Airforce Echo News
Tưởng nhớ cố Đại tá PHẠM PHÚ QUỐC (1935-1965)

Cách đây đúng 60 năm, ngày 19 tháng 4 năm 1965, Trung tá Phạm Phú Quốc, nguyên Chỉ huy trưởng tiên khởi Phi Đoàn 518 Phi Long, Tư lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật, CCKQ Biên Hòa, đã anh dũng hy sinh trong một phi vụ Bắc phạt do ông hướng dẫn.
Chúng ta hãy cùng nhau thắp một nén hương lòng tưởng nhớ một người hùng của Không Quân VNCH, một cấp chỉ huy tài ba, một hoa tiêu khu trục xuất chúng.
Nguyện cầu hương hồn ông được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng.
ĐỌC THÊM:
Phi vụ Bắc phạt ngày 19-4-1965
(cựu Phi Long Trần Mạnh Khôi ghi lại)
Nhiệm vụ phi vụ tuần thám võ trang do Trung Tá Quốc huớng dẫn là bay dọc Quốc Lộ 1 từ Hà Tĩnh vào Nam nếu gặp những quân xa, trại lính thì cứ việc tấn công tiêu diệt chứ không có những mục tiêu nhất định... Phi vụ bay ra Bắc ngày 19 tháng 4 năm 1965 do Trung Tá Quốc dẫn là phi vụ tuần thám võ trang đầu tiên của KQVNCH và cũng là phi vụ Bắc phạt chính thức và cuối cùng của KQVN, tuy nhiên sau đó các phi công của Biệt Đoàn 83 vẫn thi hành những phi vụ bay ra Bắc.
Hôm đó bay từ Biên Hòa ra Đà Nẵng gồm có 6 phi cơ A-1H. Sau khi đáp tại Đà Nẵng, Ông Quốc cho chúng tôi ra Câu lạc bộ ở Phi cảng Đà Nẵng ăn cơm, còn Ông thì về nhà ăn cơm trưa với bà Cụ. Khoảng 1 giờ trưa thì Ông lái xe vào đón chúng tôi về Phòng Quân Báo/ KĐ 41CT để nghe thuyết trình. 6 phi cơ đã được chia ra như sau:
- Phi tuần nặng được trang bị bằng bom nổ, rocket, đại bác 20 ly :
1- Tr/ Tá Phạm Phú Quốc: quyền Tư Lệnh KĐ 23 CT
2- Th/ Úy Nguyễn Đức Chương - PĐ 518
3- Đ/ Úy Đặng Thanh Danh - Chỉ huy Phó PĐ 518
4- Th/ Úy Trịnh Bửu Quang - PĐ 518
- Phi tuần hộ tống được trang bị rocket và đại bác 20 ly :
1- Đ/Úy Chế văn Nghĩa - Chỉ huy Trưởng PĐ 514
2- Th/ Úy Trần Mạnh Khôi - PĐ 518
Sau khi cất cánh và vừa tập họp để check lẫn nhau là tới Mỹ Khê, thế là Ông Quốc ra lệnh xuống thấp, chúng tôi đã bay sát mặt nước, dọc theo bờ biển, đến phía Nam Hà Tĩnh thì lấy hướng Tây bay vào đất liền, rồi bay dọc theo Quốc Lộ 1 xuôi Nam. Cả 2 phi tuần đều bay ở vị thế chiến đãu và bay rất thấp (khoảng 50 feet trên mặt đất) để tránh radar.
Khoảng chừng 5 phút sau thì Quang la lên là số 4 bị bắn, thế là Ông Quốc vừa múc lên quay lại 180 độ và bắn rockets xuống địch quân, thì lúc đó Số 1 trúng đạn phòng không nổ và cháy trên cao độ khoảng hơn 1000 feet (đây là lời của Nguyễn Đức Chương, tôi không thấy vì lúc đó phi tuần hộ tống còn ở xa và kinh nghiệm chưa có nên cứ mải bay theo leader và nhìn quanh).
Mọi người trong phi tuần la lên là Số 1 bị bắn rơi, lúc đó Anh Nghĩa ra lệnh cho Anh Danh dẫn Số 2 và 4 ra biển tất cả phi cơ jettison bom và rocket ở ngoài biển và hướng về Nam. Lúc đó Anh Nghĩa dẫn tôi bay gần vào check phi cơ của Quang: phi cơ trúng đạn khá nặng, đầu wing tip của cánh phải bị bắn văng mất tiêu, có một lỗ khá to gần sát aileron.
Tôi còn nhớ là Quang bay nghiêng qua nghiêng lại thì Anh Nghĩa bảo là phải bay cẩn thận, quẹo (bank) từ từ thôi, đừng quẹo gắt nguy hiểm!
* * *
Tìm mộ PHẠM PHÚ QUỐC
Sau khi cuộc chiến kết thúc, việc tìm hài cốt của cố Đại tá Phạm Phú Quốc đã được sự giúp đỡ của Đại tá sử gia Phạm Quế Dương, một sĩ quan phòng không của quân đội Bắc Việt (sau này bị loại khỏi Đảng).
Theo chính quyền huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh được biết xác phi công Phạm Phú Quốc đã được chôn cất bởi dân chúng với quan tài chu đáo với bia ghi "Mộ ông Phạm Phú Quốc".
Tuy được chôn cất cẩn thận nhưng một thời gian dài không người trông nom nên đã mất dấu tích. Đại tá Phạm Quế Dương đã giới thiệu cho gia đình Phạm Phú Quốc một người chuyên tìm hài cốt thất lạc : Ông Đỗ Bá Hiệp nổi tiếng có khả năng ngoại cảm (Telepathy) đã cùng gia đình về vùng Cồn Cổ, Hà Tĩnh để tìm di hài phi công Phạm Phú Quốc.
Dưới đây là bài tường thuật của ông Phạm Quế Dương:
Năm 1990 gia tộc anh Quốc từ miền Nam ra Hà Tĩnh tìm xin hài cốt anh ấy đưa về quê ở Quảng Nam. Nhưng các cơ quan tỉnh, huyện, xã ở đây chỉ có thể xác nhận trong văn bản: "hài cốt của ông Phạm Phú Quốc đã được tỉnh đội Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà cất bốc, trong khi cất bốc đều có quan tài chôn cất chu đáo. Cơ quan quân sự huyện Thạch Hà đã nhất trí vối gia đình Phạm Phú Quốc: "khi truy tìm được nơi chôn cất cụ thể sẽ thông báo sau".
7 năm sau -1997- được biết có ban liên lạc giòng họ Phạm trong UNESCO có thông tin nhờ ban liên lạc giúp đỡ. Tôi là thành viên trong ban liên lạc giòng họ Phạm được giao làm việc này...
Tháng 5-1997, ban liên lạc đã gửi văn bản tới các cơ quan chính quyền tỉnh Hà Tĩnh giúp đỡ việc xác minh địa điểm chôn cất anh Phạm Phú quốc. Sự việc vẫn yên lặng. Tháng 9 -tháng 12-1997 ban liên lạc gửi liên tiếp hai văn bản tới các cơ quan tỉnh Hà Tĩnh và cả Đoàn Đại Biểu Quốc Hội tỉnh Hà Tĩnh. Tháng 2, 3, 4-1998 ban liên lạc được các cơ quan xã, huyện tỉnh Hà Tĩnh trả lời hoàn toàn tán thành và ủng hộ việc tìm hài cốt phi công Phạm Phú quốc. Song thật sự chỉ biết mộ anh Phạm Phú Quốc đã được dời về nghĩa trang Cồn Cổ. Do thời gian quá lâu mộ thất lạc không xác định được nơi chôn cất cụ thể.
