Hồi ký
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (2)
Nguyễn Hữu Thiện
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút (2)
Nguyễn Hữu Thiện

Tha La Xóm Đạo
Lẽ ra kỳ này tôi bắt đầu viết về thời niên thiếu ở hẻm 6 Trương Minh Ký, Phú Nhuận, nhưng nghĩ lại thấy như thế là bỏ qua bốn năm (missing years) kể từ ngày bước chân lên tàu há mồm di cư vào Nam năm 1954 cho tới năm 1958, cho nên xin dành ra hai kỳ để ghi lại lần đầu… biết yêu ở Tha La xóm đạo, và cảnh “gươm lạc giữa rừng hoa” ở vùng Hố Nai, Biên Hòa, trước khi trở thành cư dân của Hòn ngọc Viễn đông.
Trước hết viết về hai năm ở Tha La.
Sau này, vào đầu năm 1965 tại Sài Gòn, khi ca khúc Tha La Xóm Đạo của Dzũng Chinh được Hoàng Oanh thu đĩa, làm mưa gió qua làn sóng điện các đài phát thanh, tôi cho bạn bè biết 10 năm về trước tôi đã từng sống ở Tha La, Trảng Bàng, Tây Ninh, thì không ai tin. (Tới cuối thập niên 1950, khi tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập, Trảng Bàng thuộc tỉnh mới, sau 1975 trở lại thuộc Tây Ninh như cũ).
Các bạn gốc Nam nói họ là dân giá sống thứ thiệt, lớn lên trong Nam mà còn không biết Tha La xóm đạo ở đâu thì làm sao một tay gốc Bắc di cư như tôi có thể đã từng sống ở nơi đó?!
Nhưng đó là một sự thật mà ngay trong thân tộc của tôi cũng không mấy người biết, hoặc còn nhớ.
Nguyên sau khi di cư vào Nam, tạm trú mấy tháng tại nhà một người cô của mẹ tôi (tức chị ông ngoại) đã vào Sài Gòn trước Đệ Nhị Thế Chiến, sống ở Thị Nghè, tới cuối năm 1954, gia đình tôi theo bà ngoại lên Tây Ninh lập nghiệp ở họ đạo Tha La, quận Trảng Bàng.
Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi được biết vào hai năm 1954, 1955, chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã đưa khoảng 40.000 đồng bào Công Giáo miền Bắc di cư tới Tây Ninh lập nghiệp, đa số tập trung ở quận Châu Thành, một số nhỏ ở Bời Lời thuộc quận Trảng Bàng, hoặc Đồng Ban và Bàu Cỏ thuộc quận Tân Châu.
Tuy nhiên vì không có kế sinh nhai, chỉ sau một thời gian ngắn, những người ở Bời Lời, Đồng Ban, Bàu Cỏ hoặc bỏ đi nơi khác lập nghiệp, hoặc về quận Châu Thành gia nhập giáo xứ Cao Xá của đoàn người di cư đã được một vị linh mục Dỏng Đa-minh đưa tới vào năm 1954.

Ngôi nhà thờ thứ hai của giáo xứ Cao Xá hoàn tất năm 1973, hiện nay vẫn giữ nguyên
kiến trúc ban đầu, chỉ xây lại cung thánh và xây thêm hàng rào
kiến trúc ban đầu, chỉ xây lại cung thánh và xây thêm hàng rào
Những tài liệu trên không hề nhắc tới đoàn người lập nghiệp ở họ đạo Tha La có lẽ vì đây chỉ là một nhóm nhỏ, và về sau bỏ đi gần hết. (Theo một bài viết về Tha La, trước năm 1975, chỉ còn bốn gia đình người Bắc di cư sống ở họ đạo Tha La).
Sở dĩ gia đình tôi lên Tha La là vì bà ngoại tôi rất thân với một vị linh mục uy tín đã trọng tuổi mà mọi người gọi một cách kính nể là “Cha già cố Trực”. Khi biết ngài đang “tuyển mộ” dân Công Giáo di cư lên Trảng Bàng lập nghiệp, bà đưa mấy người cậu, người dì út, và rủ bố mẹ tôi đi theo để ủng hộ tinh thần Cha.
