| Bùi Giáng - Kẻ nhảy múa giữa rừng rú siêu hình Lê Huỳnh Lâm |
|
| Nhắc đến Bùi Giáng là nhắc đến thơ. Cũng như nhắc đến Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử vậy. Vì nơi Bùi Giáng không có gì xen lẫn vào ngoài thơ. Thơ trong ý nghĩa trọn vẹn và tinh chất nhất. Cho dù ngoài thi ca ra, ông Bùi Giáng còn có kho dịch thuật, viết khảo luận,… rất lớn. Ông dùng nhiều bút danh: Vân Mồng, Trung Niên thi sĩ, Đười ươi thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Báng Giùi… Nhưng như đã đặt nhan đề cho bài viết, tôi xin gọi ông Bùi Giáng – Kẻ nhảy múa giữa rừng rú siêu hình . Khi Bùi Giáng viết tập tiểu luận “Đi vào cõi thơ” do Ca Dao xuất bản năm 1969, tức với ông THƠ là một cõi khác, không thuộc thế giới phàm tục, một cõi thơ thấm đẫm chất siêu hình. Với người dân Việt Nam thì thơ đã vận vào “mệnh nước nổi trôi” và dập dìu trên vành nôi của hài nhi qua lời ru của người mẹ. Chức năng của thơ từ thuở ban đầu là an thần, là đưa trẻ thơ vào giấc ngủ giữa mùa mưa bão gió chướng thời tao loạn. Bài “Con ơi” trong tập “Đêm ngắm trăng” in năm 1997, ông hóa thân vào những bà mẹ với lời hát ru: Con ơi con ngủ cho ngoan Cho mẹ đi chợ dặm đàng còn xa Hình ảnh những người mẹ thôn quê tần tảo lo cho gia đình cũng chính là nỗi ngóng chờ của những đứa trẻ trông mẹ đi chợ về. Và Bùi Giáng đã thể nhập vào tâm thức những người mẹ với ước mơ bình dị: Mua cho con những nỗi niềm Vui tươi ắt có buồn phiền ắt không Cõi thơ của Bùi Giáng là dòng tâm biến hiện, sinh diệt, diệt sinh của Hoa Nghiêm, khi ôm hữu thể lúc ghì thời gian, khi thì mơ sờ mó vĩnh cửu lúc va đầu vào hữu hạn… Vì vậy, ông tìm đến Martin Heidegger để tâm tình qua Truyện Kiều của Nguyễn Du, và chỉ với hai câu: Thanh Minh trong tiết tháng Ba Lễ là Tảo Mộ hội là Đạp Thanh Câu thứ nhất nói về thời gian là tiết Thanh Minh, câu thứ hai lại nói về đức tin qua sự tri ân tiền nhân dòng tộc (lễ tảo mộ) và cuộc vui đùa nhảy múa giữa trần gian hoang dã (đạp thanh). Chỉ hai câu thơ trên, Bùi Giáng đã đẩy siêu hình của duy lý phương Tây về với kinh nghiệm hiện thực duy cảm phương Đông. Nền tảng triết lý phương Tây được dựng lên trên nền móng của hữu thể, mà hữu thể nào lại không nô lệ không thời gian. Hữu thể càng lớn thì biên độ không thời càng xa rộng. Vì thế mà Bùi Giáng có triết thi: Hỏi rằng: người ở quê đâu Thưa rằng: Tôi ở rất lâu quê nhà (Chào nguyên xuân, Mưa nguồn, 1962) Kẻ lên đường luôn bơ vơ lạc loài vì truy tầm nguyên quán, nhưng với cái thứ nguyên quán của nơi sinh, dòng tộc chỉ là nguyên quán hữu hạn, tương đối của tục tĩu phàm phu. Loại nguyên quán của quan lại và thần dân cơm ngày ba bữa... Với thi nhân, triết gia, tu sĩ, nghệ sĩ thực thụ thì nguyên quán là cơn truy tầm liên hồi về ngã và phi ngã, một mật mã chỉ dành cho kẻ lên đường đơn độc, không mong cầu, không ngoái lại, một hình bóng thầm lặng bước vào không lộ, băng qua lâm đạo thế tục rồi nhảy xuống con thuyền bát nhã không đáy... Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa Gọi tên rằng một hai ba Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm . (“Hỏi và gọi” trong tập Chớp biển, 1996, in ở Toronto, Canada) Trong kinh “An ban thủ ý”, trong các pháp môn của Phật giáo, có sổ tức quán, là đếm hơi thở, chỉ đếm thôi, không truy vấn, không diễn suy. Đếm trở thành con đường giữa hoang vu trong đêm dài heo hút, cho đến khi đếm lóe lên những ánh hồi quang của sự nhiếp tâm, thì thời khắc đó “đếm là diệu tưởng”. Vế thứ hai “đo là nghi tâm”, vì