41 Năm – Ngày Giỗ Trên Zoom, Một Đời Thương Nhớ

Collapse
X

41 Năm – Ngày Giỗ Trên Zoom, Một Đời Thương Nhớ

Collapse
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • dnchau
    Super Member

    • Feb 2009
    • 1888

    #1

    41 Năm – Ngày Giỗ Trên Zoom, Một Đời Thương Nhớ

    41 Năm – Ngày Giỗ Trên Zoom, Một Đời Thương Nhớ

    Source: Posted on August 21, 2026 by dongsongcu 18/08/2026
    • Phamphanlang

    Tác giả tên thật là Phạm Phan Lang, bút hiệu phamphanlang. Bà là Cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ với 22 năm phục vụ nghành quân y. Hiện đang cư ngụ tại Honolulu, HI và Huntington Beach, CA. Đây là bài viết đầu tiên tham dự chương trình Viết Về Nước Mỹ. Nhân ngày giỗ thứ 41 của chồng, tác giả ôn lại kỷ niệm xưa và cảnh gia đình ngày nay vẫn giữ nét đẹp truyền thống Việt.

    ***

    Hôm nay là ngày giỗ thứ 41 của chồng tôi – ngày anh vĩnh viễn rời xa cõi đời, để lại bốn mẹ con tôi bơ vơ giữa cuộc sống nơi xứ người với nỗi nhớ thương chưa bao giờ nguôi.
    Ngày anh ra đi, tóc tôi còn xanh, các con mới vừa 11, 13 và 15 tuổi. Thấm thoắt đã hơn bốn mươi năm. Nay tóc tôi đã bạc, còn các con đã bước sang tuổi 52, 54 và 56; tất cả đều trưởng thành, lập gia đình, có con cái và đã tạo dựng được cuộc sống, sự nghiệp riêng.
    Dù cuộc đời có bao đổi thay, dù mỗi người ở một nơi, bận rộn với công việc và gia đình, nhưng cứ đến ngày 30 tháng 7 hằng năm, mẹ con chúng tôi luôn cố gắng thu xếp để được về bên nhau, khi thì tại nhà tôi, khi thì tại nhà các con, cùng làm bữa cơm giỗ Bố với những món ăn mà lúc sinh thời Bố yêu thích. Thường thì sau khi bày biện bàn thờ, mẹ con và các cháu cùng thắp hương, kính cẩn đứng trước di ảnh Bố, cầu nguyện cho Bố được thanh thản nơi cõi vĩnh hằng và xin Bố phù hộ cho con cháu luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc, may mắn và thành công trong học hành, công việc cũng như cuộc sống.
    Năm nay vì quá bận công việc, nên các con cháu tôi không thể về tụ họp làm giỗ như mọi năm. Tuy vậy mấy ngày qua tôi cũng vẫn đi mua sắm chuẩn bị các thứ đầy đủ cho ngày giỗ. Vì cả nhà đã hẹn, mọi gia đình nhỏ sẽ làm giỗ Bố cùng lúc tại nơi mình sinh sống và sẽ gặp nhau trên hệ thống Zoom để trò chuyện, cầu nguyện, và chia sẻ như những lần gặp mặt trước đây…
    Tôi đứng trong bếp làm món thịt kho, món yêu thích của chàng. Nhìn chảo thịt sôi lăn tăn, làn khói mỏng bay lên như những sợi tơ trời vương vấn, tâm tư tôi bỗng nhiên xúc động nghẹn ngào. Bốn mươi mốt năm rồi mà sao trong tôi vẫn như mới ngày hôm qua. Mọi kỷ niệm xưa chợt ùa về.
    Tôi nhớ quay quắt về mối tình thời hoa mộng. Nha Trang ngày ấy nên thơ lắm. Thành phố biển rì rầm sóng vỗ, nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân và Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, lò đào tạo những chàng trai hào hoa kiêu hãnh chọn nghiệp kiếm cung để bảo vệ quê hương. Phố phường thời đó cứ mỗi chiều cuối tuần lại rực rỡ bởi những đôi tình nhân đẹp như tranh, anh sinh viên sĩ quan Hải Quân bảnh bao, hay chàng Không Quân pilot hào hoa sóng đôi bên cô nữ sinh trung học xinh đẹp thơ ngây dịu dàng trong tà áo trắng.
