Thưa quý anh chị Trang Nhà thân kính,
Do câu hỏi của cô Lê Ngọc Túy Hương viết khá dài, và trong bài viết của ông Anh Thạc thỉnh thoảng có nhắc tới câu hỏi của cô LNTH (bài viết của ông Anh Thạc lại càng dài hơn nữa).
Do vậy tôi xin mạn phép chỉ chuyển bài: “HỘI LUẬN VỀ BÀI QUỐC CA VIỆT NAM CỘNG HÒA” của ông Trang Anh Thạc mà thôi.
Mong quý vị thông cảm. Tôi cảm ơn và chúc mọi sự tốt lành, vui khỏe, bình an đến với quý vị).
* * *
HỘI LUẬN VỀ BÀI QUỐC CA VIỆT NAM CỘNG HÒA
Trang Anh Thạc
Các bạn trang Quốc Ngữ thân mến,
Cám ơn bài của cô Túy Hương Lê Ngọc.
Trang Anh Thạc xin có ý kiến về lời bài nhạc Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa như sau:
Tôi đã đọc bình luận của tất cả các bạn. Do đây là một đề tài khá “nhiêu khê”, một bài nhạc quan trọng có tánh chất lịch sử liên quan đến nhiều giai đoạn và biến chuyển chánh trị của cả hai miền đất nước giữa thế kỷ hai mươi, chúng ta cần nghiên cứu tỉ mỉ để có thể đi đến một kết luận cẩn trọng và chính xác.
Cô Lê Ngọc Túy Hương, theo bài của Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một học giả và một chánh khách rất có uy tín của Miền Nam và hải ngoại, nói rằng câu đầu tiên của bài Quốc ca chính xác phải là "Này công dân ơi, QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG", mới đúng theo lời bản Quốc ca được viết năm 1956 dưới thời Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Còn câu chúng ta ngày nay vẫn quen hát "Này công dân ơi, ĐỨNG LÊN ĐÁP LỜI SÔNG NÚI” là câu người thời nay hát không đúng nguyên bản thời Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng bài nhạc của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy chụp lại trong link cô Túy Hương kèm theo bài câu hỏi thì ghi rõ ràng là “Này công dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!” Và trọn nội dung bài viết của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy chỉ có nói đến lịch sử bài nhạc mà thôi, chứ không hề nói đến câu đầu tiên của bài Quốc ca được viết ra làm sao.
Có bạn nói rằng cô Túy Hương nói đúng, câu “... , QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG”” là lời bạn và nhiều người đã từng hát. Có vài bạn lại nói rõ ràng, chắc chắn rằng câu đó ngày xưa, thời đi học trước 1975, các bạn vẫn hát là "..., ĐỨNG LÊN ĐÁP LỜI SÔNG NÚI".
Tôi thì nhận thấy các bạn nói khác nhau nhưng tất cả đều đúng, không có ai sai, bởi vì chính bản thân tôi đã từng hát cả hai câu khác nhau đó vào các thời điểm khác nhau trước năm 1975. Tôi sẽ đề cập điều này và lý do có sự thay đổi những từ ngữ ở câu đầu của bản Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta mà các bạn thắc mắc.
Nhưng trước hết, muốn làm sáng tỏ vấn đề chúng ta cần bàn luận, tôi phải trình bày để bạn đọc biết cho tường tận mọi khúc nôi cội nguồn của bản nhạc lịch sử này.
Là vì theo tôi biết, bài hát mà chúng ta về sau, vào thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là “Tiếng Gọi Công Dân”, nhưng nguyên sơ bản nhạc nổi tiếng của Lưu Hữu Phước này lại có nhiều bài tiếng Việt khác nhau, chứ không phải chỉ có một như học giả Trần Gia Phụng bên Gia Nã Đại viết. Thêm nữa, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy chỉ nói rõ nguyên bản bài Quốc ca được viết lời lại ở Miền Nam vào thời chánh phủ Nguyễn Văn Xuân và bài này tiếp tục được chánh phủ Cố tổng thống Ngô Đình Diệm chọn làm Quốc ca cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1956 trở đi, chứ ông không có nói gì về câu đầu tiên của bản nhạc.
Tôi xin tường thuật lại sự ra đời của bài nhạc Quốc ca “Tiếng Gọi Công Dân” mà chúng ta đã từng hát thời chưa mất nước tại Miền Nam Việt Nam.
Sự thật là bài hát do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác trước tiên là bằng tiếng Pháp như tôi ghi lại dưới đây, vào năm 1939, tại Nam Kỳ, khi ông đang còn là học sinh trường Trung Học Pétrus Ký tại Sài Gòn (năm này ông mới 18 tuổi), không phải ông soạn ra năm 1941. Phần nhạc là của ông, phần lời viết chung với bạn đồng liêu Mai Văn Bộ. Đây là thời Việt Nam còn thuộc Pháp, cộng sản chưa nắm chánh quyền ở miền Bắc (cộng sản cướp chánh quyền ở miền Bắc năm 1945).
Bài hát có tựa tiếng Pháp là “La Marche Des Étudiants” – Sinh Viên Hành Khúc.
Lời bài hát như sau:
Étudiants ! Du sol l'appel tenace
Pressant et fort, retentit dans l'espace
Des côtes d'Annam aux ruines d'Angkor,
À travers les monts, du sud jusqu'au nord
Une voix monte ravie:
«Servir la chère Patrie!»
Toujours sans reproche et sans peur
Pour rendre l'avenir meilleur
La joie, la ferveur, la jeunesse
Sont pleines de fermes promesses.
Điệp khúc:
Te servir, chère Indochine!
Avec cœur et discipline!
C'est notre but, c'est notre loi
Et rien n'ébranle notre foi!
Sau khi đậu Tú tài, năm 1940, Lưu Hữu Phước cùng với Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Văn Khê (sau này là nhà âm nhạc học nổi tiếng, bào huynh của nhạc sĩ Trần Văn Trạch), Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Thanh Hòa, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm và nhiều người khác, ra Hà nội học trường Đại Học Đông Dương. Từ năm 1941, bản Sinh Viên Hành Khúc này mới được viết bằng tiếng Việt và có đến ba bài khác nhau. Bài nhạc nhà văn Trần Gia Phụng sưu tầm chỉ là bài sau cùng được viết lời lại thời Việt Nam Cộng Hòa, và câu “ ... đến ngày giải phóng” chỉ là câu của hai trong số những bài đó chứ không phải là lời ca duy nhất của bản Sinh Viên Hành Khúc.
