- Phần 5
CUỐI MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
Trong cuộc đời có những khúc quanh hay những chặng đường, lúc đó đời người thay đổi đi lên hoặc đi xuống. Cũng như tất cả những người dân miền Nam, người lính chúng tôi đã phải nổi trôi theo vận nước ở khúc quanh đen tối, đổi đời của toàn thể miền Nam sau sự sụp đổ của Quân Lực VNCH vì những sự điều động bất tài, ích kỷ, nhỏ nhen và không suy tính của những người lãnh đạo vô trách nhiệm.
Sáng ngày 18 tháng 3 năm 1975, như thường lệ tôi lên máy liên lạc với tiểu đoàn thì nhận được lệnh đưa toán CAP trở lại đơn vị.
- Đại Đức đây Mai Sơn.
- Mai Sơn đây Đại Đức.
- Mai Sơn tôi nghe Đại Đức.
- Mai Sơn tự lo liệu cho con cái về nhà bằng mọi phương tiện có thể được.
Thế là tình hình thật căng thẳng rồi. Tôi gọi cho trung đội nghĩa quân thuộc xã Đông Lương và thông báo cho họ biết chúng tôi sẽ chấm dứt liên lạc.
Tiếng người hiệu thính viên của trung đội nghĩa quân chúc tôi trước khi dứt máy.
- Một mùa Xuân, chúc may mắn!
Khoảng 10 giờ sáng toán CAP còn lại 6 người, gọn gàng xuống quốc lộ 1 đón xe đò lỡ từ Quảng Trị vào. Có một ít người dân Quảng Trị biết chuyện đã bắt đầu di tản. Không khí những ngày hôm nay có vẻ lạ lùng vì tin tức thất trận từ Phước Long tháng trước và Ban Mê Thuột tuần qua gây ra những lo sợ, căng thẳng cho người dân trên toàn quốc. Sau vụ để tang Phước Long, vụ bỏ Tây Nguyên, rồi đến tướng Nguyễn Văn Hiếu chết một cách mờ ám là vụ Phong trào chống tham nhũng của Linh mục Trần Hữu Thanh... Toàn miền Nam xuống dốc một cách thê thảm.
Trưa hôm đó chúng tôi xuống xe ở cầu Phò Trạch - Phong Điền, tôi hướng dẫn anh em vào trình diện đơn vị. Bước vào bộ chỉ huy tiểu đoàn, gặp Đại úy Nguyễn Trung Việt - trưởng ban 3, anh nói:
- Lệnh Thiếu tá tiểu đoàn trưởng chỉ thị các anh em ở đại đội nào về đại đội đó, còn ông Minh thì qua nhận trung đội 90 ly, bàn giao trung đội với Chuẩn úy Lắng.
Anh Việt vừa mãn khóa tham mưu trung cấp ở Thủ Đức và anh về thay thế cho Đại úy Đức, thuyên chuyển đi tiểu đoàn khác.
Rời bộ chỉ huy tiểu đoàn, chúng tôi chia tay nhau. Ai nấy bùi ngùi sau hơn một năm sống xa đơn vị và làm việc chung với nhau trong công tác dân sự vụ ở tiểu khu Quảng Trị. Hạ sĩ Cao trở lại trung đội Quân-Y, Trung sĩ I Cát trở về trung đội truyền tin, Trung sĩ Thành - đại đội 1, Hạ sĩ Cứng - đại đội 3 và Hạ sĩ I Đức - đại đội 4.
- Cám ơn tất cả các anh em trong thời gian chúng ta làm việc xa đơn vị, chúc các anh may mắn.
- Chúc Thiếu úy may mắn!
Tôi bước về phía Hạ sĩ Cứng, bắt tay anh và nhắn nhủ đôi lời hỏi thăm về các anh em thuộc đại đội 3 và trung đội 3. Cứng là tiểu đội trưởng tiểu đội đại liên của trung đội 3 thời gian tôi làm trung đội trưởng.
Sau khi chia tay tôi hỏi thăm vị trí của trung đội đại bác 90 ly để đến nhận nhiệm vụ.
Ban chỉ huy của trung đội 90 ly nằm ở hướng Đông Bắc của bộ chỉ huy tiểu đoàn, cạnh quốc lộ 1. Chuẩn úy Lắng, sĩ quan an ninh trật tự, chào tôi, rồi lên tiếng:
- Ông về đây hả, tui đỡ lo. Tụi nó khó nói lắm ông ơi!
- Bác khỏe chứ, bác chỉ giùm tôi khu vực bố trí của trung đội 90 ly.
Tôi theo chân của Chuẩn úy Lắng đi một vòng đến từng vị trí của các tiểu đội, phân đội của trung đội súng nặng.
Sau đó tôi gặp Trung sĩ I Vượng, trung đội phó, anh đang điều động anh em để di chuyển trước một số vũ khí nặng mà chúng tôi chưa dùng tới như đại liên 50 ly phòng không.
Trung đội đại bác 90 ly gồm có một tiểu đội đại bác 90 ly không giật, một tiểu đội đại liên M-60, một khẩu đội hỏa tiễn XM-202, và một khẩu đội đại liên 50 ly phòng không với quân số tổng cộng gần 40 người. Nhiệm vụ chính của chúng tôi là phòng thủ chu vi tiểu đoàn và tăng phái cho các đại đội tác chiến về hỏa lực yểm trợ khi cần thiết.
Vì ở trong tình trạng di chuyển nên chúng tôi được lệnh phải gọn gàng và sẵn sàng, tất cả những vũ khí nặng nề cố định đã được di chuyển trước.
Chiều hôm đó tất cả các đại đội trưởng đến họp tại bộ chỉ huy tiểu đoàn. Sau khi cuộc họp chấm dứt, tôi bước đến gặp huynh trưởng Tăng Bá Phụng khi anh đang trên đường về để điều động đại đội 3.
- À ông Minh, ông về đâu?
- Thưa Đại úy, tôi về trung đội đại bác 90 ly, đại đội chỉ huy.
- Mừng cho ông, chúc mạnh giỏi!
- Cám ơn Đại úy.
- Tôi phải về gấp để bàn giao tuyến cho Biệt Động Quân.
Câu nói của huynh trưởng Tăng Bá Phụng làm cho tôi nghĩ ngay đến tình hình căng thẳng khắp nơi. Trong tuần rồi tôi được tin Thiều, một người bạn cùng khóa thuộc tiểu đoàn 3 TQLC, đã hy sinh khi Việt Cộng tiền pháo hậu xung, tràn ngập đơn vị anh ở An Lỗ. Anh phải xin pháo ngay trên tuyến để ngăn cản các đợt xung phong của địch...
Chia tay huynh trưởng Tăng Bá Phụng, tôi trở lại ban chỉ huy đại đội thì gặp Đại đội trưởng đại đội chỉ huy, huynh trưởng Nguyễn Hữu Bình. Anh Bình người Qui Nhơn, tốt nghiệp khóa 2/69.
Hơn 2 năm trước khi tôi về đơn vị, anh là sĩ quan phụ tá ban 3 của Đại úy Duật. Tháng 5/73 khi huynh trưởng Ngô Kim Anh về đại đội 2 thay thế cho Đại úy Xương thuyên chuyển qua đơn vị mới thì anh Bình nhận chức Đại đội trưởng đại đội chỉ huy và anh được thăng cấp Đại úy vào đầu năm 1975.
- Ông Minh, mời ông ngồi. Huynh trưởng Bình lên tiếng.
- Cám ơn Đại úy.
- Ông nhận bàn giao trung đội 90 chưa?
- Xong hết rồi Đại úy.
- Tiểu đoàn đang bận rộn di chuyển, mình sẽ vào đóng ở đèo Hải Vân, thay thế cho Nhảy Dù di chuyển vô Nam. Ông giúp tôi ngó chừng và giúp đỡ cho thằng Nam bên trung đội 81.
- Tôi biết Đại úy.
- Có gì khó khăn thì ông cho tôi biết.
Ngày hôm sau tôi bắt đầu kiểm soát vũ khí và quân dụng cá nhân của trung đội 90 ly, tôi đã phạt kỷ luật các anh lính ham chơi, bê bối.
Chuẩn úy Lắng nói nhỏ với tôi:
- Tui nói tụi nó không nghe, ông phạt như vầy thì tụi nó mới chịu vô khuôn khổ.
Với trên 20 năm quân ngũ, gia nhập quân đội từ trước 54 và từ Binh II lên đến Chuẩn úy, người miền Nam xuề xòa, dễ dãi, ông Lắng là sĩ quan trật tự của tiểu đoàn, chỉ chăm lo làm tròn nhiệm vụ của mình. Khi đóng quân hay khi đơn vị về hậu cứ, ông có nhiệm vụ kiểm soát các quân nhân thuộc tiểu đoàn rời đơn vị bất hợp lệ hoặc trốn đi chơi. Công việc này làm cho chúng tôi, các sĩ quan trẻ không ưa thích ông mấy khi đi chơi mà bị ông gặp báo cáo về tiểu đoàn. Người nhỏ con, chậm rãi, ít phạt thuộc cấp nên các chiến binh trong đơn vị thường gọi ông là bố Lắng. Những người lính trốn đi chơi bị ông bắt gặp thường bỏ chạy luôn vì ông rượt theo không kịp. Cả một tiểu đoàn lính thay đổi luôn luôn, làm sao ông nhớ hết mặt, hết tên.
Trung đội phó trung đội 90 là Trung sĩ I Vượng người miền Bắc, đạo Thiên Chúa, cũng hiền lành không kém, chịu cực, chịu khó, cứ im lặng làm cho xong công việc. Chẳng thấy anh to tiếng với ai và cũng chẳng thấy anh phạt lính bao giờ. Có lẽ cả hai ông cán bộ đều hiền lành nên lính tráng biếng nhác. Anh Vượng lại bị bệnh lãng tai nên khi ai nói gì cũng phải nghểnh đầu, vận dụng tối đa cái màng nhĩ lủng của mình để cố gắng nghe.
Thời giờ quá cấp bách trong lúc này nên tôi nhờ anh Vượng tập họp những người lính thuộc trung đội 90 ly, ngoại trừ các anh bận gác và đang công tác, lại cho tôi nói chuyện. Tôi trình bày tình hình hiện tại ngắn gọn và yêu cầu các anh giữ đội hình, cố gắng bám sát tiểu đội và trung đội trong khi di chuyển, giúp đỡ nhau đi đến nơi, về đến chốn an toàn vì ai nấy đều phải mang nặng hơn bình thường, chính tôi cũng phải mang một cấp số rưỡi đạn. Mỗi người lính TQLC phải mang vũ khí cá nhân, một cấp số rưỡi đạn, lựu đạn, xẻng, cuốc cá nhân, mặt nạ, ngoài ra anh nào thuộc tiểu đội đại liên M-60 thì mang thêm một dây đạn M-60, thuộc đại bác 90 ly thì mang thêm một trái đạn 90 ly.... Các anh xạ thủ đại bác hoặc đại liên thì nặng sẵn rồi.
Ngày 19 tháng 3/75 hai tiểu đoàn 78 và 79 Biệt Động Quân đến thay thế tuyến tiểu đoàn 7 TQLC và chúng tôi đến thay thế tuyến tiểu đoàn 6 để đơn vị bạn di chuyển trước vào Đà Nẵng.
Sáng ngày 20/3/75 huynh trưởng Bình mời tôi và Nam - Trung đội trưởng trung đội 81 lên họp và nhận bản đồ vùng hành quân mới. Anh cho biết tiểu đoàn 7 sẽ được di chuyển vào Đà Nẵng và trấn đóng khu vực Bạch Mã và đèo hải Vân thay thế cho Nhảy Dù.
Sau đó tất cả đại đội chỉ huy và ban ngành lên xe xuôi Nam về thành phố Huế. Tất cả những người lính TQLC vui vẻ hẳn lên, vô tư và yêu đời thêm, anh này nói đùa với anh kia:
- Chắc mình vô Thành Nội Huế.
- Vô Huế đi ngủ đò sướng lắm, gió mát rượi.
Chúng tôi là một đơn vị có kỷ luật nên nhiều người lính tiểu đoàn 7 TQLC, dù đóng ở Phò Trạch - Phong Điền, An Lỗ, Mỹ Chánh hay Quảng Trị đã 3 năm rồi mà chưa hề được dịp vào thăm thành phố Huế, không mấy người lính được biết về Huế như các thân nhân ở miền Nam thường tưởng tượng.
Theo Quốc lộ 1 xuôi Nam, đoàn xe chạy qua khỏi Cầu Mới thì đổi hướng về phía bến phà Tân Mỹ. Tại bến phà tôi đã thấy các đoàn xe của các đại đội 1, 2, 4 đã và đang tiếp tục đến điểm hẹn. Có tin là chúng tôi phải đợi Thiếu tá Phạm Cang - Tiểu đoàn trưởng và đại đội 3 đến theo đường hương lộ 555.
Tại bến phà các tàu chuyển quân LCM của Hải Quân di chuyển ra vào nhộn nhịp. Trong khi chờ đợi các người lính bắt đầu ăn trưa, cơm sấy và thịt hộp. Lệnh thông báo cho tất cả chiến binh không ai được xuống xe vì mất trật tự và khó kiểm soát, chỉ trừ việc thay phiên nhau đi vệ sinh mà thôi.
Chúng tôi, một toán sĩ quan trung đội trưởng, tụ họp lại hút thuốc, bàn tán về tình hình. Tôi nhớ đại đội 1 có Sơn, Hải cận; Đại đội 2 có Toàn, Uẩn sứt, Đại đội 4 có Thành, Cường, Hùng nhí, và tôi với Nam ở đại đội chỉ huy. Đang đứng nói chuyện thì Trung úy Tạo - Đại đội phó đại đội 1 bước đến với bản đồ trên tay. Nhìn vào bản đồ vùng đóng quân của đơn vị trong khu vực sắp đến mà thấy hoa cả mắt. Quá nửa bản đồ là biển, phần còn lại là những vòng cao độ chằng chịt. Những điểm đóng quân của đại đội chỉ huy mà tôi được huynh trưởng Bình cho biết là dọc theo quốc lộ 1, trên đỉnh Hải Vân, nằm ở cao độ từ 600 đến 700 mét...
Chờ mãi cho đến chiều thì lại được lệnh lên xe trở lại, tôi chỉ thị cho các anh lính điểm danh quân số trên xe của trung đội 90 ly.
Đoàn xe lại bắt đầu chuyển bánh trở về đường cũ, qua cầu sông Hương thì trời bắt đầu tối, cả thành phố Huế đã lên đèn. Theo hướng Bắc trên quốc lộ 1 đoàn xe chạy về hướng Quảng Trị, lần này thì đi thiệt, về qua khỏi cầu Phò Trạch - Phong Điền, cây số 23, cầu Mỹ Chánh, Bến Đá, ngược đường ra Đại Lộ Kinh Hoàng, đến ngã ba Hải Lăng, quẹo phải chạy về Hải Thọ, Hải Thiện hướng đến Hội Yên, quẹo phải ở ngã tư Hội Yên vào hương lộ 555, đoàn xe chạy qua khỏi khu nhà thờ hai nóc Thanh Hương thì dừng lại ở làng Điền Môn.
Đã gần nửa khuya, tôi chia khu vực cho trung đội 90 ly trải quân phòng thủ và quay qua anh Vượng tôi nói:
- Cắt gác ngay nhe anh Vượng.
- Dạ, Thiếu úy.
Quá mệt mỏi nhưng tôi vẫn phải đi một vòng quanh tuyến đóng quân, tiếng các người lính than thở lấy lệ.
- Chạy tới chạy lui mệt quá Thiếu úy ơi!
- Chuẩn bị đi anh em, đây mới là tập dượt mà thôi.
- Thiệt hả Thiếu úy!
- Nhà binh thì lúc nào cũng phải sẵn sàng.
Ngày 21 tháng 3/75.
Tôi bước ra khỏi cái lều căng bằng poncho mà các anh lính trong ban chỉ huy căng tạm tối hôm qua. Vươn vai, uốn mình cho đỡ mỏi, ánh trăng thượng tuần chơi vơi gần lặn ở phương Tây, có lẽ khoảng mùng 8 hay mùng 9 ta. Di chuyển cả ngày hôm qua, ăn ngủ thất thường và mệt mỏi nhưng tôi vẫn không ngủ yên vì đến tuyến mới và tâm tư chộn rộn, chắc khoảng 3 giờ sáng.
Trời tờ mờ sáng, tiếng các anh lính đánh thức nhau dậy đi ra giếng nước rửa mặt và làm vệ sinh cá nhân. Hai anh lính ở ban chỉ huy trung đội 90 đã nấu xong một ấm nước trà. Chúng tôi ăn sáng vội vàng, mấy hôm rày người nóng ran vì bón do ăn ngủ thất thường và thiếu rau cải tươi. Nhìn quanh các anh lính trung đội mà thông cảm hơn, trông ai nấy cũng lo lắng và mệt mỏi.
Sau khi đi một vòng quanh tuyến quan sát vị trí đóng quân, tôi chỉ thị cho các Tiểu đội trưởng sửa lại giao thông hào, dời đổi các vọng gác để dễ dàng quan sát và kiểm soát các đường xâm nhập. Trở về lại ban chỉ huy trung đội, chưa kịp ngồi xuống thì nghe tiếng một anh lính trong ban chỉ huy:
- Dạ chào Bác sĩ.
Quay qua thì tôi nhìn thấy Bác sĩ Giang - Trung đội trưởng trung đội quân-y tiểu đoàn 7 TQLC, anh vừa về đơn vị khoảng vài tuần trước.
- Chào Thiếu úy, ông chỉ cho tôi các giếng nước mà ông múc nước nấu ăn ở đâu?
Tôi gọi anh lính ở ban chỉ huy.
- Mày chỉ cho Bác sĩ giếng nước, Bác sĩ đi tìm giếng múc nước uống hả? Tôi hỏi anh.
- Không, tôi muốn kiểm soát giếng nước và sát trùng các khu vực vệ sinh quanh đây.
Anh Giang là anh của một người bạn khá thân của tôi, Vũ Đức Thanh, ở trung đội 1, đại đội 719 tại quân trường Đồng Đế. Anh cũng là một cựu học sinh Nguyễn Trãi, học trước tôi 3 lớp.
Sau khi anh Giang rời khỏi, tôi rơi vào một giấc ngủ chập chờn vì quá mệt mỏi, trở dậy thì trời đã quá trưa.
Ngồi bên chiếc bàn ăn đóng bằng gỗ thùng đạn pháo binh mà các anh lính ở ban chỉ huy mang về làm chỗ ăn cơm, hút một điếu thuốc cho tỉnh ngủ, tôi quay qua khi nghe có tiếng người bước đến. Một anh lính ở ban chỉ huy đại đội đến chào tôi và nói:
- Dạ, Đại úy mời Thiếu úy lên họp.
Bước theo anh về phía ban chỉ huy đại đội, tôi thấy Thiếu úy Nam đang ngồi nói chuyện với huynh trưởng Bình.
- Chào Đại úy.
Nhìn Nam tôi hỏi:
- Khỏe không Nam?
- Dạ khỏe ông anh.
Hai ngày nay công việc tất bật nên tôi cũng chưa có dịp ghé qua thăm trung đội 81 của Nam.
- Ông Nam có chuyện gì cần thiết, nếu không gặp tôi có thể bàn với ông Minh. Huynh trưởng Bình nói.
- Dạ tôi biết Đại úy.
Và anh Bình bắt đầu phân chia công việc cho chúng tôi.
- Nếu không có gì thay đổi thì kể từ sáng mai, ông Minh chịu trách nhiệm khai thông lộ trình trên hương lộ 555 từ ranh giới đại đội 4 đến đại đội chỉ huy và xuống tới ngã ba dưới kia, chỗ sân vận động. Sau khi họp xong, ông qua khu vực 81 ly góp ý kiến với ông Nam và trong trường hợp tôi đi họp vắng mặt, ông lên đây trực và điều động con cái giùm tôi.
Sau khi chấm dứt cuộc họp, tôi ghé qua trung đội của Thiếu úy Nam, và trở về để cắt đặt công việc của trung đội 90 ly.
Tôi nói với Trung sĩ I Vượng:
- 5 giờ 30 sáng mai anh cho mỗi tiểu đội một người, phòng không hai người, ghé qua đại đội lấy máy rà mìn, rồi tập họp tại đây tôi dẫn đi mở đường.
Mờ sáng hôm sau tôi thức dậy đánh răng rửa mặt, uống một ly cà phê. 6 giờ tôi dắt toán dò mìn, an ninh lộ trình ra hương lộ 555. Đoạn đường chúng tôi kiểm soát dài hơn một cây số. Để ý những điểm cần thiết trên con đường, chúng tôi chậm rãi kiểm soát suốt lộ trình trên hương lộ 555, mất hơn nửa tiếng đồng hồ để kiểm soát đoạn đường.
Chiều hôm đó tôi nhắc Trung sĩ Vượng:
- Ngày mai anh dẫn toán rà mìn, lấy hai người cũ theo lộ trình mà tôi đã dẫn họ ngày hôm nay để đi mở đường.
Tình hình có vẻ yên tĩnh một cách kỳ lạ, hơn một tiếng đồng hồ đi về mà không thấy xe cộ và dân chúng đi lại. Trên đường về các anh lính hỏi tôi:
- Chừng nào ban quân lương vô Thiếu úy?
- Chắc họ chờ tụi mình vô Đà Nẵng rồi phát.
- Đọi quá Thiếu úy ơi!
- Lãnh sớm thì hết sớm chớ gì!
Thời gian này chúng tôi trang bị thật gọn gàng, ba lô luôn luôn sẵn sàng lên vai. Tôi chỉ thị cho trung đội 90 là “Khi hô tập họp di chuyển, phải sẵn sàng trong vòng 5 phút, tất cả những gì không cần thiết thì một là nằm dưới đáy ba lô, hai là nằm trong thùng rác. Không được đi ra khỏi khu vực của trung đội. Nếu đi phải cho anh em cùng tiểu đội biết, nghe có lịnh tập họp là phải sẵn sàng vì chúng ta không có thời giờ chờ đợi..."
Sáng ngày 24 tháng 3, tôi gặp huynh trưởng Bình khi đang đi kiểm soát tuyến phòng thủ.
- Ủa ông Minh, hôm nay không đi thông tuyến đường hả?
- Tôi cắt anh Vượng đi rồi Đại úy, tôi đã báo cho anh ấy làm những gì cần phải làm rồi.
- Ông qua trực đại đội giùm tôi, có gì thì ông điều động anh em, tôi phải đi họp ngay bây giờ.
- Tôi qua bên đó ngay Đại úy.
Chúng tôi ứng chiến 24/24, lúc ngủ tôi cũng mặc quần áo sẵn sàng, chỉ cởi đôi giày cho nhẹ chân, vũ khí để ngay bên cửa của căn lều. Chúng tôi tập thói quen là định hướng trước khi đi ngủ, có gì xảy ra thì đã có chuẩn bị sẵn rồi. Bật dậy, xỏ giày, chụp súng, áo giáp và nón sắt, chạy đến vị trí của mình ở giao thông hào...
Bước trở về ban chỉ huy trung đội, tôi ra lệnh cho đánh thức cả trung đội, ứng chiến tại chỗ, bảo anh hiệu thính viên cho anh Vượng biết tôi đang ở ban chỉ huy đại đội, có gì thì liên lạc ngay với tôi.
Khi tôi qua đến ban chỉ huy đại đội, anh lính cần vụ mang đến cho tôi ly cà phê nóng hổi.
- Cám ơn em.
Ngồi xuống trên chiếc ghế, xoải chân ra, vươn vai và đốt một điếu thuốc, lắng nghe các mẫu đối thoại truyền tin trên tần số tiểu đoàn, các báo cáo, liên lạc, chỉ thị bình thường.
Bầu trời u ám, không có ánh nắng. Vừa hết ly cà phê, tôi rót một ly nước trà, định đốt thêm điếu thuốc, lắng nghe các mẫu đối thoại dồn dập trên hệ thống vô tuyến, cùng lúc có các tiếng súng vọng lại từ xa, thì ra đại đội 2 đang chạm địch, chiến xa T-54 có bộ binh tùng thiết, tiếng vũ khí cộng đồng vang lên từ phía đóng quân của đại đội bạn và tiếng pháo yểm trợ của pháo binh TQLC bay qua trên đầu tạo thành những luồng gió rít rợn người.
Tôi gọi anh lính cần vụ và bảo:
- Em chạy qua 90 ly nói anh Vượng cho tất cả ra giao thông hào ứng chiến sẵn sàng, rồi chạy qua 81 ly báo cho Thiếu úy Nam y như vậy. Cùng lúc tôi bảo anh hiệu thính viên đại đội lập lại chỉ thị trên máy vô tuyến cho tất cả đại đội sẵn sàng.
Tay cầm ống liên hợp máy truyền tin tần số tiểu đoàn, tôi nghe tiếng báo cáo từ đại đội 2 của huynh trưởng Ngô Kim Anh về tình hình lúc đó. Giọng bình tĩnh, anh liên lạc xin yểm trợ và điều động trung đội chạm địch của Thiếu úy Trần Mạnh Toàn. Toàn vui tính, nước da ngăm đen nên chúng tôi thường gọi đùa là “Cốc maru”.
Một lúc sau huynh trưởng Bình trở về từ bộ chỉ huy tiểu đoàn, anh nói với tôi:
- Ông về cho con cái gọn gàng, trong tình trạng di chuyển bất cứ lúc nào.
Xế chiều hôm đó đại đội được lệnh di chuyển ra hương lộ 555, trung đội 81 đi đầu ban chỉ huy đại đội và các ban ngành, trung đội 90 ly đi sau cùng với đội hình hàng dọc, anh Vượng đi với tiểu đội đại liên phòng không, tiếp theo là tổ XM-202, tiểu đội đại bác 90 ly, tiểu đội đại liên M-60 và tôi đi sau cùng.
Có lẽ huynh trưởng Bình chiếu cố tôi nên tôi luôn luôn là người đi sau cùng. Anh nói:
- Ông Minh, tôi muốn ông giữ con cái của mình tới nơi tới chốn đầy đủ...
Chúng tôi di chuyển tới ngã ba nơi mà hàng ngày toán mở đường có nhiệm vụ khai thông, anh đưa tôi đến gặp Trung úy (Phương?) - Chi đội trưởng chi đội thiết vận xa loại được trang bị đại bác 106 ly không giật mà tôi sẽ tháp tùng trên đường di chuyển.
Cuộc hành quân triệt thoái từng chặng bắt đầu suốt đêm 24 tháng 3. Tôi chỉ thị cho tất cả trung đội 90 ly đạn lên nòng, khóa cơ bẩm và sẵn sàng. Tôi phân chia các tiểu đội lên xe và nhắc nhở đếm quân số từng xe, liên lạc và nghe chỉ thị từ tôi và anh Vượng. Đoàn xe di chuyển từng chặng rồi ngừng nghỉ, rồi lại tiếp tục như vậy suốt cả đêm, buồn ngủ và mệt mỏi nhưng chẳng ai dám nhắm mắt vì sợ rớt khỏi xe. Tôi nhắc các anh em 90 ly quay súng hướng ra hai bên đường và đề phòng những cành tre quất trúng...
Sáng ngày 25 tháng 3, đoàn thiết vận xa đang di chuyển trên hương lộ 555 gần đến Thuận An, trên khúc quanh của con đường có một bụi tre lớn, là chỗ dừng chân nghỉ mát của bộ hành trong những ngày nắng gắt. Bóng một người dân chậm chân lẻ loi, cô độc đang gánh một đôi gánh nhẹ tênh, chắc chẳng có gì quí giá trong đôi gánh đó.
Khi đoàn xe đến gần, người bộ hành đứng nép vào một bên đường, bỏ đôi gánh xuống và mở chiếc nón lá ra quạt. Bất chợt người đàn ông ngước nhìn lên đoàn xe của chúng tôi. Ôi! Gương mặt người đàn ông với đôi mắt buồn vời vợi, cả một chuỗi hình ảnh trở lại trong tôi...
Sáu tháng trước đây, vào khoảng tháng 9/74, toán CAP (huấn luyện) được điều động từ Hải Trường đến Hải Thiện để huấn luyện cho hai trung đội Nghĩa Quân 31 và 32 thuộc xã Hải Thọ.
Một hôm tôi được mời tham dự ngày lễ của gia tộc họ Lê, ngồi bên cạnh một ông lão tuổi trạc 60, móm mém, tóc bạc gần như trắng. Trò chuyện với ông một lúc, tôi hỏi ông trước kia có gia nhập quân đội hay không. Ông kể “Vào đầu thập niên 30's tôi là một thiếu niên phải sung công đi Huế để xây dựng lăng Vua Khải Định, mất vài năm thì được trở về làng để tiếp tục đời sống nông dân. Đến giữa thập niên 30's tôi đi lính Khố Đỏ, đóng quân tại Thừa Thiên. Vào đầu thập niên 40's mặt trận Châu Âu trở nên căng thẳng sau khi Đức chiếm các nước như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi... và trở thành một mối đe dọa cho Pháp.
Một hôm đơn vị chúng tôi được tập trung lại và đưa qua Pháp bằng tàu biển. Sau cả tháng trời ói mửa liên tục, tàu cập bến Marseille...”
Thay vì được đưa đến thăm thủ đô Paris “Kinh thành ánh sáng” để được vui chơi du hí, đơn vị ông được đưa đến vùng biên giới Đức-Pháp, khu Alsace-Lorraine.
Nơi đơn vị đóng quân thuộc quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp là những người lính thuộc địa đến từ Á Châu và Phi Châu.
- Bác có được tiếp xúc với những người bạn ở những đơn vị khác không?
- Không có mấy khi được tiếp xúc và nói chuyện đâu.
- Làm sao bác quen công việc?
- Riết rồi cũng quen, thấy họ mần răng, miềng mần rứa, nói thì ít mà ra dấu thì nhiều.
- Bác có được đi chơi, thăm thắng cảnh không?
- Mô mà có, họ nhốt như nhốt tù, mà miềng có biết tiếng Tây mô mà đi chơi.
Đức xé bỏ hòa ước, tấn công tập hậu chiến lũy Maginot và chỉ trong vòng 6 tuần lễ, Pháp thất trận.
- Bầy tui bị bắt làm tù binh cho tới khi đồng minh thắng trận.
Sau khi được trả về Việt Nam và giải ngũ, ông trở lại quê nhà tiếp tục làm ruộng. Chẳng bao lâu thì Việt Minh nổi dậy và toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Ông lại phải sống lưu vong rày đây mai đó vì cái tịch lính Tây để tránh cái bọn du kích Cộng Sản nằm vùng.
Năm 54 ông trở về làng cũ sau khi đất nước bị chia đôi. Vài năm tạm yên ổn thì đến năm 1960, cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra đời... Có lẽ vì đời ông có quá nhiều nỗi truân chuyên nên ông không lập gia đình (tôi không hỏi nhưng thấy ông đi đâu cũng một mình thui thủi).
Năm 72 khi trận chiến mùa hè đỏ lửa nổ ra, ông theo đoàn người tị nạn vào Đà Nẵng.
- Trong trại tị nạn tù túng quá eng ơi! Miềng ở quê quen rồi, ở trong trại lạ cảnh xa nhà, không công ăn việc làm, miềng làm ruộng, làm rẫy quen rồi, nhớ quê, nhớ nhà quá!
Cuối năm 73 đoàn người tị nạn hồi cư, ông lại trở về làng cũ. Tôi gặp ông ở Hải Thiện năm 74. Bây giờ bất ngờ lại gặp ông trên đường triệt thoái, ông vẫn thui thủi một mình với đôi quang gánh nhẹ tênh, gần như chẳng có gì, cũng như cả cuộc đời ông chẳng được gì cho đến khi tuổi đã xế chiều.
Ông xấp xỉ tuổi Bố tôi và có những mốc thời gian tương tự. Đầu thập niên 30's Bố ra Hà Nội học nghề thì ông vào Huế lao động xây lăng Khải Định. Đầu thập niên 40's Bố vào Nam xây dựng sự nghiệp thì ông phải qua Pháp chiến đấu chống Đức...
Nhìn ông tôi lại thấy hình ảnh Bố tôi. Đáng lẽ ở lứa tuổi trên dưới 60 này, ông phải được an hưởng tuổi già, ngồi nhìn đàn con cháu lớn khôn.
Tại sao??? Tại sao ông lại phải đứng đây nhìn theo đoàn quân của chúng tôi đang vội vã bỏ đi với đôi mắt buồn hướng về một phương trời vô vọng, trên gò má nhăn nheo đang chảy dài hai dòng lệ tủi hờn !!!?
Tôi nhắm mắt lại, cảm thấy hai bờ mi cay xé...
Chúng tôi đến cửa Thuận An gần 9 giờ sáng. Anh Bình nói với tôi:
- Ông phải kiểm soát các chiếc ca-nô và bảo đảm họ đưa hết con cái mình qua bờ.
Tiểu đội đại liên và tôi là những người cuối cùng của đại đội chỉ huy qua bến Thuận An.
Những chiếc thiết vận xa M-113 cũng lội qua phá, không biết tại sao hôm đó biển lại có sóng lớn, hai chiếc M-113 trong toán chúng tôi bị nước cuốn, các tài xế phải nhảy khỏi xe để bơi vào bờ.
Tiếp tục di chuyển dọc theo bờ biển về phía Nam khoảng vài cây số, chúng tôi được lệnh dừng lại và xếp hàng từng toán chờ tàu. Anh Bình nhắc tôi đi đôn đốc và kiểm soát các người lính thuộc đại đội chỉ huy, anh phân chia thứ tự lên tàu. Anh nói với tôi:
- Có thể các chiếc LCM sẽ vào bốc tụi mình. Khi lên tàu cũng theo thứ tự như cũ, đừng xáo trộn làm mất trật tự, nhớ kiểm soát đừng để cho các đơn vị khác trà trộn.
Nhìn những chiếc LCM đang lởn vởn trước mặt, các anh lính lại nhỏ to với nhau:
- Kỳ này vô Đà Nẵng thiệt rồi tụi bay ơi!
- Chắc ói mửa dữ nhe, tao chưa được đi tàu lần nào.
Các đợt sóng đuổi theo nhau vào bờ cát, nước thấp và gió mát làm tôi ngủ gà ngủ gật trong khi chờ tàu. Dọc theo bờ cát có đủ các đơn vị quân đội như Biệt Động Quân, Bộ Binh, Cảnh Sát... Có cả các gia đình của họ cũng đi theo để mong lánh nạn.
Cách bờ một khoảng về phía Nam là một chiếc Dương Vận Hạm loại LST. Có một số người cố gắng bơi ra các chiếc LCM nhưng bị sóng nhồi phải bơi trở vào.
Chờ đến quá trưa thì được lệnh phải di chuyển về hướng Nam để bắt tay với các tiểu đoàn bạn thuộc lữ đoàn 147. Lần này huynh trưởng Bình lại cắt 90 ly đi đầu do anh Vượng hướng dẫn, rồi tới ban ngành và ban chỉ huy đại đội, cuối cùng là trung đội 81 và tôi.
Anh nói:
- Ông Minh, tôi muốn ông là người đi sau cùng của đại đội và không có ai bị rơi rớt sau ông.
Chúng tôi tiến về phía các đồi dương chứ không đi dọc theo bãi biển. Đang di chuyển được chừng một tiếng đồng hồ thì có tiếng nổ chát chúa của đạn AK từ phía Nam vọng tới, dân chúng và các đơn vị khác bám theo chúng tôi chạy tán loạn. Các binh sĩ chạy tản mác ra chung quanh để tìm chỗ ẩn núp. Lòng tôi nóng như lửa đốt, chạm địch trong tình cảnh này thì ai sẽ điều động trung đội 90 ly. Tôi chạy vội lên bắt kịp Nam và trung đội 81. Tôi nói với Nam:
- Cho trung đội dàn hàng ngang hướng về phía trong làng, cẩn thận và không được bắn nếu không thấy rõ địch vì có thể bắn lầm đơn vị bạn.
