SÁU ĐỜI TƯ LỆNH Không Quân Việt Nam Cộng Hòa

Collapse
X

SÁU ĐỜI TƯ LỆNH Không Quân Việt Nam Cộng Hòa

Collapse
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Nguyen Huu Thien
    Moderator

    • Jul 2014
    • 1304

    #1

    SÁU ĐỜI TƯ LỆNH Không Quân Việt Nam Cộng Hòa

    SÁU ĐỜI TƯ LỆNH
    Không Quân Việt Nam Cộng Hòa




    Nguyễn Hữu Thiện
    (trích Lý Tưởng Úc Châu số kỷ niệm Ngày Không Lực 1/7/2026)


    Từ ngày được chính thức thành lập, 1/7/1955, cho tới 30/4/1975, Không Quân Việt Nam (KQVN) có sáu đời Tư lệnh, gồm (với cấp bậc sau cùng):


    - Đại tá Trần Văn Hổ
    - Đại tá Nguyễn Xuân Vinh
    - Đại tá Huỳnh Hữu Hiền
    - Đại tá Đỗ Khắc Mai
    - Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ
    - Trung tướng Trần Văn Minh

    Một số tác giả viết KQVN có bảy vị Tư lệnh vì họ tính cả Đại tướng Nguyễn Khánh. Tuy nhiên, trên thực tế ông Nguyễn Khánh (lúc đó mang cấp bậc Trung tá, giữ chức vụ Tham mưu phó tại Bộ TTM) chỉ tạm thời đứng ra nhận bàn giao chức vụ Phụ tá Không Quân từ người Pháp để rồi hơn một tháng sau trao lại cho Thiếu tá Trần Văn Hổ của Không Quân.

    Vì trong cuốn “QUÂN LỰC VNCH trong giai đoạn hình thành 1946-1955” do Ban Quân Sử, Phòng 5 Bộ TTM ấn hành không đề cập tới việc này (ông Nguyễn Khánh nhận bàn giao quyền chỉ huy Không Quân), cho nên chúng tôi cũng không đưa ông vào danh sách Tư lệnh KQ để có sự thống nhất với cuốn quân sử của Bộ TTM.

    *DIỄN TIẾN VIỆC THÀNH LẬP KQVN

    Trước khi viết về sáu đời Tư lệnh chúng tôi xin sơ lược các diễn tiến trong việc thành lập KQVN.

    Ngày 25/6/1951, hơn một năm sau ngày thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, Quốc trưởng Bảo Đại đã ký dụ số 9 thành lập ngành Không Quân, theo đó một trung tâm huấn luyện sẽ được xây dựng để đào tạo các phi công và chuyên viên người Việt.

    Tháng 3/1952 Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang khai giảng Khóa 1 Hoa Tiêu.

    Ngày 1/5/1952, cùng với việc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được chính thức thành lập, một Ban Không Quân (Section Air) cũng được thành lập, đặt trong một căn phòng nhỏ phía sau của tòa nhà Bộ TTM trên đường Galliéni (đường Trần Hưng Đạo sau này).

    Ban Không Quân, về sau được đổi thành Phòng Không Quân (Département Air), do một Phụ tá Không Quân (Adjoint Air) cho Tổng tham mưu trưởng nắm giữ. Hai đời Phụ tá Không Quân đầu tiên đều là người Pháp: Trung tá Rouzaud và Đại tá Sagon.


    Ngày 1/7/1955, trong một buổi lễ trọng thể tổ chức tại Căn cứ Không Quân Nha Trang dưới sự chủ tọa của Thiếu tướng Lê Văn Tỵ, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, cờ Pháp được hạ xuống, cờ vàng ba sọc đỏ được thượng lên, đánh dấu ngày KQVN hoàn toàn làm chủ bầu trời đất nước; tại thủ đô Sài Gòn, chức vụ Phụ tá Không Quân cũng được Đại tá Sagon bàn giao cho Trung tá Nguyễn Khánh.



    Lễ thượng kỳ Quốc Gia Việt Nam tại CCKQ Nha Trang, các phi cơ MD-315 của Phi Đoàn Tác Chiến & Liên Lạc ở hậu cảnh

    Thiếu tướng Lê Văn Tỵ, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, đọc diễn văn

    Phi cơ MS-500 của Phi Đoàn 1 Quan Sát phi diễn trong buổi lễ

    Ngày 20/8/1955, chức vụ Phụ tá Không Quân được Trung tá Nguyễn Khánh giao lại cho Thiếu tá Trần Văn Hổ.

    Khi quyền chỉ huy Không Quân được chuyển giao cho phía Việt Nam cũng là thời gian Bộ Tư Lệnh Không Quân Pháp tại Viễn Đông ở số 110 đường Testard (Trần Quý Cáp sau này) bị giải thể, Văn phòng Phụ tá Không Quân tới chiếm ngụ ngôi biệt thự này.



    Biệt Thự số 110 Testard (Trần Quý Cáp), bản doanh đầu tiên của KQVN

    Vào thời điểm nói trên, cùng với bộ tham mưu tại Sài Gòn, tổ chức và lực lượng của KQVN gồm có:

    - Căn Cứ Chiến Thuật KQ số 1 (Nha Trang), Chỉ huy trưởng: Đại úy Võ Dinh

    - TTHLKQ Nha Trang, Chỉ huy trưởng: Đại úy Nguyễn Ngọc Oánh

    - Phi Đoàn Tác Chiến & Liên Lạc (Nha Trang), Chỉ huy trưởng: Đại úy Đinh Văn Chung

    - Phi Đoàn 1 Vận Tải (Tân Sơn Nhất), Chỉ huy trưởng: Đại úy Nguyễn Cao Kỳ

    - Phi Đoàn 1 Quan Sát (Huế), Chỉ huy trưởng: Đại úy Nguyễn Ngọc Oánh (sau đó bàn giao cho Đại úy Trần Phước)

    - Phi Đoàn 2 Quan Sát (Nha Trang), Chỉ huy trưởng: Đại úy Võ Dinh (sau đó bàn giao cho Đại úy Nguyễn Văn Lượng)

    - Phi Đội Liên Lạc (tức Phi Đoàn VIP, Tân Sơn Nhất), Chỉ huy trưởng: Đại úy Huỳnh Hữu Hiền (tới đầu năm 1956 bàn giao cho Đại úy Phạm Ngọc Sang)

    - Công Xưởng Không Quân (Biên Hòa), Giám đốc: Trung úy Lê Văn Khương.