Tôi chỉ nhớ các sự kiện chánh ở trên là vậy, nay đọc một số bài nghiên cứu về lịch sử bài Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa của một số tác giả nổi tiếng như cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, luật sư Lâm Lễ Trinh, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, tôi mới biết rõ hơn, rằng nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm ra bài nhạc, nhưng trừ lời tiếng Pháp là của ông viết chung với Mai Văn Bộ, còn lời tiếng Việt lại được nhiều sinh viên đồng chí của Lưu Hữu Phước trong Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương (Association Générale des Étudiants Indochinois, viết tắt A.G.E.I.) cùng viết dựa theo lời bản tiếng Pháp, với nhiều bản khác nhau sau đó ở ngoài Bắc, thời cộng sản còn chưa xuất hiện cướp chánh quyền.
Do bài “Sinh Viên Hành Khúc” này quá hay nên ngay lập tức nó đã hết sức phổ biến trong giới sinh viên thời thực dân Pháp còn cai trị, dù họ chỉ hát trong bí mật. Và cũng vì để tránh sự dòm ngó của Sở Mật Thám Pháp, Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương phải thay đổi lời hát nhiều lần để không bị cấm đoán. Đây là lý do vì sao bài nhạc của Lưu Hữu Phước có nhiều lời khác nhau và cả tên gọi của nó cũng thay đổi nhiều lần.
Nguyên văn toàn bài của cả 3 bài nhạc tiếng Việt như sau, rất khác lời bài Quốc ca chúng ta được học thời Việt Nam Cộng Hòa sau này.
Bài thứ nhất:
Do Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộviết lời tiếng Việt năm 1941. Bài tiếng Việt này Lưu Hữu Phước đặt lại tựa là “Tiếng Gọi Thanh Niên”, chính là bài có hai chữ “giải phóng”, nhưng toàn câu là ”Này anh em ơi! TIẾN LÊN ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG”, chứ không phải “QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG” nhé các bạn. “Quốc gia” là chữ Miền Nam chúng ta sau này sửa lại cho bài Quốc ca Tiếng Gọi Công Dân thay cho hai chữ “Tiến lên”. Tôi xin viết chữ in câu này trong bài cho dễ thấy:
TIẾNG GỌI THANH NIÊN
“Này anh em ơi! TIẾN LÊN ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG.
Đồng lòng cùng nhau ra đi sá gì thân sống.
Cùng nhau ta tuốt gươm, cùng nhau ta đứng lên.
Thù kia chưa trả xong thì ta luôn cố bền.
Lầm than bao năm ta đau khổ biết mấy.
Vàng đá gấm vóc, loài muông thú cướp lấy.
Loài nó chúng lấy máu đào chúng ta.
Làm ta gian nan, cửa nhà tan rã.
Bầu máu, nhắc tới nó, càng thêm nóng sôi.
Ta quyết thề phá tan quân dã man rồi.
Điệp khúc:
Vung gươm lên, ta quyết đi tới cùng!
Vung gươm lên, ta thề đem hết lòng.
Tiến lên đồng tiến, sá chi đời sống.
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Như trên đã nói, cũng bài “Sinh Viên Hành Khúc” của Lưu Hữu Phước, nhưng lại có đến 3 bài tiếng Việt khác nhau, đó là vì Tổng Hội Sinh Viên cần sửa lời hát nhằm tránh bớt sự chú ý của Sở Mật Thám Pháp.
Bài thứ hai như sau, tựa là “Tiếng Gọi Sinh Viên”, do Lê Khắc Thiều và Đặng Ngọc Tốt soạn cuối năm 1941. Đây là bản có chính xác câu “đứng lên đáp lời sông núi” mà chúng ta học về sau này trong bài Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa từ cuối thập niên 1960. Đặc biệt hơn cả bài của Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ viết, bài này lại được làm đến 3 lời và một điệp khúc chung.
Bài thứ hai:
TIẾNG GỌI SINH VIÊN
Lời 1:
Này sinh viên ơi! ĐỨNG LÊN ĐÁP LỜI SÔNG NÚI !
Đồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
Điệp khúc:
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Lời 2:
Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xóa!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn,
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.
(Điệp khúc)
Lời 3:
Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng,
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng
Là sinh viên vun cây văn hóa,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá
Đời mới kiến thiết đáp lòng những ai
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Hát lại điệp khúc lần nữa và hết)
Bài thứ ba:
Do Hoàng Mai Lưu soạn tháng 4-1945. Đây là thời gian nhóm sinh viên miền Nam tại Hà nội đã bắt đầu ngả theo cộng sản. Các bạn chú ý: câu của bài 1 là “Tiến lên ĐẾN ngày giải phóng”, nhưng cũng câu đó, Hoàng Mai Lưu sửa lại một chữ “đón”: “Tiến lên ĐÓN ngày giải phóng”, ý nói “hãy chờ đón Việt minh về giải phóng đất nước”.
TIẾNG GỌI SINH VIÊN
Này thanh niên ơi! TIẾN LÊN ĐÓN NGÀY GIẢI PHÓNG.
Đồng lòng cùng đi đi đi sá gì thân sống.
Nhìn non sông nát tan, thù nung tâm chí cao.
Nhìn muôn dân khóc than, hờn sôi trong máu đào.
Liều thân xông pha, ta tranh đấu.
Cờ nghĩa phấp phới, vàng pha máu.
Cùng tiến, quét hết những loài dã man.
Hầu đem quê hương thoát vòng u ám.
Thề quyết, lấy máu nóng mà rửa oán chung.
Muôn thuở vì núi sông nêu tiếng anh hùng.
Điệp khúc:
Anh em ơi, mau tiến lên dưới cờ.
Sinh viên ơi, quật cường nay đến giờ.
Tiến lên cùng tiến, gió tung nguồn sống.
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng.
Chúng ta thấy, những nhóm chữ “tiến lên đón ngày giải phóng”, “ngàn mớ lửa hồng” ” đã lộ ramàu sắc tuyên truyền tư tưởng “đỏ” của cộng sản.
Bây giờ tôi nói đến bài Quốc ca thời Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta.
