Hòai Nam : Những ca khúc ngọai quốc lời Việt (1)- Dẫn Nhập

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • saomai
    Moderator
    • Jun 2008
    • 2146

    #1

    Hòai Nam : Những ca khúc ngọai quốc lời Việt (1)- Dẫn Nhập

    clip_image002


    ( Giới thiệu : Bài này mở đầu cho một lọat bài viết về những ca khúc ngọai quốc bất hủ đã được đặt lời Việt và phổ biến trong giới yêu nhạc Việt Nam từ những năm 1950s đến nay của nhà báo Hòai Nam, một tên tuổi đã từng được người yêu nhạc trong và ngòai nước biết tới qua chương trình biên sọan “ 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam “. Ngòai phần nội dung dưới dạng text, chúng tôi có kèm theo phần phụ lục dưới dạng Audio những bản nhạc được nói đến trong bài. Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc gỉa. T.Vấn & Bạn Hữu ).


    Mặc dù chưa bao giờ được một hàn lâm viện nào trên thế chính thức nhìn nhận, hiện nay hầu như mọi người đều đồng ý về danh sách “7 nền nghệ thuật của nhân loại”, gồm: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, vũ, thi ca, và điện ảnh.


    Danh sách sáu nền nghệ thuật đầu tiên do triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) đề xướng vào đầu thế kỷ thứ 19; còn nghệ thuật thứ bảy – tức điện ảnh – do nhà phê bình nghệ thuật Pháp gốc Ý Ricciotto Canudo đề nghị vào đầu thế kỷ thứ 20, qua tập khảo luận “Le Manifeste des Sept Arts” (Danh sách bảy nền nghệ thuật).


    Trong số bảy nền nghệ thuật ấy, âm nhạc là bộ môn phổ biến nhất, điều này có lẽ khỏi cần chứng minh. Và nếu nói đó là bộ môn phong phú, đa dạng nhất, cũng không mấy người phản đối.


    Tuy nhiên âm nhạc, cũng như các bộ môn nghệ thuật khác, trong khi thường được mô tả là “không biên giới”, theo suy nghĩ của chúng tôi, “có cách trở”. Với âm nhạc, cách trở ấy là xu hướng, trình độ, cảm quan thưởng thức của các thành phần xã hội khác nhau, và riêng với các ca khúc, cách trở còn là ngôn ngữ.


    Việc đặt lời Việt cho các nhạc khúc bất hủ, các ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, chính là một hình thức hóa giải những cách trở ấy. Nếu không kể các ca khúc “nhạc tây lời ta” trong giai đoạn hình thành của nền tân nhạc Việt Nam vào giữa thập niên 1930 mà phần lớn nay đã thất truyền, thì các nhạc khúc, ca khúc ngoại quốc lời Việt hiện đang được yêu chuộng, bắt đầu xuất hiện vào cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960.


    Loại bài này có mục đích giới thiệu một số ca khúc điển hình trong số nói trên. Chúng tôi nhấn mạnh hai chữ “giới thiệu” bởi bản thân không phải là một nhà phê bình, mà chỉ là một người thưởng thức làm công việc của DJ (disc jockey). Có khác chăng, là niềm vui khi làm công việc này, bởi hy vọng sẽ có thêm những tâm hồn đồng điệu trong giới thưởng ngoạn.


    Những ca khúc ấy được chọn lọc từ một khoảng thời gian trải dài ba, bốn thế kỷ, từ buổi ban đầu cho tới thời hiện đại của âm nhạc, vì thế bài thứ nhất trong loạt bài của chúng tôi sẽ viết sơ qua về nền nhạc cổ điển, như mở một cánh cửa bước vào thế giới âm nhạc tây phương.


    Ngũ đại tiền bối


    Một cách tổng quát, nền nhạc cổ điển tây phương (Classical Musics) là khoảng thời gian từ năm 1550 tới năm 1900, được hình thành vào thời Phục Hưng (Renaissance, từ thế kỷ thứ 14 tới thế kỷ thứ 16); và phát triển mạnh vào cuối thế kỷ thứ 17 đầu thế kỷ thứ 18.


    Một cách chi tiết hơn, nền nhạc cổ điển ấy được chia ra làm ba thời kỳ – thời kỳ Baroque, thời kỳ Vàng son, và thời kỳ Lãng mạn.


    Trước hết nói về thời kỳ Baroque.


    Tại Ý và các nước Tây Âu khác như Anh, Pháp, Đức, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha…, giai đoạn hình thành và bước đầu phát triển của nền nhạc cổ điển được gọi là thời kỳ Baroque. “Baroque” nói chung là hình thái văn chương, hội họa, và âm nhạc mạnh dạn, tươi sáng, mà Giáo hội Công giáo đã đề xướng sau Công đồng Trento (Council of Trent), nhóm họp vào giữa thế kỷ thứ 16.


    Năm tên tuổi lớn nhất của giai đoạn phát triển nền nhạc cổ điển – mà chúng tôi gọi là “Ngũ đại tiền bối” – gồm ba vị người Ý và hai vị người Đức, đều thuộc thời kỳ Baroque.


    Vào khoảng thời gian này, từ giữa thế kỷ thứ 16 tới giữa thế kỷ thứ 17, Ý và Đức-Áo được xem là hai cái nôi của âm nhạc, nhưng cả về hình thức lẫn nội dung đều khác nhau. Ở Ý, nhạc cụ phổ biến nhất là vĩ cầm, một loại đàn dây có khả năng thể hiện nhiều loại nhạc buồn vui khác nhau, phục vụ mọi tầng lớp xã hội, mà nhà nhạc sĩ có thể đem theo bên mình trên khắp mọi nẻo đường. Trong khi ở Đức-Áo, ngày ấy còn gọi là Holy Roman Empire – gồm các quốc gia Đức, Áo, Ba-lan, Tiệp-khắc ngày nay – nhạc cụ chính gồm đàn đại phong cầm, tức organ, trong các thánh đường, và đàn harpichord – tiền thân của dương cầm, cho nên các sáng tác của các nhà soạn nhạc cũng thường đóng khung trong khuôn khổ Thiên chúa giáo và phạm vi giới quý tộc.


    clip_image004


    Arcangelo Corelli (1653-1713)


    “Ngũ đại tiền bối”, theo thứ tự ra chào đời, trước hết là Arcangelo Corelli. Ông sinh năm 1653, là nhà soạn nhạc và nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng nhất của thời kỳ Baroque. Corelli được ghi nhận là nhạc sĩ đầu tiên đã có công biến cây vĩ cầm từ một nhạc cụ trong dàn nhạc thành một nhạc cụ trình diễn đơn lẻ.


    Với cây đàn trên vai, từ năm 19 tuổi, ông đã bôn ba khắp nơi, tới tận Đức biểu diễn trong các cung đình, và rất được các ông hoàng bà chúa ái mộ. Corelli được xem là vị đại tiền bối của các thế hệ nhạc sĩ vĩ cầm ở Ý.


    * * *


    clip_image006


    Antonio Vivaldi (1678-1741)


    Vị đại tiền bối người Ý kế tiếp là Antonio Vivaldi, ra chào đời tại Cộng hòa Venice năm 1678, sau Arcangelo Corelli một thế hệ.


    Cuộc đời của vị linh mục kiêm nhạc sĩ tài hoa này khá ly kỳ và đầy huyền thoại: ông vừa lọt lòng mẹ thì xảy ra một trận động đất lớn ở Venice, nhưng vì con trai quá yếu ớt, èo uột, không biết có sống được hay không, cho nên ngay sau đó, bất chấp động đất, bà mẹ đã cho người đưa con tới nhà thờ để rửa tội, và hứa rằng nếu con mình sống được thì sẽ “dâng cho Chúa”, nghĩa là lớn lên sẽ đi tu làm linh mục.


    Ông bố Giovanni Vivaldi của Antonio là một người thợ cạo kiêm nhạc sĩ vĩ cầm, bắt đầu dạy đàn cho con trai từ năm cậu lên 3 tuổi. Sau đó, vì Antonio tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về vĩ cầm, ông Giovanni Vivaldi đã bỏ hẳn nghề hớt tóc, để cùng con trai đi biểu diễn dạo ở khắp nơi, và trở nên giàu có.


    Nhưng bà mẹ vẫn không quên lời thề hứa năm xưa. Khi Antonio Vivaldi lên 15 tuổi, bà cho cậu đi tu, và 10 năm sau, trở thành linh mục. Tuy nhiên, vì Antonio Vivaldi vốn ốm yếu từ thuở lọt lòng mẹ – mà ngày ấy người ta cho rằng cậu bị suyễn, nhưng ngày nay, y học chỉ coi đó là một chứng tức ngực bẩm sinh – ít lâu sau khi trở thành linh mục, ông đã được miễn hẳn công việc dâng thánh lễ mỗi ngày, và dần dần về sau, ông không còn làm bất cứ công việc gì có liên quan tới chức vụ linh mục nữa, mặc dù suốt đời ông vẫn tuân giữ mọi lề luật của cuộc sống linh mục.


    Tháng 9 năm 1703, sau khi thụ phong linh mục, Antonio Vivaldi được bổ nhiệm làm thầy giáo dạy vĩ cầm tại Pio Ospedale della Pietà – tức Cô nhi viện Tình thương, một trong bốn cô nhi viện của thành Venice, nơi ông sẽ phục vụ trong suốt 30 năm liên tục.


    Tại cô nhi viện, ngoài công việc dạy vĩ cầm, Antonio Vivaldi còn dạy nhạc lý và dạy hát, vì thế bên cạnh các bản độc tấu, song tấu, tứ tấu cho vĩ cầm, ông còn sáng tác thánh ca, các vở ca nhạc kịch opera…


    Dưới sự hướng dẫn của Antonio Vivaldi, dàn nhạc và ban hợp xướng của Cô nhi viện Tình thương đã nổi tiếng khắp Cộng hòa Venice, nhờ đó không ít cô bé mồ côi sau này đã trở thành mệnh phụ!


    Về phần Antonio Vivaldi, trong thời gian 30 năm sống và làm việc tại đây, ông đã để lại cho đời 40 vở opera, 60 bản thánh ca, và trên 500 sáng tác cho các loại nhạc cụ.


    Một trong những tác phẩm bất hủ của Antonio Vivaldi là bản tứ tấu dành cho vĩ vầm (violin concerti) có tựa đề “Bốn mùa” (The Four Seasons) –


    Phụ lục: Audio (1)- VIVALDI: The Four Seasons, Spring


    Phụ lục: Audio (1)- VIVALDI: The Four Seasons, Spring


    Có thể nói “Bốn mùa” là bản tứ tấu dành cho vĩ cầm nổi tiếng nhất, được ưa chuộng nhất từ xưa tới nay, của một nhà soạn nhạc thuộc thế hệ đầu tiên, nhưng không bao giờ bị xem là xưa cũ.


    Chỉ có điều đáng buồn là vào những năm cuối đời, Antonio Vivaldi đã không được thỏa nguyện.


    Nguyên sau 30 năm sống và làm việc tại Cô nhi viện Tình thương, Antonio Vivaldi được gặp gỡ Hoàng đế Charles đệ Lục của Đế quốc Áo, khi ông này tới thăm viếng Venice, và tham dự buổi trình diễn một vở opera của Vivaldi.


    Vị hoàng đế rất thích thú, và ngỏ ý muốn đỡ đầu cho Antonio Vivaldi trong việc phổ biến thể loại ca nhạc kịch này tại kinh đô Vienne của Áo. Nhưng ít lâu sau khi Antonio Vivaldi khăn gói tới thành Vienne, Hoàng đế Charles đệ Lục băng hà. Không có mạnh thường quân tài trợ, giúp đỡ, Antonio Vivaldi sống trong nghèo khổ và chết trong cô đơn nơi đất khách quê người năm 1741.


    * * *


    clip_image008


    Domenico Scarlatti (1685-1757)


    Vị đại tiền bối người Ý thứ ba là Domenico Scarlatti, sinh năm 1685, kém Vivaldi 7 tuổi. Điều trùng hợp lý thú là hai vị đại tiền bối người Đức mà chúng tôi sẽ đề cập tới là George Frideric Handel và Johann Sebastian Bach, cũng ra chào đời vào năm 1685.


    Ông bố của Domenico Scarlatti là Alessandro Scarlatti, một nhà soạn nhạc kiêm thày dạy nhạc thời danh ở Napoli, tức Vương quốc Naples, sớm nhận ra tài năng thiên phú nơi con trai, nên đã ra sức chỉ dạy. Năm mới 16 tuổi, Domenico Scarlatti được trao phó công việc soạn nhạc và chơi đàn đại phong cầm trong ngôi thánh đường ở hoàng cung. Năm 20 tuổi, Domenico Scarlatti bắt đầu công việc soạn các vở oprera theo yêu cầu của các ông hoàng bà chúa.


    Ông thường được mời sang kinh đô của Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, và Anh quốc để dựng các vở opera của mình; và từ năm 1719, sống luôn ở Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, để làm nhạc sư trong hai triều đình này. Domenico Scarlatti qua đời tại Madrid vào tuổi 71.


    Về sự nghiệp âm nhạc, chỉ tính thể loại sonata, tức “tấu khúc”, viết cho dương cầm, Scarlatti đã để lại cho hậu thế 555 bản. Trong số những nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng sau này chịu ảnh hưởng của Scarlatti, có Johannes Brahms và Frédéric Chopin.


    * * *


    Tiếp theo, viết về hai vị đại tiền bối người Đức: George Frideric Handel và Johann Sebastian Bach.


    clip_image010


    George Frideric Handel (1685-1759)


    clip_image012


    Johann Sebastian Bach (1685-1750)


     


    Một cách chính xác, phải gọi Handel là một công dân Anh gốc Đức. Ông ra chào đời năm 1685 tại Brandenburg, ngày ấy thuộc đế quốc Phổ (Prussia). Cha ông là một y sĩ trong triều đình, chỉ muốn con trai trở thành trạng sư, ngành nghề được nể trọng nhất trong xã hội thời bấy giờ.


    Nhưng Handel lại chỉ mê âm nhạc. Bị cha nghiêm cấm tiếp xúc với các vị thầy dạy nhạc, vào năm 12 tuổi, Handel đã tự tay tháo gỡ một cây đàn harpichord, rồi khuân lên căn gác sát mái nhà, ráp lại để tự tập dợt vào những lúc ông bố vắng nhà.


    Năm 16 tuổi, Handel có dịp biểu diễn cho một vị công tước trong triều, được ông này hết lời khen ngợi, và can thiệp với ông bố y sĩ cho phép Handel theo đuổi âm nhạc. Sau khi thọ giáo một vị tu sĩ người Đức, Handel sang Ý học hỏi thêm, trước khi sang Anh quốc sinh sống và trở thành công dân Anh.


    Handel là tác giả của nhiều vở opera, các bản hòa tấu và hợp xướng nổi tiếng. Hai nhà soạn nhạc lừng danh sau này, tác giả của những bản giao hưởng bất hủ của nền nhạc cổ điển là Mozart và Beethoven đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của Handel.


    Một trong những tác phẩm nổi tiếng và phổ biến nhất của Handel là bản đại hợp xướng Messiad (Đấng Tiên Tri), trong đó có tiểu khúc “For Unto Us a Child Is Born” – một bản không thể thiếu trong các buổi trình diễn thánh ca Giáng Sinh (Christmas Carols) ở các quốc gia tây phương.


    Phụ lục: Audio (2)- HANDEL: For Unto Us a Child Is Born


    Phụ lục: Audio (2)- HANDEL: For Unto Us a Child Is Born


     


    * * *


    Cuối cùng viết về Johann Sebastian Bach. Một cách ngắn gọn, có thể viết Johann Sebastian Bach chính là núi Thái Sơn của nền nhạc cổ điển tây phương.


    Ông được hậu thế xem là một nhà soạn nhạc vĩ đại, cho cả các ban đại hòa tấu lẫn các ban đại hợp xướng, và là nhạc sĩ đại phong cầm (organ) kiêm vĩ cầm tài giỏi nhất. Các sáng tác của ông đã trở thành khuôn mẫu và thay đổi cả nền âm nhạc ở Âu châu thời bấy giờ, và cách sử dụng vĩ cầm của ông cũng được xem là tiêu chuẩn để các thế hệ nối tiếp cố gắng đạt tới.


    Johann Sebastian Bach ra chào đời năm 1685 trong một đại gia đình âm nhạc, mà hiện nay, ngoài Johann Sebastian, lịch sử âm nhạc còn ghi lại nhiều người khác cùng mang họ Bach.


    Năm 1750, Johann Sebastian Bach bất ngờ lâm trọng bệnh, các bác sĩ nghi ngờ ông bị viêm phổi, và sau một cuộc giải phẫu thất bại, ông qua đời vào tuổi 65.


    Johann Sebastian Bach đã để lại ảnh hưởng mạnh mẽ nơi các thế hệ nhạc sĩ đi sau. Riêng Mozart, Beethoven, Schumann, và Mendensohn đều sử dụng khuôn thức sáng tác của ông.


    Chỉ tính các ca khúc viết về tôn giáo của Johann Sebastian Bach đã lên tới 200 bản.


    Một trong những nhạc khúc soạn cho đại phong cầm rất quen thuộc và nổi tiếng của Johann Sebastian Bach là bản “Toccata and Fugue cung Ré thứ”, thường được sử dụng làm nhạc khúc cho nghi lễ khai mạc và bế mạc các buổi lễ tốt nghiệp tại các trường có truyền thống âm nhạc.


    Phụ lục: Audio (3)- BACH: Toccata and Fugue


    Phụ lục: Audio (3)- BACH: Toccata and Fugue


     


    Sau này, trong đĩa nhạc “Voyager Golden Record”, gồm 27 sáng tác cũ mới, được thực hiện riêng cho các phi hành gia trên phi thuyền Voyager đem theo để thưởng thức trong chuyến bay vào không gian, đã có tới 3 bản của Johann Sebastian Bach.


    Phụ lục: Audio (4)- BACH: Zion Hort Die Wachter Singen


    Phụ lục: Audio (4)- BACH: Zion Hort Die Wachter Singen


     


    * * *


    Khởi đầu cùng với sự nghiệp của “Ngũ đại tiền bối” trong thời kỳ Baroque, nền nhạc cổ điển tây phương sẽ đạt tới đỉnh cao với Mozart, Beethoven… của thời kỳ vàng son, trước khi bước vào thời kỳ lãng mạn với Schubert, Chopin, Brahms… Những tên tuổi cùng với tác phẩm sẽ được chúng tôi lần lượt điểm qua trong loạt bài này.


     


    PHỤ LỤC (Audio):


    (1) VIVALDI: The Four Seasons, Spring


    01- Vivaldi – Four Seasons


    (2) HANDEL: For Unto Us a Child Is Born


    02- Handel – For Unto Us A Child Is Born


    (3) BACH: Toccata and Fugue


    03 – Bach- Toccata & Fugue In D Minor, BWV 565 (Excerpt)


    (4) BACH: Zion Hort Die Wachter Singen


    04 – Bach- Zion Hort Die Wachter Singen


    Hoài Nam


     


     


    ©T.Vấn 2012


    Last edited by saomai; 01-07-2015, 06:20 AM.
  • saomai
    Moderator
    • Jun 2008
    • 2146

    #2
    Fur Elise (Khi tình yêu tới) –BEETHOVEN- Kiều Nga

    clip_image002


     


    Ludwig van Beethoven (1770-1827)


    Sau thời kỳ phát triển vào thế kỷ thứ 16, 17, với “ngũ đại tiền bối” Corelli, Vivaldi, Scarlatti, Handel và Bach, bước sang thế kỷ thứ 18, nền nhạc cổ điển tây phương đã đạt tới đỉnh cao, với danh sư Haydn của Áo và hai thiên tài Mozart (Áo), Beethoven (Đức).


    Một cách chính thức, nền nhạc cổ điển tây phương (Classical Musics) được chia ra làm ba thời kỳ (era, hoặc period) là Baroque era, Classical era, và Romantic era.


    “Baroque era” là thời kỳ phát triển, chúng tôi đã trình bày trong bài dẫn nhập, còn “Classical era”, tạm dịch là “thời kỳ cổ điển”. Theo sự phân chia của các nhạc sử gia, “Classical era” là thời gian từ năm 1750 tới 1830. Việc sử dụng chữ “Classical” để gọi MỘT THỜI KỲ trong nền nhạc cũng được gọi là “Classical”, đã gây nhức đầu cho nhiều người, kể cả người tây phương, vì thế trừ những trường hợp bắt buộc, người ta thường sử dụng hai chữ “thời kỳ vàng son” (Golden era) một cách bán chính thức thay cho “thời kỳ cổ điển”.


    * * *


    clip_image003


    Joseph Haydn (1732-1809)


    Tên tuổi nổi tiếng thứ nhất của thời kỳ vàng son là Joseph Haydn. Đúng ra, tên của ông bằng tiếng Áo là Franz Joseph Hayden, nhưng vì người Đức gọi ông là Joseph Haydn, cho nên hậu thế cũng gọi theo. Sinh năm 1732 và mất năm 1809, Joseph Haydn được xem là “Cha đẻ của nhạc giao hưởng” (Father of the Symphony), “Cha đẻ của tứ tấu đàn dây” (Father of the String Quartet). Ngoài ra ông còn có công lớn trong việc phát triển thể loại tam tấu “piano trio”, gồm dương cầm, vĩ cầm và cello.


    Bước sang thời hiện đại, các sáng tác của Joseph Haydn ngày càng ít được phổ biến, nhưng vào những năm cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19, ông là nhà soạn nhạc được ái mộ nhất ở Âu châu.


    Joseph Haydn có người em trai cũng là một nhà soạn nhạc nổi tiếng, Michael Haydn. Đồng thời, ông còn là bạn già của Mozart và sư phụ của Beethoven.


    * * *


    clip_image004


    Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791)


    Tới đây viết về thiên tài Wolfgang Amadeus Mozart. Ông sinh năm 1756, sau Haydn một phần tư thế kỷ, nhưng lại qua đời trước vị danh sư 18 năm! Mozart được hậu thế xem là nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất và tạo nhiều ảnh hưởng nhất của thời kỳ vàng son trong nền nhạc cổ điển. Bên cạnh đó, ông còn là một nhạc sĩ dương cầm xuất chúng.


    (Phụ lục: Audio (1)


    “Elvira Madigan” – Piano Concerto No. 21, MOZART


    Mozart qua đời tại thành Vienne khi mới 35 tuổi, nhưng đã để lại một sự nghiệp vĩ đại, gồm trên 600 tác phẩm thuộc đủ các thể loại: giao hưởng, đại hòa tấu, thính phòng, opera, hợp xướng, hòa tấu, và độc tấu cho nhiều loại nhạc cụ khác nhau.


    Chỉ tính thể loại giao hưởng, Mozart đã viết 41 bản có đánh số thứ tự từ 1 tới 41, và ít nhất là 10 bản không đánh số.


    Về thể loại “serénade” (dạ khúc), Mozart viết tới 13 bản, mà bản quen thuộc nhất, sống ở xã hội tây phương, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng nghe qua ít nhất một lần trong đời. Đó là bản Serénade số 13, cung Sol trưởng, viết cho ban nhạc thính phòng, có tựa đề bằng tiếng Đức là “Eine Kleine Nachtmusik”, nghĩa là “tiểu dạ khúc”.


    (Phụ lục: Audio (2)


    02- Mozart


    Nhận xét về Mozart, Joseph Haydn đã viết như sau: “Đây là một tài năng mà có lẽ trong vòng 100 năm sắp tới, không thể tìm ra một người thứ hai”.


    Về phần Beethoven, chính thiên tài âm nhạc này đã nhìn nhận những sáng tác của mình trong thời gian đầu là ” viết dưới cái bóng của Mozart!”.


    * * *


    Nói về Beethoven, một số tác giả đã xưng tụng: trong nền nhạc cổ điển tây phương có ba chữ “B” lớn: BACH của thời kỳ phát triển, BEETHOVEN của thời kỳ vàng son; và BRAHMS của thời kỳ lãng mạn.


