Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Dấu Chân Trên Cát

Collapse
X

Dấu Chân Trên Cát

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Dấu Chân Trên Cát


    Nguồn: http://www.quehuongngaymai.com
    Làng Văn xuất bản năm 2000
    Mika Waltari
    Dấu Chân Trên Cát
    Nguyên Phong phóng tác theo THE EGYPTIAN của Mika
    Waltari


    Lời giới thiệu
    Ngày nay Ai Cập chỉ được biết đến như một quốc gia
    chậm tiến với những Kim Tự Tháp đồ sộ và những cổ mộ
    chứa xác ướp. Rất ít ai biết về quá khứ đầy huy hoàng của
    nền văn minh đã bị vùi lấp trong lòng cát sa mạc này. Hiển
    nhiên lịch sử đã ghi nhận về triều đại của các vua Pharaoh,
    những người đã tốn rất nhiều xương máu dân chúng để xây
    cất các Kim Tự Tháp, nhưng xây cất vào việc gì thì vẫn còn
    là một câu hỏi mà ngày nay người ta chưa tìm được câu trả
    lời. Lịch sử triều đại vua chúa Ai Cập cũng chứa đựng nhiều
    bí mật lạ lùng không thể giải thích. Hiện nay các nhà khảo
    cổ thông thái nhất vẫn không tìm được một chút manh mối
    hay di tích gì về các đấng quân vương, những người đã xây
    dựng lên nền văn minh bậc nhất bên bờ sông Nile này. Họ
    chỉ khai quật được mồ mả, lăng tẩm của các bạo chúa,
    những người đã gây chiến tranh khắp nơi, làm đổ máu dân
    lành vô tội.
    Nhà khảo cổ Kevin Livingston đã viết: "Hình như các vị
    minh quân không hề xây cất lăng tẩm, không hề dựng bia
    đá khắc ghi công trạng của mình. Phần lớn các lăng tẩm hay
    mồ mả đã được đào lên chỉ toàn của các vị vua bất tài,
    những bạo chúa khát máu, những người mà tên tuổi không
    còn ai muốn nhắc đến nữa". Ngày nay người ta biết đến
    triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người
    Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì
    họ đã học hỏi từ một người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là
    Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn
    minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở một
    tình trạng kém mở mang so với Ai Cập lúc đó.
    Các sử gia ngày nay đã đưa ra nhiều giả thuyết về nhân
    vật Sinuhe này. Có người cho rằng ông chỉ là một lái buôn
    đến Hy Lạp lập nghiệp nhưng làm sao một lái buôn lại mở
    trường dạy học và để lại nhiều tài liệu quí giá như thế được?
    Từ ngàn xưa, chỉ riêng giai cấp vua chúa và giáo sĩ mới
    được hưởng quy chế giáo dục toàn vẹn như vậy mà thôi. Do
    đó, một số người cho rằng ông thuộc giai cấp giáo sĩ nhưng
    việc một giáo sĩ Ai Cập đến mở trường dạy học tại Hy Lạp
    cũng là điều khó chấp nhận. Mặc dù khi đó văn minh Hy Lạp
    chưa tiến bộ như Ai Cập nhưng tôn giáo xứ này đã phát
    triển rất mạnh, hiển nhiên các giáo sĩ Hy Lạp không thể
    chấp nhận cho một giáo sĩ ngoại quốc đến mở trường dạy
    học tại thánh địa Olympia của họ được. Nếu thế, phải chăng
    Sinuhe thuộc giai cấp hoàng tộc? Điều này xét ra cũng
    không có lý vì một người thuộc giai cấp hoàng tộc không
    thể bị đày biệt xứ. Luật pháp Ai Cập chủ trương xử tử
    những kẻ trong hoàng tộc nếu họ vi phạm một tội trọng nào
    đó chứ không có lệ đày biệt xứ, vì các vua Pharaoh rất sợ
    những người trong bọn họ chiêu binh mãi mã làm phản.
    Việc một người Ai Cập, thân thế mơ hồ, bị đày biệt xứ, đến
    mở trường dạy học tại Athens, trung tâm văn hóa của Hy
    Lạp, vẫn là một bí mật đến nay các nhà khảo cổ chưa tìm
    được câu trả lời.
    Tiểu sử tác giả
    Mika Waltari (1908-1979) là một nhà soạn kịch nổi
    tiếng, đã viết hơn tám mươi kịch bản cho sân khấu kịch
    nghệ Broadway.
    Trong chuyến du lịch Hy Lạp, ông nghe kể về Sinuhe,
    một giai thoại phổ thông vẫn được lưu truyền trong dân
    gian xứ này. Ông đã tìm hiểu, tiếp xúc với các bô lão để ghi
    chép, thâu tập chi tiết về nhân vật lạ lùng này; rồi thêm vào
    đó một vài tình tiết với ý định sẽ dựng lên một vở kịch lớn
    nhưng nửa chừng, ông bỏ ý định và soạn thành cuốn tiểu
    thuyết The Egyptian (tạm dịch: Dấu Chân Trên Cát). Xuất
    bản năm 1945, The Egyptian là một trong những cuốn sách
    có số bán rất chạy và đã được tái bản nhiều lần. Tuy là một
    tiểu thuyết hư cấu (fiction) nhưng tác giả đã xây dựng nó từ
    những truyền thuyết trong dân gian, nên nó vẫn có giá trị
    trên địa hạt sử liệu và khảo cổ.
    Cho đến nay, dù đã soạn hơn tám mươi vở kịch nổi tiếng
    nhưng The Egyptian vẫn là cuốn tiểu thuyết đầu tay và duy
    nhất của ông. CHƯƠNG 1
    Tôi tên là Sinuhe, câu chuyện tôi kể lại sau đây là
    chuyện của tôi, một người Ai Cập, mặc dù hiện nay tôi
    không còn được sống tại quê hương của tôi nữa. Tên tuổi tôi
    đã hoàn toàn bị xóa bỏ trong các đền đài, lăng tẩm, văn
    kiện, bia đá, và có lẽ hiện nay không còn ai nhắc nhở gì đến
    tôi nữa. Tôi viết lại chuyện này không phải để phục hồi tên
    tuổi cho tôi nhưng vì tôi thấy cần phải ghi lại các biến cố đã
    xảy ra tại quê hương tôi một cách trung thực, để thế hệ sau
    có thể biết rõ về những biến cố trong buổi giao thời lịch sử
    này. Tôi hy vọng nhờ thế họ có thể học hỏi, tránh không đi
    vào các vết xe cũ, những lỗi lầm xưa.
    Người Ai Cập có thành ngữ: "Kẻ nào đã từng uống nước
    sông Nile thì không thể uống nước ở đâu được nữa." Quả
    thế, tuy sống tại Hy Lạp nhưng không bao giờ tôi có thể
    quên được Ai Cập, quê hương thân yêu của tôi. Mặc dù hiện
    nay được giải khát bằng những loại rượu nho thơm ngon
    nhất của Hy Lạp nhưng không bao giờ tôi có thể quên được
    hương vị trong mát, ngọt ngào của những bình nước được
    múc lên từ sông Nile, dòng sông mà người Ai Cập thường
    gọi là "mẹ Nile", một danh từ tràn đầy thương yêu, không
    bút mực nào có thể tả xiết.
    Tôi xin bắt đầu câu chuyện của tôi…
    ° ° °
    Tôi là một đứa bé Ai Cập sống tại thành Thebes. Hôm đó
    đang chạy nhảy nô đùa cùng những đứa trẻ đồng tuổi ngoài
    phố thì mẹ tôi gọi:
    - Này Sinuhe, cha muốn con trở về nhà ngay.
    Cha tôi là Sen Moot, một y sĩ nổi tiếng đã được huấn
    luyện tại Abydos, trung tâm giáo dục nổi tiếng nhất tại Ai
    Cập lúc đó. Mặc dù đỗ thủ khoa, được coi là một trong
    những y sĩ giỏi nhất nước, nhưng không như các bạn đồng
    nghiệp, chỉ tiếp bệnh nhân thuộc thành phần giàu có, cha
    tôi lại chọn một khu xóm bình dân để mở phòng mạch. Ông
    không đòi hỏi một giá biểu nhất định như các y sĩ đương
    thời, mà chỉ đặt một hòm gỗ trước cửa phòng khám bệnh để
    bệnh nhân có thể tùy ý, muốn bỏ vào đó bao nhiêu tiền
    cũng được.
    Có hôm sau khi đóng cửa phòng mạch, mẹ tôi mở hòm
    ra và chỉ thấy vài đồng xu lẻ, vừa đủ mua một con cá ngoài
    chợ. Thấy bà có vẻ thất vọng, cha tôi đã khuyên:
    "Chúng ta còn sung sướng chán, ít ra cũng có một con
    cá để ăn bữa chiều."
    Mẹ tôi nhẹ nhàng giải thích: "Em không cần ăn nhiều
    nhưng thằng Sinuhe cũng cần phải có thức ăn bổ dưỡng, nó
    đang tuổi lớn."
    Cha tôi bật cười rồi vỗ mạnh lên vai tôi một cách tự hào:
    "Bà đừng lo, nó chỉ cần uống vài thang thuốc bổ của ta bào
    chế là đủ. Xem chừng bà không mấy tin công hiệu của các
    thang thuốc bổ của ta thì phải?"
    Mẹ tôi lắc đầu: "Đâu phải em không tin nhưng trẻ con
    cũng cần phải ăn chút thịt cá chứ, ăn uống mấy loại rễ cây
    đó mãi đâu có tốt."
    Cha tôi bèn quay qua tôi âu yếm: "Này con trai, người ta
    ăn để sống hay sống để ăn?"
    Dĩ nhiên đã quá quen thuộc với những lời khuyên bảo
    này nên tôi trả lời ngay: "Con chỉ ăn đủ để sống mà thôi."
    Cha tôi bật cười sung sướng, nhấc bổng tôi lên quay
    mấy vòng và reo lớn: "Thật đúng ý ta. Con ngoan lắm!"
    Tuy nhiên không phải ngày nào tình trạng tài chánh
    cũng bi đát như thế. Mỗi khi có những đoàn lái buôn từ
    phương xa ghé qua thành phố thì chiếc hòm gỗ của cha tôi
    thường chứa đầy những đồng tiền vàng, tiền bạc. Thấy mẹ
    tôi lúi húi đếm tiền, cha tôi ân cần nhắc nhở: "Này em,
    chúng ta chỉ nên giữ một món tiền nhỏ, vừa đủ ăn tiêu
    trong vòng bảy ngày thôi, còn dư ra bao nhiêu em đem
    phân phát cho những người nghèo khó hơn chúng ta." Mẹ
    tôi mỉm cười đồng ý rồi cúi xuống đống bạc trước mặt, chia
    ra làm hai phần không đều nhau, phần nhỏ bà cất đi để
    dành chi dùng, phần kia sẽ được đem ra phân phát cho
    người nghèo trong xóm.
    Mẹ tôi xuất thân từ một gia đình thế gia vọng tộc nhưng
    ngay từ nhỏ bà đã không thích nếp sống xa hoa phung phí
    này. Bà thường dành nhiều thì giờ chăm lo săn sóc những
    kẻ nô lệ hay người nghèo khó trong xã hội. Tôi nghe kể có
    lần ông ngoại tôi mua cho bà một chiếc vòng ngọc rất quí
    nhưng bà đã đem bán chiếc vòng đó đi, lấy tiền mua thuốc
    giúp nhưng kẻ nô lệ đang mắc bệnh thời khí. Sự kiện này
    khiến ông ngoại tôi nổi giận lôi đình và có ý trừng phạt bà
    thật nặng. May thay, tấm lòng nhân hậu của bà đã cảm đến
    cha tôi, người y sĩ mà bà tìm đến mua thuốc. Cha tôi bèn
    cầu hôn. Lúc đầu mẹ tôi từ chối vì bà vẫn có ý định trở nên
    một nữ tu trong đền thần Isis. Tuy nhiên vì lý do gì đó mà
    cha tôi đã thuyết phục được mẹ tôi bỏ ý định này. Sau hôn
    lễ, cha mẹ tôi rời thủ đô Memphis dọn đến Thebes, mở
    phòng khám bệnh tại khu phố bình dân này. Cả hai cha mẹ
    tôi đều phát nguyện sống thanh bần để phụng sự nhân loại.
    Hôm đó khi vừa về đến nhà thì tôi thấy cha tôi đang cạo
    tóc cho một bệnh nhân. Có lẽ đã được uống một thang
    thuốc mê nên hai mắt y nhắm nghiền như đang say ngủ.
    Cha tôi thong thả tuyên bố:
    - Này Sinuhe, năm nay con đã lên bảy tuổi rồi, không
    còn là một đứa bé nữa. Kể từ nay, con sẽ phụ việc cho ta và
    ta muốn con quan sát những phương cách chữa trị hiếm có.
    Ngày hôm nay, ta sẽ mổ sọ cho bệnh nhân này…
    Sống trong căn nhà nhỏ, vỏn vẹn có hai phòng, tôi
    không lạ gì công việc chữa trị của cha tôi. Không những tôi
    rất quen thuộc với những dụng cụ y khoa mà còn biết cả
    tên những chậu dược thảo hay các vị thuốc mà ông đích
    thân bào chế nữa. Tôi đã chứng kiến cha tôi chẩn bệnh,
    chữa bệnh, bào chế thuốc, băng bó cho các bệnh nhân trật
    tay, gẫy chân. Đã có lần tôi xem cha tôi đỡ đẻ cho một sản
    phụ và giải phẫu cho một người có bướu trong ruột, nhưng
    mổ sọ người là việc hiếm có chưa từng thấy.
    Nhìn vẻ mặt đầy thích thú của tôi, cha tôi gật đầu và nói
    một cách hãnh diện:
    - Này con trai, mổ sọ người là một việc vô cùng khó
    khăn mà rất ít y sĩ có thể làm được. Tuy nhiên đây là môn
    sở trường của ta, vì thế ta muốn con phụ giúp ta trong cơ
    hội hiếm có này.
    Ông lấy ra một chiếc hộp lớn chứa đầy những dụng cụ
    giải phẫu kỳ lạ và bắt đầu giải thích công dụng của từng cái
    một. Tôi im lặng theo dõi và đặt câu hỏi mỗi khi không hiểu
    rõ. Cha tôi giải thích từng chi tiết cho đến khi cuộc giải phẫu
    bắt đầu. Ông đặt những dụng cụ này vào một chiếc đĩa
    bằng đồng, rắc lên đó một chút hương liệu và châm lửa đốt.
    Tôi nín thở theo dõi những ánh lửa màu xanh liếm quanh
    những con dao mổ hình thù kỳ lạ. Không khí trong căn
    phòng đột nhiên trở nên im lặng khác thường. Cha tôi thong
    thả làm việc. Vừa làm ông vừa giải thích và sau cùng ông
    dừng tay đưa mắt nhìn tôi, chậm rãi nói:
    - Này Sinuhe, con có sợ không?
    Tôi lắc đầu. Cha tôi mỉm cười đặt lưỡi dao lên sọ bệnh
    nhân:
    - Tốt lắm! Trong nghề này, việc giáp mặt với cái chết là
    lẽ thường, không có gì phải sợ hãi. Khi ta khởi sự làm việc
    này thì thần chết cũng đã lảng vảng quanh đây rồi. Ta và y
    sẽ bắt đầu một cuộc so tài và kết quả ra sao khó có thể biết
    trước được.
    Ông khởi sự bằng những đường mổ quanh đầu bệnh
    nhân rồi lấy ra một cái búa nhỏ khẽ gõ quanh đầu bệnh
    nhân mấy cái. Trước cặp mắt kinh ngạc của tôi, ông thong
    thả nhấc hẳn mảng sọ ra khỏi đầu bệnh nhân một cách nhẹ
    nhàng như người ta nhắc nắp vung ra khỏi cái nồi. Ông chỉ
    vào một vết bầm màu xám trong bộ óc:
    - Con hãy xem đây… Bệnh nhân này bị một cái bướu đè
    lên màng óc nên y không thể nói năng được nữa. Khi cắt cái
    bướu này đi thì y sẽ phục hồi và có thể nói được như
    thường.
    - Tại sao như thế?
    - Có lẽ cái bướu này ngăn trở sự lưu thông của huyết
    mạch liên hệ đến các giác quan nói trên.
    - Nhưng cái bướu đó ở đâu ra? Làm sao nó lại có thể
    chui vào sọ của bệnh nhân được?
    - Nếu xét về nguyên nhân bệnh trạng thì vô chừng,
    không thể giải thích ngay được. Sau này ta sẽ giải thích cho
    con nhưng hiện nay không phải là lúc.
    Ông hít một hơi dài như để định thần rồi bắt đầu làm
    việc. Tôi im lặng theo dõi từng cử chỉ của ông với vẻ thán
    phục. Thỉnh thoảng ông ra lệnh cho tôi mang đến cho ông
    một ít thuốc cầm máu hay vài dụng cụ mà ông không thể
    với tay lấy được. Không khí trong phòng dần dần trở nên
    căng thẳng, tôi thấy trán của cha tôi lấm tấm mồ hôi nhưng
    mắt ông vẫn không rời vết thương, hai tay ông vẫn thoăn
    thoắt làm việc. Sau cùng ông ngưng lại ngắm nghía công
    trình của mình rồi bật lên một tràng cười sảng khoái:
    - A ha! Lần này thì ta lại lừa được gã thần chết một lần
    nữa rồi.
    Dĩ nhiên không phải lần nào cha tôi cũng may mắn như
    vậy. Kể từ khi trở nên người phụ tá cho ông, tôi đã chứng
    kiến nhiều cuộc tranh đấu đầy gay go giữa ông với thần
    chết. Có khi cha tôi thắng nhưng cũng có lúc ông đành bó
    tay sau khi đã tận lực cứu chữa. Nhìn những thể xác nằm
    bất động, tôi thắc mắc:
    - Tại sao người ta lại chết?
    Cha tôi thản nhiên trả lời:
    - Con hỡi, đã sinh ra ai chẳng phải chết. Điều khác biệt
    chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Người chết sớm, kẻ chết
    muộn nhưng trước sau ai cũng chết…
    - Nếu vậy thì cứu chữa làm gì nếu trước sau ai cũng
    chết?
    Cha tôi nheo mắt nhìn tôi với vẻ thích thú rồi nói:
    - Bởi thế mới có cuộc so tài giữa y sĩ và thần chết để kéo
    dài thêm thời gian.
    - Nhưng rốt cuộc thần chết vẫn thắng vì trước sau ai
    cũng phải chết.
    - Đúng thế.
    - Nếu vậy tại sao cha lại tốn công nhọc sức làm gì?
    - Điều này ta không thể nói được mà con phải tự tìm ra.
    - Tại sao đã biết, cha lại không thể nói ra được?
    Cha tôi dịu dàng nhìn tôi một lúc rồi thong thả nói:
    - Con hỡi, cuộc đời là một bài toán hết sức phức tạp mà
    trong đó mỗi người phải tự tìm kiếm ra câu giải đáp cho
    mình. Kẻ nào không biết sử dụng đời mình để tìm kiếm ra
    câu giải đáp đó thì thật không đáng sống chút nào. Đời sống
    vốn là một sự bí mật, đòi hỏi một sự tìm kiếm không ngừng,
    và đó chính là ý nghĩa chân thật nhất của đời sống.
    - Nhưng sau khi chết, người ta đi về đâu?
    Cha tôi im lặng như suy nghĩ rồi nói một cách chậm rãi:
    - Này con trai, có một khoa học của sự sống và cũng có
    một khoa học của sự chết. Điều ta được truyền dạy là khoa
    học của sự sống, do đó trọn đời ta chỉ nghiên cứu các kỹ
    thuật, phương pháp, cùng các loại dược thảo có công hiệu
    chữa trị và kéo dài sự sống mà thôi. Đối với những người
    nghiên cứu khoa học của sự chết thì đối tượng của họ là
    một thế giới khác hẳn với thế giới của ta. Họ nghiên cứu các
    kỹ thuật, phương pháp làm cho những sự vật vô hình trở
    nên hữu hình, khám phá các định luật huyền bí trong vũ
    trụ, đi vào các cõi giới xa xăm để bào chế các chất liệu bí
    mật rồi sử dụng vào những điều mà ta không biết rõ vì nó ở
    ngoài khả năng hiểu biết của ta.
    Từ khi trở nên người phụ tá cho cha tôi thì tôi ít có cơ
    hội ra phố chạy nhảy, chơi đùa với những đứa bé cùng xóm
    như trước nữa. Tuổi thơ của tôi trôi qua rất nhanh. Những
    trò chạy nhảy, bơi bội, đánh chuyền… đã được thay thế
    bằng những phương pháp chẩn bệnh, định bệnh và bào chế
    các vị thuốc lấy ra từ những lá cây, rễ cây mà cha tôi gửi
    mua từ những nơi rất xa. Thỉnh thoảng cũng có khi cha tôi
    phải đích thân đi hái thuốc. Những lần như thế, có khi ông
    đi cả tháng mới trở về nhà. Khi ông đi vắng, tôi lại có dịp nô
    đùa với những đứa bé cùng tuổi trong xóm nhưng các trò
    chơi này không còn quyến rũ tôi như trước nữa. Giáp mặt
    thường xuyên với cái sống và cái chết, tôi trở thành một
    đứa bé hay tư lự, suy nghĩ với những điều mà một đứa bé
    cùng tuổi ít khi nào nghĩ đến.
    Một hôm cha tôi đi vắng, mấy đứa bạn cùng xóm rủ tôi
    đi câu cá ở một chiếc hồ phía bắc thành phố. Trong lúc
    chúng tôi đang câu thì có một đám trẻ khác ở đâu cũng
    mang cần câu đến. Thấy chúng tôi, một đứa bé to lớn lực
    lưỡng, trông có vẻ như tên cầm đầu nhóm kia, đã xông đến
    quát nạt:
    - Mấy thằng kia, ai cho phép chúng mày câu cá ở đây?
    Thấy dáng điệu hung hăng của đám trẻ kia, chúng tôi
    vội thu hồi cần câu lại, toan bỏ đi nhưng không kịp nữa,
    đám trẻ kia đã xông đến cướp lấy rổ cá mà chúng tôi vừa
    câu được. Thằng bé to lớn quát:
    - Hồ này là của chúng ta, cá trong hồ cũng thuộc quyền
    của chúng ta. Ai cho phép chúng mày được câu?
    Mấy đứa tôi sợ hãi nên tình nguyện đưa hết mấy rổ cá
    cho chúng nhưng thằng đầu đảng vẫn ra lệnh:
    - Tịch thu luôn cả cần câu của bọn chúng.
    Tuy tiếc rẻ nhưng trước vẻ hung hăng của đám trẻ kia,
    chúng tôi đành líu ríu đưa cần câu cho chúng. Bọn chúng
    được thể, xông đến lục soát túi quần túi áo của chúng tôi,
    xem chúng tôi còn cất giấu những gì. Chúng tịch thu thêm
    được vài chiếc bánh, vài lưỡi câu và mấy món đồ chơi vặt
    vãnh. Nhìn vẻ mặt ngơ ngác đầy sợ hãi của chúng tôi, thằng
    cầm đầu thích thú ra lệnh:
    - Mấy đứa mày cởi quần áo ra, ta tịch thu luôn cả quần
    áo của bọn mày để trừng phạt tội đã đến câu tại hồ của tao.
    Tuy sợ hãi nhưng tôi cũng cố năn nỉ:
    - Các anh đã lấy cần câu và cá của chúng tôi rồi thì hãy
    để cho chúng tôi đi.
    Nghe thấy thế, thằng cầm đầu bèn ra oai bằng cách
    xông tới đấm vào mặt tôi khiến tôi loạng choạng, máu mũi
    tuôn xối xả. Hắn cười lớn:
    - Đó là bài học cho những đứa dám cãi lời tao.
    Tôi vừa đưa vạt áo lên chùi mặt thì thằng này đã tiện
    chân đá tôi thêm một cái nữa khiến tôi ngã lăn ra đất. Trong
    lúc cố gắng đứng dậy thì tôi thấy một đứa bé cởi trần, chỉ
    khoác một cái khố nhỏ, tay xách cần câu ở đâu đi đến. Đứa
    bé vừa thả cần câu xuống hồ vừa hỏi:
    - Tại sao chúng mày lại đánh nhau vậy?
    Một đứa trong bọn kia lên tiếng:
    - Này thằng kia! Ai cho phép mày đến câu cá ở đây như
    thế? Mày muốn chung số phận với những thằng này hay
    sao?
    Thằng bé mới đến ngạc nhiên:
    - Tại sao lại thế được? Tao vẫn thường câu cá ở đây và
    có ai cấm đâu?
    Đám trẻ bật cười khoái chí, đứng bao quanh thằng bé
    cởi trần:
    - Hồ này là của bọn tao, tất cả tôm cá trong hồ cũng là
    của bọn tao và đứa nào đến đây câu cá cũng đều phải nộp
    hết tôm cá cho bọn tao.
    Thằng bé mới đến cười nhạt:
    - Thì ra thế! Tao không biết cá trong hồ này là của chúng
    mày.
    - Thì mấy đứa này không biết, dám đến câu nên mới bị
    trừng phạt đấy!
    Thằng bé nghe xong, gật gù như vừa tìm ra điều gì thích
    thú lắm:
    - May quá! Tao đang muốn biết xem ai làm chủ cái hồ
    này. Hôm qua tao câu được mấy con cá ở hồ này mang về
    ăn thì bị đau bụng nên đang muốn tìm xem ai là chủ mấy
    con cá đó để bắt đền đây.
    Trước cặp mắt kinh ngạc của đám trẻ kia, thằng bé cởi
    trần lạnh lùng:
    - Chúng mày phải để mọi thứ lại đây cho tao, nếu không
    chớ có trách.
    Tình thế trở nên căng thẳng. Đám trẻ kia vội vã bỏ
    chúng tôi xoay ra vây quanh thằng bé cởi trần. Thằng bé
    này không hề sợ hãi, chỉ cười nhạt:
    - Tốt lắm! Cả đám cùng đánh thì càng tiện!
    Vừa dứt lời, hắn đã xông đến tấn công ngay thằng đầu
    bọn. Thằng này cũng không phải tay vừa, hắn vừa đánh đỡ
    vừa quát tháo om sòm. Đám trẻ đồng bọn vội vàng xông
    vào tiếp tay, bụi cát bay mù mịt. Nhóm bạn tôi nhân lúc lộn
    xộn, vội kéo tôi bỏ chạy. Tuy không muốn đụng chạm nhưng
    tôi cũng không muốn thấy thằng bé mới đến bị ăn đòn nên
    ngần ngại không chịu đi. Tôi hy vọng có thể làm được một
    cái gì đó. Mấy đứa bạn tôi vừa chạy, vừa kêu lớn:
    - Sinuhe, chạy mau lên!
    Tôi chần chừ:
    - Khoan đã, chúng ta không thể bỏ chạy như thế được.
    Ngay lúc đó thằng bé cởi trần bị một đứa trong bọn xông
    đến ôm lấy chân, quật nó ngã xuống đất. Đám trẻ kia mừng
    rỡ vội xông đến đấm đá túi bụi. Nhìn thấy thế, tự nhiên tôi
    cảm thấy trong người nóng ran lên, không còn tự chủ được
    nữa. Tôi hét lên rồi xông vào trợ chiến. Tôi ôm lấy chân
    thằng đầu đảng, kéo nó ngã xuống đất, bất chấp những
    trận mưa đấm đá trút lên người. Không hiểu sao lúc đó tôi
    không cảm thấy đau đớn nữa mà chỉ thấy hung hăng kỳ lạ.
    Bất ngờ những quả đấm thưa dần rồi những tiếng rên la
    đau đớn vang lên. Hình như đang có ai đỡ tôi dậy. Tôi giật
    mình mở choàng mắt ra thấy thằng bé cởi trần đang đỡ tôi
    đứng dậy, còn đám trẻ kia thì đang lăn lộn dưới đất. Thằng
    bé cởi trần nhìn tôi mỉm cười:
    - Khá lắm! Mày can đảm lắm, nhưng tao không cần có
    đứa giúp. Tao có thể tự lo lấy thân được rồi.
    Hắn thong thả bước đến bên thằng đầu bọn đang nằm
    rên la dưới đất:
    - Thế nào? Chúng mày còn muốn nằm đó chơi hay sao?
    Có muốn ăn thêm mấy quả đấm nữa không?
    Thằng bé kia hoảng hốt lồm cồm ngồi dậy kêu đồng bọn
    bỏ đi nhưng thằng bé cởi trần đã lạnh lùng:
    - Không được, chúng bay phải để lại cần câu và rổ cá lại
    đây.
    Mấy đứa bé tiu nghỉu như mèo cụt đuôi, bỏ lại "chiến lợi
    phẩm" rồi dắt díu nhau bỏ đi, nhưng tôi đã quay lại thằng
    bé cởi trần hỏi:
    - Tại sao bạn làm thế?
    Thằng bé cởi trần lạnh lùng:
    - Chúng lấy cần câu của mày thì nay tao lấy cần câu của
    chúng chứ có gì lạ đâu?
    - Như thế… không đúng.
    - Cái gì? Chúng vừa đánh mày chảy máu mũi mà mày
    không muốn trả thù hay sao?
    - Không, tôi không muốn như thế.
    Thằng bé cởi trần nhếch miệng:
    - Thế mày muốn gì?
    Tôi do dự một lúc rồi ngập ngừng:
    - Tôi nghĩ bạn nên trả lại cần câu cho chúng. Nếu bạn
    lấy cần câu của chúng thì bạn… có khác gì chúng đâu?
    Thằng bé cởi trần trợn mắt nhìn tôi một lúc rồi quay qua
    đám trẻ kia:
    - Chúng mày nhặt cần câu và cút ngay đi chỗ khác, tao
    đổi ý là có đứa ăn đòn thêm.
    Đám trẻ kia vội vã nhặt cần câu và kéo nhau bỏ đi.
    Thằng bé cởi trần nhìn tôi từ đầu đến chân rồi thong thả
    hỏi:
    - Tại sao mày lại… khác người như vậy?
    Tôi bật cười vì hai chữ "tại sao". Đây vốn là câu quen
    thuộc trên đầu môi, chót lưỡi của tôi. Là một đứa bé hay
    thắc mắc, suốt ngày tôi thường hỏi cha mẹ tôi "tại sao" lại
    thế này hay "tại sao" lại thế kia, nhưng đây là lần đầu tôi bị
    hỏi "tại sao" và thấy mình không trả lời được.
    Thằng bé cởi trần thong thả nhặt cần câu và rổ cá lên rồi
    hỏi tôi:
    - Mày tên gì?
    - Tôi là Sinuhe. Còn bạn tên gì?
    - Tao là Horemheb. Phải chăng mày là con của y sĩ Sen
    Moot?
    - Phải rồi. Thế còn bạn?
    Horemheb ngần ngại một lúc rồi nói:
    - Tao là con của… Bitha.
    - Bitha? Phải chăng… Bitha, người bán bánh ngoài chợ?
    Horemheb gật đầu ngượng nghịu:
    - Phải rồi, Bitha… người bán bánh.
    Thấy hắn có vẻ không sốt sắng khi nói về gia thế của
    mình nên tôi hỏi:
    - Tại sao bạn lại không được… tự nhiên như thế?
    Horemheb bực mình:
    - Sao mày cứ hỏi "tại sao" mãi! Bán bánh thì có ra cái
    quái gì đâu!
    Tôi ngạc nhiên và theo thói quen lại hỏi:
    - Tại sao?
    Horemheb im lặng như suy nghĩ một lúc rồi ngập ngừng:
    - Đáng lẽ ra cha tao phải là một… sĩ quan hay ít ra cũng
    là một người lính chứ bán bánh thì có ra gì!
    - Nhưng… tại sao? Đó là một nghề lương thiện.
    Horemheb giận dữ:
    - Lương thiện làm cái quái gì! Tao chỉ muốn cha tao là
    một người hùng thôi.
    - Tại sao?
    Horemheb nhìn tôi một lúc rồi chậm rãi:
    - Mày không thể hiểu đâu. Cha mày là một y sĩ, dù
    không giàu có gì nhưng ít ra ông ta cũng được mọi người nể
    vì, kính trọng. Còn cha tao chỉ là một người bán bánh rong
    ngoài chợ, một kẻ tầm thường, hèn mọn, không ai thèm để
    ý đến.
    - Nhưng như thế thì đã sao?
    Horemheb trừng mắt vung tay lên đấm mạnh vào không
    khí:
    - Đó là một điều không thể chấp nhận được. Tao không
    thể làm con một kẻ hèn mọn, lúc nào cũng khúm núm trước
    những mụ đàn bà vừa mua bánh vừa chê ỏng, chê eo. Tao
    không thể làm con một kẻ cúi rạp mình xuống cám ơn
    những tên nô lệ, vừa đi mua bánh cho chủ, vừa kỳ kèo bớt
    một thêm hai để ăn xén tiền chợ. Tao không thể làm con
    một kẻ quì mọp xuống năn nỉ những tên chủ nợ mập ú,
    chuyên cho vay lấy lãi cắt cổ. Tao không thể làm con một kẻ
    nịnh bợ những kẻ đi thâu thuế chợ vừa tham lam, vừa hống
    hách. Tao không thể là con của một thằng bán bánh tầm
    thường như thế được!
    Tôi đứng im không biết phải nói gì để an ủi Horemheb.
    Đây là lần đầu tiên tôi biết giữ im lặng thay vì lên tiếng hỏi
    như thường lệ. Chúng tôi gật đầu chia tay nhau một cách
    ngượng nghịu, không ai nói thêm câu gì.
    Chiều hôm đó, sau bữa cơm, tôi đã mang câu chuyện
    này ra kể cho mẹ tôi. Bà trầm ngâm một lúc rồi chép
    miệng:
    - Tội nghiệp thằng Horemheb!
    - Tại sao?
    - Nó là một đứa bé đáng thương. Nó chưa biết gì về
    mình mà đã lo chạy đuổi theo những ảo tưởng điên rồ.
    - Tại sao?
    - Dù muốn hay không, nó cũng là một phần của cha mẹ
    nó. Nó không thể phủ nhận cha mẹ của nó được. Phủ nhận
    cha mẹ có khác gì phủ nhận chính mình.
    - Tại sao?
    - Này Sinuhe, một ngày nào đó con sẽ hiểu điều ta
    muốn nói.
    Tôi sà vào lòng mẹ:
    - Con thì không như thế đâu! Con rất hãnh diện được
    làm con của mẹ.
    Không hiểu sao mẹ tôi bỗng bật lên khóc, bà tiếp tục
    khóc và ôm chặt lấy tôi một lúc rất lâu.
    ° ° °
    Vài hôm sau Horemheb đến rủ tôi đi câu cá. Tôi giữ ý
    không nhắc gì đến câu chuyện hôm trước, và từ đó tình bạn
    giữa hai chúng tôi nảy nở mỗi ngày một thắm thiết. Từ khi
    quen Horemheb, tôi đã học hỏi được nhiều điều mới lạ.
    Horemheb là một đứa bé từng trải giang hồ, giao thiệp
    nhiều, quen biết rộng. Hắn đưa tôi đi dạo chơi khắp thành
    Thebes, gần như chỗ nào hắn cũng biết, gặp ai hắn cũng
    quen, nhưng thường hắn chỉ thích quanh quẩn gần mấy trại
    lính, xem thao diễn quân sự hoặc tập luyện võ nghệ mà
    thôi. Đối với một đứa bé nhút nhát, từ nhỏ chỉ quanh quẩn ở
    nhà bên cha mẹ thì việc giao du với Horemheb đã mở ra cho
    tôi một khung trời mới lạ với nhiều thích thú. Vì Horemheb
    đến nhà tôi chơi thường xuyên nên cha mẹ tôi cũng đối đãi
    với hắn như một người con trong nhà. Có khi hắn sống ở
    nhà tôi cả tuần lễ hay nửa tháng.
    Thời gian êm đềm trôi. Một hôm sau bữa cơm chiều, cha
    tôi lên tiếng:
    - Sinuhe, năm nay con đã được mười sáu tuổi rồi. Con
    đã phụ giúp ta trong mấy năm qua và đã học hỏi rất nhiều
    về cách chữa trị của ta, bây giờ đến lúc con phải đi Abydos
    để học thêm. Con hãy cố gắng học hỏi và đừng bao giờ
    quên rằng sứ mạng thiêng liêng của một y sĩ là phụng sự
    nhân loại và phụng sự không ngừng.
    Đã được dạy dỗ từ nhỏ về việc này nên tôi không ngần
    ngại:
    - Cha đừng lo! Những điều cha dạy con luôn ghi nhớ.
    Cha tôi im lặng quan sát tôi một lúc rồi chậm rãi:
    "Này Sinuhe, trước khi con lên đường đi học xa, ta có
    mấy lời khuyên và con phải ghi nhớ cho kỹ. Để trở nên một
    người sở hữu những kiến thức đặc biệt, con cần phải trau
    giồi tính kiên nhẫn. Nếu không kiên nhẫn, chịu đựng thì con
    không thể đi xa được. Đó là lời khuyên thứ nhất.
    Khi vượt qua thử thách này, con sẽ phải học thêm tính
    khiêm tốn. Chỉ khi nào biết khiêm tốn, nhũn nhặn thì con
    mới học hỏi được những điều cao thượng, quí báu. Đây là lời
    khuyên thứ hai.
    Sau đó, con phải chuyên cần, học hỏi không ngừng và
    biết rút tỉa bài học từ những đắng cay cũng như vui sướng
    mà cuộc sống đem đến. Này Sinuhe, cuộc đời là một trường
    học vĩ đại mà trong đó phần lớn con người chỉ học được các
    bài học cần thiết qua yếu tố đau khổ. Đó là lời khuyên thứ
    ba của ta.
    Nếu con biết áp dụng cả ba lời khuyên này thì con có thể
    giải quyết được câu hỏi về ý nghĩa của cuộc đời. Đây là một
    câu hỏi quan trọng mà ít ai có thể giải đáp được nhưng nếu
    con thành công thì tất cả mọi chân lý trong vũ trụ này sẽ
    phơi bày ra cho con, và con hỡi, lúc đó không có một điều gì
    là không tốt đẹp, mỹ lệ hay hoàn hảo cả. Đó chính là ý
    nghĩa bí mật của "khoa học của sự sống" mà ta đã được
    truyền dạy."
    - Con xin ghi nhận lời cha khuyên bảo.
    - Tốt lắm! Ngày mai chúng ta sẽ lên đường đi Abydos. Ta
    đã lo mọi thủ tục nhập học cho con rồi.
    - Tại sao lại ngày mai? Như vậy có sớm quá không?
    Cha tôi ngạc nhiên:
    - Ta đã thu xếp chuyến xe đi Abydos rồi. Con muốn gì
    nữa?
    Tôi ngần ngại một lúc rồi lên tiếng:
    - Con không biết cha đã sắp đặt trước như vậy. Nếu
    ngày mai lên đường thì con muốn đến từ giã Horemheb.
    Mẹ tôi gật đầu:
    - Phải rồi, con đến từ giã Horemheb đi. Chắc con đi xa
    hắn sẽ nhớ lắm đấy! Mọi hành trang cứ để mẹ thu xếp cho.
    Khi nghe nói về việc đi học tại Abydos, Horemheb im
    lặng một lúc rồi chua chát nói:
    - Tao biết trước sau gì mày cũng đi Abydos. Bọn y sĩ
    chúng mày đều như thế cả, cha làm y sĩ thì con cũng làm y
    sĩ. Rồi mày sẽ trở nên một người có địa vị trong xã hội, mày
    sẽ được mọi người kính nể, sẽ có nhiều tiền, ở nhà lớn, có
    vợ đẹp con khôn, rồi có rất nhiều nô lệ hầu cận…
    - Tao sẽ theo gương cha tao, chỉ làm y sĩ cho người
    nghèo.
    Horemheb nheo mắt nhìn tôi rồi cười nhạt:
    - Bây giờ thì mày nói thế nhưng khi tốt nghiệp thành
    một y sĩ thì mày sẽ nói khác. Theo thời gian chẳng có ai lại
    không thay đổi.
    - Nhưng tao khác.
    - Được lắm! Để xem lúc đó mày còn nhớ đến thằng
    Horemheb, con nhà bán bánh nghèo hèn này không!
    - Trước sau gì tao vẫn là Sinuhe, thằng bạn của mày.
    Horemheb nhún vai, lạnh lùng:
    - Rồi đến lúc đó sẽ hay.
    Tôi khẳng khái nắm chặt lấy tay hắn:
    - Này Horemheb, ngoài mày ra tao chẳng có đứa bạn
    thân nào. Nếu không chơi với mày thì tao chơi với ai? Mày
    có thể nghĩ gì về tao cũng được, nhưng đừng bao giờ mày
    nghĩ rằng tao sẽ thay đổi hay coi thường mày. Tao xin thề
    trước mặt thần Osiris, lúc nào cũng coi mày như người bạn
    thân nhất của tao. Thật ra tao vẫn coi mày như một người
    anh… phải rồi, một người anh lớn thì đúng hơn.
    Horemheb có vẻ cảm động. Hắn im lặng một lúc rồi xiết
    chặt tay tôi:
    - Được lắm! Hay lắm! Tao Horemheb, cũng xin thề trước
    mặt thần Osiris từ nay sẽ coi mày như một đứa em. Tao thề
    sẽ hết lòng bảo vệ mày, dù gặp khó khăn trở ngại thế nào,
    tao cũng lo cho mày như một đứa em ruột thịt. Mạng sống
    của mày là mạng sống của tao, đứa nào đụng chạm đến
    mày tức là đụng chạm đến tao, và thằng Horemheb này sẽ
    không để cho nó yên.
    CHƯƠNG 2
    Trường y khoa Abydos hay trường dạy về "Khoa Học Của
    Sự Sống" là một tu viện nên các giáo sư giảng dạy đều là tu
    sĩ. Vì là tu viện nên kỷ luật của trường rất nghiêm khắc.
    Theo truyền thống, học sinh năm thứ nhất phải phục vụ,
    hầu hạ những học sinh lớp trên một cách tuyệt đối, để được
    dạy bảo những kiến thức căn bản cần thiết. Đây cũng là dịp
    để học sinh lớp trên có dịp quan sát, xem xét khả năng
    những học sinh mới nhập học và tuyển lựa ra những người
    xứng đáng. Chỉ khi nào vượt qua kỳ khảo hạch gắt gao của
    các bậc đàn anh này thì học sinh mới được trực tiếp đến học
    với các tu sĩ về kiến thức y học.
    Người Ai Cập rất quí trọng kiến thức, truyền thống xứ
    này cho kiến thức là những thứ có giá trị rất lớn, được gìn
    giữ cẩn thận và chỉ một số rất ít, được tuyển chọn kỹ lưỡng,
    mới được truyền dạy các kiến thức này.
    Khi nhập học, học sinh được chia ra làm nhiều nhóm,
    mỗi nhóm khoảng vài người, và giao cho một học sinh lớp
    trên trông coi. Học sinh này có trách nhiệm dạy dỗ, hướng
    dẫn đàn em của mình các kiến thức căn bản để chuẩn bị
    cho kỳ thi tuyển lúc cuối năm. Có vượt qua kỳ thi này, học
    sinh mới được chính thức thâu nhận vào trường Khoa Học
    Của Sự Sống. Sau đó việc huấn luyện còn kéo dài nhiều
    năm với những kỳ thi và thử thách gắt gao trước khi học
    sinh tốt nghiệp thành y sĩ.
    Ngay từ hôm đầu, tôi và hai đứa mới nhập học đã được
    xếp vào một nhóm, đặt dưới quyền chỉ huy của một học
    sinh lớp trên tên là Kareb. Ba đứa chúng tôi quì trước mặt
    Kareb để nhận chỉ thị:
    - "Tao cần một đứa dọn dẹp căn phòng. Khi tao ra khỏi
    phòng, nó sẽ phải vào lau chùi thật sạch. Nếu tao trở về mà
    căn phòng bừa bộn, nó sẽ ăn đòn. Nhẹ thì mười roi, nặng
    thì năm chục roi. Nếu vi phạm ba lần tao sẽ báo cáo đuổi nó
    ra khỏi trường.
    Tao cũng cần một đứa giặt giũ quần áo, lau chùi giày
    dép, hễ quần áo bẩn nó phải giặt lập tức. Nếu tao thấy bẩn
    thì nó sẽ bị trừng phạt.
    Ngoài ra tao cũng cần một đứa làm thư ký, thu xếp tài
    liệu và soạn thảo các hồ sơ cho tao…"
    Kareb ngưng nói đưa mắt nhìn ba đứa chúng tôi như dò
    xét. Thấy vậy, một thằng trong bọn vội rút trong người ra
    một chiếc túi nhỏ:
    - Xin đàn anh nhận cho em chút lễ vật ra mắt này.
    Kareb thản nhiên mở chiếc túi ra coi. Đó là một số tiền
    vàng trị giá bằng năm con ngựa. Hắn có vẻ hài lòng, nhét
    ngay túi tiền vào áo.
    Thằng thứ hai cũng vội vã mang ra một hộp nhỏ đựng
    những dụng cụ y khoa bằng vàng chói lọi. Kareb hài lòng
    thâu nhận lễ vật rồi đưa mắt nhìn tôi.
    Tôi lúng túng không biết phải xử trí ra sao vì gia cảnh
    nghèo, hành trang chỉ vỏn vẹn mấy bộ quần áo cũ và ít xu
    lẻ mẹ tôi đưa cho để ăn uống dọc đường. Không thấy tôi nói
    gì, Kareb mỉm cười nhắc khẽ:
    - Này Sinuhe, tao chắc mày phải có một món quà ra mắt
    đặc biệt lắm?
    Không biết phải làm gì hơn, tôi đành đưa chiếc túi nhỏ
    đựng ít đồng xu ra. Kareb mở chiếc túi ra xem. Khuôn mặt
    hắn bỗng sa sầm xuống:
    - Này Sinuhe, tao chắc mày không đùa đấy chứ?
    Tôi lắp bắp:
    - Không… đó là tất cả những gì tôi có.
    Kareb vung tay ném thẳng chiếc túi vào mặt tôi rồi rít
    lên:
    - Tao không ngờ có một đứa đàn em không biết điều như
    thế này! Mày nghĩ rằng với mấy chục xu lẻ đó mà mày sẽ
    được tao dạy bảo các kiến thức về y khoa hay sao?
    - Nhưng… nhưng…
    Kareb giận dữ quát lớn:
    - "Không! Không bao giờ! Những kẻ bần tiện như mày sẽ
    không bao giờ được dạy dỗ một điều gì hết. Tao không hiểu
    sao lại bị giao phó trách nhiệm hướng dẫn một thằng nghèo
    mạt rệp như mày!
    Được lắm! Đã thế thì mày sẽ là thằng dọn dẹp, lau chùi
    căn phòng và kiêm luôn cả việc giặt quần áo cho tao nữa.
    Mày sẽ làm việc này cho đến khi nào tao thấy công phu của
    mày tương xứng với những món quà kia thì mày mới có
    quyền đến lớp học."
    - Tại sao như thế?
    Kareb rít lên:
    - Một thằng mới nhập học như mày mà dám chất vấn
    tao hay sao? Mày nên biết rằng trong năm đầu, chúng mày
    thuộc quyền sở hữu của tao. Tao có quyền đánh đập hoặc
    đuổi mày ra khỏi trường. Tương lai của mày hoàn toàn tùy
    thuộc vào sự báo cáo của tao lên các tu sĩ. Nếu tao nói rằng
    mày không có khả năng hay không thích hợp với nghề y sĩ
    thì mày sẽ bị đuổi ra khỏi trường ngay.
    - Nhưng… tại sao?
    Kareb không giữ được bình tĩnh, hét lớn:
    - "Đồ ngu! Mày có biết mấy năm nay tao đã khổ sở như
    thế nào không? Tao đã phải hầu hạ các bậc đàn anh, đã
    phải tốn kém biết bao tiền bạc, công sức mới được địa vị
    như ngày nay.
    Bây giờ đến lượt tao được hưởng sự sung sướng, thế mà
    vẫn có đứa ngu si cho rằng chỉ cần bỏ ra vài xu là được tao
    truyền dạy các kiến thức quí báu như vàng này!"
    Tôi định biện bạch thêm nhưng may thay lúc đó tôi nhớ
    đến lời khuyên của cha tôi: "Con cần phải kiên nhẫn và chịu
    đựng. Nếu không thì không thể đi xa được", tôi bèn im lặng
    không nói gì nữa.
    Kareb chăm chú nhìn tôi nhưng thấy tôi không phản ứng
    gì, hắn hậm hực:
    - Thằng nghèo kiết xác kia, từ nay mày sẽ là nô lệ của
    tao.
    Từ đó tôi trở nên kẻ hầu cho Kareb. Hắn đối xử với tôi vô
    cùng tàn nhẫn, chỉ một sơ hở hắn đã thẳng tay trừng trị tôi
    bằng chiếc roi da mà hắn mang theo mình. Thời gian trôi
    qua, thấm thoát tôi đã sống tại Abydos gần một năm. Một
    năm với những đau khổ, nhục nhằn; với những vết roi
    ngang dọc trên mình nhưng tôi vẫn cắn răng chịu đựng, hy
    vọng sẽ được dạy bảo các kiến thức cần thiết. Tuy nhiên tôi
    không hề được chỉ dẫn một điều gì trong khi hai thằng bạn
    cùng nhóm thỉnh thoảng còn được dạy dỗ ít nhiều.
    Một hôm tôi nghe nói đã sắp đến kỳ thi tuyển nên hỏi
    Kareb:
    - Chỉ còn ít lâu nữa sẽ đến kỳ thi, em muốn biết phải
    học hỏi những gì để còn chuẩn bị.
    - Mày nói sao?
    - Chỉ còn vài tháng nữa…
    Kareb nổi giận quát ầm lên:
    - Mày dám đòi hỏi hay sao? Số mạng và tương lai của
    mày hoàn toàn tùy thuộc vào tao. Nếu thấy mày xứng đáng
    thì tao sẽ dạy cho mày, nếu mày không có khả năng thì nhà
    trường sẽ đuổi mày ra…
    - Nhưng làm sao người ta có thể biết được khả năng của
    em khi em không biết rõ về chương trình học hay được dạy
    dỗ điều gì?
    Kareb bật cười:
    - Thằng ngu dốt kia, nếu tao không dạy cho mày thì
    không ai có thể chỉ dạy cho mày hết.
    - Nhưng… khi nào anh sẽ dạy em?
    - Tao là người quyết định số phận của mày. Luật lệ ở đây
    đã ghi rõ rằng học sinh lớp trên sẽ quan sát, nhận xét khả
    năng của những học sinh lớp dưới. Nếu xét thấy không có
    khả năng thì phải báo cáo để trục xuất nó ra khỏi trường.
    Tự nhiên tôi có cảm tưởng rằng Kareb sẽ không dạy dỗ
    gì cho tôi hết. Tôi bèn thu hết can đảm đặt câu hỏi:
    - Phải chăng nếu anh không dạy thì em không thể vượt
    qua kỳ thi tuyển và như thế em sẽ bị đuổi ra khỏi trường.
    - Đúng thế.
    - Mặc dù… em đã tận lực hầu hạ anh?
    Kareb ôm bụng cười sằng sặc:
    - Đúng thế. Số phận của mày tùy thuộc vào sự quyết
    định của tao. Này Sinuhe, dù mày có tận lực hầu hạ tao
    thêm mười năm nữa, tao cũng chẳng dạy gì cho mày vì tao
    không ưa những đứa thích hỏi những câu lẩm cẩm như mày.
    Tôi đứng yên, mồ hôi toát ra như tắm. Không lẽ tương
    lai của tôi lại sụp đổ chỉ vì thằng đàn anh này hay sao? Tôi
    nhớ lại những lời hứa hẹn, những trận đòn, những lúc hầu
    hạ, dọn dẹp lau chùi căn phòng cho hắn. Thì ra hắn chỉ lợi
    dụng truyền thống "ma cũ bắt nạt ma mới" và sự ngây thơ
    của tôi mà thôi.
    Cơn giận ở đâu kéo đến khiến tôi quên cả lời khuyên của
    cha tôi, quên kỷ luật khắt khe của nhà trường. Tôi gầm lên
    một tiếng rồi vung tay đấm mạnh vào khuôn mặt khả ố của
    Kareb. Trong lúc bất ngờ, thằng này trúng đòn ngã nhào
    xuống đất nhưng hai đứa bạn cùng nhóm đã vội vã nhảy
    vào can thiệp.
    Chỉ trong thoáng giây, tôi đã bị đè nghiến xuống đất.
    Kareb hầm hầm rút chiếc roi da treo gần đó và cứ thế liên
    tiếp quất xuống người tôi. Đây không phải là lần đầu tôi bị
    đánh nhưng không hiểu sao, lần này tôi không cảm thấy
    đau đớn nữa mà đầu óc chỉ sôi sục một ý nghĩ lạ lùng, một
    điều từ trước đến nay chưa bao giờ tôi nghĩ đến.
    Sau khi đánh đập một trận cho hả giận, Kareb ra lệnh
    trói gô tôi vào cột nhà rồi hầm hầm dắt hai đứa kia ra khỏi
    phòng. Tôi biết hắn sẽ báo cáo lên các tu sĩ, hiển nhiên hai
    đứa kia sẽ làm chứng cho hắn và với kỷ luật hết sức nghiêm
    khắc của tu viện, chắc chắn tôi sẽ bị trục xuất ngay. Trong
    cơn đau đớn cùng cực, tôi gục xuống thiếp đi cho đến khi
    tỉnh dậy thì trời bên ngoài đã sáng.
    Tôi vùng vẫy muốn thoát ra, nhưng sợi dây trói chặt quá
    khiến tôi không sao cựa quậy gì được. Vì cố gắng nên các
    vết thương trên mình trở nên đau đớn vô cùng. Tôi cảm
    thấy khát nước, muốn lên tiếng nhưng không sao nói được,
    cổ họng tôi khô ran và đau buốt nên tôi đành chịu đựng,
    chờ Kareb trở về.
    Trời đã về chiều mà Kareb vẫn chưa trở lại. Phải chăng
    hắn lại đi uống rượu như thường lệ? Mỗi khi giận dữ điều gì,
    hắn thường đi uống rượu và khi say lại trút cơn thịnh nộ lên
    đầu tôi.
    Mãi đến khuya Kareb mới về. Thay vì giận dữ, hắn vội vã
    cởi trói rồi dìu tôi nằm xuống giường của hắn. Hai thằng học
    sinh kia mang đến một chậu nước nóng để lau chùi các vết
    thương cho tôi.
    Kareb run rẩy nói:
    - Thưa… bạn… Sinuhe, xin… bạn… đừng giận chúng tôi.
    - ?
    - Xin bạn hãy nghỉ ngơi tĩnh dưỡng… Khi nào khỏe…
    chúng ta sẽ bắt đầu duyệt qua các kiến thức cần thiết…
    - ?
    - Bạn đừng lo, với tài trí thông minh của bạn thì… vài
    tháng cũng đủ rồi. Tôi sẽ hết lòng hướng dẫn cho bạn. Tôi
    sẽ báo cáo lên các tu sĩ rằng không một ai tài giỏi hơn,
    xứng đáng hơn và có đầy đủ khả năng để trở thành y sĩ hơn
    bạn.
    Tôi ngạc nhiên muốn lên tiếng nhưng cổ họng đau quá
    không nói gì được. Kareb thấy tôi yên lặng, nghĩ rằng tôi
    vẫn còn giận nên quì sát xuống bên giường:
    - Xin bạn hãy nghĩ lại… chúng tôi có mắt mà như mù…
    không biết bạn là người… có thế lực… Xin bạn bỏ qua cho…
    Dưới ánh nến leo lét, tôi thấy rõ khuôn mặt của Kareb
    sưng vù và đầy máu. Tôi quay qua nhìn hai thằng học sinh
    đang lau chùi những vết thương cho tôi, đứa nào cũng áo
    quần lem luốc, mặt mày đầy máu.
    - Tại sao? Chuyện gì xảy ra thế này?
    Ngay lúc đó một người to lớn ở đâu bước vào, lạnh lùng
    lên tiếng:
    - Ba thằng khốn nạn kia! Nếu Sinuhe có làm sao thì tao
    sẽ thiến cả ba đứa chúng mày.
    Tôi nhận ra ngay Horemheb. Xa nhau gần một năm
    Horemheb đã thay đổi khá nhiều, trông hắn lực lưỡng khỏe
    mạnh hơn xưa. Ba thằng học trò vội quì mọp xuống đất.
    Horemheb giận dữ:
    - Tao không ngờ lại có những đứa tồi tệ như vậy!
    Tôi muốn ngồi dậy nhưng không sao nhấc mình lên
    được. Horemheb cúi xuống đỡ tôi lên nhưng nhìn thấy thân
    thể đầy máu me của tôi, hắn nổi giận tung chân đá mạnh
    vào Kareb:
    - Tội của mày đáng bị thiến lắm!
    Thằng đàn anh oai phong lẫm liệt khi xưa quì mọp dưới
    đất không dám lên tiếng. Horemheb quay qua phía tôi:
    - Này Sinuhe, xa nhau đã lâu nên tao đi thăm mày,
    không ngờ lại có chuyện như thế này. Nếu mày có mệnh hệ
    gì thì tao sẽ đốt cháy cả ngôi trường này.
    Thì ra trên đường đi thăm tôi, Horemheb ghé vào một
    quán rượu và gặp Kareb cùng hai thằng học sinh kia cũng
    đang uống rượu tại đó. Trong lúc say sưa, chúng vô tình
    nhắc đến tên tôi khiến Horemheb chú ý. Hắn bèn giả say để
    hỏi sự tình và sau khi biết rõ mọi sự, hắn đã dạy cho chúng
    một bài học đích đáng.
    Từ đó tôi không phải hầu hạ Kareb nữa mà lại được hắn
    săn sóc cẩn thận. Thằng đàn anh này đã mang tất cả kiến
    thức của hắn ra chỉ bảo cho tôi. Hai đứa bạn học trò cũng
    hầu hạ, săn sóc tôi tận tình. Cuối năm đó, tôi trúng tuyển
    vào trường Khoa Học Của Sự Sống. Horemheb lưu lại
    Abydos một thời gian chờ đến khi biết tôi thi đậu mới trở về
    Thebes.
    Trường "Khoa Học Của Sự Sống" là một đạo viện gồm
    nhiều dãy nhà bao quanh một ngôi đền rất lớn có hai cánh
    cửa bằng đá luôn luôn khép chặt. Chúng tôi được dạy rất kỹ
    rằng đó là một nơi chốn linh thiêng, chỉ những bậc đạo
    trưởng mới được vào trong đó mà thôi. Trước cửa ngôi đền
    là một pho tượng thần Osiris rất lớn, nơi các buổi tế lễ quan
    trọng được cử hành. Ngày hôm đó, những học sinh trúng
    tuyển được đưa đến trước thần Osiris làm nghi thức nhập
    môn.
    Sau buổi lễ, một vị đạo trưởng tuổi đã cao, râu tóc bạc
    phơ, bước ra nói:
    - "Ta là đạo trưởng Akhanuxem, một trong những người
    trông coi ngôi trường này. Hôm nay là ngày đầu nhập học
    nên ta có mấy lời muốn nói với các con.
    Này các học sinh của trường Khoa Học Của Sự Sống, các
    con cần biết rằng phương pháp chữa trị là một nghệ thuật
    có tính cách thiêng liêng. Vì là một nghệ thuật thiêng liêng
    nên việc chữa trị phải bao gồm cả phần thể xác lẫn phần
    linh hồn. Không một người nào có thể gọi là khỏe mạnh nếu
    tâm hồn của họ què quặt, yếu đau.
    Vì tính chất tổng quan toàn diện này, nên phương pháp
    chữa trị đòi hỏi một sự cố gắng, học hỏi không ngừng. Do
    đó các con cần phải cố gắng, chuyên cần…"
    Vị đạo trưởng già đưa mắt nhìn các học sinh đứng quanh
    rồi nói tiếp:
    - "Các con sẽ được truyền dạy những kiến thức đặc biệt,
    những kiến thức vẫn được giữ kín từ bao thế kỷ nay, và chỉ
    truyền dạy cho một thiểu số những kẻ xứng đáng mà thôi.
    Từ nay các con sẽ được học hỏi những phương pháp chữa
    trị, những vị thuốc bí truyền, cũng như những khoa học mà
    ít ai biết đến.
    Kiến thức của chúng ta dựa trên những sự nghiên cứu và
    kinh nghiệm của những vị thầy đã khổ công tìm hiểu các
    hiện tượng thiên nhiên bên ngoài cũng như những chỗ sâu
    kín nhất của bên trong tâm hồn con người.
    Này các con, khoa học của sự sống chính là phương
    pháp biết sống thuận theo thiên nhiên, biết rung động cùng
    nhịp với sự tuần hoàn của thiên nhiên, và biết sống hòa hợp
    với các sinh vật khác trong thiên nhiên. Khi con người
    không biết sống thuận theo thiên nhiên, không biết rung
    động đồng nhịp với sự tuần hoàn của thiên nhiên, thì sẽ
    phát sinh ra các phản ứng không tự nhiên hay bất bình
    thường.
    Chính các phản ứng này sẽ tạo ra các sự rung động
    không tốt lên cơ thể, và từ đó bệnh tật phát sinh.
    Dựa trên qui tắc căn bản này, chúng ta đã sắp đặt và
    phân chia bệnh tật ra nhiều loại khác nhau. Tùy theo cách
    phân loại bệnh tật mà cách chữa trị cũng thay đổi theo, từ
    việc sử dụng dược chất, đến việc giải phẫu, hay sử dụng các
    năng lực từ điện.
    Ngoài khả năng chuyên môn thông thường, một y sĩ còn
    phải học hỏi thêm kiến thức về thiên nhiên và biết sống
    theo các kỷ luật đặc biệt để phát triển khả năng định bệnh
    một cách chính xác. Tùy theo khả năng định bệnh mà các
    con sẽ được thu xếp để học hỏi các nghệ thuật chữa trị
    khác.
    Do đó tuy cũng là y sĩ nhưng cách thức chữa trị của mỗi
    người sẽ không giống nhau."
    ° ° °
    Từ đó chúng tôi bắt đầu học hỏi những kiến thức chuyên
    môn về Khoa Học Của Sự Sống. Ngoài việc mổ xẻ, nghiên
    cứu các cơ quan trong thân thể, chương trình học còn chú
    trọng đến việc dinh dưỡng, phương pháp hô hấp, sự vận
    động như: thư giãn, xoa bóp… cũng như công dụng của các
    dược chất đối với thân thể con người. Vì đã từng phụ giúp
    cha tôi từ nhỏ, tôi rất quen thuộc với các phương pháp này
    nên chỉ một thời gian ngắn, tôi đã trở nên một học sinh xuất
    sắc nhất trường.
    Hôm đó tôi đang đi dạo ngoài sân thì gặp đạo trưởng
    Akhanuxem đi đến. Ông đứng lại nói với tôi:
    - Ta rất hài lòng về việc học của con. Con là một trong
    những học sinh mà ta hy vọng là sẽ làm rạng danh trung
    tâm Abydos này.
    - Thưa đạo trưởng, đó là nhờ công ơn dạy dỗ của các
    giáo sư…
    Đạo trưởng Akhanuxem vuốt râu cười rồi lắc đầu:
    - Con không cần phải khiêm tốn như thế. Ta đã để ý đến
    con từ lâu và vẫn theo dõi việc học của con. Con là một học
    sinh thông minh, hiếu học, có óc cầu tiến, lúc nào cũng
    muốn tìm tòi hiểu biết thêm.
    Ông nhìn tôi một lúc rồi nói:
    - Đó là điều tốt. Ta rất thích những học sinh hiếu học
    như thế. Từ nay nếu có gì thắc mắc, con có thể đến hỏi ta,
    và ta sẵn sàng giúp con.
    Đây là một cơ hội hiếm có vì đạo trưởng Akhanuxem là
    người có kiến thức uyên bác nhất trường. Được ông chỉ dạy
    không những là một đặc ân mà còn bảo đảm cho việc sưu
    tầm, học hỏi các kiến thức về "Khoa Học Của Sự Sống" nữa.
    Không bỏ lỡ cơ hội, tôi lên tiếng hỏi ngay:
    - Thưa đạo trưởng, phải chăng "Khoa Học Của Sự Sống"
    chú trọng đến việc nghiên cứu các nguyên nhân gây nên
    bệnh tật vì đã biết nguyên nhân thì có thể tìm được cách
    chữa trị?
    - Đúng thế, đó là nguyên tắc căn bản. Chúng ta tin rằng
    bệnh tật chỉ là phản ứng của cơ thể đối với những thái độ
    sống hay các hành động ngược với thiên nhiên vì sống
    thuận theo thiên nhiên không thể có bệnh. Phản ứng của cơ
    thể này có thể xảy ra trên phương diện vật chất hay tinh
    thần, do đó mới có các bệnh thuộc về thân và bệnh thuộc
    về tâm.
    - Như thế… phải chăng tất cả bệnh tật đều do hành động
    trái với các định luật thiên nhiên?
    Đạo trưởng Akhanuxem cười lớn:
    - Không hẳn thế đâu. Có những bệnh gây ra do tai nạn
    như té gẫy tay, trẹo chân hoặc ăn uống thiếu dinh dưỡng,
    và những bệnh này không hẳn bắt nguồn từ nguyên nhân
    sâu xa nào khác. Ngoài ra còn có những bệnh bẩm sinh,
    hiển nhiên một đứa trẻ sơ sinh đâu đã biết sống thuận hay
    nghịch với thiên nhiên.
    - Nhưng nếu một đứa bé vừa sinh ra đã có bệnh thì
    nguyên nhân từ đâu đến?
    Đạo trưởng Akhanuxem vuốt râu gật gù:
    - Theo sự hiểu biết của ta thì các bệnh bẩm sinh xảy ra
    do những nguyên nhân từ trước, vượt ngoài tầm nghiên cứu
    của "Khoa Học Của Sự Sống". Nó là những kiến thức thuộc
    về cõi giới bên kia cửa tử, xuất phát từ ký ức của một kiếp
    sống khác. Đó là đối tượng của "Khoa Học Của Sự Chết".
    - Làm sao người ta có thể hiểu biết về những kiến thức
    này?
    Đạo trưởng Akhanuxem bật cười:
    - Con quả là người có nhiều thắc mắc. Chỉ những giáo sĩ
    chuyên nghiên cứu cõi âm, những người lãnh việc tống
    táng, ướp xác mới biết về những kiến thức này. Đối tượng
    của họ là sự kiện ở thế giới bên kia cửa tử. Là y sĩ, con chỉ
    nên quan tâm đến sự kiện xảy ra trong đời sống hiện tại mà
    thôi.
    - Nhưng… nếu thế không lẽ chúng ta phải bó tay trước
    những bệnh tật phát xuất từ những nguyên nhân ngoài sự
    hiểu biết của chúng ta hay sao?
    Đạo trưởng Akhanuxem im lặng một lúc như suy nghĩ rồi
    lên tiếng:
    - "Này Sinuhe, con thật là người ham hiểu biết. Rất ít ai
    đặt câu hỏi như thế với ta. Hiển nhiên có những định luật
    bất biến của vũ trụ mà chúng ta được học hỏi mặc dù nó
    vượt ngoài phạm vi nghiên cứu của chúng ta.
    Nếu con biết nhìn đời sống này như một phần nhỏ của
    một hành trình kéo dài rất lâu, qua các cõi giới, các kiếp
    sống khác nhau, thì con sẽ thấy việc sống ngược với các
    định luật thiên nhiên có thể gây ra những hậu quả, không
    hẳn xảy ra trong kiếp này, mà có thể ảnh hưởng đến những
    kiếp sống khác nữa. Bệnh bẩm sinh có thể bắt nguồn từ các
    hành động trái ngược với luật thiên nhiên từ một kiếp sống
    trước…"
    - Như thế… Phải chăng có những yếu tố nhất định nào
    đó chi phối đời sống hiện tại hay sao?
    - Hiển nhiên phải như thế rồi.
    - Nếu thế làm sao một y sĩ có thể chữa trị các bệnh này
    khi nguyên nhân của nó bắt nguồn từ những điều xảy ra
    trong quá khứ?
    Đạo trưởng Akhanuxem gật đầu, vuốt chùm râu bạc:
    - "Đây là một vấn đề phức tạp, không thể giải thích vắn
    tắt được nhưng vấn đế chính vẫn là việc chẩn bệnh và tìm
    hiểu nguyên nhân, dù nguyên nhân này nằm ngoài đối
    tượng nghiên cứu. Nếu biết được nguyên nhân thì sẽ tìm
    được cách chữa.
    Có nhiều cách chẩn bệnh và chữa trị khác nhau, nhưng
    phương pháp thông thường như giải phẫu, xoa nắn, hay sử
    dụng dược chất chỉ là một phần trong Khoa Học Của Sự
    Sống mà thôi."
    - Như thế phải chăng còn có những phần khác nữa?
    Đạo trưởng Akhanuxem tỏ ra dè dặt:
    - Đúng thế. Điều chúng ta biết thì nhiều nhưng điều
    chúng ta truyền dạy cho học sinh thì giới hạn vì có phần chỉ
    được truyền dạy trong phạm vi thu hẹp mà thôi.
    - Tại sao?
    Đạo trưởng Akhanuxem mỉm cười:
    - Này Sinuhe, kiến thức là một kho tàng vô giá, không
    phải những điều có thể mang ra truyền dạy bừa bãi. Nếu
    không cẩn thận, người ta có thể lạm dụng các kiến thức đặc
    biệt này vào mục đích ích kỷ, sằng bậy.
    - Nếu vậy, phần thuộc phạm vi bí truyền này như thế
    nào?
    Đạo trưởng Akhanuxem do dự một lúc rồi ngập ngừng
    giải thích:
    - "Hãy lấy thí dụ như môn Cơ Thể Học mà hiện nay con
    đang theo học. Kiến thức về Cơ Thể Học của chúng ta
    không giới hạn vào thể xác hay thể hữu hình, mà còn mở
    rộng đến những thể vô hình nữa.
    Nếu con biết rằng con người không phải chỉ có một thể
    xác này mà còn sở hữu rất nhiều các thể khác nữa. Trước
    khi triệu chứng bệnh tật phát sinh trên thể xác hay thể hữu
    hình, nó đã phát sinh trên những thể vô hình rồi.
    Do đó, thay vì chẩn bệnh qua việc quan sát triệu chứng
    trên thể xác bệnh nhân, người sở hữu kiến thức bí truyền có
    thể chẩn bệnh qua việc xem xét các rung động trên những
    thể vô hình. Nói một cách khác, họ có thể biết căn bệnh đó
    trước khi nó phát xuất…"
    Tôi giật mình kêu lớn:
    - Nếu thế… tại sao những kiến thức hữu dụng to tát như
    vậy lại được giữ bí mật?
    - "Kiến thức về những thể vô hình đòi hỏi một công phu
    tu tập đặc biệt, không mấy ai có đủ khả năng và kiên nhẫn
    để học. Nó có những ưu điểm cũng như khuyết điểm mà ta
    khó giải thích cho người chưa có kiến thức về huyền môn
    như con.
    Này Sinuhe, nếu con có khả năng chẩn bệnh đó thì con
    sẽ phải thuyết phục bệnh nhân thế nào khi triệu chứng
    bệnh đó chưa hề phát ra? Mấy ai tin là con nói đúng hay
    bằng lòng để con chữa trị một căn bệnh còn đang tiềm ẩn?"
    Tôi im lặng, điều này quả là tôi chưa hề nghĩ đến. Đạo
    trưởng Akhanuxem nói tiếp:
    - "Này Sinuhe, trong thiên nhiên không có bệnh tật nào
    lại phát sinh ra một cách nhanh chóng bất ngờ cả đâu. Tất
    cả đều bắt nguồn từ những nguyên nhân nào đó. Các
    nguyên nhân này âm thầm ảnh hưởng lên thân thể bệnh
    nhân mà họ không hề hay biết đó thôi. Một khi nó bột phát
    thì đó là giai đoạn cuối rồi.
    Phần lớn con người không biết sống một cách ý thức nên
    họ không biết được những đổi thay âm thầm đang diễn ra
    trong thân thể họ. Họ chỉ cảm thấy hậu quả của bệnh tật
    khi nó đã ăn sâu vào thể xác chứ đâu biết gì khi nó chỉ là
    những rung động bất bình thường trên các thể vô hình
    khác."
    - Nếu vậy làm sao người ta có thể chữa bệnh khi nó
    chưa phát ra?
    Đạo trưởng Akhanuxem im lặng một lúc rồi trả lời:
    - "Có một cách chữa bệnh khác với các phương pháp
    điều trị thông thường. Đó là phương pháp sử dụng năng
    lượng (energy).
    Nếu bệnh tật chỉ là những rối loạn do các hành động đi
    ngược với luật thiên nhiên gây ra, thì người ta có thể sử
    dụng năng lượng để tái tạo trật tự này. Khi các thể vô hình
    được quân bình thì các ảnh hưởng chi phối lên thể xác cũng
    chấm dứt. Do đó thay vì chữa các triệu chứng xảy ra trên
    thể xác, người ta sẽ tập trung việc chữa trị trên các thể vô
    hình.
    Con nên biết rằng trong phương pháp này, sự liên hệ
    giữa người chữa trị cũng như kẻ được chữa trị hết sức quan
    trọng. Thật ra không hề có việc người này chữa cho người
    kia mà cả hai đều là những yếu tố của một tiến trình chữa
    trị chi phối bởi những động năng mầu nhiệm, chứ không
    phải những năng lượng có tính cách cá nhân."
    - Tại sao nó không có tính cách cá nhân?
    - Vì năng lượng tự nó không có tính cách cá nhân. Người
    ta không thể tạo ra nó hay hủy hoại nó được.
    - Như vậy muốn học phương pháp sử dụng năng lượng
    này con phải làm gì?
    Đạo trưởng Akhanuxem mỉm cười:
    - "Trước hết con phải học hỏi các kiến thức về thiên
    nhiên, vũ trụ và sự liên quan giữa con người và vũ trụ. Khi
    đã có kiến thức về sự tuần hoàn của vũ trụ thì con sẽ hiểu
    rằng mọi đổi thay trong vũ trụ không phải do ngẫu nhiên
    mà do một quyền năng cao cả điều hành tất cả mọi vật. Mọi
    năng lượng trong vũ trụ này đều xuất từ quyền năng cao cả
    đó mà ra.
    Con sẽ học phương pháp sử dụng các năng lượng phát
    xuất từ quyền năng đó vào mục đích chữa bênh. Muốn thế,
    con phải sống theo những kỷ luật và quy tắc nhất định. Con
    phải biết khiêm tốn, không tự xem mình là quan trọng và
    phải biết hoàn toàn dẹp bỏ bản ngã. Trong phương pháp
    này không thể có một bản ngã riêng tư được."
    - Tại sao?
    - "Vì trong phương pháp sử dụng năng lượng, người y sĩ
    chỉ đóng vai trò trung gian mà thôi. Họ chỉ là một khí cụ chứ
    không phải một tác nhân chính. Nếu họ nắm vai chủ động
    thì năng lượng phát xuất từ chính họ sẽ chuyển qua bệnh
    nhân chứ không phải năng lượng phát xuất từ quyền năng
    cao cả kia, và như thế việc chữa trị sẽ chuyển qua một vấn
    đề khác.
    Trong tiến trình chữa trị có sự trao đổi năng lượng giữa
    hai bên, khi năng lượng từ cá nhân y sĩ chuyển qua bệnh
    nhân thì năng lượng từ bệnh nhân cũng sẽ chuyển qua y sĩ.
    Hậu quả của việc này là chính y sĩ sẽ vô tình nhiễm phải căn
    bệnh kia mà không hay biết.
    Cũng vì lý do này, phương pháp chữa bệnh bằng năng
    lượng được giữ bí mật, không truyền cho các y sĩ mà chỉ
    dành riêng cho một số giáo sĩ."
    Tôi ngạc nhiên:
    - Tại sao? Tại sao… chỉ giáo sĩ mới được học phương
    pháp này?
    - Vì các giáo sĩ có những lời thề nguyện thiêng liêng,
    cương quyết bước vào một đời sống tôn giáo với những sự
    thanh lọc, với những kỷ luật tự giác để không còn bản ngã
    riêng tư.
    - Nếu vậy một người như con không thể học phương
    pháp này?
    Đạo trưởng Akhanuxem gật đầu:
    - Đúng thế, trừ khi con phát nguyện trở nên một giáo sĩ
    như ta.
    Tôi đâm ra bất mãn:
    - Vậy bệnh nhân đi kiếm y sĩ làm chi cho mất công. Cứ
    đến thẳng các giáo sĩ chuyên về phương pháp chữa bệnh
    này có hơn không?
    Đạo trưởng Akhanuxem lắc đầu:
    - "Này Sinuhe, có những việc không giản dị như con nghĩ
    đâu. Con chớ nên vội vàng kết luận khi chưa hiểu rõ. Mỗi
    người đều có một sứ mạng riêng phù hợp với những ước
    nguyện riêng. Một y sĩ có những chức năng của một y sĩ và
    một giáo sĩ cũng có những nhiệm vụ của một giáo sĩ.
    Kiến thức là một kho tàng quí báu nhưng đôi khi nó cũng
    là một con dao hai lưỡi, nếu không biết sử dụng cẩn thận,
    nó có thể đem đến những hậu quả tai hại."
    Lúc đó tôi chưa hiểu hết ý nghĩa câu nói của đạo sĩ
    Akhanuxem nên chua chát:
    - Phải chăng ngài muốn nói khi các y sĩ bó tay thì bệnh
    nhân chỉ có cách tìm đến các giáo sĩ? Ngoài ra đâu còn cách
    nào khác, phải không?
    Đạo trưởng Akhanuxem lắc đầu:
    - "Không hẳn thế! Trong việc chữa trị bằng năng lượng,
    một khí cụ trung gian không hẳn đã cần thiết. Nếu một
    bệnh nhân biết mở rộng tâm hồn trước quyền năng cao cả,
    biết giao trọn đời mình cho quyền năng cao cả, biết phục
    thiện và thay đổi lối sống, từ thể xác đến tinh thần, thì sự
    chữa trị trực tiếp có thể xảy ra, và đó là sự chữa bệnh bằng
    niềm tin."
    Đạo trưởng Akhanuxem im lặng một lúc như đắm chìm
    trong một ý nghĩ nào đó. Sau cùng ông nhìn tôi như muốn
    nói gì thêm nhưng không hiểu sao ông chỉ đưa tay ra vỗ nhẹ
    lên vai tôi như khuyến khích rồi đi thẳng vào căn phòng nhỏ
    của ông gần đó.
    Buổi nói chuyện ngắn ngủi này đã khơi dậy lòng ham
    muốn hiểu biết của tôi về những phương pháp bí truyền tại
    đây. Là người nhiều thắc mắc và thích tìm hiểu, tôi mong có
    dịp học hỏi những phương pháp chữa bệnh này nhưng tôi
    không có ý định trở nên một giáo sĩ mà chỉ muốn theo
    gương cha tôi, làm y sĩ phục vụ người nghèo mà thôi.
    Cuối năm đó, Horemheb đến thăm tôi. Chúng tôi tâm sự
    với nhau rất tương đắc, và tôi vô tình kể cho hắn nghe về
    những phương pháp chữa bệnh bí truyền này.
    Horemheb lắc đầu cười nhạt:
    - Mấy thằng giáo sĩ quỷ quyệt chỉ lừa được những đứa
    ngây thơ như mày thôi chứ chẳng thể lừa được tao.
    - Mày nói gì?
    Horemheb mỉm cười:
    - Tao không ưa trò "mỡ nhử miệng mèo" như thế. Nếu
    quả là có những phương pháp bí mật thì tại sao họ nói ra
    cho mày biết làm gì? Phải chăng họ muốn khuyến khích
    mày trở nên một giáo sĩ như họ? Theo tao, đó chỉ là những
    lời hứa hẹn viễn vông, hão huyền để dụ dỗ những đứa ngây
    thơ, dễ tin như mày.
    - Nhưng… nhưng đạo trưởng Akhanuxem là người… rất
    đứng đắn…
    Horemheb bật cười lớn:
    - Một người đứng đắn thì đã sao? Theo mày, một người
    đứng đắn không biết dụ dỗ hay sao? Thôi được, nếu các
    giáo sĩ có phương pháp cất giữ bí mật thì mày có muốn coi
    không?
    - Dĩ nhiên rồi, mày biết tao rất ham học hỏi…
    - Tốt lắm! Nếu biết họ giấu tài liệu bí mật đó ở đâu thì
    tao sẽ tìm ra cho mày coi chơi, biết đâu mày chẳng giỏi hơn
    tụi giáo sĩ kia.
    Lúc đó có lẽ vì lòng ham muốn thôi thúc nên tôi chỉ ngay
    vào ngôi đền lớn, có hai cánh cửa bằng đá lúc nào cũng
    khép chặt:
    - Tao chắc họ cất giấu trong đó vì chỉ các bậc đạo trưởng
    mới được vào trong ngôi đền này mà thôi.
    Horemheb sung sướng reo lên:
    - Thế ư? Tưởng gì chứ nếu họ cất giấu trong đó thì tao
    có thể lấy ra dễ dàng. Đối với tao, việc trèo tường khoét
    vách chỉ là trò trẻ.
    - Nhưng… kỷ luật nhà trường rất nghiêm khắc, nếu có
    chuyện gì…
    Horemheb vỗ mạnh lên vai tôi:
    - Điều đó chẳng ăn nhập gì tới tao cả. Mày là học sinh
    chứ tao có phải là học sinh đâu mà sợ vi phạm kỷ luật.
    Bất chấp sự khuyên can của tôi, Horemheb quyết tâm
    đột nhập ngôi đền cấm. Tôi biết tính hắn đã quyết thì không
    thể can ngăn nhưng đêm đó khi hắn ra đi, tôi thấy hồi hộp,
    vừa lo sợ, vừa mừng nên cứ đứng ngồi không yên.
    Gần sáng Horemheb trở về với vẻ thất vọng:
    - Tao chắc mày lầm rồi. Trong ngôi đền đó chẳng có tài
    liệu, sách vở gì hết.
    - Mày nói sao?
    - Đó chỉ là một ngôi đền trống rỗng.
    - Tại sao lại như thế được? Ngôi đền đó luôn luôn được
    canh giữ cẩn thận, không ai được phép vào ngoại trừ những
    vị đạo trưởng…
    Horemheb trầm ngâm:
    - Tao đã lục soát khắp nơi nhưng không thấy gì. Trong
    đền hoàn toàn trống trơn không có đồ đạc gì hết mà chỉ có
    một cỗ quan tài bằng đá.
    - Cái gì? Một cỗ quan tài bằng đá?
    - Đúng thế, một cỗ quan tài lớn bằng đá nhưng lại
    không có nắp đậy, bên trong trống rỗng, chẳng có một thây
    ma nào hết.
    - Horemheb, mày không đùa đấy chứ?
    Horemheb nghiêm trang lắc đầu:
    - Tao đã xem xét cẩn thận, ngoài cỗ quan tài rỗng đó ra,
    trong đền cũng không có các đồ vật tẩm liệm hay bàn ghế,
    đồ đạc gì hết. Thật kỳ lạ! Một ngôi đền không có hình tượng
    thần linh, ngay cả trên vách cũng trống trơn, không có hình
    vẽ hay dấu hiệu chi hết. Nếu cất giấu tài liệu bí mật thì chắc
    họ giấu ở chỗ nào khác…
    - Nhưng… nhưng biết đâu chẳng có những chỗ cất giấu
    bí mật?
    Horemheb lắc đầu:
    - Tao đã xem xét kỹ từng phiến đá dưới sàn, từng vách
    tường để tìm kiếm nhưng không thấy một dấu vết khả nghi
    nào. Nếu không tin, đêm mai tao sẽ đưa mày vào đó xem
    cho biết.
    Tôi không phải là người thích mạo hiểm nhưng câu
    chuyện Horemheb kể về ngôi đền và cỗ quan tài đã kích
    thích óc tò mò của tôi rất nhiều. Sau một lúc đắn đo, tôi
    quyết định cùng Horemheb lẻn vào ngôi đền để xem xét
    thực hư.
    Đó là một đêm không trăng, trời tối đen như mực.
    Horemheb dẫn tôi đi về phía đền cấm. Thỉnh thoảng hắn lại
    ra hiệu cho tôi núp vào một chỗ khi gặp những toán nô lệ
    canh phòng đi ngang. Ngôi đền cấm tọa lạc giữa một
    khoảng sân rộng, chung quanh có người canh gác cẩn thận
    nhưng Horemheb đã nghiên cứu từ trước. Hắn biết rõ đường
    đi nước bước của nhóm người canh gác này nên chúng tôi
    vào sát ngôi đền mà không gặp khó khăn nào.
    Horemheb quả là tay "nhà nghề", chỉ thoáng cái hắn đã
    leo lên nóc đền, nhẹ nhàng như một con mèo, rồi thả dây
    xuống cho tôi leo lên. Chúng tôi lần theo những hàng cột đá
    chống giữ nóc đền rồi chui vào chỗ thông hơi trên nóc. Từ
    đây, chúng tôi có thể quan sát phía bên trong ngôi đền.
    Mặc dù bên trong rất tối, chỉ có vài ngọn đèn nhỏ nhưng
    đúng như lời Horemheb nói, đó là một căn phòng lớn, không
    có đồ đạc hay hình tượng thần linh như những ngôi đền
    khác. Dưới ánh đèn lờ mờ, tôi thấy giữa phòng có một cỗ
    quan tài lớn bằng đá.
    Horemheb nói nhỏ:
    - Để tao thả dây xuống cho mày xuống đó xem xét.
    Chúng tôi đang chuẩn bị trèo xuống thì đột nhiên có
    tiếng động. Cánh cửa chính được mở ra, và một nhóm tu sĩ
    ở đâu bước vào. Dưới ánh sáng của những ngọn đuốc, các vị
    đạo trưởng mặc y phục hành lễ rất long trọng. Đi đầu là đạo
    trưởng Akhanuxem khoác áo thụng, hai tay trịnh trọng nâng
    một cái khay lớn. Theo sau ông là bốn vị trưởng lão, mỗi
    người cầm một tích trượng chạm trổ những hình ảnh thần
    linh. Kế tiếp là một người cao lớn mặc quần áo trắng, đầu
    quấn một cái khăn lớn phủ kín mặt nên tôi không nhận ra y
    là ai. Sau cùng là sáu vị đạo trưởng bưng những chiếc khay
    đồng trên để các dụng cụ hành lễ.
    Họ thong thả đi đến trước cỗ quan tài đá rồi đứng quây
    chung quanh đó và khởi sự các nghi thức dâng hương. Việc
    các đạo trưởng hành lễ giữa đêm khuya không có gì lạ vì
    trong tu viện vẫn có những khóa lễ ngày cũng như đêm,
    nhưng tại sao họ không hành lễ trước bàn thờ các thần linh
    mà lại dâng hương trước cỗ quan tài bằng đá như vậy?
    Chúng tôi im lặng theo dõi các nghi thức long trọng, kéo dài
    rất lâu này.
    Sau cùng Horemheb nói khẽ:
    - Tao thấy chẳng có gì đáng xem, chúng ta nên rời đây
    kẻo trời sắp sáng rồi.
    Tôi gật đầu đồng ý và định leo ra nhưng lúc đó khóa lễ
    cũng vừa chấm dứt. Giữa làn khói hương nghi ngút, đạo
    trưởng Akhanuxem trịnh trọng bước đến bên người mặc áo
    trắng, giơ hai tay đặt lên trán người kia như làm một nghi
    thức gì đó. Người này thong thả bước vào nằm trong cỗ
    quan tài.
    Horemheb giật mình buột miệng nói:
    - Thằng khùng kia chui vào quan tài làm gì vậy?
    May mắn là lúc đó đạo trưởng Akhanuxem và bốn vị
    trưởng lão đồng loạt giơ hai tay lên trời, đọc thần chú nên
    không ai nghe thấy. Đó là một bài thần chú hết sức lạ lùng,
    âm thanh kỳ lạ khác hẳn những bài thần chú mà tôi thường
    nghe trong các khóa lễ. Sau một lúc đọc thần chú và làm
    các nghi lễ, đạo trưởng Akhanuxem phất tay, ra hiệu cho
    các giáo sĩ đi vòng quanh cỗ quan tài rồi sắp thành hàng
    một, từ từ tiến ra cửa. Đạo trưởng Akhanuxem đi sau cùng,
    đi đến đâu ông tắt đèn đến đó, chỉ chừa lại một ngọn đèn
    rất nhỏ, đặt trên đầu cỗ quan tài mà thôi. Cánh cửa đá từ từ
    đóng, để lại bóng tối dầy đặc mênh mông phía trong ngôi
    đền.
    Horemheb quay qua tôi, nói nhỏ:
    - Bây giờ chúng ta trở về phòng.
    Lúc đó không hiểu sao tính tò mò của tôi nổi lên:
    - Tao muốn xem xét cái thằng nằm trong cỗ quan tài kia
    đã.
    Đến lượt Horemheb ngạc nhiên:
    - Cái gì? Mày muốn gì?
    - Tại sao các giáo sĩ lại để người kia nằm trong quan tài
    như vậy? Tại sao họ lại tắt hết đèn đuốc? Hắn nằm trong đó
    làm gì? Liệu hắn còn sống hay đã chết?
    Horemheb lắc đầu:
    - Có lẽ đó là một nghi thức quái đản gì đó của bọn giáo
    sĩ nhưng tìm hiểu điều này đâu phải mục đích của chúng ta.
    Tôi biết Horemheb là người chỉ thích làm những việc có
    mục đích rõ rệt nên nói khích:
    - Tao chắc mày sợ rồi… Có lẽ chuyện kỳ quái này đã làm
    mày sợ hãi…
    - Cái gì, thằng Horemheb này mà sợ ư?
    - Nếu không sợ thì mày hãy để tao leo xuống đó xem
    xét.
    Chúng tôi rón rén leo xuống đất và tiến thẳng về cỗ
    quan tài. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu, người kia
    vẫn nằm yên bất động. Khuôn mặt y được phủ bằng một
    tấm khăn mỏng nên chúng tôi không biết hắn đang tỉnh hay
    mê.
    Chúng tôi đứng yên lặng trong bóng tối quan sát rất lâu
    nhưng y vẫn nằm bất động, tấm màn mỏng phủ trên mặt
    cũng không hề rung động, hình như y không thở nữa thì
    phải. Không lẽ y đã chết?
    Chờ mãi vẫn không thấy động tĩnh gì, Horemheb đánh
    bạo đưa tay nhấc tấm khăn mỏng đó lên để lộ ra khuôn mặt
    của một thanh niên còn trẻ, có gò má cao và đôi lông mày
    rất rậm. Người thanh niên vẫn nằm yên không nhúc nhích,
    như một pho tượng. Horemheb đưa tay để gần lên mũi y và
    thấy gã này không thở nữa.
    Hắn giật mình nói khẽ:
    - Hình như thằng nầy đã chết rồi!
    Tôi ngạc nhiên. Không lẽ người này có thể chết một cách
    dễ dàng như vậy sao? Tôi vội đưa tay bắt mạch thì thấy rõ
    tim hắn cũng đã ngưng đập mặc dù cơ thể hắn vẫn còn hơi
    ấm.
    Horemheb nói nhỏ vào tai tôi:
    - Mày thỏa mãn rồi chứ?
    - Tại sao hắn lại chết như vậy?
    - Mày thắc mắc làm gì cho mệt, hay mau đi khỏi nơi đây
    kẻo trời sắp sáng rồi.
    Tôi còn đang chần chừ chưa quyết định thì Horemheb đã
    kéo xốc tôi đi. Chúng tôi leo lên nóc đền và theo lối cũ trở
    về.
    Khi về đến phòng tôi vẫn thắc mắc:
    - Thật lạ lùng! Rõ ràng người thanh niên kia tự nguyện
    chui vào nằm trong quan tài rồi không hiểu sao lại tắt thở.
    Chắc phải có một sự kiện bí mật nào đó.
    - Hắn sống hay chết thì ăn nhập gì đến việc tìm tài liệu
    bí mật của các giáo sĩ?
    - Nhưng đây là một sự kiện kỳ quái, phải chi tao có thể
    khám nghiệm tử thi để tìm ra nguyên nhân của cái chết.
    Biết đâu…
    Horemheb bật cười:
    - Mày thắc mắc nhiều quá chỉ khổ thân thôi. Chúng ta có
    một mục đích là tìm kiếm những tài liệu mật thì chỉ để hết
    nỗ lực vào việc đó mà thôi. Việc khác hãy để qua một bên.
    Tôi biết tính Horemheb rất thực tế, trái ngược với tôi là
    kẻ nhiều mơ mộng, hay thắc mắc viễn vông nhưng tôi
    không thể quên được sự kiện lạ lùng mà tôi chứng kiến ở
    ngôi đền cấm cũng như khuôn mặt kỳ lạ của người thanh
    niên nằm trong cỗ quan tài đá kia. Hình như có một cảm
    giác gì đó kỳ lạ, thân mật giữa tôi và cái tử thi đó mà tôi
    không thể diễn tả. Nhiều đêm tôi đã giật mình thức giấc rồi
    mất ngủ vì bị khuôn mặt người đó ám ảnh. Là một y sĩ, tôi
    đã từng khám nghiệm và mổ tử thi, đã nhìn thấy hàng trăm
    khuôn mặt người chết nhưng tại sao tôi lại bị ám ảnh bởi
    khuôn mặt đó? Tại sao chỉ nhìn thoáng qua khuôn mặt
    người chết trong một khung cảnh tranh tối tranh sáng mà
    người ta có thể bị ám ảnh mạnh như thế được?
    Mấy tuần lễ sau, dù cố công tìm kiếm nhưng chúng tôi
    không tìm ra manh mối gì về những tài liệu bí mật mà
    chúng tôi nghĩ vẫn được cất giữ tại một nơi chốn nào đó
    trong khuôn viên tu viện. Ít hôm sau, Horemheb trở về
    Thebes, còn tôi tiếp tục việc học về "Khoa Học Của Sự
    Sống".
    Thời gian thấm thoát trôi, chẳng mấy chốc tôi đã hoàn
    tất chương trình huấn luyện tại Abydos. Tôi thi đỗ thủ khoa
    và chính thức trở nên một y sĩ như cha tôi. Năm đó tôi vừa
    tròn hai mươi ba tuổi.
    CHƯƠNG 3
    Khi tôi trở về thành Thebes thì cha mẹ tôi đã chờ sẵn với
    một bữa cơm thịnh soạn để ăn mừng. Trong lúc khuân hành
    lý vào nhà, tôi ngạc nhiên thấy cha mẹ tôi cũng đã thu xếp
    quần áo, hành trang như chuẩn bị cho một chuyến đi xa.
    - Cha lại đi hái thuốc hay sao?
    Cha tôi mỉm cười lắc đầu:
    - Không. Lần này ta và mẹ con sẽ đi thăm viếng một số
    đạo viện. Từ nhiều năm nay, chúng ta vẫn mong có cơ hội
    theo đuổi những công việc tinh thần nhưng vì còn trách
    nhiệm săn sóc những bệnh nhân nghèo nên chúng ta chưa
    hoàn thành ý định. Hiện nay con đã trở thành một y sĩ, có
    thể thay ta nối tiếp việc này nên chúng ta muốn lên đường
    để hoàn tất những ước nguyện thuở trước.
    - Nếu vậy cha mẹ dự định sẽ đi trong bao lâu?
    - Điều đó còn tùy hoàn cảnh, có thể vài tháng hay vài
    năm không chừng.
    Tôi nhìn khuôn mặt đầy những vết nhăn của cha tôi,
    người y sĩ cả đời tận tụy với việc cứu nhân độ thế, rồi nắm
    chặt lấy tay ông:
    - Cha cứ yên chí, con sẽ thay mặt cha trông nom săn
    sóc những bệnh nhân nghèo, đúng như ý cha muốn.
