Phần 3
TRIỆU PHONG - CHỢ SÃI - SÔNG VĨNH ĐỊNH
Những người lính TQLC chúng tôi từ khắp miền đất nước, từ Cao Bằng, Lạng Sơn tới Năm Căn, Cà Mau, từ Tây Nguyên Pleiku, Kontum đến miền duyên hải Nha Trang, Đà Nẵng, những người dân Khmer Crôm vùng 4, tới một chàng thanh niên trẻ yêu đời từ Paris. Chúng tôi được tập họp tại Quảng Trị, để cùng với người dân vùng đất cày lên sỏi đá này, đóng những vai thật trong một vở bi kịch thời chiến...
Tháng 3 năm 1973 đơn vị tôi rời cổ thành và tỉnh lỵ Quảng Trị, hoán đổi vị trí đóng quân với tiểu đoàn 3 TQLC tại Triệu Phong, khu vực Chợ Sãi và sông Vĩnh Định.
Trên đường chuyển quân tôi gặp Bích, một người bạn cùng khóa thuộc tiểu đoàn 3. Chúng tôi dừng lại đôi ba phút để hỏi thăm nhau, rồi mạnh ai nấy tiếp tục đoạn đường.
Chợ Sãi chiếm một khu vực thật đẹp mắt ở ngã ba sông Thạch Hãn, và một nhánh nhỏ dẫn về sông Vĩnh Định, nằm ở phía Đông Bắc của Quảng Trị và cổ thành Đinh Công Tráng, trên trục lộ đường thủy từ cửa Việt đến Quảng Trị. Vì là một vị trí chiến lược quan trọng nên quân đội của cả hai miền đều dồn sức vào đây. Bom, pháo liên tục, Chợ Sãi chỉ còn là một chiến địa hoang tàn.
Chúng tôi, những chiến binh miền Nam xa gia đình đi chiến đấu, không biết nhiều về những truyền tích xưa. Không hiểu là khu vực này được xây dựng từ thời Chúa Sãi, hoặc tự bao giờ?
Người dân Quảng Trị thường nhắc về Chợ Sãi với món nem nướng thơm ngon. Thế mà những người lính chúng tôi đóng quân ở nơi này lại không có dịp thưởng thức được món đặc sản này, vì Chợ Sãi đã không còn.
Ngay góc sông, tàn tích còn sót lại của một ngôi nhà to, xây bằng gạch nung và đá vôi, mặt nhà nhìn về hướng cầu Thạch Hãn, lối bước lên nhà là một bậc cấp 7 bước. Bên ngoài ở góc phía sau nhà là một lối nhỏ dẫn vào chỗ kho chứa, chất đầy các dụng cụ linh tinh. Nơi đây đã là chỗ trú ngụ trong suốt những ngày lửa đạn của ba cô cháu gái, và cũng là chỗ tiếp tục kéo dài theo những mảnh đời của họ sau này.
Băng qua nhánh sông, trên những khúc gỗ tạp chồng chất lên nhau để nối liền hai bờ của chiếc cầu đã gẫy, con tỉnh lộ nối Triệu Phong với tỉnh lỵ Quảng Trị không còn hình dạng, những đoạn đường nhựa bị cắt quãng bởi hố bom và giao thông hào xen kẽ với nhau.
Tôi dừng lại đốt một điếu thuốc, kéo một hơi dài, nghe lồng ngực căng ra với một cảm giác lâng lâng. Một người lính trẻ bước qua chỗ tôi ngồi, lên tiếng chào:
- Thiếu úy ngồi nghỉ mệt hả?
Tôi cười và gật đầu trả lời, rồi hỏi:
- Em ở đâu?
Chỉ tay về phía khúc quanh của đoạn giao thông hào không xa phía trước, anh nói:
- Dạ, trung đội em ở ngay trước mặt đó. Thiếu úy đi sau nghe Thiếu úy...
Điếu thuốc còn dang dở trên tay, chưa kịp tiếp tục đoạn đường đến vị trí đóng quân, tôi nghe tiếng nổ chát chúa của một quả lựu đạn M-67, nhảy vội xuống giao thông hào, nhìn về hướng tiếng nổ phát ra, một bóng người vừa ngã xuống.
- Chuyện gì vậy?
Tôi hỏi những người lính phía trước, một lúc sau có tiếng những người lính nói chuyền xuống.
- Thằng... bị sút kíp lựu đạn khi nó nhảy xuống giao thông hào.
- Người tôi rởn da gà nhớ lại câu " Thiếu úy đi sau nghe Thiếu úy...". Câu anh nói chưa tàn điếu thuốc, bây giờ anh đi rồi, chừng nào tới phiên tôi đi... Tôi lặng người và không dám nghĩ tới.
Đại đội 3 đóng quân trải dài trên một đường tuyến ngoằn ngoèo khoảng hơn nửa cây số, từ bên ngoài Chợ Sãi kéo về phía quận đường Triệu Phong, rồi lại uốn cong về hướng Vĩnh Định.
Thời gian này tôi còn đi bay, OJT (on job training) với huynh trưởng Nguyễn Văn Huyền, trung đội 1 và huynh trưởng Nguyễn Lai, đại đội phó, trước khi nhận trung đội 3.
Tôi được học về cách bố trí quân, điều động và kết hợp, chọn vị trí chốt, các điểm chính yếu khi phòng thủ, các hướng tấn công và các đường xâm nhập của địch, trên thực tế, ngay tại chiến trường. Những ngày đi bay, học nghề của những sĩ quan trung đội trưởng TQLC, đã tiết kiệm được biết bao nhiêu xương máu của những người chiến sĩ Mũ Xanh.
Ngay sau khi hiệp định Paris 27/01/73 được ký kết, thay vì hòa bình chiến sự vẫn tiếp diễn ngày càng khốc liệt vì cộng quân tiếp tục tấn công để giành dân lấn đất sau ngày ngưng bắn. Thỉnh thoảng nghe được tin tức vài bạn cùng khóa hoặc khác khóa từ trường Đồng Đế Nha Trang đã hy sinh. Các bạn tôi ở cùng trung đội 1, đại đội 719, tiểu đoàn 1 khóa sinh, khóa 3/72 Nha Trang nhưng khi ra trường mỗi đứa một nơi như Mã Quyền thuộc sư đoàn 23 bộ binh, Trần Như Phú thuộc Biệt Động Quân cũng đã anh dũng đền nợ nước.
Hơn một tuần sau, đại đội 3 được giao cho công tác làm một hàng rào chắn đạn trực xạ, dọc bờ sông Thạch Hãn trong khu vực Chợ Sãi, và tôi nhận nhiệm vụ thi hành công việc này.
Mỗi ngày chúng tôi bắt đầu làm việc từ 9 giờ đến 10 giờ rưỡi sáng thì nghỉ giải lao, sau đó tiếp tục làm đến 12 giờ trưa thì về ăn cơm. Buổi chiều làm từ 2 đến 5 giờ chiều.
Hàng ngày có khoảng từ 30 đến 40 người lính từ các trung đội được giao cho tôi điều động để thi hành công tác. Nhờ công việc này nên chỉ một thời gian ngắn, tôi đã có thể nhớ tên hầu hết các chiến binh của toàn đại đội, biết tính tình và khả năng của họ, một điều rất ích lợi cho tôi sau này.
Thường thì vào giờ giải lao các chiến binh tìm chỗ mát nghỉ mệt, vài anh vào các căn nhà sụp đổ, thơ thẩn tìm vài vật dụng cần thiết còn có thể dùng được, số khác ngồi hút thuốc tán gẫu, hoặc tư lự nhớ nhà.
Một hôm có một người lính trẻ, lôi ra một cuốn sách Cours de Langne (Mauger Tome IV) ngồi đọc lẩm nhẩm, mỉm cười trầm tư.
Bước từ trên những bậc thềm của ngôi nhà xuống, nhìn thấy anh ta đang ngồi đọc sách, tôi hỏi:
- Mày lấy cuốn sách tiếng Tây làm chi, mày đọc được không?
- Dạ được, Thiếu úy.
- Đọc thử một đoạn coi.
Anh cất giọng đọc một cách thoải mái tự tin, làm cho tôi sửng sốt. Tôi đã được học một số bài trong sách này năm đệ Nhất, và tôi cũng đã được học 3 khóa Pháp văn tại Centre Culturel Francaise vào năm 67 và 68, mà tôi còn phải giật mình.
- Mày học tiếng Pháp ở đâu vậy?
- Em học ở Paris.
- Mẹ, mày giỡn hả?
- Nó ở bên Tây về đó Thiếu úy, người lính ngồi cạnh anh lên tiếng.
Tôi ngạc nhiên nhìn kỹ lại anh lính trẻ. Anh vào khoảng 18, 19 tuổi, sống mũi cao, tóc vàng, mắt xanh lơ, mà ngạc nhiên không ít.
- Có thiệt mày ở bên Tây về không?
- Dạ phải, Thiếu úy.
Anh nói tiếng Việt lơ lớ. Tôi cũng muốn biết thêm, nhưng không có nhiều thì giờ để tìm hiểu về cuộc đời anh nên chờ khi khác có dịp thuận tiện hơn.
Hơn một tháng sau, hàng rào được hoàn tất.
Một hôm huynh trưởng Tăng Bá Phụng mời các sĩ quan đại đội lên họp. Anh là một đại đội trưởng giỏi, có đạo đức và tư cách. Tôi đã học được từ anh rất nhiều về cung cách điều động và ứng xử với thuộc cấp.
- Ông Minh, lệnh từ sư đoàn là phải tổ chức một lớp học Việt ngữ cho những người lính mù chữ. Thượng sĩ Nam, thường vụ đại đội, sẽ phụ trách lớp học nhưng cần sự cố vấn, giúp đỡ của một sĩ quan, tôi giao cho anh chuyện này.
Sau đó anh em chúng tôi ngồi tâm sự, nói chuyện đời. Anh đưa cho tôi mượn vài quyển tiểu thuyết, truyện dịch của Quỳnh Dao và Erich Maria Remarque. Huynh trưởng Nguyễn Lai vừa cười vừa nói:
- Ê Minh, lính tác chiến không biết ngày về, cầm đọc cho đỡ quên chữ.
