Đền Hệ Ninh Cù

Collapse
X

Đền Hệ Ninh Cù

Collapse
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Phạm Văn Bản
    Super Member

    • May 2010
    • 631

    #1

    Đền Hệ Ninh Cù

    Đền Hệ Ninh Cù

    Phạm Văn Bản


    Đền Hệ tọa lạc tại Làng Ninh Cù hay Thôn Hệ, thuộc xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Miền Bắc Việt Nam ngày nay. Làng Ninh Cù nằm bên bờ Sông Hóa chảy ra Hải Phòng và cách thành phố Thái Bình về phía Đông Bắc khoảng 30 cây số/ hay 18.6 miles.


    I. Giáo Xứ Ninh Cù

    Làng Ninh Cù được chia thành hai thôn: thôn thượng của người lương theo đạo Ông Bà, thờ Trời/ thờ Thiên, có Đình Làng với Đền Hệ thờ hai vị thành hoàng và làm tướng quân lừng danh dưới thời Đức Trưng Nữ Vương chống quân Đông Hán xâm lăng vào năm 39 sau dương lịch, là Nga My Công Chúa Ả Lanh và Đức Ngô Đồng Đại Vương. Đang khi thôn hạ thuộc về người giáo/ hay Công Giáo với Giáo Xứ và Nhà Thờ Ninh Cù, họ đạo đón nhận Tin Mừng và được thành lập vào năm 1704, dưới thời Nhà Lê do Linh Mục Dòng Đa Minh Mattêô Alônsô Licici Đậu người Tây Ban Nha truyền đạo, cho tới năm 1721 thì họ đạo được nâng lên hàng Giáo Xứ Ninh Cù, có lễ Bổn Mạng là Đức Maria Hồn Xác Lên Trời vào ngày 15 tháng 8 hằng năm… vào thời gian khi người viết sinh trưởng, thì Linh Mục Đa Minh Đỗ Vạn Toàn làm Chánh Xứ và ngài dẫn đưa giáo dân Ninh Cù, từ biệt nơi Quê Cha Đất Tổ để lên đường di cư vào Miền Nam Việt Nam Tự Do vào năm 1954 dưới thời Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, và khi đó người viết vừa đúng 7 tuổi.

    Theo lời của Ông Nội kể lại, thì Nguyên Lý Tiên Rồng Song Hiệp đã được Tổ Tiên chúng ta đem ứng dụng vào công việc xây dựng và phát triển tổ chức Làng Nước, như Làng Ninh Cù của Nước Việt Nam là một ví dụ điển hình, và làng được lưu truyền trong lịch sử hơn bốn nghìn năm văn hóa cùng văn hiến… tính cho tới ngày nay đã là 4905 năm Việt Lịch. Cũng theo lời Nội, thì Làng Nước Việt Nam là một cơ cấu sinh hoạt tự do tự lập, với nếp sống theo nguyên lý Thân Thương và Bình Đẳng của hai truyền tích Trầu Cau và Chử Đồng trong Học Thuyết Tiên Rồng của Tổ Tiên, bởi thế làng thôn Hệ/ Ninh Cù đã tự thành nơi bảo toàn lực lượng dân quân trong Bốt Hệ, bảo vệ và nung đúc tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm của mọi người, và cũng là nơi bảo tồn đời sống tự do dân chủ thuần túy của đồng bào Việt Nam, ngay trong thời bình cũng như thời loạn.

    Đặc tính tổ chức nền tảng này được mệnh danh là Định Chế Làng Nước, thì người dân tự ý tới ở và quy tụ thành làng… tuy rằng cách khởi lập làng có khác nhau, nhưng điều kiện tiên quyết trong việc Dựng Làng là mục đích nhắm tới lợi ích cũng như sự tự quyết của những người quy tụ, chớ không ai dùng quyền hành mà bắt buộc ai. Làng được thành lập không chỉ vì lợi ích vật chất, biến nơi khô cằn hoang vu thành miền phì nhiêu trù phú… mà còn vì lợi ích tinh thần của đồng bào từ Một Bọc Trăm Con trong truyền thuyết Tiên Rồng, bởi thế Làng giúp cho mọi người dân thoát nạn sống cảnh bơ vơ đơn độc, thiếu nơi nương tựa… và giúp toàn dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc xum vầy trong một xã hội thịnh vượng.

    II. Đền Thờ Thôn Hệ

    Nhìn về thôn thượng của người lương, những người này cũng là anh em họ hàng và cùng huyết thống với những người Công Giáo chúng tôi, nhưng người lương theo đạo thờ cúng Ông Bà, nói chung là đạo thờ Trời/ thờ Thiên và Làng Ninh Cù cũng có Đình Làng, và có Đền Hệ thờ hai vị tướng quân chiến thắng trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, đồng thời cũng là thành hoàng của làng là Nga My Công Chúa Ả Lanh và Ngô Đồng Đại Vương, thuộc dòng dõi Lạc Tướng hào kiệt và là con cháu của 18 Đức Hùng Vương Quốc Tổ, nổi lên chống Thái Thú Tô Định và quân Hán xâm lăng Việt Nam nước ta.