    Cha tôi cảm động. Ông ngập ngừng một lúc rồi nói:
    - Tốt lắm, ta biết con sẽ làm được việc này. Từ nhiều
    năm nay chúng ta vẫn sống thanh bạch, không sở hữu gì
    ngoại trừ căn nhà làm nơi khám bệnh. Chúng ta giao cho
    con trông nom khi chúng ta đi xa. Tuy nhiên lần này chúng
    ta đi không biết bao giờ về nên ta muốn nói với con một
    điều quan trọng…
    Cha tôi ngưng lại một lúc như suy nghĩ rồi nói tiếp:
    - Này Sinuhe, đáng lẽ ra chúng ta phải nói cho con biết
    về việc này từ lâu rồi nhưng ta không muốn con thắc mắc
    suy nghĩ nhiều có thể ảnh hưởng đến việc học nên hôm nay
    mới có dịp cho con biết. Theo ý ta, những việc đã qua thì có
    lẽ nên để nó chìm vào quá khứ thì hơn nhưng mẹ con đã
    bàn với ta không nên giấu con điều gì, do đó ta muốn kể
    cho con nghe một câu chuyện xảy ra cách đây hơn hai mươi
    năm…
    Cha tôi im lặng, cặp mắt ông trở nên mơ màng như
    đang chìm đắm trong một kỷ niệm nào đó. Sau cùng ông
    thong thả lên tiếng:
    - "Hồi đó ta là một y sĩ trẻ, vừa tốt nghiệp như con ngày
    nay vậy. Như con đã biết, kiến thức về Khoa Học Của Sự
    Sống thì bao la vô cùng nhưng kiến thức về y giới chỉ giới
    hạn trong phương diện chữa trị mà thôi. Chỉ riêng các giáo
    sĩ trong dòng tu Osiris, những người đã phát nguyện sống
    trong sạch để phụng sự nhân loại, mới được truyền dạy
    thêm kiến thức về Khoa Học Của Sự Sống. Vì muốn học hỏi
    kiến thức này, ta đã phát nguyện không lập gia đình để trở
    thành một giáo sĩ dành hết thì giờ cho việc nghiên cứu.
    Khi đó mẹ con là con gái út của hoàng thân Oka Mazuk
    trong triều. Hoàng thân Oka Mazuk là em họ của hoàng đế
    Pharaoh, được lệnh cai quản khắp miền nam Ai Cập, sát
    biên giới Nubia. Tuy xuất thân trong một gia đình giàu có,
    thế lực vào bậc nhất Ai Cập nhưng ngay từ nhỏ, mẹ con đã
    không ham thích đời sống xa hoa đài các này. Bà chỉ muốn
    theo đuổi những công việc tinh thần nên đã phát nguyện trở
    nên một nữ tu của dòng tu Isis, chứ không hề muốn lập gia
    đình như những phụ nữ khác.
    Năm đó ông ngoại con theo hoàng đế Pharaoh kéo binh
    chinh phạt xứ Nubia, mang về rất nhiều nô lệ. Gặp thời tiết
    nóng nực, có dịch thời khí nên số nô lệ đem về bị chết rất
    nhiều. Mẹ con thấy vậy động lòng thương xót nên đã hết
    lòng tìm thầy thuốc chữa chạy, săn sóc những người nô lệ.
    Bà đã bán chiếc vòng ngọc mà ông ngoại con đã tặng bà
    nhân sinh nhật mười sáu tuổi, để mua thuốc chữa trị cho
    các nô lệ. Đây là một chiếc vòng ngọc vô cùng quí báu, có
    giá trị rất lớn mà ông ngoại con đã tốn rất nhiều công sức
    mới chiếm đoạt được nó.
    Khi hay tin mẹ con đem bán chiếc vòng để giúp nô lệ,
    ông ngoại con nổi giận. Để trừng phạt. ông có ý định gả mẹ
    cho một sĩ quan đã lập nhiều chiến công cho triều đình, bất
    chấp việc bà đã phát nguyện trở nên một nữ tu trong sạch.
    Trước tình trạng ấy, mẹ con quyết định tự tử để giữ tròn lời
    nguyện. Là y sĩ bán thuốc cho mẹ con và cũng là người
    được bà yêu cầu bào chế một thang thuốc độc, ta biết rõ
    tình trạng căng thẳng lúc đó. Để cứu một người mà ta vô
    cùng kính phục, ta bèn đưa ra một giải pháp tạm thời cho
    tình trạng lúc đó, là ngỏ lời cầu hôn mẹ con.
    Vì cả hai chúng ta đều đã phát nguyện sống trong sạch
    nên cuộc hôn nhân của chúng ta chỉ xảy ra trên danh nghĩa
    mà thôi chứ thật ra không hề có sự ô nhiễm tình dục. Ta hy
    vọng thời gian sẽ làm nguôi cơn giận của ông ngoại con và
    rồi mọi việc sẽ sáng tỏ…"
    Đây không phải là điều mới lạ vì tôi đã nghe kể về việc
    này từ trước mặc dù lần này cha tôi kể chi tiết hơn. Cha tôi
    nhìn tôi một lúc rồi tiếp tục:
    - "Dĩ nhiên là điều này qua mắt được ông ngoại con
    nhưng không lọt qua sự nghi ngờ của Smenkere, người
    quan đã lập nhiều chiến công cho triều đình lúc đó.
    Smenkere vẫn thầm nuôi hy vọng lấy được một người thuộc
    giai cấp hoàng tộc như mẹ con vì đó là con đường dẫn đến
    danh vọng và quyền lực cho hắn. Khi nghe mẹ con và ta lập
    gia đình, hắn vô cùng thất vọng và tức giận. Dĩ nhiên nếu
    cuộc hôn nhân giả mạo này bại lộ, ta sẽ không thoát khỏi
    án tử hình, và mẹ con sẽ không tránh khỏi việc bị ép làm vợ
    Smenkere.
    Sau nhiều ngày suy nghĩ, ta bàn với mẹ con nên rời
    Memphis đến Thebes lập nghiệp, để tránh cặp mắt soi mói
    của Smenkere. Tuy đã đi xa nhưng chúng ta vẫn bị theo dõi
    rất gắt. May thay lúc đó cuộc chiến với dân Hitites xảy ra
    nên Smenkere phải cầm quân ra trận…"
    Tôi thắc mắc:
    - Rồi sao nữa? Liệu… cha mẹ có giữ… lời nguyện không?
    Cha tôi quay sang nhìn mẹ tôi rồi mỉm cười:
    - Này Sinuhe, khi một người đã chọn để theo đuổi một lý
    tưởng thì thà chết chứ không bao giờ vi phạm lời nguyện,
    nhất là khi cả hai chúng ta đều phát nguyện trong những
    buổi lễ điểm đạo tại các thánh điện trang nghiêm.
    Tôi giật mình kêu lớn:
    - Nhưng nếu… nếu thế… làm sao lại có con được?
    Mẹ tôi vẫn ngồi yên lặng, bây giờ mới lên tiếng:
    - Này Sinuhe, lúc đầu chúng ta giả vờ kết hôn để giải
    quyết một khó khăn nhất thời nhưng chúng ta không ngờ nó
    lại tạo ra những khó khăn khác. Chúng ta đã nguyện sống
    trong sạch, coi nhau như anh em ruột thì làm sao có con với
    nhau được…
    Cha tôi đỡ lời:
    - Mẹ con nói đúng đấy. Chúng ta đến Thebes nhưng vẫn
    bị theo dõi vì dường như Smenkere đã nghe nói về lời
    nguyện giữ mình trong sạch của chúng ta.
    Tôi nóng nảy, không giữ được bình tĩnh:
    - Như vậy con là… con là con của ai?
    Cha tôi thong thả trả lời:
    - "Hôm đó chúng ta có việc đi ngang một khúc sông
    vắng thì nghe có tiếng trẻ khóc từ một giỏ mây thả trôi trên
    sông Nile. Con biết đấy, xã hội nào cũng có những đứa con
    rơi, những giọt máu vô thừa nhận, hậu quả của những cuộc
    tình lầm lỡ. Những bà mẹ bất hạnh thường đặt những đứa
    trẻ vô thừa nhận đó vào những giỏ mây thả trôi trên sông
    Nile, phó mặc cho thần sông Nile che chở. Hàng năm có biết
    bao đứa trẻ bị thả trôi sông như vậy.
    Nghe tiếng trẻ khóc, mẹ con động lòng nên yêu cầu ta
    vớt đứa bé đó vào bờ nhưng không ai muốn nuôi đứa trẻ ấy
    cả. Bất chợt mẹ con nảy ra một ý kiến hay, bà bàn với ta
    rằng nếu chúng ta làm như đã có con với nhau thì sẽ đánh
    tan được mối nghi ngờ của Smenkere, và chúng ta có thể
    sống yên ổn. Hiển nhiên đã giả việc kết hôn thì việc nhận
    nuôi một đứa trẻ để giả làm con ruột cũng đâu có khó gì.
    Và con chính là đứa trẻ được chúng ta vớt từ sông về
    nuôi để che mắt mọi người…"
    Tôi kêu lớn:
    - Như thế… con là một đứa trẻ… vô thừa nhận?
    Mẹ tôi an ủi:
    - Này Sinuhe, tuy ta không sinh ra con nhưng lúc nào
    con cũng là con của ta. Lúc đầu chúng ta nuôi con chỉ vì
    muốn che mắt Smenkere nhưng về sau chúng ta đã yêu
    thương con đâu khác gì một đứa con ruột.
    Tôi thất vọng:
    - Thế rồi… sao nữa?
    - Khi Smenkere đánh trận trở về và nghe tin chúng ta đã
    có con với nhau thì hắn đành bỏ mộng làm rể gia đình
    hoàng gia. Từ đó chúng ta được sống yên ổn, không bị ai
    nhòm ngó, theo dõi nữa.
    Cha tôi mở tủ thuốc lấy ra một cái chăn đã cũ:
    - Đây chính là tấm chăn đã lót con trong giỏ mây, nó
    được may bằng một loại sợi đan rất thô. Loại sợi này chỉ có
    ở vùng Phalon, thượng lưu sông Nile. Đây là miền mà đa số
    dân chúng đều sống bằng nghề chài lưới nên chúng ta đoán
    rằng có lẽ con xuất thân là con nhà thuyền chài…
    Thấy tôi thất vọng, mẹ tôi khuyên giải:
    - Này Sinuhe, có thể hiện nay con đang bàng hoàng xúc
    động nhưng rồi cảm xúc này sẽ qua đi vì trước sau gì con
    vẫn là con của chúng ta. Ngày trước chúng ta yêu con bao
    nhiêu thì bây giờ chúng ta vẫn yêu thương con như vậy.
    Chúng ta chỉ muốn con biết rõ nguồn gốc của mình mà thôi.
    Chuyện đã qua, có lẽ nên để nó chìm vào quá khứ thì hơn
    nhưng chúng ta không muốn giấu con một điều gì. Con đã
    trưởng thành, có thể chấp nhận được sự thật này.
    ° ° °
    Đúng như lời mẹ tôi nói, tôi đã xúc động một thời gian
    nhưng sau khi cha mẹ tôi lên đường và tôi bắt đầu trông coi
    phòng mạch, thì thời gian và công việc đã giúp tôi nguôi
    ngoai rất nhiều. Được tin tôi trở về, Horemheb vội vã đến
    thăm. Trong lúc hàn huyên tâm sự, tôi đã kể cho hắn nghe
    về thân thế mình. Horemheb bật cười vỗ mạnh lên vai tôi:
    - Thì ra thân thế mày cũng chẳng hơn gì tao. Mày là một
    thằng con rơi, không ai thèm nhận; còn tao là con một tên
    bán bánh tầm thường, không ai thèm để ý. Như thế chúng
    ta kết bạn là đúng quá rồi. Tuy nhiên nếu mày đã kể cho
    tao nghe về việc bí mật của mày thì tao cũng có một việc
    riêng để nói với mày và muốn mày đừng kể với ai…
    Tôi ngạc nhiên:
    - Cái gì nữa đây? Phải chăng mày cũng là…
    Horemheb lắc đầu:
    - Thôi đi Sinuhe, đừng nghĩ rằng ai cũng là con rơi như
    mày đâu! Thân thế tao hèn kém, là con một tên bán bánh
    ngoài chợ thì tao chỉ có thể hành nghề bán bánh, quét chợ
    hay làm phu khuân vác mà thôi. Tuy nhiên tao đã quen
    được một sĩ quan trong đội Ngự lâm quân, người này sẵn
    sàng thâu nhận tao làm lính. Thật ra tao đã man khai lý lịch
    rằng cha tao là một người lính đã tử trận để được thâu
    nhận.
    - Tại sao mày làm vậy?
    Horemheb giải thích:
    - Này Sinuhe, tuy mày không phải là con ruột của y sĩ
    Sen Moot nhưng đã mấy ai biết điều ấy. Hiện nay mày là
    một y sĩ, được xã hội kính trọng. Phần tao thuộc giai cấp
    hèn kém, chỉ hơn giai cấp nô lệ một chút, có muốn ngóc
    đầu lên cũng không thể được nên tao mới phải làm lý lịch
    giả như thế. Giai cấp quân nhân, dù không vẻ vang gì
    nhưng cũng còn hơn giai cấp thợ thuyền. Tao đã quyết định
    rời thành Thebes lên Memphis đầu quân, tao sẽ mời mày
    lên đó ăn mừng.
    Tôi biết lúc nào Horemheb cũng nuôi mộng làm lính nên
    không ngạc nhiên về chuyện này. Sau khi Horemheb lên
    đường, tôi tiếp tục hành nghề y sĩ. Đã quen với cuộc sống
    thanh bạch, tôi không phiền hà gì về số tiền thu nhập thất
    thường trong chiếc thùng gỗ để trước cửa phòng mạch. Có
    nhiều hôm tôi chỉ nhận được ít tiền lẻ, vừa đủ mua một ổ
    bánh mì khô, nhưng cũng có khi tôi nhận được những số
    tiền khá lớn. Theo lệ cũ, tôi chia số phần này ra làm hai
    phần, một phần giữ lại để đủ ăn trong bảy ngày, phần kia
    tôi mang ra phân phát cho những người nghèo khó trong
    xóm.
    Thời gian êm đềm trôi. Một hôm tôi để ý thấy trong suốt
    mấy tháng, số tiền trong thùng càng ngày càng ít đi. Hình
    như bệnh nhân không chịu trả tiền nữa thì phải. Lúc đầu tôi
    không để ý nhưng về sau tôi thấy lần nào mở thùng ra, tôi
    cũng chỉ thu được một ít xu lẻ, vừa đủ mua một ổ bánh cho
    bữa tối mà thôi. Một hôm tôi mổ óc cho một lái buôn giàu
    có, đeo đồ trang sức đầy người. Ông này cám ơn cứu mạng
    nên ra lệnh cho tên nô lệ theo hầu bỏ vào thùng gỗ của tôi
    một số tiền rất lớn. Tôi nghe rõ tiếng tiền bạc kêu rổn rảng
    trong hòm, thế mà buổi chiều hôm đó, khi mở thùng ra, tôi
    vẫn chỉ thấy có một ít xu lẻ như mọi lần. Biết có kẻ lấy
    trộm, tôi bèn để ý rình.
    Hôm sau, khi bệnh nhân cuối cùng vừa bước vào phòng
    khám bệnh, thay vì chữa trị, tôi yêu cầu bệnh nhân ngồi
    chờ, còn tôi thì lẻn ra phía sau nhà quan sát. Tôi tin rằng
    nếu có kẻ trộm tiền thì hắn sẽ phải ra tay trước khi tôi đóng
    cửa phòng mạch. Quả nhiên đúng như dự đoán, tôi thấy
    một người to lớn, quần áo xốc xếch, bước đến bên cạnh
    thùng tiền. Hắn lấm lét nhìn trước nhìn sau, rồi rút trong
    mình ra một chiếc chìa khóa nhỏ, mở thùng và trút hết tiền
    bạc trong đó vào túi. Cơn giận ở đâu nổi lên, tôi xông ra
    túm chặt lấy hắn quát tháo ầm ĩ. Tên trộm vùng vẫy toan
    chạy nhưng tôi đã ôm chầm lấy hắn, đẩy hắn ngã lăn ra
    đất. Biết không thể chạy được, hắn vội quì mọp bên chân
    tôi năn nỉ:
    - Thưa y sĩ, tôi… trót dại, mong ông tha cho.
    - Thằng khốn! Mi ăn trộm tiền của ta từ bao lâu rồi?
    - Thưa ông, tôi nghèo đói nên lỡ dại…
    Nhìn thấy khuôn mặt lấm lem và con mắt bên phải của
    gã trắng dã, không tròng, tôi động lòng thương xót:
    - Này thằng chột kia, mi tên gì, ở đâu đến đây?
    - Tôi tên là Kepta, thuộc bộ lạc Do Thái. Tôi vốn là một
    nô lệ nhưng chẳng may chủ tôi chết sớm, không để lại tiền
    bạc gì nên trở nên một kẻ vô chủ, lang thang đầu đường xó
    chợ. Tôi già yếu, không làm được việc lao động, lại chột
    mắt, hình dáng xấu xí nên chẳng ai muốn nuôi. Tôi lang
    thang xin ăn khắp thành Thebes cho đến khi thấy thùng
    tiền của ông để trước cửa…
    Kepta vừa nói vừa chăm chú nhìn tôi. Khi thấy tôi có vẻ
    nguôi giận, hắn lập tức đổi giọng lý luận:
    - Thưa y sĩ, tôi biết ông thường đem tiền này giúp kẻ
    nghèo khó trong xóm; nhưng thưa ông, tôi là kẻ nghèo khó
    nhất xóm. Tôi cam đoan không ai nghèo hơn tôi nên tôi
    đành phải… tạm thời sử dụng số tiền này đấy thôi. Điều nầy
    thật ra cũng đâu có hại gì vì nếu tôi không lấy thì ông cũng
    đem tiền cho người khác.
    Tôi suýt bật cười vì giọng lưỡi ngụy biện của tên Do Thái
    chột mắt này:
    - Mi giỏi thật! Đã lấy trộm tiền lại còn dám cãi lý với ta
    nữa.
    Kepta nhăn mặt xua tay rối rít:
    - Ấy chết, xin ông đừng nói quá! Nếu tôi lấy trộm thì
    phải lấy hết số tiền này chứ nhưng… tôi vẫn để lại… một
    chút cho ông dùng kia mà!
    Tôi bật cười vì miệng lưỡi lợi hại của tên nô lệ vô chủ
    này:
    - Thằng chột kia, nếu đã để lại ít tiền thì sao mi không
    để lại một số tiền kha khá mà lần nào cũng chỉ một vài xu
    lẻ?
    Kepta lấm lét nhìn tôi rồi cười xòa:
    - Tôi biết ông là người ăn uống thanh đạm. Một ổ bánh
    mì cũng đủ nên tôi để lại vừa đủ tiền cho ông ăn bánh mì…
    Nếu để lại nhiều tiền hơn, ông lại mất công mang đi cho
    người khác. Như thế là tôi giúp ông đấy chứ…
    Tôi chưa biết phải nói làm sao thì nghe tiếng bệnh nhân
    trong phòng mạch gọi nên tôi bèn chỉ mặt tên chột mắt:
    - Thôi được! Lần này ta tha cho mi, hãy mau cút đi nơi
    khác kiếm ăn. Nếu ta còn bắt gặp mi lảng vảng quanh đây
    thì chớ có trách.
    Tôi nghĩ tên chột mắt này sẽ sợ hãi bỏ đi ngay nhưng
    chiều hôm đó, khi vừa khám bệnh xong tôi đã thấy Kepta
    ngồi chờ trước cửa. Hắn nói ngay:
    - Thưa y sĩ, tôi biết ông không nuôi nô lệ nhưng nếu ông
    không chê tên chột mắt, xấu xí, thì hãy thu nhận tôi làm nô
    lệ hầu hạ cho ông.
    - Cái gì? Ta nhận để ngươi ăn cắp tiền chữa bệnh của ta
    nữa ư?
    Kepta lắc đầu:
    - Không, không đời nào! Nếu tôi làm nô lệ cho y sĩ thì tôi
    sẽ bảo vệ thùng tiền này bằng mạng sống của tôi. Đứa nào
    đụng vào sẽ chết với thằng chột này.
    Tôi không hề có ý định nuôi nô lệ nhưng bấy lâu nay
    sống cô độc, không ai trò chuyện, gặp tên Do Thái ăn nói có
    duyên tôi cũng thích. Tôi bèn nhận cho hắn ở chung, để dọn
    dẹp nhà cửa và làm những việc vặt. Từ đó Kepta trở nên
    một người phụ tá đắc lực cho tôi. Không biết hắn ra phố
    quảng cáo những gì mà từ ngày có hắn, số bệnh nhân tăng
    lên rất nhiều và số tiền thu được cũng tăng lên thấy rõ. Mặc
    dù tôi chủ trương sống thanh bạch, ăn uống giản dị nhưng
    Kepta không quan niệm như vậy. Hắn ép tôi phải ăn uống
    đàng hoàng, cẩn thận để có sức khỏe, phục vụ mọi người.
    Một hôm tôi nhận được tin của Horemheb từ Memphis
    báo rằng hắn vừa được tuyển làm lính Ngự lâm quân và
    muốn tôi lên đó ăn mừng với hắn. Tôi vội thu xếp lên
    Memphis ngay. Gặp tôi, Horemheb mừng rỡ kéo vào một
    quán rượu gần đó:
    - Tao đã được chấp nhận, chỉ còn chờ ngày làm nhập
    ngũ mặc quân phục nữa thôi. Mày phải uống rượu mừng cho
    tao.
    Tôi chưa hề uống rượu nhưng vì muốn chung vui với
    Horemheb nên cũng vui lòng cầm ly lên uống một hơi. Mùi
    rượu nồng nặc khiến tôi ho sặc sụa. Thấy vậy, Horemheb vỗ
    vai tôi cười lớn:
    - Trước sau gì mày cũng phải tập uống rượu. Đàn ông
    mà không biết uống rượu thì có ra gì!
    Horemheb là người quảng giao, quen nhiều biết rộng
    nên chúng tôi vừa ngồi vào bàn thì đã có nhiều người khác
    cũng đến uống rượu chung vui với hắn. Một lúc sau, bàn của
    chúng tôi đã qui tụ hàng chục người say sưa ăn uống nói
    cười, hết sức vui vẻ. Horemheb luôn miệng gọi rót thêm
    rượu và nhất định bắt mọi người phải nâng ly uống cho hết.
    Vì không quen uống nên tôi rất dè dặt, chỉ nhắp vài ngụm
    lấy lệ, nhưng mặc dù uống rất ít, tôi cũng bị choáng váng,
    xây xẩm mặt mày. Hiển nhiên những tay bợm nhậu này
    thấy ngay, họ ép tôi phải uống cho thật say.
    Người rót rượu, một thiếu nữ rất trẻ, lên tiếng bênh vực:
    - Các ông chớ ép ông này uống nữa. Tôi xem chừng ông
    ta không chịu nổi đâu.
    Đám bợm nhậu nhao nhao lên:
    - Say chút ít đâu có sao!
    - Phải cho hắn nếm mùi say một lần cho biết.
    Cô gái lắc đầu:
    - Nhưng ông này coi bộ chịu hết nổi rồi, xin các ông tha
    cho…
    Đám bợm nhậu rú lên cười:
    - Này Meryt, hôm nay cô làm sao vậy? Hắn càng uống
    nhiều thì cô càng thu lắm tiền kia mà?
    - Tại sao cô không muốn cho tên này uống rượu?
    - Phải chăng cô đã thích hắn?
    Meryt, người thiếu nữ bán rượu, lên tiếng:
    - Tôi xem chừng ông này muốn quị rồi, uống thêm sợ có
    chuyện gì…
    Horemheb cười ha hả, gạt đi:
    - Cô cứ tiếp tục rót đi. Sinuhe là em tôi, hắn phải uống
    mừng cho tôi, có chuyện gì thì để Horemheb này chịu.
    Trong lúc đám bợm nhậu đang ồn ào bắt tôi phải uống
    thêm thì bỗng có tiếng tù và thổi vang khắp nơi rồi tiếng
    người nhốn nháo kêu gọi khắp đường phố. Horemheb giật
    mình đặt ly rượu xuống bàn, nghe ngóng:
    - Tại sao có tiếng tù và báo động như vậy?
    Tiếng tù và mỗi lúc một cấp bách rồi tiếng chân người
    chạy dồn dập. Một lúc sau có thêm tiếng kèn và tiếng hò
    hét rầm rĩ. Horemheb biến sắc:
    - Đó là tiếng kèn báo động trong hoàng cung.
    Horemheb và đám bạn vội bước ra cửa thì thấy quân
    lính xuất hiện khắp nơi, gươm giáo sáng ngời. Horemheb
    lên tiếng hỏi:
    - Chuyện gì vậy?
    Một người lính trả lời:
    - Hoàng đế Pharaoh vừa qua đời.
    - Tại sao lại náo loạn như thế?
    Một người lính khác xen vào:
    - Hoàng đế đã được mang đi chôn cất nhưng đám nô lệ
    lo việc mai táng không chịu chết theo, chúng nổi loạn và
    đang đánh nhau với lính ngự lâm.
    Phong tục chôn cất những nô lệ hay cung nữ theo các vị
    vua chúa để hầu hạ những người này ở cõi giới bên kia là
    một việc thường. Đối với người Ai Cập, Hoàng đế Pharaoh là
    một vị thần nên sự chết đối với họ chỉ là một cuộc hành
    trình đi qua cõi giới khác mà thôi. Để bảo đảm cuộc hành
    trình này, việc chôn cất luôn luôn được cử hành theo những
    nghi thức nhất định, tiễn đưa vua Pharaoh lên đường. Một
    trong những nghi thức rất quan trọng là việc giữ gìn thể xác
    vì tính cách thiêng liêng của thể xác này. Nếu thể xác bị hư
    hại, đời sống vĩnh cửu ở thế giới bên kia sẽ gặp khó khăn.
    Đây là một điều được các giáo sĩ thuộc nhóm nghiên cứu
    Khoa Học Của Sự Chết ghi nhận rất kỹ.
    Cũng vì sự tin tưởng này nên việc đầu tiên của bất cứ vị
    vua Pharaoh nào khi vừa lên ngôi là lo chuẩn bị xây cất cho
    mình một lăng tẩm, một ngôi mộ kiên cố, để giữ gìn thể xác
    của mình, để bảo đảm cho đời sống ở cõi giới bên kia. Để có
    thêm những tiện nghi, các vua Pharaoh bắt chôn theo
    những tùy tùng, nô lệ và cung nữ để hầu hạ nên việc những
    người này phản đối, không chịu bị chôn sống theo không
    phải là điều đáng ngạc nhiên. Thường thì bao giờ họ cũng bị
    cưỡng bách, đàn áp bằng võ lực hoặc cho uống những loại
    thuốc mê trước khi mang đi chôn sống.
    Cuộc nổi dậy của nhóm nô lệ kéo dài suốt mấy ngày
    nhưng rồi cũng bị dẹp tan và tình hình Memphis trở lại bình
    thường. Vài hôm sau khi Horemheb đến làm thủ tục nhập
    ngũ thì hắn được biết vị sĩ quan chỉ huy nhóm Ngự lâm
    quân, người mà hắn đặt nhiều hy vọng, đã bị giết trong
    cuộc chống đối vừa qua. Vị sĩ quan chỉ huy mới lạnh lùng:
    - Ta không biết ngươi là ai, hiện nay chúng ta không cần
    tuyển thêm lính vì còn phải chờ lệnh vị tân hoàng đế.
    - Nhưng tôi đã hoàn tất đầy đủ các nghi thức nhập ngũ.
    - Điều đó ta không cần biết. Chúng ta chỉ tuyển lính khi
    có lệnh mới.
    - Nếu vậy chừng nào sẽ có lệnh mới?
    Người sĩ quan bật cười lớn:
    - Điều này chắc còn lâu lắm. Các vị hoàng đế Pharaoh
    vừa lên ngôi có hàng trăm, hàng ngàn việc quan trọng phải
    làm. Việc tuyển thêm lính hầu chỉ là việc phụ, chắc cũng
    phải nhiều năm nữa.
    Dĩ nhiên Horemheb biết ngay rằng người sĩ quan này
    không muốn tuyển lựa những người đã được viên sĩ quan
    trước thâu nhận. Vị chỉ huy nào cũng muốn đưa bè phái,
    phe nhóm của mình vào, để bảo đảm sự trung thành tuyệt
    đối. Horemheb vô cùng thất vọng, cái mộng được mang
    quân phục Ngự lâm ấp ủ trong bao năm qua đã tan tành
    như mây khói. Trong suốt mấy ngày sau, Horemheb uống
    rượu liên miên và say lúy túy. Hắn chửi rủa tất cả những gì
    có thể chửi được, và rồi lên cơn sốt nặng khiến tôi phải tốn
    rất nhiều thì giờ và công sức săn sóc cho hắn.
    Horemheb mê sảng cả tuần lễ nhưng nhờ các loại thuốc
    an thần cực mạnh nên bệnh tình của hắn cũng thuyên giảm
    dần. Một buổi sáng, hắn tỏ ra bình tĩnh hơn trước, thay vì
    đòi uống rượu hắn đã nói với tôi:
    - Cám ơn mày đã săn sóc cho tao. Có lẽ những kẻ tầm
    thường như chúng mình chỉ nên yên phận, mong muốn
    nhiều quá chỉ khổ thôi. Bây giờ tao muốn trở về Thebes bán
    bánh, quét chợ rồi thỉnh thoảng đi câu cá với mày.
    Tôi mừng rỡ:
    - Mày cứ tĩnh dưỡng cho thật khỏe đã, chuyện đâu còn
    đó.
    - Nhưng tao thấy trong mình khỏe rồi và muốn trở về
    Thebes ngay.
    Tôi liền chuẩn bị hành trang cùng với Horemheb trở về
    Thebes, nhưng trước khi lên đường hắn hỏi tôi:
    - Này Sinuhe, mày đã đi săn sư tử bao giờ chưa?
    - Cái gì? Săn sư tử ư? Mày không đùa đấy chứ?
    Horemheb mỉm cười vỗ mạnh lên vai tôi:
    - Một thú vui như thế mà mày không biết sao?
    - Không, tao không nghe ai nói săn sư tử là một thú vui
    hết.
    Horemheb chăm chú nhìn tôi rồi lắc đầu than:
    - Săn sư tử là một trò giải trí đặc biệt của dân chúng thủ
    đô Memphis, gần như ai cũng biết săn sư tử. Một trò vui
    như thế mà mày chưa nếm mùi sao?
    Tôi hết sức ngạc nhiên:
    - Không, tao chưa từng săn sư tử nhưng… liệu có nguy
    hiểm không?
    Horemheb bật cười ha hả:
    - Lối đi săn này không nguy hiểm vì người săn ngồi trên
    xe ngựa chạy như bay, sư tử nào đuổi kịp họ được. Họ sử
    dụng cung tên thay vì giáo mác. Tao đã từng săn vài chục
    con sư tử như thế rồi, cũng dễ như đi… câu cá thôi.
    Thấy tôi có vẻ ngần ngại, Horemheb thúc giục:
    - Một trò vui như thế không nên bỏ qua. Trước khi về
    Thebes, mày cũng nên hưởng thú săn sư tử với tao cho biết.
    Không đợi tôi trả lời, Horemheb đã lo thu xếp chuyến đi
    săn sư tử ngay. Tôi biết hắn buồn chán, thất vọng vì việc
    nhập ngũ không thành nên thấy hắn lấy lại tinh thần, tôi
    cũng mừng và không muốn làm phật lòng hắn.
    ° ° °
    Chiều hôm sau, Horemheb mang ở đâu về một cỗ xe
    ngựa với đầy đủ các dụng cụ đi săn như cung tên, giáo mác.
    Tôi và hắn vượt cổng thành tiến ra sa mạc. Trên đường, tôi
    thấy khắp nơi quân lính canh phòng rất nghiêm, mặc dù
    cuộc nổi dậy của nhóm nô lệ đã bị dẹp tan nhưng hình như
    triều đình vẫn cẩn thận đề phòng một chuyện gì.
    Đêm ấy trăng tròn, ánh trăng tỏa sáng khắp sa mạc, soi
    rõ những cồn cát trắng xóa chạy dài đến tận chân trời.
    Horemheb điều khiển cỗ xe một cách khéo léo khiến xe
    chạy như bay. Khoảng nửa đêm, chúng tôi đến một thung
    lũng hẹp, phong cảnh hoang vu, Horemheb lên tiếng:
    - Người ta thường săn sư tử vào ban đêm. Ban ngày
    chúng ngủ trong hang núi nên rất khó tìm…
    Horemheb chưa dứt lời, tôi đã nghe thấy một tiếng gầm
    dữ dội và một con sư tử lớn, bộ bờm mầu sẫm ở đâu xuất
    hiện. Horemheb trao cương ngựa cho tôi:
    - Mày cứ bình tĩnh điều khiển cỗ xe, mọi việc đã có tao…
    Vì bất ngờ nên tôi luống cuống không biết phải làm gì.
    Từ trước đến nay tôi chưa hề điều khiển một cỗ xe như thế
    này. Tuy nhiên tôi không có thì giờ phản ứng vì con sư tử đã
    từ xa phóng đến. Horemheb thản nhiên lắp tên vào cung:
    - Mày đã muốn chết thì tao cho mày chết ngay.
    Mặc dù tôi đã cố gắng giữ cương thật chặt nhưng hai con
    ngựa thấy sư tử xông đến đã hoảng sợ hí vang và sải vó
    chạy. Horemheb hét lớn:
    - Cẩn thận! Nắm chặt dây cương!
    Bất chấp sự điều khiển vụng về của tôi, hai con ngựa
    cắm đầu chạy khiến cỗ xe hết nghiêng bên này lại ngả bên
    kia làm Horemheb bắn hụt mấy lần. Hắn bình tĩnh lắp tên
    vào cung và ra lệnh:
    - Mày kềm cương ngựa cho thật chặt…
    Nhưng không kịp nữa rồi! Trong lúc luống cuống tôi đã
    để tuột dây cương. Hai con ngựa không người điều khiển,
    lồng lên, cắm đầu chạy về phía trước. Horemheb vội vã
    chồm người lên để nắm lấy cương nhưng vì xe ngựa chạy
    quá nhanh, hắn không bắt kịp. Con sư tử tiếp tục đuổi và
    chỉ một lúc chúng tôi đã vượt qua thung lũng, tiến về một
    hẻm núi đầy những tảng đá lớn. Horemheb quát lớn:
    - Cẩn thận! Chỗ này nguy hiểm lắm!
    Hắn vừa dứt lời thì cỗ xe đã cán trúng một tảng đá lớn
    và lật qua một bên. Tôi và Horemheb bị hất ngã nhào ra
    khỏi xe. Chiếc trục xe gẫy lìa nên hai con ngựa được tự do,
    vùng lên chạy mất. Con sư tử mải miết đuổi theo hai con
    ngựa nên không để ý đến chúng tôi. Horemheb bình tĩnh rút
    cây giáo dài bên hông xe:
    - Mày đi sát bên tao, mình chạy lên phía hốc đá trên kia.
    Chúng tôi chạy dọc theo sườn núi. Horemheb nói nhỏ:
    - Nếu con sư tử không đuổi kịp hai con ngựa, nó sẽ quay
    về đây. Chúng ta cần rời khỏi chỗ này càng sớm càng tốt.
    Chúng tôi tiếp tục di chuyển theo những tảng đá nhấp
    nhô bên sườn núi, thỉnh thoảng lại đứng lại để thở.
    Horemheb vừa đi vừa quan sát địa thế, sau cùng hắn tìm
    được một hốc đá nhỏ:
    - Chúng tạm chui vào đây nghỉ ngơi, đợi đến sáng sẽ tìm
    đường ra khỏi sa mạc.
    Lúc trước vì mải lo chạy nên tôi không để ý đến thời tiết.
    Sau khi chui vào trong hốc đá được một lúc thì tôi mới cảm
    thấy khí hậu sa mạc về đêm rất lạnh. Mặc dù đã cố thu
    mình lại nhưng tôi vẫn run lên, răng đập vào nhau lập cập.
    Horemheb bật cười:
    - Mày cẩn thận kẻo sư tử nghe tiếng răng mày mà tìm
    đến thì nguy đấy!
    Tôi thầm phục trong tình trạng nguy hiểm như thế mà
    Horemheb vẫn bình tĩnh khôi hài được. Horemheb nắm chặt
    chiếc giáo nhọn trong tay:
    - Mày hãy ngủ để lấy sức vì ngày mai chúng ta cần rời
    khỏi nơi đây.
    Tôi ngập ngừng:
    - Này Horemheb, tao tiếc… không quen điều khiển xe
    ngựa nên…
    Horemheb bỗng trở nên lạnh lùng:
    - Mày tưởng tao không biết việc đó sao?
    - Cái gì? Mày biết tao chưa bao giờ điều khiển xe ngựa
    mà vẫn…
    Horemheb chăm chú nhìn tôi. Trong bóng đêm chập
    chờn, cặp mắt hắn sáng quắc lên một cách kỳ lạ. Sau cùng
    hắn trầm giọng nói:
    - Này Sinuhe, tao rất ân hận đã đưa mày vào tình trạng
    này. Đáng lẽ ra tao không nên rủ mày đi như thế, thật ra
    tao không còn muốn sống nữa nên…
    Tuy hắn không nói hết câu nhưng tôi hiểu. Thì ra tâm
    trạng bình tĩnh kỳ lạ của hắn sau cơn mê sảng tuyệt vọng
    vừa qua chỉ là một sự che đậy và cuộc đi săn sư tử này là
    cách đi tìm cái chết của Horemheb. Tôi run giọng:
    - Như vậy… đi săn sư tử không… giản dị như mày nói?
    Horemheb gật đầu cười nhạt:
    - Mày tưởng săn sư tử dễ như đi câu cá hay sao? Này
    Sinuhe, mày quả là một đứa bé ngây thơ khờ dại.
    Cả hai chúng tôi im lặng nhìn nhau. Mỗi người theo đuổi
    một ý nghĩa riêng. Sau cùng Horemheb lên tiếng:
    - Lúc trước tao quả có ý định muốn tìm cái chết. Nhưng
    bây giờ tao lại thấy chết không dễ như tao nghĩ. Trong tình
    trạng nguy hiểm này tao lại muốn sống hơn bao giờ hết.
    Này Sinuhe, mày cứ yên trí, thằng Horemheb này đã thề sẽ
    bảo vệ cho mày thì nó sẽ làm tròn điều đó.
    Tôi im lặng, đầu óc quay cuồng với bao ý nghĩ nhưng
    sau cùng tôi cũng lên tiếng:
    - Này Horemheb, chúng ta đã thề sống chết có nhau thì
    dù việc xảy ra thế nào, tao cũng không trách mày. Tao sẽ
    tận tâm giúp mày như mày đã lo cho tao vậy.
    Horemheb có vẻ cảm động lắm. Hắn im lặng một lúc rồi
    nói nhỏ:
    - Mày nên ngủ một chút đi, trời sắp sáng rồi.
    Tôi chợp mắt được một lúc thì Horemheb đánh thức tôi
    dậy:
    - Chúng cần lên đường ngay. Trời đã sáng rồi.
    Chúng tôi rời hốc đá đi dọc theo hẻm núi. Mặt trời vừa
    nhô cao, tỏa ra muôn ngàn tia sáng chói lọi khiến tôi cảm
    thấy choáng váng, hoa cả mắt. Đi được một quãng, bỗng
    Horemheb giật mình chỉ về phía trước:
    - Sinuhe, nhìn kìa!
    Trên tảng đá lớn gần đó, một người trong chiếc áo khoác
    trắng đang xếp bằng ngồi yên quay mặt về phía mặt trời
    mọc. Horemheb ngạc nhiên:
    - Tại sao giữa sa mạc đầy thú dữ lại có kẻ dám đến đây?
    Chúng tôi rảo bước về phía người kia nhưng y vẫn ngồi
    yên bất động. Dường như y không để ý đến chúng tôi mà
    chỉ tập trung vào vầng thái dương trước mặt.
    Khi đến cách người đó khoảng mấy thước thì tôi giật
    mình. Hình như người này có một cái gì quen thuộc lắm! Bất
    chợt tôi nổi gai ốc khắp mình vì nhận ra người đang ngồi kia
    chính là kẻ đã chui vào nằm chết trong cỗ quan tài ở đền
    cấm Abydos. Tôi không thể quên khuôn mặt dài như mặt
    ngựa và đôi lông mày rậm rạp đó được. Nhưng tại sao lại
    như thế vì rõ ràng hắn đã chết kia mà? Chính tay tôi đã bắt
    mạch và thấy tim hắn đã ngưng đập từ lâu.
    Horemheb bước đến trước mặt người kia:
    - Này, ông bạn làm gì ở đây thế?
    Người thanh niên vẫn ngồi yên lặng, hai mắt mở lớn như
    đang tập trung tinh thần vào một cái gì. Tôi định lên tiếng
    thì một tiếng gầm dữ dội vang lên. Con sư tử đã đánh hơi
    chúng tôi và tìm đến. Horemheb vội vã nói:
    - Mày và thằng kia chạy đi, để tao cản đường cho.
    Nhưng không kịp nữa rồi! Con sư tử đã xông đến trước
    mặt chúng tôi, vừa đi vừa gầm gừ rất dữ dội. Horemheb im
    lặng ghì chặt cây giáo trong tay. Thời gian dường như ngưng
    lại. Tôi luống cuống muốn chạy nhưng vì qua sợ hãi nên
    không sao nhấc chân được.
    Con sư tử chăm chú nhìn chúng tôi rồi bất chợt phóng
    mình lao thẳng vào tôi. Horemheb chỉ chờ có thế, hắn
    nghiêng người vung tay phóng thẳng ngọn giáo vào ngực
    con thú. Con sư tử bị lưỡi giáo xuyên trúng ngực nhưng sức
    phóng của nó quá mạnh nên nó vẫn vồ trúng tôi. Tôi ngã
    ngửa, đè cả lên mình gã thanh niên đang ngồi kia. Mặc dù
    bị trọng thương, nhưng con sư tử vẫn còn sức, nó há miệng
    cắn mạnh vào tay tôi. Horemheb quát lớn rồi nhảy lên nắm
    chặt lấy bờm con sư tử, tay kia hắn rút dao liên tiếp đâm
    vào cổ họng con thú. Máu con vật phun ra có vòi. Nó giẫy
    giụa một lúc rồi nằm im không cử động nữa.
    Tôi lồm cồm ngồi dậy, khắp mình bị máu sư tử phun ướt
    đẫm. Tôi quay qua định đỡ gã thanh niên kia dậy nhưng
    thấy gã vẫn nằm yên, miệng sùi bọt, lưỡi thè ra và chân tay
    thì co quắp lại. Horemheb ngạc nhiên kêu lớn:
    - Nó cũng bị sư tử vồ trúng hay sao?
    Tôi hoảng hốt lắc đầu:
    - Không. Có lẽ là tao ngã đè lên người nó nhưng… tại
    sao lại thế này?
    Horemheb và tôi cúi xuống xem xét. Chỉ một thoáng
    giây, tôi biết ngay lý do:
    - Có lẽ vì kinh hãi nên hắn lên cơn động kinh, chân tay
    co quắp, miệng sùi bọt ra như vậy. Horemheb, mày xé cho
    tao một miếng vải để tao đút vào miệng hắn, nếu để hắn
    cắn trúng lưỡi thì phiền lắm.
    Là y sĩ nên tôi quen thuộc với những trường hợp khẩn
    cấp như thế này. Tôi cắm cúi săn sóc cho gã thanh niên cho
    đến khi nghe Horemheb kêu lớn mới ngẩng đầu nhìn lên.
    Một đoàn quân võ trang ở đâu kéo đến, cầm đầu là một sĩ
    quan lớn tuổi, khuôn mặt khắc khổ đầy những nét nhăn.
    Ông ta quát lớn:
    - Hãy bắt những tên phản loạn kia!
    Horemheb giật mình phản đối:
    - Cái gì vậy? Chúng tôi đã làm gì?
    Hắn chưa dứt lời đã bị toán lính xông đến đè nghiến
    xuống đất, trói chặt tay chân lại. Tôi vừa đứng lên thì cũng
    bị chung số phận. Tôi vùng vẫy kêu lớn nhưng bị đập một
    gậy lên đầu khiến tôi bất tỉnh.
    ° ° °
    Tôi không biết mình ngất đi bao lâu nhưng khi tỉnh dậy,
    tôi thấy chân tay bị trói chặt, không sao cử động được.
    Quanh chỗ tôi nằm cũng có hàng chục người bị trói chặt
    như vậy, mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Tôi nghe văng
    vẳng tiếng gào thét của những người bị tra tấn cùng tiếng
    gầm rú ghê rợn của những con sư tử đói. Đầu óc tôi trở nên
    hoang mang. Tôi cố ôn lại chuyện xảy ra nhưng có lẽ vì bị
    đập mạnh vào đầu nên tôi thấy choáng váng, không nhớ
    được gì rõ rệt.
    Tôi nằm được khoảng nửa ngày thì một toán lính ở đâu
    bước vào lôi chúng tôi dậy, xiềng bằng những sợi xích rất
    nặng rồi áp tải chúng tôi đi theo những con đường hầm
    ngoằn ngoèo, sâu hun hút, mùi tanh tưởi bốc lên khắp nơi.
    Một tù nhân vừa lên tiếng đã bị người cai ngục đập cho một
    gậy ngã nhào. Horemheb đi sát bên cạnh tôi như để che chở
    và ra hiệu cho tôi đừng nói gì.
    Sau một lúc loanh quanh trong đường hầm, chúng tôi
    được đưa vào một căn phòng lớn có rất nhiều binh sĩ võ
    trang cẩn thận. Đám tù nhân được lệnh phải quỳ cả xuống
    đất trước mặt một sĩ quan trông rất oai vệ. Dưới ánh đuốc
    chập chờn, tôi nhận ra đó là người chỉ huy già có khuôn mặt
    khắc khổ hôm trước. Ông ta lên tiếng:
    - Chúng ta có đầy đủ bằng chứng về âm mưu phản
    nghịch của các ngươi và chiếu theo luật pháp, tội phản
    nghịch phải xử tử hình…
    Ông quay qua nhìn một tù nhân đang quì dưới đất, gằn
    giọng:
    - Hoàng thân Kira, ông đâu có ngờ có ngày hôm nay
    phải không?
    Người kia tức giận, ngửng mặt lên nói như quát:
    - Smenkere, tên phản phúc! Thần Seth sẽ giết mày!
    Vừa nghe đến tên Smenkere tôi đã giật mình. Phải
    chăng đây là người mà cha mẹ tôi vẫn thường nhắc đến?
    Smenkere cười ha hả:
    - Này Kira, ngươi mới là kẻ phản bội. Từ trước đến nay
    triều đình vẫn đối đãi với ngươi tử tế, sao ngươi dám làm
    phản? Hoàng đế Pharaoh chết chưa lạnh mồ mà ngươi đã
    âm mưu soán nghịch. Tội rành rành ra đó mà ngươi dám cãi
    sao?
    Hoàng thân Kira gầm lên:
    - Hoàng tử Amenophis mất tích đã cả năm và thái hậu
    Taiya là đàn bà, không thể cầm quyền nhiếp chính được
    nên… nên…
    Smenkere cười nhạt:
    - Bởi thế nên người mới đòi làm Pharaoh chứ gì?
    Hoàng thân Kira tức giận:
    - Ai Cập không thể thiếu người lãnh đạo được. Hoàng đế
    Pharaoh qua đời, hoàng tử Amenophis mất tích. Ta là em
    ruột hoàng đế, dĩ nhiên ngôi vị Pharaoh phải thuộc về ta.
    Smenkere, mày không làm Pharaoh được. Lẽ ra ta phải giết
    mày từ lâu… Đồ phản nghịch!
    Smenkere cười lớn:
    - Ngươi lầm rồi! Smenkere này đâu dám đòi làm
    Pharaoh.
    Hoàng thân Kira ngạc nhiên:
    - Nhưng… nhưng thái hậu Taiya cũng không thể làm
    Pharaoh được. Chúng ta không thể để lịch sử tái diễn việc
    Pharaoh Hatshepshut…
    Smenkere bật cười:
    - Ai bảo ngươi là thái hậu Taiya muốn làm Pharaoh?
    Hoàng thân Kira sửng sốt:
    - Vậy chứ còn ai vào đây nữa?
    Smenkere gằn giọng:
    - Còn ai xứng đáng với ngôi vị Pharaoh hơn hoàng tử
    Amenophis?
    Hoàng thân Kira giật mình, lắp bắp:
    - Mày nói gì? Hoàng tử… hoàng tử Amenophis đã mất
    tích cả năm nay rồi. Không lẽ… không lẽ…
    Smenkere đắc chí:
    - Đúng thế. Ta đã tìm ra hoàng tử Amenophis và suy tôn
    ngài lên địa vị Pharaoh. Lễ đăng quang đã được cử hành
    sáng hôm nay rồi. Này Kira, tội soán nghịch như ngươi phải
    quăng vào hầm sư tử đói mới đúng…
    Smenkere đang hứng chí thì một người lính hấp tấp chạy
    vào báo cáo:
    - Thưa ngài, hoàng đế Pharaoh muốn gặp hoàng thân
    Kira.
    Smenkere biến sắc. Khuôn mặt nhăn nheo của hắn co
    rúm lại như vừa gặp một chuyện gì ghê gớm lắm. Hắn chưa
    kịp nói gì thì một toán lính võ trang ở đâu đã xông vào,
    đứng dàn ra hai bên để chừa lối đi cho một người mặc quần
    áo trắng, khoan thai chậm rãi bước vào. Người này không
    phải ai xa lạ mà chính là gã thanh niên có khuôn mặt dài và
    đôi lông mày rậm, kẻ đã mắc chứng động kinh trong sa
    mạc.
    Smenkere và toán lính vội quì cả xuống. Người thanh
    niên thong thả nói:
    - Này Smenkere, ông đang nói chuyện gì với hoàng thân
    Kira vậy?
    Hoàng thân Kira kêu lớn:
    - Cháu Amenophis đấy ư? Ta tưởng cháu bị mất tích…
    Smenkere quát lớn:
    - Tên phản loạn kia! Ngươi không được hỗn! Đây là
    hoàng đế Pharaoh, vị lãnh đạo tối cao của Ai Cập, người đã
    được các thần linh lựa chọn…
    Người thanh niên gạt đi:
    - Này Smenkere, đây không phải là chốn triều đình. Hơn
    nữa, lúc này ta không đến đây với tư cách Pharaoh mà chỉ
    là của một người cháu đến hỏi thăm chú ta, hoàng thân Kira
    mà thôi.
    Smenkere nghiêm giọng nhắc khẽ:
    - Ngài đã lên ngôi Pharaoh rồi. Một Pharaoh lúc nào cũng
    là Pharaoh, lúc nào cũng là thần linh tối cao, lãnh đạo và cai
    quản Ai Cập…
    Người thanh niên mỉm cười, từ tốn nói:
    - Ngươi không phải nói nhiều, ta biết việc đó. Quân sĩ,
    hãy mau cởi trói cho những người này, ta muốn nói chuyện
    với họ.
    Trước cặp mắt khó chịu của Smenkere, nhóm quân sĩ vội
    vã bước đến cởi trói cho mọi người kể cả tôi và Horemheb.
    Hoàng đế Pharaoh bước đến cạnh hoàng thân Kira, nói bằng
    giọng từ tốn, nhẹ nhàng:
    - Tuy chú đã làm đổ máu nhiều người vô tội nhưng đó
    cũng là do hoàn cảnh mà thôi. Lúc cha cháu qua đời, cháu
    không có mặt tại triều. Một nước không thể thiếu người lãnh
    đạo được nên cháu chắc chú cũng vì bất đắc dĩ mà phải làm
    thế. Cháu tin rằng đã có những sự hiểu lầm…
    Hoàng thân Kira ấp úng không nói nên lời. Hoàng đế
    Pharaoh thong thả nói tiếp:
    - Tuy nhiên khi cha cháu vừa qua đời, chú đã cho người
    vào cung ám sát mẹ cháu và em Baketamon. Chuyện này
    chắc phải có những dự tính, âm mưu từ trước. Vậy chú nghĩ
    như thế nào?
    Hoàng thân Kira nghẹn họng không biết nói gì. Hoàng đế
    Pharaoh vẫn nhẹ nhàng nói tiếp:
    - Nếu đã có âm mưu từ trước thì có lẽ cũng do sự thiếu
    suy xét mà thôi. Luật pháp Ai Cập đã ghi rõ tội phản nghịch
    phải tử hình nhưng máu đã chảy nhiều rồi, và cháu không
    muốn thấy máu chảy nữa.
    Smenkere vội kêu lớn:
    - Xin Hoàng đế hãy xét lại, luật pháp là do các vua
    Pharaoh đời trước đặt ra…
    Hoàng đế Pharaoh quay qua nhìn Smenkere, nói một
    cách oai vệ:
    - Ta biết điều này nhưng phải chăng ta cũng là Pharaoh?
    Phải chăng chỉ có Pharaoh mới có thể sửa đổi được luật
    pháp của các Pharaoh khác? Các ngươi hãy nghe lệnh của ta
    đây: "Hoàng thân Kira sẽ được đưa đến tu viện Karnak, tại
    đây ông sẽ làm tu sĩ cho đến ngày cuối cuộc đời, để ăn năn
    về tội lỗi của mình. Tên tuổi của ông sẽ bị xóa bỏ vĩnh viễn
    trên mọi bia đá, lăng tẩm, đền đài và các thạch trụ. Dòng
    họ Amenophis của chúng ta không có những người phản
    nghịch như vậy."
    Hoàng đế Pharaoh vừa nói vừa đưa tay lên, trong tay
    ông cầm cái vương ấn bằng vàng chói lọi. Toàn thể quân sĩ
    vội quì mọp xuống, một người thư ký (Scribe) vội vã cắm
    cúi ghi chép lệnh này lên tấm bảng đá. Truyền thống Ai Cập
    vẫn cho ghi chép lại mọi mệnh lệnh của Pharaoh lên bia đá
    như vậy.
    Hoàng thân Kira run rẩy định nói gì nhưng hoàng đế
    Pharaoh đã phất tay ra lệnh, hai người lính vội vã dìu ông
    nầy ra cửa ngay. Smenkere im lặng nhưng khuôn mặt đầy
    vết nhăn của hắn trở nên nhăn nhúm hơn trước.
    Hoàng đế Pharaoh quay qua những người khác, truyền
    lệnh:
    - Các ngươi đều là tướng sĩ của triều đình nhưng đã theo
    hoàng thân Kira làm phản, gây đổ máu cho quân sĩ và dân
    lành vô tội. Đáng lẽ các ngươi đều phải bị tử hình nhưng ta
    quyết định tha tội chết, chỉ bắt các ngươi trở thành nô lệ,
    đầy đi các công trường xây cất lăng tẩm, đền đài để chuộc
    tội.
    Hoàng đế phất tay, những người này đều bị áp tải đi ra
    bên ngoài nhưng Smenkere đã giơ tay chỉ hai đứa chúng
    tôi:
    - Khoan đã! Hai thằng này đã phạm tội đụng chạm vào
    thân thể của hoàng đế Pharaoh, tội này phải bị xử tử.
    Horemheb vội vã lên tiếng:
    - Xin Hoàng đế hãy nghe tôi nói. Lúc đó chúng tôi không
    biết ngài là Pharaoh và trong tình trạng đó, chính chúng tôi
    đã cứu ngài khỏi nanh vuốt sư tử…
    - Nanh vuốt sư tử ư? Này Smenkere, chuyện này thế
    nào?
    Smenkere ngần ngại một lúc rồi nói:
    - Quả có xác một con sư tử gần đó nhưng…
    Horemheb lên tiếng:
    - Ngài đang ngồi trên một tảng đá lớn và bị một con sư
    tử tấn công, chính chúng tôi đã phải tranh đấu với thú dữ để
    cứu mạng ngài. Sau đó ngài bị…
    Smenkere quát lớn:
    - Câm miệng! Không ai được nói về tình trạng của…
    Hoàng đế Pharaoh gật đầu như đã hiểu:
    - Thì ra thế! Quan ngự y đã nói rõ về tình trạng của ta
    và nếu không có sự chữa trị cấp thời thì chắc ta đã qua đời
    rồi.
    Sắc mặt của Smenkere trở nên nhợt nhạt, hình như hắn
    muốn nói gì nhưng lại ngập ngừng không lên tiếng. Hoàng
    đế Pharaoh mỉm cười:
    - Quan ngự y tỏ ra khen ngợi tài chữa bệnh của các
    ngươi. Phải chăng các ngươi cũng là y sĩ?
    Horemheb mau mắn trả lời:
    - Thưa hoàng đế, Sinuhe là y sĩ giỏi nhất thành Thebes.
    Hắn đã tốt nghiệp thủ khoa tại Abydos…
    Khuôn mặt của hoàng đế Pharaoh bỗng trở nên rạng rỡ,
    ông mỉm cười:
    - Trường khoa học tại Abydos ư? Hay lắm, hay lắm…
    Horemheb tiếp tục:
    - Hắn là con của Sen Moot, cha hắn cũng là một y sĩ giải
    phẫu nổi tiếng tại Thebes.
    Khi tên của cha tôi vừa được nhắc đến, Smenkere bỗng
    giật nẩy mình. Cặp mắt hắn trợn lên, nửa ngạc nhiên nửa
    tức giận. Toàn thân hắn run bắn lên khiến hắn phải nắm
    chặt hai tay vào nhau để giữ bình tĩnh. Tự nhiên tôi cảm
    thấy thương hại người sĩ quan đã yêu say đắm mẹ tôi khi
    xưa. Dường như có một động năng nào không rõ thúc giục,
    tôi bèn lên tiếng cải chính:
    - Kính thưa hoàng đế, thật ra kẻ này không phải là con
    ruột của y sĩ Sen Moot mà chỉ là một đứa bé vô thừa nhận…
    Tôi kể lại chuyện cha mẹ tôi đã vớt tôi từ dưới sông như
    thế nào nhưng dĩ nhiên giữ ý, không nói gì về mối tình tuyệt
    vọng của Smenkere cả. Hoàng đế Pharaoh nhìn tôi thích
    thú:
    - Hay lắm! Câu chuyện ngươi kể rất hấp dẫn. Ngày mai
    ngươi hãy vào trong cung để kể chuyện này cho Nefertiti, ta
    chắc nàng sẽ thích lắm. Ngoài ra ta cũng muốn thưởng công
    cho ngươi một cách xứng đáng.
    Tôi vội vã cúi đầu thưa:
    - Xin cám ơn hoàng đế đã có lòng nghĩ đến, nhưng kẻ
    này đã phát nguyện sống thanh bần, tuyệt sở hữu để phụng
    sự những người nghèo khó.
    Hoàng đế Pharaoh tỏ ra ngạc nhiên:
    - Ngươi không muốn nhận phần thưởng hay một đặc ân
    gì sao?
    Tôi chỉ vào Horemheb:
    - Kính thưa hoàng đế, kẻ này không dám xin đặc ân gì
    nhưng người bạn này, người đã giết sư tử để cứu mạng
    hoàng đế, vẫn mong được làm lính ngự lâm. Xin ngài thu
    dụng hắn.
    Hoàng đế Pharaoh quay qua nhìn Horemheb rồi gật đầu:
    - Phải lắm. Ngươi cũng có công cứu mạng ta. Một kẻ
    dám đương đầu với sư tử thì cũng không phải là tay tầm
    thường. Ta sắc phong cho ngươi làm sĩ quan chỉ huy đội ngự
    lâm trong nội cung của ta.
    Đây quả là một đặc ân lớn lao, vượt ngoài sự mong ước
    của Horemheb. Hắn vội vã quì mọp xuống đất:
    - Xin cám ơn hoàng đế. Horemheb này nguyện đem sinh
    mạng mình để bảo vệ cho ngài. Dù phải vào sinh ra tử, kẻ
    này quyết trung thành với ngài mãi mãi.
    Hoàng đế Pharaoh quay qua nhìn Smenkere:
    - Này Smenkere, công lao của ông không nhỏ. Ngày mai
    thiết triều ta sẽ thưởng công cho ông xứng đáng.
    Smenkere im lặng quì xuống cám ơn nhưng nét mặt của
    hắn vẫn lạnh lùng, không cảm xúc. Hoàng đế Pharaoh gật
    đầu có vẻ hài lòng rồi thong thả bước ra ngoài, đám quân sĩ
    hộ tống vội bước theo.
    Smenkere chỉ vào Horemheb, nói với một người lính
    hầu:
    - Ngươi hãy đưa người này vào cung nhận chức theo
    lệnh Hoàng đế. Ta muốn nói chuyện riêng với Sinuhe.
    Horemheb vỗ nhẹ lên vai tôi ngỏ ý cảm kích:
    - Mày cứ yên chí, ngày mai tao sẽ gặp mày trong cung.
    Sau khi Horemheb và nhóm quân sĩ rời căn phòng,
    Smenkere nhìn tôi chằm chặp rồi ra hiệu cho tôi ngồi xuống
    ghế:
    - Thì ra ngươi không phải là con ruột của Sen Moot?
    Nhưng ngươi có biết ta là ai không?
    - Tôi có nghe cha mẹ tôi nói về ông.
    Smenkere ngạc nhiên:
    - Cha mẹ ngươi đã nói gì về ta?
    - Tôi biết ông ngày trước là sĩ quan chỉ huy quân đội cho
    ông ngoại tôi. Ông vẫn nuôi mộng làm rể gia đình Oka
    nhưng chuyện không thành…
    Smenkere lạnh lùng:
    - Nếu ngươi biết vậy, tại sao lúc nãy lại không kể chuyện
    này?
    - Cha tôi thường nói: "Chuyện đã qua hãy để nó chìm
    vào quá khứ thì hơn. Nếu không ích lợi thì chẳng nên nói
    ra". Thật ra cha mẹ tôi đều là những người lý tưởng và họ
    chỉ mong được sống trọn vẹn với lý tưởng cao đẹp đó mà
    thôi…
    Tôi thành thật kể lại lời phát nguyện sống trong sạch
    của cha mẹ tôi và những sự việc phức tạp xảy ra sau đó.
    Smenkere im lặng nghe, tuy khuôn mặt của hắn vẫn nhăn
    nhó nhưng ánh mắt đã bớt hung hãn và dần dần trở nên mơ
    màng như hồi tưởng những kỷ niệm quá khứ. Hắn im lặng
    một lúc rất lâu rồi thở dài:
    - Ta không ngờ sự việc lại xảy ra như vậy. Cám ơn ngươi
    đã cho ta biết những chi tiết mà ta không hề hay biết. Ta
    cũng cám ơn ngươi đã có ý, không nhắc gì đến chuyện quá
    khứ của ta. Sen Moot nói đúng, việc đã qua hãy để nó chìm
    vào quá khứ thì hơn. Ngươi hãy về nói với cha mẹ ngươi
    rằng từ nay Smenkere này sẽ không bao giờ làm phiền
    những người có lý tưởng thanh cao như vậy nữa.
    Smenkere im lặng một lúc rồi thân mật hỏi:
    - Ngươi có công cứu mạng Pharaoh thì cũng nên xin một
    chức vụ trong triều.
    - Không đâu. Tôi đã phát nguyện theo gót cha tôi phục
    vụ những người nghèo khó và sống thanh bần, tuyệt sở
    hữu. Tôi không nhận chức vụ gì đâu.
    - Thế còn Horemheb, bạn của ngươi, thì sao?
    - Horemheb vẫn nuôi mộng làm quân nhân nhưng tôi chỉ
    mong làm y sĩ sống với lý tưởng phụng sự mà cha mẹ tôi đã
    đề xướng. Tôi sẽ trở về Thebes tiếp tục công việc của cha
    tôi.
    Smenkere im lặng quan sát tôi một lúc rồi gật đầu, nói
    một cách thong thả:
    - Hay lắm! Ta mong ngươi có thể sống trọn vẹn với cái lý
    tưởng cao đẹp ấy như cha mẹ của ngươi vậy. Này Sinuhe,
    con đường danh lợi mà chúng ta đang theo đuổi có những
    khó khăn trở ngại của nó, nhưng con đường tinh thần mà
    ngươi muốn theo đuổi còn khó khăn hơn gấp bội. Ngươi còn
    trẻ, nhiều nhiệt huyết và lý tưởng nhưng ngươi cần biết
    rằng con đường mà ngươi muốn đi thật không dễ dàng chút
    nào đâu. Ngươi hãy suy nghĩ cho kỹ trước khi chọn lựa và
    khi đã quyết định một con đường nào thì hãy đi cho đến
    cùng. Đừng để xao lãng. Một ngày nào đó ngươi sẽ hiểu
    điều ta nói.
    CHƯƠNG 4
    Horemheb đứng chờ tôi trước cửa cung điện trong bộ
    quân phục oai nghiêm. Hắn tươi cười vỗ mạnh lên vai tôi:
    - Này Sinuhe, có bao giờ mày nghĩ tao sẽ trở nên một sĩ
    quan chỉ huy Ngự lâm quân cho hoàng đế Pharaoh như thế
    này không?
    Tôi vui mừng nắm chặt tay bạn:
    - Tao mừng cho mày đã đạt được điều mong ước.
    - Hôm nay hoàng đế Pharaoh thiết triều, các quan khắp
    nơi kéo về chúc mừng và tao đã cho quân sĩ đề phòng cẩn
    thận.
    - Tại sao lại như thế?
    Horemheb nghiêm mặt:
    - "Khi Pharaoh đời trước lâm chung, thái tử vắng mặt,
    triều đình rối loạn vì không người thừa kế. Các quan chia
    phe nhóm tranh giành quyền lực nên tang lễ hoàng đế phải
    cử hành gấp rút. Vì thiếu chuẩn bị nên kế hoạch chôn sống
    nô lệ bị tiết lộ khiến nhóm phu xây mộ và nô lệ nổi loạn.
    Hoàng thân Kira lợi dụng tình trạng này, kéo quân vào
    Memphis, lấy cớ dẹp loạn để tự xưng là Pharaoh.
    Trong mấy tuần qua đã có nhiều cuộc giao tranh dữ dội
    giữa nhóm Ngự lâm quân và nhóm phản loạn này. Hoàng
    thân Kira âm mưu chia quyền với hoàng thân Oka nhưng
    ông này tương kế tựu kế, cho tướng Smenkere mang quân
    về thủ đô, giả vờ theo phe Kira rồi nhân cơ hội bắt trọn
    nhóm phản loạn. Tướng Smenkere điều tra và biết thái tử
    đang ẩn tu trong sa mạc nên rước ngài về lên ngôi Pharaoh.
    Mặc dù tình hình bên ngoài có vẻ ổn định nhưng bên trong
    vẫn còn nhiều rắc rối lắm…"
    - Tại sao mày biết nhiều vậy?
    Horemheb hãnh diện trả lời:
    - Ngay sau khi được phong chỉ huy Ngự lâm quân, tao
    đã được tường trình đầy đủ về tình hình an ninh trong nước.
    Suốt đêm qua tao đã bí mật điều động binh sĩ bổ sung vào
    những chỗ trọng yếu.
    - Mày giỏi quá! Tao thật không ngờ.
    Horemheb vỗ mạnh vào vai tôi:
    - Này Sinuhe, có lẽ vận may của tao đã đến và tao
    không bỏ lỡ cơ hội ngàn năm một thuở này đâu.
    Tôi chăm chú nhìn người bạn mà tôi quen biết từ thuở
    nhỏ. Trong bộ quân phục, Horemheb trông hùng dũng, oai
    nghiêm khác hẳn khi xưa. Toàn thân hắn dường như toát ra
    một sức mạnh, một niềm tự tin mãnh liệt mà trước đó tôi
    không nhận thấy. Horemheb đưa tôi vào một căn phòng rất
    lớn, trần thiết nguy nga tráng lệ. Trong phòng, từng nhóm
    quan lại đang tụ tập thì thầm bàn tán nhưng mặt người nào
    cũng lộ rõ vẻ lo âu. Nhiều toán quân sĩ đi qua đi lại, gươm
    giáo sáng ngời, canh phòng cẩn thận. Một hồi chuông trống
    vang lên, hai hàng quân sĩ hùng dũng bước vào cung điện,
    đi đầu là tướng Smenkere trong bộ quân phục oai nghiêm,
    bên ngoài khoác chiếc áo choàng may bằng da báo.
    Ông đến trước ngai vàng, hô lớn:
    - Xin các thần linh phù hộ cho Pharaoh. Xin mời hoàng
    đế giáng lâm.
    Một hồi chuông trống vang lên, các quan vội vã quì mọp
    xuống đất. Hoàng đế Pharaoh ở trong bước ra, phong thái
    ung dung chậm rãi. Bên cạnh ông là hoàng hậu Nefertiti và
    sau đó là các hoàng phi, công chúa. Mỗi người đều tiến
    thẳng vào các vị trí nhất định và an tọa.
    Smenkere hô lớn:
    - Kính chúc hoàng đế Pharaoh, vị thần lãnh đạo dân Ai
    Cập, an khang vạn tuế.
    Các quan cùng hô lớn những lời chúc mừng. Hoàng đế
    Pharaoh mỉm cười:
    - Các ngươi hãy bình thân và đứng dậy.
    Smenkere lật đật can thiệp:
    - Trước mặt Pharaoh, vị thần linh lãnh đạo Ai Cập, mọi
    người đều phải quỳ để tỏ lòng kính phục…
    Hoàng đế Pharaoh lên tiếng:
    - Ta biết đó là phong tục từ ngàn xưa nhưng ta không
    thích trông thấy mọi người phải quì như thế. Kể từ nay vào
    triều, các ngươi hãy đứng…
    Mỗi mệnh lệnh của Pharaoh đều là luật pháp của quốc
    gia nên người thư ký triều đình đã vội quì xuống nghi chép.
    Các quan ngập ngừng đứng lên nhưng người nào cũng ngơ
    ngác, vừa ngạc nhiên, vừa sợ hãi. Đây là buổi thiết triều
    đầu tiên của một vị hoàng đế, lên ngôi chưa đầy một ngày,
    nhưng đã ban hành ngay một mệnh lệnh khác với truyền
    thống. Trong hoàn cảnh xáo trộn bất an hiện nay, không ai
    biết ông vua này sẽ còn ban hành những lệnh gì nữa đây.
    Hoàng đế Pharaoh phất tay ra hiệu cho Smenkere:
    - Này Smenkere, ông hãy bắt đầu tường trình tình hình
    trong nước đi.
    Smenkere lạnh lùng bước ra, tay cầm một cuộn giấy chỉ
    thảo giơ lên cao:
    - Đây là danh sách và hồ sơ những quan lại trong triều
    đã tư thông với hoàng thân Kira làm phản. Hạ thần đã điều
    tra kỹ lưỡng và có đầy đủ bằng chứng qua những văn kiện,
    thư từ liên lạc giữa các quan và phe nhóm phản loạn. Luật
    pháp từ ngàn xưa đã ghi rõ: Tội phản loạn phải xử tử hình.
    Kính xin hoàng đế ban chỉ thị để hạ thần thi hành pháp luật.
    Horemheb ghé tai tôi nói nhỏ:
    - Phải lắm! Nếu lúc này không thẳng tay tiêu diệt đám
    phản thần thì còn đợi đến lúc nào? Tao chắc trong đám
    quan triều kia, nhiều đứa đang run rẩy vì sợ hãi.
    Hoàng đế Pharaoh dõng dạc lên tiếng:
    - Khi thân phụ ta qua đời, ta không có mặt trong triều.
    Một quốc gia không thể thiếu người lãnh đạo, dù chỉ một
    ngày, nên việc các ngươi ủng hộ hoàng thân Kira cũng là
    điều dễ hiểu. Hiện nay tình hình Ai Cập chưa được yên ổn, ở
    phía bắc thì nước Hitites đang đe dọa vùng biên giới; ở phía
    nam thì xứ Nubia cũng đang chuẩn bị chiến tranh. Đây
    không phải là lúc người Ai Cập chúng ta có thể chia rẽ được.
    Ta sẵn sàng bỏ qua mọi việc cũ và mong từ nay các quan
    triều hãy vì Ai Cập, hãy vì ích lợi chung của toàn dân, đoàn
    kết lại để chống ngoại xâm. Này Smenkere, ngươi hãy đốt
    ngay cuốn giấy chỉ thảo đó đi, ta không muốn xem nó…
    Smenkere ngạc nhiên sững người, khuôn mặt vốn nhăn
    nhó của y lại càng nhăn nhó hơn. Y run rẩy nói:
    - Kính xin hoàng đế hãy xét lại, pháp luật đã ghi rõ…
    Hoàng đế Pharaoh giơ cao chiếc vương ấn lên:
    - Đây là lệnh của ta. Quân bay đâu! Hãy đốt ngay cuốn
    giấy kia đi cho ta.
    Một người lính cầm bó đuốc bước đến. Smenkere run tay
    châm lửa đốt. Cuốn giấy chỉ thảo bắt lửa cháy bùng lên.
    Toàn thể các quan trong triều đều nín thở, vài người thở ra
    nhẹ nhõm.
    Horemheb lắc đầu nói nhỏ vào tai tôi:
    - Hỏng rồi! Thế là hoàng đế nuôi ong tay áo mất rồi?
    Từ trước đến nay tôi vẫn phục sự nhận xét của
    Horemheb nhưng không hiểu sao lần này tôi lại không đồng
    ý với hắn. Tôi thán phục hành động cao cả phi thường, vì
    quyền lợi chung mà quên việc riêng của vị hoàng đế còn trẻ
    kia. Cử chỉ trầm tĩnh, bình thản và phong thái oai nghiêm
    của ngài đã chinh phục được tôi.
    Smenkere đứng sững nhìn cuộn giấy đang cháy thành
    tro, rơi lả tả dưới đất. Bàn tay y run lên khiến y phải nắm
    chặt hai tay vào nhau để giữ bình tĩnh.
    Hoàng đế Pharaoh nhìn suốt đám triều thần rồi thong
    thả tuyên bố:
    - "Chuyện đã qua, cấm không ai được nhắc đến nữa. Từ
    nay các ngươi phải đoàn kết, nhất tâm thi hành bổn phận
    đã được đặt ra.
    Này Smenkere, công lao dẹp loạn của ông không nhỏ.
    Hôm nay ta sắc phong cho ông làm tể tướng, chỉ huy tất cả
    các quan trong triều. Ta cho phép ông được đổi họ, được coi
    là người thuộc dòng họ Amenophis. Ngoài ra, ta còn ban
    cho ông tất cả đất đai, tài sản của hoàng thân Kira nữa. Từ
    nay ông sẽ là hoàng thân Aya Smenkere Amenophis."
    Đây quả là một đặc ân hết sức bất ngờ. Từ xưa đến nay,
    chức vị tể tướng chỉ dành riêng cho các hoàng thân quốc
    thích, những người hết sức thân tín cật ruột trong họ
    Amenophis mà thôi. Một người ngoài, dù công lớn đến đâu,
    cũng chỉ có thể hy vọng làm quan triều hay làm tướng trấn
    giữ một địa hạt nào đó. Việc nhận một người ngoài vào
    trong họ là điều chưa hề xảy ra. Một lần nữa, vị tân hoàng
    đế Pharaoh đã ban hành một lệnh mới khác hẳn truyền
    thống cổ xưa.
    Smenkere vội quì mọp xuống để nhận chức, tôi thấy rõ
    hai tay y run lẩy bẩy vì cảm động. Khi trước Smenkere chỉ
    mong lấy mẹ tôi để tạo sự liên hệ với hoàng tộc, có lẽ hắn
    đã ấp ủ giấc mộng trở thành một hoàng thân như thế này
    từ lâu. Không hiểu sao Smenkere quay lại nhìn tôi, hình như
    có một biến chuyển lạ lùng nào đó nên khuôn mặt nhăn nhó
    của hắn bỗng rạng rỡ một nụ cười.
    Hắn lên tiếng:
    - Kính thưa Pharaoh, một người khác cũng rất xứng
    đáng được hưởng ân huệ của ngài là y sĩ Sinuhe. Hạ thần
    xin được tiến cử Sinuhe làm chức Ngự y trong triều.
    Hoàng đế Pharaoh quay qua phía tôi:
    - Sinuhe hãy bước ra đây. Tể tướng Smenkere đã có
    lòng tiến cử, vậy ngươi nghĩ thế nào?
    Tôi bước ra quì mọp bên cạnh Smenkere và khẩn khoản:
    - Xin đội ơn Pharaoh, nhưng kẻ này đã phát nguyện
    sống thanh bần, tuyệt sở hữu để phụng sự những người
    nghèo khó. Xin ngài cho phép kẻ này được sống đúng với sở
    nguyện.
    Hoàng đế Pharaoh gật đầu:
    - Được lắm. Nếu ngươi muốn thế thì ta cũng chuẩn y
    nhưng ngươi có công cứu mạng ta thì phải được thưởng một
    cách xứng đáng. Ta biết ngươi đã phát nguyện sống thanh
    bần, tuyệt sở hữu nhưng ta vẫn có phần thưởng dành riêng
    cho ngươi.
    Hoàng đế đưa tay lên cổ rút ra một sợi dây nhỏ có đeo
    một miếng đá khắc những hàng chữ loằng ngoằng quanh
    một chiếc dĩa tròn. Thông thường một vị Pharaoh luôn luôn
    đeo đồ trang sức bằng vàng hay ngọc nhưng không hiểu sao
    ông vua này lại đeo một đồ vật tầm thường như vậy.
    Hoàng đế giơ cao sợi dây lên, nói:
    - Đây là vật mà chính ta đã làm lấy trong thời gian ẩn cư
    ngoài sa mạc. Tuy nó không có giá trị bao nhiêu nhưng ta
    đã đeo nó khá lâu, nay trao lại cho ngươi làm vật kỷ niệm.
    Ngươi hãy giữ gìn cẩn thận…
    Tôi vui vẻ nhận lấy tặng vật của Pharaoh rồi đeo lên cổ.
    Smenkere ra hiệu cho tôi trở về chỗ cũ rồi bắt đầu tường
    trình những việc xảy ra trong nước.
    Hoàng đế Pharaoh chăm chú lắng nghe rồi phán:
    - Này Smenkere, ta biết có nhiều việc cần phải giải
    quyết nhưng ta tin ông có thể thu xếp những việc đó cho ta.
    Hiện nay ta muốn ông cử một phái đoàn ngoại giao qua xứ
    Hitites và Nubia để nói với quốc vương hai xứ đó rằng ta
    không muốn có chiến tranh. Bằng mọi giá, ông hãy sử dụng
    tài khéo léo để tránh cho dân chúng nạn binh đao. Công
    việc hôm nay đủ rồi, ta truyền lệnh bãi triều.
    Tôi và Horemheb vừa bước ra khỏi cung điện thì một
    người nô lệ ở đâu bước đến nói nhỏ với tôi:
    - Hoàng đế Pharaoh truyền cho gọi ông vào nội cung nói
    chuyện riêng.
    Horemheb toan bước theo nhưng người nô lệ đã ngăn
    hắn lại.
    Horemheb nhăn mặt:
    - Nhưng ta là người chỉ huy Ngự lâm quân ở nội cung.
    - Chúng tôi có lệnh chỉ mời riêng Sinuhe mà thôi.
    Horemheb ngạc nhiên nhưng không nói gì. Hắn vỗ vai
    tôi:
    - Mày vào với hoàng đế đi, có gì tao sẽ gặp mày sau.
    Người nô lệ đưa tôi đến một căn phòng nhỏ, trần thiết
    giản dị, trên tường có treo một chiếc dĩa tròn màu vàng y
    như hình chiếc dĩa khắc trên miếng đá mà hoàng đế
    Pharaoh đã ban cho tôi. Tôi đang đứng nhìn thì hoàng đế
    Pharaoh bước vào:
    - Này Sinuhe, đó là biểu tượng của Anten đấy, đấng
    Chân lý Tuyệt đối duy nhất, điều khiển muôn loài.
    Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến danh từ "Chân lý
    Tuyệt đối". Truyền thống Ai Cập tin rằng trong thiên nhiên
    có rất nhiều thần linh khác nhau, mỗi vị có một trách nhiệm
    riêng như thần Amun-Re cai quản sự sống; thần Maat tượng
    trưng cho công lý hay cai quản pháp luật; thần Anubis trông
    coi sự chết, v.v… Pharaoh vừa là người vừa là thần, là trung
    gian giữa con người và thần linh, có nhiệm vụ cai quản Ai
    Cập. Danh từ "Chân lý Tuyệt đối" là một quan niệm lạ lùng
    mà tôi chưa từng nghe nói đến.
    Thấy tôi ngơ ngác, hoàng đế Pharaoh bật cười:
    - Ta biết ngươi chưa từng nghe nói đến Aten, điều này
    cũng dễ hiểu. Aten biểu hiệu qua chiếc dĩa tròn, tượng trưng
    cho Chân lý Tuyệt đối điều hành tất cả mọi vật.
    - Như vậy các thần linh thì sao?
    - Mỗi vị thần chỉ tiêu biểu một phần nhỏ của Chân Lý mà
    thôi. Một người hiểu biết không thể hài lòng với những giải
    thích hay lập luận của các tín ngưỡng thờ thần linh đó được.
    Có bao giờ ngươi tự hỏi rằng chúng ta từ đâu đến đây?
    Chúng ta đến đây làm gì? Rồi chúng ta sẽ đi về đâu? Phải
    chăng cuộc đời này là một sự ngẫu nhiên hay có một ý
    nghĩa cao cả hơn các truyền thống và các quan niệm thông
    thường? Này Sinuhe, ngươi là một y sĩ đã được giáo dục
    trong trường Khoa Học Của Sự Sống, vậy ngươi đã biết gì
    về sự sống?
    Tôi bối rối trước câu hỏi của Pharaoh. Là một người hay
    thắc mắc, tôi đã từng đặt nhiều câu hỏi với các giáo sĩ
    nhưng lần này tôi lại bị dồn vào thế bị động.
    Hoàng đế Pharaoh bật cười nói tiếp:
    - "Này Sinuhe, nếu ta hỏi các giáo sĩ thì mỗi người sẽ trả
    lời ta theo quan niệm riêng hay theo tín ngưỡng của họ. Có
    câu trả lời làm thỏa mãn lý trí ta nhưng lại không giải đáp
    được tâm tình ta. Có cách trả lời giải quyết được tâm tình
    nhưng lại không làm cho lý trí của ta chịu khuất phục. Tóm
    lại, giáo lý của các tín ngưỡng thờ thần linh kia đều bất toàn
    vì không thể làm ta hài lòng. Ta đã tìm hiểu, nghiên cứu
    trong nhiều năm và thấy rằng các tín ngưỡng thờ thần linh
    này vốn xuất phát từ các bộ lạc hoang dã cổ xưa, mỗi bộ lạc
    thờ một vị thần như thần sông, thần núi, thần cây, thần đất,
    v.v…
    Khi xưa, tổ tiên ta, các hoàng đế Pharaoh thống nhất
    những bộ lạc, đặt nền móng cai trị, tổ chức thành quốc gia
    thì họ đã có một tôn giáo xây dựng trên căn bản minh triết
    thiêng liêng. Chính nhờ căn bản của nền tôn giáo này mà họ
    đã đưa Ai Cập từ tình trạng man dã đến sự văn minh huy
    hoàng ngày nay. Chính nền tôn giáo này đã đào tạo nên các
    thế hệ học giả, giáo sĩ, khoa học gia, triết gia, … những
    người đã xây dựng nên nền văn hóa Ai Cập. Chính nền tôn
    giáo này đã đặt căn bản cho các kiến trúc hùng vĩ, những
    Kim Tự Tháp vĩ đại, những môn học như thiên văn, địa lý,
    toán học, những khoa học của sự sống cũng như sự chết.
    Tiếc thay, theo thời gian nền tôn giáo cao cả này đã bị
    suy thoái, thất truyền bởi các giáo sĩ lười biếng, thiếu kinh
    nghiệm tâm linh. Thêm vào đó, các hoàng đế Pharaoh đầy
    tham vọng cũng bị mê hoặc bởi các tín điều huyền hoặc của
    các tôn giáo thờ thần linh này nên dần dần nền tôn giáo cổ
    bị thất truyền.
    Ngày nay, tôn giáo Ai Cập đã trở thành một thứ tôn giáo
    đa thần với hàng trăm đền thờ, hàng ngàn thần linh khác
    nhau. Ta không thể chấp nhận thứ tôn giáo đa thần như
    vậy, do đó ta đã ra công nghiên cứu, tìm về mạch nguồn cổ
    xưa, và ý thức rõ rệt rằng vốn có một định luật cao cả điều
    khiển tất cả mọi vật trong trời đất…"
    - Làm sao ngài biết như vậy?
    - Để hiểu được sự thật này đòi hỏi một công phu nghiên
    cứu đặt nền tảng trên một sự hiểu biết đứng đắn, không
    dựa trên những lý thuyết mơ hồ, không dựa trên sự tin
    tưởng mà các giáo sĩ thường giảng dạy. Nó đòi hỏi một công
    phu tu tập và quan sát các sự kiện xảy ra trong thiên nhiên.
    Đó chính là lý do khiến ta ẩn cư trong sa mạc hoang vu với
    mục đích tìm hiểu cho ra những nguyên lý này.
    - Nhưng… nhưng hình như ngài cũng đã đến… trường
    Khoa Học Của Sự Sống…
    Hoàng đế Pharaoh ngạc nhiên nhìn tôi:
    - Làm sao ngươi biết ta đã từng thụ giáo tại trường Khoa
    Học Của Sự Sống?
    Tôi giật mình, biết mình đã lỡ lời. Hình ảnh người thanh
    niên nằm chết trong cỗ quan tài lại hiện ra trong trí tôi. Tôi
    phải giải thích thế nào đây? Làm sao một người đã chết lại
    có thể sống dậy và trở thành một Pharaoh được? Trong lúc
    tôi đang bối rối chưa biết phải nói gì thì may thay, người nô
    lệ hầu cận đã bước vào nói nhỏ vào tai hoàng đế Pharaoh.
    Ông gật đầu vui vẻ:
    - Hoàng hậu Nefertiti nghe ta nói về ngươi và nàng
    muốn nghe chính ngươi kể về thân thế của ngươi. Ta biết
    nàng rất thích những chuyện như vậy…
    Hoàng đế Amenophis thong thả dẫn tôi đi qua những
    dãy hành lang dài có quân sĩ canh phòng nghiêm ngặt.
    Chúng tôi đến một căn phòng khá lớn với khá đông phụ nữ
    đang ngồi chờ đợi.
    Vừa thấy tôi, hoàng hậu Nefertiti đã nói ngay:
    - Ta nghe Pharaoh nói rằng ngươi có một thân thế rất ly
    kỳ, ngươi hãy kể cho chúng ta nghe đi…
    Hoàng đế Amenophis mỉm cười nói nhỏ với tôi:
    - Các hoàng phi, cung nữ sống trong cung, không mấy
    khi được ra ngoài nên rất thích nghe kể chuyện. Ta thường
    cho mời các nhà kể chuyện trứ danh khắp nước đến kể
    chuyện cho họ giải trí. Câu chuyện của ngươi là chuyện
    thật, hiển nhiên phải hay hơn các câu chuyện thần thoại
    rồi… Ngươi hãy kể đi.
    Tôi thong thả kể lại đời mình: khi còn nhỏ theo cha tôi đi
    chữa bệnh như thế nào, khi đi câu cá gặp Horemheb rồi kết
    bạn ra sao, và khi trưởng thành đi học tại Abydos đã gặp
    những khó khăn gì. Tôi không phải là người có tài kể chuyện
    nhưng kể đến đâu, mọi người chăm chú theo dõi đến đó.
    Thỉnh thoảng họ lại ồ lên, tỏ vẻ ngạc nhiên thích thú lắm.
    Về sau tôi mới biết đa số hoàng phi, cung nữ được tuyển
    vào cung từ nhỏ, ít có dịp tiếp xúc với bên ngoài. Cuộc sống
    êm đềm, bình thản trong cung khiến một câu chuyện, dù
    chẳng đặc biệt gì như đời sống của tôi, cũng trở nên ly kỳ
    hấp dẫn lắm.
    Tôi không nói gì về nguyên nhân khiến cha mẹ tôi lập
    gia đình mà chỉ kể rằng khi cha mẹ tôi đi qua sông Nile,
    nghe tiếng trẻ khóc và vớt tôi ở dưới sông lên như thế nào.
    Mọi người đang nín thở theo dõi thì bất ngờ có một giọng
    già nua vang lên:
    - Này Sinuhe, ngươi có nhớ cha mẹ ngươi đã vớt ngươi
    vào lúc nào không?
    Người hỏi là một bà lão to lớn khỏe mạnh, nước da bánh
    mật, tay đang cầm một ly rượu lớn.
    Hoàng đế Pharaoh nói nhỏ với tôi:
    - Đó là mẹ ta, thái hậu Taiya.
    - Kính thưa thái hậu, theo cha tôi nói thì đó là một ngày
    trăng tròn, khoảng đầu mùa gặt. Có lẽ tôi là con nhà thuyền
    chài vì tấm chăn lót được dệt bằng một thứ sợi chỉ có ở làng
    Phalon, thuộc thượng lưu sông Nile.
    - Làm sao ngươi biết đó là loại sợi dệt ở làng Phalon?
    - Cha tôi nói chỉ dân làng Phalon mới dệt loại sợi này, nó
    được đan bằng tay và thắt lại bằng một nút thuyền chài đặc
    biệt.
    Thái hậu Taiya ngửa cổ uống cạn ly rượu rồi cười lớn:
    - Thì ra ngươi là con nhà thuyền chài. Hay lắm! Hay lắm!
    Hoàng hậu Nefertiti vui vẻ:
    - Ngươi kể chuyện hấp dẫn lắm. Từ nay mỗi lần có
    chuyện gì hay thì hãy vào đây kể cho chúng ta nghe…
    - Tôi là y sĩ, chỉ biết săn sóc bệnh nhân nhưng bạn tôi,
    Horemheb mới là người từng trải, quen biết nhiều, giao
    thiệp rộng…
    Hoàng đế Amenophis bật cười lớn:
    - Ngươi thật là người tốt, lúc nào cũng nghĩ đến bạn bè.
    Horemheb chính là kẻ đã giết sư tử để cứu ta. Để ngày mai
    ta gọi hắn vào đây kể chuyện…
    Khi tôi đem chuyện này thuật lại cho Horemheb thì hắn
    tỏ ra khó chịu:
    - Làm sao mày có thể làm một chuyện ngu xuẩn như thế
    được? Mày tưởng tao thích kể chuyện cho lũ đàn bà lười
    biếng đó nghe à! Tao thà đi đánh nhau với sư tử hay uống
    rượu với những kẻ xa lạ, còn hơn tốn thời giờ với đám phụ
    nữ vô tích sự đó. Nếu được gọi, tao sẽ cáo bệnh…
    Nhưng Horemheb không dám cáo bệnh khi được
    Pharaoh triệu vào cung. May thay lần này chúng tôi không
    được gọi vào để kể chuyện. Khi chúng tôi bước vào căn
    phòng nhỏ thì hoàng đế Amenophis đang nói chuyện với hai
    vị võ quan đã già, râu tóc bạc phơ.
    Một người chỉ vào tấm bản đồ trên vách, nói:
    - Muốn hùng cường, chúng ta cần phải mở mang phát
    triển bờ cõi. Khi xưa, tiên đế đã từng mang quân chinh phạt
    Nubia, chiếm được nhiều hầm mỏ và tài nguyên thiên
    nhiên, làm giàu cho Ai Cập. Hiện nay quốc vương xứ này
    đang có ý nhòm ngó nước ta, chúng ta cần khởi binh chinh
    phạt ngay thì mới mong toàn thắng…
    Ông lão còn lại gật đầu nói thêm:
    - Hoàng đế vừa lên ngôi, cần có những thắng lợi to tát
    thì sự nghiệp mới vẻ vang được. Ở đời mạnh được yếu thua
    là lẽ tất nhiên. Lúc này binh lực chúng ta đang hùng cường,
    chúng ta cần lợi dụng cơ hội…
    Hoàng đế Pharaoh bình tĩnh nói:
    - Luật của kẻ mạnh sẽ khiến cho xã hội trở nên một bãi
    chiến trường. Nếu mọi người tiếp tục chém giết lẫn nhau thì
    xã hội sẽ như thế nào?
    - Nhưng thưa Pharaoh, đó là luật thiên nhiên. Người ta
    tranh đấu để sống còn.
    Hoàng đế lắc đầu, ôn tồn nói:
    - "Các ông đã biết gì về luật thiên nhiên? Nếu mạnh
    sống yếu chết thì sư tử là giống mạnh nhất ắt phải sống và
    hươu nai thuộc giống yếu đã phải chết hết, nhưng chúng
    đâu hề chết! Ta đã quan sát và suy nghiệm về điều này rất
    lâu.
    Luật của kẻ mạnh chỉ có giá trị giới hạn nhưng không
    phải là sự thật."
    - Nhưng trong thiên nhiên, sự tranh đấu là lẽ thường
    tình. Sư tử giết hươu nai thì chúng ta cũng giết người Hitites
    hay Nubia. Có thể chúng ta không giết sạch được họ nhưng
    nếu không tấn công thì họ cũng khởi binh đánh ta. Trong
    đời sống, kẻ nào gan dạ, liều lĩnh, kẻ đó thành công lớn…
    Hoàng đế Pharaoh lắc đầu:
    - Chúng ta không phải là loài thú, chúng ta là người và
    con người hơn con thú ở điểm lương tâm.
    - Xin Pharaoh xét lại, trong xã hội, người có lương tâm
    chẳng phải là người thành công nhất. Phần lớn những người
    lanh lợi, có mưu lược và thủ đoạn mới chiếm được các địa vị
    khả quan. Những người giàu sang, có quyền lực là những
    người khôn ngoan, quỉ quyệt, dám làm tất cả mọi việc…
    Hoàng đế Pharaoh ngắt lời vị quan triều:
    - Hiển nhiên họ là những kẻ có tâm hồn chai đá, không
    hề biết thương xót ai hết. Các ông đều là những kẻ có địa vị
    khả quan, giàu sang và có thế lực, nhưng có bao giờ các
    ông tự hỏi tại sao mình lại lên được địa vị như thế không?
    Hai vị võ quan biết mình lỡ lời nên im bặt, lấm lét nhìn
    hoàng đế không biết phải xử trí ra sao. Pharaoh cũng im
    lặng nhìn họ không nói gì. Không khí trong phòng bỗng trở
    nên căng thẳng.
    Một vị quan run rẩy:
    - Xin hoàng đế ban chỉ thị… Kẻ này ngu dốt không hiểu ý
    ngài…
    Hoàng đế Pharaoh đột nhiên quay qua Horemheb, hỏi:
    - Ngươi thấy thế nào?
    Horemheb thẳng thắn trả lời ngay:
    - Hoàng đế là người đã được thần linh chọn lựa để chỉ
    huy Ai Cập. Bất cứ ngài quyết định thế nào, Horemheb này
    cũng triệt để tuân theo. Nếu ngài ban chỉ thị thì kẻ này sẽ
    thi hành ngay.
    Vừa nói Horemheb vừa đặt tay lên đốc kiếm. Hình như
    hắn chỉ chờ hoàng đế hạ lệnh là ra tay ngay nhưng hoàng
    đế Pharaoh đã lắc đầu, ôn tồn nói:
    - Người cao cả là người không chà đạp lên những kẻ yếu
    đuối, hiếp đáp kẻ thế cô. Người cao cả là người biết thương
    yêu, giúp đỡ kẻ khác, biết hy sinh bản thân mình cho kẻ
    khác. Người cao cả là người có lòng nhân ái, biết bênh vực
    những kẻ khốn cùng, che chở kẻ yếu đuối. Một quốc gia
    hùng cường là quốc gia sản xuất ra những con người cao cả
    như vậy và một xã hội tiến bộ là xã hội xây dựng trên
    những căn bản nhân ái đó.
