lệnh lạc như thế nào? 3 người Việt thật vô cùng lo sợ với lý do chính đáng không thể chối cãi được! Nhưng Tom Norris thì sao, Ông có lo sợ như mọi người hay không? Dĩ nhiên là có rồi, nhưng ông hình dung được nằm lòng đoạn đường đã vượt qua vào đêm rồi nên cũng có phần yên tâm hơn, mà đêm nay Hambleton đã cố thâu ngắn thả trôi theo dòng nước, bởi sự nguy hiểm sẽ vượt qua ít hơn, dẫu sao, Tom Norris cũng biết được tình hình qua liên lạc với FAC, thì cũng đỡ hơn 3 người mù băng rừng lướt bụi ban đêm tối. Vì thế, nào ngờ chính điều nầy đã gây ra sự ngộ nhận của Tom Norris, trong tài liệu BAT-21, làm đau lòng những người lính Biệt Hải đã dấn thân trong đêm nguy hiểm đã qua để cứu bạn!...Hay là Tom Norris muốn ‘đánh bóng’ tính anh hùng cá nhân? Không hẳn là vậy! nhưng theo đơn đặt hàng của một thế lực muốn chối bỏ sư anh dũng của một quân lực được gọi là đồng minh cho mưu đồ thực hiện âm mưu xóa bỏ miền nam theo thế chiến lược toàn cầu của Mỹ, nên bọn chúng không tiếc gì tiền tài trợ cho truyền thông văn hoá bóp méo sự thật qua cuón phim BAT-21 nầy cũa Hollywood, vá 13 thiên truyền hình bóp méo về cuốc chiến VN để dọn đường cho người dân Mỹ hiểu được vì sao Quốc hội Mỹ buộc phải cúp viện trợ. Mãi cho đến ngày hôm nay, các chính quyền Hoa-Kỳ đương đại vẫn tiếp tục cũng như các chính khách có trách nhiệm phải bảo vệ, làm sáng tỏ chính sách về cuộc chiến VN trước nhứt tập trung vào định-kiến-1, 1960 (Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon by a dissolution GVN solution). Ba định kiến nầy được công bố trước khi quân tác chiến Mỹ qua VN, bởi NSC ngày 21/9/1960 và phải phổ-biến, giải nghĩa sâu rộng trong các trường đại học (Jane Fonda đặc trách vụ nầy tại đại học Michigan trước 2.000 sinh-viên) Thế nên lui lại lịch sử cận-đại đến điểm mốc thời gian (decent interval) Thí dụ từ TT George Bush qua cò-mồi nêu lên sách lược về VN – Interview on Fox News, The O’Reilly Factor aired on September, 27/2004 with president George Bush. O’Reilly questioned: “The South Vietnam didn’t fight for their freedom, which is why they don’t have it today?” President Bush answered “Yes!!!”

                              - Thượng nghị sĩ Mc Cane bị Hà Nội cầm tù tàn-ác đến nỡi 2 lần ông toan tự sát nhưng bất thành, nên tức-khí phải thốt ra “The bad-guys won the war!” Nhưng bị một thế lực Permanent Government “óp” ngay - Muốn có tiền tài trợ để bước vào chiếc ghế quyền lực phải ăn-nói có đượm màu chính trị một tí - Cựu tù binh nầy bèn đổi thái độ 180 độ ngay: The Newsweek Paris Match on April 25, 2005 interviewed US POW Senate John Mc Cane, by repeated Axiom-1, stance of US P.G, was explained the Vietnam War in universities 1960 “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon etait legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh etait UN NATIONALISTE qui rechercherait l’unification du pays … En Iraq, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est legitime” Một điều rất lạ là tại sao Hoa Kỳ muốn ám chỉ cụ HCM là người quốc gia… tai sao? Vì P.G muốn trả lại tính trung thực cho lịch sử sau khi buộc phải phản bội không giữ lời cam kết vì quyền lợi thấp hèn của bọn tư- bản quốc phòng (War Industries Board)

                              - Và người soạn giả vở bi kịch 30/4/75 là một chính khách rất trẻ Donald Rumsfeld, tham mưu trưởng WSAG (Washington Special Action Group) đã thốt ra một cách thẳng thừng: “Miền Nam bù-nhìn, Miền Bắc yêu nước!” Than ôi! Sự thật nó phũ phàng như vậy sao? “Nghèo là có tội… một nước nhược tiểu… tội càng nhiều hơn” Mãi cho đến giờ nầy, mỗi ngày chúng ta chỉ biết đấu khẩu qua lại với nhau, rồi bàn luận những chuyện trớt-huớt không đi vào đâu kéo dài hàng nửa thế kỷ nay, vì bị một thế lực trong bóng tối phỉnh-gạt một cách tinh vi, để rồi tự phiền lòng nhau! Căm giận thù hằng nhau! Thật ra do một cái gọi là đỉnh cao trí tuệ, vì chúng ta không hiểu bề trái tinh-vi đến độ thần sầu quỷ khốc của cuộc chiến vừa qua, mà phải gọi là danh nghiã cuộc chiến Chống Cộng-Sản theo giấy trắng mực đen, nhưng không phải là vậy. Ðáng lẽ chúng ta phải nói chống Bộ chính trị ‘Mafia toàn trị’ thì đúng theo định nghiã bản chất của nó. Có nghiã tài sản mà bọn chúng (Mafia) ăn cướp của dân cho đến ngày N và giờ G thì có cuộc lật đổ do Tam-trùng Nguyễn Chí Vịnh, lúc nầy các trương mục, tài sản sẽ xáp nhập vào ngân hàng Hoa Kỳ bắng giao trả lại cho dân Việt Nam qua đồ viện trợ sau cùng.

                              Dưới bầu trời vừa nhá nhem tối, mọi người được lệnh sẵn sàng rời khỏi tiền đồn, đội hình: Toán viên tiền đạo, cách sau vài thước Toán viên tiếp ứng, cách sau vài thước Tom Norris, cách sau vài thước Toán viên hậu vệ; đêm nay phải thay đổi lộ trình di hành, từ điểm xuất phát đến bờ sông, chú trọng cạnh mé bờ sông, có phần thay đổi vì e ngại có Mìn bẫy của lính BV, nhưng đối với Norris thì anh ta biết chắc rằng Mỹ không chơi dại rãi Mìn chung quanh vùng nầy đâu! nhưng có thể bị gài bẫy phục kích, nên đi lệch qua phải cách lối cũ khoảng 40 thước, có phần gần mé sông hơn, để đề phòng, biết đâu đêm qua bọn chúng đã nghe rõ và theo dõi Toán đang đi tìm kiếm phi-công mất tích.

