“NƯỚC” Mất, thì “Đổi Đời"

“NƯỚC” Mất, thì “Đổi Đời"
Hội. Họp. Hành liên miên… Sau ngày đất nước "đổi đời" 30 tháng Tư... thì liên tục tại thôn Ấp, (nơi gia đình tôi đang trú ngụ), một tháng có ít nhất bốn ngày buộc dân phải đi họp Tổ, nếu không họp Tổ, thì đi họp Ấp: suốt từ năm 75 đến năm 93. Không đi thì lãnh thẹo á. Nhà nước không cấp phát phiếu mua dầu hôi, mua gạo, mỡ, đầu cá, đầu tôm ươn sình, đã đành. Mà dân còn bị phạt đi làm “công tác chùa" điạ phương không tiền công! Ai ai cũng sợ, ban ngày cùi cụi đi làm nông, làm vườn vất vả khó nhọc, ban đêm phải đi họp ở dưới thôn ấp mình, mỗi người mang theo một cái đòn, chiếc chẹ, hay đoạn chiếu cũ! Ai không có, rút dép mòn kê dưới mông, hay ngồi bệt xuống đất.
Phần tôi, do họ biết tôi có chút xíu "trí thức", nên mỗi lần bà Trưởng Ấp đi họp trên thành phố nhà Hồ, hoặc các miền "giao lưu văn hoá" khác, thì tôi phải lẽo đẽo đi theo bà, ngỏ hầu ghi chép khi họ "báo cáo", đi làm “công chùa” mút chỉ cà tha. Họ vắt cạn kiệt sức lao động con người như vắt miếng chanh hết nước. Hôm nay có "bàn hội nghị" tại thành Hồ, trước khi họp, cán bộ chính trị trịnh trọng dõng dạc hô:
- Toàn thể "rân" chúng đứng "nên", để tôn vinh tưởng "liệm" Bác:
Bác Hồ ta thật vẻ vang
Đang từ khỏe mạnh chuyển sang… từ trần (2)
Sau đó từ từ họ chuyển tông sang:
Cùng vào lăng bác đi cầu
nguyện cho thân quyến vừa giàu vừa sang. (2)
Sau đó nữa, cán bộ quơ tay ra dấu cho dân chúng lần lượt ngồi xuống, giải thích về việc bầu bán:
Ta đi bầu cử tự "ro"
Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm (2)
Cán bộ chính trị trên thành phố xuống chủ trì (ngoài Bắc vô Nam) ông đứng dậy hân hoan vui vẻ trịnh trọng chống nạnh, nói:
- Hôm "lay" nhà "lước" ta nhiệt "niệt" chào mừng các đoàn đại biểu từ khắp "lơi", đến tham "rự" hội thảo: Trước hết tôi "rới" thiệu:
1.- “Đoàn Việt "Lam" (Nam) ” có rân tộc Thiểu số trên Cao Nguyên vùng sâu vùng xa về:
Lò Văn Tôn.
Cú Có Đeo.
Lừa Song Phắn
Nông Đức Đai
Bạc Cầm Cu
2.- Đại biểu Cộng Hoà Rân Chủ nhân rân Nào (Lào):
Tay Xỏ Mông Thum Thủm
Vay Vay Hẳn Xin Xin Hẳn.
Hắc Lào Mông Chi Chít.
Xăm Thủng Kêu Van Hỏng.
Teo Hẳn Mông Bên Phải.
Ngồi Xổm To Hơn Hẳn.
Đang ị Lăn Ra Ngủ.
Lông Chim Xoăn Xoăn Tít.
Say Xỉn Xông Dzô Hãm.
Ôm Phản Lao Ra Biển.
Cu Dẻo Thôi Xong Hẳn.
Cai Hẳn Thôi Không Đẻ.
Xà lỏn dây thun giãn.
Xà Lỏn Dây Thun Lỏng
Y Hẳn Tay Xin Đểu.
Leo Tủ Ăn Đu Đủ
Ăn Tỏi Xong Bum Bủm
3.- Đại Hàn Rân Cuốc (Xẻng):
Chim Sưng U.
Nâng Su Chieng.
Kim Đâm Chim.
Pắt Song Híp.
Chơi Xong Dông.
Eo Chang Hy (y chang heo).
4.- Nhật Bản:
Xa Ku Ta ra.
Ta Cho Ku Ra.
Cu ta ta xoa.
5.- Niên Bang Xô Viết :
Cu Nhét Xốp.
Cu Dơ Nhét xốp.
Nicolai Nhai Quai Dep.
Ivan Cu To Nhu Phich.
Trai Cop Xờ Ti.
Mooc Cu Ra Đốp.
Ivan Xach Xô Vôi.
6.- Ncraina:
Nâng Cu Lên Cô.
7.- Rumany:
Lo Nhet Cu.
Lôi Cu Ra Đốp.
8.- Trung Quốc:
Bành Tử Cung.
Quách Vô Hòm
Đại Cường Dương.
9.- Đài Noan (Loan):
Kim Xuyên Quần.
Hà Ra Kinh.
. . .
Một lần khác tôi và bà Mừng đi họp tại huyện Củ Chi: sinh hoạt, bầu bán, đả thông tư tưởng, quán triệt đường lối, thi đua, nâng cao sản xuất. Đảng lãnh đạo. Nhà nước quản lý. Nhân dân làm chủ... Kho Bạc thì... "nhà lước ta phải quản ný" mệt nghỉ! Ngoài trưởng, phó, thư ký, an ninh, công an khu vực ra, họ có ghế ngồi chung quanh một cái bàn và ghế dài cũ. Hầu như hôm nào cũng có vài ba cán bộ ngồi kiểu nước lụt, chò hỏ như con khỉ đánh đu, họ co một chân trên ghế, thờ ơ bỏ báng súng xuống bàn, tôi tưởng hắn đang chiả súng tới đám đông làm một phát “đùng”.... mà lạnh cả gáy! Có “vị” vừa nói vừa ngồm ngoàm nhai bánh mì nhồi thịt, uống nước ừng ực, cũng bàn tay ấy giơ lên hỉ mũi rột rột, rồi lau vô vạt áo. Coi “vô tư”, “nịch xự” và "bình rân ráo rục" sao đâu á!
Bỗng nhiên, chẳng hiểu có ông bô bà lão, cô bác già nua bệnh tật nào mà "mất lết", mất na, mất danh, hoặc mất trí; vị ấy đã bị lỏng ruột già, yếu ruột non chi chi đó, nên vị ấy đau bụng đau bão, cố ôm bụng nhịn cơn xì té khói... mà không thể. Ui! không thể chống chọi với “cơn bão lòng”, đã “tịt… ti… xit…” ra một tràng rõ dài và rõ to: bũm bũm bũm... xịt xịt xì.... dài dài dài… (nghe như củ cà nông đại pháo, thời mấy ông Tây bà đầm xí xô dắt nhau ỏng ẹo tràn qua nước ta). Tiếng bũm... xịt... bay theo gió nồm rõ to, và trời quơi! ren mờ thối um! Khiến cả hội trường bịt mũi, phải “tốc hành” xô nhau giạt qua một bên, né sang hướng không “cuốn theo chiều gió”.
Mặc ông trên bàn chủ toạ rống tên các “vĩ nhân” thao thao bất tuyệt ra. Dân ngồi bệt dưới đất ôm bụng cười bò lăn bò càng. Họ bưng mồm, bịt miệng đồng thanh cười ầm, xôn xao náo loạn. Cán bộ chính trị đang thao thao bất tuyệt, đã dừng lại, im phắc, lỏ mắt, tức giận giơ nắm đấm đập mấy phát xuống bàn, quát:
- Ai đã “đánh rắm”, nghe hãi thế hở???
Hội trường nín khe im re, cũng có sợ bị cán bộ quở, hoặc bắt phạt đi lao động đó. Cán bộ chính trị mặt vẫn đỏ gay, hắn là một cây sừng sỏ có nhiều tham vọng, tuy cà lơ phất phơ, nhưng hắn cần đánh bóng cuộc đời, bất chấp tất cả để đạt đến mục đích, hắn muốn hành động một tay che trời. Đầu trên thôn dưới ai mà chả biết hắn chỉ là thùng rỗng kêu to, mặt mũi sĩ diện nào ngồi chung với chúng tôi, như thế chẳng khác chi lòi cái đuôi ngu dốt, làm sao mà trị dân! Nói trắng ra là con đường tiến thân của hắn bước dần vào ngỏ cụt đang cố trườn lên. Hắn xỉ xỉ ngón tay vô đám đông:
- Tôi hỏi "nại": Tôi đang "riảng" về "ný" thuyết ưu việt của Bác và Đảng. Thế tại sao... ai đã "rùng" thủ thuật đấy để phản đối, hử! Cút xéo khỏi đây ngay!
Nhiều tiếng xì xầm to nhỏ bàn tán vang lên đó đây. Cuối cùng có một bà chính cống là “nhà giáo, nhà nhạc, nhà văn, nhà buôn, nhà cái, nhà đá, nhà giam, nhà hát, nhà giao lưu dzăn hoá” Toàn là thứ NHÀ, nghe oai và thứ dữ không hà. Bà ngoại tuần khoảng năm "mưi" mấy bó… bà đang xiả cục thuốc, chà qua chà lại lia lịa trên hai hàm răng, rồi bà nhéc bên kẽ môi trên. Khi bà ta nói thì cục thuốc to nhấp nhô, coi hay hay và ngộ ghê:
- Tui hỏi chút xi: cán bộ giảng về bài học cách mạng, và hỏi: ai đã “đánh rắm”... là cái điều luật thứ mấy của đảng dzậy?
