Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ – VÕ Ý

Collapse
X

Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ – VÕ Ý

Collapse
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Nguyen Huu Thien
    Moderator

    • Jul 2014
    • 1320

    #1

    Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ – VÕ Ý

    Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ – VÕ Ý

    Nhà thơ, nhà văn Võ Ý là một tên tuổi quen thuộc trong giới cầm bút ở hải ngoại. Riêng với độc giả Không Quân, ông được biết tới từ trước năm 1975 qua thơ văn đóng góp trên tập san LÝ TƯỞNG của Bộ Tư Lệnh Không Quân.

    Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ là tuyển tập thứ năm của ông tại hải ngoại - sau Lý Lịch Dọc Ngang Của Thảo, Tổ Ấm Bay Về,
    Tuyển Tập Bắc Đẩu Võ Ý, Thơ Ý
    - dự trù sẽ xuất bản nay mai.

    Hội Quán Phi Dũng trân trọng giới thiệu TỰA của tuyển tập.





    CÁNH CHIM TỰ DO &
    KHUNG TRỜI NHÂN BẢN CŨ


    Tựa

    Tôi phục vụ trong Không Lực trên 10 năm qua các Phi Đoàn Quan Sát 110 Thiên Phong - Đà Nẵng, 114 Sơn Ca - Nha Trang và 118 Bắc Đẩu - Pleiku.

    Sau 30/04/1975, do cộng nghiệp, tôi bị đọa đày gần 13 năm trong các trại tù Cộng Sản như Suối Máu Biên Hòa, Liên Trại 6 Hoàng Liên Sơn, các trại Hà Tây, Nam Hà (ngoài Bắc). Sau cùng là trại Xuân Lộc Đồng Nai.

    Tôi đi HO-10 và định cư tại Saint Louis, tiểu bang Missouri ngày 19 tháng 6 năm 1992, một ngày khó quên đối với một cựu quân nhân. Tại vùng đất mới, lúc rãnh rỗi, tôi ngồi moi óc nhớ lại những ý thơ nhen nhúm trong tù cũng như những kỹ niệm vui buồn một thời chinh chiến.

    Tôi bắt đầu đóng góp bài vở cho Tạp Chí Nguồn (San Jose', CA), các đặc san Quân Đội mà tôi từng cọng tác trươc 75 như Đa Hiệu, (Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam), Lý Tưởng, (Tổng Hội Không Lực) và các đặc san khác…

    Năm 2003 (11 năm sau khi định cư), tôi trình làng tại San Jose’ tác phẩm đầu tay mang tên Lý Lịch Dọc Ngang Của Thảo. Mười năm sau, năm 2013, tác phẩm thứ 2, Tổ Ấm Bay Về chào đời tại Nam Cali. Hai đầu sách đó hiện nay không còn bày bán trong các tiệm sách.

    Phải 21 năm, mới rị mọ được 2 tác phẩm, điều đó khẳng định, tôi không phải là nhà văn, cũng không phải là nhà thơ, trước sau, tôi vẫn là nhà...binh. Qua đó, chữ nghĩa của tôi như một loại vũ khí mềm, là thuốc bồi khi gặp quân bạn, là tạc đạn khi gặp kẻ thù.

    Vì Không Quân gắn liền với binh nghiệp và cho tôi vinh dự được thể hiện trách nhiệm và bổn phận của một phi công thời chiến, nên tình cảm của tôi tỏ ra mặn nồng với Quân Chủng thân yêu cũng là điều dễ thông...cảm!

    Bầu trời thì vô tận và vĩnh cữu, nhưng cánh chim không thể vượt qua lẽ vô thường. Đã đến lúc đàn chim xưa chuẩn bị hành trang cho một phi vụ cuối cùng:

    Ta thân chim hơn nửa đời cánh mỏi
    Khát khao nay một tổ ấm bay về
    Mà cõi không kia vẫn âm thầm vẫy gọi

    Cháy bỏng lòng ta tình nghĩa đó sơn khê

    Sơn khê đó cũng là Khung Trời Nhân Bản Cũ mà những Cánh Chim Tự Do ước vọng một đời...