Thời gian này người dì áp út của tôi vừa lập gia đình, mua nhà trong hẻm 6 đường Trương Minh Giảng “nối dài” ở Phú Nhuận, khuyên bà tôi ở lại Sài Gòn mua lô đất trống gần đó, xây nhà cho các cậu và dì út của tôi ở.
Bà ngoại tôi tuy góa chồng nhưng cũng còn chút của (ông ngoại tôi hy sinh đầu năm 1954 khi bót quốc gia bị Việt Minh tấn công), tuy nhiên thay vì nghe lời khuyên của dì tôi, bà nhất định đi theo “cha già cố Trực” lên Tha La. Để rồi hơn nửa năm sau đã phải quay trở về hẻm 6 mua đất xây nhà!
Nhưng riêng gia đình tôi thì nhất quyết nhận Tha La làm quê hương thứ hai.
Lúc đó tôi mới 6, 7 tuổi, đang suốt ngày bị nhốt trên căn gác chật hẹp ở ven rạch Thị Nghè bỗng được về sống ở một vùng quê rộng rãi thoải mái, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, cây trái hoa lá xum xuê, có ruộng vườn, sông suối, rừng cây, tha hồ bay nhảy, hỏi không thích sao được!
Theo ký ức của tôi, đi theo Quốc lộ 1 hướng Sài Gòn – Tây Ninh, qua chợ Trảng Bàng khoảng 100m, quẹo trái vào con đường trải đá đỏ, cứ đi thẳng về hướng tây sẽ thấy nhà thờ Tha La nằm phía bên trái.

Nhà thờ Tha La trước năm 1975
Sau này lớn lên tôi mới biết Tha La là không chỉ là xứ đạo lâu đời và lớn nhất ở tỉnh Tây Ninh mà còn là một trong những xứ đạo nổi tiếng của miền đông Nam Bộ vào thời kháng chiến chống Pháp, được lưu danh trong văn học sử qua bài thơ Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh. (CHÚ THÍCH)
Đi qua nhà thờ và trường tiểu học của xứ đạo, con đường bắt đầu xuống dốc và chấm dứt tại khu ruộng mía lau gần bờ sông.
Cũng từ Trảng Bàng đi vào con đường đá đỏ, trước khi tới nhà thờ Tha La rẽ phải vào một con đường đất, lớn đủ để cho xe hơi chạy, sẽ tới khu định cư của người Công Giáo di cư, bề dài khoảng một cây số, bề ngang vài trăm mét, được vây quanh bởi những lũy tầm vông lâu đời dày cả mấy mét.
Khu đất này không bỏ trống mà trồng xoài từ đời nào, xen lẫn là khoảng 50 căn nhà tranh vách đất mới dựng cho dân di cư cùng với một ngôi nhà thờ nho nhỏ mái tôn vách tôn, do một vị linh mục người Bắc di cư là “cha Mỹ” kiêm đủ mọi công việc đạo đời.
Tôi không biết khu đất này là tài sản của họ đạo Tha La hay một đại điền chủ nào đó, chỉ biết chắc chắn không phải đất công, bởi vì vào mùa xoài, có người đưa xe bò và công nhân tới hái xoài chở đi.
Tôi vẫn còn nhớ những luật lệ bất thành văn do cha Mỹ phổ biến cho giáo dân trong các buổi đọc kinh ở nhà thờ, chẳng hạn chỉ được thu lượm trái cây - mít, xoài, vú sữa, điều lộn hột... - đã rụng xuống đất chứ không được trèo lên cây để hái, không được bẻ măng (tre, tầm vông), thơm khóm mọc ở bất cứ nơi nào, bởi tất cả đất đai ở đây đều có chủ, không phải đất hoang..., nhất nhất đều được giáo dân tuân giữ.
Vì dân di cư ở Tha La không mấy người kiếm được công ăn việc làm, không có ruộng rẫy để canh tác, không có rừng để khai phá, khoảng nửa năm sau, khi Tổng Ủy Di Cư kêu gọi người tình nguyện đi Ban Mê Thuột lập “khu dinh điền”, gần một nửa dân di cư đã theo mấy chiếc xe vận tải lên vùng cao nguyên.