- . . .
- Chị kia bảo "rì" đấy nhỉ!
- Bởi vì: Thiệt tình là ngôn ngữ hai miền khác nhau, tui không hiểu gì á cán bộ. Giống như những ví dụ sau đây nè:
Nam rờ bông Bụp. Bắc vuốt “Tường Vy”
Nam nói: “mày đi”! Bắc hô: cút xéo.
Bắc bảo: cứ véo! Nam: “ngắt” nó đi.
Bắc gửi phong bì. “Bao thơ” Nam gói
Nam kêu: muốn ói. Bắc bảo: “buồn nôn”!
Bắc gọi tiền đồn. Nam kêu “chòi gác”
Bắc hay khoác lác. Nam bảo “xạo ke”
Mưa đến Nam “che”. Gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng. Nam nói “chưởi hay”.
Bắc nấu thịt cầy. Nam thui “thịt chó”.
Bắc vén búi tó. Nam “bới tóc” lên
Anh Cả Bắc quên. Anh “Hai” Nam “lú” (3)
Cán bộ chính trị ớ ra một lúc, ngẩn ngơ nhìn trời hiu quạnh, rồi la:
- Chị kia, cố tình trêu ngươi tôi đấy phỏng?
- Ông ui. Tui không hiểu nữa rùi, ông nói: “đánh rắm" dzà "trêu ngươi” là gì?
Cán bộ mặt đỏ tía tai hầm hầm tức giận đến cực... điểm, hai bàn tay xoắn xuýt lấy nhau, hắn vụt đứng bật dậy đi lui đi tới. Trong khi đó có một cán bộ khác đang ngồi chò hỏ kiểu nước lụt, ông ta chống hai tay lên cằm, ngó bạn cười ha ha:
- Dân miền Nam như chúng tui không hiểu chữ “đánh dắm” của đồng chí đâu. Nếu đồng chí nói là: “địt”, thì họ hiểu, biết ngay.
- Có "rì" mà chả đả thông tư tưởng hở: “Đánh dắm” hay "nà đánh rắm”... thì có nghĩa: muốn khỏi uất sình hơi trong ruột, trong bụng, ta cứ để cho nó tự "ro", cho hơi trong ruột hân hoan thoát ra "nỗ" đít, bay ra ngoài trời “thái mái”. Có thế mà không hiểu. Dốt thật!
Một ông lão “lao động là vinh quang” nông dân bấy giờ ngà ngà say, cóc sợ ai, ông ngồi bệt dưới đất, bèn thong thả lên tiếng:
- Dzậy chớ còn chữ “trêu ngươi” là gì, cán bộ nói đi, cho tui học nữa, cho dzui.
- Trêu ngươi tức "nà": cố ý chọc tức, không kiêng nể "rì", khi tôi đang "rảng" bài, và “đả thông tư tưởng” đấy. Hiểu ra chưa. Cố tình chưa hiểu, "nà" chống đối cách mạng đấy. Ông bảo cho mà "niệu" thân nhá.
Bà già xồn xồn giáo sư Văn kia trở thế ngồi cho ngay ngắn, bây giờ bà lại khúc khích "cừi cừi":
- Bởi “dzì” cán bộ nói không “gõ gàng”, nên tui có thắc mắc xi. Chèn quơi, chừ hiểu rùi, đồng chí!
- Ai là đồng chí với bà, mà "nải" nhải.
- Ồ... xin lỗi cán bộ, tui già cả ưa “guên”! Dzậy ra tui là đồng rận! thì:
. . . Bắc nói trổng thế thôi. Nam bâng quơ “dzậy đó”
Bắc đan cái rọ. Nam làm “giỏ tre”.
Nam không nghe “nói dai”. Bắc chẳng mê lải nhải
Nam “cãi bai bải”. Bắc lý sự ào ào
Bắc vào Ô tô. Nam vô “xế hộp”
Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam “đạp thắng” (1)
Một cán bộ miền Nam khác ghé tai qua cán bộ chính trị miền Bắc “cừi cừi”:
- Bà kia là một “giáo sư dzăn-chương”, bả đã đi dạy trên Sè Gòn, nên xổ cả chùm nho, chùm thơ, bả dám đấu hót "dzới" cán bộ, chẳng “goa” là có chồng làm khá lớn, con thuộc "dzề" tầng lớp liệt sĩ trong Nam, rất có công "dzới" cách mạng đó.
Cán bộ chính trị dịu giọng, liền lãng qua chuyện vẩn vơ khác cái rụp. Thế là vô tình buổi họp biến thành buổi đối đáp thơ tiếu lâm, vui ơi là vui “hả hê” nhất từ xưa tới nay. Ai ai cũng có nhen nhúm chút xí hân hoan khoan khoái cởi mở tấc lòng. Tôi ngồi bệt dưới đất gục mặt lên hai đầu gối nhô cao mà nực cười, nhìn một cánh tay liệt của cán bộ Mưu luôn đong đưa, lúc lắc, thân hình y nghiêng nghiêng qua một bên, ông ta lê từng bước cứng cỏi, nặng nề. Đi lui đi tới, ổng mang không vừa đôi dép râu nhỏ hơn khổ chân, nên ngón út ương bướng chìa ra ngoài, cọ quẹt xuống đất, trông dễ gai hết sức. Tôi nhìn lom lom vào ngón chân út “giao liên” xuống đất của ổng, ngón chân chìa ra chả khác nào lưỡi cày bấm sâu xuống nông trường Nhị Xuân, nơi vắt cạn kiệt sức lực người dân đen đến giọt mồ hôi cuối cùng. Trong tranh tối tranh sáng, khi tiếng ếch nhái, ễnh ương tưng bừng kêu ộp oạp, uồm uộm… tiếng dế gáy ré ré, tiếng ve sầu rã rích than van, tiếng muỗi vo ve đốt sưng đít, dân mất của mất công, mất tất cả mọi thứ trên cuộc đời ô trọc, mà phải ngồi xổm xép de dưới đất tới hơn 12 giờ khuya, nhìn lên:
Hội trường yên ắng ngủ say
Thuyết trình vừa dứt, vỗ tay ra về. (2)
* * *
Bằng hai bàn tay thô cứng, dân vét rạch, đào kinh, dẫn thủy nhập điền, trồng thơm, trồng mía, trồng ngô, khoai, trồng dưa leo, bí bầu… Ôi! Đủ thứ trồng trồng… trọt trọt… hầm bà làng xí cấu.
Hoan hô các cụ trồng cây
Mười cây chết chín, một cây gật gù
Tụi bay có mắt như mù
Mười cây chết cả, gật gù nỗi chi… (mà thi hành). (2)
Thì, một năm nhà nước sẽ ưu ái bán cho mỗi hộ dân hưởng đặc quyền: Mua ít bánh mứt tẻo teo, gạo mắm, tí đầu cá, đầu tôm, xà bong, bột ngọt. Nhất là mỗi hộ chỉ có vài mét vải hoa hoè, hai mét vải dù quần đen (mà đàn bà rất cần) cho cả gia đình. Mẹ già héo hắt đi mót lúa ở ngoài đồng, cần có cái che đít che húm... cho đỡ xấu hổ. Tôi ở nhà đôi mắt mờ lệ, hai tay mỏi nhừ đang giặt bọc, hai chân đau nhức đạp bọc ni lông. Tôi chỉ mặc “cái khố xì xịp líp”. Nếu có ai lạ bất thần vào nhà, nhà không có cửa khóa then gài, thì tôi vội vàng bụm húm lại, cười ruồi! Các con trai lớn tồng ngồng cũng trần truồng như nhộng. Khỏi mặc quần, nước dơ bám vô, quần áo mỗi người chỉ có hai bộ, mặc bộ nầy giặt quần áo chưa khô, lại thay và mau rách sẽ hoài phí đi.
Ở ngoài vòng tù ngục bao la thì như thế. Bên trong vòng kẽm gai với hầm hố và cornex, thì những bạn tù của chồng, và chồng mình đớn đau cơ cực gục đầu trên gối bó cao: Dù đói khổ nhọc nhằn đến vậy, mà tôi vẫn nghe con trai ngồi một góc, ôm cây đờn guitar khảy những điệu nhạc cuả chú bác ở trong trại tù “cải tạo” tập trung, hờn đau buồn thảm, nghe thật não nề.
Có những lúc ngó sâu trong thinh lặng
Thấy quê hương vẫy gọi từ trùng xa
Ôi thân trai! Ôi nợ nước tình nhà!
Sao cúi mặt loanh quanh đời cơm áo?
Có những lúc đắm chìm trong áo não
Sống một đời vô dụng, kẻ tha hương
Nửa đã qua, nửa còn lại chán chường
Như cát bụi đang chờ ngày hóa kiếp! (TPKW)
* **
Tệ Trạng Xã Hội: thời 75 > 93, tôi trở thành tội-đồ ô-danh nhất chế-độ, chỉ vì tội: “con vợ-ngụy” hồi xưa giàu có sang trọng, có xe hơi Peugeot 404 láng cón mới toanh, có nhà ba tầng lầu đúc bê tông cốt sắt sâu 40m rộng 5m, nền lót gạch bông loại đắt tiền, trong nhà trang hoàng tươm tất nhưng trang nhã và thanh lịch, không rườm rà kiểu cách. Bởi ngày xưa do tự bốn bàn tay siêng năng & thanh liêm (tôi và chồng), dù chỉ có bốn bàn tay cần cù chăm chỉ, mà tạo thành cơ ngơi sáng giá, có vốn liếng dành dụm làm thiệt ăn thiệt.