    Vườn Thượng Uyển
    Westminster, Thu 2026
    Bắc Đẩu Võ Ý





    CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NỀN TRỜI THỦ ĐÔ SÀI GÒN
    NGÀY QUÂN LỰC NĂM 1973


    Võ Ý


    Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) theo đó mà bành trướng về quân số cũng như canh tân về vũ khí và trang bị quân dụng.

    Kể từ lúc ngày 19 tháng 6 được chọn là Ngày Quân Lực thì hàng năm vào ngày đó, QLVNCH tổ chức mít-tinh diễn hành trọng thể tại các Quân Khu cũng như tại Thủ Đô Sài Gòn. Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực quy mô nhất được tổ chức năm 1973. Tất cả đơn vị ưu tú của các Quân Binh Chủng VNCH, các khóa sinh tại các quân trường, Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia, kể cả Lực Lượng Xây Dựng Nông Thôn và Nhân Dân Tự Vệ cũng vinh dự có mặt trong ngày trọng đại này.

    Sau các thủ tục khai mạc như chào cờ, mặc niệm và diễn văn vinh danh những chiến công lẫy lừng của Quân Đội trong sứ mạng Bảo Quốc An Dân là phần diễn hành, mở đầu bằng một cuộc phi diễn tất cả các loại phi cơ của Không Lực VNCH, như oanh tạc cơ cánh quạt AD6 Skyraider, phản lực cơ A37, F5, phi cơ quan sát loại mới O2, trực thăng đổ quân U1H, trực thăng khổng lồ Chinook, các vận tải cơ Caribou, C47, C123, C119 và C130.

    Mỗi hợp đoàn phi diễn từ ba đến sáu phi cơ.

    Mở đầu cuộc phi diễn là một hợp đoàn năm chiếc Skyraider bay theo đội hình mũi tên. Khi bay ngang qua khán đài phụ bên trái thì cả hợp đoàn phun ra 10 hàng khói màu vàng và đỏ xen kẽ từ hai bên cánh phi cơ, tạo thành hình lá cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, cờ Tổ Quốc linh thiêng, lung linh trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn thân yêu trong một sáng trong veo chớm hè.

    Tiếp theo phần mở đầu của phi cơ Skyraider là phần phi diễn của các loại phi cơ còn lại. Người xướng ngôn buổi lễ (hình như là chiến hữu Văn Thiệt của Đài Phát Thanh Quân Đội bấy giờ?) với giọng miền Nam thật trầm hùng, tuyên đọc thành tích cũng như công dụng của từng loại phi cơ diễn qua khán đài. Năm đó, Bộ Tư Lệnh Không Quân treo ba giải thưởng cho các hợp đoàn phi diễn (vào khoảng 10 hợp đoàn thì phải). Ban giám khảo gồm toàn những phi công bậc thầy đảm trách. Mỗi hợp đoàn được chấm giải dựa trên ba tiêu chuẩn sau:

    - Chính xác giờ khi bay ngang qua khán đài chính (giờ T.O.T)
    - Chính xác cao độ
    - Chính xác đội hình (cân đối ngay thẳng và đẹp như vẽ vậy!)

    Kết quả là:

    - Hợp đoàn phi cơ quan sát O2 chiếm giải Ba
    - Hợp đoàn trực thăng U1H chiếm giải Nhì
    - Hợp đoàn khu trục cánh quạt Skyraider AD6 chiếm giải Nhất, vì đã đạt điểm tối đa cho cả ba tiêu chuẩn đặt ra.

    Ngoài ra, hợp đoàn này còn nhận được một giải thưởng cao quý khác là đã được hàng trăm ngàn đồng bào tham dự buổi lễ tán thưởng bằng những tràng vỗ tay vang rền khâm phục tài nghệ điêu luyện của các phi công ưu tú của Không Lực, đã vẽ được lá cờ Tổ Quốc thân yêu trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn thân yêu!

    Người phi công trưởng Hợp Đoàn Skyraider chiếm giải Nhất là KQ Đan Hoài Bửu, Trung Tá Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 514 Sư Đoàn 3 KQ Biên Hòa, cựu tù Cộng Sản 13 năm, hiện định cư thành phố San Jose. Bốn phi công còn lại là KQ Huỳnh Văn Tưởng (đã hy sinh), các KQ Lê Tấn Phát, KQ Nguyễn Đại Điền, và KQ Hồ Ngọc Ân. Một phi tuần nhẹ trừ bị do hai phi công Trần Văn Mười và Nguyễn Văn Triết đảm nhiệm (nếu một hoặc hai trong năm phi cơ chính thức phi diễn bị trục trặc thì hai chiếc trừ bị sẽ thay thế ngay).