Anh Lai là sĩ quan thâm niên và lớn tuổi nhất đại đội. Anh nhập ngũ khóa hạ sĩ quan, sau đó được đi học sĩ quan đặc biệt khóa 1/70 và cũng là sĩ quan độc nhất có gia đình. Các anh em còn lại chúng tôi, đại đội trưởng và các trung đội trưởng vẫn còn độc thân tại chỗ.
Lớp học Việt ngữ có khoảng 10 học sinh, ai cũng nói giỏi tiếng Việt nhưng không biết viết. Chỉ trừ Binh II Nguyễn Văn Quang từ Paris về, nói không rành và viết chữ cũng không có dấu.
Bắt đầu thì học cho thuộc các mẫu tự, rồi tập ráp vần, ráp chữ, sau đó thì tập đọc và viết.
Một hôm có một anh lính tinh nghịch chỉ cho Quang đánh vần thơ lục bát. Quang học nhanh vì em có trình độ.
Hai câu thơ lục bát như sau:
“M K M H U Ơ
M K M H M R Q N.”
Nhìn gương mặt hồn nhiên của một chàng trai mới lớn, hiếu học, ham tìm hiểu tiếng mẹ đẻ mà thấy dễ thông cảm với em hơn.
Quang háo hức cất tiếng đọc chậm rãi:
"Em ca em hát u ơ
Em ca em hát em rờ... cu anh."
Cả lớp học rộ lên cười, trong khi Quang trố mắt ngạc nhiên và mỉm cười cất tiếng hỏi:
- Bộ vui lắm hả?
Hình như em chưa hiểu hết ý nghĩa của câu thơ.
Giữa tháng Tư, tôi nhận trung đội 3 khi Bửu về tập dượt diễn hành cho ngày Quân Lực 19/6. Tôi có một cuốn sổ bỏ túi để ghi tên tuổi, cá tính, trình độ học vấn của tất cả các chiến binh trung đội 3. Những chi tiết cần thiết này giúp tôi biết rõ các chiến binh thuộc quyền để dễ dàng điều động cho thích hợp với nhiệm vụ.
Trang viết về Binh II Nguyễn Văn Quang như sau:
Tên: NGUYỄN VĂN QUANG. Cấp bực: Binh II.
Ngày và nơi sinh: 1955 - Cần Thơ.
Trình độ học vấn: Tú tài (Vỡ lòng).
Hoàn cảnh gia đình: Độc thân.
Sở thích: Đọc sách tiếng Pháp.
Vũ khí sử dụng: M-16.
Cá tính: Hay ngủ gật khi gác.
Quyển sổ tay nhỏ này giúp cho tôi rất nhiều trong thời gian ở đại đội 3 và những ngày trong quân đội. Anh Lê Văn Xê, trung đội phó, hỏi tôi:
- Sao ông viết Tú Tài rồi còn vỡ lòng nữa?
- Nó Tú Tài Tây nhưng vỡ lòng Việt Ngữ.
Anh Xê cũng chiếm một trang trong sổ tay của tôi và chính anh cũng có một sổ tay riêng của trung đội phó ghi chép về trang bị và vũ khí của từng người trong trung đội.
Thời gian đi công tác làm hàng rào chống đạn trực xạ, tôi có nhìn thấy một chiếc xương sọ người trong một ngôi nhà đổ nát. Một hôm nhìn vào tôi thấy chiếc xương sọ biến mất. Ngạc nhiên tôi hỏi những người lính:
- Ai lấy chiếc xương sọ ở đây?
Một anh ở trung đội 4 trả lời.
- Anh Tiền đó Thiếu úy.
Trung sĩ Tiền, trung đội phó trung đội 4 đã lấy chiếc xương sọ về. Thảo nào tôi có nghe các người lính kể chuyện anh Tiền gửi hậu trạm, mua nhang đèn, trái cây, giấy tờ vàng bạc, và đêm nào cũng thắp nhang đèn vái lạy tứ phía.
Khoảng hơn một tuần sau, tôi lại thấy chiếc xương sọ trở về chỗ cũ trong ngôi nhà. Lại nghe các người lính kháo nhau về chuyện này.
Tôi ghé hỏi thăm Dũng và Chắn, hai người lính ở ban chỉ huy trung đội 4, Dũng trả lời:
- Ông không biết hả Thiếu úy, tối nào nó cũng về bóp cổ ổng, thở không nổi nên ổng phải đem trả lại đó.
Một buổi trưa tôi đang ngồi đọc sách dưới bóng râm của những tấm tôn vá víu dùng làm chỗ ngồi ăn của trung đội 3 thì thấy một số người lính đi nhận tiếp tế hàng tuần từ cánh B trở về đi ngang qua, trong số có Trung sĩ Thật, trung đội phó trung đội 2, mang theo một ôm thư, theo sau anh là Binh I Triết, hiệu thính viên của trung đội 2, cũng khệ nệ ôm một đống thư.
Tôi lên tiếng hỏi:
- Thư của ai nhiều vậy anh Thật?
Chỉ vào thằng Triết, anh nói:
- Của thằng này đây nè, nó bốn phé bắn (tìm bạn bốn phương) trong chương trình Bạch Tuyết trên đài phát thanh Quân đội nên thư gửi tới cả đống.
Sau ngày TQLC tái chiếm cổ thành Quảng Trị, trên các đài phát thanh hàng ngày thường phát đi bài hát “Cờ Bay Trên Cổ Thành Quảng Trị”.
Những người dân miền Nam lúc đó rất thương mến những chiến sĩ cọp biển, nhất là các cô em gái hậu phương, hình ảnh người anh cọp biển tiền tuyến là thần tượng khi nghe đọc trên đài phát thanh trong mục tìm bạn bốn phương. Tôi còn nhớ lời tìm bạn bốn phương của Nguyễn Văn Tân.
“Hơn 20 tuổi đời, tròn 2 tuổi lính, ôm giấc mộng làm trai thời chinh chiến, thèm ánh đèn đô thị với những buổi hẹn hò, thương chiếc áo dài trắng trên sân trường ngập nắng, mà chưa một lần được ngỏ cùng ai. Này cô em gái hậu phương, nếu có cảm thông niềm tâm sự, xin cho cánh nhạn bay về:
Nguyễn văn Tân
Đại đội 3, Tiểu đoàn 7 TQLC
KBC 3359
Hứa hồi âm dù thư đến chậm."
Chắc các người trong chương trình tìm bạn bốn phương đã sửa đổi ít nhiều khiến cho lời rao tìm bạn của Nguyễn Văn Tân trở nên văn hoa quá!
Tân và Triết là hai trong hàng trăm cọp biển độc thân của đại đội 3, yêu đời lính, thích nhạc họ Trịnh (chú thích: Trịnh Lâm Ngân). Đoạn này làm tôi nhớ đến thằng Mẫn, trung đội trưởng trung đội 4, mỗi lần nghe đến câu thích nhạc họ TRỊNH là nó phá lên cười sằng sặc. Mẫn đã hy sinh vào cuối năm 74 khi đơn vị đóng quân tại căn cứ Hòa Mỹ, lúc tiểu đoàn 7 tăng phái cho lữ đoàn 1 thiết kỵ trong khu dinh điền Đông Lâm.
Các bản nhạc rất phổ thông trong đời lính xa nhà lúc bấy giờ là "Xuân Này Con Không Về", "Giã Từ Vũ Khí", "Sương Trắng Miền Quê Ngoại"...
Khoảng mười ngày sau khi nhận thư, tôi đang ngồi đọc sách thì Triết đến tìm tôi với vài lá thư trên tay.
- Thiếu úy à, ông đọc giùm tôi bức thư này được không?
Tôi gật đầu nhận bức thư và mở ra xem. Đó là một lá thư từ Saigon gửi ra cho anh, nét chữ tròn trịa, mềm mại của một cô gái. Nếu cứ nhìn nét chữ mà đoán người thì cô gái này chắc trông cũng "phì nhiêu" và có da có mỡ lắm!
Mở đầu thư cô nhắc về những tư tưởng của Hégel, Des Cartes, Pythagore... Cô diễn tả về con đường Cường Đễ với những hàng Me và những hàng cây Sao kéo dài tới bến Bạch Đằng...
Lá thư thứ nhì nét chữ sắc sảo, thanh tú, cao và gầy như những búp măng. Nhìn chữ tôi liên tưởng tới hình cô gái làm kiểu mẫu cho hãng tăm tre hiệu "Hạnh Phúc".
Thư viết:
"Ông Triết,
Tôi viết lá thư này cho ông khi ngồi ở sân trường, dưới bóng mát của những hàng me. Mùa này chưa có tiếng ve sầu vì trời chưa vào hạ. Trước khi đến trường, tôi ghé qua chiếc xe bán dừa tươi ở Công Trường Chiến Sĩ để mua một ly nước dừa xiêm ướp đá mát lạnh.
Nghĩ đến ông và những người bạn cùng đơn vị, nơi Cổ Thành Quảng Trị xa vời mà thầm cám ơn người lính Cộng Hòa..."
Lời thư ngọt lịm của những cô em gái, từ thủ đô Saigon xa xôi gửi tới người anh chưa từng biết mặt nơi tuyến đầu nắng cháy.
Tôi quay qua Triết hỏi đùa:
- Ê Triết, mày thích ngủ giường nệm mousse (mút) hay thích ngủ sạp tre?
- Con gái Saigon viết cái gì khó hiểu vậy ông?
Triết hỏi lại tôi mà không trả lời.
Nhìn vào bì thư tôi thấy tên người nhận là:
"Cao Hiền Triết
Đại đội 3 - Tiểu đoàn 7 TQLC“
Tôi chợt hiểu và không ngờ người lính TQLC này có cái tên nghe quá hay và học thức như thế!
- Triết à, mày quê ở đâu?
- Năm Căn - Cà Mau, Thiếu úy ơi!
- Mày đi học ở đâu? Hết Trung Học chưa?
- Tui đi học trường ở dưới quận, chưa hết lớp Nhứt ông ơi!
