Airforce Echo News
Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang -1968
SVSQKQ
---oo0oo---
- Details
- Category: Không Quân VNCH
- Hits: 903
Võ Quang Thẩm
---oo0oo---

Tâm mua hai khúc bánh mì, một cho mình và một cho Nhân, người bạn bay chung với Tâm đêm nay. Hai chiếc bánh khô khan, những mảnh fromage thịt nguội với tâm giờ đây không có một sức hấp dẫn nào, nhất là sau buổi cơm chiều. Nhưng Tâm vẫn tự nhủ những thức đó sẽ đầy đủ ý nghĩa và tác dụng khôn lường ở chuyến bay nửa đêm. Tâm còn nhớ, những đêm sau tết, sự đòi hỏi của tình thế với những chuyến bay đêm liên tục. Đã nhiều phen, tâm thức dậy từ một cơn đói nửa đêm, cơn đói của một ngày biến cố, không quán ăn, không câu lạc bộ. Tâm cũng như các bạn đồng cảnh ngộ, phải đi bay trong cơn đói phũ phàng suốt hai tiếng đồng hồ túc trực trên trời, trong quãng đêm dầy đặc. Tự nhiên Tâm nghĩ đến Phận, nghĩ đến sự ra đi vĩnh viễn của một người bạn được tiếng gương mẫu và hiền hòa, nghĩ đến những điều kiện an phi, nghĩ đến những giả thuyết cho rằng khi người ta đói thì dễ bị ‘vertigo’. Nghĩ đến những chuyện đã rồi, đã qua. Đau thương thay! Mỗi một kinh nghiệm phải trả bằng một giá quá đắt.
Tâm khẽ thở dài. Không muốn nghĩ gì thêm. Chàng trao tiền cho cô hàng, cơ hồ quên đi nụ cười xã giao duyên dáng. Tâm lẳng lặng cho bánh mì vào túi. Tâm đạp máy xe, trở vào Biệt Đội.
Năm giờ rưỡi chiều. Còn ba mươi phút nữa mới đến giờ túc trực. Tâm không biết Nhân đã vào chưa. Thông thường Nhân vào sớm. Nhân là người thật thà, dễ tính. Thật thà như chính chiếc áo bay rộng lớn của anh không một đường cắt sửa. Nhân chủ trương ‘trời sinh sao để vậy’. Nhân bằng lòng với tất cả những gì cuộc đời mang đến cho anh, bằng lòng tất cả những phi vụ dù vào giờ cơm, nửa đêm hay ngày nghỉ lễ. bằng lòng cả danh từ ‘nụ cười nham nhở’ muôn năm nở trên môi anh mà các bạn thường gọi.
Vào đến Biệt Đội, Tâm thấy Nhân đã ngồi vất vưởng trên những bao cát của hầm trú ẩn, đang ngáu nghiến những hạt bắp ngon lành. Thoạt thấy Tâm, Nhân nhanh nhảu kéo từ trong túi áo bay trái bắp đã lột sẵn vỏ, ném cho Tâm. Tâm phải vất vả để vừa nhận qua của Nhân vừa giữ xe cho khỏi ngã. Đến khi trái bắp nằm gọn trong tay Tâm, Nhân thích chí, chân đu đưa đập vào thành cát:
--Ăn đi, ăn đi. Còn nhiều lắm. Tao để trong trailer. Kể cả hai đòn bánh tét để dành cho chuyến bay đêm.
Tâm đến bên Nhân, sau khi nguyền rủa Nhân với trò ‘cho như cho ăn mày’, Tâm vất bỏ những mảnh thuốc lá vụn bám vào những hạt bắp trắng nuốt no tròn. Tất cả đều xuất xứ từ chiếc túi hỗn độn của Nhân. Tâm đưa bắp lên miệng. Tâm thấy vị bắp nấu ngọt ngào. Nguyền rủ như một thói quen giữa Tâm và những bạn nơi Phi Đoàn. Như những lần biệt phái trở về, tay bắt mặt mừng. Tối thiểu cũng phải chào nhau bằng câu:
--Sư mày, sao đi lâu vậy?
--Tiên tổ mày, đói rách gần chết. Ở biệt Đội ăn cái giải gì? Về còn chửi.
Nguyền rủa cả những cử chỉ thân ái thương yêu. Như giữa Tâm và Nhân hôm nay những cử chỉ làm Tâm cảm động. Cái cảm động thoáng qua nhanh giữa những người cùng chung cuộc sống, nhất là ở mội chuyến bay đêm với những gian nguy thử thách sự thông cảm giữa Nhân và Tâm càng sâu xa bao nhiêu.
Gần Nhân cũng như những bạn nơi phi đoàn. Giữa những chuyện phiếm ồn ào, đề tài không giới hạn, giữa những cuộc cờ đang hồi gay cấn, giữa xã hội bay bổng trẻ trung, trí óc Tâm như bị quay cuồng lôi cuốn theo giúp Tâm dễ quên lãng. Tâm trạng Tâm nhẹ nhàng hơn những lúc quay quần bên gia đình, bên vợ, bên con. Trí óc nặng trĩu bởi những hình ảnh gian nguy của một chuyến bay đêm. Con người ta khi không thấy hạnh phúc thì dễ lãng quên. Nhưng khi được hạnh phúc thì sợ mất. Tâm buồn cười cho tâm trạng của mình. Cũng như buồn cười cho câu húa đưa đẩy ban chiều với vợ mà Tâm không biết mình đã trấn an cho vợ hay cho chính mình.
--Mùa này hay mưa. Tối nay anh không bay đâu. Chỉ vào Biệt Đội ngủ túc trực. Ngoan lên. Mai anh về dẫn đi ăn sáng.
“Mai anh về dẫn đi ăn sáng”. Câu hứa chỉ đơn sơ và dễ dàng đến thế, mà giờ Tâm chưa thể trả lời được. Câu hứa như một bến bờ hạnh phúc mà trong cuộc sống bay bổng của Tâm đã nhiều người không đạt đến, sau một chuyến bay…
Tâm không muốn nghĩ thêm những cảnh đợc chờ mà Tâm đã chứng kiến. Những cảnh đợi chờ thấp thỏm nhưng hy vọng của những người vợ có chồng là hoa tiêu. Hy vọng bao nhiêu trong lúc trước mắt Tâm cũng như những bạn nơi Phi Đoàn, đang gạt lệ, xúc tiến thủ tục ma chay. Hy vọng bao nhiêu để rồi chợt thấy bầu trời quay cuồng, sụp đổ với những chiếc áo vàng thắt cà vạt đen thoáng ngoài khung cửa…
Những hạt bắp Tâm đang nhai đã thành sỏi đá. Tâm khẽ lắc đầu. Nhân ngạc nhiên quay sang:
--Làm gì ủ rũ như gà mắc mưa vậy cưng? A! hay trưa nay bị ‘bà xã’ cho treo mỏ rồi. Thôi, mai về lạy lục năn nỉ như tao đây. Làm gì bà ấy chẳng xiêu lòng.
--Tại vì không tiền mua sữa cho con. Tâm trả lời bâng quơ.
--Thôi, nhờ anh tí. Trời sanh voi sanh cỏ. Từ hồi nhỏ đến giờ, ta có ‘bú’ một giọt sữa nào đâu, vẫn sống nhăn răng ra đây cưng ạ.
Nhân tự cho mình bông đùa ý nhị, cười khanh khách, hai tay dang rộng, nhực ưõn to:
--Này, cưng về dạy con của cưng, ráng thở khí trời như bác của nó đây, mau lớn cưng ạ.
Tâm không trả lời, chỉ gật đầu, ra chiều tán thưởng, nhìn ra xa. Khoảng trời mênh mông của vùng Tân Sơn Nhất, sau cơn mưa chiều chỉ còn lại vài áng mây vương vất nắng. Vùng trời bao la đó, Tâm đã hằng ao ước sống, vào những ngày còn nhỏ Tâm theo mẹ lên phi trường. Giờ đã thành sự thật, hơn cả điều Tâm mơ ước. Khoảng trời đêm bao la, tầm nhìn không giới hạn, ở mỗi lần cuộc đời Tâm gắn liền theo cánh gió.