                              Sau hơn 3 tiếng, thận trọng di hành theo mé bờ sông, tất cả 4 người tới được điểm hẹn vào lúc 11 giờ đêm, trước khi khởi hành Tom Norris cho biết, Trung tá Hambleton sẽ theo dòng nước thả trôi ra tương tự như quan sát viên Mark-Lack đêm qua; Rút kinh nghiệm của chuyến vừa rồi, nên lần nầy Toán rất thận trọng, ít gây ra tiếng động, chú ý quan sát và nghe ngóng nhiều hơn, thời gian nằm kích nơi địa điểm hẹn đã 2 tiếng trôi qua, nhưng không thấy động tỉnh gì cả, cả 4 người trong Toán tiếp tục kiên nhẫn nằm chờ, nhưng vẫn không thấy tông tích của Hambleton thả trôi theo dòng nước như đã cho biết trước, vã lại vào giờ nầy, nước thủy triều đang hồi chảy xiết. Bỗng Tom Norris cho biết sau khi liên lạc được FAC, Hambleton không thể rời khỏi vị trí ẩn trốn, vì vết thương quá nặng và ra hiệu làm dấu rút lui như đêm hôm qua, lui về dọc theo mé sông trên đường trở về, Toán vẫn cố quan sát coi có gì lạ không, nhưng không phát hiện được gì cả, ngoài tiếng nước chảy rì rào và đôi khi cũng nghe được tiếng vỗ cánh của loài chim đang hoảng sợ vụt bay lên. Cả Toán đi lần về được tới gần vòng đai của tiền đồn, lúc gần 4 giờ sáng, lúc nầy Toán bắt đầu lạc nhau chia ra hai nhóm, Tom Norris và hậu vệ Kiệt không biết đi về hướng nào, hay là có lẽ họ đã liên lạc được có tin gì mới, nên 2 người nầy phải tẻ ra bờ sông Miếu Giang để kiếm ghe hòng chuyên chở được Hambleton về đồn vì Norris liên lạc được với FAC? Còn hai toán viên dẫn đạo có biết gì đâu, cứ tưởng rằng toán về lại tiền đồn, vì cũng đã sắp gần sáng rồi? Tôi tin tưởng rằng Hambleton vẫn còn theo dõi được qua máy phát tuyến Guard tí-hon nằm gài chắc trong áo lưới cấp cứu của phi hành, mà tôi vẫn thưòng dùng mỗi khi bị rơi trên đường mòn Hồ Chí Minh, lúc đầu cứ mỗi đầu giờ là liên lạc một lần cho biết tọa độ vị trí, về sau vì tiết kiệm batterie, nên mỗi 3 giờ mới liên lạc một lần (3 giờ, 6..9..rồi 12 giờ, cứ như thế mà liên lạc) phi-cơ thám thính OV-10 FAC hay Toán thám sát dưới đất có thể định hưóng qua máy trắc giác để dò tìm (homing) đến ngay người phi công bị nạn.

                              Ðang di hành Norris bỗng đi chậm lại với Kiệt, để liên lạc với FAC thì họ bị lạc nhau lúc nầy, chia ra hai nhánh, người tiền đạo và người thứ hai tiếp ứng cùng nhau thành toán-1, và Norris cùng hậu-vệ Kiệt họp nhau thành toán-2, họ đang bị lạc bầy trong đêm tối mà không thể la kêu ơi ới gì được. Sau khi Norris liên lạc được vơi FAC rằng Hambleton ở cách thượng nguồn trong vòng một cây số và không thể di chuyển được vì sau 11 ngày vết thương làm độc trầm trọng, sức người và tinh thần đã xuống thê thảm; không còn sức di hành. Chắc chắn Norris và Kiệt không thể khiêng vác Hambleton nổi, Norris dẫn Kiệt vượt lên nguồn nước đang chảy khá mạnh, cũng may nhờ sương mù bao phủ nên quân BV không thể phát hiện. Họ đang âm thầm chui qua dưới chân cầu Cam Lộ một cách khó khăn vì nước chảy ngược, nhưng thật êm ái không gây ra tiéng động trong khi tiếng bộ đội BV ồn ào vang dội trên bờ sông; Họ vẫn đi chõi ngược dòng nước, có nghĩa là đi song hành với Norris đang ở dưới sông, chúng nói nói cười cười huyên thuyên.

                              Kể từ ngày 5/4/1972 Ðại tá Al. Gray Marine tiếp tục cuộc Rescue thay thế USAF thất bại trong việc tìm cứu; Al Gray chỉ thị Norris phải tiến vào ngôi làng đã bị bom đạn tàn phá, và hãy kiếm cho ra phương tiện làm bè để đưa Hambleton xuôi dòng nước về lại tiền-đồn cũa quân bạn cách đó khoảng chừng 3 cây số theo xuôi dòng sông Miêu Giang. Nhưng ánh sáng ban mai sắp sửa chiếu rọi nên Norris cùng Kiệt phải trở về nơi tiền đồn đã xuất phát. Hai người dẫn đầu đi lạc, nằm ẩn núp dưới chân đồi của tiền đồn chờ đợi lệnh, cho đến khi trời sáng trưng mới leo lên được tiền đồn, và nôn nóng không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho Norris và Kiệt. Nhưng sau cùng bốn người cùng về tới tiền đồn, Họ đang quá mệt mỏi nên cần một giấc ngủ vùi trong lô-cốt.

                              FAC trên vùng trời Hambleton thúc dục Norris cùng toán Biệt Hải qua trung gian Ðại tá Al Gray: Hambleton đã 11 ngày qua không còn đủ sức cũng như tinh-thần, họ phải đến gấp để cứu nếu không còn kịp nữa, vì Hambleton trong tình trạng sốt nặng do vết thương bị làm độc cả hơn mười một ngày qua. Nhưng Norris không tài nào thuyết phục được hai Biệt-Hải kia vì họ không tin vào Norris, nhứt là ngôn ngữ bất đồng khó ứng xử cho hiệu quả nên họ từ chối không chịu tham dự, chỉ có toán viên Nguyễn Văn Kiệt là tình nguyện theo Norris, vì Kiệt biết Hambleton cũng quanh quẩn đâu đó không xa lắm, Kiệt tin tưởng Norris sau nhiều ngày làm việc chung với nhau với vị trí hậu vệ. Riêng Norris thì có thể ước lượng được vị trí của Hambleton cho nên hắn rất yên trí mà đi tìm dựa vào những chặng đường cũ đã đi qua.