    Thực ra, nếu chỉ xét tính cách đa dạng, phong phú của các sáng tác, Beethoven không thể sánh với Mozart. Nhưng với không ít người yêu nhạc, các sáng tác của Beethoven lại độc đáo hơn. Bên cạnh đó, ông còn được xem là người đã khởi xướng một sự chuyển đổi từ khuynh hướng cổ điển sang khuynh hướng lãng mạn, và đã để lại ảnh hưởng sâu đậm nơi các tài danh của thời kỳ lãng mạn như Schubert, Mendelssohn, Liszt, Wagner…


    Ludwig van Beethoven ra chào đời ngày 16 tháng 12 năm 1770, tại thành phố Bonn, vương quốc Cologne, ngày nay thuộc Tây Đức.


    Beethoven là một dòng họ của âm nhạc. Ông nội của Ludwig van Beethoven từng giữ chức Giám đốc âm nhạc trong triều đình Cologne, cha của ông là ca sĩ tenor trong ban nhạc nói trên, ngoài ra cha ông còn dạy dương cầm và vĩ cầm để có thêm nguồn thu nhập cho gia đình.


    Năm lên 5 tuổi, Beethoven bắt đầu được cha dạy nhạc, và qua năm sau, cùng một lúc đã được 3 nhạc sĩ khác – đồng nghiệp của cha hoặc họ hàng, kèm dạy 4 loại nhạc cụ: đại phong cầm, dương cầm, vĩ cầm và trung vĩ cầm (viola).


    Năm 7 tuổi, Beethoven bắt đầu trình diễn trước công chúng. Năm 13 tuổi, Beethoven sáng tác những bản nhạc đầu tiên, gồm 1 bản cho đại phong cầm, và 3 bản cho dương cầm.


    Năm 17 tuổi, nghe danh Mozart, Beethoven rời Bonn tới thành Vienne để xin bái sư. Nghe Beethoven đàn thử, Mozart hết lời khen ngợi. Nhưng chỉ 3 tuần lễ sau đó, được tin mẹ đau nặng, Beethoven phải bỏ Vienne trở về Bonn. Ít lâu sau, mẹ ông qua đời; cha ông trước đó vốn đã có tật nghiện rượu, nay càng nghiện nặng hơn, và Beethoven đã phải trở thành người kiếm tiền về để nuôi hai em trai.


    Trong thời gian 5 năm sau khi mẹ chết, công việc chính của Beethoven là qua sự giới thiệu của bạn bè, làm người dạy nhạc cho con cái các nhà quý tộc.


    Năm 1792, Beethoven lại bỏ Bonn để tới Vienne tìm đường tiến thân. Khi ấy, Mozart đã qua đời, nên Beethoven vừa thọ giáo danh sư Joseph Haydn về nhạc lý, vừa trình diễn dương cầm tại phòng khách của các nhà quý tộc, và trở nên nổi tiếng. Không còn phải bận tâm về sinh kế, tài năng thiên phú nơi Beethoven bắt đầu phát triển.


    (Phụ lục: Audio (3)


    (Phụ lục: Audio (3)


    * * *


    Như chúng tôi đã trình bày ở trên, xét về tính cách đa dạng, phong phú của các sáng tác, Beethoven không thể sánh với Mozart. Thế nhưng những người ái mộ Beethoven cũng có quyền đặt một câu hỏi ngược lại: nếu Mozart cũng bị điếc vào tuổi 26, 27 như Beethoven, liệu sau đó Mozart có còn khả năng sáng tác như Beethoven hay không? Không ai có thể trả lời!


    Nguyên từ năm 1796, hai tai của Beethoven bắt đầu mất dần khả năng nghe, gây nhiều khó khăn trong việc trình diễn và giao tiếp hàng ngày. Nhưng khả năng sáng tác thì không hề bị suy giảm. Cũng nên biết tất cả mọi bản giao hưởng, và hầu hết các “piano concerto” của Beethoven đều được ông sáng tác từ năm 1801 trở về sau. Có nghĩa khi sáng tác, Beethoven đã sử dụng trí tưởng tượng nhiều hơn là thính giác.


    Người ta kể lại rằng, trong buổi trình diễn bản giao hưởng số 9 của ông – bản giao hưởng được xưng tụng là hay nhất của nền nhạc cổ điển – khi bản nhạc chấm dứt, không nghe thấy tiếng vỗ tay, ông vô cùng thất vọng. Tới khi quay xuống phía cử tọa, nhìn thấy mọi người đang vỗ tay nhiệt liệt, ông đã khóc. Vừa khóc vì thành công của bản giao hưởng sau cùng của mình, vừa khóc vì sực nhớ lại mình đã bị điếc hoàn toàn.


    * * *


    Trong tổng số 9 bản giao hưởng của Beethoven, các bản số 3, số 5, và số 9 nổi tiếng nhất.


    Bản số 3 nổi tiếng vì được Beethoven đề tặng Napoléon Bonaparte nhưng sau đó lại đổi ý. Nguyên vào thời kỳ hỗn loạn sau cuộc Cách mạng Pháp 1789, tướng Bonaparte từ Ai-cập trở về ổn định tình hình và lên làm Đệ nhất Tổng tài (First Consul) của nền Cộng hòa Pháp.


    Với Beethoven và những người có tư tưởng cấp tiến, chống chế độ quân chủ chuyên chế, thì Bonaparte là một người hùng. Vì thế, mặc dù được ông Hoàng Franz Joseph Maximillian Lobkowitz đề nghị trả một số tiền khá lớn để đề tặng bản giao hưởng số 3 cho ông ta, Beethoven vẫn quyết định đề tặng “free” cho Tướng Bonaparte.


    Nghe kể lại, sau khi được tin Bonaparte dẹp bỏ chế độ cộng hòa và tự xưng hoàng đế – tức Nã-phá-luân đệ Nhất, Beethoven đã đùng đùng nổi giận, tiến tới bàn làm việc và xét nát trang đầu của bản giao hưởng trên có ghi lời đề tặng vị tướng anh hùng!


    Còn bản giao hưởng số 9 thì được xưng tụng là bản giao hưởng hay nhất của nền nhạc cổ điển. Tuy nhiên, bản này khá “cao”, muốn thưởng thức hay trình diễn cũng đều phải có trình độ tương đối cao.


    Còn nhớ vào cuối thập niên 1980, khi chế độ cộng sản Trung Hoa “trình làng” dàn nhạc giao hưởng thành phố Bắc Kinh, để chứng tỏ mình đã đủ trình độ quốc tế, dàn nhạc này đã trình diễn bản giao hưởng số 9 của Beethoven.


    Tuy nhiên, với người yêu nhạc cổ điển nói chung – tức là thuộc đủ mọi trình độ, thì bản giao hưởng số 5 của ông mới chính là bản phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất, được nhiều dàn nhạc trình diễn nhất. Điểm độc đáo của bản giao hưởng số 5 là chỉ cần qua 4 nốt nhạc đầu tiên, Beethoven đã cho thấy ông là một thiên tài, và các nhà phê bình đã xưng tụng đó là bốn nốt nhạc tuyệt vời nhất trong cả nền nhạc cổ điển.


    (Phụ lục: Audio (4)


    (Phụ lục: Audio (4)


    * * *


    Sự nghiệp âm nhạc của Beethoven lạ thường như thế nào, thì cuộc sống tình cảm của ông cũng lạ lùng như thế. Khác với đa số nghệ sĩ cùng thời, thường biết yêu rất sớm, hoặc ít ra cũng có một nàng thơ (muse) để tìm nguồn cảm hứng, chẳng hạn Chopin vào năm mới 16 tuổi, riêng Beethoven mãi tới năm 30 tuổi, mới rung động lần đầu tiên trước một người con gái, dẫn đưa tới một chuyện tình éo le, sẽ theo ông suốt một đời.


    Nguyên vào giữa năm 1799, Beethoven được mời dạy dương cầm cho hai cô con gái của Nữ bá tước Anna Brunsvik. Mặc dù thời gian dạy đàn cho các cô chưa đầy một tháng, giữa Beethoven và cô chị Joséphine đã nảy sinh một tình cảm đặc biệt. Nhưng lúc đó, Joséphine đã được hứa gả cho ông Bá tước già Josef Deym, và mấy tháng sau về làm vợ ông. Từ đó, Beethoven thường lui tới nhà vị bá tước, khi thì dạy đàn cho Joséphine, khi thì trình diễn trong các dịp tiệc tùng do hai vợ chồng Bá tước tổ chức.


    Mặc dù sau này người ta được biết Joséphine không tìm được hạnh phúc trong cuộc hôn nhân sắp đặt và quá chênh lệch tuổi tác ấy, nàng cũng sinh năm một, lần lượt cho ra chào đời bốn người con. Chỉ tới khi Bá tước Josef Deym qua đời sau 5 năm chung sống, chuyện tình giữa Joséphine và Beethoven mới trở nên thắm thiết.


    Điều oái ăm là 4 năm trước đó, tức năm 1800, chính chị em Joséphine lại đã giới thiệu Beethoven với tiểu thư Giulietta Guicciardi. Chuyện tình của Beethoven với Giulietta đã được chính ông kể lại trong lá thư viết cho một người bạn thân vào năm 1801.


    Tuy nhiên, cuộc nhân duyên giữa Beethoven và Giulietta Guicciardi đã không thành vì bị ông bố của nàng kịch liệt phản đối, bởi ông cho rằng một người xuất thân từ hàng thứ dân như Beethoven không xứng với cô con gái cành vàng lá ngọc của ông.


    Hai năm sau, Giulietta lấy Bá tước Wenzel Robert von Gallenberg. Mười chín năm sau, cuộc hôn nhân tan vỡ, Giulietta đề nghị Beethoven nối lại tình xưa nhưng ông đã lạnh lùng từ chối.


    Nhưng dù không thành, chuyện tình của Beethoven với Giulietta Guicciardi cũng đã để lại cho đời một nhạc khúc bất hủ, mà ông đã đề tặng nàng khi tình còn đẹp. Đó là bản sonata số 14, soạn cho dương cầm, có tựa đề là “Ánh trăng” – tức “Clair de Lune” trong tiếng Pháp, “Moonlight” trong tiếng Anh.


    Bản này, cùng với bản “Fantaisie Impromtu” của Chopin mà chúng tôi sẽ giới thiệu trong nay mai – một bản êm đềm chậm rãi, một bản réo rắt dồn dập, là hai bản cổ điển được những người đàn dương cầm ưa chuộng nhất.


    (Phụ lục: Audio (5)


    Phụ lục: Audio (5)


    * * *


    Trở lại với mối tình đầu của Beethoven, năm 1804, Bá tước Josef Deym qua đời, Joséphine trở thành góa phụ. Thế là 5 năm tình cũ, giờ đây mới được thỏa nguyện. Nhưng Joséphine chỉ muốn làm người tình của Beethoven chứ không muốn chung sống chính thức như vợ chồng. Theo lời kể lại của những người biết rõ câu chuyện, ngày ấy Beethoven đã tha thiết ngỏ lời cầu hôn, nhưng bị Joséphine khước từ.


    Để rồi 3 năm sau, 1807, Joséphine đã phải nuốt lệ chấm dứt hẳn với Beethoven. Nàng đem bổn phận của một người mẹ với bốn con thơ dại làm lý do để viện dẫn, nhưng người ngoài thì hiểu nguyên nhân chính là vì Joséphine thuộc dòng dõi quý tộc, còn Beethoven xuất thân chốn dân dã, nàng cần giữ thanh danh vì tương lai của các con.


    Ngoài Joséphine Deym và Giulietta Guicciardi, còn có thêm một bóng hồng đặc biệt khác trong đời Beethoven – mà hậu thế tin rằng đã được ông đề tặng nhạc khúc bất hủ “Fur Elise”.


    clip_image005


    Thérèse Malfatti


     


    Bóng hồng ấy là Thérèse Malfatti, một nữ nhạc sĩ dương cầm ở thành Vienne, vừa là bạn vừa là học trò của Beethoven, kém ông 22 tuổi.


    Thérèse là con gái của một thương gia giàu có, sau này được triều đình Áo phong tước. Nàng và cô em gái Anna rất yêu nhạc; năm 1811, Anna kết hôn với Ignaz von Gleichenstein, một người bạn trẻ của Beethoven.


    Về phần Thérèse, trước đó 1 năm, tức 1810, đã được Beethoven ngỏ lời nhưng nàng khước từ. Có điều lạ là tuy từ chối lời cầu hôn của Beethoven, Thérèse vẫn duy trì một “mối tình văn nghệ” với nhà nhạc sĩ mãi cho tới năm 1816, khi nàng trở thành vợ của một nhà quý tộc kiêm chính khách người Áo.


    Gần một nửa thế kỷ sau, vào năm 1865, tức là 38 năm sau ngày Beethoven qua đời, và Thérèse cũng đã yên giấc nghìn thu được 14 năm, nhạc sĩ Ludwig Nohl mới khám phá ra trong số di sản về âm nhạc mà bà để lại cho người thừa kế, có bản thảo viết tay tựa đề “Fur Elise” của Beethoven, đề tặng Thérèse ngày 27 tháng Tư năm 1810 – tức là thời gian Beethoven ngỏ lời với Thérèse. Ludwig Nohl liền xin sao chép bản thảo này và 2 năm sau (1867) cho xuất bản.


    Có điều đáng nói là từ đó cho tới nay, không một ai được nhìn thấy bản thảo nguyên thủy của Beethoven đề tặng Thérèse. Nghĩa là nếu bản thảo ấy có thực, nó đã bị thất lạc vĩnh viễn.


    Tạm thời tin vào tất cả những gì nhạc sĩ Ludwig Nohl kể lại, một câu hỏi cũng phải được đặt ra: tại sao tựa đề nhạc khúc ấy lại là “Fur Elise” – có nghĩa là “cho nàng Elise”.


    Elise là ai?


    Vì “Elise” là một cách gọi thân mật của “Elisabeth”, cho nên có giả thuyết cho rằng Beethoven viết nhạc khúc này để tặng Elisabeth Rockel, một nữ ca sĩ giọng soprano nổi tiếng của Đức đương thời, và cũng là một người bạn trẻ của Beethoven; nếu thế, tại sao bản này lại được ông đề tặng cho Thérèse Malfatti?!


    Không ai có câu trả lời, để rồi lâu lâu lại có thêm một giả thuyết, một huyền thoại mới. Giả thuyết ra vẻ ly kỳ nhất cho rằng chính người thừa kế của Thérèse Malfatti đã giả chữ viết và chữ ký của Beethoven để ghi lời đề tặng “tưởng tượng” ấy (cho Thérèse) lên bản thảo.


    Gần đây nhất, trong luận án tiến sĩ âm nhạc của mình, nhà nhạc học người Ý Luca Chiantore còn đi xa hơn khi cho rằng, bản thảo “Fur Elise” mà Thérèse Malfatti để lại cho người thừa kế, không phải là bản thảo nguyên thủy của Beethoven, mà là do người khác sao chép lại.


    Nhưng nói cho cùng, dù Beethoven sáng tác bản “Fur Elise” để tặng nàng ca sĩ trẻ Elisabeth Rockel hay tặng người tình Thérèse Malfatti, hoặc chẳng tặng ai cả, giá trị để đời của nhạc khúc ấy cũng như sự yêu thích của người thường ngoạn, cũng không thay đổi.


    Cũng xin viết thêm, “Fur Elise” thuộc thể loại “bagatelle”, có nguồn gốc từ Pháp, là những nhạc khúc ngắn, đơn giản, vui tươi, thường được viết cho dương cầm.


    (Phụ lục: Audio (6)


    Phụ lục: Audio (6)


    * * *


    Ludwig van Beethoven qua đời ngày 26 tháng 3 năm 1827, hưởng dương 56 tuổi. Đúng vào lúc ông tắt thở, một cơn giông tố sấm sét chưa từng thấy đã ập xuống thành Vienne. Kết quả giảo nghiệm cho thấy Beethoven chết vì xơ gan, có lẽ do hậu quả của việc uống rượu quá độ trong những năm cuối đời.


    Hơn 20.000 người dân thành Vienne đã tiễn đưa Beethoven tới nơi an nghỉ sau cùng. Trong số những người khiêng quan tài của ông có Franz Schubert, tác giả hai bản Ave Maria và Dạ Khúc bất hủ. Để rồi một năm sau, chính Schubert cũng qua đời, và yên nghỉ bên cạnh Beethoven trong nghĩa trang Wahring ở ngoại ô thành Vienne.


    * * *


    Trở lại với bản “Fur Elise”. Bản này được Beethoven soạn cho dương cầm, nhưng vì được quá nhiều người yêu chuộng, sau này đã được soạn hợp âm cho cả tây-ban-cầm, mà hầu như những ai chơi đàn ghi-ta classic cũng đều nhuần nhuyễn!


    Tới năm 1959, “Fur Elise” được đặt lời bằng tiếng Pháp với tựa đề “Tout l’amour” – Trọn tình em trao anh – và được nữ danh ca Dalida trình bày theo thể điệu Mambo, đã trở thành ca khúc ngoại quốc được ưa chuộng bậc nhất trong suốt mấy năm liền tại Hòn ngọc viễn đông.


    (Phụ lục: Audio (7)


    Phụ lục: Audio (7)


    Về sau, ca khúc này đã được đặt lời Việt với tựa đề “Khi tình yêu tới”, và được Kiều Nga trình bày thể điệu New Wave.


    Sinh thời, Beethoven được mô tả là người rất khó tính. Tuy nhiên có lẽ giờ này dưới suối vàng, ông cũng mỉm cười bao dung, thậm chí mãn nguyện, trước việc một tác phẩm cổ điển của mình lại được cả thế hệ trẻ ngày nay yêu chuộng.


    (Phụ lục: Audio (8)


    Phụ lục: Audio (8)


    Nhưng vinh dự lớn nhất trong những vinh sự dành cho Ludwig van Beethoven phải là việc một đoạn trong bản giao hưởng số 9 của ông đã được sử dụng làm nhạc thiều chung cho cả Âu Châu (European anthem).


    Đó là đoạn thứ tư và cũng là phần kết của bản giao hưởng này, có tựa đề là “Ode to Joy” (Bài hoan ca).


    Vào năm 1985, các vị nguyên thủ quốc gia thuộc Cộng Đồng Âu Châu (European Community – tới năm 1993 trở thành Liên Hiệp Âu Châu, European Union) đã quyết định chọn bản “Ode to Joy”, với ý nghĩa: Tự do, Hòa bình và Đoàn kết.


    (Phụ lục: Audio (9)


    Phụ lục: Audio (9)


    PHỤ LỤC:


    (1) “Elvira Madigan” – Piano Concerto No. 21, MOZART


    (1) “Elvira Madigan” – Piano Concerto No. 21, MOZART


    2) “Eine kleine Nachtmusik”, MOZAR


    (2) “Eine kleine Nachtmusik”, MOZART


    (3) “The Tempest” – Piano Sonata No. 17, BEETHOVEN


    03- Beethoven


    (4) Symphony No. 5, part I, BEETHOVEN


    04- Beethoven Symp 5


    (5) “Moonlight” – Piano Sonata No. 14, BEETHOVEN )


    05- Beethoven Moonlight


    (6) “Fur Elise”- Bagatelle, BEETHOVEN


    06- Beethoven Fur Elise


    (7) “Tout l’amour”, DALIDA


    07- Dalida tout lamour


    (8) “Khi tình yêu tới”, KIỀU NGA


    08- kieu Nga Khi tinh yeu toi


    (9) “Ode to Joy”, Symphony No.9, BEETHOVEN


    09- Beethoven Symp 9


    Hoài Nam


     


    © T.Vấn 2012


    Last edited by saomai; 10-10-2014, 06:13 PM.

    Comment

    • saomai
      Moderator
      • Jun 2008
      • 2146

      #3
      Fur Elise (Khi tình yêu tới) –BEETHOVEN- Kiều Nga


      Comment

      • saomai
        Moderator
        • Jun 2008
        • 2146

        #4
        Sérénade ( Dạ Khúc ) – Schubert

        clip_image002


        Franz Schubert.


        Franz Schubert là nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất của đầu thời kỳ lãng mạn (Romantic era) trong nền nhạc cổ điển tây phương. Tác giả của bản Serénade bất hủ, ca khúc Ave Maria để đời, và bản Giao hưởng Dang dở (Symphonie Inachevée) đầy huyền thoại.


        Franz Schubert cũng là người chết trẻ nhất. Nếu hậu thế đã phải tiếc thương một Chopin qua đời vào tuổi 39, một Mozart vào tuổi 35, thì lại càng phải xót xa cho Schubert, vì ông mất năm mới 31 tuổi!


        Thế nhưng, nếu nói về số lượng, Schubert lại đứng đầu các tác giả nhạc cổ điển với trên 1000 tác phẩm, gồm khoảng 600 ca khúc, 9 bản giao hưởng, 6 lễ nhạc Công giáo, 5 vở opera, 21 bản sonata, 31 bản thính phòng, cùng nhiều sáng tác ngẫu hứng, và các bản độc tấu dành cho dương cầm.


        Phần lớn tác phẩm của Schubert chỉ được biết tới và đón nhận sau khi ông đã qua đời. Nguyên nhân chính là lúc còn sống, ông không có nhiều cơ hội phổ biến rộng rãi các sáng tác của mình, mà thường chỉ giới hạn trong vòng bạn bè thân quen, và một số người ái mộ. Chỉ sau khi Schubert mất, các nhạc sĩ bạn, hoặc thuộc hệ kế tiếp, như Franz Liszt, Robert Schuman, Felix Mendelssohn, mới bỏ công thu thập và phổ biến các sáng tác để đời của ông.


        Franz Peter Schubert ra chào đời ngày 31 tháng 1 năm 1797 tại Alsergrund, một vùng ngoại ô của thành Vienne, kinh đô Áo quốc. Cha ông, Franz Theodor Schubert, mở một trường học – vừa dạy chữ vừa dạy nhạc – tại Quận Lichtental, nơi mà các con trai của ông lần lượt trở thành giáo viên.


        Mặc dù không phải là một nhạc sĩ nổi tiếng, cũng không xuất thân từ một nhạc viện nào, nhưng Franz Theodor Schubert rất đông học trò. Năm lên 5 tuổi, Franz (Peter) Schubert bắt đầu được cha dạy vĩ cầm, và anh trai Ignaz dạy dương cầm.


        Năm lên 7, Schubert được ông Michael Holzer, nhạc sĩ đại phong cầm kiêm ca đoàn trưởng của nhà thờ địa phương thu nhận làm học trò.


        Năm 17 tuổi, Franz Schubert nối gót hai anh trai Ferdinand và Ignaz trở thành giáo viên tại trường học của thân phụ, đồng thời gia đình Schubert cũng đủ tay đàn để thành lập một ban tứ tấu đàn dây (string quartet), trong đó Ferdinand và Ignaz chơi vĩ cầm, Franz “con” chơi trung vĩ cầm (viola), còn Franz “bố” chơi cello. Các sáng tác đầu tay của Franz Schubert chính là các bản viết cho ban tứ tấu gia đình.


        [Chú thích: mặc dù đàn dây (string instrument) gồm cả đàn ghi-ta, banjo, mandolin, ukulele, hạc cầm (harp), double bass..., nhưng riêng trong nhạc cổ điển, chữ "string quartet" (tứ tấu đàn dây) phải được hiểu là 4 cây đàn thuộc họ vĩ cầm (bowed string instrument), gồm: 2 vĩ cầm (violin), 1 trung vĩ cầm (viola), và 1 cello]


        Cũng vào năm 17 tuổi (1814), Franz Schubert chính thức tỏ tình với cô bạn gái Thérèse Grob, 16 tuổi.


        clip_image003


        Thérèse Grob


        Nguyên Thérèse và người em trai Heinrich là con của chủ nhân một hãng dệt lụa ở gần nhà Schubert. Hai gia đình cùng đi lễ ở nhà thờ Lichtental, nơi Therèse là giọng soprano chính của ca đoàn.


        Năm đó (1814), thánh đường Lichtental kỷ niệm đệ bách chu niên, Franz Schubert được trao trách nhiệm soạn lễ nhạc (Mass), và đích thân điều khiển dàn nhạc cùng ca đoàn, trong đó Thérèse Grob hát solo phần soprano.


        clip_image004


        Thánh đường Lichtental


        Từ đó, Thérèse được cha mẹ cho phép tự do lui tới gia đình Schubert để đàn hát với anh em Franz, và không quên dắt theo cậu em trai Heinrich của nàng, cũng là một tài năng trẻ về cả dương cầm lẫn vĩ cầm.