Đầu tiên, đây vẫn là bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của Lưu Hữu Phước, được bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, bạn đồng học miền Nam của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, đề nghị lên Cựu Hoàng Bảo Đại xem xét trong một cuộc hội nghị do Pháp tổ chức tại Hồng Công vào năm 1947. (Lúc đó Pháp đang muốn dùng vua Bảo Đại để dựng lại nền đô hộ của Pháp tại Việt Nam.) Tại hội nghị, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đã viết ra tên của bài quốc ca nước Việt Nam mới là TIẾNG GỌI CÔNG DÂN hay còn gọi là QUỐC DÂN HÀNH KHÚC, cho phù hợp với “thời vận mới” của đất nước. Hội nghị đã chấp thuận đề nghị này. Sau đó, khi Quốc Hội Lập Hiến của chánh phủ Nguyễn Văn Xuân thành lập tại miền Nam vào ngày 02-6-1948, và sau đó là chánh phủ Nguyễn Văn Tâm, chánh thức chọn bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” làm bài Quốc ca của Miền Nam Việt Nam với tên gọi mới TIẾNG GỌI CÔNG DÂN.
Đến tháng 3 năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Quốc Hội nhóm họp để quyết định chọn quốc kỳ và quốc ca cho quốc gia. Trước đó chánh phủ đã tổ chức một cuộc thi sáng tác quốc ca.
Cuộc thi đó có nhiều nhạc sĩ thành danh tham dự như: Phạm Duy với bài “Chào Mừng Việt Nam”, Hùng Lân với 2 bài “Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam” và “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” Ngô Duy Linh với bài “Một Trời Sao”, Ngọc Bích và Thanh Nam với bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”. Kết quả: bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” của Hùng Lân được điểm cao nhất, nhưng vì bài này đã được Việt Nam Quốc Dân Đảng chọn làm Đảng ca từ năm 1945, nên chánh phủ của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm không dùng mà chọn tiếp tục giữ bài “Tiếng Gọi Công Dân” trước đó làm Quốc ca nước Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng để xứng hợp với nền cộng hòa mới của đất nước, chánh phủ ra lệnh Đài Phát Thanh Sài Gòn giữ nguyên phần nhạc nhưng viết lại lời ca mới. Đó là bài Quốc ca mà thế hệ lớn tuổi chúng ta ngồi đây đã từng hát vang vang khi làm lễ chào cờ mỗi Thứ Hai đầu tuần trên sân cờ mọi trường học Miền Nam ngày trước.
Nguyên văn bài Quốc ca được sử dụng từ năm 1956 như sau. Các bạn chú ý xem hình chụp bản Quốc ca có nốt nhạc và hình cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa đính kèm dưới đây. (Chính là tấm hình kèm trong bài viết của tác giả Trần Gia Phụng.) Chúng ta thấy trong câu đầu của bài có 6 chữ “Quốc gia đến ngày giải phóng”.
TIẾNG GỌI CÔNG DÂN (QUỐC DÂN HÀNH KHÚC, áp dụng từ năm 1956):
Này Công Dân ơi! QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG.
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dù cho phơi thây trên gươm giáo,
Thù nước, lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người Công Dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống
Xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!
Các bạn cũng thấy rõ, bài Quốc ca mới Tiếng Gọi Công Dân đã được viết lại lời mới, toàn bài khác rất nhiều chữ với bài Tiếng Gọi Thanh Niên cũ của Lưu Hữu Phước. Ngay câu đầu, chúng ta thấy thay vì “Sinh viên ơi!” hay “Thanh niên ơi!”, chúng ta thay là “Công dân ơi!” Và sau đó là “QUỐC GIA đến ngày giải phóng”, chứ không còn là “TIẾN LÊN đến ngày giải phóng”.
Đến đây chúng ta lại thấy một hình chụp bài nhạc Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, trong đó có câu đầu “Này Công Dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!” (Xin xem hình thứ hai đính kèm cuối bài.)
Như vậy, cùng là bài Tiếng Gọi Công Dân thời Việt Nam Cộng Hòa, nhưng tại sao nguyên bản toàn bài đều khớp từng chữ mà câu đầu tiên lại khác nhau như trên?
Ai đó nói rằng “Những ai còn hát lời “đến ngày giải phóng” là còn chưa vạch rõ lằn ranh QUỐC CỘNG hoặc CHƯA bao giờ hát Quốc Ca hay chào Quốc Kỳ VNCH tại VN từ 1968”, như cô Lê Ngọc Túy Hương trích thuật, là một phát biểu quá khích, nhưng nói “từ 1968” là nói đúng, không sai. Bởi vì ngay sau khi Miền Nam chúng ta bất ngờ bị việt cộng tổng công kích vào Tết Mậu Thân năm 1968, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đã ra lệnh Tổng động viên đợt một để kêu gọi thanh niên Miền Nam tòng quân nhập ngũ bảo vệ quốc gia. Từ đây trở đi Đài Phát Thanh Sài Gòn đã bỏ câu “Quốc gia đến ngày giải phóng” mà đổi lại lời bài cũ của “Tiếng Gọi Sinh Viên” hồi trước là “Đứng lên đáp lời sông núi” cho phù hợp với đòi hỏi của thời cục mới đầy nguy cấp của đất nước.
Tuy vậy, tại các trường học của Miền Nam thời đó nhiều nơi vẫn còn quen dạy học sinh hát lời cũ “Quốc gia đến ngày giải phóng” mà không chú ý có sự thay đổi này.
Miền Nam Việt Nam còn bỏ hai chữ “giải phóng“ trong bài Quốc ca đi là vì hai chữ này đã bị việt cộng “độc chiếm” khi chúng đêm đêm phát loa khắp nơi kêu gào “giải phóng miền Nam”, và chúng đã lập ra cái gọi là “Mặt trận giải phóng miền Nam”.
Kết luận bài:
Anh chị em đã đọc một bài dài tôi trình bày nguyên ủy câu chuyện lịch sử kéo dài 36 năm của một bản nhạc nổi tiếng nhất Việt Nam, ra đời và thay đổi, gắn liền với bao thăng trầm đau thương của đất nước. Vấn đề lời ca của bản nhạc đã từng một thời là Quốc ca của Miền Nam Việt Nam, từ toàn văn nguyên bản đến những chữ của câu đầu tiên, đã gây nên bao thắc mắc và tranh luận, nay xem như đã được sáng tỏ.
Nói chính xác trở lại một lần nữa, theo hiểu biết chắc chắn của chính tôi, một người đã từng sống và từng hát bài Quốc ca qua cả hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, tôi biết rõ câu “Quốc gia đến ngày giải phóng” trong bài Tiếng Gọi Công Dân là lời lúc đầu, từ năm 1956 đến năm 1968, từ năm 1968 trở đi đã được chánh phủ Đệ Nhị Cộng Hòa sửa lại là “Đứng lên đáp lời sông núi” cho hợp với tình hình mới. Và câu “Đứng lên đáp lời sông núi” này vốn là một trong hai lời ca cũ của Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương năm 1941, không phải là lời của người Việt hải ngoại sửa lại sau năm 1975 vì lập trường chánh trị chống cộng sản, như một số người không am hiểu lịch sử đã nói.