- Còn ông anh?
- Tôi phải dzọt lên để điều động trung đội 90 ly.
Trong lúc chạy lên phía trước tôi nghe tiếng Nam đang ra lệnh cho 81 bố trí đội hình.
Bám theo những hàng dương tôi chạy lên phía trước, khoảng hơn 200 mét thì nghe tiếng gọi của một người lính.
- Trung đội 90 đây Thiếu úy!
- Mày ở tiểu đội nào? Anh Vượng đâu?
- Dạ, em ở toán XM-202, em không thấy ảnh đâu.
Nép vào một thân cây to, tôi nhìn vào phía trong làng. Phía trước mặt yên tĩnh, thỉnh thoảng có vài bóng người dân mặc thường phục hoặc vài người lính bộ binh đang nấp sau những thân cây quanh đó. Nắng chiều xuyên qua đồi dương làm thành những vệt sáng loang lổ trên bãi cát. Nhìn quanh tôi thấy khoảng hơn chục người lính thuộc trung đội 90 ly. Tôi chỉ tay ra dấu cho họ bám các gốc cây, hướng súng vào phía trong làng và bắt đầu lên tiếng gọi:
- Tất cả trung đội 90 ly hướng súng vào phía trong, không được bắn khi chưa có lệnh. Bên tay phải tôi là đại liên M-60 rồi tới XM-202, bên tay trái tôi là 90 ly rồi tới đại liên 50. Năm phút sau chúng tôi đã làm thành một hình cánh cung. Kiểm soát quân số chúng tôi mất 6 người, trong đó có anh Vượng và người hiệu thính viên.
Tôi nói với hai người lính bên cạnh:
- Tụi mày chạy ra phía sau tìm Trung sĩ Vượng và ban chỉ huy đại đội, gọi anh Vượng lên đây ngay.
Sau khi chúng tôi bố trí xong thì có khoảng gần 20 người vừa dân sự lẫn quân nhân chạy bổ vào phòng tuyến. Các anh lính lên đạn, tôi hét lớn:
- Không được bắn!
Quay về nhóm người này, tôi nói:
- Các ông điên à, sao lại chạy vào đây?
- Dạ, trong làng phía trước mặt có Việt Cộng.
Tôi bảo các người lính đưa họ ra phía sau vì nếu họ ở trong phòng tuyến chỉ thêm một gánh nặng.
Gần nửa giờ sau hai người lính trở lại báo cáo đã gặp anh Vượng và các người khác ở ban chỉ huy đại đội. Khẩu lệnh của Đại úy Bình chỉ thị tôi đưa trung đội 90 ra bãi biển. Theo thứ tự từng tiểu đội di chuyển, chúng tôi đến bãi biển thì trời đã tắt nắng.
Đến gặp anh Bình và theo anh đến nhận tuyến phòng thủ trên một đồi cát nhỏ nơi có chiếc miếu thờ của những người dân làng chài Thuận An.
- Ông cho con cái bố trí chỗ này, bắt tay với trung đội 81, nhớ coi chừng giùm thằng Nam, nó bị thương rồi.
- Nó bị ra sao Đại úy?
- Cũng nhẹ thôi, bị thương vô bắp vế.
Từ ngôi miếu nhỏ về phía Nam, trung đội 90 ly dàn thành một hàng ngang và bắt đầu đào các hố chiến đấu, cái này cách cái kia một sải tay. Sau đó trung đội 81 ly đến nhận tuyến từ cái miếu về phía Bắc, bọc cong theo những bờ cát có những cây dứa dại. Đào hố chiến đấu xong thì trời tối hẳn. Ai nấy cũng cảm thấy ngứa ngáy khó chịu vì mồ hôi, bụi đường, và hai ngày qua di chuyển không ngừng nghỉ. Ngứa nhưng chẳng ai dám tắm vì nước biển rít và khó chịu nếu không có nước ngọt để tắm lại cho sạch. Một anh lính xuống biển múc cho tôi một nón sắt nước để rửa mặt và tay chân.
Ăn cơm xong thì trời đã gần khuya, trăng treo lơ lửng trên đỉnh đầu. Nhìn ra biển thấy các tàu Hải Quân lờn vờn ngoài khơi mà chẳng thấy động tĩnh gì cả. Anh hiệu thính viên trải chiếc poncho trên bãi cát và nói:
- Thiếu úy nằm nghỉ cho đỡ mệt, có gì em kêu Thiếu úy liền.
Tôi gọi anh Vượng cách đó một chục hố, nhắc anh cắt gác và kiểm soát anh em. Nhìn vào hướng làng, tuyến phía trước là khu vực của đại đội 4. Một sự yên tĩnh lạ kỳ đang đè nặng lên chúng tôi. Ngồi xuống trên tấm poncho, đốt một điếu thuốc, hít một hơi thật dài, đầu óc chất chứa quá nhiều lo lắng khiến tôi chẳng nghĩ ngợi được gì. Dập tắt điếu thuốc, tôi thả người trên chiếc poncho, ráng chợp mắt một chút nhưng không ngủ được. Quay qua anh hiệu thính viên bên cạnh, tiếng anh ngáy ngon lành. Tôi nói thầm "Mẹ, vậy mà mày kêu tao ngủ, có gì thì kêu tao liền...".
Càng về sáng càng nhiều sương mù và gió lạnh, không biết đã mấy giờ, thời gian trôi qua một cách nặng nề. Tôi cũng không muốn liên lạc gì với đại đội vì cũng chẳng biết gì để mà hỏi, chỉ chờ đợi.
Trăng vừa lặn thì phương Đông trời cũng bắt đầu ửng hồng, xuyên qua màn sương mờ, ánh đèn tàu di chuyển và tiến vào bờ. Một chiếc tàu loại LCM tiến vào trước và đón xong đợt các binh sĩ bị thương, bộ chỉ huy lữ đoàn 147 và một số các đơn vị bạn gần đó. Chiếc LCM thứ nhì bị mắc cạn vì số người tràn lên quá nhiều, họ tranh giành giẫm đạp lẫn nhau. Bất ngờ một hỏa tiễn tầm nhiệt từ trong bờ bắn ra trúng vào tháp chỉ huy của tàu, thế là hỗn loạn nổi lên. Tôi không trực tiếp nhìn thấy cảnh này vì ở xa bờ, chỉ được nghe các người lính chạy thoát ra khỏi chiếc tàu kể lại khi chúng tôi bị đưa vào căn cứ La Sơn sau này.
Nghe tin tàu vào đón người, một số đơn vị bỏ tuyến chạy ra bãi biển. Bắc quân truy kích và bắn vào phòng tuyến của chúng tôi. Khi Bắc quân tràn qua bãi cát trống tấn công các đơn vị bạn thì gặp sự kháng cự của chúng tôi. Những viên đại bác 90 ly buộc toán Bắc quân truy kích phải rút trở lại trong làng, bỏ lại hàng chục xác trên bãi cát. Chúng tôi chưa kịp mừng thì hàng loạt cối tới tấp rơi vào trung đội 90 ly. Tiếng đạn nổ hàng chập đó đây, tiếng những cành dương gãy, tiếng hò hét xung phong của Bắc quân. Binh I Nam theo hướng tay tôi chỉ, rải những tràng đại liên về phía bờ làng, tôi nghe tiếng la hét, chửi bới của những người lính Bắc quân, và rồi cối lại dồn dập trút xuống trung đội 90 ly. Tôi và Nam - Xạ thủ đại liên bị thương trong trận pháo lần thứ hai này.
Chiều hôm đó sau khi được băng bó ở ban quân-y, tôi bước qua từ giã người xạ thủ đại liên M-60 gan dạ của mình. Mặc dù đang nằm mê man nhưng dường như Nam vẫn cảm nhận được từ tôi tình thương của một người anh, một chiến hữu. Những mảnh băng quấn trên đầu Nam đã thấm giùm tôi những dòng nước mắt.
Bước ra khỏi lều của ban quân-y với một thể xác mệt mỏi, một tâm tư chán chường trống rỗng, tôi chợt nghĩ "Giờ này chẳng còn ai, ngoại trừ các đồng đội của mình". Gần tới khúc quanh để bước lên đồi cát, tôi gặp Thiếu tá Phạm Cang - Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá Lê Quang Liễn - Tiểu đoàn phó đang đứng nói chuyện. Anh Cang lên tiếng hỏi tôi:
- Minh bị thương hồi nào vậy?
- Tôi bị miểng pháo sáng nay Thiếu tá.
- Nếu bị thương sớm có thể đã được tải thương sớm sáng nay rồi.
- Cám ơn Thiếu Tá.
Tôi chào hai anh rồi bước lên đồi cát. Có thể nhờ vào mũi thuốc của ban quân-y hoặc là do cái tâm lý là mình vẫn còn các đồng đội đang chờ đợi, tôi cảm thấy bình tĩnh hơn, men theo các bờ cát, tôi bước lên đồi, định hướng trung đội 81 vì phía này có ngôi miếu và các chướng ngại vật thiên nhiên che chắn, ngăn cản tầm nhìn của các xạ thủ bắn tỉa Bắc quân.
Nhìn thấy cái miễu và những gốc cây dương nơi hai trung đội 81 và 90 ly phòng thủ, tới khoảng cách chừng 20 mét, tôi lên tiếng gọi lớn:
- 90 ly, 81 ly.
Vài người lính nhìn về phía tôi. Tôi ra dấu cho họ xích ra, chừa một khoảng trống trong giao thông hào ngay trước mặt để cho tôi có chỗ nhào xuống trong trường hợp địch quân nhắm bắn. Chỉ có chừng 5 giây đồng hồ để vượt một khoảng 20 mét đó, nhưng là cả một cuộc đời.
Hai anh lính dang ra và ra dấu “clear”.
Không hiểu tại sao tôi lại rất bình tĩnh và chạy nhanh như một lực sĩ điền kinh, tiếng đạn địch xé gió trên đầu “chíu” “chíu” khoảng 3 mét cuối cùng, tôi nhào vào giao thông hào. Người tôi đập vào bờ cát với một cảm giác vui mừng, khoan khoái và tự tin vì chung quanh tôi là những người chiến hữu.
Hai anh lính của trung đội 81 phủi bụi cát bám đầy trên người tôi, vừa cười vừa hỏi:
- Sao Thiếu úy không nằm nghỉ dưới đó?
- Mày nói điên, dưới đó toàn là đui què sứt mẻ, biết nói chuyện với ai, trên này vui hơn.
Anh bật ra cười ha hả, nhe hàm răng thiếu mất một cái răng cửa. Anh lính còn lại đốt cho tôi một điếu thuốc và hỏi:
- Thiếu úy bị thương nặng không Thiếu úy?
- Gà mổ vào mặt thôi, tỉnh rồi.
Các anh lính ùa lại thăm hỏi tôi.
- Tao còn đang sống nhăn răng, coi chừng tụi chuột kìa.
Một anh khác bước đến đưa cho tôi bao gạo sấy và một hộp thịt đã mở sẵn, tôi cố gắng đẩy vào họng mình 3,4 muỗng cơm khô khốc. Với tay cầm bình nước anh đưa đến đã gần cạn, tôi làm một hơi cạn luôn và trả lại bi-đông cho anh.
Hút xong điếu thuốc, cảm thấy tinh thần sảng khoái, tôi bắt đầu công việc của mình.
Leo qua đoạn giao thông hào kế tiếp của trung đội 81, tôi thấy xen kẽ với các người lính 81 là một số lính thuộc đại đội 4 và vài anh thuộc tiểu đoàn 5 TQLC, các anh này đã chạy xuống đây sáng nay khi tuyến trên bị vỡ. Bước đến gần Nam, tôi hỏi:
- Sao, Nam bị thương nặng không? Lúc nào vậy?
- Chiều hôm qua sau khi anh chạy lên phía trước. Còn anh bị nặng lắm không?
- Một miểng nhỏ thôi, vào mặt.
- Nam bị thương chỗ nào?
- Bắp vế anh à! Nhưng không sao, còn đi được.
Tôi thông báo cho các anh em về tình hình hiện thời ở dưới bãi cát bờ biển, nhắc nhở các anh em tiết kiệm đạn, chỉ bắn khi nào nhìn thấy địch mà thôi. Mặt đối mặt chiến đấu anh dũng hơn là chạy đưa lưng làm bia cho địch.
Tôi đi trở về trung đội 90 ly và rất mừng vì hầu hết trung đội vẫn còn nguyên vẹn, trừ tôi và anh xạ thủ đại liên M-60 bị thương mà thôi.
Trăng vừa lên, trời vừa chập tối khoảng 7 giờ, nhiều tiếng người và tiếng động vang lên từ bãi biển, tôi gọi anh lính cạnh bên nói:
- Mày xuống coi có chuyện gì rồi lên nói cho tao biết.
- Dạ, Thiếu úy.
Anh lính nhảy lên khỏi hố và chạy xuống bờ biển. Năm phút sau anh chạy trở lên và gọi tôi.
- Thiếu úy ơi! Họ dzọt hết rồi.
Tôi quay qua gọi anh Vượng và các anh em trong trung đội 90 ly.
- Tất cả anh em 90 ly, bỏ tất cả những gì không cần thiết.
Tôi bước đến gần Nam và nói:
- Họ đi hết rồi Nam, tính sao đây?
- Ông anh quyết định giùm đi.
Tôi nói với các người lính trung đội 81 ly:
- Bây giờ dưới kia đi hết rồi, các anh có muốn đi hay ở lại thì tùy các anh.
- Thiếu úy cho dzọt chưa Thiếu úy?
- Bây giờ các anh có thể đi rồi.
Những người lính ở phía trung đội 81 ly bắt đầu nhảy ra khỏi giao thông hào, tôi quay về phía 90 ly và nói:
- Các anh em tan hàng, chúc may mắn!
Các người lính ở trung đội 90 ly chạy theo trung đội 81 ly ào ào xuống bờ biển. Nhìn thấy Nam còn ngồi với hai người lính ở ban chỉ huy trung đội 81 ly, bên cạnh là chiếc máy PRC-25 đã im lặng vô tuyến, chiếc máy PRC-25 của trung đội 90 ly bị trúng pháo bất khiển dụng, còn của trung đội 81 ly, tại sao Nam cắt đứt liên lạc với đại đội?
- Thôi mình đi chứ Nam, tôi lên tiếng.
- Dạ, ông anh cứ đi trước.
Không biết Nam quyết định gì lúc đó. Tôi quay người chạy nhanh xuống bãi biển, vừa chạy vừa suy nghĩ "Tại sao Nam bị thương từ tối hôm qua mà sáng hôm nay không được tải thương theo tàu Hải Quân? Nam bị thương ở bắp vế làm sao mà chạy được? Có phải tôi đã ích kỷ cho anh em bỏ chạy trong khi Nam bị thương không?". Tôi tự an ủi “Cả một Quân Đoàn 1 tiền phương còn bỏ chạy thì mấy chục anh em tôi làm được gì?”.
Ba mươi năm rồi chẳng nghe được tin gì về Thiếu úy Nam - Trung đội trưởng trung đội 81 ly, tiểu đoàn 7 TQLC. "Trông tin Nam"
Khi tôi và các người lính 90 ly chạy xuống tới bãi biển thì Thượng sĩ Ẩn - Thường vụ đại đội chỉ huy và hai anh lính thuộc đại đội chỉ huy còn đứng đó.
- Sao còn ở đây anh Ẩn, dzọt hết rồi hả?
- Tụi tui được lệnh chờ ông đây, Thiếu úy. Họ chạy cả nửa tiếng rồi. Tụi tui kêu quá mà không ai nghe cho đến khi một đứa do ông sai xuống đây chắc ông mới biết.
Chúng tôi nhập lại thành một đoàn chạy xuôi theo bờ biển về hướng Cửa Tư Hiền. Gió mát và tâm tư rối loạn trong đầu khiến tôi chẳng để ý gì nữa, chạy theo đoàn như một kẻ mộng du.
Tiếng Thượng sĩ Ẩn căn dặn hai người lính:
- Hai đứa mày chạy hai bên ổng, có gì thì dìu ổng đi.
Có lẽ anh ta sợ tôi bị vết thương hành, đuối sức chạy không nổi, nên anh chạy ngay sau lưng tôi.
- Khỏi lo anh Ẩn, tui còn khỏe mà.
Chạy được một đoạn, quá nặng trên đầu và nóng hầm hập, tôi vứt cả áo giáp và nón sắt, những người lính vây quanh tôi. Tôi nghe thoang thoáng đâu đây tiếng súng nổ, tiếng kêu réo gọi nhau hòa lẫn tiếng sóng biển.
Chúng tôi lại tiếp tục chạy, rải rác đó đây có những người lính ngã gục, chỗ thì từng toán chết nằm, chết ngồi. Những người này đã từng là chiến hữu của tôi đó. Tôi lặng người nhưng cũng không còn cảm giác nữa vì chính tôi bây giờ cũng là một kẻ đang dở sống dở chết mà thôi.
Nhìn lại phía sau lưng, một đoàn dài những kẻ đuối sức đang ráng bươn chải, hy vọng chạy cho thoát cái chết chóc đang gần kề, trong một sự sợ hãi đến tuyệt vọng.
- Chắc cũng gần tới Cửa Tư Hiền rồi. Anh Ẩn nói.
- Liệu anh bơi qua Cửa Tư Hiền nổi không?
- Một liều ba bảy cũng liều ông ơi!
Tôi nở một nụ cười thảm não thầm nghĩ "Bọn mình như cá trong rọ rồi".
Ánh trăng chênh chếch rọi vào từ hướng biển, ánh sáng nhảy múa đung đưa trên những ngọn sóng trông thật thảm não. Trăng trong thơ và nhạc sao trữ tình quá, còn trăng thực tại của những người chiến bại sao đầy buồn nản và tuyệt vọng!
Thời gian như dài ra vô tận theo nỗi ê chề trên đoạn đường tháo chạy nhục nhã của chúng tôi. Tôi nghĩ rằng hàng chục ngàn người lính trên bãi Thuận An đêm nay không ai biết được có một cuộc “di tản chiến thuật” lạ lùng đến như thế. Hình như chúng tôi được gom tụ lại đây để được bàn giao cho tiện việc sổ sách.
Đôi giày mua trong khu dân sinh Saigon làm thốn cả đôi chân, tôi chạy chậm lại rồi tháo vứt bỏ cả giày vớ. Cát ẩm mát lạnh dưới chân làm cho tôi tỉnh hẳn lại, chung quanh trên bãi biển, quần áo, giày dép, ba-lô v.v.. vứt bỏ bừa bãi cả một đoạn đường dài. Nếu lúc đó mà có ống kính ghi lại cuộc tháo chạy thảm thương này để mà xem thì chắc phải cười ra nước mắt.
Nhìn những người lính trẻ vô tư chạy quanh tôi, vừa chạy vừa sợ hãi nhưng vẫn hồn nhiên cười đùa, chẳng hề nghĩ đến và biết đến chuyện gì sẽ xảy ra.
- Đ.M., chạy làng anh em ơi!
- Một, hai, ba chúng ta cùng chạy.
Tôi cười to làm động đến vết thương bên má phải bị miểng pháo ghim hồi sáng đau điếng, máu lại rịn ra.Tôi tự hỏi không biết mình có đủ sức chạy tới Đà Nẵng hay không? (Chẳng có gì phải xấu hổ khi hôm nay tôi ngồi viết lại cuộc chạy làng thảm thương này).
Khoảng 9 giờ tối thì đoàn người khựng lại, có tiếng súng nổ phía trước và có vài người chạy ngược lại về phía chúng tôi. Đúng là tình cảnh cá nằm trong rọ chẳng biết đường nào ra.
Đoàn người lại xua nhau chạy về phía trước nhưng không xong. Tiếng AK nổ từng tràng chát chúa và ánh đèn pin chiếu loang loáng làm cho cả một dòng người khựng và dừng hẳn lại. "Cùng đường rồi". Lời ai nói đó có phải của tôi không?
Tôi lắc đầu ngồi bệt xuống bãi cát. Những người lính vây quanh tôi.
- Anh em mình phải cố gắng lo cho nhau, đừng làm điều gì dại dột, thiệt thân.
- Bây giờ mình làm gì, Thiếu úy?
- Anh em nào còn súng và lựu đạn thì quăng hết xuống biển đi.
Thượng sĩ Ẩn và những người lính đi về phía biển và quăng hết vũ khí xuống nước.
"Những người lính chiến chúng tôi, những con người bình thường vào sinh ra tử, chúng tôi không phải là anh hùng và chẳng có gì phải hổ thẹn..."
Nhớ tới câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên:
"Đời vốn chẳng nương người thất thế
Thì thôi ô nhục cũng là danh"
Sao những người lính miền Nam phải chịu một kết thúc bi thảm như thế này!
Bây giờ ngồi nghĩ lại, thấy miền Nam từ Tổng Thống, Thủ Tướng, Tổng Trưởng, Thứ Trưởng, Tướng Tá cao cấp hèn nhát bỏ chạy, vứt cả cờ quạt, mang theo tài sản cùng gia quyến thoát thân, bỏ mặc hàng triệu người lính chúng tôi trong lao tù Cộng Sản, còn thê thảm nào bằng!
Họ còn tư cách gì mà bày đặt viết hồi ký, bắt đầu bằng những cái "TÔI". Sao không bắt đầu bằng những cái "TỒI"?
Điều luật của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là:
"Đào ngũ khi đối diện với địch quân. Tử hình...".
Vậy Tổng Thống, Thủ Tướng, Tướng Tá cao cấp đào ngũ, trốn chạy khi địch quân chưa tới, bỏ cả một triệu lính thuộc cấp, bỏ cả 20 triệu dân miền Nam thì xứng hợp với tội gì...?
Người dân quê hương tôi luôn rộng lượng đối với những kẻ bỏ chiến hữu, bỏ đồng bào này để cho họ sống trong nỗi nhục nhã của những tên đào ngũ trước địch quân. Nếu họ đừng khua môi múa mép làm trò Sơn Đông mãi võ, núp dưới chiêu bài giả hiệu, để tiếp tục lường gạt các người Việt tha hương, cũng như còn kẹt lại tại quê hương trong nghèo đói, làm nhục nhã tập thể những người lính chiến đấu cho tới giờ phút cuối cùng, để bị Việt Cộng trói quặt khuỷu cánh tay ra sau như anh em chúng tôi.
Chúng tôi bị bắt buộc ngồi tại chỗ hàng tiếng đồng hồ. Trăng bắt đầu lên cao, gió thổi mạnh, chúng tôi thấm lạnh, nhưng nỗi lạnh bên ngoài chưa bằng cái buốt lạnh trong tâm tư.
Vài người hô lớn lên:
- Lạnh quá anh bộ đội ơi!
- Cho đi lấy quần áo đi các anh ơi!
Họ ra lệnh cho những người lính thất trận chúng tôi xếp thành từng hàng. Đoàn người xáo trộn hẳn lên, người này gọi người kia, hỏi thăm các bạn thân còn mất.
Một anh lính Bắc quân nói thật lớn tiếng:
- Tất cả anh nào là Sĩ quan hãy bước ra khỏi hàng.
Một sự im lặng đột ngột và dùng dằng trong đoàn người tù binh.
- Tôi lập lại, tất cả các anh nào là Sĩ quan ra xếp hàng ở bên tay trái tôi.
Dòng người bắt đầu chuyển động, các Sĩ quan miền Nam bắt đầu bước ra khỏi đám đông. Những người lính vây quanh tôi lên tiếng:
- Ông đừng đi ra khỏi hàng, Thiếu úy.
Tôi im lặng bước ra khỏi đoàn người đến xếp hàng với những sĩ quan chiến bại của miền Nam.
Sau khi ngồi xuống đất, tôi lấy tay đào một lỗ dưới cát và chôn tất cả giấy tờ tùy thân, thẻ bài để chấm dứt một chặng đường binh nghiệp...
Quay qua nhìn các người bạn không quen chung quanh, tôi phân vân chẳng biết mình đang làm gì? Có lẽ chúng tôi, những người lính chiến đã hoài phí cả một tuổi thanh xuân của mình cho tham vọng ích kỷ của những người lãnh đạo, để được trả lại bằng "Ôi! Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi", và những năm tháng lao tù đang đợi chờ trước mặt. Ngẩng nhìn lên bầu trời cao, vầng trăng gần tròn trên đỉnh đầu, giờ này chắc đã nửa đêm.
Các toán du kích và các anh Bắc quân đem dây cước làm lưới đánh cá, trói quặt cánh khuỷu tay anh em chúng tôi ra sau "những người chiến bại", "những con cá nằm trên thớt!".
Nuốt lấy tiếng thở dài uất ức, tôi tự an ủi mình "Việc gì tới rồi cũng sẽ tới..."
Tôi viết bài này để nói rằng, những người lính tác chiến chúng tôi dù thua cuộc, dù tù đày nhưng vẫn hiên ngang trước những cư xử đầy ác cảm, đôi khi hận thù của một số người anh em ở bên kia chiến tuyến.
Chúng tôi không phải là anh hùng, chúng tôi là những kẻ sa cơ bị bỏ rơi. Chúng tôi càng không phải là những kẻ hèn nhát, đào ngũ khi đối diện với địch quân mà giờ này, nơi này họ lại khua môi múa mép, lợi dụng danh nghĩa của người lính làm những trò tồi bại.
Hàng ngàn, hàng trăm ngàn chiến hữu, thương phế binh QLVNCH bị bỏ rơi, còn kẹt lại tại quê hương trong đói nghèo. Nếu không giúp được họ thì xin đừng lợi dụng danh nghĩa của họ để làm điều xằng bậy...
Kính tặng tất cả những chiến hữu quen biết hoặc không quen biết, đã hy sinh hay còn sống sót trên bãi biển Thuận An đêm 26 rạng ngày 27 tháng 3 năm 1975. Kính tặng tất cả những người lính chân chính của QLVNCH. Những "Chiến Sĩ Vô Danh" không phải những kẻ "Hữu Danh Vô Thực".
*****
- Phần 6
NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN - TÌM VỀ NGUỒN CỘI
Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam, nhưng từ bé Bố đã kể cho tôi nghe về một miền quê nghèo với cuộc sống cần cù lam lũ của người dân miền Bắc, những hình ảnh đó và câu chuyện sau đây càng làm cho tôi mến yêu quê cha đất tổ.
Rời quê nghèo đầu thập niên 30's lên Hà Nội tìm kế sinh nhai và học lấy một nghề chuyên môn như ông bà ta thường nói “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Đến đầu thập niên 40's, để mẹ và hai anh tôi ở lại quê nhà, Bố tôi vào Nam lập nghiệp. Sau gần mười năm xa cách, Bố Mẹ tôi đoàn tụ, anh chị em chúng tôi tiếp tục ra đời và lớn lên ở miền Nam.
Thuở bé tôi học tại trường tiểu học Trương Minh Ký, sau đổi thành Nguyễn Thái Học, Trung học tại trường Nguyễn Trãi, sau đó là Đại học Khoa Học Sài Gòn.
Như hầu hết các thanh niên thời chiến, năm 1968 sau trận Tết Mậu Thân chúng tôi phải làm quen với súng ống qua chương trình Quân Sự Học Đường. Bị động viên vào đầu năm 1972 mùa hè đỏ lửa, tôi khoác lên người bộ áo rằn ri sọc ngang Thủy Quân Lục Chiến, trấn đóng tuyến đầu Quảng Trị cổ thành cho đến đầu năm 1975, từ giã màu áo hoa rừng để tròng vào người bộ áo tù sọc dọc, còn được gọi là quần áo sọc dưa, từ đó được học thêm nhiều điều cay đắng cũng như những sự nhẫn nại và chịu đựng trong đời.
Từ Thuận An về căn cứ La Sơn, ra cây số 17 Phong Điền đến Lao Bảo Khe Sanh, về Cồn Tiên Ái Tử, và cho đến cuối tháng 9 năm 1977, một buổi sáng vào Thu, trên đoàn xe Molotova khoảng 20 chiếc hướng về phương Bắc trên Quốc Lộ 1, hơn 400 anh em chúng tôi thuộc đoàn 76 cải tạo (tù ngụy) được đưa ra Bắc trong công tác lao động xã hội chủ nghĩa, vét đập Đô Lương, tỉnh Hà Tĩnh và khai quang lòng hồ sông Mực, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Nhìn những ánh mắt ngỡ ngàng thương xót của người dân miền Nam, dõi theo đoàn xe chở chúng tôi ra Bắc, anh em chúng tôi đâm ra xốn xang lo lắng, có lẽ họ linh cảm một điều bất hạnh nào đó sẽ đến với chúng tôi.
Qua khỏi thị trấn Đông Hà, đoàn xe tiến đến cầu Hiền Lương, một chiếc cầu nhỏ bắc ngang sông Bến Hải trên vĩ tuyến 17.
Chiếc cầu trở thành nổi tiếng trong lịch sử vì đã là một địa điểm mà các thế lực từ thực dân Pháp, tư bản Mỹ đến cộng sản Nga Hoa đã dùng để chia cắt dân tôi hơn 20 năm. Xe bắt đầu lên cầu, nước sông Bến Hải trong xanh nhưng tôi cảm thấy một luồng khí lạnh thấm vào hồn. Cầu Hiền Lương theo tôi nghĩ nên được đổi tên là cầu Thê Lương vì nó đã ngăn cách Bắc Nam, làm cho hơn hai triệu đồng bào tôi phải bỏ mình trong cuộc chiến.
Tôi mường tượng ra hình ảnh sau hiệp định Geneve 20/7/1954, từng đoàn người lũ lượt qua cầu vào miền Nam mặc cho sự ngăn cản của chính quyền miền Bắc cả ngày lẫn đêm. Lời nhạc trong bài hát “Chuyến đò vĩ tuyến” của Lam Phương làm xúc động tâm hồn, “Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc đôi màu...”.
Dòng nước sông không bạc, mà cũng chẳng đôi màu, chỉ có chăng màu máu và nước mắt mà dân tôi phải đổ ra hơn 20 năm chia cắt. Người nhạc sĩ trẻ miền Nam đã linh cảm hai màu này chăng?
Đến bờ Bắc của cầu Thê Lương, tôi thật sự cảm động thấy như mình đang ngược dòng thời gian trở lại thời trước năm 1954, quốc lộ 1 ở miền Bắc nhỏ hẳn lại, các xóm làng hai bên đường tiêu điều, thưa thớt, nghèo nàn, dân miền Bắc ốm o, tiều tụy, khô héo như cây thiếu nước, đồng ruộng xơ xác, hoang tàn, chẳng thấy bóng trâu bò, gia súc.
Đoàn xe chở chúng tôi chạy suốt buổi trưa trên quốc lộ 1 hướng về cảng Đồng Hới, dọc đường chúng tôi được dừng nghỉ giải lao và trút bớt bầu tâm sự mang nặng trong người. Cảng Đồng Hới tôi được học trong Địa Lý là một hải cảng khá lớn ở miền Trung, thật sự lại quá bé nhỏ lạc hậu so với các hải cảng nhỏ ở miền Nam mà tôi được biết, tàu bè nhỏ bé thưa thớt, bến cảng có vẻ tiêu điều, có lẽ hậu quả của những trận bom từ thời Mỹ tấn công miền Bắc vẫn còn là một gánh nặng cho người dân cảng đến bây giờ.
Rời Đồng Hới, chúng tôi trực chỉ thành phố kỹ nghệ Vinh và đến thành phố vào khoảng 2 giờ 30 chiều. Gọi là thành phố nhưng Vinh chỉ vào khoảng một tỉnh lỵ nhỏ ở miền Nam. Những ngôi nhà chung cư do Đông Đức xây cất vào những năm 60's quá nhỏ và thiếu vững chắc, không được như khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn. Đường phố thưa thớt người đi lại, không có những khu phố thương mại dọc theo quốc lộ như các tỉnh lỵ miền Nam, vì xã hội chủ nghĩa không được làm ăn cá thể, không có những cửa hàng tư nhân, lưa thưa vài cửa hàng quốc doanh, vài trụ sở của hợp tác xã, đường phố buồn tẻ, không thấy các bảng quảng cáo, thiếu vắng những màu sắc tươi mát, quần áo chủ yếu là màu nâu, đen, trắng, kaki vàng của công an và xanh lá cây của bộ đội, chỉ chưa đầy mười phút đoàn xe đã ra khỏi thành phố Vinh.
Trực chỉ hướng Bắc trên quốc lộ 1, khoảng hơn 4 giờ chiều chúng tôi đến Đèo Ngang. Sau hơn 15 phút leo dốc, đoàn xe được dừng lại trên đỉnh đèo. Đèo Ngang không cao lắm, nhìn về hướng Đông là biển, trời và nước mênh mông, hướng Tây là núi chạy ra tới biển, hướng Nam là đường về khúc khuỷu gập ghềnh, hướng Bắc là đường đi xa xôi chưa đến, xế về hướng Tây Bắc là một ngôi làng nhỏ hoặc chợ làng. Tôi chợ nhớ tới bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan được học năm lớp 8.
"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta"
Hơn 400 anh em chúng tôi, 400 mảnh tình riêng nhưng không thể nói ra. Quay người nhìn về phương Nam, tôi cảm thấy như đi ngược thời gian về một trăm năm mươi năm trước, được trông thấy đoàn xe của Bà Huyện Thanh Quan đang ngược chiều trên Đèo Ngang, vượt qua chúng tôi trên đường từ Thăng Long vào Thuận Hóa để làm thầy giáo cho các con vua Minh Mạng. Từ bấy đến nay cảnh vật vẫn không hề đổi thay, dân tôi vẫn đói nghèo, lam lũ...
Trời hơi chập choạng tối khi chúng tôi đến Đô Lương, cắm trại trên một khu đất trống cách đó hơn nửa cây số. Mệt nhoài, đêm hôm đó nằm nghe dế kêu, tôi thả hồn vào giấc ngủ.
Buổi sáng đầu tiên ở miền Bắc sao im vắng lạ lùng. Tôi không nghe tiếng kẻng báo thức, có lẽ anh bộ đội trực ban chưa tìm ra một mảnh vỏ đạn để gõ hay sao đây? Hai ngày đầu chuẩn bị, chúng tôi được nhận dụng cụ, rổ rá, cuốc xẻng và những càng tải đất. Thời gian ở Đô Lương thật ngắn ngủi, tổng cộng chỉ khoảng hơn một tháng.
Chúng tôi phải gấp rút tiếp tay cùng thanh niên xung phong ở đây, mở rộng lòng kênh cho kịp mùa nước lũ ở sông Mã chảy về để tưới tiêu cho Đô Lương và hai huyện phụ cận. Đào, cuốc, gánh, tải đất đá từ lòng và hai bên bờ đập để đắp cao bờ đê, ba tuần làm việc ở Đô Lương rồi cũng chóng vánh trôi qua.
Một hôm tôi nhận nhiệm vụ trực khối, gánh cơm, nước cho các bạn ở hiện trường. Trên đường từ nhà bếp đến bãi, tôi gặp một toán thanh niên trẻ đang đào giếng, một cô gái trạc đôi mươi gọi tôi:
- Anh ơi! Anh gánh cái gì thế?
- Gánh nước cho các anh em ngoài bãi.
- Cho chúng em uống với.
Tôi dừng gánh lại cho mỗi người lấy một lon nước. Chắc đó chỉ là cái cớ thôi, vì tôi vừa đặt gánh nước xuống là các cô đã nhao nhao hỏi ngay:
- Anh ở đâu trong Nam thế?