Khác chăng, ngày trườc Tâm với một tâm trạng vô tư, với một mơ ước mơ hồ, nhiều màu sắc như cánh bướm mỗi lần Tâm theo đuổi. Ngày nay Tâm với một tâm trạng suy tư, với một thực tế khác, một trách nhiệm nặng nề như một số bom đạn nơi đôi cánh của dãy phi cơ ngoài bến đậu. Số bom đạn mà Tâm phải tiêu thụ đêm nay, số bom đạn mà Tâm phải trút đổ trên phần đất quê hương, mục tiêu chưa biết, số bom đan mà cả khối dân đô thành, trong đó có mẹ Tâm, vợ con Tâm, anh em Tâm đang kỳ vọng ở sự tiêu thụ chính xác của Tâm. Bất giác tâm thở dài với trách vụ nặng nề đó và tâm muốn trở về tâm trạng vô tư ngày trước, tâm trạng của những trẻ thơ, khi mộng ước chưa thành.
Nhân vẫn ngồi bên Tâm, vừa đập muỗi, vừ chửi đổng:
--Tiên sư mấy con muỗi này. Ngu si không biết chọn phi trường mà đáp. Đáp ẩu rồi vô tình hút nhằm máu chịu chơi, máu đọi của ông. Khốn nạn lắm con ạ. Ông làm phước giết cha nó cho rồi.
Mỗi lần hạ được một con Nhân lại cẩn thận cho xác vào bao giấy kiến thuốc lá. Đến khi Nhân kiểm lại, Nhân báo cáo kỹ lưỡng: “Mười hai con bỏ xác tại chỗ, một số được đồng bọn mang đi”. Cũng vừa lúc ánh nắng lẫn vào bóng đêm. Chiếc thánh giá từ nóc nhà bên kia phi trường đắm chìm vào bóng tối. Chân trời thu hẹp đến vòng đai. Sao đã lố nhố trên nền trời. Nhân xáp lại, kè Tâm vào “trailer”.
Đã quá mười giờ đêm. Tiếng ngáy ngủ của Nhân vẫn đều đều từ bên kia giường vọng lại. Qua khung cửa nhỏ bé, ánh sáng vàng vọt từ ngoài chiếu vào, đủ thấy hai chiếc bánh tẹ mà Nhân đã cẩn thận treo trên nóc trailer. Nhân vẫn thường nói suốt đời Nhân chỉ sợ đám ruồi bầy kiến, những thứ miệng nhỏ nhưng tầm ăn hại rất đáng lo. Nguy hiểm cũng không vừa, không “chích” thì thôi, hễ “chích” ắt phải đau điếng. Tấm thân to lớn của Nhân, muốn được yên thân, muốn thoát ra khỏi họa ruồi muỗi cũng lắm công phu…
Giấc ngủ đến với Nhân thật dễ dàng mà Tâm Không thể có được. Nghĩ đến thời gian đằng đẵng của hai giờ bay đêm Tâm muốn được ngủ. Dù giấc ngủ có ngắn ngủi, vội vàng nhưng để Tâm đủ sức chịu đựng suốt hai giờ liền trong phòng lái nóng bức, trong vòng tay nhỏ bé quanh quẩn thủ đô, trong sự quan sát và chăm chú tối đa. Tâm muốn được sự sáng suốt và minh mẫn của loài dã thú. Sự nhanh nhẹn của loài dơi đen về đêm. “Black Bat” danh hiệu của phi tuần Tâm bay đên nay như nhắc nhở Tâm những đặc tính cần thiết của loài vật về đêm, Tâm cần phải hội đủ cho một chuyến bay đêm. Như thầm nhắc nhở Tâm đến cuộc sống hiện tại, cuộc sống của những bóng đen Vô Danh âm thầm chiến đấu.
Đàu óc tâm mỗi lúc thêm nặng trĩu bởi những tư tưởng hỗn độn, dồn dập đến. Cơ hồ Tâm thấy mình như chiêa lá bị lôi cuốn theo bởi những dòng tư tưởng không chủ định, khó xua đuổi. Tâm muốn quên tất cả và muồn dỗ giấc ngủ bằng phương pháp vào những ngày còn nhỏ Tâm thường áp dụng. Tâm bắt đầu đếm: “Một con cừu, hai con cừu…” đến lúc tiếng chuông điện thoại reo lên. Tâm không biết mình đã đạt đến con cừu thứ mấy trăm. Tâm uể oải bước ra khỏi giường. Bên kia Nhân cũng vừa nhỏm dậy. Nhân mở mắt, vươn vai. Gương mặt còn say ngủ. Rồi như can đảm vất bỏ tất cả sự quyến rũ của thú gối ấm chăn êm Nhân vụt thoát ra khỏi giường, đi thay áo bay.
Còn hơn hai mươi phút đến giờ cất cánh. Tâm và Nhân bày thức ăn ra bàn. Bữa ăn bỗng thành thịnh soạn với những khoanh bánh tét mới cắt, những mảnh chả lụa, fromage. Trừ hai chiếc vỏ hộp coca méo mó, lâu ngày, dùng làm hai vật uống nước. Những vật đơn sơ đó, mỗi lần dùng đến, tâm và Nhân vẫn thấy thích thú vì tính cách hữu dụng. Nhất là ở giá trị của việc thích nghi với mọi tình thế. Và trong hoàn cảnh hiện tại, không cho phép Tâm nghĩ đến những giọt cà phê, một ly sữa nóng có thể mang đến sự sảng khoái cho tinh thần trước mỗi cuộc bay đêm.
Bữa ăn vội vã qua mau. Tâm nhận chi tiết của phi vụ từ trung tâm hành quân. Nhân nhặt những vật thừa còn lại, cuộn trong tờ báo cũ cho vào sọt rác. Tâm trao mảnh giấy phi lệnh cho Nhân. Cả hai ra khỏi “trailer”. Căn cứ Tân Sơn Nhất đắm chìm trong giấc ngủ. Những ngọn đèn ủ dột sương đêm. Mặt bến đậu loang loáng nước sau cơn mưa chiều. Trăng mười sáu lên cao. Tâm thở mạnh, không khí mát lạnh đi sâu vào xương tủy. Tâm như vừa thoát ra khỏi một trạng thái bệnh hoạn và đang độ phục sức.
Tâm bước lên phi cơ. Viên cơ trưởng ra hiệu mở máy. Nhân sẵn sàng bên phi cơ kế cận. Những cánh quạt nặng nề chuyển động. Rồi sẵn đà ngon trớn, quay nhanh. Luồng không khí lạnh hắt vào mặt. Những vệt lửa xanh dài, thoát ra từ ống thoát. Âm thanh ròn rã xé đêm thâu, một thứ âm thanh vô duyên trong đêm tịch mịch, một thứ âm thanh gầm thét giận dữ của loài quái vật, trước giờ lâm chiến.
Tâm điều chỉnh ánh sáng trong phòng lái, kiểm soát phi vụ, thử vô tuyến. tất cả đều bình thường. Tâm nối đuôi Nhân di chuyển ra đường bay. Dọc theo đường di chuyển, những vận tải cơ là những bóng đen khổng lồ, mệt mỏi sau một ngày đường xa về, với vẻ buồn của một lữ khách vào mộtđêm xứ lạ, quê người. Những chiến đấu cơ lẩn khuất trong nhựng u đất che thân, mất hết vẻ kiêu hùng như những giờ phút trên trận mạc.
Phi cảng Tân Sơn Nhất im lìm, buồn nản cho số phận một cửa ngõ quốc gia trong thời chiến. Tâm nhớ tại đây, vào một đêm khi Tâm đặt chân lên quê hương sau những ngày xa xứ. Cũng vào giờ này, hai giờ đêm. Đón tiếp Tâm, chỉ có bóng dáng những hàng cây xơ xác, chỉ có một phi cảng vắng người vào giới nghiêm, tiêu điều như những thành quách hoang phế lâu đời. Tâm và các bạn phải ngồi nơi bậc thềm chờ đến suốt sáng.
Sau bao ngày xa quê hương, trở về nhìn đất nước điêu linh, thống khổ. Bên tai, không còn âm thanh dịu vợi của một phi cảng thanh bình, mà chỉ còn những tiếng đại bác từ xa vọng lại. Trước mặt không còn những bóng dáng bình thản của một dân tộc phú cường mà chỉ còn lại dáng dấp tả tơi của một vài người dân Việt, sống nghề khuân vác, với tấm thẻ An ninh nơi ngực, co ro ngủ dọc hành lang.
