Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ – VÕ Ý
Nhà thơ, nhà văn Võ Ý là một tên tuổi quen thuộc trong giới cầm bút ở hải ngoại. Riêng với độc giả Không Quân, ông được biết tới từ trước năm 1975 qua thơ văn đóng góp trên tập san LÝ TƯỞNG của Bộ Tư Lệnh Không Quân.
Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ là tuyển tập thứ năm của ông tại hải ngoại - sau Lý Lịch Dọc Ngang Của Thảo, Tổ Ấm Bay Về, Tuyển Tập Bắc Đẩu Võ Ý, Thơ Ý - dự trù sẽ xuất bản nay mai.
Hội Quán Phi Dũng trân trọng giới thiệu TỰA của tuyển tập.
CÁNH CHIM TỰ DO &
KHUNG TRỜI NHÂN BẢN CŨ
Tựa
Tôi phục vụ trong Không Lực trên 10 năm qua các Phi Đoàn Quan Sát 110 Thiên Phong - Đà Nẵng, 114 Sơn Ca - Nha Trang và 118 Bắc Đẩu - Pleiku.
Sau 30/04/1975, do cộng nghiệp, tôi bị đọa đày gần 13 năm trong các trại tù Cộng Sản như Suối Máu Biên Hòa, Liên Trại 6 Hoàng Liên Sơn, các trại Hà Tây, Nam Hà (ngoài Bắc). Sau cùng là trại Xuân Lộc Đồng Nai.
Tôi đi HO-10 và định cư tại Saint Louis, tiểu bang Missouri ngày 19 tháng 6 năm 1992, một ngày khó quên đối với một cựu quân nhân. Tại vùng đất mới, lúc rãnh rỗi, tôi ngồi moi óc nhớ lại những ý thơ nhen nhúm trong tù cũng như những kỹ niệm vui buồn một thời chinh chiến.
Tôi bắt đầu đóng góp bài vở cho Tạp Chí Nguồn (San Jose', CA), các đặc san Quân Đội mà tôi từng cọng tác trươc 75 như Đa Hiệu, (Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam), Lý Tưởng, (Tổng Hội Không Lực) và các đặc san khác…
Năm 2003 (11 năm sau khi định cư), tôi trình làng tại San Jose’ tác phẩm đầu tay mang tên Lý Lịch Dọc Ngang Của Thảo. Mười năm sau, năm 2013, tác phẩm thứ 2, Tổ Ấm Bay Về chào đời tại Nam Cali. Hai đầu sách đó hiện nay không còn bày bán trong các tiệm sách.
Phải 21 năm, mới rị mọ được 2 tác phẩm, điều đó khẳng định, tôi không phải là nhà văn, cũng không phải là nhà thơ, trước sau, tôi vẫn là nhà...binh. Qua đó, chữ nghĩa của tôi như một loại vũ khí mềm, là thuốc bồi khi gặp quân bạn, là tạc đạn khi gặp kẻ thù.
Vì Không Quân gắn liền với binh nghiệp và cho tôi vinh dự được thể hiện trách nhiệm và bổn phận của một phi công thời chiến, nên tình cảm của tôi tỏ ra mặn nồng với Quân Chủng thân yêu cũng là điều dễ thông...cảm!
Bầu trời thì vô tận và vĩnh cữu, nhưng cánh chim không thể vượt qua lẽ vô thường. Đã đến lúc đàn chim xưa chuẩn bị hành trang cho một phi vụ cuối cùng:
Ta thân chim hơn nửa đời cánh mỏi
Khát khao nay một tổ ấm bay về
Mà cõi không kia vẫn âm thầm vẫy gọi
Cháy bỏng lòng ta tình nghĩa đó sơn khê
Sơn khê đó cũng là Khung Trời Nhân Bản Cũ mà những Cánh Chim Tự Do ước vọng một đời...
Vườn Thượng Uyển
Westminster, Thu 2026
Bắc Đẩu Võ Ý
CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NỀN TRỜI THỦ ĐÔ SÀI GÒN
NGÀY QUÂN LỰC NĂM 1973
Võ Ý
Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) theo đó mà bành trướng về quân số cũng như canh tân về vũ khí và trang bị quân dụng.