Ngày 01-5-1998 tôi và một anh bạn nhà báo vào Hà Tĩnh, được sự giúp đỡ tích cực của báo giới Hà Tĩnh, chúng tôi gặp các cấp. Họ đều tiếp chu đáo, thành thật trình bày sự việc như trên. Chúng tôi ra nghĩa trang Cồn Cổ mênh mông, bao nhiêu là mộ và không ai biết được mộ anh Quốc ở đâu. Chúng tôi xin phép địa phương mời ông Đỗ Bá Hiệp, một nhà ngoại cảm nổi tiếng đã giúp tìm mộ bao người thất lạc, giúp cho việc này. Họ nhất trí.
Ngày 07-5-1998, ban liên lạc đã thảo văn bản mời ông Đỗ Bá Hiệp, đồng thời báo cáo địa phương. Ông Đỗ Bá Hiệp nhận lời. Được tin ngay ngày hôm sau, 08-5-1998, bà chị anh Phạm Phú Quốc đã 83 tuổi cùng cháu gái bay ra Hà Nội gặp ô. Đỗ Bá Hiệp.
Sáng 11-5-1998, tôi làm liên lạc đưa ông Đỗ Bá Hiệp và ông Doãn Phú, nhà địa lý thân quen ô. Hiệp cùng bà chị, cháu gái anh Phạm Phú quốc vào Hà Tĩnh.
Sáng hôm sau, 12-5-1998, ra nghĩa trang Cồn Cổ. Chúng tôi nghĩ ông Đỗ Bá Hiệp sẽ vào bên trong nghĩa trang, nhưng ông chỉ đi trên đường bên ngoài nghĩa trang. Khi ông nhìn lên trời cao, lúc ông nhìn xuống như nhìn cái gì đó sâu trong lòng đất. Chúng tôi vẫn đi theo phía sau ông. Bỗng ông rẽ vào phía đường bên kia nghĩa trang, một vùng đất rộng lồi lõm sát với ruộng nước và dừng lại chỉ xuống một chỗ đất bằng phẳng. Ông bảo : "Mộ anh ấy ở đây. Bên mô cát bên phải này hai bước, bên hố nước bên trái này một bước. Chú ý đánh dấu để khỏi lẫn. Đến ngày 10-10 ta mới được bốc." Một lát sau ông lại bảo : "số lính của anh ấy là số 0 gì đó rồi 4, hai số cuối cùng là 65 hay 56." Theo thói quen tôi ghi số hiệu trên vào tờ carte visite vì không mang theo sổ tay.
Ra về, khoảng nửa tháng sau tôi nhận được điện thoại gia tộc anh Quốc nhờ tìm hộ số quân của anh Quốc. Tuy nhận lời nhưng không biết tìm ở đâu. Mấy hôm sau tôi sang thư viện báo Quân Đội Nhân Dân nhờ lục tìm trong báo cũ. Trong số báo QĐND ngày 22-4-1965 tả việc máy bay anh Quốc bị bắn rơi, viết cụ thể : "Phạm Phú Quốc chứng minh thư số 007. 455 cấp 01-12-64 tư lệnh đoàn máy bay khu trục số 23, tư lệnh sân bay Biên Hòa, quân hàm trung tá ". Thật kỳ lạ ! thông tin của ô. Đỗ Bá Hiệp về số lính với số chứng minh thư của anh Quốc ghi trong báo gần giống nhau đến thế!
Ngày 09-10 Âm Lịch tức 27-11-1998 , ông Đỗ Bá Hiệp bận không vào Hà Tĩnh được, nhưng ông đã hướng dẫn tỉ mỉ việc đào tìm mộ. Tôi nhờ nhà tôi cùng đi với cháu gái anh Quốc vào lo việc này. Nhà tôi vốn rất thành tâm nên sẵn lòng giúp đỡ như việc nhà. Ngay chiều tối hôm đó, vào xã Thạch Trung. Chúng tôi xin phép địa phương và họ đã giao cho đội phục vụ nghĩa trang lo việc bốc mộ sáng sớm hôm sau.
Sáng hôm sau trời vẫn mưa, phải làm lều che nơi bốc mộ. Đào sâu gần nửa thước không thấy gì đã lo. Nhưng may sao chỉ thêm vài nhát xẻng nữa là một vũng nước đen rồi thấy Cốt hòa lẫn trong đất bùn. Đúng như địa phương nói từ năm 1976 hài cốt anh Quốc dời chuyển từ trong làng ra đây, cốt để trong tiểu gỗ và đã hơn 20 năm tiểu gỗ không còn chỉ còn xương cốt. Xương cốt anh Quốc được bới tìm chu đáo, rửa sạch bằng nước thơm rồi đặt vào tiểu quách. Bà con đến xem khá đông cùng thắp hương viếng Anh...
Ngay chiều hôm đó 28-11-1998. Hài cốt phi công Phạm Phú Quốc được đưa về quê quán, chùa Phước Lâm, thị xã Hội An tỉnh Quảng Nam...
Mộ anh Phạm Phú Quốc đã được xây cất nghiêm trang với bia đá khắc hình và tên tuổi Anh cùng những hàng chữ đầy nghĩa tình với Người đã khuất."
Phạm Quế Dương

- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 3216

Tháng tư đen 1975. Thoáng mà đã hơn bốn thập niên trôi qua ! Từ tháng 3 năm 75 , cộng quân mở rộng chiến tranh. Ngày 13 tháng 3 Ban Mê Thuột thất thủ, kéo theo Quảng Trị và Huế mất ngày 26 tháng 3, sau đó Đà nẵng , ngày 29 tháng 3 rồi đến Nha Trang lọt vào tay CS ngày 1 tháng 4. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, tuyến đầu Phan Rang thất thủ, phần lớn phi cơ A-37 đã được bay về đồn trú tại phi trường Tân Sơn Nhất. Các diễn biến ấy như báo trước sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà khi mà người đồng minh lâu đời đã trở mặt quay lưng. . .
____________________________________
Buổi chiều ngày 28 tháng 4, như thường lệ sau khi thi hành xong phi vụ hành quân, chúng tôi phóng ra cổng dùng cơm chiều, sau đó trở vào phòng trực hành quân để túc trực đêm. Bốn người chúng tôi: Thi, Chấn, Nhân và tôi đèo nhau trên 2 chiếc xe Lam, vừa vào đến cổng bổng nghe tiếng gầm thét của phản lực cơ đang oanh kích. Một vài cụm khói đen bốc lên từ nơi bến đậu phi cơ vận tải. Chiếc phi cơ A-37 cuối cùng vừa thả bom xong đang vội vả kéo lên và đuổi theo đồng bọn đang lấy hướng Đông Bắc. Tôi nghĩ thầm: “nếu giờ nầy mà các cánh gió siêu thanh phóng lên thì tụi nầy chắc là sẽ nguy to”. . . nhưng chờ đợi mãi vẫn không thấy động tĩnh gì, thế là cả bọn giặc đã thoát nạn.
Chúng tôi phóng nhanh vào phòng hành quân để tìm hiểu xem việc gì đang xảy ra, phi cơ xuất xứ từ đâu? phi đoàn nào? Loại trừ phi cơ thuộc KĐ92CT của chúng tôi, thì chỉ còn có phi đoàn 532 Gấu Đen và các phi đoàn 520 Thần Báo, 526 Quỷ Vương và 546 Thiên Sứ đang trú đóng ở Bình Thủy (Trà Nóc).