    Vị võ quan dè dặt hỏi:
    - Phải chăng hoàng đế không muốn gây chiến tranh?
    - Ta đã ra lệnh cho Smenkere triệu tập một phái đoàn
    ngoại giao đi Hitites và Nubia để thương lượng việc này.
    Hai vị võ quan nhìn nhau rồi một người đánh bạo lên
    tiếng:
    - Kính thưa Pharaoh, kẻ hèn này đã từng theo tiên đế
    cầm quân chinh phạt Nubia nhiều lần. Khi ngài còn nằm
    trong nôi, kẻ này đã tả xung hữu đột để mở mang bờ cõi
    cho Ai Cập. Kẻ này biết rõ người Nubia hiếu chiến và khó
    thuyết phục. Hiện nay vua xứ Nubia là người nhiều mưu
    lược, xảo trá…
    Hoàng đế Pharaoh mỉm cười nói ngay:
    - Đúng thế, do đó ta mới gọi riêng hai ông vào đây để
    bàn việc này. Vì các ông biết rõ người Nubia nên ta muốn
    hai ông cầm đầu phái đoàn ngoại giao qua đó thương
    thuyết. Khi xưa hai ông đã tạo nhiều chiến công hiển hách,
    bây giờ hai ông hãy sử dụng miệng lưỡi của mình để tránh
    cho dân chúng hai bên khỏi cảnh chinh chiến, máu đổ đầu
    rơi.
    Hai vị võ quan ngạc nhiên há hốc miệng không biết nói
    gì. Một người hỏi lại:
    - Thưa Pharaoh. Ngài muốn chúng tôi qua Nubia để
    thương lượng hòa bình?
    Hoàng đế Pharaoh gật đầu:
    - Đúng thế. Ngày trước ông đã cầm quân chinh phạt
    Nubia, bây giờ ta muốn ông cầm đầu một phái đoàn chinh
    phục nhân tâm xứ này. Võ khí mới của ông không phải là
    cung tên, giáo mác nữa mà là các giáo sĩ, học giả, nghệ sĩ
    và khoa học gia. Từ nay, công lao của ông ghi khắc trên bia
    đá, lăng tẩm không phải là người cầm quân chinh phạt
    nhưng là người đem lại hòa binh, thịnh vượng cho dân
    chúng cả hai xứ.
    Hai vị võ quan lấm lét nhìn hoàng đế Pharaoh, ngập
    ngừng muốn nói nhưng không biết phải bày tỏ ra sao.
    Hoàng đế Pharaoh thong thả đứng dậy, đặt tay lên vai vị
    võ quan rồi ân cần nói:
    - "Ta biết ông chủ trương kẻ nào muốn gây chiến với ta
    thì ta phải tiêu diệt họ trước khi họ tiêu diệt ta. Nhưng nếu
    ông bình tĩnh suy nghĩ kỹ thì ông sẽ thấy rằng kẻ nào chỉ
    khăng khăng đòi tiêu diệt kẻ khác thì kẻ ấy không thể nào
    tiến bộ được, và chỉ quanh quẩn mãi trong phạm vi thù hận,
    bạo lực mà thôi. Một hoàng đế chỉ nghĩ đến chiến tranh thì
    luôn luôn sợ hãi, bất an và không thể cai trị quốc gia hữu
    hiệu được. Một quốc gia chỉ chuẩn bị cho chiến tranh thì
    không thể tiến bộ về các phương diện khác được.
    Các ông phải biết trách nhiệm của hoàng đế rất lớn, sự
    thịnh suy của quốc gia đều nằm trong sự suy xét và quyết
    định của người này. Một hoàng đế chỉ lo củng cố quyền lực
    của mình qua chiến tranh, thù hận thì quốc gia sẽ suy kiệt,
    thoái hóa; dân chúng sẽ lầm than, khổ cực.
    Trái lại. một hoàng đế biết vượt ra khỏi những lý luận
    tầm thường của sự oán hận, biết tha thứ những kẻ gây khó
    khăn cho mình, sẽ vươn lên cao và kéo kẻ khác tiến bộ với
    mình.
    Sở dĩ các ông muốn khởi binh đánh Nubia vì các ông
    muốn trừng phạt họ; vì nếu không, họ cũng sẽ mang quân
    xâm phạm lãnh thổ của chúng ta. Hiển nhiên người Nubia
    muốn đem quân đánh chúng ta vì nếu họ không ra tay
    trước, có lẽ chúng ta cũng sẽ xâm lăng xứ họ. Cái vòng luẩn
    quẩn của chiến tranh cứ thế tiếp diễn, chẳng ai chịu nhường
    ai. Kẻ thắng thì vinh quang, người thua thì nhục nhã và thù
    hận, cứ thế kéo dài từ đời này sang đời khác, biết bao giờ
    chấm dứt.
    Tuy nhiên thắng bại, được thua chỉ như thời tiết, đến rồi
    đi. Lần này quân ta thắng, lần khác quân ta thua, rốt cuộc
    chỉ có dân chúng là chịu thiệt thòi. Là hoàng đế, ta quyết
    định phải chấm dứt cái vòng luẩn quẩn này. Ta sẵn sàng bỏ
    qua mọi sự, dù phải chịu đựng nhiều thử thách.
    Các ông đừng cho rằng ta hèn nhát mà phải chịu đựng.
    Lúc này binh lực nước ta hùng cường nhưng ta sẽ không gây
    chiến vì ta muốn cho người Nubia hiểu lòng ta. Khi họ hiểu
    ta, họ sẽ từ bỏ giấc mộng xâm lăng và rồi mọi sự sẽ đổi
    khác. Ta biết mình mới lên ngôi Pharaoh, cả Ai Cập muốn
    xem ta sẽ làm gì. Họ sẽ đánh giá ta trong lúc này và sẽ có
    dư luận cho rằng ta hèn nhát, sợ hãi nhưng ta sẵn sàng chịu
    đựng vì sự đau khổ sẽ làm ta dũng cảm hơn. Ngay cả những
    nước chư hầu khác cũng sẽ chê bai ta nhưng ta sẽ nhẫn nại
    vì sự nhẫn nại sẽ làm cho nội tâm ta phong phú hơn.
    Này các ông. Sở dĩ ta làm thế vì ta đã biết rõ đâu là sự
    vĩnh cửu thực sự. Ta mong các ông hiểu sự khó khăn của ta
    trong những ngày sắp tới và giúp ta hoàn thành sứ mạng
    của ta đối với Ai Cập. Dĩ nhiên ta có thể lựa chọn những sứ
    giả khác, nhưng ta quyết định chọn hai ông cầm đầu phái
    đoàn vì người dân xứ Nubia biết rõ hai ông hơn ai hết. Ta
    muốn nhờ sự khôn khéo của hai ông mà họ hiểu được lòng
    ta, và hiểu được ta thì ta có thể giúp cho cả hai quốc gia
    cùng tiến bộ, phát triển về mọi lãnh vực. Ta mong hai ông
    hãy nhận lãnh trách nhiệm lịch sử này, cố gắng hoàn tất sứ
    mạng và chớ phụ lòng tin tưởng của ta."
    Hai vị võ quan già run rẩy nhìn nhau, không biết vì cảm
    động hay còn điều gì khác, nhưng hoàng đế đã phất tay ra
    hiệu nên họ cúi đầu bước ra khỏi phòng. Hoàng đế Pharaoh
    trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói với tôi:
    - Này Sinuhe, hôm nay mẹ ta mệt và muốn ngươi đến
    khám sức khỏe cho bà. Horemheb hãy ở lại đây, ta có việc
    quan trọng cần bàn với ngươi.
    Tôi theo người nô lệ đến cung điện của thái hậu Taiya.
    Đó là một căn phong trần thiết lủng củng, đồ đạc rất nhiều
    nhưng để bừa bãi, lung tung. Thái hậu Taiya là một phụ nữ
    to lớn, đẫy đà, khác hẳn những hoàng phi trong cung.
    Bà ngồi trên chiếc ghế dài, tay cầm một ly rượu lớn:
    - Này Sinuhe, ta muốn ngươi xem rằng ta còn sống được
    bao lâu nữa?
    Tôi cúi đầu bước đến bắt mạch và khởi sự khám bệnh.
    Thái hậu Taiya tiếp tục uống rượu. Tôi bỗng giật mình vì
    thấy trên nệm ghế của bà có phủ một tấm chăn lớn, đan
    bằng thứ sợi rất thô kệch, xấu xí được cột bằng những nút
    thuyền chài đặc biệt của dân làng Phalon.
    Thái hậu Taiya chăm chú nhìn tôi rồi hỏi:
    - Hình như ngươi đã nhận ra chiếc chăn này?
    - Thưa thái hậu, hình như đây là loại sợi Phalon?
    - Đúng thế, ngươi nhận xét khá lắm.
    - Chiếc chăn lót nôi của kẻ này cũng giống như thế…
    Thái hậu Taiya gật đầu cười lớn:
    - "Hiển nhiên rồi, vì chỉ có làng Phalon mới dệt loại sợi
    này và ta xuất thân từ làng Phalon. Đúng thế, ta là con nhà
    thuyền chài, suốt ngày dầm mưa dãi nắng nên nước da của
    ta mới đen sậm như thế này. Cách đây mấy chục năm,
    hoàng đế Amenophis đi thuyền ngang đó, thấy ta đang
    giăng lưới bên sông nên gọi ta vào hầu.
    Ha ha ha, ta tung mẻ lưới bắt được con cá to nhất sông
    Nile. Ta biết mình chẳng đẹp đẽ gì, chẳng thể so sánh với
    các hoàng phi, cung nữ nhưng ta khỏe mạnh, rừng rú nên
    làm hoàng đế vui lòng. Thế là ta được đưa về triều. Chỉ một
    thời gian ngắn, ta đã sinh ngay một hoàng nam và lên ngôi
    hoàng hậu. Năm sau ta còn sinh thêm một công chúa nữa,
    thế là ta củng cố địa vị của mình. Hiện nay hoàng đế đã qua
    đời, con ta lên ngôi Pharaoh nên ta toại nguyện, chẳng
    muốn sống nữa. Ngươi hãy xem bao giờ đến ngày ta ra đi
    để ta chuẩn bị."
    - Thưa thái hậu, kẻ này thấy ngài rất khỏe mạnh chẳng
    có bệnh tật chi. Chắc chắn ngài còn sống vài chục năm nữa
    nếu ngài… bớt uống rượu một chút.
    - Ha ha ha… Bọn y sĩ các ngươi đều nói giống nhau cả,
    nhưng sống lâu để làm gì? Chồng ta đã qua đời, các con ta
    đều khôn lớn, kéo dài thêm đời sống vô vị, tẻ nhạt, chán
    chường trong cung làm gì. Ngươi hãy bào chế cho ta một
    viên thuốc độc để trả nợ đời cho xong.
    Tôi chưa kịp lên tiếng thì một giọng nói rổn rảng vang
    lên:
    - Này Sinuhe, ngươi chớ nghe lời mụ già đó. Bà ta say
    rồi…
    Tôi giật mình quay lại thì thấy một thiếu nữ còn trẻ,
    dáng người to lớn, mặc võ phục, tay cầm chiếc roi da đang
    bước vào.
    Thái hậu Taiya bật cười:
    - Đó là con gái ta, công chúa Baketamon. Ta vô phúc
    sinh ra một đứa con trai hiền lành như con gái và một đứa
    con gái hung hăng như con trai…
    Công chúa Baketamon cười ha hả:
    - Mẹ muốn nói rằng con mới xứng đáng làm Pharaoh
    phải không? Anh Amenophis hiền lành quá, không thể lãnh
    đạo Ai Cập được.
    - Trong hai đứa bay, đứa nào làm Pharaoh cũng được.
    Riêng ta chỉ muốn chết cho thật nhanh mà thôi.
    - Nhưng đàn bà đâu làm Pharaoh được. Do đó con cần
    phải lấy chồng để chồng con làm Pharaoh, phần con chỉ
    đứng ở phía sau ra lệnh cho hắn mà thôi.
    Thái hậu Taiya lắc đầu cười lớn:
    - Đứa nào lấy mày chỉ khổ thôi. Mày ngang bướng, hung
    hăng lại ham chuộng võ nghệ, suốt ngày đi đánh nhau với
    các binh sĩ. Ai lấy mày để mày xé xác nó ra hay sao?
    Tôi ngượng ngùng không biết phải làm gì. Từ trước đến
    nay tôi chỉ tiếp xúc với những phụ nữ đến nhờ tôi chữa trị
    chứ đâu biết phải làm gì với những phụ nữ như thế này. May
    thay, đang luống cuống thì Horemheb ở đâu bước vào:
    - Này Sinuhe, người đã khám bệnh xong chưa?
    Công chúa Baketamon chăm chú nhìn Horemheb:
    - Ngươi là ai?
    - Kính thưa công chúa, kẻ hèn này là Horemheb, sĩ quan
    chỉ huy Ngự lâm.
    Công chúa reo lên:
    - A phải rồi, ngươi đã giết sư tử cứu mạng anh ta. Hay
    lắm! Hay lắm!
    Cô vừa dứt lời đã vung tay quất thẳng ngọn roi vào
    Horemheb. Tôi há hốc miệng kinh ngạc. Baketamon ra tay
    đã nhanh mà Horemheb còn nhanh hơn. Hắn đưa tay ra bắt
    trúng ngọn roi nắm chặt khiến Baketamon loạng choạng
    suýt ngã.
    Cô cười lớn:
    - Khá lắm! Khá lắm! Ít ai tránh được ngọn roi của ta.
    Ngươi hẳn là người có bản lãnh.
    Horemheb vội vã cúi đầu:
    - Xin công chúa tha tội, kẻ này trót dại, đó chỉ là phản
    ứng tự nhiên…
    - Không sao, không sao đâu…
    Baketamon ném cây roi xuống đất. Horemheb vội cúi
    xuống nhặt lên nhưng công chúa thừa thế tung chân đá
    mạnh vào người Horemheb. Một lần nữa, tôi trợn mắt kinh
    ngạc nhưng Horemheb lại nhanh nhẹn xoay người tránh
    được cái đá song phi đó.
    Thái hậu Taiya quát lớn:
    - Thôi, dừng tay lại! Như thế đủ rồi!
    Công chúa Baketamon thản nhiên nói:
    - Ta chỉ muốn xem ngươi có xứng đáng chỉ huy quân
    Ngự lâm không!
    Horemheb cười nhạt không nói gì nhưng tôi biết mỗi khi
    hắn cười nhạt là đang mưu tính một việc gì. Hắn cúi chào
    thái hậu và công chúa rồi ra hiệu cho tôi đi theo.
    Ra khỏi cung, hắn nắm tay tôi nói nhỏ:
    - Hiện nay Pharaoh còn phải đương đầu với nhiều khó
    khăn. Là người chỉ huy Ngự lâm nên tao rất bận, không thể
    tiễn mày về Thebes được. Tuy nhiên thỉnh thoảng có dịp
    mày nên ghé qua đây thăm tao.
    ° ° °
    Tôi trở về Thebes, tiếp tục công việc săn sóc bệnh nhân
    như xưa. Hôm đó tôi và Kepta đang mang tiền phân phát
    cho người nghèo trong xóm thì một thiếu nữ đi ngang nhìn
    tôi mỉm cười. Hình như tôi đã gặp cô này ở đâu nhưng
    không sao nhớ được. Kepta thấy vậy liền vặn hỏi ngay:
    - Phải chăng cô đó là bệnh nhân của y sĩ?
    - Ta không nhớ rõ.
    Kepta mỉm cười nói nhỏ:
    - Này y sĩ, cứ nhìn nụ cười và ánh mắt đó, tôi thấy cô ta
    phải có cảm tình với y sĩ lắm lắm.
    - Ngươi đừng nói bậy. Ta cắt lưỡi ngươi bây giờ.
    Kepta bật cười lắc đầu:
    - Thằng nô lệ này chột mắt chứ chưa có mù đâu!
    Thấy thiếu nữ đang múc nước giếng, Kepta vội bước đến
    gần:
    - Ông chủ tôi đi đường xa khát nước, phiền cô cho mượn
    cái gáo múc nước.
    Thiếu nữ vội trao cho Kepta chiếc gáo nhỏ. Trong lúc
    Kepta múc nước, cô ta vẫn nhìn tôi mỉm cười khiến tôi bối
    rối.
    Kepta bèn hỏi:
    - Hình như cô có quen biết ông chủ tôi?
    - Tôi là Meryt, bán rượu ở thành Memphis. Y sĩ Sinuhe
    và Horemheb thường ghé qua đó uống rượu…
    Lúc đó tôi mới sực nhớ ra người thiếu nữ bán rượu này:
    - Thì ra cô Meryt, tôi nhớ ra rồi… Cô làm gì ở đây?
    Meryt có vẻ thẹn thùng:
    - Lúc này trên Memphis làm ăn khó khăn nên… em dọn
    về Thebes…
    Kepta vội vã quảng cáo ngay:
    - Tốt lắm! Nếu cô đau ốm thì hãy đến phòng mạch của
    ông chủ tôi. Ông là y sĩ tài giỏi nhất thành Thebes này, bệnh
    gì ông chủ tôi cũng chữa khỏi…
    Meryt gật đầu nói ngay:
    - Em biết điều đó.
    Kepta chăm chú nhìn Meryt rồi hỏi tiếp:
    - Cô đến Thebes này một mình hay với ai?
    Meryt cúi đầu nhìn xuống đất nói nhỏ:
    - Em còn cha mẹ già.
    Kepta tủm tỉm cười hỏi tiếp:
    - Như vậy cô chưa lập gia đình? Một người đẹp như cô
    mà chưa có gia đình sao?
    Meryt vẫn cúi mặt vân vê tà áo:
    - Em còn phải săn sóc cha mẹ già…
    Tôi thấy Kepta đã bắt đầu đi quá xa nên nắm lấy áo gã,
    lôi đi chỗ khác:
    - Thằng chột mắt này, mi không được nói năng lộn xộn.
    Từ đó thỉnh thoảng tôi vẫn gặp Meryt trong xóm. Lần
    nào gặp nhau cô đều mỉm cười và tỏ ra bẽn lẽn nhưng tôi
    không hề chú ý đến Meryt. Đầu óc tôi vẫn còn mải suy nghĩ
    những chuyện không đâu. Tôi nghĩ đến hoàng đế
    Amenophis và chủ trương mới mẻ của ông, tôi cũng băn
    khoăn về Aten, hay định luật tối cao điều hành tất cả mọi
    sự.
    ° ° °
    Một hôm tôi đang bào chế mấy vị thuốc thì có tiếng
    ngựa hí vang trước cửa rồi Kepta chạy vào báo cáo:
    - Thưa y sĩ, có một nhóm quân sĩ ở đâu kéo đến…
    Tôi ngạc nhiên chưa biết phải làm gì thì đã thấy
    Horemheb đẩy cửa bước vào, theo sau là một nhóm lính
    hầu võ trang cẩn thận:
    - Này Sinuhe, tao có việc cần bàn riêng với mày.
    - Chuyện gì vậy?
    Horemheb phất tay ra hiệu cho lính hầu bước ra ngoài
    canh phòng cẩn thận rồi ngồi xuống cạnh tôi:
    - Tao biết mày chỉ muốn phục vụ cho người nghèo
    nhưng lúc này tao cần một y sĩ tin cẩn ở bên hoàng đế.
    - Tại sao?
    Horemheb hạ giọng nói nhỏ:
    - Chắc mày cũng biết hoàng đế Amenophis không được
    khỏe lắm. Ngài mắc chứng động kinh, thỉnh thoảng lại lên
    cơn, chân tay co quắp, miệng sùi bọt. Đây là bí mật quốc
    gia, phải được giữ kín. Ngày trước chúng ta đã chẳng suýt
    chết khi cứu chữa cho ngài ở sa mạc đó sao!
    - Nhưng trong triều đã có các ngự y tài giỏi…
    Horemheb gật đầu:
    - Đúng thế, nhưng tao không thể tin những người đó
    được.
    - Tại sao?
    - Vì hôm trước tao phát hiện một âm mưu đầu độc
    hoàng đế.
    - Cái gì? Ngài có sao không?
    Horemheb lắc đầu:
    - May là âm mưu kịp thời bị phát hiện. Thằng nô lệ vừa
    bỏ thuốc độc đã bị phát giác. Tao đích thân điều tra và tóm
    được một số kẻ phản nghịch.
    - Nhưng… nhưng phe nhóm của hoàng thân Kira đã bị
    bắt cả rồi…
    Horemheb ghé sát vào tai tôi:
    - Không phải phe Kira đâu, còn những nhóm khác trong
    bóng tối nữa. Trong triều có nhiều phe nhóm tranh chấp lẫn
    nhau. Ngay cả tể tướng Smenkere cũng bị ám sát hụt mấy
    lần. Sự việc triều đình phức tạp chứ không giản dị như mày
    nghĩ đâu.
    - Nhưng tại sao lại như thế?
    Horemheb nhìn tôi một lúc rồi thong thả giải thích:
    - Trên đời có hai điều mà ai cũng thèm muốn là quyền
    lực và danh lợi. Khi Hoàng đế sắc phong cho Smenkere, một
    người ngoài dòng họ, chức vị tể tướng thì ngài đã làm phật
    ý nhiều người trong hoàng gia đang thèm muốn địa vị này.
    Ngoài ra, Hoàng đế còn ban hành nhiều sắc lệnh cải tổ mới
    như giảm thuế, bỏ việc sưu tra để bắt đinh, thay đổi lễ nghi
    trong triều và những điều này dĩ nhiên đụng chạm đến
    quyền lợi của một số người khác nữa.
    - Nhưng một y sĩ như tao thì làm được gì?
    Horemheb nói nhỏ:
    - Trong tình trạng đầy xáo trộn, bất an hiện nay, tao
    không tin ai cả, trừ mày. Không hiểu sao Smenkere cũng tỏ
    ra thích mày và Hoàng đế vẫn thường nhắc đến mày luôn.
    Tiếc quá, mày chỉ muốn sống thanh bần, nếu không đã có
    biết bao cơ hội để tiến thân rồi.
    - Nhưng… nhưng tao đã quyết theo gương cha tao.
    Horemheb vỗ nhẹ lên vai tôi:
    - Tao biết điều đó nhưng lúc này Ai Cập cần mày, Hoàng
    đế cần mày và tao cũng cần mày. Tao mong mày hãy suy
    nghĩ lại. Hiện nay Hoàng đế đang đi Nekhen chọn đất để
    xây mồ. Nekhen ở gần đây và có lẽ đã lâu không gặp mày
    nên ngài muốn mày đến đó đàm đạo với ngài ít lâu.
    Theo truyền thống, khi một Pharaoh lên ngôi hoàng đế
    là lập tức lo tìm đất để xây mồ cho mình. Việc xây cất này
    hết sức quan trọng vì một triều đại vua chúa thường được
    đánh giá qua những công trình xây cất. Người Ai Cập tin
    rằng linh hồn con người vốn bất tử và chỉ khoác lấy thể xác
    để làm một số việc nào đó thôi. Việc này có thể là cai trị
    quốc gia, như trường hợp các Pharaoh, hoặc trồng trọt, săn
    bắn, đánh cá, xây cất như trường hợp thường dân. Sau khi
    chết, con người sẽ được phán xét, định công luận tội trước
    mặt thần Osiris. Tùy theo việc làm của họ khi sống mà họ
    sẽ được dẫn dắt đến những cảnh giới tương xứng. Vì đời
    sống ở cõi trần chỉ là phần nhỏ của một đời sống khác bao
    la rộng rãi hơn nên các vua chúa đều chuẩn bị rất kỹ cho
    đời sống sau khi chết này.
    Khởi đầu, người ta soạn thảo kế hoạch xây cất dựa theo
    niên lịch của các nhà chiêm tinh. Mọi việc xây cất tại Ai Cập
    đều được soạn thảo theo họa đồ của các nhà chiêm tinh
    trước khi giao cho thợ xây cất chuyên môn. Nhà chiêm tinh
    Ai Cập không phải chỉ nghiên cứu về tinh tú mà còn phải
    chuyên môn về toán học, vật lý học, địa lý học và cả kiến
    trúc nữa. Tất cả mọi công trình xây cất tại Ai Cập đều dựa
    theo họa đồ của các nhà chiêm tinh và những đền đài, cổ
    mộ, lăng tẩm, kim tự tháp đều được xây cất theo những vị
    trí nhất định có liên quan mật thiết với các bầu tinh tú trong
    vũ trụ. Từ những kích thước, hình thái, chiều cao, bề sâu,
    chu vi và diện tích đều dựa trên những tiêu chuẩn của các
    tinh tú xuất hiện vào những thời điểm nhất định. Người ta
    không thể hiểu kiến trúc Ai Cập nếu không có kiến thức về
    khoa chiêm tinh vì mọi họa đồ xây cất đều có những mục
    đích rõ rệt dựa theo sự vận hành của tinh tú.
    Nekhen là vùng có nhiều đồi đá trơ trụi nằm dọc theo bờ
    sông Nile. Đây là địa bàn hoạt động của các chiêm tinh gia.
    Trên đỉnh ngọn đồi cao nhất là một viễn vọng đài rất lớn,
    trong có đền thờ thần Khem. Horemheb đưa tôi đi theo một
    cầu thang hình xoắn ốc lên đỉnh tháp. Tôi thấy Hoàng đế
    Amenophis đang trầm ngâm quan sát bầu trời với muôn
    ngàn tinh tú lấp lánh.
    Nghe tiếng động, ông quay lại và nhìn thấy tôi.
    - Sinuhe đấy ư? Ngươi có biết gì về khoa chiêm tinh
    không?
    - Thưa Pharaoh, kẻ này là y sĩ chứ không phải nhà
    chiêm tinh.
    - Nếu vậy có lẽ người cần phải học thêm vì đây là một
    kiến thức quan trọng.
    - Tại sao?
    - Con người cần phải có kiến thức về vũ trụ cũng như về
    môi trường thiên nhiên mà họ sinh sống. Chỉ khi nào biết
    quan sát vũ trụ bao la hùng vĩ, con người mới thấy họ nhỏ
    bé như con sâu, cái kiến. Chỉ khi nào biết quan sát đại
    dương sâu thẳm, con người mới thấy họ chỉ là những bèo
    bọt nổi trôi. Chỉ khi nào biết quan sát sa mạc mênh mông,
    con người mới thấy họ chỉ là những cát bụi bé bỏng. Nhờ
    biết quan sát mà con người ý thức được sự tương quan giữa
    vũ trụ và con người, rồi biết được những định luật cao cả
    điều hành mọi vật. Từ đó họ biết khiêm tốn hơn và không
    còn đòi làm những chuyện vá trời lấp biển nữa. Theo ta,
    người nào biết được vũ trụ sẽ hiểu được mình và kẻ nào
    hiểu được mình sẽ biết được vũ trụ.
    - Tại sao lại thế?
    - Vì vũ trụ là môi trường hoạt động của mọi sinh vật, từ
    côn trùng đến thảo mộc, từ cầm thú đến con người và biết
    bao sinh vật mà kiến thức của chúng ta chưa biết đến. Vũ
    trụ không phải là một cái gì trống rỗng mà mọi sự xảy ra
    một cách ngẫu nhiên. Trong vũ trụ có một sự sắp đặt khéo
    léo mà ở đó tất cả đều phản ảnh một sự thật rằng có một
    định luật cao cả chi phối mọi sự. Do đó một người hiểu biết
    cần phải có kiến thức về vũ trụ.
    - Nhưng… đó là kiến thức chuyên môn của các nhà
    chiêm tinh và dễ gì mà họ chịu truyền dạy cho người khác!
    Hoàng đế khẽ vỗ tay. Một ông già từ trong góc phòng
    bước ra.
    Hoàng đế chỉ vào tôi, nói:
    - Này quan Thiên Giám, ta muốn ông đặc biệt chỉ dạy
    thêm cho Sinuhe kiến thức về khoa chiêm tinh. Ông hãy chỉ
    dẫn cho y tất cả những gì mà ông đã truyền dạy cho ta.
    Ông lão vội vã cúi đầu:
    - Xin tuân lệnh Pharaoh. Lúc nào y sĩ muốn học thì hãy
    đến đây, tôi sẵn sàng hướng dẫn.
    Hoàng đế Amenophis chỉ tay lên bầu trời:
    - "Này Sinuhe, chiêm tinh là một khoa học về vũ trụ mà
    người Ai Cập chúng ta đã bỏ ra rất nhiều công trình để
    nghiên cứu. Theo khoa này thì có một ảnh hưởng hỗ tương
    giữa các bầu tinh tú, trái đất và các sinh vật sống trong đó.
    Nếu nhìn lên không trung, ngươi sẽ cho rằng đó là một
    khoảng trống bao la, nhưng thật ra có một khí lực bàng bạc
    bao trùm khắp vũ trụ.
    Cái khí lực này hết sức tế vi mà chỉ một số rất ít người
    biết. Nó có khả năng thu nhận, phổ biến và truyền đạt tất
    cả những ấn tượng của mọi động lực trong thiên nhiên. Cái
    ảnh hưởng hỗ tương đó là những từ lực vì tinh tú đều là
    những khối nam châm có sức thu hút và ảnh hưởng lẫn
    nhau. Chính trái đất chúng ta đang sống cũng là một khối
    nam châm rất lớn có sức thu hút mạnh mẽ và dĩ nhiên cũng
    bị chi phối bởi những từ lực phát sinh từ mặt trời hay các vì
    tinh tú khác.
    Chính vì ảnh hưởng của những từ lực này mà mọi sự vật
    trong thiên nhiên luôn luôn biến đổi, lên xuống, trồi sụt
    theo các chu kỳ. Một người nghiên cứu về vũ trụ phải biết rõ
    định luật về chu kỳ. Đối với đa số mọi người thì chu kỳ chỉ
    là những sự thay đổi về thời tiết hay mực nước thủy triều
    lên xuống. Nhưng với người hiểu biết thì nó là những sự sắp
    đặt huyền bí và mầu nhiệm vô cùng. Thật ra mọi sinh vật
    đều có khả năng kinh nghiệm được sự vận chuyển của
    luồng từ lực này vì sự rung động của nó ảnh hưởng lên thể
    chất của mọi sinh vật."
    - Nó ảnh hưởng như thế nào?
    Hoàng đế nhìn tôi mỉm cười:
    - Chắc hẳn ngươi đã biết ảnh hưởng lên xuống của thủy
    triều tùy thuộc vào sự vận chuyển của mặt trăng. Mặt trăng
    cũng ảnh hưởng đến kinh nguyệt của phụ nữ. Là y sĩ, ngươi
    biết rõ về những chứng bệnh điên loạn thần kinh chỉ phát
    động vào những ngày trăng tròn. Nếu sự vận chuyển của
    mặt trăng có thể gây ra những ảnh hưởng cụ thể như thế
    thì hẳn không phải là điều vô lý khi cho rằng sự tác động
    của các bầu tinh tú khác trong không gian cũng có thể gây
    nên những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự sống của mọi
    loài trên trái đất. Chắc ngươi cũng biết trường Khoa Học
    Của Sự Sống đã nghiên cứu rất kỹ về những luồng khí lực
    vũ trụ trong việc chữa trị?
    - Thưa, điều này chỉ được truyền dạy giới hạn cho các
    giáo sĩ.
    Hoàng đế gật đầu:
    - "Ta biết điều đó, vì những kiến thức đặc biệt không thể
    mang ra truyền dạy một cách bừa bãi được. Ngươi phải biết
    rằng trong vũ trụ có những luồng từ điện rất mạnh, luôn
    luôn thu hút, ảnh hưởng lẫn nhau theo sự di chuyển của các
    bầu tinh tú. Tất cả các tinh tú đều chứa đựng những luồng
    từ điện rất mạnh vì chúng vận chuyển trong luồng từ khí
    của vũ trụ. Do đó tùy theo sự rung động của cơ thể các sinh
    vật cảm ứng với luồng từ điện nào mà chúng chịu ảnh
    hưởng của các bầu tinh tú ấy.
    Là y sĩ đi hái thuốc, hẳn ngươi biết rằng có những loại
    cây cỏ chịu sức thu hút của mặt trời và một số loại khác
    chịu sự thu hút của mặt trăng. Đa số hoa nở khi có ánh
    sáng mặt trời nhưng vẫn có một số loài hoa chỉ nở về đêm.
    Một số cây cỏ chỉ tiết ra dược chất vào giờ khắc nhất định
    khi các tinh tú nằm ở một vị trí nào đó và người y sĩ đi hái
    thuốc phải biết rõ điều này."
    Tôi giật mình. Kiến thức về y học là khả năng chuyên
    môn của tôi và tôi đã được dạy bảo rất kỹ về công dụng của
    các loại dược thảo. Tại sao Hoàng đế lại có thể nói đến vấn
    đề này một cách rõ ràng như thế? Phải chăng ông đã được
    thụ giáo những kiến thức này từ Abydos?
    Hoàng đế Amenophis thản nhiên nói tiếp:
    - "Có những loại cây cỏ hợp tính chất nhau và có những
    cây cỏ xung khắc nhau vì chúng rung động theo các luồng
    từ lực khác nhau. Một cây nho không bao giờ mọc gần cây
    cải vì tính chất xung khắc nhưng cây nho lại thích leo bám
    vào cây olive vì chúng hợp nhau. Dĩ nhiên cây cỏ đã như thế
    thì loài người chắc chắn phải có những rung động mạnh
    hơn.
    Nếu ngươi biết rằng phần lớn những xúc cảm của con
    người cũng chịu ảnh hưởng những biến đổi của trạng thái từ
    điện trong thiên nhiên. Sự nóng giận, ghen tức, tình thương
    hay thù hận đều là những biến chứng của trạng thái rung
    động từ khí trong cơ thể con người.
    Tình thương là một trạng thái rung động rất phức tạp,
    do đó biến thái của nó được biểu hiện ra dưới muôn ngàn
    khía cạnh khác nhau. Tình yêu cao thượng như tình mẹ con,
    tình yêu nghệ thuật, tình bằng hữu đều là sự biểu lộ từ điện
    của sự giao cảm giữa những tâm hồn có sự rung động đồng
    nhịp hay đồng thanh, đồng khí với nhau. Từ lực của tình
    thương thuần túy này là căn bản của sự sáng tạo. Do đó
    một người chưa biết yêu hay không hề yêu chẳng thể sáng
    tạo được.
    Cũng như thế, một kẻ để cho tâm hồn trở nên khô khan,
    chai đá, dửng dưng không còn xúc cảm thì khả năng sáng
    tạo của y cũng sẽ kiệt quệ, thui chột đi."
    Hoàng đế Amenophis im lặng một lúc như đắm chìm
    trong một suy tưởng nào rồi nói tiếp:
    - Cái luồng khí lực từ điện bao gồm toàn thể vũ trụ này
    chính là một tâm thức thiêng liêng thấm nhuần tất cả vạn
    vật. Nó ẩn tàng trong mọi chất liệu và nhờ những tác động
    và mãnh lực của nó mà những vật thể thu hút lẫn nhau,
    dần dần kết hợp lại thành những yếu tố vật chất. Chính nhờ
    nó mà tất cả mọi sự được khích động, nảy sinh, phát triển
    và thay đổi một cách mầu nhiệm. Đối với những kẻ "có mắt
    mà không nhìn thấy" thì đó là những thay đổi một cách tình
    cờ ngẫu nhiên; nhưng với người nào biết quan sát học hỏi
    thì nó là một kho tàng kiến thức hết sức thâm thúy. Cái
    luồng khí lực này giữ gìn và lưu trữ tất cả những gì đã có,
    đang có và sẽ có trong trời đất. Từ những hành vi nhỏ nhặt
    nhất đến các tư tưởng trừu tượng nhất đều ghi lại trên đó
    những rung động rõ rệt.
    - Làm sao người ta biết được điều đó?
    - Đây là điều mà tổ tiên người Ai Cập chúng ta đã bỏ ra
    rất nhiều công trình để nghiên cứu. Nó chính là tinh hoa của
    nền tôn giáo cổ mà ngày nay ít nhiều đã bị mai một. Tuy
    nhiên từ nhiều năm qua, ta đã nghiên cứu, học hỏi với các
    bậc danh sư, đạo trưởng khắp nơi để khôi phục cái mạch
    nguồn đã bị bế tắc này. Ngoài ra ta còn nhờ sự giúp đỡ của
    những người có khả năng Linh Thị (Psychometry) nữa.
    - Khả năng Linh Thị là gì?
    - Đó là khả năng đặc biệt của một số người có thể thu
    nhận những ấn tượng phát sinh từ những đồ vật. Một tập
    bản thảo, một bức họa, một món trang sức cổ xưa vẫn chứa
    đựng trong nó những từ lực hay sự rung động của người
    viết, của họa sĩ hay của người thợ kim hoàn. Chỉ cần cầm
    lấy vật ấy, người có khả năng Linh Thị có thể truy nguyên ra
    nguồn gốc của nó. Này Sinuhe, trong vũ trụ không một
    chiếc lá rơi, không một làn sóng gợn trên mặt hồ nào lại
    không được ghi nhận một cách trung thực trong tâm thức
    vũ trụ (Akashic Record).
    Tôi bàng hoàng. Từ trước đến nay tôi là người rất ham
    mê học hỏi và luôn luôn đặt câu hỏi với mọi người. Tôi đang
    được nghe nói về một kho tàng kiến thức vĩ đại. Một dịp
    may hiếm có để học hỏi thêm nhưng không hiểu sao tôi lại
    ngần ngại.
    Tôi lắp bắp:
    - Như thế phải chăng người có khả năng linh thị có thể
    biết trước được mọi việc?
    - Không hẳn như thế. Người ta có thể biết tường tận
    những việc đã xảy ra trong quá khứ nhưng việc tương lai thì
    khác.
    - Tại sao?
    - Vì tương lai là những gì đang ở trạng thái phôi thai
    trong khí lực của trời đất, và tùy theo những yếu tố khác
    nhau mà biến đổi. Đời sống không phải là những gì có tính
    cách nhất định mà luôn luôn sống động, biến đổi không
    ngừng theo những diễn tiến rất phức tạp. Tuy nhiên, dù
    thay đổi thế nào nó cũng vẫn phải tuân theo những định
    luật bất biến. Mặc dù con người có thể hành động theo ý
    muốn, nhưng cách thức mà họ hành động vẫn phải tuân
    theo những quy tắc của một định luật chung.
    - Như thế là thế nào?
    Hoàng đế Amenophis ôn tồn giải thích:
    - "Này Sinuhe, nếu ta gảy một giây đàn thì âm ba rung
    động của nó sẽ không thể chuyển thành âm ba rung động
    của một giây đàn khác được. Cũng như thế, bất kỳ một
    hành động gì cũng đều có những hậu quả tương ứng nhất
    định nhưng con người hành động như thế nào thì vẫn tùy
    thuộc vào tự do ý chí của người ấy. Hãy nhìn một cây đàn.
    Nó có vô số giây và tùy theo giây nào ta gảy thì sẽ có
    những âm thanh tiết tấu tương ứng. Người nghệ sĩ nhờ biết
    rõ các quy luật về âm nhạc này mà sáng tạo ra các bản
    nhạc du dương, trầm bổng tùy theo cảm hứng riêng. Cảm
    hứng là tự do ý chí nhưng sự rung động và phối hợp của âm
    thanh hoàn toàn tùy thuộc các quy luật của âm nhạc. Nếu
    không nắm vững quy luật về âm nhạc này thì người ta chỉ
    tạo ra những âm thanh rời rạc, vô hồn chứ không thể sáng
    tác ra âm nhạc được.
    Cũng thế, một người đã hiểu rõ qui luật của vũ trụ
    không bao giờ hành động trái với thiên nhiên, trái với những
    nhịp điệu điều hòa của trời đất mà chỉ làm những việc thuận
    với lòng trời. Kẻ thiếu hiểu biết nghĩ rằng mình có thể thay
    đổi tất cả và làm những việc trái với luân thường đạo lý, trái
    với luật thiên nhiên và dĩ nhiên kết quả sẽ không đi đến
    đâu. Con người chỉ có thể kiểm soát được hành động của
    mình chứ không thể kiểm soát được kết quả. Do đó Pharaoh
    phải là người biết rõ các định luật thiên nhiên này và hành
    động theo đó.
    Ta có thể gây chiến với Nubia hay gìn giữ sự giao hảo
    giữa hai nước nhưng kết quả ra sao thì ta không thể biết
    được. Tuy nhiên ta hy vọng nhờ sự hiểu biết của ta mà Ai
    Cập sẽ tiến bộ và khi Ai Cập tiến bộ, nó sẽ ảnh hưởng đến
    những quốc gia chung quanh, và theo thời gian một nền
    văn minh tiến bộ thực sự sẽ được phát triển khắp nơi."
    Hoàng đế Amenophis đưa mắt nhìn lên bầu trời mênh
    mông, tiếp:
    - Đó là sứ mạng của ta. Sứ mạng của Pharaoh với đúng
    ý nghĩa cao đẹp của nó.
    Chúng tôi im lặng, mỗi người đều theo đuổi những cảm
    xúc riêng. Thời gian gần như ngưng lại cho đến khi Hoàng
    đế quay qua nói với quan Thiên Giám:
    - Này quan Thiên Giám, gần đây ta đã quan sát rất kỹ
    những biến chuyển của những bầu tinh tú. Theo sự suy
    nghiệm của ta thì hiện nay nhân loại đang ở trong khúc
    quanh thấp nhất của một chu kỳ và hiển nhiên đang ở trong
    giai đoạn chuyển tiếp. Ta cảm thấy có sự cằn cỗi, suy hoại
    trong các nhịp điệu điều hòa của thiên nhiên. Mối tương
    quan giữa con người và thiên nhiên dường như hoàn toàn bị
    gián đoạn. Sự giao cảm giữa người và cây cỏ, giữa các sinh
    vật và khoáng vật chỉ còn là những rung động mơ hồ.
    Ta thấy rõ sự hoài nghi chán nản mỗi ngày một lan rộng
    khắp nơi; các giá trị đạo đức, tâm linh bị coi thường và
    tiếng nói huyền diệu của thiên nhiên chỉ là một tiếng vang
    ngoài sa mạc.
    Ta thấy rõ các giáo sĩ đã không làm tròn nhiệm vụ
    hướng dẫn tâm thức con người. Các tôn giáo thờ thần linh
    đã gây chia rẽ khắp nơi, giáo sĩ nào cũng cho rằng giáo lý
    của mình đúng nhất, hay nhất và chê bai những giáo lý
    khác. Tín đồ các tôn giáo cũng cho đấng thần linh của mình
    mạnh nhất và nhiều quyền lực nhất.
    Ta thấy rõ sự liên hệ giữa con người với nhau cũng ngày
    một suy đồi và chỉ còn sự tranh giành, bóc lột, cướp đoạt,
    thù hằn, lợi dụng lẫn nhau không thương tiếc.
    Ta thấy rõ thảm họa chiến tranh chỉ còn trong sớm tối vì
    quốc gia nào cũng lo chuẩn bị cho một cuộc chiến không thể
    tránh.
    Ta thấy rõ tiềm lực của nhân loại đang bị hoang phí cho
    những giấc mộng viển vông, những ảo vọng của những kẻ
    lãnh đạo nhiều tham vọng nhưng thiếu hiểu biết.
    Làm vua, ai chẳng muốn tìm cho mình những bầy tôi
    trung thành, những hiền tài để giúp nước, vậy mà trải qua
    bao đời, tại sao các quốc gia quanh vùng đều suy kiệt, hết
    vua này đến vua khác đều đưa quốc gia đến chỗ suy vong,
    phá gia hại nước.
    Ta đã suy nghiệm về điều này và thấy rằng người mà
    vua cho là bầy tôi trung, thật ra chẳng trung thành chút
    nào. Người vua cho là tướng giỏi, thật ra cũng chẳng giỏi gì.
    Họ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của mình hay phe nhóm mình
    mà thôi. Vì phần đông các vua chúa đều mê muội trong việc
    dùng người như vậy mà xứ Nubia đã mất đi phân nửa đất
    đai và kinh tế xứ Hitites thì kiệt quệ, dân tình đói khổ triền
    miên.
    Ngay trong triều đình ta, đa số các quan vẫn còn nuối
    tiếc những chiến thắng ngày trước, những cuộc xâm lăng
    đẫm máu, mượn danh nghĩa mở mang bờ cõi, nhưng thật ra
    chỉ là những cuộc tranh cướp đất đai, tài nguyên. Sự hận
    thù giữa Ai Cập và các quốc gia lân cận ngày một gia tăng
    và nước nào cũng lo tăng cường binh lực, chờ dịp xâm lăng
    chém giết lẫn nhau.
    Là Pharaoh, ta có thể theo gương cha ta, mang quân
    chinh phạt khắp nơi, tiếp tục bành trướng bờ cõi Ai Cập. Tuy
    nhiên ta thấy trọn đời cha của ta chỉ biết đến chiến tranh,
    lúc nào cũng lo sợ Ai Cập bị các xứ láng giềng đánh úp. Cha
    ta đã sử dụng hầu hết các tiềm lực quốc gia cho quân sự và
    trong suốt mấy chục năm nay, Ai Cập chưa được hưởng một
    ngày thái bình. Chẳng gia đình nào lại không có người chết
    trận, và không vùng đất nào lại không đầy những uất khí
    của những kẻ tử trận.
    Ta đã sống một mình trong sa mạc hoang vu, hằng đêm
    ta vẫn nghe tiếng than khóc ai oán của các hồn ma. Không!
    Ta không thể tiếp tục đi theo vết chân của cha ta được! Ta
    không thể để cho Ai Cập tiếp tục lăn theo những vết xe lịch
    sử. Đã đến lúc Ai Cập cần một thay đổi lớn, một sự thay đổi
    tận gốc rễ."
    Quan Thiên Giám ngập ngừng:
    - Thưa Pharaoh, theo thiển ý thì chúng ta đang ở trong
    một giai đoạn hắc ám xấu xa, trong lúc này bất cứ sự thay
    đổi nào cũng đều bất lợi.
    Hoàng đế Amenophis mỉm cười:
    - Này quan Thiên Giám, ông là thầy của ta và đã dạy dỗ
    ta rất nhiều, nhưng ta cũng có sự quan sát và quyết định
    của riêng ta.
    Quan Thiên Giám im lặng suy nghĩ rồi mạnh dạn lên
    tiếng:
    - "Thưa Pharaoh. Suốt bao năm nay thần đã quan sát và
    nghiên cứu kỹ lưỡng các bầu thiên thể cai quản vận mạng
    con người cũng như các quốc gia. Hẳn ngài cũng biết trong
    chu kỳ trước đã có những sự thay đổi hết sức lớn lao, ảnh
    hưởng đến khắp mọi loài trên trái đất.
    Ngài đã từng biết về những thiên tai, những trận đại
    hồng thủy thay đổi hoàn toàn các chủng loại trên mặt địa
    cầu.
    Ngài đã được chỉ dẫn về những điềm báo trước, thời kỳ
    mà các tai ương, hoạn nạn, thiên tai, bệnh tật, chiến tranh
    xảy ra một cách đột ngột, bất ngờ hơn những thời kỳ khác.
    Ngài đã được học hỏi về thời kỳ mà toàn thể nhân loại
    đều bị ô nhiễm vì chịu ảnh hưởng xấu xa từ thể xác đến tinh
    thần và trở nên sa đọa đến cực điểm.
    Ngài cũng biết rằng có thời kỳ mà sự tranh chấp xảy ra
    liên miên khắp nơi, các thảm cảnh như chiến tranh, bóc lột,
    ngược đãi, khủng bố, đàn áp và rồi các bệnh tật, tai ương
    lan tràn và sau cùng là các thiên tai như hạn hán, bão tố,
    động đất, núi lửa phun rồi toàn thể địa cầu sẽ thay đổi một
    cách nhanh chóng bất ngờ và phũ phàng hơn mọi sự tưởng
    tượng.
    Theo sự quan sát của thần thì hiện nay chúng ta đang ở
    trong thời buổi hắc ám tương tự, do đó thần mong ngài hãy
    suy nghĩ lại trước khi cho thi hành những đường lối cải cách
    vì không ai biết kết quả xấu tốt sẽ như thế nào."
    Hoàng đế Amenophis thong thả nói:
    - "Ta hiểu rõ sự liên hệ của các bầu tinh tú cũng như ảnh
    hưởng của chúng đối với mọi sinh vật. Ta cũng biết quan sát
    các bầu thiên thể đang di chuyển vào những cung rất xấu
    nhưng ta cũng thấy bầu thiên thể lớn nhất là ngôi Thái
    Dương đang nằm ở một vị trí đối lập với các bầu thiên thể
    kia, do đó ta không tuyệt vọng như ông.
    Ta biết nếu không có ảnh hưởng của ngôi Thái Dương thì
    tất cả mọi sinh vật trên trái đất này đều chết hết cả rồi.
    Chúng ta, những người đã được truyền dạy về kiến thức bí
    truyền, những người luôn luôn phóng tầm mắt ra ngoài vũ
    trụ để tìm hiểu những năng lực bí ẩn ảnh hưởng đến vận
    mạng con người hầu đi đến những quyết định hợp thời, hợp
    cảnh.
    Này quan Thiên Giám, chúng ta cũng có đủ khôn ngoan
    để biết rằng, nếu các bầu tinh tú có thể ảnh hưởng đến con
    người thì con người cũng có thể ảnh hưởng đến các bầu tinh
    tú. Bằng sự đổi thay qua sức mạnh của ý chí, chúng ta có
    thể thắng đoạt các nghịch cảnh và chế ngự các khuynh
    hướng bất hảo. Nếu con người biết phục thiện, biết nhìn
    nhận các lỗi lầm quá khứ, biết thay đổi đường hướng cho
    tương lai thì họ có thể thay đổi vận mạng của mình, của xã
    hội, của quốc gia, chứ không thụ động, cam chịu mặc cho
    số phận đưa đẩy đến đâu hay đến đó."
    Quan Thiên Giám thở dài:
    - Theo sự tính toán của kẻ này thì thời điểm hoàng kim
    đó chưa đến đâu. Có lẽ phải cần thời gian…
    Hoàng đế Amenophis lắc đầu:
    - Ta biết sự thay đổi nào cũng cần một thời gian nhưng
    thời gian là điều ta không thể kiểm soát được. Hôm nay ta
    đang nói chuyện với các ông nhưng ngày mai ta sẽ ra sao là
    điều ta không thể biết được. Chỉ một kẻ liều lĩnh với lưỡi dao
    nhọn, hay một tên nô lệ với liều thuốc độc là tất cả sẽ đổi
    khác, nhưng ta không thể vì quá lo lắng cho mình mà để
    cho Ai Cập đi vào tình trạng thoái hóa đó được…
    Horemheb khẳng khái vỗ mạnh lên ngực:
    - Xin Hoàng đế chớ lo ngại. Ngày nào kẻ này còn được ở
    bên ngài thì không một kẻ liều lĩnh nào có thể đụng chạm
    đến ngài được.
    Tự nhiên tôi cũng cảm thấy một bầu nhiệt huyết ở đâu
    dâng lên:
    - Xin Hoàng đế hãy yên chí. Ngày nào tên y sĩ này còn ở
    bên ngài thì không một liều độc dược nào có thể qua mắt kẻ
    này được.
    Hoàng đế Amenophis có vẻ hài lòng. Ông mỉm cười:
    - "Hay lắm! Nếu các quan trong triều đều một lòng như
    các ngươi thì làm gì mà kế hoạch cải tổ và phục hưng Ai
    Cập của ta chẳng thành công. Ta chỉ mong Ai Cập sẽ hùng
    cường, không phải bằng lực lượng quân sự mà bằng một
    nền văn hóa và tôn giáo đầy minh triết. Ta muốn biến Ai
    Cập thành một trung tâm văn minh của thế giới.
    Này quan Thiên Giám, ông hãy nhìn kỹ vị trí của ngôi
    Thái Dương, nó đứng một mình đối diện với các bầu thiên
    thể khác mà vẫn tỏa ánh sáng, nuôi sống muôn loài. Chính
    nhờ quan sát ngôi Thái Dương trong bao năm nay mà ta
    biết rằng sự thật không bao giờ thay đổi và không sức mạnh
    nào có thể khuất phục được nó.
    Do đó, với tư cách một Pharaoh, ta phải can đảm, dũng
    mãnh và cương quyết thay đổi đường lối cai trị hà khắc hiện
    nay vì một người hiểu biết như ta không thể làm những việc
    trái với lương tâm được."
    Hoàng đế ngưng nói, chỉ tay về phía chân trời. Bình
    minh đang bắt đầu. Một giải mây đỏ ửng từ từ xuất hiện rồi
    một bầu ánh sáng chói chan tỏa lan ra khắp nơi. Ánh sáng
    soi đến đâu, màn đêm tan biến đến đó và ngôi Thái Dương
    xuất hiện như một chiếc đĩa tròn (Aten) rực rỡ hơn bao giờ
    hết.
    Hoàng đế Amenophis quỳ xuống đất kêu lớn:
    - Hỡi Aten, xin cho con sức mạnh để thực hiện những
    việc đúng với sứ mạng của con.
    Quan Thiên Giám ra hiệu cho chúng tôi quì cả xuống bên
    cạnh Pharaoh. Hoàng đế tiếp tục cầu nguyện:
    - Hỡi Aten, xin cho con hòa nhập với ngài, để cho con có
    được sự minh triết như ngài… Re-Harakhty. (Đây là cầu thần
    chú ghi ở phần đầu cuốn Tử Thư Ai Cập nói về sự tái sinh
    hay đổi mới. Dịch sát nghĩa là sự hòa nhập với mặt trời nơi
    cuối chân trời hay sự tiến lên cõi sáng - Ghi chú của dịch
    giả).
    Hoàng đế Amenophis giơ hai tay ra như muốn ôm lấy
    mặt trời nhưng ông loạng choạng suýt ngã. Horemheb vội
    vã bước lại đỡ lấy ông nhưng ông đã lấy tay vuốt ngực rồi
    nói nhỏ:
    - Ta phải cẩn thận hơn. Mỗi lần chiêm ngưỡng sự rực rỡ
    của ngôi Thái Dương thì ta lại xúc động. Thôi, các ngươi hãy
    lui ra để ta nghỉ ngơi một lúc.
    Ra khỏi phòng, Horemheb vỗ mạnh lên vai tôi:
    - Tao rất mừng thấy mày nhận lời săn sóc Hoàng đế. Từ
    này tao và mày sẽ gần nhau hơn và tao sẽ đưa mày đi chơi
    khắp thành Memphis.
    CHƯƠNG 5
    Khi tôi và Horemheb bước vào cung điện thì Hoàng đế
    Amenophis đang ngồi làm mẫu cho các nhà điêu khắc tạc
    hình ngài. Theo truyền thống, các Pharaoh đều cho tạc một
    pho tượng mẫu làm tiêu chuẩn cho việc khắc ghi hình ảnh
    của mình trong các đền đài, lăng tẩm, cột trụ, bia đá để lại
    cho đời sau. Việc chọn bức tượng mẫu là điều vô cùng quan
    trọng nên các Pharaoh đều xét rất kỹ pho tượng này cho
    đến khi thật vừa ý mới thôi.
    Vừa thấy chúng tôi, Hoàng đế Amenophis đã hỏi:
    - Này Horemheb, ngươi thấy những bức tượng này như
    thế nào?
    Horemheb nhìn ngắm qua loa một vài pho tượng rồi
    khéo léo nói:
    - Pho tượng nào cũng đẹp cả, hạ thần là kẻ chỉ biết dùng
    kiếm chứ không biết gì nhiều về nghệ thuật, xin Pharaoh
    hãy hỏi những người có khiếu thẩm mỹ hơn.
    Hoàng đế quay qua tôi:
    - Phần ngươi thấy sao?
    Tôi chăm chú quan sát những pho tượng nhưng thất
    vọng vì không hiểu sao chúng không giống Hoàng đế chút
    nào. Pharaoh Amenophis có khuôn mặt dài như mặt ngựa,
    đôi lông mày rất rậm và hai con mắt lớn, gần như lồi ra.
    Theo tiêu chuẩn lúc đó thì ngài không phải là người "đẹp
    trai" cho lắm nhưng đa số pho tượng nào cũng tạc ngài có
    khuôn mặt vuông vức, cặp mắt oai nghiêm với những đường
    nét hùng tráng. Tuy Hoàng đế cao lớn nhưng vì ít hoạt động
    nên bụng ngài cũng to hơn người thường. Thế mà các nhà
    điêu khắc lại tạc ngài có một thân thể cân đối, khỏe mạnh,
    ngực nở, bụng thon. Tôi định lên tiếng phê bình thì bỗng
    Horemheb đằng hắng một tiếng lớn khiến tôi giật mình ấp
    úng, nửa muốn nói, nửa lại ngại ngùng.
    Hoàng đế mỉm cười:
    - Ta đang trách các nhà điêu khắc vụng về vì các pho
    tượng này không giống ta chút nào. Ta muốn họ tạc lại cho
    đúng với sự thật… Này Sinuhe, ngươi đừng ngại ngùng gì,
    cứ thẳng thắn nói đi.
    - Hạ thần đồng ý với nhận xét của Pharaoh.
    Nghe thế, Horemheb liền phát tay ra hiệu cho các nhà
    điêu khắc:
    - Các ông đã nghe rõ lệnh của Pharaoh chưa?
    Các nhà điêu khắc nhìn nhau ngơ ngác. Theo truyền
    thống Ai Cập, Pharaoh vừa là người, vừa là thần, làm trung
    gian giữa các sức mạnh huyền bí và các kiến thức siêu việt.
    Một người như thế phải có hình dáng oai nghiêm, hùng
    tráng khác thường chứ tạc hình một kẻ mặt dài, mắt lồi,
    bụng phệ thì có khác gì chế giễu Hoàng đế? Tội phạm
    thượng như thế có thể bị quăng vào hầm sư tử đói ngay.
    Không những thế, đây là bức tượng mẫu làm chuẩn cho mọi
    công trình kiến trúc, nghệ thuật và tài liệu lịch sử sau này.
    Không lẽ trong các lăng tẩm, bia đá, thạch trụ lại tạc hình
    một người "xấu trai" như thế sao?
    Hình như đoán được ý các nhà điêu khắc, Hoàng đế
    Amenophis mỉm cười khuyên:
    - Các ông hãy làm việc cho đúng với sự thật, đừng thay
    đổi hay thêm thắt gì. Nghệ thuật chân chính là việc nói lên
    sự thật vì chỉ có sự thật mới tồn tại muôn đời. Các ông đừng
    vẽ vời những đường nét không đúng với sự thật.
    Các nhà điêu khắc vội vã bắt tay vào việc. Hoàng đế
    Amenophis thong thả ngồi xuống ghế làm mẫu. Một gã nô
    lệ đưa vào một đoàn hát giúp vui. Horemheb ra dấu cho tôi
    ngồi xuống nghe nhưng tôi không phải là người biết thưởng
    thức âm nhạc nên chỉ ngồi nghe lấy lệ. Truyền thống âm
    nhạc Ai Cập gắn liền với tôn giáo, đa số các nhạc sĩ đều
    được giáo dục cẩn thận trong các đền thờ vì âm nhạc chính
    là những nghi thức tôn giáo. Cũng vì thế, đối tượng của âm
    nhạc luôn luôn bị giới hạn và tập trung vào việc ca tụng
    thần linh hoặc công lao của Pharaoh mà thôi.
    Nghe một lúc, Hoàng đế Amenophis nhăn mặt:
    - Ta chán những loại âm nhạc như thế này rồi.
    Horemheb hãy ra ngoài thành tìm cho ta một đoàn hát rong
    vào đây.
    Đoàn hát rong là những nghệ sĩ lang thang sống rày đây
    mai đó và không chịu sự quản thúc của các giáo sĩ trong
    đền thờ. Không những người hát rong có một loại nhạc khác
    thường mà còn sử dụng các nhạc khí khác hẳn với các nhạc
    khí truyền thống. Vì không chịu tuân theo các khuôn mẫu
    tôn giáo nên đối tượng âm nhạc của họ rất tự do, phóng
    khoáng và vì thế các nhóm hát rong đều bị giới giáo sĩ lên
    án gắt gao. Có nhiều lúc họ bị ngược đãi, tù đày và loại
    nhạc của họ bị cấm đoán nhưng họ vẫn lén lút hoạt động vì
    nhạc của họ thích hợp với lòng dân hơn các loại nhạc truyền
    thống tôn giáo.
    Một lúc sau, Horemheb dẫn vào một đoàn hát rong phục
    sức rất lạ lùng. Họ ngơ ngác nhìn Pharaoh với một vẻ e dè,
    sợ sệt vì không biết vị hoàng đế này muốn gì.
    Đoàn hát gồm một ông già sử dụng nhạc khí, hai thanh
    niên chuyên nhào lộn biểu diễn và ba cô gái vừa múa, vừa
    hát, vừa kể chuyện cổ tích dân gian. Được lệnh, họ bắt đầu
    trổ tài nhưng có lẽ còn e ngại nên họ tự giới hạn việc trình
    diễn trong các bản nhạc truyền thống mà thôi.
    Nghe một lúc, Hoàng đế lên tiếng:
    - Phải chăng các ngươi từ miền Đông đến?
    - Thưa vâng, chúng tôi đến từ vùng Beda.
    Hoàng đế gật đầu ra lệnh:
    - Nếu vậy ta muốn nghe những bài hát đặc biệt của dân
    Palestine.
    Đối với người Ai Cập, Palestine chỉ là miền sa mạc hoang
    vu, dân cư thưa thớt sống quanh những ốc đảo và bị coi
    khinh là man di mọi rợ. Việc Pharaoh thưởng thức nhạc của
    kẻ thiếu văn minh này là một điều hết sức bất ngờ cho
    những nhạc công trong triều. Tôi nhìn rõ những nét mặt khó
    chịu, đầy bất mãn của họ nhưng dĩ nhiên không ai dám có
    phản ứng gì. Tôi ngồi nghe một lúc rồi nhân cơ hội không ai
    để ý, chuồn về nhà trọ nghỉ ngơi.
    Việc một Pharaoh lại thích nghe những loại nhạc dân
    gian này được loan truyền khắp thủ đô. Người ta bàn tán
    xôn xao, người chê, kẻ khen nhưng vài hôm sau khi có tin
    một đoàn hát rong khác cũng được mời vào cung trình diễn
    thì dư luận đã thay đổi nhanh chóng. Khắp Memphis, các
    đoàn hát rong ở đâu xuất hiện như cỏ dại sau cơn mưa rào.
    Các bài hát với thể nhạc và âm điệu mới được dịp phổ biến
    và lan rộng khắp nơi.
    Ít lâu sau, khi pho tượng mẫu của Hoàng đế Amenophis
    đời thứ tư được hoàn tất thì người ta còn sửng sốt hơn nữa.
    Đây là lần đầu tiên người Ai Cập thấy Pharaoh của họ có
    đường nét giống người hơn là một vị thần. Pho tượng
    Pharaoh có khuôn mặt dài, lông mày rậm, mắt lồi và chiếc
    bụng khá lớn đã trở thành đề tài của nhiều cuộc bàn cãi sôi
    nổi. Người bảo thủ thì chê Pharaoh không có khiếu thẩm mỹ
    nhưng giới nghệ sĩ đã dẫn chứng câu nói của Pharaoh:
    "Nghệ thuật chân chính là việc nói lên sự thật vì chỉ có sự
    thật mới tồn tại muôn đời" như bằng chứng cho sự thay đổi
    đang bắt đầu.
    Theo truyền thống, cửa cung điện luôn luôn đặt một tấm
    bia đá ghi chép công trạng của Pharaoh đương thời. Khi vua
    qua đời, tấm bia đá này sẽ được chôn theo mộ vua như một
    chứng tích về cuộc đời và công trạng hiển hách của hoàng
    đế đối với lịch sử Ai Cập. Vì tầm mức quan trọng của nó, các
    Pharaoh đều cho khắc thêm hình ảnh của mình oai nghiêm
    ngồi trên ngai vàng với các thần linh bao quanh che chở và
    ban phép lành.
    Đến đời Pharaoh Ahmose, nhà vua cho khắc hình ảnh
    của vua và mẹ vua, Thái hậu Ebana, ngồi cạnh nhau. Đây là
    lần đầu trong lịch sử Ai Cập, hình ảnh một người đàn bà
    được khắc lên tấm bia đá danh dự này. Trong suốt mấy chục
    năm, Hoàng đế Ahmose phải lo đánh nam dẹp bắc, mở
    mang bờ cõi cho Ai Cập nên mẹ vua, Thái hậu Ebana, đã
    thay mặt ông trông coi việc triều chính, do đó bà được
    hưởng danh dự này.
    Đến đời Pharaoh Amenophis đệ nhất, nhà vua cũng cho
    khắc hình ảnh mình và mẹ mình, Thái hậu Nofretari, lên bia
    đá. Sở dĩ Thái hậu Nofretari được tôn sùng vì bà đã cho xây
    nhiều đền thờ khắp nước và được giới giáo sĩ coi là ân nhân
    lớn của họ. Hình ảnh bà và Pharaoh đang làm lễ dâng
    hương trước bàn thờ thần linh, với các giáo sĩ đứng hầu
    chung quanh, đã nói lên lòng sùng tín và sức mạnh của tôn
    giáo trong triều đại này.
    Pharaoh Amenophis đệ nhị có công mở mang bờ cõi lên
    miền bắc. Ông chiếm đất Palestine và Syria, bắt sống hai vị
    vua xứ này rồi cầm tù họ trong nhiều năm trước khi thả ra.
    Ông cho khắc hình ảnh của mình oai hùng ngồi trên xe
    ngựa với hai vị vua xứ kia bị trói ở phía sau.
    Theo gương cha, Pharaoh Amenophis đệ tam tiếp tục mở
    mang bờ cõi cho Ai Cập. Phía bắc, ông đánh phá Syria và
    Palestine, bắt hai xứ này qui phục làm chư hầu, hàng năm
    phải triều sống. Phía nam, ông xua quân chiếm Nubia và
    bắt hàng ngàn trẻ con xứ này mang về Ai Cập làm nô lệ.
    Vua xứ Nubia phải cắt một nửa lãnh thổ, những vùng có mỏ
    vàng mỏ bạc, cống hiến cho Ai Cập. Không như Syria và
    Palestine là nước chư hầu, Nubia trở thành thuộc địa, đặt
    dưới sự cai quản của một hoàng thân có công lớn là Oka
    Mazuk (ông ngoại tôi). Pharaoh Amenophis đệ tam đã cho
    ghi khắc hình ảnh của mình oai hùng ngồi trên xe ngựa,
    theo sau là những đoàn xe chuyên chở tài nguyên, chiến lợi
    phẩm, cùng rất nhiều nô lệ bị trói dẫn đi theo xe.
    Dư luận Ai Cập bắt đầu bàn tán, không biết Pharaoh
    Amenophis đệ tứ sẽ cho ghi khắc hình ảnh, công trạng của
    mình như thế nào lên tấm bia đá danh dự kia? Không lẽ lại
    tạc hình một kẻ mặt dài, lông mày rậm, bụng to ngồi xem
    các đoàn hát rong trình diễn? Khắp Memphis, người ta đã
    bàn bạc và đánh cá với nhau về hình ảnh ghi khắc trên tấm
    bia này cho đến khi nó được công bố: Theo gương cha và
    ông nội, Hoàng đế Amenophis đời thứ tư cũng cho khắc hình
    ảnh của mình đứng trên xe ngựa. Thay vì cầm gươm thì nhà
    vua lại cầm một bó hoa và đang ôm hôn Hoàng hậu
    Nefertiti một cách nồng nàn. Thay vì có các thần linh bao
    quanh che chở thì nhà vua cho khắc một chiếc đĩa vàng
    (Aten) to lớn, tượng trưng cho ngôi Thái Dương. Ngay trên
    tấm bia, Hoàng đế còn ban sắc lệnh thay đổi danh hiệu cho
    mình từ Amenophis đời thứ tư thành Akhenaten đời thứ
    nhất.
    (Akhenaten có thể tạm dịch là thuận theo ý trời hay ngôi
    Thái Dương, tượng trưng bằng chiếc đĩa tròn (Aten). Chữ
    Akhen có nghĩa là hoàn toàn dâng hiến. Chữ Khen, gốc ở bộ
    chữ Shu còn có nghĩa là ánh sáng hướng dẫn. Cuốn Tử Thư
    Ai Cập đề cập rất nhiều đến bộ chữ Shu và sử dụng chữ
    Khen như luồng sáng hướng dẫn linh hồn đi tái sinh hay sự
    đổi mới. - Ghi chú của dịch giả)
    Tấm bia đá lịch sử này đã tạo ra một chấn động lớn
    khắp nước. Giới giáo sĩ cực lực phản đối vị lãnh đạo tinh
    thần của họ vì không chú trọng gì đến các thần linh mà chỉ
    đề cao một chiếc đĩa tròn, tượng trưng cho ngôi Thái
    Dương. Ngoài ra họ cũng bất mãn về việc nhà vua cho khắc
    hình ảnh một người đàn bà, chưa có công trạng gì rõ rệt,
    lên tấm bia đá danh dự. Giới quan lại cũng hết sức khó chịu
    vì việc đầu tiên Pharaoh ban hành là những đạo luật giảm
    thuế, bãi bỏ việc sưu tra để bắt đinh và cắt giảm quyền
    hành của một số quan lại và giáo sĩ. Giới quân nhân cũng
    phản đối vị lãnh đạo quân sự của họ, thay vì cầm gươm
    giáo lại cầm một bó hoa. Một vị chỉ huy thích hoa và đàn bà
    hơn gươm giáo như thế sẽ khó lòng gây chiến tranh và nếu
    không có chiến tranh thì quân đội sẽ không được hưởng các
    quyền lợi vật chất như đất đai, nô lệ; đó là chưa kể việc
    thăng quan tiến chức nhờ chiến tranh.
    Tuy nhiên với người dân Ai Cập thì việc có một Pharaoh
    "khác thường" này đã tạo ra nhiều thích thú bất ngờ và mở
    đầu cho một phong trào cải cách chưa từng có trong lịch sử.
    Người ta bắt đầu nói đến tình yêu nam nữ trong văn chương
    và âm nhạc; người ta đề cập đến thời trang phụ nữ qua
    hình ảnh Hoàng hậu Nefertiti.
    Khi mối đe dọa của chiến tranh không còn nữa, qua
    những hòa ước ký kết với các nước láng giềng, thì người dân
    Ai Cập bắt đầu lo kiến thiết. Các công trình xây cất được
    khởi công từ Abka, sát biên giới Nubia đến Beda, biên giới
    Palestins. Khắp nơi, các thi sĩ được tự do làm thơ, các đoàn
    hát rong được tự do phổ biến tư tưởng mới lạ và nhiều môn
    văn học nghệ thuật mới được phát sinh.
    Người Ai Cập rất thích bích họa nhưng hầu như từ trước
    đến nay, mọi tranh ảnh đều có tính cách tôn giáo, miêu tả
    giai thoại phục sinh của thần Osiris hay việc xét xử của thần
    Horus. Kể từ lúc Hoàng đế Akhenaten lên ngôi, không đề
    cao thần linh nữa, thì những bức tranh miêu tả đời sống
    bình thường của người dân bắt đầu xuất hiện. Tranh vẽ cảnh
    dân chúng làm ruộng, cảnh những thuyền đánh cá trên
    sông Nile, cảnh trẻ con chơi đùa trong những ngày hội v.v…
    được vẽ nhan nhản khắp nơi. Các họa sĩ đua nhau sáng tác,
    các trường phái hội họa ra đời đưa nghệ thuật hội họa Ai
    Cập lên một địa vị quan trọng chưa từng có.
    Ngành thủ công nghệ cũng phát triển. Các hàng sợi dệt
    được phổ biến khắp nơi nên thời trang cũng bắt đầu thay
    đổi. Mái tóc của phụ nữ được chải chuốt và bới cao lên thay
    vì để xõa, rồi được tô điểm bằng những màu sắc lạ lùng. Đồ
    trang sức, mỹ phẩm từ các xứ quanh vùng như Assyria, Ba
    Tư, Babylon, A Phú Hãn, Ấn Độ được dịp tràn vào thị trường
    Ai Cập khiến việc buôn bán, trao đổi hàng hóa phát triển
    mãnh liệt. Những bộ lạc Do Thái nghèo đói sống vất vưởng
    trong vùng Palestine bỗng trở nên những con buôn thiện
    nghệ, hăng hái tìm đến những nơi xa xôi mua những thứ
    hiếm có để bán tại Ai Cập.
    Từ trước đến nay, văn kiện, thư từ đều được khắc lên
    bảng đá hoặc ghi lại trên giấy chỉ thảo rất tốn kém, chỉ
    dành cho triều đình và giới quí tộc. Từ lâu, người Ba Tư đã
    phát kiến ra việc sử dụng những mảnh đất sét để khắc chữ
    vào rồi nung lên để giữ được lâu nên việc liên lạc, truyền
    thông đã được phổ biến mạnh mẽ. Ba Tư là xứ yêu chuộng
    văn chương, thơ phú nên thơ văn ghi chép trên những mảnh
    đất nung này cũng theo hàng hóa truyền vào Ai Cập. Các
    bài thơ ghi trên mảnh ngói được thanh niên nam nữ truyền
    tay nhau đọc rất nhiều.
    Chỉ một thời gian ngắn sau khi Hoàng đế Akhenaten lên
    ngôi, bộ mặt của Ai Cập đã đổi khác. Từ Memphis đến
    Thebes, từ Edfu đến Hiba đều tràn ngập những đoàn thương
    buôn khắp nơi kéo đến mua bán, đổi chác.
    Đối với người Ai Cập, Pharaoh là một vị thần có trách
    nhiệm cai trị xứ này, quyền hành của Pharaoh là tuyệt đối,
    kẻ nào bất tuân sẽ bị xử tử, nên dù không đồng ý với chủ
    trương cải cách của Akhenaten nhưng không ai dám tỏ thái
    độ. Sau Pharaoh là giới giáo sĩ, làm trung gian giữa thần và
    người, phụ tá cho Pharaoh trong việc cai trị Ai Cập. Dù
    Pharaoh được truyền ngôi cho con nhưng người này chỉ
    chính thức trở thành Pharaoh sau khi được các giáo sĩ làm
    nghi lễ phong vương. Trong buổi lễ này, Pharaoh sẽ hứa hẹn
    với thần linh một số điều kiện như cúng lễ vật, xây cất đền
    thờ, hoặc ban hành các đạo luật dành nhiều quyền lợi cho
    giới giáo sĩ.
    Không ai biết lúc lên ngôi, Akhenaten đã hứa hẹn những
    gì nhưng việc ông thay đổi nghi thức trong triều, không đề
    cao thần linh mà tôn thờ chiếc đĩa tròn (Aten) tượng trưng
    cho ngôi Thái Dương đã làm giới giáo sĩ quan tâm nhưng họ
    chưa dám tỏ thái độ. Đa số chưa quên biến cố phản loạn
    vừa xảy ra. Mặc dù Akhenaten đã ra lệnh thiêu hủy chứng
    tích, không trừng phạt ai nhưng mọi người đều biết
    Smenkere là người đã đích thân điều tra, phát hiện các
    phần tử phản nghịch nên ai cũng kiêng nể ông này. Việc
    Akhenaten phá lệ, phong cho một người ngoài dòng họ như
    Smenkere làm tể tướng đã củng cố ngôi vị của Pharaoh
    thêm vững chắc.
    Người Ai Cập tôn thờ rất nhiều thần linh, hầu như làng
    mạc, thôn xóm nào cũng có những vị thần địa phương như
    thần làng, thần cây, thần sông, thần núi. Không những thế,
    mỗi gia tộc còn có những thần linh trông nom gia tộc của
    họ. Họ xây cất một nhà từ đường để những người trong gia
    tộc đến đó lễ bái, cầu xin. Trên nguyên tắc, thần gia tộc
    không nhiều quyền lực như thần làng, thần làng không
    nhiều quyền lực bằng thần tỉnh, và thần tỉnh không bằng
    các thần linh cai trị những vùng có phạm vi địa lý rộng lớn
    hơn.
    Có hàng ngàn thần linh và những thần này luôn luôn
    thay đổi tùy theo các biến cố xảy ra trong xã hội loài người.
    Một gia đình giàu có, thế lực, có thể ảnh hưởng đến cả làng,
    có nghĩa là vị thần gia tộc đó đã mạnh hơn vị thần làng.
    Người gia trưởng của gia tộc đó có quyền làm lễ truất phế
    thần làng, bắt mọi người trong làng phải thờ cúng vị thần
    gia tộc của mình và phong vị này lên chức thần làng. Khi
    một người làm quan lớn, được Pharaoh ban cho cả một vùng
    đất thì thần gia tộc đó được suy tôn thành vị thần trông coi
    toàn vùng đó, và hiển nhiên mọi người trong vùng đều phải
    thờ cúng vị thần này.
    Mỗi khi các thành phố hay làng xã được sát nhập vào
    nhau thì dân chúng các vùng liên hệ sẽ bàn tính thảo luận
    xem thần nào phải ra đi và thần nào ở lại để được thờ cúng.
    Do đó danh hiệu và quyền lực các vị thần luôn luôn thay đổi
    tùy theo các biến cố xã hội.
    Ngoài ra còn có những vị thần sông, thần núi, thần sa
    mạc, thần đất, thần cây, thần mặt trời, mặt trăng, thần
    công lý, và các vị thần cai quản các cõi giới vô hình nữa. Vì
    có quá nhiều thần linh và danh xưng thay đổi luôn luôn nên
    chỉ các giáo sĩ mới thuộc hết tên các vị thần và biết làm các
    lễ nghi thờ cúng mà thôi. Từ đó, giới giáo sĩ trở nên một
    quyền lực rất mạnh vì làm trung gian giữa thần và người.
    Họ chỉ thua có Pharaoh vốn vừa là người vừa là thần. Tuy
    quyền lực giáo sĩ cao hơn các quan nhưng các quan lại có
    một quyền lực khác, thực tế hơn, là quân đội; cho nên giới
    giáo sĩ và quan lại thường hợp tác với nhau rất chặt chẽ để
    bảo vệ quyền lợi cũng như quyền lực của đôi bên.
    Ngoài các thần linh địa phương, người Ai Cập còn thờ
    phụng những thần khác như Thoth, vị thần tượng trưng cho
    minh triết. Theo truyền thuyết, chính Thoth đã hướng dẫn
    dân chúng xứ này cách cày bừa, canh tác, săn bắn và thờ
    cúng thần linh. Những lời dạy bảo của thần Thoth được
    truyền tụng sâu rộng trong dân gian và được đúc kết lại
    thành cuốn Tử Thư Ai Cập (Egyptian Book of the Dead).
    Nhiều người coi đó là cuốn sách nói về các nghi thức thờ
    cúng, đọc thần chú, làm lễ khâm liệm, tống táng người chết
    nhưng thật ra trong đó còn đề cập đến sự thành lập vũ trụ,
    quan niệm sống và một số đoản văn với những ẩn nghĩa
    huyền bí đặc biệt mà chỉ một số rất ít giáo sĩ hiểu được mà
    thôi.
    Theo cuốn Tử Thư, lúc đầu vũ trụ chỉ là một luồng ánh
    sáng tinh khiết không có màu sắc (tượng trưng cho sự Tuyệt
    đối), nhưng sau phân chia ra thành hai màu đen và trắng
    hay ngày và đêm (tượng trưng cho sự Tương đối). Từ khi có
    sự phân chia này thì quan niệm hữu hình - vô hình, chánh
    tà, thiện ác, tốt xấu, bắt đầu nảy sinh. Chính sự phân chia
    này đã làm đảo lộn trật tự trong vũ trụ, tạo ra các động lực
    xoay vần theo các vòng xoáy và sinh ra những cảnh giới
    hữu hình cũng như vô hình. Trong cảnh giới hữu hình, các
    động lực tiếp tục xoay vần tạo ra tinh tú, rồi các tinh tú tiếp
    tục xoay vần phát sinh ra vô số các tinh tú khác, mãi mãi
    không bao giờ ngưng. Quan niệm về cái gọi là vô tận
    (infinity) mãi mãi không chấm dứt này chính là then chốt
    của cuốn Tử Thư Ai Cập vì nó ám chỉ vũ trụ tương đối chỉ là
    những động lực chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau nên không có
    sự chấm dứt (sự chết) mà chỉ có sự thay đổi, biến thiên,
    chuyển hóa, từ trạng thái này qua trạng thái khác, từ cõi
    giới này qua cõi giới khác, từ kiếp sống này qua kiếp sống
    khác, như ngày và đêm, sáng và tối, đen và trắng, v.v…
    Ngoài nghi thức cúng tế người chết, cuốn Tử Thư Ai Cập
    (chương 13) còn đế cập đến sự sống: "Trong sự hỗn loạn
    của những xoay vần trong vũ trụ, thần Nu đã tạo ra trái đất
    nhưng lúc đó trái đất chưa có sự sống. (Nu được coi như vị
    thần đã tạo ra quả đất này). Chính nhờ ánh sáng của Ra
    (mặt trời) rọi xuống trái đất mà trái đất mới có sự sống và
    từ đó muôn loài phát sinh". Vì lý do này, Ra hay thần mặt
    trời, được tôn kính như vị thần trông coi sự sống.
    Sách chép rõ: "Ta là thần Temu (có khi gọi là Amu),
    đấng duy nhất mang ánh sáng của Ra (Thái dương) đến
    Suten-Henen (tên một vùng sa mạc ở Ai Cập). Từ ánh sáng
    của Ra mà sự sống bắt nguồn và từ đó tất cả mọi vật phát
    sinh".
    Một số giáo sĩ cho rằng Temu là người đem ánh sáng của
    Ra đến trái đất và sinh ra loài người. Do đó Temu được coi là
    thủy tổ của loài người. Một số giáo sĩ khác quan niệm Temu
    là hóa thân của Ra, hay hình thức nhân cách hóa của Ra mà
    thôi. Vì là người đầu tiên trên trái đất nên Temu sinh sản
    bằng sự trực phân (thân thể tự động tách ra làm hai, làm
    bốn…) và đứa con đầu là Shu, sinh ra từ mắt bên phải của
    Temu. Lúc đó trời đất còn hỗn độn, chưa phân chia rõ rệt
    nên Shu đã dựng nên những cột trụ bằng đá để chống đỡ
    bầu trời, không cho trời sụp đổ xuống đất. Shu được coi là
    vị thần kiến thức vì Shu đã dạy cho loài người các kiến thức
    về toán học, vật lý, hóa học, thiên văn, kiến trúc, v.v…
    (Ghi chú: Tất cả mọi công trình xây cất tại Ai Cập từ các
    thánh điện, đền thờ, đến kim tự tháp đều có ghi những
    dòng chữ rằng họ đã làm theo họa đồ và phương pháp xây
    cất của Shu).
    Vì sở hữu kiến thức, tiêu biểu bằng chiếc cột chống trời
    của Shu, loài người không còn sống theo bản năng như loài
    thú mà bắt đầu biết suy nghĩ.
    Tefnut là em gái của Shu, sinh ra từ mắt bên trái của
    Temu. Tefnut không thờ cúng mặt trời (tượng trưng cho sự
    sống) mà đặt ra nghi thức thờ cúng mặt trăng (tượng trưng
    cho sự chết). Thay vì dạy bảo những kiến thức khoa học
    như anh thì Tefnut lại đặt ra các nghi thức huyền bí, truyền
    dạy giới hạn cho một số người.
    Cuốn Tử Thư Ai Cập đưa Temu, Shu và Tefnut lên địa vị
    ba ngôi (Trinity) với những mật nghĩa rất đặc biệt.
    Seb là con trai của Shu, hay thần đất (Thổ thần).
    Nut là vợ của Seb hay thần nước (Thủy thần).
    Osiris là con của Seb và Nut và là vị Pharaoh đầu tiên
    của Ai Cập, Isis là vợ của Osiris và là hoàng hậu đầu tiên
    của Ai Cập.
    Seth là em của Osiris, tranh giành ngôi Pharaoh với anh,
    rồi giết anh cắt thây thành mười bốn mảnh chôn quanh Ai
    Cập.
    Isis, vợ của Osiris, lúc đó đang có thai, phải bỏ trốn vào
    một đạo viện và học hỏi được những giáo lý huyền môn. Isis
    lập đàn, đọc thần chú khiến cho Osiris tuy bị phân thây
    nhưng các mảnh này tự nhiên ráp lại rồi hồi sinh. (Sự hồi
    sinh của Osiris được giải thích như sự chiến thắng sự chết,
    sự chuyển hóa hay niềm hy vọng của con người).
    Isis sinh ra Horus, và chính Horus sau này đã tranh lại
    ngôi vị Pharaoh từ Seth, chú ruột của mình.
    (Truyền thuyết về Osiris, Isis, Horus và Seth đã được
    truyền tụng từ đời này qua đời khác, gần như người Ai Cập
    nào cũng biết. Theo các nhà khảo cổ, đây là một trong
    những câu chuyện cổ nhất của lịch sử nhân loại. Các cổ mộ
    xây từ 4000 năm trước Công nguyên đều có đề cập đến sự
    tích này. - Ghi chú của dịch giả)
    Osiris tuy chết nhưng hồi sinh nên trở thành vị thần cai
    quản cõi chết, có nhiệm vụ xét xử người chết. Isis nhờ học
    hỏi các kiến thức huyền bí, biết lập đàn tràng, đọc thần chú
    nên được coi là vị thần trông coi kiến thức huyền môn. Isis
    thường được tượng trưng bằng hình ảnh người đàn bà có
    khuôn mặt được che bằng một tấm lụa mỏng hay một thiếu
    nữ để một ngón tay lên miệng, ngụ ý rằng chân lý tuyệt đối
    vốn không thể tiết lộ hay nói được. Horus tượng trưng cho
    lòng can đảm, sự thật, lẽ phải và thường được vẽ lại qua
    hình ảnh một người đầu chim ó. (Đối với người Ai Cập, chim
    ó tượng trưng cho lẽ phải hay sự không sợ hãi). Seth vì giết
    anh, tranh ngôi nên được coi là tượng trưng của những gì
    xấu xa, tàn ác, hung dữ và luôn luôn được vẽ như một
    người mặc áo đen. Cuộc tranh đấu giữa Horus và Seth còn
    được coi là sự tranh đấu giữa chánh và tà, giữa thiện và ác,
    giữa phải và trái, v.v…


    CHƯƠNG 6
    Một buổi chiều tôi đang đọc sách thì Horemheb đẩy cửa
    bước vào:
    - Này Sinuhe, hôm nay tao sẽ đưa mày đến một nơi mà
    mày sẽ không bao giờ quên được.
    - Nơi nào thế?
    Horemheb mim cười bí mật:
    - Tao được thăng quan tiến chức là nhờ mày, nên hôm
    nay tao đưa mày đi ăn mừng một bữa cho biết mùi đời.
    Horemheb đưa tôi đến một biệt thự sang trọng nằm sát
    bờ sông Nile. Tuy đã từng qua lại hoàng cung mà tôi vẫn
    phải ngạc nhiên trước sự trang hoàng lộng lẫy của ngôi biệt
    thự này. Tôi đoán chủ nhân của nó hẳn phải là một bậc thân
    vương, đại thần vì thế đã sững sờ trước một thiếu nữ xinh
    đẹp, kiều diễm trong chiếc áo màu hồng nhạt với những nữ
    trang lạ lùng chưa từng thấy mà Horemheb cho biết đó mới
    chính là chủ nhân.
    Cô ta ngồi trên chiếc ghế dài, quan sát mọi việc diễn ra
    chung quanh với một vẻ lạnh lùng, thản nhiên. Quanh đó
    còn có các thiếu nữ xinh đẹp khác đang tiếp đãi khách khứa
    mà tôi nhận ra một vài vị quan trong triều. Trên bàn tiệc
    bày đầy những sơn hào hải vị mà tôi chưa từng biết. Cuối
    phòng là một ban nhạc đang trình diễn những điệu nhạc kỳ
    lạ mà tôi chưa từng nghe.
    Thấy vẻ ngơ ngác của tôi, Horemheb bật cười:
    - Nhạc của dân Babylon đó, man rợ và đầy kích động,
    mày không biết ư?
    - Không, tao không biết gì về âm nhạc cả.
    Horemheb là người quảng giao. Vừa đến nơi hắn đã đi
    vòng quanh các bàn tiệc thăm hỏi người này ít câu, chuyện
    trò với người khác vài thứ và liên tục uống rượu. Tôi rụt rè
    đi theo nhưng vì không biết uống rượu nên chỉ cười trừ. Khi
    chung tôi ngồi xuống bàn thì một nhóm thiếu nữ xinh đẹp
    đã ùa đến bao quanh.
    Horemheb cười ha hả, chỉ vào tôi:
    - Đây là Sinuhe, em kết nghĩa của ta. Mọi việc đã có ta
    lo, các cô hãy tiếp đãi hắn cho tử tế.
    Nhóm thiếu nữ chỉ chờ có thế, đua nhau mời mọc tôi đủ
    điều nhưng tôi không quen nên lắc đầu từ chối lia lịa. Từ
    trước đến nay tôi tiếp xúc với phụ nữ qua việc chữa trị, săn
    sóc bệnh nhân nên gặp hoàn cảnh này, tôi đâm ra lúng
    túng, không biết đối đáp ra sao. Vì không biết phải làm gì
    nên tôi chỉ ừ ào cho qua chuyện, bất chấp mọi lời mời mọc
    chào đón. Horemheb đã bước qua bàn khác, cười đùa ầm ĩ
    với một số bạn hữu quen biết từ trước. Các món ăn sang
    trọng, thơm phức được mang đến cho tôi nhưng vốn là
    người quen sống thanh bần, dù các cô mời tiếp mãi mà tôi
    vẫn không nuốt trôi. Thấy tôi không ăn mà cũng chẳng
    uống bao nhiêu, các thiếu nữ tỏ ra chán nản, dần dần kéo
    nhau qua bàn khác, mặc tôi ngồi đó ngơ ngác nhìn quanh.
    Tôi thấy nữ chủ nhân vẫn ngồi trên chiếc ghế dài, nét mặt
    lạnh lùng như băng trước sự ồn ào, náo nhiệt của căn
    phòng.
    Tôi đang quan sát thì Malik, một đại quan trong triều từ
    bàn tiệc bước đến bên cạnh chủ nhân, đặt trước mặt cô một
    chuỗi ngọc sáng ngời và nói:
    - Hãy cười lên đi em, hãy ban cho ta một cụ cười đi!
    Nữ chủ nhân vẫn thản nhiên ngồi yên, sắc mặt lạnh
    lùng. Malik quì xuống ôm lấy chiếc chân trần của cô này
    mơn trớn:
    - Nàng hay ban cho ta một nụ cười, chỉ một nụ cười thôi
    cũng đủ làm ấm lòng ta nhiều lắm rồi.
    Người thiếu nữ vẫn dửng dưng, bất chấp quan đại thần
    cứ lải nhải nói những câu thừa thãi. Sau cùng dường như
    khó chịu, cô khẽ phất tay. Một người nô lệ da đen thân hình
    cao lớn, bước đến lôi xốc quan đại thần ra chỗ khác. Tôi
    ngạc nhiên vì Malik có quyền uy rất lớn trong triều, chỉ một
    lệnh ban ra đã có thể làm rơi hàng trăm chiếc đầu, thế mà
    ông ta vẫn để cho một tên nô lệ kéo đi như vậy mà không
    có phản ứng gì.
    Một người lái buôn Ba Tư, thân hình cao lớn, bước đến
    bên nữ chủ nhân với một túi vàng lớn:
    - Ta không cần em cười nhưng ít ra em hãy nói với ta
    một câu, chỉ một câu mà thôi là số vàng này sẽ thuộc về
    em liền.
    Thiếu nữ có vẻ giận, đôi mày có hơi nhíu lại và miệng
    hơi bĩu ra. Chỉ có thế thôi mà gã lái buôn đã sợ cuống lên:
    - Xin lỗi, ta đã lỡ lời. Em không cần phải nói gì, chỉ nhìn
    ta cũng đủ…
    Người thiếu nữ khẽ liếc nhìn gã lái buôn nhưng nét mặt
    cô vẫn lạnh lùng như băng giá. Gã lái buôn mừng rỡ quì
    mọp xuống bên cạnh cô nói lung tung những gì không rõ.
    Một lần nữa, thiếu nữ lại phất tay và gã nô lệ da đen ở đâu
    bước tới lôi phắt gã này ra ngoài. Tôi ngạc nhiên không biết
    thiếu nữ này là ai mà có quyền hành lớn như vậy! Vì mải
    theo dõi gã nô lệ kéo người lái buôn Ba Tư ra cửa nên khi
    tôi quay lại thì thiếu nữ chủ nhân đã đi đâu mất. Trên chiếc
    ghế dài chỉ còn lại một chiếc khăn màu hồng nhạt. Không
    hiểu sao tôi cảm thấy trong lòng tự dưng trống trải, dường
    như vừa mất mát một thứ gì.
    Ngay lúc đó, Horemheb ở đâu bước đến, hai tay ôm hai
    cô gái và cười ha hả:
    - Này Sinuhe, mày có muốn ra vườn sau hái hoa với tao
    không?
    Tự nhiên tôi cảm thấy khó chịu, không muốn đi đâu hết
    nên trả lời nhát gừng:
    - Mày cứ việc ra vườn đi, tao ngồi chờ ở đây được rồi.
    - Cái gì? Nếu mày muốn chờ tao thì… ít ra phải đến
    sáng.
    - Tại sao?
    Horemheb bật cười rồi hạ giọng nói nhỏ:
    - Hôm nay tao hái đến hai bông hoa nên chắc lâu lắm…
    Hai cô gái nghe hắn nói, bật cười khúc khích. Tôi khó
    chịu nhún vai:
    - Không sao, tao chờ được.
    Sau khi Horemheb bỏ đi rồi thì tôi mới thấy mình lầm.
    Quanh bàn tiệc, người ta cười nói ồn ào nhưng tôi cảm thấy
    lạc lõng làm sao. Tôi muốn đứng dậy ra về nhưng hình như
    tâm hồn còn vương vấn một điều gì không giải thích được.
    Tôi ngồi đó, bất chấp những người khách dập dìu qua lại, rồi
    như bị một điều gì kỳ lạ thúc đẩy tôi nâng ly rượu uống một
    hơi dài. Tiệc đã tàn. Những người khác dần dần bỏ đi đâu
    mất. Các thiếu nữ xinh đẹp cũng tản mát dần, chỉ còn tôi
    ngây ngô ngồi đó với một tâm trạng trống trải kỳ lạ. Đầu óc
    tôi trở nên hoang mang, không biết vì men rượu hay cái gì
    khác!
    Bất chợt tôi ngửi thấy một mùi hương rất dịu dàng.
    Thiếu nữ chủ nhân đang đứng trước mặt tôi. Cô đã thay đổi
    y phục, mặc một chiếc áo mỏng màu xanh nhạt. Cô hỏi:
    - Anh là ai? Tại sao còn ngồi đây?
    Giọng nói của cô thánh thót như thủy tinh khiến tôi cảm
    thấy chếnh choáng:
    - Tôi là Sinuhe, y sĩ cho hoàng đế Akhenaten…
    Thiếu nữ nhíu mày như suy nghĩ rồi nhẹ nhàng hỏi:
    - Phải chăng Sinuhe còn có nghĩa là "con người cô độc"?
    - Cha tôi nói Sinuhe có nghĩa là "người sống một mình".
    Ông chọn tên này trong một cuốn cổ thư nói về sự biết sống
    một mình…
    Tôi chưa nói hết thì thiếu nữ đã để tay lên môi ra hiệu
    cho tôi đừng nói rồi lắc đầu:
    - Em không thích… cô độc.