    Rất tiếc chúng tôi chưa sưu tầm được danh tánh quý chiến hữu trong Hợp Đoàn Trực Thăng chiếm giải Nhì. Quý độc giả nào có biết thì xin vui lòng bổ khuyết.

    Riêng Hợp Đoàn Quan Sát O2 được tham dự phi diễn lần đầu tiên trong lịch sử Không Lực VNCH với sáu phi cơ quan sát O2 hai động cơ, chia thành hai đội hình, mỗi đội hình ba phi cơ thuộc Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu Pleiku. Các phi công tham dự phi diễn là Nguyễn Quang Anh (San Jose), Đinh Đức Bản (California), Nguyễn Huỳnh Hòa (Florida), Lu Thái Hưng, Đặng Khởi Quang (Việt Nam), Đoàn Phan (Canada), Lê Văn Luận (hy sinh trên Biển Đông), Nguyễn Văn Tiếu (hy sinh trong trại tù CS) và Võ Ý (St Louis, MO). Ông bầu của Hợp Đoàn O2 là thầy Phạm Ngọc Sang, Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, đã dày công hướng dẫn nên Hợp Đoàn mới nhận được vinh dự này.

    Riêng hình chụp Hợp Đoàn 5 phi cơ AD6 thuộc Phi Đoàn 514 Biên Hòa thả khói màu thành hình Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1973, là một hình rất đặc biệt còn lưu lại, và chúng tôi xin sử dụng hình này cho hình bìa của Tuyển Tập (ấn bản 2018) này.

    Hình ảnh Ngày Quân Lực 1973 được thâu băng và ngày nay mỗi lần xem lại cuốn băng video “Sài Gòn Giã Biệt” (phát hành vào thập niên 80 thì phải), khi nhìn lại những đơn vị quân đội oai hùng bước nhịp nhàng theo tiếng nhạc hùng với phần phi diễn thả khói màu thành hình lá Cờ Vàng trên nền trời Tổ Quốc thân yêu, lòng người chiến sĩ nào cũng ngậm ngùi nung nấu.
    Ngậm ngùi cho vận nước.


    Nung nấu một ngày về dựng lại Cờ Vàng trên Đất Tổ Quê Cha!
    Last edited by Nguyen Huu Thien; 09-29-2026, 11:19 PM.
  • voy118
    Niên Trưởng
    • Jul 2011
    • 108

    #2
    KHÔNG QUÂN GIẢ
    Võ Ý

    Trước khi qua Mỹ tháng 6 năm 1992, chúng tôi khai thác một quán kem ở ngã tư Bình Thạnh. Quán kem này là một thành tựu đầy tự hào của các cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 17 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Chừng khoảng 10 anh em cựu SVSQ này hùn hạp mở quán, vừa tạo công ăn việc làm cho một số người, vừa gây quỹ tương trợ anh em trong khóa.

    Vợ chồng chúng tôi được đề cử đứng ra khai thác quán. Hàng tháng đóng một số tiền lời ấn định cho khóa, tiền thuế và tiền thuê mặt bằng, còn bao nhiêu, lời ăn lỗ chịu. Kể ra, chúng tôi cũng ngáp ngáp gần hai năm, từ cuối năm 1990 đến đầu năm 1992. Và quán cà-rem Lâm Viên nầy đã trở thành tổ ấm cho hàng trăm Không Quân (KQ) ghé thăm, nhận chút ân tình của bạn bè ở Mỹ gởi về, cũng như nhờ chuyển tiếng kêu cứu nhắn gửi đến đồng đội bên kia bờ Đại dương.

    Ở Sài Gòn thời đó chưa thấy một tổ hợp kinh doanh thuộc dạng này. Và cũng nhờ “quán cóc cà-rem vầy lũ bạn” ở “góc phố Hàng Xanh bụi phủ đầy” (thơ Duy Năng: “Đã Rộng Đường Bay Một Cánh Chim”) này, mà tôi được dịp gặp lại hầu hết cựu Không Quân khắp bốn Vùng Chiến Thuật.