đo là duy lý, hồ nghi, không tin vào hiện thực nên đo, phải thí nghiệm, thử nghiệm, phải tính toán,… chỉ hai động từ “đếm” và “đo”, Bùi Giáng đã dẫn đưa người đọc về với cái nôi của hai nền văn minh du canh, du cư và định canh, định cư. Tức là văn minh săn bắn, hái lượm (du cư) và văn minh quần cư, an cư lạc nghiệp của cộng đồng người trồng trọt… cũng từ hai thứ văn minh sơ khai bầy đàn này, đặc biệt là văn minh du canh, du cư đã tạo nên trật tự thế giới bất ổn hôm nay qua bàn tay của thượng đế, bàn tay đã vẽ nên biến hiện của địa cầu này. Vẽ nên các châu lục và các đại dương, rồi gieo trồng đủ các giống loài động thực vật, cùng tài nguyên khoáng sản,… cái mà vị vô hình nào đó đã tạo ra, không may, đã trở thành nguồn cơn của chiến tranh. Mà sau này, họ đã phái sinh biết bao thánh nhân xuất hiện để hóa giải, nhưng chưa bao giờ thành công triệt để. Nguyên nhân chính của những cuộc chiến tranh mưa máu gió tanh từ nguyên thủy đến hiện đại và tận hôm nay vẫn chưa có dấu hiện chấm dứt. Phải chăng, thuốc chữa không đúng bệnh. Xin được dông dài về hai nền văn minh du cư và định cư vì điều này cũng do duyên sanh từ địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng... tức là từ yếu tố khách quan. Vì thế, để tồn sinh trong môi trường đó họ phải tùy thuận và nương theo thiên nhiên để tồn tại (Thuận thiên giả tồn, Mạnh Tử). Nhưng với những vùng đất khô cằn, địa hình địa thế không thuận lợi, núi non chập trùng, thì con người phải dùng mưu trí, để bẫy, để săn bắt thú rừng, nên họ phải tính toán kỹ lưỡng, chính xác (đo là nghi tâm), nhiều khi dẫn đến xung đột, cướp bóc giữa các nhóm người,… kể từ dạo đó tâm sát trong cộng đồng đó được nuôi dưỡng và ngày một phát triển… với mục đích tự vệ và chiến đấu để tồn sinh, đây là một trong những nguyên nhân của nguồn cơn chiến tranh đến tận sau này, ban đầu là lương thực, sau này là tài nguyên... Với cộng đồng định canh định cư, họ may mắn gặp được vùng đất thiên nhiên ưu đãi, từ yếu tố khí hậu địa lý… họ hướng đến khai canh khai khẩn lập làng, lập thôn xóm, trồng trọt chăn nuôi, sinh hoạt quần cư nương nhờ vào thiên nhiên, mùa màng. Họ dõi theo ánh trăng và mượn trăng làm lịch, biết ơn trời đất,… từ đó sinh ra nhiều nghi lễ, để tri ân, tế đất, tế trời. Họ sống duy cảm, phụ thuộc vào thiên nhiên, biết chờ đợi, biết đếm ngày đêm (đếm là diệu tưởng)… đo và đếm trong một câu thơ của Bùi Giáng đã khiến tôi liên tưởng về quá khứ rất xa của loài người và tương lai sẽ đến với chúng ta trong nỗi âu lo bấp bênh của cuộc đời sẽ ập đến lúc nào không hay. May thay, sự xuất hiện của thái tử Tất Đạt Đa, người đã từ giả phú quý vinh hoa và tham dục, để tầm cầu đạo, mong tìm ra cái chân thật của ý nghĩa cuộc sống. Vậy là Tất Đạt Đa đã tìm thấy sau nhiều năm đổi từ cực đoan này sang cực đoan khác. Và ông đã thấy con đường cho chính mình và mọi người: Trung Đạo. Trung Đạo chính là khám phá nội tâm của chính mình, nhìn ra các uẩn đều không thật, không có ngã,… Tức là, không còn tôi và của tôi... Từ đó sẽ không còn tham, sân, si. Nếu mọi người đều chứng đạt điều này, sẽ chấm dứt đau khổ, thế giới sẽ chấm dứt chiến tranh, con người nhìn nhau trong ngơ ngác giữa chiều mưa bay và ngạc nhiên thường trực như tình yêu đầu đời. Đây là điều mà Bùi Giáng đã từng nhắc đến trong bài “Hư vô và vĩnh viễn” in trong tập Mưa nguồn năm 1962 có những câu: Cũng vô lý như lần kia dưới lá Con chim bay để lại nhánh khô cành Và Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không