- Sài Gòn.
- Trong ấy đẹp lắm anh nhỉ?
......
- Các bác với chị ấy có ra thăm anh không?
......
Họ hỏi tôi đủ thứ chuyện, tôi vui vẻ và thành thật trả lời. Một cô bé trẻ nhất trong đám thốt lên:
- Các anh trong Nam nói chuyện nghe lịch sự quá, chả bù với các đằng ấy ở đây!
Anh con trai, có lẽ là trưởng toán lên tiếng:
- Thôi, để anh ấy đi, các anh ngoài bãi đang chờ.
Tôi chưa kịp bước đi thì một anh bộ đội thuộc đoàn 76 bước về phía tôi và vẫy tay gọi:
- Anh làm gì thế, anh phản tuyên truyền đấy à?
- Tôi có làm gì đâu cán bộ. Họ xin nước, tôi chỉ cho mỗi người một ca thôi.
- Tôi thấy anh đứng đấy lâu lắm đấy nhé, anh có muốn kỷ luật thì tôi cho anh biết.
Tôi vội vã gánh đôi thùng nước và rảo bước đi. Anh bộ đội bám gót tôi hỏi:
- Anh ở đội nào, chiều nay anh biết tôi.
Giọng các cô gái nhao nhao nói vói theo:
- Anh ấy không có nói gì đâu, chúng em chỉ xin nước thôi.
Có lẽ các cô ấy không biết đã châm thêm dầu vào lửa. Suốt buổi tối hôm ấy tôi cảm thấy hơi lo vì lời hăm dọa của người bộ đội ban chiều, nhưng cuối cùng tự nhủ "việc gì đến cũng sẽ đến...". Tôi thấp thỏm hàng ngày chờ cú đòn thù cho đến khi rời khỏi Đô Lương, "việc gì qua cũng sẽ qua...", có lẽ anh bộ đội ấy đã quên chuyện này rồi.
Buổi chiều cuối cùng làm việc ở đập Đô Lương, nước được tháo vào. Nhìn lòng kênh dâng nước lên, chúng tôi cảm thấy vui lây với lòng dân ở ba huyện này, mong rằng năm nay và về sau họ sẽ đủ nước tưới tiêu, được mùa thu hoạch.
Tuần cuối cùng ở Đô Lương chúng tôi được nghỉ bồi dưỡng ba ngày để giặt giũ và chuẩn bị cho công tác kế tiếp vào Nông Cống, Thanh Hóa.
Sáng Chủ Nhật trước khi rời Đô Lương, tôi tình nguyện vào một toán mười người ra chợ huyện gánh rau quả cho Đội.
Chợ Đô Lương nhỏ bé, nghèo nàn, cũng như hầu hết những người dân tôi ở miền Bắc gầy gò chịu đựng. Trên con đường nhựa độc nhất chạy xuyên qua huyện, tôi thấy vài cửa hàng hợp tác xã bán những thứ hàng chẳng ra hàng, thế mà cũng phải có tem phiếu ưu tiên cho công nhân viên mới được mua, khó khăn như thế thì chừng nào mới đến lượt dân đen hoặc người tù. Cửa hàng ăn mậu dịch bán phở chỉ có vài người khách lèo tèo, có lẽ dân ở đây không thừa tiền ăn hàng, hoặc là ăn ở nhà ngon hơn hàng quán nên chẳng mấy ai buồn đến phở quốc doanh.
Theo chân anh cán bộ hướng dẫn vào trong chợ, trong khi chờ đợi anh ta mặc cả với các bạn hàng, tôi mon men đến một sạp gần đó hỏi nhỏ bà bán hàng: "Bác biết ở đâu có bán thịt gà, thịt vịt chỉ cho cháu?". Bà trả lời: "Làm gì có gà, vịt mà bán chứ anh!". Tôi đi rảo một vòng thì hết chợ, chỉ thấy khoai, sắn, thóc mà chẳng thấy gạo, vài hàng mì sợi khô, có lẽ từ một cửa hàng gia công trước mặt chợ đem vào. Chợ bán chủ yếu là rau quả, hàng gia vị thiếu thốn nghèo nàn làm tôi thấy mủi lòng!
Bài thơ “Chợ Phiên” tôi được học thuở bé, mới hừng đông đã kẻo kịt quang gánh, gà vịt, lợn bò, mà ở đây tôi chẳng thấy gì cả. Không mua được gì, tôi quay qua hàng bánh lá mua lấy vài cái bánh lót lòng để có sức gánh về.
Sau khi chất đầy gánh rau, tôi ra trước cổng chợ chờ cho đầy đủ anh em trong đội.
Ngay góc đường nơi chúng tôi đứng đợi có sạp hàng nước. Bà bán nước vối ngồi dưới một tấm liếp tranh, trên chiếc bàn tre xiêu vẹo có một cái lọ thủy tinh trong đựng vài chục chiếc kẹo vừng, một tủ kính nhỏ có vài gói thuốc lá xé dở, mỗi người khách dừng lại trả vài xu, bà lại lấy gáo khoáy vào lon nước rửa, rồi múc lấy gáo nước rót vào bát đoạn đưa cho khách.
Đầu óc tôi xoay vần, tôi đã được nhìn thấy cảnh này ở đâu đó, nhà văn Thạch Lam trong Tự Lực Văn Đoàn diễn tả cách đây 40 năm rồi mà sao vẫn không thay đổi, vẫn cái bàn xiêu vẹo, nồi nước vối, tấm liếp tranh, lọ kẹo vừng, tủ thuốc lá, chẳng lẽ bà bán nước vối ngồi ở đây từ bấy đến giờ?
Rảo mắt ngó qua phía bên kia đường, tai nghe tiếng chuông nhà thờ gần đó, tôi thấy có hai mẹ con trên đường đến nhà thờ. Bà mẹ khoảng hơn năm mươi tuổi, chị con gái xấp xỉ ba mươi, dắt nhau vào phía sau một thân cây to gần đó, mỗi người mang bên nách một gói giấy, đi chân đất. Mười phút sau họ bước ra từ sau thân cây, trên thân mỗi người bây giờ là một chiếc áo dài đen luộm thuộm còn hằn rõ nếp gấp; hai mẹ con đi guốc, gói giấy kẹp dưới nách, lầm lũi đi về phía nhà thờ. Tôi quay qua hỏi bà hàng nước:
- Ngoài này mỗi năm bác được mua bao nhiêu mét vải?
Bà trả lời:
- Mười năm nay có được mét nào đâu anh!
Sao lại có những cảnh đọa đày dân tôi thế? Chẳng lẽ cả cuộc đời họ cứ chờ đợi đến ngày Chủ Nhật đi lễ mới được mặc áo dài và mang guốc hay sao? Chiếc áo dài cũ kỹ, xấu xí, đôi guốc vông mộc mạc là cả một gia tài trong suốt cuộc đời họ à?
Trên đường về anh em chúng tôi im lặng, cái háo hức ra chợ xem thử dân tình không còn nữa. Quê tôi nghèo nàn quá! Dân tôi bất hạnh quá! Đất nước tôi bị đày đọa quá!
Nhớ lại bức thư một người chú của anh bạn, một "thương binh tự túc", từ miền Bắc gửi cho anh để động viên anh cố gắng học tập lúc ở Cồn Tiên. Tôi hỏi anh "tự túc" nghĩa là gì. Anh ấy trả lời, ông chú bị thương thời kháng Pháp, bị cụt cả hai tay nhưng không được hưởng trợ cấp, chỉ được ưu tiên không phải làm việc đồng áng, hàng ngày dùng đôi chân đạp guồng máy dệt để lấy công điểm, vừa đạp vừa ước mơ có được một chiếc xe đạp Phượng Hoàng cho cả gia đình có phương tiện đi lại. Đã gần hết thế kỷ 20 mà dân tôi vẫn còn những ước mơ tội nghiệp như thế đấy, cứ như những ước mơ trong tác phẩm “Con trâu cái” của tác giả Trần Tiêu ở nửa đầu thế kỷ 20.
Ngày tháng tiếp tục trôi, chúng tôi lại lên đường ngược dòng về phương Bắc. Sau cả một buổi sáng dằn xóc vì ổ gà, chúng tôi đến sông Gianh. Bờ sông thoai thoải, lòng sông rộng. Vì không có cầu, chúng tôi phải chờ qua phà. Không ai được xuống xe. Phà ra đến giữa sông; sông sâu nước chảy mạnh, gió thổi rát cả mặt. Lẫn trong gió tôi nghe như có tiếng kêu gào rên xiết của dân tôi trong cuộc Nam Bắc phân tranh gần 300 năm giữa hai dòng họ Trịnh - Nguyễn.
“Ôi sông Gianh tiếng oán hờn trong gió!”. Chưa có một dân tộc nào bị chia cắt nhiều lần và dài đăng đẳng như dân tôi. Phải chăng đó là một lời nguyền?
Tôi hồi tưởng lại câu chuyện ngắn của một chiến binh Thủy Quân Lục Chiến đăng trên nguyệt san Sóng Thần vào năm 1973, lời mở đầu: “Nếu huyền thoại về một người dân Hời nào đó đứng trên đỉnh Ba Lòng nhìn xuống cuộc Nam chinh của người dân Việt mà thốt lên lời nguyền vong quốc...”, có lẽ dân miền Trung nói riêng và cả dân tộc tôi nói chung phải hứng chịu tai ương của lời nguyền đó.
Tôi đã đi ngược thời gian suốt một chặng đường để trở về nhìn lại quê hương mà tôi ước mơ từ thuở bé, nhưng sao chỉ nhìn thấy toàn những đau thương đến với mọi người.
Đoàn xe trực chỉ Thanh Hóa, khoảng một tiếng sau chúng tôi rời quốc lộ 1 để đi về hướng Tây, xe đánh một vòng cung gần 180 độ. Tôi nhìn thấy mái phía sau của một ngôi nhà tương đối rộng, một nửa lợp tranh, một nửa mái ngói đỏ. Gần năm phút sau thì xe chạy qua trước mặt ngôi nhà đó, thì ra là trụ sở của một cơ quan huyện Nông Cống, nửa mái ngói phía trước đã phai màu, nửa còn lại đã bám rêu. Tò mò tôi hỏi anh bộ đội trên xe của chúng tôi sao lại có cái mái nhà lạ lùng như vậy.
Anh trả lời, "Thế đấy anh ơi, năm nào hợp tác xã Ngói phân phối bao nhiêu thì lợp bấy nhiêu". Tôi buột miệng nói thầm "Cơm độn khoai, độn sắn, độn bo bo. Nói độn Hán chẳng ra Hán, Nôm chẳng ra Nôm. Bây giờ mái nhà cũng độn nửa tranh, nửa ngói!".
Con đường vùng núi đất đỏ sình lầy hơn sau một cơn mưa không lớn lắm, tuy nhiên chúng tôi vẫn phải lấy những tấm ny lông được phát trước khi đi, trùm vội vàng cho khỏi ướt. Phía trước mặt vắng tanh, đồng không mông quạnh, phía sau những ngôi nhà đã nhỏ bé hẳn lại. Đoàn xe cứ tiếp tục lăn những vòng bánh rã rời mệt mỏi và chịu đựng, cũng như dân tộc tôi đã từng rã rời mệt mỏi và chịu đừng hàng bao nhiêu năm qua. Nhớ ngày ở Cồn Tiên, lần đầu chúng tôi đi công tác về phía đường cái, có anh bạn đi ngoài trại về kể lại cho anh em chúng tôi hay anh thấy một cái bảng “dấu hiệu đi đường” rất lạ vẽ hình một người đi xe đạp, chở theo một con heo kêu eng éc và còn có những nốt nhạc trong bảng dấu hiệu đó. Một anh khác nói:
- Mẹ, mầy nói phét, làm gì có cái bảng đi đường kỳ lạ đó?
Anh nọ cười trả lời:
- Thì nó có nghĩa là “đèo heo hút gió đấy”, mày không biết à!
Bây giờ chúng tôi lại rời xa miền đeo heo hút gió ấy để đi sâu hơn vào một miền núi cao, vực thẳm.
Cụ Nguyễn Công Trứ thời làm quan đã khẩn hoang, lập nên hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải. Thời bị đi đày làm lính thú ở Nông Cống, Thanh Hóa có làm những bài hát nói đầy hùng khí mà tôi còn thuộc lòng như bài “Kẻ Sĩ” và “Chí Làm Trai”.
" Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên
Có giang sơn thì sĩ đã có tên
Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quí..."
Hoặc:
"Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể..."
Giờ đây hơn 400 kẻ sĩ chúng tôi được cấp phát dao rựa, cày cuốc, búa rìu. Nhớ ngày xưa “Xếp bút nghiên lo việc kiếm cung”, nay chẳng lẽ lại phải vùi thây nơi đáy hồ sông Mực?
Nghe anh bộ đội chân thành kể chuyện về Bác và Đảng cho khai quang lòng hồ sông Mực để đem cá lên núi, nuôi và gây giống, tôi chỉ tội cho anh bị lường gạt và thương cho sự hiểu biết nông cạn của dân tôi.
Kỷ niệm lúc ở Cồn Tiên lại hiện về. Tôi nhớ anh vệ binh tên Thuật, dẫn chúng tôi đi lao động cuốc đất. Khi đo anh nói: “Anh này cuốc bề ngang 2 mét, dài 20 mét, thế là 40 mét vuông”. Một hôm tôi cuốc bìa ngoài, đụng phải đường cái. Anh Thuật lại đo và nói: “Anh này cuốc hình tam giác, cạnh đáy 3 mét, chiều cao 15 mét, thế là 45 mét vuông”.
Từ đó anh em chúng tôi ai cũng tranh nhau cuốc hình tam giác. Các lô đất chúng tôi cuốc trông chẳng ra hình dáng gì cả. Kẻ cuốc ngang, người cuốc dọc, đâm tán loạn vào nhau để cố tạo ra cho được những hình tam giác. Anh Thuật bị đậu mùa từ thuở bé, thế là chúng tôi đặt cho anh một cái tên rất thích hợp là “Con Bò Lục”. Từ xa nhìn thấy anh chúng tôi nói ngay “Con Bò Lục đến tụi bay ơi!”. Sau biết được nhưng anh không giận, chỉ tủi thân nói “Các anh cứ trêu tôi hoài”. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy có lỗi đối với sự thật thà chất phác của anh.
Đoàn xe bắt đầu chạy đâm vào một khu rừng, sau một hồi lên đồi xuống dốc, đổ chúng tôi xuống một nơi núi rừng thâm u, chằng chịt cây cối xung quanh, đâu đây nghe tiếng nước chảy xiết, sau này biết ra thì chúng tôi ở thượng nguồn sông Mực. Mệt nhoài nhưng chúng tôi phải phát quang, dọn dẹp ngay để có chỗ ngủ và dựng nhà. Cực nhất là những anh em nhà bếp, phải đắp vội vàng những cái bếp để nấu ăn cho cả đội.
Ngày hôm sau chúng tôi bắt đầu làm nhà. Tôi bắt đầu biết được loại tranh nứa. Đó là những ống nứa đập giập xẻ dọc, chặt ra thành những đoạn dài 70 đến 80 phân, kết vào nhau bằng những sợi nứa, cột thành từng tấm tranh, xếp chồng lên nhau, gối nhau khoảng 1/4 tấm tranh; nhìn lên mái nhà thấy ánh sáng xuyên qua, nhưng mưa thì không dột.
Một hôm tổ chúng tôi được phân công chặt nứa bên kia sông, mỗi người một bó 15 cây . Nước sông Mực cuối năm lạnh cóng, sáng sớm chúng tôi phải thức dậy ra bờ sông. Hai bờ sông chỉ cách nhau khoảng 20 mét. Nước chảy khá nhanh và mạnh, chúng tôi phải sexy 100% để bơi qua sông. Ôi chao những thân hình tù tội gầy guộc!!!
Chúng tôi cởi bỏ tất cả quần áo, cho vào trong tấm ny-lông, buộc chặt vào trong cánh tay. Muốn bơi qua bờ bên kia, chúng tôi phải đi ngược lên trên khoảng 30 mét, rồi thả trôi theo dòng nước, chỉ bơi một tay, còn tay kia giữ bọc ny-lông, giơ cao qua khỏi đầu cho đừng ướt.
Nhớ năm học lớp Đệ Tứ ở trường Nguyễn Trãi, Bách nhắn tôi vào trường sớm trước 1 giờ trưa. Hai chúng tôi lẻn vào lớp học. Bách lấy ra một ổ khóa, khóa trái cửa lại. Chúng tôi kéo bàn ghế chận cửa ra vào, rồi leo cửa sổ ra, canh cho chốt cửa sổ rớt đúng vào khe, sau đó xếp hàng vào lớp bình thường với các bạn như không biết gì cả. Cửa khóa không vào lớp được và không còn phòng trống, chúng tôi được cho nghỉ học. Thế là lũ chúng tôi khoảng hơn 10 học sinh kéo nhau về sông cầu Tân Thuận, đến một bãi rác Mỹ gần đấy, nhặt lấy những ống giấy đạn đại bác làm phao bơi ra giữa sông. Tôi biết bơi từ những ngày ấy.
Dòng nước đưa chúng tôi đến bờ bên kia. Chỉ mới hơn 5 phút ngâm nước mà người tôi đã đỏ rần, lạnh cóng, răng đánh bò cạp, vội vàng mặt tất cả quần áo mang theo vào, choàng lấy tấm ny-lông lên vai, lao vào rừng chặt lấy, chặt để, miệng lầm bầm chửi “Tiên sư cha mầy...! Tiên sư bố mày...! Tiên sư cha mầy thằng chết băm! Tiên sư cha mầy thằng chết vằm!".
Vừa làm vừa chửi để trấn áp bớt cơn lạnh và đói cũng như trút bớt đi những bực tức trong lòng, chưa được ăn sáng mà cảm thấy như đã mất tiêu buổi sáng rồi.
Chuyến về còn khổ hơn, phải kéo bó nứa xa hơn đến 50 mét, thế mà vẫn bị nước đẩy, trôi xa khỏi bờ về một khoảng dài, vội vàng tròng hết cả quần áo vào người, vác bó nứa mà chạy như bay hầu cảm thấy được chút hơi ấm.
Rừng càng ngày càng được khai quang bởi sức bọn tù chúng tôi. Khoảng một tháng sau, chúng tôi chạm đến con đường đất đỏ đưa chúng tôi vào đây lúc trước. Thế là cứ một tuần 6 ngày, một ngày 8 tiếng, cộng thêm tranh thủ lao động trước và sau giờ làm, cộng thêm cách tuần lao động xã hội chủ nghĩa sáng chủ nhật, anh em chúng tôi hao mòn dần theo thời gian.
Một buổi chiều về trại với bó nứa tranh thủ trên vai. Tôi tưởng mình nhấc chân sẽ cao hơn sợi dây leo dưới đất, nhưng không..., thế là vấp ngã, nứa một nơi, rựa một nẻo, còn người thì nằm một đống chán chường. Ngửa mặt nhìn trời cho hết cơn mệt, tôi ngồi dậy gom nứa, gom dao, thất thểu từng bước nặng nhọc trở về trại.
Một hôm trên đường chúng tôi gặp một chú bé trai khoảng mười hai, mười ba tuổi, người còm cõi, đi nhặt những cành cây làm củi. Động lòng thương, một vài anh trong đội chặt cho chú bé một gánh củi, còn làm thêm một cái đòn xóc thật gọn cho chú bé. Thằng bé từ chối với lý do là không được mang cây tươi về làng, chỉ được nhặt cây khô và mục mà thôi. Đâm nản, một anh nổi cáu "Thế thì mày đi tìm củi mục đi, làm cho mà lại chê!". Chúng tôi thực sự không biết là mang cây tươi về làng sẽ bị phạt vạ. Anh khác thấy thằng bé ngơ ngác tội nghiệp, múc cho thằng bé một chén chè đậu xanh, đường và đậu anh em chúng tôi cắc củm để dành khá lâu mới có được nồi chè. Thằng bé ăn lấy ăn để, hít hà vì nóng, miệng hỏi:
- Cái gì ngon thế các chú?
- Chè đậu xanh đấy, mầy chưa ăn bao giờ à! Một anh trả lời.
- Từ bé đến giờ cháu mới được ăn lần đầu tiên đấy!
Anh bạn tôi bật cười về sự ngây thơ thật thà của thằng bé nhưng đôi mắt anh rướm lệ, có lẽ anh đang nghĩ về những đứa con của mình ở miền Nam vắng cha, chắc cũng đang thèm thuồng một chén chè đậu như thằng bé đáng thương này. Thế hệ tương lai của dân tộc tôi đấy à!!!, thiếu cả niềm vui thật nhỏ nhoi từ khi còn bé.
Tết ở miền Bắc chúng tôi được nghỉ sớm ngày 30 và 3 ngày Tết. Đội chúng tôi được phân phối một con trâu thịt và con trâu này được tiêu thụ một cách tận tình. Chỉ có phân, lông, hai hàm răng và bốn cái móng là được vất đi thôi. Hai cái sừng được các anh nhà bếp lấy làm đồ trang sức như lược, nhẫn, còn tất cả được tiêu thụ gọn gàng. Chúng tôi được phát những bát canh da trâu hầm nhừ như thạch cao, hoặc canh xương trâu lổn nhổn, thịt thì được chặt to kho mặn. Một anh bạn nhái giọng các anh cán bộ miền Bắc lúc lên lớp.
- “Nàm thì nười, không lói thì nơ nà, lói thì bảo người ta nấy ne, nễ nớn thì đòi ăn thịt trâu, thịt nợn”. *(một số người Bắc phát âm chữ “N” thành “L” hay ngược lại)*
Chúng tôi được phát kẹo và rượu chanh quốc doanh để hơi cay và chua trấn áp bớt mùi mỡ trâu.
Cả năm trời không có chất béo, chất ngọt, vì thế ba ngày Tết, lăng cụ Hồ là nơi chúng tôi xếp hàng viếng thăm nhiều nhất; có anh ở lăng cụ còn nhiều hơn ở trong lán. Đêm nằm nghe tiếng pháo nổ râm ran, mùi thuốc pháo ngửi vào ngộp thở, bụng anh nào anh nấy sôi sùng sục, thế là một màn thuốc Nam, thuốc lá cây dễ tiêu khắp nơi diễn ra suốt mấy ngày Tết. Nằm ngay gần cửa tôi còn thở được, chỉ tội các anh nằm ở giữa nhà chỉ biết rủa tên cúng cơm của Bác.
Ngày vui qua nhanh, Mùng 4 tết chúng tôi uể oải bắt tay trở lại lao động một cách biếng nhác, rã rời.
Lòng hồ sông Mực bắt đầu hiện ra lởm chởm, nham nhở như một cái lòng chảo không đẹp mắt vì những chỗ cao, chỗ thấp không đều. Những chỗ cao thì cây trụi lủi, những chỗ thấp thì cây cối vẫn còn rậm rạp. Thì ra bản đồ không chính xác. Song song với công tác khai quang, mỗi khối phải cử 3, 4 người đi sửa chữa những nơi còn sót lại.
Suốt thời gian ở miền Bắc chúng tôi chẳng bao giờ được bữa ăn no, bữa sáng được 200 gr bột mì, bữa trưa 250 gr, bữa chiều 250 gr. Bột mì được vò thành những miếng tròn như lòng bàn tay, anh em chúng tôi gọi đùa "một ngày tiêu chuẩn ba bánh xe". Thời gian đầu không có rau xanh, chúng tôi hái những đọt tàu bay, đôi khi không luộc được, phải ăn sống, mùi rau tươi cay nồng, phải ráng nhai và nuốt cho có chút rau cỏ.
Có một ngày Chủ Nhật không phải lao động xã hội chủ nghĩa và không được ăn sáng, đói quá tôi rủ Thành, người Mỹ Tho, hai chúng tôi lần theo tiếng gà gáy, leo qua hai ngọn đồi nhỏ, quên cả những nguy hiểm có thể xảy ra, chúng tôi thấy một ngôi làng nhỏ, lần theo dốc ngọn đồi để xuống làng. Bước vào căn nhà đầu tiên, tôi hỏi người đàn bà vừa bước ra cửa:
- Bác có gạo bán cho tôi vài cân.
Bà xua tay bảo:
- Ở đây không có gạo bán đâu, các anh đi nơi khác cho.
Có lẽ bà ta sợ liên hệ với chúng tôi. Đi lần vào trong, ngôi nhà thứ hai và thứ ba cũng như thế, không ai dám tiếp xúc và buôn bán gì với chúng tôi. Vào gần tới giữa làng tôi nghe tiếng vọng cổ phát ra từ một ngôi nhà bên phải, tôi kéo Thành bước nhanh về phía đó.
Bước vào sân tôi trông thấy một thanh niên trẻ khoảng hơn 20 tuổi, tôi hỏi vội:
- Anh có gạo bán cho tôi vài cân.
Anh thanh niên trả lời:
- Không có đâu anh, chỉ có khoai sắn, các anh có ăn em để lại cho, 5 hào một cân.
Tôi xin được nấu nhờ bếp, anh vui vẻ chỉ cho tôi bếp, nồi và nước rửa khoai. Vừa châm bếp lửa tôi vừa hỏi:
- Anh nghe vọng cổ mà anh có biết ai hát không?
- Biết chứ anh, Thanh Kim Huệ và Minh Vương.
- Sao anh biết đó là Thanh Kim Huệ và Minh Vương?
- Năm 75 em theo đoàn quân vào tới Sài Gòn, đóng quân bên cầu chữ Y, ở nhà một bà mẹ chiến sĩ, cuối tuần bà thường dắt chúng em đi xem cải lương ở rạp Nguyễn Văn Hảo.
Ký ức tràn về trong tôi như cuốn phim quay chậm. Ngồi nhìn anh nói, tôi như muốn nuốt những lời đó vào lòng.
Từ Đại học Khoa Học Sài Gòn, theo đường Cộng Hòa, chạy xuống Ngã Tư Nancy, quẹo phải ở đường Trần Hưng Đạo, quẹo trái Nguyễn Biểu, góc đường là rạp hát Văn Cầm, chạy thẳng xuống cây cầu chữ Y, một phía qua lò heo Chánh Hưng, một phía về nhà đèn Chợ Quán, hay dọc theo đường bến Chương Dương đi về phía Cầu Kho, leo đò ngang qua rạch Bến Nghé để đi về phía cầu Dừa, hoặc quẹo trái trên đường Trần Hưng Đạo để đi về phía rạp Nguyễn Văn Hảo... Ôi! Những địa điểm mà tôi đã đi qua, từ tuổi thơ cho đến ngày trưởng thành, tôi thuộc lòng nhiều ngõ ngách, những tên đường của cái thành phố mà tôi đã được sinh ra và lớn lên, từ ngôi nhà mà Bố tôi đã gầy dựng trên đường Hồng Thập Tự khi ông vào Nam hơn 30 năm trước.
Nhớ những buổi trưa chị em tôi đi học sớm, ráng leo lên gần mười bậc cấp của rạp Nguyễn Văn Hào để cố xin cho bằng được tờ chương trình của tuồng cải lương mới "Gánh Hàng Hoa", "Đời Cô Lựu", "Con Gái Chị Hằng", "Sơn Nữ Phà Ca"..., hoặc để được nhìn ngắm các tấm posters, chân dung màu sặc sỡ của Thanh Nga, Ngọc Giàu, Hữu Phước, Hoàng Giang... Tôi nhớ như in hình ảnh một chú bé đừng trên những bậc thềm của rạp Nguyễn Văn Hảo gần 20 năm trước, nhìn về phía trường Trương Minh Ký nơi tôi theo học thuở ấu thơ, cách đó chỉ một góc đường, hình ảnh đó sao thật gần mà như xa xôi quá...
Tối hôm ấy tôi không ngủ được, phần vì quá no, phần vì nhớ nhà, cũng có thể vì tủi thân tù tội.
Một hôm đội tôi công tác gần với các toán thanh niên xung phong, họ thăm hỏi và chúc chúng tôi ra về mạnh giỏi. Những tin đồn sắp đến ngày về cũng làm cho anh em chúng tôi cảm thấy ấm lòng, rồi thì ngày đó cũng đến thật. Chúng tôi được nghỉ, thu xếp gọn gàng chờ xe đến đón.
Ngày rời Lòng Hồ sông Mực, những toán nhân công và thanh niên xung phong làm việc hai bên đường vẫy tay chào và chúc chúng tôi ra về được bình an. Tôi cảm thấy bản chát những người dân đen cùng khổ từ Bắc chí Nam, lúc nào cũng rộng lượng thương người.
Lúc ra miền Bắc, mỗi lần nghĩ đến bài hát "Em Tôi" của tác giả Lê Trạch Lựu là mỗi lần ngậm ngùi, "Ngày về xa quá người ơi!...". Hôm nay ngày về đến rồi thì lại cảm thấy đường về xa quá, dài đăng đẳng.
Tôi cứ thấp thỏm mong ngóng, sao lâu quá không thấy sông Gianh, cả ngày rồi mà chưa gặp Đèo Ngang, sao mà Vinh xa xôi thế, Đồng Hới đâu mất rồi. Những nơi chúng tôi về qua, tôi nhìn thấy gương mặt vui tươi của những người dân hai bên đường, có phải tại lòng chúng tôi đang vui chăng...?
Rồi thì xe cũng đến sông Bến Hải, chúng tôi thấy lòng rộn rã, những giọng cười, những tiếng thở phào nhẹ nhõm, vui mừng. Chúng tôi náo động hẳn lên và bắt đầu bàn tán, cá cược nơi đến sẽ là chỗ nào; ai cũng đếm thầm từng giây, từng phút.
Xe chạm bờ Bắc sông Bến Hải và vượt lên cầu, cảnh vật vẫn chẳng có gì thay đổi so với năm trước. Nhìn xuống dòng nước trong xanh lặng lờ trôi, tôi rướn người đứng dậy, gió thoang thoảng thổi mát rượi vào mặt, tôi rùng mình và chợt cảm thấy cầu đã đổi tên lại là cầu Hiền Lương để nối lại hai bờ Nam Bắc, để cho chúng tôi có đường về, để cho dân tộc tôi lại được thông thương, và để cho dòng máu Việt Nam lại chảy xuôi từ Bắc vào Nam theo nhịp đi của dân tộc.
Dọc đường Quốc lộ 1 dẫn về căn cứ Ái Tử, những người dân miền Nam ngẩng lên nhìn chúng tôi với những gương mặt rạng rỡ, cảm thông như nhìn thấy người thân sau một thời gian dài xa cách. Vài "O" đã thảy lên trên đoàn xe chúng tôi những gói lá thức ăn, một gói may mắn đã rơi vào trong xe chúng tôi. Có lẽ đó là bữa ăn của họ “những người dân nghèo khổ”. Họ sẵn lòng nhịn đói để cho chúng tôi bớt đói lòng.
Bâng khuâng với niềm vui khó tả, tôi chợt thấm thía câu ca dao đầy tình tự quê hương.
"Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng".
Năm mươi năm sau ngày cha tôi rời quê nghèo, tôi cũng vượt biên để được tạm cư tại một nước thứ ba, rồi cũng như những người dân Việt đã cần cù lam lũ hơn 4 ngàn năm, tôi lại tiếp tục cần cù lam lũ để xây dựng hơn nửa đời còn lại nơi xứ người. Trong thâm tâm vẫn mang một ước nguyện, một ngày nào đó được đưa các con tôi về lại quê cha đất tổ, để được đi tiếp chặng đường còn sót lại về lòng đất quê hương.
Từ Thanh Hóa đến Tam Điệp, theo chân đoàn quân của Quang Trung Hoàng Đế về Thăng Long đập tan Tôn Sĩ Nghị, để được ngâm lại bài thơ "Thăng Long thành hoài cổ" của Bà Huyện Thanh Quan.
"Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm sử sách soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường"
Hoặc được trốn học để cùng đi với chàng thư sinh Nguyễn Nhược Pháp trẩy hội chùa Hương, để hẹn hò cùng cô bé mười lăm bới tóc đuôi gà.
Được nghe lời thề quyết thắng của Hưng Đạo Vương “Nếu không thắng giặc, thề không trở về lại trên dòng sông này”. Được xem Đinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau. Về Bạch Đằng Giang xem Ngô Quyền cỡi sóng phá tan giặc Nam Hán, chấm dứt một ngàn năm nô lệ Bắc phương. Về Cổ Loa theo dấu lông ngỗng để được xem chuyện tình Trọng Thủy Mỵ Châu. Đến Mê Linh nghe trống trận của Hai Bà, xem Triệu Ẩu cỡi voi đuổi giặc, hoặc ngã người trên chiếc thuyền nan nghe tiếng sáo Trương Chi mà tương tư nàng Mỵ Nương xinh đẹp, theo chân hoàng tử An Tiêm vào cung dâng dưa hấu cho Phụ Hoàng. Mộng thấy thần tiên mách bảo cho chàng hoàng tử út hiếu thảo làm bánh chưng, bánh dày nhân dịp Xuân về Tết đến. Ước mong nhất là được nhìn thấy tổ tiên chúng tôi, Lạc Long Quân và Âu Cơ bịn rịn chia tay, 50 người con theo cha lên núi, 50 người con theo mẹ xuống biển tạo nên dòng Bách Việt ngày nay.
Quê hương tôi đó lịch sử rạng ngời. Tôi mong có ngày được đưa các con tôi về để nhìn thấy dân tôi ấm no, hạnh phúc, đất nước tôi thống nhất, thanh bình, chứ đừng như anh em chúng tôi 25 năm trước, ngược dòng thời gian để chỉ phải nhìn thấy quê hương tôi và dân tộc tôi trong tang thương, đói nghèo và lạc hậu.
Anh Cao Xuân Huy, một niên trưởng Nguyễn Trãi, cũng là niên trưởng Thủy Quân Lục Chiến có lần nhắc lời cụ tổ chúng tôi trong bài hịch "Bình Ngô Đại Cáo" vang rền lịch sử "Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn".
Hung tàn còn đó trên quê hương tôi, muốn được làm một nghĩa quân Lam Sơn nhưng đại nghĩa đâu không thấy, chỉ thấy rặt một phường xôi thịt, đỉnh chung, chưa cầm quyền đã buôn quan bán tước. Chắc là phải noi gương một cụ già xưa, đêm đêm thắp nhang cầu cho bạo chúa sống lâu, cho dân tôi bớt khổ.
"Cây có cội, nước có nguồn", "Chim có tổ, người có tông".
Thật đáng thương cho những kẻ tự xưng mình mang dòng máu Lạc Hồng, lại vì chút hiềm thù, tư lợi nhỏ nhen hoặc bè phái, đã và đang làm những điều xúc phạm đến dân tộc, đến quê hương.
Nguyện cầu hồn thiêng sông núi và anh linh tiền nhân rộng lòng tha thứ...
Viết để kính tặng và tưởng nhớ anh Lực, một kẻ sĩ đã ở lại sông Mực và kính tặng 400 anh em chúng tôi trong chuyến Bắc du năm 1977-1978.
*****
- Phần 7 (Hết)
NGÀY VỀ
Khi sinh ra ai cũng mong muốn có một cuộc đời an nhàn sung sướng. Nhưng người dân quê hương tôi hầu như không ai có được một cuộc đời lành lặn. Sự thống trị của ngoại bang, chiến tranh chia cắt làm tan nát biết bao nhiêu gia đình người dân hiền lành vô tội. Có lẽ chúng ta chỉ còn lại những mảnh đời không lành lặn, được chắp vá với nhau qua những chặng đường đời. Hôm nay xin được kể cho các bạn nghe về những mảnh đời dang dở đó.