Tự nhiên, Tâm không còn nghĩ đến vòng tay chờ đợi của người yêu. Tâm không còn nghĩ đến cảnh đón tiếp rộn ràng của người thân trong gia quyến mà Tâm hằng mong đợi bấy lâu, Tâm chỉ còn nghĩ đến sự khác biệt của những dân tộc, nghĩ đến nỗi bất hạnh của kiếp người bởi tai nạn chiến tranh. Giờ đi qua chốn cũ Tâm như vô tình vấp phải nỗi đau đớn của vết thương chưa lành hẳn. Một vết thương vẫn tiềm tàng mà bấy lâu Tâm không thấy sức mạnh của đớn đau vì tâm đang sống trong một xã hội mà quanh Tâm mội người đều mang một vêt thương khó trị như Tâm. Vết thương đó sẽ đau đớn bao nhiêu khi con người lạc vào một xã hội an lành. Tâm nghĩ, ngày nay cũng chính vì vết thương chung đó, chính vì hoài bão chung của dân tộc, mong xóa tan những đớn đau đang đè nặng lên quê hương, Tâm cũng như Nhân, cũng như tất cả các bạn cùng chung cuộc sống nơi Phi Đoàn phải chấp nhận mọi kham khổ, gian nguy và cố tìm cho mình ý nghĩa ở mỗi chuyến bay.
Phi cảng lùi dần về sau, như mang theo ánh sáng buồn bã, như theo những suy tư của Tâm hiện thời. Giờ Tâm phải trở về thực tế, trở về với công việc thường xuyên, khiểm soát phi cơ trước khi cất cánh.
Tâm thường đọc bài vè do mình đặt ra:
“Cuộc đời bay bổng đừng quên
PRE TAKE OFF CHECK ta nên sẵn sàng,
Phòng khi gió lớn gió ngang
TRIM, LOCK, OFF, SAFE thẳng đàng mà đi”.
Bài thơ gồm những danh từ chuyên môn, những điểm chính yếu, không cho phép Tâm quên ở mỗi chuyến bay. Tâm vẫn thấy thích thú, dù lời thơ thiếu âm điệu, ý thơ gượng ép. Nhưng Tâm vẫn tự nhủ, bài thơ đó đã giúp Tâm vượt qua được những trở ngại đầu, mỗi lần cất cánh.
Tâm kiểm soát lại một lượt chót bộ phận lái. Các phi kế vẫn bình thường trong ánh sáng lân tinh vừa đủ. Nhìn khoảng đen bao la trước mặt, Tâm có cảm tưởng dãy đen hai bên phi đạo hướng lên cao. Đài kiểm soát cho lệnh cất cánh. Tâm đẩy tay ga vế trước, đến vị thế tối đa. Toàn thân phi cơ rung chuyển. Tâm nhả thắng, phi cơ tròng trành rồi lao về phía trước. Những ngọn đèn phi đạo kéo chạy về sau, càng lúc càng nhanh, đến lúc phi cơ đạt đến vận tốc cất cánh. Tâm nâng nhẹ cần lái, phi cơ lên cao. Tâm nhìn phía trước, phi cơ của Nhân đắm chìm trong khoảng sâu đêm tối mà Tâm chỉ có thể định được vị trí bằng những ngọn đèn nhỏ bé nơi cánh và đuôi.
Tâm giảm ánh sáng trong phòng lái để tăng thêm tầm nhìn bên ngoài. Thành phố Saigon trở nên nhỏ bé, chỉ còn là một sự tập hợp của những đường đen sâu thẳm.
--Black Bat 2, đây 1 gọi.
--2 : nghe 5/5
--Trăng đẹp quá!
-- Black Bat 2, hiểu.
Tâm mỉm cười khi nghe Nhân truyền cho mình một công điện vu vơ. Giờ nếu không chịu một kỷ luật gắt gao của phương thức vô tuyến chắc Tâm và Nhân sẽ nói chuyện thất nhiều để xua đuổi cơn ngủ có thể đến bất cứ lúc nào hay để chia xẻ những vẻ đẹp trăng sao. Những vẻ đẹp của quê hương mình bên dưới vào một đêm trăng sáng. Quê hương đáng yêu với những dòng sông phù sa uốn khúc, phơi mình trong ánh trăng, như những dòng sữa mẹ hiền hòa. Quê hương của những mái tranh còn đắm chìm trong tăm tối. Quê hương của một giống dân chất phác, thất thà còn mãi lận đận với chiến tranh. Quê hương của những lo âu, sợ hãi. Quê hương của những tràng pháo kích bừa bãi vào thành phố. Quê hương của những tay, những chân, tim, phổi bị phân tán bởi sức công phá của những mảnh hỏa tiễn vô tâm.
Nhìn màu đen bao la bên dưới Tâm tìm cho mình ý nghĩa của phi vụ tuần phòng ban đêm. Tìm giá trị của hy sinh, đánh đổi kham khổ với một giấc ngủ yên lành dù chỉ qua một đêm ngắn ngủi. Tâm nhớ những hôm sống giữa đô thành, vào những lần địch pháo kích, Tâm ôm đứa con trai vào lòng, ngồi bất động. Tâm lý bắt Tâm phải làm một cái gì để được yên tâm, nhưng khi nhớ đến mái ngói đơn sơ, trần nhà mỏng manh Tâm chỉ còn trông cậy vào định mệnh. Rồi khi sóng gió đi qua, con người như những con vật thí nghiệm, vừa thoát ra khỏi một cơn thử thách của tử thần, bắt đầu bàn tán xôn xao, rộn rã như khi đề cập đến một tấn tuồng hấp dẫn mà họ là những nhân vật chính, trong đó có sự góp mặt của những phi tuần khu trục trên trời là nguyên nhân quan trọng để địch rối trí, sợ hãi rút lui. Nỗi vui mừng, hãnh diện đã xâm chiếm tâm hồn Tâm lúc đó, khi Tâm nghĩ những phi tuần họ đang trông cậy, đang nói đến không ai xa lạ hơn những gương mặt quen thuộc của bạn bè nơi Phi Đoàn.
Đêm nay đến lượt Tâm muốn mang niềm hy vọng đó cho muôn người và riêng cá nhân Tâm. Một cá nhân với những hạnh phúc riêng tư. Đến lúc Tâm phải trả những gì Tâm đã hưởng hay những người thân quanh Tâm đã hưởng.
*
Thời gian nặng nề trôi qua. Mỗi vòng bay quanh thủ đô không đầy năm phút. Tâm không nhớ mình đã bay đến vòng thứ mấy mươi. Chiếc kim dạ quang trên mặt đồng hồ như vẫn cố định. Tâm thấy sức lực mình tiêu hao theo bước chân chậm chạp của thời gian. Mồ hôi ướt đẫm sau lưng, đọng đầy nơi vành tai, giữa hai chiếc 'écouteur' của chiếc nón bay chật hẹp. Ống gió nhỏ bé không đủ sức làm dịu bớt sức nóng trong phòng lái. Cao độ bay thấp dần theo trần mây mỗi lúc một xuống thấp. Những đám mây nặng chĩu kéo về, ánh trăng bị ngăn chặn trên cao. Quanh Tâm chỉ còn lại bầu trời tối đen như mực. Ánh sáng từ thành phố vọng lên chiếu sáng những hạt mưa đầu, rơi trên mặt kính.
--Black Bat 2, đây 1 gọi.
--Black Bat 2 nghe 5.
--Nhớ mở pilot heater ON khi vào mây, nếu lạc 1. Nhớ bay phi cụ.
--2 hiểu.
Lời nhắc nhở nghe nghiêm trang, đanh thép. Tâm biết vào giờ phút này, giờ phút hiểm nguy giữa mưa sa gió táp. Chỉ mình mới có thể định được mạng sống cho mình. Những lời nhắc nhở kia không phải vô ích. Trái lại đã nói lên sự lo lắng sâu xa, trách nhiệm nặng nề của người phi công chỉ đạo.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Sàigòn chỉ còn là một vùng ánh sáng mờ ảo chìm sâu trong biển nước. Ánh đèn từ phi cơ Nhân bị xóa nhòa qua màn mưa, khi ẩn khi hiện với những đám mây vụt thoáng lướt qua. Tâm thấy cuộc sống của mình đã như cây khô trước gió. Chỉ cần một giây sơ ý, một chút lỗi lầm sẽ gãy đổ tang thương, sẽ không còn dịp để ôn lại những gì mình đã làm trong giây phút cuối, sẽ không còn đủ thời giớ dù chỉ để gọi một tên thương yêu.
Tâm bám vào những ngọn đèn chuẩn của Nhân như bám vào niềm tin tưởng, vào ánh đuốc soi đường trong đêm tối. Chưa bao giờ Tâm thấy cuộc đời mình bấp bênh và gắn chặt với cuộc sống của người bạn đường trong chuyến bay đêm nay.