        Nhưng cuộc tình đẹp của hai người chỉ kéo dài được 3 năm. Không phải lòng người đổi thay mà vì luật lệ khắc nghiệt về hôn nhân của đế quốc Áo thời bấy giờ. Theo đó, tất cả mọi nam công dân Áo muốn lấy vợ phải làm đơn, và phải chứng minh có đủ khả năng tài chánh để nuôi vợ con thì mới được phép kết hôn.


        Biết rằng dạy nhạc tại trường học của thân phụ không thể xem là một “công việc vững chắc”, tháng Tư năm 1816, Franz Schubert nộp đơn xin làm thầy giáo dạy nhạc tại Trường sư phạm ở Ljubljana (ngày nay là thủ đô của Slovenia, ngày đó là một thành phố thuộc đế quốc Áo), nhưng đơn bị bác.


        Chán nản, tháng 11 năm ấy, Franz Schubert quyết định “trả tự do” cho Thérèse. Chàng nhờ Heinrich, cậu em của Thérèse, trao cho nàng một tập 17 tình khúc sáng tác riêng cho nàng trong thời gian hai người yêu nhau, để làm kỷ vật. Bốn năm sau, Thérèse lấy chồng. Tập ca khúc ấy trở thành gia bảo của dòng họ Grob, và tới thế kỷ thứ 20 đã được phổ biến với tên gọi “Thérèse Grob Songbook”.


        Sau khi bị bác đơn xin dạy nhạc tại trường sư phạm, dẫn đưa tới việc chấm dứt mối tình đầu, Franz Schubert bỏ nhà, bỏ luôn công việc dạy nhạc tại trường học của cha để tới sống với Schober, một cậu “học trò” đồng lứa tuổi.


        Nguyên Schober là con nhà khá giả, sống với bà mẹ trong một ngôi nhà rộng lớn. Cậu rất quý phục Schubert và từ lâu đã ngỏ ý mời vị thầy trẻ về sống tại nhà mình.


        Thời gian đầu, có lẽ vì tự ái, Schubert vừa sáng tác vừa nhận học trò để có thu nhập riêng, nhưng về sau, ông đã ngưng nhận học trò để dành hết thì giờ cho công việc sáng tác.


        Schubert ghi lại trong nhật ký của mình: “Mỗi ngày, tôi bắt đầu sáng tác từ sáng sớm, không ngừng nghỉ, xong bản này tôi bắt tay ngay vào việc viết bản khác!”


        Cũng trong năm 1816, vào tuổi 19, bên cạnh việc viết ca khúc, Schubert bắt đầu sáng tác các bản hòa tấu quy mô và các bản hợp xướng. Tuy nhiên tất cả mọi tác phẩm của ông đã không được xuất bản, mà chỉ được bạn bè và người ái mộ chép tay để phổ biến cho nhau.


        Qua năm 1817, may mắn đã tới với Schubert khi ông được giới thiệu với Johan Michael Vogl, đệ nhất danh ca giọng nam trung (baritone) của thành Vienne, hơn Schubert 20 tuổi. Chính nhờ danh tiếng và nghệ thuật trình bày của Johan Michael Vogl mà các ca khúc của Schubert bắt đầu được giới một điệu biết tới.


        “Ca khúc” nói tới ở đây, tiếng Đức gọi là “lieder”, là những bài hát lãng mạn được phổ từ thơ, hoặc có lời hát như thơ, mang nhiều giá trị văn chương, rất được ưa chuộng vào thế kỷ thứ 19.


        Trong số trên dưới 600 “lieder” của Schubert, nổi tiếng nhất phải là bản “Ave Maria”.


        ( Phụ lục: Audio (1) Ave Maria (Schubert), ANDREA BOCELLI ).


        p01- Track 13(1)


        Việc hậu thế gọi đây là bản “Ave Maria của Franz Schubert” xét tới nơi tới chốn là thiếu chính xác. Bởi vì ca khúc nguyên thủy của Schubert có tựa khác, và lời hát khác.


        Ngày ấy, nguồn cảm hứng đã tới với Schubert khi tập thơ Lady of the Lake – Đức Bà của Hồ nước – của thi hào Tô-cách-lan Sir Walter Scott được dịch sang tiếng Đức. Nhân vật chính trong tập thơ này, nữ anh hùng Ellens Douglas, trong thời gian trốn tránh quân thù bên bờ hồ, đã cầu nguyện Đức trinh nữ Maria bằng những lời thơ.


        Schubert vốn là người rất sùng đạo, đã phổ những lời thơ ấy thành các ca khúc, trong đó bản nổi tiếng nhất có tựa tiếng Đức là “Ellens dritter Gesang” (Ellens’ Third song – Bài hát thứ ba của Ellens).


        Điều này đã được xác định qua lá thư của Franz Schubert gửi cho cha mẹ, báo tin về sự thành công của ca khúc.


        Về sau, vì lời thơ (phổ nhạc) bắt đầu bằng hai tiếng “Ave Maria”, một, hay nhiều “thiên tài ẩn danh” nào đó đã lấy lời kinh “Ave Maria” bằng tiếng La-tinh (người Công giáo Việt Nam gọi là kinh “Kính Mừng”) thay thế lời hát nguyên thủy bằng tiếng Đức, để rồi dần dần hầu như ai cũng gọi đây là bản “Ave Maria của Schubert”, với mục đích phân biệt với một bản “Ave Maria” nổi tiếng khác, nhạc của Johann Sebastian Bach, lời của Charles Gounod.


        Chỉ có những thính giả có tinh thần hoài cổ và yêu thơ mới tìm nghe bản “Ave Maria của Schubert” với lời hát nguyên thủy, tức Ellens’ Third Song – Bài hát thứ ba của Ellens.


        Trước năm 1975 tại miền Nam VN, bản “Ave Maria của Schubert” đã được ít nhất hai nhạc sĩ đặt lời Việt, là Phạm Duy và Nguyễn Văn Đông. Điểm khác biệt chính là trong khi Phạm Duy dịch sát lời kinh, thì Nguyễn Văn Đông lại “Việt hóa” bằng cách lồng cuộc chiến tang tóc, cùng những khát vọng thanh bình vào lời hát.


        (Phụ lục: Audio (2) Ave Maria – Schubert/Nguyễn Văn Đông – Thái Thanh ).


        p02-Ave Maria – Thai thanh


        Sau năm 1975, trong CD “Kỷ niệm vàng son” thực hiện với mục đích gây quỹ từ thiện, Lê Dung, người nữ danh ca có giọng soprano cao vút, đã trình bày bản Ave Maria của Schubert với lời hát bằng tiếng Pháp, và gây ấn tượng mạnh nơi người yêu nhạc.


        ( Phụ lục: Audio (3) Ave Maria – Schubert/ lời Pháp/ Lê Dung).


        03- Track 8


        * * *


        Với hậu thế nói chung, 3 tác phẩm nổi tiếng nhất của Franz Schubert phải là: (1) bản “Ave Maria” đã nhắc tới ở trên, (2) bản Sérénade, tức Dạ khúc, và (3) bản Giao hưởng số 8, thường được gọi là Unfinished Symphony (tiếng Anh), hoặc Symphonie Inachevée (tiếng Pháp), nghĩa là bản “Giao hưởng Dở dang” – mà một số người đã “thi vị hóa”, cho rằng bản này đã được Schubert viết cho một “mối tình dang dở”!


        Nguyên vào mùa hè năm 1818, tức là 2 năm sau khi chấm dứt mối tình đầu với Thérèse Grob, Franz Schubert được mời tới lâu đài của Bá tước Johann Karl Eszterhazy ở Hung-gia-lợi, để dạy cho hai cô con gái của ông – Marie và Karoline – đàn dương cầm và hát.


        Theo các tác giả viết tiểu sử Franz Schubert, đây là khoảng thời gian hiếm hoi trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, nhà nhạc sĩ được thoải mái cả về lẫn vật chất lẫn tinh thần: đã “việc nhẹ lương hậu” còn được gần gũi nàng Karoline ngây thơ xinh đẹp. Từ gần gũi tiến tới say mê. Tuy nhiên, chỉ say mê chứ không mảy may hy vọng, bởi vì tuy còn nhỏ, Karoline đã đường đường là nữ bá tước – một vị nữ bá tước của dòng họ Eszterhazy – một dòng họ quý tộc nổi tiếng từ thời trung cổ, có nhiều lãnh địa ở khắp đế quốc Áo – Hung.


        clip_image006


        Cho nên, tình yêu của chàng nhạc sĩ nghèo 21 tuổi là tình đơn phương, tình tuyệt vọng, và đã trở thành đề tài cho một thi phẩm của thi sĩ Bauerfeld, một bạn thân của Schubert.


        Về phần Schubert, sau khi từ Hung-gia-lợi trở về Áo, chàng đã sáng tác bản song tấu dương cầm “Fantaisie cung Fa thứ”, đề tặng “Nữ bá tước Karoline Eszterhazy”. Chấm hết chuyện tình!


        Nhưng cũng chính vì chuyện tình đơn phương của Franz Schubert dành cho Karoline Eszterhazy mà người đời đã thi vị hóa cái tựa bản “Giao hưởng Dở dang” của nhà nhạc sĩ, cho rằng chữ “dở dang” ở đây là ám chỉ chuyện tình “dang dở” ấy!


        Nhưng trên thực tế, “dở dang” ở đây chỉ có nghĩa đen, là viết dở dang, vì một nguyên nhân khó hiểu nào đó chứ không phải vì Schubert không có thì giờ, bằng chứng là sau khi bỏ dở bản này, ông đã bắt tay vào việc viết, và hoàn tất bản giao hưởng số 9!


        Bản “Giao hưởng Dở dang”, tức bản số 8, được Franz Schubert bắt đầu viết vào năm 1822, tức là 6 năm trước khi qua đời. Thông thường, một bản giao hưởng gồm có 4 phần – tức “movement”. Schubert viết xong phần 1 và 2 thì ngưng. Mãi tới sau khi ông qua đời, người ta mới tìm thấy đoạn đầu của phần 3 và bố cục của phần 4.


        Gần 200 năm sau, cũng không một ai có thể trả lời câu hỏi: tại sao Schubert lại bỏ dở bản giao hưởng này? Càng đáng tiếc hơn nữa, là qua thưởng thức phần 1 và 2, người yêu nhạc cổ điển đều đồng ý với nhau rằng: nếu hoàn tất, đây sẽ là bản giao hưởng hay nhất của Schubert.


        Về sau, nhiều tổ chức văn hóa đã cho tổ chức những cuộc thi sáng tác để điền khuyết những phần còn thiếu. Tuy nhiên, tất cả mọi sáng tác đoạt giải đều bị giới thưởng thức nhạc cổ điển cho là không xứng hợp. Vì thế, có lẽ nghìn năm sau, bản “Giao hưởng Dở dang” vẫn còn… dang dở!


        Như vậy, trong số 3 tác phẩm nổi tiếng nhất của Franz Schubert, bản “Ave Maria” đã bị đổi tựa và lời hát nguyên thủy, bản Giao hưởng số 8 thì viết dở dang, có thể nói chỉ có bản Sérénade – Dạ khúc, là trọn vẹn.


        Điều thú vị nhất về Sérénade là bản này chỉ là một sáng tác ngẫu hứng, được Schubert viết trong một quán cà-phê!


        Tuy nhiên, trước khi viết về giai thoại này, cũng xin có đôi dòng về chữ “sérénade” trong nhạc cổ điển tây phương.


        “Sérénade” là tiếng Pháp (tiếng Anh viết là “serenade”), bắt nguồn từ tiếng Ý “serenata”. Theo các nhà ngữ học, “serenata” có nguồn gốc từ chữ “sereno”, trong tiếng Ý có nghĩa là thanh tịnh – peaceful.


        “Serenata” có từ thời trung cổ, và được định nghĩa là thể loại ca khúc êm dịu, được một anh chàng si tình nào đó, đứng trước nhà người đẹp, hướng lên cửa sổ, hay ban-công của phòng nàng mà hát để tỏ tình – như chàng Romeo đã tỏ tình với nàng Juliet trong kịch cổ điển của Shakespeare.


        Về sau, tới thời kỳ lãng mạn của nhạc cổ điển, đa số các nhà soạn nhạc đã sử dụng chữ “sérénade” của Pháp thay vì “serenata” của Ý, đồng thời nội dung cũng như hình thức của “sérénade” đã được nới rộng.


        Về nội dung, “sérénade” có thể để tặng người yêu, bạn thân, hay một người nào đó ngang hàng, hoặc vai vế thấp hơn, mà mình quý mến.


        Về hình thức, “sérénade” có thể là một ca khúc êm đềm, một nhạc khúc đơn giản – như trường hợp bản Sérénade của Schubert, cũng có thể là một bản giao hưởng ngắn – như trường hợp bản Sérénade của Mozart có tựa đề “Eine Kleine Nachtmusik” (Tiểu dạ khúc) mà chúng tôi đã nhắc tới trong bài trước. Với ý nghĩa, nội dung ấy, sérénade thường được trình diễn lúc chiều tối.


        Theo Von Hellbourn, một người bạn thân và cũng là người viết tiểu sử Schubert, thì bản Sérénade đã được nhạc sĩ sáng tác năm 1826, 2 năm trước khi qua đời.


        Hôm ấy là một buổi chiều Chủ Nhật êm ả trong công viên Zum Biersack của thành Vienne. Sau một cuộc đi dạo, Schubert và các bạn vào quán cà-phê ngoài trời trong công viên. Tại đây, một người bạn của Schubert đang ngủ gục, với cuốn sách đặt trên bàn. Schubert tiến tới cầm cuốn sách lên, lật trang và vô tình đọc được một câu thơ, liền buột miệng: “Ước gì có được một tờ giấy viết nhạc” – tức giấy có kẻ hàng sẵn để ghi nốt nhạc.


        Nghe Schubert nói thế, một người bạn nhanh trí lấy một tờ hóa đơn tính tiền, kẻ vội những hàng viết nhạc lên mặt sau, rồi đưa cho Schubert.


        Ngay trong buổi chiều hôm ấy, Franz Schubert đã để lại cho hậu thế bản sérénade bất hủ.


        (Phụ lục: Audio (4) Sérénade – Schubert – hòa tấu)


        p04-serenade


        Trước năm 1975, bản Sérénade của Schubert đã được Phạm Duy lời Việt với tựa “Dạ khúc”.


        (Phụ lục: Audio (5) Dạ khúc – Lệ Thu ).


        p05- – Da Khuc-Le Thu


        * * *


        Năm 1928, tình trạng sức khỏe của Schubert ngày càng trở nên đáng ngại, với các triệu chứng giống như bệnh thương hàn. Mùa hè năm ấy, bạn bè của nhạc sĩ đã thỉnh được quan ngự y Ersnt Rinna, một vị danh y đương thời, tới chẩn đoán, và được ông cho biết Schubert sẽ không qua khỏi mùa đông này.


        Thật vậy, tới đầu tháng 11, Schubert bị liệt giường, nhức đầu, lên cơn sốt và nôn mửa liên tục. Tới ngày 19 tháng 11 năm 1828, ông qua đời tại căn gác của người em trai ở thành Vienne, khi mới 31 tuổi.


        So với các nhạc sĩ lừng danh khác của nền nhạc cổ điển, Franz Schubert không chỉ chết trẻ nhất, mà còn sống lận đận nhất. Cả đời, ông chưa bao giờ tìm được một việc làm chính thức, chưa bao giờ có một chỗ ở riêng cho mình, và thường phải sống nhờ vào trợ cấp của cha mẹ, sự giúp đỡ của bạn bè; và cuối cùng, nhà nhạc sĩ ấy cũng không có được một người tình đưa tiễn ông về nơi an nghỉ sau cùng.


        Theo ước nguyện, Franz Schubert được mai táng bên cạnh mộ của Beethoven – người mà ông hằng tôn sùng – trong nghĩa trang Wahring ở ngoại ô thành Vienne.


        Sáu mươi năm sau, tức năm 1888, Schubert và Beethoven được cải táng, đưa về Nghĩa trang trung ương Zentralfriedhof, nơi có mộ phần của hai nhà soạn nhạc lừng danh khác: Johann Strauss, tác giả bản Le Beau Danube Bleu, tức Dòng sông xanh, và Johannes Brahms, tác giả bản Célèbres Valses, tức Mối tình xa xưa.


        Năm 1925, để chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày Franz Schubert qua đời, chính quyền thành Vienne đã cho cải biến nghĩa trang cũ ở làng Wahring thành “Công viên tưởng niệm Franz Schubert”. Huyệt mộ ngày trước nay được đánh dấu bằng một pho tượng bán thân của ông. Còn tại ngôi mộ mới của ông ở nội thành, thi sĩ Franz Grillparzer đã ghi lên mộ bia hàng chữ:


        “Nơi đây, âm nhạc đã vùi chôn một kho tàng, và biết bao ước vọng”.


         


        * * *


        Viết thêm về “AVE MARIA”


         


        Nếu không kể những bản Ave Maria mang tính cách thuần tôn giáo, người ta được biết có ít nhất là ba bản Ave Maria của “người đời”, trong đó nổi tiếng nhất là “Ave Maria của Schubert” (đã nhắc tới trong bài) và “Ave Maria của Bach/Gounod”.


        Bản Ave Maria của Bach/Gounod ra đời năm 1859 (34 năm sau bản Ave Maria của Schubert – tức “Ellens’ Third Song”). Ngày ấy, nhà soạn nhạc người Pháp Charles Gounod đã lấy một khúc nhạc của Johan Sebastian Bach viết trước đó 137 năm, sửa đổi lại cho phù hợp, rồi lồng lời kinh “Ave Maria” bằng tiếng La-tinh vào.


        Kết quả, hậu thế đã có thêm một bản Ave Maria bất hủ.


        (Phụ lục: Audio (6)- Ave Maria (Bach/Gounod) – Andrea Bocelli )


        p06-Ave Maria BachGounod – Andrea Bocelli


        Với những người thưởng thức nhạc cổ điển có trình độ cao, nét nhạc của bản “Ave Maria của Bach/Gounod” được đánh giá là trang trọng, thanh thoát hơn, vì mang âm hưởng của thời kỳ tiền cổ điển, tức Baroque era, trong khi bản “Ave Maria của Schubert”, sáng tác vào đầu thời kỳ lãng mạn, thì dễ nghe, dễ cảm, và dễ hát hơn hơn.


        Vì thế, nếu tính chung tất cả mọi thành phần nghe nhạc và hát nhạc cổ điển thuộc mọi trình độ, bản “Ave Maria của Schubert” được xem là phổ biến hơn.


        Vào thuở xa xưa, bản Ave Maria của Bach/Gounod thường được hát trong hôn lễ, còn bản Ave Maria của Schubert thường được hát trong tang lễ. Nhưng càng về sau càng có nhiều người sử dụng Ave Maria của Schubert trong hôn lễ; và hiện nay, theo một danh sách 10 ca khúc được ưa chuộng nhất trong hôn lễ được phổ biến trên Internet, Ave Maria của Schubert đứng hạng nhất, còn Ave Maria của Bach/Gounod đứng hạng tư.


        Nhưng dù sử dụng bản Ave Maria của Schubert hay Ave Maria của Bach/Gounod, cũng cần biết quy tắc của Thiên chúa giáo (Công giáo, Tin lành, hay bất cứ hệ phái nào có tổ chức nghi thức hôn phối trong thánh đường).


        Thông thường, một lễ cưới trong thánh đường gồm có 3 phần: (1) Prosession (cô dâu từ cuối nhà thờ tiến lên) – (2) Ceremony (buổi lễ hôn phối) – (3) Resession (đôi tân hôn rời vị trí).


        Theo đúng quy tắc, bản Ave Maria chỉ được hát TRONG BUỔI LỄ vào một khoảng thời gian im lặng nào đó SAU KHI nghi thức hôn phối đã được cử hành. Còn trong phần Prosession (cô dâu tiến lên), đã có những khúc nhạc dành riêng, được soạn theo nhịp bước của cô dâu, và trong phần Resession (đôi tân hôn rời vị trí) thì sử dụng những nhạc khúc, ca khúc viết về sự vui mừng, mà một trong những bản phổ biến nhất, ý nghĩa nhất là “Ode to Joy” của Beethoven.


        Trường hợp muốn du di, có thể sử dụng bản Ave Maria cho phần Prosession, nhưng dứt khoát không thể sử dụng cho phần Resession, bởi vì Ave Maria là một bài kinh (kinh Kính Mừng), không thể sử dụng như một ca khúc “mãn tuồng”!


        (Phụ lục: Audio (7) - Ave Maria (Bach/Gounod/Dương Thụ) – (Mỹ Linh)


        p07- Ava Maria – My Linh


         


        PHỤ LỤC:


        (1) Ave Maria (Schubert), ANDREA BOCELLI ).


        (1) Ave Maria (Schubert) – Andrea Bocelli-


        (2) Ave Maria – Schubert/Nguyễn Văn Đông – Thái Thanh ).


        (2) Ave Maria (Schubert/Nguyễn Văn Đông) – Thái Thanh


        (3) Ave Maria – Schubert/ lời Pháp/ Lê Dung).


        (3) Ave Maria (Schubert – lời Pháp) – Lê Dung-


        (4) Sérénade – Schubert – hòa tấu)


        (4) Sérénade (Schubert) – hòa tấu


        (5) Dạ khúc – Lệ Thu ).


        (5) Dạ khúc(Schubert/Phạm Duy) -Lệ Thu


        (6)- Ave Maria (Bach/Gounod) – Andrea Bocelli )


        (6) Ave Maria (Bach/Gounod) – Andrea Bocelli –


        (7) – Ave Maria (Bach/Gounod/Dương Thụ) – (Mỹ Linh)


        (7) Ave Maria (Bach/Gounod/Dương Thụ) – (Mỹ Linh)


        Hoài Nam


         


        ©T.Vấn 2012







        Sérénade (Dạ Khúc ) - Thái Thanh





        Dạ Khúc Serenade - Mai Hương
        Last edited by Nguyen Huu Thien; 06-12-2017, 12:42 PM.

        Comment

        • saomai
          Moderator
          • Jun 2008
          • 2146

          #5
          Tristesse (Nhạc buồn Chopin) – FRÉDÉRIC CHOPIN

          clip_image002


          FRÉDÉRIC CHOPIN (1810-1849)


          Với người yêu nhạc cổ điển nói chung, Chopin là một trong những bậc thầy vĩ đại nhất của thời kỳ lãng mạn, được xưng tụng là “thi sĩ làm thơ bằng dương cầm” (the poet of piano). Với giới nhạc sĩ dương cầm nói riêng, Chopin là đỉnh cao để mọi người ngưỡng vọng, mà không bao giờ với tới.


          Ngôn ngữ âm nhạc gọi Chopin là một “virtuoso” – tiếng Ý có nghĩa là một nhạc sĩ hay ca sĩ đã đạt tới tuyệt kỹ. Xét theo định nghĩa ấy một cách đúng đắn, tổng số “virtuoso pianist” từ trước tới nay chưa đủ để đếm trên 5 đầu ngón tay, bởi sau Chopin, chỉ có 3 người khác, là Franz Liszt, Arhur Rubinstein và Sergei Rachmaninoff.


          Chopin tên họ đầy đủ là Frédéric Francois Chopin, mang hai dòng máu Pháp – Ba-lan, ra chào đời ngày 1 tháng 3 năm 1810 tại làng Zelazowa Wola, thuộc Đại công quốc Warsaw (tức thủ đô Warsaw của Ba-lan ngày nay).


          Cha của Frédéric Chopin, ông Nicolas Chopin, sinh trưởng ở Lorraine, Pháp, nhưng tới năm 16 tuổi, theo một gia đình quý tộc gốc Ba-lan mà ông từng giúp việc, tới sống ở Warsaw. Tại đây, Nicolas Chopin làm nghề dạy tiếng Pháp cho giới quý tộc. Sau khi kết hôn với một cô gái Ba-lan, ông tham gia cuộc kháng chiến chống lại ách đô hộ của đế quốc Nga, với sự hậu thuẫn của người Pháp.


          Khi cậu bé Frédéric Chopin bắt đầu có trí khôn thì Hoàng đế Nã-phá-luân đệ Nhất đã phải thoái vị, hòa bình trở lại trên đất nước Ba-lan, nhưng vẫn dưới ách đô hộ của đế quốc Nga.