Sau khi liên lạc với Phòng Hành Quân Chiến Cuộc SĐ4KQ thì họ xác định là không có một phi tuần A-37 nào cất cánh. Như vậy thì 5 phi cơ A-37 nầy xuất phát từ đâu? Không thể cất cánh từ Phù Cát hay Đà Nẵng (vì quá xa không đủ nhin liệu để đi và về). Chắc chắn là xuất phát từ phi trường Phan Rang. . . . . .
Mãi sau nầy, qua các báo chí thông tin của CS ta được biết 5 phi cơ đó thuộc Phi Đội Quyết Thắng mà biên đội trưởng do tên Nguyễn Văn Lục (bay số 3) chỉ huy toàn bộ, Nguyễn Thành Trung chỉ có nhiệm vụ bay dẫn đường.
- Số 1: Nguyễn Thành Trung
- Sồ 2: Từ Để (con trai của Từ Giấy)
- Số 3: Nguyễn Văn Lục (chỉ huy)
- Số 4: Mai Vượng (chết tháng 7 năm 1975 trong 1 phi vụ huấn luyện) và tr/úy Trần văn Ơn (phi công KQVNCH).
- Số 5: Hán Văn Quảng
*****
Buổi tối, chúng tôi đang ngồi uống càphê trong phòng trực hành quân thì Đại tá Lê Văn Thảo (KĐT/KĐ92CTKQ) bước vào. Ông gọi:
- Thi, Chấn, Tứ và Liễn vào văn phòng gặp tôi.
Chúng tôi vào văn phòng, Đại tá Thảo trao cho anh Thi bản phi lệnh hành quân và ông nói ngắn gọn:
- 5 phi cơ A-37 oanh kích buổi chiều là xuất phát từ phi trường Phan Rang. Không Đoàn 92 chúng ta phải thi hành phi vụ trả đủa đánh vào phi trường Phan Rang đêm nay: phi cơ mang bom nổ sẽ đánh vào bải đậu phi cơ và phi đạo còn phi cơ mang CBU-55 sẽ đánh vào Bộ Chỉ Huy của chúng (nghi ngờ là đang đóng ở 2 “trailers” cuối phi đạo. Phi trường Phan Rang giờ đây là nằm trong tay địch, hoả lực và phòng không của địch ta không rõ, do đó các anh phải rất là cẩn thận và phải thích nghi trong mọi tình huống, chủ yếu là an toàn tối đa.
Khi ông ra khỏi phòng họp, anh Thi bảo:
- Chấn mầy đi lead
- Liễn bay số 2
- Tao bay số 3
- Tứ bay số 4
Sau đó Th/tá Chấn thuyết trình sơ lược phi vụ:
- Danh hiệu phi tuần là Phong Giao, check in và di chuyển tần số 1, cất cánh tần số 2, Paris tần số 3, làm việc tần số 6. Họp đoàn cất cánh từng 2 chiếc, tập họp hướng 060, bình phi 19,500 bộ, họp đoàn hành quân (tactical formation) trực chỉ thành phố Phan Rang, 1 và 3 tắt “beacon” chỉ để đèn wing tip “dim”, 2 và 4 tắt tất cả đèn. Đến Phan Rang, chúng ta sẽ bay dọc theo sông Danh, khi đến mục tiêu, phi tuần sẽ dãn ra ở họp đoàn chiến đấu (combat formation), lần lượt tấn công vào mục tiêu đã định. Giải toả hướng nam, lấy hướng 210 , tập họp cao độ 20,500 trở về căn cứ xuất phát.
Mọi người nhận rõ và lấy dù mũ, sẳn sàng xuất phát.
*****
Chuông điện thoại reo vang. . .
- Alo, th/tá Chấn nghe.
- Thưa Th/tá, tôi là tr/sĩ Cơ, phi đạo A-37, xin báo cáo Th/tá các phi cơ đã trang bị sẳn sàng.
- Cám ơn anh, chúng tôi sẽ ra phi cơ ngay.
Chiếc xe Van đưa chúng tôi ra phi cơ. Bốn phi cơ A-37 đen sì, dưới cánh nặng trĩu bom đạn. Tôi kiểm soát bom đạn dưới cánh, cánh gió, cánh đuôi, xong phóng nhanh vào phòng lái, nai nịt, đội mủ, gắn ống dưởng khí, ra dấu gắn APU (Auxiliary Power Unit) để mở máy. Cơ trưởng gắn APU vào, đẻn phi cụ trong phòng lái sáng rực. Cơ trưởng xoay ngón tay trỏ ra hiệu mở máy, tôi gật đầu hiểu ý. Tôi mở máy trái xong rồi máy phải. Hai máy đã khởi động tốt, tôi ra dấu hiệu rút APU.

Tôi check sơ các phi cụ, mở máy truyền tin lên. Một phút sau nghe trên tần số vô tuyến:
- Phong Giao, thử vô tuyến!
- 2!
- 3!
- 4!
- 1 nghe 2, 3, 4! 5 trên 5.
- Đài Kiểm Soát Tân Sơn Nhất, Phong Giao gọi!
- Tân Sơn Nhất nghe Phong Giao!
- Tân Sơn Nhất, đây Phong Giao xin di chuyển và cất cánh 4 phi cơ A-37!
- Phong Giao, Tân Sơn Nhất nhận rõ, cho phép di chuyển và cất cánh đường bay 25, gió hướng. . . mạnh. . . liên lạc tần số 2 để cất cánh.
- Phong Giao nhận rõ!
Bốn phi cơ A-37 âm thầm di chuyển đến cuối phi đạo, Phong Giao 1 ra lệnh:
- Phong Giao, tần số 2
- 2!
- 3!
- 4!
- Phong Giao thử vô tuyến!
- 2!
- 3!
- 4!
- Đài Kiểm Soát, Phong Giao sẳn sàng cất cánh!
- Phong Giao, đây là Đài Kiểm Soát cho phép bạn cất cánh.
- Phong Giao hiểu!
Phi cơ 1 và 2 so hàng ngang cánh trên phi đạo, số 1 ra dấu cất cánh. Đẩy tay ga lên 95%, số 1 từ từ nhả thắng. Phi cơ lướt nhanh trên phi đạo. Tiếng gầm thét của các động cơ phản lực xé tan sự tĩnh mịch của đêm, ánh lửa phụt ra từ phía sau động cơ làm tăng thêm vẻ uy nghi của 4 con chim sắt khi rời mặt đất.
- Phong Giao 1, 3 và 4 “airborne”.
- 1 nhận rõ. Phong Giao qua tần số 3.
- 2!
- 3!
- 4!
- Phong Giao thử vô tuyến.
- 2!
- 3!
- 4!
- 1 nghe rõ 2, 3, 4.
- Đài Kiểm Báo Paris, phi tuần Phong Giao 4 phi cơ A-37 cất cánh từ Tân Sơn Nhất, phi vụ đặc biệt, xin cho biết thời tiết hướng Đông Bắc khoảng 120 dậm và xin radar theo dõi!
- Phong Giao, Paris hiểu. Thời tiết hướng Đông Bắc tốt, trần mây. . . , tầm nhìn xa. . . đã nhìn thấy bạn trên màn ảnh radar và sẽ theo dõi!
- Paris! Phong Giao cám ơn bạn!

Phi tuần lấy hướng Đông Bắc, lấy thành phố Phan Rang làm chuẩn, sau đó sẽ bay dọc theo sông Danh, hướng Tây Tây Bắc để oanh kích phi trường Phan Rang theo những mục tiêu đã định.