Hư vô và hiện hữu là cặp đối ngẫu giữa không và có, nó thuộc về nhị nguyên, thuộc phàm trù duy lý. Khi sự truy vấn đến tận cùng sẽ tạo ra cặp giá trị đối ngẫu đồng hiện. Tất cả đều là sản phẩm của cái có. Vì cái có xác thực làm nên cái không, cái không do duy lý thiết lập chính là hư vô, cha đẻ của hữu thể. Do vậy mà “ Con chim bay để lại nhánh khô cành” đã khiến triết thi như Bùi Giáng phải ngạc nhiên trước sự phi lý. Và câu “Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không” như một khẳng định lại về hạt mầm duy lý khi đã gieo trồng thì sẽ gặt hái quả hư vô, hư vô vĩ đại bậc nhất là vạn vật do đấng vô hình tạo nên. Từ thời khắc triệt để này, tiên đề được xác lập và mọi sự đều được vận hành trong một trật tự mong manh kỳ vĩ của cái có, tức hữu thể . Siêu hình là yếu tính tất yếu trong quá trình hình thành và phát triển của nhân loại. Khởi đi từ ngạc nhiên hoang dã của thuở hồng hoang, con người sống bầy đàn từ các hang động cho đến thời đại gọi là văn minh của kỷ nguyên số qua công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), lượng tử của thế kỷ 21. Con người đi từ ngạc nhiên hoang dã đến ngạc nhiên vong thân, mà bi đát nhất là vong thân ngôn ngữ, để bản năng bầy đàn trong tận cùng thăm thẳm nhất của loài người khởi dậy, đánh mất sứ mệnh thức tỉnh để trở lại đắm chìm trong mù sương dục vọng cấp thấp của loài vật. Nói điều này để thấy rằng Bùi Giáng đã đi trước thời đại, nên dụng công phá chấp toàn diện và hoạt ngôn, hoạt ngữ một cách ly kỳ để rong chơi thức tỉnh chính mình và như muốn gửi một tin buồn trong ánh mắt tinh anh soi rọi trần gian đọa đày: Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ Tiếng kêu kia còn một chút mong manh (Hư vô và vĩnh viễn, Mưa Nguồn, 1962) Hay Những nhịp bước trên đường còn dội mãi Vang về đâu không vọng lại hồi âm … Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại Chẳng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm Em ngó mãi những chiều về trở lại Mang những gì về trong cõi trăm năm... (Chiều, Mưa Nguồn, 1962) Cái thấy trước thời đại mà mình đang sống đối với các nhà đầu tư, chính trị, thương gia,… là một ước vọng cuồng loạn để biểu hiện lòng tham bản năng của động vật cùng giấc mộng vĩnh tồn trường cửu. Nhưng với một triết thi như Bùi Giáng đó là bi hài kịch cho chính ông và con người. Bởi ông đang sống trong một môi trường mà không khí đã ô nhiễm nặng bởi các nhà máy, xí nghiệp của nền cơ giới nửa vời được dẫn dắt bởi một mớ lý thuyết của những gã mắc chứng bệnh hoang tưởng. Nên thi nhân họ Bùi phải chọn cho mình một lối sống dị thường có một không hai. Và đồng hiện với kiểu sống đó là một trường phái thơ lạ lùng, quái kiệt, ly kỳ xuất hiện. Như thị, thị như, như thị thị Thị như, như thị, thị như như Thị như, như thị, như như thị Như thị, thị như, thị thị như. Hiển thể thị như như hiện thể Sơ đầu thị hiện thị nhiên như Xưng danh nhứt xuất do thy sỹ Sạ hiện tức hình hiện thể như. (Lời Cố Quận, trang 192, năm 1971, An Tiêm) Đoạn thơ trên dẫn đưa chúng ta trở về với bản lai diện mục của toàn thể sự vật chưa qua gọi tên, chưa bị gán ép danh từ cho sự vật. Đó là tính thể thi ca mà ông Bùi Giáng muốn nhắn gửi đến người thy sỹ khi gọi tên cho một cuộc rung động dâng trào (Xưng danh nhứt xuất do thy sỹ). Hay bài “Ông điên” với giọng thơ cà rỡn, đùa cợt lai rai với chính mình. Ông điên từ bữa hôm qua Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm Thanh thiên về dự hội đàm Thành thân