Phạm Văn Bản
Theo Sắc Lệnh Tôn Phong của Đức Giáo Hoàng Leo XIII (1878 – 1903) người Ý mang tên Gioacchino Vincenzo Raffaele Luigi Pecci, “Các Vị Tử Đạo Việt Nam là đội hùng binh can trường chấp nhận mọi cực hình, không kém các thánh tử đạo của thời giáo hội sơ khai, như phương châm Máu Các Thánh Tử Đạo là hạt giống Đức Tin, sinh ra nhiều tín hữu (Sanguis Martyrum, semen Christianorum).” Và khi Giáo Hội Việt Nam vừa bắt đầu nhận được hạt giống Đức Tin này vào năm 1544, thì những cuộc cấm đạo đẫm máu đã liên tiếp xảy ra và kéo dài trong ba thế kỷ. [*1]
Và 12 thập niên sau lại có Đức Giáo Hoàng Leo XIV, người Hoa Kỳ tên là Robert Francis Prevost sinh ngày 14 tháng 9 năm 1955 – là Giáo Hoàng thứ 267 của Giáo Hội Công Giáo, và là Nguyên Thủ Tòa Thánh Vatican đề ra Thông Điệp Magnifica Humanitas về việc Bảo Vệ Con Người trong Thời Đại Trí Tuệ Nhân Tạo [*2] / hay Thời Đại Tín Nghiệp (Information Age) theo quan điểm của tác giả trong tác phẩm Con Người Thời Đại (Human Age).
Ngay trong Phần Dẫn Nhập, Đức Thánh Cha Leo này tuyên bố rằng, “Mỗi thế hệ thừa hưởng nhiệm vụ định hình thời đại của mình, hướng dẫn lịch sử trở thành một nơi mà phẩm giá của mỗi người được bảo vệ, công lý được cổ vũ và tình huynh đệ được làm cho khả hữu. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng có nguy cơ tạo ra một thế giới vô nhân đạo và bất công hơn. Bất cứ khi nào nhân loại có nguy cơ làm tổn hại đến bản sắc thực sự của mình, chúng ta, những người Kitô hữu, hướng mắt lên Thiên Chúa Nhập Thể, biết rằng ‘chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể thì mầu nhiệm nhân tính mới thực sự được sáng tỏ’.”
Điểm lịch sử gay go nhất của vấn đề Đàn Áp Công Giáo tại Việt Nam, bất cứ một hay nhiều trường hợp lẻ loi, dù rằng tiêu biểu cho ai hay đặc trưng cho cái gì... thì cũng đều gây ra ngộ nhận, và gây cho vết thương lòng của cá nhân tôi cũng như nhiều người dân Việt Nam bị phát tán! Cái hậu quả “làm tổn hại bản sắc thật sự” mà Dân Tộc Việt Nam bị liên lụy đó là vấn đề Truyền Đạo và Cấm Đạo.
Bởi thế, người viết hôm nay xin đưa ra phân tích, với hy vọng sẽ tìm ra sự đồng thuận – nhằm mục đích giúp cho mọi người trong chúng ta có thể thực hiện được công cuộc đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước. Bài viết này sẽ được phiên dịch Anh Ngữ chuyển tới Đức Thánh Cha và Tòa Thánh Vatican.
I. Mở Đầu
Khi đề cập tới tôn giáo, là ta lại đụng chạm tới tâm hồn, tới phần sâu thẳm nhất của con người, là nơi được ví như trung tâm thánh chiến. Điểm cần nhắc nhớ ở nơi đây là vấn đề Đàn Áp Kitô Giáo tại Việt Nam không phải là sự kiện thoáng qua, mà đã kéo dài hàng mấy thế kỷ.
Vấn đề cũng không phải chỉ liên quan tới vài người, hay một nhóm người mà trực tiếp đến nhiều triều vua, nhiều cấp quan chính tại Việt Nam. Mặt khác cũng liên quan tới nhiều nhà truyền giáo, nhiều triều đại giáo hoàng.
Và gián tiếp, là toàn bộ giáo lý và lịch sự Kitô Giáo, cũng như ảnh hưởng tới nền văn hóa, nhiều thế hệ của Dân Tộc Việt Nam.