    Tôi ngày ấy mới chỉ là cô nữ sinh Đệ Lục (lớp 7) bé nhỏ của trường Nữ Trung Học. Thế mà không hiểu sao, trái tim của chàng sinh viên Hải Quân khóa 14 Phạm Văn Diên lại lỡ nhịp vì tôi. Anh mê mệt theo đuổi tôi, chiều chuộng tôi mọi đường, và cuộc tình trong sáng của chúng tôi đã bền bỉ trải dài qua bao mùa hoa phượng nở. Cho đến khi tôi cầm trên tay bằng Tú tài 2 vào năm 1969, anh mới chính thức “rước tôi về dinh” trong sự chúc phúc của hai gia đình.
    Năm tháng trôi qua, anh thăng tiến trong quân ngũ, mang cấp bậc Thiếu tá, chỉ huy chiến hạm PGM615. Nhưng cuộc đời êm đềm chẳng kéo dài được bao lâu thì biến cố thời cuộc ập đến. Nước mất nhà tan. Nửa đêm 29 tháng 4 năm 1975, khi màn đêm bao trùm bến cảng đen thẫm và ngột ngạt. Thiếu Tá Hạm trưởng Phạm Văn Diên vội vã đưa chiến hạm rời Việt Nam. Trên tàu lúc ấy ngoài thủy thủ đoàn ra còn có cả gia đình chúng tôi, gồm vợ chồng tôi, ba đứa con nhỏ dại mới 1, 3 và 5 tuổi, cha mẹ chồng già đã ngoài 70 cùng người em trai tôi đang là sinh viên Luật. Bên cạnh đó là hơn 150 đồng bào trốn chạy Cộng Sản đang hoảng loạn chạy theo tàu.
    Chiến hạm PGM615 vừa trải qua những trận hành quân tàn khốc ở Huế, Quảng Trị, Vùng I, còn đầy thương tích chưa kịp sửa chữa hay bảo trì. Khi ra đến hải phận quốc tế, sóng gió gầm hú, nước biển tràn vào khoang, máy gãy tàu nghiêng. Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, nhờ sự bình tĩnh của anh Diên, và nhờ anh liên lạc được với một chiến hạm bạn, tất cả chúng tôi mới thoát chết trong gang tấc. Nhưng giá phải trả là toàn bộ tư trang, vàng bạc, kỷ vật mang theo đều trôi theo con tàu hư chìm sâu dưới đáy biển. Bước chân lên bờ đất Mỹ, vợ chồng tôi hoàn toàn trắng tay.
    Vượt qua bão táp đời thường, những ngày đầu trên đất Mỹ của chúng tôi là một cuộc trường chinh vất vả. Để nuôi ba con nhỏ và cha mẹ già, anh Diên và tôi không từ chối bất cứ công việc gì. Anh làm thợ mộc, thợ hồ, nhổ cỏ trên những đồng cà chua nắng cháy, rồi rửa bát đĩa trong các nhà hàng. Có dạo, cả hai vợ chồng cùng người em trai nhận trông nom một trang trại gà tấp nập hơn 60.000 con.
    Có những đêm mệt nhoài, lưng đau như gãy, anh nắm lấy bàn tay chai sần của tôi, khẽ nói: “Em mệt lắm phải không? Ráng lên em, chỉ cần gia đình mình còn bên nhau, khó khăn nào rồi cũng sẽ qua.”
    “Anh đừng lo, em chịu được. Bánh xe đời có lăn đến đâu, em vẫn đi cùng anh.” Tôi tựa đầu vào vai anh, thì thầm.
    Với nghị lực mà người nhà gọi chúng tôi là “phi thường” ấy, vợ chồng tôi vừa làm việc vừa miệt mài đèn sách tại University of Maryland, Eastern Shore. Cuối cùng hai chúng tôi đều lấy được bằng Cử Nhân, mảnh bằng đầu tiên trên đất Mỹ. Và lòng kiên trì đã được đền đáp nhiều hơn, khi tôi khoác lên mình bộ quân phục Quân đội Hoa Kỳ với cấp bậc Thiếu úy, rồi bước lên Trung úy, nhận nhiệm sở tại Moncrief Army Medical Activity, Fort Jackson, Columbia, South Carolina.