thiên hạ muôn vàn mai sau Và Ông điên từ một lần đầu Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau Tuyệt mù biển cạn sông sâu Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ . Hay trong bài “Điên lai rai” trong tập “Ngày tháng ngao du”, do An Tiêm ấn hành, 1971, cũng lai rai cuồng dại ngữ ngôn: Ngữ ngôn cuồng dại chập chờn Tòng lai lẽo đẽo linh hồn hamlet Ly tao trong thơ Bùi Giáng, chính là tao phùng và ly biệt. Ông Bùi Giáng có loạt thơ với nhan đề “Ly tao” trong tập “Mưa nguồn”, in năm 1962: Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động Em là em anh đợi khắp nẻo đường Hay Đời siêu đổ nguồn xưa anh trở lại Giữa hư vô em giữ nhé chừng này Qua “thơ vô tận vui” nhưng vô cùng sầu muộn của triết thi Bùi Giáng, như thể ông đã nhập cảnh giới tự tại vô ngại, ngữ ngôn cứ thế trào tuôn, cõi mộng thực ra vào, vào ra như chơi. Tiên trên trời xuống phải chăng Hay là ngọc nữ tên rằng Quỳnh Như Đầu thai trở lại cuộc đời Mang buồn tiền kiếp viết lời giai nhân (Có lẽ là thế, Thơ vô tận vui, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2004) Và ông cảm thông và tặng những người Hoa ly hương ở khắp nơi, đặc biệt ở Chợ Lớn, Sài Gòn: Nước non của Việt Nam này Còn vô tận tưởng mãi ngày Trung Hoa (Tặng người Hoa, Thơ vô tận vui, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2004) Khi nhìn toàn diện trong một bối cảnh từ những ngày xuân xanh cho đến mùa tàn phai của ông Bùi Giáng, có thể thấy một bị kịch cá nhân chồng lên bi kịch thời đại và ngược lại. Để từ giây phút chớp lóe đó, ông Bùi Giáng đã nhập vai một vị thần đọa lạc với một lượng dữ liệu Đông Tây Kim Cổ trong tạng thức của mình, dữ liệu đó vận hành trong hệ điều hành không tương thích, rối ren giữa bầu không khí vô cảm, ô nhiễm kim loại nặng của nền cơ giới hóa khắp địa cầu đã kết liễu con người ngạc nhiên, thơ mộng trong một cõi hồn phiêu hốt đậm chất sơn cước, heo hút bóng người của vùng Trung Phước, Quảng Nam đến miền Lục tỉnh đìu hiu gió thổi bay mây… May mắn thay, ông Bùi Giáng đã gặp đức Phật Thích Ca trong một buổi hoàng hôn hạnh ngộ, thần tượng ngã đổ giữa đêm dài hắt hiu. Thuở đó, ông Bùi Giáng thường ngẫu hứng lui lui tới tới Già Lam, Vạn Hạnh nhìn các vị tỳ kheo và ngước lên mẫu thân Phùng Khánh, rồi chợt hỏi: “Ai đi tu”, khi “vô ngã” là một trong tam pháp ấn của Như Lai, nhan đề bài thơ “Ai đi tu” chợt trở thành một công án dành cho quý vị tu sĩ. Trời sầu đất muộn thế ru Ban đầu em đã đi tu vội vàng Chân trời oán hận tràn lan Lỗi từ phương trượng u hàn niềm hoa Bây giờ ngó lại người ta Gẫm rằng thiên hạ ai là đi tu. Cũng chính vì thấy được bi kịch thời đại hiện thực và duy vật hóa trần trụi cõi siêu hình, nên triết thi Bùi Giáng đã hóa thân thành một vũ công thượng hạng NHẢY MÚA GIỮA RỪNG RÚ SIÊU HÌNH. Đọc các tác phẩm của Bùi Giáng, tôi tự hỏi, ông Bùi Giáng lấy đâu ra “Dưỡng chất trần giang” để chuyển hóa vào đại ngàn ngữ ngôn cả ngàn bài thơ và kho công trình dịch thuật, biên khảo,… đồ sộ vậy? Trong khi ông vẫn “Ngày tháng ngao du” rong chơi phiêu hốt, lang bạt, phiêu lãng từ vỉa hè đến chùa chiền, từ thôn làng đến cố quận…! Đây là một mật mã! Xin được hẹn kỳ sau! Và tôi xin trích hai câu thơ trong bài “Bên quán ca phê” để tạm dừng bài viết này. Ông từ vĩnh biệt tiêu tao Buồn vui vô tận chiêm bao chập chờn... Huế, Tiết Tiểu Mãn, Bính Ngọ |
|
| Lê Huỳnh Lâm | |
Bùi Giáng - Kẻ nhảy múa giữa rừng rú siêu hình
Collapse
X
-
Bùi Giáng - Kẻ nhảy múa giữa rừng rú siêu hình
Tags: None