    Tổng số phi cơ là 58 chiếc, gồm các loại liên lạc, vận tải C-45, C-47, Beech 18, Seabee (thủy phi cơ), MD-315 và quan sát MS-500.

    Nhân sự gồm 1.345 người (không kể các khóa sinh đang thụ huấn tại Pháp hoặc thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi).


    1- Đại tá TRẦN VĂN HỔ (tại chức 1955-1957)



    Ông Trần Văn Hổ sinh năm 1928 tại Chợ Lớn.

    Tình nguyện nhập ngũ ngày 24/9/1949, theo học Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch tại Trường Sĩ Quan Việt Nam ở Đập Đá,
    Huế (tiểu sử của ông trên Wikipedia ghi ông xuất thân Khóa 1 Sĩ Quan Hiện Dịch là sai).

    Ngay từ trong quân trường, tên họ của ông được thêm chữ Paul phía trước để phân biệt với một bạn đồng khóa cùng tên họ có quốc tịch Pháp là Blanchard Trần Văn Hổ, sau này cũng mang cấp bậc Đại tá, có thời gian giữ chức vụ Giám đốc Nha Kỹ Thuật thuộc Bộ TTM.

    Trường Sĩ Quan Đập Đá chính là tiền thân của Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, tức Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam sau này. Thành lập ngày 1/12/1948, sau hai năm đã đào tạo được hai khóa: Khóa 1 Phan Bội Châu (1948-1949) và Khóa 2 Quang Trung (1949-1950). Bắt đầu từ Khóa 3, trường dời về Đà Lạt.

    Sau khi ra trường, Thiếu úy Trần Văn Hổ thuyên chuyển sang Không Quân, được gửi đi học Khóa 52F2 tại trường bay căn bản Marrakech ở Maroc (thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi), cùng với hai Thiếu úy Nguyễn Cao Kỳ, Trịnh Hảo Tâm và 19 dân chính trong số đó có hai ông Lưu Kim Cương, Phan Thanh Vân (các dân chính khi tốt nghiệp mang cấp bậc Trung sĩ, về nước được được Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đặc cách thăng cấp Chuẩn úy).




    Khóa 52F2 Marrakech, hàng ngồi, từ trái: Phan Thanh Vân, Lưu Lim Cương,
    Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Hổ, Trịnh Hảo Tâm, Nguyễn Mai Lâm

    Tốt nghiệp hoa tiêu quan sát, về nước ông Trần Văn Hổ phục vụ tại Phi Đoàn 1 Quan Sát dưới quyền Đại úy Nguyễn Ngọc Oánh.

    Tháng 8/1955, Trung úy Trần Văn Hổ đang làm Biệt đội trưởng Biệt Đội Quan Sát tham gia cuộc hành quân Atlante tiếp thu Quân khu 5 (Nam-Ngãi-Bình-Phú) thì được Biệt Bộ Phủ Thủ Tướng gọi về trình diện, được ông Trần Trung Dung, Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng, ký hai nghị định thăng cấp cùng một lúc: Trung úy lên Đại úy thực thụ, Đại úy thực thụ lên Thiếu tá nhiệm chức, và được bổ nhiệm vào chức vụ Phụ tá Không Quân ngày 20/8/1955.

    Theo lời một số vị niên trưởng trong KQVN, Trung úy Trần Văn Hổ được bổ nhiệm vào chức vụ Phụ tá Không Quân rất có thể là nhờ sự “tiến cử” của người bạn đồng khóa (Khóa 2 Đập Đá) là Thiếu tá Huỳnh Văn Cao, lúc đó đang giữ chức Tham mưu trưởng Biệt Bộ Phủ Thủ Tướng.

    Ba tháng sau, vào ngày thành lập nền Đệ nhất Cộng Hòa, 26/10/1955, Thiếu tá Trần Văn Hổ được thăng cấp Trung tá; và qua năm 1956, vinh thăng Đại tá.

    Tháng 1/1957, Văn phòng Phụ tá Không Quân từ đường Trần Quý Cáp dời vào phi trường Tân Sơn Nhất.

    Tháng 10 năm 1957 (có tài liệu ghi đầu năm 1958), Đại tá Trần Văn Hổ được lệnh bàn giao chức vụ Phụ tá Không Quân cho Trung tá Nguyễn Xuân Vinh.

    Chúng tôi không được rõ về các chức vụ sau đó của Đại tá Trần Văn Hổ, chỉ biết đại khái ông phục vụ ở Bộ TTM.

    Sau năm 1975, ông định cư tại Pháp và đã có lần sang Hoa Kỳ thăm bạn bè Không Quân.

    Thật là một điều đáng tiếc khi ông qua đời, tin tức không được loan tải rộng rãi, và hình như không có bài viết nào về cuộc đời của ông – vị chỉ huy tiên khởi của KQVN.



    2- Đại tá NGUYỄN XUÂN VINH (tại chức 1957-1962)



    Ông Nguyễn Xuân Vinh sinh năm 1930 tại Yên Bái, trong một gia đình có nhiều người thành đạt, hoặc có tên tuổi trong giới cầm bút.

    Năm 1950, ông tốt nghiệp Tú tài toàn phần chương trình Pháp tại Hà Nội, và theo học Cử nhân Toán.


    Tháng 9 năm 1951, thi hành lệnh tổng động viên của Quốc trưởng Bảo Đại, ông nhập ngũ theo học Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị tại Nam Định. Tốt nghiệp tháng 6 năm 1952, ông phục vụ trong ngành Công Binh.

    Cuối năm đó, ông xin thuyên chuyển sang Không Quân và được tuyển vào Trường Võ bị Không quân Pháp (École de l'Air) ở Salon de Provence. Sau đó, ông được theo ngành vận tải & oanh tạc tại trường Vận tải Avord.