Tôi nhìn vào mặt Binh I Triết, vẻ ngây thơ và nụ cười rụt rè của một người con trai vùng quê mới lớn, khoảng 20 tuổi đời. Lòng phân vân tôi nói với Triết:
- Tao có thể viết thư trả lời giùm cho mày, nhưng chỉ một hai lần thôi, sau đó mày có viết tiếp được không thì tùy mày. Nhưng tao đề nghị mày nên chọn một lá thư nào mà mày đọc và hiểu rõ ràng thì mới trả lời, thư nào thiệt dễ hiểu thì tốt nhất.
Cái tên Cao Hiền Triết làm cho các cô gái nghĩ ngay tới một người mẫu người nghiêm trang, học thức, lý tưởng cho các cô gái có học. Nhưng Triết thực tế ngoài đời không phải là đối tượng như vậy cho các cô sinh viên Văn Khoa và Luật Khoa đầy mơ mộng ở các giảng đường đại học Saigon.
Triết là một người trai trẻ học ít nhưng yêu quê hương, yêu đời, sinh ở miền tận cùng đất nước, vào lính theo tiếng gọi non sông và đóng quân ở tuyến đầu cực Bắc... Vài tuần lễ sau thư tới tay Triết thưa dần, gặp Triết tôi hỏi:
- Mày chọn được cô nào chưa Triết?
- Thôi ông thầy ơi, thư gì mà khó hiểu quá, mà tui cũng hổng đủ tiền mua tem nên không dám trả lời.
Thằng Tân nó nhận thư nào cũng dễ đọc và dễ hiểu.
Cái tên thật bình thường và giản dị Nguyễn Văn Tân, đúng là cái tên dành cho các cô gái quê chất phác miền Nam và vùng 4 một niềm tin thành thật.
Một buổi sáng đang ngồi chơi với thằng Mẫn tôi thấy vài người lính rủ nhau đi bắt tôm, họ mang theo một nắm cơm, cột một hòn đá vào một bên của cái nón sắt, rồi thả xuống giếng nước. Mỗi lần kéo lên là lại được vài con tôm đỏ tươi, kéo cả tiếng đồng hồ thì cũng đủ để nấu một tô canh tập tàng (đủ các loại rau dại). Chuyện này làm tôi nhớ lại một kỷ niệm vui tôi được nghe trong lúc đơn vị còn trên đường tiến chiếm Cổ Thành. Khi những người lính đại đội chỉ huy đi hái rau lẫn lộn trong cỏ dại để nấu canh, mong có chút rau tươi thay vì chỉ ăn Ration C, nóng và bón. Người sĩ quan cố vấn Mỹ nhìn thấy và nói bập bẹ tiếng Việt: “Lính TQLC Việt Nam ăn cỏ”, nghe câu này tôi thấy thêm thương đời lính tác chiến xa nhà. Lúc đóng quân ở vị trí mới thì đi tìm nước uống, những người lính tìm thấy giếng thì múc nước uống, thấy có tôm trong giếng thì múc nước bắt tôm. Ngày hôm sau không có ai đi bắt tôm nữa, tò mò tôi hỏi thằng Chắn:
- Bộ hết tôm rồi hả Chắn?
- Không, tôm còn nhiều lắm, nhưng mà khi nước xuống thấp thì thấy nguyên một bộ xương người ngồi dưới đáy giếng. Không đứa nào dám bắt tôm nữa ông ơi!
Thế rồi họ quay sang đi bẻ măng. Những người lính đôi mươi, tuổi mới lớn đang khỏe ăn, lúc nào cũng mong có thêm một ít thức ăn tươi cho bữa cơm đạm bạc của họ. Mãi cho đến một hôm, một người lính trung đội 1 của huynh trưởng Nguyễn Văn Huyền đi bẻ măng bị thất lạc, hỏi thăm thì thằng Xương ở trung đội 1 cho biết:
- Thằng Hội đi hái măng từ 11 giờ sáng cho tới bữa cơm trưa cũng chưa về. Cả trung đội thay phiên đi tìm nó chung quanh mấy bụi tre trong khu đại đội đóng quân mà không thấy. Mãi đến 2 giờ chiều mới có người trông thấy anh ta ngồi kẹt trong một bụi tre gai, miệng la bài hãi kêu cứu. Mấy anh lính TQLC phải dùng dao đi rừng, phát cây, chặt tre để mở đường cho anh ta thoát ra. Ra đến bên ngoài thì thằng Hội xây xát cả mình mẩy.
Một người lính của trung đội 1 hỏi thằng Hội:
- Mày làm gì mà chui vô trong đó ngồi?
- Tao thấy măng trong bụi này, chui vô rồi bị kẹt cứng, loay hoay hoài không thấy đường ra nên kêu la cầu cứu. Thật không hiểu nổi tại sao!
Trên đường từ cánh B đi xuống cánh A phải băng qua một khu đồng trống, nơi tiểu đoàn 1 Quái Điểu đã nhảy trực thăng vào Triệu Phong tháng 7 năm 1972. Chỗ chiếc trực thăng bị bắn nổ tung là một cái miếu với mấy chục cái nón sắt bị cháy sém, loang lổ...
Mỗi khi đi ngang qua đây, chúng tôi ghé vào đốt nhang khấn vái các chiến hữu đã hy sinh. Còn nếu đi một mình thì cắm đầu cắm cổ chạy cho lẹ qua khỏi chỗ này. Có lần trên đường về, nhìn thấy một anh lính ngồi bên vệ đường, tôi hỏi:
- Em làm gì ngồi đây, ở đại đội nào?
- Em ở đại đội 1. Em không dám đi một mình, chờ có ai đi chung cho đỡ sợ.
Nhớ lại câu chuyện mà một anh lính đại đội 3 kể lại. Một hôm trên đường đi về, gần đến cái miếu thì anh thấy có một người lính theo sau. Khi vừa qua khỏi cái miếu thì anh nghe có tiếng cười sau lưng, quay lại thì không thấy anh lính đi sau đâu nữa. Thế là anh vắt giò lên cổ chạy bạt mạng. Từ đó về sau, không bao giờ anh dám đi qua nơi này mà không có 2 hay 3 người đi cùng.
Quay qua nhìn anh lính, tôi hơi cảm thấy lo vì không biết có phải các anh khuất mặt trêu đùa hay không? Nhìn bảng tên anh trên ngực, màu cam của tiểu đoàn 7, thế là có bạn đồng hành.
Trên đường đi anh kể cho tôi nghe nhiều chuyện. Có lần đi qua ngôi miếu anh nghe có tiếng cười bên trong, có khi nghe cả tiếng người nói chuyện và cãi vã nhau nữa...
Tháng 5/1972 đại đội 1 và 3 chuyển về cánh A trên hướng sông Vĩnh Định và Hương lộ 555. Thời gian này trung đội 3 được tăng phái giữ an ninh vòng đai cho tiểu đoàn.
Tôi đến gặp huynh trưởng Ngô Kim Anh để nhận tuyến. Anh vừa được thuyên chuyển từ TĐ5 qua TĐ7 TQLC trước đó một tháng. Trong dịp tăng phái cho đại đội chỉ huy, tôi đã có dịp gặp anh và quen biết với hầu hết các sĩ quan trong ban ngành và đại đội chỉ huy. Hai tuần sau hết nhiệm vụ, trung đội 3 lại trở về đại đội bên bờ sông Vĩnh Định.
Mỗi đêm tôi thường đi kiểm soát tuyến đóng quân và các vọng gác của trung đội 3 một lần khoảng giữa khuya và một lần khoảng gần sáng. Trung đội có vài con chó được giao cho vài anh lính nuôi để gác đêm. Có lần tôi thấy con chó của Hạ sĩ I Phấn, tiểu đội 3 được cột ngay trước cửa hầm của anh. Tôi hỏi anh lính gác gần đó:
- Tại sao không để chó nằm ngoài vọng gác?
Anh trả lời:
- Tối nào anh Phấn cũng thấy hai người đàn bà, một người đang mang thai dẫn theo một đứa bé vào thăm anh, làm cho anh sợ hãi không ngủ được, mặt mày xanh lè xanh lét. Nếu cột con chó trước cửa, nó sủa, họ sợ không dám vào thì anh mới chợp mắt được; còn không thì anh phải thức làm việc cả đêm.
Cũng tại tuyến đóng quân này, Binh I Lên - Hiệu thính viên, đã từng gặp ma một đêm khuya, làm cho tôi phải dời chỗ ở qua nhà khác.
Thời gian đóng quân ở sông Vĩnh Định là thời gian tương đối nhàn nhã, rảnh rỗi. Ngoài các công việc thường xuyên hàng ngày, thời giờ còn lại tôi và anh Huyền thường đàn hát, đôi khi các trung đội trưởng ngồi chơi đố chữ. Cũng trong thời gian này, tôi có dịp ghé thăm các đại đội khác và quen biết các sĩ quan đại đội 1, 2 và 4.
Cứ mỗi lần tiếp tế tôi lại ghé huynh trưởng Tăng Bá Phụng để mượn một vài quyển sách anh đã đọc xong.
Thời gian này tôi bắt đầu tìm hiểu thêm về cuộc đời của Binh II Nguyễn Văn Quang.
Một hôm tôi gọi Quang đến để hỏi thăm về hoàn cảnh của em.
- Lúc trước mày ở đâu bên Pháp?
- Em ở phía Nam của thủ đô Paris.
- Tại sao mày lại về Việt Nam đi lính?
- Hè năm 72 sau khi tốt nghiệp Trung học, ba má cho em về Việt Nam thăm bà ngoại.
- Bà ngoại mày ở đâu?
- Dạ, ở Cần Thơ.
- Rồi tại sao hết hè mày không về Pháp mà lại ở đây?
- Em không biết, không nghe ba má nói gì hết.
- Mày làm gì ở nhà bà ngoại?
- Không có làm gì, chỉ đi chơi, đói thì về nhà ăn, rồi ngủ.
- Tại sao mày lại đi lính TQLC?
- Một hôm em đi theo tụi bạn cùng xóm lên chợ, tụi nó tình nguyện đăng lính. Một anh lính trong ban tuyển mộ hỏi em, "Ê, còn mày đi không? Tao có giấy tờ cho mày nè!". Rồi anh làm hết thủ tục giấy tờ cho em.