    Số là, vào năm 1988, do vận động của Mỹ, Việt Cộng thả đại trà các tù chính trị VNCH. KQ Dật Dờ, đại diện Nhóm Không Gian Thân Tình ở Cali, quyên góp và gởi tiền về giúp bạn bè cuối năm 1989. Mỗi lần gửi quà về đều có kèm theo danh sách người nhận. Chúng tôi cùng bốn cựu KQ khác (N.K.Huề; N.N.Ẩn; L.T.Hưng; K.V.Nghị), chia nhau tìm đến từng nhà để chia quà. Tiếng lành đồn xa và đồn rất nhanh: quán kem Lâm Viên trở thành điểm hẹn của hầu hết cựu KQ lúc bấy giờ.

    Nhóm K17/TVBQGVN khai tác Quán Kem.. Từ trái, Các bà Ngoạn, Ý. Các bạn Mão, Nhạc, Ý, Long.


    Được gặp lại các bạn cùng Quân Chủng sau hàng chục năm xa cách, chúng tôi rất vui mừng. Nhưng chúng tôi cũng thật sự bắt đầu lo âu khi có những người ngoài Quân Chủng cũng đến tìm gặp chúng tôi để hỏi thăm danh sách nhận quà, để hỏi thăm có tên chồng con họ hay không. Thôi thì cũng đành nhắm mắt đưa chân và cầu xin Trời Phật che chở. Một trong những điều trái khoáy mà chúng tôi gặp ở tiệm kem, có một trường hợp Không Quân giả!

    Tôi đang lui cui lau tủ bánh thì khách bước vào quán. Dáng người thấp, quần áo tương đối lành và sạch. Khách chào, giọng Huế:
    - Chào anh, anh mạnh giỏi?
    Tôi ngạc nhiên, e dè:
    - Xin lỗi, tôi quên mất tên anh rồi!
    - Em là KQ ở Pleiku đây mà.

    Tôi cố moi trong tận cùng trí nhớ, nhưng trí nhớ tôi đặc sệt. Tôi vẫn còn e dè dò dẫm:
    - Dzậy hả, thế anh làm việc với ai?
    - Dạ em làm việc với Thiếu Tá Cảm Mạo.

    Khách biết ông Cảm Mạo, mà ông Mạo từng là Thiếu Tá Liên Đoàn Trưởng Phòng Thủ, rồi Trung Tá Không Đoàn Trưởng Yểm Cứ Pleiku, là đúng rồi nhưng tôi vẫn thấy là lạ trong cái nhìn của khách, nên rề rà thăm hỏi:
    - Thế anh có đi tù chớ?
    - Dạ, em đi hơn năm thì về. Hiện em ở kinh tế mới Bình Long, vợ bị lao phổi mấy năm nay, đứa con gái út bị té gãy chân còn băng bột!
    Khách xuống giọng xề não nùng, ngước nhìn tôi. Trên trán khách có ít mồ hôi toát ra. Tôi đi thẳng vào vấn đề:
    - Thế anh có biết ông Dật Dờ không?
    - Dạ em biết Thiếu Tá Dật Dờ (Trung Tá Dật, SĐ6KQ Pleiku). Còn anh Lê Cảnh Lợi là chỗ bà con. Em cũng nghe Trung Tá Võ Quế đã được tha.

    Ái chà chà, khách tỏ ra quen biết hầu hết các niên trưởng trong quân chủng, làm tôi bối rối. Tôi muốn mở một lối thoát cho khách và cả cho tôi:
    - Anh có biết chuyện ông Dật Dờ và bạn bè ở Mỹ gởi quà về giúp những cựu KQ đang gặp khó khăn ở quê nhà không?
    - Dạ, dạ…
    - Quà đã phân phối hết rồi. Nếu anh muốn, tôi sẽ cho anh địa chỉ ông Dật Dờ để anh biên thư kể cảnh khó khăn của mình, hy vọng đợt quà sau sẽ có tên anh.
    Khách tỏ vẻ thất vọng:
    - Dạ xin anh giúp đỡ.
    - Hoàn cảnh của anh thật khổ, nhưng tôi chịu. Tôi mới ra tù, không có tiền bạc để biếu anh. Tôi mời anh dùng cơm trưa với tôi và nếu anh còn ở đây thì sáng mai ghé quán, tôi xin gửi anh vài bộ quần áo cũ của con gái tôi cho con gái anh dùng tạm
    - Dạ cám ơn anh, em phải đi chuyến xe đầu về lại Bình Long sáng mai. Anh vui lòng cho em mượn chiếc xe đạp để em ghé thăm anh Lê Cảnh Lợi một chút.