    Trong thời gian ở Salon de Provence, ông ghi danh theo học tại Đại học Aix-Marseille và thi đậu bằng Cử nhân Toán.

    Đầu năm 1955, với cấp bậc Trung úy ông về nước phục vụ một thời gian ngắn tại Phi Đoàn Tác Chiến & Liên Lạc của Đại úy Đinh Văn Chung.

    Cuối năm 1955, ông được thăng cấp Đại úy, về làm Trưởng phòng Nhân Viên tại Văn Phòng Phụ tá Không Quân. Tháng 10 năm 1956, thăng cấp Thiếu tá.

    Khoảng đầu năm 1957, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tham mưu trưởng Không Quân thay Thiếu tá Lê Trung Trực; tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá, và được bổ nhiệm vào chức vụ Phụ tá Không Quân thay Đại tá Trần Văn Hổ.

    Năm 1959, ngành Không Quân chính thức trở thành một quân chủng trong Quân Đội VNCH, Văn phòng Phụ tá Không Quân được nâng lên thành Bộ Tư Lệnh Không Quân, chức vụ Phụ tá Không Quân của Trung tá Nguyễn Xuân Vinh trở thành Tư Lệnh Không Quân. Năm 1961, ông được vinh thăng Đại tá.


    Ngày 27 tháng 2 năm 1962, trong thời gian Đại tá Nguyễn Xuân Vinh đang công du Nhật Bản, hai phi công khu trục của Phi Đoàn 514 đồn trú ở Biên Hòa là Trung úy Phạm Phú Quốc, Trưởng phòng Hành Quân, và Trung úy Nguyễn Văn Cử trong một phi vụ (dự trù) yểm trợ quân bạn tại Vùng 4 Chiến Thuật, đã bay vào Sài Gòn oanh tạc dinh Độc Lập, gây thiệt hại khá nặng về vật chất.

    Sau khi sự việc xảy ra, ông Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng Trần Trung Dung xin từ chức, và tới tháng 7 năm đó, Đại tá Nguyễn Xuân Vinh cũng xin từ chức Tư lệnh Không Quân và được Tổng thống Ngô Đình Diệm chấp thuận.

    Sau đó, ông Nguyễn Xuân Vinh xin giải ngũ để sang Hoa Kỳ tiếp tục con đường học vấn. May mắn cho ông, đúng vào thời gian nói trên Cơ quan Quản trị Hàng Không và Không Gian Quốc Gia Hoa Kỳ (NASA) tài trợ cho Đại học Colorado một học bổng Tiến sĩ về “nghiên cứu công trình tính toán quỹ đạo tối ưu cho phi thuyền không gian”.

    Ông Nguyễn Xuân Vinh đoạt được học bổng này. Kết quả, ông trở thành người Việt đầu tiên và cũng là nghiên cứu sinh đầu tiên của Đại học Colorado được cấp bằng Tiến sĩ Khoa học Không gian. Theo trang mạng Wikipedia, những lý thuyết về tính toán quỹ đạo tối ưu cho phi thuyền không gian của ông Nguyễn Xuân Vinh “đã góp phần quan trọng trong việc đưa các Phi thuyền Apollo lên Mặt trăng thành công, đồng thời cũng được ứng dụng vào việc thu hồi các Phi thuyền con thoi trở về Trái đất an toàn”.


    Tiếp theo, ông Nguyễn Xuân Vinh sang Pháp lấy bằng Tiến sĩ Quốc gia Toán tại đại học danh tiếng Sorbonne (trước đây ông đã có bằng Cử nhân Toán tại Đại học Aix-Marseille). Sau đó ông trở thành Giáo sư giảng dạy tại đại học cho tới khi về hưu vào năm 1999.



    Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh tại phi trường Melbourne trong chuyến thăm Úc năm 1998


    Tại TTSH/CQN TB Victoria, từ trái, cựu Tư lệnh KQVN, KQ Nguyễn Hữu Thiện, KQ Vũ Văn Bảo, Hội trưởng HAHKQ

    Ông Nguyễn Xuân Vinh qua đời ngày 23/7/2022 tại Costa Mesa, California, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 92 tuổi.

    Trong số tác phẩm văn học ông để lại, nổi tiếng nhất là truyện dài Đời Phi Công, đoạt Giải thưởng Văn chương Toàn quốc năm 1961 của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.


    3- Đại tá HUỲNH HỮU HIỀN (tại chức 1962-1963)


    Tháng 7 năm 1962, Trung tá Huỳnh Hữu Hiền lên làm Tư Lệnh Không Quân thay Đại tá Nguyễn Xuân Vinh và được vinh thăng Đại tá.

    Ông Huỳnh Hữu Hiền sinh năm 1930, là người miền Nam (không rõ địa phương).

    Sau khi lệnh tổng động viên năm 1950 được ban hành, tháng 10 năm 1951, ông nhập ngũ theo học Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (khóa Lê Văn Duyệt).

    Tốt nghiệp tháng 6/1952 với cấp bậc Thiếu úy, ông tình nguyện gia nhập Không Quân cùng với một số bạn đồng khóa 1 Thủ Đức, trong đó có Thiếu úy Huỳnh Bá Tính, Thiếu úy Phạm Ngọc Sang.

    Sau đó ba ông và hai sĩ quan khác đã thuyên chuyển về Không Quân là Thiếu úy Phan Phụng Tiên, Khóa 1 Nam Định, và Thiếu úy Đinh Văn Chung, Khóa 3 Võ Bị Đà Lạt, cùng một số dân chính được tuyển thẳng vào Không Quân, được gửi sang trường bay căn bản ở Marrakech, Maroc, theo học Khóa 52F1.


    Các sĩ quan học khóa này chỉ sau ông Lê Trung Trực (Khóa 51H) và trước các ông Trần Văn Hổ, Nguyễn Cao Kỳ, Trịnh Hảo Tâm… (Khóa 52F2.

    Sau khi mãn khóa, ông Huỳnh Hữu Hiền được tuyển về ngành vận tải & oanh tạc, cùng với các ông Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Bá Tính, Đinh Văn Chung, và Phan Phụng Tiên.