Đã hơn 2 tuần kể từ sau ngày di tản khỏi Phan Rang, giờ đây mỗi người trong chúng tôi không ai tránh khỏi bùi ngùi khi trông thấy lại thành phồ cũ, những con đường xưa thân yêu và quen thuộc. Trăng sáng vằng vặc thành phố Phan Rang trước mặt đèn đuốc vẫn sáng choang. Tôi nhìn đồng hồ: 12 giờ 30 phút. Đã sang một ngày mới: ngày 29 tháng 4. . .
Th/tá Chấn nghiêng cánh trái bay dọc theo sông Danh hướng về phi trường. Năm phút sau, dưới ánh trăng lờ mờ phi trường hiện rõ hai phi đạo song song (phi đạo 04-22), cuối đường bay là bãi đâu phi cơ A-37 (khoảng hơn 10 chiếc). Trong số phi cơ nầy chắc chắn là phải có 5 chiếc ban chiều đã oanh kích phi trường Tân Sơn Nhất. Trong đầu tôi chợt thoáng lên một niềm thù hận: mình sẽ cố gắng đập nát tất cả các phi cơ nầy... Đang suy nghĩ vẩn vơ chợt nghe văng vẳng mệnh lệnh của Phong Giao 01:
- Phong Giao sang tần số 6.
- 2,3,4 nhận rõ!
- Phong Giao thử vô tuyến!
- 2!
- 3!
- 4!
- Phong Giao vào đội hình chiến đấu, 1 và 3 đánh vào Bộ Chỉ Huy, 2 đánh vào phi đạo, 4 đánh vào bãi đậu phi cơ,. Tắt đèn khi roll-in. Thả 1 pass interval. Tập họp ở hướng Nam 20,500 bộ.
- 2 hiểu!
- 3 hiểu!
- 4 hiểu!
Tuần tự từng chiếc lao vào mục tiêu. Những đóm lửa loé sáng. . . những tiếng nổ phụ. . . Tôi lao vào mục tiêu nhấm vào bãi đậu phi cơ, tôi bay xuống thấp. 3000, 2500 rồi 2000 bộ. Tôi bấm nút thả bom. . . Tôi kéo vụt phi cơ lên, quay lại nhìn. . . Bốn quả bom nổ, phi cơ bị chao động mạnh, có lẽ tôi xuống quá thấp. . .
Phi trường tối đen không một ánh đèn. Chúng tôi không ghi nhận một hoả lực nào từ dưới đất. Có lẽ bè lủ Nguyễn Thành Trung quá vui mừng vì phi vụ thả bom xuống phi trường Tân Sơn Nhất ban chiều hoặc là vì chúng tôi trả đủa một cách quá bất ngờ nên chúng chưa kịp có phản ứng?. .
Chỉ với 1 phi tuần 4 phi cơ A-37 với hoả lực quá ít oi, phi vụ trả đũa nầy không làm sao xoay trở tình thế, chỉ muốn cho bọn cộng sản biết rằng các phi công khu trục của VNCH sẳn sàng dập tắt những âm mưu xâm lăng của chúng.
*****
Oanh kích xong chúng tôi lên cao độ 20500 bộ, tập họp lại đổi sang tần số 3, báo cáo phi vụ hoàn tất cho Đài Kiểm Báo Paris rồi lấy hướng 210 trực chỉ Tân Sơn Nhất. . . Mọi người giử im lặng trên tần số.
Chúng tôi hạ cánh lúc 1 giờ 15 rạng ngày 29 tháng 4. Vào đến Phòng Hành Quân chưa kịp uống ly cà phê, đã phải tối tâm mặt mủi khi những quả pháo kích của địch rót xối xả vào những phi cơ A-37 đang đậu trên đường di chuyển (taxi way).
Cộng quân tiếp tục pháo kích cho đến sáng, toàn bộ phi cơ A-37 của KĐ92CT hầu như bị phá hủy hoặc hư hại nặng, không còn có khả năng bay được nữa.
Ngày 29 tháng 4, Tân Sơn Nhất vô cùng hỗn loạn, người người xuôi ngược tìm phương tiện thoát thân. May mắn cho thiếu tá Vũ Ngọc Liễn tìm được phi cơ xuống SĐ4KQ và sau đó đã tìm được phương tiện đi Utapao, hiện đang cùng gia đình định cư tại miền nam California.
Riêng cá nhân tôi, Tr/tá Thi và Th/tá Chấn dù có tìm đường lặn lội xuống tới Rạch Giá vẫn không thoát được số “tù”. Rồi cả 3 bị bắt vào trại tù “cải tạo”. Anh Thi (3 lần vô ra trại tù) tổng cộng 13 năm tù, tôi 10 năm rưởi, Chấn 8 năm, ra tù và vượt biên năm 1983, hiện cư trú cùng gia đình tại tiểu bang Florida. Tôi vượt biên năm 1986, đến Mỹ năm 1987 và đang sống với gia đình tại miền bắc California. Anh Thi đi diện HO năm 1992, định cư ở Dallas (Texas). Anh đột ngột mất đi ngày 12 tháng 1 năm 1995 trong nỗi cô đơn nơi xứ người.
Tôi viết lại hồi ký nầy để tưởng nhớ đến anh Nguyễn Văn Thi, một người chỉ huy giỏi, dũng cảm, một người anh và là một người bạn chân thành. Cũng xin gởi đến 2 bạn Chấn và Liễn, những người bạn cùng khóa (63A/SVSQKQ) đã cùng sát cánh bên nhau cho đến ngày tàn cuộc chiến.
KQ Tạ Thượng Tứ
Tháng Tư Đen 2014
*****
Ghi chú: Phi tuần Phong Giao
Số 1: Thiếu tá Nguyễn Phấn Chấn, Phi Đoàn Phó PĐ548 Ó Đen
Số 2: Thiếu tá Vũ Ngọc Liễn, Phi Đoàn Phó PĐ 524 Thiên Lôi
Số 3: Trung tá Nguyễn Văn Thi, Phi Đoàn Trưởng PĐ 534 Kim Ngưu
Số 4: Thiếu tá Tạ Thượng Tứ Trưởng Phòng Huấn Luyện KĐ92CT/Phan Rang
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 925
Phi vụ trực thăng võ trang đầu tiên của Không Lực VNCH
KQ Trương Thành Tâm
---oo0oo---

KQ Trương Thành Tâm là một Trung Tá trong Không Lực VNCH, xuất thân Khóa 16 TVBQGVN, Phi Đoàn Trưởng PD Thần Ðiểu 217 (1969-1973), Không Đoàn Trưởng KD64CT (1973-1975) tại SD4KQ (Vùng 4 Chiến Thuật).
Là một sĩ quan xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) vào năm 1962 nhưng lại được chọn phục vụ cho KQVN từ ngày mãn khóa, tôi rất lấy làm hãnh diện được phục vụ trong ngành Phi Hành. Nhưng tôi đã rất thất vọng sau khi về trình diện Bộ Tư Lệnh Không Quân và được lệnh phải đi Hoa Kỳ ngay để học bay trực thăng. Vào năm 1963, trực thăng đang là một ngành bay còn sơ khai mà mộng tôi là được bay khu trục chiến đấu. Tuy nhiên tôi nghĩ số trời đã định, mình không thay đổi được. Giấc mơ của tôi tình nguyện vào TVBQGVN, làm một người sĩ quan hiện dịch với lý tưởng chống Cộng, gìn giữ cho miền Nam này không rơi vào tay Cộng Sản độc tài, luôn bịp bợm người dân và quốc tế, đã bị giao động mạnh.