Sau vài ngày chờ đợi ở trung tâm 4 tuyển mộ và nhập ngũ, Quang và các bạn được đưa về trung tâm huấn luyện TQLC ở rừng Cấm. Thế rồi tiếp theo 9 tuần căn bản quân sự, một khóa học đổ bộ và leo lưới, em đã trở thành một chiến binh TQLC tên Nguyễn Văn Quang. (Tôi không còn nhớ tên Pháp của em).
Quang sống vô tư, không biết lo lắng, chưa ý thức được hiểm nguy, nên khi gác em thường ngủ gật, hoặc mang theo ghế ngồi gác, dựa vào tương vôi, hút thuốc tỉnh bơ. Tôi phạt Quang và giải thích cho em rất nhiều lần về nhiệm vụ gác giặc, ngày và đêm phải luôn luôn thức tỉnh, kín đáo phát giác kịp thời các hoạt động của địch để bảo vệ sinh mạng của mình và đồng đội.
Một hôm tôi hỏi Quang:
- Mày có thường coi cinéma không?
- Dạ có.
- Có biết tài tử Alain Delon không?
- Dạ, ở Pháp Alain Delon nổi tiếng như Hùng Cường ở đây vậy.
Quang là một người con lai, cha Pháp mẹ Việt. Tôi cố gắng tìm hiểu kỹ càng thì được biết về cuộc đời em như sau:
"Cha em là một người lính viễn chinh Pháp tại Việt Nam, yêu thương mẹ em là một cô gái Việt nhưng bên nội ở Pháp không đồng ý. Hai người muốn đặt bên nội trước tình thế đã rồi nên xin một đứa con nuôi lai Pháp của một người bạn gái mẹ em đem về Pháp vào khoảng 1956 khi lực lượng viễn chinh Pháp cuối cùng rút về nước. Đứa bé nuôi đó chính là em bây giờ".
- Ở Paris mày có chú thím, cô bác gì không?
- Chỉ có Grand père et Grande mère.
- Ông bà nội có thương mày không?
- Thương lắm nhưng bây giờ chết rồi.
- Mày có em không?
- Dạ có hai em gái. Hồi chưa có thêm em gái thì ba má thương, sau đó rồi thì ba má không thương nữa.
- Có viết thư cho ba má mày không?
- Không.
- Cậu mợ dì dượng mày ở đây có liên lạc với má mày ở bên Pháp không?
- Có, nhưng không thấy nói gì hết. Có lần họ nói em là con hoang, muốn đi đâu thì đi.
Tôi giật mình vì câu nói của em, không thể tin được ở tai mình. Thật tội cho em, nếu em ở lại Việt Nam thì đáng thương cho một kiếp người.
Khi tiểu đoàn ra dưỡng quân tại làng TQLC trước khi về Saigon, tôi gọi em đến và bảo:
- Để dành tiền lương tháng này và tháng tới, chỉ xài chút đỉnh khi nào cần thiết mà thôi.
Lấy một tờ giấy, tôi vẽ cho em một bản đồ nhỏ và ghi rõ chú thích: Từ bến xe Phú Lâm gọi taxi hoặc xích lô đi đến ngã tư Hồng Thập Tự và Hai Bà Trưng, vừa qua khỏi ngã tư bên tay phải là tòa Tổng Lãnh Sự Pháp.
- Về nhà bà ngoại ở Cần Thơ, ráng tìm cho được các giấy tờ hồi mày ở Pháp, đi xe đò lên Phú Lâm, tới chỗ này, tôi chỉ tay vào bản đồ. Dù có giấy tờ hay không cũng không cần thiết, vào nói với họ mày xin về Pháp. Tên ba mày, địa chỉ ở Pháp, giọng nói và hình dáng mày thì người ta sẽ cho mày về. Ở đây không phải là chỗ thích hợp cho mày đâu.
Cuối tháng 7 năm 73 tiểu đoàn về hậu cứ. Đầu tháng 9 năm 73 tiểu đoàn trở ra hành quân, và trong đoàn chiến binh TQLC trở lại Quảng Trị lần này vắng mặt Binh II Nguyễn Văn Quang.
"Chúc em được nhiều may mắn nơi quê cha ở trời Tây!".
Suốt thời gian đóng quân ở Chợ Sãi, mỗi chiều sau khi công tác xong, chúng tôi thường xuống sông Thạch Hãn tắm và bơi. Một hôm trên đường về, đi ngang qua một ngôi nhà, tôi gặp ba cô cháu đang ngồi ăn cơm chiều nơi góc một căn nhà đổ nát.
Bước về phía họ tôi mở miệng:
- Mạ với mệ ăn gì đó, cho con ăn với?
- Ăn cơm eeng ơi!
Tôi ngồi xuống đất thì bà cô trẻ nhất bới cho tôi một bát cơm. Nhìn vào cái mâm đồng hoen rỉ trước mặt ba cô cháu thì chỉ thấy một chén muối ớt.
- Cám ơn mạ!
Đón lấy đôi đũa và bát cơm, tôi gắp một lát sắn bỏ vào miệng nhai, cảm thấy bùi bùi. Gắp lát thứ nhì và nhai kỹ hơn, tôi cảm thấy vị đăng đắng và mùi ẩm mốc xông lên. Nhìn kỹ vào bát cơm độn tím ngắt, tôi có thể nhìn thấy rõ những vết mốc trên những lát sắn phơi không đủ khô, hoặc còn ẩm ướt khi dự trữ.
Bước đến chỗ một người lính đóng quân gần đó, tôi xin anh một bao gạo sấy và đi về phía căn nhà đổ nát bên cạnh, trút bát cơm độn vào một hố trống cạnh nhà, dùng chân đùa vội những mảnh gạch vụn quanh đó để khỏa lấp bát cơm mốc. Tôi quay trở lại để trả bát đũa cho bà cô trẻ và tặng bà một bao gạo sấy.
Lòng xót xa nghĩ về ba cô cháu đã phải chịu đựng đạn bom trong suốt cuộc chiến tranh ập xuống Quảng Trị trong những năm vừa qua. Bây giờ không còn người thân, không còn nhà cửa, đất đai và phương tiện sinh sống. Ba cô cháu sẽ phải nương tựa vào nhau cho đến hết cuộc đời.
Một hôm trên đường xuống sông tắm, tôi thấy bà cô trẻ ngồi khóc thút thít bên ngoài căn hầm.
Bước đến cạnh bà tôi mở miệng hỏi thăm:
- Làm gì mà khóc đó mạ?
Tiếng bà cô già bên trong vọng ra:
- Cái ngữ biếng nhác đó thì làm ăn gì eeng ơi!
À, thì ra cô bị O mắng.
Tháng 6 năm 72, đại đội 3 đóng quân ở sông Vĩnh Định, tôi có ghé lại khu Chợ Sãi nhưng chỉ còn gặp một bà cô trẻ và bà cô già. Hỏi thăm những người lính đóng quân gần đó thì được biết bà cô trẻ ít nói đã qua đời. Những người lính đã tiếp tay vùi nông thân xác bà ở một mảnh đất trống cạnh đó.
Nhìn gương mặt hốc hác của hai cô cháu còn sót lại với vẻ âm thâm chịu đựng, tôi không biết dùng chữ gì để diễn tả gương mặt hai bà lúc đó. Một nỗi ray rức dấy lên trong hồn tôi, "Ngày nào thì sẽ đến phiên hai người này, ai sẽ là kẻ đi trước....?"
Một ý nghĩ mâu thuẫn chợt đến trong đầu tôi, vừa mong cho họ sống lâu, vừa mong cho họ thoát nhanh ra khỏi cuộc đời đầy cay đắng này. Hình như không phải họ đang sống mà chỉ đang kéo dài cái chết...
Để chuẩn bị cho ngày Quân Lực, đại đội 3 được nhận một số lá cờ mới, chia đều cho các trung đội để cắm xung quanh vị trí đóng quân và gắn lên hàng rào ngăn cách giữa hai bên Nam Bắc.
Một người lính trong lúc bước tới hàng rào, xuyên qua một bãi cát đã đạp lộ ra một quả lựu đạn M-67 được gài từ trước, chốt lựu đạn đã được rút, còn thìa thì được dằn bên dưới một hòn đất khô. Vừa nhìn thấy, tôi bảo anh đứng yên tại chỗ và gọi các người lính khác trở lại giao thông hào. Tôi ra hiệu cho anh rút bàn chân không giẫm lên quả lựu đạn đưa về phía sau, kiếm một điểm tựa chắc chắn và từ từ rút bàn chân đang đạp trên quả lựu đạn lên. Nếu thìa quả lựu đạn bật thì a lê hấp nhảy xuống giao thông hào... Khi anh rút chân ra khỏi thì quả lựu đạn vẫn còn nằm yên tại chỗ... Hú vía!!!
Tôi chỉ thị cho các người lính cắm những lá cờ còn lại chung quanh vị trí đóng quân, không mạo hiểm nữa, và đóng một hàng cọc làm mốc đánh dấu cho các người lính khác khỏi đạp nhầm.
Một anh lính xin tôi cho gỡ quả lựu đạn.
- Thiếu úy, em biết cách gỡ trái lựu đạn đó.
- Tao cấm mày bước tới đó, nếu tao biết được thì mày coi chừng tao.
Tôi không muốn cho anh phiêu lưu, đem mạng sống của mình ra đùa giỡn với tử thần.
Mùa hè đến với những cơn gió Nam Lào khô khốc. Sông Thạch Hãn nước xuống thấp, có những đoạn ta có thể lội bộ từ bờ bên này sang bên kia mà không cần phải biết bơi. Giữa sông có những cồn cát mà chúng tôi có thể ra ngồi chơi. Trời nóng bức đến nỗi chúng tôi phải xuống sông tắm 2, 3 lần một ngày.
Những người lính TQLC suốt ngày trần trùng trục với mỗi một chiếc quần lính cắt ngắn, ai nấy đều mồ hôi vã ra như tắm. Mặc quân phục vào chừng mươi, mười lăm phút là ướt đẫm mồ hôi.
