Airforce Echo News
TINH-LONG RỰC-SÁNG
THÀNH-GIANG & NGUYỄN-VĂN-CHÍN
© Copyright 2013, by TG.
TẬP SỬ-LIỆU KQ/VNCH SỐ III
LỜI NÓI ĐẦU
Câu chuyên cuối cùng viết cho phi-hành-đoàn Tinh-Long 07. Theo lời kể của một nhân chứng sống duy nhất của chuyến bay định mệnh, Lịch-sử AC119K, đã bị Cộng quân bắn tan rã trên bầu trời Tân-Sơn-Nhứt, Sài-gòn, sáng ngày 29-4-1975. Thượng sĩ I Nguyễn-Văn-Chín đã tiết lộ nhiều chi tiết trung thực, rùng rợn, huyền bí, chưa từng được kể trước đây.
- Details
- Category: Tài Liệu KQ
- Hits: 5187
Read more: TINH-LONG RỰC-SÁNG - THÀNH-GIANG & NGUYỄN-VĂN-CHÍN
LTS: Người Nhạn Trắng tên thật là Phạm Đăng Cường Sinh năm 1940, tại Gò Công. Gia nhập Không Quân năm 1961. Trước năm 1975 là hoa tiêu khu trục thuộc Bộ Tư-lệnh Không Quân. Đã qua đời năm 1988.
- Details
- Category: Tài Liệu KQ
- Hits: 5329
Read more: Người lính Kỹ Thuật Không Quân - Người Nhạn Trắng
Tiếp theo bài viết về F-8F Bearcat, chúng ta thấy rằng việc thay thế nó là điều nhất định phải làm, chẳng những ở Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát, mà còn ở Bộ Tư Lệnh Không Quân và Phái Bộ Cố Vấn (MAAG). Sôi nỗi nhất là ở phi đoàn. Phải nói rằng Hà Xuân Vịnh, Lưu Văn Đức và tôi thật sự nóng nảy, chớp mọi thời cơ, gây mọi áp lực cần thiết, nói lý, dùng cảm tình, làm mọi cách để cho có một loại phản lực cơ thay thế chiếc Bearcat. Có người cho rằng vì chúng tôi đã được qua các trường lớp huấn luyện trên phản lực cơ nên chúng tôi tranh đấu để có phản lực cơ trong KQVN, và từ đó dễ bước lên một nấc thang danh vọng nào đó. Danh vọng thì có biết sống được bao lâu mà màn tới, đâu có phải như nhảy dù một cái là biết đánh nhau như lính dù, và lãnh đạo dù là lãnh đạo tất cả. Muốn lãnh đạo, chỉ cần bay đại khái một chuyến L-19A như ông KHA từng muốn làm để có cơ hội lãnh đạo KQVN.
Chúng tôi muốn KQVN có một "bước nhảy vọt" so với Không Quân các nước tân tiến. Bây giờ, chúng tôi mới biết là chúng tôi đã không tự lượng sức mình, vì đất nước ta còn nghèo, mọi thứ đều nhờ ngoại bang chi viện. Nhưng ở đây mình nói cho sướng miệng thôi, vì lúc đó, chúng tôi vẫn còn trẻ lắm. Năm 1958, anh Vịnh mới lên 25, Đức 24, chúng tôi máu còn sôi sụt, chưa biết sợ là gì, mà cũng vì vậy mà không biết có Trời cao Đất rộng, chỉ có lý tưởng bay bổng, chỉ có "A la chasse, bordel". Và chúng tôi đã chọn A-4E Skyhawk. Một chiếc vừa thon nhỏ, không kén phi trường, laị chở nhiều bom đạn (4 x 6 bom 500 lbs)... lại có đại bác 20 ly tha hồ mà bắn. Nên nhớ là sau tháng 6-1957, Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát bắt đầu có Cố Vấn Mỹ thay Cố Vấn Pháp. Các ông cố vấn Mỹ này không có cảm tình với pilote trẻ chúng tôi, và chắc với các anh lớn như các ông Hiền, ông Khánh, ông Hùng, thì các cô vấn cũng không thích nói chuyện cho lắm, vì phần lớn chúng tôi, nếu không bị câm thì bị điếc. Nhưng chúng tôi hiểu được các ông không muốn chúng tôi chỉ thích máy bay của NAVY. Chẳng biết vì sao. Có lẽ vì các ông cũng chẳng biết gì máy bay của NAVY để cố vấn chúng tôi. Vậy Không Quân Argentine dùng A-4E thì sao? Nếu từ chối chiếc A-4E, bảo rằng không thích hợp cho chiến trường VN thì tại sao sau này người Mỹ đẩy chúng tôi ra để xen vào cuộc chiến thì dùng toàn Jet, như F-100, F-104, F-105, F-4 trong Không Quân, và bên NAVY thì có lẽ chiếc A-4E dành nhiều chiến tích nhứt, ít nhứt về số lần xuất trận. Tôi đã có dịp xuống hàng không mẫu hạm của Mỹ và nhìn máy bay lên xuống, thấy thèm làm sao. Cái tiện ở VN ta khi dùng may bay của US NAVY là nó đáp ngắn lắm, bay được xa, chở bom đạn nhiều. Sau một thời gian bàn cải với cố vấn Mỹ tại phi đoàn, chúng tôi chờ đợi một thời gian khá lâu. Một ngày nào đó, chúng tôi được giới thiệu với một tập hồ sơ, có handbook, có hình ảnh của chiếc AD-6. Thoạt đầu, phải nói lên sự thất vọng của chúng tôi, khi nghe cố vấn giải thích tại sao chiếc AD-6 có lợi hơn chiếc A-4E. Thật là không còn gì để nói, đối với chúng tôi. Chúng tôi biết chỉ có một điều là thất vọng tràn trề, không có jet để bay thì chiếc nào chẳng được. Mình bắt đầu làm quen với sự việc "coi lý tưởng như dẹp qua một bên" khi mình chưa phải "tự lực cánh sinh". Viết như vậy để cho các em sau nầy, nhiều khi cũng nóng tính như các anh hồi còn trẻ, có lý tưởng thì sao? Phục vụ là phục vụ thôi. Như sau nầy, cho KQVN chúng ta bay F-5 và A-37, toàn là máy bay huấn luyện biến cải. Máy bay gì mà không có súng để bắn mà gọi là khu trục cái nỗi gì. Tôi nhớ đến cái vụ dùng A-37 kè một chiếc máy bay chuyên xịt thuốc trừ sâu và phân bón của nhà nông của Tân Tây Lan, lạc đường lãng vãng trên vùng Cà Mau, để bắt về đáp tại sân bay Bình Thủy, hoa tiêu phi tuần trưởng phải bay lại gần máy bay lạ, lấy tay chỉ chỏ bảo phải đáp xuống, và khi anh ta muốn dọa đối phương, bèn rút súng Colt.45 ra chỉ vào anh pilote kia. Buồn cười không? Nói dài dòng để cho biết "Mình là ai?" thôi, chứ không có ý chê khen cá nhân nào trong chúng ta cả. Việc bàn tán và chọn lựa máy bay thay chiếc F-8F Bearcat bằng chiếc AD-6 Skyraider bắt đầu từ năm 1958 mà tận đến năm 1961 chúng ta mới thấy mặt nó tại Biên Hòa, home of the fighters.