Với nhiều thời gian, nhiều thành phần gián tiếp và trực tiếp liên hệ vấn đề truyền đạo, và cấm đạo trong lịch sử, chúng ta muốn giải quyết vấn đề này, chỉ có những cái nhìn theo nhu cầu thời đại là Kiến Thức (Knowlegde) và Thông Toàn (Wisdom) của Thời Đại Tín Nghiệp (Information Age) mới có thể bao quát toàn bộ. Bất cứ một trường hợp lẻ loi nào, dù là tiêu biểu cho ai/ hay đại diện cho cái gì thì cũng đều gây ra ngộ nhận, và làm mất đoàn kết dân tộc.
II. Lý Thuyết Và Thực Hành
1. Truyền Đạo Và Cấm Đạo
Trong cùng một sự kiện lịch sử chúng ta đã thấy có hai phía, hai quan điểm khác biệt: một bên là truyền đạo, và một bên là cấm đạo.
Vì vậy, điểm quan trọng cần nhấn mạnh là dù các Thánh Tử Đạo Việt Nam có chết vì Niềm Tin Tuyệt Đối theo phương châm Sanguis Martyrum, semen Christianorum, thì “lý do bắt đạo” ở Việt Nam, cũng mang nhiều yếu tố văn hóa và chính trị.
Ngay trong khi đàn áp sự truyền bá Kitô Giáo, thì đa số các Vua Quan Việt Nam đã chẳng phải là tín đồ thuận thành của bất cứ tôn giáo nào, như chúng ta từng thấy ở nhiều vua quan của những quốc gia khác. Ngoài ra, việc cấm đạo và bách đạo không mang tính cách khẳng định tuyệt đối của một tôn giáo, mà đã thay đổi tùy theo sự liên hệ ngoại giao và quân sự giữa triều đình Việt Nam với các quốc gia Phương Tây đem các nhà truyền giáo vào Việt Nam.
2. Công Việc Truyền Giáo
Việc truyền đạo lại cần phân biệt về hai phương diện: Tôn giáo thuần túy – và Thực tế đương thời.
Trên phương diện tôn giáo thuần túy, việc truyền đạo không bao giờ cố tình kéo theo việc xâm lăng – cho dù là xâm lăng chính trị, xâm lăng quân sự, xâm lăng kinh tế hay văn hóa... Đã có nhiều văn kiện chỉ đạo của Giáo Hội nhấn mạnh nhiều lần về Nền Tảng Truyền Giáo, cũng như, nêu rõ những nguy hại khi để việc trần tục vướng mắc vào.
Tuy nhiên, trên phương diện thực tế của thời cuộc, đã có sự kết hợp thực dụng, ít nhất là các nhà truyền giáo đã xử dụng phương tiện di chuyển giao thông của các đoàn thương thuyền có quân xâm lược viễn chinh hiện diện trên đó.
III. Gánh Nặng Văn Hóa Phương Tây Trên Kytô Giáo
1. Văn Hóa Tôn Giáo
Bất cứ tôn giáo nào cũng được thành hình và phát triển trong một môi trường văn hóa của quốc gia sở tại. Vì vậy, dầu phần lý thuyết căn bản của tôn giáo là chân lý. Nhưng cách diễn giải và thực hành tôn giáo cũng mang ảnh hưởng của địa phương và của giai đoạn văn hóa đương thời.
Do đó, tuy rằng tôn giáo có thể cải hóa nhiều khuyết điểm của các văn hóa khác, nhưng chính nếp sống thực tiễn của tín đồ lại ảnh hưởng tới cách diễn tả và ứng dụng của tôn giáo đó.
2. Truyền thống Văn Hóa Phương Tây
Theo Truyền Thống Văn Hóa Phương Tây là “Chiếm Hữu: Possession” Nền tảng cuộc sống của Xã Hội Phương Tây là “Ai thắng thì có Công Lý: Whoever wins, Justice prevails.”
a. Công Lý Phương Tây (Western Justice) – Ngay từ những thời xa xưa người Phương Tây đã có nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng cách đấu kiếm/ đấu súng.
Có những cuộc thách đấu chết người chỉ vì một câu nói đụng chạm đến danh dự cá nhân, và họ đã mời bạn bè đứng ra làm trọng tài giúp cho họ sinh sát bằng cách đấu kiếm/ đấu súng. Và cũng có thời người ta dùng sức giết chết đối thủ mà vẫn được coi là phương pháp biểu lộ công lý trong tôn giáo. Thật là một luật lệ khủng khiếp!
b. Mạnh Thăng Yếu Thua (The Strong Win, The Weak Lose)
Cũng với nguyên tắc “Mạnh Thắng Yếu Thua” ấy ngày nay chúng ta vẫn thấy họ áp dụng trong cung cách đối xử với nhau nơi đời sống hàng ngày. Bất cứ ở đâu khi có hai người đánh nhau – là y như phép, tất cả mọi người xung quanh tụ tập lại, reo hò và vỗ tay cổ vũ.