                              Ánh sáng sau cùng đã khuất hẳn dưới trời tây, Norris được Nguyễn Văn Kiệt tình nguyện đi theo, họ trang phục như người chài lươi nghèo nàn đi kiếm sống qua ngày của dân địa-phương. Xuất hành thêm lần nữa, hai người Mỹ Việt dường như thông thạo đường đi nước bước, đi thẳng một lèo ngược nguồn nước đang chảy xiết với âm thanh che lấp những bước chân âm thầm trong đêm tối. Họ di hành theo cạnh bờ nước lấp xấp vừa đủ không gây tiếng động hay hoà lẫn theo điêp khúc của dòng nước đang róc-rách chảy. Mục tiêu là ngôi làng đã bi Bom đạn cày nát với hy vọng tìm được vật thể làm bè hay phao để đưa Hambleton xuôi về lại tiền đồn. Khi tới bìa làng thì may mắn họ tìm được chiếc xuống đang bị bỏ hoang trống vắng không có bóng dáng ai nơi làng nầy. Cả hai đẫy nhẹ chiếc xuồng xuống nước và chèo lên thượng nguồn chừng cây số, dọc hai bờ sông chúng nghe tiếng máy nổ cũa chiến xa, Molotova, và bộ đội đang di hành, có tiếng nói chuyện qua lại hoà lẫn âm thanh tiếng nước chảy, nhưng không làm sao chúng phát hiện được có một chiếc xuồng đang chèo ngược dòng nước trong sương mù đang trùm phủ. Mặc cho sự hiểm nguy đe-doạ, Norris và Kiệt vẫn âm thầm chèo thẳng đến dưới chân cầu Cam Lộ với hy vọng sương mù sẽ che mắt toán lính BV gác cầu; May mắn chúng đã chèo qua khỏi cây cầu mà không bị phát hiện. Thình lình Norris nghe trong vô tuyến bảo phải thả xuôi về lại vài trăm thước, và ép vào bờ phải đi lên bờ vài chục thước nơi bụi râm. Rồi thì chúng chia nhau thận trọng mò-tìm Hambleton, nhưng không dám lên tiếng trước mà phải đợi Hambleton kêu khẽ trước, trong sư hồi hộp khó tả. Ði tìm người bị nạn trong đêm tối mà không được la ơi ới? Chúa ơi! May mắn như tôi đã tiên-đoán định mệnh của con người khi đã may mắn thoát chết như thế thì Chúa sẽ bảo vệ đến cùng. Norris và Kiệt đang tìm được Hambleton đang nằm im-lìm trên bụi cỏ cạnh bờ, Hambleton đã vui mừng nói vừa đủ nghe “Tôi đây”. Người điều hành viên (navigator) 53 tuổi nầy đã được cứu thoát với cái giá chịu đựng cả thể xác lẫn tinh thần là mất đi 45 pounds trong thời gian 12 ngày với vết thương nơi cườm tay bị gãy, cũng nhờ gầy ốm như vậy mà Norris và Kiệt mới khiêng nổi tới chiếc xuồng con.

                              Norris và Kiệt mau mắn nhưng không được gây ra tiếng đông khi dìu Hambleton xuống bờ sông, để nhẹ ông nằm xuống dưới lườn ghe, rồi lấy lá Chuối phủ lên che kín mít. Họ chèo nhẹ nhàng bắt trớn cho xuồng xuôi theo dòng nước, thoát qua biết bao chỗ đóng quân của BV, trong sương mù ầm vang tiếng máy nổ của xe cộ trên bờ. Vừa đủ nghe Norris gọi về FAC là đã cứu được Hambleton nhưng không biết sẽ xảy ra chuyện gì trong tương lai thì chưa thể biết được. Tuy nhiên khi ánh sáng ban mai rộ lên thì không biết chuyện gì xảy ra nếu hình bóng hai người chài lưới địa phương, tại sao dám chài lưới tại vùng nguy hiểm nầy, đập vào mắt quân đội BV mà để yên thì chỉ hy vọng có Chúa che chở. FAC đang cho lệnh Phi cơ chiến thuật phải đang trong tình trạng báo động khẩn cấp, chuẩn bị bao vùng nếu xảy ra nguy cơ cho ba người nầy, ngay lúc dòng nước đang chảy xiết xuôi theo xuống tiền đồn ..../.


                              KQ; Trương Văn Vinh
                              Last edited by chieutim; 06-18-2013, 09:52 PM.

                              Comment

                              • vinhtruong
                                Super Member
                                • Jun 2010
                                • 1924

                                #30
                                Ho Chi Minh Trail

                                hcmtrail.blogspot.com/2012/12/william-cobby-cia-va-duong-mon-ho...