Nhớ đến phi vụ đang thi hành, một phi vụ bỏ dở mà giờ đây Tâm và Nhân đang trên đường trở về vì thời tiết xấu. Phi vụ dở dang như tan vỡ hy vọng của bao người đang trông cậy vào phi tuần túc trực trên không. Tâm thầm mong "Chúng đừng pháo kích trong đêm mưa này" và thấy như muốn lưu lại dù với bầu trời tối tăm giông bão, dù ở lại âm thầm như những bóng DƠI ĐEN, dù với hai giờ túc trực gian khổ trên không để trở về bến đậu với đôi cánh còn đấy bom đạn. Rồi để tự nhủ rằng:
--Địch đã không pháo kích, tấn công. Quê hương thương yêu đã qua khỏi một đêm u sầu, tan tác vì bom, đạn.
Võ Quang Thẩm
(tr. 345- 360 Tập Thơ Truyện KQ Thời Chiến)
Sinh năm 1939 ở Kiến Hòa, Nam Phần.
Xuất thân là hoa tiêu quan sát (1964-65), hoa tiêu khu trục A1H (1965-69) và hoa tiêu phản lực A 37.
Từng bay tham dự hầu hết trên khắp các chiến trường: Bồng Sơn, Tây Ninh, Saigon (Mậu Thân) rồi U Minh, Hà Tiên, Mộc Hóa, Cai Lậy, sầm Giang, Kampuchea. Từng có nhiều truyện ngắn đăng trên tập san Lý Tưởng từ năm 1965. Hiện nay mang cấp bậc Thiếu Tá hoa tiêu, phục vụ ở Sư Đoàn 4 KQ.
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 22

Eo núi tạo bởi hai đỉnh non cao mây trắng phủ lưng chừng ngọn, mở ngõ vào như một miệng hang mà những đuôi mây thả lửng lơ tựa hồ thạch nhũ hay như những chiếc nanh của hàm rồng há chực và chúng tôi là những con mồi ngoan ngoãn rủ nhau tự hiến. Non thần mở cửa đón đợi chúng tôi. Chiếc cửa không lồ cạm bẫy mà khi rong ruổi bay vào, tôi nghe rờn rợn trong lòng cảm giác một loài sinh vật tế thần đang bị thôi miên, riu ríu nạp mình giữa hàng nanh nhọn hoắt.
Đường bay tiến vào Dak Pek hay đường lên trời? Mây hay lưới bẫy mưu toan xập bắt? Gió. Những ngọn gió bất kham từ đỉnh non quật xuống từ chân núi cuộn lên. Con tàu chòng chành nghiêng ngả, con tàu như thể mảnh thuyền vô tội lao đao trên ngọn ba đào vùi dập làm tôi phải chân đạp tay kìm, vất vả đưa con tàu qua khỏi vùng non hiểm hóc. Những cơn chật vật thế này đều đã thân quen cảm giác, đều đã bao lần hứng chịu. Đường bay thông thuộc trong lòng. Rừng núi không còn xa lạ bao tháng năm dài đi lại. Tôi cứ bay về hướng Bắc, theo dòng suối lượn trong lòng thung lũng hẹp, theo dấu đường mòn ẩn hiện dưới vòm vây cỏ hoang vu. Kia rồi những quả đồi non tròn san sát ngỏn ngang như mồ mả. Tôi thấy hiện rõ, Dak Pek!
Dak Pek tiền đồn là nguyên quả đồi đất đỏ với chập chùng hào lũy vây quanh. Quả đồi lớn nhất giữa những quả đồi trơ trụi có dòng suối nhỏ ấp ôm. Từng lớp rào tre, từng vòng cây rừng vót nhọn viền quanh, với thép gai, với hào chông tua tủa từ chân đến đỉnh đồi làm chiến lủy phòng thủ cái tiền đồn nhỏ bé. Những lớp hào lũy kiên cố ấy và dẫy pháo đài lụp xụp bốn hướng toàn lỗ châu mai, tạo thành những vòng tròn điểm tâm động là ngọn cờ vàng tung bay phất phới. Khu hầm chỉ huy tua tủa cần phát tuyến và dây trời giăng mắc như lưới nhện. Trên những ngọi đồi xa, từng chòi lá lênh khênh hướng mắt canh chừng một dải rừng già âm u của rặng Trường Sơn bí hiểm. Rừng ám tối dẫy đầy ma quỷ ẩn thân. Loài quỷ yêu ma ngày đêm rình rập, hét hò bắn giết, đoạt chiếm tiền đồn, mở cửa cao nguyên, tràn vào Dak To, Tân Cảnh.
Dak Pek tiền đồn, tôi đã bao lần bay đến nhưng tuyệt nhiên chưa từng đặt chân lên mặt đất nơi này. Trực thăng thường chỉ đáp xuống bãi ruộng khô bên dòng nước bọc chân đồi phía Đông và đậu ở đó một khoảng thời gian ngắn ngủi cho việc thả đồ tiếp tế hay đón thương binh rồi hối hả bốc mình bay về Kontum xa lắc.
Chỉ là một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi và vô nghĩa trong cả đời dài mòn mỏi, nhưng tôi cũng đủ thì giờ say đắm thả hồn lững thững phiêu du trong phần cảnh đẹp của muôn vàn cảnh đẹp quê hương yêu dấu. Có khi là buổi sáng mờ sương, cạy cỏ tỏa hương thơm trong gió dịu dàng. Có khi là buổi chiều vàng, mây trắng nuột nà sáng rỡ bồng bềnh trên thảm trời xanh. Đồi núi chập chùng cũng rợn màu xanh báy ngát. Buổi chiều mặt trời ở phương Tây, lẩn sau mây núi, tỏa hào quang rực rỡ rừng chiều, thàn tiên cảnh đẹp…
Tôi thường ngồi ngây dại trong phòng lái nhìn qua vuông cửa ngỏ. Tiếng máy bay êm trầm mơ vọng từ cõi xa dẫn tôi phiêu diêu thàn trí quay về Dak Pek sừng sững trước nhãn quan, rào tre tua tủa chọc trời, hào lũy nhấp nhô, ngọn cờ vàng lộng tung trước gió. Tôi tưởng đâu đây ngập tràn linh khí tiền nhân. Như hiển hiện chóa lòa một núi lam hùng vĩ của đoàn trai áo vải dựng cờ khởi nghĩa. Cờ xí ngợp trời, người ngựa và gươm đao lấp loáng. Tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, vùng non khí thiêng cao nhất. Tôi tưởng như thấy cảnh tưng bừng một sáng mùa xuân cũ:
“Bóng quân đi theo từng hơi gió miền xa vời
Vầng ô lên sương tan mờ trong khe núi
Bước quân đi theo tiếng chiêng oai hùng rơi…”
Dak Pek tiền đồn, từ dưới ngước nhìn lên, thât vô cùng hùng vĩ. Tất cả đếu vươn cao. Rào cây vót nhọn. Chòi canh. Vọng gác. Cột cờ. Những cột ăng-ten cung những bóng người đứng trên các lô-cốt cao nhìn xuống… Tất cả đều đứng thẳng, in hình sắc nét trên nền trời. Oai hùng ngạo mạn. Khiến tôi nghe huyết quản bừng bừng lòng yêu đất, bừng bừng cơn giục giã tôi phóng mình ra khỏi chiếc phi cơ chật hẹp. Để bay biến chạy lên đồi hòa mình nhập cuộc với người với cảnh uy nghi hùng tráng nơi đây. Tôi cũng là một người trai áo vải đứng hiên ngang trên lồng lộng cao. Bàn tay nắm chặt đốc gươm, sôi nổi trong lòng tình yêu thương đất, mắt ngời ngợi lửa căm thù, ngạo nghễ hướng về phương Bắc…
Khốn khổ thân tôi sao quá giàu tưởng tượng. Chết vẫn không chừa cái tật ôm ngang ảo mộng như đầu óc trẻ thơ. Nào đâu ngựa hí quân reo? Nào đâu gươm đao chiến sử? Những người cằn cỗi đứng bên rào kẽm gai dầy. Những súng thập thò trong miệng lỗ châu mai. Những hố bom dễ sợ, những bãi mìn xâm lấn tới nương rẫy nghèo nàn của một sắc dân thiểu số. Ôi cảnh bình yên bất trắc nào thi vị chi đâu mà tôi hình dung ra cảnh nước non Lam Sơn chất ngất bao hùng khí?..
Tôi lượn một vòng trên Dak Pek. Chiếc phi cơ của Lộc phóng đuổi theo sau. Dưới chân đồi, nơi thửa ruộng khô làm bãi đáp, một trái khói xanh cuồn cuộn bốc lên mừng rỡ. Dường như tất cả mọi người trong trại và ngoài nương rẫy đều bỏ dở việc làm chạy túa ra khoảng trống nhìn lên hai chiếc trực thăng. Trẻ con nhảy cẫng reo hò vẫy đón. Ở những nơi đồn ải xa xôi, đường bộ thông thương - hàng mười mấy năm trời không một vết chân héo lánh kể từ ngày quê hương mất thanh bình - đã thành những con đường chết, rừng bụi chen nhau phủ kín thi hài phi tang dấu vết trên bản đồ... Thì đường không vận là sợi giao liên duy nhất đối với các tỉnh thị trấn và những chiếc trực thăng mỗi lần xuất hiện, như thể những cánh én đem mùa xuân ấm đến miền đông giá.