Nhưng rồi trực thăng đã trở thành một loại phi cơ chiến đấu sát liền với quân bạn trong cuộc chiến, một khí cụ cần thiết và hiệu quả cho cuộc chiến với Cộng Sản sau những năm 1964 Ngoài những phi vụ quen thuộc như bay liên lạc, tải thương, tiếp tế, đổ quân,v.v... thì năm 1970 đã đưa trực thăng lên một nấc thang quan trọng vô cùng cho Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (KLVNCH) với những chiếc Trực Thăng Võ Trang (TTVT). Phi vụ TTVT đầu tiên của KLVNCH được thực hiện tại Prey Veng (5.1970), trong cuộc chiến xâm nhập Kampuchea (K) để diệt trừ quân CS vẫn lẩn trốn về bên quốc gia này một cách an toàn bao lâu nay dưới sự làm ngơ của Sihanouk, quốc trưởng nước Kampuchea lúc bấy giờ. Cuộc đảo chánh của tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk ngày 18 tháng 3, 1970, đã cho phép quân đội chúng ta truy nã quân Cộng Sản (CS) qua tận vùng an toàn bên Cao Miên của chúng. Ðây là diễn tiến của một phi vụ ra quân với TTVT của KLVNCH lần đầu tiên đã làm cho quân CS thất bại não nề, thiệt hại quân số nhiều vì bị hoàn toàn bất ngờ.

Một Hợp Ðoàn Trực Thăng vẫn thường gồm có một phi cơ bay chỉ huy (C&C), khoảng 6 trực thăng đổ quân (slicks) và 3 chiếc trực thăng võ trang (TTVT) để yểm trợ hỏa lực cho quân bạn. Cho đến ngày 28 tháng 5, 1970, TTVT yểm trợ luôn luôn là từ quân đội Mỹ. Những cuộc chiến vào K thì không được TTVT Mỹ yểm trợ vì TT Nixon lúc bấy giờ, chỉ cho quân Mỹ yểm trợ không được quá 7 km vào nội địa K. Prey Veng, thành phố K này nằm quá tầm bay 7 cây số nên quân Mỹ không thể yểm trợ bằng TTVT hay khu trục cho quân lực VNCH.
Ngày 28 tháng 5, 1970, Phi Ðoàn 217 được lệnh trình diện tại Neak Leung bên K để trực thăng vận quân Thủy Quân Lục chiến của Quân Lực VNCH giúp quân đội Miên giải cứu Prey Veng. Tôi bay C&C và với các sĩ quan chỉ huy của Lữ Ðoàn B TQLC do Ðại Tá TQLC Tôn Thất Soạn làm lữ đoàn trưởng. Vì không có TTVT yểm trợ nên để tránh tổn thất cho hợp đoàn, tôi đã không cho đổ quân gần sát thành phố được.
Tiểu Ðoàn 1 TQLC đã tiến quân vào rất nhanh dưới làn mưa đạn của quân CS đang chiếm các cao độ trong thành phố. Vì là mùa khô nên các đồng ruộng là bãi đáp cũng rất khô và trống nên các anh em TQLC của chúng ta đã phải tiến vào thành phố dưới lợi thế của địch quân đang chiếm các địa thể có cao độ hơn. Sự thiệt hại của quân bạn thật rõ rệt&cuộc đổ quân chấm dứt sau khi TD 1 TQLC đã hoàn thành nhiệm vụ xuống bãi đáp và tiến quân vào Prey Veng. KLVNCH đã yểm trợ chiến trường bằng các đội khu trục A-37 của Sư Ðoàn 4 KQ... Qua liên lạc vô tuyến, quân bạn TQLC đã xin yểm trợ TTVT để tránh bớt thiệt hại cho quân lính.
Chiều lại, sau khi hướng dẫn hợp đoàn đổ quân PD217 về lại hậu cứ Bình Thủy an toàn, tôi đã có thời giờ để suy nghĩ rất nhiều làm sao để tránh bớt thiệt hại cho quân bạn TQLC của chúng ta trong ngày mai khi phải đổ thêm Tiểu Ðoàn 4 TQLC vào chiến trường nối tiếp với Tiểu Ðoàn 1 ngày hôm nay. Trên đường bay về hậu cứ, tôi giao phi cơ cho hoa tiêu phó Trung Úy Cao Minh Hoàng và ngồi suy nghĩ phải có giải pháp để TTVT có thể yểm trợ Tiểu Ðoàn 4 TQLC trong ngày mai thì mới giảm thiểu được thiệt hại nhân sự cho quân bạn...
Ðêm 28 tháng 5, 1970, tôi tìm ra được giải pháp.
Lần đầu tiên trong cuộc chiến VN, Hoa Kỳ mới bằng lòng cung cấp cho KLVNCH, TTVT cho chiến trường. Họ bắt đầu bằng cách đưa một nhóm huấn luyện viên TTVT với 6 phi cơ và chọn căn cứ KQ Bình Thủy làm nơi huấn luyện TTVT cho tất cả các Phi Ðoàn Trực Thăng từ Vùng 1 đến vùng 4 Chiến Thuật.
Phi đoàn 211 và 217 được chọn để học khóa huấn luyện đầu tiên về TTVT. Tôi đã họp PD 217 và nói rằng: “Bao nhiêu lâu nay hành quân chúng ta đã là những miếng mồi ngon, bay chậm và thấp, không có hỏa lực mạnh. Nhưng tình thế này đã thay đổi, chúng ta có một cơ hội để bay TTVT với hỏa lực hùng hậu đề yểm trợ quân bạn và tiêu diệt địch quân trước khi mình bị bắn...” Anh em phi đoàn đồng ý và đã tình nguyện cùng tôi học lớp huấn luyện đầu tiên bay TTVT vào tháng 3, 1970. Sau khi mãn khóa học, PD 217 đã có 6 phi hành đoàn đầy đủ khả năng để bay TTVT trên chiến trường, yểm trợ cho hợp đoàn đổ quân và quân bạn.
Tôi xin được gặp Ðại Tá Nguyễn Huy Ánh là không đoàn trưởng Không Ðoàn 74 Chiến Thuật, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Tôi trình bày tình hình chiến trường tại Prey Veng ngày hôm nay và cho đại tá biết là quân bạn và có thể cả phi hành đoàn sẽ phải hy sinh rất nhiều ngày mai khi đổ quân mà không có TTVT yểm trợ. Vậy tôi xin đại tá cho tạm ngưng chương trình huấn luyện TTVT trong một ngày để PD 217 được bay những chiếc trực thăng võ trang yểm trợ cho cuộc đổ quân TD4 TQLC ngày mai. Ðại Tá Ánh nói: “Anh đòi hỏi tôi làm một quyết định ngoài thẩm quyền của tôi, để tôi gọi lên trung tướng tư lệnh Không Quân xin chấp thuận phi vụ này.” Trung tướng tư lệnh chấp thuận phi vụ TTVT đầu tiên của KLVNCH này.
Về lại phi đoàn tối hôm 28 tháng 5, 1970, tôi lại họp trọn vẹn PD217 và nói rằng: “Ngày mai chúng ta sẽ có cơ hội bay TTVT yểm trợ cho quân bạn lần đầu tiên trong lịch sử của KQVN, tôi sẽ tình nguyện bay chiếc số 1, có ai tình nguyện bay chiếc số 2 và số 3 không?” Sự đáp ứng của phi đoàn đã ngoài sức tưởng tượng của tôi. Ai cũng nhìn thấy sự thiệt hại của quân bạn hôm nay và đều muốn hy sinh bay TTVT ngày mai. Tôi chọn 3 phi hành đoàn ngay tối hôm đó. Chiếc TTVT số 1 đó tôi làm trưởng phi cơ, số 2 là Thiếu Tá Dương Quang Lễ, bạn đồng khóa 16 với tôi, số 3 là Ðại Úy Nguyễn Thanh Hải.
Sáng hôm sau, ngày 29 tháng 5, 1970 PD 217 xin tình nguyện bay yểm trợ cuộc chiến ở Prey Veng. Hợp đoàn Phi Ðoàn 217 Thần Ðiểu cất cánh với chiếc C&C, 6 trực thăng đổ quân và 3 TTVT. Lần đầu tiên trong cuộc chiến VN các trực thăng đổ quân của PD217 được yểm trợ bằng chính hỏa lực từ TTVT của đơn vị mình. Lúc cả hợp đoàn bay qua biên giới vào nước Miên, tôi cảm thấy một niềm hãnh diện lớn lao cho lực lượng trực thăng của KLVNCH.
Hợp Ðoàn Thần Ðiểu đến trình diện Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Ðại Tá Tôn Thất Soạn, lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn B TQLC tại Neak Leung và được lệnh bốc Tiểu Ðoàn 4 TQLC từ Neak Leung đổ vào Prey Veng tiếp nối với Tiểu Ðoàn 1 quyết lấy lại thành phố Prey Veng cho Quân Ðội Miên từ tay quân Cộng Sản Bắc Việt. Vì có TTVT yểm trợ bằng hỏa tiễn và súng mini-gun bắn ra hàng ngàn viên đạn trong một phút, nên trực thăng đổ quân bạn vào sát gần thành phố hơn, tránh thiệt hại cho quân bạn TQLC rất nhiều...
Sau khi toàn thể Tiểu Ðoàn 4 TQLC đã xuống bãi đáp và tiến lên như vũ bão, thì tôi hướng dẫn chiếc số 2 TTVT tiếp tục yểm trợ quân bạn. Qua vô tuyến, các anh em TQLC cho chúng tôi biết quân Cộng Sản leo lên những cây xoài trong thành phố, lên hồ nước cao (chateau d'eau) (toàn những điểm có cao độ) để bắn sẻ các chiến binh TQLC từ ruộng khô và trống tiến vào thành phố.
Ðược chỉ điểm rõ rệt như vậy, hai TTVT của tôi và Lễ đã bắn vào những mục tiêu quân Cộng Sản này và họ đã chết rớt từ trên cây xuống như sung rụng... Quân bạn thì reo mừng khi thấy như vậy nhưng mấy anh lính Bắc Việt thì không biết nghĩ sao??? Quân CS bắt đầu cảm thấy thất trận trước sự tấn công anh dũng của TQLC, họ từ từ rút ra khỏi thành phố theo quốc lộ và kéo theo những người dân Miên trong thành phố để làm bia đỡ đạn cho họ.
Tôi và Lễ lại tiếp tục bay theo truy nã và bắn chết những anh chàng VC còn ngơ ngác không ngờ quân đội chúng ta đã được trang bị đầy đủ hỏa lực như vậy. Quân VC chết và để lại xác rất nhiều trước hỏa lực của TTVT... Trong khi hăng say yểm trợ thì chiếc TTVT số 2 của Lễ đã bị trúng đạn, Lễ bị thương nhẹ nhưng anh xạ thủ phi hành Hạ Sĩ Hứa Văn Bá đã bị trúng đạn hư bàn tay. Tôi liền hướng dẫn Thiếu Tá Lễ bay ra khu trống và bay về Neak Leung. Chiếc TTVT số 3 của Ðại Úy Nguyễn Thanh Hải lên thay thế. Chúng tôi lại tiếp tục yểm trợ quân bạn dưới đất và truy lùng những chàng VC đang chạy trốn rút lui khỏi thành phố. Ngay chiều hôm đó, thành phố Prey Veng đã được lấy lại từ tay quân CSBV nhờ 2 Tiểu Ðoàn TQLC và Phi Ðoàn Thần Ðiểu 217.
Cũng cần nói thêm là một tài liệu của Mỹ cho biết Prey Veng được quân Nam Vang phối hợp với quân Mỹ tái chiếm ngày 15 tháng 7. Tài liệu này không đúng sự thật, vì trận này chỉ có quân VNCH tham dự và hợp tác với quân của Nam Vang tái chiếm Prey Veng ngày 28 tháng 5, 1970.
Cả hợp đoàn trực thăng vận của Phi Ðoàn 217 Thần Ðiểu được lệnh bay trở về lại phi trường Bình Thủy để chuẩn bị cho một ngày hành quân kế tiếp. Riêng tôi, trên đường bay, tôi lại có thời giờ suy nghĩ trận chiến vừa qua. Nhìn thấy hỏa lực của những chiếc trực thăng võ trang của Phi Ðoàn đã tác xạ hùng dũng và yểm trợ quân bạn kết quả vô cùng nên tôi bắt đầu nghĩ phải đặt tên cho Phi Ðội TTVT của Phi Ðoàn là Hỏa Ðiểu, người con hùng dũng của đơn vị Mẹ là Thần Ðiểu. Phi đội TTVT “Hỏa Ðiểu” đã tiêu diệt bao nhiêu quân Cộng Sản ở miền Tây nước Việt và làm vẻ vang cho KLVNCH.
Sau chiến thắng này, Ðại Tá Nguyễn Huy Ánh đã gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu tuyên dương công trạng của Phi Ðoàn Thần Ðiểu trước quân đội. Riêng tôi một năm sau đó đã được chọn làm Chiến Sĩ Xuất Sắc Nhất của Không Quân trong mặt trận Kampuchea và được tưởng thưởng đi Ðài Loan một tuần để thăm viếng và xả hơi.
Tôi đã rất hãnh diện được đóng góp vào cho Quân Lực VNCH với Phi Ðoàn Thần Ðiểu 217 chống lại sự xâm lăng của quân CSBV. Rất tiếc là khi “Ðồng Minh Tháo Chạy” thì quân lực của chúng ta bị trói tay lại vì không còn đủ súng đạn để chiến đấu. Tôi vẫn xem chuyện mất nước của chúng ta là một quốc nạn vì số Trời đã định.
KQ Trương Thành Tâm
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 1158
Con Bướm Đen
Bút ký của ông Nguyễn Quang Thành
Nguyên Giáo sư trường nữ trung học Đà Nẵng
---oo0oo---
Lời người viết:
Bài viết này là nén nhang thắp lên để tưởng nhớ anh tôi là Nguyễn quang Khóa, nguyên Trung tá phi công phản lực, Trưởng phòng kế hoạch Không đoàn 41 Chiến thuật, xuất thân khóa 61A SVSQKQ đã chết tại trại tù số 3 Kỳ Sơn, Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam. - Chân thành cảm ơn anh Phan Trừng,và anh Dan Hoài Bửu, nguyên Trung tá phi công phản lực, bạn học cùng khóa của anh tôi, đã giúp tôi hoàn thành bút ký này.- Quý vị nào là bằng hữu, chiến hữu hoặc cựu tù binh biết về cái chết và mộ phần của anh tôi, xin liên lạc với tôi qua địa chỉ email:

Gia đình tôi ít anh em. Không phải do ba mẹ tôi hiếm muộn mà do thời gian ba tôi ở Pháp khá lâu. Hơn mười năm từ khi mẹ tôi sinh ra anh, hai ông bà mới gặp lại nhau, nên tôi kém anh tôi đúng một con giáp.Mặc dù khoảng cách tuổi tác sai biệt khá nhiều, nhưng anh em tôi đều có điểm tương đồng là yêu thích toán học và ôm mộng viễn du. Vì thế chúng tôi đều học ban khoa học Toán và tình nguyện gia nhập quân đội sau khi đậu tú tài toàn phần:
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai, nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Mùa hè 1960, anh tôi nhập học khóa 61A SVSQKQ. Khoảng tháng sau lại có giấy báo nhập học ban Toán của trường Đại học sư phạm gửi về nhà, ba tôi mở ra, đọc đi đọc lại nhiều lần, mặt đăm chiêu, ra chiều nghĩ ngợi nhiều lắm.
Mười năm sau, tôi cũng vừa thi vào đại học sư phạm, đồng thời làm đơn xin gia nhập trường Võ bị Đà Lạt để được sống và học tập trong khung cảnh hào hùng và thơ mộng của vùng đất cao nguyên, mà tôi đã bị quyến rủ trước đây qua bài Ai Lên Xứ Hoa Đào của nhạc sĩ Hoàng Nguyên và một số hình ảnh của người sinh viên sĩ quan Đà Lạt trong đoạn phim giới thiệu về trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, đã chiếu tại trường vào dịp cuối năm lớp Đệ nhất (lớp 12) tại trường Quốc học, Huế.
Tôi đã trúng tuyển vào trường đại học sư phạm nhưng không thấy giấy báo nhập học trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt gửi về nhà. Vì thế, sau này tôi đã trở thành một giáo sư khoa học tại một trường nữ trung học đúng theo ý nguyện của ba mẹ tôi, nhưng tôi không bao giờ quên được hình ảnh hào hùng và lịch lãm của người trai thế hệ mà mình mơ ước.
Sau khi học đại học sư phạm được vài tháng, nhân một buổi ăn tối của gia đình, ba tôi mới ôn tồn cho tôi biết là ông đã nhận được giấy báo của trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt gửi về nhà, nhưng ông không cho tôi biết, vì anh tôi đã là pilote de guerre vào sinh ra tử trên bốn vùng chiến thuật (ba tôi có thói quen nói nửa Việt nửa Pháp, như ông thường viết các toa thuốc cho bệnh nhân).
Anh tôi du học tại Hoa kỳ năm 1961. Gia đình tôi đều đặn nhận được thư từ và hình ảnh của anh tôi, chụp tại các trường huấn luyện phi công, luôn luôn kèm bên chiếc phi cơ đã bay, hoặc các hình ảnh chụp tại các tiểu bang đã đi qua nhân dịp cuối tuần hoặc các dịp lễ lạc. Tôi ước mơ một ngày nào đó mình cũng được như vậy.
Ngoài thư từ gửi cho gia đình, anh tôi còn gửi cho chị M.T., sinh viên trường CSYT, con gái của một người bạn của ba tôi, mà ba tôi đã chấm theo tiêu chuẩn: Công-Dung-Ngôn-Hạnh cho anh tôi, trong lúc hai người chưa một lần gặp gỡ.
Nhiều lần tôi cảm thấy xót xa cho chị, khi chị đưa lá thư anh gửi cho tôi xem với hai câu thơ mở đầu:
Người ơi, gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không
Năm 1963 anh về nước. Hai câu thơ trên trích trong tập truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà anh đã lồng vào trong bức thư, gửi cho chị M.T. như một định mệnh đã an bài.
Ba tôi đã phải nói lời xin lỗi với cha mẹ chị, vì việc đi hỏi chị là do ba tôi đơn phương quyết định.
Một lần nữa, ba tôi lại đăm chiêu, suy nghĩ nhiều lắm.
Dĩ nhiên, anh tôi từ đó không về nhà, cứ ở mãi Sài gòn. Lúc đầu, anh ở Liên Phi đoàn 33 Vận tải tại căn cứ Tân sơn nhất, sau đó chuyển qua Phi đoàn 518 Khu trục tại căn cứ Biên hòa.
Thỉnh thoảng anh gửi thư cho ba mẹ tôi nói rằng anh quen một người con gái gốc Bắc, con của một sĩ quan cấp tá, bạn của cậu tôi. Chị là sinh viên trường Đại học Luật khoa Sài gòn và cũng là bạn cùng học tại ĐHLK với anh tôi ( sau khi ở Hoa kỳ về, anh lại ghi danh học ĐHLK). Chị có tên rất ấn tượng: Phạm Chất L.
Thư từ giữa hai anh chị chất đầy như núi. Một lần vào cư xá thăm anh, tôi tò mò đọc được một lá thư của chị gửi cho anh, với bài thơ mà tôi chỉ nhớ được hai câu:
Đời phi công có mấy người chung thủy
Mỗi đường bay thay một cánh hoa yêu
Hay một lá thư khác:
Oublie, c’est le nom d’une fleur
N’oubliez pas, c’est le vœux de mon cœur
(Xin người giữ lấy hoa quên
Và đừng quên nhé lời nguyền trong tâm)
Chị cũng không quên ép vào những trang thư tình màu tím một con bướm đen đậu trên nhánh hoa Forget Me Not. Điều này làm tôi liên tưởng đến sự trùng hợp màu sắc một cách ngẫu nhiên: Bộ áo bay của anh tôi màu đen với khăn quàng cổ màu tím, tôi thường thấy anh tôi mặc trong những phi vụ đặc biệt.
Đời phi công thật hào hùng và bay bướm. Trong tủ sách anh tôi để lại cho tôi học, tôi thích thú khi đọc cuốn Đời phi công của Toàn Phong, Chuyến bay đêm (Vol de nuit), Cõi người ta (Terre des hommes) của nhà văn phi công Saint Exupery. Càng thích thú hơn, khi biết Toàn Phong là bút hiệu của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, tác giả cuốn Hình học Không gian không thua kém gì các cuốn Géométrie dans L’espace của Le Bosse hoặc của Caronner mà anh em tôi xem như là quyển Tự điển Toán Hình học Không gian.
Suy cho cùng, toán học và văn chương tuy thuộc hai phạm trù khác nhau nhưng luôn luôn có sự tương quan logic. Toán học tuy khô khan, nhưng nhà toán học lại là người rất nhạy cảm. Sự nhạy cảm là khởi đầu cho bao đề tài lãng mạn trong văn chương.
Thời gian dần trôi, tình hình chiến sự ngày càng ác liệt, anh tôi được điều động ra căn cứ Đà Nẵng. Ác liệt nhất là trận đánh Tết Mậu Thân 1968 và sau đó là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Phi vụ oanh tạc, giải tỏa cố đô Huế dịp Tết Mậu Thân, chiếc Khu trục cơ Skyraider AD6 do anh tôi lái bị bắn với chi chít lỗ đạn phòng không của Bắc quân, đặc biệt là bánh đáp bị bắn gãy nhưng anh tôi đã đáp bụng an toàn.
Phi vụ oanh tạc, giải tỏa cổ thành Quảng trị, chiếc phản lực cơ A 37 của anh tôi bị bắn rơi trên bầu trời cổ thành, anh đã nhảy dù thoát hiểm và may mắn được một trực thăng cứu thoát, đưa về căn cứ Đà nẵng an toàn.
Năm đó, tôi đang học năm thứ hai. Vừa ra khỏi giảng đường, một con bướm đen to bằng bàn tay, bay lởn vởn và đậu trên vai tôi vài tích tắc rồi biến mất. Sau đó tôi gặp một viên thiếu úy phi công trực thăng đến trường tìm một người bạn, vô tình kể lại chuyên anh ta vừa cứu thoát một thiếu tá phi công phản lực A 37 bị bắn rơi tại Quảng Trị, tôi nghe chuyện và hỏi tên người phi công lâm nạn, thì ra người phi công phản lực đó chính là anh tôi.
Sau này, trong tập san Lý Tưởng của binh chủng Không quân có đăng bài Cánh Thiên Thần Trên Bầu Trời Cổ Thành Quảng Trị của ký giả L.R.viết về anh lúc cánh dù bung ra từ chiếc phản lực cơ lâm nạn trên vùng trời lửa đạn.
Bạn bè cùng khóa 61 A SVSQKQ và các khóa sau đã có nhiều người ra đi không bao giờ trở lại như tráng sĩ Kinh Kha qua sông Dịch không hẹn ngày về. Chiến tranh đồng nghĩa với mất mác, đau thương, cô đơn và giá lạnh:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
...
...
Chinh phu, tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn
Biến cố khó quên đối với gia đình tôi xảy ra vào ngày 29/3/1975 sau khi tôi nhận bằng tốt nghiệp và sự vụ lệnh bổ nhiệm làm giáo sư tại trường trung học được vài tháng. Đà Nẵng đang trong cơn hấp hối. Tình hình chiến sự vô cùng căng thẳng.
Anh tôi một mình lái xe jeep ra nhà, hối hả chở cha mẹ tôi vào phi trường Đà Nẵng, còn tôi không liên lạc được phải chạy một mình ra cảng Tiên Sa mong thoát thân bằng đường biển.
Vừa đến cảng thì bị pháo kích dồn dập, tôi chỉ kịp nằm bẹp xuống một mương nước, và chiếc vali trong tay tôi rơi lúc nào cũng không hề hay biết. Một quả đạn pháo kích rơi ngay trước mặt tôi chừng mươi thước, đúng lúc một chiếc xe jeep trờ tới, mọi người trên xe bị hất tung lên và trở thành tro bụi trong phút chốc.
Quá hoảng sợ, tôi chạy lùi theo một số người tìm đường ra biển Sơn Trà.
Lúc này có một vài chiếc phi cơ bay vút qua, hướng ra biển Đông. Tôi ngửa mặt lên trời, ước gì ở trên cao có anh tôi thấy để cứu vớt tôi. Thế nhưng, tất cả đều đã bay xa cho đến khi chỉ còn là vài chấm đen trên nền trời ảm đạm.
Lúc này tôi đã ra đến bờ biển Sơn trà, gặp được một chiếc tàu đánh cá đang đậu cách bờ chừng vài trăm thước. Mừng quá, tôi cởi vội quần áo và lao nhanh xuống biển. Lúc tay tôi chạm vào mạn tàu cũng là lúc trên bờ xuất hiện vài người có vũ khí cầm tay, ra hiệu cho tàu vào bờ. Một số người trên tàu vội vã kéo tôi lên đồng thời tàu nổ máy chạy thẳng ra khơi.
Nhóm người võ trang nhắm thẳng vào tàu bắn liên tục nhưng chỉ làm bị thương một người trên tàu, còn lại đều vô sự.
Một tiếng sau, tàu này được tàu hải quân Việt nam Cộng hòa cứu vớt và chuyển lên một chiến hạm của hải quân Hoa kỳ.
Trên boong tàu, tôi đưa mắt nhìn vào phía đất liền. Mịt mù trùng khơi. Biển vây kín biển cả. Tiếng sóng vỗ ào ào. Tàu lắc lư chao đảo. Tôi ngửa mặt lên trời, tự nhủ: Có phải đây là giờ phút vĩnh biệt của anh em tôi? Đột nhiên bầu trời trở nên u ám, vài hạt mưa đã rơi nhanh xuống sàn tàu.
Sau này, qua một người quen cho biết: khuya 29/3/1975 anh tôi đã lên và lái một chiếc phản lực cơ A 37 ra phi đạo nhưng không thể cất cánh được vì đã bị hư hại. Vì thế anh tôi đã trở thành tù binh tại trại tù số 3 Kỳ Sơn, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Hơn một năm sau, trong lúc gia đình đang ăn cơm trưa, bỗng nhiên có một con bướm đen to bằng bàn tay, bay vòng vòng trong phòng và đậu trên vai từng người rồi cuối cùng đậu ngay chính giữa bàn thờ gia đình. Năm phút sau, nhận được tin báo là anh tôi đã chết, nằm trong một bụi cây bên ngoài trại tù chừng 800 mét. Mọi người đều sửng sốt, bàng hoàng nhưng không dám bật thành tiếng khóc.
Đến khi bình tĩnh lại, nhìn về phía bàn thờ, con bướm đen cũng đã vỗ cánh bay ra khỏi nhà.
Đêm hôm đó, tôi nằm mơ thấy anh tôi mặc bộ áo bay màu đen với khăn quàng cổ màu tím, đang lái chiếc xe jeep về nhà nhưng máu đã đẫm ướt phi bào.
Sáng dậy, nhớ lại giấc mơ đêm qua, tôi cảm thấy một vị đắng, chua cay tràn ngập cổ họng. Tôi nghe như đâu đây phảng phất tiếng hát của một nữ ca sĩ nổi tiếng một thời:
Ngày xưa khi anh vừa khóc chào đời
Mẹ yêu noi gương người trước đặt lời
...
...
Người phi công giữ khung trời
Vẫn còn mang số phận con người
Bất giác hai dòng nước mắt tuôn trào lúc nào không hay.
Hai mươi năm sau, một mình tôi trở lại vùng rừng thiêng nước độc, nơi anh tôi đã bị lưu đày, khổ nhục. Trại tù giờ đây chỉ là một vùng lau lách đầy cỏ dại, rất khó xác định.
Nghĩ mình đã vượt núi, băng rừng, lội suối trong mùa nước lũ, chẳng lẽ bó tay trở về.
Trời đã nhá nhem tối, tôi thì thầm khấn nguyện anh tôi. Bỗng từ đâu một con bướm đen to bằng bàn tay bay đến trước mặt tôi, như có ý dẫn đường. Tôi tiếp tục khấn nguyện. Con bướm đen bay vòng vòng, tôi chạy theo và bị té sấp vào một bờ đất.
Sau phút hoảng hốt, tôi lồm cồm bò dậy và nhận ra một số nấm mộ nho nhỏ nằm khuất dưới đám cỏ dại. Tất cả gồm 12 nấm mộ vô chủ. Người dân địa phương cho biết đó là mộ của tù binh tại trại 3 Kỳ sơn. Tôi vội vàng hốt 12 nắm đất bỏ vào 12 bao nilon nhỏ và đánh dấu theo số thứ tự, rồi đến nhà dân xin ngủ tạm qua đêm.
Sáng hôm sau về lại Tam Kỳ, tìm đến nhà một thầy ngoại cảm. Thầy cho biết anh tôi nằm ở ngôi mộ số 3.
Tuy nhiên tôi vẫn mong trong tương lai, khi bài viết này của tôi được nhiều người biết đến, tôi có thể có nhiều tin tức hữu ích và cụ thể để xác định chính xác mộ phần của anh tôi.
Nguyễn Quang Thành
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 1132