Đoàn tàu chưa dừng hẳn chúng tôi đã nhảy xuống khỏi lan can ở toa cuối cùng, chạy vội vã vào trú mưa dưới mái nhà ga. Nhìn qua cửa sổ tôi thấy đã hơn 11 giờ khuya trên chiếc đồng hồ treo tường. Ánh đèn vàng vọt, ga vắng người, chỉ có một số hành khách lên xuống các toa vào đêm hôm khuya khoắt như thế này. Hùng, Huy, Thành và tôi cố tìm trong ga một vài hàng bán thức ăn, để dằn cơn đói mà từ chiều tới giờ vì chống chỏi với cái lạnh và các nỗi lo sợ vây quanh mà anh em chúng tôi đã quên mất.
Ba giờ chiều hôm đó anh Thuyên đưa anh Hùng, Ngọc và tôi đến sân ga Huế. Các người bạn tù ở Huế đã hướng dẫn chúng tôi bọc vòng sân ga để vào theo ngõ các đường rầy.
Đồng Sỹ Tường nói với tôi:
- Cất tiền để đi đường ăn. Tù...! Tội gì phải mua vé! Vé tàu Thống Nhất cũng không tới phiên mi, công nhân viên còn phải đợi cả tháng.
Tôi thấy Miễn ngồi trên chiếc xe đạp, trong một góc, nhìn chúng tôi cười, vẫy tay hỏi thăm, chúc xuôi Nam mạnh giỏi. Có chừng hơn mười người bạn ở Huế ra ga đưa tiễn chúng tôi.
Một người bạn nói “Dự báo thời tiết cho biết, có mưa giông cấp 5, cấp 6 tối nay. Tụi mi ráng đi cho kịp, không thì kẹt lại đó".
Một anh khác thêm vào: "Tụi mi chia ra mỗi thằng lên một toa, kiếm một góc nào đó chui vào, ráng chờ cho tới khi nào tàu chuyển bánh thì yên".
Quay qua nhìn Hùng, thấy khuôn mặt lo lắng của anh tôi cảm thấy không yên.
Thường thì cảnh tiễn đưa ở sân ga bao giờ cũng rất là buồn. Buồn vì cảnh kẻ ở người đi... Nhưng anh em bạn tù chúng tôi thì ngược lại, họ không mong chúng tôi ở lại mà lại mong cho chúng tôi đi khuất mặt để về với gia đình đang mong đợi trong Nam.
"Những chiếc khăn hồng lất phất bay,
Những bàn tay vẫy những bàn tay,
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt..."
Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi lại có một buổi chia tay lý tưởng như vậy! Chia tay nhưng vui, chia tay nhưng không có nước mắt mà chỉ có nụ cười đưa tiễn.
Hơn bốn giờ chiều loa phóng thanh thông báo tàu Thống Nhất 2 sẽ đến ga lúc 4 giờ 30 phút. Tôi cảm thấy nóng ruột. Quay qua thì Ngọc đã lủi đi một góc nào rồi, theo đúng sự cố vấn của các bạn tù Huế. Hùng gương mặt rầu rĩ, lo lắng hỏi tôi:
- Sao đây Minh?
- Tàu đến mình cứ leo đại lên toa rồi tính sau.
Khoảng gần 4 giờ 30, còi tàu hú vang ở khúc quanh khuất tầm mắt cuối đường rầy, và chẳng bao lâu đoàn xe lửa Thống Nhất xuất hiện. Đoàn tàu trông có vẻ mới mẻ, đẹp mắt, khác với những đoàn tàu cũ kỹ mà tôi đã nhìn chán mắt ở ga Saigon mỗi ngày tôi đi đến trường Trương Minh Ký thuở xưa.
Hai chị em tôi thường đi tắt xuyên qua ga Saigon, rút ngắn được một khoảng đường hơn cây số. Tôi thích những hòn than đá nhặt được trên đường rầy, chúng đen mượt và óng ánh dưới nắng như những hòn ngọc đen.
Tàu dừng hẳn. Các cửa toa được mở ra. Sau khi các hành khách xuống xong thì các hành khách mới lên tàu. Anh em chúng tôi bắt đầu chia nhau leo vào các toa. Thật là số “giẫm phải ổ kiến lửa", tôi chui vào đúng ngay cái toa dành cho các anh bộ đội đi công tác. Vừa không có chỗ trống, lại trông thấy tôi lạ, có lẽ vẫn còn hình ảnh của người bên kia chiến tuyến nên các anh ấy la ầm lên:
- Anh này ở đâu vào đây thế?
Hai cô soát vé nghe thế tiến lại, hỏi vé tàu và mời tôi đi xuống.
Chân vừa chạm đất thì thấy Hùng hốt hoảng chạy tới, hai anh em chúng tôi lại leo lên toa xe kế. Hình như đã được báo động, các cô soát vé lại chận chúng tôi và mời xuống lần nữa.
Thất vọng nhưng vẫn bình tĩnh, tôi kéo Hùng chạy về phía toa cuối cùng, nhưng chúng tôi dã bị chận lại ngay cửa toa.
"Bất Quá Tam", ba bận không được, tôi không nhảy lên xe nữa mà ngồi tính kế.
- Hùng à! Đợi xe bắt đầu chạy mình nhảy lên. Tôi nói với anh cùng với một cái gật đầu cảm thông và khích lệ.
Hơn 5 giờ chiều, còi hụ, đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Thế là tôi nhanh chân nhảy ngay lên một toa gần đó, Hùng cũng bám theo tôi.
Tôi nhớ mãi cô gái soát vé la toáng lên:
- Các anh có xuống không...?
Cô ta cung tay làm như chuẩn bị xô anh em chúng tôi xuống. Lặng người một giây, tôi suy nghĩ thật nhanh... Quay mình nhảy khỏi toa tàu, Hùng cũng nhảy theo tôi. Đoàn tàu Thống Nhất 2 rời ga xe lửa Huế...
Nhớ lời một anh bạn tù nói với chúng tôi ban chiều "Tụi mi xui. Tụi mi tới sớm một chút đi tàu Thống Nhất 1, tàu Saigon dễ hơn. Tàu ni tàu Hà Nội". Thì ra có bốn chuyến tàu Thống Nhất. Tàu số lẻ 1 và 3 xuất phát từ Saigon, hầu hết nhân viên trên tàu người Nam. Tàu số chẵn 2 và 4 xuất phát từ Hà Nội, thảo nào toàn là dân Bắc.
Đoàn tàu bắt đầu tăng tốc độ. Tôi nghe tiếng Đồng Sỹ Tường hét lớn "Nhảy lên! Nhảy đại lên!". Quay người lại thì toa cuối cùng cũng vừa trờ tới nhưng cửa toa tàu đã đóng kín, tôi nhảy đại lên, bám vào lan can sắt, nghiêng người lại kéo Hùng cũng vừa nhảy bám theo sau. Tiếp theo Hùng là Thành và Huy, hai người không biết ở đâu lại xuất hiện bất ngờ, tôi và Hùng nép qua một bên để Thành và Huy có chỗ đu vào.
Chúng tôi vừa đặt chân xuống lan can thì tiếng còi tàu vừa chấm dứt, tàu bắt đầu lao về phía trước với tốc độ nhanh hơn. Bốn anh em tù chúng tôi, những người khách cuối cùng, những người khách không được chấp nhận của đoàn tàu Thống Nhất 2 vừa rời ga Huế. Nhìn ngược về phía sân ga, các bạn tôi vẫy vẫy tay tiễn đưa, xa dần, xa dần mà trong lòng còn nhiều xúc động...
Hơn một giờ sau đoàn tàu chạy qua Vinh Hiền. Nhìn về hướng Đông tôi nhớ đến ngày 26/3/75 tại cửa Tư Hiền, nơi anh em chúng tôi chấm dứt chặng đời binh nghiệp, để bắt đầu cuộc đời tù đày.
Trời nhá nhem tối, những đám mây đen từ biển kéo vào vần vũ và cơn bão bắt đầu đổ bộ. Mưa tầm tã khi đoàn tàu gần đến Lăng Cô, chân đèo Hải Vân, trời tối mù mịt, chắc vào khoảng gần 7 giờ tối. Thành lôi ra tấm poncho, hai chúng tôi trùm lấy cho nhau giữ hơi ấm. Hùng và Huy cũng lấy ra những tấm ni lông, chúng tôi nép vào nhau để chống chọi cơn bão và những hạt mưa tới tấp quất lên người.
Đoàn tàu ì ạch leo đèo Hải Vân dưới mưa bão. Có những khúc quanh gắt, tàu chạy chậm hẳn lại. Tôi nghe những tiếng móc sắt mà những tài xế đoàn tàu thả xuống để bám đường rail “cọc, cạch, cọc, cạch, cọc, cạch ...” Những tiếng sắt va chạm trong đêm làm cho tôi tưởng nhớ đến một đoạn thơ, thật là hợp lúc nhưng không hợp tình.
“Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có gì vương vấn trong hơi máy
Những chiếc toa, đầy nặng khổ đau”.
Không biết chiếc toa cuối cùng đầy nặng khổ đau này có thông cảm cho bốn người khách bất đắc dĩ đã gửi thêm sức nặng lên mình nó không nhỉ?
Nhìn về hướng biển, làng Lăng Cô dưới chân đèo chìm trong màn mưa bắt đầu nặng hạt, xa xa lờ mờ vài ngọn đèn leo lét, mưa bão như thế này mà kéo dài vài ngày thì làm sao các ngư dân ra khơi để kiếm ăn. Khoảng tám giờ tối đoàn tàu chui qua một đường hầm dài, từ đó trở đi chúng tôi không còn thấy gì ngoài ngoài màn mưa và sương mù dày đặc từ các hốc núi bốc ra.
Càng lên cao tàu càng chậm dần, có những lúc tàu như dừng lại. Tiếng máy hú rền lên trong đêm, nhìn về phía trước những đóm lửa từ đầu máy phun lên không gian mờ mịt, tôi cảm thấy lạnh người...
Những ngày còn bé tôi thích nghe người lớn kể chuyện ma, hai chân rút lên giường, lấy chăn hay bất cứ một mảnh vải nào trùm lấy cho đừng cảm thấy lạnh. Có những đêm quá khuya, mẹ tôi mắng “Thằng này có đi ngủ không, mai còn đi học”. Trèo lên gác, chui vào mùng, chụp vội cái chăn để trùm kín người từ đầu đến chân mặc dù trời không lạnh lắm, co người lại tôi thầm nghĩ “Trùm kín thế này chắc ma không nhìn thấy mình đâu, nhưng nếu ma kéo chăn ra thì làm sao?”. Nghĩ thế tôi càng co người lại.
Nhìn theo ánh đèn xe lửa xuyên màn mưa và sương mù dày đặc, tôi chợt nhớ đến câu chuyện “Bóng Người Trong Sương Mù” trong tập truyện ngắn “Anh Phải Sống” của Khái Hưng và Nhất Linh. Tôi rụt đầu vào poncho, không muốn nhìn và nghe thấy những âm thanh ma quái vang lên trong đêm với bóng người trắng trong sương mù, vẫy vẫy đôi tay kêu gọi con tàu “Dừng lại! Dừng lại! Dừng lại!”. Bên cạnh tôi Thành vẫn còn lầm bầm chửi “Mẹ mầy, con mẹ Bắc Kỳ!”
Ngày đơn vị dừng chân ở chợ Sải, Triệu Phong, tôi quen Thành. Mỗi lần không vừa ý một người bạn miền Trung thì anh lại nói “Mẹ mầy, thằng Nẫu!”. Không vừa ý ai Bắc Kỳ thì “Tao nói rồi, cái thằng rau muống!", nhưng chưa nghe anh than van về "giá sống" bao giờ. Có điều là nói hay chửi xong anh lại cười xòa chứ không như lần này, anh lầm bầm cả buổi tối...
Bên bờ sông Vĩnh Định, chợt thức giấc một đêm khuya, tôi thấy Lên, người hiệu thính viên, chồm người ra khỏi võng chụp lấy cái đèn pin dã chiến, làm băng pin PRC-25, bóng đèn được bọc bằng giấy bạc bao thuốc lá. Anh hối hả vặn lên, có lẽ quá vội vàng, anh lộn giây, đèn lóe sáng rồi tắt lịm. Chồm qua phía chiếc radio, Lên chụp lấy, vặn thật lớn giữa đêm khuya. Tôi bực mình hỏi:
- Mày làm cái gì vậy Lên?
Lên im lặng không trả lời. Tôi gắt:
- Tắt đi, làm gì mà mầy mở radio giờ này!
Anh vặn tắt radio rồi chúi đầu vào trong cái võng. Lần đó chúng tôi qua đêm tại căn bếp của một ngôi nhà ba gian đã bị sập vì đạn pháo bên bờ sông Vĩnh Định. Tôi và Lên mắc võng vào những cây cột nhà bếp, đâu chân vào nhau, chiếc máy truyền tin dựa vào cây cột ở chân võng. Sáng hôm sau tôi hỏi Lên:
- Làm gì mà mày bật đèn, bật radio giữa khuya vậy?
- Em thấy ma.
- Ở đâu?
Đưa tay chỉ về phía ngôi nhà chính đổ nát không ai dọn dẹp, cả ngôi nhà ba gian sập hoàn toàn trên nền nhà...
- Mày thấy như thế nào?
- Một cô gái tóc thề, mắt sáng như đèn, nhìn chòng chọc vào em với gương mặt giận dữ.
- Thiệt không mậy?
- Em nói thiệt.
Quay qua anh Xê và những người lính trong ban chỉ huy, tôi nói thật gọn:
- Mình dời nhà.
Lần khác, trung đội tôi làm tiền đồn cho đại đội sau ngày ngưng bắn ở La Vang Thượng trong một ngôi làng nhỏ tên là Như Lệ. Những ngày mưa dầm ướt át, ngồi bó gối nhìn quanh, buồn muốn khóc. Thảo nào làng lại chẳng có tên là "Như Lệ".
Khi bàn giao tiền đồn, chúng tôi vét lại giao thông hào, Hạ Sĩ Tâm nhìn thấy một xương sọ người và một đôi dép râu. Tinh nghịch anh đặt chiếc xương sọ lên bờ giao thông hào rồi lấy đôi dép râu gác trên đầu chiếc xương sọ, miệng nói "Sinh Bắc Tử Nam".
Tối hôm đó Tâm lên cơn điên lồng lộn như bị ai đấm đá dữ dội, chúng tôi phải trói anh lại, và đang đêm cho hai người lính dẫn anh vào đại đội gặp Trung Sĩ Nhất Trần Ngâm, người Việt gốc Miên vùng 4. Anh Ngâm dùng roi dâu quất vào người Tâm, Tâm quằn quại trên mặt đất. Hôm sau Tâm được đưa ra điều trị tại Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, vài tháng sau được trả về đơn vị anh vẫn chưa tỉnh trí.
Trong đời lính tôi đã gặp quá nhiều chuyện ma quỉ như thế này rồi; đêm nay dưới cơn mưa bão trên đèo Hải Vân, tôi không muốn nhìn thấy thêm một lần nữa.
Tôi quay qua chọc Thành, hy vọng anh em chúng tôi có những tràng cười để qua cơn chịu đựng. "Ai biểu mày là giá sống làm chi! Nếu mày là rau muống, chắc mày đã bỏ thây trên đường mòn Hồ Chí Minh rồi". Chúng tôi cười khúc khích, cảm thấy thương cho những người "Sinh Bắc Tử Nam!".
Gần mười giờ khuya đoàn tàu bắt đầu đổ dốc. Anh em chúng tôi thật căng thẳng ở những khúc quanh gắt. Bám chặt vào lan can tàu, anh em chúng tôi níu lấy nhau, nghe tiếng bánh sắt nghiến trên đường rail, nhìn những tia lửa bắn ra do sức ma sát của những bánh sắt trên đường tàu trong đêm mù sương, có lẽ các bạn tôi cũng như tôi đang thầm cầu nguyện cho con tàu bình an đến Đà Nẵng.
Nhớ lại cảnh anh em chúng tôi đi Roller Coaster trên đèo Hải Vân năm xưa mà trong lòng còn kinh sợ, khác hẳn với cảnh Roller Coaster ở Magic Mountain hoặc Disneyland bên này, hét lên vì cảm giác và thích thú.
Nửa khuya hôm đó tàu rời ga Đà Nẵng mang theo bốn anh em chúng tôi, những hành khách không ngủ; thật tình thì không dám ngủ, sợ lơi tay bỏ mạng dọc đường. Thành thì cứ tiếp tục "Mẹ mày! Con quỉ Bắc Kỳ".
Trời vừa sáng tỏ thì đoàn tàu chạy chậm lại rồi ngừng hẳn. Tò mò, chúng tôi rời lan can tàu đi dần về các toa trước để hỏi thăm tình hình, thì ra tàu hỏng máy. Chúng tôi mừng thầm và tự an ủi, “Nếu tàu hỏng máy lúc leo đèo Hải Vân, có lẽ anh em chúng tôi đã nằm vương vãi đâu đó dọc Lăng Cô”.
Nhìn qua cửa sổ một toa xe, tôi trông thấy Quý, một bạn tù trước cùng học ở Khoa Học Saigon. Anh học Lý Hóa Vạn Vật, còn tôi Toán Lý. Tôi gọi Quý và gửi cái ba lô đẫm nước mưa của tôi, để được dễ dàng xoay xở. Sau này về Saigon, đến nhà anh nhận lại "gia tài tù" thì nó đã được giặt, phơi khô và xếp cẩn thận lại rồi.
Đoàn tàu Thống Nhất 2 nằm chịu trận giữa đường chờ sửa chữa. Chúng tôi nhờ các bạn may mắn hơn đã ở yên trong các toa mua hộ thức ăn dằn bụng.
Khoảng 2 giờ chiều đoàn tàu chợ Đà Nẵng - Qui Nhơn xuất hiện. Chúng tôi rời lan can tàu Thống Nhất 2 để nhảy lên các toa của đoàn tàu chợ Qui Nhơn. Đoàn tàu chợ không có cửa như tàu tốc hành Thống Nhất. Kiếm một góc toa chúng tôi ngồi xuống nghỉ mệt sau gần một ngày đêm căng thẳng và không được nghỉ ngơi.
Ì à ì ạch dọc đường, ghé các ga, cuối cùng đoàn tàu cũng về đến ga Diêu Trì, Qui Nhơn khi trời vừa sẩm tối. Tàu chưa dừng, loa phóng thanh đã oang oang thông báo: “Hành khách có vé xếp hàng bên trái, hành khách không có vé xếp hàng bên phải, ai không có vé phải mua vé phạt 100%”. Giá vé Đà Nẵng - Qui Nhơn 26$, ai không có vé phải trả 52$. Tính thầm số tiền còn lại trên người, thì nếu phải mua vé chỉ một lần này thôi đã quá nửa số tiền anh em chúng tôi được phát là 95$ tiền vé xe lửa về Saigon và 7$ tiền ăn dọc đường.
Nhìn về phía cổng ra vào của nhà ga. Tôi trông thấy một người lính công an đang đứng gác. Kéo các bạn ra khỏi hàng, vừa đi về phía cổng tôi vừa nói "Công an giữ mình thì bây giờ công an thả mình". Tới trước mặt anh công an, tôi mở lời:
- Chào cán bộ.
- Gì thế! Các anh muốn gì thế?
Giọng nói miền Bắc, có lẽ anh là một công an thuộc ngành hỏa xa được điều động vào làm việc trong Nam.
- Thưa cán bộ, anh em chúng tôi học tập cải tạo được thả từ Huế. Gần một tuần nay, chúng tôi đi đường không còn đủ tiền, xin cán bộ cho ra Qui Nhơn gặp người quen mượn tiền về quê. Tôi trình bày hoàn cảnh và xin được cho ra khỏi ga.
- Có thật anh hết tiền không nào?
- Thật mà cán bộ. Tôi bị kẹt ở Huế cả tuần, chờ tàu Thống Nhất mà không mua được vé nên tiêu hết tiền.
- Còn anh này? Anh công an quay qua hỏi Thành.
- Tui cũng vậy! Cán bộ không tin cứ xét, không nghe nó lầm bầm "Mẹ mày Bắc Kỳ" nữa!
May phước anh công an không hỏi Hùng và Huy. Hai anh chàng này chả bao giờ dám nói láo.
- Các anh nói dối là các anh chết với tôi đấy nhé!
Có lẽ thông cảm hoàn cảnh, anh đưa chúng tôi ra cổng và nói với nhân viên gác cổng:
- Cho các anh này ra.
"Thương người là tính bẩm sinh của dân tôi"
Sau khi ra khỏi ga, chúng tôi kiếm một hàng bánh mì nhét đầy bụng rồi ghé đến một vòi nước công cộng uống cho thật no.
Đêm hôm đó bốn anh em chúng tôi nằm ôm nhau ngủ say như chết trên một vỉa hè của thành phố Qui Nhơn bỏ mặc dòng người qua lại.
Tờ mờ sáng nghe Thành hét lên:
- ĐM! Thằng nào rọc túi tao rồi.
Chiếc áo jacket sờn vai cũ kỹ của Thành bị rọc ở một góc túi, thiệt là hết nói “Ăn xin gặp ăn trộm”.
Chúng tôi kéo đến vòi nước công cộng để rửa mặt rồi trở lại ga Qui Nhơn với hy vọng có tàu xuôi Nam.
Tôi chợt nhớ tới Phan Văn Châu với lời nhắn trước khi được thả ở Cồn Tiên, nhét vào tay tôi tấm giấy xếp nhỏ và nói "Chừng nào về, trên đường xuôi Nam, đến Qui Nhơn, nhớ ghé nhà tao".
Châu cùng học với tôi ở Khoa Học, tôi hỏi nó kỷ niệm nào nhớ nhất khi lần đầu vào Saigon. "Chiếc xích lô máy", Châu trả lời. "Tao vừa xuống xe đò thì một chiếc xích lô máy trờ tới, tao leo lên để đến địa chỉ người quen, thiệt là xanh máu mặt. Tao thấy nó chạy như đâm vô đít người ta, rồi lạng qua lạng lại. Ngồi trên xe tao né qua trái, rồi né qua phải; thằng cha tài xế vừa lái xe vừa nhìn tao, vừa cười sằng sặc. Khỏi có lần thứ nhì!".
Đêm cuối ở trại, trước khi ra về, trao cho tôi chiếc ba-lô mà gia đình nó đem ra kỳ thăm viếng trước đó, Châu nói:
- Ê Minh, hồi chưa quen mày, tao ghét mày lắm!
- Còn bây giờ thì thù tao chớ gì?
- Không, tao thấy mày chơi với bạn thiệt tình ...
"Xin lỗi bạn nhe Châu, tờ giấy xếp tư còn nằm trong đáy bóp nhưng tôi không dám lôi ra, không muốn đến làm phiền bạn. Giờ này bạn ở đâu? Cho gửi lời thăm hỏi!".
Ga Qui nhơn đông nghẹt người nhưng bảng thông báo cho biết không có xe lửa rời ga ngày hôm đó. Chờ đến 9 giờ sáng cũng không có gì thay đổi. Chúng tôi hỏi thăm đường sá và kéo nhau ra bến xe đò. Khi đến nơi thì chỉ còn vài chuyến cuối cùng, chẳng có bán vé gì cả, muốn đi thì cứ móc túi ra trả 55$ một người. Nóng lòng muốn về anh em chúng tôi phải bấm bụng lấy tiền mua vé.
Vượt đèo Cù Mông, vượt cầu Đà Rằng xe phom phom xuôi Nam. Khoảng ba giờ chiều xe đến đèo Rù Rì. Nhìn về phía trại lính trên đèo bị bỏ hoang phế, lại nhớ đến thời gian sau ngày đi chiến dịch chúng tôi được về trú đóng ở đây, rồi thì đến ngõ vào trung tâm huấn luyện Đồng Đế, nơi đã rèn luyện chúng tôi thành một người lính. Ngày nhập trại chúng tôi chỉ vào tượng đồng đen của người lính trước cổng nói đùa "Chừng nào phơi nắng đen như thế này thì mình ra trường..."
Trên ngọn đồi sau trường không còn bức tượng người lính ở đó nữa, dù sao cũng hơn là họ đổi cái nón sắt của anh thành cái nón cối. Mỗi chiều hoàng hôn nhìn lên tượng người lính trắng và ngọn đồi in hình trên bầu trời thì sẽ thấy câu thơ mà ai đã từng ở trường Đồng Đế phải biết:
"Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh"
Xuống xe ở Nha Trang gần bốn giờ chiều, đường phố ướt át và mát rượi sau cơn mưa. Gần sáu năm rồi sau ngày thống nhất đất nước, Nha Trang trông có vẻ tàn tạ, những tấm bảng bích chương, quảng cáo, cổ động vẽ hình các công nhân, bộ đội và các khẩu hiệu "Lao động là vinh quang" mà khi còn ở trong tù anh em chúng tôi thường đùa là "Lao động là vất vả, nằm ngả là vinh quang" trông có vẻ lạc lõng làm sao ấy. Gần sáu năm rồi mà chúng tôi chẳng được nghe thêm một bài hát hoặc một bài thơ mới về cái thành phố miền biển đáng yêu này.
Có lẽ văn nhân, nghệ sĩ đã bỏ bút, bỏ đàn để cầm cày, cầm cuốc đi kiếm ăn rồi, còn ai mà mơ về “Nha Trang là miền quê hương cát trắng, Ai qua không ghi vào lòng một niềm luyến tiếc bâng khuâng”, luyến tiếc gì trong khi bụng không có một hột cơm.
Chúng tôi đi lần về ga xe lửa, gần đến ga thì thấy Ngọc và Hiệp đi về phía chúng tôi.
"Tiên sư mày, giờ này sao còn ở đây. Ông tưởng mày về đến Saigon rồi." Tôi nhìn Hiệp miệng nói lớn. Nó trả lời "Mẹ, nhớ Nha Trang quá ghé lại thăm".
Hiệp cùng học Khoa Học với tôi, gia đình ở Hố Nai, Biên Hòa.
Hiệp kể: “Tao với một thằng bạn, không phải thằng Ngọc này, leo lên tàu Thống Nhất 1 tại Huế lúc ba giờ chiều. Xe đã chạy rồi, hai con nhỏ soát vé vào hỏi vé, hai thằng tao gốc Bùi Chu, Phát Diệm nói giọng Bắc đặc, thế là tụi nó đuổi chúng tao ra lan can. Xe leo lưng chừng đèo Hải Vân thì mưa bão ập vào. Hai thằng tao ướt như chuột lột, tụi tao ngồi rủa "hai con quỉ ác độc". Một lúc sau nghe bên trong có tiếng nói chuyện qua lại, cửa sổ mở ra và một con nhỏ soát vé ló đầu ra hỏi:
- Có phải hai anh là tù cải tạo không?
- Vâng, tụi tôi là tù cải tạo được thả ra ở Bình Điền. Tao trả lời.
Thế là cửa mở rộng, hai nàng tiên kiều diễm lách ra để hai tụi tao vào.
Những người dân miền Nam trong toa nhường chỗ cho tụi tao ngồi, người thì đưa khăn lau, người thì đưa nước uống, có người còn đi mua thức ăn cho tụi tao. Khi tới Nha Trang tao xuống ga, họ ngăn cản, nói là nên đi luôn vì một lần đi là một lần khó khăn. Tao nói là còn một chuyện nợ nần tình cảm ở Nha Trang nên phải xuống để giải quyết. Thằng bạn kia hãi quá không dám xuống."
Còn thằng Ngọc kể: "Ở Huế tao lủi vô một góc, nhìn kỹ không có động tĩnh, tao leo lên toa của những người dân buôn, tao xề xuống chỗ của một bà quấn khăn người miền Nam. Biết tao là tù cải tạo, bà để yên cho tao ngồi. Tàu chạy, tụi nó đến soát vé và đòi tiền phạt, những người dân buôn miền Nam chung tiền góp cho tao, thấy thế nó làm ngơ, thế là tao có thêm ít tiền."
- Thế thì mày xuống đây làm gì, không đi về luôn cho êm chuyện.
- Nhớ Nha Trang quá, sẵn dịp đi ngang ghé lại thăm, hồi tưởng lại quãng đời quá khứ, không biết còn có dịp trở lại nữa không...
Sáu đứa chúng tôi tạt vào một quán nước bên đường, ngồi ăn uống qua loa và nghỉ mệt. Thực sự thì chỉ có bốn đứa tôi cần nghỉ mệt, hai thằng kia có mệt gì mà nghỉ.
Anh chủ quán nghe chúng tôi kể chuyện đường về đâm ra thông cảm, đem tặng cho chúng tôi hai xị rượu thuốc và một ít mồi lai rai.
Rời quán chúng tôi đi dạo vòng quanh thành phố để nhớ lại những địa điểm mà một thời đã hằn dấu trong cuộc đời chúng tôi, những người lữ khách.
Trở về ga thì trời đã tối hẳn, chúng tôi tìm một góc trống ngồi nghỉ chuẩn bị cho ngày mai. Ngọc lôi cây đàn ra, cây đàn đã làm cho tôi và nó bị kiểm điểm nhiều lần về tội hát nhạc vàng. Đêm hôm đó nơi sân ga, nước mắt lưng tròng tôi ngồi hát bài "Nha Trang ngày về" của Phạm Duy. Hùng càng làm cho không khí thêm se lạnh với bài "Đêm Đông" của Nguyễn Văn Thương. Chung quanh chúng tôi khoảng năm mươi người lữ khách ngồi quây quần im lặng thưởng thức, không một tiếng vỗ tay, không một lời tán thưởng. Hiệp, Ngọc và Thành thay phiên đàn cho chúng tôi hát gần hai tiếng đồng hồ.
Anh công an gác ga đi qua đứng nhìn chúng tôi rồi yên lặng bỏ đi. Có lẽ anh đến một góc nào đó trong sân ga để cảm thấy rằng, anh cũng như chúng tôi, tất cả đều là những lữ khách trên chính quê hương Việt Nam đã tàn tạ vì chiến tranh, chia rẽ, hận thù...
Chúng tôi bị thức giấc bởi những tiếng náo động của những người đi buôn tràn vào sân ga sớm lúc 5 giờ sáng. Theo dòng người chúng tôi vòng ra ngoài rồi theo ngả các đường rầy để leo lên đoàn tàu chợ Nha Trang - Saigon. Hùng không muốn mạo hiểm một lần nữa nên xếp hàng mua vé. Còn năm thằng chúng tôi leo lên xe ngồi trước. Khoảng 7 giờ sáng hành khách có mua vé được lên xe. Thì ra những người dân buôn đã chọn trước những chỗ tốt rồi.
8 giờ sáng tàu rời sân ga, chạy đến Cam Ranh thì nhân viên soát vé tàu vào toa của chúng tôi. Trước đó, khi biết chúng tôi là tù cải tạo những người dân buôn vội vàng nhét những bao hàng dưới chỗ ngồi chúng tôi ngồi. Anh nhân viên soát vé sau khi coi xong giấy tờ của tôi thì nói "Chúc mừng các anh, chúc các anh may mắn!" rồi bỏ đi. Anh độ chừng hơn 30 tuổi, chắc cũng có thời là chiến binh miền Nam.
Tàu ghé qua các ga Mường Mán, Hàm Tân, Long Khánh và nhiều ga khác nữa mà tôi không nhớ tên, lòng lâng lâng nghĩ đến lúc về tới nhà chắc bố mẹ tôi ngạc nhiên lắm. "Tam thập nhi lập", bố mẹ tôi đã già, tôi không có dịp phụng dưỡng mà còn là một gánh nặng cho gia đình.
Chúng tôi lót lòng bằng các thức ăn mua trên xe lửa hoặc ở các ga dọc đường. Tôi không cảm thấy đói, mệt gì cả vì nỗi vui mừng sum họp với gia đình đã xóa mất đi rồi.
Đoàn tàu đến Thủ Đức thì trời đã hoàng hôn, song song với đường tàu từ Thủ Đức về Bình Triệu là Quốc Lộ 1. Con đường tôi đã đi lại rất nhiều lần từ thời Trung Học, những ngày đi chơi ở Thủ Đức, Biên Hòa, Lái Thiêu... Tôi còn nhớ những khúc quanh trên đoạn đường này.
Gần đến Bình Triệu xe lửa từ từ chậm lại. Tôi thấy các người dân đi buôn bắt đầu quăng hàng hóa xuống đường. Dọc theo đường là các xe Honda ôm, xích lô, ba gác, ba bánh gắn máy chờ đón để chở đi những hàng hóa mà dân buôn sợ phải đóng thuế khi vào đến ga.
Tôi hỏi một thanh niên trẻ đứng cạnh cửa:
- Chừng nào thì đến ga Saigon?
- Ga Saigon giải tỏa rồi, tàu chỉ đến ga Bình Triệu mà thôi.
- Thế thì chúng tôi xuống đâu?
- Các anh xuống đây tốt nhất, đi xe ôm hoặc xe xích lô về Saigon.
Anh em chúng tôi bắt đầu nhảy ra khỏi tàu, Ngọc, Hiệp, Thành, Huy và tôi.
Chân vừa chạm đất tự nhiên đôi dòng lệ vui mừng trào ra. Tôi đã thật sự đặt chân đến Saigon, nơi mà gần 30 năm trước tôi được sinh ra ở nhà thương Từ Dũ. Nơi mà bố và các anh chị đã đến đón mẹ và tôi ngày ra đời, cũng là nơi mà tôi đã theo bố đến đón mẹ và các em tôi sau này. Nhớ đến ngôi nhà mà tôi đã được dưỡng nuôi từ tấm bé cho đến khi trưởng thành, tôi đột nhiên xúc động.
Bài nhạc "Ngày về" của Hoàng Quý chợt thoát ra từ cửa miệng.
"Tung cánh chim tìm về tổ ấm,
Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm,
Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi, luyến tiếc bao nhiêu ngày qua..."
Chúng tôi 5 đứa nhảy lên một chiếc xe ba bánh gắn máy để đi về Saigon. Xe quẹo trái ở ngã tư Bình Triệu. Từ trên dốc cầu Bình Triệu nhìn về phía Saigon, những hàng đèn sáng rực càng rực sáng hơn lên trong lòng tôi.
"Saigon đẹp lắm Saigon ơi, Saigon ơi!"
Ở cuối con đường này là nhà tôi, gia đình tôi đang chờ đợi...
Những cánh chim tha phương sẽ bay về tổ cũ và mái ấm gia đình, sẽ hàn gắn lại những vết thương đời, chiến tranh, tù tội, xóa đi các vết chàm đã khắc sâu vào thể xác cũng như tâm hồn những niềm đau âm ỉ không nguôi.
Tối hôm đó Hùng về thẳng nhà người em gái ở Phú Nhuận, Huy theo Thành đến trọ nhà người bà con ở Phú Thọ Hòa, Hiệp và Ngọc ở lại nhà tôi qua đêm. Sáng sớm hôm sau Hiệp về Hố Nai - Biên Hòa, Ngọc về Bình Tuy. Hai ngày sau đó Thành về Mỹ Tho, Huy về Vĩnh Bình.
Anh em chúng tôi không gặp lại nhau từ đó. Bây giờ Hiệp ở Santa Ana, Hùng ở San Jose, California, Thành ở Chicago, Illinois. Chỉ buồn cho Ngọc, Ngọc vẫn chưa dứt nợ súng đạn, đã qua đời sau một cuộc đọ súng với cướp khi đang làm việc trong một tiệm Liquor ở Texas. Huy quyết định ở lại Việt Nam chỉ với một ý nghĩ đơn giản "Xin chọn nơi chôn nhau cắt rốn, làm nơi gửi nắm xương tàn".
Còn tôi, ngồi đây với những mảnh đời dở dang được viết ra trên giấy...