Số còn lại cũng bỏ đi dần, cho tới lúc chỉ còn lại khoảng 10 gia đình, cha Mỹ cũng gỡ tôn nhà thờ chở đi đâu đó (chắn hẳn phải có phép của Bề Trên) thì số người Bắc di cư còn lại được nhập vào họ đạo Tha La của dân Nam.
Tôi được đi học ở trường tiểu học do các dì phước trông coi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được cắp sách đến trường nhưng đã biết đọc biết viết, làm toán cộng toán trừ, nhờ được mẹ dạy ở nhà từ hồi còn ở ngoài Bắc, cho nên được học lớp Tư, tức lớp 2 ngày nay. (Mẹ tôi vốn là cô gái đầu tiên trong làng lên tỉnh thi bằng Tiểu học, và thi đậu).
Tôi học khá giỏi, trừ môn chính tả luôn luôn bị zéro (trên 10 lỗi), vì các dì phước người Nam đọc sao tôi cứ y như thế mà viết: dui dẻ, ra dô, dường tược, diếc mực, dăng minh, cờ dàng ba sọc đỏ...
Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi có bạn. Cũng giống như người lớn ở Tha La, đám con trẻ con người Nam ở đây tuy cũng thường chọc ghẹo “Bắc Kỳ ăn cá rô cây” nhưng không hề kỳ thị, trái lại chúng rất thích chơi với tôi, có lẽ vì tôi tháo vát, biết lắm trò nghịch ngợm, và nói giọng Bắc nghe “thiệt ngộ”!
Về phần tôi, nhờ theo các bạn người Nam, tôi mới có cơ hội khám phá hết vùng Tha La, với sinh hoạt đặc thù và phong cảnh độc đáo, vừa có ruộng vườn, sông suối vừa có những ngọn đồi thoai thoải, vừa có hoa màu nơi vườn tược vừa có những loài hoa dại trong rừng, nơi chúng tôi thường rủ nhau đi hái trái hồng quân (còn gọi là bồ quân, mùng quân), một loại cây thuộc họ “mận” có trái giống như chùm nho tím thường mọc hoang ở miền Thượng du ngoài Bắc và Tha La, Thất Sơn (An Giang) trong Nam.

Một con suối trong rừng tre ở Tha La


Trái hồng quân
Cũng ở Tha La, lần đầu tiên trong đời tôi có... người yêu - một cô bạn học chung lớp Tư. Hoặc nếu độc giả không tin một thằng nhóc mới 7, 8 tuổi đã biết yêu, tôi xin sửa lại cho nhẹ bớt: lần đầu tiên trong đời tôi thích một người khác phái, và được đáp lại!
Tôi không phải văn sĩ hay chuyên gia tâm lý để có thể diễn tả, mổ xẻ, phân tích quan hệ tình cảm đặc biệt này, nhưng dứt khoát đây không chỉ là tình bạn học giữa hai đứa trẻ khác tính phái, bởi vì cho dù không hề giả làm cô dâu chú rể như trong ca khúc “Đám Cưới Đầu Xuân” của Trần Thiện Thanh:
“Trò chơi trẻ con
Em cô dâu mới chưa nghe nặng sầu
Chú rể ngẩn ngơ
Ra hái hoa cà làm quà cưới cô dâu…”
cùng với những nụ cười chúng tôi dành cho nhau, còn có cả ánh mắt. Người ta đã chẳng nói con mắt là cửa sổ của tâm hồn đó sao!

(Ảnh minh họa)
Đôi mắt to tròn và mái tóc bắt đầu dài ấy là một phần không thể xóa bỏ mỗi khi tôi nhớ về chốn thiên đường hạnh phúc thời niên thiếu!
* * *
Cùng khoảng thời gian, nhờ có chút vốn liếng chữ nghĩa, thường giúp mọi người viết đơn từ, và hay ra xã xin các tạp chí, bản tin, bích chương của chính phủ về nhà đọc và phổ biến cho mọi người, bố tôi được tuyển làm Thư ký Hội đồng xã An Hòa.