Kể từ lúc ngày 19 tháng 6 được chọn là Ngày Quân Lực thì hàng năm vào ngày đó, QLVNCH tổ chức mít-tinh diễn hành trọng thể tại các Quân Khu cũng như tại Thủ Đô Sài Gòn. Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực quy mô nhất được tổ chức năm 1973. Tất cả đơn vị ưu tú của các Quân Binh Chủng VNCH, các khóa sinh tại các quân trường, Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia, kể cả Lực Lượng Xây Dựng Nông Thôn và Nhân Dân Tự Vệ cũng vinh dự có mặt trong ngày trọng đại này.
Sau các thủ tục khai mạc như chào cờ, mặc niệm và diễn văn vinh danh những chiến công lẫy lừng của Quân Đội trong sứ mạng Bảo Quốc An Dân là phần diễn hành, mở đầu bằng một cuộc phi diễn tất cả các loại phi cơ của Không Lực VNCH, như oanh tạc cơ cánh quạt AD6 Skyraider, phản lực cơ A37, F5, phi cơ quan sát loại mới O2, trực thăng đổ quân U1H, trực thăng khổng lồ Chinook, các vận tải cơ Caribou, C47, C123, C119 và C130.
Mỗi hợp đoàn phi diễn từ ba đến sáu phi cơ.
Mở đầu cuộc phi diễn là một hợp đoàn năm chiếc Skyraider bay theo đội hình mũi tên. Khi bay ngang qua khán đài phụ bên trái thì cả hợp đoàn phun ra 10 hàng khói màu vàng và đỏ xen kẽ từ hai bên cánh phi cơ, tạo thành hình lá cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, cờ Tổ Quốc linh thiêng, lung linh trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn thân yêu trong một sáng trong veo chớm hè.
Tiếp theo phần mở đầu của phi cơ Skyraider là phần phi diễn của các loại phi cơ còn lại. Người xướng ngôn buổi lễ (hình như là chiến hữu Văn Thiệt của Đài Phát Thanh Quân Đội bấy giờ?) với giọng miền Nam thật trầm hùng, tuyên đọc thành tích cũng như công dụng của từng loại phi cơ diễn qua khán đài. Năm đó, Bộ Tư Lệnh Không Quân treo ba giải thưởng cho các hợp đoàn phi diễn (vào khoảng 10 hợp đoàn thì phải). Ban giám khảo gồm toàn những phi công bậc thầy đảm trách. Mỗi hợp đoàn được chấm giải dựa trên ba tiêu chuẩn sau:
- Chính xác giờ khi bay ngang qua khán đài chính (giờ T.O.T)
- Chính xác cao độ
- Chính xác đội hình (cân đối ngay thẳng và đẹp như vẽ vậy!)
Kết quả là:
- Hợp đoàn phi cơ quan sát O2 chiếm giải Ba
- Hợp đoàn trực thăng U1H chiếm giải Nhì
- Hợp đoàn khu trục cánh quạt Skyraider AD6 chiếm giải Nhất, vì đã đạt điểm tối đa cho cả ba tiêu chuẩn đặt ra.
Ngoài ra, hợp đoàn này còn nhận được một giải thưởng cao quý khác là đã được hàng trăm ngàn đồng bào tham dự buổi lễ tán thưởng bằng những tràng vỗ tay vang rền khâm phục tài nghệ điêu luyện của các phi công ưu tú của Không Lực, đã vẽ được lá cờ Tổ Quốc thân yêu trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn thân yêu!
Người phi công trưởng Hợp Đoàn Skyraider chiếm giải Nhất là KQ Đan Hoài Bửu, Trung Tá Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 514 Sư Đoàn 3 KQ Biên Hòa, cựu tù Cộng Sản 13 năm, hiện định cư thành phố San Jose. Bốn phi công còn lại là KQ Huỳnh Văn Tưởng (đã hy sinh), các KQ Lê Tấn Phát, KQ Nguyễn Đại Điền, và KQ Hồ Ngọc Ân. Một phi tuần nhẹ trừ bị do hai phi công Trần Văn Mười và Nguyễn Văn Triết đảm nhiệm (nếu một hoặc hai trong năm phi cơ chính thức phi diễn bị trục trặc thì hai chiếc trừ bị sẽ thay thế ngay).