MX NGUYỄN NGỌC MINH
Nguyễn Trãi B363
Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến
CUỐI MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
Trong cuộc đời có những khúc quanh hay những chặng đường, lúc đó đời người thay đổi đi lên hoặc đi xuống. Cũng như tất cả những người dân miền Nam, người lính chúng tôi đã phải nổi trôi theo vận nước ở khúc quanh đen tối, đổi đời của toàn thể miền Nam sau sự sụp đổ của Quân Lực VNCH vì những sự điều động bất tài, ích kỷ, nhỏ nhen và không suy tính của những người lãnh đạo vô trách nhiệm.
Sáng ngày 18 tháng 3 năm 1975, như thường lệ tôi lên máy liên lạc với tiểu đoàn thì nhận được lệnh đưa toán CAP trở lại đơn vị.
- Đại Đức đây Mai Sơn.
- Mai Sơn đây Đại Đức.
- Mai Sơn tôi nghe Đại Đức.
- Mai Sơn tự lo liệu cho con cái về nhà bằng mọi phương tiện có thể được.
Thế là tình hình thật căng thẳng rồi. Tôi gọi cho trung đội nghĩa quân thuộc xã Đông Lương và thông báo cho họ biết chúng tôi sẽ chấm dứt liên lạc.
Tiếng người hiệu thính viên của trung đội nghĩa quân chúc tôi trước khi dứt máy.
- Một mùa Xuân, chúc may mắn!
Khoảng 10 giờ sáng toán CAP còn lại 6 người, gọn gàng xuống quốc lộ 1 đón xe đò lỡ từ Quảng Trị vào. Có một ít người dân Quảng Trị biết chuyện đã bắt đầu di tản. Không khí những ngày hôm nay có vẻ lạ lùng vì tin tức thất trận từ Phước Long tháng trước và Ban Mê Thuột tuần qua gây ra những lo sợ, căng thẳng cho người dân trên toàn quốc. Sau vụ để tang Phước Long, vụ bỏ Tây Nguyên, rồi đến tướng Nguyễn Văn Hiếu chết một cách mờ ám là vụ Phong trào chống tham nhũng của Linh mục Trần Hữu Thanh... Toàn miền Nam xuống dốc một cách thê thảm.
Trưa hôm đó chúng tôi xuống xe ở cầu Phò Trạch - Phong Điền, tôi hướng dẫn anh em vào trình diện đơn vị. Bước vào bộ chỉ huy tiểu đoàn, gặp Đại úy Nguyễn Trung Việt - trưởng ban 3, anh nói:
- Lệnh Thiếu tá tiểu đoàn trưởng chỉ thị các anh em ở đại đội nào về đại đội đó, còn ông Minh thì qua nhận trung đội 90 ly, bàn giao trung đội với Chuẩn úy Lắng.
Anh Việt vừa mãn khóa tham mưu trung cấp ở Thủ Đức và anh về thay thế cho Đại úy Đức, thuyên chuyển đi tiểu đoàn khác.
Rời bộ chỉ huy tiểu đoàn, chúng tôi chia tay nhau. Ai nấy bùi ngùi sau hơn một năm sống xa đơn vị và làm việc chung với nhau trong công tác dân sự vụ ở tiểu khu Quảng Trị. Hạ sĩ Cao trở lại trung đội Quân-Y, Trung sĩ I Cát trở về trung đội truyền tin, Trung sĩ Thành - đại đội 1, Hạ sĩ Cứng - đại đội 3 và Hạ sĩ I Đức - đại đội 4.
- Cám ơn tất cả các anh em trong thời gian chúng ta làm việc xa đơn vị, chúc các anh may mắn.
- Chúc Thiếu úy may mắn!
Tôi bước về phía Hạ sĩ Cứng, bắt tay anh và nhắn nhủ đôi lời hỏi thăm về các anh em thuộc đại đội 3 và trung đội 3. Cứng là tiểu đội trưởng tiểu đội đại liên của trung đội 3 thời gian tôi làm trung đội trưởng.
Sau khi chia tay tôi hỏi thăm vị trí của trung đội đại bác 90 ly để đến nhận nhiệm vụ.
Ban chỉ huy của trung đội 90 ly nằm ở hướng Đông Bắc của bộ chỉ huy tiểu đoàn, cạnh quốc lộ 1. Chuẩn úy Lắng, sĩ quan an ninh trật tự, chào tôi, rồi lên tiếng:
- Ông về đây hả, tui đỡ lo. Tụi nó khó nói lắm ông ơi!
- Bác khỏe chứ, bác chỉ giùm tôi khu vực bố trí của trung đội 90 ly.
Tôi theo chân của Chuẩn úy Lắng đi một vòng đến từng vị trí của các tiểu đội, phân đội của trung đội súng nặng.
Sau đó tôi gặp Trung sĩ I Vượng, trung đội phó, anh đang điều động anh em để di chuyển trước một số vũ khí nặng mà chúng tôi chưa dùng tới như đại liên 50 ly phòng không.
Trung đội đại bác 90 ly gồm có một tiểu đội đại bác 90 ly không giật, một tiểu đội đại liên M-60, một khẩu đội hỏa tiễn XM-202, và một khẩu đội đại liên 50 ly phòng không với quân số tổng cộng gần 40 người. Nhiệm vụ chính của chúng tôi là phòng thủ chu vi tiểu đoàn và tăng phái cho các đại đội tác chiến về hỏa lực yểm trợ khi cần thiết.
Vì ở trong tình trạng di chuyển nên chúng tôi được lệnh phải gọn gàng và sẵn sàng, tất cả những vũ khí nặng nề cố định đã được di chuyển trước.
Chiều hôm đó tất cả các đại đội trưởng đến họp tại bộ chỉ huy tiểu đoàn. Sau khi cuộc họp chấm dứt, tôi bước đến gặp huynh trưởng Tăng Bá Phụng khi anh đang trên đường về để điều động đại đội 3.
- À ông Minh, ông về đâu?
- Thưa Đại úy, tôi về trung đội đại bác 90 ly, đại đội chỉ huy.
- Mừng cho ông, chúc mạnh giỏi!
- Cám ơn Đại úy.
- Tôi phải về gấp để bàn giao tuyến cho Biệt Động Quân.
Câu nói của huynh trưởng Tăng Bá Phụng làm cho tôi nghĩ ngay đến tình hình căng thẳng khắp nơi. Trong tuần rồi tôi được tin Thiều, một người bạn cùng khóa thuộc tiểu đoàn 3 TQLC, đã hy sinh khi Việt Cộng tiền pháo hậu xung, tràn ngập đơn vị anh ở An Lỗ. Anh phải xin pháo ngay trên tuyến để ngăn cản các đợt xung phong của địch...
Chia tay huynh trưởng Tăng Bá Phụng, tôi trở lại ban chỉ huy đại đội thì gặp Đại đội trưởng đại đội chỉ huy, huynh trưởng Nguyễn Hữu Bình. Anh Bình người Qui Nhơn, tốt nghiệp khóa 2/69.
Hơn 2 năm trước khi tôi về đơn vị, anh là sĩ quan phụ tá ban 3 của Đại úy Duật. Tháng 5/73 khi huynh trưởng Ngô Kim Anh về đại đội 2 thay thế cho Đại úy Xương thuyên chuyển qua đơn vị mới thì anh Bình nhận chức Đại đội trưởng đại đội chỉ huy và anh được thăng cấp Đại úy vào đầu năm 1975.
- Ông Minh, mời ông ngồi. Huynh trưởng Bình lên tiếng.
- Cám ơn Đại úy.
- Ông nhận bàn giao trung đội 90 chưa?
- Xong hết rồi Đại úy.
- Tiểu đoàn đang bận rộn di chuyển, mình sẽ vào đóng ở đèo Hải Vân, thay thế cho Nhảy Dù di chuyển vô Nam. Ông giúp tôi ngó chừng và giúp đỡ cho thằng Nam bên trung đội 81.
- Tôi biết Đại úy.
- Có gì khó khăn thì ông cho tôi biết.
Ngày hôm sau tôi bắt đầu kiểm soát vũ khí và quân dụng cá nhân của trung đội 90 ly, tôi đã phạt kỷ luật các anh lính ham chơi, bê bối.
Chuẩn úy Lắng nói nhỏ với tôi:
- Tui nói tụi nó không nghe, ông phạt như vầy thì tụi nó mới chịu vô khuôn khổ.
Với trên 20 năm quân ngũ, gia nhập quân đội từ trước 54 và từ Binh II lên đến Chuẩn úy, người miền Nam xuề xòa, dễ dãi, ông Lắng là sĩ quan trật tự của tiểu đoàn, chỉ chăm lo làm tròn nhiệm vụ của mình. Khi đóng quân hay khi đơn vị về hậu cứ, ông có nhiệm vụ kiểm soát các quân nhân thuộc tiểu đoàn rời đơn vị bất hợp lệ hoặc trốn đi chơi. Công việc này làm cho chúng tôi, các sĩ quan trẻ không ưa thích ông mấy khi đi chơi mà bị ông gặp báo cáo về tiểu đoàn. Người nhỏ con, chậm rãi, ít phạt thuộc cấp nên các chiến binh trong đơn vị thường gọi ông là bố Lắng. Những người lính trốn đi chơi bị ông bắt gặp thường bỏ chạy luôn vì ông rượt theo không kịp. Cả một tiểu đoàn lính thay đổi luôn luôn, làm sao ông nhớ hết mặt, hết tên.
Trung đội phó trung đội 90 là Trung sĩ I Vượng người miền Bắc, đạo Thiên Chúa, cũng hiền lành không kém, chịu cực, chịu khó, cứ im lặng làm cho xong công việc. Chẳng thấy anh to tiếng với ai và cũng chẳng thấy anh phạt lính bao giờ. Có lẽ cả hai ông cán bộ đều hiền lành nên lính tráng biếng nhác. Anh Vượng lại bị bệnh lãng tai nên khi ai nói gì cũng phải nghểnh đầu, vận dụng tối đa cái màng nhĩ lủng của mình để cố gắng nghe.
Thời giờ quá cấp bách trong lúc này nên tôi nhờ anh Vượng tập họp những người lính thuộc trung đội 90 ly, ngoại trừ các anh bận gác và đang công tác, lại cho tôi nói chuyện. Tôi trình bày tình hình hiện tại ngắn gọn và yêu cầu các anh giữ đội hình, cố gắng bám sát tiểu đội và trung đội trong khi di chuyển, giúp đỡ nhau đi đến nơi, về đến chốn an toàn vì ai nấy đều phải mang nặng hơn bình thường, chính tôi cũng phải mang một cấp số rưỡi đạn. Mỗi người lính TQLC phải mang vũ khí cá nhân, một cấp số rưỡi đạn, lựu đạn, xẻng, cuốc cá nhân, mặt nạ, ngoài ra anh nào thuộc tiểu đội đại liên M-60 thì mang thêm một dây đạn M-60, thuộc đại bác 90 ly thì mang thêm một trái đạn 90 ly.... Các anh xạ thủ đại bác hoặc đại liên thì nặng sẵn rồi.
Ngày 19 tháng 3/75 hai tiểu đoàn 78 và 79 Biệt Động Quân đến thay thế tuyến tiểu đoàn 7 TQLC và chúng tôi đến thay thế tuyến tiểu đoàn 6 để đơn vị bạn di chuyển trước vào Đà Nẵng.
Sáng ngày 20/3/75 huynh trưởng Bình mời tôi và Nam - Trung đội trưởng trung đội 81 lên họp và nhận bản đồ vùng hành quân mới. Anh cho biết tiểu đoàn 7 sẽ được di chuyển vào Đà Nẵng và trấn đóng khu vực Bạch Mã và đèo hải Vân thay thế cho Nhảy Dù.
Sau đó tất cả đại đội chỉ huy và ban ngành lên xe xuôi Nam về thành phố Huế. Tất cả những người lính TQLC vui vẻ hẳn lên, vô tư và yêu đời thêm, anh này nói đùa với anh kia:
- Chắc mình vô Thành Nội Huế.
- Vô Huế đi ngủ đò sướng lắm, gió mát rượi.
Chúng tôi là một đơn vị có kỷ luật nên nhiều người lính tiểu đoàn 7 TQLC, dù đóng ở Phò Trạch - Phong Điền, An Lỗ, Mỹ Chánh hay Quảng Trị đã 3 năm rồi mà chưa hề được dịp vào thăm thành phố Huế, không mấy người lính được biết về Huế như các thân nhân ở miền Nam thường tưởng tượng.
Theo Quốc lộ 1 xuôi Nam, đoàn xe chạy qua khỏi Cầu Mới thì đổi hướng về phía bến phà Tân Mỹ. Tại bến phà tôi đã thấy các đoàn xe của các đại đội 1, 2, 4 đã và đang tiếp tục đến điểm hẹn. Có tin là chúng tôi phải đợi Thiếu tá Phạm Cang - Tiểu đoàn trưởng và đại đội 3 đến theo đường hương lộ 555.
Tại bến phà các tàu chuyển quân LCM của Hải Quân di chuyển ra vào nhộn nhịp. Trong khi chờ đợi các người lính bắt đầu ăn trưa, cơm sấy và thịt hộp. Lệnh thông báo cho tất cả chiến binh không ai được xuống xe vì mất trật tự và khó kiểm soát, chỉ trừ việc thay phiên nhau đi vệ sinh mà thôi.
Chúng tôi, một toán sĩ quan trung đội trưởng, tụ họp lại hút thuốc, bàn tán về tình hình. Tôi nhớ đại đội 1 có Sơn, Hải cận; Đại đội 2 có Toàn, Uẩn sứt, Đại đội 4 có Thành, Cường, Hùng nhí, và tôi với Nam ở đại đội chỉ huy. Đang đứng nói chuyện thì Trung úy Tạo - Đại đội phó đại đội 1 bước đến với bản đồ trên tay. Nhìn vào bản đồ vùng đóng quân của đơn vị trong khu vực sắp đến mà thấy hoa cả mắt. Quá nửa bản đồ là biển, phần còn lại là những vòng cao độ chằng chịt. Những điểm đóng quân của đại đội chỉ huy mà tôi được huynh trưởng Bình cho biết là dọc theo quốc lộ 1, trên đỉnh Hải Vân, nằm ở cao độ từ 600 đến 700 mét...
Chờ mãi cho đến chiều thì lại được lệnh lên xe trở lại, tôi chỉ thị cho các anh lính điểm danh quân số trên xe của trung đội 90 ly.
Đoàn xe lại bắt đầu chuyển bánh trở về đường cũ, qua cầu sông Hương thì trời bắt đầu tối, cả thành phố Huế đã lên đèn. Theo hướng Bắc trên quốc lộ 1 đoàn xe chạy về hướng Quảng Trị, lần này thì đi thiệt, về qua khỏi cầu Phò Trạch - Phong Điền, cây số 23, cầu Mỹ Chánh, Bến Đá, ngược đường ra Đại Lộ Kinh Hoàng, đến ngã ba Hải Lăng, quẹo phải chạy về Hải Thọ, Hải Thiện hướng đến Hội Yên, quẹo phải ở ngã tư Hội Yên vào hương lộ 555, đoàn xe chạy qua khỏi khu nhà thờ hai nóc Thanh Hương thì dừng lại ở làng Điền Môn.
Đã gần nửa khuya, tôi chia khu vực cho trung đội 90 ly trải quân phòng thủ và quay qua anh Vượng tôi nói:
- Cắt gác ngay nhe anh Vượng.
- Dạ, Thiếu úy.
Quá mệt mỏi nhưng tôi vẫn phải đi một vòng quanh tuyến đóng quân, tiếng các người lính than thở lấy lệ.
- Chạy tới chạy lui mệt quá Thiếu úy ơi!
- Chuẩn bị đi anh em, đây mới là tập dượt mà thôi.
- Thiệt hả Thiếu úy!
- Nhà binh thì lúc nào cũng phải sẵn sàng.
Ngày 21 tháng 3/75.
Tôi bước ra khỏi cái lều căng bằng poncho mà các anh lính trong ban chỉ huy căng tạm tối hôm qua. Vươn vai, uốn mình cho đỡ mỏi, ánh trăng thượng tuần chơi vơi gần lặn ở phương Tây, có lẽ khoảng mùng 8 hay mùng 9 ta. Di chuyển cả ngày hôm qua, ăn ngủ thất thường và mệt mỏi nhưng tôi vẫn không ngủ yên vì đến tuyến mới và tâm tư chộn rộn, chắc khoảng 3 giờ sáng.
Trời tờ mờ sáng, tiếng các anh lính đánh thức nhau dậy đi ra giếng nước rửa mặt và làm vệ sinh cá nhân. Hai anh lính ở ban chỉ huy trung đội 90 đã nấu xong một ấm nước trà. Chúng tôi ăn sáng vội vàng, mấy hôm rày người nóng ran vì bón do ăn ngủ thất thường và thiếu rau cải tươi. Nhìn quanh các anh lính trung đội mà thông cảm hơn, trông ai nấy cũng lo lắng và mệt mỏi.
Sau khi đi một vòng quanh tuyến quan sát vị trí đóng quân, tôi chỉ thị cho các Tiểu đội trưởng sửa lại giao thông hào, dời đổi các vọng gác để dễ dàng quan sát và kiểm soát các đường xâm nhập. Trở về lại ban chỉ huy trung đội, chưa kịp ngồi xuống thì nghe tiếng một anh lính trong ban chỉ huy:
- Dạ chào Bác sĩ.
Quay qua thì tôi nhìn thấy Bác sĩ Giang - Trung đội trưởng trung đội quân-y tiểu đoàn 7 TQLC, anh vừa về đơn vị khoảng vài tuần trước.
- Chào Thiếu úy, ông chỉ cho tôi các giếng nước mà ông múc nước nấu ăn ở đâu?
Tôi gọi anh lính ở ban chỉ huy.
- Mày chỉ cho Bác sĩ giếng nước, Bác sĩ đi tìm giếng múc nước uống hả? Tôi hỏi anh.
- Không, tôi muốn kiểm soát giếng nước và sát trùng các khu vực vệ sinh quanh đây.
Anh Giang là anh của một người bạn khá thân của tôi, Vũ Đức Thanh, ở trung đội 1, đại đội 719 tại quân trường Đồng Đế. Anh cũng là một cựu học sinh Nguyễn Trãi, học trước tôi 3 lớp.
Sau khi anh Giang rời khỏi, tôi rơi vào một giấc ngủ chập chờn vì quá mệt mỏi, trở dậy thì trời đã quá trưa.
Ngồi bên chiếc bàn ăn đóng bằng gỗ thùng đạn pháo binh mà các anh lính ở ban chỉ huy mang về làm chỗ ăn cơm, hút một điếu thuốc cho tỉnh ngủ, tôi quay qua khi nghe có tiếng người bước đến. Một anh lính ở ban chỉ huy đại đội đến chào tôi và nói:
- Dạ, Đại úy mời Thiếu úy lên họp.
Bước theo anh về phía ban chỉ huy đại đội, tôi thấy Thiếu úy Nam đang ngồi nói chuyện với huynh trưởng Bình.
- Chào Đại úy.
Nhìn Nam tôi hỏi:
- Khỏe không Nam?
- Dạ khỏe ông anh.
Hai ngày nay công việc tất bật nên tôi cũng chưa có dịp ghé qua thăm trung đội 81 của Nam.
- Ông Nam có chuyện gì cần thiết, nếu không gặp tôi có thể bàn với ông Minh. Huynh trưởng Bình nói.
- Dạ tôi biết Đại úy.
Và anh Bình bắt đầu phân chia công việc cho chúng tôi.
- Nếu không có gì thay đổi thì kể từ sáng mai, ông Minh chịu trách nhiệm khai thông lộ trình trên hương lộ 555 từ ranh giới đại đội 4 đến đại đội chỉ huy và xuống tới ngã ba dưới kia, chỗ sân vận động. Sau khi họp xong, ông qua khu vực 81 ly góp ý kiến với ông Nam và trong trường hợp tôi đi họp vắng mặt, ông lên đây trực và điều động con cái giùm tôi.
Sau khi chấm dứt cuộc họp, tôi ghé qua trung đội của Thiếu úy Nam, và trở về để cắt đặt công việc của trung đội 90 ly.
Tôi nói với Trung sĩ I Vượng:
- 5 giờ 30 sáng mai anh cho mỗi tiểu đội một người, phòng không hai người, ghé qua đại đội lấy máy rà mìn, rồi tập họp tại đây tôi dẫn đi mở đường.
Mờ sáng hôm sau tôi thức dậy đánh răng rửa mặt, uống một ly cà phê. 6 giờ tôi dắt toán dò mìn, an ninh lộ trình ra hương lộ 555. Đoạn đường chúng tôi kiểm soát dài hơn một cây số. Để ý những điểm cần thiết trên con đường, chúng tôi chậm rãi kiểm soát suốt lộ trình trên hương lộ 555, mất hơn nửa tiếng đồng hồ để kiểm soát đoạn đường.
Chiều hôm đó tôi nhắc Trung sĩ Vượng:
- Ngày mai anh dẫn toán rà mìn, lấy hai người cũ theo lộ trình mà tôi đã dẫn họ ngày hôm nay để đi mở đường.
Tình hình có vẻ yên tĩnh một cách kỳ lạ, hơn một tiếng đồng hồ đi về mà không thấy xe cộ và dân chúng đi lại. Trên đường về các anh lính hỏi tôi:
- Chừng nào ban quân lương vô Thiếu úy?
- Chắc họ chờ tụi mình vô Đà Nẵng rồi phát.
- Đọi quá Thiếu úy ơi!
- Lãnh sớm thì hết sớm chớ gì!
Thời gian này chúng tôi trang bị thật gọn gàng, ba lô luôn luôn sẵn sàng lên vai. Tôi chỉ thị cho trung đội 90 là “Khi hô tập họp di chuyển, phải sẵn sàng trong vòng 5 phút, tất cả những gì không cần thiết thì một là nằm dưới đáy ba lô, hai là nằm trong thùng rác. Không được đi ra khỏi khu vực của trung đội. Nếu đi phải cho anh em cùng tiểu đội biết, nghe có lịnh tập họp là phải sẵn sàng vì chúng ta không có thời giờ chờ đợi..."
Sáng ngày 24 tháng 3, tôi gặp huynh trưởng Bình khi đang đi kiểm soát tuyến phòng thủ.
- Ủa ông Minh, hôm nay không đi thông tuyến đường hả?
- Tôi cắt anh Vượng đi rồi Đại úy, tôi đã báo cho anh ấy làm những gì cần phải làm rồi.
- Ông qua trực đại đội giùm tôi, có gì thì ông điều động anh em, tôi phải đi họp ngay bây giờ.
- Tôi qua bên đó ngay Đại úy.
Chúng tôi ứng chiến 24/24, lúc ngủ tôi cũng mặc quần áo sẵn sàng, chỉ cởi đôi giày cho nhẹ chân, vũ khí để ngay bên cửa của căn lều. Chúng tôi tập thói quen là định hướng trước khi đi ngủ, có gì xảy ra thì đã có chuẩn bị sẵn rồi. Bật dậy, xỏ giày, chụp súng, áo giáp và nón sắt, chạy đến vị trí của mình ở giao thông hào...
Bước trở về ban chỉ huy trung đội, tôi ra lệnh cho đánh thức cả trung đội, ứng chiến tại chỗ, bảo anh hiệu thính viên cho anh Vượng biết tôi đang ở ban chỉ huy đại đội, có gì thì liên lạc ngay với tôi.
Khi tôi qua đến ban chỉ huy đại đội, anh lính cần vụ mang đến cho tôi ly cà phê nóng hổi.
- Cám ơn em.
Ngồi xuống trên chiếc ghế, xoải chân ra, vươn vai và đốt một điếu thuốc, lắng nghe các mẫu đối thoại truyền tin trên tần số tiểu đoàn, các báo cáo, liên lạc, chỉ thị bình thường.
Bầu trời u ám, không có ánh nắng. Vừa hết ly cà phê, tôi rót một ly nước trà, định đốt thêm điếu thuốc, lắng nghe các mẫu đối thoại dồn dập trên hệ thống vô tuyến, cùng lúc có các tiếng súng vọng lại từ xa, thì ra đại đội 2 đang chạm địch, chiến xa T-54 có bộ binh tùng thiết, tiếng vũ khí cộng đồng vang lên từ phía đóng quân của đại đội bạn và tiếng pháo yểm trợ của pháo binh TQLC bay qua trên đầu tạo thành những luồng gió rít rợn người.
Tôi gọi anh lính cần vụ và bảo:
- Em chạy qua 90 ly nói anh Vượng cho tất cả ra giao thông hào ứng chiến sẵn sàng, rồi chạy qua 81 ly báo cho Thiếu úy Nam y như vậy. Cùng lúc tôi bảo anh hiệu thính viên đại đội lập lại chỉ thị trên máy vô tuyến cho tất cả đại đội sẵn sàng.
Tay cầm ống liên hợp máy truyền tin tần số tiểu đoàn, tôi nghe tiếng báo cáo từ đại đội 2 của huynh trưởng Ngô Kim Anh về tình hình lúc đó. Giọng bình tĩnh, anh liên lạc xin yểm trợ và điều động trung đội chạm địch của Thiếu úy Trần Mạnh Toàn. Toàn vui tính, nước da ngăm đen nên chúng tôi thường gọi đùa là “Cốc maru”.
Một lúc sau huynh trưởng Bình trở về từ bộ chỉ huy tiểu đoàn, anh nói với tôi:
- Ông về cho con cái gọn gàng, trong tình trạng di chuyển bất cứ lúc nào.
Xế chiều hôm đó đại đội được lệnh di chuyển ra hương lộ 555, trung đội 81 đi đầu ban chỉ huy đại đội và các ban ngành, trung đội 90 ly đi sau cùng với đội hình hàng dọc, anh Vượng đi với tiểu đội đại liên phòng không, tiếp theo là tổ XM-202, tiểu đội đại bác 90 ly, tiểu đội đại liên M-60 và tôi đi sau cùng.
Có lẽ huynh trưởng Bình chiếu cố tôi nên tôi luôn luôn là người đi sau cùng. Anh nói:
- Ông Minh, tôi muốn ông giữ con cái của mình tới nơi tới chốn đầy đủ...
Chúng tôi di chuyển tới ngã ba nơi mà hàng ngày toán mở đường có nhiệm vụ khai thông, anh đưa tôi đến gặp Trung úy (Phương?) - Chi đội trưởng chi đội thiết vận xa loại được trang bị đại bác 106 ly không giật mà tôi sẽ tháp tùng trên đường di chuyển.
Cuộc hành quân triệt thoái từng chặng bắt đầu suốt đêm 24 tháng 3. Tôi chỉ thị cho tất cả trung đội 90 ly đạn lên nòng, khóa cơ bẩm và sẵn sàng. Tôi phân chia các tiểu đội lên xe và nhắc nhở đếm quân số từng xe, liên lạc và nghe chỉ thị từ tôi và anh Vượng. Đoàn xe di chuyển từng chặng rồi ngừng nghỉ, rồi lại tiếp tục như vậy suốt cả đêm, buồn ngủ và mệt mỏi nhưng chẳng ai dám nhắm mắt vì sợ rớt khỏi xe. Tôi nhắc các anh em 90 ly quay súng hướng ra hai bên đường và đề phòng những cành tre quất trúng...
Sáng ngày 25 tháng 3, đoàn thiết vận xa đang di chuyển trên hương lộ 555 gần đến Thuận An, trên khúc quanh của con đường có một bụi tre lớn, là chỗ dừng chân nghỉ mát của bộ hành trong những ngày nắng gắt. Bóng một người dân chậm chân lẻ loi, cô độc đang gánh một đôi gánh nhẹ tênh, chắc chẳng có gì quí giá trong đôi gánh đó.
Khi đoàn xe đến gần, người bộ hành đứng nép vào một bên đường, bỏ đôi gánh xuống và mở chiếc nón lá ra quạt. Bất chợt người đàn ông ngước nhìn lên đoàn xe của chúng tôi. Ôi! Gương mặt người đàn ông với đôi mắt buồn vời vợi, cả một chuỗi hình ảnh trở lại trong tôi...
Sáu tháng trước đây, vào khoảng tháng 9/74, toán CAP (huấn luyện) được điều động từ Hải Trường đến Hải Thiện để huấn luyện cho hai trung đội Nghĩa Quân 31 và 32 thuộc xã Hải Thọ.
Một hôm tôi được mời tham dự ngày lễ của gia tộc họ Lê, ngồi bên cạnh một ông lão tuổi trạc 60, móm mém, tóc bạc gần như trắng. Trò chuyện với ông một lúc, tôi hỏi ông trước kia có gia nhập quân đội hay không. Ông kể “Vào đầu thập niên 30's tôi là một thiếu niên phải sung công đi Huế để xây dựng lăng Vua Khải Định, mất vài năm thì được trở về làng để tiếp tục đời sống nông dân. Đến giữa thập niên 30's tôi đi lính Khố Đỏ, đóng quân tại Thừa Thiên. Vào đầu thập niên 40's mặt trận Châu Âu trở nên căng thẳng sau khi Đức chiếm các nước như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi... và trở thành một mối đe dọa cho Pháp.
Một hôm đơn vị chúng tôi được tập trung lại và đưa qua Pháp bằng tàu biển. Sau cả tháng trời ói mửa liên tục, tàu cập bến Marseille...”
Thay vì được đưa đến thăm thủ đô Paris “Kinh thành ánh sáng” để được vui chơi du hí, đơn vị ông được đưa đến vùng biên giới Đức-Pháp, khu Alsace-Lorraine.
Nơi đơn vị đóng quân thuộc quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp là những người lính thuộc địa đến từ Á Châu và Phi Châu.
- Bác có được tiếp xúc với những người bạn ở những đơn vị khác không?
- Không có mấy khi được tiếp xúc và nói chuyện đâu.
- Làm sao bác quen công việc?
- Riết rồi cũng quen, thấy họ mần răng, miềng mần rứa, nói thì ít mà ra dấu thì nhiều.
- Bác có được đi chơi, thăm thắng cảnh không?
- Mô mà có, họ nhốt như nhốt tù, mà miềng có biết tiếng Tây mô mà đi chơi.
Đức xé bỏ hòa ước, tấn công tập hậu chiến lũy Maginot và chỉ trong vòng 6 tuần lễ, Pháp thất trận.
- Bầy tui bị bắt làm tù binh cho tới khi đồng minh thắng trận.
Sau khi được trả về Việt Nam và giải ngũ, ông trở lại quê nhà tiếp tục làm ruộng. Chẳng bao lâu thì Việt Minh nổi dậy và toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Ông lại phải sống lưu vong rày đây mai đó vì cái tịch lính Tây để tránh cái bọn du kích Cộng Sản nằm vùng.
Năm 54 ông trở về làng cũ sau khi đất nước bị chia đôi. Vài năm tạm yên ổn thì đến năm 1960, cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra đời... Có lẽ vì đời ông có quá nhiều nỗi truân chuyên nên ông không lập gia đình (tôi không hỏi nhưng thấy ông đi đâu cũng một mình thui thủi).
Năm 72 khi trận chiến mùa hè đỏ lửa nổ ra, ông theo đoàn người tị nạn vào Đà Nẵng.
- Trong trại tị nạn tù túng quá eng ơi! Miềng ở quê quen rồi, ở trong trại lạ cảnh xa nhà, không công ăn việc làm, miềng làm ruộng, làm rẫy quen rồi, nhớ quê, nhớ nhà quá!
Cuối năm 73 đoàn người tị nạn hồi cư, ông lại trở về làng cũ. Tôi gặp ông ở Hải Thiện năm 74. Bây giờ bất ngờ lại gặp ông trên đường triệt thoái, ông vẫn thui thủi một mình với đôi quang gánh nhẹ tênh, gần như chẳng có gì, cũng như cả cuộc đời ông chẳng được gì cho đến khi tuổi đã xế chiều.
Ông xấp xỉ tuổi Bố tôi và có những mốc thời gian tương tự. Đầu thập niên 30's Bố ra Hà Nội học nghề thì ông vào Huế lao động xây lăng Khải Định. Đầu thập niên 40's Bố vào Nam xây dựng sự nghiệp thì ông phải qua Pháp chiến đấu chống Đức...
Nhìn ông tôi lại thấy hình ảnh Bố tôi. Đáng lẽ ở lứa tuổi trên dưới 60 này, ông phải được an hưởng tuổi già, ngồi nhìn đàn con cháu lớn khôn.
Tại sao??? Tại sao ông lại phải đứng đây nhìn theo đoàn quân của chúng tôi đang vội vã bỏ đi với đôi mắt buồn hướng về một phương trời vô vọng, trên gò má nhăn nheo đang chảy dài hai dòng lệ tủi hờn !!!?
Tôi nhắm mắt lại, cảm thấy hai bờ mi cay xé...
Chúng tôi đến cửa Thuận An gần 9 giờ sáng. Anh Bình nói với tôi:
- Ông phải kiểm soát các chiếc ca-nô và bảo đảm họ đưa hết con cái mình qua bờ.
Tiểu đội đại liên và tôi là những người cuối cùng của đại đội chỉ huy qua bến Thuận An.
Những chiếc thiết vận xa M-113 cũng lội qua phá, không biết tại sao hôm đó biển lại có sóng lớn, hai chiếc M-113 trong toán chúng tôi bị nước cuốn, các tài xế phải nhảy khỏi xe để bơi vào bờ.
Tiếp tục di chuyển dọc theo bờ biển về phía Nam khoảng vài cây số, chúng tôi được lệnh dừng lại và xếp hàng từng toán chờ tàu. Anh Bình nhắc tôi đi đôn đốc và kiểm soát các người lính thuộc đại đội chỉ huy, anh phân chia thứ tự lên tàu. Anh nói với tôi:
- Có thể các chiếc LCM sẽ vào bốc tụi mình. Khi lên tàu cũng theo thứ tự như cũ, đừng xáo trộn làm mất trật tự, nhớ kiểm soát đừng để cho các đơn vị khác trà trộn.
Nhìn những chiếc LCM đang lởn vởn trước mặt, các anh lính lại nhỏ to với nhau:
- Kỳ này vô Đà Nẵng thiệt rồi tụi bay ơi!
- Chắc ói mửa dữ nhe, tao chưa được đi tàu lần nào.
Các đợt sóng đuổi theo nhau vào bờ cát, nước thấp và gió mát làm tôi ngủ gà ngủ gật trong khi chờ tàu. Dọc theo bờ cát có đủ các đơn vị quân đội như Biệt Động Quân, Bộ Binh, Cảnh Sát... Có cả các gia đình của họ cũng đi theo để mong lánh nạn.
Cách bờ một khoảng về phía Nam là một chiếc Dương Vận Hạm loại LST. Có một số người cố gắng bơi ra các chiếc LCM nhưng bị sóng nhồi phải bơi trở vào.
Chờ đến quá trưa thì được lệnh phải di chuyển về hướng Nam để bắt tay với các tiểu đoàn bạn thuộc lữ đoàn 147. Lần này huynh trưởng Bình lại cắt 90 ly đi đầu do anh Vượng hướng dẫn, rồi tới ban ngành và ban chỉ huy đại đội, cuối cùng là trung đội 81 và tôi.
Anh nói:
- Ông Minh, tôi muốn ông là người đi sau cùng của đại đội và không có ai bị rơi rớt sau ông.
Chúng tôi tiến về phía các đồi dương chứ không đi dọc theo bãi biển. Đang di chuyển được chừng một tiếng đồng hồ thì có tiếng nổ chát chúa của đạn AK từ phía Nam vọng tới, dân chúng và các đơn vị khác bám theo chúng tôi chạy tán loạn. Các binh sĩ chạy tản mác ra chung quanh để tìm chỗ ẩn núp. Lòng tôi nóng như lửa đốt, chạm địch trong tình cảnh này thì ai sẽ điều động trung đội 90 ly. Tôi chạy vội lên bắt kịp Nam và trung đội 81. Tôi nói với Nam:
- Cho trung đội dàn hàng ngang hướng về phía trong làng, cẩn thận và không được bắn nếu không thấy rõ địch vì có thể bắn lầm đơn vị bạn.