                                William Cobby CIA và Đường Mòn Hồ Chi Minh
                                Sau khi hiệp định ngưng chiến Paris được ký kết vào năm 1972, chấm dứt chiến tranh Việt Nam trên giấy tờ, quân đội Hoa Kỳ có cớ rút lui “trong danh dự”. Quân Lực VNCH không những không còn được yểm trợ đúng mức, mà giao ước "một đổi một" được áp dụng theo Hiệp-định Paris cho phép; Secret Society cũng ra mật lịnh cho Quốc Hội ngó lơ chỗ khác. Thế nên thiếu sức mạnh để đánh phá khu vực đường mòn HCM. Cộng Quân coi như được HK bật đèn xanh, tự do chuyển người và vũ khí xâm lấn miền Nam. Khi cây súng M-16 hết đạn rồi thì tới giai đoạn đánh kiếm bằng báng súng nilon M-16 với mả-tấu của BV không thôi ... thì phải tuột quần mà chạy khi cái lưởi dao mả tấu quá bén mà cứ bủa tới thì chạy chớ còn chờ đứt cổ hay sao?
                                Ðây là giai đoạn cực kỳ đối-nghịch giữa ba xu-hướng chống đối nhau quyết liệt về chính sách Mỹ tại Việt Nam: Sự mâu thuẫn nầy trong cuộc chiến chi còn giải pháp cuối cùng là lấy máu để giãi quyết. Tại Washington giữa chính quyền Kennedy và đặc biệt siêu chính phủ (permanent government) Secret Society đã keo-sơn cùng với thành viên Kỹ-nghệ Quốc-phòng (War Industries Board) quyết triệt-tiêu chiếc ghế quyền lực Kennedy; Vì là một trỡ ngại chính cho “Chương trình Chống Nỗi Dậy (Counter Insurgency Plan) Và tại Saigon chính phũ Ngô Ðình Diệm cực kỳ cương-quyết không cho quân tác chiến Mỹ nhảy vào Việt-Nam với bất cứ hình thức nào, dù đây chỉ là phương thức nuôi quân mà Secrets of the Tomb cho rằng "Big training để tiêu thụ cho hết hàng (vũ khí còn tồn kho quá nhiều sau chiến tranh thứ-2; Vì thế khi BV có AK-47, VNCH phải nhân dịp Mậu-Thân mà chơi cho hết để lảnh M-16.
                                Secret Society vừa áp lực hành pháp Kennedy buộc chính quyền Diệm phải sơ tán dân chúng, bỏ Huyện Hương-Hóa (Khe Sanh) xuống đồng bằng Quãng Trị vì lý do được gọi là vùng kém an-ninh (nhưng với con mắt phi công gián điệp mới phát hiện được sự thật S.S buộc công-cụ gián-tiếp là Hà-Nội phãi đem Lính B.V bắt đầu khai phá Ðường-559 cho Hà-Nội cưởng chiếm miền nam, đễ hoàn thành axiom-1 cũa chương trình CIP) Cụ cố-vấn Ngô Đình Nhu, biết được ý đồ đó cũa Mỹ, nhung vì cần viên trợ đễ chống đở, nên cụ Nhu âm thầm với mưu lược chốt chận ngay yết hầu của Ðường-559 bằng điều-động Ðại tá Ðỗ Cao Trí, Tư lệnh Ðệ tam Quân khu sẽ mỡ cuộc hành quân chốt chận ngay yết-hầu Attopeu, với Thiếu tá Dư Quốc Ðống Chiến đoàn trưởng CÐ Dù, Ðại úy Lý Tòng Bá Thiết đoàn trưởng, cùng một đơn vị bộ binh thuộc SÐ22 với Tiểu đoàn Công Binh khai phá đường qua nam Lào, từ Ben Het, Darto tiến qua Lào. Sự việc nầy bị ngay tay phãn-tặc, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Tổng Cục Tình Báo tại phủ tổng thống tiết- lộ cho CIA cũa nhóm Russell Flynn Miller (nam) và Lucien Conein (bắc) biết ráo trọi. Ðại tá Lansdale là ân-nhân của TT Diệm đã đề nghị (theo lệnh thượng cấp), Ðại tá Carver là cố vấn TUTB phũ tổng thống, nhưng mà ‘Giòi’ trong ấy ngoi ra làm sao TT Diệm hiểu nổi như H.N.Nhạ, Ðinh Xáng, P.N Thảo, Pham Xuân Ẫn… Cái nhóm CIA nầy lại là tay chân của hai nhân vật chủ chốt cuộc chiến (Harriman và Prescott Bush) đang đặt ống kính phãi hũy-diệt hai hòn đá tảng (Kennedy và Diệm) cản đường CIP nầy bằng mọi giá.
                                Thời kỳ chánh-quyền John F. Kennedy muốn việc làm của CIA tại Việt-Nam phải cố-gắng nhiều hơn nữa, khám phá cho được đường thâm nhập của Bắc-Việt vào Miền-Nam, tăng cưòng nhịp độ đột phá và gởi Gián-điệp ra Bắc. Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia Hoa-Kỳ (NSC) đã có cuộc họp số 52 Memorandum bản ghi nhận: cho phép xử dụng Mũ Nồi Xanh và Hãi-Quân người Nhái huấn luyện Cố-Vấn cho quân-đội Miền-Nam để họ thi hành những cuộc hành quân xâm nhập ngoài Bắc: “Biệt-Hải và Biệt-Kích Gián-Điệp”.
                                Trên thực tế, Mũ Nồi Xanh hay Hải-Quân người Nhái gì cũng là trực thuộc của CIA chủ động điều hành. Tại Đà-Nẳng người Nhái Mỹ (SEAL) đã bắt đầu huấn luyện cho Hải-Quân Việt-Nam với chiếc thuyền gỗ thô-sơ, cách thâm-nhập miền Bắc…thời tiết, phương tiện, kiểu cách, tổ chức Toán nhỏ vài người, tuyển mộ Lính từ ngoài dân, Toán biệt-hải sẽ tấn công chớp-nhoáng rồi rút ra…những vũ-khí như xử dụng hỏa-tiển…đầu đạn, cách che dấu vũ-khí trong thùng xăng 200 lít…trên thực tế chiếc ghe nầy quá mỏng-manh dễ bị hủy diệt, Cố-vấn người Nhái đang đề nghị thay thế bằng loại ghe khác có nhiều sức máy và tốc lực nhanh hơn. Họ đang muốn huấn luyện người Việt thay người Norway vào duyên tốc đỉnh P.T Nasty để hoạt động tại Bắc bộ [Gulf Tonkin]
                                Thâm nhập đường hàng không, cần phải đòi hỏi nhiếu khả năng về kỹ-thuật chuyên-nghiệp – Trong phân nhiệm của bộ tam sên, vị đại sứ chỉ lo về hành chánh dù trên thực tế là chịu trách-nhiệm tổng quát, vị tướng Tư lệnh MACV là chỉ lo việc hành quân, nhưng nhiệm vụ CIA mới là quan trọng về chọn nhân lực. Có một điều đặc biệt là họ xài người với phương thức vắt chanh bỏ vỏ: Khi HCM ở trong tù thì khuyến-dụ được thả ra phải vào mật khu Pat-pó giúp Mỹ chống Nhựt. Khi Cụ không vâng lời trong việc phát động lại chiến tranh, thì bị hạ bệ đưa Lê Duẩn lên thế 1959, nhưng quyền hạn tuyệt đối ở trong tay hai anh em Ðức-Thọ và Chí-Thọ. Kể từ giờ phút nầy Hà Nội không phải là Cộng Sản chủ nghĩa (nhưng chiến lược gia hoàn vũ Harriman để cho thế giới có mục tiêu đã phá CSCN như là fashion thời đại phi thực dân) đối với sự dựng lên một chế độ Mafia toàn trị (totalitarianism) do Lê Ðức Thọ và bè lũ tiếp nối, Thọ là người đảng trưởng Mafia được KGB và CIA bảo-vệ có mục-đích, lãnh đạo duy nhứt cho kế hoặch 50 năm (1959-2009, decent interval chấm dứt bằng DVD “Sự Thật HCM”) Cụ Diệm cũng vậy, khi ở trong bàn tay HCM thì được CIA mốc nối xin thả ra đem về tu-viện Mỹ, rồi khi Cụ Diệm vì yêu nước không muốn huynh đệ tương tàn vì không thuận cho quân tác chiến Mỹ qua, thì lấy máu giãi quyết cho mục tiêu chiến lược toàn cầu… Tôi hoàn toàn tin tưởng các sữ-gia sẽ làm sáng tỏ hai cụ là nhà ái-quốc là người bạn thân thiết đặt hết niềm tin nơi người bạn đồng minh than-tín, nhưng có một điều chắc chắn hai cụ “không phãi là người của Mỹ” Sự được thán phục của hai cụ đối với thế giới là “không vì sự thắng lợi mà vì sự phản bội của đồng minh” Tôi mãnh liệt căn cứ vào câu nói cũa hiền triết W-Brayant: “Sự thật dù có vùi xuống dưới đất rồi cũng sẽ trồi dậy”