Chẳng ai nghĩ tới việc can gián, hay mang tình lý ra cắt nghĩa giải hòa – ngoại trừ cảnh sát/ an ninh can thiệp để chấm dứt mà thôi. Người ta còn hùa nhau và khuyến khích, reo hò và cá độ xem hai người đánh nhau, thì người nào chiến thắng.
Họ chẳng cần biết hai người ấy đánh nhau vì lý do gì, ai là người đúng hoặc người sai, ai phải ai trái, mà ngược lại người ta chỉ cần biết ai mạnh ai yếu. Tập thể chỉ nóng lòng chờ đợi “phút cuối chiến thắng” để cùng nhau hoan hô cổ súy cho người hùng đô vật.
Tất cả nêu rõ nền tảng của văn hóa Phương Tây, của luật pháp “Ai Thắng Thì Có Công Lý.”
3. Nếp Sống “Ai Thắng Thì Có Công Lý” (Whoever Wins, Justice Prevails). Nếp sống “Ai Thắng Thì Có Công Lý” chẳng những là nền tảng của các chủ thuyết Phương Tây mà còn là định chế, - chẳng những đã có bao ngàn năm trước mà còn được người ta tận dụng nguyên tắc tính để áp dụng triệt để vào cuộc sống nhân loại cho tới ngày nay.
Hơn thế nữa, chẳng những người Tây Phương thực hành nguyên tắc “Ai Thắng Thì Có Công Lý,” tức là “Quan niệm cướp đoạt: The Concept of Usurpation” bằng một cách vô ý thức mà còn được diễn đạt trong “Niềm Tin Tôn Giáo: Religious Beliefs” Tây Phương. Tới nay vẫn còn nhiều điều vướng mắc, vì người ta chưa thoát khỏi ảnh hưởng của dữ kiện lịch sử (historical data).
4. Công Bình Bác Ái (Justice and Benevolence)Đang khi các Giáo Chủ đã chủ trương đức Bác Ái, kêu gọi thương yêu cả kẻ thù, và lấy tình thương làm dấu chỉ của Kitô Giáo, thì lịch sử tôn giáo Phương Tây cũng là lịch sử của những cuộc tàn sát đẫm máu.Với chiêu bài “Bảo Vệ Đức Tin: Defending the Faith” Văn Hóa Phương Tây chẳng những đã tạo ra những đạo quân đi cướp phá, triệt hạ và tàn sát mọi người lớn bé trong “vùng ngoại đạo,” mà còn tổ chức những hệ thống tu sĩ và giáo sĩ, với quyền hạn được kính trọng tuyệt đối, để chuyên lo lùng bắt, giam giữ, tra tấn, lưu đày, chặt đầu, treo cổ, thiêu sống… chính những người cùng một tôn giáo với mình.
5. Bảo Vệ Tôn Giáo(Protection of Religion)
Đây không những là chuyện qúa khứ, mà còn thịnh hành trong hiện tại, ỡ nhiều nơi và trong mọi lãnh vực.Ngay cả trong hiện tại, nhiều giáo phái Phương Tây – do cùng một Giáo Chủ và cùng thờ một Chúa Giêsu Kitô – vẫn còn nguyên vẹn quan niệm và áp dụng nhiều phương thức đê tiện để tranh dành, chê bai, chống đối… những gíao phái khác.
Mục đích của họ là “cướp giựt các linh hồn” ở các giáo phái khác về “cho Chúa,” cho cùng một Chúa chung cho cả các giáo phái. Thật là trái ngược với Văn Hóa Việt Nam, Văn Hóa Đồng Bào từ “Một Bọc Trăm Con” của Mẹ Tiên Cha Rồng.
IV. Quan Niệm Dị Biệt về Tổ Chức Tôn Giáo
1. Nếp Sống Dân Việt
Trong đời sống người dân Việt Nam, quan niệm về tôn giáo rất phóng khoáng, hòa đồng. Không thể có cạnh tranh quyết liệt giữa các tôn giáo. Dân ta thường nói: “Đạo Nào Cũng Tốt.”
Đang khi đó, quan niệm Phương Tây đòi hỏi một sự “dứt khoát tuyệt đối,” chẳng những chỉ giữa các tôn giáo, mà còn cả giữa các “hệ phái” trong một tôn giáo.