Sau khi khăn gói ra Long Hoa học một khóa hành chánh kéo dài mấy tuần lễ, ông bê về nhà một cái máy đánh chữ cổ lỗ sĩ thì gia đình coi như an cư lạc nghiệp. Thỉnh thoảng có “quan lớn” trên quận đi xe díp màu xanh lá cây (công xa) về thăm, tôi lại được dịp lên mặt với đám bạn người Nam.
Về phần mẹ tôi vốn tính tình cởi mở, dạn dĩ, đã trở nên thân thiết với các cô gái miền Nam gần nhà, được họ gọi là “chị Ba”, chiều chiều khi chuông nhà thờ đổ các cô lại kêu đi đọc kinh chiều... Từ những ngày ấy cho tới khi qua đời hơn 60 năm sau, mẹ tôi hầu như không bao giờ vấn tóc nữa, mà chỉ búi.
Ngoài ra, gia đình tôi còn được bà Tám Hào, góa phụ của một chủ đất giàu có ở Tha La, nhận làm con cháu. Bà Tám khi ấy đã móm xọm nhưng còn khỏe mạnh và sống một mình. Khi chia đất cho các con, bà giữ lại thửa đất có căn nhà của vợ chồng bà. Thửa đất ấy trồng vú sữa và mấy cây mít quanh nhà trong đó có một cây mít ướt dành riêng cho bà. Bà bắt chúng tôi kêu bằng “bà nội” (ông bà nội tôi đã mất ngoài Bắc), và thương “con Ba” (mẹ tôi) tới mức nhiều khi con cháu bà phải ganh tỵ.
Bà còn đòi gả cô Chín M, cháu nội cưng của bà cho người cậu lớn của tôi, và việc này suýt đưa tới đổ máu.
Nguyên cô Chín M có người anh trai tối ngày rượu chè say sưa, quậy phá, bị mọi người gọi một cách khinh thường là “thằng Ba”!
Khi nghe nói (không biết có thiệt hay không) cha mình hứa sẽ cho cô em gái một phần đất đai làm của hồi môn khi cô lấy cậu tôi, anh ta uống rượu say rồi tới nhà tìm cậu tôi để thanh toán. Trên đường đi ngang nhà ông Tư Cho, thấy ông đang ngồi chẻ lạt trước sân liền xông vào cướp con dao trên tay ông.
Tới trước nhà chúng tôi, anh ta thét lớn:
-Thằng Sáu, mày ra đây tao biểu! (cậu tôi thứ sáu)
Cũng may trước đó mấy ngày cậu tôi đã về Sài Gòn để thi vào Khóa 13 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Sau khi bà tôi đứng trong nhà trả lời vọng ra “Thằng Sáu nó về Sài Gòn rồi”, anh ta liền vung con dao chẻ lạt chém vào cửa sổ đi một đường ngọt sớt đứt lìa mấy cái song cửa bằng tầm vông, trước khi bị mấy người đàn ông đang lai rai ở cái quán ngoài đầu ngõ xúm lại giựt dao, trói tay rồi báo lên xã cho người tới điệu đi.
Từ đó cậu tôi không bao giờ trở lại Tha La nữa. Sau này khi bị chúng tôi hỏi về “mối tình” với cô Chín M, cậu nói hai người mới chỉ gặp nhau một lần duy nhất do gia đình đôi bên sắp xếp, chưa kịp có tình ý gì với nhau cả.
* * *
Bà Tám Hào chỉ có một khuyết điểm (tạm gọi như thế) là đi lễ Chủ Nhật luôn luôn đứng bên ngoài chứ không chịu vào nhà thờ. Bà nói “Tao đứng ngoài để muốn dìa lúc nào thì dìa!”
Có lẽ bà hạp mẹ tôi một phần là vì cả hai đều có máu “tomboy”!
Có thể viết, nếu cuộc đời cứ thế trôi đi, tôi và thằng em trai đã trở thành hai chàng trai Tha La thứ thiệt, hãnh diện là “đồng hương” của Hải Quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà, người sau này hy sinh trong trận hải chiến với hải quân Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa vào đầu năm 1974, được truy thăng Trung tá.