Rất tiếc chúng tôi chưa sưu tầm được danh tánh quý chiến hữu trong Hợp Đoàn Trực Thăng chiếm giải Nhì. Quý độc giả nào có biết thì xin vui lòng bổ khuyết.
Riêng Hợp Đoàn Quan Sát O2 được tham dự phi diễn lần đầu tiên trong lịch sử Không Lực VNCH với sáu phi cơ quan sát O2 hai động cơ, chia thành hai đội hình, mỗi đội hình ba phi cơ thuộc Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu Pleiku. Các phi công tham dự phi diễn là Nguyễn Quang Anh (San Jose), Đinh Đức Bản (California), Nguyễn Huỳnh Hòa (Florida), Lu Thái Hưng, Đặng Khởi Quang (Việt Nam), Đoàn Phan (Canada), Lê Văn Luận (hy sinh trên Biển Đông), Nguyễn Văn Tiếu (hy sinh trong trại tù CS) và Võ Ý (St Louis, MO). Ông bầu của Hợp Đoàn O2 là thầy Phạm Ngọc Sang, Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, đã dày công hướng dẫn nên Hợp Đoàn mới nhận được vinh dự này.
Riêng hình chụp Hợp Đoàn 5 phi cơ AD6 thuộc Phi Đoàn 514 Biên Hòa thả khói màu thành hình Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1973, là một hình rất đặc biệt còn lưu lại, và chúng tôi xin sử dụng hình này cho hình bìa của Tuyển Tập (ấn bản 2018) này.
Hình ảnh Ngày Quân Lực 1973 được thâu băng và ngày nay mỗi lần xem lại cuốn băng video “Sài Gòn Giã Biệt” (phát hành vào thập niên 80 thì phải), khi nhìn lại những đơn vị quân đội oai hùng bước nhịp nhàng theo tiếng nhạc hùng với phần phi diễn thả khói màu thành hình lá Cờ Vàng trên nền trời Tổ Quốc thân yêu, lòng người chiến sĩ nào cũng ngậm ngùi nung nấu.
Ngậm ngùi cho vận nước.
Nung nấu một ngày về dựng lại Cờ Vàng trên Đất Tổ Quê Cha!
Nhà thơ, nhà văn Võ Ý là một tên tuổi quen thuộc trong giới cầm bút ở hải ngoại. Riêng với độc giả Không Quân, ông được biết tới từ trước năm 1975 qua thơ văn đóng góp trên tập san LÝ TƯỞNG của Bộ Tư Lệnh Không Quân.
Cánh Chim Tự Do & Khung Trời Nhân Bản Cũ là tuyển tập thứ năm của ông tại hải ngoại - sau Lý Lịch Dọc Ngang Của Thảo, Tổ Ấm Bay Về, Tuyển Tập Bắc Đẩu Võ Ý, Thơ Ý - dự trù sẽ xuất bản nay mai.
Hội Quán Phi Dũng trân trọng giới thiệu TỰA của tuyển tập.

CÁNH CHIM TỰ DO &
KHUNG TRỜI NHÂN BẢN CŨ
Tựa
Tôi phục vụ trong Không Lực trên 10 năm qua các Phi Đoàn Quan Sát 110 Thiên Phong - Đà Nẵng, 114 Sơn Ca - Nha Trang và 118 Bắc Đẩu - Pleiku.
Sau 30/04/1975, do cộng nghiệp, tôi bị đọa đày gần 13 năm trong các trại tù Cộng Sản như Suối Máu Biên Hòa, Liên Trại 6 Hoàng Liên Sơn, các trại Hà Tây, Nam Hà (ngoài Bắc). Sau cùng là trại Xuân Lộc Đồng Nai.
Tôi đi HO-10 và định cư tại Saint Louis, tiểu bang Missouri ngày 19 tháng 6 năm 1992, một ngày khó quên đối với một cựu quân nhân. Tại vùng đất mới, lúc rãnh rỗi, tôi ngồi moi óc nhớ lại những ý thơ nhen nhúm trong tù cũng như những kỹ niệm vui buồn một thời chinh chiến.