Chúng tôi bay tiếp tế cho Dak Pek -- lượt đi, chuyến về; đếu cho vợ con lính tráng đi quá giang về Kontum. Đã 28 Tết rồi, chiến dịch Đông Xuân đe dọa nuốt chửng tiền đồn Dak Pek , ngay ngày niên thủ. Quân bố phòng, súng đạn đầy đủ; nhưng lương thiếu. Không Tết, không Xuân; kệnh di tản vợ con lính tráng về hậu cứ; để, họ rảnh tay phòng thủ đồn lũy. Vướng bận thê nhi, khó vững tâm chiến đấu.
Chúng tôi bay tiếp tế cho dak pek lượt đi, chuyến về cho vợ con lính quá giang về Kon tum tùy khả năng chuyên chở. Hai mươi tám Tết rồi. Chiến dịch Đông Xuân đe dọa nuốt chửng tiền đồn Dak Pek ngày niên thủ. Quân bố phòng và súng đan đầy đủ nhưng lương thiếu. Không Tết, không Xuân, lệnh di tản vợ con lính về hậu cứ để họ rảnh tay chống giặc. Vướng bận thê nhi khó vững tâm chiến đấu.
Tôi đáp phía trên trái khói, sát bờ ruộng bắp xác xơ nhường cho Lộc khoảng đất phía sau, hạ cánh. Hai chiếc H-34 gầm rú ồn ào, kềnh càng sa xuống bãi. Cuộn khói màu dày đặc bị đánh tan thành sợi mỏng, bay cuống quýt nhiễu nhương cùng bụi đất. Mùi khói hôi khét. Đất cát mịt mùng. Những lá ngô đồng khô héo bay hoảng hốt tưng bừng trời đất.
Đám người tụ tập bên ruộng bắp lúp xúp chạy ùa ra bãi đậu khi hai chiếc phi cơ đã nằm yên, thở gầm gừ, thôi quạt mù bụi đỏ. Đàn bà dắt díu trẻ thơ, đàn ông tay ôm tay xách. Những gương mặt lam lũ nghèo khổ cắm cúi bước những bước chân dài khấp khểnh trên mặt ruộng khô lồi lõm. Họ lếch thếch sau chiếc băng ca trên đó tùm hụp một thân thể chăn phủ kín mặt chỉ lộ ra mái tóc đàn bà xác xơ rũ rượi.
Cung thúc hối người Hạ sĩ quan cơ phi:
--Kêu mấy người lính tiếp tay bỏ đồ xuống lẹ đi Tuyên. Mình chở người bệnh với ít hành khách. Còn cho lên chiếc sau.
Tuyên trả lời qua dây interphone:
--Tàu sau chở không hết đâu ông ơi. Tôi cho lên bốn người nữa. Tất cả mười lăm mạng!
--Mười lăm?... Ô kê, thử coi.
Đoạn Cung dùng VHF:
--Số hai xong chưa?
--Xong! Cất cánh đi.
Cung ra hiệu cho tôi bằng ngón tay cái. Tôi tống ga. Tiếng máy rú lên ròn rã.
--Số một lên!
Chiếc trực thăng nặng nề nhâc hỗng đôi càng, chúi mũi bay rời mặt đất.
Tôi lượn một vòng giã từ Dak Pek đoạn lấy độ cao bay về Kontum. Ngược hướng phi hành cũ, vẫn bấy nhiêu núi rừng xanh um quen thuộc chập chùng câm lặng dưới tầm mắt. Tôi bay cao bốn ngàn hai trăm bộ, núi bộ đồi cây lá tắm sũng nắng chiều, quang sạch, sau cơn mưa hồi sáng. Tôi bay trên mây như lướt trên từng khối bông nõn hình thu kỳ dị. Nắng xiên khoai của buổi chiều êm đẹp in rõ hình nét hai chiếc phi cơ những phiến mây dày và đôi bóng cặp kè bay lướt như thể, nắng phản chiếu qua những hạt mây vân vi tạo thành đôi vòng hào quang bảy sắc cầu vồng in rõ trên mấy, tuyệt đẹp.
Tôi bay bình thản, tay vịn hững hờ cần lái. Cung vẫn ngồi ghếch chân lên thành cửa cockipit, miệng phi phào điếu thuốc. Khuôn mặt nắng gió trông nghiêng. Nền trời. Những cụm mây bay ngược. Khói thuốc mỏng manh dìu dặt, một vài sợi tóc lóa xòa trên vầng trán suy tư. Dưới chiếc nón bay úp nặng, đôi mắt Cung đăm chiêu một cách mơ màng. Tự nhiên tôi thấy Cung có dáng vẻ lạ lùng xa xôi mà cũng thật gần gũi tôi hơn bao giờ hết. Tôi hỏi thầm, tại sao một thằng tục tằn như nó lại có thể xuất thần mang một nét mặt dễ thương, lãng mạn như vậy?
Có gì trong cõi trời mây thăm thẳm để Cung nhìn thấy? Hay tìm kiếm những hình ảnh đẹp đẽ nào chạm trổ trên mây? Hay lắng nghe được những âm thanh êm ái tỏ tình của không gian ngà ngọc mà Cung bỗng trở nên trầm mặc mơ màng như thế? Bên trong vầng trán phong trần kia, tôi nghĩ phải đang ấp ủ một niềm suy tưởng thanh cao, một niềm sung sướng lâng lâng phiêu hốt. Đời phi công bay bổng lưng trời, không gian thắm thiết, thường rất nhiều phút giây buông thả tâm hồn trên nẻo đường mây rộng thênh thang. Rất dễ dàng thoát tục. rất dễ dàng quên phiền muộn. Rất dễ dàng gợi nhớ, dắt đưa trí óc về vùng hồi tưởng say sưa có ngàn nỗi thiết tha, trùng trùng kỷ niệm xinh tươi đằm thắm mà ta hằng yêu dấu. Như quay về dĩ vãng êm ả óng chuốt một thời thơ ấu thần tiên. Hay bâng khuâng hoài niệm những cuộc tình lỡ trong đời chẳng hạn…
Cung lúc đó là một Cung nào rất khác. Đang thả hồn phiêu du trên cõi trời cao tít tắp. Thanh thản, mơ màng quên bẵng đời thống khổ. Cung trẻ thơ và dễ thương, không phải Cung lúc nào cũng bắt tôi nhìn thấy mặt là liên tưởng đến những xì, đầm, già, bồi…
Giữa lúc tôi đang lẵng lặng vừa bay vừa loay hoay nghĩ về Cung thì nghe có điều gì bất ổn dưới cabin hành khách. Dường như có sự hỗn loạn xôn xao di động khiến chiếc phi cơ đang lướt êm bỗng chòng chành. Rồi với nón bay úp kín đôi tai, vang hơn cả tiếng động cơ rền rền quen thuộc, tôi nghe vọng từ bên dưới một chuỗi tiếng thét bi ai thảm thiết. Tôi sửng sốt. Tiếng kêu vỡ của cùng cực đau đớn. Ngẩn ngơ chưa kịp bấm nút âm thoại hỏi thì Tuyên đã hốt hoảng kêu lên:
--Chết cha. Bà… bà này đau đẻ!
Cung ném vội điếu thuốc, cấp kỳ chụp lấy đôi cần lái:
--Tao bay. Tao bay cho. Tàu mình có y tá không Tuyên?
--Có, có 'bác sĩ vườn’ rồi. Ổng đang lo đây. Ghê quá. Trời ơi ghê quá!
Tuyên la hoảng rồi như sững sờ trước cảnh tượng gì ghê gớm quá, hắn đờ người cứng tay bấm chặt nút interphone khiến âm thoại nổi lên chuỗi rè chói tai. Tôi gắt:
--Làm gì ồn vậy? Buông tay ra.
Tiếng rè vụt tắt.
--Ghê quá ông ơi.
Cung quát lớn:
--Mẹ, người ta đẻ chứ gì mà ghê? Chở xác chết hoài sao không 'ghê' đi?
--Xác chết thì quen chứ từ nhỏ tới lớn tôi có thấy đàn bà đẻ bao giờ đâu mà không ghê? Ông xuống đây mà coi!