    Tự nhiên tôi thấy một cảm giác ấm áp kỳ lạ truyền đi
    khắp thân thể khiến tim tôi đập mạnh và miệng lưỡi trở nên
    khô ráo lạ thường. Thiếu nữ thì thầm:
    - Anh ơi, em rất sợ sống một mình…
    Chưa bao giờ tôi nghe câu nói nào tình tứ như thế. Tôi
    muốn lên tiếng nhưng không sao thốt nên lời. Thiếu nữ thản
    nhiên:
    - Vì thế mỗi đêm em đều mở tiệc để tránh sự cô đơn
    nhưng… tiệc vui nào rồi cũng có lúc tàn, và rồi mọi người
    đều bỏ đi và em lại cô đơn…
    Tôi run giọng nói không ra hơi:
    - Nhưng… nhưng còn có tôi đây.
    Thiếu nữ mỉm cười không nói nhưng tôi đã ngây ngất
    trước nụ cười hàm tiếu đó. Bất chợt tôi nghĩ đến quan đại
    thần Malik và gã lái buôn người Ba Tư. Cả hai đều sẵn sàng
    bỏ ra những số tiền rất lớn chỉ để đổi lấy nụ cười mỹ nhân.
    Tôi đâm ra ngượng ngùng:
    - Tôi chỉ là một y sĩ nghèo… không có gì để tặng cô hết.
    - Nhưng em đâu đòi hỏi anh một thứ gì.
    Tôi run giọng hỏi dồn:
    - Thật… thật… không?
    Thiếu nữ chăm chú nhìn tôi một lúc rồi thì thầm:
    - Nefer này chưa bao giờ đòi hỏi ai một thứ gì hết.
    Thì ra thiếu nữ tên là Nefer. Tôi say sưa nhắc lại tên
    nàng:
    - Nefer… Nefer… Ôi! Cái tên tuyệt đẹp…
    Thiếu nữ nhíu mày:
    - Chỉ có cái tên đẹp thôi sao?
    - Không… không đâu… Không những tên cô đã hay mà
    cô còn đẹp tuyệt vời nữa. Tôi chưa thấy ai đẹp hơn cô.
    Thiếu mỉm cười có vẻ hài lòng:
    - Anh khéo nói lắm. Người từng trải như anh chắc phải
    nói câu này nhiều lần rồi?
    Tôi cảm thấy chếnh choáng như người say rượu:
    - Không… không đâu… Đây là lần đầu. Tôi chưa hề khen
    ai hết.
    - Thôi đi, đàn ông các anh lúc nào cũng thế…
    Tôi thành thật:
    - Nefer, tôi chưa hề quen biết ai như cô… Thật ra cô là
    người phụ nữ đầu tiên…
    - Thế ư?
    Tôi nói như mê sảng:
    - Nefer, tôi không biết phải nói thế nào nữa. Nefer, cô
    đẹp tuyệt trần. Nhìn vào đôi mắt cô, tôi có thể quên đi tất
    cả mọi sự. Nhìn đôi môi của cô, tôi có thể làm tất cả mọi
    thứ cô muốn. Nefer, nếu được yêu thì dù chết tôi cũng sẵn
    sàng…
    Nefer chăm chú quan sát tôi rồi nhẹ nhàng hỏi:
    - Anh sẽ không hối hận chứ?
    - Hối hận ư? Làm sao tôi có thể hối hận được nếu…
    Nefer mỉm cười, nói thật chậm:
    - Này Sinuhe, Con Người Cô Độc! Anh có thể ở đây với
    em cho qua đêm nay nhưng anh hãy suy nghĩ thật kỹ vì anh
    chỉ có thể đến với em một lần mà thôi.
    Tôi giật mình hoảng hốt:
    - Tại sao? Tại sao… chỉ một lần thôi?
    Nefer nhìn tôi với vẻ thương hại:
    - Khi đến với em, người nào cũng mang cho em một
    món quà. Phần anh cũng thế, món quà của anh là sự ngây
    thơ nhưng anh chỉ có thể cho em một lần mà thôi…
    - Tại sao?
    - Vì sau đó anh sẽ được đối xử như mọi người đàn ông
    khác, không hơn, không kém.
    - Tại sao thế?
    Nefer có vẻ ngạc nhiên, khuôn mặt của cô chợt đanh lại
    nhưng rồi cô bật cười:
    - Sinuhe, anh thật ngây thơ! Không lẽ anh không biết
    em là ai sao? Anh hãy suy nghĩ cẩn thận vì em không muốn
    anh phải đau khổ sau này.
    - Tôi không cần, tôi chỉ muốn…
    Nefer mỉm cười nắm lấy tay tôi khiến tôi bủn rủn chân
    tay:
    - Anh đã suy nghĩ kỹ chưa?
    Tôi cảm thấy tim mình đập mạnh như muốn nhảy ra
    khỏi lồng ngực:
    - Tôi… tôi đã suy nghĩ kỹ rồi…
    ° ° °
    Nghe tiếng đập cửa, gã nô lệ da đen bước ra. Hắn nhìn
    tôi từ đầu xuống chân nhưng im lặng không nói gì. Tôi thu
    hết can đảm lên tiếng:
    - Tôi… tôi muốn gặp cô Nefer.
    - Ông là ai?
    - Tôi là Sinuhe… Tôi… đã từng đến đây… mấy hôm trước.
    Gã nô lệ lạnh lùng:
    - Nếu thế hẳn ông biết quy luật nơi đây. Ông có mang
    quà gì cho chủ nhân của tôi không?
    Tôi luống cuống:
    - Tôi… tôi không có gì cả nhưng…
    - Thế thì không được.
    Gã đóng sập cửa lại một cách tàn nhẫn. Hiển nhiên
    không phải là người thông minh tôi cũng biết rõ tình trạng
    hiện tại của mình. Sau cái đêm thần tiên đó, tôi biết chuyện
    gì sẽ xảy ra nhưng vẫn không thể quên Nefer được. Tôi đã
    đi qua đi lại trước cửa ngôi biệt thự này biết bao lần mà
    không dám vào. Tôi tự nhủ phải quên Nefer nhưng tôi vẫn
    không thể đừng nhớ tới ánh mắt và nụ cười nàng. Tôi đã tìm
    đủ mọi việc bận rộn để làm mong tìm quên nhưng hình ảnh
    Nefer vẫn ngự trị trong tim tôi.
    Tôi tìm đến kể lể với Horemheb thì hắn bật cười:
    - Trong trời đất thiếu gì đàn bà mà sao mày lại khổ vì
    một đứa như thế?
    - Nefer không giống những người đàn bà khác.
    Horemheb lắc đầu thương hại:
    - Có lẽ mày cần gặp những phụ nữ khác rồi mày sẽ quên
    nó.
    - Không, không bao giờ tao quên được Nefer.
    Horemheb không phải là người thích nói nhiều. Thấy tôi
    buồn, hắn rủ tôi đi uống rượu nhưng dù uống đến say mèm,
    tôi vẫn không thể quên được Nefer. Vài hôm sau, Horemheb
    phải hộ tống Pharaoh đi Tel El Amarna nên tôi không còn ai
    để tâm sự nữa. Sau nhiều đêm mất ngủ, tôi lại thất thểu
    tìm đến biệt thự của Nefer. Một lần nữa, gã nô lệ da đen mở
    cửa nhưng thấy tôi hắn bèn đóng sập cửa lại. Tuy thế tôi
    cũng thoáng thấy một người đàn ông đang ngồi sát bên
    Nefer. Cơn giận ở đâu tràn đến, tôi chồm lên đẩy gã nô lệ
    qua một bên để xông vào trong nhà nhưng tôi không đi
    được xa. Nghe tiếng động, một toán gia nhân khác đã xúm
    đến đè chặt tôi xuống đất.
    Trong cơn tuyệt vọng, tôi kêu lên:
    - Nefer! Nefer! Sao cô nỡ đối xử với tôi như vậy?
    Đám gia nhân bịt chặt miệng tôi lại và kéo thẳng tôi ra
    cửa nhưng bất ngờ thay, Nefer từ trong bước ra:
    - Này Sinuhe, em đã nói rất rõ với anh rồi…
    Tôi thều thào van xin:
    - Tôi biết… tôi biết nhưng… tôi vẫn muốn gặp cô.
    - Nếu muốn gặp em, anh cứ việc mang quà đến như
    những người khác.
    - Nhưng tôi chỉ là một y sĩ nghèo, tài sản chỉ có hai bàn
    tay trắng.
    Nefer nheo mắt nhìn tôi rồi lạnh lùng nói:
    - Anh vẫn có một căn nhà… phải rồi, một phòng mạch.
    Tôi giật mình như bị sét đánh trúng rồi lắp bắp nói
    không ra hơi:
    - Nhưng… đó là… đó là nhà của… cha mẹ tôi…
    - Em đã nói rồi, muốn gặp em anh phải mang quà đến.
    - Phải chăng… nếu tôi biếu cô căn nhà đó thì cô sẽ…
    Nefer nhăn mặt như không muốn nghe. Tự nhiên tôi
    cảm thấy hối hận hơn bao giờ hết:
    - Nefer, cô hãy tha lỗi cho tôi… đáng lẽ tôi không nên nói
    như thế.
    - Em không bao giờ đòi hỏi anh một thứ gì.
    - Đúng rồi! Đúng rồi!
    Tôi vội vã trở về Thebes thu xếp văn tự, địa đồ mà cha
    tôi vẫn cất kỹ trong tủ. Tôi nhặt nhạnh thuốc men, dụng cụ
    hành nghề y khoa của cha tôi để lại, mang hết ra chợ bán
    lấy một số tiền. Trước khi Kepta kịp phản ứng, tôi đã tống
    cổ tên nô lệ Do Thái này ra đường, rồi trở lại Memphis. Tôi
    phủ phục dưới chân Nefer, đưa cho cô này tất cả giấy tờ,
    tiền bạc. Cũng như lần trước, sau một đêm ân ái, tôi lại
    thấy mình lang thang trước cửa ngôi biệt thự đó. Trong cơn
    tuyệt vọng, tôi cố gắng gõ cửa một lần nữa.
    Gã nô lệ nhìn ngắm thân thể bạc nhược của tôi rồi lắc
    đầu:
    - Ông không nên trở lại đây nữa.
    - Nhưng tôi cần gặp cô Nefer.
    - Chủ tôi không bao giờ tiếp những người như ông đâu.
    - Xin chú hãy thương tôi, làm ơn cho tôi gặp Nefer.
    - Không được.
    Gã nô lệ đóng sập cửa lại. Tôi liều lĩnh đưa chân ra chận
    lại nên bị cánh cửa kẹp trúng làm máu phun ra có vòi. Tôi
    đau đớn rú lên nhưng gã nô lệ thản nhiên đẩy tôi ngã nhào
    ra thềm rồi khép chặt cửa. Tôi ôm chiếc chân đầy máu nằm
    gục trước cửa cho đến khi ngửi thấy mùi hương dịu dàng ở
    đâu thoảng đến.
    Nefer đứng trước bực thềm nói vọng xuống:
    - Này Sinuhe, em đã cảnh cáo anh từ trước rồi.
    - Tôi biết… tôi biết nhưng… tôi vẫn muốn gặp cô.
    - Nếu muốn gặp em, anh cứ việc mang quà đến như
    những người khác.
    - Nhưng… nhưng quả thật tôi không còn gì để tặng cô
    nữa.
    Nefer nhìn tôi chăm chú một lúc rồi thong thả nói:
    - Sinuhe, em biết anh vẫn còn một thứ.
    Tôi mừng rỡ kêu lớn:
    - Cái gì? Tôi còn cái gì?
    Nefer chỉ tay vào sợi dây đeo trên cổ mà hoàng đế
    Akhenaten đã tặng tôi:
    - Người ta nói rằng trong thời gian ẩn tu ngoài sa mạc,
    Pharaoh đã tự tay quấn lấy cho mình chiếc dây này để đeo
    trên cổ. Tuy nó không có giá trị hiện vật những nó cũng là
    thứ mà anh có thể tặng cho em được.
    Tôi run giọng:
    - Đây là kỷ vật của Pharaoh, đâu thể mang ra đổi chác
    được. Nếu ngài biết được thì tôi chỉ có nước chết.
    Nefer nhún vai thản nhiên:
    - Em chỉ muốn thử lòng anh thôi và bây giờ em biết rõ
    tình yêu của anh đối với em như thế nào rồi. Này Sinuhe,
    chiều nay có một đại phú thương từ Syria đến, ông ta sẽ
    tặng em một vòng ngọc mà khi xưa hoàng đế xứ Hitites đã
    phải tốn bao công phu mới chiếm được nó. So với chiếc
    vòng đó thì…
    Tôi đau đớn cởi sợi dây đeo trên cổ ra đưa cho Nefer:
    - Đây, cô hãy cầm lấy. Tôi sẵn sàng cho cô tất cả những
    gì tôi có.
    - Em không bao giờ đòi hỏi anh một thứ gì mà anh
    không muốn.
    - Đúng rồi! Đúng rồi! Cô cứ việc cầm lấy đi.
    Nefer nhận sợi dây đeo cổ rồi lắc đầu một cách thương
    hại:
    - Sinuhe, anh quả đã yêu em một cách tuyệt đối.
    Tôi thều thào:
    - Nefer… Nefer… Tại sao cô không thể yêu tôi tuyệt đối
    như vậy?
    Nefer im lặng nhìn tôi một lúc rồi ghé sát vào tai tôi thì
    thầm:
    - "Này Sinuhe, nếu anh có thể hiểu được em. Nếu anh
    có thể hiểu được tâm trạng một người con gái chưa đầy
    mười hai tuổi đã bị bán làm nô lệ như thế nào. Trong nhiều
    năm, người ta đã bán em từ chủ này qua chủ khác như bán
    một con vật.
    Em đã trải qua những giây phút nhục nhằn, tủi hổ và em
    đã tìm cái chết nhiều lần. Em đã từng yêu nhưng không
    được đáp lại. Em đã từng hiến tặng những gì em có nhưng
    chỉ nhận lại những phản bội, lường gạt. Em đã khóc hết
    nước mắt và sự đau khổ đã làm tâm hồn em chai đá. Em
    thề sẽ không bao giờ để ai làm chủ mình nữa. Em cương
    quyết sẽ không bao giờ yêu ai nữa.
    Đối với em, tình yêu chỉ là một sự đổi chác, mua bán,
    được cái này thì mất cái khác. Em tự nhủ rằng người ta đã
    đối xử với mình ra sao thì mình sẽ đối xử như thế với người
    khác. Ngày trước em là một nô lệ, một thứ giải trí của đàn
    ông thì ngày nay đàn ông phải là nô lệ của em, phải là trò
    tiêu khiển của em. Ngày trước em đã bị mua đi bán lại như
    một con vật thì ngày nay những người đến với em đều phải
    tán gia bại sản, thân bại danh liệt. Như thế mới công bình,
    có phải không?
    Này Sinuhe, em đã cảnh cáo anh từ trước nhưng anh
    không nghe. Đa số đàn ông chẳng bao giờ biết nghe hết.
    Lòng tự hào đã khiến họ hành động như loài thiêu thân, tuy
    biết mà vẫn lao mình vào ánh đèn để cháy tan xác.
    Này Sinuhe, em đã dạy anh một bài học vè đàn bà
    nhưng có lẽ anh chưa học được. Đã thế anh còn đòi một
    tình yêu tuyệt đối.
    Này "Con Người Cô Độc", trong đời này chẳng có gì là
    tuyệt đối cả. Tuyệt đối chỉ là trò chơi chữ nghĩa của những
    triết gia, học giả, hay những kẻ mơ mộng, vô công rỗi nghề
    mà thôi. Tuy nhiên vì anh đã muốn nên hôm nay em sẽ dạy
    cho anh một bài học về tình yêu tuyệt đối để không bao giờ
    anh có thể quên được…"
    Trước khi tôi kịp phản ứng, Nefer đã đứng phắt dậy nói
    với gã nô lệ da đen:
    - Kể từ nay, người này tuyệt đối không bao giờ được đặt
    chân đến đây nữa.
    Tôi ngạc nhiên kêu lớn:
    - Ô hay! Tại sao lại như thế?
    Nhưng cánh cửa to lớn đã đóng sập lại một cách phũ
    phàng.
    Đời sống thường có những thay đổi bất ngờ. Người hôm
    trước là bạn, hôm sau có thể là thù, và người trước là kẻ
    thù thì sau có thể đổi thành bạn. Trường hợp của tôi cũng
    thế. Không bao giờ tôi ngờ tình bạn giữa tôi và Horemheb
    có thể thay đổi, chỉ vì một người đàn bà.
    Sau nhiều ngày lang thang trước cửa nhà Nefer nhưng
    không được đáp ứng, tôi đành bắt chước Horemheb mượn
    hơi men để giải sầu. Chẳng mấy chốc tôi đã trở thành một
    kẻ lang thang trà đình tửu quán, say sưa và nói năng lảm
    nhảm. Hôm đó tôi tìm đến một quán rượu để giải khuây,
    mặc dù trong túi chẳng còn một đồng xu nào nữa. Người
    chủ quán đã biết tình trạng tài chánh của tôi nên chỉ nhìn
    tôi bằng ánh mắt khinh bỉ. Trong lúc tôi đang tìm cách
    thuyết phục hắn bán rượu chịu thì một gã lái buôn quần áo
    sang trọng, cùng một đoàn tùy tùng bước đến.
    Gã này hỏi tôi:
    - Tôi muốn đi tìm một người, phiền ông chỉ giùm.
    - Tôi không biết, xin ông đi ra chỗ khác.
    Gã lái buôn nhìn ngắm tôi từ đầu đến chân rồi thản
    nhiên:
    - Tôi cần gặp một người bạn để thương lượng công việc
    buôn bán nhưng người ta nói rằng hắn đang ở biệt thự của
    cô Nefer, phiền ông chỉ giùm…
    Vừa nghe đến đó tôi đã giật mình và trong thoáng giây,
    đầu óc tôi làm việc thật nhanh. Tôi trả lời ngay:
    - Tôi biết chỗ nhưng rất khó tìm. Có lẽ tôi phải đưa ông
    đến đó mới được.
    Gã lái buôn mừng rỡ cám ơn rối rít. Tôi đưa hắn đến biệt
    thự của Nefer. Khi cánh cửa vừa mở, tôi đã nhanh chân lẩn
    vào đoàn tùy tùng của hắn nên người giữ cửa không thấy.
    Cảnh vật bên trong vẫn như xưa, những đoàn thiếu nữ xinh
    đẹp, những người lái buôn sang trọng, những bàn tiệc đầy
    sơn hào hải vị cùng những điệu nhạc dồn dập kỳ lạ. Tôi
    không thấy Nefer trên chiếc ghế quen thuộc, có lẽ nàng
    đang bận tiếp khách. Vừa nghĩ đến đó, đầu óc tôi đã nóng
    ran lên, tôi phải cố gắng lắm mới bình tĩnh bước ra phía sau
    vườn.
    Căn phòng của Nefer nằm sát khu vườn với những chậu
    hoa tươi bầy chung quanh. Tôi tiến đến nhìn vào cửa sổ và
    bất ngờ chứng kiến một cảnh tượng mà không bao giờ tôi có
    thể quên được. Tôi thấy Nefer đang quấn quít trong vòng
    tay lực lưỡng của một người đàn ông có thân hình rắn chắc
    như một lực sĩ. Người đàn ông đó chẳng phải ai xa lạ mà
    chính là Horemheb, người bạn chí thân của tôi.
    Đầu óc tôi trở nên quay cuồng. Tôi cố trấn tĩnh nhưng
    tim tôi đập liên hồi. Tôi dụi mắt, tưởng mình đang mơ
    nhưng không, tôi đang tỉnh táo hơn bao giờ hết. Tại sao lại
    có thể như thế được? Trong thoáng chốc, cơn ghen ở đâu
    nổi lên khiến tôi không còn bình tĩnh nữa. Tôi gầm lên một
    tiếng, xông thẳng vào phòng. Horemheb giật mình buông
    Nefer ra nhưng trước khi hắn kịp đứng dậy, tôi đã xông đến
    chụp lấy cổ hắn. Horemheb là tay võ nghệ tuyệt luân, chỉ
    một thoáng hắn đã thoát khỏi tay tôi:
    - Cái gì thế Sinuhe?
    - Thằng khốn nạn! Tao phải giết mày!
    Tôi xông vào đấm đá túi bụi nhưng Horemheb đã xoay
    mình tránh được những quả đấm của tôi.
    - Này Sinuhe, mày hãy bình tĩnh nghe tao nói đã…
    - Thằng khốn kiếp! Đồ vong ân bội nghĩa! Tao phải giết
    mày…
    Tôi điên cuồng chụp lấy cái ghế gần đó ném thẳng vào
    Horemheb nhưng hắn cũng tránh được.
    - Khoan đã… Mày hãy nghe tao nói đây…
    Nhưng tôi không còn nghe thấy gì hết. Cơn giận làm đầu
    óc tôi trở nên tê liệt. Tôi xông đến, tiện tay vớ được cái gì
    thì đập phá cái đó. Horemheb lắc đầu co cẳng chạy ra vườn
    rồi mất hút trong lùm cây rậm rập. Tôi quay qua Nefer:
    - Con khốn nạn! Mày đã phụ lòng ta…
    Khuôn mặt Nefer trở nên xanh xám, có lẽ cô vừa bực tức
    vừa ngạc nhiên nên không phản ứng gì được. Tôi gầm lên
    một tiếng lớn rồi xông đến nhưng Nefer đã quay mình chạy
    ra vườn. Được vài bước, cô trượt chân ngã nhào xuống đất.
    Tôi nhảy đến chụp lấy chiếc cổ thon của Nefer bóp mạnh
    nhưng lúc đó đám gia nhân nghe tiếng động đã ùa đến. Gã
    nô lệ da đen đưa tay nhấc bổng tôi lên khỏi mặt đất. Một
    trận mưa đấm đá trút lên thân thể tôi nhưng tôi không còn
    thấy đau đớn mà vẫn tiếp tục gầm rú như một con thú điên.
    ° ° °
    Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trong một bụi cây
    ven đường, thân thể đầy máu. Lần đầu tiên trong đời, lòng
    tôi dâng lên một mối căm hờn kỳ lạ. Tôi nghĩ đến Nefer và
    nụ cười nửa lạnh lùng, nửa quyến rũ. Tôi nghĩ đến
    Horemheb và dáng dấp hiên ngang với nụ cười ngạo nghễ
    mà thấy trong lòng tràn lên một sự đau xót chưa từng thấy.
    Trong cơn cuồng nộ, tôi thét lớn: "Tao thề sẽ giết cả hai đứa
    chúng mày!" Sau một lúc gào thét chửi rủa, tôi đứng dậy
    thu xếp hành trang trở về Thebes.
    Khi tôi trở lại căn nhà cũ ở Thebes thì nó không còn là
    nhà của tôi nữa. Một người lạ mặt cho biết họ đã mua căn
    nhà này từ một gã lái buôn trên Memphis. Tôi đứng nhìn
    căn nhà thân yêu đã lọt vào tay người khác mà lòng đau
    như cắt. Sau cùng tôi đành kéo lê tấm thân tiều tụy đi trên
    đường phố mà chẳng biết mình đi đâu cho đến khi nghe
    tiếng gọi rối rít của Kepta:
    - Ông chủ! Phải ông chủ đó không?
    - Kepta! Ngươi đấy ư?
    - Thưa y sĩ, chính tôi đây.
    - Kepta, ta rất mừng đã gặp lại ngươi. Căn nhà của ta…
    Kepta gật đầu than dài:
    - Y sĩ ơi, tôi biết chuyện đó nhưng… ông bà… ông bà
    thân sinh của y sĩ…
    Tôi hốt hoảng:
    - Cái gì? Ngươi nói gì?
    - Hôm trước ông bà thân sinh ra y sĩ đi xa trở về. Ôi
    chao, khó nói quá!
    - Cha mẹ ta đã trở về hay sao? Người ở đâu?
    Kepta im lặng nhìn tôi. Con mắt duy nhất của hắn đảo
    qua đảo lại về phía sau. Lúc đó tôi mới thấy Kepta đang kéo
    một chiếc xe nhỏ. Một cảm giác kỳ lạ nổi lên khiến tôi rùng
    mình sởn gai ốc. Tôi vội bước đến nhìn thì thấy trong xe có
    hai xác chết đã được bó chiếu cẩn thận. Tôi mở ra xem và
    thấy đó là xác cha mẹ tôi.
    - Kepta! Tại sao lại như thế này?
    - Còn làm sao nữa! Hai ông bà đi xa trở về thấy căn nhà
    hương hỏa đã bị bán mất. Hỏi thăm thì biết y sĩ mang tất cả
    dụng cụ hành nghề, thuốc men ra chợ bán để bao một cô
    gái nào đó trên Memphis. Khắp thành Thebes, người ta đã
    nói rất nhiều về y sĩ, nào là y sĩ bỏ nghề lương y để vào làm
    việc trong triều rồi theo các quan đi đến những chỗ ăn chơi
    xa xỉ. Nào là y sĩ tiêu tiền như nước, toàn giao thiệp với
    những thiếu nữ đến từ Babylon. Nghe nói y sĩ chỉ chữa cho
    người giàu, không thèm tiếp bệnh nhân nghèo. Ôi chao, đủ
    mọi lời đồn chẳng tốt đẹp gì. Nghe được thế, ông bà thân
    sinh ra y sĩ chỉ biết khóc. Bao hy vọng ở y sĩ đều tan thành
    mây khói nên ông bà đành đến đền thờ Amun-Ra cầu
    nguyện…
    Tôi nắm chặt lấy vai Kepta hét lớn:
    - Rồi sao nữa? Tại sao cha mẹ ta chết?
    Kepta đưa tay chùi con mắt duy nhất:
    - Còn sao nữa! Khi tuyệt vọng, người y sĩ nào chẳng biết
    sử dụng độc dược. Hôm sau các tu sĩ thấy xác hai người
    nằm đó nên định quăng xuống sông cho cá sấu ăn, nhưng
    thằng nô lệ này thấy tội nghiệp quá, xin lãnh về chôn cất.
    Nếu y sĩ còn nghĩ đến công ơn dưỡng dục sinh thành thì hãy
    tẩm liệm hai cụ cho tử tế, thằng nô lệ này chỉ xin được hai
    tấm chiếu rách đó thôi…
    Tôi đứng sững không nói được tiếng nào. Tất cả mọi sự
    đều sụp đổ tan tành. Cơn đau làm cho tôi không còn khóc
    được nữa. Tôi đứng nhìn xác cha mẹ mình mà trong đầu chỉ
    một ý nghĩ duy nhất là trả thù.
    ° ° °
    Người Ai Cập tin rằng sau khi chết, thể xác tan rã nhưng
    sự sống vẫn tiếp diễn tại những cõi giới khác bên kia cửa tử,
    tùy theo sự phán xét của thần Osiris. Do đó chết không phải
    chấm dứt mà là sự thay đổi, chuyển hóa từ cõi này đến cõi
    khác, từ trạng thái này đến trạng thái kia mà thôi.
    Truyền thống Ai Cập quan niệm rằng con người gồm có
    tám thể (Bodies), mỗi thể có một nhiệm vụ đặc biệt, tương
    ứng với những cõi giới khác nhau.
    Thể thứ nhất là Xác (Khat), tương ứng với cõi trần và là
    "căn nhà" của những thể khác.
    Thể thứ hai là Phách (Ka), có nhiệm vụ như cây cầu liên
    lạc giữa thể Xác với những thể kia. Thể Phách chứa đựng
    kiến thức của con người, nó có thể hoạt động riêng biệt và
    thường mang hình dáng của thể xác. Sau khi chết, thể
    Phách thường quanh quẩn trong mồ và có thể hưởng thụ
    những đồ vật cúng tế nên người Ai Cập gọi hương hoa, đồ
    vật chôn cất theo người chết là sở hữu của thể Phách.
    Thể thứ ba là thể Vía (Khu), hiện hữu dưới trạng thái
    những chất hơi nên có thể thay đổi hình dạng thành các
    đốm sáng hay các hình ảnh mập mờ. Thể Vía chứa đựng
    tình cảm và tương ứng với cõi Trung giới.
    Thể thứ tư là Hồn (Ba) hay là phần tinh thần của con
    người và tương ứng với cõi Thượng giới. Khi sống, Hồn cư
    ngụ trong trái tim, sau khi chết nó tiềm ẩn trong thể Phách
    một thời gian trước khi siêu thoát lên cõi Thượng giới.
    Thể thứ năm là Sinh (Ab) hay sự sống. Thiếu thể này
    người ta không thể sống được vì nó liên hệ đến việc vận
    chuyển năng lượng vũ trụ đến các thể. Người Ai Cập coi
    Sinh như năng lực của Hồn vì nó là trung tâm liên lạc giữa
    các cõi giới.
    Thể thứ sáu là Thân (Sakhem), một thể đặc biệt chỉ phát
    triển ở những người có đời sống tinh thần rất cao, đây công
    phu tu luyện. Đối với người thường, thể này không phát
    triển bao nhiêu. Chữ Sekhem còn có nghĩa là "đã hoàn toàn
    tự chủ" và thường được đồng hóa với chữ quyền năng. Thân
    thường được coi như tương ứng với cõi Thiên giới.
    Thể thứ bảy là Ký (Khaibit), có nhiệm vụ lưu trữ, gìn giữ
    tất cả kinh nghiệm có tính cách tổng quan cũng như các
    ràng buộc giữa các cá nhân với nhau.
    Thể thứ tám là Danh (Ren), chỉ lưu trữ kinh nghiệm
    riêng biệt có tính cách cá nhân và định hướng cho sự phát
    triển riêng của từng cá nhân.
    Người Ai Cập tin rằng đời sống ở cõi trần liên quan đến
    thể xác, nhưng sau khi thể xác chết đi, các thể kia phát
    động và con người tiếp tục sống ở những cõi giới tương ứng,
    tùy theo sự phán xét, định công luận tội của thần Osiris.
    Trong cuộc phán xét này, thể Phách (Ka) và Danh (Ren) giữ
    vai trò quan trọng vì nó tiêu biểu cho cá tính, kinh nghiệm
    và danh tánh của cá nhân. Mất danh tánh, họ sẽ trở thành
    đồ vật vô tri như bàn ghế, gỗ đá; mất cá tính, họ sẽ trở
    thành loài vật hạ đẳng, không còn cá tính riêng biệt nữa mà
    có một cá tính chung, như loài kiến, loài ong hay loài sâu
    bọ.
    Để tìm cách bảo vệ Phách và Danh, họ phát minh ra
    nghệ thuật ướp xác vì thể xác vốn là nơi các thể kia cư ngụ.
    Các nghi thức ướp xác, tẩm liệm và chôn cất tại các ngôi mộ
    kiến trúc đặc biệt, liên hệ đến vị trí các bầu tinh tú, còn có
    một ẩn nghĩa huyền bí nên việc ướp xác đã được các giáo sĩ
    ấn định chỉ dành riêng cho vua chúa, một số rất ít người
    trong hoàng tộc, hay các giáo sĩ có chức tước quan trọng
    mà thôi. Vì mẹ tôi là một quận chúa và cha tôi là người có
    đời sống trong sạch, xứng đáng được an táng bên cạnh
    những vua chúa và quan lớn trong triều, nên tôi quyết định
    ướp xác và chôn cất cha mẹ tôi trong thung lũng dành riêng
    cho các gia đình hoàng tộc. Tôi bèn tìm đến trường Khoa
    Học Của Sự Chết để xin giúp đỡ.
    Đó là nột hang đá nằm sâu trong vùng đồi núi hoang vu,
    rất ít ai dám bén mảng đến. Người ta kể rằng các giáo sĩ
    giao thiệp với cõi âm này có thể sai khiến các động lực vô
    hình vật chết những kẻ tò mò tìm đến như chơi. Ngay các
    vua chúa đầy oai phong cũng kiêng nể vùng này và chỉ sai
    nô lệ liên lạc với các giáo sĩ mỗi khi có việc chôn cất mà
    thôi.
    Ombo, vị trưởng lão chỉ huy trường Khoa Học Của Sự
    Chết, là một người có khuôn mặt lạnh lùng như thây ma:
    - Ngươi đến đây làm gì?
    - Tôi muốn nhờ ông ướp xác cho cha mẹ tôi.
    - Việc gì ngươi phải đích thân mang xác đến đây? Tại
    sao không gọi nô lệ?
    - Tôi không có tiền mướn nô lệ.
    - Nếu không có tiền mướn nô lệ thì làm sao ngươi có thể
    trả công ướp xác cho chúng ta được?
    - Đúng thế, tôi không có đồng nào dính túi cả.
    Ombo lạnh lùng lắc đầu:
    - Ngươi hãy cút đi ngay. Ta không tiếp những kẻ nghèo
    kiết xác như ngươi.
    - Nhưng tôi sẵn sàng làm việc ở đây để trả thay tiền
    công.
    Gã giáo sĩ có khuôn mặt như thây ma cười nhạt:
    - Thằng ngu xuẩn kia! Ngay những nô lệ nghèo đói nhất
    cũng chẳng dám đến đây làm việc. Chỉ những tù nhân lãnh
    án tử hình, những kẻ không còn một hy vọng gì trên đời này
    nữa, mới làm những việc này. Ngươi nên biết chúng ta
    chuyên mổ xẻ xác chết, làm việc với ma, giao du với quỉ,
    khiến mọi người chỉ mới nghe nói đã sợ hãi mất hồn rồi…
    - Tôi đã chán mọi sự trên đời rồi nên không còn sợ hãi
    một điều gì nữa.
    - Ha ha ha… Thì ra ngươi là một kẻ tuyệt vọng, nhưng
    ngươi có thể làm gì?
    - Tôi là y sĩ giải phẫu xuất thân từ Abydos. Tôi có thể mổ
    xác khéo hơn tất cả những nhân viên thiện nghệ của ông.
    Ombo ngạc nhiên nhìn tôi không chớp mắt:
    - Ta không ngờ một kẻ tốt nghiệp trường Khoa Học Của
    Sự Sống mà lại hết muốn sống! Phải chăng ngươi muốn đến
    đây để học về nghệ thuật chết? Được lắm, nếu ngươi làm
    việc tại đây trong vòng một năm thì chúng ta sẽ ướp xác
    cho cha mẹ ngươi.
    Từ đó tôi trở thành kẻ chuyên mổ xác người. Đối với xã
    hội bên ngoài, tôi là kẻ đã chết, không ai biết tôi ở đâu hay
    làm gì nhưng với tôi, ngoài việc ướp xác, tôi đã dành thì giờ
    còn lại để duyệt xét lại các căn bản giá trị mà tôi vẫn tin
    tưởng khi xưa. Tôi nghĩ đến đời sống đầy những tranh dành,
    thù hận vừa qua và tự hỏi, phải chăng muốn sống còn, con
    người phải tranh đấu, giành giật như thế?
    Tôi nghĩ đến Akhenaten với chủ trương cải cách của ông
    và tự hỏi liệu một Pharaoh nhiều lý tưởng như ông có thể
    giữ vững ngôi vị trong cái thế giới đầy những mưu mô phản
    trắc này?
    Tôi nghĩ đến tình bạn giữa tôi và Horemheb, hiển nhiên
    hắn biết rõ cảm tình của tôi với Nefer nhưng tại sao hắn lại
    làm như thế? Một kẻ hào hoa như hắn thì thiếu gì phụ nữ,
    tại sao hắn phải tranh giành Nefer với tôi? Phải chăng danh
    vọng và quyền lực đã biến hắn thành một con người khác?
    Tôi nghĩ đến lý tưởng phụng sự người nghèo của cha mẹ
    tôi rồi tự hỏi người ta đã đạt được gì khi lý tưởng chẳng còn
    chút giá trị gì trong cái thế giới điên đảo, quay cuồng hiện
    nay!
    Tôi suy nghĩ về những điều mà tôi vẫn theo đuổi và tự
    hỏi nó sẽ giúp gì cho tôi trong phần đời còn lại? Ngày trước
    tôi là một thanh niên ngây thơ nhiều lý tưởng, nhưng sự
    đau khổ và lòng thù hận đã dần dần biến đổi tôi thành một
    người khác.
    ° ° °
    Thời gian lạnh lùng trôi qua. Đời sống trong hang đá đầy
    xác người không giản dị như tôi nghĩ. Ngay cả những tử tội,
    những kẻ không còn hy vọng gì trên đời cũng không chịu
    nổi công việc ghê rợn nơi đây. Nhiều kẻ sau một thời gian
    làm việc đã trở nên điên loạn; kẻ khác tìm cách trốn khỏi
    đây nhưng lòng thù hận đã nuôi sống tôi trong khung cảnh
    "địa ngục" này. Tôi thản nhiên làm việc, bất chấp mọi khó
    nhọc, và nhủ thầm sau khi chôn cất cha mẹ tôi xong, tôi sẽ
    trở về để rửa hận.
    Một đêm nọ, tôi đang ngồi suy nghĩ vẩn vơ thì Ombo ở
    đâu bước đến:
    - "Này Sinuhe, từ lâu nay chúng ta vẫn theo dõi ngươi.
    Ta rất hài lòng thấy ngươi đã làm trọn vẹn những điều được
    giao phó. Không mấy ai có thể làm được như ngươi. Không
    những ngươi mổ xác đã giỏi mà còn ướp xác thiện nghệ
    nữa. Khả năng ướp xác, tẩm liệm của ngươi đáng được gọi
    là một công trình nghệ thuật. Chúng ta, những giáo sĩ của
    trường Khoa Học Của Sự Chết, đã quyết định mở cho ngươi
    một cánh cửa mà rất ít khi nào được mở.
    Này Sinuhe, Khoa Học Của Sự Chết là một khoa học bí
    truyền, chúng ta kén chọn học trò rất kỹ nhưng chúng ta
    sẵn sàng thu nhận ngươi. Chúng ta cho phép ngươi học hỏi,
    nghiên cứu môn học này. Tuy ngươi đã từng học về Khoa
    Học Của Sự Sống, nhưng môn Khoa Học Của Sự Chết lại
    khác hẳn vì đối tượng của nó là cái thế giới bên kia, cái thế
    giới vô hình với các chủng loại lạ lùng và các kiến thức
    huyền bí rất ít ai biết. Đây là một đặc ân cho ngươi đó, vậy
    ngươi nghĩ sao?"
    - Nhưng… nhưng tôi chưa biết gì về môn học này cả.
    Ombo im lặng nhìn tôi một lúc rồi thong thả giải thích:
    - "Này Sinuhe, đa số con người từ lúc sinh ra cho đến lúc
    chết đều không ý thức gì về sự sống cũng như ý nghĩa thật
    sự của nó. Với họ, khoảng thời gian trước khi ra đời là một
    cái gì mơ hồ và diễn biến sau khi chết cũng là một cái gì
    không rõ rệt. Mặc dù con người bao gồm tám thể với những
    giác quan đặc biệt nhưng phần lớn chỉ biết sử dụng giác
    quan của thể Xác mà thôi nên họ đã mất đi cơ hội tìm hiểu
    thêm về những cõi giới khác. Họ không hề ý thức về cái khả
    năng siêu việt sẵn có, vẫn tiềm ẩn trong mọi cá nhân, mà
    chỉ biết sống một cách giới hạn, què quặt trong cái thế giới
    thu hẹp của cõi trần. Không những thế, họ còn sống một
    cách thờ ơ, mặc cho số phận lôi cuốn chứ không chịu tìm
    hiểu thêm về ý nghĩa của sự sống.
    Tóm lại, con người chẳng biết trước khi sinh ra mình ở
    đâu, khi sống cũng chẳng ý thức mình sống với mục đích gì,
    và khi chết cũng chẳng biết mình đi về đâu.
    Từ ngàn xưa, thánh Thoth đã dạy cho con người cách
    sống trọn vẹn bằng cách phát triển khả năng tự chủ để
    kiểm soát các thể kia và học hỏi, kinh nghiệm các cõi giới
    qua việc phát triển những giác quan đặc biệt. Vào thời
    hoàng kim, học trò của Thoth đã du hành khắp các cõi, di
    chuyển quanh vũ trụ và học hỏi rất nhiều. Nhờ thế, họ đã
    góp phần xây dựng một nền văn minh huy hoàng với những
    Kim Tự Tháp hùng vĩ, những đền đài nguy nga, những thạch
    trụ đặc biệt. Họ đã phát minh ra những bộ môn khoa học
    như Thiên văn, Kiến trúc, Toán học v.v…
    Theo thời gian những lời dạy bảo của thánh sư Thoth đã
    được học trò của ông chia ra hai phần riêng biệt là Công
    Truyền hay Khoa Học Của Sự Sống, đề cập đến sự phát
    triển cá nhân và nghiên cứu các thể cấu tạo nên con người,
    và Bí Truyền hay Khoa Học Của Sự Chết, chuyên nghiên cứu
    các cõi giới và chủng loại vô hình. Vì tính cách công truyền
    nên Khoa Học Của Sự Sống lại được phân chia, sắp đặt
    thành các bộ môn khoa học thực tiễn như Y học, Dược học,
    Tâm học, Sinh học v.v… Các giáo sĩ của ngành này đã phổ
    thông hóa những căn bản giáo lý của Thoth thành những lý
    thuyết khoa học để giảng dạy cho học trò mặc dù tinh hoa
    của nó vẫn được cất kỹ và chỉ dạy riêng cho giới giáo sĩ mà
    thôi. Vì tính cách bí truyền, Khoa Học Của Sự Chết hoạt
    động giới hạn và thu nhận học trò rất cẩn thận nên ít ai biết
    gì về môn học vày. Phần lớn chỉ biết ngành này nghiên cứu
    các phương pháp chôn cất, tẩm liệm mặc dù đó chỉ là một
    phần rất nhỏ của ngành học này."
    Ombo nhìn tôi như quan sát rồi tiếp tục:
    - "Này Sinuhe, sở dĩ môn phái của chúng ta kén chọn
    học trò rất kỹ vì kiến thức này có thể bị sử dụng với mục
    đích sai lầm, đưa đến những hậu quả ghê gớm. Trong lịch
    sử môn phái, đã có những người dùng kiến thức này vào các
    mục đích ích kỷ, hại nhân, sử dụng tà thuật, biến khoa học
    này thành một pháp môn phù thủy. Ngươi nên biết, khi xưa
    khoa ướp xác chỉ áp dụng cho những bậc thánh vương,
    những giáo sĩ có công phu tu hành rất cao để những luồng
    từ điện thiêng liêng phát xuất từ xác thân của các ngài được
    tồn tại lâu bền, ban rải ân huệ cho thế gian. Ngoài ra những
    xác ướp đó còn là những chứng tích để cho con cháu biết
    đến tổ tiên, biết đến công phu tu hành, dựng nước của tiền
    nhân mà noi gương.
    Tuy nhiên vào khoảng nguyên đại thứ hai, đã có những
    rạn nứt trong hàng ngũ học trò của Thoth và đưa đến sự
    tranh chấp lớn lao mà người sau gọi là sự tranh chấp giữa
    hai phe Bạch đạo và Hắc đạo; hay Chánh và Tà. Các giáo sĩ
    thuộc phe Hắc đạo đã sử dụng các động lực vô hình hay âm
    binh để giúp họ phát triển và bành trướng ảnh hưởng. Vào
    thời buổi hôn ám, việc sử dụng tà thuật rất thịnh hành, đưa
    Ai Cập vào một giai đoạn hết sức đen tối, xấu xa.
    Xã hội lúc đó bị phân hóa thành hai giai cấp: thống trị
    và bị trị. Kẻ thống trị sử dụng quyền năng, tà thuật và các
    lực lượng ma quái để kiểm soát, cai trị những kẻ khác. Kẻ bị
    trị thì sống khổ sở, bị áp bức, bóc lột, đánh đập như thú
    vật. Để duy trì ảnh hưởng tà môn này, các giáo sĩ ra lệnh
    cho ướp xác mình, biến nó thành một trung tâm thần lực
    của tà môn, hay nói một cách khác, sử dụng xác ướp đó
    như cây cầu liên lạc giữa cõi vô hình và hữu hình. Từ cõi
    âm, họ vẫn có thể ảnh hưởng đến những người sống,
    khuyến khích tiếp tục duy trì con đường tà muội mà họ đã
    khởi xướng. Vì lý do đó, Khoa Học Của Sự Chết đã bị mang
    tiếng rất nhiều mặc dù không phải giáo sĩ nào của môn phái
    này cũng tôn thờ ma quỉ hay làm những điều xằng bậy.
    Để tránh những sai lầm đáng tiếc, những giáo sĩ còn sót
    lại đã đặt ra các tiêu chuẩn tuyển chọn học trò hết sức kỹ
    lưỡng và kiến thức của ngành này được giữ gìn cẩn thận
    hơn xưa. Chúng ta đã tỏ ra lạnh nhạt khi ngươi đến đây vì
    không muốn những kẻ lạ mặt, tò mò làm rộn sự nghiên cứu
    của chúng ta. Theo truyền thống, chúng ta sinh sống bằng
    việc ướp xác, chôn cất người chết, nhưng thật ra đây chỉ là
    một việc rất nhỏ, không đáng kể trong chương trình tu học
    và nghiên cứu của chúng ta."
    Ombo chỉ lên bầu trời với muôn ngàn tinh tú lấp lánh:
    - "Này Sinuhe, hãy nhìn lên bầu trời! Ngươi đừng tưởng
    vùng không gian bao la vô tận kia trống rỗng mà lầm. Thực
    ra nó giống như một đại dương với biết bao cõi giới và muôn
    ngàn sinh vật. Nếu biển cả có các loài thủy tộc thì không
    gian kia cũng có những sinh vật vô hình mà mắt thường
    không thể nhìn thấy được. Nếu có loài cá sống ở biển, ở ao
    hồ hay sông rạch, thì không gian kia cũng có những chủng
    loại khác nhau cư trú trong các cõi giới riêng biệt. Nếu loài
    thủy tộc có các sinh hoạt riêng rẽ, có loài hiền lành có loài
    nguy hiểm thì không gian kia cũng có những loài vật sinh
    hoạt như thế, có loài hiền lành, có loài hung dữ và có loài
    còn thù nghịch với loài người nữa. Nếu có loài cá sống gần
    mặt nước, có loài cá sống ở dưới đáy sâu, có loài cá thích ẩn
    trong hang, có loài cá thích vượt sóng đi xa ngàn dặm thì
    trong không gian bao la kia cũng có những chủng loại thích
    hợp với các rung động thanh tao, nhẹ nhàng và có loài chỉ
    thích hợp với các rung động thô bạo, nặng nề. Có loài ít khi
    hoạt động và cũng có loài tích cực đi khắp đó đây."
    - Nhưng làm sao ông biết được những điều ấy?
    Ombo thản nhiên:
    - "Tùy ngươi, tin hay không tin cũng không sao vì chỉ khi
    nào chính ngươi phát triển khả năng "nhìn thấy" cõi vô hình
    như chúng ta thì ngươi mới có thể hiểu được điều ta nói.
    Này Sinuhe, mọi sinh vật trong vũ trụ, vô hình cũng như
    hữu hình, đều sống trong những môi trường thích hợp riêng
    với nó. Loài cá sống và thở dưới nước, loài chim bay trên
    trời và loài người sống ở dưới đất. Ngoài ra còn có những
    loài sống trên những vùng núi rất cao, không khí rất loãng
    và có những loài sống dưới hang sâu, không khí dày đặc.
    Đối với một số sinh vật thì sự sống tùy thuộc vào ánh sáng
    mặt trời, nhưng cũng có loài sự sống chỉ xảy ra trong bóng
    tối.
    Tóm lại, sự sống trên trái đất này được phân phối thật
    khéo léo khiến cho mọi loài đều sinh hoạt thích ứng với mọi
    hoàn cảnh. Điều này có thể đưa đến một kết luận rằng
    trong thiên nhiên, không có một phần nào bỏ trống một
    cách vô ích. Mỗi loài, mỗi vật đều được cung ứng những
    hoàn cảnh đặc biệt và môi trường thích nghi, cần thiết cho
    sự sinh hoạt của chúng."
    - Phải chăng điều này cũng áp dụng cho cõi giới bên kia?
    Ombo gật đầu:
    - Đúng thế. Trong vũ trụ có nhiều cõi, hữu hình cũng
    như vô hình và định luật thiên nhiên đã định rằng cõi vô
    hình cũng phải có sự sống như cõi hữu hình. Do đó các
    chủng loại vô hình cũng được cung ứng những điều kiện
    sinh hoạt cần thiết, thích nghi riêng với chúng. Hiển nhiên
    cũng như cõi hữu hình, cõi vô hình có những môi trường
    riêng biệt và điều kiện sinh hoạt khác nhau. Nếu cõi hữu
    hình có hàng triệu sinh vật thì cõi vô hình cũng phải có
    hàng triệu sinh vật tương tự sống rải rác khắp nơi trong vũ
    trụ.
    - Nhưng làm sao ông biết được các cõi này?
    Ombo thản nhiên:
    - Này Sinuhe, kiến thức là những điều đã được người
    xưa nghiên cứu và truyền lại cho hậu thế, nhưng nếu người
    sau không chịu nghiên cứu, học hỏi thêm thì đó chỉ là
    những tin tưởng suông mà thôi. Là kẻ nghiên cứu cõi vô
    hình, hiển nhiên chúng ta có khả năng đến tận nơi để học
    hỏi. Chúng ta biết khi sống con người đã không suy nghĩ,
    hành động giống như nhau thì khi chết họ cũng không thể
    đến cùng một nơi được. Tùy theo sự phán xét của Osiris,
    mỗi vong linh sẽ đến những cảnh giới và môi trường sinh
    hoạt thích hợp. Đó chính là định luật về sự tương quan giữa
    sự sống và sự chết. Khi sống ra sao thì khi chết cũng sẽ như
    thế. Khi sống lương thiện thì sẽ đến cõi giới lành và khi sống
    hung ác thì sẽ đến những cõi giới xấu xa. Nhờ nghiên cứu
    về các cõi giới vô hình và các chủng loại tại đây mà chúng
    ta hiểu rõ những ảnh hưởng của các cõi này đối với sinh
    hoạt của loài người như thế nào.
    Tôi chăm chú nhìn vị giáo sư chỉ huy trường Khoa Học
    Của Sự Chết. Những điều ông ta nói tuy hợp lý nhưng tôi
    vẫn chưa tin được. Trí suy luận của tôi chưa thể chấp nhận
    những điều lạ lùng, vượt ngoài khả năng hiểu biết này.
    - Theo như ông nói thì phải chăng có sự liên hệ mật thiết
    giữa cõi sống và cõi chết; hay cõi hữu hình và cõi vô hình?
    - Dĩ nhiên là như thế.
    - Nhưng tại sao tôi không nghe ai nói về những điều
    này?
    Ombo lạnh lùng:
    - Đa số con người vốn ngu dốt lại ngạo mạn. Họ chỉ tin
    tưởng vào các giác quan thô thiển của thể Xác chứ không
    biết cách phát triển các giác quan khác để học hỏi thêm. Vũ
    trụ là một môi trường mà trong đó sự sống biểu hiện chứ
    không phải là một khoảng không gian trống rỗng vô ích.
    Nếu mỗi chiếc lá, mỗi giọt nước đều có các loại sâu bọ hay
    sinh vật sống bám vào trong đó thì làm sao vũ trụ bao la
    kia lại chỉ là một khoảng trống rỗng, không có sinh vật nào?
    Không lẽ vũ trụ lại không bằng một giọt nước hay chiếc lá
    sao? Môn phái của chúng ta nghiên cứu sự chuyển hóa thay
    đổi của các thể qua những cõi giới trong vũ trụ và ảnh
    hưởng của các thể này đối với các sinh vật vô hình thuộc
    các cõi giới kia vì chúng và loài người có những tương quan
    rất đặc biệt.
    - Các sinh vật vô hình này hoạt động ra sao?
    - Sở dĩ ta gọi là "cõi vô hình" vì mắt, một giác quan của
    thể Xác không thể nhìn thấy được chúng, nhưng với những
    kẻ biết sử dụng giác quan của các thể kia thì chúng không
    "vô hình" chút nào. Trong vũ trụ có rất nhiều cõi giới, mỗi
    cõi có hàng triệu sinh vật, cấu tạo bằng những vật chất
    khác với vật chất của cõi trần. Có loài mong manh như
    sương khói, có loài nặng nề như đất đá. Có loài tốt lành,
    khôn ngoan và có loài gian manh, bất hảo. Có loài không
    thích gần loài người nhưng cũng có loài thù nghịch với loài
    người. Mỗi loài thích hợp với một cõi giới tùy theo những
    rung động riêng biệt của chúng. Một kẻ có kiến thức về các
    cõi này phải biết quan sát, học hỏi từ cõi thanh cao đến cỏi
    thấp hèn. Mỗi cõi đều có các sinh vật với những tôn ti trật
    tự riêng nhưng tất cả đều chịu ảnh hưởng của những định
    luật thiên nhiên.
    - Nhưng biết đâu đó chỉ là một lý thuyết trừu tượng?
    - Không, đây không phải là một lý thuyết. Các danh sư
    trong môn phái của chúng ta đã nghiên cứu các cõi này cả
    ngàn năm nay và chính bản thân ta cũng đích thân đến đó
    nghiên cứu. Môn học sở trường của ta là kiến thức về Tinh
    Linh của Tứ Đại (Đất, Nước, Gió, Lửa).
    - Tinh Linh (Madan) là cái gì?
    - Đó là một loài sinh vật khác với loài người, có nhiệm
    vụ điều khiển, trông coi một nguyên tố (Đại) trong vũ trụ
    như Đất, Nước, Gió, Lửa. Chúng không có hình dáng nhất
    định mà cấu tạo bởi những yếu tố riêng nên có thể thay
    hình đổi dạng, biến hóa trong các cõi giới, khoác lấy những
    hình dáng vật chất, sử dụng các năng lực huyền bí, tạo ra
    các hiện tượng vật chất nếu cần. Một pháp sư có thể kêu
    gọi sự trợ giúp của các Tinh Linh này vào việc tạo ra các
    hiện tượng huyền bí…
    - Việc kêu gọi này như thế nào?
    - "Một trong những định luật quan trọng của vũ trụ là
    định luật về sự quân bình tuyệt đối. Ngươi nên biết rằng vũ
    trụ là một môi trường hết sức quân bình nên bất cứ một sự
    thay đổi nào cũng tạo ra những tác động ngược lại để tái lập
    trạng thái quân bình lúc đầu. Căn bản của yếu tố quân bình
    này gồm có bốn nguyên tố hay Tứ Đại. Nếu một trong
    những yếu tố này thay đổi thì nó sẽ làm mất đi sự quân
    bình và ảnh hưởng đến những yếu tố kia khiến chúng thay
    đổi theo để tái lập sự quân bình. Sự thay đổi này sẽ tạo ra
    những hiện tượng vật chất trong thiên nhiên.
    Thí dụ khi yếu tố Phong phát khởi thì nó sẽ tạo những áp
    lực trong môi trường vật chất mà ta gọi là gió. Một pháp sư
    của môn Khoa Học Của Sự Chết phải có kiến thức thật rõ
    rệt về các cõi giới bên kia cửa tử; phải nắm vững từng chi
    tiết về các điều kiện cần thiết của sự quân bình tuyệt đối
    cũng như các công thức liên quan đến bốn nguyên tố căn
    bản (Tứ Đại). Do đó vị pháp sư có thể triệu tập các Tinh
    Linh đến những nơi chốn cần thiết để tạo ra những hiện
    tượng vật chất. Y có thể hô phong hoán vũ bằng cách sai
    khiến các Tinh Linh chi phối yếu tố Phong và Thủy để tạo ra
    mưa gió hay sấm sét. Dĩ nhiên muốn sở hữu những kiến
    thức này, pháp sư phải học hỏi, rèn luyện và tuân theo các
    phương pháp tu luyện đặc biệt…"
    - Như vậy ông sẵn sàng chỉ dạy cho tôi những kiến thức
    ấy?
    Ombo im lặng nhìn tôi một lúc trước khi nói tiếp:
    - "Trước khi học hỏi, ngươi cần một giai đoạn chuẩn bị
    rồi trải qua các thử thách mà rất ít ai có thể vượt qua. Chỉ
    khi nào vượt qua được các thử thách này, ngươi mới được
    truyền dạy các phương pháp bí truyền, nhờ thế giác quan
    của ngươi sẽ trở nên bén nhạy hơn, tinh thần của ngươi sẽ
    mạnh mẽ hơn, và có thể giao tiếp với các cõi giới vô hình
    mà không bị ảnh hưởng. Đây không phải là một quyền năng
    như nhiều người vẫn nghĩ, mà là một kiến thức đặc biệt để
    nghiên cứu vũ trụ qua các giác quan thần bí.
    Này Sinuhe, chúng ta là những khoa học gia chứ không
    phải là thầy phù thủy. Đây là điều quan trọng mà ngươi phải
    ghi nhớ cho kỹ. Tất cả những sự kiện xảy ra trong thiên
    nhiên đều tuân theo những định luật riêng. Một khoa học
    gia nghiên cứu, học hỏi những định luật này để hiểu biết vũ
    trụ. Một thầy phù thủy dựa vào kiến thức này để làm một
    điều gì đó, thường có tính cách cá nhân, và đó là sự khác
    biệt giữa khoa học và tà môn. Cả hai đều biết rõ những nghi
    thức thỉnh cầu hay kêu gọi, và nắm vững các yếu tố căn
    bản chi phối thiên nhiên nhưng mục đích việc làm thì khác
    nhau rất xa."
    Ombo im lặng suy nghĩ một lúc rồi thong thả nói tiếp:
    - Ngươi nên biết thế giới bên kia là một vùng cấm địa
    mà mỗi bước đi đều chứa đầy nguy hiểm. Một kẻ tò mò, vô
    ý có thể làm thức động những quyền năng mà y không thể
    kiềm chế. Một kẻ thiếu ý thức có thể làm khơi dậy các động
    lực bí mật mà chỉ các bậc đạo sư dày công tu luyện mới có
    thể kiểm soát và chỉ huy. Chỉ một lầm lẫn, bất cẩn nhỏ có
    thể làm xáo trộn trật tự thiên nhiên, gây ra các hậu quả lớn
    lao, không thể lường. Sự xáo trộn này sẽ tạo cơ hội cho
    những sinh vật bất hảo của các cõi giới bên kìa xâm nhập
    vào những kẻ táo bạo ấy, lợi dụng họ. Thiếu kiến thức về
    những sinh vật này, họ sẽ để cho chúng hướng dẫn sai lạc
    và sẽ trở nên nô lệ cho chúng.
    - Điều ấy xảy ra như thế nào?
    - Trong thiên nhiên có rất nhiều cõi giới khác nhau và
    các sinh vật tùy theo sự rung động mà thích hợp với một cõi
    nào đó. Các vong linh khi từ trần cũng tùy theo sự rung
    động của các thể mà danh từ huyền bí gọi là sự phán xét
    của Osiris, để thích hợp với cõi giới tương ứng. Tuy nhiên
    nếu người chết có một ý chí mạnh mẽ, nhất định không
    thích hợp với cảnh giới tương ứng thì y sẽ rơi vào trạng thái
    không sống mà cũng không chết. Đây là trạng thái mà các
    thể thanh cao bị tê liệt và các thể thấp như thể Phách hay
    thể Vía không tan rã mà quanh quẩn trong mồ, gần xác
    thân. Vào lúc tối trời, nó có thể xuất hiện quanh các nấm
    mồ mà người sống gọi là hồn ma. Tuy nhiên theo thời gian,
    sự luyến tiếc, ham muốn phai nhạt, tiêu hao đi thì các thể
    này cũng tan biến dần và đó là điều tự nhiên. Trường hợp
    đặc biệt là có những kẻ khi còn sống đã giao thiệp với các
    sinh vật cõi âm, làm nô lệ cho ma quỉ và các mãnh lực bất
    hảo để thực hiện các điều tà muội thì khi chết, họ sẽ trở
    thành một trung tâm liên lạc giữa cõi âm và cõi trần mà
    danh từ của chúng ta gọi là "sứ giả của cõi âm" hay một loài
    quỉ sống.
    - Ông muốn nói đến một loài ác quỉ nào đó chăng?
    - "Chính thế. Phần lớn họ là các giáo sĩ thực hành tà
    thuật, những người đi ngược với các định luật thiên nhiên.
    Khi còn sống họ có nhiều tham vọng và thường chủ trương
    những tà thuyết ích kỷ hại nhân, lôi kéo nhân loại vào các
    con đường sa đọa, xấu xa. Họ sử dụng tà thuật, kêu gọi sự
    trợ giúp của các động lực bất hảo trong thiên nhiên nên có
    khả năng hấp dẫn, thôi miên rất mạnh. Họ có thể lôi cuốn
    hay sai bảo người khác theo mình làm những việc xấu xa,
    ghê gớm. Sau khi chết họ vẫn muốn duy trì ảnh hưởng nên
    tìm cách bảo vệ thể xác qua việc ướp xác để nhờ đó mà các
    thể của họ có chỗ cư ngụ, tiếp tục gây ảnh hưởng lên những
    người sống.
    Ác quỉ hay sứ giả cõi âm là những người có đời sống
    song đôi: một cái xác ướp trong mồ và một thể vía hoạt
    động khắp nơi để tiếp tục ảnh hưởng lên đầu óc tín đồ hay
    những kẻ tin tưởng theo chủ thuyết của họ. Họ sẽ tiếp tục
    xúi giục con người thù ghét nhau, chia rẽ nhau, chém giết
    nhau và cổ súy chiến tranh vì những việc này sẽ gây thêm
    căm thù, oán ghét, bạo động là những lực làm gia tăng sức
    mạnh của họ. Ngoài ra, có chém giết là có đổ máu và tạo cơ
    hội cho họ rút lấy sinh lực từ máu của những người đó,
    hòng nuôi sống cái xác thân trong mồ cũng như các động
    lực bất hảo xuất phát từ các cõi giới ghê gớm bên kia."
    - Thế còn những sinh vật vô hình khác?
    - "Có hàng trăm, hàng ngàn sinh vật khác nhau nhưng
    ta chuyên nghiên cứu về các giống Tinh Linh (Madan) nên
    có thể kể cho ngươi nghe về một vài loài như Tinh Linh
    hành Hỏa (Shudala Madan). Loài này thường sống gần chỗ
    chôn xác người hay nghĩa địa. Vì thuộc hành Hỏa nên chúng
    có thể giúp các pháp sư đi vào lửa mà không cháy, dẫm lên
    than hồng hay chế ngự được các đám cháy.
    Tinh Linh hành Thổ (Shala Madan) thường sống dưới
    mặt đất. Chúng có thể giúp cho pháp sư làm một hạt giống
    mọc thành cây, đơm hoa kết trái chỉ trong khoảnh khắc.
    Tinh Linh hành Thủy (Kumli Madan) thường sống quanh
    các nơi ẩm ướt, như suối hay sông ngòi và có thể làm mưa
    gió hay tiết lộ các điều sẽ xảy ra trong tương lai. Khoa
    Chiêm Thủy, bói toán kiết hung bằng cách nhìn xuống nước,
    thấy những hình ảnh lờ mờ hiện ra cũng là do sự phụ giúp
    của các Tinh Linh loài này.
    Tinh Linh hành Phong (Poruthu Madan) là loài Tinh Linh
    có sức mạnh vô cùng, chúng có thể nhấc bổng người lên
    khỏi mặt đất hay giúp pháp sư dùng thuật khinh thân, đi
    nhanh như gió và khuất phục các thú dữ.
    Ngoài ra còn có Tinh Linh Ảo giác (Diakka Madan), một
    loài sinh vật thích đóng trò, giả mạo thành những nhân vật
    này nọ. Vì không có trí thông minh nên chúng thường tìm
    cách bám víu vào ký ức của con người để tìm lạc thú trong
    đó. Chúng có thể biết được các sự kiện tiềm ẩn trong ký ức
    mà người ta đã quên mất từ lâu, mang ra làm điều giả trá,
    lừa phỉnh. Đối với chúng, lời cầu nguyện thiết tha hay lời
    đùa cợt đều không khác nhau vì chúng không đủ thông
    minh để biết đến sự công bình, lòng vị tha, bác ái. Chúng
    cũng không có quan niệm rõ rệt gì về tình yêu hay thù hận
    mà chỉ thích mang những ước ao thầm kín của con người ra
    hứa hẹn quàng xiên để tìm lấy thích thú nhất thời. Điều bất
    ngờ nhất là chính loài Tinh Linh này lại thường được nhiều
    người tin tưởng, thờ cúng như các thần linh địa phương.
    Đó là sơ lược về các chủng loại vô hình mà ta đã nghiên
    cứu từ nhiều năm nay. Ta biết ngươi là kẻ ham chuộng kiến
    thức và có khả năng học hỏi nên ta sẵn sàng hướng dẫn
    ngươi về những điều ta biết."
    ° ° °
    Từ đó tôi bắt đầu học hỏi thêm về căn bản của môn
    Khoa Học Của Sự Chết với các giáo sĩ tại đây. Mặc dù việc
    học rất giới hạn nhưng tôi cũng biết rằng kiến thức của môn
    phái này được xây dựng trên những sự hiểu biết hết sức
    uyên bác về định luật thiên nhiên. Các bậc đạo trưởng ngày
    xưa trong phái này đã ra công nghiên cứu tường tận về đặc
    tính cũng như khả năng của mọi loài trong vũ trụ, từ
    khoáng vật, thực vật đến các sinh vật ở nhiều cõi giới cũng
    như sự tương quan của chúng trong vũ trụ. Là người ham
    học hỏi, tôi đã cố công trau dồi kiến thức căn bản này
    nhưng đôi khi tôi cũng không khỏi nghĩ về những vết
    thương lòng.
    Một hôm trưởng lão Ombo đến gặp tôi:
    - "Này Sinuhe, ngươi quả hết sức siêng năng, không phụ
    lòng dạy bảo của chúng ta. Hiện nay đã đến thời hạn một
    năm của ngươi. Chúng ta đã ướp xác và làm các nghi thức
    tẩm liệm cho cha mẹ người rồi nên ngươi có thể đem xác
    song thân đi chôn cất cho đúng nguyện vọng khi xưa. Ta rất
    mừng vì chỉ một thời gian ngắn, ngươi đã nắm được căn bản
    môn phái chúng ta. Ngươi nên nhớ rằng kiến thức này vốn
    có tính cách thiêng liêng vì nó đưa đến việc tham dự vào
    những định luật tối cao, điều khiển tất cả mọi sự trong vũ
    trụ.
    Kiến thức này vốn có từ ngàn xưa, có lẽ từ khi loài người
    xuất hiện trên trái đất nhưng trải qua thời gian, qua công
    phu nghiên cứu của các bậc đạo gia thời cổ mà nó được đúc
    kết thành một hệ thống khoa học cao siêu mặc dù căn bản
    của nó thật ra rất giản dị. Trong môn phái của chúng ta, ý
    chí là bí quyết của tất cả mọi sự. Ý chí là một cái gì tế nhị,
    khôn ngoan, vô hình nhưng mạnh mẽ, ngự trị trên tất cả
    mọi vật chất bất động, vô tri. Khi con người muốn cử động,
    một ý định phát ra, thế là chân tay của hắn lập tức cử động.
    Cũng như thế, một kẻ biết tập trung ý chí sẽ có thể sai
    khiến người khác hay tạo ra hiện tượng vật chất nào đó."
    - Nhưng việc sai khiến chân tay cử động khác xa với việc
    tạo ra các hiện tượng vật chất hay sai khiến người khác
    chứ!
    - "Không đâu! Mọi việc đều bắt nguồn từ việc sử dụng ý
    chí. Vấn đề khác nhau là sự tập trung và việc sử dụng một
    cách ý thức hay vô thức mà thôi. Nếu ta lấy một mảnh vải
    cọ xát vào miếng hổ phách, ta có thể làm miếng hổ phách
    thu hút các vật nhẹ và thanh hơn nó. Điều này phải giải
    thích thế nào? Phải chăng ta đã khích động các yếu tố tiềm
    ẩn bên trong miếng hổ phách khiến nó có thể thu hút các
    chất khác, thanh nhẹ hơn? Hiện tượng thu hút này là gì nếu
    không phải là sự hấp dẫn của các vật chất. Nếu quan sát
    hiện tượng thiên nhiên, ngươi sẽ thấy một con rắn có thể
    thôi miên một con ếch khiến nó sợ hãi đứng yên cho con
    rắn ăn thịt, một con cọp cũng có thể thôi miên một con nai
    và đó là những hành động hữu thức của ý chí hay kết quả
    của một tư tưởng được tập trung.
    Một tư tưởng hay ý chí khi tập trung sẽ có sức mạnh
    không thể diễn tả, có thể làm những chuyện hết sức lạ lùng,
    bất ngờ. Dĩ nhiên chỉ những người công phu tu luyện mới
    làm được việc này vì hầu hết con người không biết gì về sức
    mạnh của ý chí nên họ để đầu óc mông lung, thiếu tự chủ
    nên rất dễ bị ảnh hưởng hoặc sai khiến. Do đó căn bản đầu
    tiên của môn phái chúng ta là việc tập tánh tự chủ, làm chủ
    thân lẫn tâm, làm chủ tất cả mọi thể bằng sức mạnh của ý
    chí."
    Ombo im lặng nhìn tôi rồi nói tiếp:
    - "Tất cả mọi vật trong thiên nhiên đều tiềm ẩn bên
    trong nó một sự sống thiêng liêng, dù nhỏ nhặt hay tế vi
    thể nào. Mỗi sinh vật có thể thay đổi hình hài, sắc tướng và
    trải qua những cõi giới vô hình cũng như hữu hình nhưng cái
    sự sống thiêng liêng này thì không bao giờ đổi thay cả. Vì
    cùng chung một sự sống nên các vật chất đều tương quan
    và thu hút lẫn nhau. Nếu ngươi theo dõi sự phát triển của
    muôn loài thì ngươi sẽ thấy cái nguyên lý của sự sống này
    phát triển mỗi lúc một tinh vi, phức rạp và hoàn hảo hơn.
    Đối với cõi hữu hình, con người là sinh vật có tổ chức hoàn
    bị nhất vì trong mọi yếu tố vật chất cũng như tinh thần (ý
    chí) đều phát triển mạnh mẽ và trọn vẹn. Do đó khả năng
    kiểm soát của con người rất cao, y có thể sử dụng sức mạnh
    của ý chí để kiểm soát và làm chủ các yếu tố vật chất. Các
    bậc đạo trưởng trong môn phái chúng ta là những người đã
    làm chủ được tư tưởng của mình và thoát ly khỏi các kiềm
    tỏa của vật chất. Một ý chí quyết định là yếu tố khởi đầu
    của tất cả mọi tác động mầu nhiệm trong thiên nhiên.
    Này Sinuhe, muốn bước vào con đường của môn phái
    chúng ta, ngươi cần nhớ kỹ nguyên tắc sau đây: Ngươi phải
    cương quyết giải tỏa ý chí ra khỏi vòng kiềm tỏa, vây hãm,
    lệ thuộc của các yếu tố vật chất và vận dụng ý chí để kiểm
    soát tất cả mọi hành động của mình.
    Hôm nay là ngày huấn luyện cuối vì từ nay ngươi sẽ lên
    đường và sẽ gặp nhiều thử thách. Chỉ khi nào ngươi vượt
    qua được những thử thách này thì ngươi mới có thể trở lại
    đây học hỏi thêm về các kiến thức huyền bí của môn phái
    chúng ta."
    Ombo nhìn tôi chăm chú rất lâu rồi chỉ lên tường, nơi có
    hình vẽ một con rắn đang quấn quanh biểu tượng "Tau"
    (tượng trưng cho sự sống):
    - "Này Sinuhe, trước khi ngươi lên đường, ta có vài lời
    nhắn nhủ riêng với ngươi. Hãy nhìn con rắn kia, nó tượng
    trưng cho các mãnh lực của vật chất mà bất cứ người nào
    trong môn phái này đều phải tìm cách tự giải thoát ra khỏi
    vòng kiềm tỏa của nó và điều khiển nó. Trước khi nhập
    môn, ngươi sẽ phải trải qua nhiều thử thách của con rắn ma
    quái ấy. Có lúc nó sẽ nói với ngươi: "Ta sẽ ban cho ngươi tất
    cả những gì ngươi muốn, nếu ngươi chịu khuất phục ta".
    Ngươi sẽ phải đáp lại bằng tất cả sức mạnh của ý chí rằng:
    "Ta không bao giờ chịu khuất phục mày, mà chính mày sẽ
    phải nằm mọp dưới chân ta. Mày không thể cho ta một thứ
    gì cả, mà chính ta sẽ sai khiến mày làm những gì ta muốn
    vì ta là chủ của mày". Nếu ngươi không thoát khỏi mãnh lực
    cám dỗ của con rắn ma quái đó, ngươi sẽ đi lạc vào tà đạo
    như bao người trước đã đi, và rồi ngươi sẽ không thể thoát
    ra khỏi ảnh hưởng ghê gớm của mãnh lực đó. Do đó ta
    khuyên ngươi hãy thận trọng..."
    Ombo đắm chìm trong im lặng. Lần đầu tiên tôi thấy
    khuôn mặt lạnh lùng như thây ma của ông một vẻ ưu ái khó
    tả. Ông rút trong túi ra một chiếc huy hiệu nhỏ:
    - "Ta trao cho ngươi chiếc huy hiệu này. Nó là biểu hiệu
    của môn phái chúng ta. Nhờ nó mà ngươi có thể đến nơi
    chôn cất trong thung lũng mộ vua mà không người nào có
    thể đến đó được. Nhờ nó mà ngươi sẽ nhận được sự giúp đỡ
    đặc biệt của những huynh đệ trong môn phái chúng ta.
    Này Sinuhe, kể từ nay ngươi sẽ bắt đầu một cuộc hành
    trình đầy gay go, nhiều thử thách nhưng ta tin rằng ngươi
    có thể vượt qua được. Từ nhiều thế kỷ nay, kể từ khi học trò
    của Thoth phân chia những lời dạy bảo của ông thành hai
    môn phái riêng biệt, mới có một trường hợp đặc biệt hãn
    hữu như thế này. Ta rất vui mừng vì ngươi là kẻ duy nhất đã
    thụ giáo kiến thức của phái Khoa Học Của Sự Sống, rồi lại
    có dịp học hỏi thêm về kiến thức của phái Khoa Học Của Sự
    Chết. Mặc dù ngươi chưa được chỉ dẫn tường tận về tinh hoa
    của cả hai môn phái, nhưng theo sự suy luận của ta, đây chỉ
    là vấn đề thời gian. Ta hy vọng ngươi sẽ vượt qua được
    những khó khăn, thử thách rồi tiếp tục học hỏi với các danh
    sư của môn Khoa Học Của Sự Sống, và sau đó đến đây học
    thêm các kiến thức huyền môn với chúng ta. Chúng ta tin
    rằng ngươi có một sứ mạng quan trọng là phục hồi toàn bộ
    kiến thức của Thoth để dạy bảo cho các thế hệ sau. Ta
    mong ngươi sẽ hoàn tất sứ mạng cao cả này, phục hồi nền
    minh triết thiêng liêng của Thoth, hướng dẫn nhân loại sống
    đúng với các định luật thiên nhiên. Biết đâu qua sự dạy bảo
    của ngươi mà tương lai nhân loại chẳng sáng sủa, tốt đẹp
    hơn."
    CHƯƠNG 7
    Đó là một đêm tối trời, vầng trăng lưỡi liềm tỏa ánh
    sáng mờ nhạt xuống thung lũng mộ vua, khu nghĩa trang
    dành riêng cho Pharaoh và những người trong hoàng tộc.
    Đây là vùng cấm địa, được canh gác cẩn thận và bất cứ ai
    lai vãng trái phép đều bị xử tử hình. Tuy nhiên dù không
    canh gác cũng chẳng mấy ai dám bén mảng tới vì mọi người
    đều biết những ngôi mộ trong nghĩa trang này chẳng những
    được chôn giấu, che đậy kỹ lưỡng mà còn có những động
    lực vô hình bảo vệ, ai đụng chạm đến sẽ bị trừng phạt hết
    sức nặng nề.
    Nhờ có phù hiệu và giấy tờ chứng minh của trường Khoa
    Học Của Sự Chết nên các binh sĩ canh gác đã để tôi qua các
    trạm canh một cách dễ dàng. Theo lời chỉ dẫn, tôi mang xác
    ướp cha mẹ tôi đến khu nghĩa trang của dòng họ Oka. Đây
    là một khu đất rộng, chính giữa có trồng một thạch trụ khắc
    ghi công trạng của những người trong họ. Phần lớn những
    ngôi mộ đều được chôn sâu dưới lòng đất và dĩ nhiên không
    ai biết chỗ nào, nhưng nhờ được chỉ dẫn, tôi tìm một miếng
    đất trống và khởi công đào sới. Trong lúc đang chuẩn bị hạ
    huyệt thì bỗng có tiếng động ở đâu vang lên rồi từ hốc đá
    gần đó, một bóng đen xuất hiện. Tuy đã làm việc tại trường
    Khoa Học Của Sự Chết quen mổ xẻ thây ma, xác chết
    nhưng tôi cũng không khỏi hoảng hốt. Phải chăng đó là một
    vong linh hay các ma quỉ giữ mồ?
    Tôi lùi lại quát lớn:
    - Ngươi là ai?
    Bóng đen cũng hỏi lại:
    - Ngươi là ai?
    Tôi thở phào nhẹ nhõm:
    - Thì ra ngươi không phải là ma quỉ hay vong linh giữ
    mồ.
    Bóng đen chăm chú nhìn tôi rồi lặp lại câu hỏi:
    - Ngươi là ai?
    - Tôi là Sinuhe, y sĩ tại thành Thebes.
    - Sinuhe ư? Phải chăng ngươi là con của y sĩ Sen Moot?
    - Đúng thế.
    Bóng đen thong thả bước về phía tôi. Dưới ánh trăng lờ
    mờ, tôi nhận ra đó là một ông già, quần áo rách rưới. Ông
    lão chăm chú nhìn tôi rồi trầm giọng:
    - Ta biết cha ngươi là người lương thiện. Ngày xưa ta bị
    thương và được cha ngươi cứu chữa… Nhưng ngươi làm gì ở
    đây với hai cái xác ướp kia?
    - Đó là xác cha mẹ tôi và tôi muốn chôn cất hai người tại
    đây.
    - Tại sao ngươi muốn chôn tại nghĩa trang dành riêng
    cho hoàng tộc này?
    - Đây là khu đất của dòng họ Oka, mẹ tôi là người thuộc
    dòng họ này. Tôi hy vọng nhờ được ướp xác và chôn cất tại
    đây, cha mẹ tôi sẽ được hưởng một đời sống tốt đẹp hơn ở
    cõi giới bên kia…
    Ông lão cười khảy:
    - Thì ra ngươi tin là có đời sống ở thế giới bên kia.
    - Tôi không tin gì hết nhưng cha mẹ tôi thì tin như vậy.
    Khi xưa cha mẹ tôi thường sống theo các kỷ luật nhất định,
    mong sẽ được hưởng những điều tốt đẹp ở thế giới bên kia.
    Tiếc thay tôi không làm được như thế, tôi đã phụ lòng tin
    tưởng của cha mẹ tôi nên đành ướp xác hai người mang đến
    đây chôn cất, mong có thể đền đáp được chút gì.
    Ông lão cười gằn:
    - Trò đời vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu. Khi cha mẹ còn
    sống thì chẳng lo hầu hạ, phụng dưỡng; nhưng lúc chết thì
    con cái nào cũng lo ướp xác, tổ chức chôn cất ma chay linh
    đình. Ha ha… ngươi tin rằng nhờ được chôn cất trong thung
    lũng mộ vua này thì cha mẹ ngươi sẽ được hưởng những đồ
    cúng tế, những lễ vật mà người ta dâng cúng cho các vua
    chúa sao?
    - Có thể như thế.
    Ông lão ngửa cổ cười sằng sặc:
    - Ngươi lầm rồi! Người chết chẳng thể hưởng cái gì hết vì
    nếu có các lễ vật dâng cúng thì nó chỉ lọt vào chiếc bụng
    rỗng của chúng ta mà thôi.
    - Thì ra ông là kẻ chuyên đào mồ mả, trộm lễ vật của
    người chết.
    - Đúng thế. Ta là Ansara, thủ lãnh của những kẻ chuyên
    trộm cướp mồ mả nơi đây.
    Tôi tỏ vẻ khó chịu:
    - Không lẽ trên đời này chẳng có nghề nghiệp gì khá hơn
    sao mà ông phải tranh giành cả đồ cúng tế với người chết?
    Ông lão nổi giận:
    - Thằng kia, nếu tao không chịu ơn cha mày khi xưa thì
    có lẽ mày đã bỏ mạng rồi! Không kẻ nào dám ăn nói hỗn
    hào với Ansara này như vậy. Mày biết gì về chúng ta mà
    dám lên giọng dạy đời như thế?
    Tôi cũng tức giận, định lên tiếng cãi lại nhưng thấy trong
    giọng điệu hằn học của ông lão phảng phất một điều gì bi
    phẫn nên ngưng lại, không nói gì. Ansara cũng chăm chú
    nhìn tôi như chờ đợi phản ứng nhưng không thấy tôi nói gì
    thì im lặng.
    Một lúc sau ông thở dài:
    - "Nếu ngươi biết rằng ngày trước chúng ta cũng là
    những kẻ lương thiện. Chúng ta là những nông dân, chỉ biết
    cày sâu cuốc bẫm, cho đến khi Pharaoh gây chiến tranh, bắt
    trai tráng phải nhập ngũ. Chúng ta từ giã gia đình ra đi, hy
    vọng cuộc chiến sẽ chấm dứt sớm, nhưng nào ngờ hết cuộc
    chiến với người Hitites lại đến chiến tranh với Nubia, rồi
    Syria và Babylon để thỏa mãn giấc mộng mở mang lãnh thổ
    của Pharaoh. Sau mấy chục năm chinh chiến, bao nhiêu
    máu dân lành đã đổ, bao nhiêu sinh mạng đã mất, bao
    nhiêu thế hệ đã mang xương máu ra hy sinh cho tham vọng
    của Pharaoh, cho đến khi ông ta già yếu, lâm bệnh thì chiến
    tranh mới chấm dứt.
    Khi chúng ta trở về quê cũ thì hầu hết ruộng nương, nhà
    cửa, vườn tược, đất đai đều đã lọt vào tay các quan lớn
    trong triều, phần thưởng của Pharaoh ban cho tướng lãnh
    có công. Các binh sĩ như chúng ta chẳng được gì ngoài tấm
    thân tàn phế bệnh hoạn. Vì chiến tranh kéo dài quá lâu,
    làng xóm tan hoang, gia đình ly tán, chẳng ai tìm được họ
    hàng thân thuộc nữa. Đám thương phế binh già như chúng
    ta không nơi nương tựa, không nghề sinh sống, lang thang
    rày đây mai đó kiếm ăn. Sau cùng chúng ta đành phải hành
    nghề trộm mả này."
    Ansara ngửa cổ lên trời cười sằng sặc:
    - Ha ha ha… Khi xưa các văn quan võ tướng đã cướp nhà
    cửa, ruộng vườn, đất đai của chúng ta thì ngày nay chúng
    ta cũng đào xới mồ mả, cướp lại những đồ vật chôn cất theo
    thây ma của chúng. Này Sinuhe, ngươi còn trẻ, chưa nếm
    mùi chinh chiến nên không thể nào hiểu được những điều ta
    nói đâu. Chỉ những kẻ đã từng trải chiến tranh như chúng ta
    mới hiểu rõ hậu quả tàn khốc của nó. Chiến tranh không
    những phá hoại tất cả mọi tiềm lực quốc gia mà còn làm hư
    hỏng con người nữa. Ta hy vọng Pharaoh sẽ không dẫm vào
    vết xe cũ, không gây chiến tranh, không nuôi thù hận, vì
    nếu có tiếp tục đường lối cũ thì tương lai Ai Cập sẽ không
    thể nào khá được…
    Tôi ngậm ngùi nhìn ông già trong bộ quần áo rách nát:
    - Nhưng hẳn ông cũng biết việc đào mồ mả rất nguy
    hiểm.
    - Tại sao ngươi lại quan tâm đến chúng ta như vậy? Kẻ
    chuyên đào mồ, ăn trộm đồ quí trong mồ như chúng ta hẳn
    nhiên phải biết rõ những cạm bẫy trong mồ chứ…
    - Nhưng còn những xác ướp giữ mồ…
    - Ai sợ xác ướp chứ chúng ta không sợ chút nào. Chúng
    ta đã có võ khí riêng.
    - Nhưng làm sao ông có thể đối phó với các động lực vô
    hình?
    Ansara nhìn tôi ngạc nhiên:
    - "Ta không ngờ ngươi cũng biết về các động lực ma quái
    đó. Với những kẻ đã không còn sợ chết thì xác ướp giữ mồ
    kia chẳng thể làm gì được. Dù các pháp sư phép thuật có
    cao cường đến đâu thì cũng phải dựa vào các xác ướp làm
    môi giới cho động lực cõi âm tác oai tác quái. Chúng ta chỉ
    việc đốt cháy các xác ướp này thì sự liên lạc với cõi âm phải
    chấm dứt ngay.
    Ha ha ha… điều này giản dị chứ có khó khăn gì! Chúng
    ta đào đường hầm vào trong mồ, dùng lửa đốt cháy mọi
    thứ, từ các ký hiệu, bùa chú, đến các xác ướp để trừ sạch
    các động lực ma quái trước khi vơ vét mọi thứ chôn theo
    trong mồ. Các ảnh hưởng cõi âm dù ghê gớm đến đâu cũng
    phải dựa vào xác ướp làm trung gian. Mất đi thứ này chúng
    trở nên vô hiệu nên bọn trộm mồ mả như chúng ta mặc tình
    thao túng. Này Sinuhe, bất kỳ ảnh hưởng của cõi âm nào
    cũng kỵ lửa. Chỉ cần một mồi lửa là những ảnh hưởng ma
    quái đều tiêu tan ra tro bụi hết…
    Ha ha ha… những vua chúa tàn bạo, những giáo sĩ tà
    đạo đầy tham vọng cứ nghĩ rằng khi ra lệnh ướp xác để cho
    các động lực vô hình từ cõi âm sử dụng thì họ có thể kéo dài
    ảnh hưởng ma quái này mãi mãi, nhưng họ đã lầm rất lớn.
    Dù các ngôi mộ được canh gác kỹ lưỡng, dù dân chúng
    chẳng ai dám bén mảng đến, dù con cháu họ có ngày đêm
    tế lễ, dâng cúng lễ vật thì họ cũng chẳng thể tác oai tác
    quái gì nữa vì họ không bao giờ ngờ các xác ướp trung gian
    đã bị chúng ta đốt cháy rụi từ lâu. Có bao giờ ngờ được rằng
    có những kẻ chẳng sợ chết, chẳng sợ ma quỉ, sẵn sàng đào
    mồ phá mả, đốt sạch xác ướp và bùa chú ma quái kia để
    trộm đồ quí.
    Ha ha ha… trên đời này chẳng có gì tồn tại mãi với thời
    gian, chỉ có cát bụi mới thực sự vĩnh viễn mà thôi…"
    Ansara ngưng nói nhìn về cuối chân trời rồi gật đầu:
    - Trời đã gần sáng rồi. Để ta giúp ngươi một tay chôn cất
    song thân ngươi cho tử tế rồi ngươi hãy rời khỏi chỗ này
    ngay kẻo quân lính bắt được hỏi lôi thôi thì phiền lắm.
    Nói xong Ansara nhặt một cái cuốc gần đó phụ giúp tôi
    chôn cất. Sau khi chôn xong, tôi định nhặt vài hòn đá gần
    đó để đánh dấu thì Ansara đã lắc đầu:
    - Ngươi mất công đánh dấu làm gì, trước sau tất cả rồi
    cũng trở về với cát bụi. Này Sinuhe, ngươi hãy nhìn cho kỹ,
    có hàng trăm Pharaoh được chôn cất trong thung lũng này
    nhưng ngươi đã thấy gì ngoài bãi cát mênh mông bát ngát
    kia? Dù ngươi có quyền uy tột đỉnh thế nào đi nữa nhưng
    khi nằm xuống thì cũng chỉ là cái xác khô mà thôi. Dù họ có
    bỏ ra bao nhiêu năm xây dựng sự nghiệp, mở mang lãnh
    thổ, kiến tạo những lâu đài đồ sộ, những lăng tẩm vĩ đại
    nhưng khi chết thì cũng nằm trong cái hố không đầy ba
    thước. Dù họ có chinh phục được bao nhiêu quốc gia, thôn
    tính được bao nhiêu đất đai, xưng hùng xưng bá thế nào thì
    cuối cùng vẫn chỉ là một nắm xương tàn, không giá trị bằng
    một hạt cát trong sa mạc. Hạt cát ít ra cũng biết mình là cát
    bụi nên khiêm tốn nằm yên nhưng con người thì cứ mải
    miết, lăng xăng với những ước vọng viễn vông, chẳng ý
    thức được đời người vài chục năm có là mấy so với cát bụi
    đã hiện hữu nơi đây hàng ngàn năm rồi. Có lẽ những hạt cát
    đều bật cười trước sự ngu xuẩn của con người. Ha ha ha…
    Chúng cười cho sự điên rồ của con người, không biết thân
    phận mình bé nhỏ mong manh như thế nào mà còn đòi bất
    tử. Ha ha ha…
    Ansara thong thả bước đi nhưng tiếng cười của lão vẫn
    rền vang trong sa mạc. Tôi im lặng nhìn theo bóng ông lão
    khuất dần trong bóng đêm.
    ° ° °
    Trời bắt đầu sáng, một vài tia nắng xuất hiện trên nền
    trời. Tôi trở về Thebes với một tâm trạng khó tả. Đã hơn
    một năm nay, tôi mới trở lại thành phố thân yêu này. Những
    đường phố quen thuộc từ từ hiện ra trước mắt tôi. Bên bờ
    giếng, một thiếu nữ đang múc nước. Vài đứa trẻ chạy nhảy
    quanh đó. Phiên chợ sớm đã họp. Tôi nghe rõ tiếng người
    cười nói và chào mời vang vang vọng lại. Khi tôi vừa đến
    bên giếng thì người thiếu nữ múc nước chợt ngẩng mặt lên
    nhìn và hoảng hốt kêu lớn:
    - Sinuhe đấy ư? Anh… anh làm gì ở đây?
    Tôi nhận ra Meryt, người thiếu nữ bán rượu năm xưa:
    - Chào cô Meryt.
    Meryt cuống quít:
    - Em tưởng… em tưởng… anh đã chết rồi!
    - Không, tôi vẫn còn sống… Tại sao cô lại hoảng hốt như
    thế?
    Meryt không trả lời, dáo dác ngó quanh rồi đưa tay lên
    miệng ra hiệu cho tôi đừng nói. Tôi đang ngạc nhiên thì
    Meryt đã kéo tấm khăn choàng đầu trùm ngay lên mặt tôi
    rồi ghé sát vào tai tôi nói nhỏ:
    - Anh đừng nói gì hết… Hãy đi theo em ngay.
    - Tại sao?
    Meryt kéo tay tôi rảo bước qua mấy con đường nhỏ đến
    một quán rượu. Khi tôi vừa bước vào thì thấy Kepta đang
    cắm cúi lau chùi sàn nhà. Hắn ngửng lên thấy tôi thì cuống
    quít la lớn:
    - Ông chủ… phải ông chủ đó không?
    - Kepta, ngươi làm gì ở đây?
    Gã nô lệ ôm chầm lấy tôi mừng rỡ:
    - Từ lúc ông chủ đem xác hai cụ đi chôn rồi không trở
    về, tôi tưởng ông chủ đã chết theo hai cụ rồi.
    - Không, ta vẫn còn sống đây… Tại sao ngươi hoảng hốt
    thế?
    Kepta đưa tay lên chùi con mắt duy nhất rồi hỏi:
    - Không lẽ… không lẽ ông chủ không biết gì sao?
    Pharaoh Akhenaten… giận ông chủ lắm đó.
    - Tại sao?
    Kepta vội vã giải thích:
    - Đúng vào lúc ông chủ bỏ đi thì hoàng tử Teay bị sưng
    màng óc. Hoàng đế Akhenaten chỉ có một con trai duy nhất
    nên ngài quí hoàng tử vô cùng. Khi hoàng tử lâm bệnh, ngài
    cho gọi ông chủ đến cứu chữa. Các quan ngự y đều nói rằng
    ông chủ là người mổ sọ tài giỏi nhất và có thể chữa cho
    hoàng tử nên Pharaoh đợi ông chủ mãi. Hoàng tử mắc bệnh
    ít lâu rồi qua đời mà ông chủ vẫn biệt vô âm tín nên một số
    quan triều cho rằng ông chủ đã mưu mô với phe chống đối
    nên lánh mặt không chịu cứu chữa, để cho dòng họ
    Amenophis phải tuyệt tự. Khắp nước người ta đã bàn tán
    việc này rất sôi nổi. Sau cùng các quan triều yêu cầu hoàng
    đế phải trừng trị ông chủ thật nặng nề để làm gương và án
    tử hình đã ban hành từ mấy tháng nay rồi.
    Tôi bàng hoàng không ngờ:
    - Nhưng… nhưng không lẽ… Horemheb cũng tin như vậy
    sao?
    - Lúc đầu Horemheb bị nghi ngờ là đã che chở cho ông
    chủ. Sau này chính Pharaoh ra lệnh cho Horemheb phải tìm
    cho được ông chủ bằng bất cứ giá nào. Hắn đích thân đốc
    thúc quân sĩ khám xét khắp nơi. Hiện nay Horemheb đang
    treo giải thưởng cho ai bắt được ông chủ.
    Tôi căm giận gầm lên:
    - Horemheb, thằng khốn kiếp! Ta không ngờ ngươi lại
    thay lòng đổi dạ nhanh như thế!
    Đến lúc đó Meryt mới lên tiếng:
    - Sinuhe, có lẽ anh cần rời khỏi Ai Cập ngay. Nếu để
    Horemheb bắt được, chắc anh phải chết.
    Một lần nữa tôi cảm thấy mọi sự đều sụp đổ tan tành.
    Tôi chán chường:
    - Ta không sợ chết. Sống chết đối với ta không có nghĩa
    gì nữa.
    - Sinuhe, tại sao anh lại nói thế?
    - Ta đã được học về sự chết nên không còn sợ chết nữa.
    Meryt chăm chú nhìn tôi một lúc rồi nghiêm nghị:
    - Này Sinuhe, có thật đó là kiến thức về sự chết hay chỉ
    là sự thất vọng đối với đời sống?
    Câu nói của Meryt như gáo nước lạnh dội lên đầu khiến
    tôi giật mình. Cả một dĩ vãng đầy đau khổ tưởng đã chìm
    sâu lại hiện lên rõ rệt. Meryt tiếp tục:
    - Phải chăng anh vẫn còn đau khổ vì người đàn bà
    Babylon kia nên chỉ muốn tìm lấy cái chết?
    Câu nói của Meryt đã đụng chạm đến vết thương mà bao
    lâu nay tôi vẫn cố quên. Hình ảnh Nefer và Horemheb lại
    hiện ra trong trí khiến tôi gầm lên:
    - Meryt, cô nói đúng đấy! Đứa con gái khốn nạn kia đã
    phản bội ta… ta thề sẽ băm nó ra trăm mảnh rồi quăng cho
    cá sấu… Ôi đàn bà! Đàn bà chúng mày chỉ toàn là đồ xấu
    xa, phản bội…
    Meryt ôn tồn lắc đầu:
    - Anh nghĩ tất cả mọi người phụ nữ đều xấu xa như thế
    sao?
    Tôi biết mình lỡ lời nên ngập ngừng bào chữa:
    - Tôi… tôi không… không có ý nói cô.
    Meryt nhẹ nhàng:
    - Em biết anh không có ý vơ đũa cả nắm như thế.