                                Thời thế tạo Nguyễn Cao Kỳ thành anh-hùng
                                Đích thân Colby đi vào Không-Quân tìm kiếm, ông gặp được một người có bộ râu kẻm giống như tài-tử Clark-Gable, trình diễn trong bộ đồ bay đen, mặt lạnh-lùng như một Đại-Ca trong một băng-đảng, đi đâu cũng có bốn con khỉ đột đại úy chầu rìa. Cổ chít một chiếc khăn quàng Tím cho nhẹ bớt cây súng lục nằm tòng-teng bên hông. Giống như Cowboy vào thời kỳ lập-quốc; Cây súng tượng trưng cho quyền lực, nhưng phải bắn nhanh, bắn đúng và kịp thời. Ðây là mẫu người mà Colby được lệnh phải chọn, mặc dầu mới ngoài 30 tuổi nhưng ông đã mang cấp Trung-tá Chỉ-huy-trưởng Liên phi-đoàn Vận-tải C47 tại Tân-Sơn-Nhất. Tiêu chuẩn chọn (criteria) phải trẻ để còn dùng qua giai đoạn phần mềm hậu chiến, nhưng không qua được con người đầy quyền hạn như CIA, Russell Flynn Miller (nam VN) dưới sự điều khiển của Richard Helms, (Pentagon):
                                Sữ dụng Kỳ để dẹp Phật Giáo Ấn Quang, xong là triệt ngay đễ xóa bõ bàn cờ rồi chơi lại, nhưng mạng của Kỳ còn lớn vì CIA dùng gunship UH1-C bắn đại liên, chớ nếu Minigun thì đã đi thăm ông bà hết rồi. Cũng như tướng Khánh lên chỉ để bỏ tù tại Đà Lạt, 5 tướng lãnh Kim, Đính, Đôn, Vỹ, và Xuân … xong rồi hất chiếc ghế quyền hạn, cầm cục đất quê hương lưu vong, chỉ có TT Thiệu là may mắn được Bunker giữ vững chiếc ghế cho axiom-3, đễ Mỹ rút lui êm thắm (axiom-3: The U.S could not have won the war under any circumstances, honorable withdraw) Nói tóm lại Secret Society hứa chắc với Lê Đức Thọ giao miền nam cho Hà Nội, nhưng cuộc chiến chưa phải là chấm dứt?