--Coi?... Coi cái củ kiệu! Đừng làu bàu nữa, đồ ‘hữu dõng vô mưu’!
Tôi bật cười phì khi nghe Cung sì nẹc gã cơ phi. Tiếng người đàn bà bên dưới lại thét rú lên khiến tôi gai người. Chợt nhớ Lộc bay sau, tôi gọi:
--Lộc ơi! Tàu moa có người đẻ rơi.
Im một khắc, như thể ngạc nhiên bởi chuyện bất ngờ hi hữu đó, Lộc mới hỏi lại:
--Thiệt sao bồ? Người hồi nãy khiêng băng ca lên đó hả? Đẻ chưa?
--Chưa. Chắc đang chuyển bụng… Bả la quá. Thằng Tuyên cũng la quá làm tụi này chới với luôn.
--Mấy bồ đóng cửa lại không gió vô. Y tá có găng cao su, có đồ hộ sinh không?
Tôi vội vã kéo kín cửa cockpit phía tôi. Cung cũng làm như thế.
--Làm gì có. Túi cứu thương đựng ba cái bông băng thuốc đỏ vớ vẩn chẳng biết có làm chi được không.
Bỗng lại nghe tiếng rú xoáy lộng trong đầu. Tôi thấy rõ bàn tay tôi tì trên thành ghế lái run run vì kích động. Ít mồ hôi rịn nhớp cả lòng bàn tay.
--Sao vậy Tuyên?
--Ghê quá ông ơi!
Mọi cửa đã kín mít không lọt một chút gió. Bấy giờ tôi mới nhận thức bằng khứu giác một thứ mùi khó chịu hòa lẫn mùi dầu nóng. Tôi choáng váng ngột ngạt. Cung nhăn nhó bay trong khi tôi chịu đựng nhịn thở, co tay mở hé khung kính phòng lái và lỗ thông gió trên trần cockpit tìm thoáng khí.
--Ra chưa Tuyên? Đứa con ra chưa?
--Chưa. Mới ló cái bàn chân nhỏ xíu.
Giọng Tuyên khó khăn như người nghẹt mũi. Tôi nói:
--Vậy là đẻ ngược rồi. Hèn chi sinh khó. Dak Pek chắc không có mụ.
Lộc lại hỏi vọng ra:
--Đẻ chưa mấy già?
--Chưa. Bà này sinh khó, đẻ ngược. Đứa nhỏ mới thò ra cái chân, không rõ sống hay chết. Hy vọng là sống. Mình bay cao, áp xuất ít có lẽ đứa nhỏ ra dễ…
Tùng bây giờ mới chen một câu:
--Hên! Vậy bữa nay tụi mình trúng mối rồi. Hên nhé! Ăn Tết tha hồ ngon.
Không ai trả lời câu đùa của Tùng. Tùng nhắc tôi mới nhớ đến tết và Xuân. Chỉ còn hai ngày nữa là sang năm mới. vậy mà đến giờ phút này tôi vẫn thờ ơ, hay quên lửng bởi ngày ngày bay bổng phờ người có vui thú chi đâu mà nhớ. Nỗi mừng vui háo hức trẻ thơ ngày cũ đã mất từ lâu. Còn những một tuần biệt phái Kontum. Nhìn núi rừng, nhìn thiên hạ, chúng tôi biết có Xuân nhưng chúng tôi năm nay thực tình không có Tết.
Chúng tôi vẫn bay, hối hả thu ngắn đường trường. Tôi đốt điếu thuốc hầu trấn tĩnh cơn phập phồng lo lắng.
Lo lắng, tôi thương cho số phận đứa hài nhi và sinh mạng người sản phụ. Người đàn bà vợ lính hoàn toàn xa lạ. Người mẹ nằm trên chiếc băng-ca đã có hàng trăm lớp máu thương binh và xác chết thấm vào thớ vải. Cái nhân lực phụ nữ mỏng manh kia đang vật vã chống chỏi với cơn đau hẳn rằng ghê gớm lắm trong cái nhà hộ sinh bay giữa không gian với không một bàn tay chuyên môn, không một y cụ hộ sản. Như thế, liệu có bao phần may mắn? Và đứa con. Một hài nhi vô tội. Niềm ao ước hằng chờ đợi hay gánh nặng phải cưu mang ngoài ý muốn. Dù sao thì hài nhi cũng là một sinh vật có nhân linh, cũng là mầm sống kết tinh bắng một tình yêu bao tháng năm dài được dưỡng nuôi trong cơ thể người mẹ. Bây giờ nó sắp thoát ra khỏi bào thai tăm tối. Nó phải thấy ánh sáng. Nó phải được thở khí trời. Nó phải lớn khôn để trông thấy đời, thấy nỗi thống khổ của cha, nỗi nhọc nhằn của mẹ.
Nỗi nhọc nhằn của người vợ lính bôn ba cơ cực theo gót hành quân người chồng chinh chiến. Cái tình người bi thảm gắn liền với cuộc chiến triền miên tàn khốc. Cái hạnh phúc tang thương nở rụt rè giữa miền đất điêu linh khói lửa. Tôi đã ngày ngày trông thấy những mảnh đời lầm than sống mỏi mòn trên các tiền đồn hiu quạnh, trong hạnh phúc quá đỗi tầm thường bất trắc. Tôi ngậm ngùi thương thân phận những người lính chiến Việt nam khổ nhọc. Đừng nói gì đến cảnh hành quân lặn lội gian nan nguy hiểm. Đừng nói gì đến những sự hy sinh, đến những mảnh thịt xương rơi rớt. Hay nói đến thảm kịch là nỗi bất hạnh đắng cay một đời gánh chịu. Hãy mở mắt nhìn những cảnh lính nghèo cùng vợ con nheo nhóc. Cũng là những con người đấy. Nhưng là những con người có khi không bao giờ thấy ánh điện muôn màu thành phố. Những con người sống chui rúc như loài chuột bọ trong các hầm hố. Cũng là những mái gia đình đấy. Nhưng mái ấm gia đình chỉ là một hai mảnh poncho mong manh hứng gió trên đỉnh đồi cao. Lính cùng người vợ trẻ đáng thương, những đứa con thơ tội nghiệp.
Ở những nơi đó, ngày như hỏa ngục. Đêm như băng giá. Buồn bã và cô đơn. Thân phận hẩm hiu được phơi bày một cách thản nhiên cam chịu dưới nắng mưa nghiệt ngã. Họ lạnh lùng sống và chờ đợi. Chờ đợi những chuyến trực thăng tải lương khô và nước uống. Chờ đợi đột nhiên hàng tràng tiếng nổ tấn công, những quả đạn thù pháo kích… Ôi những linh hồn khốn khổ nào dám viễn mơ đến đời sung sướng, nào dám mộng tưởng đến một mai đất nước hòa bình? (Người chồng sẽ buông tay súng, thong dong vác búa lên rừng đốn tre xẻ gỗ dựng nhà trên mảnh đất quê hương. Vợ chồng chung sức cấy cày, nuôi nấng đàn con no cơm ấm áo, được ngày ngày cắp sách đến trường vui học như thuở đất nước thái bình cổ tích…)
Tiếng rên la thảm thiết của người vợ lính khiến tôi lại nghĩ đến cái bào thai mà định mệnh nào đưa đẩy cho chiếc phi cơ của tôi ngày hai mươi tám Tết bay lên Dak Pek rồi thành cái nhà hộ sinh bay giữa lưng trời để người Hạ sĩ quan Y tá phi hành bổng thành một cô mụ bất đắc dĩ đang đổ mồ hôi đỡ đẻ cho người đàn bà sinh khó với không một thứ y cụ hộ sản trong tay. Để chúng tôi phải bồi hồi lo lắng. Tôi ngồi trên ghế lái, chỉ nghe tiếng kêu la, cúi đầu sát gầm ghế cũng chẳng thấy gì ngoài mớ tóc tang thương rối bời quằn quại trên tấm băng ca. Tôi chỉ nghe và hỏi Tuyên cho biết từng biến cố, tinh thần căng thẳng tưởng tượng ra cảnh ghê gớm dị thường mà nếu tôi chứng kiến không hiểu sẽ có đủ can đảm ngó nhìn hay xây xẩm mặt mày.
Tôi thấp thỏm. Tôi đợi chờ. Tôi hy vọng. Trời vẫn trong xanh. Mây vẫn nõn và nắng dịu dàng. Mùa Xuân đang đến. Mùa Xuân hãy mở vòng tay đón đỡ đóa hoa sắp nở trên lưng trời Xuân ấm. Thời gian dài biết bao nhiêu. Nỗi hồi hộp trông mong dài tắt thở. Cho đến khi… Trời ơi, cho đến khi nghe tiếng Tuyên hét xong rồi, xong rồi… con gái. Tôi thở mạnh ra. Gương mặt tôi căng nở niềm hớn hở và tôi cười khi nghe tiếng khóc oe oe như tiếng hài đồng hát trong nhã nhạc mùa Xuân.