    Sự kiện Đức Trưng Nữ Vương khởi nghĩa chống quân Hán xâm lược vào năm 39 Dương Lịch sau Công Nguyên, và nước ta đã trải qua 150 năm bị nạn ngoại xâm tính từ năm 111 trước Công Nguyên. Theo sử sách thì Hai Bà Trưng vùng đất Mê Linh, bên ngoại thuộc dòng Vua Hùng Dựng Nước, và bên nội thuộc dòng dõi Lạc Tướng… rồi Bà Trưng Trắc kết hôn với Ông Thi Sách cũng là dòng Lạc Tướng quê ở miền Châu Diên.

    Theo sách Việt Điện U Linh, tác gỉa Lý Tế Xuyên viết vào năm 1329 dương lịch, thì Hai Bà họ Lạc/ tức biểu tượng chim lạc là Tiên khắc trên Trống Đồng Ngọc Lữ, rồi hai bà “tự lập làm Việt Vương, đóng đô ở Châu Diên, và đổi thành ra họ Trưng.” Vì Thái Thú Tô Định giết Thi Sách chồng Bà, nên Bà vùng lên đánh đuổi xâm lăng, rồi xưng vương – Đức Trưng Nữ Vương, đóng đô tại đất Mê Linh năm 40 Dương Lịch, tức là năm 2919 Việt Lịch, và theo sách Dư Địa Chí của Đức Nguyễn Trãi viết năm 1438 Dương Lịch, thì Đức Trưng Nữ Vương đặt tên nước của chúng ta là Hùng Lạc.

    Quả thực, hai chị em đứng lên đánh giặc Cứu Nước, tạo ra bao kỳ công sáng chói, rất đáng cho chúng ta khâm phục… tuy nhiên sử ghi rằng, chỉ có Bà chị Trưng Trắc nhận quyền lãnh đạo cho toàn cuộc khởi nghĩa, và rồi được xưng vương, chớ không phải hai chị em làm vua. Đang khi Bà em Trưng Nhị, dù cho Ngài cũng là một bậc kỳ tài, tiếng tăm lẫy lừng, và đã đóng góp công lao xuất chúng… nhưng Bà nhận tước là Bình Khôi Công Chúa.

    Cùng với Bình Khôi Công Chúa dưới trướng của Đức Trưng Nữ Vương còn có nhiều vị Nữ Tướng khác với những tước vị như An Bình Công Chúa, Thánh Thiên Công Chúa, Gia Hưng Công Chúa, Vĩnh Huy Công Chúa, Nga My Công Chúa Ả Lanh được thờ kính ở Làng Ninh Cù trong Đền Hệ. Các Ngài nhìn chung, đã chứng tỏ tinh thần kháng chiến dành độc lập, tự túc tự cường và giành lại tự do dân chủ cho Dân Tộc Tiên Rồng, cũng như đức tính kiên cường vì dân vì nước của các Ngài để tổ chức và lãnh đạo trong đại cuộc Giúp Dân Cứu Nước.

    1. Nga My Công Chúa

    Theo thần phả ghi chép, thì người cha của Ả Lanh là con của Dòng Dõi Lạc Tướng, và là cháu ngoại của một trong 18 vị Thánh Tổ Hùng Vương, tuy ông đã hơn 50 tuổi nhưng chưa có con, nên ông bà bồn chồn lo lắng... tiếp đến làm quan thì ông được hưởng bổng lộc và mang chẩn cấp cho những người nghèo, làm việc nhân nghĩa, phúc đức… ít năm sau ông bà sinh được người con gái đặt tên là Ả Lanh, hay còn gọi là Ả Lã. Cùng thời đó hoàng đế Quang Vũ nhà Đông Hán tấn phong cho Tô Định làm Thái Thú của vùng đất người Bách Việt ở Giao Châu.

    Thái Thú Tô Định là người Hán tham tàn bạo nghịch và ra sức chém giết những người dòng dõi Lạc Tướng của Bách Việt, trong đó có người cha của Ả Lanh, khi đó nàng mới đúng 10 tuổi thì cha bị sát hại… và sau nghi lễ mai tang cho cha thì nàng ôm hận và nhẫn nhục học hỏi gương cha để chiêu nạp các bậc ẩn sĩ, tập hợp lực lượng đồng bào, và mưu cầu tổ chức lãnh đạo Giúp Dân Cứu Nước… cho tới năm 16 tuổi, thì nàng trở thành nữ tướng và kết duyên với danh tướng Văn Bồng đương thời, rồi chỉ đạo hơn 500 tướng sĩ tinh nhuệ đến hội binh cùng với Hai Bà Trưng đóng quân bên bờ Sông Hát.