          Tuy nhiên, nếu bỏ qua yếu tố chính trị, có thể nói Frédéric Chopin đã có một tuổi niên thiếu được nhiều ưu đãi. Nhờ ông bố Nicolas làm giáo sư Pháp văn tại trường Warsaw Lyceum – trường trung học dành con trai của các danh gia vọng tộc – cả gia đình Chopin được cư ngụ trong ký túc xá của trường (ngày nay là cơ sở của Đại học Warsaw).


          Bên cạnh nghề giáo, ông Nicolas Chopin còn là một nhạc sĩ thổi sáo và đàn vĩ cầm, bà vợ Justina thì chơi dương cầm và dạy đàn cho các nam sinh nội trú. Frédéric Chopin lớn lên trong bầu không khí tràn ngập tiếng nhạc ấy, đặc biệt là tiếng dương cầm của bà mẹ.


          Có thể nói, Frédéric Chopin là một sự kết hợp giữa thiên tài và bản tính đa sầu đa cảm. Khi mới lên 5 tuổi, có lần nghe mẹ đàn, Frédéric Chopin đã khóc nức nở. Tuy nhiên, người đầu tiên dạy dương cầm cho Frédéric Chopin không phải là bà mẹ mà là cô chị cả Louise.


          Năm lên 6 tuổi, Chopin đã có khả năng đàn lại những khúc nhạc đã nghe, và có khi còn phối hợp, biến đổi để tạo thành một nhạc khúc mới, ngay trên phím đàn chứ không cần viết thành dòng nhạc!


          Tới năm 7 tuổi, Chopin trình diễn lần đầu tiên trước công chúng, và lập tức đã được giới thượng ngoạn so sánh với hai thần đồng đi trước, là Beethoven và Mozart.


          Cũng vào năm 7 tuổi, Chopin sáng tác hai nhạc khúc đầu tiên, đó là 2 bản Polonaises – tức thể điệu luân vũ dân gian của Ba-lan.


          * * *


          Năm Chopin 11 tuổi, khi Sa hoàng Alexander đệ Nhất tới Warsaw để khai mạc quốc hội Ba-lan, cậu đã được trình diễn trước vị hoàng đế. Tới năm 15 tuổi, Chopin đã được mọi người xưng tụng là nhạc sĩ dương cầm hay nhất ở thành Warsaw.


          Năm 16 tuổi, Chopin được vào Nhạc viện Warsaw, và được nhạc sư Josef Elsner nổi tiếng của Ba-lan hướng dẫn trong thời gian 3 năm về hai bộ môn nhạc lý và sáng tác.


          Sau này, trong thư từ trao đổi với bạn bè, Chopin đã tiết lộ “nàng thơ” (muse) đầu tiên của ông không ai khác hơn là cô bạn học xinh đẹp Konstancja Gladkowska, về sau trở thành nữ ca sĩ của Nhà hát Opera Warsaw. Những rung động thầm kín đầu đời ấy – về tâm hồn cũng như thể xác – của chàng trai 17 tuổi đã được Chopin biến thành dòng nhạc trong hàng chục nhạc khúc soạn cho dương cầm.


          clip_image004


          Konstancja Gladkowska (1810-1889)


          Tháng 8 năm 1829, ba tuần lễ sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Warsaw, Chopin được mời sang trình diễn ở thành Vienne, kinh đô nước Áo, và cũng là thủ đô âm nhạc của cả thế giới.


          Trở về Warsaw, vào cuối năm 1829 đầu năm 1830, tại Nhà hát Quốc gia, Chopin đã trình tấu hai bản Piano Concerto số 1 và số 2 nổi tiếng của ông, sáng tác vào tuổi 19 – cái tuổi mà trước kia, Beethoven và Mozart còn đang theo thầy.


          Cũng vào đầu năm 1830, Chopin bắt đầu viết những bản Études để đời. Chữ “étude” nguyên là tiếng Pháp, có nghĩa là “học tập”, tức “study” trong tiếng Anh. Trong phạm vi âm nhạc, “études” là những khúc nhạc được soạn với dụng ý để các nhạc sĩ tương lai luyện tập kỹ năng. Vì thế, thể loại études thường chú trọng tới kỹ thuật nhiều hơn là nghệ thuật.


          Nhưng riêng Chopin, trong số 27 bản études của ông, có khá nhiều bản đã trở thành những nhạc khúc để đời, chẳng hạn bản Étude số 3 của Opus 10 (“Opus”, viết tắt là “Op”, có nghĩa là “Tuyển tập”), mà về sau được hậu thế đặt tên là Tristesse, tiếng Pháp có nghĩa là Nỗi Sầu.


          Bên cạnh đó, Chopin cũng nổi tiếng với những sáng tác ngẫu hứng, tức “impromtu”, là những sáng tác không có chủ định trước, mà dòng nhạc, nét nhạc, hồn nhạc chợt đến theo nguồn cảm hứng. Một trong những sáng tác ngẫu hứng nổi tiếng của Chopin là bản “Fantaisie Impromtu”.


          (Phụ lục: Audio (1)- Fantaisie Impromtu


          01-Fantaisie Impromtu


          * * *


          Đầu tháng 10 năm 1830, chàng nhạc sĩ 20 tuổi rời Warsaw để lên đường chinh phục Âu châu.


          Khi ra đi Chopin đeo trên tay một cái nhẫn cho cô bạn Konstancja Gladkowska xinh đẹp ở Nhạc viện Warsaw ngày nào, nay trở thành nữ ca sĩ của Nhà hát Opera Warsaw, tặng chàng thay lời giã biệt; đồng thời Chopin còn cầm trên tay cái chén bằng bạc, đựng một nắm đất của quê hương.


          Không biết đây có phải là một cái điềm hay không, chỉ biết sau đó, Chopin đã không bao giờ trở lại cố hương! Bởi vì chỉ hơn 3 tuần sau, khi Chopin đang ở thành Vienne, cuộc nổi dậy của nhân dân Ba-lan chống lại ách nô lệ của đế quốc Nga bùng nổ. Tháng 9 năm 1831, trên đường từ Vienne tới kinh thành ánh sáng Paris, được hung tin cuộc nổi dậy đã bị quân Nga dẹp tan, Chopin đã thề sẽ không bao giờ trở lại, một khi trên quê hương còn bóng quân thù!


          Tại Paris, trong thời gian đầu, Chopin chỉ trình tấu dương cầm trong phòng khách của các biệt thự của giới quý tộc, hoặc các nhà tài phiệt yêu nhạc.


          Tuy nhiên, kể cả sau khi đã nổi tiếng ở Paris, Chopin cũng rất ít khi trình diễn tại các hí viện, bởi ông cho rằng cách đàn của mình thích hợp với khung cảnh của nhạc thính phòng hơn. Cho nên về sau, mỗi năm Chopin chỉ trình diễn một buổi duy nhất cho công chúng ở hí viện Salle Pleytel, một rạp hát chỉ có 300 ghế ngồi.


          Ngoài buổi trình diễn nói trên, Chopin chỉ đàn tại các phòng khách tư gia, các buổi họp mặt văn nghệ sĩ với số thính giả không quá 30 người. Tuy nhiên, khung cảnh mà ông ưa thích nhất vẫn là phòng khách trong căn apartment nhỏ hẹp mà ông thuê mướn.


          Năm 1835, Chopin tới Carlsbad, một thị trấn cổ kính ở Đức để gặp lại cha mẹ – và cũng là lần gặp gỡ cuối cùng. Trên đường trở lại Paris, khi đi qua vùng Saxony, Chopin được tái ngộ một số đồng hương Ba-lan đang sống lưu vong tại đây, trong đó có gia đình Công tước Wodzinski với ái nữ Maria. Năm năm về trước ở Warsaw, Maria còn là một cô bé con 11 tuổi, nay cô đã dậy thì, xinh đẹp, thông minh, với một tâm hồn nghệ sĩ.


          Bằng đó thứ đã khiến trái tim chàng nhạc sĩ 25 tuổi rung động, và được Maria đáp lại. Qua năm 1836, sau khi cùng gia đình Wodzinski nghỉ hè tại Dresden (Đức), Chopin ngỏ lời cầu hôn. Dĩ nhiên, Maria nhận lời, nhưng mẹ nàng chỉ chấp thuận trên nguyên tắc, nghĩa là cho hai người đình hôn rồi để đó, viện lý do Maria mới 17 tuổi, nhưng thực ra là vì tình trạng sức khỏe của Chopin.


          clip_image006


          Maria Wodzinska (1819-1896)


          Cũng nên biết, trong khoảng thời gian 2 năm 1835-1936, sức khỏe của Chopin trở nên tồi tệ tới mức có tin đồn ông đã chết.


          Cuộc nhân duyên bất thành giữa Frédéric Chopin và Maria Wodzinska không bao giờ được tiết lộ ra ngoài, mãi tới sau khi ông qua đời, người ra mới khám phá ra những lá thư của Maria và mẹ nàng, nữ Công tước Wodzinska, viết cho Chopin, được ông cất trong một phong bì lớn, với lời ghi chú bằng tiếng Ba-lan ở bên ngoài: “Nỗi sầu thảm của đời tôi”.


          Chuyện tình buồn ấy đã để lại cho hậu thế 9 tác phẩm, gồm có: Bản luân vũ biệt ly (Farewell Waltz), viết khi Chopin giã biệt Maria, và bản Étude số 2, Opus 25, viết sau khi trở về Paris, được ông gọi là “chân dung tâm hồn của Maria”; tiếp theo là 7 ca khúc phổ từ thơ của 3 thi sĩ Ba-lan thuộc trường phái lãng mạn. Bảy ca khúc này được Chopin gửi riêng cho Matia, còn Bản luân vũ biệt ly và bản Étude số 2, Opus 25, chỉ được khám phá sau khi Chopin qua đời.


          (Phụ lục: Audio ( 2) - Farewell Waltz (Chopin) – classical guitar


          02- Farewell Waltz – Francis Goya


           


          clip_image008


          Delfina Potocka (1805-1877)


          Sau Maria Wodzinska, đã xuất hiện một nàng thơ “ngắn hạn” trong đời Chopin, đó là nữ Bá tước Delfina Potocka, người đã được ông đề tặng bản Étude số 1, Opus 64, tức bản “Minute Waltz” nổi tiếng, còn có tựa tiếng Pháp là “Valse du petit chien” – Bản valse của con chó con.


          (Phụ lục: Audio (3)- Minute Waltz (Chopin) – piano


          03- Minute Waltz – Le Nhat Quang [NCT 8478254969]


          * * *


          Cũng trong năm 1836, năm chia tay Maria Wodzinska, Chopin đã gặp người tình lớn nhất của đời mình. Trong một party do nữ Bá tước Marie d’Agoult, tình nhân của nhà soạn nhạc Frank Liszt, tổ chức, Chopin được giới thiệu với người đàn bà nổi tiếng nhất, tai tiếng nhất kinh thành ánh sáng thời bấy giờ. Đó là nhà hoạt động cho nữ quyền Amantine Dupin, tức nữ Nam tước Dudevant, nhưng lại thích được mọi người gọi bằng bút hiệu của mình: nữ văn sĩ George Sand!


          clip_image010


          nữ văn sĩ George Sand


          Khi ấy, Chopin mới 26 tuổi và đang thất tình Maria Wodzinska, còn Amantine Dupin 32, đã trải qua một đời chồng và hơn nửa tá mối tình lớn nhỏ với các thi, văn, nhạc sĩ nổi tiếng, như Jules Sandau, Alfred de Musset, Charle Didier, Pierre-Francois Bocage…


          Amantine Dupin vốn thuộc hoàng tộc Bourbon, có họ với vua Louis 16 nhưng lại là người có đầu óc cấp tiến. Năm 19 tuổi, Amantine kết hôn với Nam tước Casimir Dudevant, được một trai một gái.


          Đầu năm 1831, vào tuổi 26, Amantine bỏ chồng để bắt đầu một cuộc “nổi loạn tình cảm” kéo dài 5 năm. Đầu tiên là văn sĩ Jules Sandau, người đã hướng dẫn Amantine trong bước đầu sự nghiệp văn chương, và chọn cho nàng bút hiệu “George Sand”.


          Chỉ 2 năm sau, George Sand đã tạo được tên tuổi riêng cho mình, và được nhìn nhận là nhà văn nữ có tầm vóc đầu tiên của nền văn học Pháp. Bên cạnh các tác phẩm, George Sand còn nổi tiếng với tác phong bụi đời như dân du mục Bohémien, ăn mặc như đàn ông, hút thuốc lá ở nơi công cộng, cặp kè thân mật cả với người cùng tính phái, trong đó có nữ diễn viên Marie Dorval.


          Có lẽ trong số nhân tình của George Sand, thi sĩ kiêm văn sĩ Alfred de Musset là người duy nhất ca tụng nữ tính nơi con người nàng. Ông viết:


          “Theo tôi, George Sand là phụ nữ có nhiều nữ tính nhất!”


          Nhưng riêng Chopin thì khi gặp George Sand lần đầu đã phải sợ hãi. Ông viết cho một người bạn:


          “George Sand quả là một phụ nữ đáng kinh hãi. Nhưng cô ta có phải là một người đàn bà thực sự hay không? Sao tôi nghi quá!”


          Nhưng George Sand thì đã mê Chopin ngay trong lần đầu gặp gỡ ấy, và đã bỏ chàng tình nhân đang cặp kè để theo đuổi nhà nhạc sĩ. Trong lá thư dài 32 trang gửi một một người bạn thân, George Sand đã viết thẳng ra rằng mình đã lợi dụng cơ hội Chopin đang cô đơn tuyệt vọng sau khi chia tay Maria Wodzinska để chinh phục chàng nhạc sĩ trẻ.


          Kết quả, tới giữa năm 1838, cả thành phố Paris đã biết chuyện Chopin và George Sand cặp kè thân mật. Bước sang năm 1839, Chopin bắt đầu chung sống với George Sand, và sống chung với hai đứa con của nàng.


          Cuộc tình của hai người kéo dài được 10 năm; nhưng trong những năm cuối, George Sand được mô tả là một cô y tá nuôi bệnh hơn là một người tình, bởi vì tình trạng sức khỏe của Chopin ngày càng tồi tệ. Cuối cùng, hai người lặng lẽ chia tay vào năm 1847.


          Bá tước Wojciech Grzymala, một người bạn thân đã theo dõi từ đầu tới cuối cuộc tình 10 năm giữa Chopin và George Sand, sau này kể lại:


          “Nếu Chopin không bất hạnh đến nỗi gặp George Sand, người đàn bà đã đầu độc cả cuộc đời của ông, thì ông cũng sống thọ như Cherubini vậy!”


          Cũng nên biết, nhà soạn nhạc lão thành Cherubini, một người bạn thân của Chopin, sống thọ 81 tuổi!


          * * *


          Tháng Tư năm 1849, cuộc cách mạng mà sau này người cộng sản gọi là “Công Xã Paris” nổ ra, Chopin bỏ sang Anh quốc, sống ở lâu đài của Công nương Jane Stirling, cùng với người chị góa của Công nương. Jane Stirling là một học trò cũ và cũng là một người sùng mộ Chopin, đã ngỏ ý làm mai chị mình cho ông, nhưng Chopin đã từ chối, bởi vì với bệnh tật trong người, ông cho rằng mình không có quyền đón nhận hảo ý của người học trò cũ.


          Cuối tháng 11 năm 1948, khi tình hình ở Pháp đã ổn định, Chopin trở về Paris với hai bàn tay trắng. Bước sang đầu năm 1849, khi cảm thấy mình đã kiệt lực, Chopin nhắn tin về Ba-lan, mong có một người thân ruột thịt sang Paris để ở bên cạnh lúc ông trút hơi thở sau cùng, bởi ông không muốn chết cô đơn. Lúc ấy, cha ông đã qua đời được 5 năm, cô em gái Émlia thì đã chết sớm vào tuổi 14, chỉ còn lại bà mẹ Justina và cô chị Louise, người đầu tiên đã dạy Chopin đàn dương cầm.


          Nhưng sau khi Louise tới Paris vào tháng 6 năm 1849, mướn một căn apartment thật đẹp, tràn ngập ánh sáng ở quảng trường Vendôme, đưa em trai tới chỗ ở mới, thì Chopin ra vẻ hồi phục. Nhưng thực ra, đó chỉ là ánh lửa bùng lên lần cuối trước khi tắt lịm.


          Rạng ngày 17 tháng 9 năm 1849, khi chuông nhà thờ Thánh nữ Madeleine ở gần đó đổ 2 tiếng, Frédéric Chopin trút hơi thở cuối cùng.


          Nhiều người tin rằng Chopin chết vì lao phổi, giống như cha ông và cô em gái Émilia. Tuy nhiên, cho tới nay tất cả vẫn chỉ là giả thuyết. Gần đây nhất, năm 2005, các nhà y học đã xin phép khai quật mộ phần của Chopin để tìm hiểu hư thực, nhưng trước sự phản đối của người ái mộ, đơn xin đã bị bác.


          Theo di chúc của Chopin, trái tim ông được lấy ra khỏi thi thể, ướp trong rượu, bỏ vào một bình đựng cốt đưa về Warsaw, đặt trong một thân cột của Thánh đường Thập giá – tức Holy Cross Church – nơi mà ngày xưa cậu bé Frédéric Chopin cùng cha mẹ, chị em thường dự lễ mỗi sáng Chủ Nhật.


          Thi hài của ông được an táng trong Nghĩa trang Père Lachaise nổi tiếng của kinh thành Paris.


          Hơn 3000 người đã đi theo quan tài của ông, trong số đó có họa sĩ Eugène Delacroix, nhà soạn nhạc Frank Liszt, văn hào Victor Hugo…, nhưng nữ văn sĩ George Sand thì biệt tăm!


          clip_image012


          Mộ phần của Chopin ở Paris


          Mộ phần của Chopin là một trong những tác phẩm để đời của điêu khắc gia nổi tiếng đương thời Jean-Baptiste Auguste Clésinger. Mặt tiền là chân dung nổi của Chopin, phía trên là pho tượng nữ thần Euterpe đang gục khóc trên cây đàn lia (lyre) bị gẫy. Theo huyền thoại Hy-lạp, Euterpe là một trong 9 người con gái của thần Zeus (Jupiter) với nữ thần Mnemosyne. Mỗi người con là thần của một bộ môn nghệ thuật, Euterpe là thần âm nhạc.


          * * *


          Frédéric Chopin qua đời khi mới 39 tuổi, nhưng sự nghiệp sáng tác trải dài suốt 32 năm, đã để lại cho đời trên 230 tác phẩm lớn nhỏ – những tác phẩm phản ánh cuộc đời buồn nhiều hơn vui của chính ông. Trong số đó, nổi tiếng nhất, phổ biến nhất cũng là một nhạc khúc buồn: bản Étude số 3 trong Opus số 10, mà về sau đã được hậu thế đặt tên là Tristesse, tiếng Pháp có nghĩa là Nỗi Sầu (Sadness).


          (Phụ lục: Audio (4, 5, 6)


          (4)Tristesse (Chopin) – piano;


          04- Tristesse – Richard Clayderman


          (5)Tristesse (Chopin) – violin;


          05- Etude no3 in E Sadness – Chopin – Andre Rieu


          (6)Tristesse (Chopin)- José Carreras


          06- Chopin__Tristesse


          Tristesse đã được ít nhất ba tác giả Việt Nam đặt lời hát: Anh Ngọc với tựa Nhạc buồn, Phạm Duy với tựa Sầu Chopin, và Nguyễn Lê với tựa Nỗi buồn.


          (Phụ lục: Audio (7, 8)


          (7) Nhạc buồn Chopin ( Lời Việt : Anh Ngọc)- Mai Hương ;


          07- Nhac buon (Tristesse – LV Anh Ngoc) 1996 – Mai Huong


          (8)Nỗi buồn Chopin (Lời Việt : Nguyễn Lê)- Quang Dũng


          08- Noi buon (Tristesse – LV Nguyen Le) – Quang Dung


           


          PHỤ LỤC:


           


          (1) Fantaisie Impromtu (Chopin) – piano


          01-Fantaisie Impromtu


          (2) Farewell Waltz (Chopin) – classical guitar


          02- Farewell Waltz – Francis Goya


          (3) Minute Waltz (Chopin) – piano


          03- Minute Waltz – Le Nhat Quang [NCT 8478254969]


          (4) Tristesse (Chopin) – piano


          04- Tristesse – Richard Clayderman


          (5) Tristesse (Chopin) – violin


          05- Etude no3 in E Sadness – Chopin – Andre Rieu


          (6) Tristesse (Chopin)- José Carreras


          06- Chopin__Tristesse


          (7) Nhạc buồn Chopin (Anh Ngọc) – Mai Hương


          07- Nhac buon (Tristesse – LV Anh Ngoc) 1996 – Mai Huong


          (8) Nỗi buồn Chopin (Nguyễn Lê) – Quang Dũng


          08- Noi buon (Tristesse – LV Nguyen Le) – Quang Dung


          Hòai Nam


           


           


          ©T.Vấn 2012


          Comment

          • saomai
            Moderator
            • Jun 2008
            • 2146

            #6
            Nhạc Buồn - Lời Việt Anh Ngọc - Mai Hương




            Nhạc Buồn - Lời Việt Anh Ngọc - Mai Hương

            Comment

            • saomai
              Moderator
              • Jun 2008
              • 2146

              #7
              Célèbre Valse (Mối tình xa xưa)- JOHANNES BRAHMS

              Hoài Nam : Những ca khúc ngọai quốc lời Việt (5)- Célèbre Valse (Mối tình xa xưa)- JOHANNES BRAHMS


              clip_image002


              JOHANNES BRAHMS (1833-1897)


              Johannes Brahms là một trong những nhà soạn nhạc hàng đầu của thời kỳ lãng mạn (Romantic era), được hậu thế liệt vào bộ “ba chữ B vĩ đại” – tức ba nhà soạn nhạc lừng danh của ba thời kỳ khác nhau mà tên họ bắt đầu bằng mẫu tự B – gồm Johann Sebastian BACH (thời kỳ Baroque), Ludwig van BEETHOVEN (thời kỳ Cổ điển – tức thời kỳ Vàng son), và Johannes BRAHMS (thời kỳ Lãng mạn). Cả ba đều là người Đức.


              Brahms vừa nổi tiếng với việc tôn trọng quy tắc truyền thống tới mức khó tính với chính mình (chẳng hạn tiêu hủy những sáng tác mà ông cho là không “chỉnh”), vừa được ái mộ với những tác phẩm đầy chất sáng tạo, vừa bị xem là “khác người” với một cuộc sống cá nhân lạ thường.


              Về truyền thống, Johannes Brahms luôn luôn theo đúng những khuôn thước của Bach (thời kỳ Baroque), và của Haydn, Mozart, Beethoven (thời kỳ Cổ điển). Riêng về nhạc giao hưởng, ông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Beethoven – thiên tài mà ông sùng mộ. Trong nhà ông, có một pho tượng bán thân của Beethoven, nhìn xuống ngay vị trí mà ông thường ngồi sáng tác.


              Ảnh hưởng của Beethoven mạnh đến nỗi khi Bản giao hưởng số 1 của Brahms được trình diễn ra mắt tại thành Vienne, giới thưởng ngoạn đã xưng tụng đây là “Bản giao hưởng số 10 của Beethoven”! (Nhắc lại: Beethoven sáng tác tổng cộng 9 bản giao hưởng)


              Tuy nhiên, dù nổi tiếng với những tác phẩm cổ điển quy mô, Johannes Brahms lại thành công về mặt tài chánh cũng như được dân gian biết tới nhiều hơn qua những nhạc khúc, ca khúc ngắn, mà điển hình là tập Vũ khúc Hung-gia-lợi (Hungarian Dances).


              Phụ lục: Audio (1)


              01- Hungarian dance No.5 (Brahms) – Paul Mauriat


              Johannes Brahms sinh năm 1833 tại hải cảng Hamburg, Đức quốc. Cha ông, Johann Jakob Brahms, là một nhạc sĩ nghèo, sinh trưởng tại Dithmarschen, một vùng quê có truyền thống văn hóa lâu đời. Năm 18 tuổi, Johann Jakob di dân tới Hamburg với ước mộng trở thành một nhạc sĩ tên tuổi và giàu có. Nhưng khi tới gần, ánh đèn đô thị không đẹp như nhìn từ xa!