Tôi bắt đầu đóng góp bài vở cho Tạp Chí Nguồn (San Jose', CA), các đặc san Quân Đội mà tôi từng cọng tác trươc 75 như Đa Hiệu, (Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam), Lý Tưởng, (Tổng Hội Không Lực) và các đặc san khác…
Năm 2003 (11 năm sau khi định cư), tôi trình làng tại San Jose’ tác phẩm đầu tay mang tên Lý Lịch Dọc Ngang Của Thảo. Mười năm sau, năm 2013, tác phẩm thứ 2, Tổ Ấm Bay Về chào đời tại Nam Cali. Hai đầu sách đó hiện nay không còn bày bán trong các tiệm sách.
Phải 21 năm, mới rị mọ được 2 tác phẩm, điều đó khẳng định, tôi không phải là nhà văn, cũng không phải là nhà thơ, trước sau, tôi vẫn là nhà...binh. Qua đó, chữ nghĩa của tôi như một loại vũ khí mềm, là thuốc bồi khi gặp quân bạn, là tạc đạn khi gặp kẻ thù.
Vì Không Quân gắn liền với binh nghiệp và cho tôi vinh dự được thể hiện trách nhiệm và bổn phận của một phi công thời chiến, nên tình cảm của tôi tỏ ra mặn nồng với Quân Chủng thân yêu cũng là điều dễ thông...cảm!
Bầu trời thì vô tận và vĩnh cữu, nhưng cánh chim không thể vượt qua lẽ vô thường. Đã đến lúc đàn chim xưa chuẩn bị hành trang cho một phi vụ cuối cùng:
Ta thân chim hơn nửa đời cánh mỏi
Khát khao nay một tổ ấm bay về
Mà cõi không kia vẫn âm thầm vẫy gọi
Cháy bỏng lòng ta tình nghĩa đó sơn khê
Sơn khê đó cũng là Khung Trời Nhân Bản Cũ mà những Cánh Chim Tự Do ước vọng một đời...
Vườn Thượng Uyển
Westminster, Thu 2026
Bắc Đẩu Võ Ý

CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NỀN TRỜI THỦ ĐÔ SÀI GÒN
NGÀY QUÂN LỰC NĂM 1973
Võ Ý
Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) theo đó mà bành trướng về quân số cũng như canh tân về vũ khí và trang bị quân dụng.
Kể từ lúc ngày 19 tháng 6 được chọn là Ngày Quân Lực thì hàng năm vào ngày đó, QLVNCH tổ chức mít-tinh diễn hành trọng thể tại các Quân Khu cũng như tại Thủ Đô Sài Gòn. Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực quy mô nhất được tổ chức năm 1973. Tất cả đơn vị ưu tú của các Quân Binh Chủng VNCH, các khóa sinh tại các quân trường, Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia, kể cả Lực Lượng Xây Dựng Nông Thôn và Nhân Dân Tự Vệ cũng vinh dự có mặt trong ngày trọng đại này.
Sau các thủ tục khai mạc như chào cờ, mặc niệm và diễn văn vinh danh những chiến công lẫy lừng của Quân Đội trong sứ mạng Bảo Quốc An Dân là phần diễn hành, mở đầu bằng một cuộc phi diễn tất cả các loại phi cơ của Không Lực VNCH, như oanh tạc cơ cánh quạt AD6 Skyraider, phản lực cơ A37, F5, phi cơ quan sát loại mới O2, trực thăng đổ quân U1H, trực thăng khổng lồ Chinook, các vận tải cơ Caribou, C47, C123, C119 và C130.
Mỗi hợp đoàn phi diễn từ ba đến sáu phi cơ.
Mở đầu cuộc phi diễn là một hợp đoàn năm chiếc Skyraider bay theo đội hình mũi tên. Khi bay ngang qua khán đài phụ bên trái thì cả hợp đoàn phun ra 10 hàng khói màu vàng và đỏ xen kẽ từ hai bên cánh phi cơ, tạo thành hình lá cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, cờ Tổ Quốc linh thiêng, lung linh trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn thân yêu trong một sáng trong veo chớm hè.