Ban Quản Trị mong anh chị em đọc kỹ bài này để hiểu rõ ngọn ngành vấn đề, và nếu có thể, xin đem về trang riêng để nhiều đồng hương cùng đọc và cùng biết.
****
Trước khi kết thúc bài viết này, tôi cũng xin nói thêm một chút ngoài lề về dư luận thắc mắc tại sao Lưu Hữu Phước là cộng sản sống ở miền Bắc mà thời Việt Nam Cộng Hòa chúng ta lại chọn bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của ông ta làm bản quốc ca.
Lý do không khó hiểu: bài “Sinh Viên Hành Khúc” (sau gọi là “Tiếng Gọi Thanh Niên”) của Lưu Hữu Phước vốn là được sáng tác năm 1939 tại miền Nam vào thời Pháp thuộc, là tiếng nói của học sinh, sinh viên yêu nước kêu gọi thanh niên đứng lên chống giặc ngoại xâm, chứ không phải nhạc của thời kỳ Lưu Hữu Phước đã đi theo cộng sản.
Chúng ta sử dụng bài nhạc cũ và đổi lại tựa đề cũng như lời hát cho phù hợp với đất nước trong thời đại mới, hoàn toàn không khác việc Miền Nam chúng ta vẫn dạy văn chương của các nhà văn, nhà thơ Tiền Chiến như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, v.v., dù rằng về sau tất cả những văn nghệ sĩ này đều đi theo cộng sản. Chúng ta hoàn toàn có thể xem tất cả các tác phẩm văn nghệ thời Tiền Chiến, tức thời tiền cộng sản, là tài sản văn hóa chung muôn đời của quốc gia, bất luận tác giả là ai, về sau họ đi theo xu hướng chánh trị nào.
Lý do thứ hai. Bài quốc ca nước Pháp hiện nay được sáng tác năm 1792, bởi một nhạc sĩ nguyên là sĩ quan bảo hoàng tên Rouget de Lisle. Năm 1793 chế độ quân chủ của vua Louis XVI bị phong trào Cách Mạng Pháp lật đổ và nhà vua bị xử tử, Rouget de Lisle tuyên bố trung thành vĩnh viễn với nhà vua và cũng bị kết án tử hình, nhưng sau đó ông ta may mắn thoát chết. Vậy mà bài La Marseillaise của Rouget de Lisle, một tác phẩm của chế độ quân chủ cũ, vẫn được tân chánh phủ Cộng Hòa Pháp công nhận là bài nhạc hay nhất, và từ năm 1795 nước Pháp đã chọn làm bài Quốc ca cho quốc gia mình đến tận ngày nay.
Bài “Sinh Viên Hành Khúc” của Lưu Hữu Phước được tác giả viết nhạc theo thể hành khúc tương tự như bài La Marseillaise của Pháp, âm điệu hùng tráng, dồn dập, đầy khí vị kích động lòng yêu nước của thanh niên, nên đã được Quốc Hội Lập Hiến của chánh phủ Nguyễn Văn Xuân tại Miền Nam chọn làm bài Quốc ca vào năm 1948, và một lần nữa, vào năm 1956, bài nhạc này lại được Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm chọn làm Quốc ca cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.
Đây là môt vinh dự lớn đối với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhưng ông này, hổ thẹn thay, từ năm 1949, ở ngoài Bắc, đã nhiều lần theo lịnh đảng cộng sản bắc việt, lên đài phát thanh bác bỏ, bêu riếu Miền Nam đã sử dụng bài nhạc của ông ta làm quốc ca trái phép ... Chỉ vì ăn cơm đảng phải múa tối ngày, Lưu Hữu Phước đã không có nổi cái liêm sỉ chánh trực của một người miền Nam để từ chối cái lịnh đảng bắt ông ta phát ngôn để nói xấu miền Nam, trong khi bài nhạc đó ông ta làm ra từ thời chống Pháp ở tại miền Nam, và cũng không phải là nhạc ông ta sáng tác khi ông ta đã ra miền Bắc đi học và nhiều năm sau đó mới phục vụ cộng sản. Rồi sau khi cộng sản đã chiếm được miền Nam, Lưu Hữu Phước đã lập tức chạy về Nam sanh sống chứ không ở lại ngoài Bắc với đảng, nhưng hành động thời đó chứng tỏ ông ta là một người có tài nhưng hèn mọn, không có một chút can đảm để tự hào và hạnh phúc công khai như Rouget de Lisle của nước Pháp. Lưu Hữu Phước, khi đã thành người cộng sản, ông ta thật sự không có cái lòng tự trọng và lương tâm của một trí thức chân chính.
Mọi thiên tài Việt Nam đều trở nên đui cùi, què quặt, tự chôn vùi thanh danh và sự nghiệp của mình chỉ vì đi theo cộng sản. Tất cả những gì họ đã làm trong hơn nửa cuộc đời còn lại đều vô nghĩa và tăm tối; nó nhanh chóng đi vào quên lãng ngay cả khi chế độ cộng sản còn tồn tại vênh vang. Trong khi đó, Miền Nam Nhân Bản vẫn quý trọng và gìn giữ những giá trị văn hóa mà họ đã đóng góp thời thanh xuân, nhưng họ không hề biết ơn Miền Nam, hay dẫu ai đó có chút hối tiếc cũng không có nổi cái dũng cảm cốt khí để nói ra điều đó.
Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã nói một câu để đời về cộng sản như sau: “Những ai nghe theo lời cộng sản nói là người không có óc, những ai làm theo cộng sản là người không có trái tim”. Lời tổng kết này về người cộng sản thật là vô cùng chính xác và minh triết, không còn gì đúng đắn hơn.
Bài viết đến đây là hết. Cám ơn câu hỏi thắc mắc của cô Lê Ngọc Túy Hương. Cám ơn các bạn đã đọc bài.