                                Sau nhiều câu chuyện xã-giao qua lại thường tình, Colby đi thẳng vào vấn đề:
                                “Tôi muốn tuyển lựa Đoàn-viên C47, phi-cơ không có bản số, không cờ và phải bay sâu vào Miền-Bắc, ông nghĩ sao”
                                Người đối diện mau-mắn cưòi trả lời:
                                “Khi nào chúng ta bắt đầu”
                                Colby cảm thấy nhẹ người, để lòng tìn vào người anh-hùng can-đảm và đầy nhiệt huyết nầy Nguyễn-Cao-Kỳ đã được lồng vào ống kính của CIA như là điều kiện cần và đủ (Criteria)
                                Hậu quả ông đã tiến lên Tư-Lệnh Không-Quân… rồi Thủ-Tướng nhưng không quên kiêm nhiệm Chỉ-Huy-Trưởng Biệt-Đoàn 83 để nắm tuyệt đối sức mạnh của quyền lực
                                Toán thả đầu tiên bằng C47 không số, không hiệu (KQVN gọi là Cò-trắng) Toán Atlas, không nghe tín hiệu báo cáo, dường như phi-cơ mất-tích! để giữ bí-mật, tránh tầm Radar, phi-cơ phải bay ở điều kiện sáng trăng 30% và 100 bộ trên ngọn cây vào những vùng rừng núi hiểm trở như ở ngoài Bắc.
                                Sau khi chiếc C47 đầu tiên bị mất tích, Kỳ đích thân bay phi-vụ thứ hai, thả Toán Castor sâu vào Miền-Bắc
                                Khoảng ba tháng sau, Đài Hà-Nội công bố đã bắt được ba biệt kích gián điệp của Sàigòn, (coi Cánh Thép mục “Phi vụ Cò Trắng và những nắm mồ còn lại” Nhóm CIA của Lucien Conein đã phá hủy chiếc C-47 nổ trên không phận Ninh Bình, và nhiệm vụ các toán phá hoại phải đỗi qua lấy tin tức mà thôi, ngưng ngay việc phá hủy cầu cống)
                                Còn Toán Atlas phi-cơ đâm vào núi! Rồi Toán Castor của Kỳ thả cũng không bắt được liên-lạc…vẫn tiếp-tục thả Toán Dido và Echo hai Toán nầy đang bị Bắc-Việt theo dỏi sát nút…tin mới nhất cho biết được, hai Toán nầy đang bị ép làm gián-điệp hàng đôi; Và Toán cuối cùng Tarzan vừa thả xuống là bị bắt ngay, đây cũng là trò chơi phản gián và chống phản gián của trục Ma-Quỷ [KGB và CIA] mà tam-trùng Phạm Xuân Ẩn là nhân vật chính trong vở bi-thãm-kịch nầy dưới cái dù tại tổng đài Pentagon dưới quyền điều động của Richard Helms.
                                Riêng phần Colby, thất bại keo nầy ta bày keo khác! Mặc dầu CIA đã cố gắng tạo môi trường cho phi-công C-47 Việt-Nam huấn luyện kỹ càng, qua huấn luyện viên phi-công Trung-Hoa-Quốc-Gia với chiếc C46 (hơi mập một tý) Họ đã có kinh nghiệm với hàng trăm phi-vụ gián-điệp vào sâu trong lãnh thổ Trung-Quốc, Đại-Tá Harry Aderholt chuyên viên nhà nghề về hành quân thâm nhập bí mật vào không phận Trung-Quốc; Ông mới vừa bay chiếc C130A không bảng số vào sâu trong không phận Tây-Tạng do Trung-Quốc chiếm đóng để thả dù tiếp-tế cho kháng chiến quân bảo vệ Đức Dalai Lama trong cái thế siêu chiến lược Eurasian sẽ gây xáo trộn tình hình trong nửa thế kỷ tới như để hù dọa TQ (đầu thế kỹ 21) về các sắc tộc ở quanh vùng nổi loạn tại Trung-Á vào đoạn chót kế hoặch Eurasian. CIA nhận xét phi-công C-47 Việt-Nam chưa đủ kinh-nghiệm về địa hình, thời tiết, cũng như kỹ-thuật lái; Hậu quả: một chiếc đâm đầu vào núi, khi bay thấp, dĩ nhiên là điều kiện ánh sáng trăng dưới 30%. Một chiếc bị phản gián CIA của Nhóm Richard Helms phá hoại nổ rơi tại Ninh-Bình làm cho William Colby trở nên lúng-túng, phiền-phức, mất mặt đối với quốc-tế đặt chính quyền Kennedy khó xử, đồng loạt với phi công đại-úy Power bay U-2 bị bắn rơi, sự khủng hoảng hoả tiển nguyên tử lén lút đưa vào Cuba, vụ thảm bại đổ quân vào Vịnh Con Heo của CIA (chuyên lấn quyền qua giòng họ Bushes) Vụ việc thất bại Vịnh Con Heo làm TT Kennedy phải chịu trách nhiệm vì đương kiêm tổng thống: Tường tôi cũng nên nói rỏ về vụ nầy vì rất nhiều bạn đã hiểu lầm về CIA do William Colby chịu trách nhiệm, hay nói cách khác do chính quyền Kennedy phải chịu. Như tôi đã nói Colby phò trợ chính quyền, còn Richard Helms phò trợ Bush-Cha (vị đại đế dấu mặt Skull and Bones-II) mà trong tài liệu cho rằng president of permanent government 1920 là thủ phạm (báo chí thời đó cho rằng: lúc 10:15AM ngày 14/4/1961 lệnh bắt đầu đến đúng ngọ, thì CIA của Bush-Cha cho lệnh hành quân qua Vịnh Con Heo, dĩ nhiên tài trợ của Bush Cha nhưng bị thất bại nhục nhã vì TT Kennedy cương quyết không cho quân đội can thiệp. Theo lệnh CIA người điều hành cuộc hành quân là Richard Drain, ám số Skull and Bones 43, cùng cố vấn TT Kennedy là Mc George Bundy, ám số 40, người em của Bundy là William P Bundy, ám số 39 ở Bộ ngoại giao, và người thuộc Russell Trust Association cùng một người vừa tách rời William Colby là 45W thân cận của Bush Cha với ám số 45W như trên. Việc thất bại nầy thúc dục Kennedy ra lệnh cho Tướng Maxwell Taylor điều tra, Taylor cho rằng CIA như con Voi Rừng bất kham, kết quã Kennedy nổi giận giao CIA lại cho quân đội đãm nhiệm và giải nhiệm một số viên chức cũng như tướng lảnh. Đây cũng thêm một yếu tố nhỏ khiến Harriman, Bushes mướn Mafia giết Kennedy để không gây sự xung-đột mâu thuẩn giữa CIA và FBI nhưng lại đổ lỗi oan cho William Colby vì ông có kinh nghiệm mướn Mafia giết những lảnh tụ thiên tả hay Cộng Sản tại các nước tây âu qua tiền tại trợ rút tại ngân hàng Thụy Sĩ sau thế chiến 2
                                Để tiếp tục thi hành theo chỉ thị của Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia, bản văn kiện ghi nhận số 52 Memorandum, CIA chuyễn qua dùng Phi-Cơ C46 không số do phi-công Trung-Hoa Quốc-Gia lái, chương trình thả Toán dài hạn (3 năm) sâu vào lãnh thổ Bắc-Việt. Tại Trung tâm huấn luyện Long-Thành, cách Sàigòn 40 cây số đang đào-tạo thêm hàng chục Toán mới; Tháng 5, 6 và 7 năm 1964 các Toán được thả xuống như: Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion… kết quả tất cả bị tóm cổ. Tuy thất bại nhưng cũng vẫn tiếp-tục đào-luyện 21 tuần lễ các Toán mới, và chọn người có khả năng để tăng cường bổ sung cho Toán Remus và Tourbillon dành cho phía Hà Nội chơi trò “Cút-bắt”. Nhưng sự thật đây là trò chơi rẽ tiền: Dân và cán bộ cấp nhỏ người nào cũng óm nhách óm nheo vì không đủ ăn thiếu dinh dưỡng nên mặt bũn da chì, đem bắt cóc họ lùa vào chiếc PT Nasty đem vào Cù Lao Ré nuôi cho mập, rồi thả về chỗ cũ, mặt mày hồng hào khỏe mạnh đễ lộ ra coi như “Ông ơi tui ở bụi nầy” thì bị bắt rồi cho đi cải tạo tư tưởng. Rồi họ tuyên dương tình báo nhân dân của họ thật xuất quỷ nhập thần, dù rằng đây là trò chơi rẽ tiền, nhưng đối với tinh thần là kích thích sự háo thắng truyền thống của CS, có như vậy để cho họ tiếp tục phấn đấu vượt bao khó khăn để trục Ma/Quỹ hoàn thành kế sách chiến lược.