    Tôi bối rối chữa thẹn:
    - Cô là người tốt… chứ không như đứa con gái khốn nạn
    thành Babylon kia. Nhưng tại sao cô lại đối xử tử tế với tôi
    như vậy? Tôi là một kẻ khốn cùng, đã mất hết danh dự, tài
    sản, danh vọng, sự nghiệp… Hiện nay tôi còn là kẻ đang bị
    truy nã nữa, thế tại sao cô lại giúp tôi?
    Meryt im lặng cúi đầu vân vê tà áo. Kepta vội đỡ lời:
    - Khi ông chủ bỏ đi mất tích, thằng nô lệ này không nơi
    nương tựa, lang thang đầu đường xó chợ. May thay có
    Meryt thương tình cho tá túc…
    - Tại sao cô làm thế?
    Meryt cúi đầu nói nhỏ:
    - Tại vì em biết… y sĩ… là người tốt…
    Đến lúc đó tôi mới hiểu được cảm tình của Meryt dành
    cho tôi. Tôi nhớ khi xưa có lần bị Horemheb và bạn bè ép
    uống rượu, chính Meryt đã can thiệp và bênh vực tôi. Sau
    này khi tôi trở về Thebes, cô đã theo tôi về tận đây nhưng
    tôi vẫn vô tình không để ý.
    Tôi im lặng nhìn Meryt một lúc rồi nói thật chậm:
    - Này Meryt, tôi cám ơn cô đã đối xử rất tốt với chúng
    tôi. Tôi là kẻ xấu xa, hèn hạ thật không xứng đáng với cô…
    - Anh, đừng nói thế.
    - Tôi là kẻ đang mang án tử hình, một kẻ đã phụ lòng
    tất cả những người yêu thương tôi. Cha mẹ tôi đã chết, nhà
    cửa tôi đã mất, sự nghiệp của tôi cũng không ra gì, danh dự
    của tôi đã bị đứa con gái thành Babylon chà đạp. Hoàng đế
    Akhenaten vì tin tưởng ở tôi nên con trai ông đã chết. Hiện
    nay tôi chỉ mang lại bất hạnh cho những ai gần tôi.
    - Có lẽ anh đã bị người ta lừa gạt…
    - Không, chẳng ai lừa gạt tôi cả. Tôi đã làm thì tôi phải
    lãnh chịu hậu quả.
    - Không. Anh đừng nói thế. Lúc này hoàng đế đang giận
    dữ, triều đình đang xáo trộn. Horemheb cũng bị nghi ngờ
    che giấu anh nên phải treo giải thưởng để bắt anh mà thôi.
    Lúc này anh xuất hiện chẳng ích lợi gì, nhưng theo thời gian
    mọi sự sẽ thay đổi và…
    - Không, tôi đã chán ngấy cuộc sống tại Ai Cập rồi. Cha
    mẹ tôi là người tốt nhưng họ đâu được gì ngoài cái chết thê
    thảm. Tôi muốn sống theo lý tưởng của cha mẹ tôi nhưng
    kết quả là mất hết danh dự, nhà cửa, tài sản. Ngay cả người
    bạn thân nhất cũng phản bội tôi. Hoàng đế Akhenaten thì
    lên án tử hình tôi. Không, tôi đã chán ngấy cái xứ khốn nạn
    này rồi. Tôi không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống như thế
    này nữa.
    Kepta gật đầu:
    - Ông chủ nói đúng đó. Xứ này không biết đến tài nghệ
    của ông chủ thì ông chủ qua xứ khác lập nghiệp. Với tài
    nghệ của ông chủ thì sống chỗ nào chẳng được.
    Tôi đồng ý:
    - Từ nay thằng Sinuhe này sẽ không còn dính dáng gì
    đến Ai Cập nữa.
    Meryt lắc đầu:
    - Sinuhe, anh nên bình tĩnh lại. Chuyện đâu còn đó, lúc
    này anh cần lánh mặt một thời gian rồi từ từ mọi việc sẽ tự
    nó giải quyết.
    - Không, tôi không còn muốn sống ở đây nữa.
    Kepta gật đầu nói nhỏ:
    - Thưa ông chủ, lúc này việc buôn bán tại Palistine đang
    phát đạt. Người Do Thái chúng tôi kiếm ăn rất khá nhưng xứ
    chúng tôi không có nhiều y sĩ giỏi. Nếu ông chủ qua đó làm
    ăn thì chắc chắn sẽ kiếm được khá lắm…
    - Phải đấy, ngươi thu xếp cho ta đi Palestine ngay.
    Kepta vội vã bỏ đi. Meryt im lặng nhìn tôi một lúc rồi òa
    lên khóc. Tôi nắm chặt lấy tay cô gái:
    - Meryt, tôi hiểu rõ tình cảm của cô dành cho tôi, nhưng
    tôi mong cô hãy quên tôi đi. Cô còn trẻ, cuộc đời còn tươi
    sáng…
    Meryt tiếp tục thút thít khóc cho đến khi Kepta trở lại:
    - Thưa ông chủ, tôi đã thu xếp xong. Lúc này có thuyền
    buôn đi dọc trên sông Nile đến Beda, thằng nô lệ này đã đút
    lót tiền bạc cho chủ thuyền nên hắn không hỏi han chi cả.
    Chúng ta cần lên đường ngay.
    - Ngươi làm gì có tiền để làm chuyện đó?
    Kepta hấp háy con mắt duy nhất nhìn tôi rồi cười xòa:
    - Thì tiền của ông chủ chứ còn của ai nữa… Thằng nô lệ
    này vẫn giữ giùm cho ông chủ số tiền bệnh nhân bỏ trong
    rương trước phòng khám bệnh. Có lẽ ông chủ quên rồi
    chăng?
    Từ đó tôi và Kepta bắt đầu cuộc sống mới tại Palestine…
    ° ° °
    Tôi đi bỏ lại phía sau mảnh đất chôn nhau cắt rốn cũng
    như quãng đời thanh niên ngây thơ, vô tư và đầy lạc quan.
    Trong thời gian đầu, chúng tôi bám theo những nhóm người
    Do Thái chuyên buôn bán, trao đổi hàng hóa quanh sa mạc
    Palestine. Vì buồn chán, không tha thiết gì đến đời sống nữa
    nên tôi thường mượn rượu giải khuây. Nhờ Kepta còn giữ
    được chút tiền bạc nên chúng tôi không gặp khó khăn gì
    mấy, nhưng khi số tiền này cạn dần thì chúng tôi bắt đầu
    nếm cảnh nghèo túng đói khát. Đến lúc tiền bạc hết sạch thì
    chúng tôi trở thành những kẻ hành khất, tá túc dưới các mái
    hiên nhà hay các ốc đảo ngoài sa mạc. Được nuôi dưỡng và
    giáo dục trong hoàn cảnh thanh bần nên việc ăn uống, ngủ
    nghỉ đối với tôi không quan trọng mấy, nhưng sự kiện đang
    ở địa vị một y sĩ được trọng đãi, kính nể nhất thành Thebes
    bỗng trở nên kẻ hành khất hạ lưu, cặn bã xã hội, bị mọi
    người khinh miệt là điều tôi không chịu nổi. Đã thế, còn
    phải sống chung đụng với những thành phần bất hảo, trộm
    cắp, du đãng, vô gia cư, vô nghề nghiệp, những kẻ đầy thói
    hư tật xấu là một khổ tâm lớn cho tôi.
    Theo thời gian, khi sự đau khổ dần dần giảm bớt thì tôi
    bắt đầu sử dụng khả năng chữa bệnh để kiếm sống. Chúng
    tôi đi quanh các làng mạc trong vùng để chữa bệnh.
    Palestine là miền sa mạc hoang vu, sỏi đá khô cằn, dân cư
    thưa thớt nên người bản xứ không mấy ai có dịp tiếp xúc với
    các y sĩ chuyên môn như tôi. Đối với họ, những căn bệnh
    thông thường cũng là cả một vấn đề nên chỉ ít lâu sau, tôi
    đã trở nên một người nổi tiếng, có thể chữa được nhiều
    chứng bệnh.
    Chúng tôi tiếp tục đi qua rất nhiều làng mạc, thôn xóm.
    Càng đi xa tôi càng trở nên nổi tiếng. Dọc đường tôi đã
    chứng kiến nhiều cảnh bất công, những sự bóc lột, những
    nỗi đau khổ triền miên của con người gây ra cho con người
    nhưng trái tim của tôi đã khô héo và không còn xúc động
    nữa. Thời gian sống đói khổ, lam lũ với những kẻ hạ lưu
    trong xã hội đã dạy cho tôi một bài học về giá trị của đồng
    tiền. Tôi nghe theo lời khuyên của Kepta, chỉ chữa cho
    những bệnh nhân giàu có vì họ có thể trả cho tôi những số
    tiền lớn. Đối với những kẻ nghèo đói, tôi chẳng thèm để ý
    đến họ làm chi. Họ sống cũng thế mà chết đi thì xã hội lại
    giảm bớt được một miệng phải nuôi mà thôi.
    Khi rời Ai Cập, tôi và Kepta chỉ có mảnh áo trên lưng
    nhưng vài năm sau, chúng tôi đã mặc những y phục sang
    trọng nhất, di chuyển với đoàn tùy tùng hầu hạ đông đảo.
    Tại các thành phố lớn, người ta đã phải mang kiệu đến rước
    tôi đi chữa bệnh. Tôi cho Kepta đến điều tra trước, xem xét
    gia cư, điền sản bệnh nhân và thảo luận giá cả trước khi
    chữa bệnh. Ở đâu cũng thế, khi đã mắc bệnh, người ta sẵn
    sàng làm mọi thứ để được chữa khỏi và tôi đã lợi dụng tình
    trạng này tối đa. Có những bệnh nhân bị tôi cố tình kéo dài
    thời gian, chờ bệnh nặng lên, đến lúc thập tử nhất sinh mới
    bắt đầu cứu chữa và khi đó đòi hỏi gì họ cũng sẵn sàng
    dâng hiến. Nhiều người phải trao trọn sản nghiệp cho tôi để
    thoát cơn bệnh ngặt nghèo. Có người phải mang vợ con ra
    cầm cố, làm nô lệ cho tôi để được cứu sống.
    Theo thời gian, tôi đã làm chủ vô số tài sản từ Babylon
    đến Syria. Khắp nơi, thành phố nào cũng có nhà cửa, dinh
    thự của tôi. Từ khi hành nghề trở lại và thành một y sĩ nổi
    tiếng, tôi chỉ giao thiệp với giai cấp thượng lưu, quý phái,
    những người có quyền thế, địa vị trong xã hội. Người ta cần
    quen biết tôi để phòng khi bệnh hoạn yếu đau và tôi cũng
    cần quen biết họ, những kẻ có thế lực, để được bảo đảm về
    an ninh.
    Cuộc sống cứ thế tuần tự trôi, chẳng mấy chốc tôi đã rời
    Ai Cập được hơn mười năm. Ngày ra đi tôi là một thanh niên
    yếu đuối, non nớt nhưng hiện nay tôi đã trở thành một
    người trung niên trưởng thành, từng trải mùi đời. Cuộc sống
    tiện nghi vật chất cũng khiến tôi nguôi ngoai phần nào cái
    quá khứ cay đắng tại Ai Cập. Tuy nhiên có những buổi
    chiều, khi ánh nắng sa mạc hắt lên khung cửa, nỗi buồn xa
    xứ lại dấy lên trong lòng tôi. Mỗi khi hình ảnh Horemheb và
    Nefer hiện lên thì các nô lệ xinh đẹp, các tiệc tùng xa hoa
    lộng lẫy thế nào cũng không làm sao xóa mờ được hình ảnh
    đó.
    Một hôm tôi đang ngủ thì Kepta đẩy cửa bước vào:
    - Thưa y sĩ, có một bệnh nhân đang cần chữa trị gấp.
    Tôi khó chịu gắt ầm lên:
    - Ngươi không thấy ta đang ngủ đây sao? Hãy để hôm
    khác…
    - Nhưng đây là trường hợp khẩn cấp không thể chờ
    được…
    Tôi định lên tiếng quát tháo nhưng thấy Kepta giơ tay ra
    hiệu nên ngưng lại. Hiển nhiên đây phải là một thân chủ rất
    "xộp" nên Kepta mới dám phá giấc ngủ của tôi như thế.
    Khi tôi bước vào phòng khám bệnh thì thấy một nhóm
    người đang bao quanh một bệnh nhân mặc quân phục Ai
    Cập, thân thể đầy máu. Tôi khám xét vết thương và giật
    mình khi thấy bệnh nhân bị một vét chém rất nặng, xuyên
    qua cả bộ giáp trụ. Trong cuộc đời làm y sĩ, tôi chưa bao giờ
    nhìn thấy vết chém nào nặng như thế.
    - Làm sao mà người bị thương như thế?
    Bệnh nhân ú ớ như không hiểu tôi nói gì. Kepta lên
    tiếng:
    - Người này là Hitites chứ không phải Ai Cập.
    - Nhưng tại sao y lại mặc giáp trụ Ai Cập.
    Kepta chưa kịp trả lời thì một người đứng gần đó đã lạnh
    lùng lên tiếng:
    - Đó là việc của chúng ta, ngươi hãy khám vết thương
    này xem có thể chữa được không?
    Tôi cúi xuống xem xét rất kỹ. Đây quả là vết thương trí
    mạng. Bệnh nhân bị vật gì chém xuyên qua bộ giáp trụ kiên
    cố, đâm thẳng vào các cơ quan nội tạng. Càng khám tôi
    càng bàng hoàng vì các cơ quan bên trong đều bị hư hỏng,
    thịt xương nát bấy, không thể cứu chữa gì được.
    - Vết chém này quá nặng, tôi nghĩ y khó có thể sống
    được qua hôm nay.
    - Ngươi hãy xem xét cho thật kỹ đi.
    Tuy cảm thấy khó chịu về thái độ trịch thượng của người
    lạ mặt nhưng theo thói quen nghề nghiệp, tôi vẫn cố gắng
    xem xét một lần nữa. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là bộ
    giáp trụ kiên cố bằng kim khí đã bị vật gì đó chém xuyên
    qua như người ta cắt một miếng bánh.
    Tôi lên tiếng:
    - Tôi đã từng chữa rất nhiều người bị thương vì đâm
    chém nhưng chưa bao giờ thấy vết thương nào nặng như
    thế này. Đã thế, bộ giáp trụ kiên cố cũng bị hư hỏng, hiển
    nhiên người này đã bị một vật gì rất sắc bén đâm trúng.
    Nhóm người lạ nhìn nhau, không giấu được vẻ đắc chí.
    Người cầm đầu có khuôn mặt lạnh lùng gật đầu:
    - Khá lắm! Ngươi quả có con mắt tinh đời đó, nhưng
    chúng ta chỉ muốn biết vết thương nặng như thế này có thể
    cứu chữa được không?
    - Tôi đã xem rất kỹ, nội tạng của y bị thương nặng lắm,
    không thể chữa được.
    - Một y sĩ nổi tiếng như ngươi mà cũng không thể chữa
    được sao?
    - Tôi biết rõ khả năng của tôi, vết thương này quá nặng
    tôi không thể nào chữa nổi.
    - Nếu vậy, các y sĩ khác thì sao?
    Kepta vội vã lên tiếng:
    - Ai cũng biết trong vùng này, ông chủ tôi là y sĩ giỏi
    nhất. Nếu chủ tôi đã tuyên bố không thể cứu chữa thì tôi
    cam đoan các lang băm quanh vùng chẳng dám mó tay vào
    đâu!
    Nhóm người lạ mặt đưa mắt nhìn nhau khoái chí. Hiển
    nhiên họ chẳng quan tâm gì đến bệnh nhân mà chỉ muốn
    biết hậu quả của vết thương kia ra sao mà thôi. Người có
    khuôn mặt lạnh lùng rút ra một túi tiền vàng lớn đưa cho
    Kepta:
    - Tốt lắm! Đây là phần thưởng cho việc khám bệnh của
    ông.
    - Nhưng tôi đâu cứu được bệnh nhân?
    - Điều ấy không quan trọng. Phiền hai ông chôn cất
    bệnh nhân giùm.
    Nó xong họ kéo nhau bỏ đi một cách thản nhiên như
    không có chuyện gì xảy ra.
    ° ° °
    Tuy nhiên vài hôm sau nhóm người này trở lại với vẻ
    căng thẳng rõ rệt. Người cầm đầu lên tiếng:
    - Chúng tôi muốn nhờ y sĩ đi khám bệnh cho một người.
    Kepta lên tiếng:
    - Ông chủ tôi không tiếp bệnh nhân bất ngờ như thế. Tôi
    phải đến trước thu xếp mọi việc đã…
    Người cầm đầu nhếch miệng cười:
    - Ngươi đừng lo, chúng ta sẵn sàng trả công cho chủ
    ngươi xứng đáng.
    Kepta cương quyết lắc đầu:
    - Nhưng tôi phải đến đó xem xét…
    Người cầm đầu lạnh lùng nói:
    - Ngươi nghĩ rằng chúng ta không biết việc ngươi đi điều
    tra gia cảnh bệnh nhân để định giá trước khi chủ ngươi chữa
    bệnh hay sao?
    Người nô lệ chột mắt của tôi thản nhiên:
    - Đó là cách làm việc của chúng tôi, nếu không thích các
    ông cứ đi tìm y sĩ khác.
    - Quanh đây mấy trăm dặm không có y sĩ nào giỏi cả.
    Kepta đắc chí:
    - Nếu biết thế, hẳn các ông cũng biết phương cách làm
    việc của chúng tôi.
    Ngời cầm đầu gằn giọng:
    - Nếu chủ ngươi có thể chữa được cho người này thì
    chúng ta sẵn sàng trả công cho các ngươi cả một rương
    vàng. Từ trước đến nay ta chắc chưa ai dám trả món tiền
    lớn như thế đâu!
    Kepta há hốc miệng nói không ra lời. Con mắt duy nhất
    của hắn đảo qua đảo lại như tính toán vì một rương vàng
    quả là một tài sản rất lớn, chỉ bậc vua chúa mới có thể sở
    hữu mà thôi. Tôi cũng im lặng vì cảm thấy hình như có điều
    gì không ổn.
    Quả nhiên người cầm đầu nói tiếp:
    - Chúng ta sẵn sàng đặt trước một số tiền lớn để y sĩ
    theo chúng ta lên đường ngay.
    - Nhưng các ông muốn đi đâu?
    - Ta không thể nói được, xin y sĩ lên đường ngay cho.
    Nói xong hắn phất tay một cái, một kẻ tùy tùng vội vã
    đặt lên bàn một hũ đựng đầy ngọc. Kepta trố mắt xuýt xoa:
    - Được lắm! Được lắm! Nhưng tôi và ông chủ tôi không
    bao giờ rời nhau. Để tôi thu xếp dụng cụ lên đường.
    Chúng tôi theo đoàn người vượt sa mạc đến một thung
    lũng rộng lớn, chung quanh có nhiều quân sĩ canh gác cẩn
    thận. Thì ra đó là chỗ đóng quân của người Hitites. Chúng
    tôi được đưa đến một căn lều lớn, bệnh nhân là một người
    dáng dấp hiên ngang, oai vệ. Ông ta ngồi trên một chiếc
    ghế lớn, bên cạnh đặt một thanh kiếm hình thù kỳ dị. Vừa
    nhìn thấy thanh kiếm, tôi đã giật mình, hẳn đây là một vũ
    khí đã chém nát bộ giáp trụ của người sĩ quan Hitites hôm
    trước. Bệnh nhân chăm chú nhìn tôi như dò xét rồi ra hiệu
    cho tôi bước đến khám bệnh.
    Tôi thong thả chẩn bệnh rất kỹ rồi lên tiếng:
    - Ông bị một cái bướu trong đầu, cái bướu này đè lên óc
    khiến cho tay trái của ông không cử động được nữa. Nếu
    không cứu chữa, chỉ ít lâu nữa toàn thân ông sẽ bị bại liệt…
    Bệnh nhân kinh ngạc, không ngờ chỉ mới một khám xét
    mà tôi đã nói trúng bệnh trạng của ông ta như thế. Nhóm
    người chung quanh cũng ngạc nhiên không kém. Người sĩ
    quan có khuôn mặt lạnh lùng, gật đầu:
    - Nếu đã chẩn bệnh chính xác như thế hẳn y sĩ có thể
    chữa được cho hoàng đế của chúng tôi?
    Thì ra bệnh nhân chính là hoàng đế xứ Hitites, thảo nào
    ông ta sẵn sàng trả thù lao chữa bệnh cao như thế! Tôi im
    lặng suy nghĩ rồi nói:
    - Dĩ nhiên tôi có thể chữa được, nhưng tôi sợ rằng ông
    sẽ không dám để cho tôi chữa…
    - Tại sao?
    - Việc chữa trị đòi hỏi tôi phải mổ sọ ông ra, cắt cái bướu
    đi rồi ráp mảnh sọ lại như cũ. Đây là một phương pháp đặc
    biệt mà rất ít y sĩ dám đảm nhận và chẳng ai có thể bảo
    đảm…
    Tôi chưa dứt lời thì nhón người đứng quanh đó đã hầm
    hầm rút võ khí ra. Người nào cũng cầm những cây kiếm
    hình thù kỳ dị, y hệt như thanh kiếm đặt trên bàn.
    - Quả nhiên chúng ta đoán không sai, ngươi hẳn là tay
    sai của hoàng đế Ai Cập trà trộn đến đây để ám sát chủ
    nhân chúng ta…
    - Ngươi phải chết…
    Trong lúc tôi chưa kịp phản ứng thì một người dáng dấp
    bé nhỏ vẫn đứng yên lặng trong góc lều bước ra nói lớn:
    - Các ngươi chớ hàm hồ! Người y sĩ này nói rất đúng vì
    chính ta đã đích thân chẩn bệnh cho hoàng đế và biết phải
    chữa như thế…
    Nói xong ông quay ra chăm chú nhìn tôi rất lâu rồi ôn
    tồn nói:
    - Ta chính là quan ngự y cho hoàng đế xứ Hitites. Ta biết
    việc mổ sọ người là một phương pháp đặc biệt của trường
    Khoa Học Của Sự Sống và rất ít ai được truyền dạy. Theo sự
    tìm hiểu của ta thì chỉ có Sen Moot, y sĩ thủ khoa của
    trường này biết cách mổ sọ nhưng ông này đã chết từ lâu
    rồi. Hiện nay chỉ có người con trai của ông, đang làm chức
    ngự y cho hoàng đế Ai Cập biết phương pháp này thôi.
    Ngươi có liên quan gì đến người y sĩ tên Sinuhe đó không?
    - Tôi chính là Sinuhe đây.
    Toàn thể mọi người đều giật mình. Người sĩ quan chỉ huy
    hầm hầm:
    - Thì ra thế! Ta biết là phải có những âm mưu ám muội…
    Bất ngờ hoàng đế Hitites bật cười lớn:
    - Ha ha ha… Quan ngự y của hoàng đế Ai Cập lại đến
    chữa cho vua xứ Hitites trước khi hai bên khởi binh giao
    tranh! Không những thế, hắn còn đề nghị một phương pháp
    chữa bệnh lạ lùng là mổ sọ người. Ha ha ha… thảo nào các
    tướng sĩ của ta nghi ngờ cũng phải. Này Sinuhe, ngươi giải
    thích thế nào đây?
    Tôi lạnh lùng:
    - Khi xưa tôi là quan ngự y cho hoàng đế Akhenaten
    nhưng hiện nay tôi không còn dính dáng gì đến Ai Cập nữa
    cả. Nếu các ông có thiêu rụi Ai Cập thì cũng chẳng ăn nhằm
    gì đến tôi nữa. Tôi là y sĩ chữa bịnh lấy tiền và các ông sẵn
    sàng trả cho tôi một số tiền lớn. Nên nhớ chính các ông đã
    mời tôi đến đây chứ không phải tôi tự ý tìm đến. Các ông có
    muốn tôi chữa hay không?
    Quan ngự y tò mò:
    - Ta nghe nói ngươi bị hoàng đế Ai Cập kết án tử hình…
    - Đúng thế! Tôi là kẻ có tội nên phải trốn đi biệt xứ. Hiện
    nay tôi không có quê hương, không trung thành với vua
    chúa nào hết. Tôi chỉ biết có tiền bạc mà thôi và sẵn sàng
    làm mọi sự. Việc chữa trị tùy các ông quyết định…
    Hoàng đế xứ Hitites gật đầu:
    - Ngươi nói đúng đó, hiện nay có lẽ ngươi là kẻ duy nhất
    có thể chữa bệnh cho ta, nhưng ngươi cần biết rằng nếu ta
    chết thì quân sĩ của ta cũng không để cho ngươi yên đâu.
    - Tôi biết rõ điều này.
    - Được lắm! Nếu ta khỏi bệnh thì ta sẽ cho ngươi bất cứ
    món gì ngươi muốn.
    Gã chỉ huy có khuôn mặt lạnh lùng lên tiếng:
    - Xin hoàng đế hãy nghĩ lại nếu như tên y sĩ này có âm
    mưu…
    - Các ngươi yên tâm, nếu ta không chữa thì sẽ bị tê liệt
    toàn thân. Ta thà chết còn hơn sống tàn phế như thế. Chết
    ngoài trận mạc hay chết dưới tay tên y sĩ này cũng thế
    thôi… Này Sinuhe, ngươi khởi sự đi.
    - Tôi sẽ cho ông uống một thang thuốc mê trước khi tôi
    mổ sọ.
    - Hà tất phải như thế, hãy mang rượu cho ta uống là
    được rồi.
    Mổ sọ người không phải việc tầm thường. Hầu hết mọi
    bệnh nhân đều được uống thuốc mê để khỏi đau đớn sợ hãi
    nhưng vị vua này đã làm tôi kinh ngạc. Tôi ra hiệu cho
    Kepta chuẩn bị dụng cụ và thuốc men. Mọi người quây quần
    quanh đó xem xét. Cuộc giải phẫu kéo dài đến nửa đêm mới
    xong.
    Tôi băng bó vết thương cho hoàng đế Hitites rồi nói:
    - Tôi đã cắt bỏ hoàn toàn cái bướu đó. Khoảng sáng mai,
    hoàng đế sẽ tỉnh lại.
    Gã chỉ huy nhếch miệng cười:
    - Xin y sĩ hãy ra bên ngoài nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Khi nào
    hoàng đế khỏe mạnh, chúng tôi sẽ cho người đưa y sĩ trở
    về.
    Tôi hiểu ý hắn nên ra hiệu cho Kepta bước ra căn lều
    gần đó. Đó là một căn lều trang hoàng giản dị, sạch sẽ,
    chung quanh có quân sĩ canh phòng cẩn thận. Vì mệt mỏi
    nên tôi đặt mình xuống giường là ngủ thiếp đi. Trong giấc
    ngủ tôi thấy hình ảnh Horemheb và Nefer hiện ra nhưng lần
    này tôi thấy mình đang cầm thanh kiếm hình thù kỳ dị kia.
    Tôi vừa vung kiếm lên, đầu Nefer đã rời khỏi cổ. Horemheb
    quay lưng bỏ chạy nhưng tôi đã xông đến, lưỡi kiếm sắc bén
    chém xuyên qua bộ giáp trụ bằng kim khí, cắm ngập vào
    lưng Horemheb. Hắn ngã gục xuống. Tôi thong thả bước
    đến chém bồi thêm một nhát nữa. Lưỡi gươm xuyên qua bộ
    giáp trụ của hắn, máu phun ra có vòi. Horemheb giơ hai tay
    ra như van xin nhưng một lần nữa, tôi vung kiếm chém
    rụng cả hai tay hắn:
    - Sinuhe, sao bạn lại làm thế?
    - Ai bạn bè gì với mày? Đồ vong ân bội nghĩa!
    Tôi giơ kiếm đâm thẳng vào ngực hắn. Horemheb kêu
    lớn:
    - Sinuhe… Sinuhe… Xin bạn đừng làm thế…
    Tôi sung sướng bật lên một tràng cười sảng khoái và
    cười mãi không thôi, nhưng không hiểu sao tiếng cười của
    tôi bỗng trở thành tiếng khóc. Tôi hốt hoảng, rõ ràng mình
    đang cười nhưng lại nghe ra tiếng khóc, rồi cả thế giới như
    quay cuồng, đảo lộn. Quanh tôi đầy những âm thanh cuồng
    nộ, kỳ lạ.
    Tôi giật mình tỉnh dậy, bên ngoài trời chưa sáng hẳn.
    Văng vẳng đâu đây hình như vẫn còn những tiếng gầm thét
    cuồng nộ. Tôi muốn ngồi dậy nhưng đầu óc còn choáng
    váng quay cuồng bởi hình ảnh của giấc mơ vừa qua. Chưa
    bao giờ tôi sợ hãi như vậy. Phải chăng tôi là một kẻ hung
    bạo và tàn ác? Từ lâu nay tôi muốn rửa hận, nhưng khi thấy
    mình làm việc này, dù chỉ trong giấc mơ, tôi lại thấy đó
    không phải là điều mình thực sự mong muốn. Tuy lòng ghen
    tức thúc đẩy tôi phải trả thù nhưng vẫn có một cái gì khác,
    tiềm ẩn, không cho phép tôi làm thế. Hơn mười năm nay,
    tôi đã sống trong đau khổ, chán chường vì chưa quên được
    chuyện cũ nhưng hiện nay hình như có một cái gì đó đang
    nhen nhúm, thay đổi xảy ra trong tôi.
    Tôi ngồi dậy bước ra khỏi lều. Mặt trời đã mọc ở cuối
    chân trời, những tia sáng chói chan nhảy múa trên cồn cát
    sa mạc khiến tôi nghĩ đến hoàng đế Akhenaten. Hình ảnh
    con người trầm tĩnh với chủ trương cải cách lạ lùng kia tự
    nhiên hiện ra trước mắt tôi. Vừa lên ngôi ông đã gặp khó
    khăn bởi cuộc phản loạn, nhưng ông đã khắc phục được nó,
    biết tha thứ cho những kẻ âm mưu tạo phản trong triều để
    thiết lập một trật tự mới. Liệu ông có thành công trong việc
    thay đổi những truyền thống cổ xưa hay không, vẫn còn là
    một nghi vấn.
    Tôi chợt nghĩ đến thanh gươm kỳ lạ và gã Hitites mặc
    giáp trụ Ai Cập bị chém trọng thương kia. Phải chăng người
    Hitites đang thí nghiệm một vũ khí mới lạ, cực kỳ sắc bén
    để chuẩn bị chiến tranh với Ai Cập? Vừa nghĩ đến thân thể
    bị chém nát bét của gã, tôi chợt nảy sinh ý nghĩ, biết đâu
    Horemheb cũng sẽ lâm số phận như thế! Tự nhiên tôi đâm
    ra hoảng hốt. Hình ảnh Horemheb trong bộ quân phục oai
    nghiêm hiện ra trước mắt tôi nhưng lần này tôi không thấy
    ghen tức nữa mà thực sự lo ngại cho hắn. Tôi không ưa
    Horemheb vì hắn đã cướp mất Nefer của tôi, nhưng tôi cũng
    không muốn thấy hắn chết thảm dưới lưỡi gươm kỳ lạ kia.
    Hình ảnh Nefer trong vòng tay của Horemheb một lần nữa
    lại hiện ra nhưng không hiểu sao lần này tôi cảm thấy bình
    tĩnh lạ thường. Tự nhiên tôi nhủ thầm, có lẽ Horemheb xứng
    đáng với Nefer hơn. Hắn là người từng trải, có kinh nghiệm,
    hào hoa phong nhã, trong khi tôi chỉ là một thanh niên ngây
    thơ, khờ dại trên tình trường. Đây là lần đầu tôi thấy mình
    không có ý định so sánh như trước mà biết chấp nhận rằng
    tôi và Horemheb khác nhau rất xa.
    Tự nhiên tôi thấy trong lòng nhẹ hẳn đi như vừa trút
    được một gánh nặng. Tôi tự nhủ không lẽ chỉ vì một người
    con gái tầm thường mà tôi lại để mất đi một người bạn
    thâm giao như Horemheb hay sao? Khi vừa nghĩ đến đó, bất
    chợt những kỷ niệm thời thơ ấu hiện ra trong trí tôi. Đã lâu
    lắm rồi tôi mới thấy mình có thể suy nghĩ một cách thanh
    thản như thế và ý thức rằng mình đã lãng phí thời gian cho
    một chuyện ghen tương hết sức vô lý.
    Tôi nghĩ đến cuộc chiến tranh giữa người Hitites và Ai
    Cập sắp xảy ra, tự hỏi liệu một Pharaoh như Akhenaten sẽ
    phải đối phó thế nào khi quốc gia bị đe dọa? Một lần nữa,
    những câu nói sáng suốt, đầy minh triết của ông lại vang
    lên trong tâm trí tôi. Hình ảnh con người trẻ tuổi vừa lên
    ngôi Pharaoh, ngay trong buổi thiết triều lần đầu đã xóa bỏ
    mối hận thù để xây dựng một thể chế mới, khác hẳn các
    truyền thống xưa. Lòng quảng đại và can đảm của ông đã
    chinh phục tôi và tôi tự nhủ sẽ phải làm gì để xứng đáng với
    sự đãi ngộ của vị Pharaoh này.
    Chiều hôm sau, viên sĩ quan chỉ huy có nét mặt lạnh
    lùng đến gặp tôi;
    - Hoàng đế của chúng tôi cho mời y sĩ đến.
    Giọng điệu của gã này đã có vẻ tử tế, bớt hống hách.
    Chúng tôi theo chân hắn bước vào căn lều của hoàng đế
    Hitites. Ông ta vẫn ngồi trên chiếc ghế quen thuộc, chung
    quanh có đông tướng sĩ hầu cận. Nét mặt mọi người vui
    mừng thấy rõ.
    Vừa thấy tôi, hoàng đế Hitites đã nói ngay:
    - Này Sinuhe, ngươi thật giỏi. Ta thấy trong mình hết
    sức dễ chịu, chân tay ta đã cử động được bình thường rồi.
    - Xin hoàng đế hãy cẩn thận, ngài cần tĩnh dưỡng
    khoảng một tuần cho vết thương hoàn toàn bình phục đã.
    - Được lắm, ta sẽ nghe theo lời khuyên của ngươi. Vậy
    ngươi muốn ta trả công như thế nào đây?
    Tôi không do dự, chỉ ngay vào thanh gươm kỳ lạ để gần
    đó:
    - Tôi chỉ xin hoàng đế ban cho tôi một thanh gươm như
    thế kia là được rồi.
    Toàn thể sĩ quan đứng quanh đó đều giật mình. Gã chỉ
    huy quát lớn:
    - Không được! Đó là bí mật quân sự của chúng ta.
    Hoàng đế Hitites xua tay ra hiệu cho mọi người im lặng
    rồi ôn tồn hỏi:
    - Tại sao ngươi lại muốn lấy thanh gươm đó?
    - Đó là việc riêng của tôi.
    Hoàng đế Hitites nhìn tôi như dò xét rồi hỏi:
    - Phải chăng ngươi muốn mang thanh gươm này về Ai
    Cập để báo động cho Pharaoh Akhenaten? Tuy là kẻ tội
    phạm nhưng dù sao ngươi cũng là người Ai Cập, hiển nhiên
    ngươi không muốn thấy binh sĩ xứ ngươi bị tàn sát dưới lưỡi
    gươm sắc bén này chứ gì?
    Tôi không trả lời nhưng im lặng là xác nhận nên nhóm
    tướng sĩ quanh đó đã ồn ào phản đối.
    Hoàng đế Hitites phất tay ra hiệu cho họ im lặng rồi nói:
    - Trong vòng mười ngày nữa, chúng ta sẽ tấn công Ai
    Cập và lúc đó lưỡi gươm này sẽ chẳng còn gì là bí mật. Dù
    biết, người Ai Cập cũng không thể xoay trở kịp và trước sau
    phần thắng sẽ về tay chúng ta. Này Sinuhe, trong bao năm
    qua, người Ai Cập và Hitites vẫn tàn sát lẫn nhau. Có khi
    chúng ta thắng và có khi người Ai Cập thắng, nhưng lần này
    phần thắng chắc chắn sẽ về tay chúng ta vì chúng ta có võ
    khí cực kỳ sắc bén có thể chém nát giáp trụ của người Ai
    Cập.
    Hoàng đế Hitites chỉ vào thanh gươm để gần đó:
    - Ta đã hứa thì sẽ giữ lời. Ngươi hãy cầm cây gươm này
    về Ai Cập và nói rõ cho Akhenaten biết rằng nội trong vòng
    một tuần nữa, chúng ta sẽ kéo quân vào Memphis…
    - Ông tin rằng lần này quân đội Hitites sẽ thắng?
    - Hiển nhiên phải thế! Quân lực chúng ta thiện chiến
    không kém Ai Cập và chúng ta có vũ khí sắc bén hơn.
    - Tại sao ông nghĩ rằng với vũ khí đó, ông sẽ chinh phục
    được Ai Cập?
    Hoàng đế Hitites ngạc nhiên nhìn tôi rồi hỏi:
    - Ngươi còn muốn nói gì nữa?
    - Pharaoh Akhenaten vẫn nói rằng: "kẻ nào chỉ khăng
    khăng đòi tiêu diệt người khác thì không thể tiến bộ được.
    Một hoàng đế chỉ nghĩ đến chiến tranh thì luôn luôn sợ hãi,
    bất an và không thể cai trị quốc gia hữu hiệu được. Một
    quốc gia chỉ chuẩn bị cho chiến tranh thì không thể tiến bộ
    về các phương diện khác. Do đó thay vì xuất quân đánh
    nam, dẹp bắc để bành trướng thế lực, Pharaoh Akhenaten
    đã cho người đi thương thuyết hòa bình với các quốc gia lân
    cận…
    - "Đúng thế, chúng ta đã ký kết hòa ước với Ai Cập
    nhưng đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Khi xưa chúng ta
    chưa đủ sức chống cự với các đạo binh hùng mạnh của Ai
    Cập, nhưng hiện nay thì khác. Người Hitites đã có những
    đạo quân thiện chiến với vũ khí sắc bén hơn xưa và Ai Cập
    ngày nay không còn là Ai Cập khi xưa nữa. Ha ha ha…
    Pharaoh của ngươi chỉ là một thằng khùng, không những y
    đã ra lệnh giải giới các lực lượng quân sự mà còn đòi cải tổ
    cả tôn giáo nữa.
    Hiện nay Ai Cập là một xứ đầy xáo trộn, giới quí tộc thì
    bất mãn, giới giáo sĩ thì hoang mang và dân chúng chỉ lo
    thờ cúng chiếc đĩa tròn tượng trưng cho Thái Dương mà
    thôi. Nếu lúc này không lợi dụng cơ hội tấn công ngay thì
    còn đợi đến lúc nào nữa?"
    Các binh sĩ đứng quanh đó cười ầm lên. Tôi thản nhiên
    lên tiếng:
    - Khi Akhenaten vừa lên ngôi Pharaoh thì các tướng sĩ
    của ông đã đưa kế hoạch tấn công xứ Hitites ngay để diệt
    trừ hậu họa nhưng tôi nhớ rõ nhà vua đã nói: "Các ông
    muốn đánh xứ Hitites vì nếu không, họ cũng mang quân
    xâm phạm lãnh thổ ta. Hiển nhiên người Hitites muốn mang
    quân đánh chúng ta vì nếu họ không ra tay trước, có lẽ
    chúng ta cũng xâm lăng xứ họ. Cái vòng luẩn quẩn của
    chiến tranh cứ thế tiếp diễn, chẳng ai chịu nhường ai. Kẻ
    thắng thì vinh quanh, người thua thì nhục nhằn và thù hận.
    Cứ thế kéo dài từ đời này đến đời khác, biết bao giờ chấm
    dứt? Tuy nhiên thắng bại, được thua chỉ như thời tiết, đến
    rồi đi. Lần này quân ta thắng, lần khác quân ta thua, rốt
    cuộc chỉ có dân chúng là chịu thiệt thòi. Là người lãnh đạo
    quốc gia, ta quyết định phải chấm dứt cái vòng luẩn quẩn
    này. Ta sẵn sàng bỏ qua mọi sự, dù phải chịu nhiều thử
    thách. Các ông đừng cho rằng ta hèn nhát mà phải chịu
    đựng. Lúc này binh lực nước ta hùng cường nhưng ta sẽ
    không gây chiến vì muốn cho người Hitites hiểu lòng ta. Khi
    họ hiểu ta, họ sẽ từ bỏ giấc mộng xâm lăng và rồi mọi sự sẽ
    đổi khác."
    Hoàng đế xứ Hitites im lặng suy nghĩ rồi hỏi:
    - Phải chăng vì thế mà Akhenaten đã gửi tặng ta một
    chiếc dĩa vàng tượng trưng cho vầng thái dương?
    - Đó là chủ trương bày tỏ thiện chí của Pharaoh.
    Hoàng đế xứ Hitites nghiến răng quát lớn:
    - Người Hitites chúng ta không hơi sức đâu để ý đến
    chiếc đĩa vàng đó mà cần trả hận, mối hận đã bị Ai Cập làm
    nhục, phải được trả bằng máu.
    Các sĩ quan quanh đó đều vung tay reo hò hăng hái. Tôi
    thản nhiên nói:
    - "Dù cho các ông chiếm được Memphis, rửa được mối
    hận khi xưa nhưng sau đó các ông sẽ làm gì? Chiến thắng
    bằng quân sự không khó khăn lắm, nhưng cai trị một xứ
    như Ai Cập không dễ chút nào. Ngày trước người Ai Cập đã
    đánh phá xứ Hitites nhiều lần và đặt nền móng cai trị nhưng
    chỉ ít lâu sau, người Hitites lại nổi lên giành độc lập. Ngày
    nay dù người Hitites có chiếm Ai Cập nhưng ít lâu nữa cũng
    sẽ có những cuộc nổi dậy.
    Người Ai Cập chẳng thể cai trị Hitites cũng như người
    Hitites chẳng thể cai trị Ai Cập. Nếu các ông tiếp tục trả hận
    bằng máu thì tôi e rằng chẳng bao lâu nữa, dân chúng cả
    hai quốc gia đều kiệt quệ sinh lực và tương lai chưa biết thế
    nào."
    Hoàng đế Hitites im lặng suy nghĩ một lúc rồi chỉ vào
    thanh gươm:
    - Ngươi hãy cầm cây gươm đó về Ai Cập và nói rõ cho
    Pharaoh của ngươi biết rằng nếu không muốn đổ máu vô
    ích, ông ta có thể đến đây xin quy hàng. Ta sẽ án binh bất
    động trong vòng một tuần, nếu Akhenaten không đến hàng
    ta sẽ khởi binh ngay.
    Ông quay qua các tướng sĩ, ra lệnh:
    - Các ngươi hãy chuẩn bị tấn công trong vòng một tuần.
    Sirah đâu, ngươi hãy cho quân sĩ hộ tống y sĩ Sinuhe trở về
    Ai Cập.
    Tôi im lặng cầm lấy thanh gươm bước ra cửa. Kepta đi
    theo nhăn nhó:
    - Ông chủ ơi, mình đang sung sướng nơi đây, trở về Ai
    Cập làm chi cho khổ! Ai chém giết mặc ai, miễn là chúng ta
    được lợi lạc thì thôi. Dù ai làm hoàng đế thì cũng đâu ăn
    nhập gì đến chúng ta! Miễn khi đau ốm họ đến nhờ chúng ta
    chữa bệnh là được rồi!
    Tôi im lặng không nói gì. Kepta vừa đi vừa lải nhải than:
    - Ông chủ ơi, tại sao ông chủ lại dính dáng vào những
    việc rắc rối làm gì! Ông về Ai Cập rủi gặp chuyện không
    may thì bao nhiêu nhà cửa, dinh thự tại Palestine này để
    cho ai ở đây?
    CHƯƠNG 8
    Thật khó có thể diễn tả cảm tưởng của tôi khi trở lại Ai
    Cập. Quanh cảnh Memphis không khác xưa bao nhiêu, phố
    xá vẫn đông đúc náo nhiệt, các phiên chợ vẫn họp, người
    mua bàn ồn ào tấp nập nhưng tôi thấy chung quanh cung
    điện có rất nhiều binh sĩ bố trí canh phòng cẩn thận như đề
    phòng một chuyện gì. Tôi bước vào đại điện, nơi Pharaoh
    thiết triều nhưng lúc đó triều đình không họp mà chỉ có một
    số tướng sĩ đang bao quanh một tấm bản đồ lớn, vẽ những
    chỗ đóng quân và các vị trí trọng yếu.
    Một vị tướng đang sang sảng ra lệnh cho tướng sĩ phải
    điều động quân đội ra sao, cho bố trí phòng thủ như thế
    nào. Phải chăng họ cũng đã biết người Hitites đang chuẩn bị
    tấn công?
    Tôi bước đến gần và nhận ra viên tướng nọ chẳng phải
    ai xa lạ mà chính là Horemheb. Nhìn thấy tôi, hắn ngẩn
    người ra một lúc như không tin ở mắt mình:
    - Sinuhe? Phải Sinuhe đấy không?
    - Chính tao đây.
    Horemheb bước đến trước mặt tôi ngỡ ngàng trong giây
    lát rồi nói nhỏ:
    - Sinuhe, chắc hẳn mày cũng biết việc Pharaoh đã tuyên
    án tử hình…
    - Dĩ nhiên tao biết.
    Horemheb bối rối, ngập ngừng nhìn quanh rồi hỏi nhỏ:
    - Nếu đã biết thế thì mày trở về đây làm gì?
    Thì ra hắn vẫn còn lo cho tôi, nhưng tôi thản nhiên:
    - Tao cần báo tin về việc người Hitites đang chuẩn bị tấn
    công Ai Cập.
    Horemheb tỏ ra bình tĩnh:
    - Tao biết! Các thám tử của tao đã báo cáo đầy đủ.
    - Nếu vậy hẳn quân sĩ Ai Cập đã chuẩn bị sẵn sàng để
    đối phó?
    - Dĩ nhiên rồi.
    - Tốt lắm! Hẳn thám tử của mày biết rõ về sự chênh lệch
    vũ khí giữa hai bên?
    - Mày nói cái gì chênh lệch, tao không hiểu?
    Thì ra Horemheb chưa biết bí mật của người Hitites. Tôi
    chỉ tay vào thanh gươm đeo bên hông của Horemheb:
    - Mày hãy rút gươm ra đi.
    - Cái gì? Mày nói gì?
    Tôi rút thanh gươm của người Hitites ra rồi nhìn thẳng
    vào mặt Horemheb nói lớn:
    - Mày chém thử vào lưỡi gươm của ta thì biết.
    Horemheb nhíu mày:
    - Sinuhe, mày không đùa đấy chứ? Có bao giờ mày sử
    dụng gươm đâu?
    - Mày cứ thứ xem.
    Horemheb rút gươm ra nhưng vẫn e ngại:
    - Sinuhe, hãy cẩn thận! Tao không thích đùa đâu!
    Hiển nhiên Horemheb không có ý hại tôi. Tôi nói khích:
    - Mày cứ ra tay đi, tao sẵn sàng đây!
    Horemheb vung kiếm chém thẳng vào lưỡi gươm của tôi
    nhưng vì hắn cố ý nới tay nên khi hai lưỡi gươm vừa chạm
    nhau, hắn đã rút tay lại, do đó lưỡi gươm của hắn chỉ bị mẻ
    một miếng. Tôi bật cười:
    - Này Horemheb, không lẽ mày lại yếu đến thế hay sao?
    Horemheb vung tay ra, lần này hắn chém khá mạnh.
    Sau một tiếng kêu chát chúa, lưỡi gươm của hắn gẫy lìa.
    Horemheb giật mình lùi lại nhìn thanh gươm gẫy rồi chăm
    chăm nhìn vào lưỡi gươm của tôi. Tôi bèn xoay gươm lại,
    chìa cán ra đưa cho hắn:
    - Mày hãy lấy thanh gươm này chém thử vào một bộ
    giáp trụ xem sao.
    Horemheb vội vã cầm lấy thanh gươm rồi quay qua viên
    sĩ quan hầu cận, ra lệnh cho người này cởi bỏ bộ giáp trụ
    bằng sắt trên người ra. Hắn vung kiếm chém mạnh vào đó.
    Lưỡi gươm xuyên thẳng qua bộ áo giáp như cắt một miếng
    bánh. Toàn thể tướng sĩ quanh đó đều giật mình.
    Horemheb quay qua hỏi tôi:
    - Sinuhe, mày lấy cây gươm này ở đâu ra vậy?
    - Đó là vũ khí mới của người Hitites. Trong bao năm nay,
    họ đã bí mật rèn những thanh gươm sắc như thế này để
    chuẩn bị chiến tranh.
    Mọi người trong phòng đều im lặng, không ai dám thốt
    lên câu nào.
    Horemheb suy nghĩ một lúc rồi cười nhạt tuyên bố:
    - Này Sinuhe, việc này tao không thể quyết định được
    mà phải trình với Pharaoh để xin chỉ thị. Mày hãy theo tao
    lên đường đi Tel El Amarna ngay.
    Horemheb vội ra lệnh thắng một cỗ xe song mã để lên
    đường. Đây là lần thứ hai tôi và Horemheb cưỡi xe ngựa
    như thế này. Nhớ lại kỷ niệm lần đầu cưỡi xe ngựa đi săn sư
    tử, tôi không khỏi cảm khái. Horemheb im lặng không nói gì
    nhưng khi xe vừa đi được một quãng xa thì hắn bật lên một
    tràng cười sảng khoái:
    - Này Sinuhe, mày có nhớ khi xưa tao với mày đi săn sư
    tử không?
    - Dĩ nhiên tao nhớ chứ.
    - Thấm thoát đã hơn mười năm rồi nhỉ, biết bao chuyện
    đổi thay…
    - Đúng thế.
    Horemheb quay qua nhìn thẳng vào mặt tôi:
    - Này Sinuhe, tao chắc mày giận tao vô cùng?
    - Tại sao mày lại hỏi thế?
    Horemheb im lặng một lúc như hồi tưởng chuyện xưa rồi
    thong thả:
    - Nếu khi đó mày bình tĩnh hơn thì mọi việc đã không
    xảy ra một cách đáng tiếc như vậy. Suốt mười năm nay tao
    vẫn mong có dịp để giải thích với mày về nguyên nhân việc
    ấy.
    "Hôm ấy tao đang huấn luyện quân sĩ luyện tập võ nghệ
    thì công chúa Baketamon ở đâu bước đến.
    - Này Horemheb, ta muốn nhờ ngươi một việc.
    - Xin tuân lệnh công chúa.
    - Ngươi đã biết ta nhờ việc gì đâu mà nhanh nhảu thế?
    - Thưa công chúa, một quân nhân chuyên nghiệp lúc
    nào cũng phải sẵn sàng.
    Công chúa Baketamon bật cười ha hả:
    - Thôi đi, cái gì mà quân nhân chuyên nghiệp… Con nhà
    đi bán hàng rong ngoài chợ thì đúng hơn.
    Tao giận run lên, thì ra lý lịch hèn hạ mà tao giấu kỹ đã
    bị đám thám tử triều đình truy lùng ra được. Tao đành
    gượng cười:
    - Công chúa quả có mắt tinh đời. Xin ngài ban chỉ thị.
    - Ta rất quan tâm về tình trạng hiện nay của Sinuhe. Ta
    biết hắn đang say mê một cô gái giang hồ và ta muốn ngươi
    giúp hắn thoát khỏi cạm bẫy của đứa con gái thành Babylon
    kia.
    - Tưởng gì chứ chuyện đó thì quá dễ. Công chúa chỉ cần
    hạ lệnh quăng con điếm đó vào hầm sư tử là xong.
    - Không được. Nếu ta giết nó thì Sinuhe sẽ đau khổ và
    oán hận ta suốt đời. Một kẻ si tình như hắn có thể liều lĩnh
    chết theo con điếm đó không chừng.
    - Công chúa quả biết rõ tâm lý đàn ông. Hiển nhiên một
    kẻ hiền lành như Sinuhe có thể hành động ngu xuẩn như
    thế. Tuy nhiên kẻ này chỉ biết dụng kiếm chứ không biết
    làm gì khác.
    - Nhưng… nhưng hắn là bạn của ngươi.
    - Horemheb này không thích can thiệp vào đời tư người
    khác.
    Công chúa Baketamon nổi giận:
    - Nhưng đây là lệnh của ta.
    - Nếu công chúa ra lệnh, kẻ này sẽ chém đầu đứa con
    gái giang hồ kia ngay, nhưng hậu quả ra sao thì Horemheb
    này không chịu trách nhiệm.
    Công chúa Baketamon lạnh lùng:
    - Ngươi đúng là kẻ chỉ biết dùng võ lực chứ không biết
    dùng mưu. Ta muốn Sinuhe hoàn toàn quên hẳn đứa con
    gái giang hồ kia và ngươi phải làm chuyện đó cho ta. Ta
    muốn ngươi dùng tất cả khả năng để quyến rũ đứa con gái
    giang hồ kia trước mặt Sinuhe, cho hắn thấy rằng con bé đó
    chỉ là một đứa hèn hạ, dơ bẩn, không xứng đáng với hắn.
    Tao không hiểu sao một công chúa quyền quí lại chú ý
    đến tên y sĩ quèn như mày. Tuy nhiên tao biết Baketamon là
    người lẳng lơ, có nhân tình khắp nơi nên biết đâu mày
    chẳng tốt số, lọt vào mắt xanh của cô ả.
    Tao suy nghĩ một lúc rồi nói:
    - Nếu thế, xin công chúa hãy cởi xâu chuỗi ngọc trên cổ
    kia đưa cho kẻ này.
    - Chưa xong việc mà ngươi đã đòi thưởng công hay sao?
    - Hiện nay đám quân sĩ của kẻ này đang nhìn thấy
    chúng ta nói chuyện. Họ không hiểu tại sao công chúa lại
    đến gặp thằng bán bánh vừa được thăng chức chỉ huy ngự
    lâm như thế này. Nếu công chúa trao cho kẻ này xâu chuỗi
    ngọc thì họ sẽ nghĩ công chúa và kẻ này có tình ý chi đó.
    Chỉ có món quà đặc biệt như thế, Horemheb này mới có thể
    gặp đứa con gái Babylon được.
    Công chúa Baketamon gật đầu khen ngợi:
    - Hay lắm! Ngươi quả là đa mưu. Ta không ngờ chỉ
    thoáng giây mà ngươi đã nghĩ ra mưu mẹo như thế…
    - Cám ơn công chúa đã khen… thằng con nhà bán hàng
    rong này.
    Hiển nhiên chỉ vài hôm sau, dư luận đã đồn tao và công
    chúa có tình ý với nhau và công chúa đã tặng tao xâu chuỗi
    ngọc. Tao cho đàn em phao đồn tin này khắp các trà đình
    tửu quán rồi đến tìm Nefer. Trước đó tao cho một đàn em
    giả làm lái buôn đến gặp mày và dàn xếp cho mày lọt vào
    biệt thự đó. Hiển nhiên với món quà đặc biệt như chuỗi
    ngọc của công chúa, Nefer không ngần ngại tiếp tao và
    đúng như tao đã dự tính, mày bắt gặp tụi tao rồi nổi cơn
    ghen…"
    Tôi im lặng, mồ hôi toát đầy áo. Horemheb tiếp tục:
    - Này Sinuhe, chúng ta là bạn tâm giao từ nhỏ. Dù
    thằng Horemheb này có tồi bại thế nào thì cũng không thể
    tranh giành một đứa con gái với bạn của nó được. Lúc đó
    tao muốn giải thích nhưng mày đâu có nghe. Mày điên
    cuồng xông đến đấm đá tao túi bụi. Nếu bình tĩnh hơn thì
    mày phải tự hỏi tại sao một kẻ võ nghệ cao cường như tao
    lại cắm đầu bỏ chạy như thế? Mày biết rõ thằng Horemheb
    này có bao giờ sợ ai đến nỗi phải bỏ chạy thục mang như
    thế đâu? Tuy nhiên tao cũng không trách mày được, tao biết
    đàn ông khi ghen tuông sẽ hành động như thế nào. Hiển
    nhiên khi tao bỏ chạy thì mày trút cơn giận lên Nefer, mày
    xông đến bóp cổ nó và bị đám gia nhân đánh cho một trận
    thừa chết thiếu sống. Này Sinuhe, lúc đó tao vẫn ẩn núp
    gần đó để ngầm bảo vệ mày. Tao đã chứng kiến cảnh mày
    bị quăng ra đường và nghe mày khóc lóc, chửi mắng, thề
    thốt, nguyền rủa lung tung. Mày thề sẽ không bao giờ nhìn
    mặt bất cứ một đứa đàn bà nào nữa. Tao mừng thầm vì
    mày đã tỉnh ngộ, sau đó tao thấy mày thất thểu bỏ về
    Thebes…
    Tôi im lặng nhưng trong lòng vô cùng xúc động. Quả
    thật tôi đã ghen với Horemheb một cách vô lý và không đủ
    sáng suốt để phân tích mọi việc. Dĩ nhiên khi si mê, người
    ta thường mù quáng nhưng điều đáng tiếc là tôi đã để một
    việc ghen tức tầm thường như vậy chi phối mình trong bao
    năm qua.
    Tôi quay qua Horemheb nói nhỏ:
    - Tao rất tiếc… quả thật… tao không ngờ sự việc lại như
    vậy…
    - Không đâu! Chính tao là đứa có lỗi vì đã đưa mày đến
    gặp Nefer. Tao không ngờ một việc nhỏ lại gây hậu quả lớn
    đến thế! Sau đó mày bỏ đi biệt tích, tao đã cho người tìm
    kiếm khắp nơi mà không thấy…
    Tôi đưa tay nắm chặt lấy tay Horemheb. Hắn cũng xiết
    chặt tay tôi. Chưa khi nào tình bạn giữa chúng tôi lại đằm
    thắm như vậy.
    Horemheb lên tiếng:
    - Tao rất mừng khi thấy mày vẫn bình an trở về. Tao
    mong rằng với tin tức quan trọng về thanh gươm của người
    Hitites, Pharaoh sẽ xóa bỏ tội lỗi cho mày. Ngoài ra tao cũng
    phải cám ơn mày rất nhiều, vì nếu không, kẻ lãnh ấn tiên
    phong cầm quân ra trận chính là tao và hiển nhiên sẽ là nạn
    nhân đầu tiên của cây gươm này.
    Tôi cảm động nắm chặt tay Horemheb:
    - Này Horemheb, khi xưa chúng mình đã thề trước mặt
    thần Osiris là coi nhau như anh em ruột thịt, vậy mà hơn
    mười năm nay tao đã nghĩ lầm về mày, tao rất hối hận.
    Horemheb lắc đầu:
    - Tao không thể trách mày được. Đáng lẽ tao phải biết
    rằng mày chưa hề có kinh nghiệm về chuyện tình ái. Này
    Sinuhe, tao đã thề sẽ bảo vệ mày thì dù gặp khó khăn thế
    nào tao cũng cố gắng hết lòng. Khi Pharaoh tuyên án tử
    hình mày, tao vô cùng lo sợ và không biết phải làm gì. May
    thay chẳng ai biết mày trốn ở đâu… Thật ra chuyện này
    cũng chỉ vì đám giáo sĩ thờ thần Amun…
    - Tại sao các giáo sĩ lại dính vào việc này?
    - "Hẳn mày cũng biết Pharaoh Akhenaten chủ trương cải
    cách xã hội và tôn giáo. Điều này đụng chạm đến quyền lợi
    nhiều người, nhất là giới giáo sĩ mà tiêu biểu là giáo sĩ phái
    Amun tại Thebes. Từ trước đến nay, nhóm này vẫn được các
    Pharaoh tin dùng nên họ có nhiều quyền lợi đáng kể. Từ khi
    lên ngôi Pharaoh, Akhenaten chủ trương tôn sùng Thái
    Dương, biểu tượng bằng chiếc dĩa tròn chứ không tin vào
    giáo điều của phái Amun nên nhóm giáo sĩ này hết sức bất
    mãn.
    Akhenaten cho rằng con người có thể trực tiếp học hỏi
    các chân lý trong vũ trụ, tượng trưng qua ngôi Thái Dương,
    mà không cần phải nhờ đến sự trung gian của các giáo sĩ.
    Do đó thay vì tôn thờ ánh sáng (Amun) xuất phát từ vầng
    Thái Dương, con người có thể tiếp xúc thẳng với vầng Thái
    Dương qua biểu tượng là chiếc dĩa tròn. Điều này hoàn toàn
    khác với chủ trương của các giáo sĩ phái Amun vốn cho rằng
    chỉ riêng giới giáo sĩ mới có thể giao tiếp với chân lý qua các
    thần linh trung gian, tiêu biểu bằng Ánh Sáng (Amun) xuất
    phát từ vầng Thái Dương, chứ không thể trực tiếp đến thẳng
    với Thái Dương được.
    Sự khác biệt về căn bản này đã tạo ra nhiều cuộc tranh
    chấp trong triều.
    Khi hoàng tử Teay bị bệnh, phe giáo sĩ muốn Pharaoh
    Akhenaten thân hành mang lễ vật đến đền thờ Amun tại
    Thebes, cầu xin cho hoàng tử khỏi bệnh. Nhưng Akhenaten
    cho rằng việc chữa bệnh là thẩm quyền của giới y sĩ chứ
    không phải của giáo sĩ. Thay vì cầu xin thần quyền Amun,
    ông lại đề cao khoa học và chủ trương để các y sĩ chữa bệnh
    cho hoàng tử. Là quan ngự y của Pharaoh, mày vô tình bị
    kẹt vào vòng tranh chấp này. Pharaoh Akhenaten tin vào
    khả năng chữa bệnh của mày nên cho người đi kiếm, không
    ngờ tìm mãi mà mày vẫn biệt vô âm tín.
    Vài hôm sau, bệnh tình hoàng tử trở nên trầm trọng và
    sau cùng thì việc phải đến đã đến. Cái chết của hoàng tử
    Teay là một thất bại lớn của Akhenaten, ông vừa mất con
    vừa mất mặt với triều đình. Hiển nhiên nhóm giáo sĩ thờ
    thần Amun đã khai thác triệt để việc này và cho rằng các
    thần linh đã trừng phạt Pharaoh. Để giữ thể diện cho
    Pharaoh, một số quan triều đã trút trách nhiệm lên này vì
    lúc hoàng tử đang đau nặng mà quan ngự y lại vắng mặt thì
    còn ra thể thống gì nữa. Bất đắc dĩ, Pharaoh đành phải
    tuyên án tử hình như thế…"
    Horemheb im lặng một lúc rồi nói tiếp:
    - "Hiện nay uy tín của Pharaoh bị giảm sút rất nhiều.
    Việc cải cách xã hội của ông khiến giới quí tộc bất mãn. Việc
    thay đổi tôn giáo, đi ngược truyền thống cố hữu đã khiến
    giới giáo sĩ khó chịu và họ bắt đầu liên kết với nhau. Mấy
    năm nay lại bị các thiên tai như hạn hán, mất mùa xảy ra
    khắp nơi nên giới giáo sĩ đổ lỗi tại Pharaoh không chịu dâng
    cúng lễ vật cho Amun nên Ai Cập bị trừng phạt như thế.
    Khi xưa dân chúng thấy việc cải cách của Akhenaten
    đem lại cho họ sự thoải mái, tự do nên ai cũng tin tưởng,
    nhưng mấy năm nay mùa màng thất thu, nạn hạn hán kéo
    dài thì họ đâm ra hoang mang, sợ hãi. Qua sự đồn đãi của
    giới giáo sĩ, một số đã bắt đầu nghi ngờ tài lãnh đạo và chủ
    trương cải cách của Akhenaten. Tình hình Ai Cập lúc này
    không yên ổn như xưa, dân chúng đói khổ vì thiên tai, quan
    lại bất mãn vì mất quyền lợi, các giáo sĩ mất ảnh hưởng,
    phao vu những tin thất thiệt nên xã hội bắt đầu rối loạn,
    mất an ninh."
    Horemheb dừng ngựa,chỉ tay về phía trước:
    - Hãy nhìn kìa! Đó là Tel El Amarna, thủ đô mới của Ai
    Cập. Pharaoh Akhenaten đã chán cảnh Memphis với những
    đền thờ Amun nên ông cho dời đô về đây và xây cất đền thờ
    Aten…
    Trên sa mạc hoang vu, một thành phố nguy nga tráng lệ
    được xây cất với những đền đài, lăng tẩm, các cột trụ bằng
    đá hàng hàng lớp lớp. Chiếc xe ngựa dừng lại trước cửa một
    ngôi đền lớn, kiến trúc hùng vĩ. Toán binh sĩ giữ cửa vội vã
    bước ra nghênh đón.
    Horemheb hất hàm hỏi:
    - Pharaoh đang ở đâu?
    - Ngài đang chuẩn bị hành lễ trước đền Aten.
    - Các ngươi hãy đưa chúng ta đến đó ngay.
    Toán lính vội vã mở đường. Horemheb và tôi theo sau.
    Đó là một đền thờ với những cột trụ bằng đá to lớn đang
    được xây cất dở dang, chính giữa ngôi đền làm một bàn thờ
    lộ thiên, trên đặt tấm bia đá lớn khắc hình ngôi Thái Dương,
    tiêu biểu bằng chiếc dĩa tròn. Pharaoh Akhenaten và hoàng
    hậu Nefertiti đang đứng trước đó, chuẩn bị hành lễ. Nghe
    tiếng động, ông quay lại thấy chúng tôi bèn ra hiệu cho
    chúng tôi đến gần.
    Horemheb lo lắng:
    - Mày hãy đứng yên tại đây để tao nói chuyện với
    Pharaoh trước. Nếu thấy ngài vẫn còn giận thì tao sẽ giả bộ
    bắt giam mày rồi đưa mày đi chỗ khác.
    Horemheb bước thẳng đến trước mặt Pharaoh
    Akhenaten. Tôi giữ ý, đứng yên tại chỗ. Đã lâu không gặp
    Akhenaten, tôi thấy ông khắc khổ, già nua hơn trước rất
    nhiều. Horemheb quì xuống báo cáo mọi việc, hắn còn rút
    thanh gươm kỳ lạ của người Hitites đưa cho Pharaoh xem.
    Akhenaten không để ý đến thanh gươm mà quay lại vẫy tay
    ra hiệu gọi tôi đến gần:
    - Này Sinuhe, đã lâu lắm không gặp ngươi, không ngờ
    ngươi lại lưu lạc đến tận xứ Palestine…
    - Kính thưa Pharaoh, kẻ có tội này…
    - Khoan đã, ta nghe nói ngươi đã mang được thanh
    gươm của người Hitites về đây. Công lao này quả không
    nhỏ. Nhưng làm sao người Hitites lại để cho ngươi mang
    một thanh gươm quí như thế này về Ai Cập?
    Tôi bèn đem hết mọi việc ra kể lại cho Pharaoh nghe.
    Akhenaten im lặng suy nghĩ rồi lắc đầu:
    - Ta đã cho sứ giả mang nhiều phẩm vật qua tặng cho
    quốc vương xứ Hitites để hàn gắn việc cũ nhưng không ngờ
    họ vẫn chưa quên được mối thù xưa…
    Horemheb vội vã xen vào:
    - Kính thưa Pharaoh, hiện nay tình thế cấp bách, xin
    ngài ban chỉ thị để kẻ này chuẩn bị đối phó. Nếu người
    Hitites đã có những vũ khí sắc bén như vậy thì chúng ta
    không thể sử dụng các chiến thuật cũ được nữa mà phải
    dùng cách khác. Trong lúc này, quân sĩ đang cấp tốc sản
    xuất cung tên để tấn công trước…
    - Tại sao ngươi lại muốn tấn công trước?
    - Thưa Pharaoh. Kẻ này muốn lợi dụng lúc đêm khuya sử
    dụng tên lửa để tấn công trước khi quân sĩ Hitites kịp mặc
    giáp trụ. Chỉ có cách đó mới mong tránh được tổn thất…
    Tôi giật mình khâm phục khả năng phối trí thần tốc của
    Horemheb. Trong một thời gian ngắn, hắn đã nghĩ ra cách
    sử dụng hỏa công để đối phó với những thanh kiếm sắc bén
    của người Hitites kia. Pharaoh Akhenaten lắc đầu:
    - Ta không muốn như vậy, chúng ta phải tránh sự giết
    chóc…
    Horemheb quì mọp xuống năn nỉ:
    - Hiện nay quân lực Hitites rất hùng mạnh, lại có vũ khí
    sắc bén, nếu để họ tấn công trước thì chúng ta sẽ thua mãi.
    Theo kẻ này, chỉ có cách ra tay trước, dùng tên lửa đốt cháy
    doanh trại của họ. Khi lính Hitites hoảng hốt, chưa kịp mặc
    giáp trụ thì kẻ này sẽ cho quân sĩ dùng cung nỏ, tấn công
    từ xa để tránh tổn thất. Mặt khác xin Pharaoh ra lệnh cho
    các tướng lãnh điều động quân sĩ vượt sa mạc, tấn công
    thẳng vào kinh đô của người Hitites. Họ dốc toàn lực ra
    đánh chúng ta, ắt phải bỏ trống kinh đô nên chúng ta cần
    chiếm thượng phong tấn công vào xứ họ trước. Thấy kinh
    đô nguy ngập, họ phải rút quân về cứu viện thì chúng ta sẽ
    hai mặt giáp công và có cơ hội đoạt phần thắng…
    Akhenaten lắc đầu:
    - Không được! Ta không muốn có sự giết chóc như thế.
    Ngươi hãy thu xếp để ta đến gặp hoàng đế xứ Hitites.
    Horemheb sửng sốt:
    - Tại sao lại thế? Thằng lính này thà chết chứ không bao
    giờ chịu nhục để Pharaoh phải đầu hàng như vậy.
    Akhenaten nghiêm giọng:
    - Ai bảo ta sẽ đầu hàng? Ta có cách giải quyết riêng của
    ta. Các ngươi hãy cho sứ giả đến nói với hoàng đế xứ Hitites
    rằng ta muốn gặp riêng ông ta để nói chuyện.
    Tôi vội vã lên tiếng:
    - Thưa Pharaoh, kẻ này đã nói hết lời nhưng người
    Hitites quyết gây chiến…
    Akhenaten mỉm cười ôn tồn nói:
    - Việc ưu tiên của ta hiện nay là tránh sự giết chóc vô
    ích này.
    Horemheb lắc đầu:
    - Xin Pharaoh nghĩ lại, nếu không ra tay trước, người
    Hitites sẽ tràn vào lãnh thổ chúng ta và như thế số người Ai
    Cập chết vì vũ khí lợi hại của họ không phải là ít.
    - Ta muốn bảo vệ sinh mạng dân chúng cả hai xứ chứ
    không riêng cho Ai Cập. Do đó ta muốn gặp vua xứ Hitites
    để thảo luận việc đem lại hòa bình cho toàn miền này. Ý ta
    đã quyết, các ngươi chớ nhiều lời.
    Akhenaten quay qua tôi:
    - Này Sinuhe, ngươi đã có dịp tiếp xúc với vua xứ Hitites
    nên có thể thu xếp cho ta gặp ông ta càng sớm càng tốt.
    Bây giờ các ngươi hãy lui ra để ta còn làm lễ dâng hương
    cho Aten.
    Vừa bước ra khỏi ngôi đền. Horemheb khó chịu:
    - Tình thế cấp bách như thế mà Pharaoh cứ lo cúng lễ
    Aten thì có khác gì đám giáo sĩ lúc nào cũng chỉ biết cầu xin
    thần Amun, rốt cuộc chỉ có đám binh sĩ như tao là lãnh mọi
    hậu quả.
    Chúng tôi vừa ra đến cổng thành thì từ xa một đoàn
    quân sĩ ở đâu kéo đến, dẫn đầu là một viên tướng mặc giáp
    trụ oai nghiêm: Tể tướng Smenkere. Ông dừng ngựa trước
    mặt Horemheb:
    - Ta vừa nhận được tin mật báo của ngươi nên thân
    hành đem toàn bộ binh mã đến đây. Ngươi đã lấy được chỉ
    thị của Pharaoh chưa?
    Horemheb kể lại mọi sự cho Smenkere. Viên tướng già
    lắc đầu than:
    - Nếu lúc này không tấn công ngay thì còn đợi đến bao
    giờ? Này Horemheb, kế hoạch của ngươi tuy táo bạo nhưng
    ta thấy có thể thi hành được. Ta sẽ mang quân sĩ vòng qua
    sa mạc để tấn công kinh đô của người Hitites nếu ngươi có
    thể cầm chân họ tại đây trong ít hôm.
    Horemheb gật đầu nói nhỏ:
    - Tể tướng cứ theo kế hoạch mà thi hành. Một mặt
    chúng ta thu xếp cho Pharaoh gặp vua xứ Hitites nói
    chuyện, nếu việc thương thuyết không thành, chúng ta sẽ
    tấn công ngay.
    Smenkere quay qua nghiêm khắc nhìn tôi:
    - Này Sinuhe, khi xưa ta đã khuyên ngươi hãy chuyên
    tâm lo việc tinh thần như cha mẹ ngươi. Tại sao ngươi lại
    dính vào những việc phiền toái như thế này?
    Horemheb ngạc nhiên:
    - Kính thưa Tể tướng, Sinuhe có công đã mang về được
    bí mật quân sự của người Hitites…
    Smenkere cắt ngang:
    - Ta không muốn Sinuhe dính dáng vào việc triều chính
    trong lúc này. Đây là lệnh của ta…
    - Nhưng Pharaoh muốn Sinuhe thu xếp…
    Smenkere trừng mắt gạt đi:
    - Ta không muốn Sinuhe dính vào những việc đó. Hãy
    tìm người khác…
    Smenkere chăm chú nhìn tôi rồi lạnh lùng nói:
    - Này Sinuhe, ngươi cần ý thức rõ rệt về con đường mà
    ngươi đang theo đuổi. Ngươi có thể làm một vị quan triều
    như chúng ta, hưởng những vui sướng vật chất cũng như
    những phiền toái, lo sợ, hoặc đi theo con đường lý tưởng
    như cha mẹ ngươi, sống thoải mái về tinh thần và chấp
    nhận những thử thách mà con đường này đòi hỏi. Ngươi
    không thể có thái độ nửa chừng được vì không những nó
    đem đến cho ngươi những đau khổ, dằn vặt mà còn mang
    sự bất hạnh cho những người chung quanh nữa.
    Tôi biết Smenkere muốn nói đến cái chết bi thương của
    cha mẹ tôi nên im lặng cúi đầu không nói gì. Viên tướng già
    quay qua nói với Horemheb:
    - Thôi ta lên đường đây! Ngươi khéo cầm cự với bọn
    Hitites. Nếu không có tin tức gì, ta sẽ theo đúng kế hoạch
    tấn công xứ Hitites.
    Smenkere vung tay ra lệnh, đoàn quân vội vã lên đường.
    Horemheb lẩm bẩm:
    - Smenkere xứng đáng là một vị anh hùng.
    Vì đã có lệnh của Smenkere nên Horemheb cho người
    liên lạc, giàn xếp cuộc tiếp xúc giữa Akhenaten và quốc
    vương xứ Hitites. Phần tôi được lệnh tạm trú trong doanh
    trại gần đó chờ kết quả. Vài hôm sau, vào lúc nửa khuya tôi
    đang ngủ thì Horemheb ở đâu hốt hoảng chạy vào:
    - Sinuhe! Mày cần phải đi với tao ngay!
    - Chuyện gì vậy?
    Horemheb không trả lời mà vội vã kéo tôi lên xe ngựa
    phóng nhanh ra sa mạc. Xe đi được một quãng ngắn hắn
    mới giải thích:
    - Pharaoh đang trên đường đi gặp vua xứ Hitites, bất
    ngờ lại lên cơn động kinh như hôm nào…
    - Mày nói gì?
    - Akhenaten đang lên cơn động kinh, các y sĩ điều trị cho
    biết ngài cần tĩnh dưỡng nên tao muốn nhờ mày đến xem
    xét.
    Chúng tôi đến căn lều dựng tạm trong một ốc đảo,
    chung quanh có quân sĩ canh phòng cẩn thận. Horemheb
    tức tốc đưa tôi vào trong. Akhenaten đang nằm bất động
    trên tấm da sư tử, mặt xanh như tàu lá, chân tay co quắp,
    miệng sùi bọt mép. Mấy viên ngự y đang cắm cúi săn sóc
    cho ông.
    Tôi vội cúi xuống chẩn bệnh rồi nói ngay:
    - Quan ngự y nói đúng. Pharaoh không thể di chuyển
    được, phải tĩnh dưỡng tại đây ít hôm. Lần này ngài bị nặng
    hơn lần trước…
    Horemheb lo lắng nhìn vầng trăng lưỡi liềm lơ lửng trên
    nền trời:
    - Đã đến thời điểm gặp gỡ… Nếu Pharaoh không đến
    thì…
    Chưa lúc nào tôi cảm thấy tình trạng lại nghiêm trọng
    như vậy. Dĩ nhiên nếu Akhenaten không đến điểm hẹn thì
    cuộc chiến sẽ xảy ra ngay.
    Horemheb nghiến răng:
    - Mày hãy ở đây trông nom Pharaoh, tao phải về
    Memphis điều động binh sĩ.
    - Lúc này đã muộn, việc điều động binh sĩ cần thời giờ.
    Mày hãy để tao đến gặp vua xứ Hitites, tao sẽ…
    Horemheb lắc đầu:
    - Tể tướng Smenkere đã dặn tao đừng để mày dính dáng
    vào những việc thị phi.
    - Đây là việc bất ngờ, dù đã có kế hoạch từ trước để hai
    mặt giáp công nhưng Smenkere có đi suốt ngày đêm cũng
    phải mất vài hôm nữa mới đến được xứ Hitites trong khi
    quân đội Hitites đóng cách đây vài chục dặm. Nếu chiến
    tranh xảy ra thì chắc chắn phần thắng sẽ về tay người
    Hitites trong lúc này. Mày hãy để tao đến đó thuyết phục,
    kéo dài thời gian để mày kịp chuẩn bị.
    Horemheb lẩm bẩm:
    - Nếu biết thế tao đã tấn công trước từ đêm qua, ít ra
    cũng có cơ hội gây tổn thất cho chúng.
    - Hiện nay đã đến lúc nguy ngập, mày hãy để tao đến
    gặp vua xứ Hitites. Dù sao tao cũng đã quen biết trước…
    Horemheb không nói gì nhưng tôi biết hắn đang đắn đo
    suy nghĩ. Sau cùng hắn xiết chặt tay tôi:
    - Được rồi, mày hãy cố gắng kéo dài thời gian, tao về
    Memphis chuẩn bị ứng chiến. Nếu mày có mệnh hệ gì thì
    tao thề sẽ không để cho bọn Hitites yên.
    Khi tôi đến địa điểm hẹn thì vua xứ Hitites cùng một
    nhóm quân sĩ đang chờ sẵn. Ông lẳng lặng nhìn tôi một lúc
    rồi hỏi:
    - Sinuhe, ngươi đến đây làm gì?
    - Tôi mang một thông điệp của Pharaoh Akhenaten cho
    ông.
    - Akhenaten không đến ư?
    Sirah, vị sĩ quan có vẻ mặt lạnh lùng tỏ ra thận trọng:
    - Thưa hoàng đế, nếu Akhenaten không đích thân đến
    đây mà chỉ cho tên y sĩ này thay thế thì hạ thần e ngại có
    âm mưu gì. Xin hoàng đế ban chỉ thị để hạ thần tấn công Ai
    Cập ngay.
    Các vị tướng lãnh khác cũng nhao nhao lên:
    - Đúng thế! Nếu Akhenaten không đích thân đến xin
    hàng, chúng ta hãy tấn công ngay.
    Hoàng đế Hitites bình tĩnh phất tay ra hiệu im lặng rồi
    nói:
    - Ta chắc Akhenaten không chịu đầu hàng mà chỉ muốn
    kéo dài thời gian để chuẩn bị một kế hoạch khác. Tuy nhiên
    ta đã dự tính trước điều này. Chắc hẳn họ cho quân sĩ đi
    vòng qua sa mạc để đánh úp Hitites…
    Tôi giật mình, không ngờ vua Hitites lại đoán trước được
    âm mưu của Horemheb như vậy. Hoàng đế Hitites chăm chú
    nhìn tôi rồi lạnh lùng:
    - Hiển nhiên họ sẽ phải sử dụng một lực lượng quân sự
    khác vì cần lực lượng quân đội ở Memphis để đối phó và
    cầm chân chúng ta tại đây. Theo ta thì có lẽ tướng
    Smenkere, vị chỉ huy miền nam Ai Cập sẽ làm việc đó. Này
    Sinuhe, ngươi thấy ta nói có đúng không?
    Tôi đang bối rối chưa biết xử trí ra sao thì vua xứ Hitites
    đã cười lớn:
    - Sinuhe, ngươi chỉ là một y sĩ, không thể làm sứ giả
    ngoại giao được. Chỉ nhìn thái độ của ngươi, ta đã biết rằng
    ta suy đoán không sai. Này Sinuhe, nếu ngươi không có ơn
    cứu mạng ta thì giờ này ngươi đã chết! Akhenaten thật là
    một thằng ngu…
    Đám tướng lãnh đứng quanh đó cười ầm lên. Vua xứ
    Hitites lạnh lùng:
    - Smenkere kéo quân lên miền bắc ắt hẳn miền nam
    phải bỏ trống và giờ này có lẽ hoàng đế xứ Nubia đã lợi
    dụng cơ hội tấn công vào Ai Cập rồi.
    Tôi hoảng hốt rụng rời chân tay. Từ trước đến nay Ai Cập
    vẫn lo ngại người xứ Nubia hơn cả nên dù đã làm đến chức
    tể tướng, Smenkere vẫn nắm giữ binh quyền miền nam để
    phòng bị người Nubia đánh úp. Lần này ông kéo toàn bộ lực
    lượng quân đội lên miền bắc để tấn công xứ Hitites nhưng
    lại bị vua xứ này tương kế tựu kế, âm mưu với người Nubia
    để hai mặt giáp công Ai Cập.
    Hoàng đế Hitites cười lớn:
    - Nếu Smenkere kéo quân đánh Hitites thì phải đi qua
    thung lũng Nethkha và làm mồi cho phục binh của ta đang
    chờ sẵn mà thôi. Ha ha ha… với võ khí sắc bén của chúng ta
    thì thắng bại ra sao chắc ngươi cũng đã rõ. Này Sinuhe,
    ngươi chỉ là một con chốt thí mà Akhenaten sử dụng để kéo
    dài thêm thời gian nhưng điều này không có nghĩa gì với ta
    hết vì ta đã dự tính trước. Ha ha ha…
    Tôi luống cuống chưa biết phải xử trí ra sao thì bỗng
    nghe tiếng quân sĩ canh phòng quát lớn:
    - Ai đó? Ngươi là ai?
    Hoàng đế Hitites giật mình đặt tay lên đốc kiếm. Các
    tướng sĩ quanh đó đều đồng loạt rút phắt gươm ra. Tôi quay
    lại thấy dưới ánh trăng mờ nhạt, một toán người đang hộ vệ
    một người thân hình cao lớn, khoác áo choàng trắng đang
    cưỡi ngựa thong thả đi đến: Pharaoh Akhenaten. Tôi ngạc
    nhiên không hiểu vì sao một người đang bị động kinh, mê
    sảng như ông lại có thể đến đây được.
    Tôi kêu lớn:
    - Pharaoh, sao ngài lại đến đây?
    Akhenaten ôn tồn xua tay:
    - Sinuhe, ngươi đã làm xong bổn phận, bây giờ đến lượt
    ta nói chuyện với vua xứ Hitites.
    Một bầu không khí kỳ lạ bao trùm khắp sa mạc. Các
    tướng lãnh Hitites vội vã chia nhau ra canh chừng như sợ có
    âm mưu gì, nhưng họ không thấy ai ngoài Akhenaten và vài
    người hầu cận. Pharaoh Akhenaten thản nhiên bước xuống
    ngựa. Hai vị vua im lặng nhìn nhau như dò xét.
    Hoàng đế xứ Hitites nói:
    - Ta không ngờ ông lại đến. Phải chăng ông đã chấp
    thuận điều kiện của ta?
    Akhenaten ôn tồn:
    - Khi xưa ta đã cho sứ giả mang rất nhiều phẩm vật
    tặng ngươi để bày tỏ thiện chí nhưng có lẽ ngươi không hiểu
    ý ta.
    - Mối thù giữa Hitites và Ai Cập không thể bỏ qua bằng
    những phẩm vật tầm thường đó được. Hiện nay chúng ta
    đang chiếm phần thắng…
    Akhenaten lắc đầu:
    - Ngươi quá tự tin về kế hoạch của mình nhưng liệu
    ngươi có nắm chắc phần thắng không?
    Hoàng đế Hitites ngạc nhiên nhưng vẫn nói cứng:
    - Hiển nhiên là ta nắm phần thắng vì ta đã đoán trước
    âm mưu của ngươi và có kế hoạch đối phó.
    Akhenaten nhẹ nhàng:
    - Nếu ta là ngươi, chẳng bao giờ ta lại tin một người
    nhiều tham vọng như Maati cả.
    Câu nói dường như vô tình của Akhenaten khiến hoàng
    đế Hitites giật mình như bị một cái gì đánh trúng. Ông đằng
    hắng mấy tiếng nhưng không thốt nên lời. Sirah, viên sĩ
    quan hầu cận, lật đật lên tiếng:
    - Hoàng đế… hoàng đế… giao trách nhiệm trông coi thủ
    đô cho Maati ư?
    Các tướng lãnh nhìn nhau ngơ ngác. Vua xứ Hitites đằng
    hắng:
    - Ta… ta đã phái tướng Heru ra tiếp viện cho nhóm phục
    binh ở thung lũng Nethkha… Dĩ nhiên Maati… Maati… sẽ
    trông coi thủ đô.
    Akhenaten thong thả lên tiếng:
    - Nếu ngươi biết Maati đã liên lạc với vua xứ Nubia và
    cuộc tấn công vào miền nam Ai Cập sẽ không xảy ra như
    ngươi dự định. Hoàng đế Nubia không phải là người thiếu
    mưu trí, y chẳng dại gì tấn công Ai Cập trước để người
    Hitites hưởng lợi. Theo ta biết thì y sẽ án binh bất động để
    chờ cơ hội…
    Một lần nữa tôi thấy nét mặt của vua xứ Hitites nhăn
    nhó hơn bao giờ hết. Ông nắm chặt lấy đốc kiếm như để giữ
    bình tĩnh. Các tướng lãnh yên lặng nhìn ông nhưng nét mặt
    mọi người đều căng thẳng.
    Akhenaten tiếp tục:
    - Ngươi nghĩ rằng một tướng lãnh đầy kinh nghiệm như
    Smenkere lại dẫn quân đi vào thung lũng Nethkha mà
    không cho người đi do thám trước hay sao? Nếu ngươi biết
    Smenkere đã được Maati thông báo về nhóm phục binh của
    tướng Heru vì hắn cần lợi dụng quân đội Ai Cập để diệt trừ
    Heru. Nếu Heru chết, quyền hành xứ Hitites sẽ thuộc về tay
    Maati và y sẽ ra lệnh rút quân về để Smenkere có thể tập
    trung quân lực quay về giải cứu Ai Cập. Tóm lại, hiện nay
    các ngươi mới là những kẻ đang ở tình trạng khó xử, tiến
    cũng không xong và lui cũng không được.
    Vua xứ Hitites gầm lên một tiếng rồi quay qua một sĩ
    quan hầu cận, ra lệnh:
    - Tamas, ngươi hãy cho người đi xem tình hình thế nào
    rồi báo cáo ngay cho ta.
    Vị sĩ quan lập tức lên ngựa phóng đi. Vua Hitites phất
    tay ra lệnh cho quân sĩ bao vây lấy tôi và vua Akhenaten
    vào giữa.
    Ông ta nghiến răng:
    - Này Akhenaten, nếu thế ngươi sẽ phải chết trước.
    Pharaoh Akhenaten vẫn bình tĩnh:
    - Tại sao ngươi cứ khăng khăng đòi giết người này hay
    giết người khác như vậy? Phải chăng chỉ có giết chóc mới
    giải quyết được mọi sự? Kẻ thù của người đâu phải là người
    ngoài mà chính là người bên trong xứ của ngươi đó. Bao
    năm qua, ngươi chỉ lo chiến tranh với Ai Cập mà xao lãng kẻ
    nghịch bên trong.
    Vua xứ Hitites im lặng, hiển nhiên câu nói của
    Akhenaten đã tác động rất lớn vào tâm lý ông ta.
    Akhenaten tiếp tục:
    - Ngươi rời thủ đô vào sa mạc để huấn luyện quân sĩ nên
    đâu biết việc gì xảy ra trong cung của ngươi. Các tướng lãnh
    trung thành với ngươi cũng thế, họ đã rời xa vợ con để theo
    ngươi rèn binh luyện kiếm nhưng họ có biết tình trạng gia
    đình, vợ con của họ lưu lại thủ đô như thế nào không?
    Câu nói của Akhenaten đã làm các tướng lãnh Hitites
    hung hãn đứng quanh đó rung động. Bao năm qua họ chỉ
    nuôi mộng chiêu tập binh mã để tấn công Ai Cập mà xao
    lãng bổn phận với gia đình. Vẻ mặt mọi người tự nhiên dịu
    đi.
    Akhenaten quay qua tôi, nói một cách nhẹ nhàng:
    - "Này Sinuhe, ta chủ trương cải cách xã hội và tôn giáo
    Ai Cập vì thấy vết xe cũ đã mang lại quá nhiều đau khổ cho
    người dân xứ này. Tổ tiên của ta chỉ lo mở mang bờ cõi
    bằng chiến tranh mà không biết đào luyện, trau dồi phẩm
    cách cho con người. Cha ta trọn đời chỉ lo chiến đấu với
    người Hitites và Nubia vì lúc nào cũng sợ họ xâm lăng và
    hiển nhiên người Nubia và Hitites cũng lo Ai Cập xâm phạm
    bờ cõi.
    Tất cả đều mắc vào cái vòng luẩn quẩn của sự sợ hãi vô
    cớ này. Chính sự sợ hãi đã đem lại thù hận và hận thù cứ
    thế tăng lên do các cuộc chiến tranh kéo dài từ năm này
    qua năm khác.
    Rốt cuộc mọi người đều chỉ biết giết chóc chứ không biết
    thương yêu, chỉ biết sử dụng võ khí chứ không biết trau dồi
    phẩm hạnh. Khi con người sa đọa đến mức này thì xã hội đã
    rối loạn sẽ rối loạn thêm, do đó ta muốn cắt đứt cái vòng
    luẩn quẩn ấy.
    Dĩ nhiên đa số không hiểu được lòng ta, không thể tin
    rằng Pharaoh của Ai Cập lại muốn rời xa truyền thống cũ. Ta
    đã cho sứ giả đi khắp nơi giảng dạy cách sống mới nhưng
    phần lớn chưa tin rằng ta có thiện chí thực sự. Này Sinuhe,
    con đường ta đang đi là con đường rất khó vì nó đòi hỏi một
    sự nhẫn nại rất lớn nhưng ta thấy ngoài nó ra, không còn
    giải pháp nào khác. Trong nhiều năm qua, ta tiếc không có
    ngươi ở bên cạnh để chia sẻ với ta những thay đổi mà ta
    cho thi hành…"
    Akhenaten ngưng nói, quay qua hoàng đế Hitites:
    - Ông và ta đều là những người lãnh trọng trách lịch sử.
    Ông có bổn phận với quốc gia của ông và sứ mạng của ông
    là làm thế nào để quốc gia trở nên thịnh vượng, phú cường.
    Một sự thịnh vượng được xây dựng trên sự hiểu biết đúng
    đắn chứ không phải trên xương máu đồng loại. Con đường
    của ta đang theo đuổi không những phải tránh sự giết chóc
    mà còn tránh những tư tưởng hận thù xấu xa, những quyết
    định nóng nảy hấp tấp nữa.
    Hoàng đế Hitites đang trầm ngâm suy nghĩ thì có tiếng
    vó ngựa dồn dập rồi Tamas, viên tùy tùng được sai đi xem
    xét tình hình đã dẫn về một nhóm người.
    Akhenaten thong thả lên tiếng:
    - Này hoàng đế Hitites, đây chính là giây phút quyết
    định của ông đó!
    Tamas đưa một người mặc quân phục rách nát, dính đầy
    máu đến trước mặt vua xứ Hitites. Người này vừa khóc vừa
    báo cáo:
    - Kính thưa hoàng đế, Maati làm phản, tự xưng làm vua.
    Hắn triệu hồi binh sĩ phòng thủ tại thung lũng Nethkha…
    Tướng Heru đã bị giết. Hiện nay quân đội Ai Cập đã vượt
    qua thung lũng Nethkha mà không gặp một sự kháng cự
    nào. Maati còn cho người đến gặp Tể tướng Smenkere xin
    thương thuyết đầu hàng nữa…
    Hoàng đế Hitites tức giận gầm lên một tiếng lớn. Các
    tướng lãnh đứng quanh đó nhốn nháo, xôn xao bàn tán.
    Sirah, viên tướng chỉ huy vội lên tiếng:
    - Tình thế cấp bách, xin hoàng đế cho phép hạ thần dẫn
    quân trở về giải cứu thủ đô và trị tội thằng phản phúc Maati
    kia.
    Hoàng đế Hitites lắc đầu:
    - Không được, nếu trở về ngươi sẽ phải đương đầu với
    Smenkere trước. Dù có võ khí sắc bén nhưng chưa chắc
    ngươi đã chiếm được phần thắng. Trong lúc này, phân tán
    lực lượng quân sự sẽ chỉ làm mồi cho người Ai Cập.
    Sirah giơ tay chỉ vào Akhenaten:
    - Nếu chúng ta giữ Pharaoh của họ làm con tin thì họ
    đâu dám làm gì.
    Các tướng lãnh quanh đó đều gật đầu đồng ý. Hoàng đế
    xứ Hitites suy nghĩ một lúc rồi quay qua phía Akhenaten,
    đổi giọng:
    - Trong tình thế hiện tại, liệu chúng ta có thể thỏa thuận
    một giải pháp tốt đẹp cho cả hai bên không?Pharaoh
    Akhenaten mỉm cười lắc đầu:
    - Trước đây không lâu, khi nắm chắc phần thắng trong
    tay, ông chỉ muốn tấn công Ai Cập để rửa hận; nhưng lúc
    này ông lại sẵn sàng thỏa hiệp với Ai Cập khi nội bộ triều
    chính của ông gặp khó khăn. Nếu Hitites và Ai Cập vẫn còn
    thù hận nhau thì mọi thỏa hiệp chỉ là những giai đoạn nhất
    thời chứ không phải vĩnh viễn. Ta không thể chấp thuận một
    giải pháp như thế được.
    Hoàng đế Hitites tức giận:
    - Ông nên nhớ rằng số phận của ông nằm trong tay ta
    và chỉ cần một lệnh nhỏ, quân sĩ của ta sẽ băm ông nát ra
    trăm mảnh.
    Akhenaten điềm nhiên:
    - Hiển nhiên ta biết thế, nhưng nếu ta chết thì chỉ nội
    ngày mai, khi lực lượng quân sự của Smenkere và
    Horemheb hai mặt cùng giáp công thì các ông cũng khó bảo
    toàn tính mạng. Dù có võ khí sắc bén nhưng thiếu viện binh
    của người Nubia và Hitites, liệu các ông có thể chống cự
    một sức mạnh quân đội đông đảo như thế không? Nếu ta
    chết, Ai Cập sẽ có một Pharaoh khác và có lẽ người đó sẽ
    không để cho xứ Hitites của ông được yên. Rốt cuộc chúng
    ta vẫn tiếp tục đi theo vết xe cũ, gây chiến tranh và gia
    tăng hận thù giữa hai nước…
    Hoàng đế Hitites im lặng đặt tay lên chuôi kiếm, nửa
    muốn rút ra nhưng nửa lại ngập ngừng. Pharaoh Akhenaten
    im lặng quan sát đối thủ. Không khí trở nên căng thẳng,
    mọi người đều nín thở theo dõi. Chỉ một quyết định sẽ có
    máu đổ, đầu rơi và chiến tranh sẽ xảy ra.