    Tôi nghĩ trong bụng rằng, anh Lợi (cựu Trung Tá, TTHLKQ Nha Trang) đã ra tù trước tôi và đang làm chủ một quán cà phê ở đường Trần Quý Cáp, chắc là có chút đỉnh biếu người “bà con”, nên tôi thuận cho khách mượn chiếc xe đạp quý hóa của tôi.

    Khi khách đã đi vài phút, bụng tôi cứ nóng ran lên. Âm vang những câu đối đáp lúc này như ngọn lửa hừng hực trong lòng. Khi khách cho biết có làm việc với “Thiếu Tá” Cảm Mạo, là tôi thấy lạ. Khách cũng nghe nói “Trung Tá” Võ Quế được tha, điều này như một xác minh hư thực, mà sao tôi lại quá nhẹ dạ? Tôi nhớ là đã nhắc khéo “ông Cảm Mạo lên Trung Tá rồi mà,” thì sợ khách trả lời nhậm lẹ, “Dạ, em làm việc với ổng lúc còn Thiếu Tá” thì bù trất. Nếu tôi lại nhắc khéo ông Võ Quế lên Đại Tá từ lâu, sợ rằng khách trả lời kiểu trên, nên không nhắc nữa.

    Trong lúc ruột gan cồn cào thì ông bạn thân xuất hiện. Tôi liền yêu cầu ông bạn đèo tôi phóng ngay đến quán cà phê anh Lê Cảnh Lợi để hỏi xem có người bà con đến thăm không. Sau khi nghe kể đầu đuôi câu chuyện, ông Lê Cảnh Lợi phán một câu xanh rờn:
    - Thôi ông ơi, ông bị lừa rồi. Tay này nguyên ở một cơ quan bán quân sự, chứ Không Quân cái con mẹ gì nó! Nó đến đây định lừa tôi, nhưng tôi vạch mặt và mời ra khỏi quán!

    Trên đường về, ông bạn tôi an ủi:
    - Thôi ông ơi, của đi thay người, một đời ta ba đời nó!

    Tôi buồn thúi ruột. Một chiếc xe đạp cà tàng, là gia sản của một người tù “xã hội chủ nghĩa”, chứ phải ít ỏi gì đâu!!
    Ôi quả báo! Quả báo!
    Chắc kiếp trước ta từng lừa gạt người, nên kiếp này mới bị người lừa gạt ta!
    Ôi quả báo! Quả báo!

    (Saint Louis, MO 12/1994)

    Last edited by voy118; 09-28-2026, 06:59 PM.

    Comment

    • voy118
      Niên Trưởng
      • Jul 2011
      • 108

      #3
      Kiêm Thêm, nhà thơ của Lý Tưởng xưa

      Hạ tuần tháng 9/2026, tôi được ÔB Thần Báo Đoàn Đình Hùng mời dự tiệc gia đình. Tại đây, tôi bất ngờ biết bà quả phụ Trần Kiêm Thêm, là chị của KQ Hùng Đoàn. Thế là, tôi nhớ ngay hình bóng nhà thơ Kiêm Thêm (anh rễ Hùng Đoàn), một thành viên của Ban Biên tập Báo Lý Tưởng ngày xưa.

      Trước 30/04/1975, thỉnh thoảng tôi góp bài cho báo Lý Tưởng của Không Quân, nên biết hầu hết tên các tác giả và tên của Ban Biên Tập như Hoàng Song Liêm, Đinh Sinh Long, Dương Hùng Cường, Thế Phong, Hồ Phong, Lê Văn Trước, Minh Triệu, Phạm Hồ…

      Nhà thơ Kiêm Thêm được đồng hóa vào Không Quân, phục vụ báo Lý Tưởng thuộc Khối Chiến Tranh Chính Trị thuộc Bộ Tư Lệnh KQ. Ngoài nhiệm vụ chính, Ông còn đi dạy tại các Trường Tư Thục quanh Saigon.