              Mặc dù có khả năng sử dụng nhuần nhuyễn nhiều loại nhạc cụ khác nhau, Johann Jakob đã chỉ được mướn chơi đàn double-bass (tức contrabass, đại hồ cầm) và kèn French horn (kèn đồng, hình dạng như “tù và”).


              Năm 24 tuổi, Johann Jakob kết hôn với cô thợ may Johanna Henrika Christiane Nissen, một cô “gái già” hơn chàng tới 17 tuổi. Hai người có với nhau 3 con – hai trai một gái, Johannes Brahms là trưởng nam.


              Sau nhiều năm sống ở khu ổ chuột gần bến tàu, gia đình dọn tới một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Dammtorwall. Johannes Brahms được thân phụ dạy nhạc từ lúc bắt đầu có trí khôn, và tới năm 7 tuổi, vì tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về dương cầm, đã được cho thọ giáo một vị danh sư ở Hamburg.


              Năm 11 tuổi, Johannes Brahms bắt đầu sáng tác và trình diễn trước công chúng. Hai chữ “công chúng” nói tới ở đây mang ý nghĩa không được trang trọng cho lắm. Vì gia cảnh nghèo túng, Johannes Brahms phải nhận trình diễn tại các quán rượu bình dân có khiêu vũ, cũng như trong các động điếm ở khu bến tàu. Trong lúc Johannes Brahms đàn, các cô gái điếm thường tới bên cạnh vuốt ve, sờ soạng cậu bé xinh trai trắng trẻo (mà ngày nay, ta gọi là “sexual abuse”).


              clip_image004


              Johannes Brahms – Hình chụp năm 20 tuổi


              Theo các nhà viết tiểu sử Johannes Brahms, qua lời kể lại của các nhân chứng cũng như tiết lộ của bản thân nhạc sĩ, việc phải trải qua “những kinh nghiệm hãi hùng” này đã ám ảnh ông suốt đời, ảnh hưởng tiêu cực tới việc giao tiếp, đánh giá phụ nữ, mà hậu quả là ông đã sống độc thân cho tới cuối đời!


              Bắt đầu sáng tác và trình diễn từ năm lên 11, nhưng phải đợi tới năm 19 tuổi, tài nghệ của Johannes Brahms mới được đông đảo người yêu nhạc cũng như các đồng nghiệp biết tới, khi chàng trẻ tuổi được đệm dương cầm cho nhạc sĩ vĩ cầm Eduard Reménji nổi tiếng của Hung-gia-lợi, trong chuyến lưu diễn kéo dài hai tháng ở Đức.


              Từ đó, Johannes Brahms bắt đầu một cuộc sống giang hồ phiêu lãng, gặp gỡ, giao kết với nhiều nhà soạn nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng đương thời. Khi tới Hanover, Johannes Brahms được gặp Joseph Joachim, cũng người Hung-gia-lợi, vốn được xưng tụng là một trong những nhạc sĩ vĩ cầm tạo ảnh hưởng mạnh nhất trong thế kỷ thứ 19. Bên cạnh đó, Joseph Joachim còn là một nhà soạn nhạc, một nhạc trưởng, và thày dạy nhạc. Về sau, Joseph Joachim đã cùng Johannes Brahms hợp soạn nhiều nhạc khúc nổi tiếng.


              Chính Joseph Joachim đã viết thư giới thiệu Johannes Brahms với cặp vợ chồng nghệ sĩ lừng danh Robert và Clara Schumann ở Dusseldorf, khởi đầu cho một quan hệ tình cảm bí ẩn và lạ lùng nhất trong làng nhạc cổ điển tây phương.


              * * *


              clip_image005


              Robert Schumann (1810-1856)


              Robert Schumann (1810-1856),- ra chào đời và sống cùng thời với Frédéric Chopin – là một nhà soạn nhạc người Đức nổi tiếng bậc nhất của thời kỳ Lãng mạn, đặc biệt là các sáng tác dành cho dương cầm.


              Là con trai của một nhà văn uy tín kiêm nhà xuất bản giàu có, nhưng Robert Schumann lại say mê và có khiếu về âm nhạc, bắt đầu sáng tác từ năm 7 tuổi. Tuy nhiên, trước khi mất sớm, cha của ông đã để lại di chúc buộc ông phải ăn học trở thành một trạng sư thì mới được hưởng gia tài. Vì thế năm 1826, vào tuổi 16, Robert Schumann tới Munich để theo học ngành luật. Nhưng qua năm sau, mọi việc đã thay đổi khi chàng gặp cô bé mồ côi mẹ Clara Weik, 8 tuổi, con gái của Friedrich Weik, vị thầy dạy nhạc nổi tiếng bậc nhất ở Munich thời bấy giờ.


              Nguyên Clara Weik và Robert Schumann cùng được mời tới trình diễn dương cầm tại tư thất một vị bác sĩ tên tuổi trong một buổi gây quỹ cho bệnh viện nhi đồng. Vừa thán phục vừa thích thú trước tài nghệ của Clara, Robert Schumann đã thuyết phục được bà mẹ cho chàng rời trường luật để theo đuổi âm nhạc. Thế là Robert Schumann trở thành học trò của Friedrich Weik, và vị thầy này đã đoan chắc Robert Schumann sẽ trở thành “danh thủ dương cầm số 1 của cả Âu châu”. Thế nhưng chẳng bao sau đó, Robert Schumann bị chấn thương một cánh tay, và đã phải bỏ mộng trở thành nhạc sĩ dương cầm để chuyển sang sáng tác.


              Cùng thời gian này (1830), cô bé Clara 11 tuổi được thân phụ đưa đi lưu diễn một vòng các kinh thành ở Âu châu, và đã gây một tiếng vang lớn – nếu không muốn nói là “chấn động”. Tại Bá-linh, Clara đã được văn hào Johann Wolfgang van Goethe, núi Thái Sơn của nền văn học Đức, lúc ấy đã 82 tuổi, trao tặng một huân chương kèm theo tấm chân dung của ông với lời ghi “Tặng nhạc sĩ thiên tài Clara Wieck”.


              Khi tới kinh thành ánh sáng Paris, Clara đã được danh thủ vĩ cầm kiêm nhà soạn nhạc Niccolo Paganini của Ý (1782-1840) tình nguyện đệm vĩ cầm cho cô bé!


              Sau khi kết thúc chuyến lưu diễn kéo dài 3 năm, trở về Munich thì Clara đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, và chẳng bao lâu sau, cô được Robert Schumann tỏ tình.


              Nhưng mối tình của hai người đã không được ông bố Friedrich Weik của Clara chấp thuận, và đôi tình nhân đã phải chờ đợi 6 năm trời cho tới khi Clara đủ 21 tuổi, có toàn quyền tự do kết hôn. Chính trong thời gian chờ đợi ấy, Robert Schumann đã sáng tác những tình khúc nổi tiếng.


              clip_image007


              Clara Schumann


              Về phần Clara, vào năm 18 tuổi đã được mời sang trình diễn ở thành Vienne, kinh đô Áo và cũng là thủ đô âm nhạc thế giới. Trong suốt 3 tháng trời, tất cả mọi buổi trình diễn của Clara đều không còn một ghế trống. Cô được hai vị danh sư nổi tiếng về dương cầm là Frédéric Chopin và Franz Liszt hết lời ca tụng.


              Tháng 3 năm 1838, Clara được triều đình Áo trao tặng danh hiệu “Royal and Imperial Chamber Virtuoso” (Danh cầm thượng thặng nhạc thính phòng), danh dự cao nhất về âm nhạc của đế quốc Áo.


              * * *


              Ngày 12 tháng 9 năm 1940, Robert Schumann, 30 tuổi, và Clara Wieck, 21, tổ chức kết hôn. Thế nhưng, vì Clara ra chào đời ngày 13 tháng 9 năm 1819, nếu xét cho tới nơi tới chốn, cô còn thiếu 1 ngày nữa mới đủ 21 tuổi. Thế là ông bố Friedrich Weik đưa nội vụ ra tòa, nhưng cuối cùng công lý đã đứng về phía hai kẻ yêu nhau. Sau đó Robert và Clara Schumann đưa nhau về Dusseldorf xây tổ ấm.


              Cho tới ngày nay, Robert và Clara Schumann vẫn được xem là cặp vợ chồng tài hoa lý tưởng nhất của nền nhạc cổ điển. Mặc dù lần lượt cho ra chào đời 8 đứa con và nuôi dạy nên người (trừ đứa con út chết khi còn là hài nhi), Clara Schumann vẫn tiếp tục sáng tác và trình diễn ở Đức cũng như các quốc gia Âu châu khác. Nhờ đó, các sáng tác của Robert Schumann mới được phổ biến rộng rãi.


              * * *


              Trở lại với Johannes Brahms, năm 1853, ngay sau khi được Joseph Joachim giới thiệu, vợ chồng Robert Schumann đã nhận ra tài năng xuất chúng nơi chàng nhạc sĩ 20 tuổi, đón nhận và xem như một người thân trong gia đình. Với Johannes Brahms, đây là diễm phúc lớn nhất đời chàng, vì Robert và Clara Schumann là hai bậc thầy mà chàng hằng ngưỡng mộ.


              Cũng vào khoảng thời gian này, chứng trầm cảm nơi Robert Schumann đã biến thành khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Cuối năm ấy, Robert Schumann tự tử hụt, và qua tháng 1 năm 1854, ông đã tự nguyện vào sống trong một viện tâm thần ở gần Bonn. Từ đó, Johannes Brahms giữ vai trò liên lạc giữa hai vợ chồng, và trở thành nguồn an ủi về tinh thần cho Clara cùng với 7 đứa con thơ dại của nàng.


              Năm 1856, Robert Schumann qua đời. Được hung tin, Johannes Brahms đã tạm “dừng bước giang hồ”, quay về Dusseldorf để chăm sóc, lo lắng cho mẹ con Clara, và trở thành “người đàn ông trong gia đình”!


              Trong thời gian suốt 2 năm liên tục, Johannes Brahms sống trong một căn gác ở phía trên nhà của gia đình Schumann, ngưng hoàn toàn công việc sáng tác cũng như trình diễn, để dành trọn thời giờ giúp Clara ổn định cuộc sống, thậm chí đảm trách cả việc trông nom 7 đứa con của Clara mỗi khi nàng đi lưu diễn.


              Sau 2 năm nói trên, Johannes Brahms chia thời gian ra làm ba, khi thì sống ở Dusseldorf, khi thì sống ở Hamburg, nơi có ban nữ hợp xướng do ông thành lập và điều khiển, khi thì sống ở Tiểu vương quốc Lippe (ngày nay là vùng North Rhine-Westphalia của Đức quốc), nơi ông là nhạc sư và nhạc trưởng của triều đình.


              Tình cảm giữa chàng nhạc sĩ trẻ và vị “sư tỷ” hơn chàng 14 tuổi, người đương thời ai cũng biết. Nhưng có điều là ngày ấy, không mấy người tin rằng giữa Johannes Brahms và Clara Schumann có quan hệ xác thịt.


              Tuy nhiên hậu thế lại có người đặt câu hỏi: nếu không có gì cần giữ bí mật, tại sao vào cuối đời, Johannes Brahms và Clara Schumann lại thiêu hủy hầu hết trong số hàng trăm lá thư hai người đã viết cho nhau?


              Từ đó, không ít người tin rằng giữa Johannes Brahms và Clara Schumann đã có quan hệ thân mật kín đáo. Nhưng dù sao, tất cả cũng chỉ là giả thuyết, và với những người yêu nhạc cổ điển nói chung, cho tới ngày nay, quan hệ tình cảm giữa Johannes Brahms và Clara Schumann vẫn được xem bí mật lớn nhất.


              Quan hệ tình cảm ấy, cùng với mối tình đẹp và cuộc hôn nhân trước đó của Clara với Robert Schumann, cũng như đoạn kết bi thảm của vị nhạc sư tài danh này, đã trở thành đề tài cho vô số phim ảnh, trong số đó nổi tiếng nhất là 3 cuốn phim sau đây:


              - Song of Love (1947) của Hoa Kỳ, với Katharine Hepburn trong vai Clara. Cuốn phim chỉ được đánh giá vào hạng trung bình, nhưng nếu nhắm mắt lại để thưởng thức phần đệm piano của danh cầm Arthur Rubinstein thì không còn gì tuyệt vời cho bằng.


              - Spring Symphony (1983) của Đức, với Nastassja Kinski trong vai Clara. Cuốn phim này vừa gây tranh luận vì mức độ “tiểu thuyết hóa” vừa được yêu thích vì lột tả được cả rung động của trái tim lẫn đam mê nghệ thuật nơi các nhân vật chính (chưa kể còn có một cảnh khỏa thân của “cô đào chuyên khỏa thân” Nastassja Kinski).


              - Geliebte Clara (2008) của Đức, do Martina Gedek thủ vai Clara. Cuốn phim này được đánh giá là “cuốn tiểu sử chính xác nhất của người nữ nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng nhất của nền nhạc cổ điển”.


              clip_image009


              Clara, Brahms, Schumann trong phim Geliebte Clara


              Ngoài ra, “chuyện tình” giữa cậu em Johannes Brahms và đàn chị Clara Schumann còn tạo cảm hứng cho nữ văn sĩ Francoise Sagan của Pháp viết cuốn tiểu thuyết lãng mạn “Aimez-vous Brahms?” (Anh có yêu nhạc Brahms không?), xuất bản năm 1959, kể về quan hệ tình cảm giữa một phụ nữ đã có chồng và một chàng trẻ tuổi độc thân. Tới năm 1961, “Aimez-vous Brahms?” đã được dựng thành phim với tựa đề tiếng Anh “Goodbye Again”, với một thành phần diễn viên quốc tế: Ingrid Bergman (Thụy-điển), Anthony Perkins (Mỹ), Yves Montand, Michèle Mercier (Pháp)…


              Tại Đại hội Điện ảnh Quốc tế ở Cannes (Pháp) năm 1961, phim “Goodbye Again” đã được đề nghị tranh giải Cành Cọ Vàng (Palme d’Or), riêng Anthony Perkins đã đoạt giải nam diễn viên xuất sắc nhất.


              Đây cũng là một cuốn phim của người yêu nhạc cổ điển, bởi trong phần nhạc phim có “trích đoạn” của các bản Giao hưởng số 1 và số 3 của Brahms; đặc biệt một khúc nhạc trong bản Giao hưởng số 3 đã được đặt lời hát để sử dụng làm ca khúc chủ đề của cuốn phim: “Say No More, It’s Goodbye”.


              * * *


              Cũng giống như Beethoven, Brahms sống độc thân suốt đời, có khác chăng là trong khi Beethoven trải qua một mối tình không đoạn kết với Joséphine Deym (góa phụ của Bá tước Josef Deym), một mối tình không thành với tiểu thư Giulietta Guicciardi, và một mối tình văn nghệ với tiểu thư Thérèse Malfatti, thì Brahms không có một mối tình nào khác ngoài Clara Schumann – nếu quả thực đây là một “chuyện tình”!


              Theo nhạc sử gia JEFFREY DANE, có hai nguyên nhân chính đưa tới việc Johannes Brahms sống độc thân suốt đời. Thứ nhất, nỗi kinh sợ và kinh tởm các cô gái điếm ở khu bến tàu Hamburg ngày còn thơ dại, vẫn tiếp tục ám ảnh ông. Thứ hai, tình cảm Clara Schumann dành cho Johannes Brahms, ít ra cũng là trong thời gian đầu, có pha lẫn tình mẫu tử, khiến ông liên tưởng tới bà mẹ Johanna yêu quý của mình, cũng hơn cha ông tới 17 tuổi, vì thế Johannes Brahms trân quý, và dành trọn trái tim của mình cho Clara Schumann.


              Jeffrey Dane viết: “Hai người có thể không ‘gần nhau’ (sexual relationship) nhưng họ ‘bên nhau’ suốt đời!”


              Ngoài Clara Schumann, bóng hồng duy nhất có liên quan tới Johannes Brahms là BERTHA FABER – người mà ông đã viết tặng bản Wiegenlied (thường được hậu thế gọi là Brahms’ Lullaby – Bài hát ru của Brahms) nhân dịp nàng sinh con trai đầu lòng.


              Bertha Faber, có tên con gái là Bertha Porubszky, nguyên là một nữ ca sĩ và là một người bạn của Johannes Brahms từ khi hai người còn sống ở Hamburg. Về sau, Bertha kết hôn với kỹ nghệ gia Arthur Faber ở thành Vienne.


              Thế nhưng, tình bạn này cũng đã được một số người thêu dệt thành “mối tình đầu bất thành” của Johannes Brahms; theo đó, vì không quên được người yêu xưa, sau này ông đã sáng tác bản Wiegenlied để nàng… ru con! Đây là một bản valse chậm, với lời hát do chính ông đặt, trừ đoạn đầu lấy ý từ một bài ru dân gian có tựa tiếng Đức là “Guten Abend, Gut Nacht” (Good Evening, Good Night).


              Phụ lục: Audio (2)


              02-Wiegenlied (Bai hat ru cua Brahms) – Victoria De Los Angeles


              Tuy nhiên, theo các nhà viết tiểu sử Johannes Brahms, “mối tình đầu bất thành” giữa Brahms và Bertha Faber hoàn toàn là sản phẩm của óc tưởng tượng. Nhưng tin hay không tin vào giai thoại này, người ta cũng phải nhìn nhận bản “Brahms’ Lullaby”, tức Bài hát ru của Brahms (Wiegenlied, No. 4 Op. 49,) đã trở thành bài hát ru phổ biến nhất kim cổ, đến nỗi nhạc sử gia Jeffrey Dane đã phải viết: “Nếu nhắc tới Leonardo Da Vinci, người ta nghĩ ngay tới họa phẩm Mona Lisa, nhắc tới Jule Verne, người ta nghĩ ngay tới cuốn “20 Nghìn dặm dưới đáy biển”, thì nhắc tới Johannes Brahms, người ta nghĩ ngay tới bản Ru con!”


              Phụ lục: Audio


              (3)


              03-Brahms’ Lullaby – Guitar


              (4)


              04-Celine_Dion_-_Brahms_Lullaby


              (5)


              05-Brahms – Hat ru Brahms – Hien Thuc


              Brahms không chỉ giống Beethoven ở điểm sống độc thân suốt đời, mà còn giống Beethoven về tính tình, sở thích: yêu thiên nhiên, lạnh lùng với con người, nhưng rất tốt bụng.


              Sau khi tới sống ở thành Vienne, ông thường tản bộ cả buổi trong những khu rừng ở ngoại ô. Túi ông lúc nào cũng có sẵn kẹo để phân phát cho trẻ em. Được triều đình Áo trọng dụng, và đạt thành công đáng kể về mặt tài chánh, nhưng Brahms vẫn sống đạm bạc trong một căn apartment nhỏ, mặc quần áo cũ nát, thường mang vớ rách, và rất ít khi cạo râu.


              Tiền bạc làm ra, một phần ông giúp đỡ thân nhân bạn bè, phần còn lại ông sử dụng để trợ giúp các đàn em, các mầm non âm nhạc, trong số đó có những người sau này thành danh, chẳng hạn nhà soạn nhạc gốc Tiệp nổi tiếng Antonin Dvorak.


              Năm 1895, Johannes Brahms bị ung thư tuyến giáp trạng. Năm sau, 1896, Clara Schumann qua đời; phần vì buồn sầu, phần vì suy nhược, qua năm 1897, vào ngày 3 tháng 4, ông trút hơi thở cuối cùng, thọ 64 tuổi.


              clip_image011


              Mộ phần của Johannes Brahms ở thành Vienne


              Johannes Brahms được an táng trong Nghĩa trang trung ương (Zentralfriehof) của thành Vienne, cũng là nơi an giấc nghìn thu của Beethoven, Schubert, và Johann Strauss – một người bạn thân của Brahms, tác giả bản Le Beau Danube Bleu (tức Blue Danube, Dòng sông xanh) bất hủ.


              Hai năm sau (1899), Johannes Brahms được truy tặng danh hiệu “Công dân danh dự của Hamburg” – vinh dự mà phải đợi một nửa thế kỷ sau (năm 1948), mới có người thứ hai được hưởng.


              Một trong những chi tiết thú vị về Brahms không thể không nhắc tới là việc ông là nhà soạn nhạc nổi tiếng đầu tiên “thu đĩa nhạc”.


              Nguyên vào năm 1889, nhà sáng chế “máy hát” Thomas Edison của Mỹ đã cử một cộng sự viên tới thành Vienne để mời Brahms thu đĩa, và ông đã độc tấu dương cầm một đoạn trong bản Vũ khúc Hung-gia-lợi (Hungarian Dance) số 1.


              Vì ngày ấy kỹ thuật còn thô sơ, nay nghe lại đĩa hát này, người ta thấy nhiễu âm (noise) còn lớn hơn cả tiếng đàn. Nhưng dù sao, đây cũng là một sự kiện lịch sử.


              Cuối cùng, nói về nhạc khúc “Célèbre Valse” nổi tiếng của Brahms. Một cách chính xác, đây là bản valse số 15 trong tuyển tập 39 (No.15 Op 39) của Brahms soạn cho dương cầm, được ông đặt tựa là “Germania”. Tuy nhiên về sau, vì bản valse này quá nổi tiếng, người Pháp đã gọi là “Célèbre Valse” (bản valse lừng danh), hoặc chi tiết hơn, là “Célèbre Valse de Brahms”.


              Phụ lục: Audio


              (6)


              06-Celebre Valse – Waltz in Ab Major Brahms (Piano)


              (7)


              07-Celebre Valse – hoatau


               


              Tới thập niên 1940′s, bản này đã được J. Larue đặt lời bằng tiếng Pháp với tựa “Loin de ton ceur” (Cách lòng), và được thu vào đĩa nhựa với tiếng hát của Tino Rossi.


              Tại miền nam Việt Nam, trước năm 1975, bản “Célèbre Valse” được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa “Mối tình xa xưa”, và đã được các nữ danh ca Thái Thanh, Mai Hương, Lệ Thu trình bày.


              Phụ lục: Audio


              (8)


              08-Celebre Valse – Thai Thanh


              (9)


              09 – Le Thu – Mot Inh Xa Xua(2)(2)(2)


               


              PHỤ LỤC:


              (1) Hungarian Dance No. 5 – Paul Mauriat Orchestra


              (1) Hungarian Dance No. 5 – Paul Mauriat Orchestra


              (2) Brahms’ Lullaby – Victoria de Los Angeles


              (2) Brahms’ Lullaby – Victoria de Los Angeles


              (3) Brahms’ Lullaby – Guitar


              (3) Brahms’ Lullaby – Guitar


              (4) Brahms’ Lullaby- Celine Dion


              (4) Brahms’ Lullaby- Celine Dion


              (5) Brahms’ Lullaby (lời Việt) – Hiền Thục


              (5) Brahms’ Lullaby (lời Việt) – Hiền Thục


              (6) Célèbre Valse – Piano


              (6) Célèbre Valse – Piano


              (7) Célèbre Valse – Violin


              (7) Célèbre Valse – Violin


              (8) Mối tình xa xưa – Thái Thanh


              (8) Mối tình xa xưa – Thái Thanh


              (9) Mối tình xa xưa – Lệ Thu


              (9) Mối tình xa xưa – Lệ Thu


              Hòai Nam

              Comment

              • saomai
                Moderator
                • Jun 2008
                • 2146

                #8
                Célèbre Valse (Mối tình xa xưa) Mai Hương






                Célèbre Valse (Mối tình xa xưa) Mai Hương

                Comment

                • saomai
                  Moderator
                  • Jun 2008
                  • 2146

                  #9
                  Dòng Sông Xanh và Sóng Nước Biếc

                  clip_image002


                   


                  Johann Strauss II (1825-1899)


                   


                  Blue Danube (Dòng Sông Xanh), STRAUSS – Waves of the Danube (Sóng Nước Biếc), IVANOVICI


                  Trong bài kỳ trước, chúng tôi đã viết về bản Célèbre Valse của Johannes Brahms. Kỳ này xin được viết về hai bản “valse” nổi tiếng khác, mà một trong hai tác giả cũng chính là bạn thân của Brahms: Johann Strauss II, người đã để lại cho hậu thế bản Blue Danube bất hủ (tựa tiếng Pháp: Le Beau Danube Bleu, tựa tiếng Việt: Dòng Sông Xanh), và được tặng danh hiệu “Ông vua của điệu valse” (The Waltz King).