    Tại đây, cuộc sống dần đi vào ổn định. Anh Diên hăng hái cùng tôi và bạn bè thành lập Hội Ái Hữu Người Việt đầu tiên ở Columbia, mở trường dạy Việt ngữ, tổ chức Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán, gây quỹ cứu trợ thuyền nhân… Anh đi khắp các thành phố lân cận như Charleston, Greenville, Atlanta để kết nối cộng đồng, giữ gìn ngọn lửa văn hóa quê hương.
    Cuộc sống tưởng chừng đã bình yên trở lại. Năm 1985, tôi mang cấp bậc Đại úy và chuẩn bị thuyên chuyển về BAMC, Texas. Mọi thứ đã sẵn sàng cho kế hoạch xin giải ngũ sau nhiệm sở này để toàn tâm toàn ý chăm sóc gia đình.
    Nhưng rồi, số phận lại nghiệt ngã giăng ra một cái bẫy…
    Đó là ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ – 4 tháng 7 năm 1985. Mấy ngày trước đó, tôi vừa bù đầu học thi Thạc sĩ, vừa tham dự vô số buổi tiệc chia tay do bạn bè tổ chức nên người mệt phờ. Nhưng vì nể lời mời thân tình của một người bạn Việt Nam là cựu Trung tá Hải quân ở Charleston, vợ chồng tôi gật đầu lái xe 3 tiếng đồng hồ đưa các con đến bãi biển Folly Beach dự buổi picnic.
    8 giờ sáng. Bãi biển vắng ngắt không một bóng người ngoài đoàn chúng tôi gồm 5 cặp vợ chồng và 13 đứa trẻ từ 9 đến 15 tuổi. Nước ven bờ chỉ ngang đầu gối, phẳng lặng như tờ. Lũ trẻ vừa thấy biển đã reo hò ùa xuống bơi lội. Các ông bố vội vã chạy theo trông chừng và chuẩn bị câu cua, còn chị em chúng tôi thì lúi húi khiêng thức ăn từ trên xe xuống.
    Bỗng nhiên, một tiếng xé lòng từ ngoài xa vọng vào: “CỨU VỚI! CỨU CHÚNG CON VỚI!”
    Tôi bàng hoàng ngước lên. Ôi trời ơi! Một cơn sóng ngầm (undertow) tàn khốc từ đâu ập đến, kéo phăng cả 13 đứa trẻ ra xa bờ! Mấy người chồng nhào xuống bơi ra vội vã. Tôi không biết bơi, cuống cuồng chạy ngược lên bờ đai dốc cát vừa chạy vừa gào khóc kêu cứu:
    “Có ai không? Cứu con tôi với! Cứu với!”
    Nhưng sáng sớm quá, bãi biển vắng ngắt. Sau này tôi mới biết, nơi đây nổi tiếng nguy hiểm và có tấm bảng cảnh báo sóng ngầm nên không ai dám tắm. Định mệnh trớ trêu, gió đã cuốn đi mất tâm bảng cảnh báo sáng đó, và chúng tôi từ xa tới nào có biết gì. Không tìm được ai, tôi chạy ngược trở lại biển nước mắt mờ giàn giụa. Vài đứa trẻ lớn hơn đã dạt được vào bờ. Đang dáo dác tìm con, mắt tôi dại đi khi thấy một người đàn bà Mỹ từ đâu xuất hiện đang hì hục kéo một thân thể từ dưới nước lên.
    Đó là anh Diên của tôi! Tôi nhào đến, ngã khuỵu bên anh. Hai mắt anh nhắm chặt, mặt tái nhợt, đôi môi tím ngắt, không còn một nhịp thở.
    “Anh Diên! Anh Diên ơi! Đừng dọa em mà!” tôi gào lên trong bấn loạn. Giữ chút bình tĩnh cuối cùng của một người lính y tế, tôi ra sức thực hiện hô hấp nhân tạo, ấn ngực, thổi miệng. Một người bạn bác sĩ trong nhóm cũng xông vào phụ giúp. Nhưng anh vẫn nằm đó, im lìm đến đáng sợ.
    Khi xe cấp cứu đưa anh vào Bệnh viện Charleston, vị bác sĩ trực sau khi kiểm tra sóng não (EEG) đã nắm lấy tay tôi, giọng nghẹn ngào:
    “Tôi rất tiếc… Ông nhà đã bị chìm dưới nước quá lâu, trên 10 phút. Não bộ đã tổn thương vĩnh viễn không thể phục hồi. Xin chị… đừng nuôi hy vọng.”
    Tai tôi ù đi, không gian xung quanh như sụp đổ hoàn toàn. Đứa con gái út 11 tuổi của chúng tôi ôm chồm lấy tôi khóc nức nở. Qua lời kể ngắt quãng trong nước mắt của con, tôi mới biết toàn bộ sự thật về khoảnh khắc sinh tử ấy. Khi sóng ngầm kéo đi, bốn đứa trẻ, trong đó có con gái tôi, hoảng loạn bám chặt lấy nhau. Tôi biết, nếu anh Diên chỉ muốn cứu duy nhất đứa con gái của mình, anh hoàn toàn đủ sức đưa con vào bờ an toàn. Nhưng nhìn ba đứa trẻ khác đang hoảng loạn chới với, anh đâu nỡ lòng buông tay. Anh một mình gồng gánh, chống chọi với sóng dữ, cố sức đẩy cả bốn đứa trẻ vào gần bờ. Vì quá sợ hãi và uống nhiều nước, lũ trẻ bám chặt lấy cổ, lấy tay chân anh không rời, cuối cùng một bé gái đuối sức buông tay, và anh Diên đã đưa được ba đứa còn lại vào gần bờ. Đến khi những đứa trẻ được an toàn dạt vào vùng nước cạn, thì anh Diên đã lực kiệt, hơi tàn, anh lặng lẽ chìm dần xuống đáy biển dù chỗ đó nước gần bờ rất cạn, ngay trước đôi mắt đớn đau kinh hoàng của con gái mình.
    Một phụ nữ Mỹ tình cờ đi ngang qua, thấy thế chạy ra kéo con gái tôi lên bờ. Cháu vùng vẫy khóc la, kêu người đó hãy cứu lấy Bố cháu trước. Nhưng bà Mỹ cứ tưởng là anh người lớn còn chịu được, bà cẩn thận kéo bé lên bờ rồi mới chạy ra kéo anh vào. Thì tất cả đã quá muộn.
    Một tháng sau, tại bệnh viện quân sự Fort Jackson nơi tôi làm việc, anh Diên trút hơi thở cuối cùng. Anh đã đổi mạng sống của mình để lấy lại cuộc đời cho ba đứa trẻ kể cả con gái yêu thương của chúng tôi. Còn gì đau đớn hơn, khi một người sĩ quan Hải Quân, một Hạm trưởng chiến hạm, mà lại lìa bỏ cuộc đời nơi một vũng nước cạn.
    Báo chí thời đó đăng tải liên tục, gọi anh là người anh hùng. Thượng nghị sĩ Strom Thurmond của bang South Carolina đã trang trọng ban Bằng Tưởng Thưởng, vinh danh hành động dũng cảm phi thường của anh.
    Nhưng… đối với tôi, tất cả những vinh quang, những lời ca tụng ấy đều trở nên vô nghĩa. Bởi vì tôi đã mất đi mãi mãi người chồng yêu quý nhất đời. Ba đứa con dại khờ của tôi đã vĩnh viễn mất đi người cha gương mẫu, người đỡ đầu bao dung. Không một tấm bằng khen, không một lời vinh danh nào có thể lấp đầy khoảng trống mênh mông và nỗi đau xé lòng ấy…
    Trở lại chuyện ngày giỗ Bố của các con tôi. Tôi vẫn thường dặn các con rằng, “Tưởng nhớ người đã khuất hàng năm, là phong tục rất đáng quý của tổ tiên người Việt mình xưa nay. Giỗ Bố các con không cần phải mâm cao cỗ đầy. Điều quan trọng nhất là lòng thành. Chỉ cần một bát cơm trắng, một miếng thịt kho – món Bố thích lúc sinh thời – hay chỉ một đĩa trái cây, một miếng bánh, vài bông hoa tươi cùng nén nhang là đủ để nói lên tấm lòng tưởng nhớ”. Và tôi rất vui mừng là tất cả con cháu đều nhớ lời tôi.



    TG thắp hương cúng giỗ chồng. Ảnh của TG.

    Năm nay mỗi gia đình nhỏ dù không gặp được nhau nhưng mọi nhà vẫn chuẩn bị một bàn thờ nhỏ để cúng Bố. Đến khoảng sáu giờ chiều, vào thời điểm thuận tiện nhất cho mọi người, theo hẹn chúng tôi cùng kết nối qua Zoom. Lần lượt từng gia đình thắp hương khấn nguyện trước bàn thờ nhà mình cho cả đại gia đình đều được chứng kiến.
    Bắt đầu từ tôi và Barry, người bạn đời hiện tại, một cựu giáo sư Đại học Hawaii. Tôi còn nhớ 17 năm sau ngày anh Diên mất, trước khi tôi bước thêm bước nữa để các con tôi có người cha làm chỗ dựa tinh thần (các con tôi rất yêu quý Barry) Barry đã nhờ tôi đưa anh bay từ Hawaii về lại nơi mộ phần anh Diên. Đứng trước di ảnh mộ phần, anh Barry kính cẩn thắp hương xin phép anh Diên cho anh được nối tiếp chăm sóc, bảo vệ bốn mẹ con tôi. Từ khi kết hôn, mỗi lần đến ngày giỗ anh Diên, Barry luôn phụ tôi chuẩn bị vô cùng chu đáo, và chân thành thắp hương kính cẩn khấn vái người đã khuất.
    Và hôm nay trên màn hình Zoom, anh Barry ân cần chỉnh lại đĩa hoa tươi, trước mặt tôi anh khẽ khấn: “Anh Diên à, hôm nay giỗ anh, chúng tôi lại về đây bên anh. Anh cứ yên tâm nhé, Lang và các con cháu vẫn luôn khỏe mạnh, bình an và nhớ về anh mỗi ngày.”



    Con trai cúng bố. Ảnh của TG.