      Thời gian tôi phục vụ Không Đoàn 62 Chiến Thuật – Nha Trang (1965-1970), cứ mỗi lần các nhà báo Lý Tưởng công tác căn cứ KQ Nha Trang, tôi vinh dự đưa các vị thăm các biệt đội KQ tại Quân Đoàn II như Ban Mê Thuột, Quy Nhơn và Pleiku, Tuy Hòa và cả Đà Lạt bằng phi cơ U17 Cessna 7 chỗ ngồi.

      Sau 30/04/1975, cả nước còn ly tán, kể chi báo Lý Tưởng?

      Sau khi ra tù năm 1988, tôi có dịp gặp lại Lê Văn Trước, Thế Phong, Hồ Phong và Phạm Hồ tại Saigon. Gần 15 năm sau khi định cư tại Saint Louis, MO, (2007-2010), qua báo chí Việt Ngữ, tôi liên lạc được Kiêm Thêm ở miền Nam Cali, lúc này anh đang làm việc cho Sở Xã Hội tại Cali.

      dataurl799056.png
      Ngày 22 tháng giêng năm 2021, Kiêm Thêm qua đời. Lúc đó tôi đã chuyển về Cali mà thật sự không để ý cho đến buổi tiệc gia đình của KQ Đoàn Đình Hùng, K25 (Hùng Đoàn tốt nghiệp Khóa 25 Võ Bị Đà Lạt, chuyển qua KQ; Tôi K17). Cũng dịp này, CSVSQ Lê Hoành, K23, (em rễ của CSVSQ Hùng Đoàn, K25), cho biết, trong biến cố 30/04/1975, chính Kiêm Thêm (anh rễ trưởng), đã lo cho đại gia đình (các em vợ) di tản khỏi Saigon trước khi ngày uất hận ập xuống.

      Nhà thơ Kiêm Thêm, tên thật là Trần Kiêm Thêm, sinh ngày 6 Tháng Giêng, 1940 tại làng Liễu Cốc Hạ, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Ông định cư tại Mỹ năm 1975.

      Chiều ngày 22 Tháng Giêng, 2021 ông qua đời tại bệnh viện Huntington ở Pasadena, miền Nam California vì Covid-19, hưởng thọ 81 tuổi

      Những thi phẩm của Kiêm Thêm

      - Cọng Rơm Và Giã Biệt (Huế, 1962)
      - Bỏ Lại đằng Sau (Huế, 1963)
      - Đứng Trước Trường Đồng Khánh (Huế, 1964)
      - Thơ Kiêm Thêm (Hoa Kỳ, 1977)
      - Thơ Về Huế (Hoa Kỳ, 1989)
      - Con Diều Giấy Đã Bay Trong Quá Khứ (Hoa Kỳ, 1990)
      - Dấu Tích Ngàn Năm (Hoa Kỳ, 1994)
      - Hải Đường Say Nắng (Thuận Hóa, 2009)
      - Ngôi Nhà Trên Đồi Monterey Hills (Hoa Kỳ 2010)
      - Thơ Gởi Lại (Hoa Kỳ, 2011)
      - Bái Biệt Huế (Hoa Kỳ, 2012)

      Một vài ghi nhận tiêu biểu về thơ Kiêm Thêm của tác giả Trần Kiêm Đoàn, Thái Kim Lan thông qua các trang mạng Người Việt, Việt Báo, Sông Hương và Du Tử Lê…

      Kiêm Thêm, thơ của Huế mộng mơ:
      Cắt từng miếng da non nhìn xem, tôi vẫn vậy
      Chảy ròng ròng trong máu nước sông Hương

      Kiêm Thêm, thơ của phiêu linh lãng tử:
      Ô hay Xuân ngã trong lòng rượu
      Nhân thế nhìn nhau lảo đảo cười


      Kiêm Thêm, thơ của ngậm ngùi non nước
      Tôi khâm liệm đời tôi trong dĩ vãng
      Chết từ khi xa ngọn cỏ quê hương
      ...