- Còn ông anh?
- Tôi phải dzọt lên để điều động trung đội 90 ly.
Trong lúc chạy lên phía trước tôi nghe tiếng Nam đang ra lệnh cho 81 bố trí đội hình.
Bám theo những hàng dương tôi chạy lên phía trước, khoảng hơn 200 mét thì nghe tiếng gọi của một người lính.
- Trung đội 90 đây Thiếu úy!
- Mày ở tiểu đội nào? Anh Vượng đâu?
- Dạ, em ở toán XM-202, em không thấy ảnh đâu.
Nép vào một thân cây to, tôi nhìn vào phía trong làng. Phía trước mặt yên tĩnh, thỉnh thoảng có vài bóng người dân mặc thường phục hoặc vài người lính bộ binh đang nấp sau những thân cây quanh đó. Nắng chiều xuyên qua đồi dương làm thành những vệt sáng loang lổ trên bãi cát. Nhìn quanh tôi thấy khoảng hơn chục người lính thuộc trung đội 90 ly. Tôi chỉ tay ra dấu cho họ bám các gốc cây, hướng súng vào phía trong làng và bắt đầu lên tiếng gọi:
- Tất cả trung đội 90 ly hướng súng vào phía trong, không được bắn khi chưa có lệnh. Bên tay phải tôi là đại liên M-60 rồi tới XM-202, bên tay trái tôi là 90 ly rồi tới đại liên 50. Năm phút sau chúng tôi đã làm thành một hình cánh cung. Kiểm soát quân số chúng tôi mất 6 người, trong đó có anh Vượng và người hiệu thính viên.
Tôi nói với hai người lính bên cạnh:
- Tụi mày chạy ra phía sau tìm Trung sĩ Vượng và ban chỉ huy đại đội, gọi anh Vượng lên đây ngay.
Sau khi chúng tôi bố trí xong thì có khoảng gần 20 người vừa dân sự lẫn quân nhân chạy bổ vào phòng tuyến. Các anh lính lên đạn, tôi hét lớn:
- Không được bắn!
Quay về nhóm người này, tôi nói:
- Các ông điên à, sao lại chạy vào đây?
- Dạ, trong làng phía trước mặt có Việt Cộng.
Tôi bảo các người lính đưa họ ra phía sau vì nếu họ ở trong phòng tuyến chỉ thêm một gánh nặng.
Gần nửa giờ sau hai người lính trở lại báo cáo đã gặp anh Vượng và các người khác ở ban chỉ huy đại đội. Khẩu lệnh của Đại úy Bình chỉ thị tôi đưa trung đội 90 ra bãi biển. Theo thứ tự từng tiểu đội di chuyển, chúng tôi đến bãi biển thì trời đã tắt nắng.
Đến gặp anh Bình và theo anh đến nhận tuyến phòng thủ trên một đồi cát nhỏ nơi có chiếc miếu thờ của những người dân làng chài Thuận An.
- Ông cho con cái bố trí chỗ này, bắt tay với trung đội 81, nhớ coi chừng giùm thằng Nam, nó bị thương rồi.
- Nó bị ra sao Đại úy?
- Cũng nhẹ thôi, bị thương vô bắp vế.
Từ ngôi miếu nhỏ về phía Nam, trung đội 90 ly dàn thành một hàng ngang và bắt đầu đào các hố chiến đấu, cái này cách cái kia một sải tay. Sau đó trung đội 81 ly đến nhận tuyến từ cái miếu về phía Bắc, bọc cong theo những bờ cát có những cây dứa dại. Đào hố chiến đấu xong thì trời tối hẳn. Ai nấy cũng cảm thấy ngứa ngáy khó chịu vì mồ hôi, bụi đường, và hai ngày qua di chuyển không ngừng nghỉ. Ngứa nhưng chẳng ai dám tắm vì nước biển rít và khó chịu nếu không có nước ngọt để tắm lại cho sạch. Một anh lính xuống biển múc cho tôi một nón sắt nước để rửa mặt và tay chân.
Ăn cơm xong thì trời đã gần khuya, trăng treo lơ lửng trên đỉnh đầu. Nhìn ra biển thấy các tàu Hải Quân lờn vờn ngoài khơi mà chẳng thấy động tĩnh gì cả. Anh hiệu thính viên trải chiếc poncho trên bãi cát và nói:
- Thiếu úy nằm nghỉ cho đỡ mệt, có gì em kêu Thiếu úy liền.
Tôi gọi anh Vượng cách đó một chục hố, nhắc anh cắt gác và kiểm soát anh em. Nhìn vào hướng làng, tuyến phía trước là khu vực của đại đội 4. Một sự yên tĩnh lạ kỳ đang đè nặng lên chúng tôi. Ngồi xuống trên tấm poncho, đốt một điếu thuốc, hít một hơi thật dài, đầu óc chất chứa quá nhiều lo lắng khiến tôi chẳng nghĩ ngợi được gì. Dập tắt điếu thuốc, tôi thả người trên chiếc poncho, ráng chợp mắt một chút nhưng không ngủ được. Quay qua anh hiệu thính viên bên cạnh, tiếng anh ngáy ngon lành. Tôi nói thầm "Mẹ, vậy mà mày kêu tao ngủ, có gì thì kêu tao liền...".
Càng về sáng càng nhiều sương mù và gió lạnh, không biết đã mấy giờ, thời gian trôi qua một cách nặng nề. Tôi cũng không muốn liên lạc gì với đại đội vì cũng chẳng biết gì để mà hỏi, chỉ chờ đợi.
Trăng vừa lặn thì phương Đông trời cũng bắt đầu ửng hồng, xuyên qua màn sương mờ, ánh đèn tàu di chuyển và tiến vào bờ. Một chiếc tàu loại LCM tiến vào trước và đón xong đợt các binh sĩ bị thương, bộ chỉ huy lữ đoàn 147 và một số các đơn vị bạn gần đó. Chiếc LCM thứ nhì bị mắc cạn vì số người tràn lên quá nhiều, họ tranh giành giẫm đạp lẫn nhau. Bất ngờ một hỏa tiễn tầm nhiệt từ trong bờ bắn ra trúng vào tháp chỉ huy của tàu, thế là hỗn loạn nổi lên. Tôi không trực tiếp nhìn thấy cảnh này vì ở xa bờ, chỉ được nghe các người lính chạy thoát ra khỏi chiếc tàu kể lại khi chúng tôi bị đưa vào căn cứ La Sơn sau này.
Nghe tin tàu vào đón người, một số đơn vị bỏ tuyến chạy ra bãi biển. Bắc quân truy kích và bắn vào phòng tuyến của chúng tôi. Khi Bắc quân tràn qua bãi cát trống tấn công các đơn vị bạn thì gặp sự kháng cự của chúng tôi. Những viên đại bác 90 ly buộc toán Bắc quân truy kích phải rút trở lại trong làng, bỏ lại hàng chục xác trên bãi cát. Chúng tôi chưa kịp mừng thì hàng loạt cối tới tấp rơi vào trung đội 90 ly. Tiếng đạn nổ hàng chập đó đây, tiếng những cành dương gãy, tiếng hò hét xung phong của Bắc quân. Binh I Nam theo hướng tay tôi chỉ, rải những tràng đại liên về phía bờ làng, tôi nghe tiếng la hét, chửi bới của những người lính Bắc quân, và rồi cối lại dồn dập trút xuống trung đội 90 ly. Tôi và Nam - Xạ thủ đại liên bị thương trong trận pháo lần thứ hai này.
Chiều hôm đó sau khi được băng bó ở ban quân-y, tôi bước qua từ giã người xạ thủ đại liên M-60 gan dạ của mình. Mặc dù đang nằm mê man nhưng dường như Nam vẫn cảm nhận được từ tôi tình thương của một người anh, một chiến hữu. Những mảnh băng quấn trên đầu Nam đã thấm giùm tôi những dòng nước mắt.
Bước ra khỏi lều của ban quân-y với một thể xác mệt mỏi, một tâm tư chán chường trống rỗng, tôi chợt nghĩ "Giờ này chẳng còn ai, ngoại trừ các đồng đội của mình". Gần tới khúc quanh để bước lên đồi cát, tôi gặp Thiếu tá Phạm Cang - Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá Lê Quang Liễn - Tiểu đoàn phó đang đứng nói chuyện. Anh Cang lên tiếng hỏi tôi:
- Minh bị thương hồi nào vậy?
- Tôi bị miểng pháo sáng nay Thiếu tá.
- Nếu bị thương sớm có thể đã được tải thương sớm sáng nay rồi.
- Cám ơn Thiếu Tá.
Tôi chào hai anh rồi bước lên đồi cát. Có thể nhờ vào mũi thuốc của ban quân-y hoặc là do cái tâm lý là mình vẫn còn các đồng đội đang chờ đợi, tôi cảm thấy bình tĩnh hơn, men theo các bờ cát, tôi bước lên đồi, định hướng trung đội 81 vì phía này có ngôi miếu và các chướng ngại vật thiên nhiên che chắn, ngăn cản tầm nhìn của các xạ thủ bắn tỉa Bắc quân.
Nhìn thấy cái miễu và những gốc cây dương nơi hai trung đội 81 và 90 ly phòng thủ, tới khoảng cách chừng 20 mét, tôi lên tiếng gọi lớn:
- 90 ly, 81 ly.
Vài người lính nhìn về phía tôi. Tôi ra dấu cho họ xích ra, chừa một khoảng trống trong giao thông hào ngay trước mặt để cho tôi có chỗ nhào xuống trong trường hợp địch quân nhắm bắn. Chỉ có chừng 5 giây đồng hồ để vượt một khoảng 20 mét đó, nhưng là cả một cuộc đời.
Hai anh lính dang ra và ra dấu “clear”.
Không hiểu tại sao tôi lại rất bình tĩnh và chạy nhanh như một lực sĩ điền kinh, tiếng đạn địch xé gió trên đầu “chíu” “chíu” khoảng 3 mét cuối cùng, tôi nhào vào giao thông hào. Người tôi đập vào bờ cát với một cảm giác vui mừng, khoan khoái và tự tin vì chung quanh tôi là những người chiến hữu.
Hai anh lính của trung đội 81 phủi bụi cát bám đầy trên người tôi, vừa cười vừa hỏi:
- Sao Thiếu úy không nằm nghỉ dưới đó?
- Mày nói điên, dưới đó toàn là đui què sứt mẻ, biết nói chuyện với ai, trên này vui hơn.
Anh bật ra cười ha hả, nhe hàm răng thiếu mất một cái răng cửa. Anh lính còn lại đốt cho tôi một điếu thuốc và hỏi:
- Thiếu úy bị thương nặng không Thiếu úy?
- Gà mổ vào mặt thôi, tỉnh rồi.
Các anh lính ùa lại thăm hỏi tôi.
- Tao còn đang sống nhăn răng, coi chừng tụi chuột kìa.
Một anh khác bước đến đưa cho tôi bao gạo sấy và một hộp thịt đã mở sẵn, tôi cố gắng đẩy vào họng mình 3,4 muỗng cơm khô khốc. Với tay cầm bình nước anh đưa đến đã gần cạn, tôi làm một hơi cạn luôn và trả lại bi-đông cho anh.
Hút xong điếu thuốc, cảm thấy tinh thần sảng khoái, tôi bắt đầu công việc của mình.
Leo qua đoạn giao thông hào kế tiếp của trung đội 81, tôi thấy xen kẽ với các người lính 81 là một số lính thuộc đại đội 4 và vài anh thuộc tiểu đoàn 5 TQLC, các anh này đã chạy xuống đây sáng nay khi tuyến trên bị vỡ. Bước đến gần Nam, tôi hỏi:
- Sao, Nam bị thương nặng không? Lúc nào vậy?
- Chiều hôm qua sau khi anh chạy lên phía trước. Còn anh bị nặng lắm không?
- Một miểng nhỏ thôi, vào mặt.
- Nam bị thương chỗ nào?
- Bắp vế anh à! Nhưng không sao, còn đi được.
Tôi thông báo cho các anh em về tình hình hiện thời ở dưới bãi cát bờ biển, nhắc nhở các anh em tiết kiệm đạn, chỉ bắn khi nào nhìn thấy địch mà thôi. Mặt đối mặt chiến đấu anh dũng hơn là chạy đưa lưng làm bia cho địch.
Tôi đi trở về trung đội 90 ly và rất mừng vì hầu hết trung đội vẫn còn nguyên vẹn, trừ tôi và anh xạ thủ đại liên M-60 bị thương mà thôi.
Trăng vừa lên, trời vừa chập tối khoảng 7 giờ, nhiều tiếng người và tiếng động vang lên từ bãi biển, tôi gọi anh lính cạnh bên nói:
- Mày xuống coi có chuyện gì rồi lên nói cho tao biết.
- Dạ, Thiếu úy.
Anh lính nhảy lên khỏi hố và chạy xuống bờ biển. Năm phút sau anh chạy trở lên và gọi tôi.
- Thiếu úy ơi! Họ dzọt hết rồi.
Tôi quay qua gọi anh Vượng và các anh em trong trung đội 90 ly.
- Tất cả anh em 90 ly, bỏ tất cả những gì không cần thiết.
Tôi bước đến gần Nam và nói:
- Họ đi hết rồi Nam, tính sao đây?
- Ông anh quyết định giùm đi.
Tôi nói với các người lính trung đội 81 ly:
- Bây giờ dưới kia đi hết rồi, các anh có muốn đi hay ở lại thì tùy các anh.
- Thiếu úy cho dzọt chưa Thiếu úy?
- Bây giờ các anh có thể đi rồi.
Những người lính ở phía trung đội 81 ly bắt đầu nhảy ra khỏi giao thông hào, tôi quay về phía 90 ly và nói:
- Các anh em tan hàng, chúc may mắn!
Các người lính ở trung đội 90 ly chạy theo trung đội 81 ly ào ào xuống bờ biển. Nhìn thấy Nam còn ngồi với hai người lính ở ban chỉ huy trung đội 81 ly, bên cạnh là chiếc máy PRC-25 đã im lặng vô tuyến, chiếc máy PRC-25 của trung đội 90 ly bị trúng pháo bất khiển dụng, còn của trung đội 81 ly, tại sao Nam cắt đứt liên lạc với đại đội?
- Thôi mình đi chứ Nam, tôi lên tiếng.
- Dạ, ông anh cứ đi trước.
Không biết Nam quyết định gì lúc đó. Tôi quay người chạy nhanh xuống bãi biển, vừa chạy vừa suy nghĩ "Tại sao Nam bị thương từ tối hôm qua mà sáng hôm nay không được tải thương theo tàu Hải Quân? Nam bị thương ở bắp vế làm sao mà chạy được? Có phải tôi đã ích kỷ cho anh em bỏ chạy trong khi Nam bị thương không?". Tôi tự an ủi “Cả một Quân Đoàn 1 tiền phương còn bỏ chạy thì mấy chục anh em tôi làm được gì?”.
Ba mươi năm rồi chẳng nghe được tin gì về Thiếu úy Nam - Trung đội trưởng trung đội 81 ly, tiểu đoàn 7 TQLC. "Trông tin Nam"
Khi tôi và các người lính 90 ly chạy xuống tới bãi biển thì Thượng sĩ Ẩn - Thường vụ đại đội chỉ huy và hai anh lính thuộc đại đội chỉ huy còn đứng đó.
- Sao còn ở đây anh Ẩn, dzọt hết rồi hả?
- Tụi tui được lệnh chờ ông đây, Thiếu úy. Họ chạy cả nửa tiếng rồi. Tụi tui kêu quá mà không ai nghe cho đến khi một đứa do ông sai xuống đây chắc ông mới biết.
Chúng tôi nhập lại thành một đoàn chạy xuôi theo bờ biển về hướng Cửa Tư Hiền. Gió mát và tâm tư rối loạn trong đầu khiến tôi chẳng để ý gì nữa, chạy theo đoàn như một kẻ mộng du.
Tiếng Thượng sĩ Ẩn căn dặn hai người lính:
- Hai đứa mày chạy hai bên ổng, có gì thì dìu ổng đi.
Có lẽ anh ta sợ tôi bị vết thương hành, đuối sức chạy không nổi, nên anh chạy ngay sau lưng tôi.
- Khỏi lo anh Ẩn, tui còn khỏe mà.
Chạy được một đoạn, quá nặng trên đầu và nóng hầm hập, tôi vứt cả áo giáp và nón sắt, những người lính vây quanh tôi. Tôi nghe thoang thoáng đâu đây tiếng súng nổ, tiếng kêu réo gọi nhau hòa lẫn tiếng sóng biển.
Chúng tôi lại tiếp tục chạy, rải rác đó đây có những người lính ngã gục, chỗ thì từng toán chết nằm, chết ngồi. Những người này đã từng là chiến hữu của tôi đó. Tôi lặng người nhưng cũng không còn cảm giác nữa vì chính tôi bây giờ cũng là một kẻ đang dở sống dở chết mà thôi.
Nhìn lại phía sau lưng, một đoàn dài những kẻ đuối sức đang ráng bươn chải, hy vọng chạy cho thoát cái chết chóc đang gần kề, trong một sự sợ hãi đến tuyệt vọng.
- Chắc cũng gần tới Cửa Tư Hiền rồi. Anh Ẩn nói.
- Liệu anh bơi qua Cửa Tư Hiền nổi không?
- Một liều ba bảy cũng liều ông ơi!
Tôi nở một nụ cười thảm não thầm nghĩ "Bọn mình như cá trong rọ rồi".
Ánh trăng chênh chếch rọi vào từ hướng biển, ánh sáng nhảy múa đung đưa trên những ngọn sóng trông thật thảm não. Trăng trong thơ và nhạc sao trữ tình quá, còn trăng thực tại của những người chiến bại sao đầy buồn nản và tuyệt vọng!
Thời gian như dài ra vô tận theo nỗi ê chề trên đoạn đường tháo chạy nhục nhã của chúng tôi. Tôi nghĩ rằng hàng chục ngàn người lính trên bãi Thuận An đêm nay không ai biết được có một cuộc “di tản chiến thuật” lạ lùng đến như thế. Hình như chúng tôi được gom tụ lại đây để được bàn giao cho tiện việc sổ sách.
Đôi giày mua trong khu dân sinh Saigon làm thốn cả đôi chân, tôi chạy chậm lại rồi tháo vứt bỏ cả giày vớ. Cát ẩm mát lạnh dưới chân làm cho tôi tỉnh hẳn lại, chung quanh trên bãi biển, quần áo, giày dép, ba-lô v.v.. vứt bỏ bừa bãi cả một đoạn đường dài. Nếu lúc đó mà có ống kính ghi lại cuộc tháo chạy thảm thương này để mà xem thì chắc phải cười ra nước mắt.
Nhìn những người lính trẻ vô tư chạy quanh tôi, vừa chạy vừa sợ hãi nhưng vẫn hồn nhiên cười đùa, chẳng hề nghĩ đến và biết đến chuyện gì sẽ xảy ra.
- Đ.M., chạy làng anh em ơi!
- Một, hai, ba chúng ta cùng chạy.
Tôi cười to làm động đến vết thương bên má phải bị miểng pháo ghim hồi sáng đau điếng, máu lại rịn ra.Tôi tự hỏi không biết mình có đủ sức chạy tới Đà Nẵng hay không? (Chẳng có gì phải xấu hổ khi hôm nay tôi ngồi viết lại cuộc chạy làng thảm thương này).
Khoảng 9 giờ tối thì đoàn người khựng lại, có tiếng súng nổ phía trước và có vài người chạy ngược lại về phía chúng tôi. Đúng là tình cảnh cá nằm trong rọ chẳng biết đường nào ra.
Đoàn người lại xua nhau chạy về phía trước nhưng không xong. Tiếng AK nổ từng tràng chát chúa và ánh đèn pin chiếu loang loáng làm cho cả một dòng người khựng và dừng hẳn lại. "Cùng đường rồi". Lời ai nói đó có phải của tôi không?
Tôi lắc đầu ngồi bệt xuống bãi cát. Những người lính vây quanh tôi.
- Anh em mình phải cố gắng lo cho nhau, đừng làm điều gì dại dột, thiệt thân.
- Bây giờ mình làm gì, Thiếu úy?
- Anh em nào còn súng và lựu đạn thì quăng hết xuống biển đi.
Thượng sĩ Ẩn và những người lính đi về phía biển và quăng hết vũ khí xuống nước.
"Những người lính chiến chúng tôi, những con người bình thường vào sinh ra tử, chúng tôi không phải là anh hùng và chẳng có gì phải hổ thẹn..."
Nhớ tới câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên:
"Đời vốn chẳng nương người thất thế
Thì thôi ô nhục cũng là danh"
Sao những người lính miền Nam phải chịu một kết thúc bi thảm như thế này!
Bây giờ ngồi nghĩ lại, thấy miền Nam từ Tổng Thống, Thủ Tướng, Tổng Trưởng, Thứ Trưởng, Tướng Tá cao cấp hèn nhát bỏ chạy, vứt cả cờ quạt, mang theo tài sản cùng gia quyến thoát thân, bỏ mặc hàng triệu người lính chúng tôi trong lao tù Cộng Sản, còn thê thảm nào bằng!
Họ còn tư cách gì mà bày đặt viết hồi ký, bắt đầu bằng những cái "TÔI". Sao không bắt đầu bằng những cái "TỒI"?
Điều luật của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là:
"Đào ngũ khi đối diện với địch quân. Tử hình...".
Vậy Tổng Thống, Thủ Tướng, Tướng Tá cao cấp đào ngũ, trốn chạy khi địch quân chưa tới, bỏ cả một triệu lính thuộc cấp, bỏ cả 20 triệu dân miền Nam thì xứng hợp với tội gì...?
Người dân quê hương tôi luôn rộng lượng đối với những kẻ bỏ chiến hữu, bỏ đồng bào này để cho họ sống trong nỗi nhục nhã của những tên đào ngũ trước địch quân. Nếu họ đừng khua môi múa mép làm trò Sơn Đông mãi võ, núp dưới chiêu bài giả hiệu, để tiếp tục lường gạt các người Việt tha hương, cũng như còn kẹt lại tại quê hương trong nghèo đói, làm nhục nhã tập thể những người lính chiến đấu cho tới giờ phút cuối cùng, để bị Việt Cộng trói quặt khuỷu cánh tay ra sau như anh em chúng tôi.
Chúng tôi bị bắt buộc ngồi tại chỗ hàng tiếng đồng hồ. Trăng bắt đầu lên cao, gió thổi mạnh, chúng tôi thấm lạnh, nhưng nỗi lạnh bên ngoài chưa bằng cái buốt lạnh trong tâm tư.
Vài người hô lớn lên:
- Lạnh quá anh bộ đội ơi!
- Cho đi lấy quần áo đi các anh ơi!
Họ ra lệnh cho những người lính thất trận chúng tôi xếp thành từng hàng. Đoàn người xáo trộn hẳn lên, người này gọi người kia, hỏi thăm các bạn thân còn mất.
Một anh lính Bắc quân nói thật lớn tiếng:
- Tất cả anh nào là Sĩ quan hãy bước ra khỏi hàng.
Một sự im lặng đột ngột và dùng dằng trong đoàn người tù binh.
- Tôi lập lại, tất cả các anh nào là Sĩ quan ra xếp hàng ở bên tay trái tôi.
Dòng người bắt đầu chuyển động, các Sĩ quan miền Nam bắt đầu bước ra khỏi đám đông. Những người lính vây quanh tôi lên tiếng:
- Ông đừng đi ra khỏi hàng, Thiếu úy.
Tôi im lặng bước ra khỏi đoàn người đến xếp hàng với những sĩ quan chiến bại của miền Nam.
Sau khi ngồi xuống đất, tôi lấy tay đào một lỗ dưới cát và chôn tất cả giấy tờ tùy thân, thẻ bài để chấm dứt một chặng đường binh nghiệp...
Quay qua nhìn các người bạn không quen chung quanh, tôi phân vân chẳng biết mình đang làm gì? Có lẽ chúng tôi, những người lính chiến đã hoài phí cả một tuổi thanh xuân của mình cho tham vọng ích kỷ của những người lãnh đạo, để được trả lại bằng "Ôi! Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi", và những năm tháng lao tù đang đợi chờ trước mặt. Ngẩng nhìn lên bầu trời cao, vầng trăng gần tròn trên đỉnh đầu, giờ này chắc đã nửa đêm.
Các toán du kích và các anh Bắc quân đem dây cước làm lưới đánh cá, trói quặt cánh khuỷu tay anh em chúng tôi ra sau "những người chiến bại", "những con cá nằm trên thớt!".
Nuốt lấy tiếng thở dài uất ức, tôi tự an ủi mình "Việc gì tới rồi cũng sẽ tới..."
Tôi viết bài này để nói rằng, những người lính tác chiến chúng tôi dù thua cuộc, dù tù đày nhưng vẫn hiên ngang trước những cư xử đầy ác cảm, đôi khi hận thù của một số người anh em ở bên kia chiến tuyến.
Chúng tôi không phải là anh hùng, chúng tôi là những kẻ sa cơ bị bỏ rơi. Chúng tôi càng không phải là những kẻ hèn nhát, đào ngũ khi đối diện với địch quân mà giờ này, nơi này họ lại khua môi múa mép, lợi dụng danh nghĩa của người lính làm những trò tồi bại.
Hàng ngàn, hàng trăm ngàn chiến hữu, thương phế binh QLVNCH bị bỏ rơi, còn kẹt lại tại quê hương trong đói nghèo. Nếu không giúp được họ thì xin đừng lợi dụng danh nghĩa của họ để làm điều xằng bậy...
Kính tặng tất cả những chiến hữu quen biết hoặc không quen biết, đã hy sinh hay còn sống sót trên bãi biển Thuận An đêm 26 rạng ngày 27 tháng 3 năm 1975. Kính tặng tất cả những người lính chân chính của QLVNCH. Những "Chiến Sĩ Vô Danh" không phải những kẻ "Hữu Danh Vô Thực".
*****
- Phần 6
NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN - TÌM VỀ NGUỒN CỘI
Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam, nhưng từ bé Bố đã kể cho tôi nghe về một miền quê nghèo với cuộc sống cần cù lam lũ của người dân miền Bắc, những hình ảnh đó và câu chuyện sau đây càng làm cho tôi mến yêu quê cha đất tổ.
Rời quê nghèo đầu thập niên 30's lên Hà Nội tìm kế sinh nhai và học lấy một nghề chuyên môn như ông bà ta thường nói “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Đến đầu thập niên 40's, để mẹ và hai anh tôi ở lại quê nhà, Bố tôi vào Nam lập nghiệp. Sau gần mười năm xa cách, Bố Mẹ tôi đoàn tụ, anh chị em chúng tôi tiếp tục ra đời và lớn lên ở miền Nam.
Thuở bé tôi học tại trường tiểu học Trương Minh Ký, sau đổi thành Nguyễn Thái Học, Trung học tại trường Nguyễn Trãi, sau đó là Đại học Khoa Học Sài Gòn.
Như hầu hết các thanh niên thời chiến, năm 1968 sau trận Tết Mậu Thân chúng tôi phải làm quen với súng ống qua chương trình Quân Sự Học Đường. Bị động viên vào đầu năm 1972 mùa hè đỏ lửa, tôi khoác lên người bộ áo rằn ri sọc ngang Thủy Quân Lục Chiến, trấn đóng tuyến đầu Quảng Trị cổ thành cho đến đầu năm 1975, từ giã màu áo hoa rừng để tròng vào người bộ áo tù sọc dọc, còn được gọi là quần áo sọc dưa, từ đó được học thêm nhiều điều cay đắng cũng như những sự nhẫn nại và chịu đựng trong đời.
Từ Thuận An về căn cứ La Sơn, ra cây số 17 Phong Điền đến Lao Bảo Khe Sanh, về Cồn Tiên Ái Tử, và cho đến cuối tháng 9 năm 1977, một buổi sáng vào Thu, trên đoàn xe Molotova khoảng 20 chiếc hướng về phương Bắc trên Quốc Lộ 1, hơn 400 anh em chúng tôi thuộc đoàn 76 cải tạo (tù ngụy) được đưa ra Bắc trong công tác lao động xã hội chủ nghĩa, vét đập Đô Lương, tỉnh Hà Tĩnh và khai quang lòng hồ sông Mực, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Nhìn những ánh mắt ngỡ ngàng thương xót của người dân miền Nam, dõi theo đoàn xe chở chúng tôi ra Bắc, anh em chúng tôi đâm ra xốn xang lo lắng, có lẽ họ linh cảm một điều bất hạnh nào đó sẽ đến với chúng tôi.
Qua khỏi thị trấn Đông Hà, đoàn xe tiến đến cầu Hiền Lương, một chiếc cầu nhỏ bắc ngang sông Bến Hải trên vĩ tuyến 17.
Chiếc cầu trở thành nổi tiếng trong lịch sử vì đã là một địa điểm mà các thế lực từ thực dân Pháp, tư bản Mỹ đến cộng sản Nga Hoa đã dùng để chia cắt dân tôi hơn 20 năm. Xe bắt đầu lên cầu, nước sông Bến Hải trong xanh nhưng tôi cảm thấy một luồng khí lạnh thấm vào hồn. Cầu Hiền Lương theo tôi nghĩ nên được đổi tên là cầu Thê Lương vì nó đã ngăn cách Bắc Nam, làm cho hơn hai triệu đồng bào tôi phải bỏ mình trong cuộc chiến.
Tôi mường tượng ra hình ảnh sau hiệp định Geneve 20/7/1954, từng đoàn người lũ lượt qua cầu vào miền Nam mặc cho sự ngăn cản của chính quyền miền Bắc cả ngày lẫn đêm. Lời nhạc trong bài hát “Chuyến đò vĩ tuyến” của Lam Phương làm xúc động tâm hồn, “Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc đôi màu...”.
Dòng nước sông không bạc, mà cũng chẳng đôi màu, chỉ có chăng màu máu và nước mắt mà dân tôi phải đổ ra hơn 20 năm chia cắt. Người nhạc sĩ trẻ miền Nam đã linh cảm hai màu này chăng?
Đến bờ Bắc của cầu Thê Lương, tôi thật sự cảm động thấy như mình đang ngược dòng thời gian trở lại thời trước năm 1954, quốc lộ 1 ở miền Bắc nhỏ hẳn lại, các xóm làng hai bên đường tiêu điều, thưa thớt, nghèo nàn, dân miền Bắc ốm o, tiều tụy, khô héo như cây thiếu nước, đồng ruộng xơ xác, hoang tàn, chẳng thấy bóng trâu bò, gia súc.
Đoàn xe chở chúng tôi chạy suốt buổi trưa trên quốc lộ 1 hướng về cảng Đồng Hới, dọc đường chúng tôi được dừng nghỉ giải lao và trút bớt bầu tâm sự mang nặng trong người. Cảng Đồng Hới tôi được học trong Địa Lý là một hải cảng khá lớn ở miền Trung, thật sự lại quá bé nhỏ lạc hậu so với các hải cảng nhỏ ở miền Nam mà tôi được biết, tàu bè nhỏ bé thưa thớt, bến cảng có vẻ tiêu điều, có lẽ hậu quả của những trận bom từ thời Mỹ tấn công miền Bắc vẫn còn là một gánh nặng cho người dân cảng đến bây giờ.
Rời Đồng Hới, chúng tôi trực chỉ thành phố kỹ nghệ Vinh và đến thành phố vào khoảng 2 giờ 30 chiều. Gọi là thành phố nhưng Vinh chỉ vào khoảng một tỉnh lỵ nhỏ ở miền Nam. Những ngôi nhà chung cư do Đông Đức xây cất vào những năm 60's quá nhỏ và thiếu vững chắc, không được như khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn. Đường phố thưa thớt người đi lại, không có những khu phố thương mại dọc theo quốc lộ như các tỉnh lỵ miền Nam, vì xã hội chủ nghĩa không được làm ăn cá thể, không có những cửa hàng tư nhân, lưa thưa vài cửa hàng quốc doanh, vài trụ sở của hợp tác xã, đường phố buồn tẻ, không thấy các bảng quảng cáo, thiếu vắng những màu sắc tươi mát, quần áo chủ yếu là màu nâu, đen, trắng, kaki vàng của công an và xanh lá cây của bộ đội, chỉ chưa đầy mười phút đoàn xe đã ra khỏi thành phố Vinh.
Trực chỉ hướng Bắc trên quốc lộ 1, khoảng hơn 4 giờ chiều chúng tôi đến Đèo Ngang. Sau hơn 15 phút leo dốc, đoàn xe được dừng lại trên đỉnh đèo. Đèo Ngang không cao lắm, nhìn về hướng Đông là biển, trời và nước mênh mông, hướng Tây là núi chạy ra tới biển, hướng Nam là đường về khúc khuỷu gập ghềnh, hướng Bắc là đường đi xa xôi chưa đến, xế về hướng Tây Bắc là một ngôi làng nhỏ hoặc chợ làng. Tôi chợ nhớ tới bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan được học năm lớp 8.
"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta"
Hơn 400 anh em chúng tôi, 400 mảnh tình riêng nhưng không thể nói ra. Quay người nhìn về phương Nam, tôi cảm thấy như đi ngược thời gian về một trăm năm mươi năm trước, được trông thấy đoàn xe của Bà Huyện Thanh Quan đang ngược chiều trên Đèo Ngang, vượt qua chúng tôi trên đường từ Thăng Long vào Thuận Hóa để làm thầy giáo cho các con vua Minh Mạng. Từ bấy đến nay cảnh vật vẫn không hề đổi thay, dân tôi vẫn đói nghèo, lam lũ...
Trời hơi chập choạng tối khi chúng tôi đến Đô Lương, cắm trại trên một khu đất trống cách đó hơn nửa cây số. Mệt nhoài, đêm hôm đó nằm nghe dế kêu, tôi thả hồn vào giấc ngủ.
Buổi sáng đầu tiên ở miền Bắc sao im vắng lạ lùng. Tôi không nghe tiếng kẻng báo thức, có lẽ anh bộ đội trực ban chưa tìm ra một mảnh vỏ đạn để gõ hay sao đây? Hai ngày đầu chuẩn bị, chúng tôi được nhận dụng cụ, rổ rá, cuốc xẻng và những càng tải đất. Thời gian ở Đô Lương thật ngắn ngủi, tổng cộng chỉ khoảng hơn một tháng.
Chúng tôi phải gấp rút tiếp tay cùng thanh niên xung phong ở đây, mở rộng lòng kênh cho kịp mùa nước lũ ở sông Mã chảy về để tưới tiêu cho Đô Lương và hai huyện phụ cận. Đào, cuốc, gánh, tải đất đá từ lòng và hai bên bờ đập để đắp cao bờ đê, ba tuần làm việc ở Đô Lương rồi cũng chóng vánh trôi qua.
Một hôm tôi nhận nhiệm vụ trực khối, gánh cơm, nước cho các bạn ở hiện trường. Trên đường từ nhà bếp đến bãi, tôi gặp một toán thanh niên trẻ đang đào giếng, một cô gái trạc đôi mươi gọi tôi:
- Anh ơi! Anh gánh cái gì thế?
- Gánh nước cho các anh em ngoài bãi.
- Cho chúng em uống với.
Tôi dừng gánh lại cho mỗi người lấy một lon nước. Chắc đó chỉ là cái cớ thôi, vì tôi vừa đặt gánh nước xuống là các cô đã nhao nhao hỏi ngay:
- Anh ở đâu trong Nam thế?
