Hồi ký
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút
Nguyễn Hữu Thiện
*Để tưởng nhớ những người cùng đi trên những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
ĐƯỜNG TÔI ĐI - Nửa Đời Cầm Bút

Nguyễn Hữu Thiện
*Để tưởng nhớ những người cùng đi trên những quãng đường đời mà nay đã khuất bóng
Nếu ai cũng sống được trăm tuổi, đời tôi đã tàn thu hơn hai năm về trước.
Thông thường, trước khi dưỡng già người ta hay dốc cạn tâm huyết cống hiến cho đời một lần cuối, gọi là để dối già. Nhưng tôi không phải một nhân vật tên tuổi, cũng chẳng tài hoa hơn người, không dám sử dụng chữ “dối già” mà chỉ nhìn lại đời mình trong lúc chờ đợi chuyến tàu hoàng hôn.
Nhìn lại những gì “đã làm và không chịu làm”– what I have done and what I have failed to do - mượn lời Kinh Xét Mình (Confiteor) của người Công Giáo đọc trước mỗi Thánh lễ để bày tỏ sự ăn năn.
Việc tôi “không chịu làm” đáng trách nhất trong đời là không chịu thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh theo mong ước của bố tôi, một công chức quèn chỉ cầu mong có ngày thằng trưởng nam làm Trưởng Ty hay Phó Quận (Hành Chánh) cho ông được nở mặt nở mày.
Nguyên vào năm 1958, bố tôi đưa cả gia đình lên tỉnh mới Phước Long lập nghiệp, tôi được ở lại Sài Gòn với bà ngoại để học hành. Tôi học khá giỏi, nhưng vì nhà nghèo, bố tôi không đủ khả năng nuôi tôi ăn học thành bác sĩ, chỉ cầu mong tôi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
Vì thế khi tôi quyết định ghi danh vào trường Luật, bố tôi thất vọng vô cùng. Nhưng khi tôi về nhà ăn Tết ông chỉ trách nhẹ, bởi tính ông rất hiền không muốn làm mất lòng ai bao giờ; kể cả với con cái ông cũng không nặng lời, nói gì tới mẹ tôi, một tomboy đúng nghĩa!
Chính vì thế mà sau này khi đã có tuổi, nhớ lại tôi thương bố tôi vô cùng. Thương nhưng không ân hận bởi tôi biết tính tôi thích bay nhảy, coi trời bẳng vung, điếc không sợ súng thì không thể nào an phận một đời ngồi cạo giấy nơi văn phòng!
Về những gì mình đã làm (what I have done), dĩ nhiên tôi chẳng dại gì kể ra “nửa đời hư” của mình (tựa của cụ Vương Hồng Sển, 1902-1996) mà chỉ viết về lĩnh vực chuyên môn của một người cầm bút không chuyên nghiệp.
* * *
Mở đầu thiên hồi ký, xin có đôi dòng đan thanh về nơi chốn tôi trưởng thành: khu Trương Minh Giảng.
Trước năm 1975, Trương Minh Giảng, thuộc Quận 3, là một trong ba con đường chính từ trung tâm thành phố đi lên hướng bắc, nằm giữa Công Lý và Lê Văn Duyệt.
Đường Công Lý có nhiều biệt thự, cư dân đa số thuộc thành phần trung lưu, thượng lưu, yên tĩnh, đẹp sang nhưng chẳng có gì thu hút đám trẻ.
Đường Lê Văn Duyệt trái lại nhộn nhịp, phồn thịnh, và xô bồ.
Đường Trương Minh Giảng nằm giữa, sang hèn tùy đoạn, nhưng nói chung có phần lãng mạn, yên lành và đáng yêu hơn đường Lê Văn Duyệt (thành thật xin lỗi quý vị ở Hòa Hưng, Ngã Ba Ông Tạ, Chí Hòa…)
Chẳng thế mà sau này tại hải ngoại con đường Trương Minh Giảng (nay là Trần Quốc Thảo + Lê Văn Sỹ) đã nhiều lần được nhắc tới trong các tác phẩm văn thơ, âm nhạc có nội dung hoài niệm thành phố đã mất tên.
* * *
Lấy cầu Trương Minh Giảng làm mốc thì từ đây trở về trung tâm thành phố (đường Trần Quý Cáp) là khu sang, có nhiều dinh thự, biệt thự, ban đêm có tiếng dương cầm vọng ra, có mùi dạ lý hương thoang thoảng, tương tự con đường Bà Buyện Thanh Quan chạy song song gần đó.
Qua cầu nhìn về hướng Lăng Cha Cả thì cảnh vật thay đổi hoàn toàn: phía bên trái là chợ Trương Minh Giảng, phía bên phải là một đống rác khổng lồ bên cạnh khu đất trống sau này xây Viện đại học Vạn Hạnh.