Trang Anh Thạc
Quốc Ngữ Việt Nam Văn Hiến, 05-5-2024
***
Ảnh đính kèm:
1. Bài Quốc ca Tiếng Gọi Công Dân năm 1956.
2. Bài Quốc ca Tiếng Gọi Công Dân 1968 - 1975.
Do câu hỏi của cô Lê Ngọc Túy Hương viết khá dài, và trong bài viết của ông Anh Thạc thỉnh thoảng có nhắc tới câu hỏi của cô LNTH (bài viết của ông Anh Thạc lại càng dài hơn nữa).
Do vậy tôi xin mạn phép chỉ chuyển bài: “HỘI LUẬN VỀ BÀI QUỐC CA VIỆT NAM CỘNG HÒA” của ông Trang Anh Thạc mà thôi.
Mong quý vị thông cảm. Tôi cảm ơn và chúc mọi sự tốt lành, vui khỏe, bình an đến với quý vị).
* * *
HỘI LUẬN VỀ BÀI QUỐC CA VIỆT NAM CỘNG HÒA
Trang Anh Thạc
Các bạn trang Quốc Ngữ thân mến,
Cám ơn bài của cô Túy Hương Lê Ngọc.
Trang Anh Thạc xin có ý kiến về lời bài nhạc Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa như sau:
Tôi đã đọc bình luận của tất cả các bạn. Do đây là một đề tài khá “nhiêu khê”, một bài nhạc quan trọng có tánh chất lịch sử liên quan đến nhiều giai đoạn và biến chuyển chánh trị của cả hai miền đất nước giữa thế kỷ hai mươi, chúng ta cần nghiên cứu tỉ mỉ để có thể đi đến một kết luận cẩn trọng và chính xác.
Cô Lê Ngọc Túy Hương, theo bài của Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một học giả và một chánh khách rất có uy tín của Miền Nam và hải ngoại, nói rằng câu đầu tiên của bài Quốc ca chính xác phải là "Này công dân ơi, QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG", mới đúng theo lời bản Quốc ca được viết năm 1956 dưới thời Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Còn câu chúng ta ngày nay vẫn quen hát "Này công dân ơi, ĐỨNG LÊN ĐÁP LỜI SÔNG NÚI” là câu người thời nay hát không đúng nguyên bản thời Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng bài nhạc của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy chụp lại trong link cô Túy Hương kèm theo bài câu hỏi thì ghi rõ ràng là “Này công dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!” Và trọn nội dung bài viết của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy chỉ có nói đến lịch sử bài nhạc mà thôi, chứ không hề nói đến câu đầu tiên của bài Quốc ca được viết ra làm sao.
Có bạn nói rằng cô Túy Hương nói đúng, câu “... , QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG”” là lời bạn và nhiều người đã từng hát. Có vài bạn lại nói rõ ràng, chắc chắn rằng câu đó ngày xưa, thời đi học trước 1975, các bạn vẫn hát là "..., ĐỨNG LÊN ĐÁP LỜI SÔNG NÚI".
Tôi thì nhận thấy các bạn nói khác nhau nhưng tất cả đều đúng, không có ai sai, bởi vì chính bản thân tôi đã từng hát cả hai câu khác nhau đó vào các thời điểm khác nhau trước năm 1975. Tôi sẽ đề cập điều này và lý do có sự thay đổi những từ ngữ ở câu đầu của bản Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta mà các bạn thắc mắc.
Nhưng trước hết, muốn làm sáng tỏ vấn đề chúng ta cần bàn luận, tôi phải trình bày để bạn đọc biết cho tường tận mọi khúc nôi cội nguồn của bản nhạc lịch sử này.
Là vì theo tôi biết, bài hát mà chúng ta về sau, vào thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là “Tiếng Gọi Công Dân”, nhưng nguyên sơ bản nhạc nổi tiếng của Lưu Hữu Phước này lại có nhiều bài tiếng Việt khác nhau, chứ không phải chỉ có một như học giả Trần Gia Phụng bên Gia Nã Đại viết. Thêm nữa, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy chỉ nói rõ nguyên bản bài Quốc ca được viết lời lại ở Miền Nam vào thời chánh phủ Nguyễn Văn Xuân và bài này tiếp tục được chánh phủ Cố tổng thống Ngô Đình Diệm chọn làm Quốc ca cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1956 trở đi, chứ ông không có nói gì về câu đầu tiên của bản nhạc.
Tôi xin tường thuật lại sự ra đời của bài nhạc Quốc ca “Tiếng Gọi Công Dân” mà chúng ta đã từng hát thời chưa mất nước tại Miền Nam Việt Nam.
Sự thật là bài hát do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác trước tiên là bằng tiếng Pháp như tôi ghi lại dưới đây, vào năm 1939, tại Nam Kỳ, khi ông đang còn là học sinh trường Trung Học Pétrus Ký tại Sài Gòn (năm này ông mới 18 tuổi), không phải ông soạn ra năm 1941. Phần nhạc là của ông, phần lời viết chung với bạn đồng liêu Mai Văn Bộ. Đây là thời Việt Nam còn thuộc Pháp, cộng sản chưa nắm chánh quyền ở miền Bắc (cộng sản cướp chánh quyền ở miền Bắc năm 1945).
Bài hát có tựa tiếng Pháp là “La Marche Des Étudiants” – Sinh Viên Hành Khúc.
Lời bài hát như sau:
Étudiants ! Du sol l'appel tenace
Pressant et fort, retentit dans l'espace
Des côtes d'Annam aux ruines d'Angkor,
À travers les monts, du sud jusqu'au nord
Une voix monte ravie:
«Servir la chère Patrie!»
Toujours sans reproche et sans peur
Pour rendre l'avenir meilleur
La joie, la ferveur, la jeunesse
Sont pleines de fermes promesses.
Điệp khúc:
Te servir, chère Indochine!
Avec cœur et discipline!
C'est notre but, c'est notre loi
Et rien n'ébranle notre foi!
Sau khi đậu Tú tài, năm 1940, Lưu Hữu Phước cùng với Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Văn Khê (sau này là nhà âm nhạc học nổi tiếng, bào huynh của nhạc sĩ Trần Văn Trạch), Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Thanh Hòa, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm và nhiều người khác, ra Hà nội học trường Đại Học Đông Dương. Từ năm 1941, bản Sinh Viên Hành Khúc này mới được viết bằng tiếng Việt và có đến ba bài khác nhau. Bài nhạc nhà văn Trần Gia Phụng sưu tầm chỉ là bài sau cùng được viết lời lại thời Việt Nam Cộng Hòa, và câu “ ... đến ngày giải phóng” chỉ là câu của hai trong số những bài đó chứ không phải là lời ca duy nhất của bản Sinh Viên Hành Khúc.