Năm 1960, chúng tôi là một trong số 6 người đầu tiên sang Corpus Christi, Texas để tập lái AD-6. Đọc cho lẹ một tí thì cũng lấy le được vậy. Ai hỏi ta bay gì, ta bèn nhanh miệng AD-6 thì thoáng nghe như Eighty Six . Chúng tôi là Nguyễn Quan Huy, Tô Minh Chánh, Phạm Phú Quốc, Nguyễn Ngọc Biện, Nguyễn Văn Long, và người viết bài này. Các cụ thấy không, tại sao tôi lại còn sống mà họ đi đâu cả rồi. Đó là những người bạn chết sống với nhau, những người không biết Trời cao bao nhiêu và Đất rộng bao nhiêu. Bay là cái gì cũng bay. Chữ nghĩa thì chẳng bao nhiêu. Nhớ anh huấn luyện viên của chúng tôi là Lt Morenville, tên có vẻ Tây lắm, chắc phải chọn người biết tiếng Lang Sa, vì chúng tôi nói ít tiếng Anh. Đại khái như Left là Trái, Right là Phải. Nhớ lại khi thi ESL, anh Huy với tôi ăn ý nhau về mật mã, đầu nhọn bút chì chỉ xuống là (a), chỉ lên là (b), chỉ qua Trái là (c), chỉ qua Phải là (d).. Người cao điểm trắc nghiệm Anh ngữ nhất là anh Nguyễn Văn Long (em cuả anh Nguyễn Tấn Trào), vì anh Long có theo học Hội Việt Mỹ. Chúng tôi đã có một số giờ trên F-8F Bearcat, tối thiểu 200 giờ, trừ anh Quốc có nhiều giờ F-8F hơn cả, lại có bằng Phi Tuần Phó nữa. Nhưng nhai cái Technical Order bằng Anh ngữ thì thật là khổ sở. Đêm nào tôi cũng dịch ra nhờ quyển Tự Điển bỏ túi cúa tôi (Tout Petit Dictionaire Larousse). Có điều là trợ huấn cụ của NAVY tại trường căn bản Corpus Christi phải nói là ngon lành, nhứt là cả cái động cơ được cắt ra, còn cho đúng màu, hệ thống xăng, hệ thống nhớt, hệ thống thủy điều, tôi khen Mỹ lắm, thấy Tây thua xa (vì Tây nghèo hơn Mỹ). Đại khái là chúng tôi làm quen với AD-6. Chúng tôi được chở trên AD-5 một chuyến . Thật sự không học hỏi gì nhiều. Có điều là lần đầu tiên leo lên chiếc Skyraider, tôi thấy nó cao làm sao ấy, có lẽ không thua khi ngồi trên C-47 đâu. Nhìn xéo từ 8 giờ hay 4 giờ thì nó giống như một óng kem đánh răng. Như các cụ thấy qua cái tên của nó AD-6, A là Attack(loại dùng vũ khí mang bên ngoài để tấn công, khác với chữ B là chở bom trong bụng), D là hãng chế tạo Douglas, sau này bị Boeing merge rồi, còn 6 là serie. Sẵn đây, cho biết sau này tất cả máy bay của quân đội Mỹ đều phải theo một lối đặt tên duy nhứt, không phân biệt Hải Lục Không Quân, nên AD-6 trở thành A-1H, và AD-5 trở thành A-1E, là hai chiếc KQVN đã dùng.
Tại trường Corpus Christi, chúng tôi ghi nhận ba sự kiên tôi nhớ mãi. Sự kiện thứ nhứt là khi tác xạ ở xạ trường, thay vì quẹo phải để tác xạ vào mục tiêu của chúng tôi ngày hôm đó, thì anh Long quẹo trái tác xạ trên mục tiêu dành cho F-11 Cougar. Trong lúc Cougar tập thả bom nguyên tử nên chỉ trúng gần nhất là 300 feet, thì anh Long nhà ta chỉ thả bulls eye. Chiều đó, huấn luyện viên của chúng tôi nhận báo cáo của xạ trường, bảo đuổi cách gỉ anh Long cũng không đi chỗ khác, mà quả nào cũng trúng đích. May mà không bị đụng nhau trên không. Bay thực tập tác xạ thì huấn luyên viên chắp chúng tôi 30 feet average về bom (pratice bomb nhẹ lắm, gió 25 gút lận, khó thả vào vòng 100 feet). Thế mà anh ba Huy luôn luôn giúp chúng tôi uông beer free mỗi ngày. Học trò giỏi thì thầy cũng được khen, nên anh Morenville vui vẻ trả tiền beer. Điều thứ ba mà tôi nhớ mãi là nhân ngày lễ thành lập trung tâm huấn luyện Corpus Christi, hằng năm có đội biểu diển Blue Angels đến. Nhưng năm 1960, đội Blue Angels vừa lãnh thẹo, một tai nan chết người, nên miễn đến. Hôm đó lại trùng hợp máy bay của Morenville bi hỏng, phải về đáp trước. Thường khi thì Morenville dẫn 4 chiếc đáp trước, theo sau là Quốc dẫn 3 chiếc. Chúng tôi liền lợi dụng cơ hội, bảo Quốc dẫn phi tuần 6 chiếc về đáp một lượt. Sáu chiếc bay hợp đoàn sát cánh hàng dọc bên phải, cứ tách đúng 3 giây về hạ cánh an toàn và kỷ luật. Vào parking thì ôi thôi, mấy thằng học trò Mỹ chạy lại bắt tay khen, chưa thấy có ai bay hợp đoàn đẹp thế.
Rời Corpus Christi sau một tháng rưỡi, chúng tôi sang San Diego bay với đơn vị VA-122 tại Coronado, North Island. Vui nhất là tác xạ bom đạn thật tại Camp Penlenton, không biết viết như vậy có đúng không, nhưng đó cũng là chỗ sau này cho đồng bào ta ở tạm khi mới vào đất Mỹ. Tất cả mục tiêu là xe tank, chòi dưới hốc núi, muc tiêu gì cũng bị bọn VNAF này tiêu hủy cả. Họ than phiền là tốn tiền tái tạo mục tiêu thật, nghĩa là trước kia báo cáo tổn phí nhưng khỏi phải làm, vì có ai bắn trúng đâu. Còn xạ trường Yuma thì thật là cực hình. Thời tiết quá nóng, chỉ hoạt động từ 4 giờ sáng đến 11 giờ trưa, mà chỉ nổ máy một lần, sau đó, thay hoa tiêu thì phải để chèn bánh và để máy chạy, vì tắt máy, quay máy lại sẽ bị back fire vì hoà khí quá non khi trời nóng bức. Trưa ở trong BOQ nhìn ra hồ tấm, thấy nước xanh mà không có bóng người. Chỉ mặc quần lót trong phòng lạnh mới chịu nỗi.
Sau ba tháng huấn luyện, chúng tôi về nước. Và vài tháng sau, chúng tôi nhận phi cơ A-1H đầu tiên, mỗi đợt 6 chiếc. KQVN tiếp tục gửi theo học khóa xuyên huấn như chúng tôi vừa kể, cũng được 4 hay 5 đợt gì đó. Tuy vậy, khi nhận máy bay, chúng tôi đã thả tại Biển Hòa hoặc TSN khi di chuyển để làm phi đạo mới (27-09) tại Biên Hòa. Phi Đoàn lúc đó thật là nhiêu khê. Theo bản cấp số thì còn 25 chiếc F-8F Bearcat, rồi thêm 9 chiếc T-6G để huấn luyện khu trục cho các khóa sinh vừa tốt nghiệp khóa 58A (khóa Trần Duy Kỷ) trên L-19 mà sau này gọi là O-1A. Rồi thêm 12 chiếc A-1H, nhưng nhân viên của Phi Đoàn vừa hành quân vừa huấn luyện đâu có gì thay đỗi. Nhiệm vụ tăng, nhân viên thiếu so với bản cấp số căn bản của phi đoàn, nên nhớ lại phát ớn. Khi Phi Đoàn đỗi tên thành Phi Đoàn 514, tất cả nhân viên các Phòng Hành Quân cơ hữu chỉ có 20 hoa tiêu kể cả chỉ huy trưởng và chỉ huy phó, mà số sĩ quan học viên vừa trên T-6G vừa trên A-1H khoảng 30 người. Phòng Vật Liệu là Phòng đông đảo nhân viên nhất do anh Dương Xuân Nhơn điều hành thật tốt, lúc đó có trên dưới 400 người. Phòng Hành Chánh thì nhỏ nhất, nhưng cũng bận rộn không kém các nơi khác. Tôi không biết quản lý một nhân số phức tạp như vậy, sau này tính ngang hàng với đơn vị như thế nào đây.