    Thấy Ả Lanh là người trung dũng lẫm liệt, là bậc anh hùng xuất chúng trong thiên hạ, là người hào kiệt danh tiếng trong giới nữ lưu một lòng vì nước trừ khử bạo tàn và cứu giúp muôn dân… cho nên Hai Bà Trưng vô cùng mừng rỡ, bèn thiết yến khao binh khiển tướng và tôn vinh Ả Lanh là Nga My Công Chúa, rồi cho trở về quê chiêu mộ thêm quân sĩ, rèn luyện binh mã và hẹn ngày hội binh cùng toàn dân dẹp giặc cứu nước.

    Chỉ trong 10 ngày sau các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố người kéo đến tụ hội với Ả Lanh rất đông, và số quân đã lên tới hàng vạn binh hùng kiệt tướng, cờ xí rợp trời, gươm giáo sáng loáng… và Nga My Công Chúa đem quân hiệp cùng Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Định, chiến thắng và thu về 65 làng thôn vào mùa hè năm Canh Tý, tức là năm 40 sau Công Nguyên. Sau khi Bà Trưng Trắc tự lập làm vua với hiệu là Trưng Vương, thì Nga My Công Chúa xin về làng giáo dục dân chúng phong cách làm ăn sinh sống, sửa sang lễ nghĩa và rèn luyện làm người.

    Bởi thế mà đồng bào tôn kính và gọi bà là thành hoàng hay Đức Vua Bà… rồi thời gian trải qua các đời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần mở mang cơ nghiệp, Bà Ả Lanh đều được ban sắc phong là Nga My Công Chúa. Dân làng thờ kính Công Chúa Ả Lanh và Văn Bồng Đại Tướng là Thành Hoàng làng Ninh Cù, phụng thờ hương hỏa bao ngàn năm trong Đền Hệ cho tới ngày nay… làng này còn lưu giữ được thần phả và 14 đạo sắc phong thần.

    2. Ngô Đồng Đại Vương

    Ngô Đồng Đại Vương được vua Trần Nhân Tông ban hiệu là Ngô Đồng Linh Ứng Đại Vương, thượng đẳng phúc thần là vị được toàn dân tôn kính và phụng thờ làm Thành Hoàng như trong Đền Hệ của Làng Ninh Cù ngày nay. Sử sách ghi nhận vào thời nhà Lý, khi tướng quân Lý Đạo Thành mang quân đi đánh Chiêm Thành, đã dừng quân tại vùng Đền Hệ thờ ngài… và Đức Ngô Đồng đã hiển linh báo mộng, cùng phù trợ cho Nhà Lý đánh thắng giặc mở mang bờ cõi nước ta. Sau khi chiến trận trở về Lý Đạo Thành tâu lên vua xin sửa sang lại Đền Hệ và được triều đình sắc phong làm Phúc thần.

    Đến Thế Kỷ 13 trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Vua Trần cũng từng cử Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vào Đền Hệ thắp hương cầu ngài âm binh, và quả nhiên trận đó quân Trần đại thắng... rà từ Nhà Trần trở về sau, các triều vua cũng thường xuyên ban sắc phong cho Ngô Đồng Đại Vương… dưới triều Nguyễn, thì Đền Hệ còn được lưu giữ các đạo sắc phong của Vua Thành Thái và Vua Khải Định.

    III. Kết Luận

    Đền Hệ hiện nay là công trình kiến trúc chạm trổ và khắc gỗ tinh xảo có niên đại thời nhà Nguyễn, ngôi đền này có năm gian tiền đường và ba gian hậu cung, được xây dựng và chạm trổ với nội dung tứ quý bao gồm thông, cúc, trúc, mai liên kết với tứ linh là long, lân, quy, phụng tại các rẫy hiên, thanh rường, câu đầu, xà nách, hệ thống đầu thì chạm rồng. Kỹ thuật chạm trổ lộng xen với chênh bóng, và nội thất trong đền còn được bảo lưu với nhiều đồ thờ cúng như các cỗ khám gian, ngai, bài vị cổ đặt trên bàn thờ… với những bộ y môn, cửa võng, câu đối, các bức hoành phi, chấn thư của Đền Hệ đều được chạm khắc công phu tỷ mỉ, trưng bày ngăn nắp thanh tao… giúp cho du khách chiêm ngắm một di tích lịch sử nghìn đời… với phong cảnh hữu tình và môi trường xanh, sạch, đẹp của Làng Ninh Cù, Quê Nội thân thương của người viết, Đa tạ.


    Phạm Văn Bản
    Last edited by Phạm Văn Bản; 10-11-2026, 08:51 PM.


Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...