    Bất chợt Pharaoh Akhenaten khoan thai nói:
    - "Ta biết mối thù giữa Ai Cập và Hitites kéo dài đã nhiều
    năm, khó có thể giải quyết ngay trong chốc lát, nhưng ta
    vẫn muốn chứng tỏ thiện chí của ta.
    Này hoàng đế Hitites. Ta biết ông có một con trai mà
    ông rất thương yêu. Ông muốn mở mang bờ cõi để sau này
    con ông có thể cai trị một miền đất rộng lớn nên ông không
    quản công lao khó nhọc chiêu tập binh mã, vừa để phát
    triển bờ cõi cho con ông sau này, vừa để trả mối hận đã bị
    Ai Cập xâm lăng khi xưa. Những chuyện đã xảy ra trong
    quá khứ, ta không thay đổi được nhưng hiện nay ta vẫn có
    thể làm những việc để dân chúng cả hai nước có một tương
    lai tốt đẹp hơn.
    Này hoàng đế xứ Hitites, ta muốn đề nghị với ông một
    giải pháp để nối tình giao hảo giữa hai nước một cách lâu
    dài. Ta vốn không có con trai nối dõi mà chỉ có con gái nên
    ta đề nghị một cuộc hôn nhân giữa hai bên. Ông và ta kết
    tình thông gia, giao hảo tốt đẹp. Con trai ông làm rể ta, dĩ
    nhiên sau này sẽ lên ngôi Pharaoh cai trị khắp miền này mà
    không phải tốn một sinh mạng nào. Người Ai Cập và người
    Hitites sẽ vĩnh viễn không gây chiến tranh, không gây hận
    thù nữa… Ông nghĩ thế nào?"
    Toàn thể mọi người đều giật mình, không ai ngờ
    Akhenaten lại đưa ra một giải pháp táo bạo như thế. Hoàng
    đế Hitites xúc động run bắn người, bàn tay đặt trên đốc
    kiếm của ông từ từ rút về. Không bao giờ ông ngờ kẻ thù
    của mình lại có thiện chí đến thế. Ai Cập là một cường quốc
    rộng lớn thịnh vượng, trong khi Hitites chỉ là một tiểu quốc
    bé nhỏ nằm ngoài sa mạc, nếu con ông lên ngôi Pharaoh thì
    nó sẽ cai trị khắp miền này.
    Pharaoh Akhenaten bình tĩnh nói tiếp:
    - Nếu ông với ta thông gia với nhau thì hiển nhiên xứ
    Hitites cũng là của con rể ta, không lẽ một Pharaoh Ai Cập
    như ta lại để cho một tên phản thần như Maati tung hoành
    hay sao? Này vua xứ Hitites, nếu chúng ta không làm
    những việc mà không ai dám làm để nối lại tình giao hảo
    giữa hai xứ thì ai sẽ làm việc này và đến bao giờ sự thù hận
    mới hàn gắn cho được?
    Hoàng đế Hitites run giọng:
    - Pharaoh… Pharaoh… ngài không nói đùa đấy chứ?
    Pharaoh Akhenaten oai nghiêm giơ cao chiếc vương ấn:
    - Trước mắt đấng tối cao biểu hiện qua tượng trưng của
    Aten, ta thề sẽ giữ đúng những điều ta vừa hứa với ông.
    Hoàng đế Hitites vội vã chắp tay lại:
    - Pharaoh… Akhenaten… Ngài thật cao cả… kẻ này… kẻ
    này…
    Ông chưa dứt lời thì quân sĩ Hitites đã hò hét báo động
    ầm lên. Mặc dù trời chưa sáng hẳn nhưng người ta có thể
    nhìn thấy từ phía chân trời xa, một đoàn quân Ai Cập đang
    rầm rộ kéo đến. Pharaoh Akhenaten quay qua một kẻ tùy
    tùng:
    - Ngươi hãy đến nói cho Horemheb biết rằng ta và
    hoàng đế Hitites đang nói chuyện với nhau, các ngươi chớ
    làm rộn.
    Sau khi kẻ tùy tùng vừa đi khỏi, Pharaoh Akhenaten
    quay qua nói với vua xứ Hitites:
    - Ý ông thế nào?
    Hoàng đế Hitites vội vã đưa cây gươm còn nguyên trong
    vỏ ra:
    - Đây là thanh gươm quý mà tôi vẫn mong có dịp được
    rửa bằng máu của ngài. Hiện nay tôi xin trao cho ngài làm
    tin để bày tỏ thiện chí của tôi.
    Akhenaten đón lấy thanh gươm hình thù lạ lùng kia, oai
    nghiêm nói:
    - Quân sĩ đâu, mang rượu ra đây! Ta và hoàng đế Hitites
    sẽ uống rượu để kết tình thông gia.
    Trước vò rượu lớn, Akhenaten rút gươm ra cắt nhẹ lên
    cánh tay mình để máu chảy xuống vò rượu rồi nói:
    - Hoàng đế Hitites, ông vẫn mong thanh gươm của ông
    sẽ nhuộm máu ta thì hôm nay ta giúp ông hoàn tất ý
    nguyện đó. Tuy nhiên ta mong máu của ta đổ ra để cho
    máu của dân chúng hai nước không phải chảy nữa…
    Hoàng đế Hitites cảm động đỡ lấy thanh gươm, trích
    máu trên tay mình:
    - Pharaoh Akhenaten, ngày nào tôi còn sống thì không
    bao giờ xứ Hitites lại gây chiến với Ai Cập nữa.
    Hai vị vua cùng nâng chén uống và cười ha hả. Tôi đứng
    sững người mà trong lòng vô cùng xúc động. Một lần nữa,
    sự can đảm và đức độ của Akhenaten đã hoàn toàn chinh
    phục tôi. Pharaoh Akhenaten quay qua các tướng lãnh
    Hitites đứng gần đó:
    - Ta biết các ông đều là những bầy tôi trung thành của
    vua Hitites, nhưng hiện nay chúng ta không còn là kẻ thù
    nữa. Ta nghĩ đã đến lúc các ông nên trở về nhà để săn sóc,
    nuôi dạy con cái nên người.
    Hoàng đế xứ Hitites tiếp lời:
    - Các ngươi hãy nghe cho rõ, từ nay Ai Cập và Hitites
    không bao giờ gây chiến tranh với nhau nữa. Chúng ta hãy
    trở về nước trừng trị tên phản phúc Maati.
    Toàn thể tướng sĩ Hitites đồng loạt giơ tay hưởng ứng.
    Pharaoh Akhenaten ra lệnh cho một kẻ tùy tùng:
    - Ngươi hãy đi theo hoàng đế Hitites để thông báo cho tể
    tướng Smenkere biết rõ quyết định của ta.
    Hoàng đế Hitites và tướng sĩ vội vã kéo quân lên đường.
    Pharaoh Akhenaten im lặng nhìn theo đoàn người từ từ
    khuất xa rồi thong thả nói:
    - Trời sắp sáng rồi, ta phải chuẩn bị chiêm ngưỡng sự
    huy hoàng của vầng Thái Dương và biết rằng ta vừa làm
    đúng sứ mạng cao cả của người lãnh đạo quốc gia là tránh
    cho dân chúng khỏi nạn binh đao. Này Sinuhe, ngươi có biết
    tại sao lại có chiến tranh không?
    Tôi rụt rè trả lời:
    - Tại vì có những kẻ xấu xa, tham lam, không biết sống
    thuận theo lẽ phải.
    Pharaoh Akhenaten lắc đầu:
    - "Không hẳn thế đâu. Trên thế giới này, những kẻ gây
    ra chiến tranh không phải vì họ xấu hay họ làm trái lẽ phải
    mà chỉ vì họ không đồng ý kiến hoặc quan niệm với nhau
    mà thôi. Là người, ai cũng có ý kiến riêng và người nào
    cũng có lý trong việc làm của họ. Dù người khác cho rằng ý
    kiến đó sai nhưng đối với họ, điều họ làm chính là lẽ phải.
    Chỉ vì bất đồng ý kiến mà con người gây gỗ nhau vì cái gì
    đúng với người này chưa chắc đã đúng với người khác. Do
    đó các quan niệm như phải trái, đúng sai. Tốt xấu chỉ có giá
    trị tương đối, chịu ảnh hưởng của không gian và thời gian.
    Điều hôm nay đúng thì ngày mai có thể sai; quan niệm ấy
    tại nơi này thì hữu lý nhưng ở nơi khác lại vô lý. Một người
    hiểu biết phải vượt lên trên sự phân biệt đó và không bao
    giờ bắt ai phải tuân theo ý kiến của mình. Chỉ có những kẻ
    thiếu hiểu biết mới điên rồ đòi mọi người phải đồng ý với
    mình."
    - Nhưng nếu thế thì chúng ta phải giải quyết như thế
    nào?
    - Việc duy nhất để giải quyết sự bất đồng ý kiến, dị biệt
    tư tưởng là tình thương. Tình thương đưa đến sự chấp nhận
    những khác biệt này thì hận thù mới có thể chấm dứt được.
    Thiếu tình thương là thiếu hiểu biết và khi đã không hiểu
    biết thì con người không thể cảm thông được với nhau mà
    chỉ thấy những khác biệt, sai trái. Chính quan niệm về sự
    khác biệt này làm nảy sinh sự bất đồng rồi đưa đến thù
    hận, chiến tranh. Để giải quyết nó, người ta cần biết thay
    đổi chính mình chứ không thể đòi hỏi người khác phải thay
    đổi được. Sự thay đổi chính mình là một sức mạnh hết sức
    lớn lao, một quyền năng phi thường mà chính ngươi đã từng
    kinh nghiệm.
    Tôi ngạc nhiên:
    - Thưa Pharaoh… kẻ này… kẻ này đâu đã… biết gì về việc
    thay đổi chính mình…
    - Sao ngươi mau quên thế? Vì ghen tuông với Horemheb
    mà ngươi đã bỏ đi thật xa, đến tận xứ Palestine hoang vu…
    Không lẽ ngươi quên rồi sao? Này Sinuhe, chỉ một việc nhỏ
    bé, tầm thường như thế đã khiến ngươi căm hận thì làm sao
    ngươi có thể làm được những việc lớn lao, cao cả? Sự thù
    hận đã làm ngươi mù quáng, ngu xuẩn và hậu quả là ngươi
    đã phải sống trong dằn vặt khổ đau suốt bao năm qua.
    Tôi giật mình không ngờ Pharaoh cũng biết việc này.
    Phải chăng Horemheb đã kể lại cho ông?
    Có lẽ hiểu ý tôi nên Akhenaten cười lớn:
    - "Horemheb là kẻ không thích nói nhiều. Hắn vẫn ăn
    năn về việc để cho ngươi sa ngã thì đời nào lại kể chuyện
    xấu xa này ra cho ta. Tuy nhiên ta vẫn biết và còn biết
    nhiều hơn thế nữa.
    Này Sinuhe, tuy ngươi được giáo dục cẩn thận nhưng vì
    thiếu kinh nghiệm nên không vượt qua được thử thách vừa
    qua. May thay, vì có lương tâm nên ngươi biết dẹp bỏ lòng
    ghen tuông nhỏ bé để nghĩ đến quyền lợi chung, không ngại
    nguy hiểm trở về Ai Cập để báo động về hiểm họa Hitites.
    Chính vì thế mà ngươi mới được chứng kiến sự kiện lịch sử
    hôm nay, còn nếu không thì có lẽ ngươi vẫn sống trong đau
    khổ mãi mãi và chẳng bao giờ có thể trở về Ai Cập được.
    Này Sinuhe, việc xảy ra vừa qua chỉ là một thử thách
    nhỏ trên con đường mà ngươi muốn theo đuổi. Ngươi nên
    biết mỗi thử thách trong cuộc đời là một bài học mà ngươi
    cần học hỏi, một kinh nghiệm mà ngươi cần phải biết. Con
    đường ngươi đi còn dài và nhiều thử thách nhưng ta mừng
    cho ngươi đã kinh nghiệm được sự mầu nhiệm của việc thay
    đổi chính mình."
    Một lần nữa tôi ngạc nhiên về sự hiểu biết lạ lùng của
    Akhenaten. Tôi muốn nói nhưng nghĩ sao lại thôi.
    Akhenaten chăm chú nhìn tôi rồi nói tiếp:
    - Ngươi đã được cha mẹ dạy dỗ để đi theo đường đạo
    nhưng có lẽ ngươi chưa ý thức rõ rệt gì về nó nên đã bỏ qua
    nhiều cơ hội học hỏi. Ngươi cần biết rằng đây là một con
    đường rất khó khăn và nhiều thử thách. Nếu đường đời đầy
    chông gai bão tố thì đường đạo còn hiểm trở gấp trăm lần;
    nhưng thử thách có lớn thì sự thành công mới huy hoàng và
    chỉ có những kẻ được trui rèn trong đau khổ mới vượt qua
    được những thử thách này và xứng đáng nhận lãnh trách
    nhiệm lịch sử…
    Pharaoh chưa nói hết thì nhóm quân sĩ Ai Cập do
    Horemheb dẫn đầu đã kéo đến. Horemheb dừng ngựa trước
    mặt Akhenaten:
    - Kính thưa Pharaoh, hạ thần nghĩ rằng ngài đang nghỉ
    ngơi ở ốc đảo nên mạo muội trở về Memphis điều động binh
    sĩ mà không biết ngài đã đến gặp vua xứ Hitites… May
    thay… may thay… ngài vẫn vô sự…
    Pharaoh Akhenaten phất tay ra hiệu:
    - Đủ rồi, ngươi không cần phải nói nhiều. Hãy đưa ta về
    cung nghỉ ngơi.
    Horemheb cúi đầu tuân mệnh và ra lệnh cho binh sĩ đưa
    Pharaoh trở về cung. Dọc đường hắn hỏi tôi chi tiết buổi tiếp
    xúc giữa hai vị vua và ngỏ ý tiếc đã không được chứng kiến
    cuộc gặp gỡ lịch sử đó. Sau khi đưa Pharaoh vào cung,
    Horemheb dẫn tôi đến một căn nhà rộng rãi, nguy nga
    gần đó:
    - Đây là nhà riêng của tao, mày hãy tạm nghỉ ở đây ít
    hôm. Tao cần đi kiểm soát hàng ngũ quân sĩ và gặp tể
    tướng Smenkere rồi sẽ trở về.
    CHƯƠNG 9
    Tôi nghỉ ngơi tại nhà Horemheb được mấy hôm nhưng
    hắn vẫn chưa trở về. Một buổi tối, tôi đang ngồi đọc sách thì
    Kepta đẩy cửa bước vào:
    - Thưa y sĩ, có một người lạ muốn gặp ngài.
    - Ai thế?
    - Người này không chịu xưng tên, chỉ đưa ra vật này.
    Kepta xòe bàn tay ra, trên tay hắn là sợi dây đeo cổ có
    gắn một miếng đá khắc những hình vẽ loằng ngoằng. Đây
    chính là vật mà Pharaoh Akhenaten đã ban cho tôi trong
    buổi thiết triều lần đầu nhưng sau đó tôi đã dâng hiến cho
    Nefer.
    Tôi xúc động:
    - Hãy cho cô ta vào.
    Kepta dắt vào một người khoác chăn dầy phủ kín từ đầu
    xuống chân. Tôi run giọng hỏi dồn:
    - Nefer, phải Nefer đấy không?
    - Chính em đây.
    - Tại sao cô lại trùm kín người bằng tấm chăn dầy như
    thế?
    - Xin y sĩ cứu em với.
    - Chuyện gì vậy?
    Người con gái run rẩy bước đến gần, lúc đó tôi mới ngửi
    thấy một mùi hôi thối nồng nặc từ thân thể cô phát ra.
    Nefer đưa tay khẽ vén tấm chăn để lộ ra một phần thân thể
    làm tôi hoảng hốt lùi lại. Trước mặt tôi không còn là tấm
    thân kiều diễm đã ám ảnh tôi suốt bao năm qua nữa mà chỉ
    là một khối thịt đầy máu mủ tanh hôi. Nefer ngượng ngùng
    đưa tay kéo tấm chăn xuống. Bàn tay với những ngón búp
    măng đeo đầy ngọc ngà châu báu khi xưa nay chỉ còn là
    miếng thịt đỏ hỏn, không một đốt nào còn nguyên vẹn.
    Tôi luống cuống nói không ra hơi:
    - Bệnh cùi… Cô bị bệnh cùi…
    - Y sĩ cứu em với.
    - Tại sao… Tại sao…
    Nefer sụt sùi khóc:
    - Em không biết… Mấy năm trước em thấy trong người
    không được khỏe rồi khắp mình mọc đầy những mụn nhọt,
    lở loét, ngứa ngáy vô cùng. Sau đó những ngón tay em
    sưng phồng lên… Em đã chạy chữa khắp nơi nhưng không
    khỏi. Tài sản dành dụm của em chẳng mấy chốc không
    cánh mà bay, em bán mọi đồ trang sức để chạy chữa nhưng
    vô hiệu… Sau cùng em đành trở thành kẻ hành khất lang
    thang ngoài chợ. Hôm qua em trông thấy y sĩ oai nghiêm
    ngồi trên cỗ xe đưa Pharaoh về cung, em nghĩ đến cảm tình
    của y sĩ đối với em ngày trước nên em tìm đến… Xin y sĩ
    chữa cho em…
    Tôi im lặng nhìn người con gái đang run rẩy thu mình
    trong tấm chăn dầy mà lòng rộn ràng biết bao cảm xúc. Trái
    tim tưởng như chai đá của tôi lại rung động mãnh liệt hơn
    bao giờ hết, nhưng lần này nó không phải là sự nồng nhiệt,
    đam mê như xưa mà là một lòng thương xót vô bờ bến.
    Tôi ngập ngừng:
    - Nefer, bệnh cùi rất khó chữa…
    Người con gái ngẩng mặt lên nhưng vì khuôn mặt cô vẫn
    giấu kín sau tấm vải phủ nên tôi không biết cô đang nghĩ gì.
    Có lẽ cô nghĩ tôi muốn nói đến chi phí chữa bệnh nên khẩn
    khoản:
    - Thưa y sĩ… em chẳng còn gì để trả công chữa bệnh
    nhưng xin y sĩ thương xót cứu chữa giùm cho em…
    - Cô đừng lo, hiển nhiên tôi phải chữa cho cô rồi nhưng
    tôi chỉ có thể ngăn chận không cho bệnh phát ra thêm nữa
    thôi.
    Nefer mừng rỡ:
    - Y sĩ… y sĩ… có thể chữa được sao?
    - Tôi sẽ cố gắng.
    Nefer òa lên khóc:
    - Ngày xưa… em đã không tốt đối với y sĩ nhưng…
    nhưng…
    - Cô không phải nói nhiều, hãy bỏ tấm chăn ra, tôi sẽ
    chữa cho cô.
    Nefer run rẩy kéo tấm chăn phủ mặt ra. Khuôn mặt yêu
    kiều với làn tóc mây óng ả khi xưa không còn nữa mà chỉ là
    một lớp da đầy mủ bám vào chiếc sọ trắng hếu. Đôi mắt
    nhung huyền mời mọc ngày xưa chỉ còn là hai hố sâu hoắm,
    nụ cười làm bao người xao xuyến chỉ là một khối xương thịt
    bầy nhầy.
    Tôi phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh.
    - Này Nefer, tôi tiếc là chỉ có thể chữa cho cô khỏi bệnh,
    nhưng không thể giúp cô lấy lại vẻ đẹp ngày xưa được.
    - Xin y sĩ cứu em… em không muốn chết…
    - Cô đừng lo, tôi có thể chữa được bệnh này.
    Sau khi xức thuốc và băng bó cho Nefer xong, tôi mệt
    mỏi thở dốc ra:
    - Nefer, hiện nay bệnh của cô sẽ không phát ra nữa đâu,
    tôi đã sử dụng những liều thuốc cực mạnh để ngăn chận nó
    rồi… Tôi rất tiếc không thể làm gì hơn.
    Nefer khép nép choàng tấm chăn lên người:
    - Cám ơn y sĩ đã cứu chữa cho em. Em không biết phải
    nói gì hơn…
    - Đây là lọ thuốc để bôi lên người. Khi cô dùng hết lọ
    thuốc này thì bệnh cũng sẽ thôi phát tác…
    Nefer nhìn tôi, sùi sụt:
    - Thưa y sĩ… em muốn xin y sĩ một ân huệ nữa…
    - Cô còn muốn gì?
    - Em muốn y sĩ biết rằng khi xưa tuy em có đầy ngọc
    ngà châu báu quí giá nhưng món em quí nhất là chiếc vòng
    đeo cổ bằng đá mà hoàng đế Akhenaten đã ban cho y sĩ.
    Món này tuy không có giá trị hiện vật nhưng y sĩ đã tặng
    cho em bằng tất cả lòng chân thành nên em luôn giữ nó bên
    mình. Trọn đời em chỉ toàn những bán buôn, đổi chác, lừa
    gạt, gian dối. Chỉ riêng y sĩ đã tặng cho em một thứ mà
    chưa ai hiến tặng cho em… do đó em xin phép được giữ vật
    kỷ niệm này…
    - Được rồi, cô cứ giữ nó. Tôi đã tặng cho cô kia mà…
    Nefer mừng rỡ nhặt chiếc vòng rồi quay người bước ra
    cửa. Tôi bùi ngùi nhìn theo người con gái đã làm tôi mê đắm
    năm xưa mà trong lòng dâng lên một cảm xúc khó tả.
    Thấy Kepta đang thập thò đứng nhìn, tôi lên tiếng:
    - Này Kepta, suốt mười năm nay ta chỉ mong gặp lại
    Nefer để trả thù. Ta vẫn muốn cô ta phải đau khổ ngắc
    ngoải, sống không ra sống mà chết cũng chẳng ra chết. Ta
    đã nghĩ đến những liều độc dược ghê gớm nhất…
    - Hiện nay ông chủ thấy sao?
    - Gặp lại Nefer, ta thấy mình không thể giận cô ta được
    mà chỉ thấy thương hại. Ta không thể làm gì khác hơn là tận
    lực cứu chữa bằng tất cả khả năng ta có. Không hiểu sao
    lòng thù hận nung nấu bao năm qua đã tiêu tan mất…
    Pharaoh Akhenaten nói đúng, thù hận chỉ đem lại dằn vặt
    đau khổ cho chính mình và kết quả chỉ là những gì trống
    rỗng mà thôi. Ta tiếc đã dại dột nuôi một mối hận quá lâu
    nên phải trả một giá đắt là sống tha hương hơn mười năm
    nay… Phải chi ta biết trước điều này…
    Tôi mệt mỏi đặt lưng xuống giường ngủ thiếp đi. Vài
    hôm sau, tuy đã nghỉ ngơi tĩnh dưỡng nhưng lòng tôi vẫn
    dâng lên một nỗi buồn man mác. Sau cùng để giải trí, tôi
    gọi Kepta thắng ngựa để đi dạo phố. Nhưng khi vừa ra đến
    phố chính thì tôi đổi ý:
    - Này Kepta, có lẽ ta muốn trở về thăm quê cũ.
    ° ° °
    Chúng tôi nhắm hướng Thebes trực chỉ. Sau một hành
    trình dài, tôi dừng ngựa trước bờ hồ lớn nằm ở phía đông
    thành phố, từ đây người ta có thể nhìn thấy những ngôi nhà
    san sát của Thebes, ẩn hiện dưới rặng chà là. Trong lúc tôi
    đang trầm ngâm ngắm cảnh quê xưa thì có tiếng cãi cọ
    vang lên:
    - Thằng kia, ai cho phép mày đến đây câu cá?
    Một đám trẻ đang hung hăng bao vây một đứa trẻ trạc
    mười tuổi ở gần đó. Đứa lớn hơn cả quát nạt:
    - Hồ này là của chúng ta, cá trong hồ cũng thuộc quyền
    của chúng ta. Ai cho phép mày được đến đây câu cá?
    Thằng bé kia sợ hãi, vội đưa rổ cá ra cho đám trẻ nhưng
    thằng bé thủ lãnh ra lệnh:
    - Tịch thu luôn cả cần câu của nó nữa.
    Thằng bé sợ hãi, riu ríu đưa cần câu ra. Bọn trẻ kia được
    thể xông đến lục soát túi quần túi áo của đứa bé. Thấy vẻ
    mặt nó sợ hãi ngơ ngác, thằng thủ lãnh thích thú ra lệnh:
    - Tụi bay lột luôn cả quần áo nó ra để trừng phạt tội câu
    cá tại hồ của tao.
    Nghe thế tôi xúc động vô cùng. Cả một quá khứ tươi
    đẹp, ngây thơ và hồn nhiên hiện rõ trong tâm trí tôi.
    Tôi quát lớn:
    - Quân sĩ đâu, hãy đánh mấy đứa bé kia vài roi để trị tội
    ăn hiếp kẻ cô thế.
    Binh sĩ hầu cận lập tức thi hành. Bọn trẻ hà hiếp người
    sợ hãi bỏ chạy, chỉ còn lại đứa bé kia ngơ ngác đứng nhìn.
    Tôi mỉm cười với nó:
    - Này em bé, ta đã trừng trị những đứa trẻ hung ác kia
    rồi.
    - Tại sao ông làm thế?
    - Ta không thích việc kẻ mạnh ăn hiếp người yếu.
    Đứa bé nhìn tôi rồi lắc đầu:
    - Nhưng ông có làm gì khác đâu, ông ỷ có binh sĩ hầu
    cận đánh đuổi mấy đứa kia…
    Tôi giật mình trước câu nói của đứa bé. Kepta tức giận
    quát lớn:
    - Thằng bé kia, mày có biết mày đang nói chuyện với ai
    không?
    Ngay lúc đó có tiếng gọi vang lên:
    - Tut ơi, con ở đâu?
    Đứa bé đáp lại ngay:
    - Mẹ ơi, con ở đây này!
    Một phụ nữ tất tả chạy đến, ôm chầm đứa bé vào lòng:
    - Con làm gì thế? Con không nghe lời mẹ, lại đi đánh
    nhau rồi sao?
    - Thưa mẹ, con đâu có đánh nhau…
    - Mẹ nghe trẻ khóc lóc vang xóm, chỉ sợ có đánh nhau.
    Đứa bé vội chỉ tay vào chúng tôi, mách:
    - Tại mấy ông này… đánh chúng nó.
    Người đàn bà ngẩng đầu nhìn lên. Dưới ánh nắng rạng
    rỡ, tôi nhận ra đó chính là Meryt, người con gái bán rượu
    năm xưa.
    Tôi kêu lớn:
    - Meryt… phải cô Meryt đó không?
    Cô ta trố mắt nhìn tôi rồi xúc động kêu lên:
    - Sinuhe… Ông là… Sinuhe phải không?
    - Chính tôi đây.
    Kepta cũng nhận ra người xưa nên vui vẻ nhảy xuống
    ngựa:
    - Này Meryt, có lẽ cô không ngờ ông chủ tôi lại trở về
    bình an vô sự…
    Tôi chăm chú nhìn Meryt, trông cô vẫn dịu dàng như
    xưa. Trong lúc tôi đang nhìn thì Tut lên tiếng:
    - Mẹ ơi, mấy ông này là ai thế? Mẹ quen họ hay sao?
    Tôi ngạc nhiên:
    - Cô Meryt… tôi không ngờ cô đã lập gia đình…
    Meryt nhìn tôi, dường như hờn giận nhưng vẫn nhẹ
    nhàng nói:
    - Y sĩ đi xa chắc mệt rồi, xin mời y sĩ ghé qua nhà dùng
    chút rượu giải khát.
    Nói xong, Meryt rảo bước đi trước, tôi vội nhảy xuống
    ngựa đi theo. Quang cảnh Thebes vẫn như xưa, không thay
    đổi bao nhiêu nhưng tự nhiên tôi cảm thấy nó trở nên xa lạ
    thế nào. Tôi vừa đi vừa suy nghĩ không để ý đến đường xá
    cho đến khi Meryt đưa tôi đến trước một căn nhà nhỏ thì tôi
    mới giật mình sửng sốt:
    - Meryt… nhưng… đây là… căn nhà cũ của cha mẹ tôi…
    - Thưa vâng. Em đã mua lại nó từ người chủ trước.
    Tôi đẩy cửa bước vào ngôi nhà quen thuộc mà lòng vô
    cùng xúc động. Căn nhà được giữ y như xưa với phòng
    khám bệnh và chiếc hòm gỗ đựng tiền để gần đó. Meryt có
    vẻ bối rối:
    - Em… em không có thì giờ… dọn dẹp… nên cứ để
    nguyên thế…
    Tôi nhìn lên chiếc tủ thuốc của cha tôi và nhận ra những
    dụng cụ hành nghề như dao kéo, những hũ đựng dược thảo
    và chiếc cối xay thuốc vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Tôi nhớ
    mình đã bán tất cả những thứ này để lấy tiền mua vui với
    Nefer nhưng tại sao chúng lại trở về đây? Meryt ngượng
    ngùng:
    - Em… em thấy người ta bày bán rẻ… ngoài chợ nên…
    mua về…
    Kepta tủm tỉm cười, kéo Tut ra phía sau nhà:
    - Này chú bé, ta biết sau nhà chú có một cây chà là rất
    ngon. Chú leo lên hái cho ta ít quả chà là đi.
    Trong nhà chỉ còn mình tôi và Meryt. Tôi ngượng nghịu
    nhìn quanh:
    - Này cô Meryt… thế anh ấy… đâu rồi?
    Meryt nhìn tôi dường như trách móc rồi ấp úng:
    - Em… em chưa lập… gia đình.
    - Tại sao?
    Vừa nói xong tôi ý thức ngay rằng mặc dù tôi vẫn nói
    câu ấy không biết bao nhiêu lần nhưng chưa bao giờ nó lại
    vô duyên đến thế! Meryt im lặng ngượng ngùng nhìn đi chỗ
    khác.
    Tôi ngập ngừng:
    - Thế… đứa bé đó là… con ai?
    Meryt hạ giọng nói nhỏ:
    - Em… em đi qua sông Nile, nghe tiếng trẻ khóc và thấy
    một đứa bé nằm trên giỏ mây thả trôi trên sông. Chắc y sĩ
    cũng biết… ai cũng có lúc lầm lỡ nên có những giọt máu vô
    thừa nhận… nhiều người đành bỏ con vào giỏ thả trôi sông,
    phó thác cho thần sông Nile… Do đó em mang nó về nuôi…
    Tôi ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình. Tôi cũng là một
    đứa trẻ vô thừa nhận như thế và nếu cha mẹ tôi không
    mang về nuôi thì chắc tôi đã nằm trong bụng cá rồi! Tôi
    đang xúc động thì Tut và Kepta đẩy cửa bước vào với một
    nắm chà là trên tay:
    - Ông ăn đi, chà là trên cây nhà tôi ngon hơn ngoài chợ
    nhiều lắm.
    Tôi bật cười:
    - Ta biết chứ, cây chà là này nổi tiếng ngon nhất xóm.
    Thằng bé nhìn tôi như dò xét rồi hỏi:
    - Tôi nghe Kepta nói ông là một y sĩ?
    - Đúng thế.
    - Lớn lên tôi cũng học ngành y để trở thành y sĩ như ông
    vậy.
    - Tốt lắm! Làm y sĩ, chú em sẽ kiếm được rất nhiều tiền.
    - Không đâu! Tôi chỉ muốn trở thành y sĩ chữa bệnh cho
    người nghèo mà thôi.
    - Tại sao em lại muốn thế?
    - Mẹ tôi dạy rằng sứ mạng thiêng liêng của một y sĩ là
    làm dịu những nỗi đau khổ của đồng loại. Mẹ tôi còn kể
    rằng ngày xưa có một người y sĩ rất giỏi, chỉ chuyên phục
    vụ nhân loại như thế…
    Meryt ngượng ngùng gạt đi:
    - Thôi đi, con nói nhiều quá…
    - Nhưng con chỉ kể lại chuyện người y sĩ mà mẹ vẫn kể
    cho con nghe hàng đêm.
    - Mẹ chú kể như thế nào?
    - Người y sĩ này rất giỏi, cứu nhân độ thế, làm việc tốt,
    khắp thành Thebes ai ai cũng biết và quí mến. Tiếc thay
    một hôm ông ta đi lạc đường…
    Meryt lại gạt đi:
    - Con hãy ra chợ mua cho mẹ một con cá để mẹ làm
    bữa ăn đãi khách…
    Tut phụng phịu bỏ đi:
    - Chút nữa về, tôi sẽ kể tiếp cho ông nghe.
    Sau khi đứa bé đi khỏi, tôi quay qua Meryt, dịu dàng
    nói:
    - Meryt… đứa trẻ nào cũng cần một người cha và nếu cô
    không chê trách, tôi muốn được làm cha của bé Tut để nuôi
    dạy cho nó nên người.
    Meryt cúi đầu không nói. Tôi nắm chặt tay cô gái:
    - Này Meryt… tôi đã đối xử không phải với cô…
    - Sinuhe, anh là một y sĩ danh giá, đang làm ngự y cho
    Pharaoh, còn em… em chỉ là một người bán rượu tầm
    thường… đâu xứng đáng gì…
    - Cô đừng nói thế…
    - Anh là y sĩ thủ khoa trường Khoa Học Của Sự Sống,
    được khắp Ai Cập kính trọng, tương lai anh đang sáng sủa…
    - Meryt thân mến, tôi đã ngu dại nên bị lôi kéo vào
    những chuyện thị phi, tuy nhiên tôi đã học được bài học mà
    tôi cần phải học. Khi xưa vì thiếu hiểu biết nên tôi đã gây
    đau khổ cho bao nhiêu người, kể cả cô nữa; nhưng hiện nay
    tôi đã biết giá trị thực sự của chân hạnh phúc…
    - Sinuhe, xin anh đừng nói nữa…
    - Meryt ơi, những chuyện ấy đã trở thành quá khứ; nếu
    cô sẵn sàng bỏ qua tất cả để xây dựng một cuộc sống mới
    với tôi…
    Ngay lúc đó có tiếng vó ngựa dồn dập trước cửa rồi
    Kepta lật đật bước vào. Tôi cau mày khó chịu:
    - Chuyện gì thế? Ngươi không thấy ta đang bận hay
    sao?
    Tôi chưa nói dứt câu thì cánh cửa đã mở tung và một
    người hầm hầm bước vào. Đó là công chúa Baketamon.
    Công chúa giận dữ:
    - Này Sinuhe, tại sao ngươi trở về mà không thông báo
    gì cho ta biết?
    Tôi chưa kịp phản ứng thì công chúa Baketamon đã nói
    tiếp:
    - Ta nghe nói anh ta đã kết thông gia với vua xứ Hitites.
    Tại sao lúc đó ngươi có mặt mà không khuyên can? Sao
    ngươi có thể hồ đồ như thế được?
    - Nhưng… nhưng… lúc đó…
    - Ngươi có biết hậu quả của việc này sẽ ra sao không?
    - Thưa công chúa… tôi… tôi…
    - Anh ta là người lý tưởng nhưng ta thì không như thế.
    Anh ta có thể từ bỏ địa vị Pharaoh để đi theo lý tưởng thờ
    phụng Aten nhưng công lao gây dựng Ai Cập của gia đình ta
    đâu thể để cho bọn Hitites hưởng thụ một cách dễ dàng vậy
    được. Ngươi hãy theo ta về cung, mẹ ta có việc cần nhờ đến
    ngươi gấp.
    - Thái hậu Taiya ư? Sức khỏe… sức khỏe của bà có sao
    không?
    - Mẹ ta vẫn khỏe nhưng chẳng vui gì.
    - Tại sao?
    - Làm sao mà vui được khi bao năm nay dòng họ ta đều
    tôn thờ các thần linh, nhất là thần Ánh Sáng (Amun) mà
    anh ta lại chủ trương chỉ tôn thờ thần linh độc nhất là Thái
    Dương (Aten) chứ không chịu phục tùng các thần linh khác.
    Điều này đã gây chia rẽ trong giới giáo sĩ và các quan triều.
    Việc triều chính chưa yên mà anh ta lại kết thông gia với
    người Hitites nữa thì thật hết chỗ nói. Ta và mẹ ta đã hết
    sức khuyên can nhưng vô hiệu. Có lẽ anh ta khùng điên mất
    rồi. Hiện nay anh ta không chịu nghe ai khuyên giải, may ra
    có mình ngươi thôi.
    - Tại sao?
    - Tại vì những bầy tôi thân tín của anh ta đều có tham
    vọng cá nhân nhưng riêng ngươi thì không như thế…
    Công chúa Baketamon chăm chú nhìn thẳng vào mặt tôi
    rồi giằn giọng:
    - Này Sinuhe, hiện nay tuy ngươi không có tham vọng gì
    nhưng theo thời gian ai cũng thay đổi, phải không?
    - Tôi… tôi không biết… Tại sao công chúa lại hỏi thế?
    Công chúa Baketamon cười gằn:
    - Hiển nhiên khi cờ đến tay thì ngươi cũng phải phất
    chứ!
    - Công chúa… nói gì… tôi không hiểu…
    - Ngươi không cần phải hiểu trong lúc này. Ta muốn
    ngươi trở về Memphis để khuyên bảo anh ta nên hòa hoãn
    với bọn giáo sĩ, còn nếu không được thì thẳng tay giết sạch
    bọn đó đi. Các quan trong triều cũng thế, thấy đứa nào có
    thái độ chống đối thì giết ngay để diệt trừ hậu họa…
    - Điều này… tôi sợ… không được đâu…
    Công chúa Baketamon lắc đầu thở dài:
    - Sinuhe, ngươi làm ta thất vọng quá! Mẹ ta nói rất
    đúng, rằng ngươi cũng hiền lành, khờ dại như anh ta vậy.
    Một người lãnh đạo quốc gia, một Pharaoh không thể có thái
    độ ngây thơ dại dột như thế được. Kẻ lãnh đạo phải là kẻ có
    mưu lược, thủ đoạn, dám làm những việc không ai dám
    làm. Nếu cần giết người thì giết. Nếu cần hy sinh tất cả,
    phải sẵn sàng không ngần ngại. Chỉ những kẻ quyết đoán
    như thế mới làm được việc lớn. Thôi được, ngươi hãy theo ta
    trở về Memphis, mẹ ta có việc nhờ ngươi.
    Tôi đành theo công chúa Baketamon trở về thủ đô. Trên
    đường, công chúa nói năng lung tung đủ thứ chuyện nhưng
    tôi chẳng có lòng dạ nào mà nghe vì đầu óc chỉ nghĩ đến
    Meryt. Tôi chưa có dịp nói hết những điều tôi muốn nói với
    người con gái hiền lành, chung thủy này. Đoàn tùy tùng hộ
    giá tôi và công chúa vừa đến trước cung điện thì Horemheb
    ở đâu bước đến:
    - May quá, tao đang đi tìm mày. Pharaoh muốn gặp mày
    gấp…
    Công chúa Baketamon cau mày khó chịu:
    - Sinuhe đến thăm bệnh cho mẹ ta. Ngươi hãy nói với
    anh ta để khi khác.
    - Thưa công chúa, kẻ này được lệnh của Pharaoh phải
    đưa Sinuhe vào triều ngay.
    Công chúa Baketamon hậm hực:
    - Horemheb, lúc nào ngươi cũng chỉ biết đến anh ta mà
    thôi. Thôi được, sau khi Sinuhe gặp anh ta xong, ngươi hãy
    đưa hắn vào nội cung gặp ta.
    Công chúa Baketamon vừa đi khỏi, Horemheb nói nhỏ:
    - Mày trở về vừa đúng lúc…
    Tôi và Horemheb cùng bước vào trong cung. Khi xưa tôi
    đã từng đến đây kể chuyện cho hoàng hậu Nefertiti và các
    cung nữ nghe nhưng lần này tôi thấy cung điện rất vắng vẻ,
    chỉ có Pharaoh và hoàng hậu Nefertiti đang chờ.
    Vừa thấy tôi, Akhenaten đã nói:
    - Ta và Nefertiti đã có với nhau sáu đứa con nhưng
    chẳng may hai đứa chết sớm. Lần sinh nở sau cùng, hoàng
    hậu gặp khó khăn, các quan ngự y nói rằng nàng không thể
    có con được nữa. Ta muốn nhờ ngươi khám lại cho hoàng
    hậu yên lòng.
    Tôi bước đến khám bệnh rồi xem xét, đối chiếu với tài
    liệu của các quan ngự y trước khi kết luận:
    - Kính thưa hoàng hậu, kẻ nầy đã xem xét rất kỹ và
    hoàn toàn đồng ý với kết quả chẩn đoán của các quan ngự y
    rằng ngài khó có con được nữa.
    Hoàng hậu Nefertiti im lặng, có lẽ bà đã biết trước
    nhưng vẫn còn nuôi hy vọng. Akhenaten bảo vợ:
    - Chúng ta đã có bốn đứa con gái xinh đẹp, cần gì phải
    thêm con trai nữa.
    Hoàng hậu Nefertiti run giọng:
    - Em biết thế nhưng… nhưng Pharaoh sẽ không có con
    trai nối dõi và…
    Akhenaten cười lớn:
    - Đó là việc của ta, nàng không cần quá lo như vậy.
    Tôi hiểu cái chết của hoàng tử Teay đã gây khó khăn lớn
    trong việc thừa kế ngôi vị Pharaoh nên hối hận:
    - Kính thưa Pharaoh, kẻ này có lỗi… đã không săn sóc
    cho hoàng tử…
    Akhenaten lắc đầu:
    - Ngươi không phải bận tâm về việc đã qua này.
    Hoàng hậu Nefertiti ngập ngừng:
    - Nhưng… Pharaoh vẫn có thể có con trai nối dõi nếu…
    Akhenaten lắc đầu:
    - Này Nefertiti, việc có con trai nối dõi không phải là
    điều làm ta bận tâm. Tại sao Pharaoh cứ phải là con trai?
    Con gái không làm Pharaoh được sao? Ai đã đặt ra luật lệ kỳ
    quái này? Khi xưa Hashepsut là đàn bà mà vẫn làm Pharaoh
    đấy thôi! Theo ý ta. Pharaoh phải là người có đức độ, xứng
    đáng để chỉ huy quốc gia chứ không hẳn chỉ là kẻ được thừa
    kế. Ta sẽ ban hành đạo luật bãi bỏ việc thừa kế này.
    Tôi và Horemheb giật mình. Đây là lần đầu tiên một vị
    vua dám phủ nhận truyền thống thừa kế thiêng liêng đã
    hiện hữu từ ngàn năm nay như vậy. Hoàng hậu Nefertiti nói
    nhỏ:
    - Pharaoh không nên khinh xuất. Hiện nay thiếp thấy
    triều đinh chưa yên. Thay đổi nhiều quá chưa chắc đã có lợi.
    Hơn nữa các Pharaoh thời trước vị nào cũng có rất nhiều phi
    tần…
    Akhenaten lắc đầu:
    - Này Nefertiti, nàng là người đàn bà đẹp nhất thế giới.
    Dưới mắt ta, mọi phụ nữ khác đều lu mờ trước nhan sắc và
    đức độ của nàng. Tuy truyền thống vẫn khuyến khích
    Pharaoh phải có nhiều phi tần mỹ nữ nhưng ta không như
    vậy. Từ khi lên ngôi Pharaoh, ta đã cho tất cả cung nữ trở
    về nhà. Ta không muốn họ phải sống một cuộc đời tẻ nhạt,
    chán chường trong cung điện rộng thênh thang này.
    Lúc đó tôi mới biết tại sao cung điện lại vắng vẻ như thế.
    Akhenaten giải thích thêm:
    - Việc có con trai nối dõi chẳng đáng phải quan tâm. Vấn
    đề hiện nay là tuy nàng không thể có con được nữa nhưng
    tâm nàng vẫn còn mong có con. Khi tâm và thân không như
    nhất thì sẽ sinh phiền não rồi bệnh tật từ đó sẽ phát sinh.
    Này Sinuhe, ta nói như thế có đúng không?
    Tôi chưa trả lời thì hoàng hậu Nefertiti đã cương quyết:
    - Pharaoh không nên quá lo lắng, thiếp có thể chấp nhận
    được điều này.
    - Nàng đừng vội kết luận. Liệu nàng có cảm thấy thoải
    mái khi nhìn thấy những đứa bé trai nô đùa không? Liệu
    nàng có làm chủ được lòng mong muốn có một đứa con trai
    không? Chỉ khi nào cả tâm lẫn thân nàng thản nhiên chấp
    nhận, không ao ước, không mong cầu thì ta mới yên lòng.
    Ngay lúc đó, một người nô lệ bước vào nói nhỏ với
    Pharaoh. Ông gật đầu:
    - Được lắm, hãy cho Smenkere vào!
    Được phép, vị tể tướng có khuôn mặt nhăn nheo khắc
    khổ bước vào. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi và
    Horemheb đang đứng đó:
    - Kính thưa Pharaoh, hạ thần đã điều tra được kỹ thuật
    rèn kiếm của người Hitites. Đó là thứ kim loại đặc biệt gọi là
    thép, được sản xuất từ một xứ ở phương đông tên là Trung
    Hoa. Những người này đã buôn bán trao đổi kỹ thuật rèn
    kiếm với người Do Thái. Xin Pharaoh ban chỉ thị để thần lưu
    dụng những thợ rèn Do Thái này.
    Akhenaten chăm chú nhìn Smenkere một lúc rồi thong
    thả đáp:
    - Phải chăng ông muốn ta khởi xướng cho rèn kiếm bằng
    thứ kim loại mới kia? Chúng ta đã ký hòa ước với người
    Hitites rồi thì cần gì phải chế tạo thêm vũ khí? Hẳn ông
    cũng biết ta không muốn gây chiến tranh và tránh sự giết
    chóc bằng mọi giá…
    - Thưa Pharaoh, tuy chúng ta không muốn gây chiến
    tranh nhưng việc rèn đúc vũ khí vẫn là quan trọng. Hiện nay
    người Do Thái đã nắm được kỹ thuật này và chẳng bao lâu
    nữa các xứ quanh vùng đều có vũ khí bằng thứ kim loại sắc
    bén ấy, nếu chúng ta không…
    - Không. Ta không chấp nhận việc sản xuất vũ khí như
    thế. Nếu Ai Cập cho rèn kiếm bằng thứ kim loại này thì
    người Nubia cũng sẽ làm như thế và rồi người Hitites, người
    Syria, người Babylon… Nếu chúng ta thi đua sản xuất vũ khí
    thì không ai có thể tránh khỏi việc đao binh và như thế chỉ
    có bọn sản xuất vũ khí là được lợi lạc.
    - Nhưng nếu các xứ kia đều có vũ khí này, chúng ta cũng
    cần phòng thủ…
    Akhenaten lắc đầu:
    - Vũ khí được chế tạo với mục đích duy nhất là phục vụ
    chiến tranh. Vũ khí càng sắc bén, lợi hại, người ta càng
    muốn gây chiến tranh để thử xem sức mạnh của vũ khí đó
    ra sao. Theo ta, sự phòng thủ hữu hiệu nhất là lòng dân và
    sự hiểu biết. Không một quốc gia nào dám xâm lăng Ai Cập
    nếu mọi người dân xứ này đều cương quyết một lòng chống
    ngoại xâm. Không một ông vua nào dám gây chiến nếu mọi
    người dân đều hiểu biết rõ rệt thảm họa của chiến tranh và
    biết rõ tham vọng điên rồ của kẻ lãnh đạo.
    - Nhưng vẫn có những kẻ chỉ huy khôn khéo biết lợi
    dụng tình thế để thực hiện ý đồ riêng.
    Akhenaten chăm chú nhìn Smenkere rồi thong thả:
    - Bất cứ kẻ chỉ huy nào cũng có những lý do riêng để
    biện minh cho hành động của mình nhưng họ chỉ có thể
    đánh lừa được một số người lười biếng, dễ dãi, không hiểu
    biết mà thôi. Những người này sẵn sàng chạy theo những
    ảo vọng điên rồ, những lý tưởng mơ hồ, những quan niệm
    trừu tượng hay một lý thuyết vu vơ nào đó. Con người có trí
    khôn thì phải biết sử dụng nó để phân biệt chứ. Không một
    kẻ bịp bợm nào có thể đánh lừa cả một quần chúng thông
    minh, không một dân tộc nào lại gây chiến với một dân tộc
    khác khi biết rõ hậu quả tai hại có thể xảy ra cho đất nước
    mình. Không, ta không chấp nhận việc sản xuất vũ khí như
    thế.
    Smenkere im lặng, khuôn mặt nhăn nheo của ông vẫn
    lạnh lùng như băng đá. Horemheb vội lên tiếng:
    - Thưa Pharaoh, ít ra chúng ta cũng nên nghiên cứu về
    kỹ thuật rèn kiếm kia để phòng khi hữu sự…
    Akhenaten mỉm cười, ôn tồn nói:
    - Các ông đều là những người mà ta hết sức tin tưởng sẽ
    giúp ta phục hưng Ai Cập. Chúng ta chỉ có thể phục hồi nền
    minh triết cổ xưa khi biết vượt ra khỏi các quan niệm sai
    lầm, các truyền thống ích kỷ tai hại, hậu quả của những
    trận chiến tranh kéo dài suốt bao năm nay. Nếu các ông
    không thay đổi đường lối suy nghĩ này thì làm sao ta có thể
    đòi hỏi các quan trong triều phải thay đổi? Nếu triều đình
    không thay đổi thì làm sao xã hội, quốc gia có thể đổi thay?
    Nếu chúng ta cứ lo âu, sợ hãi, nghĩ rằng luôn luôn có một
    kẻ thù rình rập, chỉ chờ dịp hãm hại chúng ta thì làm sao
    chúng ta có thể tránh được chiến tranh.
    Smenkere vội quì xuống:
    - Pharaoh nói rất phải, kẻ già này đã sáng mắt ra rất
    nhiều.
    Akhenaten gật đầu:
    - Được lắm, chúng ta sẽ có dịp bàn kỹ lại chuyện này.
    Hiện nay đã đến lúc ta phải thiết triều. Các ông hãy theo ta.
    Chúng tôi vội vã theo Pharaoh bước ra khỏi hậu cung.
    Khung cảnh triều đình vẫn như xưa nhưng không khí có vẻ
    căng thẳng nghiêm trọng vì một chuyện gì đó. Pharaoh
    Akhenaten vừa an tọa, tôi đã thấy một giáo sĩ cao lớn bước
    đến:
    - Kính thưa Pharaoh, mấy năm nay Ai Cập bị hạn hán,
    mùa màng thất thu, dân tình đói khổ triền miên do hậu quả
    của việc sao lãng thờ cúng thần linh. Mấy năm nay, các giáo
    sĩ phái Amun chúng tôi chẳng nhận được chút lễ vật nào,
    các đền thờ thiếu người chăm sóc, khói lạnh hương tàn, cỏ
    hoang mọc đầy khắp đền miếu. Chúng tôi muốn xin
    Pharaoh đến tạ tội với chư thần, dâng cúng lễ vật để tránh
    cho dân tình khỏi lầm than và tránh cơn thịnh nộ của chư
    thần.
    Horemheb nói nhỏ vào tai tôi:
    - Thằng giáo sĩ này to gan lớn mật, chắc hẳn nó phải có
    một lực lượng hậu thuẫn nào đó…
    Akhenaten thản nhiên:
    - Dựa vào đâu mà ngươi cho rằng các thần linh muốn
    trừng phạt Ai Cập vì ta không dâng cúng lễ vật?
    - Hẳn Pharaoh biết rõ, việc cúng lễ thần linh đã được ghi
    chép rõ ràng qua các sách vở tôn giáo từ ngàn xưa. Theo
    truyền thống, mỗi khi hạn hán, mất mùa, các Pharaoh phải
    đến đền thờ Amun dâng phẩm vật, cầu xin cho quốc gia
    khỏi thiên tai, hoạn nạn và được thái bình, thịnh vượng…
    Akhenaten cười nhạt:
    - Một quốc gia thái bình thịnh vượng, không có chiến
    tranh là do tài điều khiển của người lãnh đạo chứ chẳng do
    thần linh nào hết. Khi xưa cha ta vẫn thờ cúng Amun rất
    cẩn thận mà Ai Cập có thoát khỏi nạn binh đao đâu?
    - Nhưng hiện nay Ai Cập đang gặp thiên tai, hạn hán,
    mất mùa, nếu đó không phải sự trừng trị của chư thần thì là
    gì?
    - Thiên tai chỉ là thời tiết thay đổi, đến rồi đi, có năm lụt
    lội thì cũng có năm hạn hán; có năm được mùa thì cũng có
    năm mất mùa. Điều này chẳng do thần linh nào trừng phạt
    cả… Ta, Pharaoh của Ai Cập quyết định bãi bỏ các nghi thức
    thờ cúng quỉ thần. Thay vì dâng cúng lễ vật cho Amun, ta ra
    lệnh mở kho đụn, phát chẩn cho nạn nhân bị thiên tai. Vì
    tình trạng đói kém, ta sẽ bãi bỏ thuế khóa trong ba năm
    liền, và giảm thiểu quân số để cho quân sĩ trở về quê quán
    làm ăn.
    Các quan trong triều xôn xao sửng sốt vì quyết định bất
    ngờ của Pharaoh. Trong mấy năm nay, Akhenaten đã cho
    cải tổ guồng máy hành chính nhưng không ai ngờ ông lại
    táo bạo đi xa đến vậy. Hiển nhiên việc giảm thuế sẽ làm giới
    quí tộc vốn bất mãn càng bất mãn thêm và việc giảm thiểu
    quân số sẽ khiến các võ quan bị mất nhiều quyền lực.
    Horemheb nói nhỏ với tôi:
    - Pharaoh hấp tấp quá… hỏng việc mất thôi.
    Giáo sĩ trưởng phái Amun lắc đầu than:
    - Nếu thế Ai Cập sẽ bị trừng phạt nặng nề…
    Akhenaten dõng dạc nói:
    - "Lúc nào bọn giáo sĩ các ngươi cũng mang thần linh ra
    để dọa nạt. Các ngươi đã biết gì về thần linh? Ai đã đặt ra
    luật lệ dâng cúng thần linh kỳ quái này? Thần linh nào đòi
    hỏi như thế? Từ bao năm nay, giới giáo sĩ các ngươi đã nắm
    độc quyền việc giao tiếp với thần linh nhưng ai đã cho các
    giáo sĩ quyền lực này? Các ngươi muốn thảo luận với ta về
    thần linh chăng? Thần linh nào giúp cho Ai Cập khỏi nạn
    chiến tranh với người Hitites hôm trước? Các ngươi muốn ta
    dâng cúng phẩm vật cho Amun nhưng ai sẽ là người thụ
    hưởng những phẩm vật đó? Ai đã đặt ra quyền lợi riêng cho
    giới giáo sĩ? Từ ngàn xưa, tổ tiên chúng ta đã gây dựng một
    nền văn minh huy hoàng cho Ai Cập nhưng tại sao hiện nay
    nó lại thoái hóa đến thế này? Tại sao bao năm nay dân
    chúng Ai Cập phải chịu đựng chiến tranh liên tiếp, lúc nào
    cũng lo sợ phập phồng về hiểm họa xâm lăng của người
    Hitites hay người Nubia? Ai đã gây ra sự sợ hãi, bất an ấy?
    Phải chăng nó xuất phát từ cái tín ngưỡng xây dựng trên
    căn bản trừng phạt của thần linh?
    Nhân danh thần linh, người ta đã làm đủ mọi chuyện tồi
    tệ như phê phán nhau, lên án nhau và đổ lỗi cho nhau.
    Thần linh nào đã dạy con người căm thù, chém giết lẫn
    nhau như thế? Phải chăng chính các giáo sĩ đã đặt ra những
    giáo điều kỳ quái này và tiếp tục giải thích nó theo thời thế?
    Gặp hạn hán, các ngươi nói là do thần linh trừng phạt rồi
    đòi dâng cúng phẩm vật để các ngươi hưởng thụ. Cần vật
    dụng xây cất đền thờ, các ngươi cổ xúy chiến tranh để
    chiếm đoạt tài nguyên quốc gia khác. Cần nhân công xây
    cất lăng tẩm, các ngươi đặt ra giai cấp nô lệ và để có nô lệ,
    Ai Cập phải gây chiến với các nước chung quanh dưới danh
    nghĩa mở mang bờ cõi. Tóm lại, chỉ có dân chúng là chịu
    thiệt thòi và các thần linh mang tiếng hung ác. Nếu các
    ngươi biết rằng mọi sự xảy ra trong thiên nhiên đều có ý
    nghĩa và biết được những ý nghĩa này chính là mục đích của
    nền tôn giáo thời cổ mà ta muốn phục hồi.
    Ta muốn mọi người đều được học hỏi một nền giáo dục
    hoàn toàn để họ có thể tự biết mình, vì biết mình chính là
    biết được tất cả. Không có một sự trừng phạt hay đe dọa
    nào có thể chi phối những người đã tự biết mình, đã biết tự
    chủ hoàn toàn. Do đó thay vì phải qua trung gian của giới
    giáo sĩ, ta chủ trương con người cần học hỏi trực tiếp chân
    lý qua sự hiểu biết chính mình. Thái Dương chính là chân lý
    vì chân lý là những gì đẹp đẽ và có giá trị muôn đời.
    Hàng ngàn năm trước, tổ tiên chúng ta đã chiêm ngưỡng
    vầng Thái Dương, hiện nay chúng ta cũng nhìn vầng Thái
    Dương y hệt như thế, và hàng ngàn năm nữa vầng Thái
    Dương vẫn sáng chói rực rỡ như lúc này.
    Chân lý không bao giờ đổi thay với không gian và thời
    gian, chỉ có những giáo điều, vốn là sự phát minh của các
    giáo sĩ, thì phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh. Điều
    này cũng dễ hiểu vì giáo điều chỉ là sự tưởng tượng của giới
    giáo sĩ, đặt ra để giải thích các hiện tượng trong thiên nhiên
    mà họ không hiểu được mà thôi. Trời nóng hay lạnh cũng do
    thần linh đặt ra, trời mưa hay nắng cũng do thần linh đặt
    ra, nhưng chẳng bao giờ các ngươi tự hỏi thần linh đã đặt
    nó ra vào mục đích gì? Nếu các ngươi không hiểu được các
    ẩn nghĩa, các sự kiện ẩn tàng trong thiên nhiên thì không
    bao giờ các ngươi có thể hiểu được thần linh hết."
    Pharaoh Akhenaten ngưng nói, đưa cao chiếc vương ấn
    lên:
    - Ta quyết định bãi trừ các trò cúng tế dị đoan, không
    dâng cúng thần linh mà cho mở kho phát chẩn cho nạn
    nhân thiên tai, bãi bỏ thuế khóa trong ba năm liền và giảm
    thiểu quân số, cho quân sĩ trở về quê quán làm ăn. Đây là
    quyết định của ta, đúng hay sai sẽ do Osiris phán quyết sau
    khi ta chết. Các ngươi không cần phải nhiều lời…
    Một viên quan vội vã ghi chép mệnh lệnh của Pharaoh.
    Không khí trong triều trở nên căng thẳng. Gã giáo sĩ trưởng
    phái Amun nhìn quanh như muốn tìm đồng minh nhưng mọi
    người e dè, chưa ai dám phản ứng gì.
    Akhenaten nhìn quanh triều đình một lượt rồi lên tiếng:
    - Ta biết các ông không thích thay đổi nhưng nếu lúc này
    ta không sắp đặt một đường lối mới, một định chế mới, một
    căn bản mới thì mọi việc sẽ chẳng bao giờ đổi thay được.
    Hôm trước ta đã ký hòa ước với người Hitites, lúc này ta
    muốn từ nay Ai Cập, cũng như các nước lân cận, mãi mãi
    không bao giờ gặp thảm trạng chiến tranh nên ta quyết
    định ban hành một số luật lệ mới để chấm dứt các tệ đoan
    của thời xưa.
    Mọi người lại giật mình, không biết Pharaoh sẽ ban hành
    thêm những luật gì nữa. Thấy các quan hoang mang xôn
    xao bàn tán, Smenkere vội bước ra dõng dạc:
    - Pharaoh là người đã được thần linh lựa chọn để cai trị
    Ai Cập. Bất cứ ngài quyết định thế nào cũng là ý muốn của
    thần linh. Chúng ta phải triệt để tuân theo mệnh lệnh của
    ngài, kẻ nào không đồng ý hay muốn bàn luận điều gì hãy
    nói thẳng ra với ta.
    Một lần nữa, viên tướng già có khuôn mặt khắc khổ đã
    bày tỏ lập trường trung thành với Pharaoh. Akhenaten lắc
    đầu, lên tiếng:
    - "Smenkere, ông không cần phải làm thế vì hôm nay ta
    muốn mọi người hiểu rõ đường lối và chủ trương của ta. Các
    ông cần biết rằng trong thiên nhiên, không việc gì xảy ra do
    sự ngẫu nhiên tình cờ mà đều có những nguyên nhân sâu
    xa cả. Tình trạng xáo trộn, lo âu, thù hận, sợ hãi và ghen
    ghét hiện nay chỉ là những phản ảnh của tư tưởng xuất phát
    từ nội tâm chúng ta mà thôi. Tình trạng xã hội chỉ phản ảnh
    tâm tình của những cá nhân sống trong đó. Nếu các cá
    nhân thay đổi đường lối suy nghĩ thì xã hội sẽ thay đổi theo.
    Từ lâu nay ta vẫn muốn sắp đặt một thể chế mới dựa
    trên những điều ta đã suy nghiệm, tuy nhiên ta còn dè dặt
    trong việc cải tổ này vì ta biết không ai hiểu ta. Sự kiện
    người Hitites và Nubia liên kết để chuẩn bị chiến tranh với Ai
    Cập vừa qua khiến ta thấy rằng nếu không thay đổi ngay
    trong lúc này thì thật khó có thể đòi hỏi người các xứ kia
    phải thay đổi. Nếu ta còn duy trì một lực lượng quân sự
    hùng mạnh thì họ cũng phải duy trì một lực lượng quân sự
    không kém. Nếu ta lo sợ họ tấn công thì họ cũng lo sợ
    chúng ta tấn công.
    Tóm lại,tất cả đều sống trong lo sợ phập phồng và mọi
    nỗ lực, tiềm năng quốc gia đều dồn vào việc chuẩn bị cho
    chiến tranh. Do đó ta quyết định sẽ thay đổi hoàn toàn cơ
    cấu tổ chức quốc gia để mang lại một nền thái bình thịnh
    vượng cho tất cả…"
    Akhenaten thong thả nhìn mọi người rồi nói tiếp:
    - "Tuy nhiên nếu đa số các ông đều hài lòng với hoàn
    cảnh hiện tại thì chẳng bao giờ sự thay đổi có thể xảy ra
    được. Nếu các ông chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng, chấp nhận
    nạn bất công, sự sợ hãi, thù hận, bạo động, cũng như hiểm
    họa ngoại xâm và cho rằng giải pháp duy nhất là luật của
    kẻ mạnh, thì sự tranh đấu sẽ tiếp diễn mãi mãi, không bao
    giờ chấm dứt. Nếu xã hội chỉ là một sự đấu tranh giữa kẻ
    thắng người thua thì chúng ta vẫn tiếp tục đi theo vết xe cũ
    của một vòng luẩn quẩn từ bao năm nay, không bao giờ
    thoát ra được. Nếu chúng ta tiếp tục bóc lột những kẻ yếu
    đuối, lợi dụng những kẻ khờ dại và cho rằng đời là phải thế
    thì chúng ta không bao giờ có thể tiến bộ được.
    Hiển nhiên các ông cho rằng điều này khó thực hiện vì
    các ông đã được giáo dục rằng đời sống là một sự tranh đấu
    để sống còn, mạnh được yếu thua và nhiều người đã thành
    công trong quan niệm này. Nếu các ông chấp nhận khuôn
    mẫu xã hội đó thì các ông không thể nhìn thấy rằng có một
    căn bản khác xây dựng trên sự tự biết mình và lòng thương
    xót nhân loại. Ngày nào các ông còn thành công trong sự
    bóc lột thì các ông không thể kinh nghiệm được sự đau khổ
    của kẻ bị bóc lột, nỗi hận thù của kẻ bị đối xử bất công, và
    những thảm cảnh mà chiến tranh mang lại. Nếu hôm trước
    ta không khéo léo tránh cho Ai Cập khỏi nạn chiến tranh với
    người Hitites thì liệu giờ này các ông còn ngồi đây hưởng
    thụ những tiện nghi sung sướng đó không? Nếu quân Hitites
    tràn vào Ai Cập thì tình trạng của các ông lúc này sẽ ra
    sao?"
    Akhenaten ngưng nói một lúc như để mọi người suy nghĩ
    rồi mới tiếp tục:
    - "Này các ông, chiến tranh với những đau thương thống
    khổ của nó chỉ là một kinh nghiệm để giúp chúng ta thay
    đổi đường lối suy nghĩ hiện nay; nhưng trải qua bao năm
    chinh chiến, chúng ta đã học được gì? Nếu thắng, chúng ta
    hả hê, sung sướng và thẳng tay đàn áp kẻ thua. Nếu thua,
    chúng ta chỉ biết căm thù, tức tối và chờ dịp phục hận. Phải
    chăng chiến tranh đã cho chúng ta thấy rõ những cực đoan
    của tâm hồn con người. Nếu chúng ta tiếp tục bỏ qua cơ hội
    học hỏi để thực sự biết mình là ai và mục đích cao quí của
    cuộc đời là gì thì có lẽ hàng ngàn năm nữa nhân loại vẫn chỉ
    quanh quẩn với đường lối suy nghĩ vẩn vơ này thôi.
    Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi và ta mong các ông sẽ
    sát cánh cùng ta đặt một con đường mới. Theo ý ta thì Ai
    Cập phải trở nên một quốc gia hùng mạnh, không phải vì
    những đạo binh bách chiến bách thắng, không phải bằng
    những biên cương rộng lớn, không phải bằng những tài
    nguyên chiếm đoạt hay số nô lệ mang về nhưng là một
    quốc gia mà trong đó tất cả mọi cá nhân đều biết mình và
    chịu trách nhiệm về hành động của mình.
    Ai Cập phải là một trung tâm văn minh thu hút mọi
    người khắp nơi tìm đến học hỏi. Ai Cập phải là một nơi mà
    người nghèo có chỗ trú ẩn, kẻ đói được ăn, kẻ bệnh được
    chữa trị. Một nơi mà mọi người đều biết chia sẻ cơm áo
    trong tình tương thân tương ái. Người Ai Cập sẽ không giàu
    có vất chất nhưng rất dồi dào về tinh thần vì tinh thần là
    điều mà không ai có thể cướp đoạt được. Muốn được như
    thế, mọi người dân Ai Cập cần bắt đầu với chính bản thân
    mình, phải trở thành ngọn đuốc sáng soi đường cho chính
    mình. Họ không thể thực hành một cách máy móc những
    qui tắc hay nghi thức sẵn có mà phải nỗ lực tìm kiếm không
    ngừng trong nội tâm. Nếu không có sự nhiệt thành này thì
    không thể có sự thay đổi được.
    Muốn như thế, chúng ta phải thay đổi hoàn toàn đường
    lối giáo dục vì hiện nay giáo dục chỉ chú trọng đến việc
    truyền trao kiến thức chuyên môn và giới hạn cho một số ít
    người. Điều ta muốn là một nền giáo dục về minh triết, một
    thứ kiến thức siêu việt qua công phu suy gẫm, để áp dụng
    vào đời sống. Đây không phải là một điều mới lạ vì ngàn
    năm xưa, tổ tiên chúng ta đã chú trọng đến nền giáo dục
    này nhưng theo thời gian, nó đã biến thái, trở thành những
    lý thuyết trừu tượng, những kiến thức khô khan, không thể
    áp dụng được.
    Từ trước đến nay, việc giáo dục được trao cho các giáo sĩ
    đảm nhiệm nhưng theo thời gian, các giáo sĩ thiếu công phu
    hành trì đã lầm lẫn minh triết với kiến thức. Thay vì khuyến
    khích con người tìm tòi hiểu biết chính mình thì họ đã đưa
    ra những đường lối vạch sẵn dựa trên những giáo điều khô
    khan, những kiến thức chết. Thay vì khuyến khích việc phát
    triển những khả năng sẵn có thì học sinh được nhồi nhét
    những lý thuyết vô giá tri làm thui chột khả năng tiềm tàng
    của họ. Thay vì được giáo dục về đời sống thực sự thì học
    sinh phải lặp đi lặp lại những mẩu chuyện rời rạc nói về tinh
    thần bộ lạc, quốc gia hay những người đã lập công trên
    xương máu đồng loại. Một nền giáo dục như thế chỉ tạo tinh
    thần chia rẽ, hận thù và cổ súy cho chiến tranh hay đào tạo
    ra những bạo chúa khát máu mà thôi."
    Vị giáo sĩ trưởng phái Amun vội lên tiếng:
    - Phải chăng ngài muốn phủ nhận công lao của tiền
    nhân cũng như lịch sử?
    Akhenaten cười nhạt:
    - "Ta không ngờ giáo sĩ như ngươi cũng dám bàn chuyện
    lịch sử với ta. Này các ông, lịch sử là những sự kiện được
    ghi chép lại một cách trung thực, rõ ràng và chính xác về
    những biến cố đã xảy ra. Tuy nhiên trên thực tế, nó chỉ là
    những gì được viết lại bởi những kẻ muốn cho hậu thế nhìn
    họ qua một hình ảnh hay quan niệm nào đó. Phần lớn đều
    không đúng với sự thật và nếu có ai nghi ngờ hay bàn tán
    điều gì không phù hợp với quan niệm của họ thì sẽ bị trừng
    phạt tức thì. Tuy nhiên sự thật là điều không thể thay đổi
    hay bóp méo được vì nó được ghi nhận trung thực trong
    lòng người. Một vị minh quân không cần phải cho ghi chép
    công trạng của mình vì điều đó hiển nhiên rõ ràng và ai
    cũng biết. Chỉ có những bạo chúa, những kẻ cai trị bằng bạo
    lực mới lo tô điểm cho mình bằng những chiến công hiển
    hách để biện minh cho hành động của họ mà thôi.
    Này các ông, phần lớn lịch sử được ghi chép lại bởi một
    thiểu số cầm quyền, không muốn hậu thế thực sự biết được
    họ đã làm gì, mà chỉ đưa ra những lý do chính đáng để bào
    chữa cho hành động của họ. Thứ lịch sử như thế không phải
    là sự thật. Thứ lịch sử được ghi chép trên những mồ mả,
    lăng tẩm lại càng không phải là sự thật. Tuy nhiên sự thật
    vẫn tiếp tục được lưu truyền trong dân gian qua những bài
    hát, bài thơ, trong những giai thoại truyền khẩu.
    Ta không bao giờ phủ nhận công lao khó nhọc của tiền
    nhân đã xây dựng Ai Cập, nhưng ta cũng không chấp nhận
    những lỗi lầm của tiền nhân đã gây ra cho người dân xứ
    này. Một người lãnh đạo phải có can đảm chấp nhận hành
    động của mình vì đúng hay sai sẽ do lịch sử phán quyết.
    Nếu lịch sử được ghi nhận một cách trung thực thì xã hội
    ngày nay đã khác. Tiếc rằng lịch sử chỉ ghi chép lại chẳng
    mấy khi chính xác vì đa số người lãnh đạo đều có ý lừa dối
    thế hệ sau bằng những giai thoại mập mờ, thêu dệt những
    điều này nọ để bào chữa cho hành động của họ nên thảm
    kịch lịch sử cứ tái diễn không ngừng. Vì các bạo chúa cho
    viết lại lịch sử nên thứ lịch sử đầy sai lạc đó sẽ tiếp tục
    khuyến khích và sản xuất thêm ra những bạo chúa khác.
    Một xã hội được xây dựng trên sự áp chế, đe dọa, thù hận
    sẽ phá hoại tâm tính con người, hoặc sinh ra những kẻ thụ
    động, thờ ơ hoặc những kẻ hung ác, không có nhân tính.
    Cái thứ căn bản giáo dục sai lạc này sẽ sản sinh ra những
    người dân ngu dốt và tập thể ngu dốt sẽ có những kẻ lãnh
    đạo không hiểu biết, đưa quốc gia đến chỗ bại nhược, suy
    vong."
    Akhenaten ngưng nói, đưa mắt nhìn quanh rồi kết luận:
    - Do đó ta chủ trương phải thay đổi tất cả, không đi theo
    những vết xe cũ, không để cho lịch sử tái diễn những trò
    xưa. Ta muốn ban hành những đạo luật để sắp đặt lại cơ
    cấu tổ chức, phục hồi nền giáo dục về minh triết và đặt lại
    căn bản xã hội Ai Cập kể từ nay. Ta mong các ông hãy suy
    nghĩ kỹ về những điều ta vừa nói và phụ giúp ta trong việc
    cải tổ lớn lao này.
    Thấy Pharaoh sắp chuẩn bị cho bãi triều, Horemheb vội
    bước ra:
    - Kính thưa Pharaoh, trong biến cố vừa qua, y sĩ Sinuhe
    đã đóng góp công lao rất lớn. Xin Pharaoh cho xét lại tội
    trạng của y…
    Akhenaten chăm chú nhìn tôi rồi thản nhiên:
    - Sinuhe quả có công lớn trong biến cố vừa qua nhưng
    tội trạng ngày trước của y cũng không thể bỏ qua một cách
    dễ dàng được. Ta quyết định bãi bỏ án tử hình cho y nhưng
    ta truyền lệnh y phải đến những trung tâm giáo dục của Ai
    Cập và dành trọn đời để nghiên cứu, học hỏi.
    Cả hai chúng tôi đều giật mình, không ngờ Akhenaten lại
    quyết định như thế. Horemheb muốn lên tiếng nhưng
    Pharaoh đã giơ cao chiếc vương ấn lên:
    - Đây là lệnh của ta, truyền cho Sinuhe phải đến những
    đạo viện để học hỏi, trau giồi thêm kiến thức. Smenkere
    đâu, ngày xưa ông đã tiến cử Sinuhe thì kể từ nay ông phải
    chịu trách nhiệm về sự học hỏi của hắn…
    Smenkere ngập ngừng bước ra nói lớn:
    - Kính thưa Pharaoh, kẻ này xin chịu trách nhiệm về
    Sinuhe. Kể từ nay hắn sẽ được đặt dưới sự kiểm soát của kẻ
    này.
    Tôi ngơ ngác chưa biết phải phản ứng ra sao thì
    Smenkere đã phất tay ra hiệu cho hai người lính đưa tôi ra
    bên ngoài. Chiều hôm đó, người sĩ quan có khuôn mặt khắc
    khổ đến gặp tôi:
    - "Này Sinuhe, ta đã dặn ngươi rất kỹ nhưng không hiểu
    sao ngươi chẳng chịu nghe, cứ dính dáng vào những việc thị
    phi. Định mệnh của ngươi thật lạ lùng, giữa ta và cha mẹ
    ngươi đã có liên hệ từ trước nên ta vẫn coi ngươi như con,
    hướng dẫn cho ngươi hết lòng. Horemheb là bạn thâm giao
    nên hết sức che chở cho ngươi. Pharaoh Akhenaten cũng rất
    quí ngươi nhưng chẳng hiểu sao lần này ngài lại trừng phạt
    ngươi như thế!
    Ta và Horemheb vừa vào cung xin giảm án nhưng
    Akhenaten đã truyền lệnh phải đưa ngươi đến Nekhen để
    học hỏi với các nhà chiêm tinh ngay. Ta không hiểu
    Akhenaten muốn gì! Ngài là một người lạ lùng hơn tất cả
    những người ta đã gặp. Hiển nhiên ngài có chủ đích riêng
    mà một kẻ nhiều kinh nghiệm như ta đây cũng không thể
    đoán biết được. Thôi, ngươi hãy lên đường và làm đúng
    những điều Akhenaten căn dặn. Ta hy vọng một ngày nào
    đó ngài sẽ đổi ý."
    CHƯƠNG 10
    Khi tôi đến Nekhen thì phong cảnh vẫn như xưa với
    những đồi đá trơ trụi nằm dọc theo hai bờ sông Nile. Tôi
    được đưa đến ngọn đồi cao nhất trên có viễn vọng đài, nơi
    khi xưa Akhenaten đã thảo luận về khoa chiêm tinh với
    quan Thiên Giám. Có lẽ đã được thông báo trước nên quan
    Thiên Giám đã chờ sẵn.
    Sau bữa ăn tối, ông đưa tôi lên đài viễn vọng, chỉ lên
    bầu trời đầy tinh tú lấp lánh:
    - Ta được lệnh hướng dẫn cho ngươi về khoa chiêm tinh
    nhưng ngươi có biết tại sao Akhenaten lại muốn ngươi đến
    đây học hỏi không?
    - Tại sao?
    - "Vào thời đại hoàng kim, các Pharaoh thường gửi con
    cái đến học hỏi với các giáo sĩ, đạo trưởng để được giáo dục
    những kiến thức cần thiết. Sự giáo dục của một Pharaoh dĩ
    nhiên phải khác người thường vì người lãnh đạo quốc gia
    cần phải có những khả năng và đức hạnh đặc biết. Tuy
    nhiên không phải con cái Pharaoh nào cũng có khả năng học
    hỏi và không phải giáo sĩ nào cũng có đức độ và khả năng
    truyền dạy hữu hiệu.
    Theo thời gian đã có những sự dạy dỗ sai lạc của các
    giáo sĩ nhiều tham vọng nên đã có những Pharaoh thiếu
    hiểu biết. Khi những người này lên địa vị chỉ huy lãnh đạo
    thì họ đã để cho tham vọng cá nhân chi phối, tạo những lỗi
    lầm lớn lao trong lịch sử, hậu quả là văn hóa Ai Cập trở nên
    suy đồi. Khi người chỉ huy tham lam, không có đức độ thì
    làm sao trách người dưới quyền ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền
    lợi riêng mà quên bổn phận chung.
    Theo thời gian, xã hội càng ngày càng suy thoái, con
    người càng ngày trở nên hư hỏng, chỉ biết tham lam, bóc lột
    lẫn nhau. Kẻ mạnh hà kiếp kẻ yếu, kẻ khôn áp chế kẻ dại.
    Việc chém giết, hận thù, bạo động đã trở nên một lối sống
    bình thường. Từ đó trào lưu cổ xúy chiến tranh ngụy trang
    dưới hình thức mở mang bờ cõi đã đưa Ai Cập vào một vũng
    lầy. Tinh thần bè phái, bộ lạc đã tạo ra hận thù giữa người
    dân các nước và chiến tranh chỉ là hậu quả tất nhiên.
    Đối với các Pharaoh, chiến tranh là một hình thức gia
    tăng quyền lợi cũng như quyền lực qua các chiến lợi phẩm,
    các nô lệ, các tài nguyên. Đối với các quan lại, chiến tranh
    giúp cho họ trở nên giàu có, sung sướng qua việc bóc lột
    những kẻ bại trận để chất đầy hầu bao. Đối với giới giáo sĩ,
    chiến tranh giúp họ nhiều tài nguyên để xây cất đền đài, thờ
    cúng chư thần và thêm nô lệ phục dịch. Chỉ có dân chúng
    thiệt thòi vì nai lưng ra phục vụ chiến tranh và bỏ bê việc
    trồng trọt, chăn nuôi. Nếu thắng, họ chẳng được thêm
    quyền lợi gì. Nếu thua, họ sẽ trở thành nô lệ hay nạn nhân
    chiến cuộc. Tình trạng này kéo dài cho đến khi Pharaoh
    Akhenaten lên ngôi.
    Từ nhỏ, Akhenaten đã là một đứa bé ham học hỏi và
    thường đến những đạo viện, trung tâm giáo dục để nghiên
    cứu thêm. Là người thông minh, ông đã quán triệt được
    những điều mà những bậc trưởng lão cả đời nghiên cứu
    cũng không biết. Ông đã tìm về mạch nguồn của nền tôn
    giáo cổ và đi khắp nơi tìm kiếm, học hỏi với các bậc đạo
    trưởng, những người có trách nhiệm gìn giữ nền minh triết
    cổ truyền. Akhenaten đã đến thụ giáo môn chiêm tinh với ta
    nhưng ông đã tự tìm ra những ẩn số, những bí mật trong vũ
    trụ mà chính ta đây cũng không hiểu. Tuy nhiên ta biết rõ
    những hoài bão của ông là mang những điều này ra truyền
    bá rộng rãi cho quần chúng để khôi phục nền minh triết cổ
    truyền.
    Theo lời ông nói với ta, Akhenaten đã chọn ngươi làm kẻ
    phụ tá để thực hiện lý tưởng đó. Do đó hôm xưa ông đã
    truyền lệnh cho ngươi đến đây học hỏi nhưng vì lý do nào
    đó, ngươi đã vắng mặt nhiều năm nay, để mất đi cơ hội
    hiếm có này. Lần này thay vì ân xá cho ngươi, Akhenaten đã
    khôn khéo bắt ngươi phải đến đây học hỏi, nghiên cứu…"
    Tôi cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Thì ra Akhenaten đã có chủ
    trương từ trước. Vị quan Thiên Giám trầm ngâm một lúc rồi
    nói:
    - "Này Sinuhe, thời gian không nhiều đâu nên ta sẽ bắt
    đầu việc dạy dỗ cho ngươi và ngươi phải chăm chỉ học hỏi.
    Hẳn người cũng biết, từ ngàn xưa nền văn minh Ai Cập vẫn
    được xây dựng trên căn bản của khoa Chiêm tinh. Đối tượng
    của khoa này là vũ trụ hay môi trường hoạt động của muôn
    loài chúng sinh. Biết được các định luật của vũ trụ là biết
    được các yếu tố chi phối sự sinh hoạt của muôn loài. Từ đó
    người ta có thể suy luận ra sự tương quan giữa các sinh vật
    để hành động theo đúng các luật vận hành của vũ trụ.
    Chiêm tinh học là một khoa học rất tinh vi, đã được
    nghiên cứu và bổ túc bởi các bậc đạo trưởng cả ngàn năm
    nay. Qui tắc của nó như sau: Vũ trụ không phải là nơi mà
    các thiên lực biến chuyển một cách ngẫu nhiên mà mọi sự
    kiện xảy ra đều chịu sự chi phối của một định luật chung.
    Định luật này chỉ là sự biểu hiện của một sức mạnh thiêng
    liêng, mà tất cả sinh vật đều là một phần tử của cái sức
    mạnh thiêng liêng đó.
    Con người chính là một tiểu vũ trụ so với cái đại vũ trụ
    bao la kia nên biết được vũ trụ chính là biết được mình. Biết
    được sự thiêng liêng mầu nhiệm của vũ trụ chính là ý thức
    được sự thiêng liêng cao quí nơi mình. Do đó việc đầu tiên
    của một người là học hỏi cái môi trường mình sinh sống để
    ý thức rõ rệt về mình và ý thức tính chất thiêng liêng nơi
    mình. Để cho cái tính chất thiêng liêng này nẩy nở, phát
    sinh trọn vẹn, mọi sinh vật phải biến hóa qua các kiếp sống,
    để kinh nghiệm tất cả, để thu tập mọi thứ, xuyên qua
    không gian và thời gian."
    ° ° °
    Từ đó tôi bắt đầu học hỏi về khoa Chiêm Tinh, nhờ thế
    tôi biết rằng đây là một khoa học rất phong phú, bao gồm
    căn bản của các bộ môn khoa học trên, nhất là Toán học và
    Hình học, vì nó là cái chìa khóa để mở cửa vào những kiến
    thức được ẩn giấu qua những ký hiệu, những biểu tượng
    huyền bí.
    Nhờ nghiên cứu khoa Chiêm Tinh, tôi được biết trái đất
    chúng ta đang cư ngụ chỉ là một hành tinh trong hệ thống
    bảy hành tinh quay chung quanh mặt trời gọi là Thái Dương
    Hệ. Trong vũ trụ có vô số những Thái Dương Hệ tương tự
    như thế. Tất cả đều được sắp đặt theo những định luật thiên
    nhiên biến ảo và huyền diệu vô cùng.
    Theo khoa Chiêm Tinh Ai Cập thì Thái Dương Hệ được
    cấu tạo bằng bảy chất khí căn bản, mỗi chất khí lại tạo
    thành một cõi giới riêng biệt. Vì thân thể con người là một
    tiểu vũ trụ nên nó cũng được cấu tạo bởi bảy chất khí này,
    nhưng phần lớn đều là những chất khí cấu tạo nên ba cõi
    giới thấp là Hạ giới, Trung giới và Thượng giới nên con người
    dễ cảm ứng với ba cõi này nhiều hơn.
    Mặc dù những chất khí cấu tạo các cõi đều bao trùm một
    khoảng không gian chung nhưng vì chúng có sự rung động
    khác nhau nên mỗi cõi giới đều có chiều đo (dimesion) riêng
    biệt. Từ ngàn xưa, các đạo trưởng Ai Cập đã di chuyển từ
    cõi này qua cõi khác nhờ biết nghệ thuật làm thay đổi sự
    rung động các chất khí tạo nên các thể của họ. Đây là một
    quan niệm rất khó giải thích, nên các danh sư Ai Cập đã
    phải sử dụng hình vẽ, biểu tượng ví con người như một cây
    đàn có bảy dây, mỗi dây có một rung động riêng, tương ứng
    với một cõi giới. Khi người ta biết tập trung tâm thức, để nó
    rung động theo một dây đàn nhất định thì họ có thể chuyển
    tâm thức đi vào cõi giới mà họ muốn đến.
    Việc di chuyển đến các cõi giới không phải là đối tượng
    của khoa Chiêm Tinh nên các tài liệu này chỉ nói phớt qua
    một cách sơ lược, nhưng vì đã được học hỏi nguyên lý này
    từ trường Khoa Học Của Sự Chết nên tôi có thể hiểu quan
    niệm này một cách rõ ràng hơn. Cho đến lúc đó tôi mới hiểu
    được lời nhắn nhủ của đạo trưởng Ombo: "Nền minh triết
    của Thánh sư Thoth đã bị phân chia ra làm nhiều phần nhỏ,
    mỗi phần được giao cho một đạo viện, một môn phái, hay
    một nhóm người gìn giữ nên ít ai quán triệt được nó một
    cách toàn vẹn. Ta hy vọng ngươi có thể đi khắp nơi học hỏi
    những kiến thức này rồi tổng hợp chúng lại và phục hồi nền
    minh triết cổ xưa. Chỉ có thế, Ai Cập mới tìm lại được nền
    văn minh huy hoàng thuở trước".
    ° ° °
    Hôm đó tôi đang học hỏi với quan Thiên Giám thì một
    người khoác áo choàng màu trắng ở ngoài bước vào:
    Pharaoh Akhenaten. Chúng tôi giật mình toan đứng dậy thì
    Akhenaten đã xua tay:
    - Này quan Thiên Giám, hôm trước ta quan sát bầu trời
    thấy có một hiện tượng rất lạ nên muốn bàn riêng với
    ngươi. Ngoài ra ta muốn biết việc học hỏi của Sinuhe đã
    tiến bộ như thế nào.
    Quan Thiên Giám cung kính:
    - Pharaoh quan sát rất chính xác, hạ thần cũng đang
    muốn bàn với ngài về hiện tượng này.
    Akhenaten quay sang tôi:
    - Quan Thiên Giám cho ta biết rằng ngươi đã tiến bộ rất
    nhiều. Ta rất vui lòng. Chắc hẳn ngươi cũng biết ta truyền
    cho ngươi phải đi khắp các đạo viện, học hỏi, nghiên cứu
    cũng vì có mục đích riêng.
    - Thưa Pharaoh. Kẻ này hết sức cảm ơn ngài đã khoan
    hồng…
    Akhenaten thân mật ngồi xuống bên tôi, thong thả nói:
    - "Này Sinuhe, khi trước ta đã bàn với ngươi về việc xây
    dựng một nền tảng giáo dục mới, một sự giáo dục thực sự
    chứ không phải chỉ nhồi nhét vài quan niệm trừu tượng hay
    kiến thức chuyên môn. Nền tảng giáo dục mới này là sự dạy
    dỗ cho con người trở nên những cá nhân biết rõ về mình, về
    môi trường hoàn cảnh chung quanh, ý thức sự tương quan
    giữa mình và môi trường ấy.
    Mục đích của nền giáo dục mới này là nuôi dưỡng, vun
    trồng những mầm mống cao thượng sẵn có, tiềm ẩn bên
    trong mỗi cá nhân, để nó được phát triển một cách tự nhiên
    hài hòa với các định luật trong thiên nhiên. Theo ta nhận
    xét, phần lớn con người trải qua bao năm chinh chiến đã hư
    hỏng, đã đắm nhiễm các thói hư tật xấu, chịu ảnh hưởng
    của một nền giáo dục đầy thù hận, ích kỷ nên rất khó thay
    đổi. Muốn đổi thay, chúng ta cần nhắm vào đối tượng mới là
    những trẻ ngây thơ, dễ uốn nắn, để giúp chúng thức tỉnh và
    phát triển những tiềm năng cao thượng sẵn có. Do đó ta có
    ý muốn giao cho ngươi trách nhiệm giáo dục những đứa trẻ
    thuộc thế hệ sau này.
    Bổn phận của ngươi là khuyến khích sự phát triển tự
    nhiên của những trẻ còn hồn nhiên vô tư để chúng trở nên
    những người có lòng tốt, có lòng vị tha, biết hướng thượng.
    Ta biết hoàn cảnh chung quanh cũng ảnh hưởng đến sự
    phát triển của con trẻ nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là
    những người sống gần nó như cha mẹ hay vị thầy dạy dỗ
    nó. Những người này sẽ giúp cho đứa trẻ biết sống một
    cách ý thức, khôn ngoan trong mọi hoàn cảnh, và có thể
    sửa đổi ý nghĩa của hoàn cảnh đó nữa.
    Dù cho đứa trẻ gặp hoàn cảnh bất hạnh, đau khổ nhưng
    nếu nó đã được giáo dục vững vàng thì những khổ đau này
    có thể giúp nó học thêm tính kiên nhẫn, chịu đựng và phát
    triển lòng thương đối với những người cùng hoàn cảnh. Dù
    cho nó gặp môi trường sung sướng, tốt đẹp thì nó cũng
    không trở thành một người ích kỷ, tự đắc hay dễ dãi với bản
    thân mình được. Tóm lại, một sự giáo dục chân chính sẽ
    giúp cho con người phát triển hoàn toàn trong mọi hoàn
    cảnh.
    Này Sinuhe, đây là một công việc hết sức quan trọng.
    Nó đòi hỏi người thầy phải có một kiến thức rộng, một tâm
    hồn mẫn cảm, và một lòng thương rộng lớn để có thể giúp
    học trò phát triển một cách hữu hiệu. Tìm được một người
    thầy như thế thật không dễ chút nào nên ta đã lợi dụng
    hoàn cảnh khó khăn của ngươi, quan sát xem ngươi giải
    quyết mọi việc như thế nào, chịu đựng các thử thách ra sao,
    trước khi quyết định giao cho ngươi trọng trách này."
    Akhenaten im lặng một lúc rồi tiếp:
    - "Này Sinuhe, từ ngàn xưa việc giáo dục vẫn được giao
    phó cho các giáo sĩ, những người đã hiến mình cho lý tưởng
    cao đẹp. Tuy nhiên theo thời gian, các giáo sĩ đã không
    hoàn tất nhiệm vụ này. Đa số đều mắc vào những sai lầm
    căn bản, không còn ý thức về cái lý tưởng cao đẹp ban đầu
    nữa. Phần lớn các giáo sĩ đã tổ chức thành những phe nhóm
    hay môn phái, sống bám vào những giáo lý khô khan, cằn
    cỗi như một phương tiện sinh nhai. Vì thiếu kinh nghiệm
    tâm linh, họ đã để cho tham vọng cá nhân chi phối và rồi đi
    xa hẳn mục đích cao đẹp lúc đầu.
    Này Sinuhe, một vị thầy theo đúng nghĩa không phải là
    người có nhiều kiến thức hay ăn nói lưu loát mà phải là
    người bạn đồng hành của đứa trẻ, dìu dắt nó như một người
    ngang hàng chứ không dựa vào một uy quyền nào đó để áp
    chế nó. Một vị thầy giỏi phải biết đặt mình vào địa vị của
    đứa trẻ, phát triển cùng đứa trẻ, hiểu biết đứa trẻ, đi sâu
    vào những vấn đề khó khăn của nó, nhìn ngắm mọi việc
    xuyên qua con mắt của đứa trẻ, và hoàn toàn hiến mình
    cho sự giáo dục đứa trẻ ấy. Nếu một vị thầy không tiếp xúc
    mật thiết với đứa trẻ như thế, thì mọi sự dạy bảo chỉ là
    những gì hời hợt bên ngoài, một sự lặp đi lặp lại những kiến
    thức chết, rồi để mặc cho đứa trẻ loay hoay với những khó
    khăn, sợ hãi và từ đó nẩy sinh tư tưởng thù hận, tạo những
    hố sâu ngăn cách con người.
    Ta thấy tôn giáo Ai Cập suy đồi vì các giáo sĩ chỉ thích
    đứng ở vị thế đầy uy quyền, đòi hỏi sự kính trọng của học
    trò. Họ không biết rằng sự kính trọng chân thành xuất phát
    từ nội tâm chứ không phải sự lặp đi lặp lại những nghi thức
    hay tuân theo một kỷ luật nhất định. Đó chỉ là những lễ
    nghi bên ngoài, một sự dối trá hay đóng kịch xuất phát từ
    sự sợ hãi mà thôi. Con người không ai thích những cái làm
    họ sợ hãi nên sự giáo dục xây dựng trên căn bản những
    quyền uy, những giáo lệnh, những đe dọa… không bao giờ
    là sự giáo dục chân chính được."
    Câu nói vô tình của Akhenaten làm tôi nhớ đến hoàn
    cảnh giáo dục tại Trung Tâm Y khoa Abydos khi xưa. Lúc đó
    tôi đã bị đối xử tàn tệ bởi những lớp học trò đàn anh và suýt
    bị đuổi ra khỏi trường nếu không có sự can thiệp kịp thời
    của Horemheb. Cho đến lúc đó tôi mới hiểu mặc dù nền y
    khoa Ai Cập đã tiến bộ với biết bao y sĩ tài giỏi nhưng đa số
    dân chúng vẫn bệnh hoạn, đau ốm lầm than vì hầu hết y sĩ
    chỉ lo kiếm sống bằng việc bóc lột bệnh nhân, chữa trị cho
    những người có thể trả tiền mà thôi.
    Một nền giáo dục dựa trên sự tranh giành, bóc lột lẫn
    nhau như thế chỉ có thể sản xuất ra những kẻ hành nghề
    bằng sự đổi chác, mua bán. Đến lúc đó tôi mới thấy thán
    phục lý tưởng phụng sự người nghèo của cha tôi và tiếc
    rằng vì thiếu ý thức mà tôi đã rời xa hẳn con đường cha tôi
    chỉ dạy. Tôi nghĩ đến gia sản khổng lồ xây dựng trong thời
    gian hành nghề tại Palestine, những mánh khóe hốt bạc,
    những việc đổi chác, mua bán với bệnh nhân mà không khỏi
    hối hận về việc làm của mình.
    Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi nên Akhenaten nói tiếp:
    - "Giáo dục là một phần rất quan trọng trong sự phát
    triển đời sống. Con người nhìn cuộc đời ra sao tùy thuộc rất
    nhiều ở sự giáo dục của người đó. Một vị thầy giỏi phải biết
    làm sao để phát triển những đức tính cao thượng, tốt đẹp
    nhất của học trò, không bao giờ khêu gợi, kích thích những
    nhược điểm hay tật xấu sẵn có của đứa trẻ. Bất cứ ai cũng
    đều có sẵn những tính tốt và xấu, ích kỷ cũng như vị tha.