Tiếp theo phần mở đầu của phi cơ Skyraider là phần phi diễn của các loại phi cơ còn lại. Người xướng ngôn buổi lễ (hình như là chiến hữu Văn Thiệt của Đài Phát Thanh Quân Đội bấy giờ?) với giọng miền Nam thật trầm hùng, tuyên đọc thành tích cũng như công dụng của từng loại phi cơ diễn qua khán đài. Năm đó, Bộ Tư Lệnh Không Quân treo ba giải thưởng cho các hợp đoàn phi diễn (vào khoảng 10 hợp đoàn thì phải). Ban giám khảo gồm toàn những phi công bậc thầy đảm trách. Mỗi hợp đoàn được chấm giải dựa trên ba tiêu chuẩn sau:
- Chính xác giờ khi bay ngang qua khán đài chính (giờ T.O.T)
- Chính xác cao độ
- Chính xác đội hình (cân đối ngay thẳng và đẹp như vẽ vậy!)
Kết quả là:
- Hợp đoàn phi cơ quan sát O2 chiếm giải Ba
- Hợp đoàn trực thăng U1H chiếm giải Nhì
- Hợp đoàn khu trục cánh quạt Skyraider AD6 chiếm giải Nhất, vì đã đạt điểm tối đa cho cả ba tiêu chuẩn đặt ra.
Ngoài ra, hợp đoàn này còn nhận được một giải thưởng cao quý khác là đã được hàng trăm ngàn đồng bào tham dự buổi lễ tán thưởng bằng những tràng vỗ tay vang rền khâm phục tài nghệ điêu luyện của các phi công ưu tú của Không Lực, đã vẽ được lá cờ Tổ Quốc thân yêu trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn thân yêu!
Người phi công trưởng Hợp Đoàn Skyraider chiếm giải Nhất là KQ Đan Hoài Bửu, Trung Tá Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 514 Sư Đoàn 3 KQ Biên Hòa, cựu tù Cộng Sản 13 năm, hiện định cư thành phố San Jose. Bốn phi công còn lại là KQ Huỳnh Văn Tưởng (đã hy sinh), các KQ Lê Tấn Phát, KQ Nguyễn Đại Điền, và KQ Hồ Ngọc Ân. Một phi tuần nhẹ trừ bị do hai phi công Trần Văn Mười và Nguyễn Văn Triết đảm nhiệm (nếu một hoặc hai trong năm phi cơ chính thức phi diễn bị trục trặc thì hai chiếc trừ bị sẽ thay thế ngay).
Rất tiếc chúng tôi chưa sưu tầm được danh tánh quý chiến hữu trong Hợp Đoàn Trực Thăng chiếm giải Nhì. Quý độc giả nào có biết thì xin vui lòng bổ khuyết.
Riêng Hợp Đoàn Quan Sát O2 được tham dự phi diễn lần đầu tiên trong lịch sử Không Lực VNCH với sáu phi cơ quan sát O2 hai động cơ, chia thành hai đội hình, mỗi đội hình ba phi cơ thuộc Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu Pleiku. Các phi công tham dự phi diễn là Nguyễn Quang Anh (San Jose), Đinh Đức Bản (California), Nguyễn Huỳnh Hòa (Florida), Lu Thái Hưng, Đặng Khởi Quang (Việt Nam), Đoàn Phan (Canada), Lê Văn Luận (hy sinh trên Biển Đông), Nguyễn Văn Tiếu (hy sinh trong trại tù CS) và Võ Ý (St Louis, MO). Ông bầu của Hợp Đoàn O2 là thầy Phạm Ngọc Sang, Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, đã dày công hướng dẫn nên Hợp Đoàn mới nhận được vinh dự này.
Riêng hình chụp Hợp Đoàn 5 phi cơ AD6 thuộc Phi Đoàn 514 Biên Hòa thả khói màu thành hình Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1973, là một hình rất đặc biệt còn lưu lại, và chúng tôi xin sử dụng hình này cho hình bìa của Tuyển Tập (ấn bản 2018) này.
Hình ảnh Ngày Quân Lực 1973 được thâu băng và ngày nay mỗi lần xem lại cuốn băng video “Sài Gòn Giã Biệt” (phát hành vào thập niên 80 thì phải), khi nhìn lại những đơn vị quân đội oai hùng bước nhịp nhàng theo tiếng nhạc hùng với phần phi diễn thả khói màu thành hình lá Cờ Vàng trên nền trời Tổ Quốc thân yêu, lòng người chiến sĩ nào cũng ngậm ngùi nung nấu.
Ngậm ngùi cho vận nước.
Nung nấu một ngày về dựng lại Cờ Vàng trên Đất Tổ Quê Cha!



Comment