Các sĩ quan chúng tôi ai cũng mong đến ngày tiếp tế để ghé huynh trưởng Tăng Bá Phụng, uống ké cà phê đá do hậu trạm mang ra.
Trung đội 4 có cây đàn guitar, nên những buổi trưa nóng bức không nghỉ được, anh Huyền, Mẫn và tôi thường tụ họp lại để ca hát khuây khỏa. Ngoài ra trung đội 1 lại có thêm cây lục huyền cầm, thế là khi thì cải lương, khi thì tân nhạc, khi thì tân cổ giao duyên cũng nguôi bớt đi nỗi sầu chinh chiến.
Ca mãi đâm chán, vài anh lính tinh nghịch thường đến bên hàng rào, nói chuyện và chòng ghẹo các anh lính miền Bắc.
- Anh bộ đội Bắc Việt ơi!
Không ai trả lời.
- Anh Việt Cộng ơi!
Cũng không ai trả lời.
- Anh Giải Phóng ơi!
Thì có tiếng đáp ngay.
- Gì thế các anh?
Những anh bộ đội miền Bắc nói chuyện rập khuôn, hình như họ phải học thuộc lòng một số câu căn bản để nói chuyện mà thôi. Nếu nói hết những câu này rồi thì họ thường cáo lui xin hẹn ngày mai, rồi ngày mai cũng lại toàn bổn cũ soạn lại.
Những người lính miền Nam thường hỏi:
- Anh ở đâu ngoài Bắc thế, Hà Nội à?
- Không, tôi ở Quảng Trị.
- Còn anh này cũng ở Quảng Trị.
- Vâng, tôi cũng ở Quảng Trị.
Thế là các người lính miền Nam bắt đầu chọc ghẹo.
- Anh là người Quảng Trị mà sao nói giọng như "Bắc kỳ ăn cá rô cây" vậy?
- Các anh hay trêu đùa quá!
- Thiệt mà, giọng anh đâu có giống mắm ruốc đâu, giọng anh là giọng rặt thuốc lào.
- Thôi, chúng tôi không nói chuyện nữa.
Những người lính miền Nam đề nghị ca hát thì hầu như các anh miền Bắc chỉ thuộc mỗi một bài “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây” mà thôi.
Nếu không muốn ca hát chung nữa, những người lính TQLC chỉ cần ca bài “Cờ bay trên Cổ Thành Quảng Trị” là các anh lính miền Bắc rút lui ngay.
Một hôm, một anh lính TQLC hỏi một anh lính miền Bắc:
- Tôi thấy cái hàng chữ trên cổng của các anh là "Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập, Tự Do".
- Đó là lời chủ tịch Hồ Chí Minh đấy!
Thế là anh lính TQLC đề nghị cắc cớ.
- Nè anh giải phóng, tôi đề nghị một trò chơi mới.
- Trò chơi gì đấy anh?
- Tui hô "Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu", còn anh hô "Đả đảo Hồ Chí Minh".
Anh bộ đội miền Bắc im lặng không trả lời, anh ta lặng lẽ rút lui.
Anh lính TQLC nói vói theo.
- Tự do thì mình muốn nói gì thì nói, sao anh không dám hô "Đả đảo Hồ Chí Minh"?
Đôi khi các người lính TQLC trêu chọc bằng cách gọi các anh lính miền Bắc.
- Anh giải phóng ơi!
- Cái gì thế các anh?
Đợi các anh miền Bắc lên tiếng trả lời xong thì anh lính TQLC đáp ngay:
- Phỏng giái rồi anh giải phóng ơi!
- Các anh ăn nói gì linh tinh thế!
Giữa tháng 6/73 tiểu đoàn di chuyển về phía Tây của Quốc lộ 1, khu vực mà chúng tôi đã đóng quân vào khoảng tháng 4 năm 72 “Trường Phước” thay thế cho tiểu đoàn 2, và đầu tháng 7 năm 73 tiểu đoàn 7 ra làng TQLC chuẩn bị về hậu cứ.
Gần 2 năm rồi kể từ sau trận Hạ Lào, tiểu đoàn 7 đã phải lưu động ở miền địa đầu giới tuyến. Có một chuyện khó tin là đa số những chiến binh TQLC chẳng hề được biết hậu cứ của đơn vị ra sao. Ngôi nhà nghỉ dưỡng quân của đơn vị mà các người con chẳng hề được biết.
Khi rời khỏi trung tâm huấn luyện hoặc quân trường, chúng tôi được đưa thẳng đến đơn vị hành quân mà chẳng cần phải về hậu cứ, và rồi từ đó rong ruổi theo “Hành trình anh TQLC” hoặc “12 tháng anh đi”, mãi cho đến khi tiểu đoàn về hậu cứ.
Có nhiều anh em TQLC chúng tôi từ ngày đáo nhậm đến ngày rời đơn vị vẫn không hề biết được hậu cứ ở đâu, vì họ về trong những chiếc quan tài!!!
Tháng Giêng xuôi quân ra Huế
Cố đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều em vắng bóng
Tóc thề đã quấn khăn tang
Tháng Hai về trấn ven đô
Chong mắt hỏa châu giữ cầu
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn màu
Ba lô lên vai, đến miền Tây Đô
Quê hương em xanh, xanh rợp bóng dừa
Đêm ngủ bìa rừng, thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng, này lúc sang mùa
Bây giờ trời mây vào Hạ
Mẹ em bận đi lễ chùa
Em nguyện cầu cho chiến sĩ
Trên đường sớm nắng chiều mưa
Tháng Năm theo vì sao biếc
Hoa phượng nở quanh sân trường
Ngày xưa những dòng lưu bút
Bây giờ phong thư gói quà
Tháng Sáu anh vẫn miệt mài
Hành quân chưa về thăm em
Đừng trách ve sầu mùa Hạ
Xa thì xa vẫn chưa quên
Sang thu mưa Ngâu
Nước mù giăng mau
Ô hay! Ta sao trong lòng rưng sầu
Tráng sĩ xưa hề, vượt cầu sông ấy
Người đứng đầu sông, người cuối sông chờ
Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trời thương nhớ
Ai làm tháng Tám cằn khô
Tháng Chín anh về Cửu Long
Vú sữa căng của mẹ hiền
Anh đi cho đồng tươi mát
Tặng em này chiến công vang
Về Cà Mau một phong thư gửi cho em
Lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng (2)
Lời ta chờ nhau
Cuối năm mùa Đông đan áo
Cuối năm trời đã lạnh rồi
Thiên hạ thì may áo cưới
Ta thì hẹn tới năm sau
Hoa mai nở đầy, em đang đợi chờ
Mười hai tháng rồi, dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng, nhớ môi cho ngọt
Anh về cùng em, vui đón mùa Xuân
Anh về cùng em, vui đón Giao Thừa...
Nhưng anh em chúng tôi không hề được về đón giao thừa. Ngồi hát bài nhạc mà trong lòng rộn ràng với niềm vui khi tiểu đoàn về hậu cứ.
Anh Xê, trung đội phó hỏi tôi:
- Ông hát bài “12 tháng anh đi” mà tiểu đoàn mình đi tới 2 năm rồi mà vẫn chưa về.
- Tại ông thi sĩ nhà mình làm bài thơ “12 tháng anh đi” chứ đâu phải là “12 tháng anh về”.
- Ờ há! Nói đi chứ đâu có nói về.
Đời người lính TQLC chúng tôi cứ tuần tự 12 tháng anh đi, rồi lại 12 tháng anh đi tiếp theo...
Thật thẹn cho thân nam nhi, đường đường trượng phu mà khi đi phép chỉ có vài lý do quanh quẩn, hoặc là "cha mẹ đau nặng" hay "cha mẹ mất". Người nào có gia đình thì có thêm phép "con đau" hoặc "vợ đẻ".
Phép kiểu này thì hết ai ham.
Cuối tháng 7 năm 73, tiểu đoàn 7 về hậu cứ. Trong số gần 800 chiến binh về đến nhà của đơn vị, chỉ có khoảng chưa được 1/4 là đã từng ở hậu cứ của tiểu đoàn.
Cả đại đội 3 lọt thỏm trong chiếc C-130 của Không Quân Việt Nam. Thời gian bay chỉ khoảng dưới 2 tiếng đồng hồ, mà sao chúng tôi cảm thấy quá dài so với khi ra trận hành quân.
Lúc máy bay cất cánh là lúc tất cả những hình ảnh quá khứ bắt đầu chạy qua trí nhớ. Từ lúc còn thơ ấu đến khi trưởng thành, gia nhập quân đội, lao vào biển lửa...
Quay nhìn xung quanh, những người lính đại đội 3 trẻ tuổi, hồn nhiên nói cười, chờ đợi. Khoảng nửa tiếng sau bắt đầu có tiếng ngáy. Nhìn về phía anh lính trẻ đang ngủ ngon, trên gương mặt vô tư thoáng hiện một nụ cười.
Có lẽ anh đã về đến nhà trong giấc mơ ngắn ngủi tuyệt đẹp, trong lòng chiếc phi cơ đang trực chỉ Sài Thành yêu dấu.
“Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi!”
Tôi dựa đầu trên ba-lô, thả hồn mình phiêu lãng
______________________________________
Phần 4
TRƯỜNG PHƯỚC - LA VANG - NHƯ LỆ
Thánh địa La Vang với cây đa và đoạn đường thánh giá diễn tả ngày Chúa Giê-Su chịu khổ nạn, đã có một thời hưng thịnh, vì đã từng là một địa điểm hành hương của các tín đồ Thiên Chúa Giáo từ cuối thập niên 50's đến đầu thập niên 70's, giờ đây chỉ còn là một di tích hoang tàn, khiến người ghé qua không tránh khỏi bùi ngùi, cảm xúc...
Giữa tháng 6/73 từ Triệu Phong, Chợ Sãi và sông Vĩnh Định, đơn vị tôi được di chuyển đến trung tâm huấn luyện Đống Đa để được (hấp) theo một khóa học bổ túc khoảng 2 tuần lễ, cùng lúc với đơn vị bạn là TĐ 11 Nhảy Dù.
