
Hòai Nam : Những ca khúc ngọai quốc lời Việt (1)- Dẫn Nhập
-
SCARBOROUGH FAIR (Giàn thiên lý đã xa) – Ca khúc truyền thống Anh quốc
Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT(18)- SCARBOROUGH FAIR (Giàn thiên lý đã xa) – Ca khúc truyền thống Anh quốc

Tiếp tục giới thiệu những ca khúc dân gian điển hình, kỳ này chúng tôi viết về bản Scarborough Fair, một ca khúc truyền thống lãng mạn (traditional ballad) của Anh quốc, hay viết một cách chính xác hơn, là của vùng Yorkshire ở miền Bắc hòn đảo Anh-cát-lợi.
Trước năm 1975, ca khúc này đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Giàn thiên lý đã xa, dịch từ lời Pháp có tựa Chèvrefeuille que tu es loin.
Scarborough Fair nguyên là tên gọi hội chợ thường niên ở thành phố cảng Scarborough, vùng Yorkshire, có từ thời Trung Cổ. Đây không chỉ là hội chợ lớn nhất của Anh quốc, mà còn của cả Âu Châu thời bấy giờ, thu hút giới doanh nhân và nghệ nhân từ các quốc gia ở tận Bắc Âu, vùng biển Baltic và Trung Cận Đông.
Scarborough Fair được chính thức khai sinh bởi sắc lệnh của vua Henri đệ Tam, ban hành ngày 22 tháng 1 năm 1253, theo đó hội chợ sẽ kéo dài 45 ngày, từ Lễ Đức Trinh Nữ Maria lên trời (Feast of the Assumption of the Blessed Virgin Mary) cho tới Lễ kính Thánh Mi-ca-e (Feast of St Michael); tính theo lịch Công giáo La-mã hiện nay là từ ngày 15 tháng 8 tới ngày 29 tháng 9.
Sau 5 thế kỷ, do sự cạnh tranh của các hội chợ quốc tế khác, Scarborough Fair chính thức chấm dứt hoạt động vào năm 1788 (ngày nay chỉ còn những sinh hoạt “diễn lại” để thu hút du khách), nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi trong dân gian Anh-cát-lợi, Tô-cách-lan, Ái-nhĩ-lan. Trong dư âm ấy, có khúc hát dân gian Scarborough Fair. (Video: Scarborough Fair – Celtic Woman live performance HD – YouTube)
Phụ lục (1): Scarborough Fair, Celtic Woman
Nội dung ca khúc là lời một chàng trai đã từng sống ở Scarborough và yêu một cô gái ở nơi ấy. Nay anh nhờ mọi người (những người đang nghe chàng hát) khi tới hội chợ hãy nhắn với cô gái rằng: nếu cô thực hiện được những công việc “không thể thực hiện” do chàng đưa ra, chẳng hạn, may cho chàng cái áo sơ-mi không có một đường kim mũi chỉ, rồi giặt cái áo ấy dưới một cái giếng khô…, chàng sẽ mở rộng vòng tay đón cô trở lại.
Theo thời gian, lời hát của ca khúc này được dân gian biến cải tùy theo địa phương, và tính cho tới cuối thế kỷ thứ 18, đã có hàng chục lời hát khác nhau, trong đó có lời hát dưới dạng đối đáp của một đôi nam nữ: nàng ra điều kiện ngược lại là chàng phải thực hiện được những công việc “không thể thực hiện” do nàng đưa ra, thì nàng mới may cho chàng cái áo không có đường kim mũi chỉ kia.
SCARBOROUGH FAIR (ấn bản 1889)
(1) NAM:
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Remember me to one who lives there,
She was once a true love of mine.
*
Tell her to make me a cambric shirt,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Without a seam or needlework,
She will be a true love of mine.
*
Tell her to wash it in yonder dry well,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Where never spring water or rain ever fell,
She will be a true love of mine.
*
Tell her to dry it on yonder grey thorn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Which never bore blossom since Adam was born,
She will be a true love of mine.
(2) NỮ:
Now he has asked me questions three,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
I hope he’ll answer as many for me
Before he shall be a true love of mine.
*
Tell him to buy me an acre of land,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Betwixt the salt water and the sea sand,
Then he shall be a true love of mine.
*
Tell him to plough it with a ram’s horn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And sow it all over with one pepper corn,
And he shall be a true love of mine.
*
Tell him to shear it with a sickle of leather,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And bind it up with a peacock feather.
And he shall be a true love of mine.
Tell him to thrash it on yonder wall,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And never let one corn of it fall,
Then he shall be a true love of mine.
*
When he has done and finished his work.
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Oh, tell him to come and he’ll have his shirt,
And he shall be a true love of mine.
Trong trường hợp chỉ hát lời (1), tùy theo người hát là nam hay nữ, những chữ “she”, “her” sẽ được đổi thành “he”, “him”.
Riêng câu “Parsley, sage, rosemary, and thyme” (ngò tây, ngải thơm, hương thảo, húng tây) được lập lại trong mỗi phiên khúc, với đa số thính giả trên thế giới thì thật khó hiểu, phải là người Anh, Tô-cách-lan, Ái-nhĩ-lan mới biết rằng vào thời xa xưa, bốn giống rau thơm này tượng trưng cho những đức tính của người con gái, và trong trường hợp của ca khúc Scarborough Fair, trang mạng Askville của Amazon giải thích: “they symbolize virtues the singer wishes his true love to have, in order to make it possible for her to come back again.”
Nói cách khác, ngày xưa người Anh sánh phụ nữ với rau thơm (herbs) cũng tương tự như ngày nay họ ví đàn bà con gái như những bông hồng vậy.
Lần đầu tiên Scarborough Fair được phổ biến không dưới hình thức một ca khúc dân gian là vào năm 1941, khi giai điệu của Scarborough Fair được sử dụng làm nhạc nền cho cuốn phim Man Hunt của đạo diễn Mỹ Fritz Lang. Tới năm 1955, hai ca sĩ kiêm diễn viên Mỹ nhưng sinh sống tại Pháp là Gordon Heath và Lee Payant, lúc đó đang làm chủ phòng trà ca nhạc Rive Gauche ở Paris, là hai nghệ sĩ đầu tiên thu đĩa bản Scarborough Fair.
Tuy nhiên phải đợi 11 năm sau (1966), sau khi được đôi song ca Simon & Garfunkel của Mỹ soạn hòa âm, thu đĩa và phổ biến trong album lấy tên là Parsley, sage, rosemary, and thyme, Scarborough Fair mới nổi tiếng quốc tế.
Nói về Simon & Garfunkel, tính cho tới nay, vẫn được ghi nhận là đôi song ca tài ba nhất, được ái mộ nhất, bán ra nhiều đĩa nhất, đoạt nhiều giải thưởng nhất, được trao tặng nhiều vinh dự nhất trong lịch sử âm nhạc.
Simon & Garfunkel gồm hai thành viên Paul Simon và Arthur “Art” Garfunkel, cả hai đều sinh năm 1941 và cùng là ca nhạc sĩ (piano, guitar), nhà soạn nhạc, nhà viết ca khúc; riêng Art Garfunkel còn là một thi sĩ, và sau khi chuyển sang đóng phim, đã được xướng danh giải Trái Cầu Vàng (Golden Globe) về diễn xuất.
Chính thức thành lập năm 1964 và chia tay nhau năm 1970 (sau đó thỉnh thoảng lại tái hợp để trình diễn), Simon & Garfunkel có vô số ca khúc được lên “top”, trong đó được ưa chuộng nhất phải là ba bản The Sound of Silence (1964), Scarborough Fair/Canticle (1966), và Bridge over Troubled Water (1969).
Phụ lục (2): The Sound of Silence, Simon & Garfunkel
Riêng bản Scarborough Fair/Canticle không chỉ được ưa chuộng mà còn gây tranh luận.
Thứ nhất, nhân dịp sang Luân-đôn vào năm 1965, Paul Simon được gặp gỡ đồng nghiệp Martin Carthy. Martin Carthy, cùng tuổi với Paul Simon, là ca nhạc sĩ có công lớn nhất trong việc khôi phục, quảng bá các ca khúc dân gian truyền thống của Anh nơi thế hệ trẻ, trong số đó có bản Scarborough Fair. Paul Simon trở về Hoa Kỳ mang theo ca khúc dân gian này, cùng với Art Garfunkel soạn hòa âm, rồi phối hợp với ca khúc Canticle của anh viết từ năm 1963, để cho ra đời bản Scarborough Fair/Canticle. Việc trên các ấn bản của ca khúc này chỉ ghi: ca khúc truyền thống của Anh, hòa âm của Paul Simon và Art Garfunkel, mà không hề nhắc tới tên tuổi của Martin Carthy đã bị nhiều người cho là một sự vô tình đáng trách.
Thứ hai, việc Paul Simon cho xen lẫn lời hát của ca khúc phản chiến Canticle vào một ca khúc dân gian lãng mạn đã gây bất mãn nơi một số thành phần thính giả không nhỏ.
Lời hát của Canticle:
On the side of a hill in the deep forest green
Tracing a sparrow on snow-crested ground
Blankets and bedclothes a child of the mountains
Sleeps unaware of the clarion call
On the side of a hill, a sprinkling of leaves
Washed is the ground with so many tears
A soldier cleans and polishes a gun
War bellows, blazing in scarlet battalions
Generals order their soldiers to kill
And to fight for a cause they’ve long ago forgotten.
Nhưng không một ai có thể phủ nhận chính nhờ hòa âm và nghệ thuật song ca của Simon & Garfunkel mà Scarborough Fair mới được hàng trăm triệu người trên thế giới biết tới, và ưa chuộng.
Phụ lục (3): Scarborough Fair/Canticle, Simon & Garfunkel
Từ ngày ấy (1966) tới nay, Scarborough Fair đã được rất nhiều ca sĩ nổi tiếng thu đĩa; lẽ dĩ nhiên là chỉ hát lời của ca khúc dân gian nguyên thủy chứ không hát thêm lời của bản Canticle.
Gregorian Band
Trong số ấy, chúng tôi chọn gửi tới quý độc giả hai đĩa – một vì tính cách phổ biến, một vì tính cách độc đáo. Đĩa phổ biến là của Sarah Brightman, nữ danh ca giọng soprano nổi tiếng của Anh mà chúng tôi đã đôi lần nhắc tới trong loạt bài này; còn đĩa độc đáo là của ban hợp ca Gregorian Band của Đức, hát theo hình thức vãn ca của Thiên chúa giáo.
[“Vãn ca”, còn được gọi là “bình ca”, tức “gregorian chant”, hoặc chỉ ngắn gọn là “gregorian” – được gọi theo tên nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo đã đề xướng thể loại thánh ca này là Đức Giáo hoàng Gregory I (540-604). Tới hậu bán thế kỷ thứ 20, “vãn ca” đã vượt khỏi khuôn viên giáo đường, và ban hợp ca nổi tiếng nhất trong việc ứng ụng hình thức hát thánh ca này vào nền nhạc pop chính là ban Gregorian Band, gồm 9 thành viên, thường được xưng tụng là Masters of Chants]
Phụ lục (4): Scarborough Fair, Sarah Brightman
Phụ lục (5): Scarborough Fair, Gregorian Band
Tương tự trường hợp bản Donna Donna chúng tôi đã giới thiệu trong bài kỳ trước, bản Scarborough Fair cũng được đặt lời hát bằng tiếng Pháp với nội dung hoàn toàn khác, và cũng được ưa chuộng không thua gì nguyên tác.
Tác giả lời hát tiếng Pháp của Scarborough Fair là nhà soạn ca khúc và viết lời hát nổi tiếng Pierre Delanoe (1918-2006). Ông từng viết, hoặc viết chung hàng chục ca khúc cho các ca sĩ hàng đầu của Pháp, từ thế hệ trước như Édith Piaf, André Claveau, Gilbert Bécaud, Charles Aznavour cho tới đám trẻ như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Mireille Mathieu, Michel Sardou…
Pierre Delanoe (1918-2006).
Năm 1958, ca khúc Dors, mon amour (Hãy yên giấc, người tình ta ơi) ông viết cho André Claveau tham dự cuộc thi ca khúc Âu Châu Eurovision đã đoạt giải nhất.
Trong số những bản nổi tiếng quốc tế của ông có Et maintenant và Je t’appartiens. Et maintenant sau này được đặt lời Anh với tựa What Now My Love, được rất nhiều ca sĩ và ban nhạc nổi tiếng trình bày, như Frank Sinatra, Barbra Streisand, Elvis Presley, The Supremes, Sonny & Cher, Herb Alpert & the Tijuana Brass, The Temptations…; còn Je t’appartiens được đặt lời Anh với tựa Let’s It Be Me, được The Everly Brothers, Bob Dylan, Willie Nelson, Tom Jones, Nina Simone… thu đĩa.
Năm 1967, ngay sau khi bản Scarborough Fair/Canticle do Simon & Garfunkel thu đĩa trở nên nổi tiếng quốc tế, Pierre Delanoe đã đặt lời Pháp cho ca khúc này với tựa Chèvrefeuille que tu es loin.
Sự tài tình của Pierre Delanoe là trong khi đặt lời hát mới với một nội dung khác hẳn, ông không chỉ duy trì được tính cách “dân gian” của ca khúc mà còn đem lại cho người nghe một cảm giác bâng khuâng trước câu chuyện nửa thực nửa hư, tương tự những gì mà ca khúc Scarborough Fair đã đem lại cho thính giả ở các xứ nói tiếng Anh.
Chèvrefeuille (“honeysuckle” trong tiếng Anh, “hoa kim ngân” trong tiếng Việt)
CHÈVREFEUILLE QUE TU ES LOIN
Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l’amour oublie
Un peu plus à chaque matin
*
Veux-tu ma belle tailler pour moi
Chèvrefeuille que tu es loin
Une chemise dans les draps
Où naguère nous dormions si bien
*
Veux-tu me trouver un arpent de terre
Chèvrefeuille que tu es loin
Tout près de l’église au bord de la mer
Pour chanter mon dernier refrain
*
Maintenant je sais que c’est la fin du soleil
Chèvrefeuille que tu es loin
Et je voudrais que ce soit toi ma belle
Qui m’enterre de tes propres mains
*
Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l’amour oublie
Un peu plus à chaque matin
Điểm nổi bật nhất trong lời hát của Pierre Delanoe là câu thứ nhì – Chèvrefeuille que tu es loin – không chỉ được lập lại trong mỗi phiên khúc mà còn được sử dụng làm tựa đề ca khúc.
Đó là về hình thức, còn về ý nghĩa, “chèvrefeuille” (“honeysuckle” trong tiếng Anh, “hoa kim ngân” trong tiếng Việt) là một trong những loài hoa leo phổ biến và thông dụng nhất ở các miền quê Âu châu, đặc biệt ở Pháp, nơi nó được trồng để đem lại cảnh sắc và hương thơm dịu dàng, để ướp trà, bánh kẹo, và cất nước hoa, v.v…
Phụ lục (6): Chèvrefeuille que tu es loin, Nana Mouskouri
Tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, khi bản Scarborough Fair/Canticle của Simon & Garfunkel lên Top vào năm 1967/68, đã được giới trẻ nồng nhiệt đón nhận, thường là nghe qua làn sóng điện của đài phát thanh FM hoặc xem đài truyền hình quân đội Hoa Kỳ; một phần vì tỷ lệ người Việt đủ trình độ Anh ngữ để thưởng thức các ca khúc của Anh – Mỹ đã khá cao, một phần vì hòa âm độc đáo và nghệ thuật song ca siêu đẳng của Simon & Garfunkel.
Qua đầu thập niên 1970, sau khi Chèvrefeuille que tu es loin (Scarborough Fair lời Pháp) được phổ biến tại Hòn Ngọc Viễn Đông, Phạm Duy mới đặt lời Việt với tựa Giàn thiên lý đã xa.
Có thể nói đây là một bản dịch rất sát nghĩa, trừ mấy chữ “giàn thiên lý” và “thằng bé”, “đứa bé”.
Hoa Thiên Lý
Chèvrefeuille dịch sang tiếng Việt là hoa kim ngân (Hán Việt: kim ngân hoa), có tên khoa học là Lonicera, thuộc họ Caprifoliaceae, còn hoa thiên lý có tên khoa học là Telosma cordata, thuộc họ Apocynaceae, là hai chủng loại hoàn toàn khác biệt. Thế nhưng nếu xét về mức độ phổ biến cũng như hình ảnh của nó trong dân gian ở Pháp và ở Việt Nam thì hai loài hoa này lại có nhiều điểm tương đồng.
Hiện nay ở Việt Nam, trồng hoa thiên lý đã trở thành một kỹ nghệ, và người ta đã chế biến thành hàng chục món ăn món nhậu bằng hoa thiên lý, từ trong gia đình cho tới nhà hàng “cao cấp”. Nhưng trước năm 1975, việc trồng thiên lý còn hoàn toàn mang tính cách gia đình. Theo đa số sách vở, việc trồng hoa thiên lý bắt đầu phổ biến từ miền Bắc. Chúng tôi vẫn còn nhớ ở quê xưa Nam Định, hầu như nhà nào cũng có một giàn thiên lý trước nhà, trước ngõ, vừa cho cảnh quan thêm đẹp mắt, vừa cho bóng mát vừa tỏa hương thơm.
Thiên lý thơm ngát, mùi hương thật dễ chịu và đáng yêu, cho nên các cô gái chưa chồng thường sử dụng để ủ quần áo, còn chàng trai nào “điệu” một chút thì mỗi khi ra đường không quên bỏ một chùm hoa vào túi áo sơ-mi!
Dĩ nhiên, ngày ấy chúng tôi cũng biết rằng hoa thiên lý có thể ăn được, chẳng thế mà ca dao đã có câu:
Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen
Tuy nhiên, với đa số thính giả yêu nhạc ngày ấy, chúng tôi tin rằng khi nghe ca khúc Giàn thiên lý đã xa, sẽ liên tưởng tới hình ảnh thân thương và mùi hương muôn thuở của giàn thiên lý trước nhà trước ngõ, hơn là nghĩ tới bát canh hoa lý của người vợ nấu riêng cho chồng.
Thành thử việc Phạm Duy thay hoa kim ngân bằng hoa thiên lý là đã “Việt hóa” ca khúc Chèvrefeuille que tu es loin một cách hết sức tài tình và đầy ý nghĩa.
Thế nhưng tới khi ông dịch mấy chữ “pauvre garçon” thành “tội nghiệp thằng bé” thì chúng tôi cho rằng chỉ đáng phục một nửa; đó là chữ “pauvre” (tội nghiệp), còn “garçon” mà dịch thành “thằng bé, đứa bé” thì không ổn.
Theo văn mạch (context) trong ca khúc lời Pháp nguyên thủy, chữ “garçon” ở đây có nghĩa là một người con trai đã khôn lớn, đã tới tuổi biết yêu. Đó cũng là chữ “garçon” trong bản “Tous les garçons et les filles” nổi tiếng của nữ ca sĩ Françoise Hardy:
Tous les garçons et les filles de mon age
Se promenent dans la rue deux par deux
Tous les garçons et les filles de mon age
Savent bien ce que c’est d’etre heureux
Et les yeux dans les yeux
Et la main dans la main
Ils s’en vont amoureux
Sans peur du lendemain…
Chữ “thằng bé, đứa bé” ở đây để dịch chữ “petit garçon” trong bản Donna Donna (Il était une fois un petit garçon qui vivait dans une grande maison) thì đúng hơn.
Việc Phạm Duy dịch “garçon” thành “thằng bé, đứa bé” có thể khiến những người không biết nguyên bản tiếng Pháp, hoặc không hiểu tiếng Pháp, hiểu lầm rằng đây là một đứa bé yêu một cô gái lớn tuổi hơn mình, như trường hợp bản “Diana” của Paul Anka (I’m so young and you’re so old – This, darling, I’ve been told…)
Thế nhưng, theo cung bậc của bản Scarborough Fair/Chèvrefeuille que tu es loin và vần bằng trắc trong tiếng Việt, không dịch “garçon” thành “thằng bé, đứa bé” thì sử dụng chữ gì cho xứng hợp? Câu hỏi ấy, trong hơn 40 năm qua, cứ mỗi lần nghe lại bản Chèvrefeuille que tu es loin – Giàn thiên lý đã xa, chúng tôi lại cố nặn óc tìm một lời giải đáp, để rồi cuối cùng chịu thua.
Thành thử, theo sự hiểu biết của chúng tôi, ít nhất cũng là cho tới nay, muốn hát, muốn nghe lời Việt của bản Chèvrefeuille que tu es loin, người ta không có lựa chọn nào khác hơn là Giàn thiên lý đã xa của Phạm Duy.
Giàn thiên lý đã xa
Tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà.
Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa.
Đứa bé lỡ yêu, đã lỡ yêu cô em rồi.
Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi.
Này, này nàng hỡi, nhớ may áo cho người.
Giàn thiên lý đã xa tít mù khơi.
Tấm áo cắt ngay đã cắt trên khăn mượt mà.
Là chiếc chăn đắp chung những ngày qua.
Tìm một miếng đất cho gã si tình.
Giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xăm
Miếng đất cắt hoang, miếng đất ngay bên giáo đường.
Biển sẽ ru tiếng hát bên trùng dương.
Giờ đã đến lúc tan ánh mặt trời.
Giàn thiên lý đã xa mãi người ơi.
Lấp đất hố tôi, lấp nối đôi tay cô nàng.
Thì hãy chôn trái tim non buồn tênh.
Trước năm 1975, Thanh Lan – Nữ hoàng nhạc Pháp của Sài Gòn – là người đầu tiên hát hai bản Chèvrefeuille que tu es loin và Giàn thiên lý đã xa. Tuy nhiên, vì chất lượng âm thanh của băng nhạc cũ quá kém, chúng tôi xin kết thúc bài này với bản lời Việt qua tiếng hát của Ngọc Hương.
Phụ lục (7): Giàn thiên lý đã xa, Ngọc Hương
Phụ lục (8): Scarborough Fair (guitar)
Hoài Nam
©T.Vấn 2013
Comment
-
ONE DAY (Khúc hát thanh xuân), STRAUSS & HAMMERSTEIN
ONE DAY (Khúc hát thanh xuân), STRAUSS & HAMMERSTEIN
Trong bài kỳ này và kỳ tới, chúng tôi xin giới thiệu hai ca khúc nổi tiếng của thập niên 1930 – một thật vui, một rất buồn. Bản vui là One Day When We Were Young, được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Khúc hát thanh xuân; bản buồn là Sombre Dimanche, được ông đặt tựa Chủ Nhật Buồn, và Nam Lộc với tựa Chủ Nhật Xám.
Trước hết nói về bản One Day When We Were Young. Như chúng tôi đã trình bày trước đây, theo sự phân chia của các nhà nhạc sử, thời kỳ hiện đại của âm nhạc tây phương nói chung, được bắt đầu cùng với thế kỷ 20. Trong lĩnh vực sáng tác ca khúc cũng thế, những ca khúc đầu tiên của nền nhạc hiện đại (modern songs), như các bản Serenata (Chiều tà), Torna a Surriento (Về mái nhà xưa), La Cumparsita (Vũ nữ thân gầy)… đều được sáng tác vào những năm đầu thế kỷ thứ 20.
Tuy nhiên bên cạnh đó, cũng có những trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn bản La Paloma (Cánh buồm xa xưa), vốn được xem là ca khúc đầu tiên của nền nhạc hiện đại, đã được Sebastian Yradier viết vào năm 1863.
Bản One Day When We Were Young cũng là một trường hợp đặc biệt: phần nhạc của nó đã được viết vào năm 1885, tức là thời kỳ lãng mạn trong nền nhạc cổ điển. Vì thế, trong hồi ký của mình, Phạm Duy đã gọi One Day When We Were Young là nhạc cổ điển (có lẽ ý ông muốn nói tới nhạc chứ không kể tới lời hát).
Johann Strauss II
Cho tới nay, One Day When We Were Young vẫn được xem là một trong những ca khúc theo thể điệu valse quen thuộc và được ưa chuộng nhất thế giới. Điều đó cũng không có gì khó hiểu, bởi tác giả của bản One Day When We Were Young nguyên thủy không ai khác hơn là Johann Strauss II (đệ Nhị), “Ông vua điệu luân vũ thành Viên”, người đã để lại cho hậu thế bản valse bất hủ Le Beau Danube Bleu (Blue Danube – Dòng Sông Xanh).
One Day When We Were Young – thường được gọi tắt là “One Day” – nguyên là một khúc hát trong cảnh 2 của vở operetta (opera ngắn) số 10 của Johann Strauss II viết vào năm 1885; đó là vở Gypsy Baron (Vị nam tước bụi đời). Trong nguyên tác, khúc hát này có tựa là “Who tied the knot?” (Ai đã kết hôn?).
Như chúng tôi đã trình bày trong bài nói về bản Dòng Sông Xanh, giữa hai cha con cùng là nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng nổi tiếng – tức Johann Strauss I và Johann Strauss II – có một sự xung khắc kịch liệt, nhất là của ông bố đối với con trai. Tình trạng này bắt nguồn từ việc ông bố chỉ muốn con trai trở thành trạng sư trong khi cậu lại say mê âm nhạc, tiếp theo là việc ông bố bỏ vợ con để xây tổ ấm với một cô đào trẻ.
Về sau, khi ông con Johann Strauss II đã nổi tiếng, sự kình chống càng trở nên gay gắt vì cạnh tranh nghề nghiệp. Hí viện nào đã từng mời ông con trình diễn thì ông bố không bao giờ thèm đặt chân tới. Sự kình chống giữa hai cha con Johann Strauss đã trở thành giai thoại thú vị trong làng nhạc đương thời cũng như đám hậu sinh. Bước sang thế kỷ thứ 20, một nhóm nhà soạn nhạc và ca kịch của Áo đã dựa vào giai thoại này cùng với các sáng tác Johann Strauss II để thực hiện một vở ca nhạc kịch có tựa đề Waltzer aus Wien (Waltzes from Vienna – Những bản luân vũ thành Viên), trình diễn ra mắt tại hí viện Stadttheater ngày 30 tháng 10 năm 1930.
Bốn năm sau (1934), vở này kịch này được dựng lại tại Nhà hát Trung ương ở Broadway, thủ đô kịch nghệ của Hoa Kỳ, với tựa tiếng Anh The Great Waltz – Bản luân vũ để đời.
“Bản luân vũ để đời” ở đây chính là bản “Who tied the knot?” trong vở “Gypsy Baron’” của Johann Strauss II đã nói tới ở đoạn trên.
Vở The Great Waltz đã đạt thành công rực rỡ với 289 xuất diễn liên tục. Năm 1938, vở ca kịch này đã được hãng phim MGM đưa lên màn bạc, giữ nguyên tựa The Great Waltz nhưng với lời hát mới do Oscar Hammerstein II đặt.
Tới năm 1949, hai nhà soạn nhạc nổi tiếng của Mỹ là Robert Wright và George Forrest đã phóng tác nhạc và lời hát trong vở operetta “Gypsy Baron” nguyên thủy của Johann Strauss II thành một vở The Great Waltz khác, để diễn tại nhà hát Los Angeles Civic Light Opera.
Vở này đã được đưa lên sân khấu West End ở Luân-đôn năm 1970 với 605 xuất diễn liên tục. Năm 1972, vở The Great Waltz thứ hai này cũng được đưa lên màn bạc.
Như vậy, chỉ tính lời hát bằng tiếng Anh, bản “Who tied the knot?” trong vở “Gypsy Baron” nguyên thủy của Johann Strauss II đã có ba lời hát khác nhau, và lời hát hiện nay chúng ta thường nghe qua băng, đĩa hát – One Day When We Were Young – là lời hát do Oscar Hammerstein II soạn cho cuốn phim The Great Waltz năm 1938.
One day when we were young
That wonderful morning in May
You told me you loved me
When we were young one day
Sweet songs of spring were sung
And music was never so gay
You told me you loved me
When we were young one day
You told me you loved me
And held me close to your heart
We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to part
When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day
We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to par-art
When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day…
Oscar Hammerstein II (1895-1960)
Oscar Hammerstein II (1895-1960) là nhà sản xuất kịch nghệ, đạo diễn sân khấu và nhà viết lời hát hàng đầu của Hoa Kỳ trong khoảng thời gian trải dài 40 năm từ sau thế chiến thứ nhất cho tới cuối thập niên 1950.
Ông đã đoạt 8 giải Tony (kịch nghệ) và 2 giải Oscar (cho ca khúc viết cho phim). Tổng cộng, ông đã viết lời cho 850 ca khúc, trong đó ngoài bản One Day… không thể không nhắc tới các khúc hát trong vở The Sound of Music (do Richard Rodgers viết nhạc), trình diễn ra mắt trên sân khấu Broadway năm 1959 (9 tháng trước khi ông qua đời vì ung thư), và trở thành vở ca nhạc kịch (musical) được diễn đi diễn lại nhiều lần nhất trong lịch sử.
Năm 1965, The Sound of Music được hãng 20thCentury Fox đưa lên màn bạc với nữ diễn viên Anh (Dame) Julie Andrews thủ vai nữ chính. Cuốn phim đã đoạt 5 giải thưởng Oscar, trong đó có Oscar cho phim hay nhất trong năm (Best Picture) và đã “hạ bệ” phim Cuốn theo chiều gió (Gone With the Wind) để trở thành cuốn phim có số thu cao nhất lịch sử điện ảnh. Hiện nay, The Sound of Music vẫn còn đứng hạng 5 trong danh sách.
Trở lại với cuốn phim The Great Waltz năm 1938, bản One Day… trong phim đã được đệ nhất nữ danh ca soprano đương thời kiêm diễn viên Miliza Korjus trình bày (video: One Day When We Were Young – The Great Waltz – YouTube)
Miliza Korjus (1909-1980)
Miliza Korjus (1909-1980) xuất thân dòng dõi quý tộc mang ba dòng máu Estonia + Lithuania + Ba-lan. Sau khi kết hôn với một bác sĩ người Đức, Miliza Korjus được Nhà hát Opera Quốc gia Bá-linh (Berlin State Opera) mời cộng tác, và từ đó đã được xưng tụng là Con họa mi thành Bá-linh (Berlin Nightingale) và nổi tiếng khắp Âu châu. Năm 1938, Miliza Korjus được mời sang kinh đô điện ảnh Hồ-ly-vọng để thủ một vai phụ (và hát bản One Day…) trong phim The Great Waltz, và đã được xướng danh tranh giải Oscar cho nữ diễn viên vai phụ xuất sắc nhất.
Cùng thời gian, hãng đĩa hát RCA Victor của Mỹ đã cho phát hành đĩa One Day… do Miliza Korjus hát trọn bài dài 3 phút rưỡi (trong phim, cảnh Miliza Korjus hát dài chưa đầy 2 phút), tuy nhiên chất lượng âm thanh và độ trung thực (fidelity) của đĩa hát này bị chê là quá kém.
Một năm sau, One Day… đã được nữ danh ca Anh (Dame) Gracie Fileds (1898 – 1979) trình bày, và rất được người Anh ưa chuộng, nhất là tại các đơn vị quân đội Hoàng gia Anh nơi bà tới trình diễn trong thời gian Đệ nhị Thế chiến.
Rất tiếc, vì những rối loạn do chiến tranh gây ra, bản chính (master) do Gracie Fileds hát, lưu giữ trong phòng thu âm đã bị thất lạc, cho nên sau này người ta phải “copy từ copy”, cho nên chất lượng âm thanh và độ trung thực cũng không khá gì hơn đĩa của Miliza Korjus (video: Gracie Fileds – One Day When We Were Young 1939 – YouTube)
Trong số những bản One Day… hiện đang được phổ biến “free” trên Internet, được ưa thích nhất là bản trình bày dưới hình thức song ca nữ của trang mạng beemp3.com. Độc giả nào thường download nhạc từ Internet có lẽ cũng biết beemp3.com là một trang mạng uy tín, thế nhưng riêng trong trường hợp của bản One Day… này, chỉ thấy ghi nguồn cung cấp chứ không thấy ghi tên ca sĩ trình bày.
Nghe phần nhạc đệm, chúng tôi tin rằng bản này được thu đĩa vào khoảng thập niên 1950, hoặc sớm hơn.
Phụ lục (1): One Day When We Were Young (song ca nữ – khuyết danh)
Trong số những danh ca thuộc thế hệ mới nhất hát bản One Day…, có thể nói đĩa hát của nữ ca sĩ gốc Hoa Jane Zhang (tiếng Hoa: Zhang Liangying, phiên âm Hán Việt là Trương Lương Dĩnh) hiện đang được ưa chuộng nhất.
Jane Zhang sinh năm 1984 tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Năm 2005, cô tham dự cuộc thi Super Girl, là cuộc thi ca nhạc thường niên lớn nhất ở Trung Quốc, do hệ thống truyền hình vệ tinh Hồ Nam (Hunan Satelite Television) tổ chức. Tuy chỉ đứng hạng ba, nhưng Jane Zhang lại được khán thính giả ái mộ nhất, bởi vì cô không chỉ có khuôn mặt xinh đẹp khả ái, thân hình lý tưởng, đôi mắt thu hút, có khả năng hát bằng tiếng Quảng Đông, Quan Thoại, tiếng Anh và Tây-ban-nha (Jane Zhang tốt nghiệp khoa ngoại ngữ tại Đại học Tứ Xuyên) mà còn có một giọng soprano cao vút, được truyền thông Hoa ngữ xưng tụng là “giọng hát thiên thần”.
Jane Zhang
Giọng hát của Jane Zhang đạt tới bậc cao nhất mà con người có thể đạt được, mà từ chuyên môn trong âm nhạc gọi là “whistle register”.
Chính vì thế, Jane Zhang đã thành công rực rỡ khi trình bày những ca khúc đòi hỏi chất giọng cao vút của Mariah Carey, Christina Aguilera, như Hero, I Still Believe, Beautiful…, và cả bản Don’t Cry for Me Argentina bất hủ trong vở ca nhạc kịch Evita. Jane Zhang cũng là nữ ca sĩ Á đông duy nhất được mời lên talk-show của Oprah Winfrey.
Phụ lục (2): One Day When We Were Young, Jane Zhang
One Day When We Were Young được Phạm Duy đặt lời Việt vào năm 1942 với tựa Khúc Hát Thanh Xuân. Trong hồi ký của mình, ông viết:
… Tôi khởi sự soạn lời ca tiếng Việt để hát với nhạc Âu Mỹ khi tôi vừa bước vào tuổi 15, 20. Khi đó, ở Việt Nam, phong trào cải lương, cải cách trong văn học nghệ thuật đã ra đời. Thơ Mới đã có mặt với những thi phẩm của Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu v.v…, đồng thời Cải Lương Nam Kỳ cũng đang dần dà xâm chiếm sân khấu của Chèo Cổ, Tuồng Cổ… Về Âm Nhạc, để thay thế cho nhạc cổ, qua những bài ta theo điệu Tây của các nghệ sĩ Năm Châu, Tư Chơi… một nền nhạc mới đang trong thời kỳ chuẩn bị (Nhạc Cải Cách) để sẽ tiến tới thời kỳ thành hình (Tân Nhạc)…
Trong khi các nghệ sĩ kể trên chọn nhạc bình dân Pháp để soạn lời thì tôi chọn nhạc cổ điển Âu Tây để ca hát. Loại nhạc valse của Johann Strauss tuy là nhạc cổ điển nhưng có bài được phổ biến dưới hình thức ca khúc phổ thông. Ngoài bài valse bất hủ là LE BEAU DANUBE BLEU, Johann Strauss có một bài valse khác cũng được nhiều người biết đến là bài WHEN WE WERE YOUNG. Tôi soạn lời ca tiếng Việt để hát chơi trong đám bạn bè. Ðây cũng là lúc tôi phổ nhạc bài thơ CÔ HÁI MƠ của Nguyễn Bính tại Hưng Yên sau khi thôi học tại Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội…
(Cô Hái Mơ là sáng tác đầu tay của Phạm Duy – chú thích của Hoài Nam)
KHÚC HÁT THANH XUÂN
Ngày ấy khi Xuân ra đời
Một trời bình minh có lũ chim vui
Có lứa đôi, yêu nhau rồi
Hẹn rằng còn mãi không nguôi
Nhạc lắng hương xuân bồi hồi
Như vì tình ai tiếng hát lên ngôi
Nói với nhau, yêu nhau rồi
Một ngày còn mới tươi môi.