    Chỉ cần được khuyến khích là những tính tình này sẽ phát
    triển mau chóng giống như các hạt giống được tưới nước sẽ
    nảy nở, tươi tốt.
    Vì lý do đó, việc khuyến khích các mầm thiện, chỉ dẫn
    những điều tốt, để con người biết hướng thượng là điều
    quan trọng của việc giáo dục. Nếu khi còn nhỏ, đứa trẻ
    được giáo dục kỹ lưỡng về luân lý, đạo đức, được vun trồng
    săn sóc cẩn thận thì sau này khi trưởng thành, tiếp xúc với
    đủ mọi ảnh hưởng tốt xấu, nó có thể đương đầu với điều
    xấu vì đã phân biệt và đủ sức chống lại những cám dỗ.
    Vào thời xa xưa, phần lớn Pharaoh đều là những tu sĩ
    được dạy dỗ cẩn thận và phát nguyện sống theo những lý
    tưởng phụng sự cao đẹp. Khi già yếu, họ thường chọn
    những người tài giỏi trong nước thay họ làm Pharaoh để tiếp
    tục truyền thống phụng sự tốt đẹp này.
    Theo thời gian, một số Pharaoh thiếu giáo dục đã đặt ra
    tục lệ thừa kế thiêng liêng để giành địa vị cho con cháu, cho
    người trong dòng họ nên từ đó nền giáo dục cũng thay đổi
    đi rất nhiều. Thay vì được hướng dẫn dạy dỗ về những điều
    cao thượng tốt lành để trở nên những con người chân thật
    thì các Pharaoh được giáo dục biệt lập trong nhung lụa,
    hưởng thụ những tiện nghi vật chất.
    Chính lối dạy dỗ thoải mái, sung túc đó đã khiến họ trở
    nên thụ động. không thể tự mình giải quyết những vấn đề
    nan giải được nữa. Do đó họ dựa vào sự giúp đỡ của các
    quan lại để tuyển lựa người từ những đạo viện. Việc lựa
    chọn này đã vô tình khuyến khích sự tranh đua, giành giật
    hơn kém. Vì căn bản giáo dục suy đồi như thế nên hầu hết
    quan lại đều có tham vọng riêng và hậu quả là việc cai trị
    được đặt trên tinh thần bộ lạc, phe nhóm, môn phái khiến
    tình trạng tranh cướp, chém giết lẫn nhau đã xảy ra.
    Tranh giành nhau chưa đủ, họ quay qua chiếm đoạt tài
    sản của nước khác, gây chiến tranh khắp nơi. Cuộc chiến đã
    dẫn dắt con người vào những hố thẳm, phá hủy con người
    tận gốc rễ, làm mất đi những hạt giống thiện, những căn
    bản đạo đức. Phần lớn những người thành công nhờ chiến
    tranh chỉ biết đến chém giết, tranh cướp, giành giật như lối
    sống duy nhất. Nếu một quốc gia mà đa số nhân sự không
    còn biết phải trái, tốt xấu vì các mầm mống cao thượng đã
    bị thui chột thì làm sao có thể phát triển và tiến bộ cho
    được? Nếu cha mẹ là những người chỉ biết đến hận thù,
    tranh đấu thì làm sao con trẻ có thể học được lòng tha thứ,
    thương yêu?
    Này Sinuhe, giáo dục không phải là một bức rào ngăn
    cách con người nhưng là một cây cầu nối liền con người với
    nhau. Nếu một cái cây còn non phải được che chở uốn nắn
    để sau này có thể chịu đựng được những đổi thay về thời
    tiết, những cơn mưa gió phũ phàng thì con người cũng thế.
    Một đứa trẻ phải được giáo dục cẩn thận từ nhỏ để nó có đủ
    sức đương đầu với những thử thách của cuộc đời. Thiếu giáo
    dục thì đứa trẻ sẽ thua trước khi lâm trận, và thiếu hiểu biết
    thì nó sẽ bị lôi kéo vào những sa ngã vì những ảnh hưởng
    xấu xa mà nó không biết phân biệt.
    Này Sinuhe, giáo dục là điều quan trọng nhất trong việc
    đổi thay, phục hồi những đức tính cao thượng, tốt lành vẫn
    ẩn tàng trong tất cả mọi con người. Giáo dục là một tiến
    trình tổng quát và linh động chứ không thể gò bó trong
    những qui luật cứng ngắc hay các giáo điều vì nó là một
    nghệ thuật cần được phát triển từng ngày, từng giờ, từng
    phút. Vì giáo dục là một nghệ thuật nên những nhà giáo dục
    không những phải là người có kiến thức mà còn phải là
    những nghệ sĩ, những người có tâm hồn rộng mở với thiên
    nhiên, biết rung động theo nhịp điệu của thời tiết, vui buồn
    với thế thái nhân sinh.
    Họ phải là những con người hoàn toàn tự do trong việc
    nuôi dưỡng huấn luyện những tâm hồn còn non dại, ngây
    thơ này. Một vị thầy phải biết thích nghi với sự nảy nở của
    đứa trẻ, phải tiếp xúc với những giai đoạn phát triển của
    đứa trẻ để dạy bảo và dìu dắt đúng với khả năng tiếp nhận
    của nó.
    Này Sinuhe, ta đã cho xây cất tại Tel El Amarna những
    vườn cây, những con suối, những hồ nước để sau này nó trở
    nên một trung tâm giáo dục quan trọng của toàn vùng.
    Không gì hữu ích cho con người bằng những ảnh hưởng của
    thiên nhiên và không đứa trẻ nào lại không thích thú những
    gì sống động như cây cỏ, hoa lá, chim chóc, thú vật. Theo
    chương trình đã vạch sẵn, ta sẽ đưa tất cả con trẻ về đây để
    thụ hưởng một nền giáo dục toàn vẹn, không phân biệt đứa
    trẻ đó phát xuất từ đâu hay gia cảnh như thế nào.
    Ngày xưa, việc giáo dục chỉ dành riêng cho các gia đình
    quí tộc, nhưng ta không chấp nhận một sự phân biệt như
    thế. Đối với ta, bất cứ đứa trẻ nào cũng đều phải được đối
    xử công bình như nhau, và ta sẽ giao phó cho ngươi trọng
    trách chỉ huy trung tâm giáo dục này."
    Akhenaten ngưng nói, suy nghĩ một lúc lâu trước khi tiếp
    tục:
    - "Này Sinuhe, hẳn ngươi đã thấy rõ tầm quan trọng của
    nền giáo dục mà ta đang dự định cho thi hành. Nếu khi xưa
    các Pharaoh được giáo dục cẩn thận thì dưới sự lãnh đạo
    của ta, những người dạy dỗ con trẻ cũng phải được giáo dục
    cẩn thận như vậy và chỉ những người có đức hạnh nhất mới
    được tuyển chọn làm thầy giáo mà thôi. Ta không muốn các
    giáo sĩ đảm nhận việc giáo dục nữa vì đa số đều không hiểu
    giáo dục là gì. Dưới sự huấn luyện của họ, nền giáo dục đã
    biến thành một phương pháp để họ đạt được mục đích riêng
    chứ không hướng dẫn con người đạt đến những mục tiêu
    cao đẹp của đời sống.
    Thứ tôn giáo thờ thần linh xây dựng trên nền tảng của
    sự sợ hãi đã khiến con người trở nên thụ động, lười biếng,
    trơ trơ như gỗ đá, không còn cảm xúc được nữa. Thứ giáo
    dục xây dựng trên nền tảng của sự áp chế này sẽ khiến đầu
    óc con người trở thành những khối tư tưởng được nhồi nhét
    trong một cái khuôn cứng ngắc, được sắp xếp trong những
    giáo điều riêng biệt, làm mất tự do cũng như nhân phẩm
    của con người khiến họ không thể thay đổi hay tiến hóa
    được nữa.
    Này Sinuhe, mục đích của đời sống là làm sao để cho tất
    cả mọi sự phải trở nên linh động, phong phú, dồi dào, kể cả
    các sự kiện tầm thường nhất. Phải làm sao để cho tiềm lực
    con người được khai phóng, mở mang khiến đời sống có
    thêm ý nghĩa. Phải làm sao cho khả năng sáng tạo của con
    người có thể tuôn chảy mạnh mẽ khắp nơi. Bất cứ người
    nào cũng phải được hướng dẫn để cho trí thông minh được
    nảy nở toàn vẹn hầu sử dụng vào những mục đích vị tha,
    hướng thượng. Giáo dục là khai mở trái tim cũng như khối
    óc, tạo ra những đường hướng huy hoàng, vô tận để con
    người có thể xây dựng một nền văn minh tỏa rộng khắp nơi.
    Khi xưa thánh sư Thoth đã dạy: "Linh hồn con người vốn
    vất tử thì tương lai con người phải là những gì huy hoàng,
    mỹ lệ vô bờ bến". Nếu con người biết sống với đúng ý nghĩa
    của một con người thì tương lại nhân loại ắt phải huy hoàng
    chứ không thể nào khác đi được. Do đó nền giáo dục thực
    sự phải là một sự rèn luyện thân cũng như tâm để con
    người có thể tự do sống theo nhịp điệu điều hòa của những
    tiết điệu ẩn tàng trong họ, khiến đời sống trở thành một bản
    nhạc tuyệt diệu vang lừng khắp nơi."
    Akhenaten ngưng nói, cặp mắt ông trở nên mơ màng
    như đang đắm chìm trong một hình ảnh tuyệt vời nào đó.
    Một lúc sau ông quay sang quan Thiên Giám, thong thả hỏi:
    - Này quan Thiên Giám, có lẽ ông đã quan sát kỹ về hiện
    tượng kỳ lạ kia, vậy ông hãy cho ta biết dự đoán của ông
    như thế nào?
    Quan Thiên Giám trầm ngâm một lúc rồi nói:
    - Kính thưa Pharaoh, theo sự suy đoán của kẻ này thì đó
    là một điềm xấu và nó sẽ ứng vào ngài nên kẻ này khuyên
    ngài hãy thận trọng. Theo sự tính toán của kẻ này thì tháng
    tới sẽ có nhật thực, ngôi Thái Dương sẽ bị che lấp một thời
    gian, các bầu tinh tú ở vị trí đối cực sẽ có dịp phát động rất
    mạnh rồi từ đó sẽ có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ…
    Akhenaten gật đầu cắt ngang câu nói của quan Thiên
    Giám:
    - Ta cũng biết trước hiện tượng nhật thực này, nhưng đó
    chỉ là những sự kiện thông thường của thời tiết, chẳng có gì
    đáng quan tâm. Dù sao ta cũng tin rằng việc thay đổi của
    các tinh tú chỉ phản ảnh những thay đổi của đời sống con
    người mà thôi. Nếu các tinh tú có thể chi phối con người thì
    hiển nhiên con người cũng có thể ảnh hưởng lên các tinh
    tú…
    - Nhưng khi các tinh tú đối cực với ngôi Thái Dương nằm
    ở một vị trí nhất định nào đó thì chúng sẽ có các tác dụng
    hỗ tương rất mạnh, và khi ngôi Thái Dương bị che lấp, dù
    trong một khoảng thời gian không lâu, nó sẽ tạo cơ hội cho
    các ảnh hưởng kia phát động mạnh hơn. Kẻ này e ngại rằng
    thời gian cấp bách…
    Quan Thiên Giám rụt rè chỉ lên tấm họa đồ tinh tú treo
    trên vách mà ông đã phân biệt các chùm sao, sự liên hệ
    giữa các tinh tú, các chi tiết mà ông tính toán đo lường để
    đưa ra những điều mà ông dự đoán. Pharaoh Akhenaten
    chăm chú theo dõi bản đồ rồi lẩm nhẩm tính toán một lúc
    trước khi lên tiếng:
    - Này quan Thiên Giám, có lẽ ông tính đúng đấy…
    Akhenaten chưa dứt lời thì có tiếng chân người bước vội
    lên cầu thang và Horemheb xuất hiện:
    - Kính thưa Pharaoh, hạ thần vừa nhận được tin cấp
    báo…
    Horemheb bước đến nói nhỏ vào tai Akhenaten. Pharaoh
    nhíu mày lắc đầu:
    - Có chuyện như thế sao?
    - Kính thưa Pharaoh, tể tướng Smenkere đã điều tra kỹ
    lưỡng và thông báo cho kẻ này…
    Akhenaten thở dài:
    - Chuyện đã thế, ta phải giải quyết cấp tốc, nếu không
    sẽ có những hậu qua tai hại không thể lường trước được!
    Quan Thiên Giám chỉ tay lên tấm bản đồ, trên đó ghi
    nhận một ngôi sao vừa tắt với những dòng chữ tiên đoán
    điều vừa xảy ra:
    - Nếu kẻ này đoán không lầm thì việc này xảy ra vào
    trưa hôm qua…
    Trong lúc Akhenaten chăm chú theo dõi những chi tiết
    ghi trên tấm bản đồ thì Horemheb quay qua bên tôi nói
    nhỏ:
    - Giáo sĩ trưởng phái Amun vừa bị ám sát. Một số quan
    triều ủng hộ phe nhóm Amun cũng bị giết… Hiện nay người
    ta đồn rằng chính Pharaoh đã cho thanh toán các phần tử
    đối lập. Điều này gây rối loạn khắp nơi và phe giáo sĩ đang
    triệu tập những phiên họp khẩn cấp để bàn kế hoạch… Ta
    vừa cho tăng cường quân sĩ đề phòng một cuộc phản loạn.
    Ngay lúc đó Akhenaten quay ra nói với Horemheb:
    - Ta phải trở về Memphis ngay, ngươi hãy cho gọi
    Smenkere đến gặp ta. Chuyện này phải giải quyết cấp tốc
    chứ không thể để lâu được.
    Quan Thiên Giám vội vã lên tiếng:
    - Xin Pharaoh hãy bảo trọng, sự việc sắp xảy ra lành ít
    dữ nhiều…
    Akhenaten thản nhiên gật đầu:
    - Ngươi hãy yên chí, ta biết giữ mình.
    Sau khi Akhenaten và Horemheb đi khỏi, vị quan Thiên
    Giám già ngồi trầm ngâm, suy nghĩ một lúc rất lâu rồi lên
    tiếng:
    - "Dù Pharaoh có đề phòng cẩn thận nhưng ta vẫn thấy
    có điều chi không ổn. Ta thường quan sát sự thay đổi biến
    chuyển của các bầu tinh tú rất kỹ và bàn với Pharaoh. Mọi
    lần chúng ta thường đi đến một kết luận chung, nhưng lần
    này ta thấy Pharaoh có vẻ chủ quan hơi nhiều.
    Này Sinuhe, từ ngàn xưa, nhờ nghiên cứu về khoa
    Chiêm Tinh, người Ai Cập đã biết ba động lực quan trọng
    phát xuất từ ba hành tinh thuộc chùm sao Thần Nông
    (Orion) có ảnh hưởng rất lớn đến những thay đổi trên mặt
    địa cầu. Vào những ngày giờ nhất định, ba bầu tinh tú này
    thường rọi xuống địa cầu những luồng thần lực rất mạnh,
    do đó các bậc trưởng lão Ai Cập đã cho xây cất ba Kim Tự
    Tháp nằm ở ba vị trí tương ứng với ba bầu tinh tú kia, để
    chiêu cảm các động lực thiêng liêng đó.
    Từ ngàn xưa, người Ai Cập đã thực hành các buổi lễ
    điểm đạo huyền bí cho những bậc đạo trưởng trong những
    Kim Tự Tháp này. Đến thời Pharaoh Narmer, người đã thống
    nhất Ai Cập và thành lập một chính quyền trung ương, thì
    ông đã dựa theo qui tắc của ba nguồn thần lực kia mà tổ
    chức một guồng máy điều hành quốc gia gồm ba động lực
    chính: Pharaoh, vị lãnh đạo tối cao của dân Ai Cập; các giáo
    sĩ, lo việc tinh thần và thờ phụng thần linh; các võ quan, chỉ
    huy lực lượng quân sự có bổn phận gìn giữ an ninh, luật
    pháp trong nước.
    Sự liên hệ và hỗ tương của ba động lực này sẽ giúp đỡ
    cho việc phát triển nền văn minh Ai Cập. Trải qua hàng
    ngàn năm nay, việc tổ chức quốc gia theo qui tắc này vẫn
    không thay đổi nhưng hiện nay ta thấy giữa Pharaoh và giới
    giáo sĩ đã có những rạn nứt, càng ngày càng trở nên căng
    thẳng, trầm trọng. Ta lo rằng việc này sẽ đưa đến những
    hiềm khích và một biến chuyển lớn sẽ xảy ra."
    - Pharaoh có biết như thế không?
    - Hiển nhiên Akhenaten có chủ trương riêng, do đó lần
    này chúng ta không đồng ý với nhau. Theo sự nhận xét của
    ta thì Ai Cập đang bước vào một giai đoạn thoái hóa bởi
    những ảnh hưởng hắc ám nên việc phục hồi nền minh triết
    của thời đại hoàng kim là điều không thể xảy ra được.
    - Phải chăng Pharaoh Akhenaten không đồng ý với ông?
    - "Đúng thế. Ông cho rằng đã đến lúc phải thay đổi toàn
    diện để đưa Ai Cập bước bào một thời kỳ mới. Hẳn ngươi
    cũng biết Akhenaten là một con người khác thường. Ông rất
    thông minh và có một cái nhìn bao quát, vượt xa những nhà
    thiên văn như ta. Ông cho rằng những kẻ như ta chỉ thấy
    những sự kiện xảy ra trong một giới hạn chứ không thấy rõ
    hoàn toàn tiến trình biến hóa của vạn vật.
    Tuy cùng quan sát thiên văn nhưng sự nhận xét của ông
    về việc di chuyển và ảnh hưởng của các bầu tinh tú lại khác
    hẳn ta. Ông chủ trương phải vượt lên trên những giới hạn
    thông thường để hiểu được cái trật tự thiêng liêng của tạo
    hóa. Đây là điều mà ta không thể hiểu nổi…"
    ° ° °
    Vài hôm sau tôi đang nghiên cứu học hỏi bỗng nhận
    được lệnh gọi phải trở về Memphis ngay vì thái hậu Taiya
    đang lâm bệnh nặng. Lệnh này do một tên nô lệ thân tín
    của công chúa Baketamon cầm đến nên tôi không nghi ngờ
    gì, vội vã lên đường ngay.
    Đến Memphis thì trời đã về khuya. Thay vì đi bằng cửa
    chính, tên nô lệ đưa tôi vào cung qua một đường hầm bí
    mật được quân sĩ canh phòng rất cẩn thận. Căn phòng của
    thái hậu Taiya vắng vẻ, không có cung nữ hầu cận như mọi
    khi mà chỉ có công chúa Baketamon đang đứng chờ mà
    thôi. Thái hậu Taiya ngồi trên chiếc ghế bành quen thuộc,
    một tay bà cầm ly rượu lớn, tay kia đặt lên trên miếng chăn
    đan bằng loại sợi Phalon.
    - Đã lâu lắm ta không gặp ngươi, nghe nói ngươi bị
    trừng phạt phải đi đến các đạo viện học hỏi thì phải…
    Tôi vội bước đến chẩn bệnh nhưng không thấy bà có
    triệu chứng gì bất thường như lời ghi trên tờ giấy mà tên nô
    lệ cầm đến. Thái hậu Taiya bật cười:
    - Ta cần gặp ngươi vì có việc muốn nói riêng với ngươi
    nên ra lệnh như thế đó.
    - Thái hậu nói gì, thần không hiểu?
    - "Ngươi không cần phải hiểu trong lúc này. Hẳn ngươi
    vẫn biết ta xuất thân là con nhà thuyền chài ở làng Phalon.
    Năm xưa Pharaoh Amenophis đi dạo sông, thấy ta đang
    giăng lưới bắt cá nên gọi ta vào hầu. Ta tuy xấu xí chẳng
    thể so sánh với các phi tần cung nữ nhưng vì khỏe mạnh, ta
    làm Pharaoh vui lòng nên được đưa vào cung.
    Chỉ vài hôm ta đã thấy cuộc sống huy hoàng lộng lẫy
    trong cung chỉ là một bãi chiến trường với các nhóm phi
    tần, cung nữ tranh giành ảnh hưởng để được ơn mưa móc
    của Pharaoh. Phần lớn những người này được tuyển chọn từ
    các gia đình quyền quí, những người trong hoàng tộc. Họ
    được nuôi dưỡng, huấn luyện từ nhỏ để trở thành phi tần,
    cung nữ nên ít ai biết gì về các thủ đoạn gian trá ngoài đời.
    Họ chỉ biết ghen tuông, đố kỵ, nói xấu lẫn nhau mà thôi.
    Phần ta là con gái dân giả nghèo hèn, va chạm thực tế
    đã nhiều, kinh nghiệm giang hồ nên chỉ một thời gian ngắn,
    ta đã mua chuộc hầu hết các nô lệ trong cung. Ta bành
    trướng thế lực qua việc giao thiệp với các giáo sĩ, nhất là
    các giáo sĩ thờ Amun và hứa hẹn cho họ rất nhiều quyền lợi.
    Chẳng mấy chốc các phe phái phi tần, cung nữ trong cung
    đều bị ta thu dụng, những kẻ chống đối bị ta bỏ thuốc độc
    cho chết dần mòn, có kẻ bị tà thuật của các giáo sĩ làm cho
    điên loạn. Sau đó các quan trong triều từ nhỏ đến lớn ít
    nhiều đều bị ta mua chuộc.
    Trong khi Pharaoh lo việc chinh chiến khắp nơi thì trong
    triều đình ta cũng bành trướng thế lực không kém. Năm sau
    ta có thai nhưng lúc đó hoàng hậu Ptelomy cũng đã có thai
    vài tháng trước. Dĩ nhiên là con của một phi tần, con ta
    không thể tranh ngôi vị với con của hoàng hậu được nên ta
    âm mưu tráo đứa con mới sinh của bà bằng xác một con
    mèo chết. Ta muốn giết đứa bé này nhưng trong cung dễ gì
    mà giấu xác một đứa bé nên ta đành mang nó bọc vào
    chiếc chăn mà ta đã tự tay đan lấy, rồi bỏ vào giỏ thả trôi
    trên sông như những đứa trẻ vô thừa nhận khác.
    Này Sinuhe, đó là một ngày trăng tròn cách đây gần ba
    mươi năm… Sở dĩ ta làm thế vì nếu ai bắt gặp thì cũng nghĩ
    rằng nó chỉ là một giọt máu vô thừa nhận của một cô gái
    làng Phalon nào đó mà thôi…"
    Thái hậu Taiya ngừng nói rồi nhìn thẳng vào mặt tôi. Tôi
    bàng hoàng, chân tay rụng rời, mồ hôi toát ra đầy áo, lắp
    bắp:
    - Thái hậu… thái hậu… bà không đùa đấy… chứ…
    - Không, ta không nói đùa đâu. Chiếc chăn lót nôi của
    ngươi được đan bằng sợi Phalon chỉ là một phần của chiếc
    chăn ta vẫn giữ bên mình này. Ta chắc ngươi nhận ra nó…
    - Tôi… tôi… không tin.
    Thái hậu Taiya nghiêm trang:
    - Này Sinuhe, phải chăng ở đùi dưới của ngươi có một
    vết bầm rất sâu?
    - Sao… tại sao bà biết?
    - Ha ha ha, ta phải biết chứ vì chính tay ta đã làm dấu
    vào đó. Này Sinuhe, ngay từ khi gặp ngươi, nghe kể chuyện
    về thân thế mơ hồ của ngươi, ta đã biết ngươi chính là con
    của Hoàng hậu Ptelomy.
    - Nếu thế… mẹ tôi… mẹ tôi hiện nay ra sao?
    - Ha ha ha, như vậy hẳn ngươi đã nhận rằng ngươi chính
    là con của Hoàng hậu Ptelomy chứ gì? Hay lắm! Hay lắm!
    Một hoàng hậu của Ai Cập lại đẻ ra một con mèo đen thì
    còn ra thể thống gì nữa. Các giáo sĩ bèn thưa với Pharaoh
    rằng chắc hẳn hoàng hậu có liên hệ với các loài ma quái nên
    mới đẻ ra một con mèo như thế. Pharaoh bèn ra lệnh thắt
    cổ Ptelomy và đốt xác bà ra tro bụi ngay. Ít lâu sau, ta sinh
    hạ một hoàng nam và được phong là hoàng hậu. Năm sau
    ta còn sinh thêm một công chúa nữa, củng cố địa vị mình
    đến ngày nay. Này Sinuhe, ngươi có biết tại sao ta lại kể
    chuyện này ra cho ngươi biết không?
    - Tại sao?
    - Vì ta muốn ngươi biết rằng trong mình ngươi có mang
    dòng máu thiêng liêng của hoàng gia.
    - Để làm gì?
    Ngay lúc đó có tiếng ồn ào xôn xao bên ngoài. Thái hậu
    Taiya bình tĩnh nói:
    - Này Sinuhe, có những việc mà lúc này ngươi không thể
    hiểu đâu nhưng theo thời gian, ngươi sẽ hiểu.
    Một tên nô lệ bên ngoài bước vào nói nhỏ với thái hậu
    Taiya. Bà bình tĩnh phát tay ra hiệu cho tên nô lệ lui ra rồi
    nói với tôi:
    - Này Sinuhe, ngươi và Baketamon hãy tạm lánh mình
    vào căn phòng nhỏ kia. Bằng mọi giá, ngươi chớ xuất đầu lộ
    diện vì nếu không tính mạng ngươi khó mà bảo toàn.
    Tôi còn đang hoang mang thì công chúa Baketamon đã
    kéo phắt tôi vào căn phòng nhỏ cạnh đó. Tôi đứng trong
    phòng nhưng đầu óc quay cuồng bởi hàng trăm ngàn câu
    hỏi. Tôi đang ôm đầu suy nghĩ thì nghe có tiếng quân sĩ võ
    trang đi lại rầm rập ở ngoài hành lang rồi có tiếng hô lớn:
    - Pharaoh đã đến!
    Có tiếng chân người bước vào phòng rồi tôi nghe
    Akhenaten đằng hắng:
    - Thưa mẹ, con được biết chính mẹ đã ra lệnh giết Ptah,
    giáo sĩ trưởng phái Amun và hơn hai mươi vị quan trong
    triều.
    Thái hậu Taiya thản nhiên trả lời:
    - Đúng thế, những đứa nào muốn làm phản, ta cho giết
    ngay.
    Akhenaten im lặng một lúc rồi nhẹ nhàng:
    - Hiện nay không phải như xưa để một cá nhân có quyền
    sinh sát như thế. Việc này không thể chấp nhận được…
    - Tại sao lại không? Hẳn Pharaoh cũng biết đây không
    phải là lần đầu ta ra lệnh giết người.
    - Nhưng đây sẽ là lần cuối vì từ nay con sẽ ra lệnh cho
    khóa chặt cửa cung điện này lại. Kể từ nay, đây sẽ là nơi bất
    khả xâm phạm, không ai được ra vào nữa. Bây giờ con mới
    hiểu tại sao khi phụ vương vừa qua đời, chú Kira lập tức cho
    người đến giết mẹ và em Baketamon…
    - Khá lắm! Bây giờ Pharaoh mới biết quyền hành Ai Cập
    thực sự nằm trong ai hay sao? Phải đấy, chính ta là người
    nắm quyền chỉ huy Ai Cập trong bao năm nay. Cha của
    ngươi chỉ là một lão già mệt mỏi, bệnh hoạn vì chinh chiến;
    chính ta mới là người thực sự cai trị xứ này… Akhenaten
    phải biết, ta làm thế chỉ vì muốn giữ ngôi vị cho ngươi
    nhưng từ nhỏ ngươi chỉ là một đứa bé mơ mộng, không hợp
    với lòng mong đợi của ta. Baketamon còn xứng đáng hơn
    ngươi…
    Akhenaten im lặng không nói gì nên thái hậu Taiya tiếp
    tục:
    - Ngươi bỏ vào sa mạc rồi mất tích trong bao năm, ta
    tưởng ngươi đã chết nên muốn Baketamon tiếp nối công
    trình xây dựng của ta. Tiếc thay Smenkere lại tìm ra ngươi
    nên tình hình đổi khác. Từ khi lên ngôi Pharaoh, ngươi đã
    thay đổi mọi việc, làm xáo trộn triều chính, đảo lộn trật tự
    vẫn có từ trước đến nay và làm phiền lòng ta không ít. Đã
    thế ngươi còn liên kết với bọn Hitites và Nubia, đặt ra những
    thứ tôn giáo kỳ quái, tôn thờ chiếc đĩa tròn tượng trưng cho
    ngôi Thái Dương. Tại sao ngươi lại làm những việc kỳ quặc
    đó?
    Akhenaten im lặng một lúc rồi thong thả đáp:
    - Vì con đã tiếp xúc được với chân lý và từ đó cuộc đời
    con hoàn toàn đổi khác. Qua công phu tu tập, con biết được
    những chuyện đã xảy ra trong cung, những bí mật đằng sau
    những đẹp đẽ, mỹ lệ của triều đại văn minh, huy hoàng
    này. Con đã ý thức rất rõ những tham vọng điên cuồng của
    những người chỉ huy, lãnh đạo quốc gia, những người đầy
    mưu mô xảo trá nên quyết định đã đến lúc phải thay đổi tận
    gốc rễ.
    - Ngươi quả là một kẻ ngu xuẩn, thật uổng công ta và
    cha ngươi đã xây dựng cho ngươi…
    Akhenaten không trả lời chỉ cho gọi viên quan lo việc ghi
    chép:
    - Đây là lệnh của ta, từ nay cung điện Memphis được
    niêm phong cẩn thận. Không ai được phép ra vào nơi đây
    nữa. Phần ta cũng sẽ không trở lại đây nữa. Từ nay việc
    triều chính sẽ đưa hết về Tel El Armarna.
    Sau khi Akhenaten bước ra khỏi thì công chúa
    Baketamon mới giận dữ lên tiếng:
    - Ngươi đã thấy chưa? Anh ta điên loạn mất rồi! Đã đến
    lúc chúng ta phải hành động gấp.
    - Công chúa muốn gì?
    - Còn gì nữa? Đã đến lúc ta phải tranh ngôi Pharaoh với
    anh ta. Ta đã chuẩn bị sẵn sàng.
    Tôi đang trố mắt kinh ngạc thì thái hậu Taiya đã lên
    tiếng:
    - Hiển nhiên Baketamon không thể làm Pharaoh được,
    nhưng nếu ngươi và Baketamon làm lễ thành hôn thì ngươi
    sẽ trở thành Pharaoh của Ai Cập. Dù sao ngươi cũng có
    dòng máu hoàng tộc trong người.
    - Cái gì kỳ lạ vậy?... Tại sao lại có thể có chuyện như thế
    được?
    Baketamon tức giận:
    - Hiện nay cờ đã đến tay mà ngươi không muốn phất
    hay sao? Chúng ta đã chuẩn bị từ lâu, vì biết ngươi có dòng
    máu thiêng liêng nên ta mới để ý đến ngươi. Này Sinuhe,
    một công chúa cành vàng lá ngọc như ta đâu thể lấy một kẻ
    tầm thường được.
    Tự nhiên mọi việc trở nên sáng tỏ hơn bao giờ hết. Thì
    ra thế! Việc Horemheb quyến rũ Nefer cũng do lệnh của
    công chúa Baketamon. Nguyên nhân Thái hậu và Công chúa
    để ý đến tôi chỉ vì phát hiện ra tôi chính là người xứng đáng
    thừa kế ngôi vị Pharaoh. Tôi đứng sững ra đó, đầu óc quay
    cuồng không biết phải phản ứng như thế nào.
    Baketamon bật cười:
    - Chúng ta đã tính toán từ lâu rồi nên để tâm theo dõi
    ngươi. Ngươi bỏ đi đâu mấy năm trời làm chúng ta lo muốn
    chết.
    Ngay khi đó, tên nô lệ ở bên ngoài bước vào. Công chúa
    ra lệnh:
    - Ngươi hãy chuẩn bị cẩn thận. Sau khi anh ta chết thì
    ngươi phải ra tay ngay không được chậm trễ. Phải giết
    Smenkere và Horemheb ngay để tránh hậu họa.
    Tôi luống cuống nói không ra hơi:
    - Công chúa… công chúa… dám giết… anh ruột ư?
    - Này Sinuhe, khi xưa ta đã nói với ngươi rằng một
    người lãnh đạo phải có mưu lược và thủ đoạn. Phải dám làm
    những việc không ai dám làm, nếu cần giết người thì phải
    giết người, nếu cần hy sinh tất cả thì phải sẵn sàng hy sinh
    để đạt mục đích. Có như thế mới làm được việc lớn.
    - Nhưng… nhưng công chúa làm thế nào để giết
    Pharaoh?
    Baketamon thản nhiên:
    - Ngươi sẽ làm việc đó cho ta.
    - Cái gì?
    - Anh ta vẫn tin tưởng ở ngươi. Hẳn ngươi cũng biết anh
    ta thường hay lên cơn động kinh vào những ngày trăng
    tròn, chỉ cần ngươi chữa sai đi một chút, gia tăng liều lượng
    thuốc làm sao cũng được. Sau đó thì ngôi vị Pharaoh sẽ về
    tay ngươi…
    Thì ra tất cả đã có kế hoạch từ trước và tôi sẽ là người
    thi hành việc này. Tôi muốn đứng yên nhưng hai đầu gối run
    lên như muốn ngã.
    Thái hậu Taiya nói:
    - Ta biết Pharaoh đang chuẩn bị mở một trung tâm giáo
    dục tại Armarna và ngươi sẽ được giao phó trọng trách
    trông coi trung tâm này.
    - Tại sao việc gì bà cũng biết vậy?
    - Ha ha ha… Từ bao năm nay, có việc gì mà qua được
    mắt ta. Tuy ta chỉ ngồi trong cung mà vẫn nắm vững tình
    hình khắp nơi. Chúng ta có một lực lượng thám tử ở khắp
    mọi nơi nên chuyện gì mà ta chẳng biết.
    Tôi rùng mình toát mồ hôi hột. Thì ra người đàn bà già
    yếu kia mới chính là người nắm quyền Ai Cập trong nhiều
    năm qua. Để duy trì quyền lực này, bà không ngần ngại làm
    tất cả mọi việc, kể cả việc âm mưu giết con mình vì nó
    không đi theo con đường quyền lực mà bà chủ xướng. Khi
    trước tôi vẫn nghe Horemheb nói đến một thế lực đối nghịch
    trong bóng tối nhưng không để ý vì còn bận tâm đến những
    việc khác. Tôi nhớ đến buổi thiết triều của Akhenaten và
    thái độ khó chịu của một số quan lại trước chủ trương cải
    cách của vị hoàng đế trẻ tuổi này.
    Đối với phong tục Ai Cập, Pharaoh là người đã được các
    thần linh lựa chọn để cai trị xứ này. Pharaoh vừa là ngươi,
    vừa là thần, có quyền hành tối thượng và bất khả xâm
    phạm. Việc bất đồng ý kiến với Pharaoh là một trọng tội, có
    thể bị tử hình.
    Đến nay tôi mới rõ sở dĩ một số quan lại dám chống đối
    vì họ có một thế lực khác ngầm ủng hộ và thế lực này
    không ai khác hơn là thái hậu Taiya, mẹ của Pharaoh. Thảo
    nào khi xưa lúc Hoàng đế Amenophis đời thứ ba vừa qua
    đời, hoàng thân Kira đã cho người vào cung ám sát thái hậu
    Taiya và công chúa Baketamon này. Hiển nhiên một người
    có âm mưu soán nghịch phải biết rõ những lực lượng đối lập
    để ra tay thanh toán ngay khi có dịp.
    Tất cả mọi diễn tiến trong quá khứ tuần tự hiện lên
    trong óc tôi, từ cuộc thanh toán đẫm máu sau khi Hoàng đế
    Amenophis qua đời đến việc tìm kiếm cho ra vị thái tử nối
    ngôi đang ẩn tu ngoài sa mạc. Từ việc một Pharaoh trẻ, vừa
    lên ngôi đã thay đổi đường lối cai trị, không sử dụng những
    quan lại cũ mà đưa một người ngoài dòng họ như Smenkere
    lên địa vị tể tướng cho đến việc tuyển chọn một kẻ xa lạ
    như Horemheb vào địa vị chỉ huy Ngự lâm quân. Phải chăng
    Akhenaten đã biết rõ về cái quyền lực đứng sau ngôi vị
    Pharaoh này? Phải chăng ông đã ban hành những biện pháp
    cải tổ triều chính, tôn giáo, xã hội để đưa Ai Cập ra khỏi ảnh
    hưởng ma quái của vũng lầy quyền lực ấy? Tại sao một
    hoàng tử sống trong cung vàng điện ngọc như vậy lại không
    đi theo những vết xe cũ mà cương quyết thay đổi, cải tổ dù
    biết rằng sẽ va chạm mạnh với những sức mạnh quyền lực
    lớn lao trong nội bộ triều chính?
    Tôi miên man suy nghĩ và thấy sợ hãi trước tham vọng
    điên cuồng của những kẻ ham mê quyền lực này. Để đạt địa
    vị, người đàn bà kia đã không ngần ngại làm những việc
    động trời như tráo con của Hoàng hậu Ptelomy để giành
    ngôi vị Pharaoh về cho con mình. Khi đứa con không chịu đi
    theo đường lối, chủ trương hay đáp ứng kỳ vọng của bà thì
    bà ta không ngần ngại âm mưu ám hại nó để đưa quyền lực
    vào tay đứa con khác…
    Thấy tôi có vẻ đăm chiêu suy nghĩ, công chúa
    Baketamon vội lên tiếng:
    - Chúng ta đã suy tính rồi, việc trông coi trung tâm giáo
    dục này là một cơ hội rất tốt vì ngươi sẽ có nhiều dịp tiếp
    xúc với anh ta. Khi thuận tiện, ngươi cứ việc ra tay. Sau đó
    ngươi có thể thành hôn với ta và đương nhiên trở thành
    Pharaoh.
    Thấy tôi không tỏ thái độ gì. Thái hậu Taiya nhìn tôi dò
    xét rồi nhẹ nhàng nói:
    - Này Sinuhe, địa vị Pharaoh này vốn thuộc về ngươi, ta
    chỉ giúp ngươi đoạt lại nó thôi. Ngươi có muốn làm Pharaoh
    không?
    - Tôi… tôi không biết.
    Thái hậu Taiya bật cười nói với Baketamon:
    - Thằng y sĩ này thành thật, dễ sai bảo. Mày cứ để cho
    nó làm Pharaoh rồi đứng sau lưng mà ra lệnh cho hắn… ha
    ha ha…
    Đang cười, bất chợt bà sa sầm mặt xuống rồi nghiến
    răng:
    - Sinuhe, hôm nay chúng ta đã nói rõ mọi việc với ngươi,
    vậy ngươi hãy quyết định ngay, hoặc ngươi theo chúng ta
    hoặc…
    Bà ngừng nói như để tôi suy nghĩ rồi gằn giọng:
    - Này, ngươi nên biết rằng người của chúng ta hoạt động
    và có mặt khắp nơi. Nếu phản phúc, ngươi sẽ không toàn
    tính mạng đâu.
    Công chúa Baketamon cười nhạt, thêm vào:
    - Không những thế, những người liên hệ với ngươi như
    con bé bán rượu ở Thebes cũng chẳng thể sống được.
    Tôi giật mình kêu lớn:
    - Cái gì… Cô nói gì?
    Baketamon thản nhiên:
    - Con bé bán rượu đã mua lại căn nhà cũ của cha mẹ
    ngươi hiện đang nằm trong tay ta và chỉ với một lệnh nhỏ là
    nó bị ném vào chuồng sư tử đói ngay. Này Sinuhe, chẳng
    một việc gì ngươi làm lại qua khỏi mắt chúng ta được. Kể từ
    ngày mẹ ta phát hiện ra ngươi là con của hoàng hậu
    Ptelomy thì chúng ta đã có kế hoạch và một khi chúng ta đã
    để ý đến ngươi thì làm sao ngươi có thể thoát ra khỏi tầm
    kiểm soát của chúng ta nữa!
    Thái hậu Taiya chăm chú nhìn tôi:
    - Sinuhe, hiện nay sinh mạng ngươi đang nằm trong tay
    ta. Nếu ngoan ngoãn tuân lệnh thì ngươi sẽ được đền bù
    xứng đáng, còn nếu không ngươi sẽ chẳng còn sống được
    bao lâu nữa đâu!
    Tôi mệt mỏi ngồi phịch xuống chiếc ghế gần đó, đầu óc
    căng thẳng. Thì ra họ đã có những dự tính từ trước và tôi
    chỉ là một con cờ trong bàn cờ đã bày sẵn. Tôi nghĩ đến
    Akhenaten và chủ trương thay đổi của ông cũng như lời
    cảnh cáo của quan Thiên Giám. Không lẽ số phận của vị vua
    trẻ tuổi này lại kết thúc bi đát như vậy sao? Tôi nghĩ đến
    ảnh hưởng của những vì tinh tú đang vận hành trong vũ trụ,
    phải chăng con người không thể cãi lại số phận đã định sẵn?
    Tại sao một người đã nghiên cứu về Chiêm Tinh như
    Akhenaten lại bất cẩn, không để ý đến những chuyện này?
    Không lẽ ông quá lạc quan và tin tưởng rằng con người có
    thể hoán cải số mạng chính mình? Tự nhiên tôi nhớ lại lời
    dặn dò ân cần của Smenkere về việc đừng dính dấp vào
    những chuyện thị phi và không khỏi hối hận đã không nghe
    theo lời khuyên của vị sĩ quan già.
    Công chúa Baketamon chăm chú quan sát tôi một lúc rồi
    mới hỏi:
    - Thế nào, ngươi nghĩ sao?
    Tôi ngước mắt nhìn khuôn mặt lạnh lùng của thái hậu
    Taiya rồi lắc đầu:
    - Tôi… tôi không thể làm chuyện này được.
    - Cái gì? Ngươi muốn chết ư?
    - Tôi… tôi… không thể làm thế được.
    Thái hậu Taiya lắc đầu:
    - Sinuhe, ngươi thật là một thằng ngu! Cơ hội đến tay
    mà không biết nắm, thật uổng công ta đã tính toán, xếp
    đặt. Được lắm, nếu ngươi muốn chết, ta cho chết ngay.
    Tự nhiên tôi cảm thấy một bầu nhiệt huyết sôi sục trong
    lòng khiến tôi không còn sợ hãi nữa. Tôi thản nhiên trả lời:
    - Thưa Thái hậu, là người ai chẳng phải chết, tất cả chỉ
    là vấn đề thời gian mà thôi. Kẻ chết sớm, người chết muộn
    nhưng trước sau ai cũng chết. Tuy nhiên tôi vẫn có thể lựa
    chọn cái chết cho mình và tôi sẵn sàng chết trong danh dự
    thay vì trong nhục nhã, ê chề. Hiện nay số phận tôi đã nằm
    trong tay bà thì bà cứ việc ra tay đi…
    Thái hậu Taiya cười gằn quăng ly rượu trong tay xuống
    đất:
    - Được lắm! Ngươi đã muốn chết thì ta cho ngươi chết,
    nhưng ngươi không thể chết dễ dàng đâu!
    Bà đập mạnh tay lên chiếc chuông nhỏ. Một gã nô lệ
    bước vào. Bà ra lệnh:
    - Hãy ném nó xuống hầm sư tử đói, cùng với con bé bán
    rượu kia, nhưng hãy để nó chứng kiến việc sư tử xé xác con
    bé kia trước.
    Công chúa Baketamon vội lên tiếng:
    - Khoan đã, chúng ta còn cần đến hắn…
    Thái hậu Taiya quắc mắt:
    - Thằng y sĩ này không thể dùng được nữa. Ta sẽ có kế
    hoạch khác…
    - Nhưng… nhưng hắn có dòng máu linh thiêng…
    - Cái gì? Đã thế mà ngươi còn muốn lấy nó hay sao?
    Công chúa Baketamon lắc đầu:
    - Nhưng con đâu thể lấy một thằng chồng dân giã, tầm
    thường được!
    Thái hậu Taiya cười lớn:
    - Baketamon con ơi, tuy con mang dòng máu thiêng của
    họ Amenophis nhưng thằng này là con của Ptelomy. Tao đã
    giết mẹ nó thì lẽ nào để nó sống và để việc này bị tiết lộ
    được! Nó phải chết.
    ° ° °
    Bỗng nhiên một tiếng cười nhạt ở đâu vang lên:
    - Này Taiya, bà không giết được Sinuhe đâu.
    Thái hậu Taiya và công chúa Baketamon giật mình nhìn
    ra cửa. Viên sĩ quan già có khuôn mặt nhăn nheo khắc khổ
    đã đứng đó từ lúc nào.
    Thái hậu Taiya giận dữ:
    - Smenkere, làm sao ngươi vào được đây?
    Vị sĩ quan già thản nhiên:
    - "Đối với thằng sĩ quan già này thì con đường hầm bí
    mật của Thái hậu chẳng có gì đáng gọi là bí mật. Này thái
    hậu Taiya, ta đã biết rõ âm mưu của bà từ lâu rồi nhưng
    chưa đủ bằng cớ cho đến khi bà ra lệnh giết nhóm giáo sĩ
    phái Amun. Khi Ptah công khai bầy tỏ thái độ chống đối
    Pharaoh thì ta biết ngay hắn chỉ là một con chốt thí trong
    bàn cờ bà bầy ra.
    Hiển nhiên nếu không được bà hứa hẹn thì thằng giáo sĩ
    trưởng phái Amun đó đời nào dám thách thức Pharaoh giữa
    chốn triều đình như vậy! Rõ ràng sự chống đối của hắn có lý
    do chính đáng và cái chết của hắn sẽ gây mầm bất mãn
    trong giới giáo sĩ, mở đầu cho một cuộc nổi loạn, tranh chấp
    tôn giáo.
    Trong sự xáo trộn này sẽ có kẻ thắng và người bại. Nếu
    phe giáo sĩ thắng thì Pharaoh chẳng thể sống sót và bà sẽ
    tiếp tục là người nắm quyền chỉ huy xứ này. Ngược lại, nếu
    Pharaoh muốn bảo toàn ngôi vị, ông bắt buộc phải ra tay
    dẹp tan các phần tử nổi loạn và như thế bà vẫn chẳng mất
    gì vì vẫn là người đứng sau ngôi vị Pharaoh.
    Này Taiya, bà tính toán đã hay nhưng bà quên rằng
    thằng sĩ quan già này cũng biết tính toán chẳng kém. Khi
    được biết bà ra lệnh giết Ptah và một số quan triều để đổ tội
    cho Pharaoh, ta đã cho người bắt giữ chúng trước và thay
    vào đó xác chết của một số nô lệ. Dĩ nhiên khi Ptah biết bà
    định lợi dụng cái chết của hắn để châm ngòi cho cuộc chiến
    tranh tôn giáo thì hắn phải khai hết mọi sự ra cho Pharaoh.
    Các quan triều cũng thế. Khi biết rằng họ chỉ là những con
    vật hy sinh cho tham vọng của bà thì họ đã cũng khai tất
    cả.
    Này thái hậu Taiya, tất cả những kẻ thân tín của bà đều
    đã bị Horemheb bắt giữ cả rồi, hiện nay quân sĩ của ta đang
    làm chủ tình hình. Pharaoh Akhenaten ra lệnh niêm phong
    cung điện Memphis, cấm không cho ai ra vào chỉ là một
    hình thức che chở cho mẹ và em gái không bị liên lụy mà
    thôi. Ông hy vọng bị giam lỏng như thế, bà sẽ không còn cơ
    hội tác oai tác quái nữa và có thể sống tại đây cho đến ngày
    cuối cuộc đời. Tuy nhiên thằng sĩ quan già này không tin
    một người như bà lại chịu yên thân chết già như thế nên ta
    đến để giúp bà ra đi đây."
    Thái hậu Taiya ngồi yên trên ghế bành, sắc mặt nhợt
    nhạt, không nói gì. Có lẽ biến cố xảy ra quá đột ngột khiến
    bà không kịp phản ứng hay kịp mưu tính việc gì khác. Công
    chúa Baketamon cũng hốt hoảng lùi lại, hai mắt láo liên như
    muốn tìm lối thoát.
    Smenkere quay qua phía tôi, lên tiếng:
    - Này Sinuhe, ta thật không ngờ ngươi lại chính là con
    của Hoàng hậu Ptolemy. Hay lắm! Hay lắm!... Ta không ngờ
    ngươi mang dòng máu thiêng trong huyết quản…
    Thái hậu Taiya gượng cười:
    - Smenkere, ta biết ngươi có nhiều tham vọng nhưng ta
    không tin ngươi lại trung thành với con ta như vậy…
    Smenkere cười nhạt không nói gì, chỉ hất hàm ra lệnh.
    Gã nô lệ lặng lẽ nhấc một cái gối rồi bước đến bên cạnh
    Thái hậu Taiya. Có lẽ hắn sẽ chụp cái gối lên mặt bà để bà
    ngạt thở mà chết.
    Công chúa Baketamon hoảng hốt:
    - Ngươi… ngươi cũng theo phe… Smenkere hay sao?
    Smenkere lạnh lùng:
    - Này công chúa, dù là nô lệ nhưng chẳng ai muốn chết
    sớm. Công chúa nghĩ rằng với một ít vàng bạc, châu báu là
    công chúa có thể mua chuộc được tất cả mọi người hay sao?
    Thái hậu Taiya quay qua nhìn tôi:
    - Sinuhe, ta không muốn chết dưới tay thằng nô lệ này.
    Ngươi hãy chế cho ta một liều thuốc độc.
    Smenkere cười nhạt:
    - Lúc nào Thái hậu cũng có sẵn thuốc độc bên mình, việc
    gì phải nhờ đến Sinuhe. Từ trước đến nay đã có bao nhiêu
    người bị Thái hậu đầu độc rồi…
    Thái hậu Taiya thở dài nhặt chiếc ly rượu nằm dưới đất
    lên. Bà thong thả rót cho mình một ly rượu đầy rồi rút chiếc
    nhẫn đeo trên tay ra, xoay ngược nó lại để đổ vào ly rượu
    một ít bột màu trắng. Thì ra thuốc độc được giấu trong một
    ngăn nhỏ nằm dưới đáy chiếc nhẫn.
    Bà nhếch miệng cười:
    - Giỏi thật, việc gì ngươi cũng biết. Có lẽ ta đã đánh giá
    lầm về ngươi.
    Smenkere đứng yên nhìn Thái hậu uống cạn ly rượu,
    khuôn mặt nhăn nheo của y không để lộ cảm xúc gì. Công
    chúa Baketamon hốt hoảng định bước đến nhưng bị gã nô lệ
    chặn lại.
    Cô quát:
    - Hãy tránh ra, ta muốn cùng chết với mẹ ta.
    Smenkere lắc đầu, lạnh lùng nói:
    - Công chúa chưa thể chết được.
    - Ngươi muốn gì?
    Smenkere chậm rãi:
    - Hình như công chúa vẫn có ý định lấy chồng nên ta sẽ
    giúp công chúa hoàn tất ý nguyện…
    Công chúa Baketamon giận dữ:
    - Cái gì? Phải chăng ngươi muốn lấy ta?
    Smenkere lắc đầu:
    - Thằng sĩ quan này già rồi, đâu muốn lấy vợ nữa nhưng
    công chúa quả là một phần thưởng xứng đáng cho một
    người có công khác.
    - Ngươi muốn nói đến Sinuhe ư?
    Smenkere đưa mắt nhìn tôi rồi nói buông thõng:
    - Không. Ta muốn gả cô cho Horemheb.
    Công chúa Baketamon quát lớn:
    - Ngươi dám gả ta cho thằng con nhà bán bánh ngoài
    chợ đó sao? Ta thà chết chứ không đời nào chịu lấy một kẻ
    hạ lưu, bần tiện; một thủ hạ như thế.
    Smenkere cười nhạt:
    - Ta muốn biết giữa công chúa và Horemheb, ai sẽ trị
    được ai.
    Công chúa Baketamon nổi giận xông đến nhưng đã bị gã
    nô lệ cao lớn túm chặt lại. Smenkere ra lệnh:
    - Ngươi hãy mang công chúa vào phòng riêng cho ta.
    Thái hậu Taiya im lặng nhìn tên nô lệ đưa công chúa đi
    khuất rồi gật đầu như vừa hiểu ra một điều gì:
    - Thì ra thế! Smenkere, ngươi giỏi thật nhưng ta muốn
    biết ngươi sẽ đối xử với con trai ta như thế nào?
    Smenkere lạnh lùng:
    - Bà đoán được ý ta đấy nhưng muộn rồi…
    Thái hậu Taiya thở dài:
    - Này Smenkere, ta vẫn biết ngươi có tham vọng nhưng
    ta tưởng ngươi đã hài lòng với địa vị tể tướng rồi! Thật ta
    không ngờ ngươi lại muốn làm Pharaoh.
    ° ° °
    Câu nói của Thái hậu Taiya làm tôi giật mình ngơ ngác
    nhìn Smenkere. Không lẽ ông này cũng muốn tranh giành
    ngôi vị Pharaoh? Như hiểu được thắc mắc của tôi, Thái hậu
    Taiya thong thả giải thích:
    - "Này Sinuhe, một kẻ hiền lành như ngươi không thể
    đoán ra âm mưu của Smenkere đâu. Hắn lợi dụng tình thế
    "trai cò mổ nhau, ngư ông đắc lợi" để tranh đoạt ngôi vị
    Pharaoh đấy. Khi trước ta chưa nghĩ ra nhưng qua thái độ
    của hắn đối với Baketamon, ta hiểu ngay. Dù làm Tể tướng,
    quyền uy tột đỉnh nhưng hắn vẫn chỉ là vị quan, lấy quyền
    gì mà đòi gả công chúa cho người khác trừ phi hắn làm
    Pharaoh! Chỉ có Pharaoh mới có thể gả công chúa cho một
    kẻ tầm thường như Horemheb.
    Điều này cũng dễ hiểu, hiện nay chỉ còn hai lực lượng
    đáng kể là lực lượng quân sự của Smenkere và lực lượng
    Ngự lâm của Horemheb. Muốn Horemheb theo mình, hắn
    phải lấy lòng kẻ cầm đầu Ngự lâm quân và không phần
    thưởng nào xứng đáng hơn một công chúa cành vàng lá
    ngọc. Nếu lấy Baketamon, Horemheb sẽ đương nhiên trở
    nên người của dòng họ Amenophis và có triển vọng làm
    Pharaoh. Nếu Smenkere lên ngôi Pharaoh thì Horemheb sẽ
    hết lòng trung thành với hắn vì một lý do dễ hiểu là tuổi tác
    Smenkere đã cao lại không vợ con thì trước sau gì
    Horemheb cũng sẽ là kẻ thừa kế địa vị Pharaoh. Này
    Smenkere, liệu ta nói như vậy có đúng không?"
    Smenkere im lặng không nói gì nhưng không trả lời tức
    là công nhận điều thái hậu Taiya nói là đúng. Tôi bàng
    hoàng trước sự nhận xét của người đàn bà già yếu sắp từ
    giã cõi đời này và tự hỏi không lẽ mọi người có thể tham
    lam, tàn bạo với nhau đến vậy hay sao?
    Thái hậu Taiya bật cười, nói tiếp:
    - Này Sinuhe, hiện nay ngươi là một ẩn số trong bài
    toán lạ lùng này đấy. Không ai ngờ ngươi lại mang dòng
    máu thiêng liêng của Hoàng đế Amenophis trong huyết
    quản và địa vị Pharaoh phải về tay ngươi mới đúng… Ha ha
    ha, ngươi hãy lo giữ mình vì Smenkere sẽ không để cho
    ngươi yên đâu!
    - Tôi… tôi… không muốn làm Pharaoh.
    Thái hậu Taiya quay qua nói với Smenkere nhưng giọng
    bà trở nên đứt quãng, có lẽ vì thuốc độc bắt đầu ngấm:
    - Này Smenkere, ta chắc ngươi… sẽ mượn tay Sinuhe…
    để… giết con ta. Nếu ta biết trước… Nếu ta biết trước…
    Smenkere im lặng quan sát Thái hậu Taiya đang từ từ
    gục xuống ghế. Tôi vội bước đến bắt mạch nhưng tim bà đã
    ngừng đập. Smenkere chăm chú nhìn tôi rồi nói:
    - "Này Sinuhe, hẳn ngươi biết hiện nay Ai Cập đang lâm
    vào tình trạng rối loạn cùng cực. Việc tôn thờ Aten đã đưa
    đến việc tranh chấp tôn giáo giữa các giáo sĩ. Việc cải cách
    xã hội đã khiến giới quí tộc bất mãn, thêm vào đó việc bãi
    bỏ thuế khóa, bắt đinh, sưu tra đã đụng chạm đến quyền lợi
    của giới này rất nhiều. Việc giảm thiểu quân đội cũng đưa
    đến những mầm mống nổi loạn trong hàng ngũ sĩ quan.
    Ta, một người Ai Cập, không thể để cho xứ này rơi vào
    tình trạng hỗn loạn đó được… Ta biết Akhenaten là người có
    lý tưởng nhưng cái lý tưởng này không phù hợp với tình thế
    hiện tại nữa. Việc kết thông gia với người Hitites và những
    hòa ước với người Nubia đã làm cho các nước chư hầu
    không còn thần phục Ai Cập nữa…
    Ta, một người Ai Cập, không thể để những nước láng
    giềng này nhòm ngó nước ta.
    Này Sinuhe, hiện này ngươi là kẻ có thể giúp ta khôi
    phục Ai Cập trở lại tình trạng huy hoàng như thuở xưa. Từ
    trước đến nay ta vẫn coi ngươi như con. Ta sẽ nhận ngươi
    làm con và ngươi sẽ làm Pharaoh. Phải rồi, ngươi xứng đáng
    nối ngôi ta làm Pharaoh… dù sao ngươi cũng mang dòng
    máu thiêng liêng…"
    - Ông muốn tôi làm gì?
    - Hiện nay Pharaoh đang chuẩn bị đi Amarna nhưng cái
    chết của Thái hậu Taiya sẽ làm ông xúc động có thể lên cơn
    động kinh. Ngươi hãy chữa trị cho ông ta và chỉ cần một xẩy
    tay, Akhenaten sẽ ra đi một cách nhẹ nhàng. Mọi việc đã có
    ta và Horemheb lo liệu.
    - Horemheb cũng dính dáng vào việc này sao?
    - Dĩ nhiên rồi. Nếu ta và Horemheb không hợp tác chặt
    chẽ với nhau thì dễ gì thanh toán được phe nhóm của thái
    hậu Taiya.
    Tôi chăm chú nhìn Smenkere như không tin vào tai
    mình. Chỉ một đêm mà bao biến cố bất ngờ liên tiếp xảy ra
    và hơn lúc nào hết tôi nghĩ đến Akhenaten cùng chủ trương
    thay đổi cải cách của ông.
    Tôi gật đầu:
    - Được lắm, hãy đưa tôi đến gặp Akhenaten.
    Smenkere chăm chú nhìn tôi như dò xét một lúc rồi gật
    đầu quay mình đi trước. Tôi thong thả theo sau. Dọc hai bên
    hành lang tôi thấy quân sĩ của Smenkere canh phòng hết
    sức cẩn thận. Chúng tôi ra khỏi cung điện thì thấy một
    nhóm lính Ngự lâm gươm giáo sáng ngời đang chờ sẵn.
    Dưới ánh đuốc bập bùng, Horemheb mặc quân phục oai
    phong đang đứng chờ. Smenkere gật đầu ra hiệu cho
    Horemheb.
    Hắn hội ý, vội bước đến xiết chặt tay tôi:
    - Sinuhe, mày hãy giúp tao.
    Tôi yên nhìn Smenkere và Horemheb dưới ánh đuốc bập
    bùng, và chợt nhận thấy cả hai đều đeo những thanh gươm
    hình thù kỳ lạ giống y hệt thanh gươm của người Hitites khi
    xưa. Không hiểu sao tôi cảm thấy lợm giọng buồn nôn…
    Thì ra Smenkere và Horemheb đã không tuân lệnh
    Pharaoh mà vẫn tiếp tục theo đuổi việc thi đua võ trang với
    người Hitites. Tôi ngậm ngùi nghĩ đến lời dặn của
    Akhenaten: "Võ khí được chế tạo với mục đích duy nhất là
    phục vụ chiến tranh. Võ khí càng sắc bén, người ta càng
    muốn gây chiến tranh để thử xem sức mạnh của võ khí đó
    ra sao. Nếu Ai Cập cho rèn kiếm bằng thứ kim loại mới này
    thì người Nubia cũng sẽ làm như thế và rồi người Palestine,
    người Syria, người Babylon. Nếu mọi quốc gia đều thi đua
    sản xuất võ khí thì nạn đao binh sẽ không thể tránh khỏi,
    rốt cuộc chỉ có bọn sản xuất võ khí là được lợi lạc. Theo ta
    thì sự phòng thủ hữu hiệu nhất là nâng cao dân trí, khai
    triển sự hiểu biết của mọi người, không riêng cho Ai Cập mà
    cho cả những quốc gia lân cận. Không một dân tộc khôn
    ngoan nào lại lựa chọn những người lãnh đạo hiếu chiến; và
    không một kẻ lãnh đạo nào dám gây chiến khi biết dân
    chúng đã có trình độ hiểu biết cao, không dễ gì hướng dẫn
    họ vào những cuộc chiến bằng các lập luận mơ hồ, viễn
    vông".
    Smenkere và Horemheb đưa tôi vào một căn phòng
    chung quanh có quân sĩ canh gác cẩn thận. Horemheb kéo
    ghế mời tôi ngồi rồi nghiêm trang nói:
    - "Chắc mày cũng biết chúng ta vừa dẹp tan phe nhóm
    của thái hậu Taiya. Hiện nay Ai Cập đang bước vào một
    khúc quanh quan trọng của lịch sử. Thế hệ sau sẽ phán xét
    chúng ta qua những hành động của chúng ta ngày hôm nay.
    Là người Ai Cập với truyền thống oai hùng, bách chiến bách
    thắng, chúng ta cần phải tô điểm cho lịch sử xứ này thêm
    rạng rỡ.
    Từ bao năm nay, mọi Pharaoh đều nối tiếp nhau xây
    dựng Ai Cập thành một quốc gia hùng mạnh, khiến các nước
    chung quanh đều phải kính sợ. Tiếc thay Akhenaten lại yếu
    đuối, nhu nhược, không theo gương tiền nhân nên Ai Cập
    ngày càng suy yếu. Một Pharaoh Ai Cập không thể hòa hoãn
    với bọn Hitites phản phúc, bọn Nubia mọi rợ, để cho các
    quốc gia chung quanh không còn kính nể chúng ta.
    Bên ngoài đã mất uy tín như thế mà bên trong
    Akhenaten lại để cho đám hát rong điên khùng, bọn thi sĩ
    càn rỡ chi phối, làm rối loạn nhân tâm khiến xã hội mất trật
    tự, không còn ra thể thống gì nữa.
    Từ trước đến nay, việc tôn thờ thần linh như Amun vẫn
    là truyền thống sẵn có nhưng Akhenaten lại bầy ra một thứ
    tôn giáo mới, tôn thờ thần linh duy nhất là Aten, khiến cho
    các giáo sĩ đều bất mãn. Họ là trung gian với thần linh, chỉ
    lo cúng tế cầu xin, thì cứ để họ làm việc đó chứ đâu tai hại
    gì.
    Đã chẳng theo truyền thống cũ, Akhenaten lại không
    cung cấp tiền bạc, phẩm vật dâng cúng cho giới giáo sĩ
    khiến cho thần linh nổi giận, gây thiên tai hoạn nạn. Ai Cập
    đã suy yếu vì trật tự xã hội đảo lộn, lại còn kiệt quệ hơn vì
    các thiên tai này.
    Truyền thông từ xưa vẫn cho giới quí tộc được cai trị các
    vùng và thu thuế, miễn là họ qui phục triều đình.
    Akhenaten tước bỏ quyền lợi thuế khóa, đất đai của họ làm
    gì để họ thêm bất mãn, gây mầm mống nội loạn khắp nơi.
    Là người có trách nhiệm với quốc gia, tao không thể để
    cho tình trạng hỗn loạn này kéo dài mãi được. Tao không
    thể chấp nhận việc thay đổi luật pháp sẵn có khiến cho bọn
    nô lệ lộng hành. Tao không thể chấp nhận việc bãi bỏ thuế
    khóa khiến công khố khô kiệt. Tao không thể chấp nhận
    việc cắt giảm lực lượng quân sự khiến các nước chung
    quanh dòm ngó nước ta. Một Ai Cập hùng cường không thể
    có một Pharaoh điên khùng, nhu nhược thế được. Đã đến
    lúc Ai Cập cần một người lãnh đạo mới và mong mày hãy
    giúp chúng tao khôi phục Ai Cập trở lại tình trạng huy
    hoàng như trước."
    Thì ra Horemheb cũng bất mãn với chính sách cải tổ của
    Akhenaten nhưng có lẽ hắn và Smenkere chưa dám tỏ thái
    độ vì còn e dè lực lượng của Thái hậu Taiya. Hôm nay, khi
    đã diệt được phe nhóm này thì họ lợi dụng ngay cơ hội để
    củng cố quyền lực cho mình. Vì mải suy nghĩ nên tôi không
    trả lời khiến Horemheb sốt ruột:
    - Thế nào? Mày nghĩ sao?
    Tôi chăm chú nhìn Horemheb rồi hỏi:
    - Hiện nay lực lượng quân sự đều đang nằm trong tay
    mày, việc gì phải cần đến một y sĩ như tao? Không lẽ một
    người như mày lại sợ Akhenaten sao?
    Horemheb lắc đầu:
    - Không phải thế! Chúng tao đều là thuộc hạ của
    Akhenaten, đã thề nguyện trung thành với ông nên… việc
    này… việc này… tao không thể…
    - Thì ra mày sợ hậu thế phê phán nên phải nhờ tay tên y
    sĩ quèn như tao! Truyền thống Ai Cập không chấp nhận việc
    soán nghịch nên mỗi khi cần thiết, việc này thường được
    giao cho một y sĩ thân tín của Pharaoh, một người mà ông
    luôn tin tưởng. Nhưng nếu Akhenaten chết thì ai sẽ làm
    Pharaoh?
    Horemheb không ngần ngại, nói ngay:
    - Còn ai hơn Tể tướng Smenkere nữa? Ông đã là người
    của hoàng tộc, đã từng cầm quân chinh phạt Hitites và
    Nubia… Không ai xứng đáng hơn Smenkere.
    Tôi nhìn Smenkere và Horemheb, chua chát:
    - Thì ra tất cả đều đã được tính toán từ trước. Thái hậu
    Taiya âm mưu tranh ngôi vị Pharaoh cho Baketamon để duy
    trì quyền lực cho phe nhóm mình nhưng bà không ngờ các
    người lại ra tay trước. Tuy diệt được phe của Thái hậu Taiya
    nhưng mày vẫn không dám đụng tới Akhenaten vì không
    muốn gây ra một tiền lệ cho việc soán nghịch. Mày sợ rằng
    sau này sẽ có những kẻ noi gương đó mà hãm hại mày chứ
    gì? Ha ha ha… vì thế Akhenaten sẽ phải ra đi một cách nhẹ
    nhàng, một cách danh chính ngôn thuận như chết vì bệnh
    tật chẳng hạn. Do đó mày cần một y sĩ như tao…
    Smenkere từ lâu vẫn im lặng, bỗng lên tiếng:
    - Này Sinuhe, ngày xưa ta khuyên ngươi nên đi theo con
    đường tinh thần như cha mẹ người để tránh xa mọi phiền
    phức. Tiếc rằng ngươi chẳng nghe ta, cứ dính dấp vào
    những việc rắc rối. Dù muốn dù không, ngươi cũng đã ít
    nhiều tham dự vào việc này rồi, chẳng thể tránh né được
    đâu. Có lẽ ngươi nên trách số phận của ngươi đã định như
    thế mà thôi…
    Tôi liếc nhìn Smenkere, phải chăng ông muốn ám chỉ
    thân thế tôi? Dĩ nhiên Horemheb chưa biết chuyện Thái hậu
    Taiya đã tiết lộ vì lúc đó chỉ có công chúa Baketamon và
    Smenkere ở đó. Tôi chưa kịp trả lời thì một tên nô lệ của
    Smenkere từ bên ngoài vội vã bước vào:
    - Kính thưa Tể tướng, Pharaoh vừa hay tin về cái chết
    của Thái hậu Taiya và ngài đã ra lệnh cho thi hành các nghi
    thức chôn cất…
    Đối với phong tục Ai Cập, việc chôn cất để chuẩn bị cho
    đời sống bên kia cửa tử rất quan trọng nên các vua chúa
    đều có kế hoạch trù liệu cẩn thận ngay từ lúc mới lên ngôi.
    Là vợ của Pharaoh Amenophis đời thứ ba, nghi thức chôn
    cất thái hậu Taiya đã được hoạch định từ trước nên chỉ cần
    có lệnh là các giáo sĩ theo kế hoạch thi hành ngay.
    Smenkere gật đầu, hỏi:
    - Pharaoh còn chỉ thị gì nữa không?
    - Ngài cũng biết y sĩ Sinuhe được gọi về để săn sóc sức
    khỏe cho Thái hậu nên truyền cho gọi y sĩ vào cung ngay.
    Smenkere và Horemheb giật mình biến sắc. Việc tôi
    được đưa về cung là chỉ thị riêng của công chúa Baketamon
    trong âm mưu tranh giành địa vị Pharaoh của Thái hậu
    Taiya. Sở dĩ Smenkere và Horemheb biết được vì họ đã có
    dự mưu và tương kế tựu kế, thanh toán phe nhóm của Thái
    hậu Taiya. Việc này được giữ bí mật, nhưng tại sao
    Akhenaten lại biết?
    Smenkere nhíu mày suy nghĩ, nét mặt trở nên nhăn
    nhúm khác thường:
    - Hừm… có lẽ… có lẽ… Baketamon đã tiết lộ. Con nhãi
    này giỏi thật!
    Người nô lệ nói nhỏ:
    - Hiện nay Pharaoh đang xúc động, bệnh tình có thể tái
    phát nên có lẽ ngài cho gọi Sinuhe vào để khám bệnh…
    Smenkere nhìn tôi một lúc như suy nghĩ rồi gật đầu:
    - Được lắm! Sinuhe hãy vào săn sóc cho Pharaoh và nhớ
    lời ta đã dặn.
    Horemheb định lên tiếng nhưng Smenkere đã gạt đi:
    - Sinuhe đã biết hắn phải làm gì.
    Tôi theo gã nô lệ đi qua những hành lang dài dẫn vào
    nội cung. Ngày trước tôi đã qua lại nơi đây nhiều lần nhưng
    không hiểu sao lần này tôi cảm thấy cảnh vật chung quanh
    có vẻ lạnh lẽo khác thường. Đến cửa nội cung, tên nô lệ vì
    không được phép vào nên đứng lại ra dấu cho tôi đẩy cửa
    bước vào. Tôi vừa bước qua cánh cửa dầy thì đã thấy công
    chúa Baketamon chờ sẵn.
    - Công chúa… Tại sao công chúa lại ở đây?
    Công chúa Baketamon giơ tay lên miệng ra dấu cho tôi
    giữ im lặng rồi nói nhỏ:
    - Ta vừa trốn thoát được nên vào báo cáo với Pharaoh
    biết về cái chết của mẹ ta. Hiện nay tình thế gấp rút lắm
    rồi, ngươi hãy làm ngay việc mẹ ta giao phó. Sau khi anh ta
    chết, chúng ta sẽ làm lễ thành hôn ngay và ngươi làm
    Pharaoh. Chúng ta sẽ kêu gọi lực lượng quân đội quanh
    vùng kéo về.
    Tôi ngạc nhiên nhìn công chúa Baketamon và tự hỏi tại
    sao trong hoàn cảnh đen tối như thế mà cô vẫn không từ bỏ
    ý định tranh giành ngôi vị với anh ruột mình. Thấy tôi có vẻ
    do dự, công chúa Baketamon thì thầm:
    - Này Sinuhe, ngươi mới xứng đáng làm Pharaoh. Trong
    mình ngươi có mang dòng máu thiêng của cha ta…
    Tôi chưa kịp trả lời thì Hoàng hậu Nefertiti ở trong bước
    ra:
    - Sinuhe đấy ư? Pharaoh cho gọi ngươi vào…
    Tôi vội theo chân hoàng hậu đi vào căn phòng riêng của
    Pharaoh. Quang cảnh nơi đây đìu hiu vắng vẻ, khác hẳn
    cảnh tấp nập đông vui khi xưa, lúc tôi vào kể chuyện cho
    các cung nữ nghe. Akhenaten đang ngồi trên chiếc ghế
    quen thuộc đặt dưới biểu hiệu của Aten. Mặc dù nét mặt
    ông vẫn bình thản nhưng tôi có cảm tưởng như sắp có
    chuyện không lành xảy ra.
    Vừa thấy tôi thì Pharaoh đã mỉm cười:
    - Này Sinuhe, ta được tin ngươi đã đến săn sóc sức khỏe
    cho mẹ ta.
    - Kính thưa Pharaoh… Kẻ này… kẻ này…
    Akhenaten gật đầu buồn bã:
    - Ta biết rồi… Ngươi không phải nói nhiều…
    Tôi băn khoăn không hiểu Akhenaten đã biết những gì!
    Dĩ nhiên ông biết về cái chết của Thái hậu Taiya nhưng
    không biết ông đã biết việc những người thân tín của ông
    đang lợi dụng cơ hội này để tranh ngôi vị với ông chưa?
    Akhenaten ra hiệu cho tôi ngồi xuống ghế rồi thong thả
    lên tiếng:
    - Chắc hẳn hiện nay ngươi đang có hàng trăm câu hỏi
    trong đầu nhưng ngươi hãy bình tĩnh vì ta sẽ giải đáp cho
    ngươi những thắc mắc. Điều ta sắp nói đây rất quan trọng
    vì thời gian không còn bao lâu nữa. Này Sinuhe, ta đã biết
    trước những việc sắp xảy ra. Một kẻ nghiên cứu tường tận
    về khoa Thiên Văn như ta hẳn phải biết rõ những biến
    chuyển của tinh tú cũng như ảnh hưởng của nó đối với vận
    mệnh quốc gia…
    Ông chỉ lên bầu trời đầy sao bên ngoài cửa sổ rồi tiếp:
    - Quan Thiên Giám đã cảnh cáo ta từ trước nhưng điều
    ông nghiệm thấy và điều ta biết không giống nhau. Ông ta
    chỉ chú trọng đến ảnh hưởng của những tinh tú có liên quan
    đến Ai Cập, nhưng ta lại phóng tầm mắt nhìn xa hơn nữa vì
    ta quan tâm đến những biến chuyển của vũ trụ đối với số
    phận con người, không nhất thiết phải là người Ai Cập.
    Tôi buột miệng:
    - Nhưng nếu đã biết trước, tại sao ngài không tránh?
    Akhenaten lắc đầu nói như trách:
    - Ngươi đã học hỏi về khoa Chiêm tinh thì hẳn phải biết
    rằng vạn vật trong vũ trụ đều thay đổi theo những định luật
    thiên nhiên nhất định. Vận mệnh quốc gia cũng như con
    người trong đó đều chịu ảnh hưởng sự vận hành của tinh tú.
    Tuy nhiên các tinh tú tự nó không xấu hay tốt mà chỉ phản
    chiếu những ảnh hưởng xấu hay tốt phát xuất từ quốc gia
    hay con người sống trong đó mà thôi. Ai Cập đang bước vào
    giai đoạn đen tối vì hậu quả của những sai lầm do các
    Pharaoh đời trước gây ra. Thật ra các Pharaoh tự họ cũng
    không thể làm gì nhiều vì họ chỉ tiêu biểu cho những giá trị
    sai lầm về sự tương giao giữa Ai Cập và các quốc gia lân
    cận thôi.
    - Tại sao lại thế?
    Akhenaten im lặng một lúc như suy nghĩ rồi thong thả
    nói:
    - "Vào thời hoàng kim, Ai Cập được hướng dẫn bởi các
    Pharaoh thánh thiện, những bậc minh sư thánh triết nên xứ
    này phát triển cực thịnh quanh châu thổ sông Nile. Vì biết
    sống theo những định luật thiên nhiên nên người Ai Cập
    phát triển được những kiến thức đặc biệt và xây dựng được
    một nền văn minh huy hoàng, tốt đẹp. Theo thời gian, khi
    người Ai Cập bắt đầu có phương tiện di chuyển, có thể vượt
    qua các bãi sa mạc bao la thì họ đã gặp những dân tộc khác
    mà trình độ văn minh thua Ai Cập rất xa. Thay vì giúp đỡ
    những người này thì các Pharaoh lại lợi dụng sự kém cỏi của
    các dân tộc ấy vào mục đích trục lợi, chiếm đoạt các tài
    nguyên thiên nhiên.
    Khi sự tương giao giữa người và người được đặt trên nền
    tảng của lòng tham lam, chiếm hữu, lợi dụng, tích lũy thì
    hiển nhiên phải có kẻ lợi lạc và người thiệt thòi. Sự thu
    hoạch các quyền lợi vật chất lớn lao để mang về Ai Cập đã
    làm đảo lộn nền tảng giá trị thông thường trong nước. Sự
    tôn trọng kiến thức tinh thần bị thay thế bằng các tài sản
    vật chất. Nền tảng tôn giáo xây dựng trên căn bản minh
    triết bị thay thế bằng các pháp môn phù thủy, lợi kỷ hại
    nhân. Người sống trong sạch bị coi thường, và kẻ lợi dụng
    bóc lột được coi là thức thời, hiểu biết. Khi các giá trị đạo
    đức, tâm linh suy đồi thì cơ cấu tổ chức xã hội mà trong đó
    luật kẻ mạnh được coi là một lối sống bình thường.
    Chính sự mạnh được, yếu thua này đã sinh sản ra những
    bạo chúa hiếu chiến, những quan lại vô lương tâm, và
    những giáo sĩ chỉ biết lợi dụng để trục lợi. Những kẻ lãnh
    đạo quốc gia này đã đưa Ai Cập vào một thời buổi đen tối
    mà trong đó sự nghi kỵ, ngờ vực, oán thù, tranh chấp ngày
    càng gia tăng.
    Các sử gia cho rằng những Pharaoh này đã làm cho Ai
    Cập trở nên một quốc gia giàu mạnh, nhưng ít ai tự hỏi
    những của cải phi nghĩa đó lấy được từ đâu và với một giá
    nào? Trên các lăng tẩm vua chúa đều khắc ghi những chiến
    công hiển hách, những cuộc xâm lăng đẫm máu, những số
    tài nguyên khổng lồ, và con số nô lệ bắt mang về nhưng
    theo ta, đó chỉ là những vết nhơ không thể rửa trong lịch sử
    Ai Cập."
    Akhenaten ngưng nói như hồi tưởng về những việc đã
    qua rồi tiếp:
    - "Này Sinuhe, một nguyên nhân khác đã đưa Ai Cập
    xuống hố thẳm là sự ỷ vào quyền lực của Pharaoh, lời xin xỏ
    thần linh của giới giáo sĩ, và sự cai trị của giới quí tộc. Chính
    sự ỷ lại vào những người lãnh đạo này cũng như uy quyền
    của họ là động lực đã làm suy thoái nền văn minh Ai Cập.
    Khi dân chúng chỉ biết cắm đầu phục tùng thì họ không thể
    biết được tự do là gì, tự họ đã là nô lệ cho những quyền uy
    kia rồi thì còn nói gì đến văn minh hay sự hiểu biết nữa.
    Đằng sau những quyền uy độc đoán chỉ có sự sợ hãi và
    lòng ích kỷ nên con người một khi đã nghĩ đến quyền lợi
    riêng đâu còn đếm xỉa gì đến ích lợi chung. Chính thái độ
    thụ động, cầu an này đã củng cố cho cái quyền lực độc
    đoán, thứ giáo điều phi nhân kia tiếp tục tái diễn từ đời này
    qua đời khác.
    Chính vì thế nên ta chủ trương phải thay đổi toàn bộ cơ
    chế tổ chức, giảm quyền lực của các giáo sĩ, thu hẹp quyền
    lợi của giới quí tộc và phát triển một nền giáo dục khác hẳn
    đường lối giáo dục cũ. Ta đã phác họa với ngươi một sơ đồ
    giáo dục căn bản mà trong đó con người phải tự biết mình,
    phải tự biết cách chuyển hóa chính bản thân mình, trước khi
    bắt tay vào việc thay đổi căn bản giá trị phi nhân kia. Nếu
    đa số không muốn thay đổi tận gốc rễ, không muốn chấm
    dứt lối sống đầy thù hận, lợi dụng, tham lam kia một cách
    triệt để, mà chỉ đổi thay hời hợt bên ngoài thì sự đổi thay
    thực sự sẽ không bao giờ xảy ra.
    Những cuộc cải cách nửa chừng này sẽ không thể chống
    lại cái quyền lực độc đoán của những kẻ lãnh đạo xảo quyệt
    kia được. Thời buổi huy hoàng không thể đến khi mọi người
    vẫn tiếp tục lẩn tránh các trách nhiệm hành động cá nhân
    mà cứ chờ đợi một lãnh tụ mới, một thời thế mới hay một
    đổi thay mới. Nếu tình trạng thụ động này tiếp tục thì con
    người sẽ mãi mãi trở thành nô lệ cho guồng máy cai trị độc
    đoán, tuy có tên gọi mới mẻ nhưng bản chất vẫn y nguyên
    như cũ."
    Akhenaten nhìn thẳng vào mặt tôi:
    - Này Sinuhe, ta đã giao cho ngươi trách nhiệm đào tạo
    một thế hệ mới, một thế hệ không chịu ảnh hưởng của
    những giá trị phi nhân hiện nay. Ta đã cho xây cất một
    trung tâm giáo dục tại Tel El Amarna để đào luyện những
    người Ai Cập của tương lai nhưng tiếc thay, hiện nay mọi
    việc đã đổi khác…
    Tôi ngạc nhiên:
    - Pharaoh không muốn mở trường tại Amarna nữa sao?
    - "Khi xưa ta xem thấy ảnh hưởng tinh tú đang thuận
    tiện để gieo mầm cho một nền văn minh mới, nhưng có lẽ vì
    chủ quan nên ta đã suy tính không đúng. Hiện nay ta suy
    nghiệm rằng ngày nào con người còn đồng hóa với một
    quốc gia, một dân tộc, một xứ sở, một bộ lạc, hay một lý
    tưởng thì họ vẫn còn sự chia rẽ và bị ảnh hưởng bởi phong
    tục, tập quán, căn bản giá trị có từ ngàn xưa. Lúc này người
    Ai Cập vẫn còn tự hào dân tộc, coi những dân tộc khác là
    thứ man di, mọi rợ; đã thế họ vẫn hãnh diện về thành quả
    bách chiến bách thắng trong quá khứ nên chưa sẵn sàng
    chấp nhận một nền giáo dục mới, một nền giáo dục mở
    rộng, đặt căn bản trên sự không phân biệt chủng tộc, giai
    cấp, quốc gia như ta muốn chủ trương.
    Từ bao năm nay, người Ai Cập đã được các giáo sĩ dạy
    dỗ rằng họ là một dân tộc đặc biệt, một giống dân được
    thần linh chọn lựa, một dân tộc cao cả hơn những dân tộc
    khác. Cái tinh thần dân tộc, bộ lạc này đã làm mất đi giá trị
    chân thật của con người vì sự thật thì con người đáng tôn
    quí hơn quốc gia hay bất cứ một giá trị căn bản nào khác.
    Nếu tất cả mọi quốc gia đều biết đặt căn bản giá trị trên sự
    tôn quí con người thì đâu còn sự chia rẽ, đâu còn hận thù,
    đâu còn sự khác biệt nữa.
    Tiếc thay tinh thần dân tộc, quốc gia, bộ lạc đã bị các
    nhà lãnh đạo xảo quyệt khai thác triệt để. Họ đề cao sự
    khác biệt giữa các dân tộc, tôn giáo, chủng tộc để tạo sự
    chia rẽ nhằm mục đích gia tăng quyền lực cũng như quyền
    lợi cho chính họ. Những kẻ này sở dĩ thành công vì họ biết
    cổ súy cho một truyền thống mà hầu hết mọi người đều ít
    nhiều hưởng ứng và sẵn sàng tham gia."
    - Như vậy ngài muốn gì?
    Akhenaten im lặng như thả hồn vào một ý nghĩ xa xăm
    vào đó rồi nói:
    - "Khi người Ai Cập còn tham lam quyền lợi, của cải vật
    chất và sự ham muốn này được nuôi dưỡng qua chủ nghĩa
    quốc gia, tinh thần bộ lạc thì thảm trạng của chiến tranh
    thật khó thể tránh. Hiện nay Ai Cập đang mạnh mẽ, hùng
    cường; người dân xứ này đang hưởng những quyền lợi tốt
    đẹp thì khó thể khuyên họ thay đổi. Chỉ khi nào Ai Cập bị
    xâm lăng, chà đạp và bị đặt dưới ách cai trị của nước ngoài;
    khi người dân nếm mùi đau khổ, mất tự do, mất quyền lợi,
    bị áp bức trong bất công, bị đàn áp bằng bạo lực, không
    phải trong vài chục năm hay trăm năm mà lâu hơn thế nữa,
    thì người Ai Cập mới học được bài học rằng sự tự hào dân
    tộc là một căn bệnh hết sức nguy hiểm và hậu quả của nó
    kéo dài rất lâu, có khi hàng thế kỷ…"
    - Không lẽ tình trạng đen tối này kéo dài đến thế sao?
    - "Này Sinuhe, quan niệm về quốc gia, dân tộc hay bộ
    lạc là một khối tư tưởng được hun đúc qua nhiều thế hệ, dễ
    gì có thể thay đổi một sớm một chiều. Hẳn ngươi cũng biết
    tiến trình đi lên để xây dựng thì lâu nhưng khi đi xuống để
    phá hủy thì nhanh chóng vô cùng. Thời đại hoàng kim thì
    ngắn nhưng thời đại hôn ám thì kéo dài.
    Phong thổ Ai Cập vốn là sa mạc, được nuôi dưỡng bởi
    phù sa sông Nile mà trở nên phì nhiêu; tuy thế người dân
    xứ này cũng chỉ trồng trọt được sau mùa mưa mà thôi vì khi
    nước rút đi thì ruộng đất lại khô héo cằn cỗi. Qua thời tiết,
    phong thổ, nhịp điệu lên xuống của nước sông Nile mà từ
    xưa người Ai Cập đã biết được các biến chuyển của luật
    thiên nhiên rồi từ đó suy ra các qui luật bất biến của vũ trụ.
    Này Sinuhe, khoa địa lý Ai Cập đã định rằng tất cả
    những miền nào xây dựng trên mặt cát chỉ huy hoàng trong
    một thời gian rất ngắn rồi tàn lụi nhưng mấy ai chịu để ý
    đến điều ấy. Gặp thịnh thời, con người mải miết lo toan
    những tham vọng viễn vông mà đâu biết rằng những gì xây
    dựng trên mặt cát tàn lụi rất chóng.
    Ngươi chưa sống trong sa mạc như ta nên chưa thể biết
    được những thay đổi thời tiết nơi đây. Vào mùa xuân, sau
    những cơn mưa đầu mùa, cây cối đua nhau trổ hoa, toàn sa
    mạc sống dậy một cách lộng lẫy huy hoàng. Cây cỏ trong sa
    mạc đẹp lạ thường, phát triển nhanh, đơm bông kết trái
    trong vài ngày, rồi tàn lụi ngay dưới sức nóng thiêu đốt của
    mặt trời. Suốt năm, sa mạc chỉ huy hoàng trong vài tuần lễ
    ngắn ngủi đó thôi. Theo sự suy đoán của ta, có lẽ Ai Cập
    đang ở vào buổi huy hoàng này, nhưng nếu không biết rõ
    luật chu kỳ tuần hoàn thì người dân xứ này sẽ còn đau khổ
    và phải chịu đựng nhiều thử thách rất lâu."
    Akhenaten nhìn lên bầu trời đầy sao, thong thả giải
    thích:
    - "Này Sinuhe, trải qua bao triều đại, người Ai Cập đã
    gây chiến với tất cả những quốc gia lân cận. Sự tham lam,
    hung hãn và ích kỷ cũng như hậu quả tàn khốc của chiến
    tranh đã tác động lên vũ trụ khiến cho ảnh hưởng của các
    tinh tú phải thay đổi.
    Đêm qua ta quan sát thiên văn rất kỹ và thấy rằng ảnh
    hưởng thuận lợi của các bầu tinh tú sẽ không rọi xuống
    Amarna như ta nghĩ mà xê dịch lên một vị trí khác ở miền
    bắc. Ta thấy trải qua bao cuộc chiến tranh, nhân cách người
    Ai Cập đã bị hủy hoại, hư hỏng đến tận gốc rễ. Từ thế hệ
    này đến thế hệ khác, người ta tiếp tục cổ súy chiến tranh và
    phát triển những tập quán về bạo lực cho các thế hệ sau.
    Horemheb chính là nạn nhân của việc này. Vì các Pharaoh
    đời trước đều chủ trương xâm lược, cướp bóc tài nguyên của
    các quốc gia khác, bắt người xứ đó về làm nô lệ, đàn áp bóc
    lột những người không cùng quốc gia, chủng tộc hay tín
    ngưỡng nên việc huấn luyện dân chúng Ai Cập trở nên
    những quân nhân thiện nghệ như Horemheb là việc hiển
    nhiên.
    Tuy nhiên chính cái tập quán về bạo lực này đã dẫn dắt
    xã hội Ai Cập vào vòng thù hận, tranh chấp. Từ bao năm
    nay, người Ai Cập không ngừng xung đột và nếu không có
    chiến tranh với các nước khác thì họ lại tranh giành, cướp
    bóc lẫn nhau. Ngay như mẹ ta, Thái hậu Taiya, cũng là nạn
    nhân của sự thù hận đó. Bà xuất thân là dân chài lưới
    nghèo đói, thường bị bóc lột, áp bức nên khi được tuyển vào
    cung, bà đã sử dụng mọi thủ đoạn để củng cố quyền lực cá
    nhân và sẵn sàng đàn áp kẻ khác.
    Xã hội Ai Cập hiện nay đặt căn bản trên sự ích kỷ, bạo
    động, tôn sùng sức mạnh chiến tranh, luật kẻ mạnh luôn
    luôn thắng và kẻ yếu chịu thiệt thòi. Đa số người Ai Cập đều
    có đủ các tính xấu như hung hăng, ích kỷ, bạo ngược, tàn
    ác, thù hận… mà thiếu lòng nhân từ, bác ái, các đức tính
    căn bản để xây dựng một xã hội văn minh hơn. Người ta
    không thể thay đổi căn bản giá trị này cho đến khi họ trở
    nên nạn nhân của nó.
    Này Sinuhe, những thiên tai liên tiếp xảy ra trong thời
    gian gần đây chỉ là ảnh hưởng tạo nên do uất khí đến từ các
    nạn nhân của sự đàn áp, bóc lột này. Trên phương diện cá
    nhân thì nạn nhân dường như bất lực, nhưng trên phương
    diện tư tưởng thì sự phẫn uất của số đông này đã tạo ra
    những luồng tư tưởng rất mạnh, có thể dời núi, lấp sông và
    ảnh hưởng đến cả vũ trụ. Nếu ngươi biết rằng vũ trụ vốn
    quân bình tuyệt đối; bất cứ điều gì làm xáo trộn nó thì nó
    sẽ tạo ra các khí lực để phục hồi sự quân bình này.
    Khi vũ trụ bị xáo trộn, các vũ trụ tuyến thay đổi, ảnh
    hưởng của nó sẽ tạo ra những thiên tai như động đất, núi
    lửa, hạn hán, bão lụt… Nếu con người vẫn ngoan cố, không
    chịu thay đổi thì cường độ của các thiên tai sẽ tiếp tục gia
    tăng, mỗi ngày một mạnh và rồi việc cần xảy ra sẽ xảy ra
    để tái lập quân bình cho vũ trụ.
    Đã được học hỏi về khoa thiên văn, hẳn ngươi đã được
    dạy bảo về những trận đại hồng thủy chôn vùi các lục địa
    khổng lồ xuống đáy đại dương. Tất cả thiên tai hư hạn hán,
    bão lụt chỉ là điềm báo trước của những thay đổi thiên nhiên
    ghê gớm hơn nếu con người không chịu đổi thay.
    Một người nghiên cứu thiên văn phải biết theo dõi những
    ảnh hưởng của tinh tú này để kịp thời báo động cho con
    người biết rằng sự ngông cuồng của họ chỉ là một hạt cát
    trong sa mạc, so với sức mạnh thiên nhiên thì chẳng là gì
    cả! Con người không biết rằng nếu các tinh tú có thể ảnh
    hưởng đến sinh hoạt trên mặt địa cầu thì con người cũng có
    thể ảnh hưởng đến các tinh tú qua lối sống hợp với thiên
    nhiên. Một sự tương quan hài hòa giữa con người và thiên
    nhiên sẽ tái tạo sự quân bình trong vũ trụ và mở đầu cho
    một thời buổi hoàng kim tốt đẹp…"
    Akhenaten ngưng lại một lúc như suy nghĩ rồi tiếp:
    - "Khi ẩn cư ngoài sa mạc, ta đã suy nghĩ nhiều về việc
    này. Ta biết thật khó mà thay đổi những người mà đầu óc
    đã bị tiêm nhiễm các tư tưởng tham lam, sân hận, ích kỷ,
    hung hăng. Khi quyền lực là mục đích của đời sống thì hiển
    nhiên bạo động sẽ là phương thức của xã hội. Giải pháp duy
    nhất cho tình trạng này là làm sao để cho mỗi cá nhân có
    thể làm một cuộc cách mạng trong tâm hồn; làm sao để họ
    có thể chuyển hóa những thói quen trong quá khứ.
    Muốn như thế cần phải có một nền giáo dục mới xây
    dựng trên nền tảng minh triết của sự tự biết mình. Chỉ có sự
    tự biết mình mới đào tạo ra những con người hiểu biết và có
    từ tâm. Muốn xây dựng nền tảng của sự giáo dục mới này
    cần phải có những vị thầy tận tâm hướng dẫn học trò,
    không quản ngại khó khăn, trở lực. Đây phải là những người
    không những đã tự biết mình mà còn có khả năng truyền
    đạt sự hiểu biết đó cho học trò nữa.
    Này Sinuhe, từ nhỏ ngươi đã được giáo dục cẩn thận bởi
    cha mẹ ngươi, những người đi trên con đường tinh thần,
    nên ít nhiều trong ngươi đã có những mầm thiện. Dù ngươi
    chưa có nhiều kinh nghiệm về cuộc đời nhưng trong mọi
    hoàn cảnh khó khăn, ngươi đã biết sử dụng trái tim thay vì
    bộ óc, để giải quyết vấn đề. Đó chính là lý do mà ta để ý
    đến ngươi…"
    Akhenaten đặt nhẹ tay lên vai tôi, ân cần dặn dò:
    - Ta trao cho ngươi nhiệm vụ thiết lập một nền giáo dục
    xây dựng trên căn bản của sự tự biết mình. Ngươi đã có dịp
    học hỏi những kiến thức chuyên môn với các danh sư Ai Cập
    và đã trải qua một số thử thách nên xứng đáng đảm nhiệm
    việc này. Ta mong ngươi sẽ mang những hạt giống thiêng
    liêng này gieo trồng tại những miền đất lành, những nơi mà
    người dân xứng đáng nhận lãnh nó, để xây dựng một nền
    văn minh cho nhân loại. Ta biết con đường này còn nhiều
    thử thách nhưng ta tin rằng ngươi sẽ vượt qua được. Vấn đề
    hiện nay là ngươi có sẵn sàng nhận trách nhiệm lịch sử này
    không?