Đây là điểm khác biệt vì Việt Nam “sống theo Tình,” và Phương Tây thì “sống theo Lý.”
2. Hình Thức Tổ Chức
Hình thức tổ chức Tôn Giáo của phương Tây cũng khác biệt hẳn với quan niệm của dân Việt.
Quan niệm Tôn Giáo của dân Việt Nam qua Tam Giáo Đồng Quy (Khổng - Thích – Lão: Nho Giáo, Phật Giáo, Đạo Giáo) không có tổ chức phẩm trật chặt chẽ như Tây phương. Theo dân Việt Nam, tôn giáo “không hề có hoàng đế,” (Giáo Hoàng), không có kế vị, không có sắc lệnh, không có cưỡng bách độc quyền, không có quyền hành chỉ đạo tối thượng.
Đối với Toàn Dân Việt Nam, tất cả những ý niệm về tôn giáo Phương Tây chỉ là hình thức mang màu sắc chính trị. Bởi vì “Đạo Tại Tâm,” theo người Việt Nam. Đang khi đó, từ ngôn từ nguyên thủy cũng như được phiên dịch thì Toàn Dân Việt Nam chúng ta thấy rằng, tôn giáo Tây Phương cũng có “Hoàng Đế” (Giáo Hoàng tại Rome), có Chúa (Chúa Dêu, Chúa trên hết các Chúa), có án lệnh (dứt phép thông công)... có cả “Nước” riêng (Vương Quốc, Nước Trời), và các phẩm trật của một triều đình hoặc một đảng chính trị.
Ngay cả hiện tại vào Thời Đại Tín Nghiệp sắp tới này, sau gần 500 năm, đa số dân Việt Nam và ngay cả tác giả vẫn chưa hiểu rõ những ý nghĩa đặc biệt của tôn giáo, và những từ ngữ thường học hỏi trong những lớp Canh Tân, những khóa giáo lý Thánh Kinh. Vậy thì người Việt Nam thủa xưa đã mấy ai hiểu được, và hiểu được bao nhiêu?
3. Luật Lệ
Có nhà cai trị, có luật pháp nào... ở ngay trong thời tự do như chúng ta hiện nay mà lại chấp nhận cho công dân của nước mình tuyên hứa trung thành liều mình sống chết cho một Hoàng Đế khác? Với một Chúa khác? Với một Nước khác?... Và trung thành với các ông Hoàng bà Chúa của Nước đó, hơn cả Vua Quan Nước mình?
Có nhà cai trị, có luật pháp nào cho phép công dân nước mình tuân giữ những luật lệ và phong tục ngang nhiên trái ngược và công khai chống đối lại chính luật lệ, phong tục, và truyền thống của quốc gia mình?
4. Văn Hóa Việt Nam
Văn hóa Việt Nam không quan niệm tôn giáo tách rời khỏi cuộc sống thực tại hiện hữu của con người, và nhất là không tách rời khỏi đời sống chính trị của toàn dân, vì rằng toàn dân vi binh, tòan địa vi phòng, toàn tài vi dung, toàn diện (toàn quốc) vi chính.
Trong đời sống Toàn Dân Việt Nam, Tam Giáo: Khổng – Thích – Lão chẳng những hòa đồng, mà còn được Vua Quan Việt Nam dùng làm đề tài cho các cuộc thi cử, nhằm tuyển chọn người tài đức để trị dân. Năm 1247 dương lịch nước ta có khoa thi với danh xưng “Khoa Tam Giáo.”
Đang khi đó, với những ngôn từ Giáo Hoàng, Chúa, Nước... với những luật lệ khác lạ... với những cưỡng bách tuyệt đối, đòi hỏi giáo hữu phải dứt khoát từ bỏ nếp sống và phong tục truyền thống của tổ tiên... với những cưỡng bách trung thành tuyệt đối với những nhân vật khác nòi giống ở Phương Tây.... cùng với các đoàn thương gia trục lợi, cùng với các đoàn tầu trang bị đại bác nhả đạn chém giết, các đoàn quân viễn chinh hùng hổ tàn ác.
Cứ thế, xin hỏi trong tâm thức dân Việt chúng ta, làm sao mà các nhà truyền giáo có thể thuyết phục được Vua Quan Việt Nam bỏ qua tính cách phi chính trị của mình?