                                Sơn-Tinh thất bại, CIA dùng Thủy-Tinh gở lại; Ở Vịnh Bắc-Việt, duyên-tốc-đỉnh Nasty và Biệt-Hải bắt đầu tấn kích phá hoại rất thành công nhiều mục-tiêu rải-rác dọc Duyên-Hải; Hai cuộc tấn kích chớp-nhoáng rồi rút ra khỏi, đó là ngày 9 và 25 tháng 7
                                Đặc biệt ngày 30 July tấn kích dữ-dội căn-cứ Radar của Hà-Nội, xử dụng tốc đĩnh Nasty và Biệt-Hải tấn kích quyết liệt sâu vào đất liền, hủy diệt căn-cứ thường dòm ngó nầy, gây ra nhiều đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ dài theo sau đó. Cuộc hành quân của Thủy-Tinh hoàn-toàn thắng lợi
                                Kết quả về Hành-Quân cũa Toán Dài Hạn: Nói tóm lại, sự hoạt động của Toán Dài-Hạn, từ ngày thành lập đến nay xem như thất bại hoàn-toàn, chỉ có bảy Toán và một Đơn Chiếc được xem như còn hoạt động trong nội-địa Bắc-Việt đến năm 1967 (xem bản đồ ở trang đầu) Ba Toán và một Đơn Chiếc do CIA đào tạo sau bốn năm hoạt động là: Eagle, Red-Dragon và Romeo đã tỏ ra có nhiều cố gắng.
                                Đem so-sánh với kế-hoạch kồng-kềnh của CIA, các Toán nầy hoạt động cũng không đáng kể, mặc dầu phương tiện đem họ đi thâm-nhập rất hoàn-hảo, nhưng kết quả lại không ra gì. CIA thả Toán Tourbillon ngày 16/5/1962, sau đó tăng cường thêm hai Toán-viên ở vùng hoạt động tây-bắc Hà-Nội, lúc đầu Toán phải mở những trận phục kích, phá hoại, gây rối hậu phương địch, sau đổi lại chỉ góp nhặt tin-tức báo-cáo về Trung-ương mà thôi. Kết quả không tin-tức nào cho là đáng kể; Nhận thấy cứ mỗi lần muốn bốc họ ra thì họ xin trì hoản thối thác và đến bãi bốc không đúng hẹn (Nếu chúng ta suy gẫm có sự thay đỗi nhiệm vụ như vậy có nghĩa là CIA của Colby bị CIA của Richard Helms đè bẹp, thế thì ai nắm chính sách Mỹ? Ðúng y chang Harriman kiến trúc sư cuộc chiến, và Prescott Bush, chủ tịch hội đồng kỹ nghệ quốc phòng WIB)
                                Tháng Tám năm 1963 CIA thả Toán Easy ở Sơn-La với mục địch, Toán phải tìm mọi cách liên-lạc với nhóm người lãnh đạo của sắc-tộc Mèo, Thái để được Bốc đem về cho CIA huấn luyện, sau tháng giêng năm 1964, có nghĩa là sau khi TT Kennedy và TT Diệm bị thảm sát, nhiệm vụ nầy được hủy bỏ vì chỉ-thị đột ngột của Hoa-Thịnh-Đốn (từ bộ Ngoại giao, Harriman) không được mở các cuộc đột kích cũng như tấn-kích. Toán Easy trở lại vị thế nhàn rỗi giống như tên đặt: là chỉ thu-lượm, khai-thác tin-tức và tìm hiểu để tuyển người tại địa phương.
                                Kết quả, không thấy báo-cáo… nín câm như hến! Colby không biết gì nhưng điệp viên 19 Lucien thì biết tất cả mọi việc qua Phạm Xuân Ẩn. Theo sự tường trình của CIA [Colby] thì Toán Easy nầy đã được tăng cường bốn lần với hai mươi ba Toán viên. Đến khi cho biết, tình-trạng khẩn-cấp, báo-động Đỏ, vị bị nghi-ngờ, vài Toán viên phải được Bốc về ngay… thì Toán nầy cắt đứt liên-lạc tức khắc (bị bắt buộc phải làm nhiệm vụ nhị-trùng)
                                Toán sáu người Remus nhảy dù xuống ngày 16 tháng 4 năm 1962 gần Điện-Biên-Phủ, ấn-định mục-tiêu: Thiết lập bí-mật tại đây một Căn-cứ chìm để đón nhận tin cũng như phát tin đi hàng ngày về diễn-tiến thay đổ tình-hình chính-trị, kinh-tế cũng như quân-sự, lựa chọn một nơi thật an-toàn để nhận tiếp-tế và cũng là nơi sẽ tiếp-nhận thêm Toán viên Mới, thu nhập tài-liệu, dữ kiện để tuyển người cho Mặt trận Gươm Thiêng Ái-Quốc, nhưng sau khi TT Kennedy bị thảm sát, Toán Remus trở lại nhiệm vụ thám sát để báo cáo tình hình, nói tóm lại từ khiêu khích trở về phòng thủ để lấy tin tức, ngay sau khi TT Kennedy bị Harriman và dòng họ Bushes quyết triệt tiêu. Các toán đã thã trở về mục tiêu do la tin tức, không được phá hoại và bị bỏ trong quên lảng
                                Năm 1964, Toán Remus báo-cáo đã phá sập nhiều cầu-cống trên những huyết lộ của Bắc-Việt, Bộ-Trưởng Quốc-Phòng Mc Namara làm bộ mừng rỡ khi William-Colby báo cáo, lúc nghe được tin nầy, Mc Namara nhún-nhảy tưng-tưng như đứa trẻ con vừa được Bố Mẹ mua đồ chơi; nhưng Colby cũng biết Namara không ưa gì mình khi cố mĩm cười và cứ tưởng như Mc Namara cho rằng, cuộc chiến sẽ thay đổi hẳn cục diện và đây quả là một chiến-công vĩ đại? CIA không có bằng chứng nhưng chỉ tin vào báo cáo, cho đây là kết quả tốt đẹp nhất nên Toán Remus được tăng cường năm lần, (chỉ có Nhóm phản gián của điệp-viên 19 và Phạm Xuân Ẩn là hiểu rỏ mọi diển tiến của trò chơi nầy và Mc Namara cũng thừa hiểu điều đó nhưng cũng cố đóng kịch như là người thuộc về viên chức chính quyền, trong khi điệp viên tài ba nhứt trong Ðệ-2 thế chiến, Colby đành thúc thủ)
                                Mãi đến năm 1966 Remus bị nhóm Colby phê bình khiển trách vì quá tự mãn nên báo cáo quá ít và mù-mờ không rõ-ràng, Trung-ương quyết định, vì nghi ngờ, phải thay đổi nhiệm vụ nên ra lệnh Bốc bớt về hai Toán-viên. Được Toán trả lời ngay: “Rất nguy-hiểm không nên bốc hai Toán-viên ra…” Đền giữa năm 1968, tất cả vô-tuyến liên-lạc đều cắt đứt, cũng vừa phỏng vấn lấy cung một tên lính Bắc-Việt mới bị bắt, hắn tiết lộ rằng: Đội-Trinh-Sát đã bao vây bắt được Toán Gián-Điệp của Chính-phủ Sàigòn ở vùng cao thuộc Tỉnh Hoàng-Liên-Sơn. Sau khi phối kiểm, đúng là Toán Remus vào giữa tháng 6 năm 1962, có nghĩa là sau khi thâm nhập được hai tháng là bị chụp ngay, Bắc-Việt dùng Toán nầy để làm Gián-diệp hàng đôi, trong khi Colby không biết gì cả.
                                Ngày 13/5/1968, Đài Hà-Nội công bố xác định có bắt được một Toán Gián-Điệp với những dữ kiện…rõ-ràng là Toán Remus.