Tôi chỉ nhớ các sự kiện chánh ở trên là vậy, nay đọc một số bài nghiên cứu về lịch sử bài Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa của một số tác giả nổi tiếng như cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, luật sư Lâm Lễ Trinh, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, tôi mới biết rõ hơn, rằng nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm ra bài nhạc, nhưng trừ lời tiếng Pháp là của ông viết chung với Mai Văn Bộ, còn lời tiếng Việt lại được nhiều sinh viên đồng chí của Lưu Hữu Phước trong Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương (Association Générale des Étudiants Indochinois, viết tắt A.G.E.I.) cùng viết dựa theo lời bản tiếng Pháp, với nhiều bản khác nhau sau đó ở ngoài Bắc, thời cộng sản còn chưa xuất hiện cướp chánh quyền.
Do bài “Sinh Viên Hành Khúc” này quá hay nên ngay lập tức nó đã hết sức phổ biến trong giới sinh viên thời thực dân Pháp còn cai trị, dù họ chỉ hát trong bí mật. Và cũng vì để tránh sự dòm ngó của Sở Mật Thám Pháp, Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương phải thay đổi lời hát nhiều lần để không bị cấm đoán. Đây là lý do vì sao bài nhạc của Lưu Hữu Phước có nhiều lời khác nhau và cả tên gọi của nó cũng thay đổi nhiều lần.
Nguyên văn toàn bài của cả 3 bài nhạc tiếng Việt như sau, rất khác lời bài Quốc ca chúng ta được học thời Việt Nam Cộng Hòa sau này.
Bài thứ nhất:
Do Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộviết lời tiếng Việt năm 1941. Bài tiếng Việt này Lưu Hữu Phước đặt lại tựa là “Tiếng Gọi Thanh Niên”, chính là bài có hai chữ “giải phóng”, nhưng toàn câu là ”Này anh em ơi! TIẾN LÊN ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG”, chứ không phải “QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG” nhé các bạn. “Quốc gia” là chữ Miền Nam chúng ta sau này sửa lại cho bài Quốc ca Tiếng Gọi Công Dân thay cho hai chữ “Tiến lên”. Tôi xin viết chữ in câu này trong bài cho dễ thấy:
TIẾNG GỌI THANH NIÊN
“Này anh em ơi! TIẾN LÊN ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG.
Đồng lòng cùng nhau ra đi sá gì thân sống.
Cùng nhau ta tuốt gươm, cùng nhau ta đứng lên.
Thù kia chưa trả xong thì ta luôn cố bền.
Lầm than bao năm ta đau khổ biết mấy.
Vàng đá gấm vóc, loài muông thú cướp lấy.
Loài nó chúng lấy máu đào chúng ta.
Làm ta gian nan, cửa nhà tan rã.
Bầu máu, nhắc tới nó, càng thêm nóng sôi.
Ta quyết thề phá tan quân dã man rồi.
Điệp khúc:
Vung gươm lên, ta quyết đi tới cùng!
Vung gươm lên, ta thề đem hết lòng.
Tiến lên đồng tiến, sá chi đời sống.
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Như trên đã nói, cũng bài “Sinh Viên Hành Khúc” của Lưu Hữu Phước, nhưng lại có đến 3 bài tiếng Việt khác nhau, đó là vì Tổng Hội Sinh Viên cần sửa lời hát nhằm tránh bớt sự chú ý của Sở Mật Thám Pháp.
Bài thứ hai như sau, tựa là “Tiếng Gọi Sinh Viên”, do Lê Khắc Thiều và Đặng Ngọc Tốt soạn cuối năm 1941. Đây là bản có chính xác câu “đứng lên đáp lời sông núi” mà chúng ta học về sau này trong bài Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa từ cuối thập niên 1960. Đặc biệt hơn cả bài của Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ viết, bài này lại được làm đến 3 lời và một điệp khúc chung.
Bài thứ hai:
TIẾNG GỌI SINH VIÊN
Lời 1:
Này sinh viên ơi! ĐỨNG LÊN ĐÁP LỜI SÔNG NÚI !
Đồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
Điệp khúc:
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Lời 2:
Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xóa!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn,
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.
(Điệp khúc)
Lời 3:
Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng,
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng
Là sinh viên vun cây văn hóa,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá
Đời mới kiến thiết đáp lòng những ai
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Hát lại điệp khúc lần nữa và hết)
Bài thứ ba:
Do Hoàng Mai Lưu soạn tháng 4-1945. Đây là thời gian nhóm sinh viên miền Nam tại Hà nội đã bắt đầu ngả theo cộng sản. Các bạn chú ý: câu của bài 1 là “Tiến lên ĐẾN ngày giải phóng”, nhưng cũng câu đó, Hoàng Mai Lưu sửa lại một chữ “đón”: “Tiến lên ĐÓN ngày giải phóng”, ý nói “hãy chờ đón Việt minh về giải phóng đất nước”.
TIẾNG GỌI SINH VIÊN
Này thanh niên ơi! TIẾN LÊN ĐÓN NGÀY GIẢI PHÓNG.
Đồng lòng cùng đi đi đi sá gì thân sống.
Nhìn non sông nát tan, thù nung tâm chí cao.
Nhìn muôn dân khóc than, hờn sôi trong máu đào.
Liều thân xông pha, ta tranh đấu.
Cờ nghĩa phấp phới, vàng pha máu.
Cùng tiến, quét hết những loài dã man.
Hầu đem quê hương thoát vòng u ám.
Thề quyết, lấy máu nóng mà rửa oán chung.
Muôn thuở vì núi sông nêu tiếng anh hùng.
Điệp khúc:
Anh em ơi, mau tiến lên dưới cờ.
Sinh viên ơi, quật cường nay đến giờ.
Tiến lên cùng tiến, gió tung nguồn sống.
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng.
Chúng ta thấy, những nhóm chữ “tiến lên đón ngày giải phóng”, “ngàn mớ lửa hồng” ” đã lộ ramàu sắc tuyên truyền tư tưởng “đỏ” của cộng sản.
Bây giờ tôi nói đến bài Quốc ca thời Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta.