Thiếu tá Ngụy Văn Thà và hiền nội
Nhưng chúng tôi có duyên với Tha La mà không có nợ!
Trong năm 1956, sau một loạt vi phạm Hiệp Định Genève 1954 của phía cộng sản, Tổng thống Ngô Đình Diệm chấm dứt các cuộc tiếp xúc giữa hai miền để bàn về tổng tuyển cử thống nhất đất nước, thì đám du kích bấy lâu nay ẩn náu bên kia bờ sông Vàm Cỏ, bắt đầu mò về hoạt động trở lại. Nghe bố tôi và mấy người lớn nói chuyện với nhau, tuy không hiểu rõ tôi cũng đoán được đám du kích này đã ám sát hoặc treo án một số viên chức chính phủ ở địa phương.
Một đêm nọ, lực lượng Bảo An trên quận được mật báo, về Tha La vây bắt được hai tên du kích lén về thăm nhà. Cho tới sau này tôi cũng không biết đích xác về sự hăm dọa của đám Việt Cộng nằm vùng nhằm vào các viên chức ở xã, cũng như tình trạng “xôi đậu” ở Tha La nói riêng, Trảng Bàng nói chung, chỉ biết bố tôi đã quyết định xin nghỉ việc ở xã để đưa gia đình trở về Sài Gòn.
Chính vì tuổi niên thiếu êm đẹp của mình bị chấm dứt một cách đột ngột, phũ phàng như thế, tôi không bao giờ quên được Tha La, cho dù thời gian sống ở đó chưa đầy hai năm...
* * *
Sau năm 1975, tôi đang bị tù “cải tạo” ở vùng Đồng Ban, huyện Tân Châu, Tây Ninh, thì được đưa lên Phước Long (Sông Bé). Đoàn molotova chở chúng tôi đi theo lộ trình Quốc lộ 1, xa lộ Đại Hàn, Quốc lộ 13, Quốc lộ 14. Lần đầu tiên, xe không bị bít bùng.
Tới chợ Trảng Bàng đoàn xe dừng lại khoảng nửa tiếng đồng hồ để đám cán bộ, vệ binh mua sắm.
Chiếc xe chở tôi đi phía sau, đậu cách chợ khoảng 100m, ngay ngã ba Quốc lộ 1 và con đường đá đỏ đi vào Tha La xóm đạo. Dĩ vãng bấy lâu tưởng đã nhạt nhòa bỗng hiện rõ trong tôi...
Khi đoàn xe chuyển bánh, tôi nhìn lại con đường đá đỏ lần cuối, nhà thờ Tha La bị những tàng cây xanh che khuất, chỉ thấy một chiếc xe bò chở đầy me xanh ra chợ. Thì ra hàng me cổ thụ bên đường phía trước nhà thờ mà ngày ấy chúng tôi thường lén cha xứ leo lên nghịch phá, nay vẫn còn đó, và trở thành một nguồn lợi, dù nhỏ bé, cho người dân vùng đất “trái ngọt cây lành” sau cuộc đổi đời.
Rồi tôi chợt bâng khuâng: không hiểu cô bé Tha La tóc bắt đầu dài có cặp mắt to tròn học lớp Tư ngày ấy, giờ này đã mấy con?!
(Còn tiếp)
CHÚ THÍCH
Vũ Anh Khanh và Tha La Xóm Đạo
(trích “Vũ Anh Khanh và Tha La Xóm Đạo” của Lê Thương, Richmond - Virginia - USA)
…Trong công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, thanh niên nam nữ Tha La đã nhiệt tình tham gia phong trào kháng chiến, họ ra đi không hẹn ngày trở về và họ đã đền nợ nước trên các chiến trường lửa đạn khiến Tha La vắng bóng người, buồn cô quạnh... rồi nhà thơ Vũ Anh Khanh trong một lần lạc bước đến Tha La đã cảm xúc tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của nam thanh nữ tú Tha La nên sáng tác bài thơ “Tha La Xóm Đạo” vào năm 1950.