                                Nói tóm lại, Colby chỉ còn Một-Đơn-Chiếc Ares là đáng tin cậy được, (tôi đoán rằng Nguyễn Chí Bình, thép đen?) đầu năm 1961 Ares được thả bằng đường biển, gần biên-giới Trung-Quốc, lúc đầu không liên-lạc được nhưng sau bắt được liên-lạc; Trước đây được một viên chức của Sở-Khai-Thác Địa-Hình đề ý và tìm ra Ông khi ông còn ở Trại Tỵ nạn Cộng-Sản vào ngày 29/8/1960 được đưa vào ống kính CIA vì ông có nhiều mối căm thù tích lủy với Cộng-Sản, với sự kích động hăng-say khiến ông ao-ước được có cơ-hội nầy để tiêu-diệt Cộng-Sản, dĩ nhiên không bao lâu, sau ông được cơ quan tuyển dụng ngay. Thoạt đầu ông được xem như tích cực, hữu-hiệu, cung-cấp những tin-tức cũng như tài-liệu về Miền-Bắc, nhà máy điện Uông-Bí, Xa-lộ, Cầu-cống, Bến cảng Hải-Phòng và những tin-tức liên-quan khác, chính ông đã cố-gắng hết mình tìm được những tin-tức vô cùng quý giá. Tuy nhiên đến năm 1966, CIA bắt đầu ngạc nhiên về sự yêu cầu tiếp-tế của ông, Ông đưa ra điều-kiện nơi tiếp-tế, rồi thình-lình lại xin hủy bỏ; Khi CIA quyết tình muốn bốc ông ra thì ông thối-thác không ra chỗ hẹn, nhưng vẫn liên-lạc mãi đến năm 1968; Hà-Nội biết như vậy nên càng rà theo dõi ông sát nút nhờ qua tin của tam-trùng Ẩn báo cáo khá chính xác những hoạt động gián điệp biệt kích của VNCH.
                                Nói tóm lại góp nhặt tin-tức, phá hoại đột kích… Các Toán dài-hạn ít có kết quả hơn Toán ngắn hạn, tại sao! Rất nhiều lý do phức tạp chỉ biết qua tin-tức bằng vô-tuyến, nếu có phá sập cầu, cho biết vị trí, chụp hình thế thôi. Thậm chí có những Toán bị Bắc-Việt bắt được và đang áp-đặt làm điệp-viên hàng đôi mà CIA [nhánh chính quyền Colby] cũng chẳng hay biết, cứ như thế mà tiếp-tục tiếp-tế, thả tăng thêm người: (Những khuyết điểm thực tập nầy của Colby vẫn được ghi chép vào Học viện Quân sự để rút kinh nghiệm sau nầy)
                                Toán Tourbillon, năm 1962 tiếp nhận Toán viên mới hai lần, rồi tiếp-tục nhận thêm năm 1964, năm 1965, năm 1966 và năm 1967, thật là buồn cười cho một Cơ-Quan CIA tự hào là nỗi tiếng khắp thế-giới mà bị mù lòa không thể tưởng. Nhưng sự thật đả bị CIA (toán phản gián của Richard Helms) qua Phạm Xuân Ẩn chỉ điểm tọa độ nên bị tóm cổ hết cả lủ, theo kế hoặch của Nhóm tham mưư Harriman là mọi ngành, binh chủng, đơn vị đều phải thực tập trách vụ nhưng không cần thu hoặch kết quả với châm ngôn (everthing worked but nothing worked enough)
                                - Toán Remus nhận tiếp-tế Bốn lần
                                - Toán Easy nhận tiếp-tế Năm lần
                                - Tất cả những Toán viên tăng cường đều bị bắt, bị giết bởi lính tuần tra theo kiểu Cày Răng Lược của lính Bắc-Việt.
                                Hồi Đệ II thế chiến, Tình-báo Quân-đội Hoa-kỳ OSS rất hữu hiệu, thao lược và kiệt xuất, họ võn-vẹn có vài người trong lòng địch kiểm soát, thay vì phải điều-động cả hàng Sư-đoàn để giao-tranh với Địch, dĩ nhiên với quân số nhiều như vậy thì phải chịu thiệt hại khi đụng độ. Cũng nên nhắc lại chuyện xưa, ngày đó OSS biết khi nào cần sự có mặt của quân bạn để tham chiến, đúng lúc, nơi nào, vào giờ nào, để làm gì…Trong khi Đồng-minh Liên-Xô không những hàng ngày mà hàng giờ chờ quân-đội Hoa-kỳ nhảy vào vòng chiến để nhẹ bớt áp-lực. Trong khi mũi dùi tiến về phía Tây-Bá-Linh, Liên-Xô chịu quá nhiều thiệt hại về nhân mạng, đến khi Liên-Xô tiến gần đến Bá-Linh, lúc nầy Sĩ-quan OSS, W.Colby mới chịu báo-cáo cho Sư-đoàn Dù nhảy vào vòng chiến để chụp giật phỏng tay trên giành được các nhà Bác-Học Đức trên tay hồng quân Liên Xô; Ngày xưa Cơ-quan Tình-báo Quân-đội OSS càng kiệt xuất bao nhiêu thì ngày hôm nay được đồi cái tên là CIA thì quá tệ trong dự mưu của SCP, vì bị thọc gậy bánh xe, mục tiêu có khác là do thế chiến lược phản tình báo của Skull and Bones. CIA [Colby] biết mình mà không biết người thì làm sao nắm vững được tình-hình; Trong khi nhóm phản gián của Richard Helms thì biết cả hai bên nhở cùng KGB phối hợp thao dượt để thí nghiệm các dụng cụ truyền tin loại update nhứt cho sự ích lợi của hai nước Mỹ/Xô. Nhưng đây là một điều trớ-trêu nhưng lại trong định kiến của Nhóm tham-mưu Dân-sự Harriman về thế chiến lược ‘bênh kẻ mạnh’ để giúp Hà Nội chiếm lỉnh Miền Nam theo định kiến-1 (axiom-1).
                                - Cho thi hành công tác mà không hiểu rõ, xác định mục tiêu như thế nào, đổi mục tiêu vô chừng, khi thì phá hoại rồi đổi mục tiêu qua thu lượm tin-tức, rồi đùng một cái tuyển người ở địa phương cho chương trình Mặt-Trận Gươm Thiêng Ái Quốc, thay đổi kế-hoạch như chong-chóng (Vì mọi hoạt động đều do sự chủ đạo của Nhóm tham mưu Richard Helms/Harriman)
                                - Quan niệm hành quân không thích hợp, không nắm vững, thiếu hiểu biết.
                                - Thiếu kinh-nghiệm điều hành.
                                - Thiếu, không đủ thủ tục, tiêu chuẩn để chọn người.
                                - Huấn luyện chưa vững, thiếu tin cậy, tin-tưởng.
                                - Không biết cách để kích động tinh-thần Toán viên.
                                - Trong khi Bắc Việt đã điêu luyện về xử dụng Gián-Điệp hàng đôi, khích lệ bởi KGB
                                - Quân đội điều-hành không chuyên môn về phương diện tình báo, đổ lổi Kennedy (Nhưng có một đều chũ yếu là thao duợt cho cã hai phía Bắc Nam để tiêu hũy cũng như thí nghiệm vũ khí mới lấy VN làm chiến trường thí nghiệm)
                                Mặc dù có những sáng kiến khi phát hiện Toán bị cưỡng bức làm Gián-điệp hàng đôi như dùng Phi-cơ Phantom RF-4 thả đồ tiếp-tế theo kế hoặch đã ấn định trong chương trình: Cái thùng nhôm mang dưới bụng Phi-cơ giống như bình xăng phụ, dùng thả những tiếp liệu như Vô-tuyến, Lựu đạn, Mìn bẩy…Nhưng Lựu đạn kỳ thả nầy, hễ rút chốt ra là nổ ngay, vô-tuyến và các thứ khác đều như vậy nhưng chỉ có hiệu quả một hai lần thôi, lần sau họ đâu có dại nữa mà chịu mắc-mưu. Còn như để đánh lạc hướng địch, thả dù bằng những cục nước đá có sức nặng bằng con người… đến khi nước đá tan thì chỉ còn chiếc dù mà thôi, treo lủng lẳng trên cành cây hay cạnh sườn núi, lính Bắc-Việt sẽ tập trung vào khu đó mà tìm trong khi Toán sẽ được thả ở nơi khác, cái mưu chước nầy cũng chỉ nhất thời mà thôi, chớ không thể ứng dụng lâu dài được! Thả máy phát thanh treo trên ngọn cây phát ra tiếng liên-lạc giữa các Toán với nhau để đánh lạc hướng…nhưng dù gì thì chĩ có hậu quả nhứt thời mà thôi - Đây cũng là hình thức tạo ra sáng kiến về phía Colby.

                                KQ: TRƯƠNG VĂN VINH

                                Comment

                                Working...