    Tiếp theo lần lượt từng gia đình các con lớn, con nhỏ thắp hương: “Thưa Bố, hôm nay tụi con cả nhà cùng giỗ Bố”. Qua màn hình, con trai thắp hương cúng Bố trên bàn thờ là món bít tết và sườn nướng. Con gái lớn cúng Bố là món cá Salmon nướng với măng tây.
    Đến con gái Út, cháu đã làm tôi giật mình, vì không biết làm sao mà người bận rộn công việc với con cái gia đình như vậy mà cháu còn nấu được món bún chả Hà Nội để cúng Bố. Bố các cháu gốc Hà Nội di cư, nên đây là món ăn truyền thông bên Nội các cháu.
    Nhưng đặc biệt nhất, năm nay có một kỷ niệm khiến tôi vô cùng xúc động. Cháu ngoại lớn của tôi, Nima, đang học đại học xa nhà không về được. Vài hôm trước, cháu gọi điện hỏi tôi cách nấu món thịt kho trứng vì biết đó là món Ông Ngoại thích nhất. Cháu đã tự tay nấu, bày lên bàn thờ đơn sơ ở phòng trọ và thành kính thắp hương cúng Ông.
    Nhìn bàn thờ ông ngoại của cháu qua màn hình, tôi không cầm được nước mắt. Cháu Nima chưa từng một lần được gặp Ông Ngoại, vì ngày anh mất thì mẹ cháu chưa đầy 15 tuổi. Vậy mà tình yêu thương, sự kính nhớ vẫn truyền lại nguyên vẹn qua hai thế hệ. Đó là món quà truyền thống quý giá nhất mà một người cha, người ông, có thể hảnh diện vì có thể truyền lại cho đời sau…
    Bốn mươi mốt năm trôi qua, niềm đau ngày cũ đã lắng đọng thành nỗi thương nhớ dịu dàng. Dù vẫn thương nhớ anh khôn nguôi, nhưng trong lòng tôi giờ đây đã có được một niềm vui nhẹ nhàng và thanh thản. Tôi tin rằng nơi cõi vĩnh hằng, anh Diên chắc chắn đang mỉm cười mãn nguyện ngắm nhìn mẹ con tôi. Bởi suốt hơn bốn mươi năm qua giữa đất khách quê người, tôi đã trọn vẹn lời hứa với anh: sống vươn lên mạnh mẽ và nuôi dạy các con cháu giữ trọn nề nếp, cội nguồn văn hóa Việt Nam. Tất cả các cháu đều thành công trong cuộc sống, sự nghiệp và gia đình
    Dẫu cho các cháu sau này sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ, nói tiếng Anh thạo hơn tiếng Việt, nhưng trong tim chúng vẫn vẹn nguyên lòng hiếu kính, vẫn biết thắp nén nhang trầm tưởng nhớ tổ tiên, vẫn tự tay nấu món ăn quê hương cúng Ông Ngoại trong ngày giỗ. Nếp nhà Việt Nam mà anh và tôi nâng niu ngày nào, giờ đây vẫn âm thầm chảy trong dòng máu của thế hệ cháu con.
    Anh Diên ơi, anh cứ yên tâm nghỉ ngơi nhé. Anh vẫn luôn sống mãi trong tim em, trong các con và các cháu, từ những đời này và mãi mãi đến các đời sau…

    MỘNG TƯỞNG
    Anh đi đi mãi không về
    Phòng khuê lẻ bóng não nề thâu canh
    Trăng khuya rọi bóng bên mành
    Lung linh trên gối tưởng anh nằm kề.
    Mùi hương ngày cũ chợt về
    Vòng tay ôm bóng cơn mê vội tàn
    Ngẩn ngơ giấc mộng bẽ bàng
    Ôm hồn cứ tưởng như chàng còn đây…
    Ngoài hiên trăng ủ vầng mây
    Hồn anh lãng đãng về đây chốn này
    Tiếng xưa vọng giữa cơn say
    Ru em giấc mộng những ngày bên nhau.
    Hương xưa còn thoảng trên đầu
    Vẫn như hơi thở nghẹn màu nhớ thương
    Thời gian dẫu có vô thường
    Tình em còn đó, miên trường dấu yêu.

    Phamphanlang – Cuối Tháng 7, 2026

    Nguồn: https://vvnm.vietbaoonline.com/a2483...doi-thuong-nho



Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...