Tôi phải báo ngay cho Lộc, cho Tùng biết:
--Lộc ơi! Xong rồi, con gái... Nó khóc dễ thương. Phi đoàn mình phải đỡ đầu cho nó. Tên nó là Lê, Trần hay Nguyễn thị THẦN TƯỢNG. Được không hả Lộc?...
Đào Vũ Anh Hùng
(tr. 97- 111 "Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến", nxb vàng son, Saigon 1974)
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 257

Tôi gọi ly cà phê sữa với đĩa pâté chaud. Vừa xoay người toan kiếm chỗ ngồi, bỗng một vòng tay đột ngột quàng lấy cổ khiến tôi giật mình:
-- "Hi" Hùng! Bonjour bồ. Lâu quá mới thấy bồ, nhớ bồ quá bồ ơi. Không bay bổng gì sao mà qua đây ăn sáng vậy?
Tôi nhận ra ngay. Lối nói 'bồ bồ, tôi tôi' nồng nhiệt thân quen hết sức của Nguyễn Cao Hùng. Hai Hùng lâu mới gặp nhau, Hùng nọ vồ vập lấy Hùng kia, tíu tít vui mừng như vớ được người yêu trong mộng. Tôi ôm lấy tay Cao Hùng, vỗ vỗ:
--Bonjour! ... Lâu gì, mới gặp nhau đây mà kêu nhớ? Nhớ thì... hôn đi! Hôn một miếng cho đỡ nhớ?
Cao Hùng cười vang, ghé môi gần má tôi, giả vờ hôn 'chụt' một cái thật kêu rồi nheo mắt kêu lên:
--Bồ 'đĩ' quá bồ ơi! Nước hoa thơm lừng!
Tôi cũng kêu:
--Nhờ cậu một tí. Đĩ mà biết cạo râu? Bồ không có râu bao giờ mới biết được Xê-Kỳ nó có 'After Shave 'East Jade' ".
Như thế đấy, hai đứa mỗi lần gặp nhau thường vui đùa, giả vờ hôn hít loạn cả lên. Kỷ niệm hồi ở Lackland. Nước Mỹ là tổ sư đồng tính luyến ái, lại làm ra vẻ ghê sợ mấy chú ‘Mít' nắm tay khoác vai nhau diễu phố. Bọn này bèn diễn cảnh 'homo' trêu ngươi mấy anh bạn đồng minh cho bõ ghét.
Thêm 2 tên bạn cùng khóa đang cười tiến lại, Tưởng ‘khu trục’ lừ đừ như chiếc Skyraider sắp vào cận tiến hạ cánh. Ẩn chìa bắt tay tôi, siết chặt, giọng anh lùn oang oang, bất cần thiên hạ.
--"Hi" Hùng! Ăn gì đi toa? Uống cái chi nói nó đem ra luôn, 'free' mà 'toa’, đừng ngại...
Tôi nắm tay Ẩn, tay kia ôm lấy Cao Hùng và Tưởng “khu trục”:
--Xong. Xong ngay! Quý hoá quá, các bác cho em đớp “chùa”, em mà từ chối thì phụ tấm lòng các bác...
Bốn đứa thân mật dính vào nhau, hể hả. Ẩn nói:
--Đại tá đãi bữa ăn sáng trước khi bọn 'moa' biệt phái Đà Nẵng. Chín giờ mới có C.123 ghé đón... Mẹ, Quảng trị đang sôi sục, tụi 'moa' đi chuyển này cũng thấy hơi 'lạnh cẳng', không biết đi có về được không? Khóa mình trận này mất thêm Phan Quang Tuấn, Trần thế Vinh, buồn ghê hở toa?..
Ẩn nhắc đến Tuấn “khùng”, đến Vinh “Tô-Tô”, khơi dậy trong tôi nỗi ngậm ngùi xúc động râm ran buốt nhói suốt từ hôm được Thụy Hùng báo tin Vinh gãy cánh.
Khóa 65A Phi hành có ba đứa tên Hùng: Thụy Hùng 'inaple' sức khỏe, ra khỏi Không quân, đi Biệt kích Delta một thời gian rồi trở lại Không Quân khi ngành trực thăng bành trướng. Thụy Hùng rất thân và ở chung phòng với Vinh cư xá Bắc Tiến. Tôi nhớ hôm đó là sáng thứ hai 10/ 4. Bởi Vinh rớt hôm chủ nhật 9/4. Tôi xách helmet đi bay, gặp Thụy Hùng, mặt méo xệch, mếu máo:
--Hùng ơi, mày biết tin chưa? Thằng Vinh Tô-Tô nó rớt rồi.
Tôi sửng sốt. Thụy Hùng ngồi lặng trên chiếc vespa nổ máy đôi vai run nhẹ, thẫn thờ hướng về phía cuối đường bay, đầm đìa nước mắt trên gò má. Tôi choáng váng, toàn thân tôi bỗng lạnh, tay tôi run, lời tôi khàn đục như không phải tiếng tôi hỏi bạn:
--Lấy được xác nó về không?
Thụy Hùng cắn môi, đờ đẫn lắc đầu. Tôi phập phồng muốn khóc. Một lát sau, hết nghẹn ngào, tôi mới nói được:
--Tao linh cảm được cái chết của Tô-Tô ngay từ tối hôm thứ bảy. Coi ti-vi thấy thiếu tá Hùng, phi đoàn trưởng 518, ca tụng nó quá. Câu nào cũng Đại úy Trần Thế Vinh chiến đấu xuất sắc, Đại úy Trần Thế Vinh hạ xe tăng Cộng sản nhiều nhất, và đến thứ 2 này Đại úy Vinh sẽ về Saigon lên ti-vi nói chuyện với đồng bào... Tao nghe, vừa khoái thằng Vinh, vừa sờ sợ. Tao hỏi vợ tao, em có nhớ Vinh “Tô-Tô” không. Vợ tao bảo nhớ. Tao nói, đấy đấy, thiếu tá Hùng vừa mới 'bốc thơm' nó đấy, nhưng anh nghi quá em ơi. Phải làm sao kéo nó về sớm chứ bốc nó nổi quá, khó sống. Nó say máu, làm hoài thế nào cũng 'dính'. Phòng không VC đâu có ít? Tao nghĩ vậy thôi, đâu ngờ nó chết thật. Nhảm quá.
Suốt ngày hôm đó đi bay, tôi như đứa trẻ mất hồn. Vinh 'bô trai', dễ thương, bay giỏi, có tư cách, chết đi thật uổng phí. Gặp Huỳnh Hạnh Kim Hồng ở Lai Khê, Hồng nói Xê kể cho nghe về những phút sống cuối anh hùng của Vinh. Mẹ kiếp, phòng không thì đứa nào chẳng sợ. Nhưng bay trên quốc lộ thấy dân chạy loạn lếch thếch mà còn bị tụi nó bắn giết dã man, ông 'xì-neẹc'. Nó bắn mình hả? Thì mình dội bom lên đầu nó, chết bỏ. Thế là Vinh hùng hục đi bay. Thời tiết xấu tàn nhẫn. Trần mây 500 bộ. Bay 'rasemotte' trên mặt biển, tới Cửa Việt rẽ vào Đông Hà. Đại bác trên xe tăng bên này sông bên kia sông 'câu' lẫn nhau. Vinh nó chui dưới hai lằn đạn, ngóc lên, bổ nhào xuống. Nó đánh bom thật trúng. Một 'napalm' là một 'tăng' bốc cháy. Tiếp theo là loạt đại bác, Bô binh tùng thiết VC ngã la liệt. Mỗi 'pass' đánh xong nó chui tọt lên mây tránh phòng không, lại rình rình nhào xuống.
Xê với Định bảo Vinh Tô-Tô đánh đẹp và lì, chưa từng thấy ai bay đẹp và lì như nó trong khi thời tiết xấu chỉ sợ hai phi tuần đụng nhau. Cuối cùng nó rơi tan xác với con tầu trúng đạn phòng không bắn trực xạ ở cao độ thấp.