- Sài Gòn.
- Trong ấy đẹp lắm anh nhỉ?
......
- Các bác với chị ấy có ra thăm anh không?
......
Họ hỏi tôi đủ thứ chuyện, tôi vui vẻ và thành thật trả lời. Một cô bé trẻ nhất trong đám thốt lên:
- Các anh trong Nam nói chuyện nghe lịch sự quá, chả bù với các đằng ấy ở đây!
Anh con trai, có lẽ là trưởng toán lên tiếng:
- Thôi, để anh ấy đi, các anh ngoài bãi đang chờ.
Tôi chưa kịp bước đi thì một anh bộ đội thuộc đoàn 76 bước về phía tôi và vẫy tay gọi:
- Anh làm gì thế, anh phản tuyên truyền đấy à?
- Tôi có làm gì đâu cán bộ. Họ xin nước, tôi chỉ cho mỗi người một ca thôi.
- Tôi thấy anh đứng đấy lâu lắm đấy nhé, anh có muốn kỷ luật thì tôi cho anh biết.
Tôi vội vã gánh đôi thùng nước và rảo bước đi. Anh bộ đội bám gót tôi hỏi:
- Anh ở đội nào, chiều nay anh biết tôi.
Giọng các cô gái nhao nhao nói vói theo:
- Anh ấy không có nói gì đâu, chúng em chỉ xin nước thôi.
Có lẽ các cô ấy không biết đã châm thêm dầu vào lửa. Suốt buổi tối hôm ấy tôi cảm thấy hơi lo vì lời hăm dọa của người bộ đội ban chiều, nhưng cuối cùng tự nhủ "việc gì đến cũng sẽ đến...". Tôi thấp thỏm hàng ngày chờ cú đòn thù cho đến khi rời khỏi Đô Lương, "việc gì qua cũng sẽ qua...", có lẽ anh bộ đội ấy đã quên chuyện này rồi.
Buổi chiều cuối cùng làm việc ở đập Đô Lương, nước được tháo vào. Nhìn lòng kênh dâng nước lên, chúng tôi cảm thấy vui lây với lòng dân ở ba huyện này, mong rằng năm nay và về sau họ sẽ đủ nước tưới tiêu, được mùa thu hoạch.
Tuần cuối cùng ở Đô Lương chúng tôi được nghỉ bồi dưỡng ba ngày để giặt giũ và chuẩn bị cho công tác kế tiếp vào Nông Cống, Thanh Hóa.
Sáng Chủ Nhật trước khi rời Đô Lương, tôi tình nguyện vào một toán mười người ra chợ huyện gánh rau quả cho Đội.
Chợ Đô Lương nhỏ bé, nghèo nàn, cũng như hầu hết những người dân tôi ở miền Bắc gầy gò chịu đựng. Trên con đường nhựa độc nhất chạy xuyên qua huyện, tôi thấy vài cửa hàng hợp tác xã bán những thứ hàng chẳng ra hàng, thế mà cũng phải có tem phiếu ưu tiên cho công nhân viên mới được mua, khó khăn như thế thì chừng nào mới đến lượt dân đen hoặc người tù. Cửa hàng ăn mậu dịch bán phở chỉ có vài người khách lèo tèo, có lẽ dân ở đây không thừa tiền ăn hàng, hoặc là ăn ở nhà ngon hơn hàng quán nên chẳng mấy ai buồn đến phở quốc doanh.
Theo chân anh cán bộ hướng dẫn vào trong chợ, trong khi chờ đợi anh ta mặc cả với các bạn hàng, tôi mon men đến một sạp gần đó hỏi nhỏ bà bán hàng: "Bác biết ở đâu có bán thịt gà, thịt vịt chỉ cho cháu?". Bà trả lời: "Làm gì có gà, vịt mà bán chứ anh!". Tôi đi rảo một vòng thì hết chợ, chỉ thấy khoai, sắn, thóc mà chẳng thấy gạo, vài hàng mì sợi khô, có lẽ từ một cửa hàng gia công trước mặt chợ đem vào. Chợ bán chủ yếu là rau quả, hàng gia vị thiếu thốn nghèo nàn làm tôi thấy mủi lòng!
Bài thơ “Chợ Phiên” tôi được học thuở bé, mới hừng đông đã kẻo kịt quang gánh, gà vịt, lợn bò, mà ở đây tôi chẳng thấy gì cả. Không mua được gì, tôi quay qua hàng bánh lá mua lấy vài cái bánh lót lòng để có sức gánh về.
Sau khi chất đầy gánh rau, tôi ra trước cổng chợ chờ cho đầy đủ anh em trong đội.
Ngay góc đường nơi chúng tôi đứng đợi có sạp hàng nước. Bà bán nước vối ngồi dưới một tấm liếp tranh, trên chiếc bàn tre xiêu vẹo có một cái lọ thủy tinh trong đựng vài chục chiếc kẹo vừng, một tủ kính nhỏ có vài gói thuốc lá xé dở, mỗi người khách dừng lại trả vài xu, bà lại lấy gáo khoáy vào lon nước rửa, rồi múc lấy gáo nước rót vào bát đoạn đưa cho khách.
Đầu óc tôi xoay vần, tôi đã được nhìn thấy cảnh này ở đâu đó, nhà văn Thạch Lam trong Tự Lực Văn Đoàn diễn tả cách đây 40 năm rồi mà sao vẫn không thay đổi, vẫn cái bàn xiêu vẹo, nồi nước vối, tấm liếp tranh, lọ kẹo vừng, tủ thuốc lá, chẳng lẽ bà bán nước vối ngồi ở đây từ bấy đến giờ?
Rảo mắt ngó qua phía bên kia đường, tai nghe tiếng chuông nhà thờ gần đó, tôi thấy có hai mẹ con trên đường đến nhà thờ. Bà mẹ khoảng hơn năm mươi tuổi, chị con gái xấp xỉ ba mươi, dắt nhau vào phía sau một thân cây to gần đó, mỗi người mang bên nách một gói giấy, đi chân đất. Mười phút sau họ bước ra từ sau thân cây, trên thân mỗi người bây giờ là một chiếc áo dài đen luộm thuộm còn hằn rõ nếp gấp; hai mẹ con đi guốc, gói giấy kẹp dưới nách, lầm lũi đi về phía nhà thờ. Tôi quay qua hỏi bà hàng nước:
- Ngoài này mỗi năm bác được mua bao nhiêu mét vải?
Bà trả lời:
- Mười năm nay có được mét nào đâu anh!
Sao lại có những cảnh đọa đày dân tôi thế? Chẳng lẽ cả cuộc đời họ cứ chờ đợi đến ngày Chủ Nhật đi lễ mới được mặc áo dài và mang guốc hay sao? Chiếc áo dài cũ kỹ, xấu xí, đôi guốc vông mộc mạc là cả một gia tài trong suốt cuộc đời họ à?
Trên đường về anh em chúng tôi im lặng, cái háo hức ra chợ xem thử dân tình không còn nữa. Quê tôi nghèo nàn quá! Dân tôi bất hạnh quá! Đất nước tôi bị đày đọa quá!
Nhớ lại bức thư một người chú của anh bạn, một "thương binh tự túc", từ miền Bắc gửi cho anh để động viên anh cố gắng học tập lúc ở Cồn Tiên. Tôi hỏi anh "tự túc" nghĩa là gì. Anh ấy trả lời, ông chú bị thương thời kháng Pháp, bị cụt cả hai tay nhưng không được hưởng trợ cấp, chỉ được ưu tiên không phải làm việc đồng áng, hàng ngày dùng đôi chân đạp guồng máy dệt để lấy công điểm, vừa đạp vừa ước mơ có được một chiếc xe đạp Phượng Hoàng cho cả gia đình có phương tiện đi lại. Đã gần hết thế kỷ 20 mà dân tôi vẫn còn những ước mơ tội nghiệp như thế đấy, cứ như những ước mơ trong tác phẩm “Con trâu cái” của tác giả Trần Tiêu ở nửa đầu thế kỷ 20.
Ngày tháng tiếp tục trôi, chúng tôi lại lên đường ngược dòng về phương Bắc. Sau cả một buổi sáng dằn xóc vì ổ gà, chúng tôi đến sông Gianh. Bờ sông thoai thoải, lòng sông rộng. Vì không có cầu, chúng tôi phải chờ qua phà. Không ai được xuống xe. Phà ra đến giữa sông; sông sâu nước chảy mạnh, gió thổi rát cả mặt. Lẫn trong gió tôi nghe như có tiếng kêu gào rên xiết của dân tôi trong cuộc Nam Bắc phân tranh gần 300 năm giữa hai dòng họ Trịnh - Nguyễn.
“Ôi sông Gianh tiếng oán hờn trong gió!”. Chưa có một dân tộc nào bị chia cắt nhiều lần và dài đăng đẳng như dân tôi. Phải chăng đó là một lời nguyền?
Tôi hồi tưởng lại câu chuyện ngắn của một chiến binh Thủy Quân Lục Chiến đăng trên nguyệt san Sóng Thần vào năm 1973, lời mở đầu: “Nếu huyền thoại về một người dân Hời nào đó đứng trên đỉnh Ba Lòng nhìn xuống cuộc Nam chinh của người dân Việt mà thốt lên lời nguyền vong quốc...”, có lẽ dân miền Trung nói riêng và cả dân tộc tôi nói chung phải hứng chịu tai ương của lời nguyền đó.
Tôi đã đi ngược thời gian suốt một chặng đường để trở về nhìn lại quê hương mà tôi ước mơ từ thuở bé, nhưng sao chỉ nhìn thấy toàn những đau thương đến với mọi người.
Đoàn xe trực chỉ Thanh Hóa, khoảng một tiếng sau chúng tôi rời quốc lộ 1 để đi về hướng Tây, xe đánh một vòng cung gần 180 độ. Tôi nhìn thấy mái phía sau của một ngôi nhà tương đối rộng, một nửa lợp tranh, một nửa mái ngói đỏ. Gần năm phút sau thì xe chạy qua trước mặt ngôi nhà đó, thì ra là trụ sở của một cơ quan huyện Nông Cống, nửa mái ngói phía trước đã phai màu, nửa còn lại đã bám rêu. Tò mò tôi hỏi anh bộ đội trên xe của chúng tôi sao lại có cái mái nhà lạ lùng như vậy.
Anh trả lời, "Thế đấy anh ơi, năm nào hợp tác xã Ngói phân phối bao nhiêu thì lợp bấy nhiêu". Tôi buột miệng nói thầm "Cơm độn khoai, độn sắn, độn bo bo. Nói độn Hán chẳng ra Hán, Nôm chẳng ra Nôm. Bây giờ mái nhà cũng độn nửa tranh, nửa ngói!".
Con đường vùng núi đất đỏ sình lầy hơn sau một cơn mưa không lớn lắm, tuy nhiên chúng tôi vẫn phải lấy những tấm ny lông được phát trước khi đi, trùm vội vàng cho khỏi ướt. Phía trước mặt vắng tanh, đồng không mông quạnh, phía sau những ngôi nhà đã nhỏ bé hẳn lại. Đoàn xe cứ tiếp tục lăn những vòng bánh rã rời mệt mỏi và chịu đựng, cũng như dân tộc tôi đã từng rã rời mệt mỏi và chịu đừng hàng bao nhiêu năm qua. Nhớ ngày ở Cồn Tiên, lần đầu chúng tôi đi công tác về phía đường cái, có anh bạn đi ngoài trại về kể lại cho anh em chúng tôi hay anh thấy một cái bảng “dấu hiệu đi đường” rất lạ vẽ hình một người đi xe đạp, chở theo một con heo kêu eng éc và còn có những nốt nhạc trong bảng dấu hiệu đó. Một anh khác nói:
- Mẹ, mầy nói phét, làm gì có cái bảng đi đường kỳ lạ đó?
Anh nọ cười trả lời:
- Thì nó có nghĩa là “đèo heo hút gió đấy”, mày không biết à!
Bây giờ chúng tôi lại rời xa miền đeo heo hút gió ấy để đi sâu hơn vào một miền núi cao, vực thẳm.
Cụ Nguyễn Công Trứ thời làm quan đã khẩn hoang, lập nên hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải. Thời bị đi đày làm lính thú ở Nông Cống, Thanh Hóa có làm những bài hát nói đầy hùng khí mà tôi còn thuộc lòng như bài “Kẻ Sĩ” và “Chí Làm Trai”.
" Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên
Có giang sơn thì sĩ đã có tên
Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quí..."
Hoặc:
"Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể..."
Giờ đây hơn 400 kẻ sĩ chúng tôi được cấp phát dao rựa, cày cuốc, búa rìu. Nhớ ngày xưa “Xếp bút nghiên lo việc kiếm cung”, nay chẳng lẽ lại phải vùi thây nơi đáy hồ sông Mực?
Nghe anh bộ đội chân thành kể chuyện về Bác và Đảng cho khai quang lòng hồ sông Mực để đem cá lên núi, nuôi và gây giống, tôi chỉ tội cho anh bị lường gạt và thương cho sự hiểu biết nông cạn của dân tôi.
Kỷ niệm lúc ở Cồn Tiên lại hiện về. Tôi nhớ anh vệ binh tên Thuật, dẫn chúng tôi đi lao động cuốc đất. Khi đo anh nói: “Anh này cuốc bề ngang 2 mét, dài 20 mét, thế là 40 mét vuông”. Một hôm tôi cuốc bìa ngoài, đụng phải đường cái. Anh Thuật lại đo và nói: “Anh này cuốc hình tam giác, cạnh đáy 3 mét, chiều cao 15 mét, thế là 45 mét vuông”.
Từ đó anh em chúng tôi ai cũng tranh nhau cuốc hình tam giác. Các lô đất chúng tôi cuốc trông chẳng ra hình dáng gì cả. Kẻ cuốc ngang, người cuốc dọc, đâm tán loạn vào nhau để cố tạo ra cho được những hình tam giác. Anh Thuật bị đậu mùa từ thuở bé, thế là chúng tôi đặt cho anh một cái tên rất thích hợp là “Con Bò Lục”. Từ xa nhìn thấy anh chúng tôi nói ngay “Con Bò Lục đến tụi bay ơi!”. Sau biết được nhưng anh không giận, chỉ tủi thân nói “Các anh cứ trêu tôi hoài”. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy có lỗi đối với sự thật thà chất phác của anh.
Đoàn xe bắt đầu chạy đâm vào một khu rừng, sau một hồi lên đồi xuống dốc, đổ chúng tôi xuống một nơi núi rừng thâm u, chằng chịt cây cối xung quanh, đâu đây nghe tiếng nước chảy xiết, sau này biết ra thì chúng tôi ở thượng nguồn sông Mực. Mệt nhoài nhưng chúng tôi phải phát quang, dọn dẹp ngay để có chỗ ngủ và dựng nhà. Cực nhất là những anh em nhà bếp, phải đắp vội vàng những cái bếp để nấu ăn cho cả đội.
Ngày hôm sau chúng tôi bắt đầu làm nhà. Tôi bắt đầu biết được loại tranh nứa. Đó là những ống nứa đập giập xẻ dọc, chặt ra thành những đoạn dài 70 đến 80 phân, kết vào nhau bằng những sợi nứa, cột thành từng tấm tranh, xếp chồng lên nhau, gối nhau khoảng 1/4 tấm tranh; nhìn lên mái nhà thấy ánh sáng xuyên qua, nhưng mưa thì không dột.
Một hôm tổ chúng tôi được phân công chặt nứa bên kia sông, mỗi người một bó 15 cây . Nước sông Mực cuối năm lạnh cóng, sáng sớm chúng tôi phải thức dậy ra bờ sông. Hai bờ sông chỉ cách nhau khoảng 20 mét. Nước chảy khá nhanh và mạnh, chúng tôi phải sexy 100% để bơi qua sông. Ôi chao những thân hình tù tội gầy guộc!!!
Chúng tôi cởi bỏ tất cả quần áo, cho vào trong tấm ny-lông, buộc chặt vào trong cánh tay. Muốn bơi qua bờ bên kia, chúng tôi phải đi ngược lên trên khoảng 30 mét, rồi thả trôi theo dòng nước, chỉ bơi một tay, còn tay kia giữ bọc ny-lông, giơ cao qua khỏi đầu cho đừng ướt.
Nhớ năm học lớp Đệ Tứ ở trường Nguyễn Trãi, Bách nhắn tôi vào trường sớm trước 1 giờ trưa. Hai chúng tôi lẻn vào lớp học. Bách lấy ra một ổ khóa, khóa trái cửa lại. Chúng tôi kéo bàn ghế chận cửa ra vào, rồi leo cửa sổ ra, canh cho chốt cửa sổ rớt đúng vào khe, sau đó xếp hàng vào lớp bình thường với các bạn như không biết gì cả. Cửa khóa không vào lớp được và không còn phòng trống, chúng tôi được cho nghỉ học. Thế là lũ chúng tôi khoảng hơn 10 học sinh kéo nhau về sông cầu Tân Thuận, đến một bãi rác Mỹ gần đấy, nhặt lấy những ống giấy đạn đại bác làm phao bơi ra giữa sông. Tôi biết bơi từ những ngày ấy.
Dòng nước đưa chúng tôi đến bờ bên kia. Chỉ mới hơn 5 phút ngâm nước mà người tôi đã đỏ rần, lạnh cóng, răng đánh bò cạp, vội vàng mặt tất cả quần áo mang theo vào, choàng lấy tấm ny-lông lên vai, lao vào rừng chặt lấy, chặt để, miệng lầm bầm chửi “Tiên sư cha mầy...! Tiên sư bố mày...! Tiên sư cha mầy thằng chết băm! Tiên sư cha mầy thằng chết vằm!".
Vừa làm vừa chửi để trấn áp bớt cơn lạnh và đói cũng như trút bớt đi những bực tức trong lòng, chưa được ăn sáng mà cảm thấy như đã mất tiêu buổi sáng rồi.
Chuyến về còn khổ hơn, phải kéo bó nứa xa hơn đến 50 mét, thế mà vẫn bị nước đẩy, trôi xa khỏi bờ về một khoảng dài, vội vàng tròng hết cả quần áo vào người, vác bó nứa mà chạy như bay hầu cảm thấy được chút hơi ấm.
Rừng càng ngày càng được khai quang bởi sức bọn tù chúng tôi. Khoảng một tháng sau, chúng tôi chạm đến con đường đất đỏ đưa chúng tôi vào đây lúc trước. Thế là cứ một tuần 6 ngày, một ngày 8 tiếng, cộng thêm tranh thủ lao động trước và sau giờ làm, cộng thêm cách tuần lao động xã hội chủ nghĩa sáng chủ nhật, anh em chúng tôi hao mòn dần theo thời gian.
Một buổi chiều về trại với bó nứa tranh thủ trên vai. Tôi tưởng mình nhấc chân sẽ cao hơn sợi dây leo dưới đất, nhưng không..., thế là vấp ngã, nứa một nơi, rựa một nẻo, còn người thì nằm một đống chán chường. Ngửa mặt nhìn trời cho hết cơn mệt, tôi ngồi dậy gom nứa, gom dao, thất thểu từng bước nặng nhọc trở về trại.
Một hôm trên đường chúng tôi gặp một chú bé trai khoảng mười hai, mười ba tuổi, người còm cõi, đi nhặt những cành cây làm củi. Động lòng thương, một vài anh trong đội chặt cho chú bé một gánh củi, còn làm thêm một cái đòn xóc thật gọn cho chú bé. Thằng bé từ chối với lý do là không được mang cây tươi về làng, chỉ được nhặt cây khô và mục mà thôi. Đâm nản, một anh nổi cáu "Thế thì mày đi tìm củi mục đi, làm cho mà lại chê!". Chúng tôi thực sự không biết là mang cây tươi về làng sẽ bị phạt vạ. Anh khác thấy thằng bé ngơ ngác tội nghiệp, múc cho thằng bé một chén chè đậu xanh, đường và đậu anh em chúng tôi cắc củm để dành khá lâu mới có được nồi chè. Thằng bé ăn lấy ăn để, hít hà vì nóng, miệng hỏi:
- Cái gì ngon thế các chú?
- Chè đậu xanh đấy, mầy chưa ăn bao giờ à! Một anh trả lời.
- Từ bé đến giờ cháu mới được ăn lần đầu tiên đấy!
Anh bạn tôi bật cười về sự ngây thơ thật thà của thằng bé nhưng đôi mắt anh rướm lệ, có lẽ anh đang nghĩ về những đứa con của mình ở miền Nam vắng cha, chắc cũng đang thèm thuồng một chén chè đậu như thằng bé đáng thương này. Thế hệ tương lai của dân tộc tôi đấy à!!!, thiếu cả niềm vui thật nhỏ nhoi từ khi còn bé.
Tết ở miền Bắc chúng tôi được nghỉ sớm ngày 30 và 3 ngày Tết. Đội chúng tôi được phân phối một con trâu thịt và con trâu này được tiêu thụ một cách tận tình. Chỉ có phân, lông, hai hàm răng và bốn cái móng là được vất đi thôi. Hai cái sừng được các anh nhà bếp lấy làm đồ trang sức như lược, nhẫn, còn tất cả được tiêu thụ gọn gàng. Chúng tôi được phát những bát canh da trâu hầm nhừ như thạch cao, hoặc canh xương trâu lổn nhổn, thịt thì được chặt to kho mặn. Một anh bạn nhái giọng các anh cán bộ miền Bắc lúc lên lớp.
- “Nàm thì nười, không lói thì nơ nà, lói thì bảo người ta nấy ne, nễ nớn thì đòi ăn thịt trâu, thịt nợn”. *(một số người Bắc phát âm chữ “N” thành “L” hay ngược lại)*
Chúng tôi được phát kẹo và rượu chanh quốc doanh để hơi cay và chua trấn áp bớt mùi mỡ trâu.
Cả năm trời không có chất béo, chất ngọt, vì thế ba ngày Tết, lăng cụ Hồ là nơi chúng tôi xếp hàng viếng thăm nhiều nhất; có anh ở lăng cụ còn nhiều hơn ở trong lán. Đêm nằm nghe tiếng pháo nổ râm ran, mùi thuốc pháo ngửi vào ngộp thở, bụng anh nào anh nấy sôi sùng sục, thế là một màn thuốc Nam, thuốc lá cây dễ tiêu khắp nơi diễn ra suốt mấy ngày Tết. Nằm ngay gần cửa tôi còn thở được, chỉ tội các anh nằm ở giữa nhà chỉ biết rủa tên cúng cơm của Bác.
Ngày vui qua nhanh, Mùng 4 tết chúng tôi uể oải bắt tay trở lại lao động một cách biếng nhác, rã rời.
Lòng hồ sông Mực bắt đầu hiện ra lởm chởm, nham nhở như một cái lòng chảo không đẹp mắt vì những chỗ cao, chỗ thấp không đều. Những chỗ cao thì cây trụi lủi, những chỗ thấp thì cây cối vẫn còn rậm rạp. Thì ra bản đồ không chính xác. Song song với công tác khai quang, mỗi khối phải cử 3, 4 người đi sửa chữa những nơi còn sót lại.
Suốt thời gian ở miền Bắc chúng tôi chẳng bao giờ được bữa ăn no, bữa sáng được 200 gr bột mì, bữa trưa 250 gr, bữa chiều 250 gr. Bột mì được vò thành những miếng tròn như lòng bàn tay, anh em chúng tôi gọi đùa "một ngày tiêu chuẩn ba bánh xe". Thời gian đầu không có rau xanh, chúng tôi hái những đọt tàu bay, đôi khi không luộc được, phải ăn sống, mùi rau tươi cay nồng, phải ráng nhai và nuốt cho có chút rau cỏ.
Có một ngày Chủ Nhật không phải lao động xã hội chủ nghĩa và không được ăn sáng, đói quá tôi rủ Thành, người Mỹ Tho, hai chúng tôi lần theo tiếng gà gáy, leo qua hai ngọn đồi nhỏ, quên cả những nguy hiểm có thể xảy ra, chúng tôi thấy một ngôi làng nhỏ, lần theo dốc ngọn đồi để xuống làng. Bước vào căn nhà đầu tiên, tôi hỏi người đàn bà vừa bước ra cửa:
- Bác có gạo bán cho tôi vài cân.
Bà xua tay bảo:
- Ở đây không có gạo bán đâu, các anh đi nơi khác cho.
Có lẽ bà ta sợ liên hệ với chúng tôi. Đi lần vào trong, ngôi nhà thứ hai và thứ ba cũng như thế, không ai dám tiếp xúc và buôn bán gì với chúng tôi. Vào gần tới giữa làng tôi nghe tiếng vọng cổ phát ra từ một ngôi nhà bên phải, tôi kéo Thành bước nhanh về phía đó.
Bước vào sân tôi trông thấy một thanh niên trẻ khoảng hơn 20 tuổi, tôi hỏi vội:
- Anh có gạo bán cho tôi vài cân.
Anh thanh niên trả lời:
- Không có đâu anh, chỉ có khoai sắn, các anh có ăn em để lại cho, 5 hào một cân.
Tôi xin được nấu nhờ bếp, anh vui vẻ chỉ cho tôi bếp, nồi và nước rửa khoai. Vừa châm bếp lửa tôi vừa hỏi:
- Anh nghe vọng cổ mà anh có biết ai hát không?
- Biết chứ anh, Thanh Kim Huệ và Minh Vương.
- Sao anh biết đó là Thanh Kim Huệ và Minh Vương?
- Năm 75 em theo đoàn quân vào tới Sài Gòn, đóng quân bên cầu chữ Y, ở nhà một bà mẹ chiến sĩ, cuối tuần bà thường dắt chúng em đi xem cải lương ở rạp Nguyễn Văn Hảo.
Ký ức tràn về trong tôi như cuốn phim quay chậm. Ngồi nhìn anh nói, tôi như muốn nuốt những lời đó vào lòng.
Từ Đại học Khoa Học Sài Gòn, theo đường Cộng Hòa, chạy xuống Ngã Tư Nancy, quẹo phải ở đường Trần Hưng Đạo, quẹo trái Nguyễn Biểu, góc đường là rạp hát Văn Cầm, chạy thẳng xuống cây cầu chữ Y, một phía qua lò heo Chánh Hưng, một phía về nhà đèn Chợ Quán, hay dọc theo đường bến Chương Dương đi về phía Cầu Kho, leo đò ngang qua rạch Bến Nghé để đi về phía cầu Dừa, hoặc quẹo trái trên đường Trần Hưng Đạo để đi về phía rạp Nguyễn Văn Hảo... Ôi! Những địa điểm mà tôi đã đi qua, từ tuổi thơ cho đến ngày trưởng thành, tôi thuộc lòng nhiều ngõ ngách, những tên đường của cái thành phố mà tôi đã được sinh ra và lớn lên, từ ngôi nhà mà Bố tôi đã gầy dựng trên đường Hồng Thập Tự khi ông vào Nam hơn 30 năm trước.
Nhớ những buổi trưa chị em tôi đi học sớm, ráng leo lên gần mười bậc cấp của rạp Nguyễn Văn Hào để cố xin cho bằng được tờ chương trình của tuồng cải lương mới "Gánh Hàng Hoa", "Đời Cô Lựu", "Con Gái Chị Hằng", "Sơn Nữ Phà Ca"..., hoặc để được nhìn ngắm các tấm posters, chân dung màu sặc sỡ của Thanh Nga, Ngọc Giàu, Hữu Phước, Hoàng Giang... Tôi nhớ như in hình ảnh một chú bé đừng trên những bậc thềm của rạp Nguyễn Văn Hảo gần 20 năm trước, nhìn về phía trường Trương Minh Ký nơi tôi theo học thuở ấu thơ, cách đó chỉ một góc đường, hình ảnh đó sao thật gần mà như xa xôi quá...
Tối hôm ấy tôi không ngủ được, phần vì quá no, phần vì nhớ nhà, cũng có thể vì tủi thân tù tội.
Một hôm đội tôi công tác gần với các toán thanh niên xung phong, họ thăm hỏi và chúc chúng tôi ra về mạnh giỏi. Những tin đồn sắp đến ngày về cũng làm cho anh em chúng tôi cảm thấy ấm lòng, rồi thì ngày đó cũng đến thật. Chúng tôi được nghỉ, thu xếp gọn gàng chờ xe đến đón.
Ngày rời Lòng Hồ sông Mực, những toán nhân công và thanh niên xung phong làm việc hai bên đường vẫy tay chào và chúc chúng tôi ra về được bình an. Tôi cảm thấy bản chát những người dân đen cùng khổ từ Bắc chí Nam, lúc nào cũng rộng lượng thương người.
Lúc ra miền Bắc, mỗi lần nghĩ đến bài hát "Em Tôi" của tác giả Lê Trạch Lựu là mỗi lần ngậm ngùi, "Ngày về xa quá người ơi!...". Hôm nay ngày về đến rồi thì lại cảm thấy đường về xa quá, dài đăng đẳng.
Tôi cứ thấp thỏm mong ngóng, sao lâu quá không thấy sông Gianh, cả ngày rồi mà chưa gặp Đèo Ngang, sao mà Vinh xa xôi thế, Đồng Hới đâu mất rồi. Những nơi chúng tôi về qua, tôi nhìn thấy gương mặt vui tươi của những người dân hai bên đường, có phải tại lòng chúng tôi đang vui chăng...?
Rồi thì xe cũng đến sông Bến Hải, chúng tôi thấy lòng rộn rã, những giọng cười, những tiếng thở phào nhẹ nhõm, vui mừng. Chúng tôi náo động hẳn lên và bắt đầu bàn tán, cá cược nơi đến sẽ là chỗ nào; ai cũng đếm thầm từng giây, từng phút.
Xe chạm bờ Bắc sông Bến Hải và vượt lên cầu, cảnh vật vẫn chẳng có gì thay đổi so với năm trước. Nhìn xuống dòng nước trong xanh lặng lờ trôi, tôi rướn người đứng dậy, gió thoang thoảng thổi mát rượi vào mặt, tôi rùng mình và chợt cảm thấy cầu đã đổi tên lại là cầu Hiền Lương để nối lại hai bờ Nam Bắc, để cho chúng tôi có đường về, để cho dân tộc tôi lại được thông thương, và để cho dòng máu Việt Nam lại chảy xuôi từ Bắc vào Nam theo nhịp đi của dân tộc.
Dọc đường Quốc lộ 1 dẫn về căn cứ Ái Tử, những người dân miền Nam ngẩng lên nhìn chúng tôi với những gương mặt rạng rỡ, cảm thông như nhìn thấy người thân sau một thời gian dài xa cách. Vài "O" đã thảy lên trên đoàn xe chúng tôi những gói lá thức ăn, một gói may mắn đã rơi vào trong xe chúng tôi. Có lẽ đó là bữa ăn của họ “những người dân nghèo khổ”. Họ sẵn lòng nhịn đói để cho chúng tôi bớt đói lòng.
Bâng khuâng với niềm vui khó tả, tôi chợt thấm thía câu ca dao đầy tình tự quê hương.
"Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng".
Năm mươi năm sau ngày cha tôi rời quê nghèo, tôi cũng vượt biên để được tạm cư tại một nước thứ ba, rồi cũng như những người dân Việt đã cần cù lam lũ hơn 4 ngàn năm, tôi lại tiếp tục cần cù lam lũ để xây dựng hơn nửa đời còn lại nơi xứ người. Trong thâm tâm vẫn mang một ước nguyện, một ngày nào đó được đưa các con tôi về lại quê cha đất tổ, để được đi tiếp chặng đường còn sót lại về lòng đất quê hương.
Từ Thanh Hóa đến Tam Điệp, theo chân đoàn quân của Quang Trung Hoàng Đế về Thăng Long đập tan Tôn Sĩ Nghị, để được ngâm lại bài thơ "Thăng Long thành hoài cổ" của Bà Huyện Thanh Quan.
"Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm sử sách soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường"
Hoặc được trốn học để cùng đi với chàng thư sinh Nguyễn Nhược Pháp trẩy hội chùa Hương, để hẹn hò cùng cô bé mười lăm bới tóc đuôi gà.
Được nghe lời thề quyết thắng của Hưng Đạo Vương “Nếu không thắng giặc, thề không trở về lại trên dòng sông này”. Được xem Đinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau. Về Bạch Đằng Giang xem Ngô Quyền cỡi sóng phá tan giặc Nam Hán, chấm dứt một ngàn năm nô lệ Bắc phương. Về Cổ Loa theo dấu lông ngỗng để được xem chuyện tình Trọng Thủy Mỵ Châu. Đến Mê Linh nghe trống trận của Hai Bà, xem Triệu Ẩu cỡi voi đuổi giặc, hoặc ngã người trên chiếc thuyền nan nghe tiếng sáo Trương Chi mà tương tư nàng Mỵ Nương xinh đẹp, theo chân hoàng tử An Tiêm vào cung dâng dưa hấu cho Phụ Hoàng. Mộng thấy thần tiên mách bảo cho chàng hoàng tử út hiếu thảo làm bánh chưng, bánh dày nhân dịp Xuân về Tết đến. Ước mong nhất là được nhìn thấy tổ tiên chúng tôi, Lạc Long Quân và Âu Cơ bịn rịn chia tay, 50 người con theo cha lên núi, 50 người con theo mẹ xuống biển tạo nên dòng Bách Việt ngày nay.
Quê hương tôi đó lịch sử rạng ngời. Tôi mong có ngày được đưa các con tôi về để nhìn thấy dân tôi ấm no, hạnh phúc, đất nước tôi thống nhất, thanh bình, chứ đừng như anh em chúng tôi 25 năm trước, ngược dòng thời gian để chỉ phải nhìn thấy quê hương tôi và dân tộc tôi trong tang thương, đói nghèo và lạc hậu.
Anh Cao Xuân Huy, một niên trưởng Nguyễn Trãi, cũng là niên trưởng Thủy Quân Lục Chiến có lần nhắc lời cụ tổ chúng tôi trong bài hịch "Bình Ngô Đại Cáo" vang rền lịch sử "Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn".
Hung tàn còn đó trên quê hương tôi, muốn được làm một nghĩa quân Lam Sơn nhưng đại nghĩa đâu không thấy, chỉ thấy rặt một phường xôi thịt, đỉnh chung, chưa cầm quyền đã buôn quan bán tước. Chắc là phải noi gương một cụ già xưa, đêm đêm thắp nhang cầu cho bạo chúa sống lâu, cho dân tôi bớt khổ.
"Cây có cội, nước có nguồn", "Chim có tổ, người có tông".
Thật đáng thương cho những kẻ tự xưng mình mang dòng máu Lạc Hồng, lại vì chút hiềm thù, tư lợi nhỏ nhen hoặc bè phái, đã và đang làm những điều xúc phạm đến dân tộc, đến quê hương.
Nguyện cầu hồn thiêng sông núi và anh linh tiền nhân rộng lòng tha thứ...
Viết để kính tặng và tưởng nhớ anh Lực, một kẻ sĩ đã ở lại sông Mực và kính tặng 400 anh em chúng tôi trong chuyến Bắc du năm 1977-1978.
*****
- Phần 7 (Hết)
NGÀY VỀ
Khi sinh ra ai cũng mong muốn có một cuộc đời an nhàn sung sướng. Nhưng người dân quê hương tôi hầu như không ai có được một cuộc đời lành lặn. Sự thống trị của ngoại bang, chiến tranh chia cắt làm tan nát biết bao nhiêu gia đình người dân hiền lành vô tội. Có lẽ chúng ta chỉ còn lại những mảnh đời không lành lặn, được chắp vá với nhau qua những chặng đường đời. Hôm nay xin được kể cho các bạn nghe về những mảnh đời dang dở đó.