                  Trước khi viết về bản Blue Danube, thiết tưởng cũng nên có đôi hàng về thể điệu nhạc valse và thể điệu khiêu vũ valse.


                  “Valse” (tiếng Pháp, còn tiếng Anh viết là “waltz”) là điệu nhạc được viết theo nhịp 3/4 (đôi khi 3/8 hoặc 3/2), nhấn mạnh ở phách thứ nhất. Đây là điệu nhạc phổ biến nhất trong nền nhạc cổ điển cũng như nhạc dân gian ở các nước Âu châu, và đặc biệt sau này ở Hoa Kỳ.


                  Một trong những nguyên nhân khiến thể điệu nhạc valse được phổ biến là vì nhịp của nó có thể rất chậm, có thể vừa phải, mà cũng có thể thật nhanh; chậm thì êm ái khoan thai, chẳng hạn bản Célèbre Valse, nhanh vừa thì dặt dìu lả lướt, như bản One Day, thật nhanh thì vui tươi sống động, như bản Blue Danube.


                  Còn nói về thể điệu khiêu vũ, valse đã được ghi nhận là điệu “khiêu vũ ballroom” (ballroom dance) đầu tiên trên thế giới (ballroom dance được định nghĩa là “hình thức khiêu vũ với nhiều cặp tham gia, và tuân theo những nguyên tắc, quy luật chung của điệu khiêu vũ đó”).


                  Điệu khiêu vũ valse bắt đầu được phổ biến tại Đức vào giữa thế kỷ thứ 18, gọi là “Waltzer”, được biến cải từ điệu vũ “Lander” của dân du mục Bohemian. Tới đầu thế kỷ thứ 19, các chàng lính viễn chinh của Nã-phá-luân đệ Nhất khi trở về Pháp, đã mang theo điệu nhảy này, rồi từ Paris, valse được du nhập sang Anh Quốc, sau đó vượt Đại Tây Dương sang Hoa Kỳ.


                  Tới thập niên 1830, người Mỹ đã sáng tạo một điệu khiêu vũ mới để nhảy theo nhịp valse chậm, và được phổ biến một cách mau chóng. Đó là thể điệu “American Waltz”, còn được gọi là “American Slow Waltz”, hoặc đơn giản hơn là điệu “Boston”, tên thành phố xuất xứ của điệu khiêu vũ này.


                  Còn tại Âu châu, trong những năm đầu thế kỷ thứ 19, điệu khiêu vũ valse vẫn chưa mấy phổ biến trong giới thượng lưu, quý tộc, chưa kể còn bị các nhà đạo đức và những người có đầu óc bảo thủ kịch liệt đả kích, vì khi nhảy điệu này, một bàn tay của người đàn ông phải ôm lấy cái eo của người phụ nữ – một sự “tiếp xúc thể xác” không thể chấp nhận ở nơi chốn công cộng!


                  Hai người có công đầu trong việc phổ biến, và đưa điệu valse vào cung điện của các ông hoàng bà chúa là hai công dân Áo Joseph Lanner (1801-1843) và Johann Strauss I (1804 – 1849).


                  Joseph Lanner là một nhà soạn nhạc chuyên biệt cho các điệu vũ; ông đã cải biến valse từ một điệu nhạc, điệu vũ dân gian đơn giản thành một một điệu nhạc lôi cuốn, một điệu vũ lả lướt, cầu kỳ, rất được các thành phần thượng lưu trong xã hội ưa chuộng.


                  Trong khi Joseph Lanner có công cải biến, thì Johann Strauss I, một nhạc trưởng nổi tiếng của thời kỳ Lãng mạn (Romantic era), có công phổ biến.


                  Tới khoảng năm 1830, thể loại nhạc valse và điệu nhảy valse với nhịp thật nhanh do Joseph Lanner và Johann Strauss I khởi xướng bắt đầu làm mưa gió khắp nơi, và được gọi là Valse Viennoise (tiếng Pháp, còn tiếng Anh là Viennese Waltz), mà người Việt chúng ta thường gọi là Luân vũ thành Viên.


                  Phụ lục (1) Tales of the Vienna Woods (hòa tấu)


                  01-Tales Of The Vienna Woods – Mantovani


                  clip_image004


                  Johann Strauss I (1804 – 1849).


                   


                  Johann Strauss I – còn được gọi là Johann Strauss Sr., hoặc Johann Strauss “Cha” – chính là thân phụ của Johann Strauss II, tức Johann Strauss Jr., hoặc Johann Strauss “Con” – tác giả của bản Blue Danube – Dòng Sông Xanh bất hủ.


                  Ngoài Johann Strauss “đệ Nhất” và Johann Strauss “đệ Nhị” nói trên, dòng họ Strauss còn có một tên tuổi khác đi liền với thể loại Luân vũ thành Viên là Johann Strauss “đệ Tam”, (tức Johann Strauss III), cháu gọi Johann Strauss “đệ Nhị” bằng “chú”.


                  Tuy nhiên, với hậu thế, mỗi khi nhắc tới cái tên “Johann Strauss” là mọi người nghĩ ngay tới Johann Strauss II (đệ Nhị), tức Johann Strauss “Con” – người được xưng tụng là Ông vua của điệu luân vũ (Waltz King).


                  Johann Strauss II ra chào đời năm 1825 tại thành Vienne, kinh đô đế quốc Áo và cũng là thủ đô âm nhạc của thế giới. Cậu bé yêu âm nhạc ngay từ ngày bắt đầu có trí khôn, nhưng cha cậu – tức Johann Strauss I – khi ấy đã là một nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng nổi tiếng, chỉ muốn trưởng nam của mình học hành để trở thành một vị giám đốc ngân hàng. Bởi thế, Johann Strauss II đã phải lén lút học vĩ cầm với Franz Amon, một nhạc sĩ trong ban nhạc của ông bố. Một ngày nọ, ông bố bất thần về nhà, nghe được tiếng con trai đang tập kéo vĩ cầm, thế là Johann Strauss “Con” bị một trận đòn nên thân. Khi bà mẹ can gián, Johann Strauss “Cha” đã trả lời rằng ông phải quất roi cho tới khi “con quỷ âm nhạc” ra khỏi người cậu bé!


                  Sau này, khi Johann Strauss II đã nổi tiếng, không ít người đã suy diễn: sở dĩ ngày trước Johann Strauss I cấm cản Johann Strauss II theo đuổi âm nhạc chỉ vì ông ta đã nhận ra tài năng thiên phú nơi cậu trưởng nam, nếu để cậu theo cùng một “nghề” thì chắc chắn sẽ xảy ra cảnh “con hơn cha”! Viết một cách đơn giản là Johann Strauss “Cha” ganh tị với Johann Strauss “Con”!


                  Tuy nhiên, theo các tác giả viết tiểu sử dòng họ Strauss thì Johann Strauss “Cha” cấm cản Johann Strauss “Con” theo đuổi âm nhạc chỉ vì ông không muốn con trai bước vào cái nghề cơ cực, bạc bẽo mà ông đang làm!


                  * * *


                  Trở lại với tuổi niên thiếu của Johann Strauss II, cái “rủi” của bà mẹ lại là cái “may” cho cậu bé. Nguyên vào năm Johann 14, 15 tuổi, ông bố khó tính (nhưng đa tình) của cậu đã bị cô nhân tình trẻ Emilie Trampusch ra tối hậu thư: một là bỏ nhà tới chung sống với cô ta, hai là chấm dứt!


                  Dĩ nhiên, Johann Strauss “Cha” đã nghe theo tiếng gọi của ái tình! Nhờ vậy, Johann Strauss “Con” mới được tự do theo đuổi âm nhạc với sự khuyến khích của bà mẹ.


                  Từ đó, Johann Strauss II theo học lý thuyết về hòa âm và đối điểm với Giáo sư Joachim Hoffmann, và thực tập hòa âm với nhà soạn nhạc Joseph Drechsler. Về vĩ cầm, cậu được nhạc sĩ Anton Kollmann của Nhà hát Cung đình thành Vienne (Vienna Court Opera) chỉ dạy.


                  Với sự đỡ đầu và giấy giới thiệu của ba vị thầy nói trên, vào năm 19 tuổi, Johann Strauss II, lúc ấy đã là một nhạc sĩ vĩ cầm xuất chúng, làm đơn xin giới hữu trách thành Vienne cấp giấy phép hành nghề. Thoạt tiên, Johann Strauss II thành lập một ban hòa tấu nho nhỏ để trình diễn các sáng tác của mình, cũng như các tác phẩm nổi tiếng của các nhà soạn nhạc khác, tại quán rượu (tavern) Zur Stadt Belgrad.


                  Mặc dù nhận biết và cảm phục tài nghệ của Johann Strauss “Con”, nhưng vì uy thế của Johann Strauss “Cha”, đã không có chủ nhân hí viện nào ở thành Vienne dám mời ban hòa tấu của Johann Strauss “Con” tới trình diễn, trừ Dommayer’s Casino ở quận 13.


                  Ngay sau lần trình diễn các sáng tác đầu tay của mình trong buổi ra mắt giới mộ điệu tại Dommayer’s Casino vào tháng 10 năm 1844, Johann Strauss II đã được các nhà phê bình không tiếc lời ca tụng, và khẳng định “con hơn cha”!


                  Tuy nhiên cũng phải đợi 5 năm sau (1849), sau khi thân phụ đột ngột qua đời vì bệnh thương hàn vào tuổi 45, Johann Strauss II mới được hoàn toàn tự do, thoải mái thi thố hết tài năng. Ông sát nhập ban nhạc của mình và ban nhạc của bố thành một dàn hòa tấu đại quy mô để đi lưu diễn, và nổi tiếng một cách mau chóng, không chỉ ở Đế quốc Áo – Hung, mà còn được mời sang Đức, Ba-lan, và tới tận kinh thành Petersburg của đế quốc Nga, nơi mà ông được mời trở lại trình diễn hàng năm trong suốt 10 năm, từ 1856 tới 1865.


                  Cuối thập niên 1870, Johann Strauss được mời sang trình diễn tại Hoa Kỳ. Tại đại hội âm nhạc Boston Festival, ông đã được mời điều khiển dàn đại hòa tấu và ban đại hợp xướng gồm trên 1000 người, có tên là “Monster Concert”, để trình bày các sáng tác của ông, trong đó có bản Blue Danube, sáng tác năm 1867.


                  Phụ lục (2) Blue Danube (hòa tấu)


                  02-Blue Danube – Johann Strauss [


                  * * *


                  Về cuộc sống tình cảm cá nhân, Johann Strauss kết hôn tương đối khá muộn (năm đã 37 tuổi) nhưng lại có tới ba đời vợ. Lần thứ nhất với nữ ca sĩ Jetty Treffz vào năm 1862. Mười sáu năm sau, Jetty qua đời vì bạo bệnh, Johann Strauss bước thêm bước nữa với nữ diễn viên Angelika Dittrich. Tuy nhiên, chẳng những hai tâm hồn đã không “đồng điệu”, Angelika lại còn có tật vô ý tứ, thiếu kín đáo, nên chỉ hơn 1 năm sau, Johann Strauss xin ly dị.


                  Sau đó, Johann Strauss chắp nối với Adele Deutsch, góa phụ trẻ của ông Hoàng Von Meyszner. Cuộc hôn nhân thứ ba này tuy không được Giáo hội Công giáo thừa nhận (vì người vợ trước – Angelika – vẫn còn sống), nhưng lại là cuộc hôn nhân hạnh phúc, tốt đẹp nhất của Johann Strauss. Chính nhờ sự khuyến khích, nâng đỡ tinh thần của Adele mà tài năng, óc sáng tạo của Johann Strauss đã được phát huy tới mức tối đa trong những năm cuối đời.


                  Về phần các đồng nghiệp, một trong những người ngưỡng phục Johann Strauss là Johannes Brahms. Mặc dù hai người hai khuynh hướng sáng tác khác biệt, họ rất quý mến nhau.


                   


                  clip_image006


                  Johannes Brahms


                   


                  Trong cả tiểu sử của Johannes Brahms lẫn Johann Strauss đều ghi lại giai thoại thú vị sau đây:


                  Một ngày nọ, bà vợ Adele của Johann Strauss có dịp gặp Johannes Brahms và xin ông ký tên trên “cái quạt xin chữ ký” của mình.


                  Cũng nên biết vào thời ấy, giới phụ nữ quý tộc có cái “mốt” sưu tầm chữ ký của các nhà soạn nhạc tên tuổi, và theo thông lệ, nhà soạn nhạc bao giờ cũng ghi lên đó vài khuôn nhạc trích từ một tác phẩm nổi tiếng của mình, rồi mới ký tên. Vì thế, các bà các cô luôn luôn thủ sẵn một cái quạt giấy gọi là “quạt xin chữ ký” để chờ cơ hội.


                  Nhưng Johannes Brahms, khi được bà vợ Adele của Johann Strauss xin chữ ký, thay vì ghi nhạc của mình, ông lại ghi mấy khuôn nhạc trích từ bản Blue Danube của Johann Strauss, rồi viết ở phía dưới “Thật đáng tiếc, đây KHÔNG PHẢI là sáng tác của Johannes Brahms” (Unfortunately, NOT by Johannes Brahms) rồi ký tên… “Johannes Brahms”!


                  * * *


                  Về mặt sáng tác, Johann Strauss viết trên 500 tác phẩm đủ loại, trong đó có nhiều vở ca nhạc kịch ngắn (operetta) và những bản vũ ballet. Tuy nhiên, nổi tiếng nhất vẫn là thể loại Luân vũ thành Viên, trong đó có bản Blue Danube.


                   


                  clip_image008


                   


                  Cho tới nay, Blue Danube vẫn được ghi nhận là bản hòa tấu phổ biến nhất của nhân loại, nhưng xưa kia nó lại ra đời dưới hình thức một ca khúc.


                  Johann Strauss viết phần nhạc của bản này vào năm 1866, được thi sĩ Joseph Vey đặt lời, và đã được Ban đại hợp xướng thành Vienne trình diễn lần đầu năm 1867.


                  Hiện nay, Blue Danube (hòa tấu) được xem như “quốc thiều bán chính thức” của Áo quốc. Vào các đêm giao thừa dương lịch, đúng 12 giờ đêm, trong khi các nơi khác trên thế giới người ta hát, hoặc hòa tấu bản “Auld Lang Syne” (Au Revoir), thì tại Áo, theo luật định, tất cả các đài phát thanh, đài truyền hình sẽ đồng loạt phát đi bản Blue Danube.


                  Ngoài Blue Danube, Johann Strauss còn viết nhiều bản Luân vũ thành Viên bất hủ khác, như Tales from the Vienna Woods (1868), Roses from the South (1880),Voices of Spring (1883), và Emperor Waltz (1889) nhân dịp Hoàng đế Franz Josef của Áo công du nước Đức quốc.


                  Ngày nay, các buổi hòa nhạc tân niên theo truyền thống tại thủ đô Áo quốc, do dàn đại hòa tấu Vienna Philharmonic Orchestra trình diễn, luôn luôn được mở đầu bằng bảnVoices of Spring, và kết thúc với Blue Danube.


                  Phụ lục (3) Voices of Spring (hòa tấu)


                  03-voices of spring waltz


                  Riêng bản Blue Danube, ngày ấy do ảnh hưởng sâu đậm của ngôn ngữ và văn hóa Pháp tại Việt Nam, đã được phổ biến tại Hòn ngọc Viễn đông dưới tựa tiếng Pháp là Le Beau Danube Bleu (Dòng sông Danube xanh, đẹp). Sau đó đã được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Dòng Sông Xanh.


                   


                  clip_image010


                  Dòng Danube xanh lơ


                   


                  Theo ký ức của chúng tôi, vào những năm giữa thập niên 1960, “thần đồng” Thiên Hương đã hát bản này rất đạt. “Thiên Hương” nhắc tới ở đây là cô em út của ba chị em ca sĩ Hồng Thiện, Đăng Lan, Đặng Đức Hiếu, chứ không phải “nữ ca sĩ Thiên Hương” (Tôn Nữ Thị Thiên Hương) sau này thành danh ở Pháp với cái tên nửa Anh nửa…Tàu “Tiny Yong”.


                  Rất tiếc, mặc dù có một giọng thiên phú cao vút, Thiên Hương cũng giống như bà chị cả Hồng Thiện, chỉ ca hát tài tử. Cho nên trước năm 1975, trong số các nữ ca sĩ nổi tiếng ở miền Nam, hình như chỉ có Thái Thanh – người có một giọng cao vút – thu băng ca khúc bất hủ này.


                  Phụ lục (4) Dòng Sông Xanh (Thái Thanh)


                  04 – Dong song xanh


                  Johann Strauss II qua đời tại thành Vienne năm 1899, thọ 73 tuổi. Theo di chúc, ông được an táng bên cạnh Johannes Brahms, qua đời trước ông 2 năm, tại Nghĩa trang Trung ương (Zentrafriedhof) thành Vienne, cũng là nơi an giấc nghìn thu của Beethoven, Schubert, và… Johann Strauss I – ông bố ngày xưa đã thất bại trong cố gắng tống khứ “con quỷ âm nhạc” ra khỏi người cậu trưởng nam!


                  Mộ bia của Johann Strauss II là một công trình điêu khắc tuyệt vời. Phía trên là chân dung nổi của ông, rồi tới các thiên thần đàn hát, và phía dưới là tượng nữ thần âm nhạc với cây đàn lia (lyre).


                  Ba mươi mốt năm sau (1930), Adele Deutsch (người vợ sau cùng của Johann Strauss II) qua đời và được an táng chung một huyệt mộ với chồng.


                  Ngoài bia mộ, còn có pho tượng mạ vàng nổi tiếng của Ông vua Luân vũ (Waltz King) đang kéo vĩ cầm, đặt tại công viên Stadpark của thành Vienne.


                  * * *


                  Tới đây, chúng tôi viết về bản valse nổi tiếng thứ nhì trên thế giới, cũng viết về dòng sông Danube. Đó là bản Waves of the Danube (tiếng Pháp: Flots du Danube – Những con sóng trên sông Danube), được nhạc sĩ Phạm Đình Chương đặt tựa tiếng Việt là Sóng Nước Biếc.


                   


                   


                  clip_image012osif Ivanovici (1845 1902)


                   


                  Tác giả của bản valse này là Iosif Ivanovici, một nhà soạn nhạc kiêm trưởng ban nhạc nổi tiếng của Romania (Lỗ-mã-ni). Ông sinh năm 1845 và mất năm 1902.


                  Ivanovici tự học nhạc từ nhỏ, khởi đầu với cây sáo được tặng làm quà sinh nhật. Sau khi gia nhập Trung Đoàn 6 Lục Quân, ông học thổi kèn clarinet. Tuy tự mò mẫm nhưng nhờ có khiếu, Ivanovici đã trở thành tay kèn số 1 của Trung Đoàn. Từ đó, ông đã được nhạc sư Emil Lehr, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của hậu bán thế kỷ 19, chỉ dạy thêm.


                  Sau khi xuất ngũ, Ivanovici thành lập một ban nhạc để đi lưu diễn khắp nơi. Năm 1900, Ivanovici được trao chức vụ Trưởng ngành Quân nhạc Romania, và giữ chức vụ này cho tới khi qua đời.


                  Mặc dù sự nghiệp của Ivanovici gồm trên 350 nhạc khúc viết cho các điệu vũ, được 6 nhà xuất bản trên thế giới ấn hành, nhưng chỉ cần một bản Waves of the Danube cũng đã đủ để ông lưu danh kim cổ.


                  Với người yêu nhạc, một khi nhắc tới Blue Danube, không thể không nhắc tới Waves of the Danube; đến nỗi không ít người đã lầm tưởng hai sáng tác này là của cùng một tác giả (Johann Strauss)!


                  Johann Strauss và Iosif Ivanovici – một người ở đầu sông, một người ở cuối sông, cùng viết về một dòng sông – dòng sông đã gắn liền với sự hình thành và lịch sử thăng trầm của hàng chục quốc gia Âu Châu, đã ăn sâu vào tâm tư tình cảm của bao thế hệ – dòng sông mà Nã-phá-luân đệ Nhất đã xưng tụng là “vua của các dòng sông” (the king of rivers).


                  Bắt nguồn từ rừng Hắc Lâm (Black Forest) ở Đức và đổ ra biển Hắc Hải (Black Sea) qua cửa Thiết Môn (Iron Gate) ở biên giới Romania-Serbia, Danube là dòng sông giới tuyến của 10 quốc Âu châu, gồm Đức, Áo, Slovakia (trước kia thuộc Liên Bang Tiệp Khắc), Hung-gia-lợi, Croatia, Ukraine, Bảo-gia-lợi, Moldavia, Romania, và Serbia.


                  Với chiều dài gần 3.000 cây số, sông Danube chảy qua hàng trăm lâu đài, thành quách, tu viện, thánh đường cổ kính, 14 thành phố thơ mộng, trong đó có 4 kinh đô: Vienne (Áo), Bratislava (Slovakia), Budapest (Hung-gia-lợi), và Belgrade (Serbia).


                   


                  clip_image013


                  Black Forest – Thượng nguồn sông Danube


                   


                  Một trong những điểm khác biệt giữa hai bản valse nổi tiếng viết về dòng sông này là: khi chảy qua thành Vienne, dòng sông còn êm trôi cho nên nét nhạc của bản Blue Danube cũng êm đềm, dìu dặt; sau gần 2 nghìn dặm, gần tới cửa Thiết Môn ở biên giới Serbia-Romania thì cuồn cuộn sóng, cho nên tiếng nhạc của Waves of the Danube cũng réo rắt, dồn dập theo…


                  Waves of the Danube được xuất bản lần đầu vào năm 1880, với lời đề tặng của Ivanovici cho Emma Gebauer, vợ của nhà xuất bản nhạc Constantin Gebauer ở Bucharest, thủ đô Romania.


                  Năm 1886, Waves of the Danube được nhà soạn nhạc Emile Waldteufel soạn hòa âm cho dàn đại hòa tấu, và tới năm 1889 tham dự cuộc thi hành khúc (march) tại Hội chợ quốc tế Paris (Paris Exposition) với tựa tiếng Pháp Flots du Danube, đoạt giải nhất trong số 116 nhạc khúc dự tranh, và lập tức trở thành một hiện tượng tại Kinh thành Ánh sáng.


                  Mấy năm sau (1896), khi hãng đĩa hát Pathé của Pháp được thành lập, bản Flots du Danube dưới dạng hành khúc (march), do dàn nhạc của Vệ binh Cộng hòa Paris (Garde Républicaine de Paris) hòa tấu, đã được thu vào “đĩa 120 vòng”, là loại đĩa hát xưa nhất, trước khi có đĩa 78, 45 và 33 vòng.


                  Phụ lục (5) Flots du Danube (Garde Républicaine de Paris, 1896)


                  05-les flots du Danube


                  Phụ lục (6) Waves of the Danube (André Rieu, 2011)


                  06-waves of danube-andre-rieu


                  Cũng trong 1896, Waves of the Danube được xuất bản tại Hoa Kỳ, và sau đó trở thành bản valse được ưa chuộng nhất tại quốc gia này, thường được gọi một cách đơn giản là “Danube Waves Waltz”.


                  Bước sang thế kỷ thứ 20, tới năm 1946, Danube Waves Waltz được nhà soạn nhạc Saul Chaplin cải biến phần nhạc và đặt lời với tựa “The Anniversary Song” do nam ca sĩ Al Jolson thu đĩa. Vì thế, The Anniversary Song đã được người Mỹ xem là “của riêng”, được nằm trong danh sách “di sản” tại Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ, và trở thành ca khúc không thể thiếu trong những dịp kỷ niệm ngày cưới, được hầu hết các danh ca như Bing Crosby, Rosemary Clooney, Frank Sinatra, Andy Williams… thu đĩa.


                  Phụ lục (7) Anniversary Song (Andy Williams)


                  07-Anniversary Song – Andy Williams


                  Nhân tiện cũng xin lưu ý độc giả ở Hoa Kỳ không nên lẫn lộn The Anniversary Song (mở đầu bằng câu: Oh, how we danced on the night we were wed…) với một ca khúc khác cũng của Mỹ có tựa là The Anniversary Waltz.