Chiếc A-1H Skyraider được Mỹ sử dụng trong chiến tranh Cao Ly (1950-53). Sau đó, Mỹ có bán cho Pháp một số AD-4 để trang bị cho 4 phi đoàn. Nếu tôi nhớ không lầm, một phi –doàn Pháp hồi đó có 25 máy bay, như vậy có thể nói Mỹ bán cho Pháp 100 chiếc AD-4. Việc nầy có tầm quan trọng về ngoại giao đáng kể sau này. Vì khi De Gaulle bất mãn với Mỹ, qua Nam Vang chỏ mõ qua Việt Nam mà tuyên bố "Vùng Đông Nam Á phải được trung lập hóa". Và khi Mỹ đòi mua lại Skyraider từ tay Pháp để viện trợ cho VNCH thì Pháp đã từ chối, trong khi đó, trong kho dự trử của Mỹ không còn phi cơ hay phụ tùng gì thuộc A-1H nữa. Đó là một dấu ngoặc lịch sử của Skyraider.
Ai đã bay A-1H rồi thì phải công nhận nó thật thích hợp cho chiến trường Việt Nam trong giai đoạn VC sử dụng Du Kích Chiến và chưa được trang bị SA-7. Với động cơ Wright 3,300, có thể chở đến gần 8,000 lbs vũ khí đạn dược, hoặc thời gian bao vùng lâu nhứt làm cho quân bạn dưới đất thích nó hơn chiếc nào khác. Chỉ có mệt cho hoa tiêu, người phải ngồi chịu trận cả năm tiếng đồng hồ, phải kéo G cho đến thân em mềm nhủn ra, về nhà còn bị các chị hành hạ thêm nữa. Nghĩ lại mà tội nghiệp cho các cánh chim như Phượng Hoàng, như Phi Hổ…
Theo cấu trúc của chiếc A-1H thì dù động cơ mạnh hơn của F-8F, chong chóng cũng có thể to hơn, nhưng người ta làm cho cái đòn dài ra nên chỗ ngồi của hoa tiêu thoải mái hơn và nhìn rõ bên ngoài. Sở dĩ có thể quan niệm như vậy vì đây chỉ là một phi cơ loại Attack, đánh những mục tiêu dưới đất mà thôi, như yểm trợ tiếp cận (close support), như đánh phá hậu tuyến của địch (interdiction), mà không dự vào không chiến. Tuy vậy mà trong các cuộc hành quân Bắc Tiến, một A-1E của Hải Quân Mỹ đã hạ một chiếc MIG trong phi vụ yểm trợ cấp cứu hoa tiêu lâm nạn trên vùng mục tiêu, có lẽ vì anh lái MIG đó đang dỡ trò "tắt máy phục kích trên không", chẳng may lại đưa lưng cho 4 khẩu đại bác 20 ly bắn rụng. Do chế tạo để đánh các mục tiêu dưới đất, nên sở trường của nó là thả bom với nhiều độ chúi khác nhau: 70 độ, 45 độ, hay 30 độ chúi. Máy bay khi chúi sẽ đầm hơn chiếc F-8F, nhưng cũng đòi hỏi phải có cao độ sơ khởi khá cao, vì nó leo lên chậm lắm, và dễ mất cao độ khi xuống đánh. Cao độ tối thiểu mà tôi kinh nghiệm là 4,500 bộ khi bắt đầu. Nếu bắt đầu từ cao độ thấp hơn thì sau khi đánh sẽ không trồi lên lại được tới cao độ sơ khởi, và cứ thế mất dần cao độ, làm cho các kỳ xuống đánh tiếp theo càng lúc càng nguy hiểm, nhứt là cho phi tuần viên số 2. Nếu một phi tuần 4 chiếc, ta có thì giờ chờ đợi và lên cao độ, nhưng khi chỉ có hai chiếc thì người số 2 muốn làm tròn nhiệm vụ bảo vệ cho số 1 phải giữ vòng bay sát nhau, do đó, anh sô 2 vừa không đươc số 1 bào vệ khi anh xuống đánh, vừa không đủ cao độ để đánh chính xác và an toàn. Dive bombing là một trò vui mà cũng hao sức với A-1H. Bắt đầu từ 10,000 bộ, ra dive brake, chúi xuống 70 độ (sự thật, ta thấy thân mình nằm trên giây cột an toàn tòn ten khi chúi như vậy), thả bom ở cao độ 3,000 bộ, vào dive brake và kéo lên đúng 4.5G. Làm chừng 5 cái thấy "học xì dầu", vì ít khi tôi kéo 4.5G mà thường là 7.5G, do đó, các bạn có thể nói tất cả máy bay mau hư là vì tôi đó. Với độ chúi 45 độ thì ít vấn đề. Đại khái là khi chúi, và nhắm bắn, chúng ta lúc đầu chưa quen, hay sửa cho tâm điểm trên máy nhấm nằm trên mục tiêu, thì kết quả lại phải sửa ngược lại khi tốc độ tăng cao, vì nhà chế tạo canh ngẫu lực chong chóng làm cho đuôi có độ lêch khá lớn đối với trục dọc máy bay, làm máy bay lãnh hệ quả không đồng đều khi tốc độ thay đỗi quá nhiều trong đà chúi của chúng ta. Một tật nữa rất nguy hiểm cho hoa tiêu là " sink rate" khá cao, vì thân nó quá nặng nề. Thường thường những vụ mang ngọn tre về đáp, hay tệ hơn nữa là cày dưới ruộng, đó là hậu quả của mất nhiều cao độ khi ta múc lên. Mũi máy bay thì đã nằm trên chân trời, nhưng máy bay còn tiếp tục trằn xuống theo quỷ đạo chúi của nó trước kia một lúc lâu rồi mới ngốc đầu lên thật sự. Đó là vì quán tính của ly tâm. Ở đây không nói nhiều về cơ học được. Chỉ đưa ra một so sánh để các cụ đọc chơi. Bây giờ là lúc trời đang có tuyết và phần lớn các nơi đó có đường đống băng trơn trợt. Lái xe trên đường như vậy, bạn thử nhích tay lái một chút là xe bắt đầu quẹo. Nếu cứ giữ tay lái như vậy thì các bạn sẽ trợt (glisser, glide). Nếu thấy trợt va vào gốc cây mà tăng thêm vòng quẹo thì sẽ trợt nhiều hơn nữa, chứ không phải là tránh được gốc cây đâu, mà trái lại sẽ đụng mạnh hơn, vì bạn đã tăng lực ly tâm khi bẻ tay lái quẹo gắt hơn. Tại các xạ trường, nhứt là tập tác xạ ban đêm, ta mất nhiều thì giờ để nhắm hơn. Cố sửa cho tâm điểm của máy nhấm nằm trên mục tiêu, sửa mãi mà không ngờ cao độ giải tỏa đã tới từ lâu rồi. Hoản hốt kéo lên mạnh chừng nào thì lực ly tâm càng trằn máy bay xuống đất chừng nấy. Khi điều tra tai nan, chỉ cần xem phần nào của máy bay chạm đất trước thì đủ biết nguyên nhân tai nạn là gì. Các anh đi học Mỹ về thường dùng chữ Target Fixation. Cũng đúng, đó là nguyên nhân đầu tiên. Mãi nhấm đến khi quá gần đất rồi thì kéo mạnh. Ta sẽ thấy khi chạm đất, phần đuôi chạm trước, rồi xác máy bay rải dài theo trục bay của máy bay. Nếu lúc ta thấy kéo mà không lên thì ta ngưng kéo, hoặc dằn tay lái xuống thì nó sẽ ngưng trằn xuống lập tức. Giống như khi lái xe trên đường lộ, ta quẹo trái thấy cứ lọt qua lane phải thì ngưng đừng cố quẹo gắt nữa thì nó sẽ nằm yên. Phải quẹo gắt mà ngưng lại thì hiệu quả mới đúng như đã nói, chứ quẹo chưa đủ mà ngưng thì là vấn đề khác rồi.
Vì đòn dài và nặng nề nên đánh nhau giữa hai loại máy bay thì không thích hợp. Đừng nói chi đấu với F-8H thì thua quá xa rồi, đấu với T-28 cũng không lại. Vì thế, không nên bắt mèo ăn cứt.
Về không hành (navigation) thì tương đối thoải mái hơn F-8F. Có thể bay xa hơn, như bay qua Phi Luật Tân chẳng hạn thì dễ như chơi. Tuy trang bị cũng xoàng thôi, nhưng cũng đủ để bay đêm rất tốt. Và Phi Đoàn 514 đã có khả năng đó. Nhất là khi trời trên mục tiêu tốt mà từ phi trường xuất phát lại xấu, ta bắt buộc phải cất cánh hợp đoàn, ngày hay đêm không thành vấn đề, rồi nhờ radar hướng dẫn đến mục tiêu, tha hồ mà đánh. Xong rồi về hạ cánh , trời xấu thì hợp đoàn từng hai chiếc mà xuyên mây hạ cánh cũng tốt. Tôi còn nhớ có lần, chúng tôi hành quân đặc biệt ban đêm, oanh tạc theo chỉ điểm của lực lượng đặc biệt, bay hợp đoàn sát cánh ba chiếc, tắt cả đèn mà chỉ nhìn ánh lữa từ óng thoát ra mà bay ở cao độ thấp cho đến khi đến mục tiêu, chúng tôi lấy đội hình oanh kích, làm mỗi người một passe salvo bomb, đã thật. Kết quả phối kiểm có hình ảnh, rất tốt.
Phạm Phú Quốc khi thành lập Phi Đoàn 518 đã được huấn luyện vượt biên bằng đường biển ở cao độ thấp (50 feet) cho đến vùng mục tiêu mới làm vòng tác xạ thường lệ. Như vậy mới khai thác tận dụng khả năng của A-1H.
Về trang bi vũ khí, A-1H có thể nói là số một trong những chiếc mà tôi được bay. Thêm nữa, được KQVN ta sử dụng, chiếc A-1H mới thêm rạng rỡ, nỗi tiếng hơn bao giờ hết. Thành thật mà nói, có bay cùng chiếc máy bay này ở đơn vị VA-122 của USNAVY, mới thấy KQVN bỏ xa mút tí tè. Chẳng những về bảo trì phi động cơ, mà nói về vũ khí thì phải nói là KQVN vô địch. Súng họ bắn ở Yuma, tôi hỏi anh Biện xem tôi bắn ở mấy giờ mà xạ trường báo "zero hit" trên bia điện tử. Biện thường bay ở gió xuôi khi tôi tác xạ, nên mấy vòng anh mới thấy được ở "một mile 6 giờ". Trong khi đó, đi hành quân trên vùng Hồng Ngự Cái Cái mà bắn xuồng ba lá bằng đại bác 20 ly thì chỉ cần một tràn ở mũi xuồng là xuồng bị toét ra thành ba mảnh. Ai dại gì bắn giữa xuồng, chỉ đục lỗ xuyên qua, VC lại lấy đất trét lên và bơi như thường. Vì súng của ta có anh Phan Đàm Liệu điều chỉnh trước Fire-in-but ở 300m xa, ai mà bắn trật thì người đó không phải hoa tiêu của PĐ-514. Bởi vậy, VC khó mà thoát khi bị PĐ-514 bao vây. Như kỳ Ấp Bắc chẳng hạn, ai làm bậy đâu không, làm những thành tích của PĐ-514 tiêu ra ma. Chính mắt tôi thấy mấy trái chuối của Hoa Kỳ (H-21) bị Ground resonance lật ngữa ngay trên vùng, không có ai đánh hết, mình tự té nhào ra, hết chiếc nầy đến chiếc kia, tổng cọng 5 chiếc, rồi bảo VNCH chúng ta không biết hành quân, không biết bảo vệ cho trực thăng đổ bộ. Rồi sau đó, lại thấy cái cảnh Pháo Binh rượt lính Bảo An chạy có cờ. Toàn là mình chơi mình không thôi. Tiểu Đoàn 514 của Tiền Giang có mặt ở đó, nhưng nó bị chúng tôi phát giác còn xa vùng mục tiêu. Chính ba Huy và anh Biện bao vây chúng trên mặt ruộng, chờ Bảo An lại tóm gọn. Chắc các anh cho tôi nói láo cho vui chớ gì. Rõ ràng là như vậy. Bị chúng tôi ví thì không làm sao thoát khỏi. Ở Mỹ này, có anh phi tuần viên đã từng bay chung với tôi là anh Nguyễn Quốc Thành, hỏi anh ấy thì biết, gặp chúng tôi vây thì chỉ có chết mà thôi. Vì vậy, VC phải xin viện trợ cho được SA-7, nếu không chúng bị KQVN diệt hết. Chúng tôi dùng Đại Bác 20 ly một cách say mê, tiết kiệm từng viên đạn, có khi gở bớt circuit breaker súng để chỉ bắn một lần hai cây mà thôi. Có nhiều phi tuần viên muốn về sớm cho đỡ mệt, không thích làm như vậy. Có anh lại phí đạn quá sớm. Làm phi tuần trưởng cụt hứng, phải kéo nhau đi về. Đó là chúng tôi áp dụng đúng mức nguyên tắc chiến tranh vào việc sử dụng hỏa lực.
Bom thi A-1H là vua chở bom. Trọng lượng chưa trang bị là 9,000 lbs. Trang bị tối đa là 17,000 lbs. Lần hành quân Lam Sơn 1 ở Đà Nẳng với Trung Tướng Trần Văn Đôn, thả bom để tiêu diệt Tướng Đôn của VC đang nằm trong chân núi, chúng tôi trang bị tối đa bom. Hai quả 1,000 lbs ở inboard racks, 8 quả 500 lbs ở outboard racks, và thêm ít quả 100 lbs ở các kẻ hở và ngoài đầu cánh. Khi cất cánh, bắt buộc phải dùng full flaps. Khi có tốc độ sau khi vào chân đáp rồi mới giảm xuống ¼ flaps để bay lên. Tới cao độ 10,000 bộ mới bình phi và vào flaps trọn vẹn. Nếu ai không nghe briefing kỹ thì dễ chết lắm, hay ít ra cũng hết hồn, như có người thấy không lên nỗi bèn ra biển thả hết bom để về đáp cho sớm. Chúng tôi hiểu, chúng ta là con người mà, có lúc phải teo một tí. Nhưng nếu chịu khó khai thác TO, chịu khó nghe briefing thì đâu có gì đâu. Không lẽ những người làm được là những người chỉ biết liều mạng? Nhớ lại kỳ thả bom đó, tới nay tôi còn thấy tiếc, tại sao mình đã không bỏ salvo một pass mà thôi, như vậy, mình không cần trúng đích cũng làm cho thiên hạ vỡ màng nhỉ mà chết. Chứ dựa vào phóng ảnh mà thả bom thì có thấy gì cụ thể đâu. Nhưng sau khi giải tỏa hết bom rồi, thấy sao mình nhẹ phơi phới, khó tả.
Mười hai dàn bên ngoài cánh còn có thể dùng phóng hỏa tiền đủ loại, nhưng thú thật với các bạn, hỏa tiển không có công dụng tốt trong chiến tranh du kích đâu, vì chúng chưa dùng đến chiến xa, và không có công sự kiên cố như đồn bót chúng ta. Trừ phi chúng đã chiếm đóng trong các vị trí của chúng ta mà thôi. Trái lại, bom napalm có nhiều công dụng tốt hơn. Và A-1H cho phép chở đến ba quả ở inboard racks, và 6 quả nữa ở outboard racks nếu có loại 500 lbs như bom của Nhật Bản để lại hay loại dùng trên T-28 sau này. Kinh nghiệm cho thấy, không nên trộn lẩn Napalm với bom nổ hay hỏa tiển. Pha trộn như vậy thường do các yêu cầu của những giới chức có thẩm quyền nhưng không hiểu biết về ngành hỏa lực, vì rất nguy hiểm cho hoa tiêu. Chỉ cần bấm lộn nút trong khi xuống thấp 50 bộ để thả napalm mà thả lầm bom nổ thì quá nguy, bắn hỏa tiển ở cao độ thấp làm sao giải tỏa khỏi kịp, nếu cố gắng quá có thể bị déclenché (snap roll?). Công dụng tốt nhất của Napalm là diệt những VC trốn dưới hầm bí mật. Khi ta thả từng cặp một cách nhau 1 giây thì sẽ có sức cháy phủ trùm lên nhau. Nhiệt độ cháy của Napalm là 1,500 độ C. Nếu có sức cháy phủ trùm lên nhau thì sẽ đốt hết oxy trên mặt đất, và từ các lỗ thông hơi đốt cả oxy dưới hầm trú ẩn. VC sẽ bị chết khô dưới hầm, chứ không phải bị chết cháy. Người phi tuần trưởng có nhiệm vụ điều khiển cho thả napalm chồng lên nhau thì kết quả bảo đảm hơn. Thường thì anh em dùng napalm để đốt nhà. Đâu cần như vậy. Chỉ dùng đại bác 20 ly của A-1H, bắn vào vách nhà sau thường để bếp, hoặc trúng phải lò dầu, hoặc làm tung củi đang cháy vào vách, hoặc chính băng đạn có đạn lửa của chúng ta cũng đủ đốt nhà lá rồi. Napalm còn một loại mục tiêu khác là diệt súng phòng không của địch, nhưng không nên dùng A-1H vì quá chậm, mà phài dùng F-5 mới tốt. Vì sức nóng cháy của napalm làm cong nòng súng, không làm sao sửa chữa được. Một loại vũ khí khác để diệt phòng không là CBU, không phải để tiêu hủy súng mà là giết chết xạ thủ. Những người nầy phải được tập luyện khó khăn, khó được thay thế nhanh chóng.
Nói thêm một ưu điểm nữa của A-1H mà nhiều người đã biết, nhưng ít dùng đến trong các kế hoạch dài hạn. Nó đáp rất ngắn. Với trang bị nhẹ, có thể lên xuống với phi đạo dài 750 mét. Cụ thể , chúng tôi đã sử dụng phi trường Cù Hanh ở Pleiku, do công của Hà Xuân Vịnh thám sát phi trường ở vùng cao nguyên. Lúc đó, phi trường được lót bằng vĩ sắt (PSP) loại đen nhỏ bảng. Chúng tôi đáp lên giốc, cất cánh xuống giốc, trên dưới 1,000 mét. Có lần tôi chờ các anh thay thế, ngồi ngoài phi đạo nhìn các anh cất cánh. Tôi giật mình khi thấychiếc A-1H sụp vào một lỗ giữa phi đạo, vĩ sắt thụn xuống, cây cọc sắt dài độ 4 tấc tây lòi lên, và sau khi bánh lăn qua rồi thì vĩ sắt trở lên như củ, nên ta không thấy cọc sắt đâu cả. Tôi chạy ra ngay tại chỗ có vũng nước màu đỏ của Pleiku, gọi hai ba anh cơ khí gần đó chạy xe dodge 4x4 lại đè lên vĩ sắt thì rõ ràng có cây cọc lòi lên. Có lần, một anh không cảnh giác bị lạc tay lái khi sụp lỗ nên anh bị tạt khỏi trục phi đạo, chạy băng ra hàng rào kẻm gai có cọc bê tong, và anh tiếp tục hốt lên với cái cọc bê tông ấy, vất nó xuống cách hàng rào cả chục thước. Điều nầy cho thấy chân đáp của A-1H rất chắc. Một sân ngắn nữa chúng tôi đã dùng là sân Sóc Trăng, dài 1,000 mét, nhưng lúc đó có một cái lỗ to ở khoảng ¾ phi đạo, nghĩa là còn lại 750 mét. Do đó, anh Nguyễn Thành Long (Long Chà) đã làm hư một chiếc A-1H vì đáp quá ngắn, đúng chỗ có bùn trơn trợt ngòai đầu phi đạo, nên anh bị lạc hướng chạy qua trái 60 độ, vượt khỏi rào kẻm gai, ra ngoài ruộng còn cán chết tại chỗ một chị người nhà của một anh lính pháo binh cùng đóng tại phi trường. Đó là trong chiến dịch Bình Tây do Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm làm tư lệnh chiến dịch. Một lần khác, tôi hành quân tại phi trường Nha Trang trong lúc phi trường đang được sửa chữa. Chỉ còn một nửa chiều rộng, và một nửa chiều dài, chúng tôi đã trang bị khoảng 2 tấn rưỡi bom đạn cũng hành quân tốt. Nói cách khác, chỗ nào C-47 lên xuống được, chúng tôi đều hành quân được.
Chúng tôi nhận thấy chỉ có thể viết về chiếc A-1H như thế thôi. Lẽ tất nhiên, có nhiều phi đoàn đã sử dụng nó, càng lúc càng hay hơn. Nhưng mà rủi cho các anh phải bay trong giai đoạn sau cùng của nó, vì nó cũng đã quá nhão nhề rồi. Tôi nhớ người Mỹ cứ khen thưởng KQVN bảo trì giỏi. Để chi? Để tăng thêm giờ hoạt động trước khi mang về Mỹ để làm đại tu. Chỉ cần o bế với anh Tech Rep của hãng Wright để báo cáo và đề nghị, thì bên kia, Nhà Nước Mỹ cũng nói cho hãng Wright biết nên chấp thuận cho tăng giờ bay thì phải đỡ tiền viện trợ không. Cứ thế, ta xài mãi mà không thấy hư. Tài thật. Có gì thì pilote VN chịu, có phải pilote Mỹ đâu mà họ lo. Còn phe ta mà được khen thì chỉ có một bằng tưởng lục là xong, chỉ tốn có mấy trang in roneo mà thôi. Sau cùng, cái nạn SA-7 làm cho phe A-1H phải cụt hứng, vì nó quá dễ bị tiêu diệt. Tính chung về sự đóng góp cho chiến tranh tại Việt Nam của các loại máy bay, phải nói A-1H là số một. Đây không phải là vì tôi bay nó mà nó hay đâu. Đừng chê cười.
Tarin65
- Details
- Category: Tài Liệu KQ
- Hits: 3604
Tòa Thánh Vatican
Nhìn chung các chuyến bay của gia đình, chúng tôi được học hỏi nhiều về văn minh văn hóa, tư tưởng nghệ thuật, âm nhạc cổ điển, hay tham khảo về những bức phù điêu, ngụ ngôn Châu Âu trong thời kỳ phục hưng... rồi vào kính viếng viện bảo tàng Vatican xem trưng bày các tác phẩm đã tích lũy qua nhiều thế kỷ, bao gồm những tác phẩm nổi tiếng và những kiệt tác quan trọng nhất trên thế giới. Cũng tại Quảng Trường Vatican, chúng tôi được tham dự buổi Lễ Chúc Lành của Đức Giáo Hoàng Francis chủ trì, và nhận ơn đại xá tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêro, và rồi đến kính viếng Mộ Phần của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận ở Nhà Thờ Đức Mẹ Cầu Thang.
I. Tòa Thánh Vatican
Giáo Hội Công Giáo mà Đức Chúa Giesu Kyto thiết lập theo nguyên lý siêu việt Công Bằng Bác Ái để đặt trên nền tảng tổ chức của Các Thánh Tông Đồ đã thành công, và trải qua bao biến cố thăng trầm từ buổi ban đầu sơ khai tại Giáo Đô La Mã (Roma) nước Ý cho tới ngày hôm nay. Và học hỏi về cấu trúc Giáo Hội vừa nói trên, thì lớp người Con Cháu Việt Nam chúng ta cũng cần noi theo nguyên lý tổ chức truyền thống Thân Thương Bình Đẳng của Tổ Tiên linh huấn trong hai học thuyết Trầu Cau Đá Vôi và Tiên Dung Chử Đồng vào đại cuộc Giúp Dân Cứu Nước ngày nay để Thống Nhất Toàn Dân và Toàn Diện.
II. Lịch Sử Tòa Thánh
Theo truyền thống Công giáo, Tòa Thánh được hai Thánh Phero và Phaolô Tông đồ thiết lập vào thế kỷ thứ nhất, và với giáo lý về quyền trưởng thượng của ngai tòa Phero tại La Mã (Roma) là điểm hội tụ cho sự Hiệp Thông (Community) đầy đủ của các tín hữu Công Giáo khắp nơi trên thế giới. Là một thực thể pháp lý có chủ quyền theo luật quốc tế, Tòa Thánh được đặt trụ sở, hoạt động, và thi hành “quyền thế hoàn toàn” trên một lãnh thổ độc lập ở trong Thành Phố Roma là Thành Quốc Vatican, nơi Đức Giáo Hoàng là nguyên thủ quốc gia.
Tòa Thánh được điều hành bởi Giáo Triều La Mã, cơ quan quản trị trung ương của Giáo Hội Công Giáo. Giáo Triều bao gồm các Bộ, đứng đầu bởi các Tổng Trưởng, với Hồng Y Quốc Vụ Khanh là người điều hành quản trị. Giáo Hoàng được bầu bởi Mật Nghị Hồng Y gồm đa số thành viên của Hồng Y Đoàn dưới 80 tuổi.
Mặc dù Tòa Thánh đôi khi được gọi cách hoán dụ là Vatican, nhưng Thành Quốc Vatican thực ra được thiết lập riêng biệt theo Hiệp Ước Laterano vào năm 1929 giữa Tòa Thánh và Italia, để bảo đảm sự độc lập thế tục, ngoại giao, và tinh thần của Chế Độ giáo Hoàng. Theo đó các Sứ Thần, là những nhà ngoại giao của Giáo Hoàng tại các quốc gia và tổ chức quốc tế, được công nhận là đại diện cho Tòa Thánh, chứ không đại diện cho Thành Quốc Vatican, như được quy định trong Giáo Luật.
Do vậy Tòa Thánh được xem là thực thể điều hành quản trị trung ương của Giáo Hội Công Giáo. Bởi thế Giáo Hội Công Giáo là tổ chức cung cấp giáo dục và y tế phi chính phủ lớn nhất trên thế giới.
Tòa Thánh duy trì mối quan hệ ngoại giao song phương với 183 quốc gia có chủ quyền, ký kết các hiệp ước và hiệp định, và thực hiện ngoại giao đa phương với nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc và các cơ quan trực thuộc, Hội đồng châu Âu, Cộng đồng châu Âu, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, và Tổ chức các quốc gia châu Mỹ.
Tòa Thánh không chấm dứt theo một triều đại giáo hoàng. Trong thời gian trống tông tòa bởi việc Giáo Hoàng qua đời như hiện nay, tất cả các vị Tổng Trưởng các bộ trong Giáo Triều La Mã đồng thời chấm dứt nhiệm vụ cho đến khi bầu được Giáo Hoàng kế vị. Trong thời gian này, Hồng y Đoàn sẽ tạm thời điều hành quản trị Tòa Thánh và Giáo Hội Hoàn Vũ. Vị Hồng Y Nhiếp Chính tạm thời điều hành các tài sản và vấn đề tài chính.
Giáo Luật cũng ngăn cấm Hồng Y Đoàn và Hồng Y Nhiếp Chính tự ban hành những luật lệ mới trong thời gian này. Cũng trong thời gian trống tông tòa, vị Hồng Y Chánh Án Tòa Ân Giải Tối Cao vẫn tiếp tục công việc, không buộc dừng hoạt động.
Tòa Thánh Vatican cũng là nơi cư ngụ của Đức Giáo Hoàng tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Laterano (Archba-silica Of Saint John Laterano). Tòa Thánh Vatican cũng là một quốc gia nhỏ trên thế giới, với diện tích khoảng 44 mẫu tây (Hecta) nằm trong thành phố La Mã có khoảng một nghìn công dân.
Đức Giáo Hoàng là Giám Mục của Giáo Phận La Mã, và là nguyên thủ quốc gia, Ngài lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo theo chính thể Quân Chủ với ba ngành Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, Giáo Hoàng được bầu cử bởi Hội Đồng Hồng Y.
Vatican là nơi độc nhất toàn bộ quốc gia được Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc (United Nations Educa-tional, Scientific and Cultural Organization, UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1984. Quảng trường cũng như kiến trúc hành lang Colonnade được thiết kế bởi Lorenzo Bermini và được xây dựng từ năm 1655 đến năm 1667 dưới triều của Đức Giáo Hoàng Alexande VII, và trên nóc hành lang gồm có hình tượng của 140 vị thánh được điêu khắc từ năm 1662 đến năm 1703.
Vatican có đủ các cơ quan của một quốc gia thông thường phải có như sở cứu hoả, sở cảnh sát, nhà máy điện, bưu điện, siêu thị, ga xe lửa, nhà xuất bản, báo chí, bệnh viện, ngân hàng... Vatican có đài phát thanh, và đài truyền hình vệ tinh riêng biệt, truyền dẫn tin tức đầy đủ tới khắp nơi trên thế giới. Du khách xưa nay đem lại nguồn thu hoạch lợi ich từ việc bán tem các Đức Giáo Hoàng, ấn phẩm sách báo, vé hành hương bảo tàng viện, Ga xe lửa nổi tiếng kết nối giữa Giáo Đô Vatican với Thủ Đô Rome của Ý bằng tuyến đường ray dài 852 mét, bởi thế đã có câu nói mọi con đường đều tiến về La Mã.
III. Di Dời Tòa Thánh
Theo lịch sử Giáo Hội, vào cuối thế kỷ 12 và trong thế kỷ 13 các phe phái chính trị tôn giáo hai nước Ý và Pháp đã tranh dành ảnh hưởng lẫn nhau, bởi thế cho nên Ngai Vị Tòa Thánh Phero đã bị di chuyển từ La Mã nước Ý tới thành phố miền nam Avignon của nước Pháp vào năm 1309, dưới triều Đức Giáo Hoàng Clement V là người gốc Pháp (1305 – 1316). Ngài được Hồng Y Đoàn bầu lên trước đó với hy vọng sẽ làm dịu bớt tranh chấp trong Giáo Hội dưới triều đại của Đức Giáo Hoàng Boniface VIII (1294 -1303).
Không ngờ Đức Giáo Hoàng người Pháp Clement V đã di dời Tòa Thánh La Mã về Avignon, nhằm tránh phải đương đầu với gia đình quyền lực người Ý là Colonma. Tuy nhiên khi cư trú trên đất Pháp, thì Tòa Thánh lại trải dài qua 7 đời Giáo Hoàng, trong suốt 68 năm cũng không thoát khỏi sự chi phối chính trị của vua quan triều đình Pháp Quốc cũng như ở Ý mà thôi.
Cho tới triều đại Giáo Hoàng Gregory XI (1370 -1378) lại quyết định mang Tòa Thánh trớ về La Mã vào năm 1377, do công khởi thủy của Đức Giáo Hoàng Urbano V (1362 – 1370), đặc biệt là theo lời khẩn khoản van xin của nữ tu bí nhiệm Dòng Đa Minh (Mystic Dominican Sister) mà sau này trở thành Thánh Nữ Thành Sienna. Nhưng Giáo Hội La Mã cũng chưa an vị khi xảy ra cuộc Ly Giáo Tây Phương (Western Schism) giữa những người cùng Hiệp Thông, Hiệp Nhất (Community, Unity) gọi chung là Ly Giáo (Schism) xảy ra và kéo dài tới tận ngày nay, khiến cho Giáo Hội của Chúa bị phân chia thành hai nhánh chính là Công Giáo La Mã (Roman Catholicism) và Chính Thống Giáo Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) không còn hiệp thông và hiệp nhất với nhau từ năm 1054 tới nay.
Ngoài ra, còn phải kể đến những nhóm khác đã tách ra khỏi hiệp thông và hiệp nhất với Giáo Hội như Tin Lành (Protestantism) và Anh Giáo (Anglican Communion) tách biệt khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã từ thế kỷ 16 tới nay.
IV. Tòa Thánh Ngày Nay
Tóm lại Tòa Thánh nằm trên lãnh thổ của quốc gia Vatican gồm có 4 Vương Cung Thánh Đường đẹp đẽ, nguy nga, đồ sộ như các Vương Cung Thánh Đường Thánh Phero, Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả, Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Laterano, và Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolo ở ngoại thành, dinh Propaganda Fide, Điện Vatican, trụ sở bộ truyền giáo, và các giáo hoàng học viện trực thuộc bộ và số dinh thự ở La Mã, nổi tiếng nhất là biệt thự nghỉ mát Castel Gandolfo. Quân đội Vatican được thành lập vào ngày 22 tháng 1 năm 1506 do Đức Giáo Hoàng Julius II chủ trương, và quân số hiện nay có khoảng một trăm công tác cận vệ cho Đức Giáo Hoàng, và chỉ có đàn ông người Công Giáo Thụy Sĩ mới được tuyển chọn vào lực lượng quân đội Vatican mà thôi.
Thư Viện Vatican được thành lập vào năm 1475 do Đức Giáo Hoàng Nicholas V, là một thư viện với nhiều tài liệu nhất trên thế giới, với các bộ sách sưu tập có tầm quan trọng về lịch sử, khoa học và văn hóa, nổi tiếng là bộ Codex Vaticanus Graecus từ năm 1209 là tài liệu viết về Kinh Thánh cũ nhất thế giới. Sau đây là bốn Vương Cung Thánh Đường mà gia đình chúng tôi học hỏi:
1. Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả(The Basilica of St. Mary Major).
Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả là đền thờ lớn thứ hai sau Vương Cung Thánh Đường Thánh Phero, tọa lạc trên đồi Esquilina cách Vatican 10 cây số về phía đông, trước đền thờ là Quảng Trường Piazza di Santa Maggiore. Theo lịch sử, đây là Vương Cung Thánh Đường đầu tiên thánh hiến cho Đức Mẹ với những đường nét kiến trúc thời Phục Hưng và Baroque được trùng tu mới để mừng năm thánh 2000, cột tháp hoa cương phía trước cao 16 mét xây năm 1614 dưới thời Đức Giáo Hoàng Phaolô V.
Trên đỉnh tháp cao tượng Đức Mẹ bằng đồng với cột tháp hoa cương phía sau cao 20 mét, xây vào năm 1587 dưới thời Đức Giáo Hoàng Sixtus V. Mặt tiền được trang trí theo lối kiến trúc thời Trung Cổ với những phù điêu. Cửa Thánh chỉ mở vào những năm thánh, hai bên tả hữu là 42 hàng cột cẩm thạch đặc biệt trên cao là bức trần chạy dài suốt từ cuối đền thờ lên cung thánh được lát bằng vàng thật óng ánh thực hiện cuối thế kỷ V.
Hai bên tường đền thờ là 43 họa phẩm Mosaic diễn tả những sự tích trong Cựu Ước và cuộc đời Đức Kytô thực hiện từ thế kỷ XIII. Cung Thánh là họa phẩm hình Đức Mẹ được thực hiện theo nét vẽ Byzantine là Thánh Bổn Mạng đền thờ. Bàn thờ chính được thiết kế ngay trên hầm mộ nơi có đặt thánh tích lịch sử Máng Cỏ Chúa Hài Đồng do Thánh Nữ Helena (255 - 327) mang từ Đất Thánh về Roma cùng với thánh giá gỗ mà Đức Chúa Giesu Kyto chịu đóng đinh, được tìm thấy trong một cuộc khai quật để xây thánh đường trên đồi Golgota Jerusalem.
Trong Vương Cung Thánh Đường các nhà nguyện nhỏ như nguyện đường Sfonza, nguyện đường Paolina rất thiêng liêng, nguyện đường Sixtina, những hầm mộ sâu dưới nền đền thờ như hầm mộ các Đức Giáo Hoàng Nicolas IV, Clêmentê IX, Bênêditô XI.
2. Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Laterano (Basilica of St. John in Laterano)
Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Laterano là đền thờ đầu tiên và cổ nhất trong lịch sử Thế Giới Công Giáo, được coi như Nhà Thờ Chánh Tòa của Đức Giáo Hoàng với tư cách Ngài là Giám Mục Giáo Phận Thành Roma. Khởi công xây cất đền thờ này từ năm 311, Từ tiền đình hướng về đền thờ, ngay phía tay phải, một dãy dinh thự khá lớn hình vuông màu đỏ, trước đây là Tư Dinh của các Đức Thánh Cha (Lateran Palace) do Đức Giáo Hoàng Sixtus V (1586 - 1589) cho xây cất và kiến trúc sư Domenico Fontana họa kiểu, thời xưa các Đức Giáo Hoàng được cư ngụ tại dinh thự này, từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIV, trong thời gian dài trên một ngàn năm, trước khi dời về điện Vatican như hiện nay... đàng sau dinh thự và giữa trung tâm Quảng Trường Laterano, một cột tháp hoa cương (Lateran Obelisk) cổ nhất và cao nhất của thành Rôma.
Hai bên tường đền thờ là 12 tượng thánh Tông Đồ khổng lồ, cao gần 5 mét, bằng đá cẩm thạch, được tạc với những đường nét tinh vi sống động, đặc biệt đứng bất cứ góc cạnh nào, cũng đều thấy đôi mắt của các Tông Đồ đang nhìn theo và mời gọi người hành hương hãy đến với các Ngài, đây là công trình điêu khắc để đời nổi tiếng của hai điêu khắc gia người Bernini và Borromini ở thế kỷ XVII. Trang trọng nhất Bàn Thờ Chính, là Bàn Thờ của Đức Giáo Hoàng (Papal Altar) dành riêng Ngài cử hành lễ nghi với tư cách Giám Mục Giáo Phận Roma.