    Cũng nên biết, khi tốt nghiệp tại trường bay căn bản Marrakech trên phi cơ huấn luyện T-6, những người đậu cao mới được ưu tiên chọn ngành vận tải & oanh tạc (gọi chung là “phi cơ nhiều động cơ”), kế tới là khu trục, hoặc về nước để bay phi cơ quan sát.

    * * *

    Sau khi tốt nghiệp trên phi cơ 2 động cơ Marccel Dassault MD-312 tại Trường vận tải ở Avord ở nội địa Pháp, các khóa sinh hoặc được đưa tới trường oanh tạc Blida ở Algérie (cũng là thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi), hoặc các đơn vị vận tải của Pháp trang bị C-47 Dakota để ngồi ghế phi công phụ.




    Một số khóa sinh Việt Nam (đàn em) tại Trường vận tải Avord vào năm 1955;
    Thiếu úy Nguyễn Huy Ánh hàng ngồi
    , thứ 5 từ trái

    Sau khi ngồi ghế phi công phụ 6 tháng, các khóa sinh được tuyển chọn theo học tại trường CIET (viết tắt của tiếng Pháp Centre d’Instruction des Equipages de Transport: Trung tâm Huấn luyện Phi hành đoàn Vận tải) để trở thành phi công chánh, có khả năng điều khiển phi cơ trong mọi điều kiện thời tiết, thường gọi là “bằng bay trời mù”.

    Ông Huỳnh Hữu Hiền là một trong hai hoa tiêu vận tải đầu tiên của KQVN tốt nghiệp trường CIET, người kia là ông Phạm Ngọc Sang.

    Về nước, ông Huỳnh Hữu Hiền phục vụ tại Phi Đoàn 312 Đặc Nhiệm. Ít lâu sau, phi đoàn này cải danh thành Phi Đội Liên Lạc Việt Nam (ELAVN), có nhiệm vụ chuyên chở các yếu nhân trong chính phủ nên còn được gọi bằng danh xưng không chính thức là “Phi đoàn VIP”. Tới tháng 6/1955, quyền chỉ huy Phi Đội Liên Lạc được người Pháp bàn giao cho Đại úy Huỳnh Hữu Hiền.

    Tháng 10 cùng năm, khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được khai sinh (26/10/1955), để chuẩn bị việc thành lập phi đoàn khu trục đầu tiên của KQVN, Đại úy Huỳnh Hữu Hiền được lệnh bàn giao Phi Đội Liên Lạc cho Đại úy Phạm Ngọc Sang để trở sang Bắc Phi và Pháp theo học khóa huấn luyện viên khu trục, cùng với Đại úy Nguyễn Kim Khánh và các Trung úy Dương Thiệu Hùng, Huỳnh Bá Tính, Hà Xuân Vịnh.

    Sau khi bay lại trên phi cơ huấn luyện T-6 ở Marrakech, năm sĩ quan này được đưa sang trường bay khu trục của Hải Quân Pháp ở Khouribga, cũng ở Maroc, để thực tập 30 giờ trên khu trục cơ F6F Hellcat.


    Hơn nửa năm sau, tháng 4/1956, Đại úy Huỳnh Hữu Hiền và nhóm huấn luyện viên khu trục nói trên trở về nước, được đưa ra Vũng Tầu để đảm trách việc xuyên huấn cho các hoa tiêu khu trục.

    Ngày 1/6/1956, Phi Đoàn 1 Khu Trục & Trinh Sát (tiền thân của Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng) được chính thức thành lập tại Căn Cứ 2 Trợ Lực (Biên Hòa); Chỉ huy trưởng: Đại úy Huỳnh Hữu Hiền.

    Mấy tháng sau, khi Thiếu tá Võ Dinh, Chỉ huy trưởng Căn Cứ 2 Trợ Lực, ra Đà Nẵng để tiếp nhận Căn Cứ 4 từ tay người Pháp, ông Huỳnh Hữu Hiền, lúc này đã vinh thăng Thiếu tá, lên làm Chỉ huy trưởng Căn Cứ 2 trong khi vẫn kiêm nhiệm Chỉ huy trưởng Phi Đoàn 1 Khu Trục.



    Huế, 1957. Thiếu tá Huỳnh Hữu Hiền (thứ ba từ trái) và phi hành đoàn đưa TT Ngô Đình Diệm về chúc tết thân mẫu TT

    Cuối năm 1957, Thiếu tá Huỳnh Hữu Hiền về Tân Sơn Nhất thay thế Trung tá Nguyễn Xuân Vinh trong chức vụ Tham mưu trưởng Không Quân, và vinh thăng Trung tá.

    Tháng 7 năm 1962, Trung tá Huỳnh Hữu Hiền lên làm Tư Lệnh Không Quân thay Đại tá Nguyễn Xuân Vinh (xin giải ngũ để đi du học), và được vinh thăng Đại tá.


    * * *

    Đại tá Huỳnh Hữu Hiền giữ chức Tư lệnh Không Quân cho tới khi xảy ra cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963, thì bị các tướng lãnh buộc phải giải ngũ.

    Theo cuốn hồi ký “Việt Nam máu lửa Quê Hương tôi” của cựu Thiếu tướng Đỗ Mậu (mà trong đó có nhiều chi tiết tác giả nhớ sai), ông Huỳnh Hữu Hiền là một trong năm sĩ quan phản đối đảo chánh trong buổi họp trưa 1/11/1963 tại Bộ Tổng Tham Mưu và bị bắt giam. Tuy nhiên trên thực tế, lúc đó ông Huỳnh Hữu Hiền đang ở Đà Lạt.

    Theo hồi ký của cựu Trung tá KQ Trần Đỗ Cung – người đã làm trung gian giới thiệu Trung tá Nguyễn Cao Kỳ với Thiếu tướng Đỗ Mậu (phe đảo chánh) - và ký ức của các vị niên trưởng trong Không Quân, chỉ sau khi được lệnh về Sài Gòn trình diện Bộ Tổng Tham Mưu vào xế chiều ngày hôm đó, Đại tá Huỳnh Hữu Hiền mới bị giam giữ (chung với Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù).