                  Trở lại với nhạc khúc Waves of the Danube nguyên thủy, đây là một bản hiếm hoi của thời kỳ Lãng mạn mà về sau được cả tới những ban nhạc “rock” khai thác. Trong số này, độc đáo nhất phải kể tới bản do ban hòa tấu Takeshi Terauchi & The Bunnys của Nhật trình bày. Takeshi Terauchi là một tay đàn ghi-ta điện nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực sử dụng kỹ thuật điện tử để đem lại cho cây ghi-ta điện những âm thanh độc đáo, lạ thường.


                  Phụ lục (8) Danube Waves Waltz (Takeshi Terauchi & The Bunnys)


                  08-Danube_Wave_Waltz


                  Riêng tại Việt Nam xưa kia, Waves of the Danube đã được giới yêu nhạc ngoại quốc biết tới với tựa tiếng Pháp Flots du Danube, và tới cuối thập niên 1950 đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương đặt lời Việt với tựa Sóng Nước Biếc.


                  Phụ lục (9) Sóng Nước Biếc – Hải Lý


                  09– Les Flots du Danube


                   


                   


                  PHỤ LỤC:


                   


                  (1) Tales of the Vienna Woods Mantovani Orchestra


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/01-Tales-Of-The-Vienna-Woods-Mantovani.mp3


                  (2) Blue Danube (original version) - Vienna Philharmonic Orchestra


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/02-Blue-Danube-Johann-Strauss-.mp3


                  (3) Voices of Spring (original version) Vienna Philharmonic Orchestra


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/03-voices-of-spring-waltz.mp3


                  (4) Dòng Sông Xanh (Phạm Duy) – Thái Thanh


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/04-Dong-song-xanh.mp3


                  (5) Flots du Danube - Garde Républicaine de Paris (1896)


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/05-les-flots-du-Danube.mp3


                  (6) Waves of the Danube - André Rieu (2011)


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/06-waves-of-danube-andre-rieu.mp3


                  (7) Anniversary Song - Andy Williams


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/07-Anniversary-Song-Andy-Williams.mp3


                  (8) Danube Waves WaltzTakeshi Terauchi & The Bunnys


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/08-Danube_Wave_Waltz.mp3


                  (9) Sóng Nước Biếc (Phạm Đình Chương) – Hải Lý


                  http://t-van.net/wp-content/uploads/2012/04/09-Les-Flots-du-Danube.mp3


                  Hoài Nam






                  Sóng Nước Biếc - Thái Thanh
                  Last edited by Nguyen Huu Thien; 11-14-2017, 04:00 AM.

                  Comment

                  • saomai
                    Moderator
                    • Jun 2008
                    • 2146

                    #10
                    Come Back to Sorrento (Trở về mái nhà xưa), DE CURTIS – Serenata (Chiều tà), TOSELLI

                    clip_image002


                     


                    Ernesto De Curtis (1875-1937)


                    Sau phần dẫn nhập và giới thiệu một số sáng tác để đời của các nhà soạn nhạc lừng danh ở Đức, Áo, Ba-lan và Đông Âu trong nền nhạc cổ điển, bắt đầu từ bài này, chúng tôi mời quý độc giả cùng xuôi về phương Nam để thưởng thức những ca khúc nổi tiếng của các nhà soạn nhạc Ý, Tây-ban-nha và Mỹ La-tinh.


                    Trước hết là bản Torna a Surriento (tựa tiếng Anh: Come Back to Sorrento, tựa tiếng Việt: Trở về mái nhà xưa) của hai anh em người Ý Ernesto De Curtis (1875-1937) và Giovanni Battista (gọi tắt là Giambattista) De Curtis (1860-1926).


                    Viết một cách chi tiết hơn,Torna a Surriento là một ca khúc được Ernesto phổ từ một bài thơ có cùng tựa của Giambattista. Tuy nhiên hiện nay, nếu không kể ở Ý, hầu như tất cả mọi ấn bản được lưu hành chỉ ghi tên tác giả là Ernesto De Curtis.


                    Trong số này, có người (Việt) còn lầm lẫn một cách tai hại khi viết: “…tác giả là Ernesto De Curtis, còn được gọi là Giambattista”!


                    Tìm hiểu tới nơi tới chốn, chúng ta sẽ thấy nếu không có bài thơ của Giambattista, hoặc ông không yêu cầu Ernesto phổ nhạc, đã không có ca khúc bất hủ này. Có thể nói, Torna a Surriento là một sự phối hợp tuyệt vời giữa những rung động trong lời thơ của Giambattista và nét nhạc của Ernesto.


                    clip_image004


                    Giovanni Battista De Curtis (1860-1926)


                    * * *


                    Torna a Surriento là một ca khúc thuộc thể loại “ca khúc xứ Naples” – tức “Neapolitan songs”.


                    Naples (tiếng Ý là Napoli) được xem là cái nôi của nền ca nhạc hiện đại của Ý, khởi đầu vào cuối thời kỳ lãng mạn với những ca khúc thiết tha, trữ tình, mà lời hát được phát âm theo thổ âm đặc biệt của vùng Naples, chẳng hạn chữ ”sorrento” phát âm thành “surriento”.


                    Ngoài bản Torna a Surriento, người Ý còn có nhiều “ca khúc xứ Naples” nổi tiếng quốc tế khác, chẳng hạn bản O Sole Mio (Mặt trời của tôi), một ca khúc quen thuộc qua tiếng hát của hầu hết danh ca tenor trên thế giới. Về sau, bản O Sole Mio còn được người Mỹ đặt lời bằng tiếng Anh với tựa It’s Now or Never, và trở thành một trong những ca khúc “nhãn hiệu cầu chứng” của Ông vua nhạc rock Elvis Presley.


                    Phụ lục (1) O Sole Mio, Luciano Pavarotti.


                    01-O sole mio – Luciano Pavarotti-1


                    Phụ lục (2) It’s Now or Never, Elvis Presley


                    02-Its Now Or Never – Elvis Presley Nh c Anh(2)(2)(2)


                    Hai anh em Giambattista và Ernesto De Curtis sinh trưởng trong một gia đình quý tộc ở Naples – nguyên là một vương quốc ngày nước Ý chưa thống nhất; cha là “họa sĩ fresco” tên tuổi Giuseppe De Curtis, và ông cố là nhà soạn nhạc nổi tiếng Saverio Mercadante.


                    Giambattista sinh năm 1860, còn Ernesto ra chào đời sau đó 15 năm. Với người Ý nói chung, Giambattista nổi tiếng hơn Ernesto, bởi vì trong khi Ernesto chỉ là một nhà soạn nhạc và viết ca khúc, thì Giambattista vừa viết ca khúc, soạn ca kịch, vừa sáng tác thơ văn, vừa điêu khắc, vừa vẽ tranh, đặc biệt là tranh “fresco”, nhờ được thân phụ huấn luyện, đào tạo từ nhỏ.


                    [Chú thích: “fresco” là một hình thức vẽ tranh đặc thù của thời Trung cổ và thời Phục hưng. Đó là kỹ thuật và nghệ thuật vẽ trên vữa (plaster) chưa kịp khô của các bức tường hoặc trần nhà, với mục đích giữ cho lâu bền.


                    Nhà nguyện Sistine (Sistine Chapel) ở Rome là nơi tập trung những bức “fresco” nổi tiếng nhất: trên trần là tranh của danh sư Michelangelo, và trên tường là các tác phẩm của Botticelli cùng nhiều họa sĩ thời danh khác.


                    Cái khó khăn nhất trong việc vẽ “fresco” là một khi đã vẽ, không thể sửa đổi các chi tiết. Bức họa lừng danh “Bữa tiệc ly” (The Last Supper) của thiên tài Leonardo Da Vinci – mà một số người gọi là “fresco” - tuy cũng được vẽ trên tường phòng ăn của tu viện Santa Maria delle Grazie ở Milan, nhưng thực ra không phải “fresco” vì được vẽ trên tường đá, cho nên đã bị hư thoái trầm trọng (tróc sơn) ít lâu sau khi ông qua đời.


                    Cũng may cho hậu thế, vào khoảng năm 1520 (hơn 20 năm sau ngày bức họa được hoàn tất), Giovanni Pietro Rizzoli (có tên nghệ sĩ là Giampietrino), một người phụ tá của Leonardo Da Vinci, thấy được nguy cơ hư thoái của bức họa, nên đã vẽ lại bằng sơn dầu (oil on canvas) với cùng một kích thước (một bề 4.5 mét, một bề 8.7 mét) và với một mức chính xác tuyệt vời. Nhờ đó, gần 5 thế kỷ sau, khi bức họa The Last Supper nguyên thủy của Leonardo Da Vinci được trùng tu toàn phần - một công việc kéo dài 20 năm (từ 1978 tới 1998), người ta mới có “mẫu” để vẽ lại những phần đã bị tróc trên bức họa nguyên thủy.


                    Ngày nay, bức họa The Last Supper (vẽ lại) của Giampietrino thuộc quyền sở hữu của Hàn lâm viện Nghệ thuật Vương quốc Anh (Royal Academy of Arts) ở Luân-đôn.


                    * * *


                    Cũng nhờ tài vẽ tranh “fresco” mà Giambattista De Curtis được ông Thị trưởng Guglielmo Tramontano của Sorrento trọng đãi.


                    clip_image006


                    Thị trấn cổ kính Sorrento


                    Sorrento là một thị trấn cổ kính ở tỉnh Campania, miền Nam nước Ý, cư dân chỉ vào khoảng 16,500 người. Với những di tích lịch sử từ thời Đế quốc La-mã, khung cảnh thơ mộng hữu tình, nằm bên vịnh Sorrento xanh biếc của Địa Trung Hải, gần Naples, núi lửa Vesuvius và thành phố Pompeii đã bị núi này chôn vùi dưới lòng biển, Sorrento đã trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng, và nơi nghỉ mát lý tưởng.


                    Gia đình De Curtis là chỗ quen thân với ông Thị trưởng Tramontano của Sorrento, kiêm chủ nhân khách sạn nghỉ mát Grand Hotel nổi tiếng của thị trấn; và Giambattista đã được ông mời phụ trách việc trang trí, vẽ những bức “fresco” trên tường khách sạn; về sau, Giambattista còn vẽ nhiều bức tranh trên vải để trưng bày tại đây.


                    Sự trọng đãi của ông Thị trưởng Tramontano cùng với khung cảnh thơ mộng hữu tình, khí hậu lý tưởng của Sorrento đã khiến Giambattista De Curtis xem thành phố này như quê hương thứ hai; trong suốt 20 năm liên tục, năm nào ông cũng tới sống ở Sorrento trong 6 tháng hè, ngụ tại Grand Hotel, để vẽ, làm thơ, sáng tác ca khúc, và... xuất hiện bên cạnh những bông hoa biết nói đẹp nhất – cho tới khi lập gia đình vào tuổi 50 với tiểu thư Carolina Scognamiglio - sau 20 đính hôn!


                    * * *


                    Về phần cậu em Ernesto De Curtis, tuy không “bách nghệ tinh” và đào hoa như ông anh Giambattista, nhưng lại là một danh thủ dương cầm và nhà soạn nhạc, soạn ca khúc chuyên nghiệp, tốt nghiệp Nhạc viện San Pietro ở Naples.


                    Bình thường, Giambattista hay viết ca khúc chung với nhà soạn nhạc Vincenzo Valente (1855–1921), một người bạn vong niên, chỉ thỉnh thoảng mới viết chung với cậu em Ernesto, trong đó bản Torna a Surriento.


                    Theo lời truyền tụng, nguyên nhân ra đời của bản Torna a Surriento là chuyến viếng thăm thị trấn Sorrento của Thủ tướng Ý Giuseppe Zanardelli vào năm 1902. Dĩ nhiên, ngài Thủ tướng cư ngụ tại Grand Hotel. Vì thế ông Thị trưởng Tramontano đã yêu cầu hai anh em De Curtis sáng tác một “ca khúc xứ Naples” để đón mừng. Thế là Giambattista làm bài thơ Torna a Surriento rồi đưa cho Ernesto phổ nhạc.


                    Tuy nhiên, một số tài liệu được khám phá gần đây cho thấy ca khúc này đã được hai anh em sáng tác vào năm 1894, tức là 8 năm trước ngày Thủ tướng Zanardelli viếng thăm Sorrento; như vậy việc ca khúc này được xuất bản vào năm 1902 – năm có chuyến viếng thăm của Thủ tướng Ý, chỉ là một sự vô tình trùng hợp. Thế nhưng cho tới nay, không ít tác giả khi viết về lai lịch ca khúc Torna a Surriento, vẫn cố tình “phớt lờ” khám phá nói trên, không ngoài mục đích duy trì tính cách thú vị của những thêu dệt đáng yêu, và vô hại ấy!


                    Phụ lục (3) Torna a Surriento, Luciano Pavarotti


                    03-Torna Suriento - Luciano Pavarotti


                    Lời hát trong Torna a Surriento (Hãy trở lại Sorrento), là lời trách móc một chàng trai đang bỏ Sorrento ra đi, bỏ lại biển xanh với những cổ vật dưới đáy, và trên mặt nước những nàng nhân ngư đang đắm đuối nhìn theo, bỏ lại những khu vườn thân thương vương thoảng mùi hoa cam dịu dàng..., cùng với lời nhắn nhủ “Hãy trở lại Sorrento!”


                    Ngay sau khi được đăng ký bản quyền quốc tế vào năm 1905, Torna a Surriento đã trở thành một “hiện tượng”, được ưa chuộng và phổ biến khắp nơi, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, nơi mà người di dân Ý còn mang nặng tình hoài hương.


                    Từ đó tới nay, hầu như không một danh ca nào của phương tây mà không hát bản này; riêng Dean Martin, một danh ca Mỹ gốc Ý, đã thu đĩa tới 3 ấn bản khác nhau: nguyên tác tiếng Ý Torna a Surriento, bản dịch sang tiếng Anh với tựa Come Back to Sorrento, và một bản lời Anh khác có tựa Take Me in your Arms.


                    Về sau, hai tác giả Doc Pomus và Mort Shuman còn soạn lại phần nhạc và đặt lời hát với tựa Surrender cho Ông vua nhạc rock Elvis Presley thu đĩa.


                    Bên cạnh đó, nét nhạc của Ernesto de Curtis trong Torna a Surriento cũng có một sức thu hút lạ thường, và đã được nhiều dàn nhạc cổ điển và bán cổ điển trình tấu.


                    Phụ lục (4) Torna a Surriento, Mantovani Orchestra


                    04-Come Back To Sorrento - Mantovani


                    Có thể nói, nếu cần một nhạc khúc, ca khúc quốc tế để diễn tả nỗi buồn xa xứ, sự hoài niệm quê xưa, thì Torna a Surriento phải được xem là nhạc khúc, ca khúc điển hình nhất.


                    Thật vậy, người nghe nhạc ở khắp năm châu, không phải ai cũng biết, hoặc bỏ công tìm hiểu thị trấn Sorrento nằm ở đâu, thơ mộng tới mức nào, nhưng sao qua nghe ca khúc này, hầu như mỗi người đều thấy trong đó hình ảnh một nơi chốn riêng đầy ắp những kỷ niệm thân thương của chính mình.


                    Riêng tại Việt Nam, theo ký ức của nhạc sĩ Thanh Trang, nhạc sĩ kiêm ca sĩ Mạnh Phát trong Nam là người đầu tiên đặt lời Việt cho bản Torna a Surriento với tựa đề “Trở về mái nhà xưa”; lời hát tuy đơn sơ nhưng rất thấm thía.


                    Còn ở ngoài miền Bắc, vào khoảng năm 1949-1950, nhạc sĩ Phạm Duy cũng đặt lời Việt cho Torna a Surriento, và cũng với tựa đề “Trở về mái nhà xưa”.


                    Ông viết trong hồi ký:


                    “Bản ca nổi danh của nước Ý là COME BACK TO SORRENTO cũng được tôi soạn lời Việt với cái tên TRỞ VỀ MÁI NHÀ XƯA tại Chợ Neo, Thanh Hoá. Lời ca nói lên phần nào sự mệt mỏi của con người trong kháng chiến, mơ tới ngày được trở về với cái bình thường của mình. Bài này có thêm chút không khí Bồ Tùng Linh vì tôi là người Á Ðông:




                    Về đây khi mái tóc còn xanh xanh

                    Về đây với mầu gió ngày lang thang

                    Về đây với xác hiu hắt lạnh lùng

                    Ôi lãng du quay về điêu tàn.

                    Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan.

                    Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan.

                    Về đây nhé ! Cắm xong chiếc thuyền hồn

                    Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn.

                    Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh.

                    Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh.

                    Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh.

                    Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn

                    Ðốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh.

                    Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh.

                    Và nghe thấy kiếp xưa bước nhẹ về

                    Ðang khóc than trên đường não nề.

                    Ðâu tiếng đàn ngoài hiên mưa ?

                    Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa ?

                    Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa.

                    (Thôi nhé đừng hoài âm xưa

                    Giọt mưa đã gieo trên thềm nhà

                    Người ngồi im bóng, lắng nghe tháng ngày qua)


                     


                    Phụ lục (5) Trở về mái nhà xưa ,Trần Thái Hòa & Ngọc Hạ


                    05-Tro Ve Mai Nha Xua - Tran Thai Hoa - Ngoc Ha


                    Phụ lục (6) Trở về mái nhà xưa, hòa tấu đàn bầu


                    06-Tro ve Surriento Come Back To Surriento - Torna a Surriento - Hoa tau Dan bau


                    clip_image007


                    Enrico Toselli (1883-1926)


                    Ca khúc thứ hai của Ý chúng tôi giới thiệu trong bài này là bản Serenata của tác giả Enrico Toselli (1883-1926) với lời hát của Alfredo Silvestri.


                    Với nhiều người yêu nhạc cổ điển, khi nói tới những bản “serenata” nổi tiếng của Ý, thì bản La Serenata của Francesco Paolo Tosti (1846-1916), ra chào đời trước Enrico Toselli 37 năm, được đánh giá cao hơn. Tuy nhiên, nếu nói về tính cách phổ biến, bản Serenata của Enrico Toselli được nhiều thành phần thính giả biết tới và ưa chuộng hơn; một phần vì giai điệu êm tai, nét nhạc dung dị, một phần vì đời tư sôi nổi của tác giả - tức cuộc hôn nhân của ông với Nữ đại công tước Louise – một mệnh phụ nổi tiếng và gây tranh luận vào thời đó, không thua gì Công nương Diana của thế kỷ 20.


                    * * *


                    Enrico Toselli ra chào đời tại Florence năm 1883, ngay từ nhỏ đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc. Được thọ giáo các danh sư về dương cầm và sáng tác, năm 16 tuổi Enrico Toselli đã sáng tác bản Serenata bất hủ (sẽ đề cập tới ở phần sau) đồng thời nổi tiếng với tài đàn dương cầm, không chỉ trình diễn ở Ý mà còn được mời tới các kinh thành ở khắp Âu châu, tới tận cố đô Alexandria của Ai-cập, và cả Bắc Mỹ.


                    Thế nhưng đang nổi tiếng với tiếng đàn, năm 1907, tại thủ đô Anh quốc, vào tuổi 24, Enrico Toselli đã “dừng bước giang hồ” để kết hôn với một thiếu phụ 7 con, hơn chàng 13 tuổi. Thiếu phụ ấy chính là Nữ đại công tước Louise, tức Công chúa Louise xứ Tuscany, vợ cũ của Đông cung Thái tử Frederick xứ Saxony, người sau này trở thành vua Frederick đệ Tam của vương quốc này.


                    clip_image009


                    Nữ đại công tước Louise


                    Cũng nên biết vào đầu thế kỷ thứ 19, sau khi chinh phục Âu châu, Hoàng đế Nã-phá-luân đệ Nhất của Pháp đã cho giải thể đế quốc Holy Roman Empire, chia thành nhiều vương quốc nhỏ, như Saxony (ngày nay là Vương quốc Bỉ), Tuscany (miền bắc nước Đức ngày nay)... Sau khi Nã-phá-luân bị đại bại trước liên quân Âu châu, các vương quốc này trực thuộc đế quốc Áo – Hung.


                    Louise thuộc dòng tộc Bourbon của Pháp, con gái vua Ferdinand IV xứ Tuscany, được hoàng đế Áo Franz Josef phong tước “Nữ đại công tước Áo quốc” (Archduchess of Austria). Đây là tước cao nhất dành cho nữ giới trong đế quốc Áo; trước kia Hoàng hậu Marie-Antoinette (vợ vua Louis 16) và Hoàng hậu Marie-Louise (vợ của Nã-phá-luân đệ Nhất) cũng được phong tước này.


                    Năm 21 tuổi, Louise kết hôn với Đông cung Thái tử Frederick của vương quốc Saxony, người sau này trở thành vua Frederick đệ Tam. Trong cương vị một hoàng hậu tương lai (Crown Princess), Louise rất được thần dân Saxony yêu mến, nhưng lại bị ông bố chồng - vua George xứ Saxony, ghét cay ghét đắng, một phần vì nàng có đầu óc cấp tiến, không chịu tuân thủ các nghi lễ, thủ tục trong triều, một phần vì bị nhà chồng lên án là lả lơi, thiếu đứng đắn.


                    Cuối năm 1902, khi đang mang thai đứa con thứ 7, Louise khám phá ra việc ông bố chồng đang âm mưu nhốt mình vào viện tâm thần Sonnestein Mental Asylum suốt đời, nàng đã nhờ người anh trai giúp mình trốn khỏi kinh đô Dresden, bỏ lại 6 đứa con dại.


                    Qua đầu năm 1903, vua George xứ Saxony đã ban sắc lệnh chấm dứt cuộc hôn nhân giữa con trai, tức Đông cung Thái tử Frederick, và Louise, tước bỏ tước hiệu “Her Imperial and Royal Highness, Crown Princess of Saxony” của nàng.


                    Sau đó, có một khoảng thời gian Louise chung sống với André Giron, nguyên là thầy giáo dạy Pháp văn của các con, và tới năm 1907, kết hôn với Enrico Toselli tại Luân-đôn. Chỉ tới khi ấy, Louise mới bị Hoàng đế Áo tước bỏ tước hiệu “Nữ Đại công tước Áo quốc” do ông phong trước đây.


                    Ngày ấy, và cả cho tới nay, việc “Công chúa Louise xứ Saxony bỏ chồng” đã được các sử gia xem là vụ “xì-căng-đan vương giả” lớn nhất từ nhiều thế kỷ qua, khởi đầu cho một “cuộc cách mạng trong các cung đình”.


                    * * *


                    Qua năm sau (1908), Louise cho ra chào đời cậu con trai Carlo Emanuele Toselli; tuy nhiên cuộc hôn nhân giữa nàng công chúa và chàng nhạc sĩ được mô tả là không hạnh phúc, và hai người ly dị sau 4 năm chung sống.


                    Sau khi ly dị, Toselli về sống tại Florence, vừa sáng tác vừa dạy nhạc, thỉnh thoảng mới trình diễn dương cầm cho giới mộ điệu.


                    Điều đáng tiếc cho người yêu nhạc là Toselli lại có cả tài cầm bút: sau thành công của loạt bài viết về chuyện tình và cuộc hôn nhân giữa ông và Louise, Toselli đã dành quá nhiều thì giờ cho việc viết cuốn hồi ký rất ăn khách, có tựa tiếng Pháp là Mari d’altesse: 4 ans de mariage avec Louise de Toscane, ex-princesse de Saxe. (Trèo cao: 4 năm làm chồng Louise xứ Tuscany, cựu Công chúa xứ Saxony) do Albin Michel Éditeur, Paris, xuất bản năm 1912.


                    [Tuy nhiên, với các sử gia, đây lại là một việc “không đáng tiếc” chút nào. Bởi vì cùng với cuốn hồi ký của Louise (My own Story, Louise of Tuscany, Former Crown Princess of Saxony) xuất bản tại Luân-đôn năm 1911, cuốn hồi ký của Enrico Toselli được xem là một sử liệu hiếm quý về những diễn biến chính trị trong buổi hoàng hôn của các triều đại đế quốc ở Âu Châu]


                    Vì thế, so với tài năng thiên phú, sự nghiệp âm nhạc Enrico Toselli để lại cho đời phải được xem là quá khiêm nhượng, chỉ gồm 2 vở opera ngắn (operetta) và mấy chục ca khúc, nhạc khúc, trong đó có bản Serenata bất hủ, sáng tác năm 16 tuổi.