Buổi chiếu từ mặt trận An Lộc về, tôi mua tờ báoSóng Thần. Thấy ảnhVinh, nụ cười má lúm 'tí-ti đồng tiền', dáng hiên ngang, tôi nhớ Vinh muốn khóc. Nhớ Vinh ngày mới nộp đơn gia nhập Không Quân, rất sữa. Vinh dáng người cao mặc áo sơ mi ca-rô tay ngắn màu vàng, quần ka-ki xám. Khám tổng quát bên Trung Tâm Giám Định Y Khoa, vì huyết áp cao cu cậu chui vào phòng tắm xối nước lạnh cho hạ tension. Ai ngờ trúng gió, lại bị rút gân, cái đầu tự nhiên ngọeo sang một phía, cứng ngắc.
Rốt cục Vinh cũng thành phi công khu trục. Mà lại là một phi công khu trục tuyệt vời nữa. Một lần gặpVinh, tôi hỏi đùa nếu đang bay 'formation', đầu mày ngoẹo như hôm khám sức khỏe thì lảm sao? Vinh nháy mắt:
--Sao mày hay bới móc đời tư của cậu thế? Cậu lại “vật” cho một trận bấy giờ.
Vinh to con và khỏe, tính tình đàng hoàng, rất tốt với bạn bè và có tư cách, có tướng chỉ huy. Ngày ở quân trường, Vinh được cử làm trưởng toán, làm SVSQ cán bộ và là một trong số mấy đứa cao lớn hầu kỳ trong các ngày lễ; để trong các ngày lễ hay diễn hành. Những ngày đó, Vinh dẫn cả khoá đi học, đi ăn, cả chạy phạt v.v... bằng giọng hô đếm bước dõng dạc và bắt giọng cho chúng tôi vừa di chuyển vừa hát những khúc quân hành. Có bao giờ Vinh ngờ được mình là một 'phi công danh tiếng', cái chết trở thành huyền sử cánh chim tự do hào quang sáng rỡ.
Về cái hỗn danh 'Vinh Tô-Tô', tôi muốn nhắc với các bạn khóa 65A nhớ đến xuất xứ của nó. Ấy là cái hỗn danh do Đỗ Phụng Hoàng đặt cho Vinh khi thấy Vinh làm dáng, viết tên mình theo lối Mỹ: Vinh T.T. - Vinh T2 hay VINH T.T. - với 2 dấu chấm sau mỗi chữ T viết tắt như 2 chữ 'o' nhỏ - và Hoàng 'Tô-bia' gọi đầu tiên là "Vinh Tô-Tô"…
Cao Hùng thủ thỉ nói với tôi,
--Vinh ‘Tô-Tô' chết uổng, hở bồ? Nó bay 'nghề' nhất Phi đoàn, tư cách không ai hơn. Bữa nào rảnh bồ nên viết về nó một bài.
Tôi gật đầu cười, nói tôi cũng định hôm nào rảnh viết cho Vinh một bài tưởng niệm.Tôi là bạn thân của Vinh, thật tình hãnh diện vì Vinh đã chết anh hùng, thật tình thương tiếc bạn tôi bất ngờ gãy cánh. Vinh bây giờ đã là người của cả nước, là thần tượng hào quang chói lói. Việc làm và cái chết của Vinh ngời ngợi hai tiếng 'anh hùng' không cần đến ai đánh bóng. Không cần phải dựng đứng lên rằng "Vinh mãn khóa hoa tiêu quan sát tại Nha Trang, được du học khóa T28 tại Hoa Kỳ và đậu thủ khoa…" mơi xứng đáng với công nghiệp Trần thế Vinh dâng cho Tổ quốc. Đâu cần phải đậu thủ khoa, phải học Cessna mới thành anh hùng hạ 21 xe tăng địch.
Tôi muốn Trần thế Vinh là Trần thế Vinh, nguyên vẹn là 'Vinh Tô-Tô' thân mến của chúng tôi đã bay cao, không bao giờ bị hạ cánh. Cao Hùng nhắc đi nhắc lại hoài, bắt tôi phải viết bài tưởng niệm Trần thế Vinh trước khi Cao Hùng chia tay tôi, lên đường đi biệt phái.
Tôi vui với sự nồng nhiệt thân thiết của Cao Hùng. Đồng thời tôi bỗng rờn rợn âu lo cho chuyến biệt phái hành quân ở Vùng 1 của bọn Hùng. Người vừa nằm xuống đã có người khác lên thay nơi tuyến đầu máu lửa. Tôi quyến luyến không muốn rời gương mặt trắng hồng như con gái của Cao Hùng. 'Baby’ Hùng môi hồng răng ngọc, má lúm đồng tiền, tóc mềm lả lơi nghệ sĩ. Tôi vẫn gọi Cao Hùng là ‘Tây con’ hay ‘Babylac’. Hùng nhà giàu, thế lực, học trường Tây, cốt cách phong lưu quý phái. Hồi đó tôi cứ tiếc cho Hùng sao vào Không Quân, bỏ dở việc học. Cao Hùng có nỗi khổ tâm riêng về tình cảm gia đình, tôi loáng thoáng biết nhưng không bao giờ hỏi han Hùng và càng thương quý bạn.
Những ngày Cao Hùng đi biệt phái, tôi vẩn vơ lo lắng, hồi hộp chờ tin bạn. Chưa bao giờ tôi lại nghĩ ngợi đến nỗi an nguy của Cao Hùng nhiều như vậy. Nhớ hôm từ giã, Hùng và Ẩn dặn tôi bay cẩn thận, chúc tôi ‘may mắn'. Nhớ đôi má bầu bĩnh có lúm đồng tiền sâu hoắm của Hùng nhìn gần đầy những tàn nhang và lông măng phơi phới. Nó thật dễ thương. Ngày chúng tôi lên lon, Hùng lấy dao găm cắt bỏ cặp mai trung úy trên vai áo bay của tôi, bảo mua tặng tôi một cặp lon đại úy. Bồ đeo lon trung úy gần bốn năm rồi còn gì? Bây giờ mang lon đại úy cho 'gồ ghề', đàn em nó khó rỡn mặt. Mấy ngày sau Cao Hùng nhờ ban văn thư đánh máy và thị thực mười mấy bản sao quyết định thăng đại úy thực thụ, đem qua Phi đoàn cho tôi, đùa:
--Đeo lon mới, Quân cảnh hỏi, bồ lấy cái này dán vào mắt nó cho đui luôn.
Cao Hùng biệt phái lần đó về vô sự. Tôi gặp Cao Hùng lần cưới cùng là hôm Hùng lái xe Floride mặc đồ bay đen, thấy tôi, cười vẫy vẫy. Tôi cũng giơ tay ngoắc lại, rồi vội công việc, đi luôn.
Hôm 20 tháng 5, tôi bay quần quần phía đông Tân Khai chờ bốn phi tuần khu trục săn hạ hai chiếc xe tăng Vi-Xi trốn lẩn dưới gầm cầu xe lửa và khóa họng ổ phòng không, dọn đường cho tôi dẫn hợp đoàn vào đáp Tân Khai. Tôi bay trên 5000 bộ, theo dõi từng chiếc Skyraider nhanh nhẹn luân phiên đâm bổ xuống mục tiêu, say sưa hào hứng. Bỗng một chiếc AD6 vừa thả xong hai trái Napalm, vút ngược lên cao. Tôi thấy một tia khói cuộn lên từ một bụi cây bên bờ con suối cạn. Chiếc phi cơ bỗng phát nổ. Ngay trước mắt tôi, thấp hơn cao độ phi cơ tôi một chút. Và thật rõ ràng kinh khủng, tôi thấy một khối lửa chói lòa rực rỡ như quả pháo bông vun vút rơi thẳng băng xuống đất.
Tôi trợn tròn đôi mắt. Miệng há hốc không kêu được một tiếng nào. Khối lửa bắn tung tóe và đang cháy hiu hiu trên mặt ruộng để lại không gian một sợi khói đen theo đường rơi của chiếc phi cơ xấu số. Tôi không thấy một cánh dù bung nở. Như là hoa mắt, như ảo tượng trong mơ. Tôi đau thắt tim khi nhìn thấy ba chiếc khu trục cơ còn lại gầm rú điên cuồng bay lượn trên vùng phi cơ rớt. Tôi gọi máy báo Panther: 17 giờ 25- SA.7 CS bắn rơi một phi tuần khu trục tại Tân Khai. Tọa độ XT... không thấy hoa tiêu nhẩy dù... Nghĩ thế nào sao, tôi lại hỏi thêm:
--Panther cho 'Charlie One' biết ai bay chiếc Skyraider vừa bị bắn rớt?
Một giọng đầy kích động trong máy VHF, như mũi dao nhọn hoắt xói giữa tim tôi:
--Đại úy Nguyễn Cao Hùng, Phi đoàn 518!...
Đào Vũ Anh Hùng
(tr.112- 121, Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến, nxb Vàng Son, Saigon 1974)
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 183