    Sau khi cuộc đảo chánh thành công, Đại tá Huỳnh Hữu Hiền được thả và bị buộc giải ngũ.

    Tới giữa năm 1965, sau khi Đại tá Phạm Long Sửu, nguyên Tham mưu trưởng Không Quân, được trao chức vụ Tổng giám đốc Hàng Không Việt Nam, ông Huỳnh Hữu Hiền xin lái phi cơ dân sự làm kế sinh nhai.

    Sau năm 1975, ông bà định cư tại Houston, Texas, sau đó di chuyển sang California.




    Cựu TLKQ Huỳnh Hữu Hiền (bên phải) trong Đêm Không Gian 2013 tại California,
    cựu Đại tá Phùng Văn Chiêu đứng thứ hai từ trái

    Ông qua đời vào ngày 25 tháng 3 năm 2017. Hưởng thọ 87 tuổi.


    4- Đại tá ĐỖ KHẮC MAI (tại chức 1963-1964)



    Trở lại với cuộc đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963, trước khi Đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không Quân, từ Đà Lạt trở về và bị giam giữ tại Bộ TTM, Thiếu tá Đỗ Khắc Mai, Tham mưu trưởng Không Quân, đã được các tướng lãnh đảo chánh trao chức vụ Tư lệnh Không Quân, được thăng hai cấp lên Đại tá!

    Ông Đỗ Khắc Mai sinh năm 1927 tại Bắc Việt, xuất thân Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Nam Định (một vài tài liệu ghi ông học Khóa 1 Thủ Đức là không đúng).

    Sau khi tốt nghiệp ông xin chuyển sang Không Quân, theo học Khóa 1 Quan sát viên tại TTHLKQ Nha Trang. Khóa này kéo dài 6 tháng, gồm 6 học viên đều là sĩ quan đã tốt nghiệp tại các trường Sĩ quan Hiện dịch, Sĩ quan Trừ bị, hoặc trường Sĩ Quan Nước Ngọt, sau một thời gian phục vụ bên Lục quân đã xin thuyên chuyển sang Không Quân để theo học khóa nói trên, gồm có:

    - Phùng Văn Chiêu
    - Nguyễn Đình Giao
    - Lê Minh Luân
    - Đỗ Khắc Mai
    - Đinh Thạch On
    - Trần Phước

    Khóa 1 Quan sát viên được khai giảng vào đầu tháng 10/1952, và kéo dài 6 tháng.


    Sáu người cùng tốt nghiệp ra trường, nhưng khi đổi tới 1er GAO (sau này là Phi Đoàn 1 Quan Sát), dưới quyền chỉ huy của Đại úy Pháp Cotet, chỉ có ba ông Trần Phước, Nguyễn Đình Giao, Đinh Thạch On bay hành quân nhiều, còn ông Phùng Văn Chiêu đau hệ thống hô hấp, bay cao bị nghẹt thở, ông Đỗ Khắc Mai đau tai, và ông Lê Minh Luân đau mũi nên không bay bao nhiêu.

    Tôi không tìm được bất cứ tài liệu nào nói về binh nghiệp của ông Đỗ Khắc Mai từ lúc về Phi Đoàn 1 Quan Sát (năm 1953) cho tới khi làm Chỉ huy trưởng TTHLKQ Nha Trang vào năm 1960.


    Theo một số vị niên trưởng trong Không Quân, từ Nha Trang ông Đỗ Khắc Mai được “ưu ái” đưa về Tân Sơn Nhất giữ chức Tham mưu trưởng Không Quân vì ông là một đảng viên Cần Lao “gộc” (đảng Cần Lao Nhân Vị do ông Cố vấn Ngô Đình Nhu sáng lập nhưng để TT Ngô Đình Diệm đứng đầu).

    Nhưng tại sao một đảng viên Cần Lao “gộc” lại tham gia cuộc đảo chánh vị lãnh tụ đảng của mình (Tổng thống Ngô Đình Diệm)?

    Ngày ấy, hầu như mọi người đều tin rằng ông Đỗ Khắc Mai là một người quyền biến, gió chiều nào theo chiều nấy, vào giờ phút chót đã theo phe đảo chánh để tiến thân. Chỉ tới khi các hồ sơ mật của người Mỹ liên quan tới cuộc đảo chánh được giải mật sau thời hạn 30 năm, người ta mới biết ông Đỗ Khắc Mai, vốn là một Phật tử, đã có ý định tham gia đảo chánh từ giữa năm 1963.


    Trong công điện của Quyền Đại sứ Hoa Kỳ William Trueheart gửi về Bộ Ngoại giao, đề ngày 11/6/1963, có đoạn:

    “Theo nguồn tin của chúng ta, vị Tham mưu trưởng của KQVN (Thiếu tá Đỗ Khắc Mai, là một Phật tử) đã đưa ra nhận xét rằng ông và các sĩ quan cao cấp khác đã chán ngấy với tình hình chính trị, và ông không thể hiểu tại sao người Mỹ cứ đứng ngoài cuộc và đánh mất cơ hội bằng vàng để chấn chỉnh tình hình ở Việt Nam; rõ ràng là ông Mai có ý lật đổ chính quyền.”

    Nội dung công điện của ông William Trueheart đã giải tỏa nhiều thắc mắc liên quan tới nội tình và vai trò của Không Quân trong cuộc đảo chánh năm 1963, trong đó có thắc mắc: Trung tá Nguyễn Cao Kỳ là khuôn mặt nổi bật của Không Quân trong cuộc đảo chánh, tại sao chức Tư lệnh Không Quân lại về tay Thiếu tá Đỗ Khắc Mai?!


    Nhưng chỉ sau ba tháng, hoạn lộ của ông Đỗ Khắc Mai đã chấm dứt một cách khá phũ phàng!

    N
    gày 2/11/1963, tức là chỉ một ngày sau khi cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm thành công, cùng với các tướng tá trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, Trung tá Nguyễn Cao Kỳ được thăng một cấp lên Đại tá.