      Chúng ta, cùng chung một bầu trời, cùng chung một màu cờ, tình chiến hữu đó bất diệt theo năm tháng. Dù là muộn màng, tôi cũng cầu nguyên linh hồn bạn ta đời đời an nghỉ trong Cõi Vĩnh Hằng.

      Thành kính
      Võ Ý
      Vườn Thượng Uyển.
      Chớm Thu 2026

      Last edited by Nguyen Huu Thien; 09-29-2026, 09:15 PM.

      Comment

      • voy118
        Niên Trưởng
        • Jul 2011
        • 108

        #4
        KHÔNG QUÂN THẬT

        Hai không quân thi hành một phi vụ liên lạc từ Pleiku về Sài Gòn trên chiếc Cessna U-17. Cất cánh lúc 9 giờ. Một không quân có gia đình bố mẹ vợ ở Sài Gòn, căn nhà tọa lạc trước cổng Phi Long. Anh chàng về nhà, mượn chiếc Honda 50 phân khối của bố vợ, ghé hậu trạm chở người bạn ra phố và tiện mua ít món cần dùng mang về Pleiku. Dĩ nhiên sắc phục của hai chàng là áo bay, mang cấp bậc và mang cả "xéng" (1) nữa! Cả hai đều có tí ria mép, trông cũng điệu nghệ và oai phong ra phết.

        Trời Sài Gòn tháng 10 năm 1972 trong xanh và đẹp mơ màng tô điểm những cụm mây thu bảng lảng. Phố Sài Gòn sáng chúa nhật lộng lẫy nhộn nhịp các cửa hàng người mua sắm với những tà áo màu tha thướt. Chiếc xe Honda 50 phom phom đưa chai chàng phi công 'danh tiếng muôn đời' miền sơn dã, chóa ăn đá, gà ăn đất, về đô thành thưởng ngoạn vẻ cao sang đài các chốn phồn hoa, cho bõ những ngày căng thẳng vì đạn pháo kích, báo động một trăm phần trăm.

        Bỗng một tiếng tu huýt vang như xé tai:

        - Chào hai vị, chúng tôi ban Tuần Cảnh Đô Thành, xin hai vị cho xem sự vụ lệnh. Thiếu Úy tuần cảnh lễ độ hỏi, sau khi đã làm thủ tục chào kính.

        Nét mặt hai anh chàng hơi cau, nhưng cũng đành trình phi vụ lệnh cho viên sĩ quan tuần cảnh.

        - Xin hai vị cho xem giấy chứng chỉ tại ngũ.

        Khi xem chứng chỉ tại ngũ xong, viên sĩ quan Tuần Cảnh đòi xem giấy phép mang súng. Đến nước này, hai chàng phi công bắt đầu bực dọc:

        - Thiếu Úy đã xem chứng chỉ tại ngũ, đã xem phi vụ lệnh. Thiếu Úy phải biết chúng tôi là ai rồi, tại sao Thiếu Úy còn lôi thôi?

        Viên sĩ quan tuần cảnh vẫn nhỏ nhẹ:

        - Xin hai vị thông cảm. Đây là nhiệm vụ của tôi. Nếu hai vị không có giấy phép mang súng, thì quyền hạn tôi không giải quyết được. Mời hai vị lên xe về đồn có thượng cấp sẽ giải quyết thỏa đáng cho hai vị.

        Ôi! thật là rắc rối. Hai chàng phi công thứ thiệt đành phải tiu nghỉu leo lên chiếc GMC 10 bánh về đồn Quân cảnh Lê văn Duyệt. Trước khi về đồn, xe ghé bóp cảnh sát Lê Văn Ken để nhờ cơ quan này 'xử lý' chiếc Honda. Thời may, tại bót cảnh sát, một vị không quân nhờ điện thoại gọi về ông bố vợ là Phụ Tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Không Quân, kể rõ câu chuyện tức tối này và nhờ ông bố vợ can thiệp ngay. Khi đã bàn giao xong chiếc Honda cho cảnh sát, xe Tuần cảnh chở hai vị không quân về dồn Quân cảnh để 'thượng cấp giải quyết thỏa đáng.'