Ngày nay “giải phóng” tự do hòa bình rồi, tôi (và 4 con, cộng 1 mẹ chồng già, vị chi có sáu cái đầu, 12 bàn tay, 12 bàn chân) hết sức “lao động là vinh quang” làm lụng vất vã, khổ cực hết biết! Sáu người đông đúc thế mà... không thể có cái ăn, cái mặc cho ra hồn; Chúng tôi nỡ lòng nào bêu rếu chế độ, vì đói khát rách rưới tả tơi, luộm thuộm thảm thê. Thiệt là mắc cỡ cho chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ cộng hòa! để nhà nước giải phóng dân phải cho đứng xếp hàng chầu chực suốt ngày mà mua:
Một năm hai thước vải thô.
Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra.
May quần thì hở lá đa.
Chị em thiếu vải hóa ra lõa lồ.
Vội đem cất ảnh bác Hồ.
Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm.
Có áo mà chẳng có quần.
Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
Có đói mà chẳng có no.
Lấy gì độc lập, tự do hỡi người? (2)
Không ai thân thiết ngọt ngào hơn ba tấm mền bao cát của Mỹ ra đi đã để lại cho gia đình tôi dùng chống lạnh mỗi độ đông qua xuân về! Dáng xuân phơi phới vô tình dày xéo lên tâm tư tôi những bất mãn, chua xót và ước mong. Tôi không dám tin ai, không dám hy vọng, không thể dựa vào đâu để sống lê lết qua chuỗi ngày đói rét cơ cực còn lại. Tôi thấp thỏm lo âu, trông ngóng từng giờ phút, từng ngày... sẽ có một tin lành đến. Hằng đêm tôi quỳ dưới đất, chấp tay cầu mong những người đã vượt thoát ra đi ở bên kia bờ đại tây dương, hãy mau mau quay về... cứu cánh, hãy giải phóng quê hương, và chính chúng tôi thoát khỏi cảnh đời cay cực, lầm than khổ sở, vô vàn điêu đứng. Dẫu niềm hy vọng mơ hồ quá mong manh và tê tái...
“Qua cầu ngả nón trong cầu.
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu”. (2)
Mạng lưới y tế vệ sinh ở Quận, Huyện, Thôn, Xã, Ấp: (sát nách thuộc thành phố Hồ Chí Minh) nơi gần thành thị mà còn tệ như thế, chứ chả phải nơi vùng quê xa xa, hầu như càng thấp kém, xuống thấp trầm trọng. Trong khu xóm đã phát sinh ra bệnh dịch tả, sốt rét, ho lao, bệnh xã hội lây lan phát triển nhanh chóng. Dân đến bệnh viện nhăn nhúm rên siết đứng ngồi la liệt. Thiếu bác sĩ trầm trọng, dù họ làm việc tối mặt tối mày, vẫn không có giờ nghỉ ngơi. Gia đình bệnh nhân theo toa bác sĩ phải mua thuốc ở ngoài vào, vẫn khó khăn. Hầu hết các nơi không có thuốc kháng sinh. Tại các phòng trên thành phố ở Chợ Lớn, người Hoa chân chất thật thà, mà nè… họ ăn ngay nói thẳng, thẳng như ruột ngựa, họ xí xa xí xô khua tay “múa... mỏ” phản ứng bộc trực. Dân nói dân nghe, cán bộ học lóm chữ “tô chè” thản nhiên coi như pha, chứ có ai hiểu mô tê răn rứa chi tề.
Bệnh viện miền quê cũng thế, mỗi cái gường chiếc có tới bốn người, kẻ nằm xuôi, người nằm ngược, “con bệnh” lây lan từ người nầy sang người khác vụt nhanh. Muốn khám bệnh, tôi phải viết tờ đơn trình Tổ-trưởng ký, rồi chuyển lên chờ Trưởng Ấp là bà Mừng già khoảng 65t chờ đợi một hai ngày bà "quan liêu" mới ký. Tôi lại đi bộ lên Huyện Hóc Môn đứng xếp hàng, chờ xin xác nhận chữ ký của “Tổ và Ấp”. Sau đó tôi chạy qua bệnh viện xếp hàng, chờ nộp tờ đơn có đầy đủ ba nơi ấn ký. Đau ốm liệt giường cũng trải phải qua thủ tục quá rườm rà, phức tạp trên. Nếu phải chờ đợi ba bốn ngày khi bệnh nhân đang ngáp ngáp, cũng chịu! (có khi cả tuần kẹt rơi vào mấy ngày Tết, lễ, thì ôi thôi...) mới có giấy chuyển cho đi trình “cửa quan”. Nếu không có bất cứ đơn từ, hộ khẩu, giấy chứng nhận của các cơ quan trên, nhất là giấy chứng nhận tôi đã đi bầu cử, giấy tôi lao động tốt, không có “thủ tục đầu tiên” đóng đầy đủ. Thì, đừng hòng mà vô bệnh viện.
Tôi có chết, cứ coi như con chó chết ngoài “diện và tuyến” của họ. Người nghèo tất nhiên giống hàng chó ngựa mà thôi. Cũng phải! Chó ngựa, nên mẹ đi nuôi con đau ốm ở bệnh xá phải nằm ở dưới đất sát bô cứt đái, cạnh ống nhổ toàn đờm và máu. Không thiếu gì bệnh nhân, sản phụ bị lây bệnh trầm uất hậu sản. Sự hèn kém, nhọc nhằn, đói khát, đau yếu đến rất vội với những mái đầu bạc nhanh trước thời gian. “Lương y như tử mau”. Thời gian đầu của 75 – 85: Dù đã 10 năm rồi mà đâu vẫn hoàn đấy! Đó là nét kinh dị vô cùng của y sĩ cắt ké ở Thành và Huyện, “bác xỉ” có tuổi đảng từ miền Bắc “tha” vào Nam; không qua kinh nghiệm đào tạo ở một ngành chuyên môn nào sớt. Con cút muốn vỗ cánh bay lên đọt cây làm con phượng hoàng mà! Cho nên có không ít người dân ngu khu đen vùn vụt đâm đầu lao xuống âm tào địa phủ oan mạng!
* * *
Do:
CÁI HỘ khẩu bày, CỐ HẠI dân.
HỘ KHẨU từ nay HẬU KHỔ dần.
HỠI HỒ chủ tặc, khi HỒ HỞI.
ÐỘNG CƠ bốc lột ÐỢ CÔNG nhân.
CÁN MẠCH nhân quyền, nào CÁCH MẠNG.
CHỈ TRÙ dân tộc, CHỦ TRÌ bàn.
THƯỢNG THỜI bán nước, ngay THỜI THƯỢNG.
CHẤT LƯỢNG bạo quyền, CHƯỚNG LẬT gian.
- Hành chính & quản lý - trong đó có:
- Đổi tiền lần thứ nhất: ngày 2/9/1975- là đổi tiền của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ra tiền xu của bác Hồ. Chiếu theo đó đến ngày 22 tháng 9 năm 1975: thì tiền Việt Nam Cộng Hòa 50$ bị cấm lưu hành, phải đổi sang tiền xã hội chủ nghĩa. Tiền mới có giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu. = 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng.
- Sau ngày 21-3-1978, một số lớn cán bộ ập vô từng nhà lục soát, kiểm kê từng món, từng hiện vật, qúy vật, kiểm kê toàn bộ tài sản tư sản mại bản ở miền Nam, lục lạo mọi ngỏ ngách, không sót chỗ nào.
Đổi tiền lần thứ nhì: ngày 3/5/1978.- Sài Gòn - Chợ Lớn đầy những ông bà tai to mặt bự giàu kếch xù ngày trước, chộn rộn, bồn chồn, lo lắng, run sợ như cầy sấy. Không chỉ những nhà giàu mới run rẩy, mà cả cả nước đều rúng động. Chả biết ngày nào đến lượt ta bị “các ông bác” dòm đây? “Ông bác X” bặm trợn ở thời buổi nầy to bự hơn ông Nghè ông Tỉnh ưa rình mò nghe lỏm chuyện tư gia người khác, rồi tinh ranh ma mãnh một mạch xồng xộc vô cửa sau ra cửa trước, hoạnh hoẹ giở từng cái nồi, coi nhà ai có nấu rẽo bầu, nhóm bí rợ với nồi bo bo độn ba phần sắn kí cóp bòn nhặt không, có mẫu gạo tẻo teo nào không.
Thấy mà phát bực vì những xính vính cơ cùng đổi thay thật chán chường thân phận xã hội chủ nghĩa. Tôi chỉ muốn chết dúi ở xó góc tồi tàn cho xong kiếp người! “Bác” vếu váo xì xào ngồi lê đôi mách dòm ngó kẻ khác đang xính vính, bác mới hả cơn giận thù nghịch nguồn cội thấp cao ở hai miền Nam Bắc phân tranh thê thiết bao năm. Hãi hùng vì những chính kiến thù hận nguồn gốc ông cha dội ngược vào lòng tôi, mà ai ai cũng im thin thít. Dân miền Nam có xí của cải cất dú đi đâu cho thoát khỏi những đôi mắt cú vọ. Hở Trời? Từng cơn đau và nỗi sợ hãi dày vò từ người nầy lan nhanh qua người kia, nhưng ai nấy đều câm như hến, không dám kêu rêu nửa lời. Dù đảng và nhà nước chẳng hề mất một viên đạn nào, chả thèm bắn phát súng thị oai nào, thế sao mình vẫn run như cầy sấy!?
- Đổi tiền lần thứ ba: ngày 4/9/1985 - với hối xuất 1 đồng mới = ăn từ 1 đến 10 đồng cũ, (tùy theo trương mục tiết kiệm), mỗi gia đình chỉ được đổi 2.000 đồng, còn lại bao nhiêu phải nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xét. Úi Trời ơi! Có biết bao nhiêu người mất trắng tay, họ đã tự tử bằng độc dược, chết toi cả! Người ta càng rùng rợn hơn là thấy nhà giàu mất tất cả, họ nổi khùng nổi điên, dám “can đảm” (oai hùng hơn những anh lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hoà). Vì sao hơn? Dạ thưa... vì họ chẳng cần mang dù mang dây chi hết, họ cứ nhảy đại xuống đất ạ. Họ nhảy từ trên cao ốc cả chục tầng xuống đất, bể đầu nhăn răng trợn mắt hộc máu chết tươi. Không biết thuở trước đám dân đen nầy có đi lính Nhảy Dù không cà? Mà họ bạo gan bạo phổi “yên hùng” quá sá chừng! Tôi bái phục dập đầu xuống đất mà cung kính nghiêng mình chào những vị anh hùng chân đất khả kính!
Tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh một người đàn ông treo tòn ten trên cột điện cao thế, ông đang thủ-thỉ thù-thì lảm nhảm với ai đó. Ui cha! Chắc chắn là ông ta bị điên, khi thằng con ngu dại đã trèo lên lấy cắp dây điện đem đi bán, nó đã bị điện giật chết toi, mà ông không thấy, không sợ, không chừa sao? Ông đã già khú đế lại bắt chước trai trẻ làm chi, ông trèo lên đấy phân bua với mọi người về sự sống còn của một thể xác vô hồn, trí óc ngớ ngẩn. Hay là ông ta muốn chia sẻ nỗi đau... tiu nghĩu ngượng nghịu của bà con cô chú ở dưới đất? Họ đang nhìn lên hai chân teo tóp trong ống quần xà lõn tuột tới đì, ở dưới "dòm lên" họ cũng chả thấy cái tóp teo chi chi mô!
Vậy mà khiến cho không chỉ những người giàu có lo sợ và cả những thôn xóm ấp làng xã... đều rúng động. Chả biết ngày nào đến lượt ta bị “các ông bác” sẽ có lần "dòm" đây? Ai có xí của cải thì trong bụng đánh lô tô, mắt dòm chừng ra cửa, chờ khi có ánh trăng thượng huyền, thì cất dấu thu dú vô nơi kín đáo, cầu mong sao thoát khỏi những đôi mắt cú vọ. Hở Trời? Người ta tụm trăm tụm ngàn, bàn tán xôn xao về thảm trạng tự vận:
- Coi ổng khờ câm à. Vậy mà cháy nhà mới lòi ra mặt chuột.
- Giàu xụ ha.
- Mất hết, tiếc của hùi hụi, ổng nhảy lầu là phải!
Không có tài chính, thì dân chẳng thể làm kinh tế, cồn cào đói khát triền miên không cục cựa nhúc nhích, lo cho cái dạ dày réo gọi triền miên chưa xong, lấy đâu ra sức mà làm đầu tàu phản đối hoặc làm cách mạng "phẻn động" nhà nước nỗi. Ngu gì! Do vậy chẳng ai có thể làm nên xơ múi, cho dù muốn làm cuộc cách mạng, muốn đi “lập nghiệp ở phương trời” cũng đành thua! Hầu bao cuống rún ruột tượng chả còn, thì kinh tế như chuỗi dây chuyền kéo guồng máy xã hội chủ nghĩa ngày càng xuống thấp. Dù có những bảng hiệu mọc lên nghe rất kêu, hấp dẫn vừa thành hình như:
- Colusa = (Công ty lương thực HCM).
-Cotevina = (Công ty tem VN).
- Yteco = (Công ty y khoa, y tế).
- Hovila, Hovilo... v.v…
* *
Thế nhưng mọi thứ "bảng hiệu danh giá cao quý" dần dần cũng xụm bà chè. Việc bắt dân lao động, đóng góp sức lực và tiền bạc, là đưa dân lên “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Mà, một nhóm “bình dân giáo dục” ở trên Sài Gòn, dám rù rì… chuyền tai nhau láo pháo về 4 chữ "Xã Hội Chủ Nghĩa" ấy, bằng các chữ viết hoa đầu câu “dệt” sau:
1.- X H C N = Xạo Hết Chỗ Nói.
2.- X H C N = Xuống Hố Cả Nước.
3.- X H C N = Xuống Hàng Chó Ngựa.
4.- X H C N = Xiết Họng Công Nghiệp.
5.- X H C N = Xe Hư Chẳng Nổ.
6.- X H C N = Xế Hư Cứ Nằm.
7.- X H C N = Xe Hết Chỗ Ngồi.
8.- X H C N = Xếp Hàng Cả Ngày.
9.- X H C N = Xấu Hết Chỗ Nói.
10.- X H C N = Xoá Hết Chữ Nghĩa.
11.- X H C N = Xâu Hổng Cho Nghỉ.
12.- X H C N = Xét Hỏi Con Người.
13.- X H C N = Xã Hội Chó Ngựa...
Trong khu xóm A, B, và C của tôi thuộc Huyện Hóc Môn: có chừng ngàn căn nhà gia binh hồi xưa, nay đã bỏ hoang. Hồi trước khu trại lính nầy thuộc Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo, phồn vinh, sầm uất vui vẻ, ồn ào không khác gì một thị tứ nhỏ. Nay đa số vợ con lính đều bỏ đi hết, lớp thì về quê móc đất móc đai làm vườn làm ruộng, lớp lo đi kinh tế mới. Bây giờ tại khu xóm này rải rác còn độ hai mươi mấy gia đình “bá vơ tứ cố thân và vô phương” ở mọi nơi, họ đã tập họp tại trại gia binh bỏ hoang trống trước trống sau. Không thiếu gì người đi hôi của, giở tôn xi măng, giở cửa, đập tường lấy táp lô về làm của riêng. Ai có vợ chồng con cái lớn đầy đủ, và có tiền, thì còn làm cửa làm phên, ngăn che căn nhà cho bớt trống trải. Những căn nhà kê ra thành một vòng đai từ hướng Đông, Nam, Tây, Bắc.
Tuy nhiên trong số dân giả bần cùng kia, có gài lọt vô hai gia đình xem ra đó là thành phần “trí thức và công nhân viên” ở chế độ mới, họ ở đâu được chuyển tới để làm tổ trưởng, tổ phó an ninh của khu vực nầy! Tuy cả hai gia đình ấy cộng lại đếm không đủ trên mười đầu ngón tay, nhưng ai ai cũng khiếp! Đó là gia đình ông bà Hai Bé, và ông bà Tư An. Chồng đi làm vợ ở nhà trông chừng con và dòm chừng dân ngu khu đen! Hai đại gia giàu xụ và nghề nghiệp của họ trong khu xóm nhỏ bé nầy: Dòm ngó bọn trẻ thất học chiếm 87% tỷ số. Đàn ông đàn bà dân đen ăn không ngồi rồi chiếm 94% nên khu xóm tôi rất nhàn cư vi bất thiện.
Từ cờ bạc “chui”, rượu trà say sưa, vợ chồng chưởi nhau inh ỏi, vui đó cười đó, rồi quay ra xích mích, đánh nhau bể đầu, gãy tay què chân, là chuyện thường. Nạn đĩ điếm tụ họp lại ở khu nhà trống tùm lum tà la. Đúng là “khu ô danh tứ đổ tường” đã xảy ra không biết bao nhiêu chuyện thật đau lòng. Mặc dù trên thành phố đảng cho lệnh phát triển văn nghệ, ve vuốt xuê xoa dân chúng, hầu mong dịu bớt nỗi kinh hoàng. Thì đó; mỗi tuần, mỗi tháng, trong Tao Đàn đều có chương trình văn nghệ, có các tiết mục vui chơi, ca múa, để “Tao đàn; Mày đàn” cho người khác mua vé vô cửa, ngồi bệt dưới đất mà nghe. Mỗi vé từ 5$ sau đó nhảy lên 10$. Lồng vào giờ “tao-đàn” có một hai giờ nhồi sọ dân chúng.
***
Tình Hoài Hương
(1) = Thơ Bút Tre
(2) Sưu tầm lượm lặt.
THH xin cống hiến quý độc giả thân thương của HQPD câu chuyện thật, để cùng nhau chia sẻ mà "cười ra nước mắt"... Đồng thời THH xin phép cám ơn quý vị nhiếp ảnh gia: đã post những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.
* * *
Tình Hoài Hương

“NƯỚC” Mất, thì “Đổi Đời"
Hội. Họp. Hành liên miên… Sau ngày đất nước "đổi đời" 30 tháng Tư... thì liên tục tại thôn Ấp, (nơi gia đình tôi đang trú ngụ), một tháng có ít nhất bốn ngày buộc dân phải đi họp Tổ, nếu không họp Tổ, thì đi họp Ấp: suốt từ năm 75 đến năm 93. Không đi thì lãnh thẹo á. Nhà nước không cấp phát phiếu mua dầu hôi, mua gạo, mỡ, đầu cá, đầu tôm ươn sình, đã đành. Mà dân còn bị phạt đi làm “công tác chùa" điạ phương không tiền công! Ai ai cũng sợ, ban ngày cùi cụi đi làm nông, làm vườn vất vả khó nhọc, ban đêm phải đi họp ở dưới thôn ấp mình, mỗi người mang theo một cái đòn, chiếc chẹ, hay đoạn chiếu cũ! Ai không có, rút dép mòn kê dưới mông, hay ngồi bệt xuống đất.
Phần tôi, do họ biết tôi có chút xíu "trí thức", nên mỗi lần bà Trưởng Ấp đi họp trên thành phố nhà Hồ, hoặc các miền "giao lưu văn hoá" khác, thì tôi phải lẽo đẽo đi theo bà, ngỏ hầu ghi chép khi họ "báo cáo", đi làm “công chùa” mút chỉ cà tha. Họ vắt cạn kiệt sức lao động con người như vắt miếng chanh hết nước. Hôm nay có "bàn hội nghị" tại thành Hồ, trước khi họp, cán bộ chính trị trịnh trọng dõng dạc hô:
- Toàn thể "rân" chúng đứng "nên", để tôn vinh tưởng "liệm" Bác:
Bác Hồ ta thật vẻ vang
Đang từ khỏe mạnh chuyển sang… từ trần (2)
Sau đó từ từ họ chuyển tông sang:
Cùng vào lăng bác đi cầu
nguyện cho thân quyến vừa giàu vừa sang. (2)
Sau đó nữa, cán bộ quơ tay ra dấu cho dân chúng lần lượt ngồi xuống, giải thích về việc bầu bán:
Ta đi bầu cử tự "ro"
Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm (2)
Cán bộ chính trị trên thành phố xuống chủ trì (ngoài Bắc vô Nam) ông đứng dậy hân hoan vui vẻ trịnh trọng chống nạnh, nói:
- Hôm "lay" nhà "lước" ta nhiệt "niệt" chào mừng các đoàn đại biểu từ khắp "lơi", đến tham "rự" hội thảo: Trước hết tôi "rới" thiệu:
1.- “Đoàn Việt "Lam" (Nam) ” có rân tộc Thiểu số trên Cao Nguyên vùng sâu vùng xa về:
Lò Văn Tôn.
Cú Có Đeo.
Lừa Song Phắn
Nông Đức Đai
Bạc Cầm Cu
2.- Đại biểu Cộng Hoà Rân Chủ nhân rân Nào (Lào):
Tay Xỏ Mông Thum Thủm
Vay Vay Hẳn Xin Xin Hẳn.
Hắc Lào Mông Chi Chít.
Xăm Thủng Kêu Van Hỏng.
Teo Hẳn Mông Bên Phải.
Ngồi Xổm To Hơn Hẳn.
Đang ị Lăn Ra Ngủ.
Lông Chim Xoăn Xoăn Tít.
Say Xỉn Xông Dzô Hãm.
Ôm Phản Lao Ra Biển.
Cu Dẻo Thôi Xong Hẳn.
Cai Hẳn Thôi Không Đẻ.
Xà lỏn dây thun giãn.
Xà Lỏn Dây Thun Lỏng
Y Hẳn Tay Xin Đểu.
Leo Tủ Ăn Đu Đủ
Ăn Tỏi Xong Bum Bủm
3.- Đại Hàn Rân Cuốc (Xẻng):
Chim Sưng U.
Nâng Su Chieng.
Kim Đâm Chim.
Pắt Song Híp.
Chơi Xong Dông.
Eo Chang Hy (y chang heo).
4.- Nhật Bản:
Xa Ku Ta ra.
Ta Cho Ku Ra.
Cu ta ta xoa.
5.- Niên Bang Xô Viết :
Cu Nhét Xốp.
Cu Dơ Nhét xốp.
Nicolai Nhai Quai Dep.
Ivan Cu To Nhu Phich.
Trai Cop Xờ Ti.
Mooc Cu Ra Đốp.
Ivan Xach Xô Vôi.
6.- Ncraina:
Nâng Cu Lên Cô.
7.- Rumany:
Lo Nhet Cu.
Lôi Cu Ra Đốp.
8.- Trung Quốc:
Bành Tử Cung.
Quách Vô Hòm
Đại Cường Dương.
9.- Đài Noan (Loan):
Kim Xuyên Quần.
Hà Ra Kinh.
. . .
Một lần khác tôi và bà Mừng đi họp tại huyện Củ Chi: sinh hoạt, bầu bán, đả thông tư tưởng, quán triệt đường lối, thi đua, nâng cao sản xuất. Đảng lãnh đạo. Nhà nước quản lý. Nhân dân làm chủ... Kho Bạc thì... "nhà lước ta phải quản ný" mệt nghỉ! Ngoài trưởng, phó, thư ký, an ninh, công an khu vực ra, họ có ghế ngồi chung quanh một cái bàn và ghế dài cũ. Hầu như hôm nào cũng có vài ba cán bộ ngồi kiểu nước lụt, chò hỏ như con khỉ đánh đu, họ co một chân trên ghế, thờ ơ bỏ báng súng xuống bàn, tôi tưởng hắn đang chiả súng tới đám đông làm một phát “đùng”.... mà lạnh cả gáy! Có “vị” vừa nói vừa ngồm ngoàm nhai bánh mì nhồi thịt, uống nước ừng ực, cũng bàn tay ấy giơ lên hỉ mũi rột rột, rồi lau vô vạt áo. Coi “vô tư”, “nịch xự” và "bình rân ráo rục" sao đâu á!
Bỗng nhiên, chẳng hiểu có ông bô bà lão, cô bác già nua bệnh tật nào mà "mất lết", mất na, mất danh, hoặc mất trí; vị ấy đã bị lỏng ruột già, yếu ruột non chi chi đó, nên vị ấy đau bụng đau bão, cố ôm bụng nhịn cơn xì té khói... mà không thể. Ui! không thể chống chọi với “cơn bão lòng”, đã “tịt… ti… xit…” ra một tràng rõ dài và rõ to: bũm bũm bũm... xịt xịt xì.... dài dài dài… (nghe như củ cà nông đại pháo, thời mấy ông Tây bà đầm xí xô dắt nhau ỏng ẹo tràn qua nước ta). Tiếng bũm... xịt... bay theo gió nồm rõ to, và trời quơi! ren mờ thối um! Khiến cả hội trường bịt mũi, phải “tốc hành” xô nhau giạt qua một bên, né sang hướng không “cuốn theo chiều gió”.
Mặc ông trên bàn chủ toạ rống tên các “vĩ nhân” thao thao bất tuyệt ra. Dân ngồi bệt dưới đất ôm bụng cười bò lăn bò càng. Họ bưng mồm, bịt miệng đồng thanh cười ầm, xôn xao náo loạn. Cán bộ chính trị đang thao thao bất tuyệt, đã dừng lại, im phắc, lỏ mắt, tức giận giơ nắm đấm đập mấy phát xuống bàn, quát:
- Ai đã “đánh rắm”, nghe hãi thế hở???
Hội trường nín khe im re, cũng có sợ bị cán bộ quở, hoặc bắt phạt đi lao động đó. Cán bộ chính trị mặt vẫn đỏ gay, hắn là một cây sừng sỏ có nhiều tham vọng, tuy cà lơ phất phơ, nhưng hắn cần đánh bóng cuộc đời, bất chấp tất cả để đạt đến mục đích, hắn muốn hành động một tay che trời. Đầu trên thôn dưới ai mà chả biết hắn chỉ là thùng rỗng kêu to, mặt mũi sĩ diện nào ngồi chung với chúng tôi, như thế chẳng khác chi lòi cái đuôi ngu dốt, làm sao mà trị dân! Nói trắng ra là con đường tiến thân của hắn bước dần vào ngỏ cụt đang cố trườn lên. Hắn xỉ xỉ ngón tay vô đám đông:
- Tôi hỏi "nại": Tôi đang "riảng" về "ný" thuyết ưu việt của Bác và Đảng. Thế tại sao... ai đã "rùng" thủ thuật đấy để phản đối, hử! Cút xéo khỏi đây ngay!
Nhiều tiếng xì xầm to nhỏ bàn tán vang lên đó đây. Cuối cùng có một bà chính cống là “nhà giáo, nhà nhạc, nhà văn, nhà buôn, nhà cái, nhà đá, nhà giam, nhà hát, nhà giao lưu dzăn hoá” Toàn là thứ NHÀ, nghe oai và thứ dữ không hà. Bà ngoại tuần khoảng năm "mưi" mấy bó… bà đang xiả cục thuốc, chà qua chà lại lia lịa trên hai hàm răng, rồi bà nhéc bên kẽ môi trên. Khi bà ta nói thì cục thuốc to nhấp nhô, coi hay hay và ngộ ghê:
- Tui hỏi chút xi: cán bộ giảng về bài học cách mạng, và hỏi: ai đã “đánh rắm”... là cái điều luật thứ mấy của đảng dzậy?
- . . .
- Chị kia bảo "rì" đấy nhỉ!
- Bởi vì: Thiệt tình là ngôn ngữ hai miền khác nhau, tui không hiểu gì á cán bộ. Giống như những ví dụ sau đây nè:
Nam rờ bông Bụp. Bắc vuốt “Tường Vy”
Nam nói: “mày đi”! Bắc hô: cút xéo.
Bắc bảo: cứ véo! Nam: “ngắt” nó đi.
Bắc gửi phong bì. “Bao thơ” Nam gói
Nam kêu: muốn ói. Bắc bảo: “buồn nôn”!
Bắc gọi tiền đồn. Nam kêu “chòi gác”
Bắc hay khoác lác. Nam bảo “xạo ke”
Mưa đến Nam “che”. Gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng. Nam nói “chưởi hay”.
Bắc nấu thịt cầy. Nam thui “thịt chó”.
Bắc vén búi tó. Nam “bới tóc” lên
Anh Cả Bắc quên. Anh “Hai” Nam “lú” (3)
Cán bộ chính trị ớ ra một lúc, ngẩn ngơ nhìn trời hiu quạnh, rồi la:
- Chị kia, cố tình trêu ngươi tôi đấy phỏng?
- Ông ui. Tui không hiểu nữa rùi, ông nói: “đánh rắm" dzà "trêu ngươi” là gì?
Cán bộ mặt đỏ tía tai hầm hầm tức giận đến cực... điểm, hai bàn tay xoắn xuýt lấy nhau, hắn vụt đứng bật dậy đi lui đi tới. Trong khi đó có một cán bộ khác đang ngồi chò hỏ kiểu nước lụt, ông ta chống hai tay lên cằm, ngó bạn cười ha ha:
- Dân miền Nam như chúng tui không hiểu chữ “đánh dắm” của đồng chí đâu. Nếu đồng chí nói là: “địt”, thì họ hiểu, biết ngay.
- Có "rì" mà chả đả thông tư tưởng hở: “Đánh dắm” hay "nà đánh rắm”... thì có nghĩa: muốn khỏi uất sình hơi trong ruột, trong bụng, ta cứ để cho nó tự "ro", cho hơi trong ruột hân hoan thoát ra "nỗ" đít, bay ra ngoài trời “thái mái”. Có thế mà không hiểu. Dốt thật!
Một ông lão “lao động là vinh quang” nông dân bấy giờ ngà ngà say, cóc sợ ai, ông ngồi bệt dưới đất, bèn thong thả lên tiếng:
- Dzậy chớ còn chữ “trêu ngươi” là gì, cán bộ nói đi, cho tui học nữa, cho dzui.
- Trêu ngươi tức "nà": cố ý chọc tức, không kiêng nể "rì", khi tôi đang "rảng" bài, và “đả thông tư tưởng” đấy. Hiểu ra chưa. Cố tình chưa hiểu, "nà" chống đối cách mạng đấy. Ông bảo cho mà "niệu" thân nhá.
Bà già xồn xồn giáo sư Văn kia trở thế ngồi cho ngay ngắn, bây giờ bà lại khúc khích "cừi cừi":
- Bởi “dzì” cán bộ nói không “gõ gàng”, nên tui có thắc mắc xi. Chèn quơi, chừ hiểu rùi, đồng chí!
- Ai là đồng chí với bà, mà "nải" nhải.
- Ồ... xin lỗi cán bộ, tui già cả ưa “guên”! Dzậy ra tui là đồng rận! thì:
. . . Bắc nói trổng thế thôi. Nam bâng quơ “dzậy đó”
Bắc đan cái rọ. Nam làm “giỏ tre”.
Nam không nghe “nói dai”. Bắc chẳng mê lải nhải
Nam “cãi bai bải”. Bắc lý sự ào ào
Bắc vào Ô tô. Nam vô “xế hộp”
Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam “đạp thắng” (1)
Một cán bộ miền Nam khác ghé tai qua cán bộ chính trị miền Bắc “cừi cừi”:
- Bà kia là một “giáo sư dzăn-chương”, bả đã đi dạy trên Sè Gòn, nên xổ cả chùm nho, chùm thơ, bả dám đấu hót "dzới" cán bộ, chẳng “goa” là có chồng làm khá lớn, con thuộc "dzề" tầng lớp liệt sĩ trong Nam, rất có công "dzới" cách mạng đó.
Cán bộ chính trị dịu giọng, liền lãng qua chuyện vẩn vơ khác cái rụp. Thế là vô tình buổi họp biến thành buổi đối đáp thơ tiếu lâm, vui ơi là vui “hả hê” nhất từ xưa tới nay. Ai ai cũng có nhen nhúm chút xí hân hoan khoan khoái cởi mở tấc lòng. Tôi ngồi bệt dưới đất gục mặt lên hai đầu gối nhô cao mà nực cười, nhìn một cánh tay liệt của cán bộ Mưu luôn đong đưa, lúc lắc, thân hình y nghiêng nghiêng qua một bên, ông ta lê từng bước cứng cỏi, nặng nề. Đi lui đi tới, ổng mang không vừa đôi dép râu nhỏ hơn khổ chân, nên ngón út ương bướng chìa ra ngoài, cọ quẹt xuống đất, trông dễ gai hết sức. Tôi nhìn lom lom vào ngón chân út “giao liên” xuống đất của ổng, ngón chân chìa ra chả khác nào lưỡi cày bấm sâu xuống nông trường Nhị Xuân, nơi vắt cạn kiệt sức lực người dân đen đến giọt mồ hôi cuối cùng. Trong tranh tối tranh sáng, khi tiếng ếch nhái, ễnh ương tưng bừng kêu ộp oạp, uồm uộm… tiếng dế gáy ré ré, tiếng ve sầu rã rích than van, tiếng muỗi vo ve đốt sưng đít, dân mất của mất công, mất tất cả mọi thứ trên cuộc đời ô trọc, mà phải ngồi xổm xép de dưới đất tới hơn 12 giờ khuya, nhìn lên:
Hội trường yên ắng ngủ say
Thuyết trình vừa dứt, vỗ tay ra về. (2)
* * *
Bằng hai bàn tay thô cứng, dân vét rạch, đào kinh, dẫn thủy nhập điền, trồng thơm, trồng mía, trồng ngô, khoai, trồng dưa leo, bí bầu… Ôi! Đủ thứ trồng trồng… trọt trọt… hầm bà làng xí cấu.
Hoan hô các cụ trồng cây
Mười cây chết chín, một cây gật gù
Tụi bay có mắt như mù
Mười cây chết cả, gật gù nỗi chi… (mà thi hành). (2)
Thì, một năm nhà nước sẽ ưu ái bán cho mỗi hộ dân hưởng đặc quyền: Mua ít bánh mứt tẻo teo, gạo mắm, tí đầu cá, đầu tôm, xà bong, bột ngọt. Nhất là mỗi hộ chỉ có vài mét vải hoa hoè, hai mét vải dù quần đen (mà đàn bà rất cần) cho cả gia đình. Mẹ già héo hắt đi mót lúa ở ngoài đồng, cần có cái che đít che húm... cho đỡ xấu hổ. Tôi ở nhà đôi mắt mờ lệ, hai tay mỏi nhừ đang giặt bọc, hai chân đau nhức đạp bọc ni lông. Tôi chỉ mặc “cái khố xì xịp líp”. Nếu có ai lạ bất thần vào nhà, nhà không có cửa khóa then gài, thì tôi vội vàng bụm húm lại, cười ruồi! Các con trai lớn tồng ngồng cũng trần truồng như nhộng. Khỏi mặc quần, nước dơ bám vô, quần áo mỗi người chỉ có hai bộ, mặc bộ nầy giặt quần áo chưa khô, lại thay và mau rách sẽ hoài phí đi.
Ở ngoài vòng tù ngục bao la thì như thế. Bên trong vòng kẽm gai với hầm hố và cornex, thì những bạn tù của chồng, và chồng mình đớn đau cơ cực gục đầu trên gối bó cao: Dù đói khổ nhọc nhằn đến vậy, mà tôi vẫn nghe con trai ngồi một góc, ôm cây đờn guitar khảy những điệu nhạc cuả chú bác ở trong trại tù “cải tạo” tập trung, hờn đau buồn thảm, nghe thật não nề.
Có những lúc ngó sâu trong thinh lặng
Thấy quê hương vẫy gọi từ trùng xa
Ôi thân trai! Ôi nợ nước tình nhà!
Sao cúi mặt loanh quanh đời cơm áo?
Có những lúc đắm chìm trong áo não
Sống một đời vô dụng, kẻ tha hương
Nửa đã qua, nửa còn lại chán chường
Như cát bụi đang chờ ngày hóa kiếp! (TPKW)
* **
Tệ Trạng Xã Hội: thời 75 > 93, tôi trở thành tội-đồ ô-danh nhất chế-độ, chỉ vì tội: “con vợ-ngụy” hồi xưa giàu có sang trọng, có xe hơi Peugeot 404 láng cón mới toanh, có nhà ba tầng lầu đúc bê tông cốt sắt sâu 40m rộng 5m, nền lót gạch bông loại đắt tiền, trong nhà trang hoàng tươm tất nhưng trang nhã và thanh lịch, không rườm rà kiểu cách. Bởi ngày xưa do tự bốn bàn tay siêng năng & thanh liêm (tôi và chồng), dù chỉ có bốn bàn tay cần cù chăm chỉ, mà tạo thành cơ ngơi sáng giá, có vốn liếng dành dụm làm thiệt ăn thiệt.
Ngày nay “giải phóng” tự do hòa bình rồi, tôi (và 4 con, cộng 1 mẹ chồng già, vị chi có sáu cái đầu, 12 bàn tay, 12 bàn chân) hết sức “lao động là vinh quang” làm lụng vất vã, khổ cực hết biết! Sáu người đông đúc thế mà... không thể có cái ăn, cái mặc cho ra hồn; Chúng tôi nỡ lòng nào bêu rếu chế độ, vì đói khát rách rưới tả tơi, luộm thuộm thảm thê. Thiệt là mắc cỡ cho chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ cộng hòa! để nhà nước giải phóng dân phải cho đứng xếp hàng chầu chực suốt ngày mà mua:
Một năm hai thước vải thô.
Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra.
May quần thì hở lá đa.
Chị em thiếu vải hóa ra lõa lồ.
Vội đem cất ảnh bác Hồ.
Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm.
Có áo mà chẳng có quần.
Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
Có đói mà chẳng có no.
Lấy gì độc lập, tự do hỡi người? (2)
Không ai thân thiết ngọt ngào hơn ba tấm mền bao cát của Mỹ ra đi đã để lại cho gia đình tôi dùng chống lạnh mỗi độ đông qua xuân về! Dáng xuân phơi phới vô tình dày xéo lên tâm tư tôi những bất mãn, chua xót và ước mong. Tôi không dám tin ai, không dám hy vọng, không thể dựa vào đâu để sống lê lết qua chuỗi ngày đói rét cơ cực còn lại. Tôi thấp thỏm lo âu, trông ngóng từng giờ phút, từng ngày... sẽ có một tin lành đến. Hằng đêm tôi quỳ dưới đất, chấp tay cầu mong những người đã vượt thoát ra đi ở bên kia bờ đại tây dương, hãy mau mau quay về... cứu cánh, hãy giải phóng quê hương, và chính chúng tôi thoát khỏi cảnh đời cay cực, lầm than khổ sở, vô vàn điêu đứng. Dẫu niềm hy vọng mơ hồ quá mong manh và tê tái...
“Qua cầu ngả nón trong cầu.
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu”. (2)
Mạng lưới y tế vệ sinh ở Quận, Huyện, Thôn, Xã, Ấp: (sát nách thuộc thành phố Hồ Chí Minh) nơi gần thành thị mà còn tệ như thế, chứ chả phải nơi vùng quê xa xa, hầu như càng thấp kém, xuống thấp trầm trọng. Trong khu xóm đã phát sinh ra bệnh dịch tả, sốt rét, ho lao, bệnh xã hội lây lan phát triển nhanh chóng. Dân đến bệnh viện nhăn nhúm rên siết đứng ngồi la liệt. Thiếu bác sĩ trầm trọng, dù họ làm việc tối mặt tối mày, vẫn không có giờ nghỉ ngơi. Gia đình bệnh nhân theo toa bác sĩ phải mua thuốc ở ngoài vào, vẫn khó khăn. Hầu hết các nơi không có thuốc kháng sinh. Tại các phòng trên thành phố ở Chợ Lớn, người Hoa chân chất thật thà, mà nè… họ ăn ngay nói thẳng, thẳng như ruột ngựa, họ xí xa xí xô khua tay “múa... mỏ” phản ứng bộc trực. Dân nói dân nghe, cán bộ học lóm chữ “tô chè” thản nhiên coi như pha, chứ có ai hiểu mô tê răn rứa chi tề.
Bệnh viện miền quê cũng thế, mỗi cái gường chiếc có tới bốn người, kẻ nằm xuôi, người nằm ngược, “con bệnh” lây lan từ người nầy sang người khác vụt nhanh. Muốn khám bệnh, tôi phải viết tờ đơn trình Tổ-trưởng ký, rồi chuyển lên chờ Trưởng Ấp là bà Mừng già khoảng 65t chờ đợi một hai ngày bà "quan liêu" mới ký. Tôi lại đi bộ lên Huyện Hóc Môn đứng xếp hàng, chờ xin xác nhận chữ ký của “Tổ và Ấp”. Sau đó tôi chạy qua bệnh viện xếp hàng, chờ nộp tờ đơn có đầy đủ ba nơi ấn ký. Đau ốm liệt giường cũng trải phải qua thủ tục quá rườm rà, phức tạp trên. Nếu phải chờ đợi ba bốn ngày khi bệnh nhân đang ngáp ngáp, cũng chịu! (có khi cả tuần kẹt rơi vào mấy ngày Tết, lễ, thì ôi thôi...) mới có giấy chuyển cho đi trình “cửa quan”. Nếu không có bất cứ đơn từ, hộ khẩu, giấy chứng nhận của các cơ quan trên, nhất là giấy chứng nhận tôi đã đi bầu cử, giấy tôi lao động tốt, không có “thủ tục đầu tiên” đóng đầy đủ. Thì, đừng hòng mà vô bệnh viện.
Tôi có chết, cứ coi như con chó chết ngoài “diện và tuyến” của họ. Người nghèo tất nhiên giống hàng chó ngựa mà thôi. Cũng phải! Chó ngựa, nên mẹ đi nuôi con đau ốm ở bệnh xá phải nằm ở dưới đất sát bô cứt đái, cạnh ống nhổ toàn đờm và máu. Không thiếu gì bệnh nhân, sản phụ bị lây bệnh trầm uất hậu sản. Sự hèn kém, nhọc nhằn, đói khát, đau yếu đến rất vội với những mái đầu bạc nhanh trước thời gian. “Lương y như tử mau”. Thời gian đầu của 75 – 85: Dù đã 10 năm rồi mà đâu vẫn hoàn đấy! Đó là nét kinh dị vô cùng của y sĩ cắt ké ở Thành và Huyện, “bác xỉ” có tuổi đảng từ miền Bắc “tha” vào Nam; không qua kinh nghiệm đào tạo ở một ngành chuyên môn nào sớt. Con cút muốn vỗ cánh bay lên đọt cây làm con phượng hoàng mà! Cho nên có không ít người dân ngu khu đen vùn vụt đâm đầu lao xuống âm tào địa phủ oan mạng!
* * *
Do:
CÁI HỘ khẩu bày, CỐ HẠI dân.
HỘ KHẨU từ nay HẬU KHỔ dần.
HỠI HỒ chủ tặc, khi HỒ HỞI.
ÐỘNG CƠ bốc lột ÐỢ CÔNG nhân.
CÁN MẠCH nhân quyền, nào CÁCH MẠNG.
CHỈ TRÙ dân tộc, CHỦ TRÌ bàn.
THƯỢNG THỜI bán nước, ngay THỜI THƯỢNG.
CHẤT LƯỢNG bạo quyền, CHƯỚNG LẬT gian.
- Hành chính & quản lý - trong đó có:
- Đổi tiền lần thứ nhất: ngày 2/9/1975- là đổi tiền của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ra tiền xu của bác Hồ. Chiếu theo đó đến ngày 22 tháng 9 năm 1975: thì tiền Việt Nam Cộng Hòa 50$ bị cấm lưu hành, phải đổi sang tiền xã hội chủ nghĩa. Tiền mới có giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu. = 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng.
- Sau ngày 21-3-1978, một số lớn cán bộ ập vô từng nhà lục soát, kiểm kê từng món, từng hiện vật, qúy vật, kiểm kê toàn bộ tài sản tư sản mại bản ở miền Nam, lục lạo mọi ngỏ ngách, không sót chỗ nào.
Đổi tiền lần thứ nhì: ngày 3/5/1978.- Sài Gòn - Chợ Lớn đầy những ông bà tai to mặt bự giàu kếch xù ngày trước, chộn rộn, bồn chồn, lo lắng, run sợ như cầy sấy. Không chỉ những nhà giàu mới run rẩy, mà cả cả nước đều rúng động. Chả biết ngày nào đến lượt ta bị “các ông bác” dòm đây? “Ông bác X” bặm trợn ở thời buổi nầy to bự hơn ông Nghè ông Tỉnh ưa rình mò nghe lỏm chuyện tư gia người khác, rồi tinh ranh ma mãnh một mạch xồng xộc vô cửa sau ra cửa trước, hoạnh hoẹ giở từng cái nồi, coi nhà ai có nấu rẽo bầu, nhóm bí rợ với nồi bo bo độn ba phần sắn kí cóp bòn nhặt không, có mẫu gạo tẻo teo nào không.