Trở lại quân trường là điều mà các người lính không ưa thích mấy, nhưng lại là một điều hữu ích cho các đơn vị. Chúng tôi được học ôn lại những căn bản trong kỹ thuật tác chiến, được thực tập nhị thức hành quân Thiết giáp Bộ binh, thực tập xin Không yểm, Pháo yểm và Hải yểm.
Thời gian này thật cần thiết để các sĩ quan trong đơn vị quen biết nhau qua các bài học tham mưu, tâm lý chiến và tình báo.
Ngày mãn khóa chúng tôi có một cuộc hành quân gần như thật, đó là cuộc hành quân tùng thiết với chiến xa, pháo binh và phản lực cơ yểm trợ, sử dụng toàn bom và đạn thật...
Sau khi rời trung tâm huấn luyện Đống Đa, tiểu đoàn 7 di chuyển đến làng TQLC. Làng này nằm ở phía Tây Bắc cầu Bến Đá khoảng 2 cây số, trong khu vực thôn Diên Sanh, xã Hải Trường, trên lộ trình từ Quốc lộ 1 đến núi Trường Phước.
Một tuần sau chúng tôi vào thay thế tuyến cho TĐ 2 trong khu vực Trường Phước.
Các trung đội đóng quân biệt lập, dọc theo lộ trình, trung đội này cách trung đội kia khoảng hơn 1 cây số. Trung đội 3 đóng trên một ngọn đồi ở phía Tây của đại đội cách khoảng 200 mét và trung đội 4 phòng thủ chu vi đại đội.
Chúng tôi phải tham dự một cuộc bầu cử bán phần Thượng Nghị Viện. Tôi nhớ mãi vì được nhiệm vụ phải nói khéo để các người lính bầu cho các liên danh thân chính.
Trong lúc tập họp để nhắc nhở trung đội 3 về 2 liên danh thân chính mà tôi được chỉ thị bầu phiếu cho, khi tôi đang cố lựa lời nói khéo cho các liên danh này thì Trung sĩ Dần - Tiểu đội trưởng tiểu đội 1 lên tiếng:
- Thưa Thiếu úy, tôi có ý kiến.
- Vâng, anh Dần cho biết ý kiến.
Trung sĩ Dần đứng dậy, quay nhìn các anh em trung đội 3 và nói:
- Theo Thiếu úy thì anh em nên bầu cho 2 liên danh này, còn liên danh thứ 3 thì tùy ý anh em, anh em đồng ý không?
Tất cả các người lính thuộc trung đội 3 trả lời:
- Đồng ý!
Thế là chẳng còn gì để nói thêm nữa, tôi cho anh em tan hàng. Sau đó huynh trưởng Nguyễn Lai hỏi tôi:
- Ông nói chuyện gì mà nhanh quá vậy Minh?
- Anh em đồng ý với những gì tôi đề nghị rồi huynh trưởng, làm sớm nghỉ sớm mà.
Một buổi đang nằm hút thuốc sau bữa cơm chiều, Binh I Tân - Hiệu thính viên trung đội 3 mà tôi vừa chọn khi tiểu đoàn hấp ở trung tâm huấn luyện Đống Đa, đến gặp tôi với một bức thư trên tay nhờ tôi trả lời giùm.
Lá thơ bắt đầu;
"Ông Tân!
Đọc thư ông tôi liên tưởng đến một gương mặt thật vô duyên, với nụ cười để lộ ra hai hàm răng mất trật tự..."
Tôi ngó vào mặt Tân và hỏi:
- Mày trả lời thư cô ta mấy lần rồi?
- Chỉ có một lần thôi Thiếu úy.
- Có phải mày gọi cô ấy là "Bà" không?
- Ông thấy đó Thiếu úy, trong thư bà ấy gọi tôi bằng Ông.
- Mày đúng thiệt là vô duyên, chẳng lẽ người con gái viết thư cho người con trai chưa quen lần đầu tiên mà lại gọi là "Anh" ngọt xớt à!
Nhìn vào bì thư tôi thấy địa chỉ cô ở quận 3 - Saigon. Tên cô là Hạ Vũ, có lẽ đó là bút hiệu thì đúng hơn.
Tôi viết thảo cho Tân một bức thư.
"Hạ Vũ!
Nhận được thư Hạ Vũ tôi rất vui, càng đọc càng có cảm tình với Hạ Vũ vì Hạ Vũ là một người thành thật. Những ước mơ của Hạ Vũ là những ước mơ của tuổi mới lớn, là những điều mà tôi đã trải qua nhiều năm trước khi còn ngồi trên ghế nhà trường...
Trước khi dừng bút, tôi xin vui vẻ nhận Hạ Vũ là cô em gái hậu phương. Hy vọng rằng trong một ngày rất gần đây sẽ có dịp gặp em tại Saigon để hàn huyên, tâm sự và được chiều chuộng cô em nhí nhảnh, dễ thương.
Chúc em một giấc ngủ thật ngon với nhiều mộng đẹp.
Anh
Nguyễn Văn Tân"
Hai kỳ tiếp tế (10 ngày sau) thư hồi âm từ cô bé Hạ Vũ được bắt đầu bằng hai chữ “Anh Tân”, và sau đó họ hẹn gặp nhau đi dạo phố Saigon khi tiểu đoàn về hậu cứ.
Đầu tháng 7, thằng Tuấn - Trung đội trưởng Trung đội 2 đi phép, tôi phải lên thay thế nó vì Trung đội 2 nằm xa nhất trên tuyến đường, mất 30 phút đi bộ từ đại đội đến Trung đội 2. Thời gian này Bửu trở lại đại đội sau khi diễn hành ngày Quân Lực 19/6 để chờ đợi được chuyển qua đại đội 1.
Mùa Hè, những đồi sim thấp trong khu Trường Phước đầy những hoa sim tím, những quả sim ăn vào tím cả lưỡi và ngọt lịm. Vừa đi vừa hái sim dọc đường, vừa ca bài hát "Những Đồi Hoa Sim" của Dzũng Chinh mà quên cả đường dài.
Từ trung đội 2 theo con đường đi tiếp thì sẽ tới một dòng suối mà chúng tôi tắm giặt và lấy nước nấu ăn. Một hôm các anh lính cho biết có gặp các anh bộ đội miền Bắc xuống lấy nước, nhưng vì đang trong thời kỳ ngưng chiến nên cả hai bên chỉ nhìn nhau. Những lần sau khi xuống suối họ đi hai người, một người mang theo súng. Tôi quyết định cho trung đội đi lấy nước ở một điểm khác, chỉ thị các người lính kiểm soát kỹ lưỡng và gài lựu đạn đoạn đường này để đề phòng Bắc quân có thể vi phạm và xâm nhập tấn công.
Cuối tháng 7 TĐ về Saigon. Sau hơn 1 tháng trời dưỡng quân, đến đầu tháng 9 Tiểu đoàn 7 TQLC trở lại hành quân. Trong lúc ở Saigon tôi rủ anh Huyền và Mẫn ghé thăm gia đình một người quen ở Thủ Đức. Bác là Giáo sư Pháp Văn tại trường Pétrus Ký đã về hưu, nghiên cứu tử vi và tướng pháp, có một người con trai là sĩ quan pháo binh TQLC đã hy sinh trong trận tái chiếm Cổ Thành.
Trong khi chờ chú em trai vào thông báo cho bác biết có chúng tôi đến thăm, thằng Mẫn tò mò mở một quyển tập để trên bàn ngồi đọc. Đúng ngay cái đoạn bàn về tướng số một người có hình dạng giống như nó "Người cao, chân dài, tay ngắn là tướng đoản mệnh...". Nó chỉ cho tôi đọc đoạn này, trên gương mặt nở một nụ cười buồn. Trang tiếp theo bàn về tướng của một người có gương mặt dài như anh Huyền, thằng Mẫn vừa đọc vừa cười nắc nẻ.
Không ngờ đó là những điềm ứng trước, cả hai đã hy sinh sau đó không lâu vì những tướng đoản mệnh.
Từ Saigon, chúng tôi ra hành quân và trở lại làng TQLC. Đầu tháng 10/73 Tiểu đoàn 7 đến La Vang thay tuyến cho TĐ 8 TQLC. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng tại đồi dương, gần ngã ba Long Hưng, nơi đã là tuyến xuất phát của TQLC khi tái chiếm Quảng Trị và Cổ Thành năm trước.
Di chuyển một hàng dọc từ điểm đổ quân ở cánh B băng qua hai ngọn đồi thấp, vài dòng suối mùa, chúng tôi đến bờ một con suối khá rộng nhưng cạn nước. Bước trên những hòn đá mà các đơn vị trước đã đặt trên lòng suối theo từng bước đi để khỏi bị ướt giày, chúng tôi đặt chân đến ban chỉ huy đại đội.
Trung đội 4 của Hùng (thay thế cho Mẫn đi học khóa “rừng núi sình lầy” chưa về) nằm dọc theo bờ suối giữ an ninh và phòng thủ khu vực đại đội. Tiếp theo là trung đội 3 và trung đội 2 dàn tuyến đối mặt với Bắc quân.
Từ trung đội 2 băng qua một cái lạch nhỏ và một khoảng đầm lầy trên những cây cột nhà lót đường thì tới cái tiền đồn được phòng thủ chu vi của trung đội 1. Nhìn địa thế hiểm ác của cái tiền đồn này, ai cũng biết muốn giữ được chắc các đơn vị bạn trước kia đã phải tốn biết bao nhiêu xương máu. Trung đội phòng thủ một khu vực gần như là một vòng tròn, với đường chu vi khoảng chừng 100 mét.
Ngôi làng nơi đại đội đóng quân có tên là Như Lệ, cái tên nghe quá buồn. Những ngày mưa, đường trơn trợt, ướt át, trời bắt đầu trở lạnh nên chẳng ai muốn ra ngoài. Nằm nghe mưa rơi trên những tấm tôn thủng rả rích, từng giọt nước tí tách, rầu thúi ruột và nhớ nhà.
Ngày đặt chân đến Như Lệ quang cảnh cũng tương tự như Chợ Sãi - Triệu Phong. Các anh lính miền Bắc đứng bên hàng rào hỏi thăm và mời chúng tôi sang một cái chòi mà họ gọi là "Nhà Hòa Hợp", cũng vẫn cái bảng treo trước cửa với hàng chữ "Không có gì... cả".
Anh Lai, anh Huyền và tôi bước vào căn nhà. Sau khi chào và hỏi thăm nhau, chúng tôi cả hai bên cùng ngồi vào bàn và nói chuyện xã giao. Có một điều không biết là tiện hay bất tiện, tốt hay không tốt vì những phù hiệu trên áo đã cho họ biết chúng tôi thuộc tiểu đoàn nào rồi, mặc dù chúng tôi đã mặc áo của các người lính không có cấp bậc. Riêng các anh lính Bắc quân thì không thấy được gì trên quân phục của họ.
Họ mời chúng tôi nước trà, thuốc lá. Thuốc lá hiệu Tam Đảo, Điện Biên nội địa và Hoa Hồng của Trung Quốc.
Anh Lai đốt một điếu thuốc, kéo một hơi dài, tủm tỉm cười lên tiếng:
- Thơm mùi nhang quá!
Chúng tôi cười trong khi các anh bộ đội miền Bắc không hiểu gì cả.
Nói chuyện vớ vẩn, bâng quơ vì chẳng có gì để nói lâu, chúng tôi kiếu từ ra về thì các anh bộ đội miền Bắc lại theo phép lịch sự "như người Hà Nội" giữ khách và mời khéo:
- Các anh về chóng thế, khi nào rỗi mời các anh lại sang chơi nhé.
Từ tháng Mười kéo dài qua Tết là mùa mưa dầm, mưa lê thê. Mưa kiểu này mà nằm nhai gạo sấy rang (thay cốm) tẩm nước đường thì hết nói. Trời mưa chẳng có gì làm thì lại quanh quẩn Domino, cờ tướng và mong đến kỳ lãnh lương.
Ngày phát lương là ngày chúng tôi tha hồ ăn uống. Ban quân lương đến cánh B phát lương cho các đại đội và có câu lạc bộ đến bán mì gói, thuốc lá, bia và các nhu yếu phẩm cho lính.
Từ cánh B đi về phía Nam một đoạn đường ngắn 10 phút là tới khu nhà thờ La Vang. Vào cuối thập niên 50's đến đầu thập niên 70's, nơi đây đã từng là một vùng thịnh trị, rất nhiều tín đồ đạo Thiên Chúa từ khắp miền Nam đến hành hương.
Tôi còn nhớ những năm cuối thập niên 50's, vé số Tombola được bán khắp nơi giá 2 đồng bạc thời đó để lấy tiền xây dựng khu thánh địa La Vang, và đường xe hỏa đồng thời được phát triển để phục vụ khách đến thăm vùng này.
Trước mặt nhà thờ là một đoạn đường được gọi tên là “đoạn đường Thánh Giá”, hai bên đường là những bức tượng diễn tả Chúa Giê-Su trong ngày chịu tội, đã gãy đổ tan nát không còn nguyên vẹn. Cây đa đúc bằng bê tông cốt sắt, nghe nói là được xây ngay tại chỗ cây đa thật trước kia, nơi người ta tin rằng mẹ Maria đã hiện lên, nay chỉ còn trụi lủi thân cây mà thôi. Các cành được đúc bằng bê tông cốt sắt đã gãy gục nát tan vì bom đạn. Tượng đức mẹ Maria cũng chẳng còn nguyên vẹn, “Ôi! Sức tàn phá và hủy diệt của con người thật là ghê gớm!".
Ngôi thánh đường to lớn bị hủy hoại khắp cả bốn phía. Phần bên phải của tòa giảng hoàn toàn sụp đổ từ nóc nhà thờ xuống tới mặt đất. Các ngôi nhà của tu sĩ và giáo dân giúp việc hoàn toàn bị san bằng. Những hàng cây khuynh diệp trồng quanh khu vực nhà thờ chẳng cây nào không mang thẹo thọ vì đạn bom.
Các bạn và tôi đã thay phiên nhau chụp một số hình ảnh ở khu vực này, rất tiếc là sau ngày miền Nam sụp đổ, gia đình tôi đã không còn giữ lại được tấm ảnh nào.
Tôi hình dung ra quang cảnh tấp nập trong những ngày lễ tôn giáo trước đây, hàng ngàn người đến hành hương và tham dự các khóa lễ. Bây giờ nơi đây hoàn toàn giá lạnh, hoang vắng, không có bóng dáng một tín đồ nào. Nhìn qua Cường đang làm dấu “Amen” mà không tránh khỏi những bùi ngùi, cảm xúc.
Chúng tôi rời khu thánh địa La Vang, thấy thấm thía nỗi thảm thương cơ cực của người dân Quảng Trị. Đến bao giờ và phải hao tốn bao nhiêu máu xương, của cải để xây dựng lại những nơi này?
Đầu tháng 11, đại đội tiếp nhận thêm các người lính mới bổ sung cho đơn vị, một số cựu tù binh, quân phạm, và một sĩ quan - Phước mập, đi bay với thằng Tuấn. Trung đội 3 nhận thêm các người lính mới, trong đó có Trung sĩ I Nhẫn - cựu tù binh, Hạ sĩ I Hào - Quân phạm v.v..
Tháng 12/73 sư đoàn tổ chức các khóa học bổ túc trung đội trưởng cho các sĩ quan. Tôi được chỉ định đi học đợt đầu tiên với 3 người bạn khác là Hòa ở đại đội 1, Toàn ở đại đội 2 và Thành ở đại đội 4. Chúng tôi được đưa đến Bộ chỉ huy lữ đoàn 258 đóng tại Hội Yên để tham dự khóa học cùng với các sĩ quan trung đội trưởng ở 8 tiểu đoàn bạn. Khóa học kéo dài trong 2 tuần, thành phần huấn luyện viên là các chiến sĩ tài ba ưu tú từ các tiểu đoàn TQLC và các đơn vị yểm trợ như Pháo Binh, Công Binh, Thiết Giáp, Không Quân và Hải Quân...
Đại tá Ngô Văn Định - Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 258 khai mạc khóa học trong một nghi lễ đơn sơ nhưng đầy thân tình. Ông mong mỏi khóa học này sẽ giúp chúng tôi những điều cần thiết tối thiểu để khi trở lại đơn vị; với các kinh nghiệm thực tiễn quý báu từ các đàn anh, chúng tôi sẽ áp dụng các sáng kiến thích nghi để tiết kiệm xương máu đồng đội, phát huy khả năng của đơn vị và hoàn thành nhiệm vụ được giao phó tốt đẹp.
Chúng tôi lại được nghe thuyết trình về các trận đánh tiêu biểu của đơn vị TQLC, về thế công, thế thủ, cách thức điều binh từ chính các sĩ quan chỉ huy tham dự trực tiếp các trận đánh đó như Thiếu tá Nguyễn Văn Sử, Trung úy Kiên Pek v.v..
Được sự đóng góp thêm của Đại Tá Ngô Văn Định, Trung Tá Đỗ Hữu Tùng, được trình bày các kinh nghiệm bản thân của mình để lớp học bàn thảo, đưa ra các phương thức để giải quyết trong các tình huống xấu. Chúng tôi đã được học biết bao nhiêu kinh nghiệm hay và quý báu để áp dụng sau đó trong đời lính...
Ngoài ra chúng tôi cũng được học thêm về Công Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp và chống thiết giáp, liên lạc xin không yểm, hải yểm v.v.. Thời gian quá ngắn cho một khóa học nhưng đã đem lại cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm hữu ích không ngờ. Nếu không được tham dự các khóa học bổ túc như thế này, có lẽ việc điều quân phản ứng của chúng tôi sẽ kém nhạy bén. Chúng tôi học được cách nhìn sự việc dưới những góc cạnh, lý lẽ khác nhau. Học được cách ước định tình huống trước khi nó xảy ra, điều này làm cho chúng tôi tăng thêm sự tự tin vào khả năng của đơn vị khi được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ.
Cuối tuần lễ đầu vào ngày Chủ Nhật, một số các sĩ quan chúng tôi đi thăm khu nhà thờ hai nóc Thanh Hương - Điền Môn, nơi mà tôi sẽ trở lại sau này trong cuộc lui binh cuối cùng.
Chấm dứt tuần thứ nhì là lễ mãn khóa dưới sự chủ tọa của Thiếu tướng Bùi Thế Lân - Tư lệnh sư đoàn TQLC. Ông nhắc nhở chúng tôi hãy ứng dụng các điều đã học một cách thích hợp để phát triển khả năng sẵn có của đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.
Xe của tiểu đoàn đã chờ sẵn và đón chúng tôi trở lại đơn vị.
Tết năm đó đại đội thật vui, nhất là trung đội 3 với sự có mặt của các chị, vợ anh Xê - Trung đội phó, vợ anh Hào - tiểu đội đại liên. Chúng tôi có một cái tết thịnh soạn với các món ăn thượng hảo hạng từ những bàn tay khéo léo của các chị như Vịt tiềm thuốc Bắc của chị Hào, các món bánh lá, bánh đập... và nồi bún bò cay tóe khói của chị Xê, gốc người Huế, vừa ăn vừa hít hà, nước mắt nước mũi, mồ hôi chảy ra nhễ nhại vì cái gì ăn vô cũng cay, cũng nóng.
Ngày đầu năm chúng tôi xông đất các anh Bắc quân ở nhà "Hòa Hợp". Chúng tôi chúc Tết nhau. Họ mời chúng tôi thuốc lá, hạt dưa, và các loại kẹo bột, kẹo đậu phộng... (không ngờ rằng nhiều năm sau đó, mỗi lần Tết đến chúng tôi lại ngồi mong chờ những thứ này trong tù.)
Chúng tôi mời các anh ấy các thứ mứt, kẹo, bánh trái của miền Nam. Họ cứ xuýt xoa mãi.
- Hàng ngoại đấy à các anh.
Thoạt đầu tôi không hiểu ý các anh ấy, sau mới biết họ tưởng là đồ nhập cảng. Những cái kẹo mứt mãng cầu gói trong các loại giấy bóng kiếng đủ màu, hoặc những miếng mứt thập cẩm quá đẹp làm họ ngạc nhiên. Nhưng họ chỉ dám thử một cái. Không biết vì thấy đẹp không dám ăn uổng quá hay vì sợ có thuốc độc bên trong ?