    Tôi cung kính quì trước mặt Akhenaten:
    - Pharaoh yên tâm, kẻ này sẵn sàng noi gương ngài để
    hoàn tất sứ mạng mà ngài giao phó.
    Akhenaten gật đầu hài lòng rồi chỉ dấu hiệu Aten trên
    tường:
    - "Này Sinuhe! Khi xưa ta thấy truyền thống tôn giáo cũ
    chỉ gây chia rẽ nên muốn thay đổi nó bằng một tôn giáo
    mới, một tôn giáo giúp con người trực tiếp đón nhận chân lý
    mà không cần phải qua sự trung gian của các giáo sĩ. Các
    giáo sĩ không thể hiểu được sự mỹ lệ, huy hoàng của chân
    lý vì đầu óc họ đã khô cằn bởi thành kiến của giáo điều
    truyền thống.
    Giáo điều không phải là sự thật. Nó chỉ là phương tiện
    giúp người ta tìm đến sự thật mà thôi. Tiếc rằng theo thời
    gian, nó đã bị sửa đổi sai lạc thành những hình thức cúng
    tế, cầu xin, hối lộ và qui phục thần quyền.
    Hiện nay đa số giáo sĩ không còn biết đến mục đích cao
    đẹp của tôn giáo nữa mà chỉ bám vào đó như một phương
    tiện sinh nhai mà thôi. Tuy nhiên ta đã đánh giá sai lầm
    phản ứng của mẹ ta, người đã xây dựng quyền lực qua sự
    ủng hộ của các giáo sĩ phái Amun. Nếu sử dụng bạo lực,
    dựa vào uy quyền của Pharaoh thì ta đã dẹp tan phe nhóm
    giáo sĩ Amun một cách dễ dàng, nhưng sự thay thế một
    quyền lực này bằng một uy quyền khác không phải là điều
    ta muốn.
    Hiện nay dân Ai Cập thờ phụng hàng trăm thần linh, đi
    theo hàng chục giáo phái mà phái nào cũng khoe rằng giáo
    điều của họ mới hay, mới tốt và hứa hẹn những huy hoàng
    ở một cõi giới xa lạ viễn vông nào đó. Chân lý thật ra rất
    giản dị chứ đâu phức tạp như thế, nên ta muốn đưa hình
    ảnh vầng Thái Dương để giúp họ chiêm ngưỡng được điều
    mà ta gọi là Chân, Thiện, Mỹ. Đó là lý do ta không chịu thờ
    cúng thần quyền Amun và các thần linh khác mà chỉ đưa ra
    một hình ảnh độc nhất, tượng trưng cho chân lý, qua vầng
    Thái Dương.
    Tuy nhiên trong những năm gần đây, ta nghiệm thấy
    rằng đầu óc người dân xứ này đã cằn cỗi, suy hoại quá
    nhiều rồi, khó có thể đón nhận được điều ta muốn truyền
    dạy. Tuy ta đã cho xây cất các đền thờ trang nghiêm tại Tel
    Amarna và có một số khá đông người đến đó tu học nhưng
    ta không hy vọng nhiều ở những người này. Có lẽ sau khi ta
    qua đời, người ta sẽ không còn biết đến Aten là gì nữa mà
    có thể coi đó chỉ là một vị thần cũng như hàng trăm thần
    linh khác.
    Này Sinuhe, chủ trương của ta là một tôn giáo không có
    giáo sĩ, không có giáo điều, không có nghi thức hay sách vở
    vì mục đích duy nhất của nó là sự yêu mến sự thật hay
    Chân Thiện Mỹ mà thôi. Do đó ta chủ trương mở trường dạy
    học, giáo dục con người, mở mang kiến thức, đề cao sự tự
    biết mình để xây dựng một xã hội mà tất cả mọi người
    trong đó đều biết yêu chuộng sự thật.
    Chỉ có sự thật mới có thể giải phóng con người ra khỏi
    những thành kiến nhỏ hẹp, những tư tưởng tiêu cực, tham
    lam và nâng cao phẩm chất đích thực của con người. Tiếc
    rằng ta không còn nhiều thời gian để hoàn tất tâm nguyện
    này nhưng điều này không quan trọng gì vì hạt giống chân
    lý đã được trao truyền cho ngươi.
    - Tại sao ngài lại có vẻ tiêu cực về thời gian như thế?
    Akhenaten bật cười nói nhỏ:
    - Vì ta biết rõ điều mà Smenkere và Horemheb đã giao
    phó cho ngươi…
    Tôi giật mình kêu lớn:
    - Pharaoh, tại sao… tại sao ngài… biết được… việc này?
    Akhenaten thản nhiên:
    - Hiển nhiên ta vẫn biết Smenkere và Horemheb đều có
    tham vọng cá nhân nhưng ta không thể trách họ được. Họ
    chỉ là nạn nhân của một truyền thống sai lầm mà tổ tiên ta
    đã tạo dựng nên. Chắc hẳn ngươi chưa quên việc quan
    Thiên Giám đề cập đến một ngôi sao vừa tắt khi Horemheb
    đến báo tin cho ta về cái chết của giáo sĩ trưởng phái Amun.
    Thật ra quan Thiên Giám đã nói tránh đi để Horemheb khỏi
    nghi ngờ vì Ptah không hề chết và ngôi sao đó ứng vào ta.
    Khi đó chúng ta đã xem xét rất kỹ sự thay đổi của các bầu
    tinh tú và biết rằng tai ương của Ai Cập sắp xảy đến. Một
    Pharaoh đầy uy quyền như ta không thể thay đổi được
    những hậu quả sẽ xảy ra cho xứ này.
    Tôi ngập ngừng:
    - Nhưng nếu… biết trước, ít ra… ngài cũng…
    Akhenaten lắc đầu:
    - "Tuy ta có khả năng biết trước một vài điều nhưng
    không đủ để thay đổi số phận một quốc gia hay dân tộc. Ta
    biết rõ định mệnh của ta cũng như của Ai Cập vì trước khi
    lên ngôi Pharaoh, ta là một tu sĩ được điểm đạo vào dòng tu
    Osiris.
    Này Sinuhe, cái đêm mà ngươi và Horemheb đột nhập
    thánh điện Abydos chính là buổi lễ điểm đạo của ta đó…"
    Tôi sửng sốt kêu lớn:
    - Thì ra… thì ra thế… Ngài nằm trong quan tài đá, toàn
    thân bất động và không còn hơi thở… Kẻ này… kẻ này… vẫn
    thắc mắc…
    Akhenaten gật đầu xác nhận:
    - "Chính thế! Đó là một nghi thức điểm đạo huyền bí mà
    kẻ đạo đồ phải kinh nghiệm về sự chết. Chỉ những kẻ hoàn
    toàn phá hủy được bản ngã mới có thể kinh nghiệm được sự
    chết một cách ung dung tự tại và chỉ có thế y mới xứng
    đáng trở nên một người của dòng tu Osiris. Câu chuyện
    Osiris bị phân thây làm nhiều mảnh, nhờ Isis đọc câu thần
    chú linh thiêng mà hồi sinh chỉ là một biểu tượng nói về sự
    điểm đạo huyền bí này. Đa số thường xem đó như một
    truyền thuyết hoang đường trong dân gian nhưng người đi
    trên đường đạo phải biết tìm ra những ẩn nghĩa của nó.
    Đúng thế, ta đã chết đi và sống lại. Ta đã kinh nghiệm
    được sự chết và hiểu được sức mạnh huyền bí của các định
    luật vũ trụ. Ta đã khai mở được một vài khả năng đặc biệt,
    nhờ thế ta biết được diễn tiến xảy ra khi cha ta qua đời. Ta
    thấy Ai Cập sắp bước vào một cuộc nội chiến bởi các phe
    phái trong hoàng tộc nên khi Smenkere đón ta về làm
    Pharaoh, ta đã không từ chối. Dù biết tương lai Ai Cập
    không sáng sủa do hậu quả của những việc xảy ra trong
    quá khứ nhưng ta vẫn muốn tận tâm tận lực vớt vát một
    phần nào. Đó là lý do ta cho thay đổi cái căn bản giá trị sai
    lầm mà các Pharaoh đời trước đã đặt ra mặc dù ta biết đây
    là một thử thách rất lớn.
    Ta đã nghiên cứu rất kỹ các biến chuyển của tinh tú và
    tự biết thời gian không thuận tiện nhưng ta cũng không thể
    ngồi yên, mặc cho định mệnh an bài. Ta muốn gieo trồng
    những hạt giống tốt, dù biết xã hội Ai Cập đã cằn cỗi như
    cát sa mạc, không thuận tiện chút nào. Ta hy vọng chỉ cần
    vài hạt giống đâm chồi nảy lộc là ta mãn nguyện rồi.
    Này Sinuhe, ta không phải là một kẻ mơ mộng như mọi
    người vẫn nghĩ. Một tu sĩ được điểm đạo không thể là kẻ
    thiếu thực tế được. Tuy ta biết trước một số việc có thể xảy
    ra trong tương lai nhưng ta cũng biết rằng tương lai sẽ đổi
    thay nếu có những động lực chuyển hóa mạnh mẽ. Do đó ta
    đặt ra những cơ chế tổ chức mới, ban hành những đạo luật
    mới.
    Này Sinuhe, ta không phải là một người thích nghe các
    loại nhạc lạ lùng của đám hát rong như mọi người vẫn
    tưởng nhưng ta biết những nhóm hát rong đều là những
    nghệ sĩ chân chính, những ngươi yêu chuộng sự thật vì âm
    nhạc của họ phản ánh trung thực điều này. Nếu dân chúng
    biết nghe những bài hát ngợi ca cảnh đẹp thiên nhiên thay
    vì những bản nhạc xưng tụng thần linh thì họ đã tiến một
    bước xa trên con đường dẫn đến chân lý rồi. Đó là lý do ta
    không thích những điệu nhạc ca tụng sức mạnh Pharaoh
    nhạt nhẽo của đám nhạc công triều đình mặc dù ta biết họ
    bất mãn.
    Sở dĩ ta gần gũi với giới thi sĩ và cho khắc những bài thơ
    của họ lên bia đá hơn là thân cận với các quan lại vì thi sĩ là
    người làm phong phú sự thật, không luồn cúi nịnh hót như
    các quan trong triều. Mỗi bài thơ là một nét đẹp tô điểm cho
    sự thật vì một thi sĩ chân chính có tâm hồn phong phú
    không thể nói gì khác hơn là ca tụng Chân-Thiện-Mỹ. Nếu
    mọi người đều biết làm thơ thì người ta sẽ không xa rời sự
    thật vì tâm hồn thi sĩ không cho phép họ nói đến sự giả dối.
    Hiển nhiên đám nịnh thần cũng làm thơ nhưng kẻ có tâm
    hồn què quặt, tàn tật chẳng bao giờ có thể trở nên thi sĩ
    được mà chỉ là những con vẹt lông lá xanh đỏ lải nhải các
    điệp khúc vô hồn."
    Akhenaten im lặng một lúc lâu như thả hồn vào một nơi
    chốn nào đó rồi tiếp tục:
    - Này Sinuhe, nhờ khả năng đặc biệt mà ta biết trước
    âm mưu soán nghịch tại xứ Hitites và đưa ra giải pháp để
    giải tỏa mối thù giữa hai dân tộc. Chỉ có tình thương và sự
    hiểu biết mới có thể xóa bỏ ân oán quá khứ và đưa đến việc
    kết tình hòa hiếu giữa hai quốc gia.
    - Thì ra thế! Kẻ này vẫn thắc mắc không biết vì sao
    đang hôn mê bất tỉnh như thế mà ngài lại có thể đến địa
    điểm hẹn để cảnh cáo vua xứ Hitites về việc xảy ra bên xứ
    họ.
    Akhenaten thở dài:
    - "Tuy ta được điểm đạo lần thứ nhất và khai triển được
    một ít quyền năng nhưng ta đã thất bại trong việc thử thách
    của cuộc điểm đạo sau. Khi ẩn tu ngoài sa mạc, ta mắc một
    lỗi lầm khi thực hành phương pháp tu tập. Ta đã mất tự chủ
    nên xúc động trước vẻ đẹp huy hoàng của ánh sáng chân lý.
    Chính vì mất tự chủ như thế nên ta mắc chứng động kinh,
    cứ lâu lâu lại hôn mê bất tỉnh.
    Ngày có hẹn với vua xứ Hitites, cơn động kinh lại xảy ra
    khiến ta hôn mê. Tuy thân thể ta hoàn toàn tê liệt nhưng
    thần trí ta vẫn tỉnh táo. Ta biết rằng nếu không có một giải
    pháp cấp thời thì Ai Cập và Hitites sẽ có chiến tranh. Với võ
    khí sắc bén đó, máu dân lành vô tội sẽ đổ, bao gia đình sẽ
    ly tán, bao thảm cảnh sẽ xảy ra. Ta không muốn như vậy, ít
    ra khi ta còn là Pharaoh, nên ta đã sử dụng tất cả sức mạnh
    và quyền năng để chiến thắng căn bệnh kia.
    Tuy ta đến điểm hẹn và giải quyết được cuộc chiến đó
    nhưng ta cũng bị nội thương rất nặng. Ta đã lạm dụng
    quyền năng và phải trả một giá rất đắt cho việc này…"
    Tôi hoảng hốt vội đưa tay chẩn mạch cho Pharaoh thì
    thấy mạch của ông đập rất yếu. Tôi nói:
    - Xin Pharaoh để tên y sĩ này chữa bệnh cho ngài.
    Akhenaten lắc đầu:
    - Ngươi không chữa được đâu! Ta biết rõ thời gian không
    còn nhiều nữa nhưng ta vẫn có thể cầm cự mạng sống cho
    đến khi cần thiết. Này Sinuhe, ta biết Smenkere muốn
    ngươi giúp ta ra đi một cách yên lặng và ta sẽ không để cho
    hắn thất vọng đâu.
    - Tại sao… tại sao ngài lại chấp nhận việc này? Không lẽ
    chúng ta không còn giải pháp nào nữa sao?
    Akhenaten lắc đầu:
    - "Này Sinuhe, đây là một thử thách cho ta. Nếu muốn
    sống, ắt ta phải sử dụng bạo động để đối phó với bạo động.
    Điều này không khó lắm nhưng đây không phải là giải pháp
    vẹn toàn vì nó không thể phá vỡ được vết xe cũ của những
    lỗi lầm xưa.
    Ta không trách Smenkere hay Horemheb vì họ chỉ là nạn
    nhân của cái giá trị sai lầm đã có từ lâu mà ta muốn thay
    đổi. Cả hai đều được nuôi dưỡng trong môi trường tham
    lam, ích kỷ và bạo động nên chỉ biết đến quyền lợi cá nhân
    và lý tưởng phe phái mà thôi. Cái mong ước có uy quyền kia
    bắt nguồn từ những khát vọng thầm kín cá nhân rồi được
    đồng hóa với một lý tưởng lớn lao hơn và tạo ra tinh thần
    phe phái, bộ lạc.
    Sự ước mong trở nên một người hùng đã khiến
    Horemheb chối bỏ thân thế nghèo hèn để trở thành một
    quân nhân. Vì là người của nhóm này nên y phải bảo vệ
    quyền lợi của phe nhóm và không thể chấp nhận việc ta ra
    lệnh giảm thiểu lực lượng này. Mục tiêu của giai cấp quân
    nhân là đặt quyền lợi phe phái qua chiến tranh, nhưng y
    không hiểu rằng nếu Ai Cập tiếp tục duy trì lực lượng quân
    sự lớn mạnh thì các quốc gia khác cũng phải làm thế và rồi
    họ sẽ đua nhau sản xuất vũ khí bằng những thứ kim loại
    sắc bén.
    Để thí nghiệm vũ khí, họ sẽ tạo chiến tranh và hết cuộc
    chiến này sẽ đến cuộc chiến khác, hết vũ khí này sẽ có vũ
    khí khác, rốt cuộc chỉ có đám Do Thái chuyên sản xuất vũ
    khí là được lợi. Bằng cách đề cao các giá trị quân sự, những
    người như Horemheb đã vô tình hủy diệt những thế hệ
    tương lai và tạo ra một xã hội đầy bạo động, bóc lột, tham
    lam và rồi sự chém giết lẫn nhau là điều không thể tránh.
    Này Sinuhe, chiến tranh chỉ phản ảnh tư tưởng của đa
    số người trong xã hội. Khi mọi người xem việc bóc lột, tranh
    giành là lẽ thường thì việc chiếm đoạt của cải của một nước
    khác đâu có gì quá đáng! Người ta có thể ngụy biện việc
    làm này qua các chiêu bài tốt đẹp nhưng chiến tranh vẫn là
    chiến tranh với những nỗi thống khổ và sự hủy diệt nhân
    cách. Khi người ta không kinh nghiệm được sự đau khổ của
    các nạn nhân chiến tranh thì người ta sẽ để cho chiến tranh
    tiếp tục và sự thiếu hiểu biết của mọi người sẽ tạo nên tình
    trạng dửng dưng, thản nhiên trước các thảm họa xẩy ra cho
    người khác. Theo thời gian, con người sẽ trở thành những
    cái xác vô hồn, có óc nhưng không tim và họ sẽ phải trả
    một cái giá rất đắt cho việc này.
    Hôm nay ta đã nói những điều cần phải nói cho ngươi
    rồi. Ta muốn mọi việc sẽ diễn ra một cách tốt đẹp vẹn toàn
    cho tất cả mọi người, kể cả Smenkere và Horemheb. Ta
    không muốn lịch sử phê phán họ là những kẻ soán nghịch
    và cũng không muốn họ phải ăn năn về những việc họ đã
    làm."
    - Nhưng… nhưng liệu không còn giải pháp nào khác sao?
    Akhenaten mỉm cười:
    - Ngươi đừng lo cho ta mà hãy lo cho mạng sống của
    chính ngươi. Nếu ta chết, liệu ngươi có thể sống được
    không? Từ ngàn xưa đã có biết bao Pharaoh chết trên
    giường bệnh và biết bao y sĩ bị qui tội bất tài, bị chôn sống
    trong nhà mồ. Nếu Smenkere đã mượn tay ngươi để thực
    hành ý đồ bất chánh thì lẽ nào y lại để cho ngươi sống
    được? Do đó ta đã có một giải pháp cho ngươi…
    CHƯƠNG 11
    Khi Smenkere và Horemheb bước vào nội cung thì họ
    thấy Akhenaten đang ôm ngực ho sặc sụa.
    Thấy hai vị tướng thân tín, ông nói;
    - Này Smenkere, ta thấy đầu óc quay cuồng… có lẽ cơn
    động kinh sắp đến…
    Smenkere cúi đầu thưa:
    - Kính thưa Pharaoh, kẻ này đã cho gọi y sĩ Sinuhe đến
    săn sóc sức khỏe cho ngài. Không lẽ hắn chưa làm việc đó?
    - Không đâu… Ta mệt mỏi, không còn muốn sống nữa…
    Ta không thể chịu đựng mãi những cơn động kinh bất
    thường như thế này được. Đêm qua ta nằm mộng thấy
    Osiris gọi ta trở về. Hiện nay ta chẳng thiết sống nữa.
    - Xin Pharaoh đừng nói gở! Sinuhe là y sĩ đại tài có thể
    chữa mọi thứ bệnh.
    - Này Sinuhe… Ta… ta muốn ngươi cho ta một liều thuốc
    độc để chấm dứt cơn đau không thể chịu đựng này và về với
    Osiris.
    Smenkere và Horemheb giật mình, vội vã thưa:
    - Pharaoh, ngài mệt mỏi rồi… xin đừng nói nữa.
    Ngay khi đó cánh cửa nội cung mở rộng. Một số quan
    triều được lệnh gọi cũng vội vã bước vào.
    Akhenaten thong thả nhìn từng người rồi nói:
    - Này các ông! Mấy lúc gần đây ta thấy trong người mệt
    mỏi và ta nằm mơ thấy Osiris gọi ta trở về… Ta đã ra lệnh
    cho Sinuhe giúp ta hoàn tất ý nguyện. Đây là lệnh của ta,
    các ông không được cãi…
    Các quan hoảng hốt vội quì cả xuống, rối rít van xin.
    Horemheb đưa mắt nhìn Smenkere như hỏi ý.
    Vị tướng già quì xuống thưa:
    - Pharaoh là thần linh, ý muốn của ngài là lệnh của thần
    linh.
    Trước sự ngạc nhiên của mọi người, tôi lên tiếng:
    - Kính thưa Pharaoh, có lẽ ngài cũng biết rõ truyền
    thống của trường y khoa Abydos là một y sĩ chỉ có thể cứu
    người chứ không thể giết người. Khi tốt nghiệp, kẻ này đã
    tuyên thệ như thế nên xin ngài hãy tìm kẻ khác.
    Akhenaten thều thào:
    - Ta đã ra lệnh mà ngươi dám cãi sao? Smenkere, ông
    tính thế nào đây?
    Chưa khi nào tôi thấy Smenkere bối rối như thế. Khuôn
    mặt lạnh lùng của viên tướng già trở nên xanh xám, hai tay
    y run lên bần bật khiến y phải cố gắng lắm mới nói được:
    - Y sĩ… Sinuhe… Pharaoh đã… có lệnh…
    - Xin tể tướng hiểu cho, kẻ này đã có lời nguyện, nếu vi
    phạm thì làm sao kẻ này có thể mong đợi sự xét xử công
    bình của Osiris ở thế giới bên kia!
    Smenkere tức giận:
    - Pharaoh chính là thần linh, kẻ nào trái lệnh sẽ bị xử tử
    tức khắc. Ngươi không muốn sống nữa hay sao?
    Nhìn thấy tình thế căng thẳng, Horemheb vội vã can
    thiệp:
    - Có lẽ Sinuhe còn đang xúc động về cái chết của Thái
    hậu Taiya. Xin hãy thong thả. Việc này… việc này…
    Akhenaten lắc đầu:
    - Ta thật không ngờ… Ta đối xử tử tế với ngươi như thế
    mà ngươi lại…
    Smenkere và Horemheb bối rối chưa biết xử trí thế nào
    thì Akhenaten đã giơ cao chiếc vương ấn lên:
    - "Này Sinuhe, ngươi có công trong việc phát giác âm
    mưu của người Hitites nên ta đã tha tội chết cho ngươi. Lần
    này không lẽ ta lại kết tội ngươi một lần nữa. Một Pharaoh
    không thể nói đi nói lại như thế được.
    Này Smenkere, ta muốn ông hãy thi hành lệnh này một
    cách nghiêm chỉnh: Sinuhe phải rời xa Ai Cập vĩnh viễn,
    không bao giờ được đặt chân vào đây nữa. Án biệt xứ sẽ
    được áp dụng ngay trong lúc này."
    Smenkere và Horemheb còn đang chần chừ chưa biết
    phải nói gì thì Akhenaten đã lạnh lùng tiếp:
    - Smenkere, nếu không thi hành lệnh ta thì ông sẽ phải
    chịu tội này thay cho Sinuhe.
    Mỗi khi Pharaoh đưa vương ấn lên tuyên bố điều gì thì
    một vị quan đã ghi chép ngay lệnh vừa ban và đó là một
    điều bất di bất dịch nên Smenkere đành cúi rạp người
    xuống:
    - Xin tuân lệnh Pharaoh.
    Vị tướng già phất tay ra lệnh cho quân sĩ đưa tôi ra
    ngoài. Horemheb nhăn nhó bước đến bên tôi nói thật nhỏ:
    - Sao mày lại điên khùng như vậy? Cơ hội tốt thế mà
    mày không bắt lấy… Tao thật không hiểu nổi mày nữa.
    Tôi không trả lời, chỉ tiếp tục bước thẳng ra ngoài. Vừa
    ra đến cửa, tôi thấy công chúa Baketamon chờ sẵn.
    Cô ghé sát vào tai tôi:
    - Này Sinuhe, ngươi hãy cùng ta trốn đi Thebes ngay. Ta
    đã triệu tập được một số thủ hạ thân tín tại đền thờ thần
    Amun. Chúng ta sẽ thành hôn và ta sẽ tuyên bố cho ngươi
    làm Pharaoh, chúng ta sẽ kêu gọi dân chúng nổi dậy…
    Tôi lắc đầu:
    - Người như công chúa phải lấy Horemheb mới xứng. Tôi
    chắc lúc này hắn đang cầu hôn với Pharaoh trong triều đấy.
    Công chúa Baketamon tức giận nhưng chưa kịp phản
    ứng gì thì đã nghe tiếng chân Smenkere và quân sĩ ở trong
    bước ra nên cô vội lẩn tránh vào sau cánh cửa dày.
    Smenkere cùng nhóm quân sĩ đưa tôi ra khỏi cung điện. Khi
    đến sa mạc, hắn ra lệnh cho quân sĩ lùi lại phía sau rồi giục
    ngựa đi song song bên tôi:
    - "Này Sinuhe, mạng sống của ngươi thật lạ lùng! Khi
    xưa ta đã khuyên ngươi nên lựa chọn một con đường thích
    hợp. Ngươi có thể đi theo chúng ta để hưởng thụ những gì
    mà cuộc đời mang lại, hoặc tiếp tục theo đuổi con đường
    tinh thần của cha mẹ ngươi. Tuy nhiên ngươi phải quyết
    định dứt khoát, không thể lang thang lúc thế này, khi thế
    khác như kẻ lạc lối trong sa mạc được!
    Hiện nay định mạng đã đưa đẩy ngươi vào một con
    đường khác, vượt ngoài sự suy tính của chúng ta. Dù sao ta
    cũng cám ơn ngươi đã làm tròn nhiệm vụ mà chúng ta giao
    phó.
    Này Sinuhe! Ngươi giỏi thật! Không biết ngươi đã làm gì
    Akhenaten mà sau khi ngươi ra đi, ta đã cho quan ngự y
    chẩn bệnh Pharaoh rất kỹ và được biết bệnh tình của
    Akhenaten rất trầm trọng, tim mạch hết sức rối loạn, chắc
    khó có thể sống qua kỳ trăng tròn này. Hiện nay Akhenaten
    đã được Horemheb hộ tống về Amarna để làm lễ trước đền
    thờ Aten một lần chót trước khi qua đời. Tuy nhiên hẳn
    ngươi cũng biết lệnh của Pharaoh là bất di bất dịch. Ta tiếc
    không thể thay đổi án biệt xứ của Pharaoh được, nhưng ta
    hứa sẽ đền đáp cho ngươi một cách xứng đáng.
    Này Sinuhe, ta biết ngươi có dòng máu thiêng trong
    huyết quản và xứng đáng làm Pharaoh, nhưng tình thế lúc
    này đã khác trước…"
    Smenkere chăm chú nhìn tôi như chờ đợi một phản ứng,
    nhưng thấy tôi vẫn im lặng, hắn tiếp tục:
    - Từ lâu ta vẫn có ý nhận ngươi làm con. Nếu ta làm
    Pharaoh thì ngươi sẽ làm thái tử và sẽ nối ngôi ta cai trị Ai
    Cập. Khi đó ta không biết rõ thân thế của ngươi mà vẫn
    nghĩ rằng ngươi chỉ là một đứa bé vô thừa nhận được Sen
    Moot nuôi dưỡng. Hiện nay mọi việc đã đổi khác, ngươi bị
    án lưu đày biệt xứ nhưng ta sẽ đền bù cho ngươi một cách
    xứng đáng. Này Sinuhe, ta sẽ nhận đứa con trai của ngươi
    làm con để sau này nó sẽ thay ngươi làm Pharaoh xứ này.
    Tôi ngạc nhiên định lên tiếng hỏi thì Smenkere vô tình
    nói tiếp:
    - Ta không biết việc ngươi đã lập gia đình với Meryt và
    có một đứa con trai rất dễ thương với cô gái bán rượu ấy. Ta
    đã thu xếp để vợ ngươi có thể theo ngươi sống lưu đày tại
    bất cứ nơi nào ngươi muốn, nhưng ta sẽ giữ đứa con của
    ngươi tại Ai Cập. Nó mang trong mình dòng máu thiêng và
    sẽ làm Pharaoh thay cho ngươi.
    Cho đến lúc đó tôi mới nhớ đến Meryt và đứa bé tên Tut
    kia. Thì ra Smenkere chưa biết thân thế của đứa bé kia
    cũng như chuyện của tôi và Meryt. Bỗng nhiên tôi ý thức
    được một điều quan trọng rằng hiện nay Smenkere đang sợ
    hãi. Phải chăng hắn lo ngại việc tôi có thể tranh giành địa vị
    Pharaoh với hắn nên phải hứa hẹn như thế? Dĩ nhiên một
    người mang dòng máu thiêng của hoàng tộc như tôi có thể
    khởi binh tranh giành ngôi vị Pharaoh nên hắn cần giữ bé
    Tut làm con tin? Dù không phải kẻ mưu lược nhưng biết đâu
    tôi chẳng liên kết với Horemheb hay Baketamon?
    Bất chợt tôi ý thức được một sự thật rằng, ngay trong
    niềm vui vừa đạt được điều mà con người thèm muốn đã ẩn
    giấu một nỗi lo sợ. Nỗi lo sẽ bị người khác cướp đoạt mất
    cái mình vừa sở hữu. Hơn lúc nào hết, tôi nhận thức được
    sự mong manh, vô thường của những quyền uy giả tạo mà
    không biết bao người thèm muốn kia.
    Tôi lên tiếng:
    - Cám ơn Tể tướng đã lo lắng chu toàn. Chúng tôi có thể
    trở về Palestine sinh sống vì có sẵn tài sản, cơ nghiệp tại
    đấy.
    Smenkere lắc đầu:
    - Ngươi không thể trở về Palestine được! Bọn Do Thái sẽ
    giết ngươi ngay.
    - Tại sao?
    - Khi ngươi bị Pharaoh bắt phải đến các đạo viện học hỏi
    thì thằng nô lệ chột mắt của ngươi đã trốn về Palestine và
    lấy trọn tài sản của ngươi rồi. Với số bạc khổng lồ đó, hắn
    trở nên thủ lãnh của đám con buôn Do Thái. Hiện nay hắn là
    người cung cấp võ khí của bọn Hitites cho chúng ta. Tuy
    nhiên chúng ta sẽ rửa hận cho ngươi vì sau khi lên ngôi
    Pharaoh, ta sẽ ra lệnh cho Horemheb tấn công Palestine,
    mở rộng bờ cõi Ai Cập, bắt đám phản phúc này về làm nô
    lệ.
    Tôi ngậm ngùi nghĩ đến lời tiên đoán của Akhenaten.
    Quả thế, những con người sinh sống trong hoàn cảnh hận
    thù, bạo lực sẽ chỉ biết nghĩ đến chém giết và chiến tranh.
    Tôi thở dài:
    - Nếu thế, xin Tể tướng cho tôi đến một nơi chốn nào
    thật xa vậy.
    Smenkere mừng rỡ:
    - Được lắm! Ta biết có một bán đảo rất xa nơi đây. Ngươi
    có thể sống an lành mà không phải lo lắng gì. Ta mong
    ngươi sẽ theo đuổi con đường tinh thần của cha mẹ ngươi…
    - Hay lắm! Phiền Tể tướng cho người đưa tôi và Meryt
    đến đó.
    Mặt trời từ từ lặn. Những tia nắng rơi rớt vương vấn trên
    các cồn cát sa mạc. Xa xa, một con chim lạc lõng bay…
    ° ° °
    Sử gia Heterodotus ghi nhận: Một người Ai Cập tên
    Sinuhe đến Hy Lạp mở trường dạy học. Ông có rất đông học
    trò. Sau khi ông qua đời, học trò của ông đã góp phần xây
    dựng Hy Lạp trở nên một quốc gia văn minh, hùng cường
    mà các thế hệ sau này gọi là "thời buổi hoàng kim của các
    triết gia". Học trò của ông là Plato, Aristotle, Socrates,
    Epitetus, v.v…
    PHẦN PHỤ LỤC
    Theo các nhà khảo cổ thì Ai Cập là một trong những nền
    văn minh cổ nhất của nhân loại. Mặc dù ngày nay người ta
    vẫn chưa xác định được nguồn gốc dân Ai Cập nhưng
    khoảng hơn bảy ngàn năm trước, người Ai Cập đã di cư đến
    vùng đồng bằng quanh lưu vực sông Nile rồi định cư tại đó.
    Truyền thuyết Ai Cập nói rằng tổ tiên của họ xuất phát từ
    một đại lục rất xa, nơi có nền văn minh rất cao nhưng vì
    biết nơi đó sẽ gặp nạn hồng thủy nên một số người đã đóng
    thuyền di cư đến vùng này. Có thể vì xuất thân từ một nền
    văn minh cao nên từ bảy ngàn năm trước, người Ai Cập đã
    có chữ viết, biết sử dụng toán học để xác định vị trí các tinh
    tú và xây cất những kiến trúc hùng vĩ như thế.
    Các nhà sử học sắp xếp lịch sử Ai Cập ra làm 6 thời đại
    với 30 triều đại vua Pharaoh như sau:
    1. Tiền sử Thời đại (Pre-historic Period): Khoảng 7000
    năm đến 5000 năm trước Công nguyên. Đây là một thời đại
    mơ hồ với rất nhiều huyền thoại, truyền thuyết mà phần lớn
    các học giả người Âu cho là hoang đường, huyền hoặc,
    không đáng tin.
    2. Nguyên sử Thời đại (Early Dynasties Period): Khoảng
    5000 năm đến 4000 năm trước Công nguyên. Lúc đầu Ai
    Cập chia làm nhiều vùng, mỗi vùng có một sứ quân cai
    quản cho đến khi sứ quân Menes nổi lên đánh dẹp các sứ
    quân khác, thống nhất Ai Cập thành một quốc gia. Menes tự
    xưng là Pharaoh (Người Ở Nhà To Lớn), vừa là người vừa là
    thần linh, có quyền hành tuyệt đối và bất khả xâm phạm.
    Pharaoh Menes chia xã hội thành những giai cấp để dễ bề
    cai trị. Giai cấp thứ nhất là Pharaoh và gia đình, nắm quyền
    chỉ huy cai trị. Giai cấp thứ hai là giáo sĩ, phần lớn là những
    người có học thức cao, có nhiệm vụ làm trung gian giữa
    thần linh và con người. Giai cấp thứ ba là quí tộc, gồm các
    quan lại và quân nhân, nắm quyền giữ an ninh, trật tự
    trong các địa phương. Những giai cấp sau như thợ thuyền,
    thương buôn, công nghệ và nông dân có bổn phận phục vụ
    cho những giai cấp trên. Pharaoh Menes lập triều đình gồm
    các quan thu thuế, xử kiện, giữ sổ sách và đặc biệt ghi chép
    các biến cố lịch sử lên bia đá nên từ đó lịch sử Ai Cập được
    đời sau biết đến.
    3. Cổ sử Thời đại (Old Kingdom Period): Khoảng 4000
    năm đến 3000 năm trước Công nguyên. Đây là thời đại rất
    đặc biệt với 6 triều đại và 32 Pharaoh mà vị nào cũng cho
    xây cất, kiến tạo những Kim Tự Tháp, đền đài, lăng tẩm hết
    sức hùng vĩ. Cũng trong thời đại này, người Ai Cập bắt đầu
    sử dụng thuyền buồm, bánh xe, nấu thủy tinh, luyện kim và
    xây các đập nước, kinh đào để dẫn nước vào ruộng.
    4. Trung sử Thời đại (Middle Kingdom Period): Khoảng
    3000 năm đến 2000 năm trước Công nguyên. Thời đại này
    gồm có 7 triều đại và hơn 100 Pharaoh. Đây là giai đoạn xã
    hội Ai Cập suy đồi nhiều vì đa số các Pharaoh chỉ lo hưởng
    thụ các tiện nghi vật chất chứ ít chịu phát triển hay xây
    dựng. Đây cũng là giai đoạn mà nền tôn giáo cổ Ai Cập
    thoái hóa thành các hình thức mê tín dị đoan nên việc sử
    dụng tà thuật, bùa chú rất thịnh hành. Nhiều người đã gọi
    thời đại này là thời đại của các giáo sĩ vì quyền hành của họ
    vượt xa Pharaoh. Hầu hết chủ trương tôn thờ Amun (Đa
    thần giáo) với các nghi thức thờ cúng, tế thần và giết nô lệ
    để chuộc tội.
    5. Tân Sử Thời đại (New Kingdom Period): Khoảng 2000
    năm đến 1000 năm trước Công nguyên. Thời đại này gồm 8
    triều đại và 20 Pharaoh mà người nào cũng gây chiến với
    các nước láng giềng. Các nhà viết sử đã đề cao thời đại này
    như giai đoạn huy hoàng nhất lịch sử Ai Cập với các chiến
    công hiển hách, các đền đài lăng tẩm được xây cất to lớn vĩ
    đại hơn những triều vua trước. Hầu hết những Pharaoh thời
    này đều là những bạo chúa khát máu, chỉ trừ một Pharaoh
    duy nhất bị lịch sử chê trách là nhu nhược, hèn yếu vì đã từ
    bỏ truyền thống cũ để cổ xướng một sự thay đổi chưa từng
    có trong lịch sử Ai Cập. Pharaoh Akhenaten đã từ bỏ việc
    thờ cúng thần Amun mà chủ trương tôn thờ Aten (Độc thần
    giáo) hay chân lý tuyệt đối trong vũ trụ.
    Trong 17 năm cai trị của ông, Ai Cập không hề gây chiến
    tranh mà chỉ phát triển rất mạnh về phương diện nghệ
    thuật, văn chương, đặc biệt là thơ phú. Các nhà khảo cổ đã
    gọi Akhenaten là "Pharaoh thi sĩ" vì ông đã để lại nhiều bài
    thơ khắc trên bia đá, thạch trụ rất đặc biệt. Sau khi
    Akhenaten qua đời, các vị Pharaoh đời sau lại phục hồi việc
    thờ cúng thần Amun và gây chiến với các nước chung
    quanh. Triều đại Seti mở rộng biên giới Ai Cập ra khắp bán
    đảo Ả Rập. Triều đại Ramses tiếp tục công cuộc xâm lăng
    các nước láng giềng, thu hoạch rất nhiều chiến lợi phẩm và
    nô lệ, mang về Ai Cập để xây cất các đền đài vĩ đại chưa
    từng có. Tuy nhiên cuộc chiến tranh kéo dài hàng trăm năm
    này đã mang lại một hậu quả rất khốc hại cho người Ai Cập.
    Vì đa số chỉ quen chém giết, cướp bóc chứ không còn biết
    xây dựng cho nên khi không còn kẻ thù nào để chinh phục,
    họ quay ra chém giết, bóc lột và tàn sát lẫn nhau khiến xã
    hội Ai Cập trở nên hỗn loạn, vô trật tự, suy yếu và theo thời
    gian trở thành mồi ngon cho Syria và Ba Tư. Đây cũng thời
    đại tự chủ cuối cùng của người Ai Cập vì trong suốt 2000
    năm sau, Ai Cập hoàn toàn nằm dưới ách cai trị và bảo hộ
    của các quốc gia khác.
    6. Ngoại thuộc Thời Đại (Domination Period): Khoảng
    gần 1000 năm trước Công nguyên cho đến cận đại. Giai
    đoạn này Ai Cập mất quyền tự chủ và bị đặt dưới ách cai trị
    của các cường quốc khác. Lúc đầu họ bị người Syria xâm
    lăng, chiếm đoạt phần lớn đất đai; sau đó Ai Cập lại bị Ba
    Tư, Hy Lạp, La Mã, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, và cuối cùng là các
    cường quốc Âu châu như Pháp và Anh xâm chiếm, cai trị.
    Mặc dù trên nguyên tắc, Ai Cập vẫn được duy trì chế độ
    quân chủ (có vua và triều đình), nhưng suốt thời gian mấy
    ngàn năm, hầu hết các nhà lãnh đạo Ai Cập chỉ là những vị
    vua bù nhìn, vô quyền, làm tay sai cho những thế lực ngoại
    bang. Nền văn hóa phong phú của họ bị thay thế bằng một
    thứ văn hóa ngoại lai, lúc đầu chịu ảnh hưởng Ba Tư, Hy
    Lạp; sau bị đồng hóa với văn hóa Ả Rập. Ngay cả chữ viết
    của Ai Cập cũng hoàn toàn bị thay thế bằng chữ Hy Lạp và
    chữ Ả Rập. Đầu thế kỷ 18, tiếng Pháp trở nên ngôn ngữ
    chính rồi qua thế kỷ 19, tiếng Anh được sử dụng trong các
    văn kiện, giấy tờ và ngay cả hiến pháp quốc gia. Năm 1952,
    tướng Gamal Nasser truất phế hoàng đế bù nhìn Farouk, lập
    chế độ Cộng hòa Ai Cập và trở thành vị tổng thống đầu tiên
    của xứ này. Kể từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên cho đến
    thế kỷ 20, Ai Cập mới thực sự giành được độc lập.
    ° ° °
    NHỮNG PHARAOH SAU AKHENATEN
    Sau khi Akhenaten qua đời, Tể tướng Smenkere lên ngôi
    Pharaoh nhưng ông nầy chỉ cai trị được hai năm thì chết.
    Người con duy nhất của ông tên Tut khi đó mới 12 tuổi, lên
    ngôi lấy hiệu là Tutankhamun (Tut tôn thờ Amun). Điều này
    cho thấy chỉ một thời gian ngắn, các giáo sĩ phái Amun đã
    phục hồi ảnh hưởng và thế lực với triều đình. Trước khi chết,
    Pharaoh Smenkere chỉ thị cho Tut phải lấy Ankhense, con
    gái lớn của Akhenaten làm hoàng hậu và phong cho cô này
    tước hiệu là Akhenseamun (Akhen tuân phục Amun).
    Pharaoh Tutankhamun (thường được gọi là King Tut) cũng
    chỉ cai trị được 6 năm thì qua đời. Vì ông chưa có con nối
    dõi nên ngôi vị Pharaoh được truyền cho Tể tướng
    Horemheb.
    Pharaoh Horemheb cai trị Ai Cập được 28 năm. Ông đặt
    ra một nền quân chủ pháp trị rất nghiêm khắc, áp dụng kỷ
    luật thép cho các trai tráng trong nước. Dưới sự lãnh đạo
    của Horemheb, Ai Cập đã có những lực lượng quân sự hùng
    hậu, thiện chiến hơn những Pharaoh đời trước.
    Vị chỉ huy, tướng Seti, đã dẫn quân chinh phạt khắp nơi
    và nổi tiếng là một trong những vị tướng khát máu nhất lịch
    sử Ai Cập. Seti chủ trương phải tiêu diệt các tiểu quốc
    quanh vùng, bắt những người này làm nô lệ cho người Ai
    Cập. Người Do Thái, vì sống tại Palestine gần đó, đã trở
    thành những nạn nhân đầu tiên. Seti để lại câu nói bất hủ:
    "Nếu người Do Thái được tự do, người Ai Cập không thể
    ngóc đầu lên được".
    Sau khi Pharaoh Horemheb qua đời, Seti đã giết luôn
    mười hai người con của Horemheb rồi tự xưng làm Pharaoh.
    Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Ai Cập, một tướng lãnh đã
    soán ngôi Pharaoh một cách công khai, không sợ lịch sử phê
    phán hay thần linh trừng phạt. Việc này cũng tạo ra một
    tiền lệ cho những đời vua sau đó. Triều đại Seti kéo dài
    được ba đời thì vị hoàng đế Seti đời thứ tư bị một tướng
    lãnh khác là Ramses giết chết.
    Triều đại Ramses kéo dài được tám đời và được các nhà
    chép sử coi là triều đại vẻ vang nhất lịch sử Ai Cập. Các
    Pharaoh này đã liên tiếp gây chiến tranh với các nước chung
    quanh, chiếm đoạt rất nhiều tài nguyên và nô lệ để xây cất
    những đền đài lăng tẩm vĩ đại, chưa từng có. (Lịch sử ghi
    nhận, dưới sự lãnh đạo của nhà tiên tri Moise, người Do Thái
    được trả tự do vào đời Ramses thứ tư - Chương Exodus
    trong Kinh Thánh).
    Sau triều đại Ramses, xã hội Ai Cập trở nên thoái hóa,
    hỗn loạn, vô trật tự vì các vua chúa và tướng lãnh không
    ngừng tranh chấp lẫn nhau. Không một vị vua nào cai trị
    được quá 4 năm. Có nhiều người chỉ lên ngôi được vài tháng
    đã bị giết. Triều đình hỗn loạn, quan lại tham những, giới
    quí tộc lo bóc lột, xã hội suy đồi, kinh tế kiệt quệ, kẻ mạnh
    đàn áp người yếu, dân chúng đói khổ lầm than nên chỉ ít lâu
    sau, Ai Cập trở thành miếng mồi ngon cho người Syria.
    Dưới sự cai trị của Syria, phần lớn các đền đài, lăng tẩm
    của vua chúa Ai Cập bị đập phá và dân Ai Cập phải cam
    chịu cảnh làm nô lệ cho người Syria, một giống dân mà khi
    xưa họ vẫn khinh là man di mọi rợ. Ít lâu sau, người Ba Tư
    đánh đuổi người Syria, chiếm Ai Cập và đặt xứ này dưới ách
    cai trị của họ trong suốt 260 năm.
    Khoảng 322 năm trước Công nguyên, Hoàng đế
    Alexander của Hy Lạp khởi binh đánh đuổi người Ba Tư và
    chiếm Ai Cập. Tuy nhiên đối với các nhà chép sử Ai Cập thì
    đây là một cuộc giải phóng chứ không phải xâm lăng. Sở dĩ
    người Ai Cập có cảm tình với Hy Lạp vì Hoàng đế Alexander
    không những thông hiểu phong tục, tập quán của Ai Cập
    một cách tường tận mà còn tỏ ra tôn trọng các truyền thống
    văn hóa, tôn giáo của xứ này. Có lẽ Hoàng đế Alexander sở
    hữu một kiến thức rộng về Ai Cập vì thày dạy học của ông
    là hiền triết Aristotle, vốn là môn đệ của môn phái triết học
    do một người Ai Cập tên là Sinuhe khởi xướng. Học trò môn
    phái này đều là những triết gia nổi danh của Hy Lạp như
    Socrates, Plato, Aristotle, Pythagore, Thales, Lycurge,
    Solon, Jamblicus, Horedotus, Epitetus v.v…
    Vì người Ai Cập xem Alexander như một nhà giải phóng
    xứ này khỏi ách ngoại xâm nên các giáo sĩ Ai Cập đã phong
    cho ông làm Pharaoh Ai Cập. Tuy nhiên chỉ ít lâu sau,
    Alexander lại lên đường tiếp tục công cuộc chinh phục các
    xứ khác như Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư, Syria, A Phú Hãn và Ấn Độ.
    Ông ban sắc lệnh đặt Ai Cập là đất bảo hộ, cho thiết lập một
    chế độ quân chủ tự trị nhưng bắt các Pharaoh Ai Cập hằng
    năm phải triều cống Hy Lạp. Không những thế, ông vẫn để
    một lực lượng quân đội lớn chiếm đóng xứ này để giám sát
    mọi việc nên chỉ ít lâu sau, nhiều tướng lãnh Hy lạp đã trở
    nên Pharaoh cai trị xứ này.
    Khi Hy Lạp suy vong thì La Mã trở nên một thế lực quan
    trọng, kiểm soát toàn vùng Địa Trung Hải và xâm lăng Ai
    Cập. Lúc đó trong triều đình Ai Cập đang có việc tranh chấp
    ngôi vị Pharaoh. Công chúa Cleopatra sử dụng nữ sắc để
    lung lạc Hoàng đế Ceasar của La Mã khiến ông này phong
    cô làm Pharaoh.
    Sau khi Caesar qua đời, Hoàng đế La Mã Augustus ban
    sắc lệnh sáp nhập Ai Cập thành một phần của đế quốc La
    Mã. Một lần nữa, người Ai Cập lại nai lưng ra phục vụ các
    triều vua La Mã cho đến khi đế quốc La Mã suy vong thì
    người Ả Rập xâm chiếm Ai Cập, đặt ra chế độ Caliphs để cai
    trị xứ này.
    Từ đó hết quốc gia này đến quốc gia khác thay phiên
    nhau chiếm đóng, đô hộ Ai Cập cho đến thế kỷ 20, người Ai
    Cập mới thực sự giành lại chủ quyền.
    ° ° °
    CHỮ VIẾT AI CẬP
    Từ 7000 năm trước Công nguyên, người Ai Cập đã có
    chữ viết, một thứ chữ tượng hình rất phong phú. Các nhà
    khảo cổ đã tìm được những tài liệu khắc trên đá đề cập đến
    vị trí các tinh tú cũng như ảnh hưởng thời tiết trong việc cấy
    cày ghi khắc vào năm 6700 trước Công nguyên.
    Khi Ai Cập bị Ba Tư, Hy Lạp và Ả Rập cai trị thì văn hóa
    xứ này bị pha trộn với các ảnh hưởng ngoại lai nên dần dần
    thoái hóa, suy đồi. Mặc dù tiếng nói còn được sử dụng trong
    một thời gian nhưng chữ viết Ai Cập đã bị thất truyền vào
    khoảng đầu thế kỷ thứ ba sau Công nguyên.
    Sử gia Julius ghi nhận không một người Ai Cập nào còn
    đọc được chữ viết của dân tộc họ nữa mà chỉ sử dụng chữ
    Hy Lạp, La Mã hoặc Ả Rập. Vì thế đa số người Ai Cập không
    hiểu được những dòng chữ ghi khắc trong các đền đài, lăng
    tẩm, cổ mộ, bia đá, thạch trụ nên chẳng mấy ai biết gì về
    nguồn gốc cũng như gia sản văn hóa phong phú mà cha ông
    họ đã để lại. Có lẽ vì thế người Ai Cập đã chấp nhận văn
    hóa Ả Rập như văn hóa chính thức của họ và trong mấy
    ngàn năm dài, lịch sử và văn hóa Ai Cập chỉ là những huyền
    thoại mơ hồ được kể lại trong những câu chuyện truyền
    khẩu chốn dân gian mà thôi.
    Năm 1798, Hoàng đế Napoleon đem quân xâm chiếm Ai
    Cập. Ông cho xây cất những pháo đài quanh vùng duyên
    hải để ngăn ngừa tầm hoạt động của hải quân Anh. Trong
    lúc xây cất pháo đài nằm cạnh hải cảng Rosetta, Trung sĩ
    Pháo binh Boussard đã tìm được một khối đá màu đen trên
    có ghi khắc 54 dòng chữ Ai Cập và một bản dịch bằng tiếng
    Hy Lạp phía dưới. Chính nhờ thế mà nhà khảo cứu cổ ngữ
    Champollion mới nghiên cứu, sắp đặt lại các mẫu tự Ai Cập
    và phục hồi văn tự đã thất truyền này.
    Qua công trình nghiên cứu của Champollion, các nhà
    khảo cổ đã dựa theo đó để phiên dịch các chữ viết ghi khắc
    trong các đền đài, cổ mộ, thạch trụ và phục hồi các chi tiết
    lịch sử Ai Cập cũng như góp phần phục hưng nền văn hóa
    phong phú này. Các công cuộc nghiên cứu về văn hóa Ai
    Cập bắt đầu khoảng cuối thế kỷ 19 qua sự khai quật các
    ngôi cổ mộ và đến nay đã hé mở cho chúng ta thấy được
    một phần về nền văn minh đã bị vùi lấp dưới lớp cát sa mạc
    này.
    ° ° °
    CÁC TÀI LIỆU KHẢO CỔ
    Thời gian gần đây, người ta đã đào xới được rất nhiều cổ
    mộ và di tích như các cột đồng, bia đá ghi khắc các chi tiết
    lịch sử nên quá khứ huy hoàng của Ai Cập đã dần dần được
    phơi trải một cách khá rõ ràng, minh bạch. Từ trước đến
    nay, người ta chỉ biết về Ai Cập qua tài liệu của các sử gia
    Hy Lạp hoặc một vài truyền thuyết trong dân gian nhưng
    đến nay, các cuộc khảo cổ đã vén tấm màn bí mật để hé mở
    cho chúng ta thấy phần nào về nền văn minh cổ nhất lịch
    sử nhân loại này.
    Giáo sư Bob Brier, nhà khảo cổ Ai Cập nổi tiếng nhất của
    hậu bán thế kỷ 20, người có công tìm ra hơn một trăm ngôi
    mộ của các Pharaoh Ai Cập, đã viết về cái chết của Pharaoh
    Akhenaten như sau:
    "Mỗi khi một Pharaoh qua đời, triều đình đều gửi sứ giả
    đi khắp nước loan báo tin dữ này. Theo truyền thống, dân
    chúng ngưng hết mọi việc buôn bán, đồng áng trong ba
    ngày để chia buồn với hoàng tộc. Hiển nhiên cái chết của
    Pharaoh là một biến cố lớn vì không ai biết chuyện gì sẽ xảy
    ra sau đó. Ai sẽ được thần linh chỉ định làm Pharaoh cai trị
    xứ này? Tuy nhiên theo sự suy nghiệm của tôi thì cái chết
    của Akhenaten có lẽ không như thế. Bên ngoài đa số tuy tỏ
    ra buồn rầu, lo lắng nhưng bên trong ắt hẳn một số không
    giấu được nỗi vui mừng. Hiển nhiên các giáo sĩ phái Amun
    phải vui lắm vì lời cầu xin của họ đã đến tai thánh thần.
    Trong suốt lịch sử Ai Cập, Akhenaten là vị Pharaoh duy
    nhất không thần phục các nghi thức thờ cúng quỉ thần hay
    dâng cúng phẩm vật cho giới giáo sĩ như các Pharaoh đời
    trước và sau đó. Tại liệu đào được tại một đền thờ ở
    Memphis đã ghi: "Dưới thời Akhenaten, các đền thờ Amun
    từ Thebes đến Memphis đều hoang phế, điêu tàn. Các giáo
    sĩ không được triều đình cung cấp lễ vật nên rất đói khổ".
    Hiển nhiên giới quan lại và quý tộc có lẽ cũng vui mừng
    không kém vì trong suốt thời gian trị vì Ai Cập, Akhenaten
    đã cắt giảm thuế má cho dân chúng tối đa. Không những
    thế, ông còn ban nhiều sắc luật cải tổ hệ thống bắt đinh,
    buôn bán nô lệ, thu thuế ruộng nương, đào xới khoáng vật
    cùng các quyền lợi mà giới quí tộc từ trước vẫn được hưởng.
    Tài liệu đào được trong ngôi mộ của nhà quí tộc Ankhesong
    đã ghi nhận: "Vợ tôi chết mà không được hưởng nghi thức
    tống táng của một mệnh phụ phu nhân. Đáng lẽ ra vợ tôi
    phải được phép chôn theo một trăm nô lệ để hầu hạ nàng ở
    thế giới bên kia. Thế nhưng Pharaoh Akhenaten lại hạ lệnh
    cấm chôn người sống trong mồ khiến vợ tôi phải chịu cảnh
    không người hầu hạ. Đã thế, qua sắc lệnh của nhà vua, sau
    khi vợ tôi chết, các nô lệ của nàng phải được trả tự do làm
    cho tôi thiệt hại một khoảng tiền rất lớn".
    Hiển nhiên giới quân nhân có lẽ cũng vui mừng không
    kém vì từ nay họ có quyền gây chiến tranh và chiếm đoạt
    tài sản các nước khác. Trong một bản văn tìm thấy ở thung
    lũng Mayaheb có ghi: "Tại sao tôi lại sinh ra dưới triều đại
    một vị Pharaoh không thích chiến tranh? Nếu không có
    chiến tranh thì làm lính có ý nghĩa gì? Đời sống không có
    một giá trị gì, không có một vẻ vang gì nếu người lính
    không được múa gươm ra trận, uống máu quân thù và
    hưởng thụ những phụ nữ bắt được từ nước khác".
    Theo sự suy nghiệm của tôi, có lẽ những nghệ sĩ sống
    quanh thành phố Amarna là lo lắng hơn cả vì số phận của
    họ bị đe họa nặng nề. Akhenaten là một Pharaoh yêu thích
    nghệ thuật, chiêu đãi nghệ sĩ nên quanh thủ đô Tel El
    Amarna, số nghệ sĩ kéo đến cư ngụ rất đông. Sự lo lắng của
    họ không phải vô cớ vì sau đó ít lâu, khi Pharaoh Smenkere
    (có sách dịch là Smenkare) lên ngôi thì ông lại dời đô về
    Memphis. Do đó Amarna đã trở nên một thành phố hoang
    vắng, điêu tàn."
    Năm 1957, nhà khảo cổ Donald Redford đã tìm được
    ngôi mộ của Pharaoh Akhenaten tại một thung lũng hẻo
    lánh gần Amarna. Ông ghi nhận: "Hầu hết tất cả các
    Pharaoh Ai Cập đều cho chôn cất thi hài của mình trong
    Thung Lũng Mộ Vua (Valley of the Kings), nhưng không hiểu
    sao Akhenaten lại không chịu mai táng ở đây mà xây cho
    mình một nhà mồ khiêm tốn, giản dị nằm khuất sau một
    hẻm núi cách Amarna khoảng 6 dặm về phía đông. Ngôi mộ
    được đục sâu vào vách núi, cửa mộ có ghi dấu ấn của vua.
    Qua khung cửa hẹp là một hành lang dài khoảng mười lăm
    thước dẫn vào một căn phòng nhỏ, trong để cỗ quan tài của
    Akhenaten. Theo truyền thống, các Pharaoh Ai Cập đều cho
    xây cất những cỗ quan tài bằng đá, phía trong để áo quan
    bằng gỗ với nhiều lớp vỏ dày bao bọc quanh xác ướp
    (Sarcophagus). Tuy nhiên Akhenaten lại chỉ có một chiếc bệ
    bằng đá hoa cương sơ sài và một chiếc hòm gỗ không có
    nhiều lớp vỏ như các cỗ quan kia. Điểm đặc biệt là phía trên
    nắp hòm không chạm trổ hình ảnh thần linh như các vua
    chúa khác mà chỉ ghi tên người vợ thân yêu của ông là
    Nefertiti mà thôi. Điều này xác nhận sự không tin tưởng vào
    các thần linh như truyền thuyết Ai Cập vẫn nói về vị
    Pharaoh "vô thần, vô tín ngưỡng" này. Một điều bất ngờ nữa
    là người ta không tìm thấy dấu vết gì về xác ướp của ông.
    Khi khai quật ngôi mộ này, người ta không hề tìm thấy một
    xác ướp nào, kể cả các xác ướp giữ mồ, xác các nô lệ được
    chôn theo mồ để hầu hạ vua ở thế giới bên kia. Hiển nhiên
    đã có những kẻ trộm mồ mả, đến đây đào xới để lấy cắp đồ
    quí, nhưng thường thì các tay trộm này dùng lửa đốt cháy
    xác ướp trước khi lấy đồ quí và di tích chiếc xác bị cháy vẫn
    còn đó. Đằng này ngôi mộ không hề có một dấu vết gì khác
    thường. Không lẽ các tay trộm lại mang xác ướp của ông đi?
    Phải chăng Akhenaten được chôn cất tại nơi khác? Tuy nhiên
    trên vách tường ngôi mộ cổ vẽ lại cảnh tượng đám tang của
    Akhenaten cũng như ghi lại chi tiết về ngày giờ chết của
    ông một cách rõ ràng. Nếu quả như thế thì xác ướp của
    Akhenaten đã đi đâu?"
    Nhà khảo cổ Donald Redford, người bỏ ra hơn hai chục
    năm nghiên cứu tìm kiếm ngôi mộ của Akhenaten, đã viết:
    "Cuộc tìm ra ngôi mộ của Akhenaten có lẽ là một sự thất
    vọng lớn đối với tôi. Không những ngôi mộ trống trơn chẳng
    có đồ quí giá gì, mà ngay chiếc xác ướp cũng không có. Đã
    thế chiếc áo quan bằng gỗ cũng chỉ ghi khắc vài nét sơ sài,
    không có giá trị gì ngoài chứng cớ lịch sử. Có lẽ tài liệu quí
    nhất là mấy chục tập thơ của ông làm khi còn sinh tiền được
    chôn theo mồ mà thôi".
    Qua tài liệu này, người ta thấy Akhenaten là một vị vua
    thi sĩ rất yêu cảnh vật thiên nhiên. Trong ba chục bài thơ
    chôn theo mộ có đến 26 bài ca tụng cảnh thiên nhiên, như
    cảnh rạng đông, buổi chiều tà, những đồng lúa hay thời tiết
    mưa nắng. Có bốn bài thơ của vua viết về vợ là hoàng hậu
    Nefertiti mà ông gọi là "Nàng Mật Ngọt" (Sweet Honey).
    Truyền thuyết Ai Cập cho rằng Akhenaten đã giả chết và
    thoát ra khỏi nhà mồ, do đó ông không chịu tống táng theo
    nghi thức ướp xác thông thường và cỗ quan tài của ông chỉ
    là một hòm gỗ sơ sài, chứ không đóng hàng chục lớp ván
    như những cỗ quan tài khác.
    Một truyền thuyết khác cho rằng Akhenaten đã phục
    sinh nên trong mồ không có xác ướp. Có hàng chục giai
    thoại về Pharaoh thi sĩ này nhưng đến nay cái chết và
    những bí mật về ngôi mộ của Akhenaten vẫn là một dấu hỏi
    mà chưa ai tìm được câu trả lời. Trong công cuộc nghiên
    cứu, nhiều nhà khảo cổ đã làm việc một cách cẩu thả. Họ
    quá chú trọng đến việc phiên dịch các dòng chữ ghi khắc
    trong các ngôi cổ mộ mà không để ý đến những chi tiết lịch
    sử và phong tục xứ này nên đã có nhiều ngộ nhận đáng
    tiếc.
    Thí dụ như Smenkere (Pharaoh Smenkere) được coi là
    "con trai" của Akhenaten. (Theo nhà khảo cổ Donald
    Redford thì danh từ "con" ở đây chỉ có nghĩa rằng
    Akhenaten đã nhận cho Smenkere được mang họ
    Amenophis chứ không có nghĩa là con ruột). Nhiều người đã
    kết luận rằng Pharaoh Smenkere là con trai của Akhenaten
    mà không chú ý đến chi tiết là Akhenaten có 6 người con
    (hai người chết sớm) chứ không có con trai. Nhiều nhà sử
    học đã ghi rằng Akhenaten truyền ngôi cho con trai là
    Smenkere mà không để ý đến chi tiết là Akhenaten chết
    năm 46 tuổi trong khi ngôi mộ của Smenkere ghi rõ ông
    này chết năm 72. Một người ngoài bốn mươi không thể có
    con trai ngoài bảy mươi được.
    Cũng như thế, ngôi mộ của Smenkere ghi rõ ông này
    không có vợ. Chữ Ai Cập "Khum" (dịch sang Anh ngữ là
    "bare") nghĩa là không có gia đình hay con cái, thế mà có
    người lại ghi Tutankhamun là con trai của Smenkere.
    Ngoài ra một số nhà khảo cổ khác còn cho Tutankhamun
    (King Tut) là con của Akhenaten mà quên rằng ông này
    không hề có con trai vì nếu ông có con trai thì một người
    như Smenkere chẳng thể làm Pharaoh được.
    Sở dĩ có những kết luận vội vàng như thế vì
    Tutankhamun đã lấy Akhenaseamun, con gái lớn của
    Akhenaten làm vợ, tức là làm rể Akhenaten. Chữ Ai Cập,
    "Fi" có thể dịch nghĩa là con trai hay con rể cũng được.
    ° ° °
    NHỮNG TÊN GỌI THEO NGHĨA AI CẬP
    Trong tác phẩm The Egyptian, kịch tác gia Mika Waltari
    đã dựa theo truyền thuyết Ai Cập và Hy Lạp để tiểu thuyết
    hóa những nhân vật lịch sử như Sinuhe, Akhenaten,
    Horemheb. Tuy nhiên các chi tiết tìm được trong các ngôi cổ
    mộ gần đây đã cho thấy các truyền thuyết kia có lẽ không
    sai sự thật bao nhiêu.
    Người Ai Cập rất chú trọng đến tên gọi, danh tánh vì
    việc định danh cho một người là nghi thức rất quan trọng có
    liên quan đến đời sống ở thế giới bên kia. Sau đây là ý
    nghĩa tên gọi của những nhân vật chính:
    - Sinuhe (Độc Cô): Con người cô độc lang thang.
    - Horemheb (Hùng Nhân): Người có nhiều hùng tính.
    - Akhenaten (Thuận Thiên): Người sống thuận theo lòng
    trời.
    - Smenkere (Giám Luật): Người thi hành luật pháp.
    - Taiya (Ngư Nương): Người đẹp đánh cá.
    - Nefertiti (Mỹ Nương): Người đẹp từ xa đến.
    - Baketamon (Thần Nương): Người tin theo quỉ thần.
    - Meryt (Hạnh Nương): Người có nhiều nết tốt.
    - Kepta (Lợi Nô): Người nô lệ chỉ biết tính toán lời lỗ.
    Nói đến Ai Cập, người ta phải nhắc đến Kim Tự Tháp,
    một kiến trúc vĩ đại chưa từng có của lịch sử nhân loại. Làm
    sao người ta có thể di chuyển những tảng đá nặng hàng
    trăm tấn rồi sắp xếp chồng lên nhau một cách qui mô như
    thế được? Bằng kỹ thuật gì mà người xưa có thể đẽo ra
    những khối đá vuông vức để khi chồng lên nhau, nó vừa
    vặn như được đúc khuôn như thế? Người xưa xây Kim Tự
    Tháp vào mục đích gì?
    Mặc dù có hàng chục giả thuyết khác nhau được đưa ra,
    nhưng hầu hết các nhà khoa học người Âu vẫn cho rằng Kim
    Tự Tháp chỉ là nhà mồ để tàng trữ thi thể các vua Pharaoh.
    Dĩ nhiên đó cũng chỉ là dự đoán.
    Các nhà sử học thận trọng không chấp nhận lời giải thích
    này. Họ đặt ra các câu hỏi rằng tại sao Ai Cập có hàng trăm
    Pharaoh mà chỉ có dăm bảy Kim Tự Tháp? Không lẽ người ta
    đem hai triệu ba trăm ngàn tảng đá, mỗi tảng nặng trên
    một trăm tấn, sắp xếp lên nhau một cách công phu chỉ để
    tàng trữ thi hài một Pharaoh?
    Các nhà khảo cổ cẩn thận hơn đưa ra một dữ kiện khác
    rằng, người ta không hề tìm thấy một xác chết hay một dấu
    tích nào cho thấy Kim Tự Tháp là một nhà mồ. Vách tường
    trong Kim Tự Tháp trống trơn, không ghi khắc một dòng
    chữ hay tranh vẽ gì trong khi những mồ mả khai quật tại
    Thung Lũng Mộ Vua đều có rất nhiều hình vẽ, ghi nhận
    những chiến công oanh liệt cũng như chi tiết về vị Pharaoh
    liên hệ.
    Người ta còn tìm được đồ đạc, trang phục thuở sinh tiền
    chôn trong mồ để vị Pharaoh qua đời sử dụng ở thế giới bên
    kia. Chẳng lẽ một Pharaoh tốn công cho xây nhà mồ vĩ đại
    như thế chẳng để lại một dòng chữ hay hình ảnh gì về mình
    hay sao? Do đó, các nhà khảo cổ kết luận rằng chắc chắn
    Kim Tự Tháp không phải nhà mồ như mọi người vẫn nghĩ.
    Tuy thế họ cũng bó tay không giải thích thêm được điều
    gì mới lạ. Cho đến nay Kim Tự Tháp Ai Cập vẫn còn là một
    bí mật mà chưa ai tìm ra câu trả lời.
    ° ° °
    THUNG LŨNG MỘ VUA
    Thung Lũng Mộ Vua (Valley of the Kings) là nơi chôn cất
    dành riêng cho vua chúa Ai Cập và những quan triều có liên
    hệ đến hoàng tộc. Đây là một thung lũng hẹp, bao bọc bởi
    một rặng núi đá với những sườn dốc, nhấp nhô kỳ dị. Chính
    Ramses II, vị vua nổi tiếng nhất lịch sử Ai Cập, an giấc ngàn
    thu tại thung lũng này. Đây cũng là nơi Hatshepsut, người
    phụ nữ đầu tiên dám xưng là Pharaoh, bất chấp truyền
    thống trọng nam khinh nữ, được chôn cất.
    Khi những nhà khảo cổ người Âu tìm đến nghiên cứu thì
    những ngôi mộ đều trống rỗng vì bị kẻ trộm đào xới lấy đồ
    quí từ lâu, chỉ còn sót lại một số chum vại bằng đất nung và
    những hình ảnh ghi khắc trên vách đá mà thôi.
    Thật ra ngay từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, sử
    gia Hy Lạp Diodorus Siculus đã đến viếng nơi này và ghi
    nhận: "Theo các giáo sĩ phụ trách việc cúng tế nơi đây thì
    trong nghĩa trang có bốn mươi bảy ngôi mộ Pharaoh nhưng
    hơn ba chục ngôi đã bị kẻ trộm đào xới và đốt phá tan
    hoang. Dù triều đình có cho quân sĩ canh phòng nghiêm
    ngặt và kết án tử hình những kẻ trộm mồ mả nhưng nạn
    đào xới để lấy đồ quí vẫn xảy ra như thường".
    Mười lăm thế kỷ sau, Hầu tước Richard Polockle đến đây
    khảo sát nhưng ông chỉ tìm được di tích của chín ngôi mộ vì
    những ngôi mộ kia đã bị vùi sâu trong lòng cát sa mạc. Ông
    viết: "Đó là những ngôi mộ trống rỗng, đồ đạc bị đập phá,
    chỉ còn một ít chén bát bằng đất nung và hình ảnh vẽ trên
    vách là còn nguyên vẹn. Tôi tìm thấy một vài mẩu xương
    vụn của xác ướp bị đốt cháy nám đen nhưng không biết đó
    là xác vua Pharaoh hay xác người hầu cận bị ướp chôn theo
    mồ."
    Vào năm 1798, Hoàng đế Nã Phá Luân (Napoleon) mang
    một đoàn tùy tùng gồm nhiều khoa học gia đến Ai Cập. Họ
    cũng không tìm thấy gì hơn ngoại trừ các cổ mộ trống rỗng
    và các thạch trụ ghi khắc những văn tự lạ lùng, không ai
    hiểu, Nã Phá Luân bèn cho tháo gỡ một thạch trụ (Obelisk)
    mang về Pháp và ngày nay nó trở nên một thắng tích cho
    du khách tại Paris.
    Vào năm 1819, nhà thám hiểm Giovani Belzoni cho khởi
    công khai quật những ngôi cổ mộ tại đây với mục đích tìm
    kiếm các báu vật còn sót lại trong mồ. Ông cũng không tìm
    được gì ngoài di tích ngôi mộ của Pharaoh Seti I với những
    hình ảnh khắc trên vách đá rất đẹp. Thất vọng, ông cho vẽ
    lại những hình ảnh này rồi mang về Âu châu triển lãm và
    mở đầu cho phong trào nghiên cứu cổ vật Ai Cập.
    Một trong những người có công lớn trong việc sưu tầm
    các cổ vật này là nhà sưu tầm cổ ngoạn Auguste Mariette.
    Ông tin rằng trải qua bao năm tháng, có lẽ các cổ vật này
    vẫn nằm trong tay dân chúng địa phương nên thay vì đào
    xới mất công, ông sẵn sàng trả một món tiền lớn để mua lại
    những cổ vật ấy. Chỉ trong vòng một năm, ông đã mua
    được hơn hai ngàn cổ vật rất giá trị, để mang về trưng bày
    trong bảo tàng viện Louvres, Pháp quốc.
    Việc phát hiện khối đá đen Rosetta với những dòng chữ
    Ai Cập và Hy Lạp đã giúp nhà ngôn ngữ học Jean François
    Champolion sắp xếp các mẫu tự Ai Cập và phục hồi được
    văn tự đã thất truyền từ mấy ngàn năm nay. Nhờ thế, các
    nhà khảo cổ mới đọc được các dòng chữ ghi khắc trong cổ
    mộ. Chính vì thế, nhà khảo cổ Gaston Maspero đã đọc được
    tài liệu khắc trên đá của Pharaoh Hettetowey: "Ta rất đau
    lòng khi thấy các mồ mả trong thung lũng bị đào xới tan
    hoang, thi hài tổ tiên ta bị phơi bầy, không ai thờ cúng nên
    ta cho cải táng tất cả vào hang Deir El Bahri."
    Đây là một chi tiết hết sức quan trọng, cho thấy nạn đào
    xới mồ mả để lấy đồ quí giá đã xảy ra từ lâu nên một
    Pharaoh phải mang thi hài tổ tiên cải táng vào một chỗ kín
    đáo. Nhưng hang Deir El Bahri nằm ở chỗ nào? Các cuộc tìm
    kiếm đều không mang được kết quả khả quan.
    Cuối cùng Maspero nảy ra một sáng kiến táo bạo. Ông
    bắt chước Auguste Mariette, tìm mua cổ vật từ các con buôn
    Ai Cập nhưng treo giá rất cao cho các cuốn Tử Thư (Book of
    the Death). Đây là những cuốn sách được chôn theo quan
    tài của các Pharaoh, tìm được sách này là tìm được quan tài.
    Quả nhiên ít lâu sau có người tìm đến bán cho ông cuốn
    Tử Thư của Pharaoh Hettetoway và trong một thời gian
    ngắn, ông sưu tập được hơn mười cuốn Tử Thư của các
    vương tôn, đại thần thuộc triều đại này. Hiển nhiên những
    con buôn Ai Cập đã biết chỗ côn cất thi hài của các Pharaoh
    nên mới lấy được những cuốn sách ấy.
    Ông bèn yêu cầu chính quyền Anh can thiệp và bắt giữ
    người bán cổ vật Abdul Er Rassould để điều tra. Qua sự
    thẩm vấn khéo léo, tên này khai rằng y đã tìm được hang
    Dier El Behri từ nhiều năm và sẵn sàng đưa Emil Brugsh,
    một thám tử người Anh, đến đó khảo sát.
    El Behri là một hang sâu nằm trong lòng núi rất hiểm
    trở. Nếu không có người dẫn đường, ít ai có thể tìm ra được.
    Thám tử Brugsh phát hiện hơn năm mươi quan tài, chứa
    đựng thi hài các Pharaoh Ai Cập, từ thời đại Tân Sử đến thời
    đại của Pharaoh Hettetoway (hơn 400 năm).
    Chính tại đây, Brugsh đã thấy xác ướp của Tutmosis I, II
    và III; Amenophis I và II (tổ tiên của Akhenaten); xác ướp
    của Smenkere, Horemheb; Seti I và II; Ramses I và II;
    Pinedjem I v.v… Tuy không phải là nhà khảo cổ nhưng ông
    cũng biết đây là một khám phá hết sức quan trọng. Ông
    cũng biết việc chính quyền Anh bắt giữ một người Ai Cập để
    điều tra nơi chôn giấu thi hài các vua Pharaoh có thể gây ra
    những hậu quả bất lợi. Nếu tin này lộ ra, người Ai Cập có
    thể viện cớ người Anh đến đào xới mồ mả tổ tiên họ để làm
    động cơ cho các lực lượng chính trị nổi dậy. Do đó ông vội
    vã cho thuyên chuyển những cỗ quan tài này về viện bảo
    tàng Cairo một cách gấp rút. Cũng vì thế, một số tài liệu đã
    bị thất lạc, hư hại, và ông đã không kịp ghi nhận căn hầm El
    Bahri bằng phim ảnh.
    Sau khi kiểm điểm tất cả các thi hài, người ta thấy còn
    thiếu một số xác ướp của Tutmosis IV, Amenophis III và
    Menerpah I, là những Pharaoh đã có nhiều chiến công hiển
    hách trong lịch sử. Vì thế một cuộc tìm kiếm qui mô đã được
    tổ chức ngay sau đó. Năm 1898, nhà khảo cổ Victor Loret
    đã tìm được xác ướp của ba vị vua trên cùng với một số xác
    ướp khác được chôn giấu tại một hang núi gần đó. Đối chiếu
    với các tài liệu lịch sử thì hầu như tất cả các xác ướp
    Pharaoh của thời Tân Sử đều được phát hiện, chỉ trừ xác
    ướp của Akhenaten và Tutakhamun mà thôi.
    ° ° °
    PHẾ TÍCH AMARNA VÀ NHỮNG CÂU HỎI CHƯA ĐƯỢC
    GIẢI ĐÁP
    Sau khi lên ngôi Pharaoh được 6 năm thì Akhenaten cho
    khởi công xây cất một thành phố gọi là Tel El Amarna.
    Không biết tại sao ông lại chọn một nơi chốn hoang vu, hẻo
    lánh ngoài sa mạc làm thủ đô như thế. Các nhà viết sử cho
    rằng Akhenaten muốn chọn một nơi không có đền thờ hay
    giáo sĩ của Amun (Đa thần giáo) để lập đền thờ Aten hay
    chân lý tuyệt đối. Người khác lại cho rằng ông muốn khởi
    xướng một triều đại mới, một tôn giáo mới nên chọn một
    nơi hoàn toàn mới mẻ, không chịu ảnh hưởng các truyền
    thống cũ, để dựng nghiệp.
    Phần lớn các thành phố của Ai Cập đều được xây cất
    theo hình tam giác hay hình vuông, nhưng Amarna lại được
    xây cất theo hình tròn với trung tâm điểm là đền thờ Aten.
    Đây là một cuộc cách mạng kiến trúc rất lớn khi đó, tiêu
    biểu cho sự tin tưởng của Akhenaten về ngôi Thái Dương.
    Bên cạnh đền Aten là cung điện của Akhenaten. Đó là
    một cung điện nhỏ bé, khiêm tốn so với cung điện của các
    Pharaoh đời trước nhưng phía sau ông lại cho xây một thư
    viện khổng lồ, có thể chứa đựng rất nhiều sách vở. Hiển
    nhiên Pharaoh Akhenaten là người yêu thích sách vở, văn
    chương. Tài liệu tìm được tại đây ghi nhận rằng nhà vua đã
    cho thuyên chuyển rất nhiều sách vở tài liệu từ Thebes,
    Memphis và các thành phố lớn khác mang về đây để ông
    học hỏi.
    Bên cạnh thư viện là một trường học đang được xây cất
    dở dang mang tên Per Ankh hay trường Khoa Học Của Sự
    Sống. Tại sao Akhenaten lại cho xây một Trung tâm Y khoa
    tại đây? Từ mấy ngàn năm nay, trường Khoa Học Của Sự
    Sống tọa lạc tại Abydos, vẫn được coi là nơi duy nhất đào
    tạo các học giả và y sĩ cho Ai Cập. Không lẽ Akhenaten cho
    xây một trường học khác tại Amarna cạnh tranh với trường
    tại Ai Cập hay sao? Đây là một câu hỏi mà các nhà khảo cổ
    không tìm được câu trả lời.
    Trước cửa thư viện là một đường lớn dẫn đến rạp hát,
    nơi Pharaoh thường đến xem hát. Phía sau rạp hát là một
    dãy nhà dành cho các nghệ sĩ trình diễn. Tài liệu tìm được
    cho biết lúc đó có cả trăm gánh hát khắp nơi đến đây trình
    diễn. Các bức bích họa còn cho thấy ngoài việc xem hát,
    Akhenaten còn yêu thích âm nhạc, tranh ảnh nghệ thuật và
    thơ phú. Nghệ thuật hội họa dưới thời Akhenaten là một
    chuyển hướng quan trọng vì hầu hết các tranh vẽ đều chú
    trọng đến đời sống của dân chúng với các màu sắc và nét
    vẽ phóng khoáng chứ không như nền hội họa khi trước, chỉ
    đề cao các thần linh và vua chúa. Quanh đó người ta còn
    tìm được hàng ngàn bài thơ của các thi sĩ viết trên vách
    hoặc trên những mảnh đất nung, phần lớn nội dung đều đề
    cập đến tình cảm thiên nhiên và con người, khác hẳn các
    thơ văn đời trước và sau đó, một mực ca tụng thần linh hay
    chiến công hiển hách của các bạo chúa.
    Đền thờ Aten cũng là một công trình kiến trúc độc đáo.
    Đó là một đền thờ lộ thiên, bên trong không có hình tượng,
    không có những cột đá uy nghi, không có các biểu tượng
    thần linh. Nó chỉ là một chiếc sân rộng, lớn bằng hai sân
    vận động ngày nay, với bàn thờ chính giữa để một biểu
    tượng Aten hình tròn, tượng trưng cho chân lý tuyệt đối. Có
    lẽ Ai Cập dưới triều đại Akhenaten phải là một thời buổi lạ
    lùng, vì trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, không một quốc
    gia hay vua chúa nào lại chủ trương tôn thờ một biểu tượng
    duy nhất, tượng trưng cho sự thật tuyệt đối cả.
    Từ các quốc gia láng giềng như Syria, Ba Tư, Palestine,
    Nubia đến các bộ lạc man dã ở miền nam xứ Nubia, đâu đâu
    dân chúng cũng tôn thờ cả ngàn thần linh như thần đất,
    thần sông, thần làng, thần núi chứ chưa một nền văn hóa
    nào lại đề cập đến một ngôi vị duy nhất, độc tôn, toàn năng
    như chủ trương của Akhenaten.
    Năm 1824, nhà khảo cổ John Wilkinson đến khảo sát
    Amarna và ghi nhận: "Đây là một thành phố với những kiến
    trúc lạ lùng, khác hẳn tất cả những thành phố Ai Cập mà tôi
    khảo sát. Khắp nơi là các bức bích họa và những bài thơ ghi
    khắc trên đá hay trên tường. Không tại đâu người ta làm
    thơ và vẽ lên tường nhiều như tại đây. Vì một lý do gì đó,
    các kiến trúc đều bị đập phá tan hoang, tên tuổi ghi khắc
    trên tường bị đục ra…"
    Năm 1890, nhà khảo cổ Flinder Petrie đến đào xới nơi
    đây và ghi nhận: "Trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, các
    bích họa đều vẽ Pharaoh như một người khỏe mạnh, hùng
    tráng cưỡi ngựa, cầm gươm đánh đuổi quân thù; nhưng tại
    Amarna không có một bức họa nào vẽ cảnh chiến tranh cả.
    Khắp nơi chỉ toàn tranh vẽ đời sống dân chúng, phụ nữ gặt
    lúa, trẻ con chơi đùa, ông già câu cá. Không hề có bức vẽ
    Pharaoh dâng cúng phẩm vật cho thần linh, chỉ có những
    bức họa Pharaoh ngồi xem hát với vợ con hay đứng dưới
    chiếc đĩa tròn tỏa ánh sáng chói lọi".
    Tuy nhiên các dòng chữ đề cập tên tuổi của vị Pharaoh
    này đều bị bôi xóa hay nếu khắc trên đá thì bị đục ra như
    để hậu thế không còn biết vị Pharaoh này là ai, tên gì. Một
    chi tiết lạ lùng hơn nữa là một số gạch đá, vật liệu xây cất
    cung điện của vua đã bị tháo gỡ mang đi như để xóa bỏ một
    thời đại trong lịch sử. Petrie cho khởi công đào xới quanh đó
    và tìm được rất nhiều tài liệu quí giá còn sót lại. Chính nhờ
    thế mà ông biết đến tên vị Pharaoh này là Akhenaten.
    Việc ghi chép các tài liệu lên giấy chỉ thảo (Papyrus) đã
    có từ ngàn xưa nhưng giấy chỉ thảo rất đắt, chỉ dành cho
    vua chúa mà thôi. Dưới triều đại Akhenaten, người ta bắt
    đầu sử dụng những miếng đất sét, ghi khắc lên đó rồi mang
    ra nung thành những mảnh ngói. Việc sử dụng những miếng
    ngói nung làm phương tiện truyền thông, phổ biến tư tưởng
    đã mở đầu cho một thời buổi vàng son của văn chương Ai
    Cập.
    Chưa lúc nào văn chương, thơ phú lại thịnh hành như
    thời đại này và nhờ những mảnh đất nung ấy mà Petrie đã
    tìm được những tài liệu quí giá do chính tay Akhenaten viết.
    Cuộc đào xới quanh thư viện tại Amarna đã phát hiện ra
    rất nhiều tài liệu của Akhenaten viết, như sau: "Ta chỉ là
    người thuật lại những hiểu biết của cổ nhân chứ không phải
    là kẻ sáng chế ra những điều này".
    Một mảnh ngói khác ghi nhận: "Ta chỉ học hỏi những
    hiểu biết của cổ nhân, sưu tầm, san định lại để phục hồi
    nền minh triết của Thánh sư Thoth. Chân lý của Thoth đã
    mất hẳn trong các đền thờ tôn giáo nhưng vẫn còn tồn tại
    nơi lòng người. Nếu biết quay vào bên trong tìm kiếm thì sẽ
    hiểu biết được những điều giảng dạy của Thoth".
    Nếu như thế, phải chăng nền tôn giáo thời cổ xưa của Ai
    Cập không hẳn là nền tôn giáo đa thần như nhiều học giả
    vẫn nghĩ?
    Trong các cổ vật Ai Cập, bức tượng bán thân của
    Nefertiti được coi là một công trình điêu khắc tuyệt hảo. Các
    nhà khảo cổ ngày nay đã đề cao Nefertiti như người "đàn bà
    đẹp nhất Ai Cập". Điều này có lẽ không sai bao nhiêu vì
    trong các cổ vật Ai Cập, người ta đã tìm thấy hàng trăm bài
    thơ ca tụng nhan sắc bà và một trong những tác giả nhiệt
    thành nhất chính là Pharaoh Akhenaten. Hầu hết trong các
    bức bích họa của Akhenaten đều có hình ảnh của Nefertiti
    đứng cạnh, hình như họ không hề rời nhau. Trước khi chết,
    Akhenaten truyền lệnh cho khắc tên Nefertiti quanh cỗ quan
    tài của ông chứ không ghi khắc hình ảnh các thần linh như
    truyền thống Ai Cập. Người ta còn tìm được trong mộ của
    ông rất nhiều bài thơ ghi khắc trên những tấm bảng đá,
    trong đó có nhiều bài nói về "người đàn bà ngọt ngào như
    mật ong" này.
    Tài liệu lịch sử ghi rằng sau khi Akhenaten qua đời,
    Smenkere lên ngôi Pharaoh và dời thủ đô về Memphis
    nhưng Nefertiti, khi đó mới ngoài ba mươi tuổi, vẫn tiếp tục
    sống tại Amarna với bốn người con gái. Smenkere chỉ làm
    vua được hai năm thì qua đời. Trước khi chết, ông truyền
    lệnh cho con trai duy nhất là Tut phải thành hôn với
    Akhensenaten, con gái lớn của Akhenaten.
    Pharaoh Tutankhamun cũng chỉ cai trị được 9 năm thì
    qua đời. Vì ông chưa có con nên ngôi vị Pharaoh được
    truyền cho Tể tướng Horemheb. Dưới sự cai trị của
    Horemheb, Ai Cập trở lại địa vị cường quốc với một lực
    lượng quân sự hùng hậu nhưng khi lên ngôi, Horemheb vẫn
    còn độc thân.
    Truyền thống Ai Cập khuyến khích đàn ông lập gia đình
    sớm. Đa số con nhà dân giã đều lập gia đình khoảng từ
    mười sáu đến hai mươi và con nhà quyền quí thường lập gia
    đình sớm hơn nữa. Một người chỉ huy Ngự lâm quân dưới
    thời Akhenaten, làm tể tướng thời Smenkere và
    Tutankhamun mà vẫn độc thân là một việc lạ. Khi lên ngôi
    Pharaoh thì Horemheb đã ngoài bốn mươi và mãi đến tám
    năm sau ông mới chịu lập gia đình. Trong lịch sử Ai Cập, có
    lẽ Horemheb là Pharaoh duy nhất lập gia đình muộn màng
    như thế.
    Năm 1967, nhà khảo cổ Kevin Livingston khởi công khai
    quật mồ của Horemheb trong Thung Lũng Mộ Vua. Ông
    phát hiện rằng các tảng đá xây mồ đều là những tảng đã
    cũ, đã được dùng từ trước tại Amarna. Theo truyền thống
    kiến trúc Ai Cập, mỗi khi đẽo đá người ta thường khắc lên
    đó niên hiệu của Pharaoh rồi đánh số thứ tự theo họa đồ
    kiến trúc của địa điểm xây cất.
    Livingston tìm thấy các tảng đá xây mồ cho Horemheb
    đều được tháo gỡ từ cung điện của Akhenaten tại Amarna.
    Mặt đá khắc ghi nhiên hiệu của Akhenaten được xoay vào
    phía trong rồi người ta khắc niên hiệu của Horemheb ra phía
    ngoài nên khi khai quật ngôi mộ này, Livingston đã tìm được
    rất nhiều tảng đá có ghi khắc niên hiệu của cả hai Pharaoh.
    Tại sao Horemheb lại cho tháo gỡ những tảng đá tại
    cung điện của Akhenaten để xây nhà mồ cho mình? Không
    lẽ một Pharaoh oai phong lừng lẫy như ông lại hà tiện đến
    nỗi phải ăn cắp gạch đá từ cung điện vị vua trước để xây
    nơi chốn an nghỉ cho mình?
    Vì bên cạnh niên hiệu Pharaoh là số thứ tự của địa điểm
    xây cất nên Livingston đã phát hiện được một chi tiết vô
    cùng lý thú: Tất cả những tảng đá xây mồ của Horemheb
    đều được tháo gỡ ra từ phòng riêng của Nefertiti, trong
    cung điện của Akhenaten.
    Cuộc khảo nghiệm tại Amarna cho thấy cung điện của
    Akhenaten bị tháo gỡ ra thành nhiều mảnh; một số gạch đã
    được chuyển đi nơi khác, chỉ còn lại một số nằm vương vãi
    khắp nơi. Vì các gạch đá đều được đánh số thứ tự khác
    nhau để thợ thuyền xây cất nên người ta có thể biết đích
    xác số gạch bị lấy đi thuộc nơi nào trong cung. Cuộc điều
    tra cho thấy số gạch từ phòng riêng của Nefertiti đã bị lấy đi
    để xây mồ cho Horemheb. Tại sao lại có việc kỳ lạ như thế?
    Ngoài ra những bia đá, thạch trụ có ghi tên Nefertiti đều bị
    xóa bỏ hết, dường như người ta không còn muốn ai biết đến
    bà này nữa.
    Theo tài liệu thì sau khi Akhenaten qua đời, Smenkere
    cho dời thủ đô về lại Memphis nhưng Nefertiti vẫn tiếp tục
    sống tại Amarna. Dù con gái lớn của bà lấy Tutankhamun,
    bà vẫn sống tại đây với ba người con gái sau cho đến khi
    qua đời. Không ai biết đời sống của người đàn bà đẹp nhất
    Ai Cập tại cố đô hẻo lánh hoang tàn này như thế nào nhưng
    sau khi bà qua đời được hơn một năm thì Pharaoh
    Horemheb mới lập gia đình.
    Thông thường ngay sau khi lên ngôi, việc đầu tiên của
    các Pharaoh là lo xây cất mồ mả cho mình nhưng tài liệu
    trong mồ Horemheb ghi rằng ông cho khởi công xây mộ sau
    khi Nefertiti qua đời được khoảng một năm. Có thể ông bận
    rộn việc chấn chỉnh quân lực để chuẩn bị cho chiến tranh
    nên không cho xây cất nhà mồ ngay, nhưng tại sao ông lại
    cho tháo gỡ gạch đá từ phòng riêng của Nefertiti để xây mồ
    mình? Nếu vì lý do nào đó ông không thích Akhenaten thì
    việc ông cho phá hủy cung điện tại Amarna không phải là
    điều lạ. Trong lịch sử thiếu gì các Pharaoh cho đào mồ xới
    mả hay phá hủy cung điện của vị vua trước vì hận thù cá
    nhân, nhưng chưa có ai lại đi lấy gạch vụn ấy về xây mồ mả
    cho mình. Một Pharaoh oai phong như Horemheb đâu thể
    tiếc chút gạch vụn đó, trừ khi ông đã thầm yêu trộm nhớ
    người đàn bà đẹp nhất Ai Cập này! Chỉ có lý do đó mới giải
    thích được việc một Pharaoh bách chiến bách thắng như ông
    lại cho lấy gạch từ phòng riêng của bà vợ cựu hoàng đế về
    để xây mộ cho mình.
    Người Ai Cập tin tưởng vào đời sống ở thế giới bên kia và
    thường chôn trong mồ những đồ đạc mà họ thích nhất, để
    mang nó qua cõi bên kia. Phải chăng việc mang gạch đá từ
    phòng riêng của Nefertiti để xây mồ cho mình ám chỉ việc
    Horemheb muốn sống mãi trong căn phòng riêng của người
    đàn bà ấy? Do đó ông mang cả căn phòng đó xuống tuyền
    đài?
    Phải chăng vì ghen với Akhenaten mà ông cho bôi xóa
    tên Nefertiti trong các bia đá, thạch trụ? Dĩ nhiên người chỉ
    huy Ngự lâm như Horemheb phải có nhiều cơ hội gặp gỡ
    hoàng hậu Nefertiti và sắc đẹp của bà đã chinh phục con
    tim Horemheb. Khi Akhenaten còn sống thì đây chỉ là một
    thứ tình thầm kín, tuyệt vọng; nhưng khi ông này qua đời,
    Smenkere lên ngôi Pharaoh thì Horemheb có thể xin được
    thưởng cho mình bà vợ của ông vua kia. Phong tục Ai Cập
    không ngăn cấm việc một Tể tướng lấy một quả phụ vợ vua
    trước. Trừ khi Nefertiti cự tuyệt mối tình này để thủ tiết với
    Akhenaten. Phải chăng vì thế Horemheb đã ôm mối tình
    tuyệt vọng cho đến khi Nefertiti qua đời rồi còn cho gỡ gạch
    đá từ phòng riêng của bà này về xây cất nơi an nghỉ cuối
    cùng cho mình?
    Cho đến nay, các nhà khảo cổ chưa khám phá ra ngôi
    mộ của Nefertiti mặc dù công cuộc khai quật chung quanh
    Amarna vẫn tiến hành đều đặn. Có lẽ người ta sẽ không bao
    giờ tìm được nấm mồ của người đàn bà đẹp nhất Ai Cập ấy!
    Nefertiti qua đời khi Amarna đã suy tàn, khi dân chúng
    không còn muốn nhắc nhở gì đến Akhenaten nữa. Ai Cập đã
    có một Pharaoh khác và người ta đang chuẩn bị chiến tranh.
    Không thấy một tài liệu gì ghi nhận về đám tang của bà và
    dĩ nhiên xác của bà không được ướp vì các giáo sĩ phái
    Amun không bao giờ tẩm liệm, ướp xác cho những kẻ "phản
    giáo", không tin tưởng vào thần Amun. Nếu không được ướp
    thì có lẽ thân xác của Nefertiti đã tan thành tro bụi từ lâu
    rồi và chỉ còn duy nhất bức tượng bán thân của bà tồn tại
    đến nay. Cuộc phát hiện ra việc Horemheb lấy gạch từ
    Amarna về xây mồ cho mình vẫn là một câu hỏi mà mấy
    ngàn năm nay chưa ai tìm được câu trả lời đích xác.
    Cũng như những vết chân trên cát chỉ tồn tại một
    thoáng giây rồi phai mờ; huyền thoại về một người Ai Cập,
    qua Hy Lạp mở trường dạy học, đào tạo nhiều thế hệ học
    trò xuất sắc chỉ còn là một câu chuyện mơ hồ trong cuộc
    sống ồn ào, náo nhiệt ngày nay.


Hội Quán Phi Dũng ©
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...
X