Đầu tiên, đây vẫn là bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của Lưu Hữu Phước, được bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, bạn đồng học miền Nam của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, đề nghị lên Cựu Hoàng Bảo Đại xem xét trong một cuộc hội nghị do Pháp tổ chức tại Hồng Công vào năm 1947. (Lúc đó Pháp đang muốn dùng vua Bảo Đại để dựng lại nền đô hộ của Pháp tại Việt Nam.) Tại hội nghị, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đã viết ra tên của bài quốc ca nước Việt Nam mới là TIẾNG GỌI CÔNG DÂN hay còn gọi là QUỐC DÂN HÀNH KHÚC, cho phù hợp với “thời vận mới” của đất nước. Hội nghị đã chấp thuận đề nghị này. Sau đó, khi Quốc Hội Lập Hiến của chánh phủ Nguyễn Văn Xuân thành lập tại miền Nam vào ngày 02-6-1948, và sau đó là chánh phủ Nguyễn Văn Tâm, chánh thức chọn bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” làm bài Quốc ca của Miền Nam Việt Nam với tên gọi mới TIẾNG GỌI CÔNG DÂN.
Đến tháng 3 năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Quốc Hội nhóm họp để quyết định chọn quốc kỳ và quốc ca cho quốc gia. Trước đó chánh phủ đã tổ chức một cuộc thi sáng tác quốc ca.
Cuộc thi đó có nhiều nhạc sĩ thành danh tham dự như: Phạm Duy với bài “Chào Mừng Việt Nam”, Hùng Lân với 2 bài “Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam” và “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” Ngô Duy Linh với bài “Một Trời Sao”, Ngọc Bích và Thanh Nam với bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”. Kết quả: bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” của Hùng Lân được điểm cao nhất, nhưng vì bài này đã được Việt Nam Quốc Dân Đảng chọn làm Đảng ca từ năm 1945, nên chánh phủ của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm không dùng mà chọn tiếp tục giữ bài “Tiếng Gọi Công Dân” trước đó làm Quốc ca nước Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng để xứng hợp với nền cộng hòa mới của đất nước, chánh phủ ra lệnh Đài Phát Thanh Sài Gòn giữ nguyên phần nhạc nhưng viết lại lời ca mới. Đó là bài Quốc ca mà thế hệ lớn tuổi chúng ta ngồi đây đã từng hát vang vang khi làm lễ chào cờ mỗi Thứ Hai đầu tuần trên sân cờ mọi trường học Miền Nam ngày trước.
Nguyên văn bài Quốc ca được sử dụng từ năm 1956 như sau. Các bạn chú ý xem hình chụp bản Quốc ca có nốt nhạc và hình cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa đính kèm dưới đây. (Chính là tấm hình kèm trong bài viết của tác giả Trần Gia Phụng.) Chúng ta thấy trong câu đầu của bài có 6 chữ “Quốc gia đến ngày giải phóng”.
TIẾNG GỌI CÔNG DÂN (QUỐC DÂN HÀNH KHÚC, áp dụng từ năm 1956):
Này Công Dân ơi! QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG.
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dù cho phơi thây trên gươm giáo,
Thù nước, lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người Công Dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống
Xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!
Các bạn cũng thấy rõ, bài Quốc ca mới Tiếng Gọi Công Dân đã được viết lại lời mới, toàn bài khác rất nhiều chữ với bài Tiếng Gọi Thanh Niên cũ của Lưu Hữu Phước. Ngay câu đầu, chúng ta thấy thay vì “Sinh viên ơi!” hay “Thanh niên ơi!”, chúng ta thay là “Công dân ơi!” Và sau đó là “QUỐC GIA đến ngày giải phóng”, chứ không còn là “TIẾN LÊN đến ngày giải phóng”.
Đến đây chúng ta lại thấy một hình chụp bài nhạc Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, trong đó có câu đầu “Này Công Dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!” (Xin xem hình thứ hai đính kèm cuối bài.)
Như vậy, cùng là bài Tiếng Gọi Công Dân thời Việt Nam Cộng Hòa, nhưng tại sao nguyên bản toàn bài đều khớp từng chữ mà câu đầu tiên lại khác nhau như trên?
Ai đó nói rằng “Những ai còn hát lời “đến ngày giải phóng” là còn chưa vạch rõ lằn ranh QUỐC CỘNG hoặc CHƯA bao giờ hát Quốc Ca hay chào Quốc Kỳ VNCH tại VN từ 1968”, như cô Lê Ngọc Túy Hương trích thuật, là một phát biểu quá khích, nhưng nói “từ 1968” là nói đúng, không sai. Bởi vì ngay sau khi Miền Nam chúng ta bất ngờ bị việt cộng tổng công kích vào Tết Mậu Thân năm 1968, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đã ra lệnh Tổng động viên đợt một để kêu gọi thanh niên Miền Nam tòng quân nhập ngũ bảo vệ quốc gia. Từ đây trở đi Đài Phát Thanh Sài Gòn đã bỏ câu “Quốc gia đến ngày giải phóng” mà đổi lại lời bài cũ của “Tiếng Gọi Sinh Viên” hồi trước là “Đứng lên đáp lời sông núi” cho phù hợp với đòi hỏi của thời cục mới đầy nguy cấp của đất nước.
Tuy vậy, tại các trường học của Miền Nam thời đó nhiều nơi vẫn còn quen dạy học sinh hát lời cũ “Quốc gia đến ngày giải phóng” mà không chú ý có sự thay đổi này.
Miền Nam Việt Nam còn bỏ hai chữ “giải phóng“ trong bài Quốc ca đi là vì hai chữ này đã bị việt cộng “độc chiếm” khi chúng đêm đêm phát loa khắp nơi kêu gào “giải phóng miền Nam”, và chúng đã lập ra cái gọi là “Mặt trận giải phóng miền Nam”.
Kết luận bài:
Anh chị em đã đọc một bài dài tôi trình bày nguyên ủy câu chuyện lịch sử kéo dài 36 năm của một bản nhạc nổi tiếng nhất Việt Nam, ra đời và thay đổi, gắn liền với bao thăng trầm đau thương của đất nước. Vấn đề lời ca của bản nhạc đã từng một thời là Quốc ca của Miền Nam Việt Nam, từ toàn văn nguyên bản đến những chữ của câu đầu tiên, đã gây nên bao thắc mắc và tranh luận, nay xem như đã được sáng tỏ.
Nói chính xác trở lại một lần nữa, theo hiểu biết chắc chắn của chính tôi, một người đã từng sống và từng hát bài Quốc ca qua cả hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, tôi biết rõ câu “Quốc gia đến ngày giải phóng” trong bài Tiếng Gọi Công Dân là lời lúc đầu, từ năm 1956 đến năm 1968, từ năm 1968 trở đi đã được chánh phủ Đệ Nhị Cộng Hòa sửa lại là “Đứng lên đáp lời sông núi” cho hợp với tình hình mới. Và câu “Đứng lên đáp lời sông núi” này vốn là một trong hai lời ca cũ của Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương năm 1941, không phải là lời của người Việt hải ngoại sửa lại sau năm 1975 vì lập trường chánh trị chống cộng sản, như một số người không am hiểu lịch sử đã nói.