“Tha La Xóm Đạo” là một bài thơ dài 97 câu, viết theo lối hợp thể, đoạn mở đầu là ngũ ngôn, rồi chuyển sang tám chữ, sau đó thành kịch thơ và kết thúc bằng hai câu thất ngôn. Lời thơ giản dị, chân thành. Nhịp điệu của bài thơ nhẹ nhàng như lời tâm tình đã làm rung động tâm hồn của nhiều độc giả.


Nhạc sĩ Dzũng Chinh
“Tha La Xóm Đạo” đã được nhạc sĩ Dũng Chinh phổ nhạc vào năm 1964. Sau đó một năm, nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên “Hận Tha La” và cũng trong năm này nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành ca khúc mang tên “Vĩnh Biệt Tha La”. Ngoài ra, soạn giả cải lương Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý tưởng của Vũ Anh Khanh để viết ca khúc tân cổ giao duyên “Tha La Xóm Đạo”.
* * *
Vũ Anh Khanh (1926-1956) tên thật là Võ Văn Khanh, sinh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận, một cây bút chuyên viết chuyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm những chuyện dài như “Nửa Bồ Xương Khô”, “Bạc Xíu Lìn”, “Cây Ná Trắc” và các truyện ngắn như “Ngũ Tử Tư”, “Đầm Ô Rô”, “Sông Máu”, “Bên Kia Sông”, “Một Đêm Trăng”.
Ngoài ra, ông còn sáng tác thơ, nổi bật nhất là các bài “Chiến Sĩ Hành” và bài “Tha La Xóm Đạo”. Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Miền Nam. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh qua bài thơ “Tha La Xóm Đạo”, còn gọi là “Hận Tha La”.

Vũ Anh Khanh (vẽ lại từ ảnh chụp năm 1945)
Trước năm 1945, ông vào Sài Gòn làm báo và viết văn. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông cùng hoạt động với Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà... trong nhóm Văn Học Yêu Nước ở Sài Gòn. Năm 1950, bị chính quyền Sài Gòn lùng bắt, ông trốn thoát ra chiến khu. (ngưng trích)
* * *
Sau khi Hiệp Định Genève được ký kết ngày 20/7/1954, trong số các cán bộ cộng sản ở miền Nam tập kết ra Bắc có Vũ Anh Khanh.
Nhưng chỉ một thời gian sau, ông và không ít cán bộ miền Nam tập kết đã nhận ra bộ mặt thật của cộng sản Bắc Việt và tìm cách trốn về miền Nam.
Năm 1956, trong một lần được cử đi công tác, Vũ Anh Khanh biệt tích, không một ai biết ông đi đâu, sống chết ra sao. Xuân Vũ – người sau này về hồi chánh, tác giả hồi ký “Đường Đi Không Đến” – kể lại ông và các cán bộ gốc Nam được cho biết Vũ Anh Khanh chết vì tai nạn…
Phải đợi sau năm 1975, ông Võ Hồng Cương, trước kia là phó Tổng thư ký Hội Liên Hiệp Văn Nghệ, cũng là Cục phó Cục Tuyên Huấn quân đội nhân dân Bắc Việt, mới tiết lộ số phận của Vũ Anh Khanh như sau:
Năm 1956, Vũ Anh Khanh được cử đi công tác ở Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phú ở phía bắc Hà Nội, và ông đã sửa chữ “Vĩnh Yên” trong Lệnh công tác thành “Vĩnh Linh”, một địa danh gần sông Bến Hải.
Từ đây ông bơi qua sông ở phía trên cầu Hiền Lương vài cây số để về Nam tìm tự do. Tuy nhiên khi ra tới giữa dòng thì bị bộ đội biên phòng ở bờ Bắc phát giác, dùng tên tẩm thuốc độc bắn chết (vì Hiệp Định Genève cấm đôi bên sử dụng súng đạn tại vùng phi quân sự).
Xác của ông được vớt lên, vùi dập đâu đó trong vùng phi quân sự không mồ mả hay để lại vết tích gì.
Thật đáng buồn cho số phận một người tài hoa, yêu nước nhưng lầm đường.