tòa nhà phía bên phải là Viện đại học Vạn Hạnh đang xây (ảnh: Internet)
Qua khu chợ, tới ngã ba (nay là ngã tư) Trương Minh Giảng – Trần Quang Diệu, cảnh quan và con người lại thay đổi: nhiều trường trung, tiểu học, công cũng như tư nối tiếp nhau, xen lẫn những khu dân cư nhà cửa khang trang sạch sẽ, thỉnh thoảng cũng có một cửa tiệm, hàng quán nhưng tươm tất, sạch sẽ hơn nhiều so với khu chợ.
Vào thời gian tôi xong bậc trung học đệ nhất cấp (1964), trước khi phong trào xây nhà cho Mỹ thuê nở rộ, đường Trương Minh Giảng vẫn còn nhiều bóng cây, nhịp sống còn êm ả chứ chưa xô bồ như sau này.
Vì thế con đường này không chỉ có các thành phần trí thức, sinh viên, giới văn nghệ sĩ cư ngụ, phần lớn ở vùng Phú Nhuận, mà còn là nơi lui tới, tụ họp của người tứ phương.
Ngày ấy Phú Nhuận tuy chỉ là một xã thuộc quận Tân Bình, tỉnh Gia Định, nhưng vì địa danh “Phú Nhuận” đã có từ đầu thế kỷ 20 cho nên đã trở thành quen thuộc với người Sài Gòn hơn là cái tên “Tân Bình”, và gắn liền với đường Trương Minh Giảng. (Sau 30/4/1975, dưới chế độ mới, xã Phú Nhuận trở thành một quận).
Điều thú vị và cũng là điều cần viết ra đây để những bạn nào không biết rõ về vùng Phú Nhuận được tỏ tường: trong khi hai cái tên “Phú Nhuận” và “Trương Minh Giảng” thường đi liền với nhau thì trên thực tế, ở Phú Nhuận không hề có đường Trương Minh Giảng, chỉ có Trương Minh Giảng “nối dài” mà về sau gọi là đường Trương Minh Ký.
Nguyên vào năm 1955, sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa được thành lập, các con đường ở Đô thành Sài Gòn mang tên Tây (cũng như những con đường chưa có tên chính thức) được đặt tên theo các danh nhân Việt Nam, con đường Eyriaud des Vergnes trở thành đường Trương Minh Giảng.
Đường Trương Minh Giảng chạy lên hướng bắc (Lăng Cha Cả), tới ranh giới Sài Gòn – Gia Định được gọi là đường Trương Minh Giảng “nối dài”.
Nghĩa là cùng một số nhà nhưng có thể là hai địa chỉ khác nhau: một ở đường Trương Minh Giảng, Quận 3, một ở đường Trương Minh Giảng “nối dài”, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định.
Tới khoảng năm 1958, 1959, đường Trương Minh Giảng “nối dài” mới có tên riêng: đường Trương Minh Ký.
Có một chi tiết liên quan tới Trương Minh Giảng - Trương Minh Ký mà cả Wikipedia lẫn hầu hết các tác giả đều viết sai, tuy không quan trọng cho lắm nhưng vì bản thân là một người lớn lên tại đây (mà chưa bị Alzheimer), tôi xin phép sửa lại cho chính xác. Đó là ranh giới giữa Sài Gòn - Gia Định trên đường Trương Minh Giảng - Trương Minh Ký.
Trang mạng Wikipedia và một số tác giả, người tham gia bình luận viết ranh giới đó là cầu Trương Minh Giảng (bắc qua kinh Nhiêu Lộc). Có lẽ họ suy ra từ việc sau năm 1975, nhà cầm quyền CSVN khi đổi tên đường Trương Minh Giảng đã quy định từ cầu trở về đường Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần) là đường Trần Quốc Thảo, còn từ cầu đi lên Lăng Cha Cả là đường Lê Văn Sỹ.
Một số người khác lại viết: tới cổng xe lửa số 6, đường Trương Minh Giảng mới đổi thành Trương Minh Ký.
Tất cả đều sai!
Thực ra ranh giới này nằm ở khoảng giữa nhà thờ Vườn Xoài và cổng xe lửa số 6. Viết một cách chi tiết, từ cầu Trương Minh Giảng đi về hướng bắc, qua ngã ba Trần Quang Diệu, qua rạp chiếu bóng Văn Lang (rạp Minh Châu sau này), qua nhà thờ Vườn Xoài và một khu đất trống vây kín, tới chợ Vườn Xoài, nơi có tiệm thuốc lào 888 Tiến Phát, là ranh giới Sài Gòn - Gia Định.

Ranh giới Sài Gòn - Gia Định, hình chụp năm 1966, trên lề đường phía bên phải, đối diện tiệm thuốc lào 888
Tiến Phát có tấm biển với hàng chữ RANH ĐÔ THỊ SÀI GÒN (ảnh: Internet)
Tiến Phát có tấm biển với hàng chữ RANH ĐÔ THỊ SÀI GÒN (ảnh: Internet)
Một cách ngắn gọn, đi qua nhà thờ và chợ Vườn Xoài, đường Trương Minh Giảng trở thành đường Trương Minh Ký.
Những gì tôi vừa trình bày còn được hai nguồn uy tín ghi lại, quý vị có thể tìm đọc để kiểm chứng: trang nhà LÊ QUÝ ĐÔN KHUNG TRỜI KỶ NIỆM Và Những Ký Úc Về Sài Gòn, và trang nhà của Tổng giáo phận Sài Gòn, Lịch sử Giáo xứ Vườn Xoài.
* * *
Từ ranh giới Sài Gòn - Gia Định đi lên hướng bắc khoảng 200m là cổng xe lửa số 6, qua đường rầy hơn 50m tới ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức (nay là Huỳnh Văn Bánh), đi thêm khoảng 200m bên tay phải là hẻm chùa Giác Ngạn, một ngôi chùa Bắc tông cổ kính, không đồ sộ nhưng nổi tiếng, vào các dịp lễ tết rất đông khách thập phương.
Qua hẻm chùa Giác Ngạn độ 100m tới Nhà thờ ba chuông và Trung học Thánh Thomas của các Cha dòng Đa-minh.

Chùa Giác Ngạn xây năm 1930, xây lại vào năm 1973 và giữ nguyên trạng tới ngày nay. (ảnh: Internet)
Nhà thờ ba chuông (cũ) khánh thành năm 1962 (ảnh: Internet)
Nhà thờ ba chuông mới, khánh thành năm 2005, nửa giống chùa nửa giống đình làng. Mười người thì hết 9 chê
“to mà không đẹp”. Còn với những người có trình độ thẩm mỹ thì đều chê xấu. Rất xấu! (ảnh: Internet)


“to mà không đẹp”. Còn với những người có trình độ thẩm mỹ thì đều chê xấu. Rất xấu! (ảnh: Internet)
Trước khi khu Lăng Cha Cả trở nên sầm uất theo đà gia tăng của cuộc chiến và sự hiện diện của người Mỹ, khu ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức đông vui, có nhiều hàng quán nhất.
Cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức có Cư xá Kiến Thiết do chính phủ xây để bán cho công chức, sĩ quan; việc này càng có tác dụng “nâng cấp” thành phần dân cư vốn trước kia đã có khá nhiều công chức, sĩ quan, văn nghệ sĩ.
Trong số văn nghệ sĩ ấy có nhà văn Dương Nghiễm Mậu ở gần Nhà thờ ba chuông, nhà thơ (kiêm giáo sư) Lữ Hồ và nữ ca sĩ Minh Hiếu ở đường Nguyễn Huỳnh Đức, nữ ca sĩ Diệu Anh ở cùng hẻm 6 với tôi, nhà văn Nhật Tiến ở cổng xe lửa số 6 cùng với một cô bé đang tập tành làm văn sĩ là Lệ Hằng.
(Còn tiếp)