Đoàn tàu chưa dừng hẳn chúng tôi đã nhảy xuống khỏi lan can ở toa cuối cùng, chạy vội vã vào trú mưa dưới mái nhà ga. Nhìn qua cửa sổ tôi thấy đã hơn 11 giờ khuya trên chiếc đồng hồ treo tường. Ánh đèn vàng vọt, ga vắng người, chỉ có một số hành khách lên xuống các toa vào đêm hôm khuya khoắt như thế này. Hùng, Huy, Thành và tôi cố tìm trong ga một vài hàng bán thức ăn, để dằn cơn đói mà từ chiều tới giờ vì chống chỏi với cái lạnh và các nỗi lo sợ vây quanh mà anh em chúng tôi đã quên mất.
Ba giờ chiều hôm đó anh Thuyên đưa anh Hùng, Ngọc và tôi đến sân ga Huế. Các người bạn tù ở Huế đã hướng dẫn chúng tôi bọc vòng sân ga để vào theo ngõ các đường rầy.
Đồng Sỹ Tường nói với tôi:
- Cất tiền để đi đường ăn. Tù...! Tội gì phải mua vé! Vé tàu Thống Nhất cũng không tới phiên mi, công nhân viên còn phải đợi cả tháng.
Tôi thấy Miễn ngồi trên chiếc xe đạp, trong một góc, nhìn chúng tôi cười, vẫy tay hỏi thăm, chúc xuôi Nam mạnh giỏi. Có chừng hơn mười người bạn ở Huế ra ga đưa tiễn chúng tôi.
Một người bạn nói “Dự báo thời tiết cho biết, có mưa giông cấp 5, cấp 6 tối nay. Tụi mi ráng đi cho kịp, không thì kẹt lại đó".
Một anh khác thêm vào: "Tụi mi chia ra mỗi thằng lên một toa, kiếm một góc nào đó chui vào, ráng chờ cho tới khi nào tàu chuyển bánh thì yên".
Quay qua nhìn Hùng, thấy khuôn mặt lo lắng của anh tôi cảm thấy không yên.
Thường thì cảnh tiễn đưa ở sân ga bao giờ cũng rất là buồn. Buồn vì cảnh kẻ ở người đi... Nhưng anh em bạn tù chúng tôi thì ngược lại, họ không mong chúng tôi ở lại mà lại mong cho chúng tôi đi khuất mặt để về với gia đình đang mong đợi trong Nam.
"Những chiếc khăn hồng lất phất bay,
Những bàn tay vẫy những bàn tay,
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt..."
Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi lại có một buổi chia tay lý tưởng như vậy! Chia tay nhưng vui, chia tay nhưng không có nước mắt mà chỉ có nụ cười đưa tiễn.
Hơn bốn giờ chiều loa phóng thanh thông báo tàu Thống Nhất 2 sẽ đến ga lúc 4 giờ 30 phút. Tôi cảm thấy nóng ruột. Quay qua thì Ngọc đã lủi đi một góc nào rồi, theo đúng sự cố vấn của các bạn tù Huế. Hùng gương mặt rầu rĩ, lo lắng hỏi tôi:
- Sao đây Minh?
- Tàu đến mình cứ leo đại lên toa rồi tính sau.
Khoảng gần 4 giờ 30, còi tàu hú vang ở khúc quanh khuất tầm mắt cuối đường rầy, và chẳng bao lâu đoàn xe lửa Thống Nhất xuất hiện. Đoàn tàu trông có vẻ mới mẻ, đẹp mắt, khác với những đoàn tàu cũ kỹ mà tôi đã nhìn chán mắt ở ga Saigon mỗi ngày tôi đi đến trường Trương Minh Ký thuở xưa.
Hai chị em tôi thường đi tắt xuyên qua ga Saigon, rút ngắn được một khoảng đường hơn cây số. Tôi thích những hòn than đá nhặt được trên đường rầy, chúng đen mượt và óng ánh dưới nắng như những hòn ngọc đen.
Tàu dừng hẳn. Các cửa toa được mở ra. Sau khi các hành khách xuống xong thì các hành khách mới lên tàu. Anh em chúng tôi bắt đầu chia nhau leo vào các toa. Thật là số “giẫm phải ổ kiến lửa", tôi chui vào đúng ngay cái toa dành cho các anh bộ đội đi công tác. Vừa không có chỗ trống, lại trông thấy tôi lạ, có lẽ vẫn còn hình ảnh của người bên kia chiến tuyến nên các anh ấy la ầm lên:
- Anh này ở đâu vào đây thế?
Hai cô soát vé nghe thế tiến lại, hỏi vé tàu và mời tôi đi xuống.
Chân vừa chạm đất thì thấy Hùng hốt hoảng chạy tới, hai anh em chúng tôi lại leo lên toa xe kế. Hình như đã được báo động, các cô soát vé lại chận chúng tôi và mời xuống lần nữa.
Thất vọng nhưng vẫn bình tĩnh, tôi kéo Hùng chạy về phía toa cuối cùng, nhưng chúng tôi dã bị chận lại ngay cửa toa.
"Bất Quá Tam", ba bận không được, tôi không nhảy lên xe nữa mà ngồi tính kế.
- Hùng à! Đợi xe bắt đầu chạy mình nhảy lên. Tôi nói với anh cùng với một cái gật đầu cảm thông và khích lệ.
Hơn 5 giờ chiều, còi hụ, đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Thế là tôi nhanh chân nhảy ngay lên một toa gần đó, Hùng cũng bám theo tôi.
Tôi nhớ mãi cô gái soát vé la toáng lên:
- Các anh có xuống không...?
Cô ta cung tay làm như chuẩn bị xô anh em chúng tôi xuống. Lặng người một giây, tôi suy nghĩ thật nhanh... Quay mình nhảy khỏi toa tàu, Hùng cũng nhảy theo tôi. Đoàn tàu Thống Nhất 2 rời ga xe lửa Huế...
Nhớ lời một anh bạn tù nói với chúng tôi ban chiều "Tụi mi xui. Tụi mi tới sớm một chút đi tàu Thống Nhất 1, tàu Saigon dễ hơn. Tàu ni tàu Hà Nội". Thì ra có bốn chuyến tàu Thống Nhất. Tàu số lẻ 1 và 3 xuất phát từ Saigon, hầu hết nhân viên trên tàu người Nam. Tàu số chẵn 2 và 4 xuất phát từ Hà Nội, thảo nào toàn là dân Bắc.
Đoàn tàu bắt đầu tăng tốc độ. Tôi nghe tiếng Đồng Sỹ Tường hét lớn "Nhảy lên! Nhảy đại lên!". Quay người lại thì toa cuối cùng cũng vừa trờ tới nhưng cửa toa tàu đã đóng kín, tôi nhảy đại lên, bám vào lan can sắt, nghiêng người lại kéo Hùng cũng vừa nhảy bám theo sau. Tiếp theo Hùng là Thành và Huy, hai người không biết ở đâu lại xuất hiện bất ngờ, tôi và Hùng nép qua một bên để Thành và Huy có chỗ đu vào.
Chúng tôi vừa đặt chân xuống lan can thì tiếng còi tàu vừa chấm dứt, tàu bắt đầu lao về phía trước với tốc độ nhanh hơn. Bốn anh em tù chúng tôi, những người khách cuối cùng, những người khách không được chấp nhận của đoàn tàu Thống Nhất 2 vừa rời ga Huế. Nhìn ngược về phía sân ga, các bạn tôi vẫy vẫy tay tiễn đưa, xa dần, xa dần mà trong lòng còn nhiều xúc động...
Hơn một giờ sau đoàn tàu chạy qua Vinh Hiền. Nhìn về hướng Đông tôi nhớ đến ngày 26/3/75 tại cửa Tư Hiền, nơi anh em chúng tôi chấm dứt chặng đời binh nghiệp, để bắt đầu cuộc đời tù đày.
Trời nhá nhem tối, những đám mây đen từ biển kéo vào vần vũ và cơn bão bắt đầu đổ bộ. Mưa tầm tã khi đoàn tàu gần đến Lăng Cô, chân đèo Hải Vân, trời tối mù mịt, chắc vào khoảng gần 7 giờ tối. Thành lôi ra tấm poncho, hai chúng tôi trùm lấy cho nhau giữ hơi ấm. Hùng và Huy cũng lấy ra những tấm ni lông, chúng tôi nép vào nhau để chống chọi cơn bão và những hạt mưa tới tấp quất lên người.
Đoàn tàu ì ạch leo đèo Hải Vân dưới mưa bão. Có những khúc quanh gắt, tàu chạy chậm hẳn lại. Tôi nghe những tiếng móc sắt mà những tài xế đoàn tàu thả xuống để bám đường rail “cọc, cạch, cọc, cạch, cọc, cạch ...” Những tiếng sắt va chạm trong đêm làm cho tôi tưởng nhớ đến một đoạn thơ, thật là hợp lúc nhưng không hợp tình.
“Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có gì vương vấn trong hơi máy
Những chiếc toa, đầy nặng khổ đau”.
Không biết chiếc toa cuối cùng đầy nặng khổ đau này có thông cảm cho bốn người khách bất đắc dĩ đã gửi thêm sức nặng lên mình nó không nhỉ?
Nhìn về hướng biển, làng Lăng Cô dưới chân đèo chìm trong màn mưa bắt đầu nặng hạt, xa xa lờ mờ vài ngọn đèn leo lét, mưa bão như thế này mà kéo dài vài ngày thì làm sao các ngư dân ra khơi để kiếm ăn. Khoảng tám giờ tối đoàn tàu chui qua một đường hầm dài, từ đó trở đi chúng tôi không còn thấy gì ngoài ngoài màn mưa và sương mù dày đặc từ các hốc núi bốc ra.
Càng lên cao tàu càng chậm dần, có những lúc tàu như dừng lại. Tiếng máy hú rền lên trong đêm, nhìn về phía trước những đóm lửa từ đầu máy phun lên không gian mờ mịt, tôi cảm thấy lạnh người...
Những ngày còn bé tôi thích nghe người lớn kể chuyện ma, hai chân rút lên giường, lấy chăn hay bất cứ một mảnh vải nào trùm lấy cho đừng cảm thấy lạnh. Có những đêm quá khuya, mẹ tôi mắng “Thằng này có đi ngủ không, mai còn đi học”. Trèo lên gác, chui vào mùng, chụp vội cái chăn để trùm kín người từ đầu đến chân mặc dù trời không lạnh lắm, co người lại tôi thầm nghĩ “Trùm kín thế này chắc ma không nhìn thấy mình đâu, nhưng nếu ma kéo chăn ra thì làm sao?”. Nghĩ thế tôi càng co người lại.
Nhìn theo ánh đèn xe lửa xuyên màn mưa và sương mù dày đặc, tôi chợt nhớ đến câu chuyện “Bóng Người Trong Sương Mù” trong tập truyện ngắn “Anh Phải Sống” của Khái Hưng và Nhất Linh. Tôi rụt đầu vào poncho, không muốn nhìn và nghe thấy những âm thanh ma quái vang lên trong đêm với bóng người trắng trong sương mù, vẫy vẫy đôi tay kêu gọi con tàu “Dừng lại! Dừng lại! Dừng lại!”. Bên cạnh tôi Thành vẫn còn lầm bầm chửi “Mẹ mầy, con mẹ Bắc Kỳ!”
Ngày đơn vị dừng chân ở chợ Sải, Triệu Phong, tôi quen Thành. Mỗi lần không vừa ý một người bạn miền Trung thì anh lại nói “Mẹ mầy, thằng Nẫu!”. Không vừa ý ai Bắc Kỳ thì “Tao nói rồi, cái thằng rau muống!", nhưng chưa nghe anh than van về "giá sống" bao giờ. Có điều là nói hay chửi xong anh lại cười xòa chứ không như lần này, anh lầm bầm cả buổi tối...
Bên bờ sông Vĩnh Định, chợt thức giấc một đêm khuya, tôi thấy Lên, người hiệu thính viên, chồm người ra khỏi võng chụp lấy cái đèn pin dã chiến, làm băng pin PRC-25, bóng đèn được bọc bằng giấy bạc bao thuốc lá. Anh hối hả vặn lên, có lẽ quá vội vàng, anh lộn giây, đèn lóe sáng rồi tắt lịm. Chồm qua phía chiếc radio, Lên chụp lấy, vặn thật lớn giữa đêm khuya. Tôi bực mình hỏi:
- Mày làm cái gì vậy Lên?
Lên im lặng không trả lời. Tôi gắt:
- Tắt đi, làm gì mà mầy mở radio giờ này!
Anh vặn tắt radio rồi chúi đầu vào trong cái võng. Lần đó chúng tôi qua đêm tại căn bếp của một ngôi nhà ba gian đã bị sập vì đạn pháo bên bờ sông Vĩnh Định. Tôi và Lên mắc võng vào những cây cột nhà bếp, đâu chân vào nhau, chiếc máy truyền tin dựa vào cây cột ở chân võng. Sáng hôm sau tôi hỏi Lên:
- Làm gì mà mày bật đèn, bật radio giữa khuya vậy?
- Em thấy ma.
- Ở đâu?
Đưa tay chỉ về phía ngôi nhà chính đổ nát không ai dọn dẹp, cả ngôi nhà ba gian sập hoàn toàn trên nền nhà...
- Mày thấy như thế nào?
- Một cô gái tóc thề, mắt sáng như đèn, nhìn chòng chọc vào em với gương mặt giận dữ.
- Thiệt không mậy?
- Em nói thiệt.
Quay qua anh Xê và những người lính trong ban chỉ huy, tôi nói thật gọn:
- Mình dời nhà.
Lần khác, trung đội tôi làm tiền đồn cho đại đội sau ngày ngưng bắn ở La Vang Thượng trong một ngôi làng nhỏ tên là Như Lệ. Những ngày mưa dầm ướt át, ngồi bó gối nhìn quanh, buồn muốn khóc. Thảo nào làng lại chẳng có tên là "Như Lệ".
Khi bàn giao tiền đồn, chúng tôi vét lại giao thông hào, Hạ Sĩ Tâm nhìn thấy một xương sọ người và một đôi dép râu. Tinh nghịch anh đặt chiếc xương sọ lên bờ giao thông hào rồi lấy đôi dép râu gác trên đầu chiếc xương sọ, miệng nói "Sinh Bắc Tử Nam".
Tối hôm đó Tâm lên cơn điên lồng lộn như bị ai đấm đá dữ dội, chúng tôi phải trói anh lại, và đang đêm cho hai người lính dẫn anh vào đại đội gặp Trung Sĩ Nhất Trần Ngâm, người Việt gốc Miên vùng 4. Anh Ngâm dùng roi dâu quất vào người Tâm, Tâm quằn quại trên mặt đất. Hôm sau Tâm được đưa ra điều trị tại Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, vài tháng sau được trả về đơn vị anh vẫn chưa tỉnh trí.
Trong đời lính tôi đã gặp quá nhiều chuyện ma quỉ như thế này rồi; đêm nay dưới cơn mưa bão trên đèo Hải Vân, tôi không muốn nhìn thấy thêm một lần nữa.
Tôi quay qua chọc Thành, hy vọng anh em chúng tôi có những tràng cười để qua cơn chịu đựng. "Ai biểu mày là giá sống làm chi! Nếu mày là rau muống, chắc mày đã bỏ thây trên đường mòn Hồ Chí Minh rồi". Chúng tôi cười khúc khích, cảm thấy thương cho những người "Sinh Bắc Tử Nam!".
Gần mười giờ khuya đoàn tàu bắt đầu đổ dốc. Anh em chúng tôi thật căng thẳng ở những khúc quanh gắt. Bám chặt vào lan can tàu, anh em chúng tôi níu lấy nhau, nghe tiếng bánh sắt nghiến trên đường rail, nhìn những tia lửa bắn ra do sức ma sát của những bánh sắt trên đường tàu trong đêm mù sương, có lẽ các bạn tôi cũng như tôi đang thầm cầu nguyện cho con tàu bình an đến Đà Nẵng.
Nhớ lại cảnh anh em chúng tôi đi Roller Coaster trên đèo Hải Vân năm xưa mà trong lòng còn kinh sợ, khác hẳn với cảnh Roller Coaster ở Magic Mountain hoặc Disneyland bên này, hét lên vì cảm giác và thích thú.
Nửa khuya hôm đó tàu rời ga Đà Nẵng mang theo bốn anh em chúng tôi, những hành khách không ngủ; thật tình thì không dám ngủ, sợ lơi tay bỏ mạng dọc đường. Thành thì cứ tiếp tục "Mẹ mày! Con quỉ Bắc Kỳ".
Trời vừa sáng tỏ thì đoàn tàu chạy chậm lại rồi ngừng hẳn. Tò mò, chúng tôi rời lan can tàu đi dần về các toa trước để hỏi thăm tình hình, thì ra tàu hỏng máy. Chúng tôi mừng thầm và tự an ủi, “Nếu tàu hỏng máy lúc leo đèo Hải Vân, có lẽ anh em chúng tôi đã nằm vương vãi đâu đó dọc Lăng Cô”.
Nhìn qua cửa sổ một toa xe, tôi trông thấy Quý, một bạn tù trước cùng học ở Khoa Học Saigon. Anh học Lý Hóa Vạn Vật, còn tôi Toán Lý. Tôi gọi Quý và gửi cái ba lô đẫm nước mưa của tôi, để được dễ dàng xoay xở. Sau này về Saigon, đến nhà anh nhận lại "gia tài tù" thì nó đã được giặt, phơi khô và xếp cẩn thận lại rồi.
Đoàn tàu Thống Nhất 2 nằm chịu trận giữa đường chờ sửa chữa. Chúng tôi nhờ các bạn may mắn hơn đã ở yên trong các toa mua hộ thức ăn dằn bụng.
Khoảng 2 giờ chiều đoàn tàu chợ Đà Nẵng - Qui Nhơn xuất hiện. Chúng tôi rời lan can tàu Thống Nhất 2 để nhảy lên các toa của đoàn tàu chợ Qui Nhơn. Đoàn tàu chợ không có cửa như tàu tốc hành Thống Nhất. Kiếm một góc toa chúng tôi ngồi xuống nghỉ mệt sau gần một ngày đêm căng thẳng và không được nghỉ ngơi.
Ì à ì ạch dọc đường, ghé các ga, cuối cùng đoàn tàu cũng về đến ga Diêu Trì, Qui Nhơn khi trời vừa sẩm tối. Tàu chưa dừng, loa phóng thanh đã oang oang thông báo: “Hành khách có vé xếp hàng bên trái, hành khách không có vé xếp hàng bên phải, ai không có vé phải mua vé phạt 100%”. Giá vé Đà Nẵng - Qui Nhơn 26$, ai không có vé phải trả 52$. Tính thầm số tiền còn lại trên người, thì nếu phải mua vé chỉ một lần này thôi đã quá nửa số tiền anh em chúng tôi được phát là 95$ tiền vé xe lửa về Saigon và 7$ tiền ăn dọc đường.
Nhìn về phía cổng ra vào của nhà ga. Tôi trông thấy một người lính công an đang đứng gác. Kéo các bạn ra khỏi hàng, vừa đi về phía cổng tôi vừa nói "Công an giữ mình thì bây giờ công an thả mình". Tới trước mặt anh công an, tôi mở lời:
- Chào cán bộ.
- Gì thế! Các anh muốn gì thế?
Giọng nói miền Bắc, có lẽ anh là một công an thuộc ngành hỏa xa được điều động vào làm việc trong Nam.
- Thưa cán bộ, anh em chúng tôi học tập cải tạo được thả từ Huế. Gần một tuần nay, chúng tôi đi đường không còn đủ tiền, xin cán bộ cho ra Qui Nhơn gặp người quen mượn tiền về quê. Tôi trình bày hoàn cảnh và xin được cho ra khỏi ga.
- Có thật anh hết tiền không nào?
- Thật mà cán bộ. Tôi bị kẹt ở Huế cả tuần, chờ tàu Thống Nhất mà không mua được vé nên tiêu hết tiền.
- Còn anh này? Anh công an quay qua hỏi Thành.
- Tui cũng vậy! Cán bộ không tin cứ xét, không nghe nó lầm bầm "Mẹ mày Bắc Kỳ" nữa!
May phước anh công an không hỏi Hùng và Huy. Hai anh chàng này chả bao giờ dám nói láo.
- Các anh nói dối là các anh chết với tôi đấy nhé!
Có lẽ thông cảm hoàn cảnh, anh đưa chúng tôi ra cổng và nói với nhân viên gác cổng:
- Cho các anh này ra.
"Thương người là tính bẩm sinh của dân tôi"
Sau khi ra khỏi ga, chúng tôi kiếm một hàng bánh mì nhét đầy bụng rồi ghé đến một vòi nước công cộng uống cho thật no.
Đêm hôm đó bốn anh em chúng tôi nằm ôm nhau ngủ say như chết trên một vỉa hè của thành phố Qui Nhơn bỏ mặc dòng người qua lại.
Tờ mờ sáng nghe Thành hét lên:
- ĐM! Thằng nào rọc túi tao rồi.
Chiếc áo jacket sờn vai cũ kỹ của Thành bị rọc ở một góc túi, thiệt là hết nói “Ăn xin gặp ăn trộm”.
Chúng tôi kéo đến vòi nước công cộng để rửa mặt rồi trở lại ga Qui Nhơn với hy vọng có tàu xuôi Nam.
Tôi chợt nhớ tới Phan Văn Châu với lời nhắn trước khi được thả ở Cồn Tiên, nhét vào tay tôi tấm giấy xếp nhỏ và nói "Chừng nào về, trên đường xuôi Nam, đến Qui Nhơn, nhớ ghé nhà tao".
Châu cùng học với tôi ở Khoa Học, tôi hỏi nó kỷ niệm nào nhớ nhất khi lần đầu vào Saigon. "Chiếc xích lô máy", Châu trả lời. "Tao vừa xuống xe đò thì một chiếc xích lô máy trờ tới, tao leo lên để đến địa chỉ người quen, thiệt là xanh máu mặt. Tao thấy nó chạy như đâm vô đít người ta, rồi lạng qua lạng lại. Ngồi trên xe tao né qua trái, rồi né qua phải; thằng cha tài xế vừa lái xe vừa nhìn tao, vừa cười sằng sặc. Khỏi có lần thứ nhì!".
Đêm cuối ở trại, trước khi ra về, trao cho tôi chiếc ba-lô mà gia đình nó đem ra kỳ thăm viếng trước đó, Châu nói:
- Ê Minh, hồi chưa quen mày, tao ghét mày lắm!
- Còn bây giờ thì thù tao chớ gì?
- Không, tao thấy mày chơi với bạn thiệt tình ...
"Xin lỗi bạn nhe Châu, tờ giấy xếp tư còn nằm trong đáy bóp nhưng tôi không dám lôi ra, không muốn đến làm phiền bạn. Giờ này bạn ở đâu? Cho gửi lời thăm hỏi!".
Ga Qui nhơn đông nghẹt người nhưng bảng thông báo cho biết không có xe lửa rời ga ngày hôm đó. Chờ đến 9 giờ sáng cũng không có gì thay đổi. Chúng tôi hỏi thăm đường sá và kéo nhau ra bến xe đò. Khi đến nơi thì chỉ còn vài chuyến cuối cùng, chẳng có bán vé gì cả, muốn đi thì cứ móc túi ra trả 55$ một người. Nóng lòng muốn về anh em chúng tôi phải bấm bụng lấy tiền mua vé.
Vượt đèo Cù Mông, vượt cầu Đà Rằng xe phom phom xuôi Nam. Khoảng ba giờ chiều xe đến đèo Rù Rì. Nhìn về phía trại lính trên đèo bị bỏ hoang phế, lại nhớ đến thời gian sau ngày đi chiến dịch chúng tôi được về trú đóng ở đây, rồi thì đến ngõ vào trung tâm huấn luyện Đồng Đế, nơi đã rèn luyện chúng tôi thành một người lính. Ngày nhập trại chúng tôi chỉ vào tượng đồng đen của người lính trước cổng nói đùa "Chừng nào phơi nắng đen như thế này thì mình ra trường..."
Trên ngọn đồi sau trường không còn bức tượng người lính ở đó nữa, dù sao cũng hơn là họ đổi cái nón sắt của anh thành cái nón cối. Mỗi chiều hoàng hôn nhìn lên tượng người lính trắng và ngọn đồi in hình trên bầu trời thì sẽ thấy câu thơ mà ai đã từng ở trường Đồng Đế phải biết:
"Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh"
Xuống xe ở Nha Trang gần bốn giờ chiều, đường phố ướt át và mát rượi sau cơn mưa. Gần sáu năm rồi sau ngày thống nhất đất nước, Nha Trang trông có vẻ tàn tạ, những tấm bảng bích chương, quảng cáo, cổ động vẽ hình các công nhân, bộ đội và các khẩu hiệu "Lao động là vinh quang" mà khi còn ở trong tù anh em chúng tôi thường đùa là "Lao động là vất vả, nằm ngả là vinh quang" trông có vẻ lạc lõng làm sao ấy. Gần sáu năm rồi mà chúng tôi chẳng được nghe thêm một bài hát hoặc một bài thơ mới về cái thành phố miền biển đáng yêu này.
Có lẽ văn nhân, nghệ sĩ đã bỏ bút, bỏ đàn để cầm cày, cầm cuốc đi kiếm ăn rồi, còn ai mà mơ về “Nha Trang là miền quê hương cát trắng, Ai qua không ghi vào lòng một niềm luyến tiếc bâng khuâng”, luyến tiếc gì trong khi bụng không có một hột cơm.
Chúng tôi đi lần về ga xe lửa, gần đến ga thì thấy Ngọc và Hiệp đi về phía chúng tôi.
"Tiên sư mày, giờ này sao còn ở đây. Ông tưởng mày về đến Saigon rồi." Tôi nhìn Hiệp miệng nói lớn. Nó trả lời "Mẹ, nhớ Nha Trang quá ghé lại thăm".
Hiệp cùng học Khoa Học với tôi, gia đình ở Hố Nai, Biên Hòa.
Hiệp kể: “Tao với một thằng bạn, không phải thằng Ngọc này, leo lên tàu Thống Nhất 1 tại Huế lúc ba giờ chiều. Xe đã chạy rồi, hai con nhỏ soát vé vào hỏi vé, hai thằng tao gốc Bùi Chu, Phát Diệm nói giọng Bắc đặc, thế là tụi nó đuổi chúng tao ra lan can. Xe leo lưng chừng đèo Hải Vân thì mưa bão ập vào. Hai thằng tao ướt như chuột lột, tụi tao ngồi rủa "hai con quỉ ác độc". Một lúc sau nghe bên trong có tiếng nói chuyện qua lại, cửa sổ mở ra và một con nhỏ soát vé ló đầu ra hỏi:
- Có phải hai anh là tù cải tạo không?
- Vâng, tụi tôi là tù cải tạo được thả ra ở Bình Điền. Tao trả lời.
Thế là cửa mở rộng, hai nàng tiên kiều diễm lách ra để hai tụi tao vào.
Những người dân miền Nam trong toa nhường chỗ cho tụi tao ngồi, người thì đưa khăn lau, người thì đưa nước uống, có người còn đi mua thức ăn cho tụi tao. Khi tới Nha Trang tao xuống ga, họ ngăn cản, nói là nên đi luôn vì một lần đi là một lần khó khăn. Tao nói là còn một chuyện nợ nần tình cảm ở Nha Trang nên phải xuống để giải quyết. Thằng bạn kia hãi quá không dám xuống."
Còn thằng Ngọc kể: "Ở Huế tao lủi vô một góc, nhìn kỹ không có động tĩnh, tao leo lên toa của những người dân buôn, tao xề xuống chỗ của một bà quấn khăn người miền Nam. Biết tao là tù cải tạo, bà để yên cho tao ngồi. Tàu chạy, tụi nó đến soát vé và đòi tiền phạt, những người dân buôn miền Nam chung tiền góp cho tao, thấy thế nó làm ngơ, thế là tao có thêm ít tiền."
- Thế thì mày xuống đây làm gì, không đi về luôn cho êm chuyện.
- Nhớ Nha Trang quá, sẵn dịp đi ngang ghé lại thăm, hồi tưởng lại quãng đời quá khứ, không biết còn có dịp trở lại nữa không...
Sáu đứa chúng tôi tạt vào một quán nước bên đường, ngồi ăn uống qua loa và nghỉ mệt. Thực sự thì chỉ có bốn đứa tôi cần nghỉ mệt, hai thằng kia có mệt gì mà nghỉ.
Anh chủ quán nghe chúng tôi kể chuyện đường về đâm ra thông cảm, đem tặng cho chúng tôi hai xị rượu thuốc và một ít mồi lai rai.
Rời quán chúng tôi đi dạo vòng quanh thành phố để nhớ lại những địa điểm mà một thời đã hằn dấu trong cuộc đời chúng tôi, những người lữ khách.
Trở về ga thì trời đã tối hẳn, chúng tôi tìm một góc trống ngồi nghỉ chuẩn bị cho ngày mai. Ngọc lôi cây đàn ra, cây đàn đã làm cho tôi và nó bị kiểm điểm nhiều lần về tội hát nhạc vàng. Đêm hôm đó nơi sân ga, nước mắt lưng tròng tôi ngồi hát bài "Nha Trang ngày về" của Phạm Duy. Hùng càng làm cho không khí thêm se lạnh với bài "Đêm Đông" của Nguyễn Văn Thương. Chung quanh chúng tôi khoảng năm mươi người lữ khách ngồi quây quần im lặng thưởng thức, không một tiếng vỗ tay, không một lời tán thưởng. Hiệp, Ngọc và Thành thay phiên đàn cho chúng tôi hát gần hai tiếng đồng hồ.
Anh công an gác ga đi qua đứng nhìn chúng tôi rồi yên lặng bỏ đi. Có lẽ anh đến một góc nào đó trong sân ga để cảm thấy rằng, anh cũng như chúng tôi, tất cả đều là những lữ khách trên chính quê hương Việt Nam đã tàn tạ vì chiến tranh, chia rẽ, hận thù...
Chúng tôi bị thức giấc bởi những tiếng náo động của những người đi buôn tràn vào sân ga sớm lúc 5 giờ sáng. Theo dòng người chúng tôi vòng ra ngoài rồi theo ngả các đường rầy để leo lên đoàn tàu chợ Nha Trang - Saigon. Hùng không muốn mạo hiểm một lần nữa nên xếp hàng mua vé. Còn năm thằng chúng tôi leo lên xe ngồi trước. Khoảng 7 giờ sáng hành khách có mua vé được lên xe. Thì ra những người dân buôn đã chọn trước những chỗ tốt rồi.
8 giờ sáng tàu rời sân ga, chạy đến Cam Ranh thì nhân viên soát vé tàu vào toa của chúng tôi. Trước đó, khi biết chúng tôi là tù cải tạo những người dân buôn vội vàng nhét những bao hàng dưới chỗ ngồi chúng tôi ngồi. Anh nhân viên soát vé sau khi coi xong giấy tờ của tôi thì nói "Chúc mừng các anh, chúc các anh may mắn!" rồi bỏ đi. Anh độ chừng hơn 30 tuổi, chắc cũng có thời là chiến binh miền Nam.
Tàu ghé qua các ga Mường Mán, Hàm Tân, Long Khánh và nhiều ga khác nữa mà tôi không nhớ tên, lòng lâng lâng nghĩ đến lúc về tới nhà chắc bố mẹ tôi ngạc nhiên lắm. "Tam thập nhi lập", bố mẹ tôi đã già, tôi không có dịp phụng dưỡng mà còn là một gánh nặng cho gia đình.
Chúng tôi lót lòng bằng các thức ăn mua trên xe lửa hoặc ở các ga dọc đường. Tôi không cảm thấy đói, mệt gì cả vì nỗi vui mừng sum họp với gia đình đã xóa mất đi rồi.
Đoàn tàu đến Thủ Đức thì trời đã hoàng hôn, song song với đường tàu từ Thủ Đức về Bình Triệu là Quốc Lộ 1. Con đường tôi đã đi lại rất nhiều lần từ thời Trung Học, những ngày đi chơi ở Thủ Đức, Biên Hòa, Lái Thiêu... Tôi còn nhớ những khúc quanh trên đoạn đường này.
Gần đến Bình Triệu xe lửa từ từ chậm lại. Tôi thấy các người dân đi buôn bắt đầu quăng hàng hóa xuống đường. Dọc theo đường là các xe Honda ôm, xích lô, ba gác, ba bánh gắn máy chờ đón để chở đi những hàng hóa mà dân buôn sợ phải đóng thuế khi vào đến ga.
Tôi hỏi một thanh niên trẻ đứng cạnh cửa:
- Chừng nào thì đến ga Saigon?
- Ga Saigon giải tỏa rồi, tàu chỉ đến ga Bình Triệu mà thôi.
- Thế thì chúng tôi xuống đâu?
- Các anh xuống đây tốt nhất, đi xe ôm hoặc xe xích lô về Saigon.
Anh em chúng tôi bắt đầu nhảy ra khỏi tàu, Ngọc, Hiệp, Thành, Huy và tôi.
Chân vừa chạm đất tự nhiên đôi dòng lệ vui mừng trào ra. Tôi đã thật sự đặt chân đến Saigon, nơi mà gần 30 năm trước tôi được sinh ra ở nhà thương Từ Dũ. Nơi mà bố và các anh chị đã đến đón mẹ và tôi ngày ra đời, cũng là nơi mà tôi đã theo bố đến đón mẹ và các em tôi sau này. Nhớ đến ngôi nhà mà tôi đã được dưỡng nuôi từ tấm bé cho đến khi trưởng thành, tôi đột nhiên xúc động.
Bài nhạc "Ngày về" của Hoàng Quý chợt thoát ra từ cửa miệng.
"Tung cánh chim tìm về tổ ấm,
Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm,
Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi, luyến tiếc bao nhiêu ngày qua..."
Chúng tôi 5 đứa nhảy lên một chiếc xe ba bánh gắn máy để đi về Saigon. Xe quẹo trái ở ngã tư Bình Triệu. Từ trên dốc cầu Bình Triệu nhìn về phía Saigon, những hàng đèn sáng rực càng rực sáng hơn lên trong lòng tôi.
"Saigon đẹp lắm Saigon ơi, Saigon ơi!"
Ở cuối con đường này là nhà tôi, gia đình tôi đang chờ đợi...
Những cánh chim tha phương sẽ bay về tổ cũ và mái ấm gia đình, sẽ hàn gắn lại những vết thương đời, chiến tranh, tù tội, xóa đi các vết chàm đã khắc sâu vào thể xác cũng như tâm hồn những niềm đau âm ỉ không nguôi.
Tối hôm đó Hùng về thẳng nhà người em gái ở Phú Nhuận, Huy theo Thành đến trọ nhà người bà con ở Phú Thọ Hòa, Hiệp và Ngọc ở lại nhà tôi qua đêm. Sáng sớm hôm sau Hiệp về Hố Nai - Biên Hòa, Ngọc về Bình Tuy. Hai ngày sau đó Thành về Mỹ Tho, Huy về Vĩnh Bình.
Anh em chúng tôi không gặp lại nhau từ đó. Bây giờ Hiệp ở Santa Ana, Hùng ở San Jose, California, Thành ở Chicago, Illinois. Chỉ buồn cho Ngọc, Ngọc vẫn chưa dứt nợ súng đạn, đã qua đời sau một cuộc đọ súng với cướp khi đang làm việc trong một tiệm Liquor ở Texas. Huy quyết định ở lại Việt Nam chỉ với một ý nghĩ đơn giản "Xin chọn nơi chôn nhau cắt rốn, làm nơi gửi nắm xương tàn".
Còn tôi, ngồi đây với những mảnh đời dở dang được viết ra trên giấy...
MX NGUYỄN NGỌC MINH
Nguyễn Trãi B363
Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến

