Hồi ký
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (6)
Nguyễn Hữu Thiện
* Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (6)

Nguyễn Hữu Thiện
* Để tưởng nhớ những người từng chung những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
Hẻm 6 Trương Minh Ký
Kỳ này tôi bắt đầu viết về hẻm 6 Trương Minh Ký, nơi tôi đã sống những năm tháng đẹp nhất, sôi nổi nhất của một phần đời.
Phía bên trái đường Trương Minh Ký, hướng Sài Gòn đi lên Lăng Cha cả, qua cổng xe lửa số 6 khoảng 50 mét thì tới hẻm 6 của tôi. Tuy gọi là “hẻm” nhưng khá rộng, xe hơi ra vào thoải mái.
Như người Sài Gòn năm xưa còn nhớ, những đường hẻm ở Hòn ngọc Viễn đông có khi bề ngang chỉ vài ba mét, hai bên hai cái thềm nhà, lòng đường còn lại chỉ đủ cho hai xe gắn máy tránh nhau, có khi lại khá rộng, như hẻm Lê Bảo Tịnh, hẻm Lưu Luyến, hẻm 6 của tôi…
Ngay đầu hẻm 6, phía bên trái là mặt hông của tiệm Xuân Lạc Viên, tiệm ăn Tàu lớn nhất trong vùng, phía bên phải là một tiệm hủ tíu nho nhỏ, cũng của người Hoa, tuy xập xệ nhưng lúc nào cũng có khách quen vì hủ tíu ngon hơn bên Xuân Lạc Viên.
Bắt đầu đi vào hẻm, phía bên trái sau lưng tiệm Xuân Lạc Viên là một tiệm thu mua đồ lạc-xoong, chủ nhân là một ông người Hoa trung niên, chuyên mua nồi niêu xoong chảo hư bể, ve chai, lông vịt… Tiệm có thu nhập phụ qua việc cho con nít mướn xe đạp chạy chơi. Tiệm không có tên, chúng tôi không cũng biết tên ông chủ, nên gọi ông là… “Ông Chủ”.
Ngày ấy, những năm cuối thập niên 1950 đầu 1960, ở Sài Gòn có nhiều chỗ cho mướn xe đạp như thế. Không hiểu những chỗ khác thì sao, riêng ở hẻm 6 của tôi “ông chủ” chỉ có 3, 4 chiếc xe đạp trần trụi, không có poóc-baga, gác-đờ-bu, gác-đờ-sen (porte bagage, garde de boue, garde de chaine) chi cả, dựng trước cửa tiệm, giá mướn một đồng một giờ.
(Một đồng VNCH vào năm 1959, 1960 có thể mua 1 khúc bánh mì thịt nho nhỏ, hoặc 1 trái bắp nướng, 1 gói xôi, 1 ly đậu đỏ bánh lọt, 2 cây cà-rem…; còn giá vé ở những rạp chiếu bóng bình dân chỉ 3 đồng)
Giờ này tôi kể lại có thể những thế hệ đi sau không tin rằng ngày ấy ở trong Nam người ta lại tin tưởng đám nhóc tì đến mức ấy: chỉ cần trả trước một đồng rồi lấy xe chạy, “ông chủ” không hỏi tên cũng chẳng ghi giờ. Và theo tôi được biết, chưa bao giờ xảy ra việc mấy thằng nhỏ lấy xe đi luôn!
Cạnh tiệm lạc-xoong là một tiệm chạp phô nho nhỏ của một bà già người Hoa, hình như là một bá góa vì tôi chưa bao giờ thấy bóng đàn ông trong nhà.
Cái cửa tiệm cũ kỹ, tối tăm, vách ván mái ngói âm dương, lác đác vài mặt hàng, cùng với khuôn mặt già nua, sự thinh lặng nơi chủ nhân là những gì của quá khứ còn sót lại. Bởi vì hiện nay ở khoảng giữa con hẻm đã có một tiệm tạp hóa bề thế của một gia đình Bắc di cư, chẳng còn mấy người chiếu cố tới tiệm chạp phô có lẽ đã hiện diện từ ngày có hẻm 6 này.
Đi qua tiệm chạp phô tới một dãy nhà tôn vách ván xập xệ chạy dài khoảng 1/3 con hẻm; đối diện dãy nhà, tức phía bên tay phải là chợ chiều, một cái chợ không lớn không nhỏ nhưng đầy đủ các mặt hàng thực phẩm, rất tiện lợi cho các bà nội trợ không thể đi chợ buổi sáng, hoặc không muốn lội bộ sang chợ ấp Tây Ba (cư xá Kiến Thiết), hoặc xa hơn là chợ Bùi Phát, chợ Vườn Xoài.
Tới đây cũng phải có đôi dòng về “chợ chiều”, một sinh hoạt thương mại chỉ có ở trong Nam, ít nhất cũng là cho tới thời điểm đó.
Trước hết, theo cách nói của người miền Bắc, hai chữ “chợ chiều” không có nghĩa là chợ họp vào buổi chiều, mà là chợ họp vào buổi sáng nhưng đã về chiều, lúc sắp tan, không còn ồn ào, sôi nổi như lúc ban sáng; thí dụ mấy chữ “không khí chợ chiều”.
Trong văn chương, “chợ chiều” còn được sử dụng làm ẩn dụ cho tuổi tác đã cao, sự cô đơn hoặc giai đoạn muộn màng trong tình duyên, không còn trẻ trung, nồng nhiệt; sự kết hôn lúc này không dựa trên tình nồng cháy mà xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm sự đồng cảm, bầu bạn, nương tựa lẫn nhau khi về già.
“Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều rồi, cho nên cũng dễ dãi mà lấy nhau." (Nhà Nghèo, Tô Hoài)
Trong Nam thì khác, “chợ chiều” chỉ có nghĩa là một cái chợ họp vào buổi chiều, thường bắt đầu lúc 2, 3 giờ cho tới trước khi hoàng hôn buông xuống.
“Chợ chiều chưa họp đã tan
Tình chưa kịp thắm đã chan chứa buồn”
(Khuyết danh)
* * *
Cũng bên tay phải, qua khu đất họp chợ chiều là tiệm tạp hóa của một gia đình Bắc di cư, có lẽ mới mở cách đây hơn một năm, bởi vì vào năm 1956, khi bà ngoại tôi khuyên mẹ tôi đừng về Hố Nai cứ ở lại Sài Gòn mở một “cửa hàng xén” thì ở hẻm 6 chỉ có duy nhất tiệm chạp phô ở ngoài đầu hẻm mà tôi vừa nhắc tới.
Phía bên trái, đối diện tiệm tạp hóa có một cái ngõ đi vào một xóm nhỏ hoàn toàn khác biệt với phía ngoài hẻm: những bụi tre già, năm bảy ngôi nhà mái ngói âm dương, tường gạch rêu phong tạo ra một khung ảnh an nhiên lạ thường, kể cả những đứa trẻ chơi trong xóm dường như cũng không ồn ào, quậy phá như chúng bạn đồng lứa ngoài hẻm. Cái xóm nhỏ ấy về sau được gọi là “xóm Đực 2” vì đã sản sinh ra một người con yêu của làng bóng tròn Hòn ngọc Viễn đông: thủ môn Trần Văn Đực, tức Đực 2. (gọi như thế để phân biệt với Đực 1, cũng là thủ môn trước đó mấy năm nhưng không nổi tiếng bằng Đực 2)
Đi qua ngõ tre là một dãy nhà 10 căn mái ngói đỏ tường gạch mới xây, phía trước có mái hiên và hàng rào gỗ, cư dân đa phần là công tư chức, sĩ quan quân đội… Đối diện dãy nhà 10 căn cũng là những căn nhà tương đối mới, mái tôn tường gạch hoặc vách ván nhưng không có hàng rào, dân cư thuộc đủ mọi thành phần: công tư chức, thợ thuyền, Bắc di cư…
Rồi tới một ngã ba, quẹo phải là một con đường hẹp đi lên hướng bắc, tới trụ sở ấp Tây Ba, cư xá Kiến Thiết, đường Nguyễn Huỳnh Đức. Vừa qua ngã ba, phía bên trái là hai căn nhà lầu chung vách của bà ngoại tôi xây năm 1957 – ngôi nhà lầu đầu tiên trong hẻm 6.
Trước khi bà ngoại tôi bỏ Tha La xóm đạo (Trảng Bàng, Tây Ninh) về đây mua đất xây nhà thì vào năm 1955, dì TN, người dì áp út của tôi, một nữ trợ tá quân đội, và ông chồng Trung úy phục vụ tại Bộ Tổng tham mưu đã tới hẻm 6 mua một căn nhà ở phía trong.
Căn nhà dì mua là căn đầu tiên trong một dãy mấy căn nhà mái ngói tường gạch đã khá cũ (so với dãy nhà 10 căn mới xây phía ngoài) nhưng bù lại không sát vách nhau mà mỗi nhà có lối đi riêng bên hông (rất tiện cho các nàng ma-ri phông-tên), và trước nhà có một khoảng đất nhỏ để trồng cây kiểng bên trong hàng rào.
Sở dĩ tôi phải nhắc tới căn nhà cũ của dì TN là vì hai nguyên nhân:
(1) Về sau nó được bán cho ông bố của “nàng thơ” đầu tiên trong đời tôi.
(2) Cách đó mấy căn là nhà nữ ca sĩ Diệu Anh, phía trước có một cây điệp cổ thụ mà sau khi cô quyên sinh, người ta đồn rằng cô hay hiện về ngồi trên cành điệp khóc than cho duyên phận bẽ bàng (tôi sẽ trở lại chuyện này trong một kỳ sau).
Khi dì tôi mua căn nhà này thì khoảng đất từ dãy nhà 10 căn mới xây tới nhà dì là hai lô đất rộng trên đó chỉ có hai căn nhà nhỏ mái ngói vách ván đã rất cũ, trước sân có mấy cây xoài – dấu tích còn lại của địa danh “Vườn Xoài”.
Qua năm 1956, sau khi rời Tha La về Sài Gòn, bà ngoại tôi mua lô ở sát dãy nhà 10 căn, xây hai căn nhà lầu chung vách. Không chỉ chung vách mà còn chung ban-công, chung sân trước sân sau, chỉ có nhà bếp, nơi ăn uống, toa-lét, và cầu thang (ở ngoài sân) riêng biệt.
Chung vách chung sân vì đã có dự tính từ trước: khi xây xong, dì TN sẽ bán căn nhà cũ phía trong hẻm để lấy một căn, căn còn lại để bà ngoại, dì út và các cậu ở; coi như một đại gia đình ở chung hai căn nhà.
Ngoài ra, vì dãy nhà phụ phía sau (nhà bếp, nơi ăn uống, nhà tắm, toa-lét) còn dư chỗ, bà cho ngăn lại thành một căn phòng nhỏ, dự trù dành cho các nàng “liên tử”, và trong lúc chờ đợi bà sử dụng làm nơi ngủ trưa và đọc kinh một mình.
* * *
Tôi lên Sài Gòn vào khoảng gần cuối năm 1958, tiếp tục học lớp Nhất tại trại định cư Bùi Phát, nơi người cậu út của tôi đang học. Xin viết cho rõ: lớp học của trại định cư Bùi Phát chứ không phải của trường tiểu học giáo xứ Bùi Phát sẽ được xây dựng sau này (năm 1963).
Cũng xin có đôi dòng về trại định cư Bùi Phát.
Ngày ấy, đại đa số các trại định cư dành cho người Công giáo từ miền Bắc được Tổng ủy Di cư thiết lập theo kế hoạch và nhu cầu, các vị linh mục lãnh đạo đoàn chiên có thể lựa chọn, hoặc được đưa tới các trại định cư này.
Trại định cư Bùi Phát thì khác, giáo dân và linh mục tụ tập trước, sau đó mới xin chính phủ cho thành lập trại định cư.
Quý vị nào muốn tìm hiểu chi tiết có thể vào trang nhà của Tổng Giáo Phận Sài Gòn, đọc bài “Giáo xứ Bùi Phát 2020”, ở đây tôi chỉ xin rất sơ lược.
Sau khi di cư vào Nam, một nhóm người gốc làng Quất Lâm – cũng là giáo xứ Quất Lâm, quê nội của tôi – thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, có khả năng tài chánh, thay vì theo các linh mục tới lập nghiệp tại các trại định cư xa xôi, đã tới đường Trương Minh Giảng mua một miếng đất lớn trong hẻm để cất nhà (sau này là khu nhà phía sau tiệm thuốc lào 888 Tiến Phát).
Thấy khu đất sình lầy phía trong đường Trương Minh Giảng, chạy dài từ chân cầu Trương Minh Giảng tới đường xe lửa (gần cống bà Xếp) còn bỏ hoang, dò hỏi thì được biết là đất chính phủ, lý tưởng cho những gia đình di cư chưa có chỗ ở đến định cư, nên nhóm người này đã mở cuộc vận động.
Được một số linh mục ở các nơi tiếp tay quảng bá, tới đầu năm 1955, nhiều gia đình di cư gốc Quất Lâm và Xuân Dục (huyện Xuân Trường, Nam Định) từ những vùng đất xa xôi như Mỏ Cày (Bến Tre), Tây Ninh cùng nhau về đây quy tụ, phân lô dựng nhà.
Tháng 5 năm 1955, Linh mục Ngô Xuân Hảo đưa một số gia đình đồng hương gốc Đại Đồng (cũng thuộc huyện Giao Thủy, Nam Định) từ miền Tây về đây định cư, đồng thời nhận trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên.

Linh mục Phan Xuân Hảo, người thành lập trại định cư và giáo xứ Bùi Phát
Cuối năm 1955, cha Hảo xin Tổng ủy Di cư cho thành lập trại và đặt tên là Trại định cư Bùi Phát (vì đa số giáo dân gốc Bùi Chu, Phát Diệm); đồng thời cũng có một số gia đình giáo dân gốc Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng tới gia nhập.
Qua năm 1956, cha Hảo cho dựng một ngôi nhà thờ mái tôn, tường gạch xi-măng gần bờ kinh Nhiêu Lộc và một ngôi chợ nho nhỏ cuối con hẻm từ đường Trương Minh Giảng đi vào trại định cư.
Ngoài ra còn có văn phòng trại (cũng là chỗ ở của cha Hảo) và mấy lớp học.
Cũng trong năm 1956, Đức cha Jean Cassaigne, Tổng Giám mục giáo phận Sài Gòn, ký quyết định cho phép thành lập giáo xứ Bùi Phát, do cha Hảo làm Chánh xứ.
Tính về cả dân số lẫn diện tích, Bùi Phát được xem là giáo xứ lớn nhất nhì Sài Gòn lúc bấy giờ; nhà bà ngoại tôi ở phía bắc đường rầy xe lửa cũng thuộc giáo xứ này.
Tôi không biết cha Hảo và bà ngoại tôi quen biết nhau từ ngày còn ở ngoài Bắc hay vào trong Nam mới quen, chỉ biết bà rất được cha quý trọng, gọi là “bà Tổng”.
Nguyên ông ngoại tôi, Vũ Ngọc San, làm lý trưởng làng Du Hiếu cho nên họ hàng và người làng thường gọi là “ông Lý San”. Nhưng vì trong thời gian tồn tại hơn 2 năm của “Khu tự trị Bùi Chu - Phát Diệm” (do Đức giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh thiết lập), ông ngoại tôi được trao chức Chánh Tổng cho nên trong gia phả của các chi tộc họ Vũ ở Nam Định (Vũ-văn, Vũ-ngọc, Vũ-đức) và người dân ở các làng khác thường gọi là “ông Tổng San”.
Cha xứ thứ nhì của giáo xứ Bùi Phát là Lm Giuse Nguyễn Đức Thịnh (1914-2002), nguyên là Chánh xứ Tân Định. Ngày còn ở ngoài Bắc, cha Thịnh rất thân với gia đình tôi; khi đang làm Chánh xứ Quất Lâm, ngài đã đạp xe mấy cây số tới nhà thờ Du Hiếu để rửa tội cho tôi.

Nhà thờ thứ nhì của Giáo xứ Bùi Phát khánh thành vào năm 1967. Sau năm 1975 là một trong số hiếm hoi
những nhà thờ không bị đập phá để xây lại, chỉ tu bổ nội thất, mái và mặt tiền (hình dưới)
những nhà thờ không bị đập phá để xây lại, chỉ tu bổ nội thất, mái và mặt tiền (hình dưới)

Tôi không nhớ rõ ngày ấy (niên khóa 1958-1959) trại định cư Bùi Phát có mấy lớp học, chỉ nhớ lớp Nhất có khoảng 20-30 học sinh, đa số là con trai. Thầy giáo là thầy Thanh, rất hiền và còn khá trẻ nên chúng tôi xưng “em” thay vì “con”.
Nhà thầy nhà ở cạnh đường xe lửa gần cổng số 6 nên hai cậu cháu tôi cũng thường gặp mỗi khi đi ngang qua, thấy thầy hay đứng hóng mát trong cổng dưới cây trứng cá.
Năm 1959, lớp Nhất chúng tôi đi thi tiểu học tại Trường Tiểu Học Con Trai Tân Định ở đường Huỳnh Tịnh Của. Đây là trường tiểu học công lập nổi tiếng nhất, đẹp nhất ở Sài Gòn mà tôi được biết; được xây dựng từ thập niên 1930 có tên bằng tiếng Pháp là École de Garçon Tan Dinh, với những nét cổ kính trang nghiêm nhưng vẫn không kém phần thơ mộng của những ngôi trường được xây vào thời thuộc địa.

Sau năm 1975, Trường Tiểu Học Con Trai Tân Định trở thành Trường Phổ Thông Cơ Sở Tân Định, nhập với trường
con gái Đồ Chiểu bên cạnh, trai gái học chung. Năm 1985, trường được đổi tên là Trường Tiểu Học Nguyễn Thái Sơn
con gái Đồ Chiểu bên cạnh, trai gái học chung. Năm 1985, trường được đổi tên là Trường Tiểu Học Nguyễn Thái Sơn
Cho tới nay, tôi vẫn còn nhớ và hãnh diện về một cái “không giống ai” của tôi khi đi thi tiểu học, đó là hát trong môn thi nhiệm ý!
Như nhiều vị lớn tuổi còn nhớ, ngày ấy ở bậc tiểu học có môn “học thuộc lòng”, thầy cô thường lựa những bài thơ lục bát hay song thất lục bát dễ nhớ, trích từ kho tàng ca dao tục ngữ, lịch sử hoặc tả cảnh vật, con người, sự việc... xảy ra trong trong cuộc sống thường ngày để học sinh học thuộc lòng.
Còn hát không biết ở các trường tây, trường tư nhà giàu thì sao còn trường công thì hoàn toàn tùy thuộc vào thầy cô. Thầy cô nào biết hát, thích hát thì tập cho học trò hát một số bài quen thuộc, nếu không thì thôi.
Khi đi thi tiểu học, tới môn nhiệm ý đa số học sinh xin thi học thuộc lòng, riêng phòng thi của tôi ở Trường Tiểu Học Con Trai Tân Định năm đó chỉ có một mình tôi xin thi hát.
Nguyên nhân không phải tôi sớm yêu ca nhạc mà chỉ vì tôi rất thích một ca khúc trong chương trình nhạc vui tươi hùng mạnh mỗi sáng sớm của đài phát thanh Sài Gòn.
Ngày ấy chương trình phát thanh của đài Sài Gòn (hệ thống A) được bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng. Sau đài hiệu và quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, xướng ngôn viên mời thính giả thưởng thức vài ca khúc vui tươi, hùng mạnh để lấy khí thế bắt đầu một ngày mới.
Tôi vẫn còn nhớ một số ca khúc phổ biến như Rạng Đông của Hùng Lân (Anh nghe chăng cung kèn rạng đông, đang uy linh lừng vang trên không…), Khỏe Vì Nước, cũng của Hùng Lân (Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia, Đoàn thanh niên ta góp tài ba…), Bài Ca Chiến Thắng của Minh Duy (Kìa đoàn quân chiến thắng trở về dưới nắng hồng, Cùng nhau hòa câu hát thành công, Lớp áo xanh phai mầu…), và bài tôi rất thích nhất là Con Đường Vui của Lê Vy và Phạm Duy, do Ban hợp ca Thăng Long trình bày.
Tôi thích Con Đường Vui tới mức thuộc lòng bài hát, và đây là bài hát thứ ba trong đời tôi thuộc lời, sau hai bản Gạo Trắng Trăng Thanh và Trăng Rụng Xuống Cầu của Hoàng Thi Thơ nghe qua cái máy hát đĩa lên dây thiều của bố tôi ngày còn ở Hố Nai.
Con Đường Vui
Đoàn người tưng bừng về trong sương gió
Hồn như đám mâу trắng lững lờ
Giang hồ không bờ không bến
Đẹp như kiếp Ɓô-ê-miêng (Bohémien)
Ánh dương lên, một đoàn thanh niên
Ɗục nhau đi từ khi nắng sớm
Lúc gió chiều về trong tiếng tiêu
Ɓóng ai còn in trên dường dài
Đoàn người đi vượt rừng qua núi
Ɓước chân vui qua miền xa xôi
Kìa là đoàn người Việt Nam gieo thắm tươi.
Điệp khúc:
Đoàn ta, vui bước trên đường mưa gió về
Ϲòn nghe vang dư âm bao lời ca âu уếm
Đoàn ta tai lắng nghe hồn chinh chiến về
Đường xa, đi chưa quên bao thù xưa.
Tôi thích ca khúc Con Đường Vui tới mức đã nhờ thầy Thanh tìm hiểu, giải thích chữ “Bô-ê-miêng” là phiên âm từ chữ “Bohémien”, tiếng Pháp có nghĩa là dân du mục ở Đông Âu.
Chưa hết, khi biết tôi nhất định sẽ hát bài Con Đường Vui khi đi thi tiểu học, cậu S, người cậu thứ hai của tôi, vốn biết đàn hát, đã dạy tôi cách giữ nhịp bằng chân…
* * *
Khi cô giáo chấm thi nghe tôi xin thi hát cô hơi ngạc nhiên vì trước đó thí sinh nào cũng thi học thuộc lòng. Thấy tôi hát một cách say sưa, tự tin, vừa hát vừa nhịp nhịp bàn chân, cô giáo chăm chú theo dõi và… mỉm cười; chắc hẳn sau đó cô cho điểm cũng không đến nỗi tệ.
Sau này trong những lúc cao hứng nhìn lại đường đời của mình, tôi thường mỉm cười tự hỏi: có phải vì ngày còn học tiểu học tôi đã ước mơ “Giang hồ không bờ không bến, đẹp như kiếp Bô-ê-miên…” rồi nó ảm vào người khiến tôi giang hồ trọn kiếp hay không?!
Cùng với bài hát Con Đường Vui, tôi cũng không bao giờ quên ngôi trường nơi tôi thi lấy bằng tiểu học có cái tên hay hay “Trường Tiểu Học Con Trai Tân Định”. Sau này mỗi khi có dịp từ Trương Minh Giảng lên cà-phê Hồng ở đường Pasteur đấu láo với các đàn anh, bạn bè văn nghệ, tôi thường cố tình chạy xe theo lộ trình Trương Minh Giảng – Yên Đỗ - Huỳnh Tịnh Của để đi ngang qua ngôi trường xưa…
* * *
Trở lại với những ngày đầu tôi lên Sài Gòn ở với bà ngoại vào khoảng tháng 9, tháng 10 năm 1958. Hai căn nhà lầu mới xây, dì TN lấy căn bên trái, trên lầu cho hai anh em bạn học cũ ở Hà Nội thuê, gia đình dì ở tầng dưới, còn căn bên phải thì bà, người dì út, cậu S, cậu út và tôi ở trên lầu (người cậu áp út đã được gửi vào chủng viện đi tu làm linh mục), dưới nhà cho thuê.
Thời gian này, dì út đang học lớp đệ Tam ở Trưng Vương, cậu S học đệ Tứ ở Hồ Ngọc Cẩn, cậu út học chung lớp Nhất với tôi bên Bùi Phát.
Đang sống ở một xứ đạo vùng Hố Nai được lên Sài Gòn với tôi là một sự đổi đời cho nên chỉ vài tuần sau là tôi đã hết nhớ bố mẹ và các em. Ngoài giờ đi học, tôi và cậu út tha hồ rong chơi, gần thì sang đường Nguyễn Huỳnh Đức ngắm cá Xiêm (cá đá) ở mấy chỗ nuôi cá giống (chỉ ngắm chứ chẳng mấy thuở có tiền mua), xa hơn một chút thì lên xi-nê Văn Lang xem phim cao-bồi, phim Tarzan, Hercules…, xa hơn nữa thì đạp xe vào phi cảng Tân Sơn Nhất coi máy bay lên xuống, hoặc dự khán các buổi biểu diễn máy bay nhỏ (model) của Hội máy bay nhỏ Việt Nam ở gần đó, cuối tuần thì lên sân banh bên cạnh Bộ Tổng Tham Mưu xem các cầu thủ nổi tiếng đấu giao hữu hoặc thao dợt…

Sân banh Bộ Tổng Tham Mưu. Phía bên trái hình là Cổng chính của Bộ TTM, đối diện là đường Võ Tánh
đi lên Lăng Cha Cả, cận ảnh là Đại lộ Cách Mạng đi vào phi cảng Tân Sơn Nhất
đi lên Lăng Cha Cả, cận ảnh là Đại lộ Cách Mạng đi vào phi cảng Tân Sơn Nhất
“Đau khổ” duy nhất của tôi (cũng là của cậu út) là mới 4 rưỡi sáng đã bị bà ngoại đánh thức để theo bà đi lễ sáng ở nhà thờ Bùi Phát. Khỏi cần nghe tôi tả oán có lẽ độc giả cũng có thể mường tượng cảnh hai thằng bé 10, 11 tuổi đang ngủ ngon lành bị dộng đầu dậy khi gà chưa kịp gáy sáng nó… vô nhân đạo tới mức nào (dì út, cậu S được miễn đi lễ vì phải đi học xa).
Bản năng sinh tồn, tạm gọi như thế, đã khiến tôi và cậu út phải… lừa dối: sau khi băng qua đường rầy xe lửa, lợi dụng bóng tối, tôi và cậu út làm bộ đi chậm lại, đợi bà quẹo vào con hẻm phía tay trái liền quay về nhà ngủ tiếp.
Thực ra, nếu theo bà ngoại tới nhà thờ dự lễ, chúng tôi cũng có thể ngủ gật suốt buổi lễ như bao đứa trẻ đồng cảnh ngộ ở hầu hết các xứ đạo, nhưng riêng tại giáo xứ Bùi Phát vào khoảng thời gian đó, ngủ gật là… chết tươi với ông quản Lung.
Cũng nên biết vào thời gian mới di cư vào Nam, các giáo xứ chưa có các thầy (ở Đại chủng viện) về giúp xứ, dạy giáo lý và trông coi đám trẻ con thì một số giáo dân lớn tuổi đã tình nguyện làm các ông bà “quản” để giữ gìn trật tự trị an trong nhà thờ.
Trong khi các bà quản chỉ có cái quạt giấy làm vũ khí răn đe đám con gái thì các ông quản thường tự trang bị một cái roi dài để trừng trị những cậu nhỏ phá phách, đùa nghịch, hoặc “đánh thức” những đứa ngủ gật trong nhà thờ. Ông quản Lung của giáo xứ Bùi Phát cũng thế, có khác chăng roi của ông là roi mây!
Đã vậy mỗi lần lấy roi quất lên lưng lũ trẻ ông sử dụng tới 24 thành công lực khiến “vết thù trên lưng ngựa hoang” mấy ngày sau vẫn chưa lành. Sau này lên trung học đệ nhị cấp, học môn tâm lý học tôi nghi rất có thể ông quản Lung mắc chứng “sadism” bẩm sinh (thích thú khi làm kẻ khác đau đớn), chứ một người bình thường không ai tàn nhẫn với trẻ con tới mức ấy!
Cũng may, cùng với tiếng đồn về những đường roi của ông quản Lung, sự can thiệp của hai dì và cậu S đã có hiệu lực giúp tôi và cậu út không bị bà bắt đi lễ mỗi sáng sớm nữa. Về phần ông quản Lung sau này bị lũ trẻ con trả thù bằng cách hè nhau xô xuống cái ao nuôi cá phi bên cạnh nhà thờ, đã từ chức (hoặc bị cha xứ “giải nhiệm”)!
(Còn tiếp)
(Hồi ký ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút được lưu trữ trong Forum Văn Nghệ, Sub-Forum Trang Thành Viên)