5. Thờ Kính Tổ Tiên
Đối với Toàn dân Việt, Tam Giáo chẳng những đã hòa hợp mà còn thích ứng với niềm tin nền tảng của dân tộc là Thờ Kính Tổ Tiên.
Đối với người dân Việt Nam, thì Thờ Kính Tổ Tiên đã chưa bao giờ được quan niệm như là một tôn giáo. Nhưng khi các giáo phái tàn sát lẫn nhau vì một vài bất đồng, thì làm sao người Phương Tây có thể chấp nhận những niềm tin và thực hành khác lạ?
Thực ra, ở thời kỳ đầu của việc truyền giáo, các giáo sĩ Dòng Tên đã xác nhận tính cách “không trái đức tin” của việc Thờ Kính Tổ Tiên. Nhưng sau vì lý do “tranh chấp thế lực,” khuynh hướng sai lầm của Dòng Triều đã thắng thế và từ bỏ thờ cúng Tổ Tiên.
V. Gánh Nặng Con Người Nơi Các Nhà Truyền Giáo
1. Bản Thân
Mặc cảm tự hào về sự ưu việt của dòng giống “Da Trắng” nơi các nhà truyền giáo. Thứ đến, văn minh kỹ nghệ Phương Tây phát triển với nếp sống cao, ăn bít tết bánh mì uống rượu vang hay bia... không dùng chén đũa, mà đôi khi lại ăn bốc… Và từ bản thân cho tới nếp sống sinh họat của nhà truyền giáo cũng tự góp phần gây ra sự hiểu lầm với người dân Việt Nam.
Từ diện mạo cao lớn, da trắng, tóc vàng, mắt xanh, mũi lõ... vóc dáng thô bạo, cục mịch rộn ràng trong giao tế, cười nói oang oang, bắt tay ôm hôn... Tất cả vô tình gây đã cho dân Việt Nam chúng ta có cái thành kiến về về người Phương Tây ứng hợp với giống “Bạch Quỷ Dạ Xoa” trong cổ tích Phương Đông mà nhiều người thường kể.
- Càng dễ gây ngộ nhận cho cả hai phía
Diện mạo của các nhà truyền giáo Phương Tây, trắng thì trắng quá và đen thì đen mun, cũng gây sự hiểu lầm nhau. Trong một câu chuyện về màu da, thuở nhỏ tôi nghe mẹ kể rằng: Thủa tạo thiên lập địa, Đức Chúa Trời lấy đất nặn thành ra ba mẫu người, rồi lần lượt xếp vào lò mà nung.
Mẻ đầu tiên vì không canh giờ Chúa vội mang ra qúa, non lửa thành ra da trắng. Mẻ thứ hai Chúa lại quá mệt mỏi, rồi ngủ quên… giựt mình lôi ra thì đã qúa lửa thành da đen. Chúa rút tỉa kinh nghiệm và tới mẻ sau cùng, vặn bếp nướng vừa lửa, và thành công với da vàng siêu việt, chính là màu da mà mẹ con ta đang có. Ôi cha sao đẹp đẽ tuyệt trần!
2. Phương Tiện Và Áp Lực
Thế rồi chính bản thân những nhà truyền giáo đã phát xuất... đã nương nhờ và nhận sự bảo vệ của những đoàn quân xâm lược viễn chinh đang có sẵn tầu chiến, súng đạn với hỏa lực mạnh, và chuyên đi Giết Người Cướp Của (Murder and Robbery).
Cho dù các nhà truyền giáo có thành tâm bất vụ lợi chăng mấy đi nữa, thì sự thật hiển nhiên sự nương tựa của các ngài, cùng với lòng yêu nước của các ngài, cũng đã kéo theo những nể nang hay nhường nhịn... thì cũng đã là kẻ đồng lõa.
3. Áp Đặt Thiển Cận
Những dị biệt giữa hai nền văn hóa Phương Đông và Phương Tây đang xảy ra, giữa hai quan niệm tổ chức tôn giáo xung khắc... và tất cả đã dẫn tới bước hiểu lầm nhau một cách trầm trọng. Đã thế, cũng trên thực tế, nhiều thái độ đối xử thiển cận của một số nhà truyền giáo “vô ý thức” lại gây thêm tác hại trong việc truyền đạo.
Chúng ta phải công tâm mà nhận thực rằng, có nhiều văn kiện chính thức của Giáo Hội phân định giữa niềm tin và phong tục, với Giáo Lý rất rõ ràng. Nhưng nhiều nhà truyền giáo lại chủ trương xử dụng văn minh và áp đặt phong tục tập quán của Tây Phương vào Việt Nam như Giáo Luật Tuyệt Đối.