Thấy mà phát bực vì những xính vính cơ cùng đổi thay thật chán chường thân phận xã hội chủ nghĩa. Tôi chỉ muốn chết dúi ở xó góc tồi tàn cho xong kiếp người! “Bác” vếu váo xì xào ngồi lê đôi mách dòm ngó kẻ khác đang xính vính, bác mới hả cơn giận thù nghịch nguồn cội thấp cao ở hai miền Nam Bắc phân tranh thê thiết bao năm. Hãi hùng vì những chính kiến thù hận nguồn gốc ông cha dội ngược vào lòng tôi, mà ai ai cũng im thin thít. Dân miền Nam có xí của cải cất dú đi đâu cho thoát khỏi những đôi mắt cú vọ. Hở Trời? Từng cơn đau và nỗi sợ hãi dày vò từ người nầy lan nhanh qua người kia, nhưng ai nấy đều câm như hến, không dám kêu rêu nửa lời. Dù đảng và nhà nước chẳng hề mất một viên đạn nào, chả thèm bắn phát súng thị oai nào, thế sao mình vẫn run như cầy sấy!?
- Đổi tiền lần thứ ba: ngày 4/9/1985 - với hối xuất 1 đồng mới = ăn từ 1 đến 10 đồng cũ, (tùy theo trương mục tiết kiệm), mỗi gia đình chỉ được đổi 2.000 đồng, còn lại bao nhiêu phải nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xét. Úi Trời ơi! Có biết bao nhiêu người mất trắng tay, họ đã tự tử bằng độc dược, chết toi cả! Người ta càng rùng rợn hơn là thấy nhà giàu mất tất cả, họ nổi khùng nổi điên, dám “can đảm” (oai hùng hơn những anh lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hoà). Vì sao hơn? Dạ thưa... vì họ chẳng cần mang dù mang dây chi hết, họ cứ nhảy đại xuống đất ạ. Họ nhảy từ trên cao ốc cả chục tầng xuống đất, bể đầu nhăn răng trợn mắt hộc máu chết tươi. Không biết thuở trước đám dân đen nầy có đi lính Nhảy Dù không cà? Mà họ bạo gan bạo phổi “yên hùng” quá sá chừng! Tôi bái phục dập đầu xuống đất mà cung kính nghiêng mình chào những vị anh hùng chân đất khả kính!
Tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh một người đàn ông treo tòn ten trên cột điện cao thế, ông đang thủ-thỉ thù-thì lảm nhảm với ai đó. Ui cha! Chắc chắn là ông ta bị điên, khi thằng con ngu dại đã trèo lên lấy cắp dây điện đem đi bán, nó đã bị điện giật chết toi, mà ông không thấy, không sợ, không chừa sao? Ông đã già khú đế lại bắt chước trai trẻ làm chi, ông trèo lên đấy phân bua với mọi người về sự sống còn của một thể xác vô hồn, trí óc ngớ ngẩn. Hay là ông ta muốn chia sẻ nỗi đau... tiu nghĩu ngượng nghịu của bà con cô chú ở dưới đất? Họ đang nhìn lên hai chân teo tóp trong ống quần xà lõn tuột tới đì, ở dưới "dòm lên" họ cũng chả thấy cái tóp teo chi chi mô!
Vậy mà khiến cho không chỉ những người giàu có lo sợ và cả những thôn xóm ấp làng xã... đều rúng động. Chả biết ngày nào đến lượt ta bị “các ông bác” sẽ có lần "dòm" đây? Ai có xí của cải thì trong bụng đánh lô tô, mắt dòm chừng ra cửa, chờ khi có ánh trăng thượng huyền, thì cất dấu thu dú vô nơi kín đáo, cầu mong sao thoát khỏi những đôi mắt cú vọ. Hở Trời? Người ta tụm trăm tụm ngàn, bàn tán xôn xao về thảm trạng tự vận:
- Coi ổng khờ câm à. Vậy mà cháy nhà mới lòi ra mặt chuột.
- Giàu xụ ha.
- Mất hết, tiếc của hùi hụi, ổng nhảy lầu là phải!
Không có tài chính, thì dân chẳng thể làm kinh tế, cồn cào đói khát triền miên không cục cựa nhúc nhích, lo cho cái dạ dày réo gọi triền miên chưa xong, lấy đâu ra sức mà làm đầu tàu phản đối hoặc làm cách mạng "phẻn động" nhà nước nỗi. Ngu gì! Do vậy chẳng ai có thể làm nên xơ múi, cho dù muốn làm cuộc cách mạng, muốn đi “lập nghiệp ở phương trời” cũng đành thua! Hầu bao cuống rún ruột tượng chả còn, thì kinh tế như chuỗi dây chuyền kéo guồng máy xã hội chủ nghĩa ngày càng xuống thấp. Dù có những bảng hiệu mọc lên nghe rất kêu, hấp dẫn vừa thành hình như:
- Colusa = (Công ty lương thực HCM).
-Cotevina = (Công ty tem VN).
- Yteco = (Công ty y khoa, y tế).
- Hovila, Hovilo... v.v…
* *
Thế nhưng mọi thứ "bảng hiệu danh giá cao quý" dần dần cũng xụm bà chè. Việc bắt dân lao động, đóng góp sức lực và tiền bạc, là đưa dân lên “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Mà, một nhóm “bình dân giáo dục” ở trên Sài Gòn, dám rù rì… chuyền tai nhau láo pháo về 4 chữ "Xã Hội Chủ Nghĩa" ấy, bằng các chữ viết hoa đầu câu “dệt” sau:
1.- X H C N = Xạo Hết Chỗ Nói.
2.- X H C N = Xuống Hố Cả Nước.
3.- X H C N = Xuống Hàng Chó Ngựa.
4.- X H C N = Xiết Họng Công Nghiệp.
5.- X H C N = Xe Hư Chẳng Nổ.
6.- X H C N = Xế Hư Cứ Nằm.
7.- X H C N = Xe Hết Chỗ Ngồi.
8.- X H C N = Xếp Hàng Cả Ngày.
9.- X H C N = Xấu Hết Chỗ Nói.
10.- X H C N = Xoá Hết Chữ Nghĩa.
11.- X H C N = Xâu Hổng Cho Nghỉ.
12.- X H C N = Xét Hỏi Con Người.
13.- X H C N = Xã Hội Chó Ngựa...
Trong khu xóm A, B, và C của tôi thuộc Huyện Hóc Môn: có chừng ngàn căn nhà gia binh hồi xưa, nay đã bỏ hoang. Hồi trước khu trại lính nầy thuộc Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo, phồn vinh, sầm uất vui vẻ, ồn ào không khác gì một thị tứ nhỏ. Nay đa số vợ con lính đều bỏ đi hết, lớp thì về quê móc đất móc đai làm vườn làm ruộng, lớp lo đi kinh tế mới. Bây giờ tại khu xóm này rải rác còn độ hai mươi mấy gia đình “bá vơ tứ cố thân và vô phương” ở mọi nơi, họ đã tập họp tại trại gia binh bỏ hoang trống trước trống sau. Không thiếu gì người đi hôi của, giở tôn xi măng, giở cửa, đập tường lấy táp lô về làm của riêng. Ai có vợ chồng con cái lớn đầy đủ, và có tiền, thì còn làm cửa làm phên, ngăn che căn nhà cho bớt trống trải. Những căn nhà kê ra thành một vòng đai từ hướng Đông, Nam, Tây, Bắc.
Tuy nhiên trong số dân giả bần cùng kia, có gài lọt vô hai gia đình xem ra đó là thành phần “trí thức và công nhân viên” ở chế độ mới, họ ở đâu được chuyển tới để làm tổ trưởng, tổ phó an ninh của khu vực nầy! Tuy cả hai gia đình ấy cộng lại đếm không đủ trên mười đầu ngón tay, nhưng ai ai cũng khiếp! Đó là gia đình ông bà Hai Bé, và ông bà Tư An. Chồng đi làm vợ ở nhà trông chừng con và dòm chừng dân ngu khu đen! Hai đại gia giàu xụ và nghề nghiệp của họ trong khu xóm nhỏ bé nầy: Dòm ngó bọn trẻ thất học chiếm 87% tỷ số. Đàn ông đàn bà dân đen ăn không ngồi rồi chiếm 94% nên khu xóm tôi rất nhàn cư vi bất thiện.
Từ cờ bạc “chui”, rượu trà say sưa, vợ chồng chưởi nhau inh ỏi, vui đó cười đó, rồi quay ra xích mích, đánh nhau bể đầu, gãy tay què chân, là chuyện thường. Nạn đĩ điếm tụ họp lại ở khu nhà trống tùm lum tà la. Đúng là “khu ô danh tứ đổ tường” đã xảy ra không biết bao nhiêu chuyện thật đau lòng. Mặc dù trên thành phố đảng cho lệnh phát triển văn nghệ, ve vuốt xuê xoa dân chúng, hầu mong dịu bớt nỗi kinh hoàng. Thì đó; mỗi tuần, mỗi tháng, trong Tao Đàn đều có chương trình văn nghệ, có các tiết mục vui chơi, ca múa, để “Tao đàn; Mày đàn” cho người khác mua vé vô cửa, ngồi bệt dưới đất mà nghe. Mỗi vé từ 5$ sau đó nhảy lên 10$. Lồng vào giờ “tao-đàn” có một hai giờ nhồi sọ dân chúng.
***
Tình Hoài Hương
(1) = Thơ Bút Tre
(2) Sưu tầm lượm lặt.
THH xin cống hiến quý độc giả thân thương của HQPD câu chuyện thật, để cùng nhau chia sẻ mà "cười ra nước mắt"... Đồng thời THH xin phép cám ơn quý vị nhiếp ảnh gia: đã post những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.
* * *
Tình Hoài Hương
















Comment