        Thượng cấp ở đây là một tay Quân cảnh dữ dằn, mang cấp bậc Trung Sĩ. Vừa thấy hai chàng phi công vào, viên Trung Sĩ dằn mặt bằng một giọng uy quyền:

        - Yêu cầu Thiếu Tá và Đại Úy trao súng đây!

        Cầm hai dây súng đặt mạnh lên bàn, Trung Sĩ nói bâng quơ:

        - Đ.M. Thời buổi này thiệt giả không biết đâu mà lường. Mặt còn búng ra sữa mà bày đặt mang lon Thiếu Tá với Đại Úy. Lại bày đặt để râu mép nữa chứ!

        Một không quân sôi máu, nhưng cố dằn và nói:

        - Trung Sĩ, tôi muốn nhờ điện thoại.

        - Thiếu Tá cảm phiền ngồi đó đợi giải quyết. Điện thoại này cấm dùng.

        Trong căn phòng này , ngoài hai vị không quân nhà ta, còn có mấy quân nhân khác, đa số đào ngũ, trễ phép, đánh lộn hoặc không giấy tờ tùy thân. Hai chàng ức lắm, nhưng biết làm sao bây giờ? Chàng không quân có gia đình ở Sài Gòn an ủi:

        - Xếp yên lòng, tôi đã gọi cho ông “nhong nhong” (2) của tôi rồi.

        - Gọi lúc nào?

        - Gọi lúc đưa xe Honda vào bót Lê Văn Ken.

        Ba mươi phút sau, một xe Quân Cảnh Không Quân chạy đến đồn Quân Cảnh Lê Văn Duyệt. hai chàng Quân cảnh Không quân cao lớn, oai vệ, bước vào gặp tay Trung Sĩ trực:

        - Tôi Thượng Sĩ X..., xác nhận hai vị này là sĩ quan Không quân. Chúng tôi đến để lãnh họ về.

        Tay Trung Sĩ cười giả lả:

        - Thượng Sĩ thông cảm, đó là nhiệm vụ của em.

        Thưa độc giả, hai vị không quân mắc nạn đó là tôi, Võ Ý, và cố Thiếu Tá Lê Văn Luận, nguyên Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu Pleiku, con rể của bố già Nguyễn Văn Tích, nguyên Phụ Tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Không Quân vào thập niên 70. Lê Văn Luận, mỹ danh Luận Sún, ra khỏi tù năm 85, vượt biên và mất tích sau đó. Vợ con Luận còn ở lại Việt Nam, cư xá Thanh Đa. (Tôi không rõ là bố già đã bảo lãnh con gái và cháu ngoại qua chưa?). Còn bố già Nguyễn Văn Tích, gần 80 niên kỷ mà vẫn cứ gân! Chắc chư vị còn nhớ cái gân của bố bàng bạc trong 'Thư đòi khiếu nại hiệu chính của lão tiền bối Tích già' đăng trên Lý Tưởng Xuân Giáp Tuất 1994.

        Gần 25 năm qua, viết lại chuyện này để tưởng nhớ một cánh chim thật sự 100 %, phi công Lê Văn Luận. Luận cũng là một con ngựa chứng, một loại cam rất chua ở miền Nha Trang cát trắng, nhưng lại ngọt ngào ở cái xứ gió lạnh mưa sình.

        Cầu mong cánh chim Lê Văn Luận bay mãi trong bầu trời thênh thang đầy trăng sao và đầy thông cảm yêu thương.

        Và cũng đã 22 năm trôi qua, (1972-1994), nay tôi mới có dịp viết vài lời cảm tạ bố già Nguyễn Văn Tích và hai vị Quân Cảnh Không Quân cao lớn, đẹp trai, đã lãnh chúng tôi ra khỏi cái đồn quân cảnh tức hộc máu kia!

        Ôi! quả báo! Quả báo! Chắc kiếp trước ta có bắt giam người nên kiếp này người mới bắt giam ta. Ôi! quả báo! quả báo!


        Bắc Đẩu Võ Ý
        Saint Louis, MO 12/1994

        Chú thích

        (1) Xéng, tiếng lóng của súng
        (2) Ông nhong nhong, Ông già vợ

        Comment



        Hội Quán Phi Dũng
        Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




        website hit counter

        Working...