Nhiều nhà truyền giáo cũng có định kiến về sự khác biệt phong tục và tập quán của quốc gia sở tại, như là những đối nghịch với tôn giáo Tây Phương. Họ cấm dân Việt Nam dùng nhang mà dùng hương. Họ cấm dân Việt Nam dùng nến đỏ mà thắp nến trắng.
Họ cấm dân Việt Nam dùng ngũ quả trong tế tự mà chỉ dùng hoa. Ho cấm dân Việt Nam mặc áo thụng khăn đóng mà chỉ choàng mảnh vải vuông.
Họ cấm dân Việt Nam cúi lạy mà bắt đứng nghiêm. Họ cấm dân Việt Nam kiêng cữ tế nhị, mà cần bộc trực sỗ sàng... đời đạo tương tham, dưới uy quyền tuyệt đối của cha xứ trong họ đạo.
4. Gánh Nặng Thời Cuộc
Tất cả đã tạo ra một gánh nặng thời cuộc, ám ảnh trong việc Truyền Đạo và Cấm Đạo tại Việt Nam ở những thế kỷ 16, 17, 18 và 19 và mỗi khi nhắc tới, gánh nặng ấy lại càng tăng thêm.
Gánh Nặng Thời Cuộc chẳng những ở Việt Nam, mà còn xảy ra nhiều nơi trên thế giới, cái sai lầm là nó chỉ buộc “Phía Bắt Đạo” phải chấm dứt. Việc chấm dứt ấy lại không phải vì “Vấn Đề Được Giải Quyết,” mà lại chỉ vì áp lực của bạo quyền, càng làm tăng thêm lòng người nung nấu, tợ lửa cháy đổ thêm dầu… vô phương cứu chữa!
Đang khi “Phía Truyền Đạo” dầu có cư xử đúng theo phương châm “Sanguis Martyrum, semen Christianorum” như y hệt quá trình nghìn năm, thì vẫn có thể bị liên lụy tới phong trào thực dân đã thực thi chính sách xâm lăng bóc lột và bất nhân phi nghĩa của Thời Đại Công Nghiệp (Industrial Age).
5. Thành Tâm Xu Thời
Tuyệt đại đa số là chân tu và thuần thành, là điều mà người viết rất kính trọng và yêu thương. Nhưng hành động của những kẻ bất xứng đã gây ra nhiều hậu quả tai hại.
Đa số có thành tâm thiện ý và rất tốt đẹp. Nhưng không thiếu những kẻ xu thời làm bậy để thỏa mãn tham vọng vật chất và quyền uy.
Đó là thực tế phũ phàng. Đức Giêsu cũng có tông đồ Giuđa bán Chúa. Đức Thích Ca cũng có đệ tử và là thân thích Devadattal bôi xấu và ám sát.
VI. Kết Luận
Vấn đề Đàn Áp Kitô Giáo tại Việt Nam một phần là do thiếu đối thoại, song phần khác là do chính sự khác biệt về mục đích và phương thức đối thoại. Khi phản tỉnh về giai đoạn truyền giáo đã qua, tôi theo đúng giáo huấn của Chúa Kitô và Giáo Hội, xác nhận những lỗi lầm của các thế hệ ngày trước, và nhận lỗi của mình vào ngày hôm nay.
Làm sao chúng ta có thể nhận ra, và chấp nhận giá trị của các tôn giáo, nếu như người ta cứ cho rằng đó là điều tuyệt đối vô ngộ?
Làm sao chúng ta hiểu được các tôn giáo, nếu không học lý thuyết, không hiểu ngôn ngữ, không cảm nghiệm tâm linh?
Trong một tâm thức như vậy, ta mới có thể đón nhận những người đối thoại với một thái độ tương kính. Ý thức được điểm này, người viết là tôi đang cố gắng đưa ra một số đề nghị/ hay điều kiện nhằm đặt nền tảng cho công cuộc đối thoại.
Những đề nghị/ hay điều kiện này đều mang tính chất khách quan và khoa học, không thiên vị bất cứ một giáo phái, hay tôn giáo nào nhằm kiến tạo một sự đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước Việt Nam trong Học Thuyết Tiên Rồng.
Kính xin Đức Thánh Cha và Tòa Thánh tha thứ lỗi lầm nếu có gì sai xót trong bài đối thoại này. Đa tạ,
Phạm Văn Bản