    Ngày 30 tháng 1 năm 1964, ông tham gia cuộc "chỉnh lý" nội bộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Trung tướng Nguyễn Khánh cầm đầu. Trở thành cánh tay mặt của tướng Khánh, tới ngày 12 tháng 3 năm 1964, ông được chính thức bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Không Quân thay Đại tá Đỗ Khắc Mai.

    Ông Đỗ Khắc Mai bị đưa đi làm Tùy viên Quân sự ở Tây Đức. Một đi không trở lại. (1)


    5- Thiếu tướng NGUYỄN CAO KỲ (tại chức 1964-1967)


    Ông Nguyễn Cao Kỳ sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Ông học trung học tại trường Bưởi ở Hà Nội và có bằng Tú tài Pháp (Phần 1).

    Tháng 9 năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông theo học Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị tại Nam Định, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1951.

    Ngày 1 tháng 6 năm 1952, mãn khóa với cấp bậc Thiếu úy, ông được đưa về một đơn vị Bộ binh ở châu thổ sông Hồng, giữ chức Trung đội trưởng. Tháng 12 cùng năm, ông trúng tuyển vào Không Quân và được gửi đi học Khóa 52F2 tại trường bay căn bản Marrakech ở Maroc.

    Mãn khóa, ông được đưa tới Trường Vận Tải ở căn cứ Không Quân Avord, phía nam Thủ đô Paris, để được huấn luyện trên máy bay 2 động cơ MD 312/315, tiếp theo là C-47 Dakota, để lấy bằng hoa tiêu chánh.

    * * *
    Ngày 1/6/1955, một tháng trước ngày người Pháp bàn giao quyền chỉ huy Không Quân cho người Việt, Phi Đoàn 1 Vận Tải được thành lập tại Tân Sơn Nhất, đặt dưới quyền chỉ huy của Đại úy Nguyễn Cao Kỳ.

    Ngày 1/7/1955, toàn bộ phi cơ C-47 của GT 2/63 Sénégal - một trong ba phi đoàn vận tải của Pháp tại Đông Dương - gồm 22 chiếc được chuyển giao cho Phi Đoàn 1 Vận Tải.

    Một năm sau, Phi Đoàn 2 Vận Tải được thành lập, hợp với Phi Đoàn 1 Vận Tải thành Liên Phi Đoàn 1 Vận Tải, Chỉ huy trưởng: Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ.


    Ngày Quốc khánh 26 tháng 10 năm 1962, ông được thăng cấp Trung tá.

    Trong năm 1963 (không rõ thời điểm), Liên Phi Đoàn 1 Vận Tải bị giải tán, Phi Đoàn 1 và Phi Đoàn 2 được tách ra làm 2 phi đoàn như trước.

    Trung tá Nguyễn Cao Kỳ, Chỉ huy trưởng Liên Phi Đoàn, ngồi chơi xơi nước, chờ được bổ nhiệm một chức vụ nào đó ở TTHLKQ Nha Trang.

    Theo hồi ký của cựu Trung tá KQ Trần Đỗ Cung, khi các tướng lãnh tiến hành âm mưu đảo TT Ngô Đình Diệm, Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội, đã nhờ ông Cung “giới thiệu” một nhân vật uy tín trong Không Quân tham gia đảo chánh (vì các tướng lãnh biết Đại tá Huỳnh Hữu Hiền là người trung thành với ông Diệm).

    Ông Cung đã nghĩ tới Trung tá Nguyễn Cao Kỳ vì ông có nhiều tham vọng lại đang bất mãn. Ông Nguyễn Cao Kỳ nhận lời, và sau cuộc đảo chánh, được thăng cấp Đại tá.



    Sài Gòn, tháng 11/1963. Hội đồng Quân nhân Cách mạng và chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ.
    Đại tá Nguyễn Cao Kỳ đứng hàng sau cùng (có mũi tên)

    Là một trong những sĩ quan trẻ ủng hộ tướng Nguyễn Khánh trong cuộc “chỉnh lý” lật đổ tướng Dương Văn Minh, Đại tá Nguyễn Cao Kỳtrở thành cánh tay mặt của tướng Nguyễn Khánh, đường binh nghiệp lên như diều gặp gió.

    Chưa đầy 5 tháng sau được chính thức bổ nhiệm làm Tư lệnh Không Quân, ngày 8 tháng 4, 1964 ông được thăng cấp Chuẩn tướng.


    Trước đó Quân Đội VNCH theo quy chế cấp tướng trong quân đội Pháp, nghĩa là không có cấp bậc chuẩn tướng (1 sao) mà từ đại tá lên thẳng thiếu tướng (2 sao). Sau khi lật đổ Dương Văn Minh, tướng Nguyễn Khánh muốn thưởng công cho các đàn em cấp đại tá lên thiếu tướng nhưng gặp phải sự chống đối kịch liệt từ các tướng lãnh cựu trào.

    Vì thế tướng Khánh mới nảy sinh “sáng kiến” cho thiết lập thêm cấp chuẩn tướng trong Quân Đội VNCH (giống Quân Đội Hoa Kỳ) để gắn 1 sao cho ông Nguyễn Cao Kỳ và một số đại tá trẻ khác.

    Cuối tháng 7/1964, ông Nguyễn Cao Kỳ cho thành lập Biệt Đoàn 83 Thần Phong, được xem là lực lượng không quân riêng của ông vì đơn vị này không nằm trong tổ chức của BTL/KQ.



    Thiếu tướng​ Nguyễn Cao Kỳ​ và một số hoa tiêu khu trục của Biệt Đoàn 83

    Ngày 21 tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng, tạo kỷ lục trong quân đội: từ đại tá lên thiếu tướng chỉ mất hơn 6 tháng!

    Giữa năm 1965, khi Quân Đội đứng ra nắm chính quyền (Ngày Quân Lực 19 tháng 6), ông Nguyễn Cao Kỳ được cử giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (tương đương Thủ tướng Chính phủ), trong khi vẫn kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Không Quân.




    Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu trong một buổi lễ

    Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1967, ông Nguyễn Cao Kỳ đứng chung liên danh với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và thắng cử. Sau khi tuyên thệ nhậm chức Phó Tổng thống vào ngày 31 tháng 10, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Không Quân cho vị Tư lệnh phó là Chuẩn tướng Trần Văn Minh.

    Sau 30/4/1975, ông Nguyễn Cao Kỳ định cư tại Mỹ, từng bốn lần về Việt Nam. Lần cuối cùng, trên đường từ Việt Nam trở lại Mỹ, ông bị đột quỵ trên đoạn đường bay từ Sài Gòn tới Kuala Lumpur, và qua đời tại một bệnh viện ở thủ đô Mã Lai ngày 22 tháng 7 năm 2011, hưởng thọ 81 tuổi.

    Thi hài của ông được hỏa táng tại Mã Lai, tro cốt được thân nhân đưa về Mỹ.




    Hai cựu Tư lệnh KQVN Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Xuân Vinh trong một dịp "hội ngộ" hiếm hoi tại Hoa Kỳ;
    có cả cựu Trung úy Lý Tống (dấu X)


    6- Trung tướng TRẦN VĂN MINH (tại chức 1967-1975)


    Vị Tư lệnh Không Quân sau cùng, cũng là người nắm chức vụ lâu nhất (7 năm rưỡi) là Trung tướng Trần Văn Minh.

    Ông Trần Văn Minh sinh năm 1932 tại Bạc Liêu trong một gia đình điền chủ khá giả. Tới bậc Trung học, ông được gia đình gửi lên Cần Thơ học ở Trường Trung học Phan Thanh Giản.

    Năm 1948, sau khi đậu bằng Thành Chung (Diplôme), ông lên Sài Gòn theo học ở trường Cao đẳng Công chánh; ra trường năm 1951 với chứng chỉ tốt nghiệp tương đương với văn bằng Tú tài toàn phần.

    Tháng 9 năm 1951, ông tình nguyện nhập ngũ, theo học khóa 1 Lê Văn Duyệt tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, tốt nghiệp tháng 6 năm 1952 với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông phục vụ tại một đơn vị Pháo binh cho tới tháng 12 cùng năm, rồi trúng tuyển vào Không Quân, theo học Khoá 2 Quan sát viên tại TTHLKQ Nha Trang. Mãn khóa năm 1953, ông được lưu lại trường làm Huấn luyện viên cho Khóa 3 Quan sát viên.


    Thuở ban đầu (1952): một số quân nhân KQVN và KQ Pháp. Thiếu úy Trần Văn Minh (đội beret)
    hàng ngồi, Thiếu úy Võ Dinh đứng hàng đầu, thứ hai từ phải

    Những tài liệu chúng tôi có được cũng như hồi ký của các vị niên trưởng trong Không Quân có những chi tiết không thống nhất về binh nghiệp của ông Trần Văn Minh trước khi ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không Đoàn 62 Chiến Thuật ở Pleiku vào đầu tháng 3/1964.

    Tiểu sử của ông trên Wikipedia cũng có nhiều chi tiết thiếu chính xác, chẳng hạn ngày ông được vinh thăng Chuẩn tướng, trang mạng này viết:


    “Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Không Quân thay thế Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Đầu tháng 12 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng”.

    Chi tiết này sai hoàn toàn: những hình ảnh về buổi lễ chuyển giao phản lực cơ F-5 cho KQVN tại CCKQ Biên Hòa diễn ra trước đó 6 tháng (ngày 1/6/1967) cho thấy lúc đó ông Trần Văn Minh đã mang một sao rồi.

    Vì thế, trong bài này chúng tôi chỉ xin ghi lại những gì được biết chắc chắn.



    Normandy, Pháp quốc, năm 1955, từ trái, các NT Nguyễn Văn Trương (Dù), Trần Văn Minh, và Vũ Văn Ước

    Năm 1955, Trung úy Trần Văn Minh qua Pháp theo học tại trường Võ Bị Không Quân Pháp Salon de Provence. Không biết rõ ông tốt nghiệp ngành gì chỉ biết khi về nước vào đầu năm 1956, ông được thăng cấp đại úy và được trao chức vụ Giám đốc Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến vừa được thành lập.

    Chữ “Không Chiến” ở đây không có nghĩa là đánh nhau trên trời mà là viết tắt của mấy chữ “Không Quân Chiến Thuật”, được dịch từ hai chữ “Aériennes Tactiques” trong danh xưng bằng tiếng Pháp lúc ban đầu “Centre d’Opérations Aériennes Tactiques”, viết tắt là COAT.

    Nhiệm vụ của Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến là điều hành hoạt động hành quân của Không Quân, danh hiệu vô tuyến là Lam Sơn, tiền thân của đài Paris, Tân Sơn Nhất.


    Năm 1958, Đại úy Trần Văn Minh ra TTHLKQ Nha Trang làm huấn luyện viên quan sát cho các SVSQ Khóa 58A Trần Duy Kỷ.

    Cựu Đại tá Nguyễn Văn Chín, nguyên Tham mưu phó Hành Quân SĐ4KQ, Thủ khoa Quan sát viên của khóa này, hồi tưởng:

    “Các HLV cho SVSQ quan sát đều có 2 chỉ số Hoa tiêu và QSV… Khóa của chúng tôi có 4 HLV là Đại úy Trần Văn Minh (sau là TL/KQ), Trung úy Đỗ Trang Phúc (cùng gốc dù với các niên trưởng Hoàng Ngọc Bào và Nguyễn Văn Trương), Trung úy Nguyễn Quang Toại và Trung úy Phan Quang Phúc (sau là TLP & TMT SĐ2KQ ở Nha Trang)”.

    Như vậy, chắc chắn trước năm 1958 Đại úy Trần Văn Minh đã có bằng hoa tiêu, nhưng chúng tôi không thể tìm được chi tiết về khóa bay của ông.

    Đầu năm 1960, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu Cao cấp tại CCKQ Maxwell, Montgomery, Alabama, Hoa Kỳ.

    Tới đây là một khoảng trống thời gian trước khi Trung tá Trần Văn Minh được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không Đoàn 62 Chiến Thuật ở Pleiku vào đầu tháng 3/1964, đã khiến chúng tôi phải nhức đầu trước những nguồn tài liệu khác nhau .

    Chỉ biết một điều chắc chắn, theo hồi ký của NT Vũ Văn Ước, có thời gian ông Trần Văn Minh làm Chỉ huy trưởng Trung Tâm Hành Quân Không Quân (Tactical Air Control Center, TACC), trước kia là Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến.

    Chỉ huy phó là Đại Úy Nguyễn Ngọc Loan, Trưởng phòng Hành Quân là Đại úy Vũ Văn Ước.

    Còn theo tác giả Đằng Vân (bài “Thuở ấy sao mà quên được”), trong khoảng thời gian nói trên, ông Trần Văn Minh từng giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Phi đoàn 1 Quan Sát (tiền thân của PĐ-110), sau Đại úy Nguyễn Ngọc Oánh và trước Đại úy Trần Phước.

    Trong khi đó, bài “Ngành Quan Sát trong KLVNCH” của tác giả Võ Ý không hề nhắc tới việc ông Trần Văn Minh làm Chỉ huy trưởng phi đoàn này.

    * * *

    Trở lại với năm 1964, sau mấy tháng giữ chức vụ Tư lệnh Không Đoàn 62 Chiến Thuật (Pleiku) qua đầu năm 1965 Trung trá Trần Văn Minh được điều về Cần Thơ, tiếp nhận Biệt Đoàn 74 (từ Thiếu tá Lưu Kim Cương) để thành lập Không Đoàn 74 Chiến Thuật do ông làm Tư lệnh tiên khởi.


    Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1965, Trung trá Trần Văn Minh được vinh thăng Đại tá, về Tân Sơn Nhất giữ chức Tư lệnh phó Không Quân thay Đại tá Nguyễn Ngọc Loan.


    Lễ chuyển giao phản lực cơ F-5 cho KQVN tại CCKQ Biên Hòa ngày 1/6/1967. Từ trái, Trung tá Dương Thiệu Hùng,
    Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại tướng Cao Văn Viên, Chuẩn tướng Trần Văn Minh

    Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1967, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng chung liên danh với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và thắng cử. Sau khi tuyên thệ nhậm chức Phó Tổng thống vào ngày 31 tháng 10, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Không Quân cho Tư lệnh phó là Chuẩn tướng Trần Văn Minh ngày 1 tháng 11 cùng năm.

    Chức vụ Tư lệnh phó được trao cho Đại tá Võ Xuân Lành.

    Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, Chuẩn tướng Trần Văn Minh được thăng cấp Thiếu tướng. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1970, ông được thăng cấp Trung tướng.

    Như vậy, ông Trần Văn Minh là một trong ba sĩ quan xuất thân Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị (Thủ Đức & Nam Định) lên tới cấp Trung tướng; hai người kia là ông Nguyễn Đức Thắng (thăng cấp 1968) và ông Đồng Văn Khuyên (1972).


    Cần Thơ 1971, từ trái, Trung tướng Trần Văn Minh, Đại tá Nguyễn Huy Ánh, Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng

    Ông Trần Văn Minh cũng là vị Thiếu tướng lên Trung tướng nhanh thứ nhì trong QLVNCH (hơn 2 năm), chỉ sau ông Dư Quốc Đống, Tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù (đúng 2 năm).

    Ngày 30 tháng 4, 1975 ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó định cư tại Los Gatos, California, Hoa Kỳ.

    Ông qua đời ngày 27 tháng 8 năm 1997. Hưởng thọ 65 tuổi.


    Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH và CCKQ Tân Sơn Nhất vào năm 1970


    CHÚ THÍCH:

    (1) Theo các vị niên trưởng biết ông Đỗ Khắc Mai thì ông không được cảm tình của nhiều người trong Không Quân.

    Đại tá Trần Phước (Mệ) viết trong bài Điểm Danh Các Bạn Già - Phần II: Khóa I Quan Sát Viên:

    …Anh Đỗ Khắc Mailà cái "rốn" của khóa, anh luôn luôn tỏ mình là người học rộng tài cao, nhưng kết quả ra trường cũng chẳng hơn ai. Anh hay làm mất thì giờ của các người khác trong lớp, vì anh thường hay tranh cãi văn phạm (grammaire) hoặc đặt những câu hỏi ngoài đề tài bài học với huấn luyện viên người Pháp, bởi vậy giờ học thường bị kéo dài làm mọi người khó chịu...

    ...Anh Mai là con người đầy tham vọng, cho nên trèo cao té nặng. Những năm 1962-63 anh giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng, nhân vật thứ hai sau Tư Lệnh Không Quân, Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền, vì lúc đó chưa có chức vụ Tư Lệnh Phó Không Quân. Nhằm lúc phong trào tố Cộng lên cao, anh Mai lợi dụng chức vụ đang nắm giữ, thường hay đến các Căn Cứ Không Quân tham gia những buổi học tập Tố Cộng để gây ảnh hưởng và thanh thế. Anh đã từng tham gia phong trào lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa vào tháng 11 năm 1963, nên đã được tưởng thưởng với chức vụ Tư Lệnh Không Quân và tự động thăng hai cấp, đang mang cấp Thiếu Tá, chỉ cách một đêm, sáng ngày mai mang lon Đại Tá. Viết là “tự động” vì sau khi có nghị định điều chỉnh cấp bậc, anh Mai chỉ được thăng Trung Tá mà thôi. Sau đó được bổ nhiệm làm Tùy Viên Quân Sự của Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Tây Đức hồi bấy giờ. Hết nhiệm kỳ, anh Mai được lệnh triệu hồi về nước, nhưng anh đã bất tuân, ở luôn tại Pháp cho tới ngày nay.
    Last edited by Nguyen Huu Thien; Hôm qua, 05:21 PM.
  • voy118
    Niên Trưởng
    • Jul 2011
    • 104

    #2
    Có nhiều điều mới lạ chưa từng biết.
    Rất bổ ích!
    Cám ơn tâm huyết đối với Quân chủng và trí nhớ tuyệt vời của KQ Nguyễn Hữu Thiện.
    Hoan hô!
    Bắc Đẩu Võ Ý

    Comment



    Hội Quán Phi Dũng
    Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




    website hit counter

    Working...