- Do các chị vợ của anh em chúng tôi làm đó.
- Đẹp thế nhỉ!
- Khéo thế nhỉ!
Nghe những lời khen chân thành, mộc mạc của các anh lính Bắc quân lúc đó, tôi không nghĩ là họ khen thật, cho đến khi vào tù vì thua cuộc chiến tôi mới biết rõ ràng là họ thành thật. Các người tù cải tạo thường bông đùa, chọc ghẹo họ luôn bằng cách khen nhưng thật tình là chửi xéo.
Rồi những ngày Tết cũng trôi qua, các thân nhân của những người lính cũng lần lượt ra về hết, và sinh hoạt của đơn vị cũng trở lại bình thường.
Sau ngày Tết trung đội 3 thay thế trung đội 1 ở vị trí tiền đồn. Bàn giao với anh Huyền xong, tôi đi xem lại vị trí đóng quân và cho vét lại giao thông hào ở các đoạn bị sụp lở vì nước mưa.
Trung đội 3 phòng thủ chu vi trong một hình gần như tròn với đường kính khoảng hơn 30 mét. Hướng Tây và Tây Nam giáp mặt Bắc quân, hướng Đông của tiền đồn là một dòng suối chảy về phía đại đội, hướng Bắc là một con lạch nhỏ nối tiếp với một bãi lầy. Tiền đồn được nối liền với đại đội bằng một chiếc cầu khỉ bắc qua con lạch và những thân cây, gỗ tạp được dùng để lót qua bãi lầy. Vị trí tiền đồn này rất nguy hiểm vì gần như là "bốn bề thọ địch".
Đặc công cộng sản có lối đánh là bò theo các đường mòn và các khe xâm nhập mà cái tiền đồn này hai mặt giáp địch, còn hai mặt kia lại là suối, lạch và đất thấp lầy lội.
Ngay sau khi bàn giao tuyến, tôi đã chỉ thị cho các tiểu đội vét lại giao thông hào và sửa chữa khu vực phòng thủ.
Các anh Bắc quân kêu réo ầm ĩ lên:
- Này các anh làm gì thế, đào gì thế?
- Mưa lở đất, chúng tôi đắp lại thôi.
- Các anh làm thế là vi phạm đấy.
- Chúng tôi chẳng làm gì mà vi phạm.
Vừa làm vừa cãi nhau, rồi thì chúng tôi cũng sửa xong lại tuyến phòng thủ chiều hôm đó.
Hạ sĩ Tâm, trước kia là Hiệu thính viên truyền tin, sau ra tiểu đội của Trung sĩ Phấn, trong lúc vét lại giao thông hào, thấy lộ ra một bộ xương người lính Bắc quân và trang phục còn sót lại. Anh tinh nghịch đặt chiếc xương sọ lên trên bờ giao thông hào và đôi dép râu gác lên trên đầu chiếc xương sọ, miệng thì nói "Sinh Bắc Tử Nam". Các anh bộ đội miền Bắc la lên phản đối.
Nghe có chuyện, tôi bước đến nơi và nói với Tâm:
- Dẹp đi Tâm, người ta đã chết rồi, đừng làm vậy!
Sau đó tôi không biết Tân đã dấu cái xương sọ và đôi dép râu đi đâu.
Mờ tối hôm đó, khi tôi đang ngồi đọc sách ở dưới hầm thì nghe như có tiếng người chạy huỳnh huỵch bên ngoài. Tiếng Binh I Chánh - Hiệu thính viên, đứng ngay cửa hầm gọi tôi:
- Thiếu úy, Thằng Tâm có chuyện, nó bị ma đánh.
Leo lên khỏi hầm, tôi chạy đến chỗ tiểu đội của Trung sĩ Phấn thì thấy các người lính đang vây quanh Tâm ở một góc giao thông hào. Tân chúi đầu vào góc Tuyến không dám ngẩng lên.
- Anh Phấn, anh cho trói nó lại.
Người Tâm bê bết đất cát, đôi mắt lạc thần. Anh không dám chống cự khi hai người lính đến trói anh lại.
Tôi liên lạc báo cáo tình hình và xin giải giao Tâm vào đại đội vì sợ nó lên cơn nửa đêm thì nguy hiểm cho tính mạng nó. Hai anh lính giải giao Tâm vào đại đội trở về kể lại.
"Khi gặp Trung sĩ I Trần Ngâm thằng Tâm không dám nhìn mặt. Nó lấm la, lấm lét. Anh Ngâm dùng roi dâu quất lên người Tâm, nó la hét và lăn lộn trên mặt đất..."
Sáng sớm hôm sau Tâm được đưa về tiểu đoàn và sau đó được đưa ra Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương tại Huế để điều trị. Mấy tháng sau bình phục Tâm trở lại đơn vị thì tôi đã ra toán CAP ở Hải Trường.
Một buổi tối đang ngồi đọc sách dưới hầm, cảm thấy thèm một điếu thuốc, tôi bước ra khỏi hầm đi dạo một vòng, nói chuyện với các người lính, quên tắt ngọn đèn cầy đốt để đọc sách trong hầm.
Tiếng Binh I Chánh la thất thanh:
- Lửa cháy trong hầm Thiếu úy.
Tôi chạy trở lại thì thấy lửa cháy sáng trong hầm.
- Lấy nước dập tắt đi.
Các người lính chuyền nước vào dập tắt ngọn lửa. Tàn lửa cháy loang lổ cái ba-lô và làm hư hại các đồ đạc bên trong, may là chưa bắt qua phát nổ đạn và lựu đạn. Sức nóng của lửa làm hư hại cái máy chụp hình OLYMPUS PEN DEMI của tôi.
Tối hôm đó tôi ngủ lạnh để trả cái lỗi bất cẩn của mình. Sáng hôm sau phải giặt giũ tất cả quân trang, quân dụng còn xài được và vất đi các thứ đã bị cháy hư hại. Kiểm soát lại thì thấy thiệt hại khoảng 50%.
Hai ngày sau, một công điện bất ngờ từ tiểu đoàn chuyển đến. Tôi được chỉ thị ra thay thế Trung úy Lê Văn Minh thuộc đại đội 4 trong chức vụ trưởng toán CAP (huấn luyện) tiểu đoàn 7 TQLC ở xã Hải Trường.
Xếp tất cả các đồ đạc còn lại vào chiếc ba-lô cháy loang lổ của mình. Thằng Mẫn đang ngồi chơi với tôi lên tiếng:
- Lấy cái ba-lô của tao đi Minh, mày vác cái ba-lô này ra làng, họ tưởng mày "ăn xin" đó.
Tôi bật ra cười lớn, thầm nghĩ "Đúng là cái số ăn mày!". Chúng tôi trao đổi cho nhau một số đồ đạc, và sáng hôm sau "Ba-lô lên vai", tôi rời đại đội lên trình diện tiểu đoàn để đi nhận nhiệm vụ mới.
Đứng trên dốc khoảng lưng chừng đồi, nhìn xuống làng Như Lệ, nghe tiếng các dòng suối mùa đang chảy róc rách đâu đây. Khu vực đại đội 3 đóng quân nằm yên lặng dưới chân đồi, phía bên kia dòng suối. Đưa tầm mắt trải dài tới các trung đội bạn 1, 2, dừng lại nơi cái tiền đồn lẻ loi đơn độc của trung đội 3, nhớ lại các kỷ niệm tràn đầy sau hơn một năm tôi sống cùng đơn vị.
Một hình ảnh toàn cảnh hiện ra trước mắt làm tôi chợt thấy bâng khuâng. Trước kia ở góc độ này, nếu nhìn xuống làng Như Lệ là một hình ảnh thật thanh bình, với những dòng suối chảy róc rách, những ngôi nhà nhỏ xen kẽ trong một vùng đồi núi thấp chung quanh. Các thửa ruộng nhỏ xếp thành hình những bậc thang để nhận nước từ những suối nguồn.
Mỗi sáng Chủ Nhật tiếng chuông nhà thờ La Vang đánh thức người dân, và rồi từng đoàn người với các chiếc áo dài khăn đóng, những chiếc khăn mỏ quạ, cùng với các em nhỏ trai gái trong đồng phục đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể lũ lượt từ Như Lệ cũng như những ngôi làng khác quanh đây, vượt qua các ngọn đồi để kéo về thánh đường La Vang đã một thời hưng thịnh.
Hình ảnh đó không còn nữa. Giờ đây là các hầm hố, địa đạo, giao thông hào, chẳng còn một ngôi nhà nào còn sót lại trong làng Như Lệ.
Ôi! Sao tang thương dâu bể, vật đổi sao dời. Tôi quay lưng bước đi, lòng tự hỏi:
“Trong những năm tháng tới đây, quê hương tôi sẽ được nhìn thấy La Vang và các khu làng quanh đây hồi sinh, hay sẽ còn phải tiếp nhận thêm các tai ương trong một cuộc chiến đã hơn 20 năm giữa hai miền Nam Bắc, Quốc Cộng, giữa hai chính thể !?”
Chúng tôi cứ phải nghe, đôi khi phải tuyên truyền thêm về những sự tích anh hùng trong chiến tranh, cứ phải nhìn những cảnh máu đổ, thịt rơi. Trên báo chí cả hai miền Nam Bắc thì đua nhau ca ngợi các chiến thắng lẫy lừng!
"Vậy chứ ai là người thua cuộc khi cả hai bên đều thắng? Chắc là người dân nghèo nơi quê hương tôi, một cổ hai tròng..."
Tôi thở dài, lắc đầu, tiếp tục leo nốt ngọn đồi trước mặt. Xa xa về hướng Đông-Bắc là đồi dương, nơi bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân, mường tượng tới những hình ảnh nơi tôi sẽ đến làm công tác dân sự vụ, một nỗi vui buồn lẫn lộn trong lòng. Biết nói gì đây với những người dân, những người lính địa phương?
Tôi bật cười, đá văng một hòn sỏi nhỏ dưới chân, miệng nói khẽ
"Có gì mà phải lo, mọi sự rồi sẽ ổn thỏa".
(còn tiếp)