Rồi nắm tay cùng nói vui
Những câu êm êm không rời vai.
Rồi lả lơi, hình dáng ai
Khuất xa biến vào nẻo khơi.
Từ đó khi xuân tái hồi
Cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi.
Nhớ tới câu thương yêu người
Một ngày tuổi mới đôi mươi.
So sánh bản lời Việt của Phạm Duy với bản lời Anh của Oscar Hammerstein II, tuy không thể gọi là một bản dịch, chúng ta thấy nội dung cũng tương tự, đó là những hoài niệm về tuổi thanh xuân, ngày hai người yêu nhau, thề hứa, rồi chia tay, nhưng vẫn mãi mãi là những kỷ niệm đẹp của đời người.
Trước và sau năm 1975, Khúc Hát Thanh Xuân đã được rất nhiều ca sĩ trình bày, như Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Quỳnh Giao, Thanh Lan, Thái Hiền, Hương Lan, Phương Hồng Quế, Ái Vân, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Ngọc Hạ, Thu Phương…
Sau đây chúng tôi xin gửi tới độc giả hai bản điển hình nhất do các tiếng hát của Thái Hiền (hát theo thể điệu valse nguyên thủy) và Trần Thu Hà (theo thể nhạc Blues).
- Phụ lục (3): Khúc Hát Thanh Xuân, Thái Hiền
- Phụ lục (4): Khúc Hát Thanh Xuân, Trần Thu Hà
Hòai Nam
©T.Vấn 2013
Khúc Hát Thanh Xuân - Thái Hiền
Comment
-
SHINA NO YORU (China Night – Chiều Tô Châu)
Hoài Nam : NHỮNG CA KHÚC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (21)- SHINA NO YORU (China Night – Chiều Tô Châu) – Takeoka & Saijo
Tiếp tục giới thiệu những ca khúc dân gian, hoặc mang âm hưởng đặc thù dân tộc nổi tiếng quốc tế, kỳ này chúng tôi viết về bản Shina No Yoru (China Night) – một bài hát của Nhật viết về cảnh đẹp & người đẹp của Trung Hoa về đêm, nhưng lại bị Hán tộc tẩy chay, trong khi người Mỹ, nhất là các chiến binh Mỹ tham chiến tại Triều Tiên và Việt Nam, rất ưa chuộng. Trước năm 1975, Shina No Yoru đã được một tác giả đặt lời Việt với tựa Chiều Tô Châu.
Chúng tôi chọn bản Shina No Yoru để giới thiệu tới độc giả TV&BH vì đây từng là ca khúc phổ biến nhất của Nhật trong hai thập niên 1940, 1950, trong nước cũng như trên trường quốc tế. Còn nguyên nhân tại sao nó lại bị Hán tộc tẩy chay, xin được đề cập tới ở một phần sau.
Shina No Yoru tiếng Nhật có nghĩa “Đêm Trung Hoa”, do Nobuyuki Takeoka viết nhạc và Yaso Saijo đặt lời, được nữ danh ca kiêm diễn viên Hamako Wanatabe (1910-1999) thu đĩa lần đầu tiên vào năm 1938, do hãng đĩa Columbia Japan phát hành.
Video:
HAMAKO WATANABE – SHINA NO YORU YOUTUBE
Lời hát bằng tiếng Nhật được ca nhạc sĩ du ca Mỹ Sonny James dịch sang tiếng Anh như sau:
CHINA NIGHT
What a night in China,
What a night in China
Harbor lights,
Deep purple night,
Ah, ship,
The dreamship
I can’t forget
The sound of the Kokyu.
Ah, China night,
A dream night.
What a night in China,
What a night in China,
Over the willow window,
A ramp was shaking,
Chinese lady
Was there like a bird,
Singing love songs,
Sad sounding love songs
Ah, China night,
A dream night.
What a night in China,
What a night in China,
I was waiting in the parapet
There was this girl in a rain
The rouge on her cheeks
Like flowers were in bloom,
Forever, I will remember
Even after we separated,
Ah, China night,
A dream night.
Thành phố cảng được nhắc tới trong ca khúc này là Thượng Hải.
Qua lời hát được dịch sang tiếng Anh, chúng ta thấy Shina No Yoru là một tình khúc đẹp, dịu dàng, hoàn toàn không có màu sắc chính trị hoặc dụng ý tuyên truyền.
Về phần nhạc, cùng với tiết tấu mà chỉ cần nghe một đoạn, người ta có thể nhận ra đây là một ca khúc của Nhật Bản, người thưởng ngoạn không thể không chú ý tới tiếng đàn “kokyu” (I can’t forget the sound of the Kokyu…).
Đàn kokyu
Tương tự “đàn nhị” (còn gọi là “đàn cò”) của Việt Nam, đàn “kokyu” của người Nhật là một biến thể của của đàn “nhị hồ” của người Trung Hoa; khác biệt chính là trong khi nhị hồ và đàn nhị chỉ có 2 dây, thì kokyu có tới 3, hoặc 4 dây.
Đặc điểm chung của cả ba cây đàn này là tiếng đàn rất não nùng, ai oán.
Trong số truyện ngắn của văn sĩ Nhật nổi tiếng quốc tế Satou Haruo, có truyện Minoru-san no Kokyu (Cây đàn kokyu của Minoru) kể về anh công nhân trẻ Minoru ra ngoại quốc làm việc trong một xưởng đóng hộp thực phẩm để lấy tiền gửi về giúp đỡ gia đình. Nhớ nhà, anh lấy cái hộp thiếc chế thành cây đàn kokyu để giải khuây. Không may, Minoru bị lây bệnh ho lao và bị trả về nước (ngày ấy, ho lao – tức TB – còn bị xem là một chứng nan y).
Về quê nhà, anh bị mọi người, kể cả người thân ruột thịt, xa lánh, phải sống cách biệt. Người bạn duy nhất còn lại bên mình là cây đàn kokyu. Trong nỗi cô đơn, niềm chua xót, tiếng đàn của Minoru ngày càng có hồn, ngày càng thu hút. Mọi người đều say mê tiếng đàn của anh. Dĩ nhiên, nghe từ xa xa…
Video:
Hana (Kokyu) YouTube
Hamako Wanatabe là người đầu tiên thu đĩa bản Shina No Yoru, nhưng về sau ca khúc này lại gắn liền với tên tuổi của Li Xianglan, được cô hát trong cuốn phim có cùng tựa do cô thủ vai nữ chính – một cuốn phim được quốc tế ca tụng nhưng lại bị Trung Hoa tẩy chay, lên án!
Một cảnh trong phim Shina No Yoru (1940)
Cuốn phim Shina No Yoru (China Nights, có chữ “s”, còn được gọi là Shanghai Nights – Đêm Thượng Hải), do hãng phim Manchuria Films Productions thực hiện năm 1940, Osamu Fushimizu đạo diễn (thời gian này Manchuria, tức Mãn Châu, đã tách rời khỏi Trung Hoa để trở thành một quốc gia do Nhật bảo hộ). Cuốn phim Shina No Yoru, với chủ đề “tình yêu không biên giới chủng tộc”, nằm trong loạt phim tuyên truyền cho tình “hữu nghị Nhật – Trung”, cốt truyện kể về một cô gái mồ côi sống ngoài đường phố Thượng Hải được một sĩ quan hàng hải Nhật có lòng nhân đạo cứu vớt, dẫn đưa tới một chuyện tình thật đẹp.
Nhưng dưới mắt người dân Trung Hoa thời bấy giờ, không thể có việc một người Nhật có lòng nhân đạo. Nỗi kinh hoàng của Cuộc thảm sát Nam Kinh năm 1937 vẫn còn in hằn trong đầu óc họ.
[Cuộc thảm sát Nam Kinh – The Nanking Massacre, còn được gọi là the Rape of Nanking, xảy ra vào ngày 13 tháng 12 năm 1937, ngày thủ đô Nam Kinh của Cộng Hòa Trung Hoa bị rơi vào tay quân Nhật. Theo bách khoa tự điển Wikipedia và tài liệu hiện được lưu giữ tại Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (The Library of Congress), ngày ấy, trong khoảng thời gian gần một tháng, đã có từ 200.000 tới 340.000 người Trung Hoa bị quân Nhật tàn sát, và trên 20.000 phụ nữ bị cưỡng hiếp. Sau này, các nhân chứng sống kể lại trước Tòa án Quân sự Quốc tế Viễn Đông rằng việc hành quyết tập thể, hôi của và lùng bắt phụ nữ được tiến hành một cách quy mô theo kế hoạch, để không một khu vực nào bị bỏ sót, không một người nào kịp thoát thân. Các phụ nữ xấu số – từ bé gái cho tới bà cụ già – sau khi bị cưỡng hiếp tập thể đa số đã bị giết một cách cực kỳ man rợ.
Sau này, phía Nhật Bản nhìn nhận có 142.000 binh lính và thường dân Trung Hoa chết, nhưng không bao giờ nhắc nhở tới các vụ cưỡng hiếp, tương tự việc họ không bao giờ nhìn nhận đã cưỡng ép hàng trăm nghìn phụ nữ Hàn Quốc phục vụ nhu cầu tình dục của Quân đội Thiên hoàng, mà họ gọi là “comfort women”.
Độc giả nào “cứng bóng vía” muốn tìm hiểu về Cuộc thảm sát Nam Kinh kèm theo những hình ảnh kinh hoàng, có thể mở trang Google với từ khóa “The Nanking Massacre”, hay “The Rape of Nanking”]
Khổ nỗi, cuốn phim Shina No Yoru, với tình tiết ly kỳ hấp dẫn và ngoại cảnh tuyệt đẹp của Thượng Hải, lại được các nhà bình phim ca tụng và khán giả ưa thích. Trong phim này, Li Xianglan thủ vai cô gái mồ côi và hát bản Shina No Yoru. Li Xianglan có một giọng hát cao vút đầy nghệ thuật diễn tả, mà từ chuyên môn gọi là “coloratura soprano”.
Video:
China Night Shina no yoru – Li Xianglan YouTube
Với đại đa số khán thính giả, độc giả người Việt, cái tên “Li Xianglan” có thể xa lạ, nhưng nếu viết tên phiên âm Hán Việt Lý Hương Lan, chắn hẳn nhiều bậc cao niên cũng còn nhớ. Cũng thế, giới mộ điệu ở Âu Mỹ có thể không biết Li Xianglan là ai, nhưng nếu nhắc tới nghệ danh bằng tiếng Anh + tiếng Nhật Shirley Yamaguchi thì hầu như ai cũng biết. Còn tại Nhật, vị nữ lưu này lại được biết tới, và kính trọng, qua phương danh Yoshiko Otaka, một trong những bóng hồng đầu tiên trong Thượng viện Nhật bản.
Shirley Yamaguchi (Li Xianglan)
Tính cho tới nay, cuộc đời ly kỳ của Shirley Yamaguchi, một phụ nữ có tới gần 10 cái tên khác nhau, đã được đưa lên màn bạc, màn ảnh truyền hình, sân khấu ca kịch nhiều lần, và gần đây trở thành nguồn cảm hứng, chất liệu cho cuốn tiểu thuyết Người tình Trung Hoa (The China Lover, 2008) của nhà văn Ian Buruma.
Shirley Yamaguchi tên thật là Yoshiko Yamaguchi, sinh năm 1920 tại Mãn Châu, nơi cha cô, ông Fumio Yamaguchi, làm việc trong Công ty Hỏa xa Nam Mãn Châu. Khuôn mặt của Yoshiko phảng phất những nét tây phương là thừa hưởng từ ông nội, vốn mang trong người 1/4 máu Âu châu.
Lớn lên trong một môi trường mà mọi người đều nói tiếng Quan thoại, Yoshiko trở thành một cô gái “Hoa” nhiều hơn là “Nhật”, một phần vì cũng cha cô kết nghĩa huynh đệ với hai người Trung Hoa có tiếng tăm, một người họ Lý (Li), một người họ Phan (Pan). Theo phong tục, Yoshiko trở thành nghĩa nữ của hai nhà nói tên, và được đặt tên bằng tiếng Hoa là Li Xianglan (Lý Hương Lan) và Pan Shuhua (Phan Thục Hoa).
Yoshiko học hát nhạc cổ điển với Madame Podresov, một ca sĩ giọng soprano người Ý kết hôn với một nhà quý tộc Nga. Sau đó, Yoshiko tới Bắc Kinh sống dưới sự bao bọc của gia đình họ Pan, sử dụng tên Pan Shuhua, trau dồi thêm tiếng Quan thoại và theo đuổi nghệ thuật ca kịch cổ điển.
Tới khi đóng cuốn phim đầu tiên vào tuổi 18 (năm 1938), Yoshiko bắt đầu lấy Li Xianglan làm nghệ danh.
Từ đó cho tới khi cuộc chiến tranh Trung – Nhật chấm dứt, Li Xianglan, với khả năng song ngữ Hoa – Nhật, đã được người Nhật tận dụng tài nghệ trong việc tuyên truyền cho “tình hữu nghị” Nhật – Trung; về phần người dân Trung Hoa, hầu như không ai biết Li Xianglan là người Nhật, và cô đã được xếp hạng 5 trong danh sách 7 minh tinh ca nhạc (seven great singing stars) của Trung Hoa trong thập niên 1940.
Chính vì thế, sau khi Li Xianglan đóng vai chính trong cuốn phim Shina No Yoru (và hát ca khúc này trong phim), nàng đã bị lên án là kẻ phản quốc. Tất cả mọi bài hát nổi tiếng của Li Xianglan, trong đó có hai bản Shina No Yoru (China Night – Đêm Trung Hoa) và Suzhou Serenade (Tô Châu Dạ Khúc) đều bị cấm ở cả vùng Dân quốc (phe Tưởng Giới Thạch) lẫn vùng Cộng sản (phe Mao Trạch Đông).
Sau khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt, Li Xianglan bị nhà cầm quyền Trung Hoa (phe Dân quốc) bắt giữ và đưa ra tòa xét xử, với cái án tử hình cầm chắc trong tay. Chỉ tới khi người Nhật xác nhận Li Xianglan là một con cháu Thái Dương Thần Nữ với tên thật là Yoshiko Yamaguchi, nàng mới được thả, và trục xuất khỏi Trung Hoa. Lúc này, trước mắt người dân Trung Hoa, người nữ nghệ sĩ tài hoa trước kia bị họ lên án là “kẻ phản quốc” đã lộ nguyên hình là một “nữ điệp viên Nhật” đội lốt nghệ sĩ Trung Hoa để thi hành công tác địch vận – một cáo buộc mà Yoshiko Yamaguchi luôn luôn bác bỏ. Sau này, vào đầu thập niên 1950, Yoshiko đã chính thức lên tiếng xin lỗi người dân Trung Hoa về việc đã vô tình để phát-xít Nhật lợi dụng trong việc tuyên truyền trong thời gian Đệ nhị Thế chiến; nhưng tự bản thân Yochiko cũng biết: khi nào người dân Trung Hoa chưa quên được tội ác của quân Nhật, họ còn thù ghét mình!
Trở về Nhật năm 1946, Yoshiko Yamaguchi đã mau chóng tạo được tên tuổi trong làng điện ảnh xứ Phù Tang, trong đó có những cuốn phim đóng dưới quyền đạo diễn thiên tài Akira Kurosawa (có lẽ khán giả ở Sài Gòn ngày ấy chưa quên những tác phẩm để đời của ông, như Bảy chàng võ sĩ đạo, Lã-sanh-môn…).
Bước qua thập niên 1950, Yoshiko Yamaguchi sang Hoa Kỳ lập nghiệp dưới nghệ danh mới Shirley Yamaguchi, và tạo được tên tuổi ở cả kinh đô điện ảnh Hồ-ly-vọng lẫn thủ đô kịch nghệ Broadway. Năm 1951, tại Hoa Kỳ, Yoshiko kết hôn với điêu khắc gia Mỹ gốc Nhật Isamu Noguchi, nhưng chỉ chung sống được 5 năm.
Từ giữa thập niên 1950, Yoshiko đã hồi sinh nghệ danh tiếng Hoa “Li Xianglan” qua nhiều cuốn phim của điện ảnh Hương Cảng.
Năm 1958, Yoshiko Yamaguchi từ giã màn bạc vào tuổi mới 38, và bước thêm bước nữa với ông Hiroshi Otaka, một nhà ngoại giao Nhật làm việc ở Miến Điện; từ đó bà lấy tên theo họ chồng Yoshiko Otaka (hai người chung sống cho tới khi ông qua đời vào năm 2001).
Cũng trong năm 1958, Yoshiko Otaka trở về Nhật, thường xuyên xuất hiện trong các talk-show, và tới năm 1969, chủ xướng chương trình thời sự quốc tế Sanji no anata (The Three O’Clock You), chú trọng tới hai cuộc chiến ở Trung Đông và Việt Nam.
Năm 1974, Yoshiko Otaka được bầu vào Thượng viện của Quốc hội Nhật, và phục vụ liên tục 18 năm (3 nhiệm kỳ).
Năm 1993, bà được Nhật Hoàng trao tặng huân chương Order of the Sacred Treasure, là huân chương cao quý thứ nhì của Hoàng gia Nhật, chỉ đứng sau huân chương Order of the Rising Sun.
Hiện nay, mặc dù đã 93 tuổi, Yoshiko Otaka vẫn còn đảm trách chức vụ Phó Chủ tịch Quỹ Phụ Nữ Á Châu (Asian Women’s Fund)
* * *
Trở lại với thập niên 1940 và bản Shina No Yoru, sau khi được Yoshiko Otaka – tức Li Xianglan ngày ấy – hát trong cuốn phim có cùng tựa do cô thủ vai nữ chính, đã trở thành một hiện tượng, không chỉ là ca khúc phổ biến nhất ở Nhật, ở Trung Hoa (mặc dù nhà cầm quyền đã ra lệnh cấm) mà còn ở Đại Hàn, nơi mà nghệ danh Li Xianglan được “Hàn hóa” thành Ri Koran.
Cũng chính tại bán đảo Triều Tiên, nơi quân đội Liên Hiệp Quốc tới chiến đấu chống lại cuộc xâm lược của quân cộng sản Bắc Hàn và Giải phóng quân Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng) vào đầu thập niên 1950, Shina No Yoru do “Ri Koran” hát đã trở thành ca khúc được các binh sĩ Mỹ (chủ lực của đạo quân LHQ) ưa chuộng tới mức hầu như ai cũng thuộc lòng, cho dù không hiểu lời hát bằng tiếng Nhật nói gì!
Theo hồi ký của một số cựu quân nhân Mỹ tham chiến tại bán đảo Triều Tiên, ngày ấy mấy chữ “Shina No Yoru” đã được họ hát thành“She Has No Yoyo”.
[Mẫu tự “r” trong chữ “yoru” khi phát âm một cách nhẹ nhàng, chẳng hạn khi hát, nghe gần giống như mẫu tự “y”]
Hiện nay, mở trang Shina No Yoru – YouTube, chúng ta sẽ đọc được nhiều câu chuyện cảm động, kỷ niệm êm đềm liên quan tới ca khúc này và nhân vật “Li Xianglan – Shirley Yamaguchi”. Chẳng hạn:
My dad, God bless him, was among those who heard her sing and so loved this song that he sang it as a lullaby to his “kids” for over forty years. Here it is fully restored and in digital stereo for you and yours to enjoy, and make sure Grand-dad gets to hear it!
Hoặc:
This song (the Shirley Yamaguchi version) is being played at my grandfather’s funeral tomorrow. He served in the USAF and was in Japan during the Korean War. He was singing this song up until a week before he died. Unfortunately, he had no idea what this song was called, and believed the lyrics were, “she aint got no yo yo.” I was ecstatic when I found the song he had sung all those years since the service. I’m just really sorry I couldn’t have found it for him earlier. RIP Papaw.
Như chúng tôi đã trình bày ở phần đầu, Hamako Wanatabe là người đầu tiên thu đĩa bản Shina No Yoru, và tới năm 1940, ca khúc này đã gắn liền với tên tuổi của Li Xianglan (tức Shirley Yamaguchi, Yoshiko Otaka, Ri Koran…) nhưng tính cho tới nay, người hát đạt nhất, và được ưa chuộng nhất phải là Misora Hibari (1937-1989), nữ diễn viên, nữ danh ca nhạc dân tộc cổ điển (“enka” trong tiếng Nhật) nổi tiếng nhất của xứ hoa anh đào.
Khi còn sống, Misora Hibari đã thu đĩa trên 1.200 ca khúc và bán được 68 triệu đĩa. Sau khi bà bất ngờ qua đời vì viêm phổi vào tuổi 52, tới năm 2001, con số ấy đã lên tới trên 80 triệu.
Riêng với thế hệ trẻ, Shina No Yoru do nam thần tượng điện ảnh & ca nhạc Kyu Sakamoto (1941 – 1985) thu đĩa có lẽ là bản được ưa chuộng nhất.
Kyu Sakamoto, tên thật là Hisashi Oshima, là ca sĩ ngoại quốc đầu tiên có ca khúc được đứng No.1 trong danh sách nhạc trẻ của bảng xếp hạng toàn quốc Hoa Kỳ (Billboard Hot Hit 100, năm 1963).
Kyu Sakamoto tử nạn vào tuổi 43 trên chuyến bay Japan Airlines Flight 123 năm 1985 – cho tới nay vẫn được ghi nhận là tai nạn phi cơ khủng khiếp nhất (một phi cơ) trong lịch sử hàng không quốc tế, với số người chết chỉ đứng sau tai nạn do hai chiếc Boeing 747 đụng vào nhau ở phi cảng Tenerife trên đảo Canary Islands vào năm 1977.
Trở lại với bản Shina No Yoru do Sonny James dịch sang tiếng Anh với tựa China Night. Sonny James tên thật là James Hugh Loden, sinh năm 1929, hiện đã về hưu, là một ca sĩ kiêm nhà viết ca khúc dân ca (country music) hàng đầu của Mỹ, được tặng biệt hiệu “The Southern Gentleman”.
Cho tới nay, chúng tôi vẫn chưa tìm được phần audio (MP3) của bản Shina No Yoru – China Night lời tiếng Anh do Sonny James hát, nên xin gửi tới độc giả video clip “Japanese Farewell – 3 Songs” gồm (1) Shina No Yoru – China Night do Sonny James trình bày, (2) Japanese Farewell (Sayonara) do ban nhạc Martin Denny hòa tấu, và (3) Japanese Farewell (Sayonara) do Mark Dinning trình bày.
Cũng xin được nhắc lại, Sayonara là một cuốn phim thời hậu chiến nổi tiếngbậc nhất của Mỹ với sự hợp tác của Nhật, thực hiện năm 1957, nói về mối tình đẹp, và đầy trắc trở vì thành kiến, giữa một chàng phi công Mỹ (Marlon Brando thủ vai) trú đóng tại Kobe và một nữ nghệ sĩ người Nhật (Miiko Taka thủ vai).
Bản Shina No Yoru – China Night trong video clip nói trên được Sonny James trình bày vào năm 1964 sau khi sang Nhật để học cách hát dân ca nghệ thuật (enka) của quần đảo Phù Tang.
Video:
Japanese Farewell – 3 Songs – YouTube
Hơn 10 năm sau khi trở thành ca khúc được các chiến binh Mỹ tham chiến tại Triều Tiên ưa chuộng nhất, Shina No Yoru đã theo gót đoàn chinh nhân tới miền Nam Việt Nam. Nhờ hai yếu tố: một số không nhỏ quân nhân Mỹ tham chiến tại tại Việt Nam trước kia đã từng phục vụ tại Triều Tiên, và tài nghệ của “ba chị em họ Kim” (Kim Sisters) – ban tam ca nổi tiếng quốc tế của Nam Hàn trong suốt ba thập niên 1950, 60, và 70.
Kim Sisters trình diễn tại Qui Nhơn (1967)
Tên gọi là “Kim Sisters” nhưng thực ra chỉ có hai chị em ruột Sue và Aija họ Kim, còn người em họ bạn dì Mia thì họ Lý (Lee). Ông bố của Sue và Aija là nhạc trưởng dàn nhạc cổ điển, bà mẹ là nữ ca sĩ nổi tiếng nhất xứ trước khi cuộc chiến bùng nổ. Cha của Mia cũng là một nhạc sĩ. Cho nên cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi ngoài tài ca hát, cả ba còn sử dụng thành thạo nhiều loại nhạc cụ khác nhau.
“Sự nghiệp” của Kim Sisters bắt đầu rất sớm, khi cả ba mới trên dưới 10 tuổi. Nguyên vào năm 1953, sau một cuộc giao tranh giữa hai phe quốc – cộng, ngôi nhà của họ Kim bị bình địa. Được sự khuyến khích của mẹ và dì, Sue, Aija và Mia bắt đầu trình diễn giúp vui cho các binh sĩ Mỹ. “Thù lao” cho các cô là những phong chocolate và bia; các cô đem về cho mẹ mang ra chợ đổi lấy thực phẩm.
Vốn liếng ban đầu của các cô chỉ có hai ca khúc nhạc đồng quê & cao-bồi của Mỹ (country-western) là bản Ole Buttermilk Sky và bản Candy and Coke. Về sau, nhờ học thuộc lòng các bản rock-and-roll từ các đĩa hát do binh sĩ Mỹ cho mượn, “show” của ba cô bé ngày phong phú.
Khi mãn hạn phục vụ trở về quê nhà, các binh sĩ Mỹ đã loan truyền về tài nghệ của ba thần đồng Hàn quốc, và tới tai ông bầu ca nhạc Tom Ball. Tom Ball bay sang Hán thành (Seoul) tìm gặp, và sau khi được chứng kiến tài nghệ của ba cô, đã thuyết phục được gia đình để ông ta đem sang Hoa Kỳ.
Năm 1959, Kim Sisters – tên do Tom Ball đặt – lúc đó đã trở thành ba thiếu nữ xinh đẹp, trình diễn ra mắt tại khách sạn Thunderbird Hotel ở La Vegas, tiểu bang Nevada. Các buổi diễn ngày đông khán giả, khiến Tom Ball phải dời địa điểm sang casino Stardust. Tại đây, Kim Sisters đã lọt vào mắt xanh Ed Sullivan, chủ xướng show truyền hình “Ed Sullivan Show” nổi tiếng nhất của Mỹ trong hai thập niên 1950 1960 (năm 1964, khi “Tứ Quái” The Beatles của Anh sang Hoa Kỳ trình diễn lần đầu, cũng phải lên “Ed Sullivan Show” để được giới thiệu với dân Mỹ).
Tổng cộng trước sau, Kim Sisters đã trình diễn trên “Ed Sullivan Show” 22 lần.
Sau khi Hoa Kỳ đổ quân lên miền nam Việt Nam, từ năm 1967, Kim Sisters nhiều lần sang trình diễn giúp vui cho đoàn quân viễn chinh, trong đó có những cấp chỉ huy trước đây từng tham chiến tại Triều tiên. Dĩ nhiên, bản tủ của các cô chính là Shina No Yoru. Khi trình diễn, các cô luôn luôn mặc “xường xám” xẻ đùi thật cao, khiến các chàng G.I. phải mê mẩn.
Ký ức và sự hiểu biết của chúng tôi về thời gian và hoàn cảnh phổ biến bản Shina No Yoru trong làng tân nhạc Việt Nam hầu như là một con số không. Thậm chí cả đến tên tác giả lời Việt của bản Shina No Yoru có tựa là “Chiều Tô Châu”, chúng tôi cũng không nhớ. Một số người cho là Phạm Duy, nhưng qua nhận xét phần nhạc ngữ, chúng tôi không tin như thế; hơn nữa, trong hồi ký, tiểu sử của họ Phạm được phổ biến trên Internet, phần nói về ca khúc, nhạc khúc ngoại quốc được ông đặt lời Việt, không hề nhắc tới Chiều Tô Châu.
Ra hải ngoại, năm 1991, Chiều Tô Châu được Khánh Ly hát trong CD Làng Văn 97 có tựa đề “Tưởng Rằng Đã Quên” gồm 10 ca khúc chọn lọc. Rất tiếc, ở bìa sau của CD, người thực hiện cũng chỉ ghi “Chiều Tô Châu – Shina No Yoru – Nhạc Nhật”, chứ không ghi tên tác giả lời Việt.
Chiều Tô Châu
Ánh chiều chập chờn khuất xa
Khói lam ngất ngây khắp muôn nơi
Lướt qua ngàn cây.
Ngoài thôn xa tiếng tiêu dịu dàng
Dăm bé yêu đánh trâu về làng
Gánh nặng là đà ngoài đê
Vài thôn nữ đang cười vui.
Đường thấm tình quê .
Hoa ngát hương đua nhau
Tô đời tươi thắm cho
Khắp muôn loài nguồn sống
Ánh nắng rơi rơi khắp thôn.
Khắp miền rộn ràng niềm vui.
Những người cho rằng Phạm Duy là tác giả lời Việt của bản Chiều Tô Châu rất có thể đã suy diễn từ câu hát “…sống trong lòng người đẹp Tô Châu, hay là chết bên dòng (bờ) sông Danube…” trong bản Bên Cầu Biên Giới của ông.
Tô Châu được Phạm Duy nhắc tới trong bản Bên Cầu Biên Giới là thành phố Tô Châu (Suzhou) ở tỉnh Giang Tô, Trung Hoa. Tô Châu được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, hiện nay cùng với Bắc kinh, Hàng Châu, và Quế Lâm được xem là bốn thành phố cổ kính và đẹp nhất ở Trung Hoa. Ngoài “lụa Tô Châu”, thành phố này còn nổi tiếng với những ngôi chùa cổ, những khu vườn kiểng, và vì một phần thành phố được xây dựng trên sông nước với hơn 1600 cây cầu đá còn sử dụng được, tương tự như cố đô Saint Petersburg của Nga, cho nên Tô Châu đã được người tây phương xưng tụng là “thành Venice của Trung Hoa”.
[Nhân tiện cũng xin phép lạm bàn về câu hát “...sống trong lòng người đẹp Tô Châu …”. Không hiểu Phạm Duy đã tới Tô Châu và “sống trong lòng” một người đẹp của thành phố thơ mộng này, hay ông chỉ tưởng tượng để ví von. Chỉ có điều là nếu nói về con gái đẹp ở Trung Hoa, trước tiên phải nhắc tới Hàng Châu (Hangzhou), nơi xuất thân của đại đa số cung tần mỹ nữ xưa kia được tuyển vào cung để hầu hạ các đấng thiên tử]
Trở lại với tựa lời Việt “Chiều Tô Châu”, trong khi chờ một sự giải thích chính thức (nếu có), chúng tôi tạm thời đưa ra hai cách giải thích như sau: (1) Tô Châu ở đây là Tô Châu bên Tàu, đã được nhắc tới trong bản Tô Châu Dạ Khúc (Suzhou Serenade), một ca khúc nổi tiếng khác của Li Xianglan; (2) Tô Châu, một địa danh ở vùng Hà Tiên của miền nam Việt Nam.
Trong hai cách giải thích trên, chúng tôi cho rằng với những câu như “Dăm bé yêu đánh trâu về làng, Gánh nặng là đà ngoài đê, Vài thôn nữ đang cười vui…” trong lời hát, Tô Châu ở đây là Tô Châu của Việt Nam có lẽ đúng hơn.
SHINA NO YORU - Hoà Tấu
HOÀI NAM
Last edited by saomai; 03-07-2015, 08:02 AM.
Comment
-
500 Miles
500 MILES (Tiễn Em Lần Cuối), HEDY WEST
Tiếp tục giới thiệu những ca khúc được ưa chuộng nhất trong nền nhạc phổ thông của Hoa Kỳ, kỳ này chúng tôi viết về bản 500 Miles, còn được gọi một cách chi tiết hơn là 500 Miles Away from Home, hoặc Railroaders’ Lament. Trước năm 1975, 500 Miles đã được Trường Kỳ đặt lời Việt với tựa Tiễn Em Lần Cuối.
Xét về cấu trúc nhạc, 500 Miles là một bản đơn điệu tới mức khó có bản nhạc nào đơn điệu hơn, từ đầu chí cuối chỉ có hai dòng nhạc được lập đi lập lại, thế nhưng đã trở thành một trong những ca khúc phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất của thời kỳ phục hưng dân ca Hoa Kỳ (American folk music revival).
Về lời hát, ca khúc gồm bốn điệp khúc, là lời than thở của một lãng tử xa nhà, không dám trở về vì cạn túi và thất bại trên đường đời… Not a shirt on my back, not a penny to my name…
Phụ lục 1: 500 Miles, Peter, Paul and Mary
500 Miles là một sáng tác của nữ ca nhạc sĩ Hedy West (1938-2005), một trong ba nữ ca nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ phục hưng dân ca Hoa Kỳ; hai người kia là Joan Baez (sinh năm 1941, chúng tôi đã nhắc tới trong bài viết về bản Donna Donna), và Judy Collins (sinh năm 1939, chúng tôi sẽ nhắc tới khi viết về bản Both Sides, Now).
Hedy West tên thật là Hedwig Grace West, ra chào đời tại Cartersville, một vùng núi ở miền nam tiểu bang Georgia, với dòng nhạc dân ca vùng núi Appalachia chảy sẵn trong huyết quản.
[Appalachian folk là nền nhạc dân ca truyền thống của vùng núi Appalachia (Appalachian Mountains), gồm các tiểu bang Kentucky, Tennessee, Virginia, Maryland, West Virginia, North Carolina, và một phần của các tiểu bang Georgia, South Carolina, Pennsylvania, và Ohio; nơi mà mỗi gia đình cư dân (gốc Anh-cát-lợi, Tô-cách-lan và Ái-nhĩ-lan) có thể xem là một ban nhạc nho nhỏ. Nền nhạc “Country music” của Hoa Kỳ chính là sự kết hợp giữa “Appalachian folk” và “Western music” (nhạc cao-bồi ViễnTây)]
Ông bố của Hedy West, Don West, là một thi sĩ kiêm nhà hoạt động văn hóa, từng làm giám đốc Appalachian South Folklife Center ở West Virginia, và đồng sáng lập Highlander Folk Music School ở Tennessee. Ông cậu (great-uncle) Augustus Mulkey là nhạc sĩ vĩ cầm, và bà nội Lillie Mulkey West là người chơi đàn banjo.
Ngay từ tuổi niên thiếu, Hedy West đã bắt đầu đàn hát tại các folk festival ở Georgia cũng như các tiểu bang kế cận. Năm 16 tuổi, Hedy West đã đoạt một giải ca hát tại Nashville, Tennessee.
Sau khi tốt nghiệp trung học, Hedy theo học tại Western Carolina Teachers College với ý định trở thành cô giáo, nhưng tới năm 1959, cô đã bỏ dở để lên New York, theo học nhạc tại Mannes College và kịch nghệ tại Columbia University.
Thời gian Hedy West tới New York cũng là lúc phong trào phục hưng dân ca đang phát triển mạnh, và khu nghệ sĩ Grennwich Village đã trở thành môi trường cho cô gái miền Nam sáng tác và trình diễn dân ca.
Tới giữa năm 1961, Hedy West đã nổi tiếng khắp tiểu bang, với tiếng đàn guitar và banjo, với giọng hát được xưng tụng là hay nhất trong số các nữ ca sĩ hát dân ca đương thời, và với những ca khúc do chính cô sáng tác, trong đó có bản 500 Miles.
Về sau, Hedy West cho biết 500 Miles không phải là một sáng tác hoàn toàn của mình, mà về giai điệu cô đã sử dụng một số đoạn còn nhớ được từ một nhạc khúc xưa kia ông cậu Augustus Mulkey thường đàn vĩ cầm, còn lời hát là gom góp từ những ca khúc mà bà nội Lillie thường hát cho cô nghe từ những ngày ấu thơ ở Georgia.
500 Miles
If you miss the train I’m on,
you will know that I am gone,
you can hear the whistle blow a hundred miles.
A hundred miles, a hundred miles,
a hundred miles, a hundred miles,
you can hear the whistle blow a hundred miles.
Lord, I’m one, Lord, I’m two, Lord,
I’m three, Lord, I’m four, Lord,
I’m five hundred miles a way from home.
Away from home, away from home,
away from home, away from home,
Lord, I’m five hundred miles away from home.
Not a shirt on my back,
not a penny to my name.
Lord, I can’t go back home this-a way.
This-a way, this-a way,
this-a way, this-a way,
Lord, I can’t go back home this-a way.
If you miss the train I’m on,
you will know that I am gone,
you can hear the whistle blow a hundred miles.
A hundred miles, a hundred miles,
a hundred miles, a hundred miles,
you can hear the whistle blow a hundred miles.
Video:
500 Miles By Hedy West
www.youtube.com/watch?v=rwnNdqpCF8Q
Nội dung các ca khúc cũng như tiếng hát của Hedy West được mô tả là tuyệt đối trung thành với dân ca vùng núi Appalachia. Viết cách khác, thế hệ trẻ và những người ưa chuộng dân ca đương đại chưa chắc đã thưởng thức được những sáng tác và tiếng hát của Hedy West. Vì thế, mặc dù được xưng tụng là một trong những nữ ca sĩ hay nhất của thời kỳ phục hưng dân ca, và được trao tặng những vinh dự cao quý nhất, trong sự nghiệp kéo dài 45 năm (1960-2005), Hedy West thường chỉ trình diễn “sống” (live) cho thành phần khán giả chọn lọc, và thu hai album mang tính cách bảo tồn nền dân ca hơn là với mục đích thương mại.
Hedy West qua đời vì ung thư năm 2005.
Theo các nhà viết tiểu sử Hedy West, ngày ấy có nhiều ông chủ hãng đĩa đã khuyên, thậm chí áp lực, bà chuyển hướng theo dân ca đương đại để bán đĩa hát, nhưng bà dứt khoát từ chối. Vì thế cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ca khúc 500 Miles của Hedy West lại không do bà mà do ban tam ca The Journeymen thu đĩa đầu tiên.
The Journeymen gồm ba thành viên John Phillips, Scott McKenzie, và Dick Weissman. Sau khi chia tay nhau vào giữa thập niên 1960, John Phillips đứng ra thành lập ban The Mama’s and the Papa’s (nổi tiếng với các bản Monday Monday, California Dreaming…), Scott McKenzie thì theo đuổi sự nghiệp đơn ca, đạt thành công rực rỡ với bản San Francisco (Be Sure to Wear Flowers in Your Hair), còn Dick Weissman trở thành nhà sản xuất đĩa nhạc.
Lúc ấy, năm 1961, The Journeymen không phải là một ban nhạc folk nổi tiếng, cho nên đĩa 500 Miles của họ cũng chẳng mấy người biết tới. Qua đầu năm 1962, khi album College Concert của ban tam ca Kingston Trio phát hành, người ta được biết ban này đã từng hát “live” 500 Miles trong khuôn viên đại học.
Phải đợi tới giữa năm, khi album đầu tay của ban tam ca nổi tiếng Peter, Paul and Mary trong đó có bản 500 Miles lên No.1 trong bảng xếp hạng, 500 Miles mới trở thành ca khúc được nhiều người ưa chuộng; rồi chỉ trong một thời ngắn sau đó, qua sự trình bày của hàng chục ca sĩ nổi tiếng, như Bobby Bare, Elvis Presley, Johnny Rivers, The Brothers Four, Joan Baez, Rosanne Cash (con gái Johnny Cash)… của Mỹ, ban tứ ca The Seekers của Úc, v.v…, 500 Miles đã trở thành ca khúc dân ca Hoa Kỳ nổi tiếng và được ưa chuộng bậc nhất thế giới. Riêng giới trẻ ở Sài Gòn trước năm 1975, 500 Miles do đôi song ca Peter and Gordon của Anh quốc thu đĩa là bản phổ biến nhất.
Phụ lục 2: 500 Miles, The Brothers Four
Phụ lục 3: 500 Miles, Peter & Gordon
Video:
Joan Baez – 500 Miles – YouTube
www.youtube.com/watch?v=B_K6z3HiRAs
Rosanne Cash: 500 miles – YouTube
www.youtube.com/watch?v=Q_XgghFZt1o
The Seekers – Five Hundred Miles – YouTube
www.youtube.com/watch?v=W0QR93SlMzA
Về phiên bản lời ngoại quốc, 500 Miles đã được đặt lời bằng hàng chục ngôn ngữ khác nhau, trong đó có tiếng Việt, Hoa, Nhật, Đức, Đan-mạch, Pháp… Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập tới phiên bản lời Pháp và lời Việt.
Phiên bản lời Pháp của Jacques Plante có tựa J’entends Siffler Le Train (Anh nghe tiếng xe lửa hú còi). Tuy cùng có “xe lửa” trong nội dung, chủ đề của phiên bản lời Pháp hoàn toàn khác với nguyên bản lời Anh: thay vì diễn tả nỗi nhớ nhà của một khách giang hồ như trong 500 Miles, lời hát của J’entends Siffler Le Train lại nói về tâm trạng của một chàng trai từ xa xa nghe thấy tiếng còi tàu của chuyến xe lửa sẽ đưa người yêu của chàng ra đi không trở lại.
J’entends Siffler Le Train
J´ai pensé qu´il valait mieux
Nous quitter sans un adieu.
Je n´aurais pas eu le cœur de te revoir…
Mais j´entends siffler le train,
Mais j´entends siffler le train,
Que c´est triste un train qui siffle dans le soir…
Je pouvais t´imaginer, toute seule, abandonnée
Sur le quai, dans la cohue des “au revoir”.
Et j´entends siffler le train,
Et j´entends siffler le train,
Que c´est triste un train qui siffle dans le soir…
J´ai failli courir vers toi, j´ai failli crier vers toi.
C´est à peine si j´ai pu me retenir!
Que c´est loin où tu t´en vas,
Que c´est loin où tu t´en vas,
Auras-tu jamais le temps de revenir?
J´ai pensé qu´il valait mieux
Nous quitter sans un adieu,
Mais je sens que maintenant tout est fini!
Et j´entends siffler ce train,
Et j´entends siffler ce train,
J´entendrai siffler ce train toute ma vie
J´entendrai siffler ce train toute ma vie
Đọc qua lời hát của J’entends Siffler Le Train, độc giả nào có chút vốn liếng tiếng Pháp sẽ nhận ra ngay tính cách ủy mị, có thể nói là khá “cải lương”, và hơi cường điệu!
Nào là “Anh nghĩ rằng tốt hơn hết chúng mình chia tay nhau mà không phải nói lời vĩnh biệt, bởi anh không có đủ can đảm nhìn em ra đi…”
Nào là “Nhưng anh có thể tưởng tượng em ra đi đơn côi, nơi sân ga huyên náo với những cảnh tạm biệt…’
Nào là “Anh nghe thấy tiếng còi tàu của chuyến xe lửa đưa em ra đi, và tiếng còi tàu ấy sẽ theo anh một đời…”
Nhưng bên cạnh đó, có lẽ đa số độc giả cũng đồng ý với chúng tôi, ủy mị, “cải lương”, và cường điệu lại chính là ba yếu tố ăn khách của các ca khúc phổ thông ở bất cứ quốc gia nào.
J’entends Siffler Le Train là ca khúc đã giới thiệu tiếng hát Richard Anthony tới thính giả yêu nhạc Pháp khắp nơi trên thế giới. Richard Anthony ở đây là người đã đặt lời và thu đĩa bản Dis à Laura, tức Tell Laura I Love Her – Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu đã được chúng tôi nhắc tới trong một kỳ trước.
Nói tới Richard Anthony, không thể không nhắc tới chi tiết thú vị là nam ca sĩ Pháp đã thu đĩa trên 600 ca khúc và bán ra gần 50 triệu đĩa hát này lại không có một chút máu Gô-loa nào trong huyết quản!
Richard Anthony tên thật là Ricardo Anthony Btesh, ra chào đời vào năm 1938 tại Cairo, thủ đô Ai-cập; ông bố Edgar Btesh gốc Syria, là một doanh gia ngành dệt vải ở Ai-cập, bà mẹ Margaret là ái nữ của Đại sứ Anh quốc tại Iraq.
Do nghề nghiệp của ông bố, Ricardo Anthony sống tuổi niên thiếu lần lượt ở Ai-cập, Á-căn-đình, và Anh quốc, nơi cậu được theo học trường nổi tiếng Brighton College, rồi tới năm 13 tuổi (1951) sang Pháp học ở Lycée Janson de Sailly.
Sau khi tốt nghiệp trung học, Ricardo Anthony theo học ngành luật. Tới khi cha mẹ dời sang Milan, Ý, Ricardo Anthony ở lại Paris với cô bạn học Michelle, người sau này trở thành đời vợ thứ nhất của chàng. Sau đó Ricardo Anthony bỏ học, vừa làm đại diện thương mại cho các hãng sản xuất tủ lạnh, vừa thực tập kèn saxophone trong các quán nhạc jazz.
Năm 1958, với kiến thức về nền nhạc phổ thông Anh quốc, cộng với khả năng nói được 5 ngôn ngữ, Ricardo Anthony quyết định chuyển sang lĩnh vực ca hát với cái tên nghệ sĩ “Richard Anthony”. Hai đĩa hát đầu tiên của Richard Anthony (hát tiếng Anh) do hãng Columbia phát hành là You Are My Destiny của Paul Anka và Peggy Sue của Buddy Holly đã không được người yêu nhạc chú ý, nhưng đĩa thứ ba, bản Nouvelle Vague (Đợt Sóng Mới), nguyên là bản Three Cool Cats của ban tứ ca Mỹ The Coasters được Richard Anthony đặt lời Pháp, đã thành công rực rỡ.
Tiếp theo là những ca khúc nổi tiếng khác thu đĩa tại Luân-đôn hoặc Paris, trong đó có bản J’entends Siffler Le Train (500 Miles), đứng No.1 trong danh sách đĩa hát bán chạy nhất suốt 22 tuần lễ.
Video:
Richard Anthony – Et j’entends siffler le train
www.youtube.com/watch?v=W_UbNicrWXk
Phụ lục 4: J’entends Siffler Le Train, Richard Anthony
Trong sự nghiệp ca hát của mình, Richard Anthony có 16 đĩa đứng No.1 trong danh sách đĩa hát bán chạy nhất tổng cộng 21 lần; nghĩa là có những đĩa hát đứng No.1 hai lần. Tính cho tới nay, chưa có một ca sĩ Pháp nào khác đạt được kỷ lục này.
Richard Anthony cũng là một trong số hiếm hoi ca sĩ Pháp có đĩa hát đứng No.1 tại ngoại quốc: Ý, Đức, Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha, Thụy-sĩ, Bỉ, Á-căn-đình, Chí-lợi, và Iran.
Tới đây, chúng tôi xin phép được “lạc đề” để viết một điều thú vị khác liên quan tới Richard Anthony: bản J’entends Siffler Le Train trong khi làm say mê hàng triệu người yêu nhạc Pháp, lại không phải đĩa hát có số bán cao nhất của ông, mà là bản Aranjuez, mon amour, nguyên là bản hòa tấu Concerto de Aranjuez được đặt lời hát.
Cái tựa “Concerto de Aranjuez” có thể xa lạ với một số độc giả, nhưng riêng những người đàn tây-ban-cầm cổ điển (classic guitar) ắt phải biết tới. Đây là bản concerto nổi tiếng bậc nhất trong nền nhạc cổ điển của Tây-ban-nha, trong đó tiếng tây-ban-cầm là chính yếu.
Tác giả của Concerto de Aranjuez là Joaquin Rodrigo Vidre (1901-1991), một nhà quý tộc (1st Marquis of the Gardens of Aranjuez) và nhà soạn nhạc nổi tiếng kiêm danh thủ dương cầm, được biết tới với nghệ danh Joaquin Rodrigo.
Bản Concerto de Aranjuez được Joaquin Rodrigo lấy cảm hứng từ cảnh sắc trong khuôn viên và nội thất của lâu đài Gardens of Aranjuez ở thị trấn Aranjuez, Tây-ban-nha. Bản concerto này gồm ba phần (movements): Allegro con spirito, Adagio và Allegro gentile, trong đó, phần thứ hai (Adagio, chậm rãi êm ái) dành cho “kèn co” và tây-ban-cầm là phần được ưa chuộng nhất.
[Kèn co: tức “cor anglais” nguyên là tiếng Pháp đã được quốc tế hóa; người Mỹ gọi là “English horn”]
Trong số CD, DVD Concerto de Aranjuez – Adagio, bản do danh cầm gốc Úc John Williams hợp tấu cùng dàn nhạc thành phố Sevilla, Tây-ban-nha, vào năm 1993, là một trong những bản phổ biến nhất.
Video:
John Williams - J. Rodrigo – Adagio from Concierto de Aranjuez
www.youtube.com/watch?v=PbNV9AwFFc8
Tới năm 1967, Guy Bontempelli, một nhạc sĩ trẻ của Pháp đã đặt lời hát cho Concerto de Aranjuez – Adagio với tựa “Aranjuez, mon amour”, được Richard Anthony thu đĩa, và trở thành một hiện tượng. Từ đó tới nay, “Aranjuez, mon amour” (lời Pháp) và “Aranjuez, con tu amor” (lời Tây-ban-nha) đã trở thành ca khúc “ăn khách” của hầu hết ca danh ca hát nhạc cổ điển, chẳng hạn Luciano Pavarotti, Andrea Bocelli của Ý, Jose Carreras, Paloma San Basilio của Tây-ban-nha, Demis Roussos, Nana Mouskouri của Hy-lạp, Sarah Brightman của Anh…
Video:
Andrea Bocelli – En Aranjuez con tu amor
www.youtube.com/watch?v=-sVAWII9hTU
Riêng Richard Anthony, ngày ấy đã bán được trên 5 triệu đĩa (lời Pháp và Tây-ban-nha), đứng No.1 tại Pháp, Bỉ, Thụy-sĩ, Tây-ban-nha, và nhiều quốc gia Nam Mỹ.
* * *
Trở lại với bản 500 Miles, trước năm 1975 đã được Trường Kỳ đặt lời Việt với tựa Tiễn Em Lần Cuối. Vì ngày ấy, trong giới nghe nhạc ngoại quốc ở miền nam VN, phiên bản lời Pháp J’entends Siffler Le Train phổ biến hơn là ca khúc nguyên thủy 500 Miles, chúng tôi cho rằng Trường Kỳ đã lấy cảm hứng từ phiên bản lời Pháp, và bi thảm hóa bằng cách thay “xe lửa” bằng “xe tang”.
Tiễn Em Lần Cuối
Trời lạnh giá bước chân buồn bã
Đưa hồn em tới nơi xa vời
Đoàn xe tang tiễn đưa em về
vùng trời xa xôi.
Một ngày nào có mắt em rực rỡ
Môi hồng tươi, tóc xanh mây trời
Nụ hôn xưa ngất ngây tuyệt vời
Ngập ngừng xôn xao.
Thầm lặng bước, tim hồi nhớ
Vang lời kinh chứa chan u buồn
Hàng cây khô hắt hiu bên đường
Lặng nhìn bơ vơ.
Và còn gì nữa, mắt em vội khép
Thế thôi còn đâu, mắt em phai mầu
Nụ hôn xưa lấp sâu trong mơ
Chìm vào hư vô.
Rồi ngày còn đó bóng em đã khuất
Bóng đêm còn đây có anh u sầu
Mộng về em chốn cao Thiên đàng
Ngàn đời chia xa.
Chúng tôi không nhớ trước năm 1975 đã có ca sĩ nào thu băng bản Tiễn Em Lần Cuối hay chưa. Sau khi ra hải ngoại, trong CD “Liên Khúc Tình Yêu 1” với ba tiếng hát Trung Hành, Ngọc Lan và Kiều Nga, Ngọc Lan đã hát hai đoạn lời Việt khác hẳn bản của Trường Kỳ, như sau:
Người tình hỡi nếu trên đường phố
Có anh từng khuya đón đưa em về
Giọt mưa rơi sẽ không não nề
Mình càng đam mê…
Người tình hỡi những đêm lặng lẽ
Dưới trăng vàng khuya có đôi môi kề
Nghìn trăng sao với em vui đùa
Kể chuyện tình anh nghe…
Theo thông tin trên các trang mạng, tựa đề của bản này là “Người tình ngàn dặm” nhưng không ghi tên tác giả, và cũng không ai được biết chỉ có hai đoạn trên hay còn nữa?
Video:
Người tình ngàn dặm-Ngọc Lan – YouTube
www.youtube.com/watch?v=NJ6G-YvnDFY
Riêng bản Tiễn Em Lần Cuối (lời của Trường Kỳ) về sau đã được Trung Hành thu vào CD. Sau khi Ngọc Lan qua đời vào năm 2001, những người ái mộ cô đã sử dụng bản này đưa lên YouTube để bày tỏ lòng tiếc thương.
Video:
TIEN EM LAN CUOI (500 MILES) – A TRIBUTE TO CA SI NGOC LAN
Comment
Bài đọc sưu tầm công phu, nhạc đính kèm có giá trị..... Nhưng đọc xong hết bài, đứng dậy đi xiểng niểng, mắt mờ, tay chân run rẩy, muốn chít luôn......

Maggi Arome Saveur hiện nay có bán ở hầu hết các chợ dưới Cali , ở SJ thầy đến Van 's bakery mua chai có dấu hiệu cầu chứng Nestle' chai to giá US$ 17.00 (khoảng 15 EUR), nếu không tìm được thầy cho hay, tui email cho Thầy 1 chai ăn Tết

Gần đây Cotsco có bán Maggi nắp màu vàng, có ghi Switzerland đàng hoàng , đọc một hồi thấy " product of China !!
Thầy hay đi Cotsco, coi chừng nghe Thầy, thấy rẻ mua về nhậu là không có ai post nhạc cũng hơi kẹt nghen



Comment
Bài đọc sưu tầm công phu, nhạc đính kèm có giá trị..... Nhưng đọc xong hết bài, đứng dậy đi xiểng niểng, mắt mờ, tay chân run rẩy, muốn chít luôn......



Comment
MEIGUI MEGUI WO AI NI (Rose Rose I Love You – Cánh Hồng Trung Quốc) – Chen Gexin
Trong bài kỳ trước, chúng tôi đã gửi tới độc giả TV&BH bản Shina No Yoru (China Night – Chiều Tô Châu), một bài hát nổi tiếng của Nhật bị Hán tộc tẩy chay, nhưng lại được người Mỹ ưa chuộng, kỳ này chúng tôi viết về một ca khúc của Trung Hoa nhờ được một người Anh đặt lời, một người Mỹ hát mà trở nên nổi tiếng quốc tế, đó là bản Meigui Meigui Wo Ai Ni, có tựa tiếng Anh là Rose Rose I Love You, trước năm 1975 được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Cánh Hồng Trung Quốc.
Trước khi viết về tác phẩm, xin viết về tác giả: Chen Gexin (1914-1961), một nhà viết ca khúc nổi tiếng của Trung Hoa. Cuộc đời và số phận của Chen Gexin có rất nhiều điểm trùng hợp với cuộc đời đắng cay và số phận hẩm hiu của nhà soạn nhạc Nga Boris Fomin, tác giả ca khúc Dorogoj Dlinnoyu (Those Were The Days – Tình ca du mục – Như lá thu vàng) mà chúng tôi đã giới thiệu trước đây. Chỉ có một điểm khác biệt là câu chuyện của nhà họ Trần (Chen) ra vẻ có hậu hơn.
Chen Gexin xuất thân từ một danh gia vọng tộc đã khánh tận. Ra chào đời và lớn lên ở Thượng Hải, cùng với say mê âm nhạc, chàng phải dạy học để kiếm sống. Mang một phần máu Ấn-độ trong người, Chen Gexin được mô tả là một người rất điển trai, tính tình đáng mến, và có tâm hồn nghệ sĩ. Nghệ sĩ thì phải có “nàng thơ” (muse); nàng thơ của Chen Gexin là cô nữ sinh viên Jin Jiaoli, một tiểu thư cành vàng lá ngọc, hoa khôi của Đại học Thượng Hải. Bất chấp sự phản đối kịch liệt của gia đình, Jin Jiaoli quyết định trao thân gửi phận cho chàng giáo viên 20 tuổi với hai bàn tay trắng. Một túp lều tranh hai trái tim vàng!
Chen Gexin (1914-1961)
Năm 1941, thời gian quân Nhật chiếm đóng Trung Hoa, Chen Gexin bị bắt giam về tội sáng tác những bài ca ái quốc. Khi thế chiến thứ hai chấm dứt (1945), Chen được thả, rồi đưa gia đình tới sống ở Hương Cảng.
Tại đây, tài năng âm nhạc của Chen Gexin có điều kiện và môi trường để phát triển, nhờ đó cuộc sống tinh thần, vật chất của gia đình cũng ngày càng tốt đẹp hơn, cho tới một ngày nọ, khi Chen Gexin lại một lần nữa theo tiếng gọi của… lòng ái quốc, đưa vợ con trở về Thượng Hải để “góp phần xây dựng đất nước”!
Lúc đó là năm 1950, sau khi lực lượng dân quốc của Tưởng Giới Thạch thua chạy ra đảo Đài Loan, Mao Trạch Đông thâu tóm Hoa lục, thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, mở ra một kỷ nguyên được gọi là “Tân Trung Hoa”, kêu gọi người Hoa ở khắp nơi trên thế giới trở về cùng nhau xây dựng một nước Trung Hoa mới.
Bảy năm sau (1957), khi nhiệt huyết, lạc quan, hy vọng đã hoàn toàn biến mất trong lòng Chen Gexin, thì cũng là lúc ông bị chế độ liệt vào thành phần hữu huynh, bị đưa tới một trại “lao cải” ở tỉnh An Huy, và bốn năm sau (1961), chết vì kiệt sức. Khi ấy Chen Gexin mới 47 tuổi.
[LAO CẢI (laogai) là viết tắt của “lao động cải tạo” (laodong gaizao), dịch sang tiếng Anh là “reform through labor”, thường được truyền thông tây phương gọi một cách ngắn gọn là “forced labor” (lao động cưỡng bách). Hình thức trại “lao cải” này khi được áp dụng tại Việt Nam đã được đổi tên thành trại “học tập cải tạo”, tiếng Anh gọi là “re-education camp”]
Một năm sau, Jin Jiaoli mới nhận được hung tin, lặn lội tới An Huy để cải táng, đưa xương cốt chồng về Thượng Hải. Theo lời người thân, sở dĩ Jin Jiaoli có đủ nghị lực để tiếp tục sống là nhờ âm nhạc – hơn 200 ca khúc của chồng và tác phẩm để đời của con trai.
Tới đây, nhân viết về ca khúc Meigui Meigui Wo Ai Ni (Rose Rose I Love You) nổi tiếng của ông bố Chen Gexin, chúng tôi cũng xin phép đi ra ngoài đề để viết về tác phẩm bất hủ của trưởng nam Chen Gang (Trần Cương), đó là hợp tấu khúc dành cho vĩ cầm có tựa đề “Hồ điệp Tình nhân” (Butterfly Lovers’ Violin Concerto), nhạc khúc cổ điển mà cho tới nay vẫn được xưng tụng là tác phẩm tiêu biểu nhất của nền nhạc giao hưởng Trung Quốc.
“Hồ điệp Tình nhân” nhắc tới ở đây là cặp Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài. Vì hầu như độc giả nào cũng đều biết chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, thường được người tây phương gọi là “Romeo & Juliet của phương đông”, chúng tôi xin miễn kể lại, mà chỉ nhắc tới cảnh cuối cùng, qua đó cặp Lương Chúc đã được hậu thế gọi là “Hồ điệp Tình nhân”:
Sau khi Lương Sơn Bá lâm trọng bệnh và qua đời, vào ngày Chúc Anh Đài phải lấy Mã Văn Tài theo sự sắp đặt của gia đình, khi đoàn đón dâu đi ngang qua mộ Lương Sơn Bá, một trận cuồng phong nổi lên ngăn cản đoàn đi tiếp. Chúc Anh Đài rời kiệu hoa đến trước mộ Lương Sơn Bá để cúng tế. Một tiếng sét đánh long trời, mộ phần Lương Sơn Bá bỗng mở ra; không một chút do dự, Chúc Anh Đài bước vào, cửa mộ đóng lại, và từ phía trong, một đôi bướm bay ra, quấn quít bên nhau, cùng bay về chân trời tự do, hạnh phúc.
* * *
Chen Gang
Chen Gang sinh năm 1935 tại Thượng Hải, có năng khiếu về âm nhạc nên được cha (Chen Gexin) truyền thụ từ nhỏ. Sau khi cùng gia đình sang Hương Cảng rồi lại trở về Thượng Hải, năm 1955, Chen Gang được thu nhận vào Thượng Hải Nhạc Viện (Shanghai Conservatory of Music), trường nhạc nổi tiếng nhất của Trung Hoa thời bấy giờ.
Năm 1958, khi đang học năm thứ ba tại nhạc viện, Chen Gang nhận được chỉ thị viết một bản hòa tấu cổ điển để trình diễn ra mắt vào năm sau, nhân dịp kỷ niệm đệ thập chu niên ngày thành tập “Tân Trung Hoa”, tức nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Kết quả là bản hợp tấu khúc “Hồ điệp Tình nhân” dành cho vĩ cầm (Butterfly Lovers’ Violin Concerto), còn được gọi là “Lương Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc”.
Điều lạ lùng là Chen Gang đã viết tác phẩm tuyệt vời này – với sự cộng tác của He Zhanhao (Hà Chiêm Hào) – trong khoảng thời gian tuyệt vọng nhất của gia đình mình. Cha thì đã bị bắt đi lao động cải tạo ở tỉnh An Huy từ năm 1957, người em trai kế Chen Keng, một sinh viên xuất sắc tại Phục Đán Đại Học (Fudan University, nổi tiếng nhất của Thượng Hải) thì mới bị cưỡng bách tới làm lao động trong một trại nuôi heo ở tận tỉnh Giang Tây, bà mẹ Jin Jiaoli xuất thân là một tiểu thư cành vàng lá ngọc, liễu yếu đào tơ, nay phải bươn chải để kiếm sống, nuôi bản thân mình, cô con gái Chen Xiao Li, và Chen Dong, người con trai út sẽ không bao giờ được thấy mặt cha.
Cho nên chỉ có thể giải thích chính nỗi thống khổ, đau đớn, tuyệt vọng từ đáy lòng đã trở thành chất liệu cho Chen Gang viết hợp tấu khúc bất tử dài gần 30 phút này, để gửi gấm những gì không thể viết ra thành chữ, nói ra thành lời: đó là mưu cầu hạnh phúc và khát vọng tự do – tự do như như đôi bướm Lương Chúc trong huyền thoại.
Giá trị và vị trí của Butterfly Lovers’ Violin Concerto, tức Lương Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc, trong nền âm nhạc hiện đại, ở Trung Quốc cũng như hải ngoại, đã được thể hiện, chứng minh qua những tác phẩm thuộc nhiều thể loại đặt nền tảng trên nhạc khúc này. Ngoài bốn cuốn phim điện ảnh, một vở opera của Hương Cảng, một vở ballet của Mỹ (Butterfly Lovers, do Nhạc viện North Carolina trình diễn lần đầu năm năm 1982), Butterfly Lovers’ Violin Concerto còn được giới yêu nhạc cổ điển xem là một sự phối hợp tài tình giữa hình thức “concerto” của tây phương với giai điệu của đông phương.
Có thể nói, sự tài tình ấy đã được thể hiện tới mức tuyệt vời qua tiếng vĩ cầm của Lu Si-qing, mà nhân đây chúng tôi xin giới thiệu video phần một của Butterfly Lovers’ Violin Concerto do danh cầm này trình tấu cùng Dàn nhạc giao hưởng Vienna tại Golden Hall của thủ đô âm nhạc thế giới.
Video:
Butterfly Lovers Violin Concerto 1st – Lu Si-qing – YouTube
Trở lại với năm 1959, “Lương Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc” đã nổi tiếng ngay sau khi được trình diễn lần đầu trong dịp kỷ niệm đệ thập chu niên ngày quốc khánh của Trung Cộng. Giai điệu của nó được các đài phát thanh truyền đi khắp nước, tới tận trại “lao cải” ở tỉnh An Huy, nơi ông bố Chen Gexin đang lao động khổ sai.
Không cần phải viết ra, chúng ta cũng có thể tưởng tượng nỗi xúc động của Chen Gexin trước tài năng của người trưởng nam mà ông đã đặt nhiều kỳ vọng. Ông xin Ban giám đốc trại cho phép Chen Gang gửi cho mình một bản sao của “Lương Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc” để ông được đọc tận mắt những dòng nhạc bất hủ của con trai. Tiếc thay, cho tới khi Chen Gexin chết vì kiệt sức vào hai năm sau đó (1961), ông vẫn không được thỏa nguyện.
Về phần Chen Gang sau này trở thành Giáo sư tại Thượng Hải Nhạc Viện, nơi xuất thân của ông.
* * *
Tới đây, xin đi vào đề tài chính: ca khúc Rose Rose I Love You (Cánh Hồng Trung Quốc).
Trong tổng số khoảng 200 ca khúc Chen Gexin viết trong hai thập niên 1930-1940 dưới nhiều bút hiệu khác nhau, với người yêu nhạc đương thời, Rose Rose I Love You không phải là ca khúc được ưa chuộng nhất. Hai bản phổ biến nhất của Chen Gexin phải là Shanghai at Night và Wishing You Happiness and Prosperity (tựa nguyên thủy là Gongxi gongxi, phiên âm Hán Việt là “cung hỉ, cung hỉ”, có nghĩa là Congratulations).
Còn Rose Rose I Love You có tựa nguyên thủy là Meigui Meigui Wo Ai Ni, cũng có khi viết là Mei Kwei Mei Kwei Wo Ai Ni, phiên âm Hán Việt là “Mai Quế Mai Quế Ngộ Ái Nị” (người Tàu gọi hoa hồng là “mai quế”).
Meigui Meigui Wo Ai Ni được liệt vào thể loại ca khúc thời đại (shidaiqu: thời đại ca) và được nữ danh ca Yao Lee (Diêu Lý) trình bày năm 1940 tại Thượng Hải để làm nhạc phân cảnh cho cuốn phim Singing Girl, và qua năm 1941 được hãng đĩa EMI-Pathé phát hành.
Yao Lee
Cũng nên biết, Yao Lee (đôi khi còn được viết thành Yao Li, hoặc Yiu Lei) nổi tiếng cùng thời với Li Xianglan (Lý Hương Lan) – người hát bản Shina No Yoru mà chúng tôi đã giới thiệu trong bài kỳ trước. Yao Lee được mệnh danh là “silvery voice”, cùng với Li Xianglan được nằm trong danh sách 7 đại minh tinh ca nhạc của Trung Hoa trong thập niên 1940. Sau khi quân cộng sản chiếm Hoa Lục, Yao Lee sang Hương Cảng hành nghề, và được mệnh danh là “Patti Page của Hương Cảng” vì giọng hát ngọt ngào của bà.
Nguyên nhân khiến Meigui Meigui Wo Ai Ni tới thập niên 1950 bỗng trở thành ca khúc thời đại của Trung Hoa phổ biến nhất trong tập thể Hán tộc cũng như với người ngoại quốc, khá tình cờ, độc đáo.
Chuyện bắt đầu với ca, nhạc, kịch sĩ kiêm chủ xướng (host) chương trình phát thanh Úc gốc Anh Wilfrid Thomas (1904-1991).
Wilfrid Thomas
Ra chào đời tại xứ Wales thuộc vương quốc Anh, theo gia đình di dân sang Úc từ nhỏ, Wilfrid Thomas có một giọng nam trung-trầm (bass-baritone) thiên phú, lẫn khiếu đàn dương cầm. Năm 14 tuổi, vì gia cảnh khó khăn, Wilfrid Thomas phải làm công việc lặt vặt trong các văn phòng để trả tiền học đàn, hát.
Năm 18 tuổi, khi ban hợp xướng Westminster Glee Singers nổi tiếng của Anh sang Úc lưu diễn, Wilfrid Thomas được mời đảm trách phần giọng trầm (bass). Năm 20 tuổi, Wilfrid Thomas được đài phát thanh 2FC (nay là đài ABC – đài phát thanh quốc gia) ở Sydney thu nhận, không chỉ làm công việc của một xướng ngôn viên mà còn đàn dương cầm, ca hát và đóng thoại kịch.
Năm 26 tuổi (1930), khi ban hợp xướng Westminster Glee Singers trở lại Úc, Wilfrid Thomas bỏ công việc ở đài phát thanh để cùng đi lưu diễn, và tới cuối năm đó, theo họ về Anh quốc. Từ đó cho tới đầu thập niên 1950, Wilfrid Thomas vừa ca hát vừa làm DJ (người giới thiệu nhạc), vừa cộng tác với chương trình thoại kịch của đài BBC, vừa… đi giang hồ.
Chính trong thời gian đi giang hồ, đầu năm 1951, khi tới Hương Cảng, Wilfrid Thomas đã được nghe ca khúc Meigui Meigui Wo Ai Ni do Yao Lee thu đĩa năm 1940, và tìm mua cho bằng được tại một tiệm bán đĩa hát cũ trong một đường hẻm.
Sau khi được Wilfrid Thomas đem về Anh quốc, ai nghe bản Meigui Meigui Wo Ai Ni cũng thích, và nhà xuất bản nhạc Chappell Music đã đề nghị Wilfrid Thomas đặt lời bằng tiếng Anh cho ca khúc này. Kết quả, người ta đã có một ca khúc với nội dung hoàn toàn khác với ca khúc nguyên thủy (bằng tiếng quan thoại), ngoại trừ tựa đề Rose Rose I Love You được dịch nguyên văn từ Meigui Meigui Wo Ai Ni ( Mai Quế Mai Quế Ngộ Ái Nị)
Để quý độc giả có thể so sánh, chúng tôi xin ghi ra bản dịch Anh ngữ của bài hát nguyên thủy, và bản lời Anh do Wilfrid Thomas đặt.
Lời dịch từ Meigui Meigui Wo Ai Ni:
Rose, Rose, so stunning!
Rose, Rose, so ravishing!
You open in late summer on tip of a branch,
Rose, Rose, I love you!
Rose, Rose, you touch me deeply,
Rose, Rose, my love is true.
You open in late summer beside the thorns,
Rose, Rose, I love you!
I pledge my heart, my tender love,
Your pure brilliance radiates the whole world.
I pledge my heart, my tender love,
Your pure radiance illuminates the world.
Rose, Rose, so stunning!
Rose, Rose, so ravishing!
Opens in late summer on tip of a branch,
Rose, Rose, I love you!
Rose, Rose, your limbs so slender,
Rose, Rose, your thorns so sharp.
Today stormy rains may ravage you,
Bruising your limbs and graceful body.
Rose, Rose, your heart is hard.
Rose, Rose, your thorns are sharp.
In future stormy rains may ravage you,
May crush your mellow fruit.
Lời hát “Rose, Rose I Love You” của Wilfrid Thomas:
Rose, Rose I love you with an aching heart.
What is your future, now we have to part?
Standing on the jetty as the steamer moves away,
Flower of Malaya, I cannot stay.
Make way, oh, make way for my Eastern Rose.
Men crowd in dozens everywhere she goes.
In her rickshaw on the street or in a cabaret,
“Please make way for Rose,” you can hear them say.
All my life I shall remember,
Oriental music and you in my arms.
Perfumed flowers in your tresses,
Lotus-scented breezes and swaying palms.
Rose, Rose I love you with your almond eyes.
Fragrant and slender ‘neath tropical sky.
I must cross the seas again and never see you more.
Way back to my home on a distant shore.
(All my life I shall remember,)
(Oriental music and you in my arms.)
(Perfumed flowers in your tresses,)
(Lotus-scented breezes and swaying palms.)
Rose, Rose I leave you, my ship is in the bay.
Kiss me farewell now, there’s nothin’ to say.
East is East and West is West, our worlds are far apart.
I must leave you now but I leave my heart.
Rose, Rose I love you with an aching heart.
What is your future, now we have to part?
Standing on the jetty as the steamer moves away,
Flower of Malaya, I cannot stay.
(Rose, Rose I love you, I cannot stay.)
Như độc giả có thể thấy, khác biệt cơ bản giữa hai lời hát là trong khi Meigui Meigui Wo Ai Ni ví von một “bóng hồng Thượng Hải” nào đó với hoa hồng, thì Rose Rose I Love You là lời thở than tiếc nuối của một chàng lính Anh phải từ giã bán đảo Mã-lai, để lại người đẹp phương đông tên Rose mà chàng gọi là “Flower of Malaya”.
Một trong những cái tài tình của Wilfrid Thomas là ông đã dựa theo cách phát âm của “Meigui Meigui” để biến nó thành “make way make way” trong tiếng Anh (Make way, oh make way for this Eastern rose).
Nhưng tại sao Wilfrid Thomas lại biến “bông hồng Thượng Hải” trong ca khúc nguyên thủy thành “bông hồng Mã-lai” trong ca khúc lời Anh?
Bởi “bông hồng Mã-lai” được nhắc tới ở đây là một nhân vật có thật: Rose Chan, một nữ vũ công sexy diễm tình nổi tiếng bậc nhất bán đảo Mã-lai, thần tượng nhục thể của hầu hết các chàng lính Anh lính Mỹ đồn trú tại Mã-lai và Tân-gia-ba sau đệ nhị thế chiến.
Rose Chan
Đầu năm 1951, Rose Rose I Love You được nam ca sĩ Frankie Laine của Mỹ thu đĩa, do hãng đĩa Columbia phát hành. Nhắc tới Frankie Laine, có lẽ thính giả ở Sài Gòn năm xưa chưa quên giọng hát của chàng qua hai ca khúc nổi tiếng trong hai cuốn phim cao-bồi bất hủ: Do Not Forsake Me, Oh My Darling (phim High Noon) và Gunfight at the O.K. Corral (phim Gunfight at the O.K. Corral).
Vừa được tung ra, Rose Rose I Love You đã mau chóng trở thành một hiện tượng, lên tới hạng 3 trên bản xếp hạng toàn quốc Hoa Kỳ (Billboard), và cho tới nay, vẫn được ghi nhận là bài hát (có nguồn gốc) Trung Hoa duy nhất được lên bảng xếp hạng này.
Frankie Laine
- Phụ lục (1): Rose Rose I Love You, Frankie Laine
Cũng trong năm 1951, có hai ca sĩ nổi tiếng khác của Mỹ thu đĩa Rose Rose I Love You và đều lên bảng xếp hạng, là Billy Morrow (hãng đĩa RCA, hạng 8) và Gordon Jenkins (hãng đĩa Decca, hạng 21).
Trước sự ăn khách của Rose Rose I Love You, tới cuối năm 1951, hãng đĩa Columbia đã cho phát hành ở Mỹ ca khúc nguyên thủy Meigui Meigui Wo Ai Ni do Yao Lee thu đĩa tại Thượng Hải năm 1940. Nhưng không hiểu vì nguyên nhân gì, trên đĩa hát này, hãng Columbia đổi tên “Yao Lee” thành “Miss Hue Lee”.
Trong khi đó tại Anh quốc, một tác giả khác là John Turner đã đặt lời khác cho Meigui Meigui Wo Ai Ni với tựa “May Kway”. Năm 1950, bản này được nữ danh ca Petula Clark thu đĩa và lên tới hạng 16 trên bảng xếp hạng của Anh quốc.
Video:
Petula Clark May Kway YouTube
Có một chi tiết lý thú (và hơi đáng buồn) liên quan tới tác quyền của Meigui Meigui Wo Ai Ni là khi viết ca khúc này, Chen Gexin đã sử dụng một trong nhiều bút hiệu khác của ông là “Lin Mei”; cho nên sau khi bản Rose Rose I Love You trở nên ăn khách mà không ai được biết đích xác Lin Mei là ai, hiện đang sống ở đâu (nhắc lại: lúc đó Chen Gexin đã đưa gia đình từ Hương Cảng trở về Thượng Hải để “góp phần xây dựng đất nước”), nhà xuất bản nhạc Chappell Music đã mở một trương mục để cất giữ tiền tác quyền của “tác giả hay các tác giả ca khúc do Miss Hue Lee hát, rất có thể hiện đang sống ở một nơi nào đó tại Hoa Lục”.
Hiện nay, các thông tin liên quan tới Meigui Meigui Wo Ai Ni – Rose Rose I Love You chỉ cho biết sau khi Chen Gexin chết vì kiệt sức trong trại “lao cải”, người con trai út của ông là Chen Dong khi sang Hoa Kỳ tu nghiệp, đã gặp gỡ Frankie Laine, và đôi bên duy trì một quan hệ thân hữu; còn về số tiền tác quyền của bản Meigui Meigui Wo Ai Ni do Chappell Music gửi trong ngân hàng, không nghe nói có được trao lại cho con cháu của tác giả hay không.
Nhưng thiết nghĩ chỉ nội việc Meigui Meigui Wo Ai Ni trở thành ca khúc Trung Hoa nổi tiếng quốc tế, cũng đã đủ để Chen Gexin ngậm cười nơi chín suối – chưa kể tới vị trí trang trọng mà nền nhạc giao hưởng đã dành cho Butterfly Lovers’ Violin Concerto, tức Lương Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc, của trưởng nam Chen Gang.
Kể từ ngày Rose Rose I Love You được Frankie Laine thu vào đĩa nhựa cho tới nay, ca khúc này – lời Anh hoặc lời Hoa – đã được hàng chục ca sĩ nổi tiếng thu đĩa, được hát trong nhiều cuốn phim; chỉ có điều hơi ngược đời là phải đợi sau khi Rose Rose I Love You trở thành một hiện tượng tại phương tây, Meigui Meigui Wo Ai Ni mới được ưa chuộng (tới mức độ hiện nay) tại phương đông.
Một trong những ca sĩ đầu tiên của Á châu thu đĩa bản Meigui Meigui Wo Ai Ni lời Hoa là nam thần tượng điện ảnh & ca nhạc vắn số Kyu Sakamayo (1941-1985) của Nhật, cũng là người hát bản Shina No Yoru mà chúng tôi đã giới thiệu trong bài kỳ trước.
Người kế tiếp là kỳ nữ (cũng vắn số) Anita Mui (1963-2003, tên Hán Việt: Mai Diễm Phương), hát trong cuốn phim Kỳ tích (Miracles) do nàng thủ vai chính bên cạnh Jackie Chan (Thành Long) năm 1988.
Gầy đây nhất, Meigui Meigui Wo Ai Ni đã được trình bày qua tiếng hát (và tiếng đàn guitar) của Joanna Wang (Wang Ruolin: Vương Nhược Lâm), nữ ca nhạc sĩ trẻ tài hoa nổi tiếng bậc nhất hiện nay của Đài Loan, rất được ái mộ tại Đông Nam Á, Nhật Bản, và cả Hoa Kỳ.
Ra chào đời tại Đài Bắc năm 1988 nhưng lớn lên ở Los Angeles, Joanna Wang đã được hấp thụ tinh hoa của nền nhạc jazz, pop, và cả du ca (folk) của tây phương. Cô có khả năng chơi đàn guitar, dương cầm, sáng tác và hát bằng tiếng Anh, Hoa, Nhật.
Joanna Wang
- Phụ lục (2): Rose Rose I Love You, Anita Mui
- Phụ lục (3): Rose Rose I Love You, Joanna Wang
Mặc dù không được biết một cách đích xác, chúng tôi cũng tin rằng bản Rose Rose I Love You được du nhập vào Việt Nam sau khi ca khúc này được Frankie Laine thu vào đĩa nhựa (năm 1951), và được phổ biến dưới hình thức hòa tấu, thường là đàn guitar với ban nhạc nhẹ.
Như một số độc giả có thể còn nhớ, tại miền nam Việt nam, từ giữa thập niên 1950 trở đi, bản Rose Rose I Love You qua tiếng đàn guitar đã trở thành “nhạc khúc cầu chứng”, làm nhạc đệm cho các màn ảo thuật trên sân khấu hoặc trong các gánh xiếc.
- Phụ lục (4): Rose Rose I Love You, Vô Thường (guitar)
Trước năm 1975, Rose Rose I Love You được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Cánh hồng Trung Quốc, dịch từ tựa đề không chính thức “China Rose” của ca khúc này.
Cũng nên biết, bản Rose Rose I Love You có hai tựa đề không chính thức bằng tiếng Anh là “Shanghai Rose” và “China Rose”. Nói là không chính thức bởi vì trong danh mục các ca khúc quốc tế, không hề có ca khúc “Shanghai Rose”, còn “China Rose” nếu có thêm mẫu tự “s” ở phía sau (China Roses) là tên một ca khúc của nữ ca nhạc sĩ Enya của Anh quốc.
Trong các tự điển Anh, Pháp ngữ cũng như định nghĩa trên Internet, “China Rose” không có nghĩa là “hoa hồng Trung Quốc” mà là tên của một chủng loại dâm bụt (Hibiscus ‘China Rose’, hoặc Hibicus ‘Rose de Chine’)
Cánh hồng Trung Quốc – PHẠM DUY
Kìa một nàng Trung Hoa
Răng trắng tinh như là ngà
Nụ cười tươi như hoa thắm
Cô em tha thướt lượt là
Lòng tôi thêm vấn vương
Những khi chiều tà nhìn cánh chim qua
Mộng được như đôi chim bay tới chân trời xa.
* * *
Cớ sao những chiều ngắm mây lững lờ
Nàng Trung Hoa đắm chìm trong mơ, như thẫn thờ
Cớ sao cô buồn, cớ sao cô sầu
Sầu vì cô nhớ bờ sông Dương
Sầu vì đau thương ?
* * *
Kìa nàng Trung Hoa xinh
Đôi mắt em như hạt huyền
Nàng nhìn tôi không nói
Khiến tôi lo lắng ưu phiền
Lòng tôi như bóng trăng
Sẽ soi bên nàng trong giấc mơ tiên
Để lòng cô say mê mãi khúc ca triền miên.
Theo bài viết của một tác giả trong nước, Phạm Duy đặt lời Việt cho bản Cánh hồng Trung Quốc vào đầu thập niên 1940, tuy nhiên theo danh sách ca khúc Phạm Duy trên Wikipedia, và cũng là theo ký ức của chúng tôi, ông làm công việc này vào đầu thập niên 1970, thời gian ông đặt lời Việt cho gần một trăm ca khúc ngoại quốc thuộc đủ mọi thể loại – bán cổ điển, nhạc pop, nhạc rock, dân ca, v.v…
Cũng theo ký ức của chúng tôi, ngày ấy Thanh Lan là một trong những ca sĩ đầu tiên thu băng Cánh hồng Trung Quốc. Nhưng ca sĩ hát đạt nhất có lẽ là Kiều Nga, người mà giọng hát cứ “trẻ mãi không già”, rất thích hợp với giai điệu vui tươi và lời hát dí dỏm của ca khúc lời Việt.
Sau năm 1975, Cánh hồng Trung Quốc ngày càng được ưa chuộng, trong nước cũng như ở hải ngoại, được nhiều ca sĩ thu đĩa, như Kim Anh, Mạnh Đình, Thái Doanh Doanh…, và đặc biệt là tiếng hát trẻ con của Thu Ngọc trong CD ca nhạc thiếu nhi “Búp Bê Bằng Bông”, với lời hát của một tác giả khác nhắm vào đối tượng thiếu nhi, nghe thì vui tai nhưng không được ý nghĩa như trong bản lời Việt của Phạm Duy.
Kiều Nga
- Phụ lục (5): Cánh hồng Trung Quốc, Thanh Lan
- Phụ lục (6): Cánh hồng Trung Quốc, Kiều Nga
- Phụ lục (7): Cánh hồng Trung Quốc, Thu Ngọc
HOÀI NAM
- Phụ lục (1): Rose Rose I Love You, Frankie Laine
- Phụ lục (2): Rose Rose I Love You, Anita Mui
- Phụ lục (3): Rose Rose I Love You, Joanna Wang
- Phụ lục (4): Rose Rose I Love You, Vô Thường (guitar)
- Phụ lục (5): Cánh hồng Trung Quốc, Thanh Lan
- Phụ lục (6): Cánh hồng Trung Quốc, Kiều Nga
- Phụ lục (7): Cánh hồng Trung Quốc, Thu Ngọc
Comment
TENNESSEE WALTZ (Điệu Luân Vũ Dang Dở) – Stewart & King
Hòai-Nam
Kỳ này, trong bài cuối cùng về những ca khúc dân gian nổi tiếng quốc tế được đặt lời Việt, chúng tôi xin gửi tới độc giả một trong những bản “country music” (nhạc đồng quê) phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất của Hoa Kỳ, đó là bản Tennessee Waltz, trước năm 1975 đã được một số tác giả đặt lời Việt dưới các tựa Điệu luân vũ dang dở, Điệu buồn, và Tình mong manh.
Có thể viết trong số các quốc gia phương tây, Hoa Kỳ thuộc hàng “trẻ” nhất – lập quốc cách đây mới hơn 200 năm – nhưng lại có một nền nhạc dân gian phong phú bậc nhất. Có ba nguyên nhân chính: tính cách đa dạng của nguồn gốc cư dân – tiến trình lập quốc đầy huyền thoại – và những ưu đãi của thiên nhiên đã tạo thuận lợi cho sự phát triển nền nghệ thuật dân gian, trong đó có ca nhạc.
Tính cách đa dạng ấy nằm ngay trong danh xưng mà người Trung Hoa đã dịch từ chữ “United States of America”: Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Chúng tôi xin nhấn mạnh: nguyên văn trong tiếng Hán là “Hiệp Chúng Quốc” chứ không phải “Hiệp Chủng Quốc” như phần lớn người Việt hiện đang sử dụng sai. “Chúng” ở đây là “people”, còn “chủng” là “races”.
Chính vì tính cách phong phú của nền nhạc dân gian Hoa Kỳ (American folk music), ít ra cũng phải mất đến 5, 7 kỳ mới có thể điểm qua đầy đủ các thể loại, như bluegrass, western music, country music, gospel, old time music, jud bands, Appalachian folk, blues, Cajun, Native American music… của cư dân gốc Âu châu, Phi châu, Mễ-tây-cơ, và người da đỏ địa phương. Cho nên trong phạm vi bài này, nhân viết về ca khúc Tennessee Waltz, chúng tôi chỉ đề cập tới country music (nhạc đồng quê).
Nhưng trước khi đề cập tới country music cũng phải viết sơ qua về Western music (nhạc cao-bồi Viễn tây) bởi vì một nửa nguồn gốc của country music là từ Western music mà ra.
Western music được viết bởi, và viết về những người tới định cư tại miền Viễn tây của Hoa Kỳ và Gia-nã-đại. Thể loại ca khúc này chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhạc dân gian Anh-cát-lợi, Tô-cách-lan và Ái-nhĩ-lan, với nội dung ca tụng cuộc sống giang hồ của các chàng cao-bồi (cowboy), từ những rặng núi đá hùng vĩ cho tới những thảo nguyên bất tận.
Như những người thích xem phim cao-bồi Viễn tây (Western movies) còn nhớ, vào thời vàng son của thể loại phim này (đầu thập niên 1950 tới đầu thập niên 1960), theo thông lệ gần như một sự bắt buộc, trong mỗi cuốn phim phải có ít nhất một nhạc khúc, ca khúc liên quan tới cốt truyện thì mới “đúng điệu phim cao-bồi Viễn tây”, chẳng hạn trong các phim High Noon (1952), Gunfight at OK Carol (1957), Rio Bravo (1959), The Magnificent Seven (1960), The Alamo (1960)…
Về sau, tới thời “cao-bồi Texas”, Western music trở nên phong phú hơn do chịu ảnh hưởng nhạc dân gian của người Mễ-tây-cơ sống tại các tiểu bang tây nam Hoa Kỳ mà nhạc cụ chính là cây đàn guitar.
Ca khúc “cao-bồi Texas” điển hình nhất là bản El Paso, cho tới nay vẫn luôn luôn đứng đầu danh sách ca khúc Western music được ưa chộng nhất. El Paso là một sáng tác của ca nhạc sĩ nổi tiếng Marty Robbins (1925-1982), do chính ông thu đĩa năm 1959, và đã đoạt giải âm nhạc Grammy năm 1961 dành cho thể loại “nhạc cao-bồi Viễn tây và nhạc đồng quê” (Western music & country music).
Nội dung bản El Paso – còn có tựa không chính thức là “Feleena” – là lời tự thuật của một chàng cao-bồi, trước kia đem lòng yêu Feleena, một vũ nữ Mễ-tây-cơ đầy sức mê hoặc của quán rượu Rosa’s Cantina ở thành phố El Paso, tiểu bang Texas. Khi có một tay cao-bồi khác tán tỉnh Feleena, chàng ta đã thách thức đấu súng, bắn gục đối thủ, rồi lên ngựa đào thoát, nhưng từ đó trong lòng luôn mang nặng nỗi ân hận chỉ vì một cô gái lẳng lơ, mà mình giết một mạng người.
Phụ lục (1): El Paso, Marty Robbins
Tới đây, nói về country music, một thể loại ca khúc dân gian xuất phát từ các tiểu bang miền nam của Hoa Kỳ, đa số là các tiểu bang nông nghiệp. Về hình thức, country music là một biến thể của Western music phối hợp với Appalachian folk, tức nền nhạc dân gian truyền thống của vùng núi Appalachian Mountains, gồm các tiểu bang Kentucky, Tennessee, Virginia, Maryland, West Virginia, North Carolina, và một phần của các tiểu bang Georgia, South Carolina, Pennsylvania, và Ohio.
Country music được hình thành vào thập niên 1920 tại Atlanta, thủ phủ của tiểu bang Georgia và cũng là một trung tâm văn hóa của miền nam Hoa Kỳ. Georgia, với những cánh đồng trồng bông vải (cotton) bất tận, đã thu hút di dân từ các tiểu bang vùng núi Appalachian Mountains, những người không chỉ cống hiến sức lao động mà còn đem theo cả nền nhạc dân gian truyền thống của họ. Thời gian đầu, country music bị gọi một cách không mấy trân trọng là “hillbilly music”.
Theo Giáo sư Tiến sĩ Sử học Anthony Harkins của Đại học Western Kentucky, tác giả cuốn Hillbilly: A Cultural History of an American Icon, chữ “hillbilly” là từ chữ “Hill-Billie” mà ra. “Hill-Billie” nguyên là tiếng lóng, xuất hiện lần đầu tiên trên giấy trắng mực đen vào năm 1900 trong một bài viết trên tờ New York Journal, được định nghĩa một cách lý thú và… dễ nể như sau:
“Một Hill-Billie là một nam công dân da trắng tự do và ngang tàng ở tiểu bang Alabama, sống ở trên các ngọn đồi, muốn ăn mặc ra sao thì mặc, muốn nói năng như thế nào thì nói, uống rượu whiskey bất cứ lúc nào anh ta có được, và rút súng ra bắn bất cứ lúc nào anh ta nổi hứng!”

Mãi tới thập niên 1940, chữ “country music” mới được chính thức sử dụng để thay thế chữ “hillbilly music”. Và từ đó, “country music” đã dần dần trở thành thể loại nhạc dân gian phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất trong quảng đại quần chúng Mỹ, và với người ngoại quốc, thường được xem là đặc trưng của nền nhạc dân gian Hoa Kỳ.
Theo bách khoa tự điển Wikilepdia, thống kê năm 2009 cho thấy tại Hoa Kỳ, “country music” là thể loại ca khúc được nghe nhiều nhất từ các đài phát thanh trong giờ cao điểm lưu thông buổi chiều, và đứng hạng nhì trong giờ cao điểm buổi sáng.
Hiện nay, mặc dù tại giải âm nhạc Grammy của Hoa Kỳ, tên gọi của giải thưởng vẫn là “Western music & country music” (nhạc cao-bồi Viễn tây và nhạc đồng quê) nhưng trên thực tế, ngày nay “Western music” đã không còn được xem là một thể loại riêng biệt nữa, mà chỉ là một phần trong nền nhạc “modern country music” (nhạc đồng quê hiện đại).
Gọi là “hiện đại” bởi vì từ hình thức tới nội dung đã được hiện đại hóa để thu hút mọi thành phần đối tượng. Về hình thức, ngoài những nhạc cụ truyền thống như violin, banjo, guitar thùng, khẩu cầm (harmonica), còn có thêm guitar điện, guitar bass, hạ-uy-cầm, trống, kèn…; về nội dung, không còn chỉ là những ca khúc “kể truyện” cuộc sống ở đồng quê hay kiếp sống phiêu bạt của các chàng cao-bồi, mà còn là những ca khúc tình cảm.
Và quan trọng không kém là cách hát, thay vì hát “giọng mũi” đúng điệu country music truyền thống (Bob Dylan là một điển hình), các sĩ đã hát theo một phong cách mới, dễ nghe, êm ái, ngọt ngào hơn, tương tự như cách hát những ca khúc phổ thông (popular songs).
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu ba ca khúc điển hình của nền nhạc modern country music, là các bản Detroit City (1962), Stand By Your Man (1968), và The Most Beautiful Girl (1973).
Detroit City – còn có tựa khác là “I Wanna Go Home”, là một sáng tác của Danny Dill và Ted Tillis, nội dung là lời thở than của một công nhân gốc miền Nam lên miền Bắc để kiếm sống, đêm nằm nhớ thương quê nhà và mơ tưởng tới những người thân yêu.
Năm 1962, Detroit City được nam ca sĩ dân ca Billy Grammer thu đĩa dưới tựa “I Wanna Go Home”, đứng hạng 18 trong Top 50 country music. Nhưng phải đợi qua năm 1963, sau khi được nam ca sĩ Bobby Bare thu đĩa, Detroit City mới thực sự trở thành “ca khúc country music của thập niên”, đứng hạng tư trên bảng xếp hạng toàn quốc Hoa Kỳ (Billboard), và đem lại cho chàng ca sĩ trẻ giải Grammy 1963 dành cho thể loại “Western music & country music”.
Video:
Bobby Bare – Detroit City (with lyrics)
Tới năm 1967, Detroit City được nam ca sĩ gốc Anh Tom Jones thu đĩa, và lên tới hạng 8 trên bảng xếp hạng tại Anh quốc. Ba năm sau (1970), Detroit City được nam danh ca Dean Martin của Mỹ thu đĩa và đã lên tới hạng nhất (Billboard) trong thể loại nhạc nhẹ.
Thời gian chiến tranh Việt Nam, Detroit City cũng là ca khúc phổ biến nhất trong lực lượng Hoa Kỳ đóng tại miền nam Việt Nam. Nguyên nhân rất dễ hiểu: câu hát “I Wanna Go Home”!
Ngày ấy, bất cứ ban nhạc trẻ Việt Nam hay Phi-luật-tân nào chơi cho các club Mỹ cũng đều phải thuộc bản này vì chắc chắn sẽ bị yêu cầu. Và khi chàng ca sĩ của ban nhạc hát tới câu “I Wanna Go Home”, toàn thể các chàng lính viễn chinh ở dưới đồng loạt hát theo “I Wanna Go Home”!
Tiếp theo, nói về bản Stand By Your Man, ca khúc được nhiều người cho là hay nhất của nền nhạc country. Stand By Your Man là một sáng tác của nữ ca sĩ kiêm nhà viết ca khúc Tammy Wynette (1942–1998), người được xưng tụng là “Đệ nhất Phu nhân của nhạc country” (First Lady of Country Music). Trong hai thập niên 1960, 1970, Tammy Wynette đã có tới 23 bản đứng No.1, trong số đó có Stand By Your Man, thu đĩa năm 1968.
Stand By Your Man không chỉ lên No.1 tại Hoa Kỳ mà còn tại nhiều quốc gia Âu Châu, trong đó có Anh quốc và Hòa-lan. Năm 2010, ca khúc này được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ liệt vào danh sách đĩa hát di sản quốc gia (National Recording Registry). Cho tới nay, Stand By Your Man vẫn đang đứng No.1 trong danh sách Top 100 Country Music Songs của hệ thống truyền hình CMT (Country Music Television).
Thế nhưng, cũng có những người không thích, thậm chí lên án bản Stand By Your Man, đó là các thành phần phụ nữ cấp tiến, các nhà tranh đấu cho nữ quyền (feminists), bởi vì họ cho rằng Stand By Your Man có nội dung tiêu cực, hạ thấp vị trí của người đàn bà trong tương quan tình cảm nam nữ.
Sau này, Stand By Your Man còn bị liên hệ với thói trăng hoa của “Willie” – nickname mà các nhà báo đã đặt cho ông tổng thống “băm lăm” Bill (William) Clinton của Mỹ.
Nguyên vào thời gian tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ nhất, vị cựu Thống đốc Arkansas đã bị cô ca sĩ Gennifer Flowers tố cáo đã bỏ rơi cô một cách tàn nhẫn sau 7 năm “thân mật”. Khi phu nhân Hillary Clinton lên chương trình truyền hình 60 Minutes, được hỏi về lập trường và thái độ của bà trước việc ông chồng bị tố cáo ăn vụng, Hillary trả lời đại khái cứ để cho ông ấy “đỡ đòn” một mình, bởi vì “tôi không phải là loại đàn bà yếu đuối luôn luôn về phe với người đàn ông của mình như Tammy Wynette” (some little woman standing by her man like Tammy Wynette).
Vì lời khích bác Hillary Clinton, Tammy Wynette đã phải “than thở’ trên đài phát thanh NPR (National Public Radio):
“Thật khó lòng tin rằng ca khúc mà tôi chỉ mất 20 phút để viết, lại phải bỏ ra 2, 3 chục năm để bảo vệ”.
Tiếp theo, nói về bản The Most Beautiful Girl của hai tác giả Norris Wilson, Rory Michael Bourke, với phần hòa âm độc đáo của nhạc trưởng Bill Sherrill – người trước đó đã soạn hòa âm cho bản Stand By Your Man.
The Most Beautiful Girl được viết vào năm 1968 và được một vài ca sĩ thu đĩa, tuy nhiên phải đợi tới năm 1973, sau khi được ca sĩ country Charlie Rich (1932–1995) thu đĩa, The Most Beautiful Girl mới lên tới đỉnh cao của nó. Cũng qua ca khúc này, Charlie Rich đã đoạt nhiều giải thưởng, trong đó có giải nam ca sĩ nhạc country hay nhất trong năm 1973, và giải Grammy cho nam ca sĩ hay nhất trong năm 1974 (tính tất cả mọi thể loại).
Tại Hoa Kỳ, The Most Beautiful Girl do Charlie Rich thu đĩa đã cùng một lúc đứng No.1 trên cả ba bảng xếp hạng toàn quốc (Billboard): Hot 100, Hot Country Singles, và Easy Listening (nhạc nhẹ).
Tại Gia-nã-đại, đĩa hát The Most Beautiful Girl của Charlie Rich cũng đứng No.1 trên cả ba danh sách Country Tracks, Top Singles, và Adult Contemporary (tương đương Easy Listening của Mỹ).
Tại Âu châu, đĩa hát này đã đứng No.1 ở Bỉ, No.2 ở Anh và Ái-nhĩ-lan, No.3 ở Hòa-lan, No.5 ở Đan-mạch, No.8 ở Na-uy, No.10 ở Pháp, No.14 ở Đức; còn tại Úc, đứng No.7.
Chúng tôi tin rằng qua thưởng thức ba ca khúc Detroit City, Stand By Your Man, và The Most Beautiful Girl , cho dù không yêu nhạc ngoại quốc mấy, hoặc không có được những hiểu biết căn bản về nhạc country của Mỹ, ít ra độc giả cũng thấy thích thú, hoặc có thể rung cảm trước giai điệu, âm điệu đặc thù của thể loại ca khúc dân gian hiện được xem là phổ biến nhất thế giới.
Và sau đây, chúng tôi xin đi vào đề tài chính: ca khúc Tennessee Waltz. Nếu lược qua những danh sách các ca khúc country được ưa chuộng nhất xưa nay, nhiều khi thứ hạng của Tennessee Waltz còn thấp hơn ba ca khúc đã đề cập tới ở trên, tuy nhiên vì Tennessee Waltz vừa là một ca khúc country vừa là một ca khúc popular cho nên có sức thu hút mọi thành phần thính giả, tại Hoa Kỳ cũng như ở ngoại quốc.
Trước khi đề cập tới nội dung ca khúc, xin nói về cái tựa: Tennessee Waltz. Tại sao lại là Tennessee chứ không phải là một tiểu bang nào khác? Tại sao lại là điệu luân vũ (waltz, valse) phát xuất từ Âu châu chứ không phải “fox trot” hay “square dance”, là hai thể điệu được hình thành tại Hoa Kỳ?
Như chúng tôi đã trình bày trong bài nói về hai nhạc khúc soạn theo thể điệu waltz nổi tiếng nhất thế giới là Dòng Sông Xanh (Blue Danube) và Sóng Nước Biếc (The Waves of Danube), người Mỹ không chỉ đặc biệt yêu thích hai bản waltz này, mà trước đó, waltz đã là điệu nhảy phổ biến ở Hoa Kỳ hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới – trừ thành Vienna, quê hương của thể điệu waltz nguyên thủy, tức “Viennese Waltz”.
Waltz được người Anh du nhập vào Hoa Kỳ rất sớm, có thể là trong thập niên 1810, hoặc 1820. Nguyên sau khi được giới thiệu tới công chúng vào thập niên 1780 và trở thành điệu nhảy thời thượng ở thành Vienna, bước sang đầu thế kỷ thứ 19, waltz đã chinh phục Anh quốc; và tới năm 1812, đã được vũ trường Almack’s sang trọng nhất của thủ đô Luân-đôn chính thức chấp thuận. Tuy nhiên, người Anh có tiếng là bảo thủ, cho nên tới năm 1825, định nghĩa trong tự điển Oxford vẫn còn gọi waltz là một vũ điệu “thác loạn, vô luân” do tư thế ôm sát nhau của cặp nam nữ.
Cũng vì tư thế ôm sát nhau ấy mà sau khi được du nhập vào Hoa Kỳ, waltz đã bị các vị Thừa sai ở California cấm tín đồ nhảy với nhau (lệnh cấm này chỉ được bãi bỏ vào năm 1834). Cùng khoảng thời gian này, một điệu nhảy waltz với nhịp chậm hơn được hình thành tại Boston, thủ phủ tiểu bang Massachusetts, và tới cuối thế kỷ thứ 19, đã được chính thức mang tên gọi “American Waltz”, hoặc “American Slow Waltz”, có khi còn được gọi là “Boston Waltz”, hoặc ngắn gọn hơn, là “Boston”, do xuất xứ của điệu nhảy này.
Khác biệt chính giữa American Waltz và Viennese Waltz không chỉ là American Waltz có nhịp chậm hơn mà còn là khi nhảy American Waltz, cặp nam nữ cách rời nhau nhiều hơn là ôm sát.
Theo một số tác giả, American Waltz đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới “International Style Waltz” (còn gọi là “English Waltz”), và cùng với Viennese Waltz, International Style Waltz, được xem là ba thể điệu waltz phổ biến nhất thế giới hiện nay.
Nhưng American Waltz nói tới ở trên, tức Boston Waltz là một thể điệu “ballroom”, tức là mang tính cách formal, dành cho giới trung lưu, người thành thị, không phổ biến nơi đa số dân quê.
Theo các tác giả Mỹ, trong các vũ hội ở đồng quê hiện nay, tuy vẫn còn những người khiêu vũ theo điệu Boston, nhưng chỉ là một số rất ít, còn đại đa số thì nhảy “waltz đồng quê Viễn tây” (Country Western Waltz), là thể điệu waltz đơn giản và vui nhộn hơn.
Nguồn gốc của Country Western Waltz là “Spanish Waltz”. Khởi đầu, vì bị các vị Thừa sai cấm nhảy “Viennese Waltz” (nam nữ ôm sát nhau), các tín đồ Công giáo ở California, đại đa số có nguồn gốc Tây-ban-nha (Hispanic, Latino), đành phải nhảy đỡ “Spanish Waltz”, một vũ điệu tập thể trong đó các cặp chỉ cầm tay nhau và di chuyển theo một vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ.
Về sau, “Spanish Waltz” được một số địa phương cải biến, dần dần trở thành một thể điệu đặc thù của địa phương mình, chẳng hạn West Texas waltz, Tennessee waltz…, tất cả được gọi chung là Country Western Waltz, hoặc Country & Western Waltz.
Hý Viện Ryman ở Nashville, tiểu bang Tennessee
Nếu có dịp tìm hiểu về Country Western Waltz của Hoa Kỳ, chúng ta sẽ thấy có nhiều bản waltz của các địa phương khác nhau, chẳng hạn Kentucky Waltz, Missouri Waltz, Tennessee Waltz…, nhưng tại sao bản Tennessee Waltz lại được phổ biến và yêu chuộng một cách đặc biệt đến thế?
Theo đa số tác giả và cá nhân chúng tôi, nhờ ba yếu tố sau đây: nét nhạc, lời ca, và tiếng hát.
Trước hết nói về nét nhạc. “Nhạc” ở đây là “nhạc đồng quê hiện đại” (modern country music) mà chúng tôi đã nhắc tới ở một đoạn trên. Mà cái nôi của modern country music chính là Nashville, thủ phủ tiểu bang Tennessee.
Với những người thích uống rượu whiskey Mỹ (bourbon) thì nhắc tới tiểu bang Tennessee là họ sẽ nghĩ ngay tới nhãn rượu Jack Daniel’s bán chạy nhất thế giới; với những người thích du lịch thì sẽ nghĩ tới công viên quốc gia Great Smoky Mountains National Park nổi tiếng; còn với những người yêu nhạc, nhắc tới Tennessee là nhắc tới nhạc blues, rock and roll, và country.
Memphis, thành phố lớn nhất của Tennessee, là cái nôi của blues và rock and roll, nơi có bảo tàng viện Memphis Rock N’ Soul Museum, là nơi khởi nghiệp của Elvis Presley, và dĩ nhiên không thể không nhắc tới trang viên Graceland, nơi an giấc nghìn thu của “ông vua nhạc rock”, mỗi năm thu hút hàng triệu khách “hành hương” tới thăm mộ.
Còn Nashville, thủ phủ tiểu bang, thành phố lớn thứ nhì của Tennessee, là cái nôi của “modern country music”, nơi đặt bảo tàng viện và danh vọng sảnh của country music (Country Music Hall of Fame and Museum), nơi có nhà hát cổ kính Ryman Auditorium – vốn được xưng tụng là “Mother Church of Country Music”, địa điểm tổ chức liên hoan Country Music Festival hàng năm, và nhà hát nổi tiếng Grand Ole Opry, nơi mỗi tuần đều có buổi trình diễn country music của các ca sĩ thời danh.
Pee Wee King (1914-2000) Redd Stewart (1923-2003)
Ca khúc Tennessee Waltz, được viết vào năm 1946, là một trong những ca khúc đầu tiên của “modern country music”, nhạc của Pee Wee King (1914-2000), lời của Redd Stewart (1923-2003).
Trường hợp ra đời của Tennessee Waltz cũng khá đặc biệt. Thời gian này, Pee Wee King đang là trưởng ban nhạc Golden West Cowboys, còn Redd Stewart là ca sĩ chính trong ban. Hôm ấy, cả ban đang ngồi trên xe limousine tới rạp Grand Ole Opry để trình diễn, thì từ máy radio phát ra bản “Kentucky Waltz”, một sáng tác mới thuộc thể loại “bluegrass” của Bill Monroe.
[Bill Monroe (1911-1996), ca sĩ kiêm tay đàn mandoline kiêm nhà viết ca khúc nổi tiếng, cha đẻ của thể loại “bluegrass” trong nền nhạc dân gian của Hoa Kỳ. Định nghĩa một cách ngắn gọn, “bluegrass” là nhạc dân gian truyền thống của di dân gốc Anh-cát-lợi, Tô-cách-lan, Ái-nhĩ-lan, và xứ Wales, phối hợp với ảnh hưởng của nhạc Mỹ da đen (African-American) và nhạc jazz. “Kentucky Waltz” là đĩa hát thành công nhất của Bill Monroe, lên tới hạng ba toàn quốc]
Nghe bản Kentucky Waltz của Bill Monroe, Pee Wee King và Redd Stewart bảo nhau tại sao mình không sáng tác một ca khúc mang tựa đề “Tennessee Waltz”, và họ đã thực hiện ngay. Trên xe không có giấy, Redd Stewart phải viết lời hát trên một cái hộp diêm (matchbox – chắc hẳn ngày ấy cái hộp diêm phải lớn lắm!) trong khi Pee Wee King thì miệng “là lá la” thành dòng nhạc.
Lời hát của Tennessee Waltz là lời tự thuật của nhân vật chính (cô gái hay chàng trai), nhớ về một ngày xa xưa, cùng người yêu tham dự một vũ hội Tennessee Waltz, bất ngờ gặp lại một người bạn cũ, giới thiệu bạn với người yêu, để rồi bị bạn cướp mất người yêu ngay trong lúc hai người cùng nhau khiêu vũ theo điệu Tennessee Waltz tuyệt vời!
Tennessee Waltz
I was dancin’ with my darlin’ to the Tennessee Waltz
When an old friend I happened to see
I introduced her to my loved one and while they were dancin’
My friend stole my sweetheart from me
I remember the night and the Tennessee Waltz
Now I know just how much I have lost
Yes, I lost my little darlin’ the night they were playing
The beautiful Tennessee Waltz
I remember the night and the Tennessee Waltz
Now I know just how much I have lost
Yes, I lost my little darlin’ the night they were playing
The beautiful Tennessee Waltz
Oh, the beautiful Tennessee Waltz.
Thiết nghĩ không cần giỏi tiếng Anh cho lắm, quý độc giả cũng có thể nhận thấy lời hát của bảnTennessee Waltz rất đơn sơ, giản dị. Nhưng cũng chính vì sự đơn sơ, giản dị ấy, cộng thêm tính cách lãng mạn cường điệu tới mức phi lý – chỉ nhảy với nhau một bản luân vũ mà đã yêu nhau ngay – đã khiến lời hát có sức thu hút đặc biệt.
Yếu tố thứ ba khiến Tennessee Waltz được yêu chuộng tới mức ấy chính là tiếng hát của Patti Page; và theo chúng tôi đây là yếu tố quan trọng nhất.
Patti Page (1927-2013)
Thực vậy, sau khi Pee Wee King và Redd Stewart viết Tennessee Waltz vào năm 1946, tới cuối năm 1947, ban nhạc Golden West Cowboys của hai ông đã thu đĩa ca khúc này, đồng thời nam ca sĩ Cowboy Copas, nguyên là một thành viên của Golden West Cowboys cũng thu một đĩa riêng. Qua năm 1948, cả hai đều lên Top 10 C&W (Country & Western), đĩa của Golden West Cowboys đứng hạng 3, còn đĩa của Cowby Copas đứng hạng 6.
Phải đợi tới năm 1950, sau khi được Patti Page thu đĩa, Tennessee Waltz mới trở thành ca khúc được đủ mọi thành phần thính giả ở Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới yêu thích.
Patti Page (1927-2013) tên thật là Clara Ann Fowler, là nữ ca sĩ có số đĩa hát bán ra nhiều nhất trong thập niên 1950, và tính tới nay, tổng số đã lên trên 100 triệu.
Điều đáng nói nhất là Patti Page không được liệt vào hàng ngũ ca sĩ hát nhạc country mà chỉ là một ca sĩ hát nhạc Pop (popular) hát những ca khúc country theo cách hát riêng của mình. Chính vì thế, nhiều đĩa hát của Patti Page đã đứng trên bảng xếp hạng của cả nhạc Pop lẫn nhạc country – trong đó bản thành công nhất chính là Tennessee Waltz.
Muốn biết tại sao Clara Ann Fowler lại có nghệ danh “Patti Page”, phải trở lại với thuở hàn vi của người nữ ca sĩ sau này được nhiều nhà phê bình xưng tụng là nữ ca sĩ nhạc Pop số 1 của thế kỷ thứ 20.
Clara Ann Fowler ra chào đời tại một vùng quê ở tiểu bang Oklahoma, trong một gia đình nghèo và đông con. Ông bố là một công nhân đường sắt, tới mùa thu hoạch bông (cotton), bà mẹ và mấy cô chị phải ra đồng làm mướn mà vẫn không đủ sống; nhiều khi, căn nhà của gia đình bị cúp điện vì không trả nổi “bill”!
Clara Ann Fowler tốt nghiệp trung học vào năm 18 tuổi (1945) và nhờ có năng khiếu hát, may mắn được thu nhận làm ca sĩ trong một chương trình ca nhạc dài 15 phút trên đài phát thanh KTUL ở Tulsa, Oklahoma. Chương trình này do hãng sữa “Page Milk Company” bảo trợ, cho nên người phụ trách đã lấy tên hãng sữa này để đặt cho Clara Ann Fowler nghệ danh “Patti Page” (Patti là viết tắt của “Patricia”, có nghĩa cổ xưa là “một phụ nữ quý tộc”).
Chưa đầy một năm sau (1946), Jack Rael, một tay kèn saxophone kiêm trưởng ban nhạc “Jimmy Joy Band” tới Tulsa để trình diễn một buổi duy nhất, và may mắn lại đến với Patti Page khi ông này nghe được tiếng hát của cô trên đài phát thanh qua chương trình 15 phút ấy.
Patti Page theo Jimmy Joy Band đi lưu diễn khắp nơi, và qua năm 1947, khi tới trình diễn tại Chicago, được hãng đĩa Mercury khám phá và ký hợp đồng. Jack Rael liền rời ban nhạc để đảm trách việc soạn hòa âm kiêm ông bầu cho Patti Page.
Sau một số thành công tương đối, tới đầu năm 1950, Patti Page đã có đĩa đầu tiên bán được trên 1 triệu đĩa – trong tổng số 15 đĩa bán được trên 1 triệu trong thời gian 15 năm liên tục (1950-1965).
Trong tổng số 15 đĩa bán được trên 1 triệu ấy, Tennessee Waltz đã trở thành ca khúc cầu chứng của Patti Page. Thực ra, Patti Page không hề có ý định thu đĩa bản Tennessee Waltz mà chỉ làm theo đề nghị của ông bầu Jack Rael, đồng thời cũng vì ông bố của Patti rất thích ca khúc này.
Khi đã quyết định thu đĩa bản Tennessee Waltz để đưa vào mặt B của đĩa hát sẽ tung ra vào mùa Giáng Sinh 1950 có tựa đề “Boogie Woogie Santa Claus”, Patti Page rất phân vân giữa hai lựa chọn: hát một mình hay hát với giọng phụ họa (hát bè) của người khác.
Cuối cùng, không hiểu do không tin tưởng người khác hay vì muốn đi tiên phong trong việc sử dụng kỹ thuật “ghép giọng” (overdubbing technique) lúc đó mới được ứng dụng, Patti Page đã thu âm Tennessee Waltz ba lần với ba giọng hát khác nhau (của chính mình): hát solo, hát giọng chính, và hát giọng phụ (hát bè), để thực hiện thành hai đĩa, một đĩa hát solo, một đĩa hát bè gồm giọng chính và giọng phụ ghép lại. Kết quả, sau khi nghe thử, Patti Page đã chọn đĩa hát bè để tung ra thị trường.
Phụ lục (2): Tennessee Waltz, Patti Page
[Kỹ thuật “ghép giọng” do nhả sản xuất nhạc Mitch Miller (1911-2010) khởi xướng, lúc đầu không được mấy người quan tâm, nhưng sau khi được Patti Page ứng dụng một cách tuyệt vời qua bản Tennessee Waltz, đã trở nên rất phổ biến. Đĩa hát ghép giọng nổi tiếng nhất trong thời gian gần đây là Unforgettable, ca khúc đi liền với giọng hát trầm ấm của Nat King Cole (1919-1965), thu đĩa lần đầu năm 1951, và tới năm 1961 thu lại với kỹ thuật “stereo”. Ba mươi năm sau (1991), tiếng hát của Nat King Cole trong đĩa stereo ấy được “lấy” ra để “ghép” với tiếng hát của cô con gái Natalie Cole. Kết quả, bản Unforgettable do hai cha con “song ca” đã đoạt 3 giải Grammy năm 1992: Ca khúc trong năm, Đĩa nhạc trong năm, và Ca sĩ hát hay nhất (thể loại nhạc Pop)].
Video:
Trở lại với bản Tennessee Waltz do Patti Page thu đĩa cuối năm 1950, mặc dù chỉ là ca khúc mặt B (side B) của một đĩa hát có chủ đề chính là Giáng Sinh, ngay sau khi được tung ra thị trường (tháng 11/1950) đã lên ngay bảng xếp hạng toàn quốc (Billboard) của cả thể loại nhạc Pop lẫn nhạc country. Tới ngày 30/12/1950, Tennessee Waltz đã lên No.1 trong danh sách nhạc Pop, và ở vị trí này trong suốt 13 tuần lễ liên tục. Trong khi đó, trong bảng xếp hạng nhạc country, Tennessee Waltz chỉ lên tới No.2.
Từ đó, sau thành công của Patti Page, đã có nhiều ca sĩ khác hát các ca khúc country theo cách hát nhạc Pop, và đều đạt thành công, ít nhất cũng là về mặt thương mại.
Đĩa hát Tennessee Waltz của Patti Page không chỉ đứng No.1 tại Hoa Kỳ mà còn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Riêng tại Nhật Bản, vào năm 1974, Tennessee Waltz đã được ghi nhận là đĩa hát có số bán cao nhất từ trước tới nay.
Thành công vượt bực của Patti Page cũng đưa tới một kỷ lục khác cho bản Tennessee Waltz: đây ca khúc được các ca sĩ hay ban nhạc (của Mỹ, Gia-nã-đại, Anh) hát lại nhiều nhất từ xưa tới nay, trong đó thành công nhất là đĩa của nữ danh ca Anne Murray (Gia-nã-đại), hát theo cách hát của Patti Page, và nữ danh ca ca sĩ Alma Cogan (Anh quốc), hát theo thể điệu rock bằng tiếng Anh và tiếng Đức. Đĩa tiếng Anh của Alma Cogan đã lên No.1 trong năm tuần lễ liên tiếp tại Thụy-điển, đứng trong Top 10 ở nhiều quốc gia Âu châu khác; còn đĩa hát bằng tiếng Đức thì lên tới hạng 10 tại quốc gia này.
Video:
My Choice 160 – Anne Murray – Tennessee Waltz
Alma Cogan – The Tennessee Waltz – YouTube
Năm 1965, Quốc Hội tiểu bang Tennessee đã ra nghị quyết chọn Tennessee Waltz làm ca khúc chính thức thứ 5 của tiểu bang. Cũng nên biết đại đa số (48) tiểu bang của Mỹ đều có 1 hoặc 2 ca khúc chính thức (state official song); riêng hai tiểu bang Massachusetts và New Hampshire có 8 bản, còn Tennessee thì có tới 9 bản (tính cho tới nay)!
Năm 1997, Patti Page được ghi danh vào Âm nhạc Danh vọng sảnh (Music Hall of Fame) của tiểu bang Oklahoma. Bà qua đời vào tháng 1/2013, thọ 85 tuổi. Qua tháng 2, tại giải âm nhạc Grammy lần thứ 55, bà được truy tặng giải Grammy cho sự nghiệp (Lifetime Achievement Award). Nhân dịp này, nữ ca sĩ Kelly Clarkson đã trình bày bản Tennessee Waltz để tưởng nhớ vị tiền bối đã đi vào huyền thoại.
Phụ lục (3): Tennessee Waltz (jazz), hòa tấu
Phụ lục (4): Tennessee Waltz (new wave), The Shadows
Một trong số những giai thoại về Tennessee Waltz là ca khúc nổi tiếng này đã được lấy để đặt tên cho một chiến dịch chống tham nhũng tại Tennessee. Như những độc giả cư ngụ tại Hoa Kỳ có thể còn nhớ, vào năm 2004, trước tệ nạn tham nhũng hối lộ lan tràn ở Tennessee, cảnh sát liên bang (FBI) đã mở một chiến dịch bí mật lấy tên là “Operation Tennessee Waltz”, qua đó một số nhân viên của FBI đã đóng vai “cò mồi” để dụ các bậc phụ mẫu chi dân có máu tham. Kết quả, khi “bản luân vũ Tennessee” chấm dứt vào năm 2006, đã có hàng chục chính trị gia các cấp, gồm thượng nghị sĩ, dân biểu Quốc Hội, viên chức chính quyền tiểu bang, bị bắt, truy tố và lãnh án với những số tiền hối lộ có khi lên tới 150.000 Mỹ kim từ tay các… nhân viên FBI!
* * *
Tại miền nam Việt Nam trước năm 1975, theo ký ức của chúng tôi, bản Tennessee Waltz được phổ biến khá muộn, có lẽ vào khoảng giữa thập niên 1960, qua các làn sóng điện của đài phát thanh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Đồng thời, vì giới yêu nhạc ngoại quốc tại Việt Nam ngày ấy cũng không mấy quen thuộc với nhạc country và thể loại waltz chậm vừa của Mỹ, cho Tennessee Waltz đã không được phổ biến, yêu chuộng cho bằng các bản waltz có nhịp nhanh hơn, như One Day (When We Were Young), The Last Waltz, Delilah, v.v…
Vào khoảng cuối thập niên 1960 đầu 1970, Tennessee Waltz được nhạc sĩ Y Vân đặt lời Việt với tựa Tình Mỏng Manh. Sau đó là Trường Kỳ với tựa Điệu Buồn. Đồng thời cũng trong phong trào đặt lời Việt cho các ca khúc ngoại quốc vào những năm đầu thập niên 1970, một tác giả khác (mà chúng tôi không có cơ hội, phương tiện tìm hiểu) đã đặt lời Việt với tựa Điệu luân vũ dang dở.
Trước năm 1975, Tình Mỏng Manh của Y Vân đã được Duy Trác trình bày trong băng nhạc Mây Hồng 4, chủ đề “20 Bản Tình Ca Bất Tử”; trong băng nhạc này, Duy Trác hát theo nhịp thật chậm, tức nhịp của điệu Boston. Điệu Buồn của Trường Kỳ thì chúng tôi không nhớ do ca sĩ nào thu băng. Còn Điệu luân vũ dang dở thì được Vy Vân trình bày dưới hình thức song ngữ.
Ngày ấy, Vy Vân là một trong những nữ ca sĩ hát nhạc ngoại quốc hay nhất của Hòn ngọc Viễn đông; những ca khúc ngoại quốc lời Việt thường được Vy Vân hát cả lời tiếng Việt lẫn lời Anh hay Pháp, trong số đó, theo nhận xét của chúng tôi, đạt nhất phải là bản You don’t have to say you love me – Không cần nói anh yêu (lời Việt của Phạm Duy).
Vy Vân cũng là giọng ca chính trong ban tam ca nữ The Apple Three, còn hai “trái táo” Tuyết Hương, Tuyết Dung thì chủ yếu chỉ để “làm kiểng”. Sau khi The Apple Three tan rã vào năm 1973, Vy Vân tiếp tục hát một mình. Nữ ca sĩ Phi Phi tại hải ngoại sau này chính là ái nữ của Vy Vân.
Vy Vân
Chỉ có điều đáng tiếc là cả bản Tình Mỏng Manh do Duy Trác hát lẫn bản Điệu luân vũ dang dở do Vy Vân trình bày, được phổ biến trên Internet hiện nay có chất lượng âm thanh rất kém, nhưng chúng tôi cũng xin được gửi tới độc giả như một nhắc nhớ về những ngày tháng cũ.
Cũng trong tinh thần hoài niệm ấy, chúng tôi xin ghi lại lời Việt do Trường Kỳ đặt, để tưởng nhớ một đồng nghiệp tài hoa đã vĩnh viễn ra đi.
Điệu buồn – Tennessee Waltz
Lời Việt: Trường Kỳ
Nghìn âm thanh cũ, buồn như mưa lũ
Đàn buông lên tiếng tơ trùng
Nghe thoáng xa vời có riêng tôi vu vi
Đèn lung linh sáng hồn như xa vắng
Buồn như vô cớ vương trong lòng
Ai đây cùng nghe cung buồn với tôi
Buồn không duyên cớ thế thôi
Biết nhớ nhung chi bây giờ
Lòng không biết hôm nay vì cớ sao buồn
Buồn dâng khi sáng, buồn len trong tối
Buồn dâng lên khúc u ca trầm
Trong tâm hồn nghe cung buồn thiết tha.
Phụ lục (5): Tình Mỏng Manh , Duy Trác
Phụ lục (6): Điệu luân vũ dang dở, Vy Vân
Hoài Nam
Comment
Những năm giữa thập niên 1960, người yêu nhạc ngoại quốc ở Sài Gòn có lẽ không ai là không biết tới bản Greenfields do ban tứ ca The Brothers Four trình bày. Đây là một trong những ca khúc được ưa chuộng nhất trong nền nhạc phổ thông của Hoa Kỳ. Trước và sau năm 1975, Greenfields đã được khá nhiều tác giả đặt lời Việt, trong số ấy, theo cảm quan, nhận xét của riêng chúng tôi, bản của Lê Hựu Hà đạt nhất, được ưa chuộng nhất.
Mặc dù đi liền với tên tuổi của The Brothers Four, ban tứ ca nổi tiếng nhất của thể loại “folk songs”, nhưng bốn chàng ca nhạc sĩ này không phải tác giả, cũng không phải những người đầu tiên thu đĩa bản Greenfields.
Greenfields nguyên là một sáng tác của ba ca nhạc sĩ Terry Gilkyson, Richard Dehr và Frank Miller, trình diễn dưới nghệ danh “Terry Gilkyson and The Easy Riders”. Greenfields được ba người viết và thu đĩa năm 1956, nhưng đã không gây được tiếng vang. Phải đợi gần 4 năm sau, khi được The Brothers Four soạn hòa âm lại và thu đĩa, Greenfields mới lên tới hạng 2, và đứng trong Top 40 suốt 20 tuần lễ liên tục.
The Brothers Four nguyên là bốn chàng sinh viên của Đại học tiểu bang Washington, cùng gia nhập câu lạc bộ sinh viên “Phi Gamma Delta”, trong đó mọi người coi nhau như huynh đệ cho nên khi cùng nhau hợp thành một ban tứ ca vào năm 1956, họ đã lấy tên là “The Brothers Four”.
Lúc đó là thời kỳ phục hưng của nền nhạc folk, trường đại học nào cũng có các nhóm tam ca, tứ ca, trình diễn tại các câu lạc bộ sinh viên, trong số đó The Brothers Four nổi bật nhờ tài chơi đàn, nghệ thuật hòa âm phối khí, và quan trọng hơn cả là nghệ thuật hợp ca, với hai giọng nam trung (baritone), một giọng nam cao (tenor), và một giọng trầm (bass).
Năm 1957, The Brothers Four được hội quán Colony Club ở thành phố Seattle biết tiếng, mời tới trình diễn thường xuyên, với thù lao chủ yếu là những ly bia!
Năm 1959, được sự khuyến khích của nhiều người, The Brothers Four quyết định bỏ dở việc học hành, xuôi Nam tìm đường tiến thân. Tại San Francisco, họ may mắn được một ông bầu giới thiệu với hãng đĩa Colombia Records và được mời ký hợp đồng ngay.
Qua đầu năm 1960, đĩa single thứ hai của The Brothers Four là bản Greenfields đã lên tới hạng 2 toàn quốc, và album đầu tay của họ trong đó có ca khúc này đã đứng trong Top 20 những album bán chạy nhất.
Chỉ trong một thời gian ngắn, The Brothers Four đã trở thành tên tuổi lẫy lừng bậc nhất trong nền nhạc folk đương đại (những năm cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960).
* * *
Greenfields là một ca khúc có lời hát rất lãng mạn, đầy chất thơ, kể về tâm trạng của một người nhớ lại cánh đồng xanh tươi và những tháng ngày hạnh phúc xưa cũ, mà nay trước mắt chỉ còn là đồng hoang khô cằn vì người yêu đã ra đi, trong lòng thầm mong ngày gặp lại nhau, cho cánh đồng xanh trở lại…
Greenfields
Once there were green fields kissed by the sun
Once there were valleys where rivers used to run
Once there were blue skies with white clouds high above
Once they were part of an everlasting love
We were the lovers who strolled through green fields
Green fields are gone now, parched by the sun
Gone from the valleys where rivers used to run
Gone with the cold wind that swept into my heart
Gone with the lovers who let their dreams depart
Where are the green fields that we used to roam?
I’ll never know what made you run away
How can I keep searching when dark clouds hide the day
I only know there’s nothing here for me
Nothing in this wide world, left for me to see
But I’ll keep on waiting till you return
I’ll keep on waiting until the day you learn
You can’t be happy while your heart’s on the roam
You can’t be happy until you bring it home
Home to the green fields and me once again.
Phụ lục 1: Greenfields – The Brothers Four
Chỉ nội trong năm 1960, Greenfields do The Brothers Four thu âm đã bán được hơn 1 triệu đĩa, đem lại cho ban tứ ca này đĩa vàng đầu tiên, và cũng là thành công lớn nhất trong sự nghiệp ca hát của họ. Trong giải âm nhạc Grammy năm 1961, The Brothers Four đã được xướng danh tranh giải “Nghệ sĩ mới nổi xuất sắc nhất”.
Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam ngày ấy, do ảnh hưởng văn hóa của cựu “mẫu quốc” Pháp, với không ít người dân vẫn chọn Pháp Văn làm sinh ngữ chính, Greenfields được biết tới và yêu chuộng qua phiên bản tiếng Pháp Verte Campagne, trước khi bản Greenfields do The Brothers Four trình bày được du nhập vào Việt Nam.
Verte Campagne do R.Varnay và R.Mamoudy đặt lời, được ban hợp ca Les Compagnons de la Chanson thu đĩa vào mùa thu năm 1960.
Tương tự trường hợp của The Brothers Four, Les Compagnons de la Chanson (Nhóm đồng hành của ca khúc) nguyên là một ban hợp ca địa phương, thành lập năm 1946 tại Lyon, Pháp. Năm 1952, họ tới Paris và may mắn được gặp nữ danh ca huyền thoại Édith Piaf (chúng tôi đã giới thiệu trong bài viết về bản La Vie en Rose), được bà mời hát chung bản Les Trois Cloches (Ba cái chuông) và vụt nổi tiếng.
[Les Trois Cloches về sau được đặt lời Anh với tựa The Three Bells, do ban tam ca The Browns (ba anh chị em nhà Brown) thu đĩa năm 1959, được xướng danh giải Grammy “Ca khúc hay nhất trong năm” và bán ra trên 1 triệu đĩa]
Trong sự nghiệp của mình, Les Compagnons de la Chanson đã thu trên 350 đĩa hát, mỗi năm trình diễn khoảng 300 xuất, xuất cuối cùng vào năm 1985.
Nội dung phiên bản tiếng Pháp của Varnay & Mamoudy có phần khác với ca khúc nguyên thủy, chỉ giữ lại phần hoài niệm chốn xưa khi cùng với người yêu dạo bước trên những cánh đồng xanh êm ả, phần còn lại kể về những phồn hoa đô hội nơi thành phố, tương phản với cảnh đồng quê êm đềm trong quá khứ.
Verte Campagne
Verte campagne / Où je suis né
Douce campagne / De mes jeunes années
La ville pleure / Et ses larmes de pluie
Dansent et meurent / Sur mon coeur qui s’ennuie
Et moi, je rêve de toi, oh mon amie.
Verte campagne / Que tu es loin
Douce campagne / De mon premier chagrin
Le temps s’efface / Pour moi, rien n’a changé
Deux bras m’enlacent / Parmi les champs de blé
Et moi, je rêve de toi, oh! mon amour.
Là, dans la ville toutes ces mains tendues
M’offrent des fleurs et des fruits inconnus
Et moi, je vais le long des rues perdues
Un air de guitare me parle de toi.
Verte campagne / Où je suis né
Douce campagne / De mes jeunes années
La ville chante / Eparpille sa joie
La ville chante / Mais je ne l’entends pas
Et moi, je rêve de toi, mon amour
Et moi, je rêve de toi, mon amour…
Video:
Verte Campagne * Les Compagnons de la Chanson – YouTube
Về phiên bản lời Việt của Greenfields, theo sự hiểu biết của chúng tôi, cố nhạc sĩ Y Vân là người viết đầu tiên, với tựa Cánh Đồng Xanh, và được ban hợp ca Sao Băng trình bày trong băng nhạc “20 Bản Tình Ca Bất Tử”, nhạc ngoại quốc do Y Vân hoặc Phạm Duy đặt lời, phát hành cuối thập niên 1960 (hoặc đầu thập niên 1970).
Còn phiên bản của Lê Hựu Hà có tựa Đồng Xanh được anh viết vào khoảng năm 1973-1974.
Lê Hựu Hà (1946-2003)
Lê Hựu Hà (1946-2003) là một trong những nhạc sĩ tiên phong của nền nhạc trẻ Việt Nam. Anh và nhạc sĩ bạn Nguyễn Trung Cang (1947-1985) nguyên là hai thành viên của ban nhạc trẻ Hải Âu, thành lập năm 1963, được giới mộ điệu biết tới qua Đại hội Nhạc trẻ 1965 tổ chức tại Trường Trung học Taberd.
Cuối thập niên 1960, sau khi ca sĩ chính của ban là Thanh Lan tung cánh bay cao hơn xa hơn, ban Hải Âu tan rã, Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang cùng nhau thành lập ban Phượng Hoàng vào năm 1970, được xem ban nhạc trẻ Việt Nam đầu tiên – “nhạc trẻ Việt Nam” đúng nghĩa: nhạc Việt, lời Việt.
Những ca khúc lời Việt với giai điệu, tiết tấu của nhạc trẻ Tây phương hiện đại do hai người sáng tác như Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Bước tình hồng, Yêu em, Hãy nhìn xuống chân… được trình bày qua tiếng hát Elvis Phương với hòa âm phối khí độc đáo của ban Phượng Hoàng đã chinh phục cả một thế hệ trẻ.
Rất tiếc, sau 3 năm, Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang chia tay, ban Phượng Hoàng chấm dứt tồn tại. Tuy nhiên, tương tự trường hợp ban The Beatles của Anh quốc, sau khi tan rã, hai cựu thành viên chủ lực là John Lennon và Paul McCartney vẫn tiếp tục viết những ca khúc để đời, Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang cũng tiếp tục sáng tác riêng rẽ. Hai trong số những ca khúc nổi tiếng của Lê Hựu Hà viết sau khi chia tay Nguyễn Trung Cang là Hãy ngước mặt nhìn đời và Đôi khi ta muốn khóc. Bên cạnh đó, trong phong trào Việt hóa các ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, Lê Hựu Hà đã đặt lời Việt cho nhiều ca khúc, trong số đó có bản Greenfields với tựa Đồng Xanh.
Như chúng tôi đã từng đưa ra nhận xét trong chương trình “70 Năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam”, phần nói về thời kỳ nhạc trẻ, sự tương phản giữa tư duy và cung cách sáng tác của Nguyễn Trung Cang và của Lê Hựu Hà có thể so sánh với John Lennon và Paul McCartney của ban The Beatles: trong khi lời hát trong các ca khúc của Nguyễn Trung Cang thường bi quan yếm thế, giai điệu phức tạp, tiết tấu cầu kỳ, thì lời hát của Lê Hựu Hà đơn sơ, giai điệu êm đềm, tiết tấu dung dị nhẹ nhàng hơn.
Cho nên Lê Hựu Hà thường chọn những ca khúc ngoại quốc nhẹ nhàng êm đềm như Greenfields, Yesterday để đặt lời Việt. Nhất là bản Greenfields, một bản rất thích hợp với khuynh hướng và cảm quan nghe nhạc của người Việt.
Có thể viết mà không sợ quá lời, nếu chỉ so sánh lời hát giữa phiên bản và ca khúc nguyên thủy, bản Đồng Xanh của Lê Hựu Hà “trung thành” hơn hẳn bản Verte Campagne của Varnay & Mamoudy. Bởi Lê Hựu Hà vừa trình bày được những hình ảnh trong nội dung ca khúc nguyên thủy vừa truyền đạt được ý chính của toàn bài hát, mà không bị gượng ép về ngôn từ.
Đồng Xanh
Đồng xanh là chốn đây / Thiên đàng cỏ cây
Chìm trong bầy thú hoang / Vui đùa trong nắng hây
Đây những con suối vắng / Đang phơi mình bên lùm cây
Đây những dòng nước mát / Khẽ trôi êm về thung lũng
Và những đôi nhân tình đang lắng hồn dưới mây chiều
Đồng xanh giờ vắng đi / Với trời lãng quên
Còn đâu bầy thú hoang / Đã vui đùa trong nắng êm
Đâu những bờ suối vắng / Phơi mình bên lùm cây
Đâu những dòng nước mát / Khẽ trôi êm về thung lũng
Và những đôi nhân tình nay đã lìa chốn xưa rồi
Ta yêu đồng xanh / Như đã yêu từng con người
Ta thương đôi tình nhân kia / Như gió thương làn mây trời
Nhưng sao giờ đây / Nào thấy ai chung quanh ta
Đất trời như bãi tha ma / Trên đồng hoang khô cháy
Giờ ta còn đứng đây / Giữa trời hắt hiu
Đời không còn chút vui / Đã khô cằn trong trái tim
Sao ta còn đứng mãi / Như người tình mong chờ ai
Sao ta còn đứng mãi / Lắng nghe tâm hồn tê tái
Và đã bao lâu rồi ta đứng chờ giữa cánh đồng.
Trước năm 1975, Đồng Xanh được thu băng lần đầu tiên qua nghệ thuật trình bày của ban hợp ca Mây Trắng do Lê Hựu Hà thành lập sau khi ban Phượng Hoàng tan rã. Rất tiếc, ấn bản được phổ biến trên Internet hiện nay có chất lượng âm thanh rất kém.
Trong số các ca sĩ thu đĩa bản Đồng Xanh sau năm 1975 tại hải ngoại, có thể nói Duy Quang hát đạt nhất. Bởi giọng của Duy Quang là giọng trầm, sở trường Duy Quang là hát nhạc êm, và dĩ nhiên không thể không nói tới trình độ nghệ thuật của một ca sĩ chân truyền, cộng với khả năng phát âm tiếng Việt chuẩn xác.
Phụ lục 2: Đồng Xanh – ban Mây Trắng
Phụ lục 3: Đồng Xanh – Duy Quang
Phụ lục 4: Đồng Xanh – Vô Thường (guitar)
Sau Greenfields, một ca khúc khác do The Brothers Four thu đĩa ngày ấy cũng rất được thính giả yêu nhạc ngoại quốc ở Sài Gòn ưa chuộng là bản Yellow Bird, được Nam Lộc (và Trường Kỳ?) đặt lời Việt với tựa Chỉ là giấc mơ qua.
Khoảng đầu thập niên 1960, khi được nghe bản này do ban nhạc Arthur Lyman hòa tấu, chúng tôi cứ ngỡ đây là một bản nhạc có gốc gác đảo Hạ-uy-di (Hawaii), bởi giai điệu và âm hưởng đặc thù Hạ-uy-di trong đó. Về sau có cơ hội tìm hiểu mới biết mình vừa sai vừa… đúng: đây là một ca khúc truyền thống của đảo quốc Haiti (một cựu thuộc địa của Pháp trong vùng biển Caribbean) chứ không phải của đảo Hạ-uy-di (ở Thái bình dương), nhưng đã được ban Arthur Lyman cải biến thành một nhạc khúc mang giai điệu và âm hưởng Hạ-uy-di.
Ca khúc nguyên thủy của Haiti có tựa đề Choucoune, do nhạc sĩ dương cầm Michel Mauléart Monton, một người có cha Haiti và mẹ Mỹ, phổ từ bài thơ có cùng tựa của thi sĩ Haiti Oswald Durand vào năm 1883.
Bài thơ được viết bằng tiếng Haiti, tức “Créole” – là phối hợp của ba ngôn ngữ Pháp, Tây-ban-nha và Phi Châu, nội dung ca tụng nhan sắc của một phụ nữ Haiti có biệt danh là “Choucoune”.
Được được trình diễn lần đầu tiên ở thủ đô Port-au-Prince vào năm 1893, về sau Choucoune đã trở thành một trong những ca khúc truyền thống phổ biến nhất trên hòn đảo này. Năm 1949, trong các buổi liên hoan kỷ niệm 200 năm lập quốc của Haiti, Choucoune đã được sử dụng như một ca khúc chính thức sau quốc ca.
Video:
Choucoune (Ti Zwezo) Haitian Folk Song “Yellow Bird” – YouTube
Celia Cruz / Martha Jean-Claude & Sonora Matancera – Choucoune – YouTube
Năm 1957, cặp vợ chồng nhạc sĩ kiêm nhà viết ca khúc nổi tiếng Alan và Marilyn Bergman của Mỹ đã đặt lời Anh cho bản Choucoune với tựa “Yellow Bird”. Nội dung lời hát trong nguyên bản tiếng Haiti và phiên bản tiếng Anh hoàn toàn khác nhau; riêng tựa đề Yellow Bird, Alan và Marilyn Bergman được gợi ý từ chữ “ti zwero” (little birds) trong điệp khúc của ca khúc nguyên bản; từ đó, một số người còn gọi ca khúc này là bản Ti Zwero.
Vào khoảng thời gian nói trên, thể điệu “Calypso” sôi động của vùng biển Caribbean đang được xem là thời thượng, cho nên hầu hết các ca sĩ, ban nhạc đã trình bày Yellow Bird theo thể điệu “Calypso”.
Tuy nhiên, đĩa Yellow Bird thành công nhất lại là một đĩa mang giai điệu và âm hưởng Hạ-uy-di, do ban Arthur Lyman Group thu đĩa năm 1961, như chúng tôi đã viết ở một đoạn trên.
Arthur Lyman (1932 – 2002) ra chào đời tại Hạ-uy-di, mẹ là người bản địa, cha mang 4 dòng máu Hạ-uy-di, Pháp, Bỉ, và Trung Hoa. Arthur Lyman được xem là một trong những nhạc sĩ chơi đàn marimba hay nhất từ trước tới nay (“marimba” là một loại đàn gõ tương tự đàn “xylophone”, nhưng làm hoàn toàn bằng gỗ, nên có thanh âm trầm ấm hơn).
Mùa hè năm 1961, bản Yellow Bird do Arthur Lyman Band thu đĩa đã lên tới hạng 4 tính tất cả các thể loại (Billboard Hot 100) và hạng 2 trong danh sách nhạc nhẹ (Easy Listening) tại Hoa Kỳ.
Arthur Lyman Group
Video:
Arthur Lyman Group – YELLOW BIRD – YouTube
Trong khi đó tại các quốc gia Mỹ la-tinh nói chung, vùng biển Caribbean nói riêng, Yellow Bird lại rất phổ biến và được ưa chuộng qua sự trình tấu của các nhạc sĩ sử dụng “steel drums” (trống thép), còn được gọi là “steel pans”.
Nhạc cụ độc đáo này xuất phát từ Cộng hòa Trinidad and Tobago, là những cái trống bằng thép, mặt trống chia thành nhiều ô tròn hoặc bán nguyệt, khi được gõ lên, mỗi ô sẽ tạo ra âm thanh trầm bổng khác nhau.
Video:
Yellow Bird (Haitian Folk Song) YouTube
Riêng những người đàn guitar, có lẽ ai cũng biết tới, và yêu thích bản Yellow Bird qua nghệ thuật trình bày của danh cầm Mỹ Chet Atkins (1924-2001), người đã có công khai sáng một thể loại nhạc “country music” êm dịu hơn, thường được gọi là “Nashville sound” (Nashville, thuộc tiểu bang Tennessee, là thủ đô của country music và folk music của Hoa Kỳ).
Video:
Chet Atkins – Yellow Bird (Instrumental) – YouTube
Về các đĩa Yellow Bird do các ca sĩ hoặc ban hợp ca của Mỹ trình bày, được ưa chuộng nhất tại miền nam Việt Nam trước năm 1975 chính là đĩa của The Brothers Four.
Phụ lục 5: Yellow Bird – The Brothers Four
Yellow Bird
Yellow bird, up high in banana tree
Yellow bird, you sit all alone like me.
Did your lady friend, leave your nest again
That is very sad, make me feel so bad
You can fly away, in the sky away
You’re more lucky than me.
I also had a pretty girl, she’s not with me today
They’re all the same those pretty girls
Take tenderness, then they fly away.
Yellow bird, up high in banana tree
Yellow bird, you sit all alone like me.
Let her fly away, in the sky away
Pick a town and soon, take from night to noon
Black and yellow you, like banana too
They might pick you someday.
Wish that I was a yellow bird
I’d fly away with you
But I am not a yellow bird
So here I sit, nothing else to do.
Yellow bird, Yellow bird…
Trước năm 1975,Yellow Bird đã được Nam Lộc (có tài liệu ghi là Trường Kỳ, hoặc Nam Lộc & Trường Kỳ) đặt lời Việt với tựa Chỉ là giấc mơ qua.
Chỉ là giấc mơ qua
Như làn mây, tình yêu thôi, giờ đây lững lờ
Như làn gió, tình yêu thôi, giờ đây hững hờ.
Rồi một lần xa cách là một đời than trách
Rồi cuộc tình bay mất và một người đi khuất
Tình chỉ còn cay đắng để chỉ còn xa vắng
Để chỉ còn nắng vương cuối đường.
Thương người thương, ngàn xưa ơi, ngàn sau nét cười
Vương sầu vương, đường xưa nay giờ đâu bóng người.
Tình nhiệm màu tan vỡ lòng chỉ còn nhung nhớ
Giờ một mình quên lãng lạnh lùng theo năm tháng
Dù một lần em đã mềm lòng như chiếc lá
Là một lần xóa mối duyên đầu.
Em nhớ ngày, anh đón em góc trường
E ấp, thẹn thùng, vấn vương
Em nhớ ngày, anh đón em cuối đường
Dù đường lan vết nắng, nắng vẫn lung linh màu.
Thôi giờ đây, còn đâu ngọt ngào đôi má hồng
Thôi giờ đây, tìm đâu đây mùi hương ngất ngây.
Ngày tàn dần như khói chiều buồn dần muôn lối
Một mình lang thang tới miền cỏ hoang nắng chói
Ngày nào ta chung lối nhẹ nhàng đan tóc rối
Chỉ còn là giấc mơ qua rồi.
Trong khi nguyên tác Choucoune có nội dung ca tụng nhan sắc của một giai nhân thì Yellow Bird lại viết về nỗi sầu lẻ bóng, còn Chỉ là giấc mơ qua thì tiếc nhớ mối duyên đầu! Tuy nhiên, cả hai ca khúc hát lên, nghe cũng chỉ thấy bâng khuâng, man mác. Có lẽ vì nét nhạc đẹp cho nên nỗi buồn cũng nên thơ?!
Phụ lục 6: Chỉ là giấc mơ qua, Thanh Lan
Phụ lục 7: Chỉ là giấc mơ qua, Kiều Nga
Hoài Nam
Phụ lục
Phụ lục 1: Greenfields – The Brothers Four
Phụ lục 2: Đồng Xanh – Ban Mây Trắng
Phụ lục 3: Đồng Xanh – Duy Quang
Phụ lục 4: Đồng Xanh – Vô Thường (guitar)
Phụ lục 5: Yellow Bird – The Brothers Four
Phụ lục 6: Chỉ là giấc mơ qua, Thanh Lan
Phụ lục 7: Chỉ là giấc mơ qua, Kiều Nga
©T.Vấn 2014
Comment
Kỳ này, trước khi bước vào việc giới thiệu những ca khúc ngoại quốc phổ thông nổi tiếng được đặt lời Việt, chúng tôi xin trình bày về việc thay đổi thứ tự những phần còn lại. Trước đây, chúng tôi dự tính sẽ giới thiệu những ca khúc phổ thông nổi tiếng được đặt lời Việt trước năm 1975, tiếp theo là những ca khúc nổi tiếng trong phim (movie songs) hoặc trích từ nhạc phim (soundtracks) được đặt lời Việt, và sau cùng là những ca khúc phổ thông được đặt lời Việt sau năm 1975. Tuy nhiên, khi bắt tay vào việc, chúng tôi nhận thấy chẳng những việc đặt lời Việt cho các ca khúc phổ thông nổi tiếng trước năm 1975 đã không luôn luôn theo thứ tự thời gian phổ biến của ca khúc ngoại quốc, mà còn có những ca khúc nổi tiếng từ thập niên 1950, 1960… mãi tới sau 1975 mới được đặt lời Việt.
Vì thế, chúng tôi quyết định xuôi dòng thời gian một cách liên tục; nghĩa là sẽ giới thiệu tất cả mọi ca khúc phổ thông nổi tiếng được đặt lời Việt từ trước năm 1975 cho tới nay, theo thứ tự phổ biến của các ca khúc nguyên thủy, và phần sau cùng của loạt bài sẽ những ca khúc nổi tiếng trong phim, hoặc trích từ nhạc phim.
Bên cạnh đó, vì những nguyên nhân khách quan (nhà xuất bản, cơ sở thực hiện, phát hành băng, đĩa nhạc, các trang mạng âm nhạc…), không ít ca khúc ngoại quốc phổ thông được đặt lời Việt đã không hề ghi tên tác giả lời Việt; gặp trường hợp này, chúng tôi đành phải ghi tác giả “khuyết danh”, và gửi lời cáo lỗi tới các vị ấy.
* * *
Hai trong số những ca khúc ngoại quốc phổ thông được phổ biến sớm nhất tại miền Nam Việt Nam, vào khoảng cuối thập niên 1950, là Only You và Smoke Gets in Your Eyes do ban The Platters trình bày.
The Platters được thành lập năm 1953 tại Los Angeles, và cho tới nay vẫn tiếp tục trình diễn với những thành viên mới; tuy nhiên với đa số người yêu nhạc, chỉ có The Platters của hai thập niên 1950, 1960 mới là The Platters “chính hiệu con nai vàng”. Một cách chính xác, là The Platters của khoảng thời gian từ năm 1955 – năm họ thu đĩa Only You, bản đầu tiên lên Top 10, cho tới năm 1969, khi Herb Redd, “thành viên sáng lập” cuối cùng rời bỏ ban này.
The Platters của thập niên 1950 gồm 5 thành viên Mỹ gốc Phi châu, trong đó Tony Williams hát giọng tenor chính, và giọng phụ Zola Taylor là bóng hồng duy nhất.
The Platters chuyên hát nhạc “rhythm and blues” (R&B), và được ghi nhận là ban hợp ca thành công nhất trong thời kỳ đầu của “rock-and-roll”.
Như chúng tôi đã trình bày trong bài kỳ trước, “rock and roll” được hình thành tại Hoa Kỳ vào thập niên 1940, và phát triển mạnh trong thập niên 1950, là sự phối hợp của ba thể loại: “rhythm and blues” (R&B) của người Mỹ gốc Phi châu, western music và country music.
Trong ba thể loại nói trên, country music là thể loại được nhiều người ưa chuộng nhất (có lẽ vì đa số dân Mỹ là người gốc Âu châu), nhưng nếu xét về cả giai điệu lẫn lời hát, R&B là thể loại phong phú nhất.
Trong hơn 20 thể loại của nền nhạc phổ thông ở Hoa Kỳ, jazz được xem là thể loại “cao” nhất, nhưng cũng vì thế, số lượng người thưởng thức bị giới hạn; kế tiếp là R&B (rhythm and blues), vốn được xem biến thể của nhạc blues. Trong khi những thể loại khác có lúc thịnh lúc suy, thì R&B chưa bao giờ đi xuống, mà sau ¾ thế kỷ vẫn tiếp tục là một trong những thể loại quan trọng nhất tại giải âm nhạc Grammy, được ưa chuộng nhất đối với mọi thành phần nghe nhạc. Hiện nay, nếu lướt qua các danh sách ca khúc sống mãi với thời gian, chúng ta sẽ thấy một phần không nhỏ thuộc thể loại R&B. Từ What’d I Say (Ray Charles, 1959) tới My Girl (The Temptations, 1964), Respect (Aretha Franklin, 1967), từ Hello (Lionel Richie, 1983) tới Hero (Mariah Carey, 1993), từ Unbreak My Heart (Toni Braxton, 1996) tới I Will Always Love You (Whitney Houston, 1999)…
Tại Anh quốc, R&B cũng trở thành một thể loại phổ biến, điển hình là các ca khúc của các ban The Rolling Stones, The Animals, The Who…
Video:
Lionel Richie – Hello – YouTube – 1984
Unbreak My Heart – Toni Braxton LYRICS – YouTube
Whitney Houston – I Will Always Love You – Lyrics -YouTube
Trở lại với The Platters, ca khúc đầu tiên của họ được vào Top 10 của bảng xếp hạng toàn quốc của tạp chí Billboard là bản Only You (And You Alone), một sáng tác của nhà viết ca khúc Buck Ram (1907-1991), cũng là ông bầu của The Platters.
Buck Ram (1907-1991)
Được tung ra vào tháng 7 năm 1955, Only You đã lên No.1 trong bảng xếp hạng thể loại R&B, và No.5 của mọi thể loại (Billboard Hot 100). Tại Anh, Only You lên tới hạng 5, và tại Úc, hạng 19.
Only you
Only you
can make this world seem right
Only you
can make the darkness bright
Only you and you alone
can thrill me like you do
and fill my heart with love for only you
Only you
can make this change in me
For it’s true
you are my destiny
When you hold my hand, I understand
the magic that you do
You’re my dream come true
my one and only you, only you
Only you and you alone
can thrill me like you do
and fill my heart with love for only you
Only you
can make this change in me
For it’s true
you are my destiny
When you hold my hand, i understand
the magic that you do do
You’re my dream come true
my one my one my one and only you
Phụ lục (1): Only You, The Platters
Bốn tháng sau, The Platters đạt thành công rực rỡ hơn nữa với bản The Great Pretender, cũng do Buck Ram sáng tác. Tại Hoa Kỳ, The Great Pretender đứng No.1 trong cả bảng xếp hạng thể loại R&B lẫn bảng xếp hạng mọi thể loại. Ca khúc này cũng đứng No.1 ở Úc, còn tại Anh quốc, đứng No.5.
Video:
The Platters – The Great Pretender – HD (1955)
Đứng No.1 liên tục trong 11 tuần lễ ở Hoa Kỳ, The Great Pretender được xem là thành công lớn nhất trong sự nghiệp của The Platters (hiện nay,The Great Pretender đang đứng hạng 360 trong danh sách “500 Greatest Songs of All Time” của tạp chí ca nhạc Rolling Stone, và luôn luôn nằm trong danh sách 50 ca khúc hay nhất của thể loại R&B), nhưng với giới yêu nhạc phổ thông, càng về sau, Only You càng được ưa chuộng và phổ biến hơn; được nhiều ca sĩ Mỹ và ngoại quốc thu đĩa, và được hát trong hàng chục cuốn phim (nhưng có điều… thú vị là trong cuốn phim hài kịch tình cảm có tựa là Only You (1994), lại không có ca khúc Only You).
Tại Việt Nam, Only You được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Chỉ Cần Có Anh Trong Đời, và được thu âm với tiếng hát Khánh Hà.
Chỉ Cần Có Anh Trong Đời
Người tình đó, chỉ cần có em trong đời
Có em, là đời chói chan ân tình
Dựa vào nhau, dựa vào vai mềm
Mới biết hết bao sướng vui
Sưởi ấm tim ta, bằng tình, tình nồng lứa đôi
Có em mới làm anh biết câu yêu người
Biết bao sướng vui, trời đã nối duyên tơ mình
Bàn tay nắm, bàn tay, chân bước thênh thang
Đường tình mặn mà thơm ngát
Người là mơ, đã thực là một người tình đó thôi.
(Hiện nay, trên các trang mạng âm nhạc trong nước còn có một ca khúc khác, cũng mang tựa đề Chỉ Cần Có Anh Trong Đời, và trong số các ca sĩ trình bày cũng có cả Khánh Hà, nhưng không ghi tên tác giả, và nhạc & lời hát hoàn toàn khác với Chỉ Cần Có Anh Trong Đời của Phạm Duy)
Phụ lục (2): Chỉ Cần Có Anh Trong Đời (Phạm Duy), Khánh Hà
Qua năm 1956, The Platters được mời xuất hiện trong cuốn phim ca nhạc đầu tiên của thể loại “rock and roll” có tựa đề Rock Around the Clock, và đã trình bày hai ca khúc Only You và The Great Pretender trong phim này.
Hai năm sau, The Platters đã đạt thêm hai thành tích để đời khác: tháng 4 năm 1958, ca khúc Twilight Time của họ đứng No.1 trong cả bảng xếp hạng thể loại R&B lẫn bảng xếp hạng mọi thể loại, đồng thời đứng No.1 ở Úc, No.3 tại Anh; và tới tháng 10 cùng năm, ca khúc Smoke Gets in Your Eyes do họ thu đĩa đã đứng No.3 trong bảng xếp hạng thể loại R&B, No.1 trong bảng xếp hạng mọi thể loại, và đứng No.1 ở cả Úc lẫn Anh quốc.
Vì ngày ấy, bản Twilight Time không mấy phổ biến tại Việt Nam, trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập tới Smoke Gets in Your Eyes.
The Platters không phải những ca sĩ đầu tiên thu đĩa Smoke Gets in Your Eyes.
Nguyên đây là một nhạc khúc vũ thiết hài trong vở ca nhạc kịch Show Boat (1927) của nhà soạn nhạc Jerome Kern (1885-1945). Tới năm 1933, nhạc khúc này được Otto Harbach (1873-1963) đặt lời hát với tựa Smoke Gets in Your Eyes để sử dụng trong vở ca kịch Roberta.
Jerome Kern (1885-1945) Otto Harbach (1873-1963)
Smoke Gets in Your Eyes
They asked me how I knew
My true love was true
Oh, I of course replied
Something here inside cannot be denied
They said someday you’ll find
All who love are blind
Oh, when your heart’s on fire
You must realize
Smoke gets in your eyes
So I chaffed them and I gaily laughed
To think they could doubt my love
Yet today my love has flown away
I am without my love
Now laughing friends deride
Tears I can not hide
Oh, so I smile and say
When a lovely flame dies
Smoke gets in your eyes
Smoke gets in your eyes
Qua năm 1934, Smoke Gets in Your Eyes được dàn nhạc jazz Paul Whiteman thu đĩa, và đứng No.1 trên bảng xếp hạng nhạc phổ thông. Năm 1935, vở Roberta được hãng phim RKO đưa lên màn bạc với nữ diễn viên kiêm danh ca Irene Dunne (1898-1990), và cặp diễn viên vũ huyền thoại Fred Astaire & Ginger Rogers. Cuốn phim thành công rực rỡ, và lẽ dĩ nhiên, hai cảnh “ăn tiền” nhất trong phim là cảnh Irene hát bản Smoke Gets in Your Eyes, và cảnh Fred Astaire & Ginger Rogers vũ theo nhạc khúc này.
Video:
Irene Dunne – Smoke Gets in Your Eyes – YouTube
Năm 1941, sau khi được nhạc trưởng kiêm nhạc sĩ dương cầm Teddy Wilson soạn hòa âm và thu đĩa, Smoke Gets in Your Eyes trở thành một nhạc khúc rất được giới đàn dương cầm ưa chuộng.
Tới năm 1946, Smoke Gets in Your Eyes được Nat King Cole thu đĩa; thời gian này, Nat King Cole còn đang hát và đàn dương cầm trong các ban nhạc jazz, cho nên đĩa Smoke Gets in Your Eyes của ông cũng không phổ biến cho lắm trong giới nghe nhạc phổ thông.
Năm 1952, vở Roberta được đưa lên màn bạc lần thứ hai, lần này do hãng phim MGM thực hiện, với tựa đề mới là Lovely to Look At (để tránh rắc rối về bản quyền với hãng RKO). Vai chính được trao cho Kathryn Grayson (1922-2010), một nữ diễn viên có giọng opera soprano rất truyền cảm; tuy nhiên, so với cuốn phim thứ nhất (Roberta), Lovely to Look At chỉ thành công tương đối.
Video:
Smoke Gets in Your Eyes Kathryn Grayson – YouTube
Phải đợi tới năm 1958, qua nghệ thuật trình bày của The Platters, Smoke Gets in Your Eyes mới thực sự trở thành một ca khúc phổ thông với số đĩa hát bán ra hàng triệu.
Phụ lục (3): Smoke Gets in Your Eyes, The Platters
Về mức độ phổ biến tại miền nam Việt Nam trước đây, so với những ca khúc ngoại quốc lời Anh cùng thời của Doris Day, Connie Francis, Elvis Presley, Neil Sedaka, Paul Anka, và ngay cả với bản Only You của The Platters trước đó, Smoke Gets in Your Eyes đã không được nhiều người biết tới.
Theo suy nghĩ của chúng tôi, có hai nguyên nhân. Thứ nhất, mặc dù được người Anh người Mỹ liệt vào hàng ca khúc phổ thông (popular song), Smoke Gets in Your Eyes do The Platters thu đĩa vẫn ít nhiều mang âm hưởng nhạc jazz, thể loại tương đối hơi “cao” và mới lạ so với trình độ thưởng thức của đa số thính giả Việt Nam. Thứ hai, vì trình độ Anh ngữ giới hạn, hoặc vì không có cơ hội đọc nguyên văn lời hát, người nghe đã không thấu đáo ý nghĩa của ca khúc vốn được xưng tụng là một trong những ca khúc có lời hát hay nhất từ trước tới nay.
Nhưng với những ai thưởng thức được thể loại nhạc jazz thì chỉ cần nghe qua giai điệu của Smoke Gets in Your Eyes sẽ ưa thích ngay, và nếu hiểu được cả lời hát, càng cảm thấy thú vị hơn.
Phụ lục (4): Smoke Gets in Your Eyes, Nana Mouskouri
Smoke Gets in Your Eyes được nhạc sĩ Lữ Liên, thân phụ của các ca sĩ Tuấn Ngọc, Khánh Hà… đặt lời Việt với tựa Khói Thuốc Làm Lệ Rơi.
Khói Thuốc Làm Lệ Rơi
Ta tuy chớm yêu lầm lỗi
Bởi trách nhau hờn dỗi
Khiến cho tình chia phôi
Vắng nhau về chung lối
Bóng anh đã xa vời
Xưa tình đến như một sớm
Mình bỗng nhiên mù quáng
Trái tim lửa tình yêu
Nhớ nhung hồn khô héo
Khói thuốc làm lệ rơi
Tình nồng thắm, tình yêu ta thầm mê đắm
Vững tin người mình yêu trăm năm
Rồi một sớm tả tơi nghe hồn tan vỡ
Xót xa tình vỗ cánh bay
Bỗng ngày chợt mắt vương niềm đau
Bạn thấy ta vội dấu
Giữa khi đời còn tươi
Nhớ thương lòng còn vương vấn
Khói thuốc làm lệ rơi
Phụ lục (5): Khói thuốc làm lệ rơi (Lữ Liên), Khánh Hà
Sau hết, chúng tôi xin có đôi lời bàn “trà dư tửu hậu” về bản lời Anh nguyên tác và bản lời Việt của Lữ Liên. Xin nhấn mạnh: “bàn” chứ không “bình”!
Cho dù bản thân chỉ là người nghe nhạc chứ không viết nhạc, chúng tôi cũng có thể nhận ra một điều: đặt lời Việt cho một ca khúc, nhạc khúc ngoại quốc, nhất là của Âu Mỹ, khó hơn đặt lời cho một bản nhạc Việt; và giữa việc đặt lời Việt cho một ca khúc ngoại quốc và một nhạc khúc ngoại quốc, thì đặt lời cho một ca khúc khó hơn.
Khó, bởi vì muốn đặt lời Việt cho đạt, trước hết phải có trình độ ngoại ngữ tương đối để hiểu được nội dung ca khúc ngoại quốc ấy. Nhưng chỉ hiểu mà thôi thì chưa đủ, cần phải có sự rung cảm, và sau cùng, phải có khả năng đặt lời Việt sao cho không chỉ xuôi tai mà còn chuyển đạt được tâm tình của tác giả ca khúc nguyên thủy.
Thành công điển hình là các bản Về mái nhà xưa (Come Back to Sorrento), Giàn thiên lý đã xa (Chèvrefeuilles que tu es loin) của Phạm Duy, Lá mùa thu (Les Feuilles Mortes) của Nguyễn Đình Toàn, Dòng sông tuổi nhỏ (La Maritza) của Vũ Xuân Hùng, Donna (Donna) của Trần Tiến, v.v…
Tuy nhiên về sau này, không phải tất cả mọi ca khúc “nhạc ngoại quốc lời Việt” đều được đặt lời theo nguyên tắc nói trên, mà có những bản được đặt lời Việt với nội dung hoàn toàn khác hẳn, chẳng hạn bản Trưng Vương khung cửa mùa thu (Tell Laura I Love Her) của Nam Lộc, có những bản chỉ lấy một vài ý trong ca khúc nguyên thủy, mà thí dụ điển hình chính là bản Khói Thuốc Làm Lệ Rơi (Smoke Gets in Your Eyes) của Lữ Liên.
Thú thật, ngày ấy bản thân chúng tôi chỉ nghe thoáng qua chứ chưa có dịp đọc tận mắt lời hát nguyên thủy bằng tiếng Anh, nên khi nghe Khánh Hà hát:
…Bỗng ngày chợt mắt vương niềm đau
Bạn thấy ta vội dấu
Giữa khi đời còn tươi
Nhớ thương lòng còn vương vấn
Khói thuốc làm lệ rơi
thì cho rằng cô gái khóc vì bị tình phụ, nhưng khi được bạn hỏi đã trả lời “Khói thuốc làm lệ rơi”!
Tới khi được đọc nguyên văn lời hát tiếng Anh, mới biết cô gái không cay mắt vì khói thuốc mà vì khói …từ trong tim:
Trước đây, khi được bạn bè cảnh giác “tất cả những ai đang yêu đều mù quáng, bởi khi lửa tình cháy trong tim, bạn phải biết, khói bốc lên làm mờ đôi mắt” (All who love are blind – Oh, when your heart’s on fire – You must realize – Smoke gets in your eyes), cô chỉ cười.
Nay tình bỏ ra đi, bị bạn bè chế nhạo vì những giọt nước mắt đọng trên mi, cô mỉm cười đáp lại “khi một ngọn lửa tình đẹp vụt tắt, khói bay lên đôi mắt (When a lovely flame dies – Smoke gets in your eyes) làm lệ rơi.
Theo cảm quan của riêng chúng tôi, phân nửa cái hay của lời hát nằm trong hai câu cuối ấy: khi một cuộc tình đẹp tan vỡ, người ta tiếc nhớ, nhưng không bao giờ ân hận.
Phụ lục (6): Smoke Gets in Your Eyes (Piano), Richard Clayderman
Phụ lục (7): Smoke Gets in Your Eyes (Guitar)
Hoài Nam
Comment
NHỮNG CA KHÚC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT(26)-TELL LAURA I LOVE HER (Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu) – Barry & Raleigh
Tiếp tục giới thiệu những ca khúc ngoại quốc phổ thông nổi tiếng được đặt lời Việt, kỳ này chúng tôi viết về bản Tell Laura I Love Her, trước năm 1975 được Nam Lộc đặt lời Việt với tựa Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu.
Tell Laura I Love Her và Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu không chỉ có nội dung khác hẳn nhau mà còn mang lại cho người nghe những cảm xúc hoàn toàn trái ngược: một bi thương sầu thảm, một bâng khuâng thơ mộng.
Nội dung của Tell Laura I Love Her, một sáng tác của hai nhà viết ca khúc Jeff Barry và Ben Raleigh, là một thảm kịch tuổi “teen” thời đại:
Laura và Tommy là đôi tình nhân trẻ. Tuy còn rất trẻ, nhưng Tommy đã mong muốn xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Để có tiền mua cho Laura cái nhẫn cưới, Tommy quyết định tham gia cuộc đua xe hơi với giải thưởng 1.000 đô-la. Trước khi tới trường đua, Tommy điện thoại cho Laura nhưng không gặp, đành nhờ bà mẹ của nàng nhắn lại: Tell Laura I Love Her!…
Trong cuộc đua, xe của Tommy bị lật và bốc cháy; khi nhân viên cấp cứu tới nơi, họ chỉ kịp nghe được câu nói cuối cùng của Tommy trước khi tắt thở: Tell Laura I Love Her!…
Rồi một mình trong giáo đường thanh vắng, cầu nguyện cho linh hồn người yêu, Laura vẫn có thể nghe văng vẳng tiếng Tommy: Tell Laura I Love Her!
Tell Laura I love her
Laura and Tommy were lovers
He wanted to give her everything
Flowers, presents,
But most of all, a wedding ring
He saw a sign for a stock car race
A thousand dollar prize it read
He couldn’t get Laura on the phone
So to her mother, Tommy said
Tell Laura I love her
Tell Laura I need her
Tell Laura I may be late
I’ve something to do, that cannot wait
He drove his car to the racing grounds
He was the youngest driver there
The crowed roared as they started the race
Around the track they drove at a deadly pace
No one knows what happened that day
Or how his car overturned in flames
But as they pulled him from the twisted wreck
With his dying breath, they heard him say
Tell Laura I love her
Tell Laura I need her
Tell Laura not to cry
My love for her will never die
Now in the chapel where Laura prays
For her poor Tommy, who passed away
It was just for Laura he lived and died
Alone in the chapel she can hear him cry
Tell Laura I love her
Tell Laura I need her
Tell Laura not to cry
My love for her will never die
Tell Laura I love her
Tell Laura I need her
Tell Laura not to cry
My love for her will never die.
Tell Laura I Love Her được nam ca sĩ Ray Peterson thu đĩa, hãng RCA Victor phát hành vào tháng 7 năm 1960, mặc dù bị nhiều đài phát thanh tẩy chay vì tính cách bi thảm của nội dung, tới tháng 8, ca khúc này đã lên tới hạng 7 trên bảng xếp hạng toàn quốc cho mọi thể loại (Billboard Hot 100).
Phụ lục (1): Tell Laura I love her, Ray Peterson
Trước thành công của Tell Laura I Love Her tại Hoa Kỳ, hãng đĩa Decca của Anh lập tức thương lượng với hãng RCA Victor để được độc quyền phát hành tại Anh quốc. Chỉ tới khi đợt đĩa nhựa thứ nhất gồm 25.000 ấn bản đã được thực hiện, hãng Decca mới nhận ra điều mà họ gọi là “tính cách quá sức tầm thường và vô vị đối với cảm quan của người Anh” trong lời hát; và quyết định tiêu hủy toàn bộ số đĩa hát nói trên!
Nhưng “cương luân nghề nghiệp” (tạm gọi như thế) của những người đứng đầu hãng đĩa Decca lại trở thành dịp may hiếm có cho hãng đĩa EMI (cũng của Anh): EMI liền mua ngay tác quyền Tell Laura I Love Her, trao cho ca sĩ Anh Ricky Valance thu đĩa, và tung ra thị trường vào tháng 9 năm 1960. Kết quả: Tell Laura I Love Her đã đứng nhất trên bảng xếp hạng ở Anh quốc trong ba tuần lễ liên tiếp, nhưng lại bị hệ thống truyền thanh BBC liệt vào danh sách những ca khúc bị cấm.
Nguyên nhân BBC cấm Tell Laura I Love Her ra vẻ thực tế hơn nguyên nhân của hãng Decca khi cho tiêu hủy 25.000 đĩa nhựa: ca khúc này sẽ khích động giới trẻ lái xe bạt mạng hơn, trong khi số tai nạn lưu thông gây tử vong nơi giới này hiện đã gia tăng tới mức báo động!
[Truyền thông Anh Mỹ liệt Tell Laura I Love Her vào loại “teen tragedy songs”, hoặc “death rock ballads”, rất thịnh hành trong khoảng thời gian từ giữa thập niên 1950 tới đầu thập niên 1960; những ca khúc có tác dụng phủ hào quang lên những cái chết trẻ, nhất là chết vì lái xe bạt mạng, mà nổi tiếng nhất là cái chết vào tuổi 24 của thần tượng điện ảnh James Dean (1931-1955), khi anh lái chiếc xe thể thao Porsche 550 Spyder trên đường tới Salinas, Califorinia để tham dự một cuộc đua.
Các “teen tragedy songs”, “death rock ballads” nổi tiếng nhất vào khoảng thời gian này, ngoài Tell Laura I Love Her còn có Endless Sleep (1958), Teen Angel (1959), Last Kiss (1962), Laurie (Strange Things Happen, 1964)…, tất cả đều có lời hát viết về những cái chết trẻ. Tại Hoa Kỳ, cho dù không có lệnh cấm chính thức như ở Anh quốc, đa số các đài phát thanh ở miền Đông (East Coast) vốn có tiếng bảo thủ, nề nếp hơn miền Tây, đã từ chối phát những ca khúc này trên làn sóng điện]
* * *
Tuy nhiên, lệnh cấm của BBC ra vẻ đã không ảnh hưởng gì tới thành công của bản Tell Laura I Love Her do Ricky Valance thu đĩa. Ngoài thứ hạng No.1 ở Anh với trên một triệu đĩa được bán ra trong năm 1960, đĩa hát này còn đứng trong Top 10 tại 13 quốc gia khác, và bán được tổng cộng 7 triệu đĩa – một con số kỷ lục vào thời đó.
Ricky Valance, nguyên là một cựu quân nhân trong Không lực Hoàng gia Anh mới ký hợp đồng với hãng đĩa Decca được mấy tháng, bỗng một sớm một chiều nổi tiếng quốc tế, trở thành ca sĩ gốc xứ Wales (Welsh) thứ hai có đĩa hát lên No.1. Người trước đó là (Dame) Shirley Bassey, sau này được khán giả của loạt phim điệp viên 007 James Bond biết tới qua các ca khúc trong phim, như Goldfinger (1964), Diamonds Are Forever (1971), Moonraker (1979)…
Phụ lục (2): Tell Laura I Love Her, Ricky Valance
VIẾT THÊM: Cho tới nay, ít ra cũng là trên Internet, vẫn còn rất nhiều người Mỹ lầm tưởng Ricky Valance chính là nam ca nhạc sĩ Ritchie Valens của Mỹ, và có đến hơn ba phần tư trang mạng khi nhắc tới ca khúc Tell Laura I Love Her đã viết là do Ritchie Valens thu đĩa!
Ritchie Valens tên thật là Richard Steven Valenzuela, sinh năm 1941 (kém Ricky Valance hai tuổi), là ca nhạc sĩ (guitar) và nhà viết ca khúc gốc Mỹ la-tinh đầu tiên của nền nhạc rock and roll, tử nạn phi cơ vào tuổi 18. Trong sự nghiệp kéo dài chưa đầy tám tháng, Ritchie Valens đã để lại hai ca khúc nổi tiếng là Donna, viết cho cô bạn gái Donna (không phải bản Donna Donna của Joan Baez đã nhắc tới trong loạt bài này) và La Bamba (The Dance), cải biến từ một ca khúc dân gian Mễ-tây-cơ.
Ngày 3 tháng 2 năm 1959, chiếc phi cơ nhỏ trên đó có Ritchie Valens và hai nhạc sĩ bạn Buddy Holly, J.P. Richardson đã đâm vào núi ở tiểu bang Iowa, cả ba người và viên phi công tử nạn. Năm 1972, trong ca khúc American Pie (đứng No.1 nhiều tuần lễ) sáng tác để tưởng niệm ba đàn anh vắn số, ca nhạc sĩ Don McLean đã gọi ngày này “The Day the Music Died”. Năm 1987, cuốn phim La Bamba, nói về cuộc đời và sự nghiệp ngắn ngủi của Ritchie Valens, do nam diễn viên Lou Diamond Phillips thủ vai chính, đã được đón nhận nồng nhiệt và đoạt nhiều giải thưởng quan trọng.
Video:
Ritchie Valens – La Bamba – YouTube
Trở lại với ca khúc Tell Laura I Love Her do Ray Peterson và Ricky Valance thu đĩa, sau đó đã được nhiều ca sĩ thời danh của Mỹ thu đĩa, trong đó có Paul Anka, Ricky Nelson, Johnny T. Angel…
Về các phiên bản ngoại quốc, có tiếng Đức (Das Ende Der Liebe), tiếng Ý (Ditte a Laura che l’amo), tiếng Tây-ban-nha (La Historia de Tommy), còn tiếng Pháp thì có hai bản, một của Richard Anthony với tựa Dis à Laura, một của Frank Michael với tựa Dis-lui que je l’aime.
Richard Anthony, sinh năm 1938, là ca sĩ Pháp nổi tiếng với những ca khúc ngoại quốc do ông đặt lời Pháp. Đầu thập niên 1960, Richard Anthony đã làm say mê hàng triệu người yêu nhạc Pháp với bản J’entends Siffler Le Train nguyên là ca khúc 500 Miles của Mỹ (chúng tôi sẽ trở lại với 500 Miles trong một bài sau). Dis à Laura (Tell Laura I Love Her) được ông thu đĩa năm 1961.
Dis à Laura
Viens, mon ami le geôlier
A toi, je vais tout raconter
Demain très tôt, au petit jour
J’aurai mon tour, j’aurai mon tour
Et je dirai adieu à la vie
Pour lui payer bien des folies
Si par hasard tu la vois
Va saluer Laura pour moi
Dis-lui que je l’aime
D’un amour trop grand pour son coeur
Et que je pars sans un pleur
Dis-lui tout cela, dis-le-lui pour moi
Laura bravait le monde entier
Pour ses désirs d’enfant gâtée
Ses yeux, son corps au long des jours
Chantaient l’amour, chantaient l’amour
Je l’ai tenue dans mes bras, serrée
Pour la garder j’ai tout renié
Et quand Laura m’a trahi
Notre roman s’est mal fini
Dis-lui que je l’aime
D’un amour plus fort que la mort
Et pour chasser ses remords
Dis-lui tout cela
Dis-le-lui pour moi
Pour moi, Laura était trop jolie
Un soir, j’ai tué par jalousie
Et je pourrais, sans regret
Pour un baiser, recommencer
Dis-lui que je l’aime
Qu’il lui faut oublier mon nom
Et m’accorder son pardon
Dis-lui tout cela, dis-le-lui pour moi
Video:
Richard Anthony – Dis à Laura – YouTube
Bản Dites-lui que je l’aime của Frank Michael (sinh năm 1953) thu đĩa hai thập niên sau đó không có lời hát bi lụy mà nói về một cuộc ra đi… có hẹn ngày về. Có lẽ vì thế, các cô nữ sinh Trưng Vương (chúng tôi đoán như thế) đã sử dụng lời hát của bản này để đưa lên YouTube (từ khóa: Dites-lui Que Je L’aime – Frank Michael – Trung Vuong Khung Cua Mua Thu – YouTube)
Dites-lui que je l’aime
L’amour parfois se flétrit et s’endort
Mais de ces cendres peut renaitre encore
Un bonheur oublie, qu’il tenait tant à lui donner
Sur sa guitare il a composé
Une chanson son il lui disait
Son espoir de la retrouver
Et cette histoire à tous il l’a chantée
Dites-lui que je l’aime
Mais que je dois partir
Un jour je reviendrai
Et ce jour je pourrai encore l’aimer
Depuis ce jour la chance lui sourit
De part le monde chacun l’applaudit
Mais dans sa vie plus rien ne comptait
Car c’est toujours à elle qu’il pensait
Roulant trop vite vers elle dans la nuit
Dans un tournant le destin le surprit
Et quand à l’aube on le retrouva
Jusqu’au dernier mot à tous il murmura
Dites-lui que je l’aime
Cachez-lui que je souffre
Un jour je reviendrai
Et ce jour je pourrai encore l’aimer
Aujourd’hui elle est seule
Mais elle ne peut l’oublier
Car sa voix est toujours là
Et par ce disque toujours il lui dira
Dites-lui que je l’aime
Mais que je dois partir
Un jour je reviendrai
Et ce jour je pourrai
Encore l’aimer
Dites-lui que je l’aime…
Video:
Frank Michael – Dites-lui que je l’aime – La vidéo – YouTube
Về mức độ phổ biến của bản Tell Laura I Love Her tại Á Đông, chúng tôi còn nhớ trong một tài liệu đọc được ở đâu đó, tác giả (không phải người Việt) đã viết đại khái: tại Á châu, Tell Laura I Love Her chỉ được đặt lời hát bằng ba ngôn ngữ: tiếng Nhật, tiếng Hoa, và tiếng Việt. Nếu quả đúng như thế, người Việt cũng nên hãnh diện về trình độ thưởng thức nhạc ngoại quốc của mình.
Tell Laura I Love Her tiếng Nhật, chúng tôi không biết tựa đề và nội dung, chỉ biết được nam ca sĩ kiêm diễn viên điện ảnh Takeshi Kaneshiro trình bày; còn bản lời Hoa (tiếng phổ thông), chúng tôi cũng không biết tựa đề lẫn nội dung; trước năm 1975, ca khúc này đã được trình bày qua giọng hát trầm ấm của đệ nhất danh ca Tân-gia-ba Fu Su Yin (tên tiếng Anh là Henri Fu).
Tới thời disco, Tell Laura I Love Her lời Hoa được nữ diễn viên kiêm ca sĩ Mimi Chu (tức Chu Mi Mi, phiên âm Hán Việt: Chu Mễ Mễ) của Hương Cảng thu đĩa năm 1980, trở thành bản disco thịnh hành bậc nhất ở những xứ nói tiếng Hoa.
Hơn 10 năm sau, tới lượt nam ca sĩ kiêm diễn viên Jincheng Wu (Kim Thành Vũ) hát bằng cả tiếng Hoa lẫn tiếng Anh. Điều thú vị là Jincheng Wu ở đây chính là nam diễn viên kiêm ca sĩ Nhật Takeshi Kaneshiro đã nhắc tới ở trên.
Takeshi Kaneshiro là một tên tuổi lớn của điện ảnh Á Châu, vào năm 2003 đã được tạp chí Time của Mỹ gọi là “Johnny Depp của Á châu”.
Ra chào đời tại Đài-bắc năm 1972, cha là người đảo Okinawa (thuộc Nhật Bản), mẹ là người Đài-loan, Takeshi Kaneshiro mang hai quốc tịch, dưới hai tên Jincheng Wu và Takeshi Kaneshiro. Sau bậc trung học, Takeshi Kaneshiro vừa theo học trường Taipei American School với mục đích trau dồi Anh ngữ, vừa bắt đầu đóng những màn quảng cáo có ca hát trên truyền hình, và tới năm 1992 được hãng đĩa EMI ký hợp đồng. Năm 1993, Takeshi Kaneshiro bắt đầu đóng phim, và đạt thành công lớn ở cả Đài-loan, Nhật Bản, Hương Cảng lẫn Hoa Lục.
Hai cuốn phim nổi tiếng trong thời gian gần đây của Takeshi Kaneshiro là House of Flying Daggers (Thập Diện Mai Phục) năm 2004 của đạo diễn Zhang Zimou (Trương Nghệ Mưu), đóng chung với Andy Lau (Lưu Đức Hòa) và Zhang Ziyi (Chương Tử Di), và bộ phim Red Cliff (Đại Chiến Xích Bích) năm 2008 của đạo diễn John Wu (Ngô Vũ Sâm), trong đó Takeshi Kaneshiro thủ vai quân sư Gia Cát Lượng của nhà Thục Hán, còn Tony Leung (Lương Triều Vĩ) thủ vai Đô đốc Chu Du của Đông Ngô.
Video:
SU YIN “Tell Laura I Love Her ” 196X YouTube
Chu Mimi Tell Laura I Love Her 1980 – YouTube
Tell Laura I Love Her ” 1994 Takeshi Kaneshiro – YouTube
Tại miền nam Việt Nam trước đây, so với những ca khúc phổ thông khác của Mỹ được phổ biến vào đầu thập niên 1960, như Diana, You Are My Destiny của Paul Anka, Oh! Carol, You Means Everything to Me của Neil Sedaka, It’s Now or Never của Elvis Presley…, Tell Laura I Love Her không mấy thịnh hành; nguyên nhân có thể vì trình độ tiếng Anh giới hạn của người nghe, có thể vì lời hát kém phần thơ mộng, cũng có thể vì giai điệu không có sức thu hút bằng những ca khúc kể trên. Vì thế, vào khoảng năm 1973, khi nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt với tựa đề “Trưng Vương Khu Cửa Mùa Thu”, đã không mấy người biết đây là một ca khúc ngoại quốc được đặt lời Việt.
Nhà báo Trường Kỳ kể lại:
…Điểm đặc biệt trong cách viết lời Việt của Nam Lộc là nghệ thuật dùng chữ khéo léo khiến người nghe quên hẳn nguồn gốc ngoại quốc của nhạc phẩm đã được hoàn toàn Việt Hoá như chủ trương của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ. Điển hình là nhạc phẩm “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”.
Nếu ai không am hiểu và theo dõi nhạc ngoại quốc sẽ cho rằng đó là một nhạc phẩm thuần túy Việt Nam. Thật ra đó là nhạc phẩm “Tell Laura I Love Her” với giai điệu rất phù hợp và ăn ý với lời ca bằng tiếng Việt, hoàn toàn khác biệt với nội dung. “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” được Nam Lộc coi là nhạc phẩm ưng ý nhất của anh suốt thời gian hoạt động trong phong trào nhạc trẻ lúc còn ở Việt Nam.
Về trường hợp viết lời “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, Nam Lộc cho biết đã lấy ý từ tên một đặc san do các nữ sinh Trưng Vương thực hiện vào đầu thập niên 70. Tính chất lãng mạn và mềm mại của tên đặc san đã khơi dậy tâm hồn nghệ sĩ nơi anh, một cựu học sinh Chu Văn An, với những mối tình thơ mộng cùng những hẹn hò của tuổi học trò.
(Trích “NAM LỘC: Con người văn nghệ và con người xã hội” – Tivi Tuần-san)
Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Trường Kỳ, và trong phạm vi bài này chỉ nêu thêm một chi tiết thú vị: ở Sài Gòn, thành phố của các tà áo trắng “Trưng Vương – Khung Cửa Mùa Thu” không hề có… mùa thu!
Viết ra điều này, chúng tôi không chủ ý bài bác, mà ngược lại, chỉ muốn đề cao trí tưởng phong phú của các cô nữ sinh Trưng Vương nói riêng, các thi, văn, nhạc sĩ viết về mùa thu ở một nơi chốn chỉ có mưa nắng hai mùa nói chung.
* * *
Theo các nhà khí hậu học, lãnh thổ Việt Nam được chia ra làm hai vùng khí hậu chính:
- Miền khí hậu phía Bắc: bao gồm lãnh thổ phía bắc dãy Hoành Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) và Bắc Bộ, có khí hậu “cận nhiệt đới” với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt.
- Miền khí hậu phía Nam: gồm lãnh thổ Trung Bộ từ phía Nam dãy Hoành Sơn và Nam Bộ, có khí hậu nhiệt đới với hai mùa: mùa khô và mùa mưa.
Suy ra, Nhìn những mùa thu đi, Chiếc lá thu phai, Gọi tên bốn mùa của Trịnh Công Sơn, Mùa thu mây ngàn của Từ Công Phụng, Mùa thu cho em của Ngô Thụy Miên, Mùa thu trong mưa của Trường Sa, v.v…, đều là những mùa thu đến trong trí tưởng; riêng mùa thu trong bản Thu Ca của Phạm Mạnh Cương có thể gọi là một mùa thu hồi tưởng (những ngày ông ra Hà Nội dạy học).
Còn nhớ năm 1993, Trịnh Công Sơn ra Hà Nội thăm Văn Cao; trong bút ký của mình, họ Trịnh đã so sánh cái ảm đạm của mùa thu Hà Nội với nỗi cô đơn của Văn Cao một mình ngồi uống rượu suốt mấy chục năm trường.
Mùa thu của Hà Hội buồn lắm. Đó là thu trong Buồn tàn thu, Thu cô liêu của Văn Cao, Giọt mưa thu, Đêm thu, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong…
Còn những mùa thu trong Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Chuyển bến, Lá đổ muôn chiều, Tà áo xanh… của Đoàn Chuẩn, có lẽ đã được “công tử thành phố Cảng” thi vị hóa, hoặc thu trong Thu Vàng của Cung Tiến đã được cậu học trò 15 tuổi (vào năm 1953) ấy tô điểm thêm.
* * *
Trở lại với “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, trong số các trường nữ trung học của Hòn ngọc Viễn đông năm xưa, Trưng Vương nằm ở một vị trí yên tĩnh nhất, thơ mộng nhất, ngay cạnh thảo cầm viên Sài Gòn đầy hoa bướm, trên con đường rợp bóng me xanh…
Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trường Sa chỉ cần trí tưởng mà sáng tác được những ca khúc để đời về mùa thu, thì cô (hoặc các cô) nữ sinh Trưng Vương áo trắng nào đó, dù “tim chưa nghe qua rung một lần”, cũng chỉ cần một thoáng mơ mộng, nhìn qua khung cửa, bỗng thấy mùa thu.
Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu
Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh
Như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh
Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày
Những ngày đợi chờ
Trong nắng vu vơ
Trong mắt ngây thơ
Nhớ khói xưa lạc vấn vương
Cho hơi ấm lên môi người
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường
Làm mây yêu thương
Vương trong hồn em
Người cho em nghe quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
Từng chiều cùng người
Về trong cơn mưa bay
Nghe thương nhớ tràn đầy
Lên đôi mắt thật gầy
Trưng vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời
Công viên năm xưa hoa vẫn rơi tuyệt vời
Bóng người thì mịt mùng
Từng hàng me rung rung
Trong cơn gió lạnh lùng
Trong nắng ngại ngùng
Nắng vẫn vương nhẹ gót chân
Trưng vương vắng xa anh dần
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng
Lá rơi đầy sân.
Dù không thể có con số chính xác, chúng tôi cũng tin rằng trong số những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt của thời kỳ “Việt hóa nhạc trẻ” ở miền nam Việt Nam, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu là bản được nhiều ca sĩ trình bày nhất, được thính giả ưa chuộng nhất.
Trước năm 1975, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu được thu vào băng nhựa lần đầu tiên với tiếng hát thật dễ thương của Thanh Lan.
Phụ lục (3): Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, Thanh Lan
Rất tiếc, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu do Thanh Lan hát chưa kịp phổ biến rộng rãi thì xảy ra biến cố 30 tháng Tư. Mấy năm sau tại hải ngoại, “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” đã trở thành một trong những ca khúc “cầu chứng” của Ngọc Lan.
Ở đây, chúng tôi không làm công việc so sánh các giọng hát, mà chỉ nhấn mạnh tới tính cách phù hợp giữa lời hát đầy bâng khuâng với tiếng hát mong manh buồn của người nữ danh ca vắn số.
Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu qua tiếng hát Ngọc Lan đã trở thành một trong những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt được ưa chuộng nhất tại hải ngoại cũng như ở quê nhà, đặc biệt là giới nữ sinh trong nước, vốn thiếu thốn những ca khúc tình cảm nhẹ nhàng, trong sáng trong bối cảnh xã hội xô bồ yêu cuồng sống vội thời “mở cửa”!
Phụ lục (4): Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, Ngọc Lan
Khoảng 20 năm sau, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu đã được Trần Thu Hà hát với một phong cách mới. Trần Thu Hà là một nữ ca sĩ trong nước có thực tài và lối diễn tả rất đa dạng, dù hát du ca với (chú) Trần Tiến hay hát nhạc jazz theo tiếng đệm dương cầm của Nguyễn Ánh 9, cô luôn thể hiện được tính cách nghệ thuật và phong cách riêng của mình. Hiện nay, số người nghe Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu của Trần Thu Hà trên các trang mạng trong nước đã nhiều hơn gấp đôi so với bản của Ngọc Lan. Điều này cũng dễ hiểu, bởi thế hệ trẻ hiện nay lớn lên cùng với tiếng hát Trần Thu Hà chứ không phải tiếng hát Ngọc Lan.
Hơn bốn mươi năm về trước, khi đặt lời Việt cho Tell Laura I Love Her, có lẽ Nam Lộc cũng không thể ngờ Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu sẽ thành công tới mức ấy, và rồi đây chắc hẳn vẫn tiếp tục được giới nữ sinh yêu thích. Cho dù ở khung cửa Trưng Vương, chưa bao giờ, và sẽ chẳng bao giờ có mùa thu!
Phụ lục (5): Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, Trần Thu Hà
Phụ lục (6): Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, Thanh Trúc
Phụ lục (7): Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, Như Quỳnh
HOÀI NAM
Comment
IF YOU GO AWAY (Ne Me Quitte Pas – Người Yêu Nếu Ra đi) – Jacques Brel & Rod McKuen
Tiếp tục giới thiệu những ca khúc được ưa chuộng trong nền nhạc phổ thông quốc tế, kỳ này chúng tôi viết về bản If You Go Away, trước năm 1975, được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Người Yêu Nếu Ra Đi.
If You Go Away được xem là một trong những tình khúc bất hủ của hậu bán thế kỷ thứ 20, và riêng với những người yêu thích nhạc jazz, đây là một ca khúc, nhạc khúc điển hình nhất của nhạc jazz hiện đại (modern jazz), nghĩa là dễ nghe, dễ cảm.
Phụ lục (1): If You Go Away – Giovanni Marradi (piano)
Cho tới nay, If You Go Away đã được hàng trăm danh ca quốc tế thuộc đủ mọi thế hệ thu đĩa, nhưng không phải bất cứ thính giả nào, nhất là giới trẻ, cũng biết If You Go Away nguyên là một ca khúc của Pháp có tựa đề Ne Me Quitte Pas (Xin Đừng Bỏ Anh).
Ne Me Quitte Pas là một giai thoại về một tác giả đầy huyền thoại: nhà viết ca khúc kiêm ca sĩ Pháp gốc Bỉ Jacques Brel.
Trước khi viết về tác phẩm, xin được viết về tác giả.
Jacques Brel (1929-1978) không chỉ là một nhà viết ca khúc kiêm ca sĩ, mà còn là diễn viên kịch nghệ, diễn viên điện ảnh, nhà viết kịch bản sân khấu và kịch bản phim, kiêm đạo diễn tài ba bậc nhất của Pháp. Jacques Brel đã thủ vai chính trong 10 cuốn phim, và đạo diễn hai phim, trong đó có Le Far West, được xướng danh tranh giải Cành Cọ Vàng (Palme d’Or) tại Đại hội Điện ảnh Quốc tế Cannes (Pháp) năm 1973. Bên cạnh đó, do chịu ảnh hưởng của bà mẹ, Jacques Brel còn là một nhà hảo tâm trong lĩnh vực từ thiện, nhân đạo. Tuy nhiên trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ chú trọng với sự nghiệp sáng tác và ca hát của Jacques Brel.
Cũng cần viết thêm, trước năm 1975, giới thưởng ngoạn ở Hòn Ngọc Viễn Đông không biết nhiều về các ca khúc của Jacques Brel là vì với những người đã quen nghe Tino Rossi, Yves Montand, Charles Anavour, những ca khúc này hơi mới lạ, trong khi lại khá “cao” đối với giới trẻ yêu nhạc Pháp tại miền Nam lúc bấy giờ. Đồng thời, cũng vì cách hát “vũ bão” (violent) của Jacques Brel, không phải ai cũng có thể thưởng thức.
Cho tới nay, Jacques Brel vẫn được xem là ca nhạc sĩ lớn nhất xuất thân từ Vương quốc Bỉ, và là một trong những ca sĩ hát tiếng Pháp có số đĩa bán nhiều nhất (25 triệu), và qua mặt cả đệ nhất nữ danh ca Pháp Édith Piaf về số đĩa hát bán ra sau khi đã qua đời – trung bình 200.000 đĩa mỗi năm.
* * *
Jacques Brel, tên đầy đủ là Jacques Romain Georges Brel, ra chào đời tại Brussels, thủ đô Vương quốc Bỉ, trong một gia đình Công giáo trung lưu bảo thủ, nói tiếng Pháp (phần lớn người Bỉ nói tiếng Pháp, trừ những người ở vùng Flanders nói tiếng Flemish, vốn là tiếng Hòa-lan được địa phương hóa). Cùng với anh trai, Jacques Brel được cho theo học trường đạo nổi tiếng, nhưng không hiểu vì biếng học hay tư chất kém thông minh, Jacques Brel bị mô tả là một trong học sinh dốt nhất, dốt về rất cả mọi môn, trừ thơ văn và kịch nghệ; cậu là một trong những học sinh đã đứng ra thành lập Saint-Louis College Drama Club.
Năm 15 tuổi, Jacques Brel bắt đầu chơi guitar, và qua năm sau khởi sự sáng tác kịch bản cho nhóm kịch của mình. Nhưng bằng đó thứ cũng không đủ giữ Jacques Brel ở lại ghế nhà trường. Năm 1947, vào tuổi 18, Jacques Brel bỏ học, tới làm việc tại xưởng sản xuất thùng các-tông của ông bố – dĩ nhiên là làm việc trong văn phòng.
Để quên đi những nhàm chán trong công việc hàng ngày, Jacques Brel gia nhập La Franche Cordée, một tổ chức nhân đạo của giới trẻ Công giáo. Năm 1949, Jacques Brel trở thành người lãnh đạo La Franche Cordée và đã dựng nhiều vở kịch để tổ chức trình diễn gây quỹ, trong đó có vở Le Petit Prince của Saint Exupéry.
Jacques Brel và Thérèse Michielsen
Thời gian hoạt động trong La Franche Cordée, Jacques Brel gặp gỡ Thérèse Michielsen – thường được gọi một cách thân mật là “Miche”. Tháng 6, 1950, hai người kết hôn, và cuối năm sau, bé gái Chantal ra chào đời.
Qua năm 1952, Jacques Brel bắt đầu sáng tác ca khúc và tự mình trình bày trong các buổi xum họp mang tính cách gia đình, cũng như tại các quán nhạc (cabaret) ở Brussels. Trong khi cả gia đình và hầu hết bạn bè không ai “enjoy” được những ca khúc với lời hát cay đắng và phong cách trình diễn “đau khổ, quằn quại” của Jacques Brel, thì ông Jacques Cannetti, Giám đốc nghệ thuật của hãng đĩa Philips Records, sau khi tình cờ được nghe Jacques Brel trình diễn trong quán nhạc La Rose Noire ở Brussels vào đầu năm 1953, đã ký hợp đồng thu đĩa và mời chàng sang Kinh thành Ánh sáng.
Bấp chấp sự phản đối của gia đình, sau khi Miche sanh cô con gái thứ hai, France, vào tháng 7, tới mùa thu năm ấy, Jacques Brel đưa vợ con sang Paris. Thời gian đầu, Jacques Brel kiếm sống bằng nghề dạy đàn guitar và đàn hát trong các quán nhạc.
Đầu năm 1954, Jacques Brel tham gia cuộc thi viết ca khúc Grand Prix de la Chanson với kết quả thật thảm hại: đứng hạng 27 trong số 28 tác giả dự thi. Nhưng ở đời mấy ai học được chữ ngờ, Juliette Gréco, nữ minh tinh kiêm ca sĩ nổi tiếng bậc nhất của Pháp thời bấy giờ, lại chọn một ca khúc của Jacques Brel, bản Le Diable, đưa vào chương trình trình diễn của mình tại đại hí viện Olympia, và sau đó thu đĩa. Nhờ vậy tên tuổi của Jacques Brel mới được giới thưởng ngoạn biết tới. Tháng 7 năm đó, Jacques Brel được trình diễn tại Olympia, và tới cuối năm, hãng đĩa Philips Records cho phát hành album đầu tay của chàng – Jacques Brel et ses Chansons. Đường danh vọng của chàng ca nhạc sĩ bắt đầu từ đây.
Từ đó cho tới năm 1958, Jacques Brel thu thêm hai album nữa, và liên tục đi lưu diễn trên toàn quốc Pháp, cũng như ở Gia-nã-đại và Nam Phi.
Đầu năm 1962, Jacques Brel bỏ hãng đĩa Philips Records để ký hợp đồng với hãng đĩa Barckay Records, và 10 năm tiếp theo đó là thời gian thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp của Jacques Brel, về sáng tác cũng như ca hát.
Về sáng tác, Jacques Brel được xưng tụng là bậc thầy của ca khúc hiện đại Pháp (master of modern “chanson”), và tuy thường chỉ hát bằng tiếng Pháp và Flemish, ông đã tạo một ảnh hưởng lớn nơi các ca nhạc sĩ ở các xứ nói tiếng Anh, như David Bowie, Marc Almond (Anh quốc), Alex Harvey (Tô-cách-lan), Leonard Cohen (Gia-nã-đại), Rod McKuen (Mỹ)…
Tại Hoa Kỳ, những ca khúc của Jacques Brel được Rod McKuen đặt lời Anh, đã được nhiều ca sĩ hàng đầu thu đĩa, như Ray Charles, Judy Collins, John Denver, ban Kingston Trio, Nina Simone, Frank Sinatra, Andy Williams…
Rod McKuen chính là chàng ca nhạc sĩ tài hoa kiêm thi sĩ đã viết lời Anh If You go Away cho ca khúc Ne Me Quitte Pas của Jacques Brel mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần sau. Một ca khúc khác của Jacques Brel được Rod McKuen đặt lời Anh cũng đã trở nên nổi tiếng quốc tế là bản Le Moribond (Seasons in the Sun), trước năm 1975 đã được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt dưới tựa Những Mùa Nắng Đẹp.
Bên cạnh những sáng tác của riêng mình, Jacques Brel còn “phóng tác” những nhạc khúc cổ điển, những ca khúc truyền thống quốc tế và đặt lời Pháp. Một trong những ca khúc ấy chính là bản Amtersdam, với giai điệu lấy từ ca khúc truyền thống Lady Green Sleeves của Anh quốc mà chúng tôi mới giới thiệu trong một kỳ trước.
Lời hát của Amsterdam được xem như một tuyệt tác của Jacques Brel, gần như một bài thơ với nội dung buồn thảm, tả cảnh những thủy thủ xa nhà lên bờ giải khuây ở hải cảng Amtersdam.
Jacques Brel không bao giờ thu đĩa bản Amtersdam bởi ông cho rằng bốn bức tường của phòng thu âm không đủ tạo cảm hứng cho ông hát, cho nên ông chỉ hát trong các buổi trình diễn sống (live), và lần nào cũng khiến khán giả phải rơi lệ. Lời hát của Amsterdam đã được dịch, hoặc phóng tác qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó có ít nhất hai phiên bản tiếng Anh, một của Rod McKuen, một của David Bowie.
Video:
Amsterdam – Jacques Brel (English Subtitles).avi – YouTube
Thời gian từ đầu năm 1964 tới giữa năm 1966, Jacques Brel liên tục trình diễn ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc và tới tận các đảo Madagascar, Réunion, Mauritius ở Ấn-độ dương. Tuy nhiên tới tháng 8, 1966, cảm thấy sức khỏe không còn cho phép, Jacques Brel quyết định từ giã ánh đèn màu. Nhưng cũng không phải là một việc dễ dàng: theo yêu cầu của người ái mộ, ông đã phải trình diễn “lần cuối cùng” suốt ba tuần liền ở đại hí viện Olympia ở Paris, rồi trở về cố hương trình diễn tại hí viện Palais des Beaux-Arts ở Brussels.
Cuối tháng 11, 1966, Jacques Brel sang Luân-đôn trình diễn tại Royal Albert Hall để từ giã khán giả Anh, và sau cùng, vào đầu tháng 12, trở lại Hoa Kỳ trình diễn tại Carnegie Hall ở Nữu Ước.
Trở về Pháp, mặc dù vẫn tiếp tục sáng tác và thu đĩa, Jacques Brel bắt đầu chú trọng tới bộ môn điện ảnh, và dành nhiều thời gian cho hai thú tiêu khiển: lái máy bay nhỏ và dong thuyền buồm tới các hải đảo xa xôi.
Ngày 9 tháng 10 năm 1978, sau 4 năm bị ung thư phổi, Jacques Brel qua đời tại một bệnh viện ở Paris, hưởng 49 tuổi. Thi hài ông được đưa về an táng trong nghĩa trang Calvary Cemetery trên đảo Hiva Oa thuộc quần đảo Marquesas (Les Marquises), French Polynesia, ở nam Thái Bình Dương, nơi mà ông đã sống những tháng ngày cuối đời bên cạnh người tình trẻ là nữ diễn viên Maddly Bamy.
Cách mộ ông vài bước là mộ của họa sĩ kiêm điêu khắc gia Pháp lừng danh Paul Gaugin (1848-1903), người đã từng chung sống và có con với một phụ nữ địa phương trước khi qua đời tại hòn đảo này vào tuổi 54 – nghe nói là vì “overdose” bạch phiến.
* * *
Jacques Brel và Maddly Bamy
Nhân nhắc tới “người tình trẻ Maddly Bamy”, thiết tưởng cũng nên có đôi hàng về cuộc đời ái tình của Jacques Brel, mà hệ lụy của một trong những mối tình ấy đã khiến ông cảm tác tình khúc bất hủ Ne Me Quitte Pas.
Ngược dòng thời gian, năm 1950, vào tuổi 21, Jacques Brel kết hôn với Miche (Thérèse Michielsen), cô bạn gái trong tổ chức thiện nguyện Công giáo La Franche Cordée, và cuộc hôn nhân ấy, ít nhất cũng là trên giấy tờ, bền cho tới khi ông về bên kia thế giới.
Kể cả khi Jacques Brel đã cặp kè hoặc chung sống với người khác, Miche vẫn là “Bà Jacques Brel”. Năm 1962, khi đứng ra thành lập hãng đĩa của riêng mình – Éditions Musicales Pouchenel – Jacques Brel đã để Miche làm giám đốc. Đầu năm 1973, biết mình không còn sống được bao lâu nữa, Jacques Brel làm di chúc để lại toàn bộ tài sản cho vợ.
Nhưng trong khi trọn “nghĩa” vợ chồng, Jacques Brel lại có lắm “tình” riêng. Jacques Brel không điển trai như Alain Delon, nhưng chàng có sức thu hút đặc biệt, trước ống kính máy quay phim, trên sân khấu ca nhạc cũng như ở đời thường.
Tháng 2, 1958, khi đã nổi tiếng, vì phải đi lưu diễn quanh năm, Jacques Brel quyết định đưa Miche và hai bé gái Chantal, France về Bỉ sống với gia đình. Lúc ấy, Miche đang mang thai, và tới tháng 8 cho ra chào đời cô con gái thứ ba, Isabelle.
Jacques Brel ở lại Paris, chàng mướn một căn phòng nhỏ gần quảng trường Place de Clichy, nơi hiếm họa chàng mới trở về đặt lưng, bởi mỗi khi không phải đi lưu diễn, Jacques Brel thường “đóng đô” tại apartement của cô nhân tình Suzanne Gabriello ở khu nghệ sĩ Montmartre.
Suzanne Gabriello (1932-1992)
Suzanne Gabriello (1932-1992), biệt hiệu “Zizou”, là một nữ diễn viên kiêm ca sĩ Pháp, con gái của nam diễn viên André Gabriello.
Năm 1953, khi Jacques Brel mới chân ướt chân ráo tới Paris, Suzanne Gabriello đã đường đường là một người giới thiệu chương trình (MC) tại đại hí viện Olympia, và qua năm 1954 đã tận tình lăng-xê Jacques Brel khi chàng được xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu hí viện này. Năm 1955, hai người bắt đầu cặp kè thân mật và chia tay nhau năm 1959. (Chúng tôi sẽ trở lại với đoạn kết chuyện tình Jacques – Suzanne ở một phần sau)
Hai năm sau khi chia tay Suzanne Gabriello, Jacques Brel bắt đầu cuộc tình với Sylvie Rivet – cuộc tình mà tác giả Olivier Todd, người viết tiểu sử Jacques Brel, đã gọi là “cuộc hôn nhân thứ hai” (deuxième mariage) mặc dù Jacques Brel và Miche chưa bao giờ ly dị.
Viết một cách chính xác, Jacques Brel đã từng đề nghị ly dị, nhưng Miche dứt khoái từ chối. Miche nói với chồng:
“Người ta yêu nhiều người là chuyện thường. Anh đang sống với Sylvie, được ngày nào biết ngày ấy thôi. Nhưng anh và em, chúng ta là của nhau suốt đời.”
Sylvie Rivet, kém Jacques Brel ba tuổi, nguyên là đại diện báo chí của hãng đĩa Philips Records, xinh đẹp, đằm thắm, tóc nâu, mắt xanh ve (green). Từ năm 1961 tới năm 1970, hai người sống với nhau trong một biệt thự thơ mộng ở Roquebrune Cap-Martin nhìn ra sóng nước Địa Trung Hải. Chính trong thời gian này, Jacques Brel đã sáng tác nhiều ca khúc để đời của mình, như Amsterdam, Mathilde, Jacky, Les Bonbons, v.v…
Sylvie Rivet sống suốt đời không chồng không con, qua đời năm 2002.
Sau khi Sylvie Rivet chia tay Jacques Brel vào năm 1970, bóng hồng thay thế không phải ai xa lạ mà chính là Marianne, một người bạn của Sylvie Rivet. Marianne (các tài liệu không ghi họ của bà) là một phụ nữ yêu chuộng thể thao, tự do và tự lập, sống với con trai nhỏ ở một vùng ngoại ô xa Paris, cho nên hai người rất ít khi gặp gỡ. Nhưng chính vì ít nên càng sôi nổi!
Qua năm 1972, trong thời gian thủ một vai chính trong cuốn phim “hài kịch anh chị” L’aventure c’est l’aventure, Jacques Brel gặp gỡ nữ vũ công kiêm diễn viên trẻ Maddly Bamy, kém chàng 14 tuổi.
Maddly Bamy ra chào đời tại đảo Guadeloupe (thuộc Pháp) ở vùng biển Caribbean, mang hai dòng máu Pháp – Phi châu. Cùng gia đình sang Paris từ lúc 10 tuổi, Maddly Bamy bắt đầu xuất hiện trên màn bạc và màn ảnh truyền hình từ năm 20 tuổi, đồng thời trở thành một vũ công trong ban vũ Les Claudettes của Claude Francois (người đã đặt lời cho bản Donna Donna)
[Les Claudettes được ghi nhận là ban vũ phụ diễn “hiện đại” đầu tiên của Pháp, với trang phục tươi mát, vũ điệu sống động, để tạo thêm sức thu hút cho ca sĩ chính]
Vai trò nổi tiếng nhất của Maddly Bamy trên màn bạc là vai Madly trong cuốn phim có cùng tựa sản xuất năm 1969, bên cạnh hai tên tuổi lớn của điện ảnh Pháp là Alain Delon và Mireille Darc.
Thế là cùng một lúc (năm 1972-1973), Jacques Brel có tới ba người đàn bà: một người vợ không chung sống và hai người tình part-time!
Đầu năm 1973, cảm thấy mình đã quá yếu, Jacques Brel làm di chúc để lại toàn bộ tài sản cho vợ, rồi thu đĩa hát cuối cùng (L’enfance - Tuổi ấu thơ) để lấy tiền tặng cho quỹ trẻ em tàn tật, đồng thời đóng cuốn phim chót trong số 10 cuốn phim của ông. Mùa hè năm ấy, cùng với ba cô con gái và năm người bạn thân, Jacques Brel tham gia chuyến thực tập hải hành kéo dài 2 tháng ở Đại Tây Dương trên tàu huấn luyện Le Korrig.
Trở về, Jacques Brel mua chiếc Askoy II, một thuyền buồm dài 19 mét, trọng tải 42 tấn, và rủ Marianne theo mình trong chuyến vòng quanh thế giới dự trù kéo dài 3 năm. Nhưng giữa người tình và đứa con trai nhỏ, Marianne đã quyết định chọn con. Jacques Brel bèn rủ Maddly Bamy, và cô đã từ bỏ tất cả để theo ông.
Tháng 7, 1974, Jacques Brel, cô con gái thứ hai (France) và Maddly Bamy cùng rời bến.
Tới tháng 10, trong thời gian cập đảo Canary Islands, ngoài khơi Morocco, khi đi khám bác sĩ, Jacques Brel được cho biết ông bị ung thư ở lá phổi bên trái. Tháng 11, Jacques Brel được đưa khẩn cấp về Brussels để giải phẫu ung thư; tại đây các bác sĩ cho biết ung thư của ông đã lan rộng. Biết mình giờ của mình sắp điểm, Jacques Brel ra một thông báo xin được chết trong an bình, và chết trong cô đơn.
Nhưng Maddly Bamy đã quyết định ở lại bên ông cho tới giờ phút cuối.
Trở lại trên chiếc Askoy II, Jacques Brel vượt Đại Tây Dương, dong buồm quanh vùng đảo West Indies cho tới tháng 7, 1975, rồi băng qua kinh đào Panama, sang Thái Bình Dương.
Sau 2 tháng du hành qua các vùng đảo thơ mộng, tới tháng 11 năm đó, Jacques Brel và Maddly Bamy quyết định thả neo, sống trên chiếc Askoy II ngoài khơi đảo Hiva Oa, quần đảo Marquesas, thuộc French Polynesia ở nam Thái Bình Dương.
Tháng 6 năm 1976, Jacques Brel quyết định bán chiếc thuyền buồm rồi cùng Maddly Bamy mướn một căn nhà nhỏ ở thị trấn biển Atuona, trên đảo Hiva Oa. Qua tháng 7, Jacques Brel tái đăng ký bằng lái máy bay của mình rồi mua một chiếc phi cơ nhỏ 2 động cơ, đặt tên là Jojo (biệt hiệu của một người bạn đã khuất).
Ngoài những chuyến bay tới đảo Tahiti cùng với Maddly Bamy, chiếc Jojo còn được Jacques Brel sử dụng trong việc tiếp tế thuốc men, thực phẩm cho thổ dân ở những đảo nhỏ trong vùng.
Năm 1977, Jacques Brel cùng Maddly Bamy âm thầm trở về Paris để thu đĩa những ca khúc ông viết ở đảo Hiva Oa thành một album lấy tựa Les Marquises. Tuy âm thầm, nhưng do truyền miệng, hàng triệu người ái mộ cũng biết và đặt mua trước. Ngày 17, tháng 11, 1977, khi album Les Marquises được tưng bừng phát hành trên toàn quốc Pháp, Jacques Brel và Maddly Bamy đã ngồi trên phi cơ, lặng lẽ bay về đảo Hiva Oa.
Tới giữa năm 1978, tình hình sức khỏe của Jacques Brel trở nên tồi tệ. Ông được đưa về Pháp, nhưng với ung thư đã ở vào thời kỳ cuối, các bác sĩ bó tay. Sau gần bốn tháng an dưỡng tại miền Nam nước Pháp, Jacques Brel được đưa về Paris và trút hơi thở cuối cùng trong bệnh viện ngày 9 tháng 10, 1978.
Như đã viết ở phần đầu, thi hài ông được đưa về an táng trong nghĩa trang Calvary Cemetery trên đảo Hiva Oa. Có điều hơi khác thường nhưng không khiến ai ngạc nhiên, là trên bia mộ bằng đá tạc chân dung Jacques Brel, người ta đã không quên tạc cả chân dung Maddly Bamy đang âu yếm tựa cằm lên vai ông.
Từ đó, mộ phần của Jacques Brel, cùng với mộ phần của họa sĩ kiêm điêu khắc gia Paul Gaugin, đã trở thành nơi hành hương của người ái mộ. Căn nhà ven biển nơi Jacques Brel và Maddly Bamy đã sống, cùng với chiếc phi cơ Jojo được trưng bày phía trước, đã trở thành di sản được bảo vệ.
Sau khi Jacques Brel qua đời, quan hệ giữa gia đình người quá cố – bà vợ Miche, 3 cô con gái Chantal, France, Isabelle – với Maddly Bamy được mô tả là rất tốt đẹp. Cũng từ đó, Maddly Bamy thu mình vào bóng tối, tìm quên qua việc viết sách – 10 cuốn, tính cho tới nay.
* * *
Tới đây, chúng tôi xin đi vào đề tài chính: ca khúc Ne Me Quitte Pas, tức đoạn kết cay đắng của cuộc tình Jacques Brel – Suzanne Gabriello.
Trở lại thời gian đầu năm 1958, sau khi Jacques Brel đưa vợ con trở về Bỉ sống với gia đình, chàng chung sống không chính thức với Suzanne “Zizou” Gabriello tại apartement của nàng; ít lâu sau, nàng… có thai.
Là một tên tuổi nổi tiếng trong làng ca nhạc Pháp, “Zizou” không chấp nhận việc có một đứa con không cha, nên yêu cầu Jacques Brel phải công khai nhìn nhận mình là “tác giả”. Jacques Brel từ chối cho nên Suzanne đã phải phá thai, và… đá chàng ra khỏi cửa!
Jacques Brel ân hận, hối tiếc, nhưng đã quá muộn. Một ngày nọ, ngồi trong quán rượu Au Rêve (Mộng Mơ) dưới chân đồi Montmartre, nơi mà chàng có thể nhìn thấy apartement của Suzanne trên con dốc đối diện, Jacques Brel viết bản Ne Me Quitte Pas.
Nội dung của Ne Me Quitte Pas (Xin Đừng bỏ Anh) là những lời khẩn khoản, van xin nguời yêu đừng bỏ ra đi, và hứa hẹn những gì đẹp đẽ nhất – đẹp tới mức xưa nay chưa hề có, và mai hậu cũng sẽ chẳng có bao giờ. Thế nhưng, như đoạn kết của ca khúc cho biết, người yêu vẫn nhất quyết ra đi.
Cho dù Ne Me Quitte Pas đã được liệt vào hàng “love song classic” (tình khúc để đời), nhưng trong cuộc phỏng vấn sau cùng, Jacques Brel vẫn không nhìn nhận đây là một “tình khúc” mà chỉ xem đó như một ca khúc viết về sự đểu giả và hèn nhát của đàn ông.
Về phần Suzanne “Zizou” Gabriello, về sau lập gia đình với đạo diễn kịch nghệ Guy Lauzin, được một con gái, và qua đời vì ung thư vào tuổi 60, năm 1992.
Ít lâu trước khi qua đời, khi được phỏng vấn, bà đã khiêm nhượng không nhận “vinh dự” mình là đối tượng trong ca khúc Ne Me Quitte Pas, và nói rằng ca khúc này được Jacques Brel viết cho nữ giới một cách chung chung.
Thế nhưng với hậu thế, tình khúc để đời Ne Me Quitte Pas được Jacques Brel viết riêng cho Suzanne “Zizou” Gabriello là một khẳng định, bởi hầu như lần nào hát bản này, Jacques Brel cũng khóc!
Ne Me Quitte Pas được Jacques Brel trình bày lần đầu tiên và thu đĩa vào tháng 9, 1959.
Phụ lục (2): Ne Me Quitte Pas – Jacques Brel
Video:
Jacques Brel-Ne me quitte pas (Eng. Subtitles) – YouTube
Trong số các nghệ sĩ nổi tiếng quốc tế hát bản Ne Me Quitte Pas, đầu tiên phải kể tới nữ minh tinh điện ảnh kiêm ca sĩ cabaret gốc Đức Marlene Dietrich, thu đĩa năm 1964; sau đó là đệ nhất nữ danh ca Pháp Édith Piaf, và có lần bà đã cùng tác giả song ca bản này.
Video:
Édith Piaf – Ne me quitte pas – YouTube
Năm 1965, sau khi nữ danh ca Mỹ Nina Simone thu đĩa Ne Me Quitte Pas, ca khúc này đã được ca nhạc sĩ kiêm thi sĩ Mỹ Rod McKuen dịch sang lời Anh với tựa If You Go Away, được nữ ca sĩ Mỹ Damita Jo thu đĩa, đứng hạng 10 trong bảng xếp hạng toàn quốc.
If You Go Away
If you go away on the summer day
Then you might as well take the sun away
All the birds that flew in the summer sky
When our love was new and our hearts were high
When the day was young and the night was long
And the moon stood still for the night birds song
If you go away, if you go away
If you go away, if you go away
But if you stay, Ill make you a day
Like no day has been, or will be again
Well sail the sun, well ride on the rain
Well talk to the trees, worship the wind
Then if you go, Ill understand
Leave me just enough love to fill up my hand
If you go away, if you go away
If you go away, if you go away
If you go away, as I know you must
Therell be nothing left in the world to trust
Just an empty room, full of empty space
Like the empty look I see on your face
Id have been the shadow of your dog
If I thought it might have kept me by your side
If you go away, if you go away
If you go away, please, dont go away
So sánh giữa lời hát tiếng Pháp và tiếng Anh, trước hết xét về ý nghĩa, trong khi Ne Me Quitte Pas cho biết người yêu đã, hoặc đang bỏ ra đi, thì trong If You Go Away, đây chỉ là những lo âu trong trí tưởng của một người đang sống trong hạnh phúc yêu đương:
If you go away… thì những gì bi thảm nhất sẽ xảy ra cho cuộc tình mình, nhưng If you stay… thì những gì đẹp nhất sẽ đến với đôi ta.
Còn xét về giá trị văn chương, nghệ thuật, lời hát của If You Go Away hay hơn lời hát của Ne Me Quitte Pas cũng là một điều dễ hiểu: tác giả Rod McKuen là một thi sĩ!
Phụ lục (3): If You Go Away – Damita Jo
Trong năm 1967, đã có nhiều ca sĩ nổi tiếng quốc tế khác thu đĩa If You Go Away, như nữ ca sĩ dân ca Mỹ Brenda Lee, nữ danh ca Anh Shirley Bassey, nam ca sĩ Mỹ Jack Jones, ban hợp ca Úc The Seekers, nữ danh ca gốc Anh Dusty Springfield, người nổi tiếng quốc tế trước đó với bản You Don’t Have to Say You love Me (Không cần nói anh yêu).
Đặc biệt, Dusty Springfield đã hát cả lời tiếng Anh lẫn lời tiếng Pháp, một việc mà về sau đã trở nên khá phổ biến.
Phụ lục (4): If You Go Away – Celine Dion
Năm 1968, If You Go Away đã được nam ca sĩ dân ca Mỹ Glenn Campbell thu đĩa, đồng thời Brenda Lee cũng thu đĩa lần thứ hai tại Nashville, thủ đô dân ca Hoa Kỳ. Nhưng nổi bật trong khoảng thời gian này phải là If You Go Away qua giọng hát và phong cách trình bày của nam ca sĩ Anh Tom Jones.
Phụ lục (5): If You Go Away – Tom Jones
Nếu tính mức độ phổ biến sau khi được đặt lời tiếng Anh, có lẽ Ne Me Quitte Pas (If You Go Away) chỉ đứng sau Les Feuilles Mortes (Autumn Leaves), ca khúc nổi tiếng nhất của Pháp mà chúng tôi đã giới thiệu trước đây.
Hàng trăm ca sĩ nổi tiếng thuộc ba thế hệ nối tiếp khắp nơi trên thế giới đã thu đĩa Ne Me Quitte Pas (If You Go Away); chưa kể các dàn nhạc, các danh cầm piano, guitar, các tay saxophone…
Tại Hoa Kỳ, từ đầu thập niên 1970 tới nay, có Ray Charles, Franks Sinatra của thế hệ trước, tiếp theo là những “baby boomers” như Barbra Streisand, Neil Diamond, John Denver, rồi tới những thần tượng trẻ Alison Moyet, Belinda Carlise, Madonna, Cyndi Lauper, và cả ban nhạc rock Nirvana, với tiếng hát của Kurt Cobain (ít lâu trước khi anh tự tử bằng cách bắn vào đầu do ảnh hưởng của ma túy).
Chỉ tính riêng If You Go Away do Cyndi Lauper hát vào cuối thập niên 1980, đã bán được trên 4 triệu đĩa.
Tại những miền đất khác, có Shirley Bassey, David Bowie, Sting của Anh, Terry Jacks, Céline Dion của Gia-nã-đại, Julio Iglesias của Tây-ban-nha, Maysa Matarazzo của Ba-tây, Violetta Villas của Ba-lan, Dahlia Lavi của Do-thái…
If You Go Away cũng được hai nữ danh ca nhạc jazz Helen Merrill của Anh và Patricia Kass của Đức thu đĩa, và đạt thành công rực rỡ.
Video:
Patricia Kaas – If You Go Away.wmv – YouTube
If You Go Away được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt với tựa “Người yêu nếu ra đi” vào khoảng năm 1973, thời kỳ “Việt hóa” nhạc trẻ tại miền Nam VN. Nếu chúng tôi nhớ không lầm, Cathy Huệ là người đầu tiên thu băng ca khúc này trong băng nhạc “Tình Ca Nhạc Trẻ”.
Sau năm 1975, “Người yêu nếu ra đi” đã trở thành một trong những ca khúc ngoại quốc lời Việt được các ca sĩ có trình độ, ở hải ngoại cũng như trong nước, ưa chuộng nhất. Trong số đó có Ngọc Lan, Tuấn Ngọc, Lâm Nhật Tiến, Nguyên Khang, Trần hái Hòa, Quang Minh, Bảo Thy…
Người Yêu Nếu Ra Đi
Người yêu nếu ra đi, một hôm nắng lên cao
Xin hãy mang đi theo, cả mây trắng trong veo
Lời chim hót mang đi, cùng tia nắng xôn xao
Ngày ta mới yêu nhau, tình ta mới dâng cao
Ngày sao thấy đi mau, và đêm vắng đêm sâu
Trăng sáng như nâng niu, loài chim hót đêm thâu
Người yêu nếu ra đi
Người yêu nếu chia lìa
Người yêu nếu ra đi
Người mà không đi, người tình tôi còn đó
Sẽ thấy tôi còn đây, yêu nhau như ngày qua
Cùng vừng dương lên, cùng làn mây lả lướt
Nói với lá cây tôi, đêm như xưa đầy vơi
Chìm vào làn môi, nụ cười không từ chối
Nói với mắt môi ai, duyên tình mãi không phai
Người mà xa vắng, tôi sẽ khóc thầm
Làn nước mắt tuôn tràn, cuộc tình đã tan
Người yêu nếu chia lìa
Người yêu nếu chia lìa
Người yêu nếu chia lìa
Người yêu chớ ra đi…
Người yêu nếu ra đi, người yêu sẽ ra đi
Xin trái đất lang thang, đừng quay nữa nghe không
Để có lẽ thương tâm, người yêu sẽ quay chân
Người có biết con tim, rồi tim sẽ êm êm
Ngừng nghe tiếng trăm năm, người yêu đã xa xăm
Tôi chết êm trong đêm, chờ nghe tiếng yêu vang
Người yêu nếu ra đi
Người yêu nếu chia lìa
Người yêu nếu ra đi…
Phụ lục (6): Người yêu nếu ra đi – Ngọc Lan
Phụ lục (7): Người yêu nếu ra đi – Tuấn Ngọc
Phụ lục (8): Người yêu nếu ra đi – Quang Minh
Phụ lục (9): If You Go Away – (saxophone)
Hoài Nam
Comment
Domino (Khúc Nhạc Muôn Đời – Hội Mùa Hoa)
Hòai-Nam
Ca khúc thứ nhất trong phần “Nhạc Pháp” chúng tôi gửi tới độc giả là bản Domino, một ca khúc nổi tiếng của Pháp theo thể loại “valse musette” của hai tác giả Louis Ferrari và Jacques Plante, trước năm 1975 được tác giả Hương Huyền Trinh đặt lời Việt với tựa Khúc Nhạc Muôn Đời , và sau này là Phạm Lê Phan với tựa Hội Mùa Hoa.
Trước hết xin được viết về hai tác giả của nguyên tác: Louis Ferrari, người soạn nhạc, và Jacques Plante, người đặt lời.
Louis Ferrari (1910–1988)
Louis Ferrari (1910–1988) là một nhạc sĩ phong cầm (accordéon) kiêm nhà soạn nhạc gốc Ý, sang Paris lập nghiệp vào đầu thập niên 1930. Tại Kinh thành Ánh sáng, ông thành lập ban nhạc Louis Ferrari et Son Ensemble để trình diễn tại các câu lạc bộ. Sở trường của Louis Ferrari là “musette”.
Trước năm 1975, tại miền Nam VN, nhiều người trong chúng ta thường nghe nói tới một đặc trưng của nền nhạc dân gian Pháp, đó là “valse musette”, thường được hiểu một cách đơn giản là “valse nhanh độc tấu bằng đàn accordéon dành cho giới bình dân”. Một trong những ca khúc nổi tiếng và quen thuộc thường được trình bày dưới hình thức valse musette là bản Sous le ciel de Paris (Dưới bầu trời Paris) của nữ danh ca Édith Piaf.
Video:
Sous le ciel de Paris (valse musette)
Sous le ciel de Paris (valse musette)
Trước khi viết về valse musette, xin có đôi dòng về “musette”, một từ trong tiếng Pháp khi được sử dụng trong lĩnh vực âm nhạc, không thể dịch sang bất cứ một ngôn ngữ nào khác. Các tự điển tiếng Anh định nghĩa musette một cách dài dòng là “French cafe music for accordion” (nhạc Pháp chơi trong các quán cà-phê bằng phong cầm).
Nguyên thủy, musette được viết một cách đầy đủ là “musette de cour”, là tên gọi một loại “kèn có túi hơi” – cùng một họ với “bagpipe” của người Tô-cách-lan – xuất hiện tại Pháp vào cuối thế kỷ thứ 16, rất thịnh hành vào thời kỳ “baroque” cho nên còn được gọi là “baroque musette”. Tiếng kèn musette được mô tả tương tự kèn oboe, nhưng khác lạ (exotic), độc đáo.
musette de cour
Hai chữ “de cour” (của triều đình) trong tên gọi cho biết musette là một nhạc cụ dành cho giới quý tộc, trưởng giả, thường được sử dụng trong nhạc thính phòng.
Thế kỷ thứ 17 là khoảng thời gian thịnh hành nhất của musette, tuy nhiên sau cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, cùng với ngày tàn của dòng tộc Bourbon, nó đã bị “thất sủng” một cách mau chóng, trong khi các loại kèn có túi hơi (bagpipe) đơn giản hơn của giới bình dân vẫn phổ biến, trong đó có kèn “cabrette” của người vùng Auvergne, ở trung nam nước Pháp.
Người dân Auvergne – tiếng Pháp gọi là “Auvergnat” – có truyền thống… mở quán; vào thế kỷ thứ 19, hầu hết các quán cà-phê, quán rượu bình dân tại các Quận 4, 11, 12, 19 của thủ đô Paris đều do người gốc Auvergne làm chủ, nơi người ta thường nhảy điệu “bourrée” (một điệu nhảy phát xuất từ Auvergne) theo tiếng kèn cabrette. Vì người dân Paris đã quen với tên gọi musette (do chữ “musette de cour” đã nhắc tới ở trên) cho nên họ gọi cabrette là musette.
Tới thập niên 1880, do tính cách phổ biến của cây đàn accordéon, tiếng kèn musette dần dần được thay tế bằng tiếng đàn accordéon, trước tiên là ở Quận 19, nơi tập trung những tay đàn accordéon Pháp, Ý tài ba nhất, rồi lan rộng khắp Paris; đồng thời người ta không chỉ nhảy “bourrée” mà còn nhảy nhiều thể điệu khác như valse, tango, paso…
Thể loại nhạc và sinh hoạt khiêu vũ bình dân này được gọi là “bal musette”, mặc dù cái kèn “musette” đã vắng bóng. Từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, “bal musette” đã thu hút một số không nhỏ trong giới thượng lưu Pháp, những người muốn tìm cảm giác mạnh qua việc hòa nhập vào sinh hoạt giải trí của giới bình dân – nghèo khổ, sống hết mình, không bị ràng buộc, không cần biết đến ngày mai.
Bước sang thế kỷ thứ 20, bal musette càng được nhiều người ưa chuộng và tới năm 1945 đã trở thành hình thức khiêu vũ phổ biến nhất ở Pháp, vì những bước nhảy dễ hơn, nhanh hơn, gợi cảm hơn, cũng như không đòi hỏi một vũ trường rộng lớn.
Trong số ba thể điệu phổ biến nhất của bal musette là paso musette, tango musette và valse musette, tại Việt Nam ngày ấy, valse musette được ưa chuộng nhất.
So với “valse viennoise” (điệu luân vũ thành Viên), valse musette có bước nhảy trẻ trung hơn, thân thể của đôi nam nữ sát nhau hơn, người nữ quay thường xuyên hơn, trong đó “đỉnh cao” là quay tít (tiếng Pháp gọi là “la toupie” – con quay, con vụ).
Video:
Roger Chenault et Chantal Salviac dansent une valse musette avec la toupie
Trở lại với Louis Ferrari, ông sáng tác không nhiều, nhưng chỉ cần một bản Domnino, viết năm 1950, cũng đủ để lưu danh muôn thưở. Domino được Jacques Plante đặt lời hát.
Jacques Plante (1920-2003)
Jacques Plante (1920-2003), mà chúng tôi đã từng nhắc tới khi viết về các ca khúc La Bohème (của Charles Aznavour), Chariot (của Petula Clark) do ông đặt lời, là một thi sĩ kiêm nhà viết lời hát tài ba và nổi tiếng bậc nhất của Pháp; ông đã đặt lời hát cho hàng trăm ca khúc, từ những tình khúc êm đềm của Tino Rossi, Yves Montand, Édith Piaf… tới những ca khúc thời trang do Dalida, Claude François, Christophe, Sheila… thu đĩa.
Nội dung ca khúc Domino khá dài, là lời một người bị phụ tình, trong tiết xuân huy hoàng, chạnh lòng nhớ thương người yêu bội bạc đã ra đi, mời gọi trở về và hứa sẽ tha thứ tất cả…
DOMINO
Le printemps chante en moi, Dominique,
Le soleil s’est fait beau,
J’ai le cœur comme un’ boite à musique
J’ai besoin de toi,
De tes mains sur moi,
De ton corps doux et chaud,
J’ai envie d’être aimée Domino
Méfie-toi, mon amour, je t’ai trop pardonné
J’ai perdu plus de nuits que tu m’en as données
Bien plus d’heures
A attendre, qu’à te prendre sur mon cœur,
Il se peut qu’à mon tour je te fasse du mal,
Tu m’en as fait toi-même et ça t’est bien égal,
Tu t’amuses de mes peines, et je m’use de t’aimer.
Domino Domino
Le printemps chante en moi, Dominique,
Le soleil s’est fait beau,
J’ai le cœur comme un’ boite à musique
J’ai besoin de toi,
De tes mains sur moi,
De ton corps doux et chaud,
J’ai envie d’être aimée Domino.
Il est une pensée que je ne souffre pas
C’est qu’on puisse me prendre ma place en tes bras,
Je supporte bien des choses, mais à force c’en est trop…
Et qu’une autre ait l’idée de me voler mon bien,
Je ne donne pas cher de ses jours et des tiens,
Je regarde qui t’entoure prends bien garde mon amour.
Domino Domino
J’ai bien tort de me mettre en colère,
Avec toi, Domino,
Je sais trop qu’il n’y a rien à faire,
T’as le cœur léger,
Tu ne peux changer,
Mais je t’aime, que veux-tu ?
Je ne peux pas changer, moi non plus,
Domino, Domino,
Je pardonne toujours, mais reviens,
Domino, Domino,
Et je ne te dirai plus rien.
Domino được nam danh ca Pháp André Claveau thu đĩa năm 1950.
André Claveau (1911-2003) nổi tiếng sau Tino Rossi một thập niên, trong số những ca khúc nổi tiếng do ông thu đĩa, ngoài Domino, sau này còn có Dors, mon amour (Hãy ngủ đi em), ca khúc đoạt giải Eurovision (Ca khúc Âu châu) năm 1958.
Cũng trong năm 1950, sau André Claveau, Domino đã được hai nữ danh ca Pháp đương thời là Lucienne Delyle (1917-1962) và Patachou (1918-2015) thu đĩa. Từ đó, trong suốt thập niên 1950, Domino đã trở thành ca khúc Pháp phổ biến và được ưa chuộng bậc nhất ở Âu châu.
Tới thời kỳ “yé-yé” (thời “nhạc trẻ”), bản Domino với lời hát rút ngắn, được cô bé Danièle Vidal (sinh năm 1952) thu đĩa, cũng rất được thế hệ sinh sau đẻ muộn ưa thích.
Video:
Domino – Andre Claveau (1950)
Phụ lục (1): Domino, Lucienne Delyle
Phụ lục (2): Domino, Danièle Vidal
Cũng trong năm 1951, nữ danh ca Doris Day, người sau này nổi tiếng quốc tế với ca khúc Que Sera, Sera, đã thu đĩa Domino. Sau này, trong số các ca sĩ thu đĩa Domino còn có cả nam danh ca Andy Williams.
Domino
Domino, you’re a devil designed to torment me,
When your heart must know that I love you so,
Tell me why, tell me why, why do you make me cry, Domino,
Domino, Domino, won’t you tell me you’ll never desert me?
Domino, Domino, if you stay I don’t care how you hurt me,
Fate has made you so, you can’t change, I know,
You can’t change, though you try, but then neither can I, Domino,
Just one look in your eyes and I melt with desire,
Just a touch of your hands and I burst into fire,
And my whole world fills with music when I’m lost in your embrace,
But I know that you’re fickle and I’m not misled,
Each attractive new face that you see turns your head,
And it scares me that tomorrow, someone else may take my place,
Domino, Domino, you’re an angel that heaven has sent me,
Domino, Domino, you’re a devil designed to torment me,
When your heart must know that I love you so,
Tell me why, tell me why, why do you make me cry, Domino,
Domino, Domino, I’ll forgive anything that you do,
Domino, Domino, nothing matters if I have you. clip_image011
Video:
Tony Martin – Domino (1951)
Domino (lời Pháp) được phổ biến, yêu chuộng tại Việt Nam, và được tác giả Hương Huyền Trinh đặt lời Việt ngay trong thập niên 1950.
Hương Huyền Trinh tên thật là Ngô Thị Ngọc Báu, cô ruột của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên (Ngô Quang Bình), sinh tại Hải Phòng vào khoảng cuối thập niên 1930, và di cư vào Nam năm 1954.
Xuất thân từ một gia đình có truyền thống văn học và yêu nhạc, ngoài công việc sáng tác ca khúc và đặt lời Việt cho ca khúc ngoại quốc, bà còn làm thơ dưới bút hiệu Hoài Hương (nhớ Hải Phòng quê xưa?)
Một trong những ca khúc nổi tiếng của Hương Huyền Trinh là bản Hương Nắng Huy Hoàng, thường được trình bày dưới hình thức hợp ca. Về ca khúc ngoại quốc được bà đặt lời Việt, có lẽ trước năm 1975 ở miền Nam VN, ai cũng đã từng nghe qua hai bản “valse musette” Lòng Người Ly Hương (La Complainte des Infidèles) và Khúc Nhạc Muôn Đời (Domino).
Trước hết, xin viết về bản Lòng Người Ly Hương. Ca khúc nguyên tác có tựa đề La Complainte des Infidèles (Sự than phiền của những kẻ ngoại tình), trích trong cuốn phim tình cảm hài kịch La Maison Bonnadieu (1951), do Danielle Darieux, nữ ca sĩ kiêm diễn viên tài sắc bậc nhất của Pháp thời bấy giờ thủ vai chính.
Danielle Darrieux
Ca khúc La Complainte des Infidèles do Georges Van Parys viết nhạc, Carlo Rim (cũng là đạo diễn của cuốn phim) đặt lời. Người hát ca khúc này trong phim là nam ca sĩ kiêm diễn viên Marcel Mouloudji, thủ vai một người hát dạo trong phim.
Tuy nhiên, với không ít người ái mộ Danielle Darieux, trong đó có khán thính giả Việt Nam chuộng phim Pháp, yêu nhạc Pháp, bản La Complainte des Infidèles do Danielle Darieux thu đĩa sau đó (năm 1952) được ưa chuộng hơn.
Video:
Danielle Darrieux ” la complainte des infidèles ” 1952
Tương tự trường hợp “Tell Laura I Love Her / Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” của Nam Lộc sau này, phiên bản lời Việt của Hương Huyền Trinh cũng không dính dáng gì tới nguyên tác, bà chỉ mượn dòng nhạc của La Complainte des Infidèles để gửi gấm tâm sự của một kẻ ly hương – một cách tuyệt vời, đến độ nhiều người cứ ngỡ đây là một ca khúc nhạc Việt Nam 100%!
Lòng Người Ly Hương
Chiều thu ấy khi ngàn lá khô lìa cây bay lướt theo làn gió
Rời quê hương ra đi, vương lệ ướt đôi hàng mi
Từ đây nhé đi ngàn hướng, xa rời bóng quê yêu vương sầu thương
Thôi từ đây ly hương, sống kiếp muôn vạn nẻo đường
Mái nhà xưa ôi nay còn đâu
Cánh đồng xanh đã khuất sau hàng dâu
Làng quê xưa ánh trăng quê vàng hắt hiu đã
Mờ xóa theo lệ rơi lúc nắng chiều
Biết ngày nao quay về làng xưa
Thấy ngày thơ những lúc chuông chiều đưa
Nhìn bầy chim lướt bay ngang trời sáng trong sáo
Diều thướt tha nhẹ vương theo mơ màng
* * *
Tìm nơi đâu bóng quê xưa, làng thân mến yêu đã xa mờ
Hẹn mai đây ánh dương lên, trở về sống lại phút thần tiên.
Phụ lục (3): Lòng Người Ly Hương, Thái Thanh (trước 1975)
Ngày ấy, vì được Thái Thanh trình bày đầu tiên, và cũng là người hát đạt nhất, không ít thính giả đã cho đây là một sáng tác của… Phạm Duy!
* * *
Khánh Ly, Lệ Thu và Thái Thanh
Cùng khoảng thời gian (giữa thập niên 1950), Hương Huyền Trinh đã đặt lời Việt cho bản Domino với tựa Khúc Nhạc Muôn Đời.
Tương tự Lòng Người Ly Hương, lời hát của Khúc Nhạc Muôn Đời đẹp tựa một bài thơ.
Nếu bị bắt buộc làm công việc so sánh hai ca khúc, chúng tôi chịu thua, cùng lắm cũng chỉ có thể đưa ra một sự khác biệt: Lòng Người Ly Hương đẹp và buồn u uất, Khúc Nhạc Muôn Đời đẹp và buồn man mác.
Khúc nhạc muôn đời
Trăng đã lên, trăng đã lên,
Hương ngát thơm bao u huyền vườn thu thiết tha.
Trăng sáng soi trên lá hoa,
Dâng nhớ bao câu mong chờ nhạc xưa đã qua.
Xa xôi rồi nhớ thương,
Ai mong chờ vấn vương.
Riêng có ta tim xót xa,
Luyến thương bao khúc ca xưa đã phai nhòa.
Bạn lòng ơi, đã bao đêm thức trông trăng sáng long lanh,
Nhìn dòng sông nước trong xanh cuốn trôi nhanh giữa đêm thanh.
Sông mong chờ nhớ bao khúc nhạc thắm,
Nay đâu còn nữa, đã quá xa.
Và từ đây, mỗi khi nghe khúc ca xưa lúc gió mưa,
Thì lòng ta thấy xót xa nhớ thiết tha phút đã qua.
Ðã phai nhòa hết, hoa xưa tàn hết,
Nhưng ngàn thu mãi trong tim ta…
Thu đã qua, bao lá hoa
Theo gió bay, bay quây quần rụng theo gió đưa.
Mây vẫn xanh, trăng vẫn thanh,
Nhưng thấy đâu khúc ca đẹp nhạc êm thắm tươi.
Ai xa vời có hay,
Bao nhiêu ngày gió bay.
Bao lá khô, theo gió thu,
Rớt trên đôi mắt đôi môi khóc mong chờ…
Nhớ thắm thiết thương ngàn kiếp.
Khắc bên tôi bao khúc nhạc vàng đêm nao.
Gió cuốn gió lá vàng úa.
Nhưng ai đâu có thấu được lòng ta…
Ngày ấy, Thái Thanh cũng là người đầu tiên hát Khúc Nhạc Muôn Đời, và theo cảm quan của cá nhân, chúng tôi cũng cho rằng tính tới nay, Thái Thanh vẫn là người hát đạt nhất.
Phụ lục (4): Khúc Nhạc Muôn Đời, Thái Thanh (trước 1975)
Sau năm 1975 tại hải ngoại, Khúc Nhạc Muôn Đời đã được nhiều ca sĩ thu đĩa, trong đó có Khánh Ly, trình bày trong CD “Trong tay anh đêm nay”, gồm những ca khúc nổi tiếng theo thể điệu valse.
Video:
Khánh Ly – Domino (Bản tiếng Việt)
Thu Minh
Hội Mùa Hoa
Ta tới đây, vui với nhau,
nghe nắng xuân reo tưng bừng trên muôn đóa hoa
Xiêm áo bay, theo tiếng ca,
ôi tóc em xanh vương dài như mây thướt tha.
Nghe tâm hồn đắm say, dâng men tình ngất ngây.
Tung bước vui, tay nắm tay,
mến thương trao ái ân nồng cháy trong hồn.
Đều nhịp múa cất tiếng reo, câu hân hoan đem tin yêu
Vào hội vui má môi em đắm say theo bước chân ngà.
Em yêu kiều gió, dâng hương tình tiếng chim
reo mừng chúng ta hát vang.
Nụ cười sáng lấp lánh vui dâng cao tay tung muôn hoa
Chập chờn bay áo em tươi ánh xuân vui
Bướm ong say sưa men tình
chúng ta quay đều, mắt vui trời sao, dáng em kiêu sa.
Domino (ta tới đây)
Domino (vui với nhau)
nghe nắng xuân reo tưng bừng trên muôn đóa hoa.
Xiêm áo bay, theo tiếng ca, ôi tóc em xanh vương dài như mây thướt tha.
Nghe tâm hồn đắm say, dâng men tình ngất ngây.
Tung bước vui, tay nắm tay,
mến thương trao ái ân nồng cháy trong hồn.
Tiếng hát nuôi, cung đàn ấm.
Luyến lưu trao hương ân tình mê say đó.
Cất tiếng hát, vui trần thế,
múa ca lên vang suốt mùa ….hội hoa.
Phụ lục (5): Hội Mùa Hoa, Thu Minh
Hoài Nam



Comment