Ban Quản Trị mong anh chị em đọc kỹ bài này để hiểu rõ ngọn ngành vấn đề, và nếu có thể, xin đem về trang riêng để nhiều đồng hương cùng đọc và cùng biết.
****
Trước khi kết thúc bài viết này, tôi cũng xin nói thêm một chút ngoài lề về dư luận thắc mắc tại sao Lưu Hữu Phước là cộng sản sống ở miền Bắc mà thời Việt Nam Cộng Hòa chúng ta lại chọn bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của ông ta làm bản quốc ca.
Lý do không khó hiểu: bài “Sinh Viên Hành Khúc” (sau gọi là “Tiếng Gọi Thanh Niên”) của Lưu Hữu Phước vốn là được sáng tác năm 1939 tại miền Nam vào thời Pháp thuộc, là tiếng nói của học sinh, sinh viên yêu nước kêu gọi thanh niên đứng lên chống giặc ngoại xâm, chứ không phải nhạc của thời kỳ Lưu Hữu Phước đã đi theo cộng sản.
Chúng ta sử dụng bài nhạc cũ và đổi lại tựa đề cũng như lời hát cho phù hợp với đất nước trong thời đại mới, hoàn toàn không khác việc Miền Nam chúng ta vẫn dạy văn chương của các nhà văn, nhà thơ Tiền Chiến như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, v.v., dù rằng về sau tất cả những văn nghệ sĩ này đều đi theo cộng sản. Chúng ta hoàn toàn có thể xem tất cả các tác phẩm văn nghệ thời Tiền Chiến, tức thời tiền cộng sản, là tài sản văn hóa chung muôn đời của quốc gia, bất luận tác giả là ai, về sau họ đi theo xu hướng chánh trị nào.
Lý do thứ hai. Bài quốc ca nước Pháp hiện nay được sáng tác năm 1792, bởi một nhạc sĩ nguyên là sĩ quan bảo hoàng tên Rouget de Lisle. Năm 1793 chế độ quân chủ của vua Louis XVI bị phong trào Cách Mạng Pháp lật đổ và nhà vua bị xử tử, Rouget de Lisle tuyên bố trung thành vĩnh viễn với nhà vua và cũng bị kết án tử hình, nhưng sau đó ông ta may mắn thoát chết. Vậy mà bài La Marseillaise của Rouget de Lisle, một tác phẩm của chế độ quân chủ cũ, vẫn được tân chánh phủ Cộng Hòa Pháp công nhận là bài nhạc hay nhất, và từ năm 1795 nước Pháp đã chọn làm bài Quốc ca cho quốc gia mình đến tận ngày nay.
Bài “Sinh Viên Hành Khúc” của Lưu Hữu Phước được tác giả viết nhạc theo thể hành khúc tương tự như bài La Marseillaise của Pháp, âm điệu hùng tráng, dồn dập, đầy khí vị kích động lòng yêu nước của thanh niên, nên đã được Quốc Hội Lập Hiến của chánh phủ Nguyễn Văn Xuân tại Miền Nam chọn làm bài Quốc ca vào năm 1948, và một lần nữa, vào năm 1956, bài nhạc này lại được Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm chọn làm Quốc ca cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.
Đây là môt vinh dự lớn đối với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhưng ông này, hổ thẹn thay, từ năm 1949, ở ngoài Bắc, đã nhiều lần theo lịnh đảng cộng sản bắc việt, lên đài phát thanh bác bỏ, bêu riếu Miền Nam đã sử dụng bài nhạc của ông ta làm quốc ca trái phép ... Chỉ vì ăn cơm đảng phải múa tối ngày, Lưu Hữu Phước đã không có nổi cái liêm sỉ chánh trực của một người miền Nam để từ chối cái lịnh đảng bắt ông ta phát ngôn để nói xấu miền Nam, trong khi bài nhạc đó ông ta làm ra từ thời chống Pháp ở tại miền Nam, và cũng không phải là nhạc ông ta sáng tác khi ông ta đã ra miền Bắc đi học và nhiều năm sau đó mới phục vụ cộng sản. Rồi sau khi cộng sản đã chiếm được miền Nam, Lưu Hữu Phước đã lập tức chạy về Nam sanh sống chứ không ở lại ngoài Bắc với đảng, nhưng hành động thời đó chứng tỏ ông ta là một người có tài nhưng hèn mọn, không có một chút can đảm để tự hào và hạnh phúc công khai như Rouget de Lisle của nước Pháp. Lưu Hữu Phước, khi đã thành người cộng sản, ông ta thật sự không có cái lòng tự trọng và lương tâm của một trí thức chân chính.
Mọi thiên tài Việt Nam đều trở nên đui cùi, què quặt, tự chôn vùi thanh danh và sự nghiệp của mình chỉ vì đi theo cộng sản. Tất cả những gì họ đã làm trong hơn nửa cuộc đời còn lại đều vô nghĩa và tăm tối; nó nhanh chóng đi vào quên lãng ngay cả khi chế độ cộng sản còn tồn tại vênh vang. Trong khi đó, Miền Nam Nhân Bản vẫn quý trọng và gìn giữ những giá trị văn hóa mà họ đã đóng góp thời thanh xuân, nhưng họ không hề biết ơn Miền Nam, hay dẫu ai đó có chút hối tiếc cũng không có nổi cái dũng cảm cốt khí để nói ra điều đó.
Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã nói một câu để đời về cộng sản như sau: “Những ai nghe theo lời cộng sản nói là người không có óc, những ai làm theo cộng sản là người không có trái tim”. Lời tổng kết này về người cộng sản thật là vô cùng chính xác và minh triết, không còn gì đúng đắn hơn.
Bài viết đến đây là hết. Cám ơn câu hỏi thắc mắc của cô Lê Ngọc Túy Hương. Cám ơn các bạn đã đọc bài.
Trang Anh Thạc
Quốc Ngữ Việt Nam Văn Hiến, 05-5-2024
***
Ảnh đính kèm:
1. Bài Quốc ca Tiếng Gọi Công Dân năm 1956.
2. Bài Quốc ca Tiếng Gọi Công Dân 1968 - 1975.