Phía tay trái cung thánh trưng bày pho tượng lớn Đức Mẹ Sầu Bi (La Pietas) bằng đá cẩm thạch trắng của Montanti, và bên kia đường là nhà Nguyện Thang Thánh, theo truyền thuyết kể lại thì Bậc Thang Thánh (The Holy Stairs) là 28 bậc thang bằng đá cẩm thạch, rộng 4 mét, hiện nay được bắc từ mặt đất lên lầu cao 8 mét, đây là những bậc thang mà Thánh Nữ Helena đã tìm thấy trong một cuộc khai quật tại Đất Thánh vào thế kỷ 4th. Những bậc thang này trong dinh Tổng Trấn Philato, thế kỷ thứ I, Đức Chúa Giesu đã từng bước lên những bậc thang này lên gặp Philatôvà bị lên án tử hình, những bậc thang thánh bằng đá cẩm thạch này được bọc gỗ, các bậc thang dẫn đến Nhà Nguyện Holy of Holies xưa kia là nhà nguyện riêng cho các Đức Giáo Hoàng từ dinh Laterano Palace, là nhà Nguyện St. Lawrence với bức tranh khá lớn Đức Kytô chịu đóng đanh trên Núi Sọ với Đức Mẹ và Thánh Gioan Tông đồ. Dưới bức tranh là hàng chữ La Tinh “Chúa Giêsu chịu chết vì tội lỗi chúng ta.”
3. Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolo Ngoại Thành(Basilica of St Paul Outside the Walls)
Thánh nhân tên là Saulo sinh trưởng tại thành Tarso – ngày nay ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, trong gia đình Do Thái, khi còn là thanh niên – Saulo có mặt tại cuộc ném đá thánh Stephano, vị tử đạo tiên khởi và sau đó Sauso trở thành người hăng say bách hại các Tín Hữu Kytô trong thời đế quốc La Mã ở vùng Tiểu Á. Sau Ngài được ơn trở lại đạo và mang tên mới là Phaolo đã thực hiện bốn cuộc hành trình truyền giáo từ Jerusalem đến Roma và sau cùng tử đạo tại Roma.
Sau đền thờ Thánh Phero thì đây là ngôi nhà thờ rộng lớn thứ ba ở Roma, khởi đầu vua Constantino xây nhà thờ trên mộ Thánh Phaolo bị chặt đầu tại Rome năm 67. Theo truyền thuyết Mộ Thánh Phaolo dưới Bàn Thờ Chính, và bên phải Cửa Thánh (Holy Door) chỉ mở vào năm Thánh.
Nhà thờ được Đức Giáo Hoàng Giovanni xây lại vào năm 1220, được trang hoàng với 80 cột đá hoa cương quý giá và hiếm có từ thế kỷ 19th. Cửa chính bằng đồng dát bạc kể lại cuộc đời hai Thánh Phero và Phaolo, tạc vào năm 1931.
Xưa kia gọi là nhà thờ 3 Thánh dâng kính cho 3 Thánh Phaolo, Taurinus và Herculanus tử vì đạo tại Ostia vào thế kỷ thứ 5. Năm 1823 bị hỏa họan thiêu rụi do sự sơ ý của người thợ sửa mái nhà, Nhà thờ mở cửa lại 1840 và năm 1854 Đức Giáo Hoàng Pius IX cho xây lại theo hình dạng cũ, bên trong nhà thờ gồm 4 gian hình Thánh Giá Ai Cập dài 132 mét, rộng 65 mét, cao 30 mét, giữa trần nhà có huy hiệu Đức Giáo Hoàng Pio IX dưới là hàng các bức khảm đá mầu hình 265 Vị Giáo Hoàng từ thời Thánh Phero đến nay.
Bàn thờ chính có 4 cây cột bằng thạch cao quý giá do Phó Vương Ai Cập hiến tặng, trước khải hoàn môn do 2 cây cột bằng nham thạch chống đở là phần còn lại sau các vụ hỏa hoạn, trên trần cao chính giữa là hình Chúa Giêsu giơ tay ban phép lành, 2 bên thiên thần thờ lạy, 4 huy hiệu (Evangelists) các Thánh Sử, mỗi bên có 12 tiến sĩ doctors of church cây cầm triều thiên và hai thánh Phero và Phaolo, trước khải hoàn môn là hai tượng thánh Phero và Phaolo cao bằng đá rất đẹp. Cung Thánh có bức khảm đá mầu (Mosac) tạc vào năm 1220, và chính giữa là Chúa Kyto ban phép lành, 2 bên phải là thánh Phero và Andrew, Thánh Phaolo và Lucas, phía dưới là hình Thánh Giá dát ngọc, hai thiên thần và các thánh tông đồ và dưới là Ngai Giám Mục chạm nổi.
Sân trong là Tu Viện các cha Dòng Biển Đức. Trên tường trưng bày các bia mộ bản khắc và các di tích cổ, bên trái là gian phòng trưng bày các bức tranh, cánh cửa đồng của đến thờ cũ, và hình ảnh, các bản khắc của các công tr.nh xây cất đền thờ và các cảnh hỏa hoạn năm 1823, bên cạnh là nhà nguyện nhỏ có hài cốt các Thánh.
4. Vương Cung Thánh Đường Thánh Phero (St. Peter Basilica)
Hoàng đế Costantino xây năm 326-333 sau Công Nguyên trên mộ Thánh Phêro gần hí trường Neron nơi thánh nhân tử vì đạo, nhà thờ thánh phero ngày nay xây lại trên nền nhà thờ cũ được xây vào thời Vua Constantine xây trên nền nhà nhà cũ từ Thế Kỷ IV. Cuối Thế Kỷ XV nhà thờ cũ đã bị hư hại chính Đức Giáo Hoàng Giuliô II đã ra lệnh phá bỏ nhà thờ cũ này để xây nhà thờ mới với mong muốn đây sẽ là nơi chôn cất chính mình sau khi mất. Michelangelo đã thiết kế mái vòm nổi tiếng.
Michelangelo không thể hoàn thành mái vòm này ông mất năm 1564 và kiến trúc sư Giacomo della Porta hoàn tất, kế hoạch xây dựng trải qua hơn một thế kỷ với 21 Triều Đại Giáo Hoàng và qua 8 kiến trúc sư. Sau 120 năm xây dựng, Vương Cung Thánh Đường được khánh thành năm 1626 với chiều dài 220 mét, rộng 150 mét, cao 138 mét, chứa khoảng 60.000 người, mái vòm nhà thờ cao 136.6 mét, đường kính ngoài 42 mét, đường kính trong 41.5 mét, diện tích cả khu vực khoảng 6 acres.
V. Kết Luận
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho sự hợp nhất của Giáo Hội sớm được thực hiện qua cố lực đại kết (Ecumenism) mà cả hai Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thống Đông Phương đều đã có thiện chí theo đuổi trong mấy thập niên qua. Nhưng kết quả cụ thể cho đến nay vẫn còn rất xa vời, vì trở ngại lớn nhất vẫn là ngôi vị Giáo Hoàng Roma mà anh em Chính Thống Đông Phương vẫn không công nhận là vị lãnh đạo duy nhất kế vị Thánh Phero trong sứ mệnh cai trị Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ (Universal Church) mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ để tiếp tục Sứ Mệnh Rao Giảng Tin Mừng cứu độ của Chúa cho đến ngày mãn thời gian. Các nhóm Tin Lành và Anh giáo cũng đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh duy nhất Giáo Hội của Chúa Kytô, cho nên việc Hiệp Thông và Hiệp Nhất (Community, Unity) với các nhóm này đều trở nên khó khăn vì trở ngại này.
Riêng về phần gia đình chúng tôi xin cảm tạ Ơn Chúa thương ban cho một dịp hành hương Tòa Thánh an lành vui vẻ hạnh phúc và học hỏi được nhiều điều mới lạ, cũng như xin chia sẻ tâm tư cùng Quý Bạn Đọc. Đa tạ.
Việt Bào Phạm Văn Bản
- Details
- Category: Thế Giới
- Hits: 788