                    Chữ “serenata” (tiếng Pháp là “sérénade”) trong nền nhạc cổ điển, chúng tôi đã giải thích một cách chi tiết trong bài nói về bản Sérénade (Dạ Khúc) của Schubert, cho nên ở đây chỉ xin nhắc sơ lại:


                    “Serenata” phát xuất từ Ý vào thời Trung cổ, nguyên là thể loại ca khúc êm dịu được “chàng” sử dụng để tỏ tình với “nàng”.


                    Về sau, tới thời nhạc cổ điển, nội dung cũng như hình thức của “serenata” đã được nới rộng (không nhất thiết phải có lời hát mà có khi chỉ viết cho nhạc cụ), nhưng căn bản vẫn là nhẹ nhàng, êm ái, thiết tha, thường được trình diễn vào lúc chiều tối, tức “mộ khúc”, hoặc “dạ khúc”.


                    “Serenata” là hình thức sáng tác rất phổ biến trong nền nhạc cổ điển, hầu như nhà soạn nhạc nào cũng viết một vài bản (riêng Mozart viết tới 13 bản), cho nên khi đề cập tới một bản “serenata” (hay “sérénade”) nào đó, người ta phải nói rõ là của tác giả nào, thậm chí có khi còn ghi số thứ tự của tác phẩm và tuyển tập (opus).


                    Tuy nhiên, để khỏi mất công dài dòng và tránh nhức đầu cho người nghe nhạc, hiện nay người ta gọi 4 bản “serenata” (sérénade) phổ biến nhất trong nền nhạc cổ điển một cách đơn giản như sau:


                    1- Sérénade số 13 của Mozart là “Eine Kleine Nachtmusik” (tiếng Đức có nghĩa là “Tiểu dạ khúc”), cũng là tựa đề mà chính Mozart đã đặt cho bản “sérénade” này.


                    2- Sérénade của Schubert là “Sérénade de Schubert”


                    3- Serenata của Tosti là “La Serenata”


                    4- Serenata của Toselli (đề cập tới trong bài viết này) là Serenata “Rimpianto” (Bản nhạc chiều luyến tiếc).


                    Riêng với thính giả tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, mà phần lớn chỉ biết tới 2 bản của Schubert và Toselli, người ta đã đơn giản tới mức tối đa: bản của Schubert thì gọi là “Sérénade”, còn bản của Toselli là “Serenata”.


                    Khi đặt tựa tiếng Việt, nhạc sĩ Phạm Duy cũng rất ngắn gọn: “Sérénade” thành “Dạ khúc”, Serenata” thành “Chiều tà”.


                    clip_image010


                     


                    Bản Serenata được Toselli sáng tác vào năm 16 tuổi, dưới tựa “Serenata for Violin and Piano” (No.1, Op. 6) với lời hát của Alfredo Silvestri (rất tiếc, chúng tôi không tìm thấy bất cứ tài liệu nào viết về tác giả này).


                    Vì nội dung lời hát là sự luyến tiếc những kỷ niệm đẹp, những hạnh phúc ngọt ngào của mối tình tuổi thanh xuân rực rỡ nay đã mất, cho nên người Ý còn gọi bản Serenata của Toselli là Serenata “Rimpianto’ .


                    Trong tiếng Ý Rimpianto” có nghĩa là “sự hoài niệm, luyến tiếc”.


                    Sự tài tình của Toselli là đã khiến người yêu nhạc, hoặc nghe nhạc cổ điển có chút trình độ và tâm hồn, chỉ cần nghe phần nhạc cũng có thể đoán ra phần nào nội dung lời hát. Đặc biệt là những đoạn viết cho vĩ cầm – khi thiết tha, khi lên tới tận cùng đau đớn, để rồi cuối cùng trầm lắng, buông xuôi, ngậm ngùi trước những gì đã qua, đã mất…


                    Phụ lục (7) SerenataRimpianto’ (violin), Andre Rieu


                    07-Serenata – Andre Rieu


                    Mặc dù được Toselli viết chủ yếu cho vĩ cầm và dương cầm, bản SerenataRimpianto’ còn được nhiều dàn nhạc, hay nhạc sĩ, ca sĩ trình bày dưới những hình thức khác nhau, chẳng hạn ca sĩ + dương cầm + ban hòa tấu, hoặc đàn mandolin…


                    Phụ lục (8) SerenataRimpianto’ (mandolin + guitar)


                    08-Serenade.Toselli-Tony Flores -Paul Hostetter


                    Tại Việt Nam trước kia, SerenataRimpianto’ đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa “Chiều Tà” – được nhiều người đánh giá là một trong những bản lời Việt (cho ca khúc ngoại quốc) hay nhất của ông.


                    Phụ lục (9) Chiều Tà, Khánh Hà


                    09-Chieu ta (Serenata – LV Pham Duy) – Khanh Ha [NCT 4872906221]


                    Phụ lục (10): Chiều Tà (Phạm Duy), Thái Thanh (trước 1975)


                    10-Chieu Ta Serenata – Thai Thanh pre1975


                     


                    Lắng trầm tiếng chiều ngân


                    Nhạc dặt dìu ái ân


                    Người ơi ! Nhớ mãi cung đàn


                    Năm tháng phai tàn


                    Duyên kiếp vẫn còn lỡ làng.


                    Ðã quên hết sầu chưa


                    Lời này là tiếng xưa


                    Quỳ dâng dưới nắng phai mờ


                    Bên gối ơ thờ


                    Ôi tiếng tơ tình mong chờ.


                    Chiều êm êm đưa duyên về người


                    Ðàn triền miên nắn tiếng sầu đời


                    Người hỡi !


                    Ðến bên tôi nghe lời xao xuyến


                    Như chuyện thần tiên


                    Niềm mơ xưa là đó


                    Cho ta nâng niu lời ca


                    Chiều mơ không gian


                    Hờ hững cõi Thiên Ðàng


                    Thuyền trôi bến sông xa đừng chờ


                    Xin hãy lắng nghe bao lời thơ… chiều tà


                    Nhạc chiều của chúng ta


                    Là câu ân ái muôn đời


                    Bóng đã xế rồi


                    Hãy nép trong lòng cõi đời


                    Tình Yêu mãi mãi…


                     


                     


                    PHỤ LỤC:


                     


                    Phụ lục (1) O Sole Mio, Luciano Pavarotti


                    Phụ lục (1) O Sole Mio, Luciano Pavarotti


                    Phụ lục (2) It’s Now or Never, Elvis Presley


                    Phụ lục (2) It’s Now or Never, Elvis Presley


                    Phụ lục (3) Torna a Surriento, Luciano Pavarotti


                    Phụ lục (3) Torna a Surriento, Luciano Pavarotti


                    Phụ lục (4) Torna a Surriento, Mantovani Orchestra


                    Phụ lục (4) Torna a Surriento, Mantovani Orchestra


                    Phụ lục (5) Trở về mái nhà xưa (Phạm Duy), Trần Thái Hòa & Ngọc Hạ


                    Phụ lục (5) Trở về mái nhà xưa (Phạm Duy), Trần Thái Hòa & Ngọc Hạ


                    Phụ lục (6) Trở về mái nhà xưa, hòa tấu đàn bầu


                    Phụ lục (6) Trở về mái nhà xưa, hòa tấu đàn bầu


                    Phụ lục (7) SerenataRimpianto’ (violin), Andre Rieu


                    Phụ lục (7) SerenataRimpianto’ (violin), Andre Rieu


                    Phụ lục (8) SerenataRimpianto’ (mandolin + guitar)


                    Phụ lục (8) SerenataRimpianto’ (mandolin + guitar)


                    Phụ lục (9) Chiều Tà (Phạm Duy), Khánh Hà


                    Phụ lục (9) Chiều Tà (Phạm Duy), Khánh Hà


                    Phụ lục (10): Chiều Tà (Phạm Duy), Thái Thanh (trước 1975)


                    Phụ lục (10): Chiều Tà (Phạm Duy), Thái Thanh (trước 1975)


                     


                     


                    Hòai Nam

                    Comment

                    • saomai
                      Moderator
                      • Jun 2008
                      • 2146

                      #11
                      Trở Về Mái Nhà Xưa - Trần Thái Hoà & Ngọc Hạ




                      Trở Về Mái Nhà Xưa - Trần Thái Hoà & Ngọc Hạ

                      Comment

                      • saomai
                        Moderator
                        • Jun 2008
                        • 2146

                        #12
                        Chiều Tà - Thái Thanh






                        Comment

                        • saomai
                          Moderator
                          • Jun 2008
                          • 2146

                          #13
                          Sombre Dimanche (Chúa Nhật Buồn)

                          clip_image001

                          Kỳ này, chúng tôi viết về một ca khúc của Hung-gia-lợi được nhiều người xem là buồn nhất thế kỷ, thường được gọi là “ca khúc tuyệt mạng” vì bị quy trách đã gây ra hàng trăm vụ tự tử trong hai thập niên 1930 – 40, và cả sau này, đó là bản Sombre Dimanche, tựa tiếng Pháp, tức Gloomy Sunday, tựa tiếng Anh, được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Chủ Nhật Buồn, và Nam Lộc với tựa Chủ Nhật Xám.


                          Ngày nay, Sombre Dimanche được ghi là của hai tác giả: nhạc sĩ dương cầm kiêm nhà soạn nhạc Rezco Seress và thi sĩ Laszlo Javor, tuy nhiên lúc đầu nó chỉ là một sáng tác của riêng Rezco Seress, viết tại Paris vào cuối năm 1932, có tựa tiếng Hung là Vége a világnak (End of the World).


                          Là một nhạc sĩ dương cầm, Rezco Seress soạn nhạc khúc này chủ yếu là cho dương cầm, xen lẫn những đoạn có lời hát (chorus). Thời gian này, Hung-gia-lợi đang bị tác hại trầm trọng bởi cuộc Đại khủng hoảng (Great Depression) và đứng trước nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa phát-xít, cho nên lời hát của Rezco Seress, một người gốc Do-thái, là lời nguyện cầu Thượng đế đoái thương những con người khốn khổ trong một thế giới hiện đại xấu xa và đầy bất công.


                          Khỏi cần giải thích, có lẽ quý độc giả cũng có thể đoán khúc nhạc này “không ăn tiền”. Thực vậy, đã không có nhà xuất bản nhạc nào chịu nhận công việc ấn hành. Một người nhận xét:


                          “Không phải vì đây là một ca khúc buồn, mà vì nó gợi tưởng một sự tuyệt vọng tới mức khiếp đảm. Tôi cho rằng một ca khúc như thế chẳng đem lại lợi ích cho bất cứ ai”.


                          Giữa năm 1933, Rezco Seress tự xuất bản Vége a világnak (End of the World). Tới cuối năm ấy, thi sĩ Laszlo Javor đã đặt lời khác cho bản này, và xuất bản dưới tựa Szomorú vasárnap (Sad Sunday).


                          Thời gian này, Laszlo Javor vừa bị vị hôn thê chia tay, và nỗi buồn ấy đã khiến ông viết những lời hát bi ai sầu thảm, kể về tâm sự của một người yêu trong tuyệt vọng, và tới khi chết vẫn còn hẹn gặp lại nhau nơi chốn tuyền đài.


                          [Hiện nay, một số bài viết của các tác giả trong nước cũng như hải ngoại được phổ biến trên Internet đã “gán” chuyện tình bi thảm của Laszlo Javor cho Rezco Seress. Đây là một trường hợp “tam sao thất bổn” không thể chấp nhận. Ngoài ra, người ta còn thêu dệt nhiều huyền thoại về trường hợp ra đời của bản Vége a világnak (End of the World). Thậm chí có người còn viết rằng Rezco Seress không hề biết một nốt nhạc, đàn dương cầm chỉ bằng hai ngón tay “mổ cò”, và sáng tác bằng cách huýt gió rồi nhờ người khác ghi thành dòng nhạc]


                          Lời hát của bản Szomorú vasárnap (Sad Sunday) được dịch sang Anh ngữ như sau:


                          “On a sad Sunday with a hundred white flowers, I awaited for you my dear with a church prayer, That dream chasing Sunday morning, The chariot of my sadness returned without you,


                          Ever since then, Sundays are always sad, tears are my drink bread is my sorrow… Sad Sunday.


                          Last Sunday dear please come along, There will even be priest, coffin, catafalque, hearse-cloth. Even then flowers will be awaiting you, Flowers and coffin under blossoming trees my journey shall be the last, My eyes will be open, so that I can see you one more time, Don’t be frightened from my eyes as I’m blessing you even in my death… Last Sunday.”


                          * * *


                          Sad Sunday (lời tiếng Hung) được nam danh ca Pal Kalmar thu đĩa vào năm 1935, và lập tức được đông đảo thính giả ưa chuộng, nhưng đồng thời cũng đưa tới hàng trăm vụ tự tử, trong số đó có cả vị hôn thê cũ của Laszlo Javor. Theo lời kể lại, cô nằm chết trên giường, bên cạnh xác cô là ca khúc nổi tiếng của nhà thơ mà cô đã phụ tình. Ngoài ra, trong số những người tự tử nói trên, cũng có nhiều người cầm bản nhạc ấy mà gieo mình xuống dòng sông Danube.


                          Trước sự kiện này, nhà cầm quyền Hung-gia-lợi đã phải ra lệnh cấm trình diễn bản Sad Sunday ở những nơi công cộng. Tuy nhiên, theo các nhà tâm lý xã hội, lúc đó là thời gian xảy ra cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thập niên 1930 và Thế chiến thứ hai sắp bùng nổ, tâm trạng chán chường sợ hãi ấy là nguyên nhân chính đưa tới gia tăng tự tử, chứ không nhất thiết phải nghe Sad Sunday, người ta mới đi tìm cái chết!


                          Nhưng hình như không mấy ai để ý tới điều đó, và chỉ trong một thời gian rất ngắn, bài hát được mệnh danh là “ca khúc Hung-gia-lợi gây tự tử” (Hungarian suicide song) ấy đã phổ biến khắp thế giới, được đặt lời hát bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, và tất cả đều có nội dung nói về cái chết của một người bị thất tình.


                          Ngay trong năm 1935, bản tiếng Nga với tựa đề Mratschnoje Woskresenje (Gloomy Sunday) được nam ca sĩ Pyotr Leschenko thu đĩa. Cũng trong năm 1935, bản tiếng Pháp của Jean Mazère và Francois-Eugène Gonda có tựa Sombre Dimanche được nữ danh ca Damia thu vào đĩa nhựa.


                          Sombre Dimanche:

                          Sombre dimanche


                          Les bras tout chargés de fleurs


                          Je suis entrée dans notre chambre, le cœur las

                          Car je savais déjà que tu ne viendrais pas

                          Et j’ai chanté des mots d’amour et de douleur

                          Je suis restée toute seule et j’ai pleuré tout bas

                          En écoutant hurler la plainte des frimas

                          Sombre dimanche


                          Je mourrai un dimanche où j’aurai trop souffert

                          Alors tu reviendras mais je serai partie

                          Des cierges brûleront comme un ardent espoir

                          Et pour toi, sans effort, mes yeux seront ouverts

                          N’aie pas peur, mon amour, s’ils ne peuvent te voir

                          Ils te diront que je t’aimais plus que ma vie

                          Sombre dimanche


                          Qua năm 1936, bản tiếng Nhật với tựa đề Kurai Nichiyobi (Dark Sunday) được thu đĩa qua giọng hát của Noriko Awaya, nữ danh ca được mệnh danh là “Queen of Blues” của quần đảo Phù Tang.


                          clip_image003


                          Billie Holiday


                          Riêng lời hát bằng tiếng Anh có khá nhiều bản. Tại Hoa Kỳ, bản phổ biến nhất là Gloomy Sunday của Sam M. Lewis, xuất bản năm 1936 và được Bob Allen thu đĩa cùng năm. Nhưng phải đợi tới năm 1941, sau khi Gloomy Sunday được “Nữ hoàng nhạc Soul” Billie Holiday thu đĩa, ca khúc này mới thực sự được ưa chuộng và làm mưa gió không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở các quốc gia nói tiếng Anh khác. Trên các ấn bản và đĩa nhạc đều có ghi hàng chữ “Hungarian suicide song”.


                          Gloomy Sunday


                          Sunday is gloomy, my hours are slumberless


                          Dearest, the shadows I live with are numberless


                          Little white flowers will never awaken you


                          Not where the black coach of sorrow has taken you

                          Angels have no thoughts of ever returning you


                          Wouldn’t they be angry if I thought of joining you?


                          Gloomy Sunday

                          Gloomy is Sunday, with shadows I spend it all


                          My heart and I have decided to end it all


                          Soon there’ll be candles and prayers that are said I know


                          But let them not weep, let them know that I’m glad to go

                          Death is no dream, for in death I’m caressin’ you


                          With the last breath of my soul, I’ll be blessin’ you


                          Gloomy Sunday

                          Dreaming, I was only dreaming


                          I wake and I find you asleep in the deep of my heart here


                          Darling I hope that my dream never haunted you


                          My heart is tellin’ you how much I wanted you


                          Gloomy Sunday


                          Phụ lục (1): Gloomy Sunday, Billie Holiday


                          05-Billie_Holiday_and_Ken_Burns_Jazz_-_Gloomy_Sunday


                          Qua nghe, đọc lời hát trên, chúng ta thấy Sam M. Lewis đã viết thêm đoạn thứ ba, cho biết cái chết của người yêu chỉ là những gì xảy ra trong giấc mơ, với mục đích để ca khúc này bớt phần bi thảm.


                          Tuy nhiên, theo lời đồn trong dân gian, vẫn có nhiều người tự tử khi nghe ca khúc lời Anh này.


                          Vì không thể kiểm chứng những huyền thoại, chúng tôi chỉ xin ghi lại một số sự việc có thật liên quan tới ca khúc đã được mệnh danh là “ca khúc tuyệt mạng” ấy:


                          - Bắt đầu từ thời gian Đệ nhị Thế chiến, Đài BBC đã cấm phát ca khúc Gloomy Sunday trên các làn sóng điện của đài (chỉ được phát nhạc không lời). Sáu mươi năm sau (năm 2002) lệnh cấm này mới được bãi bỏ.


                          - Tác giả của Gloomy Sunday, tức nhạc sĩ Rezso Seress, sau một đời đau khổ, đói nghèo dưới bàn tay Đức Quốc Xã rồi tới chế độ cộng sản Hung-gia-lợi, cùng với bệnh tật của bản thân, vào đầu năm 1968, ít ngày sau sinh nhật thứ 69 của mình, đã nhảy lầu tự tử nhưng không chết; được đưa vào bệnh viện, ông lấy dây tự xiết cổ mới chết được. Hôm ấy là một ngày Chủ Nhật.


                          - Năm 1982, ban nhạc trẻ The Associates của Tô-cách-lan thu đĩa bản Gloomy Sunday và nổi tiếng quốc tế. Mười lăm năm sau (1997), Billy MacKenzie, nam ca sĩ chính của ban nhạc này tự tử chết.


                           


                          * * *


                          clip_image005


                           


                          Về điện ảnh, đã có nhiều cuốn phim lấy cốt truyện là “tình sử” của Gloomy Sunday, hoặc vay mượn nội dung hay tựa đề của ca khúc. Trong số này, đáng kể nhất có:


                          - Phim Sombre Dimanche của Pháp, thực hiện năm 1948.


                          - Phim Ein Lied von Liebe und Tod (Gloomy Sunday – A Song of Love and Death), tựa tiếng Đức, hay Szomorú vasárnap, tựa tiếng Hung, một sản phẩm hỗn hợp Đức – Hung), thực hiện năm 1999.


                          - Phim The Kovak Box của Tây-ban-nha, thực hiện năm 2005, là một cuốn phim nghẹt thở, lấy bối cảnh hòn đảo du lịch Mallorca nổi tiếng thơ mộng ở Địa Trung Hải, truyện phim kể về sự kiện lạ: người nào tới đảo này cũng đều bị nhiễm một loại virus từ máy computer, từ đó hễ nghe bản Gloomy Sunday liền tự tử!


                          - Phim Densen Uta (Infectious Song) của Nhật Bản, thực hiện năm 2007, cũng là một cuốn phim kinh dị, truyện phim kể về một nữ sinh trung học và một nữ ký giả cùng nhau điều tra về tác động xúi giục tự tử của một ca khúc bí mật: về sau cả hai người đều tự tử.


                          * * *


                          Sombre Dimanche cũng là một trong những ca khúc ngoại quốc được Phạm Duy đặt lời Việt sớm nhất, với tựa Chủ Nhật Buồn, vào khoảng đầu thập niên 1950. Lời Việt này được phỏng theo bản tiếng Pháp Sombre Dimanche (1935) của Jean Mazère và Francois-Eugène Gonda.


                          Chủ Nhật Buồn


                          Chủ nhật buồn, đi lê thê

                          Cầm một vòng hoa đê mê.

                          Bước chân về với gian nhà,

                          Với trái tim cùng nặng nề.

                          Xót xa gì ? Oán thương gì ?

                          Ðã biết nuôi hương chia ly.

                          Chót say mê đã yêu thì

                          Dẫu vô duyên còn nặng thề.

                          Ngồi một mình, nghe hơi mưa,

                          Mặc lệ tràn câu thiên thu.

                          Gió hiên ngoài nhắc một loài

                          Dế dun hoài du thương du.

                          Du hỡi du hời !

                          . . . . . .

                          Chủ nhật buồn, tôi im hơi

                          Vì đợi chờ không nguôi ngoai.

                          Bước chân người nhớ thương tôi,

                          Ðến với tôi thì muộn rồi !

                          Trước quan tài, khói hương mờ

                          Bốc lên như vạn ngàn lời.

                          Dẫu qua đời, mắt tôi cười

                          Vẫn đăm chiêu nhìn về người.

                          Hồn lìa rồi, nhưng em ơi,

                          Tình còn nồng đôi con ngươi,

                          Nhắc cho ai biết cuối đời

                          Có một người yêu không thôi

                          Du hỡi du hời !


                          Phụ lục (2): Chủ nhật buồn, Khánh Ly (trước 1975)


                          06-ChunhatbuonGloomySunday-KhanhLy


                          Phụ lục (3): Chủ nhật buồn, Lệ Thu (sau 1975)


                          07- Le Thu – Chu Nhat Buon(2)(3)(2)


                          Sau này, Trịnh Công Sơn đã nhắc tới mấy chữ “chủ nhật buồn” ít nhất là hai lần trong các sáng tác của ông. Đó là bản Lời Buồn Thánh – Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu…, và bản Tuổi Đá Buồn – Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang, từng ngón tay buồn em mang em mang, đi về giáo đường, ngày chủ nhật buồn…


                          Không hiểu họ Trịnh đã lấy cảm hứng từ bản Chủ Nhật Buồn của họ Phạm, hay vì tâm trạng khắc khoải của chính ông, của cả một thế hệ yêu trong lo âu, sống trong khắc khoải của một thời tao loạn, chết chóc và phân ly. Chỉ biết một điều là về sau, cả hai nhà nhạc sĩ đều qua đời vào một “chủ nhật buồn”: Trịnh Công Sơn, Chủ nhật 1/4/2001, và Phạm Duy, Chủ nhật 27/1/2013.


                          * * *


                          Trở lại với bản Gloomy Sunday lời Anh của Sam M. Lewis, tới năm 1996, đã được Sarah McLachlan, nữ danh ca gốc Gia-nã-đại với một giọng bán kim (mezzo-soprano) truyền cảm, thu đĩa dưới hình thức du ca (folk) và đạt thành công rực rỡ. (Video: Gloomy Sunday – Sarah McLachlan – YouYube)


                          Năm 2000, Gloomy Sunday lại được hiện đại hóa thêm một lần nữa qua giọng soprano của nữ danh ca Anh Sarah Brightman, thu đĩa dưới một hình thức hoàn toàn mới lạ trong album có tên là “La Luna” (The Moon) của cô.


                          Sarah Brightman, mà chúng tôi đã có lần nhắc tới khi viết về bản Besame Mucho, xuất thân là một ca sĩ chuyên hát nhạc cổ điển với giọng soprano cao vút. Tới thập niên 1990, cùng với một số danh ca chuyên hát nhạc cổ điển khác, Sarah đã hát cả thể loại nhạc “pop” theo cách hát riêng của mình. Từ chuyên môn của âm nhạc gọi Sarah Brightman và những ca sĩ này là “classical crossover singer”.


                          Album “La Luna” của Sarah Brightman không chỉ trở thành một trong những album nhạc cổ điển bán chạy nhất trong thập niên 2000, mà còn có công tái giới thiệu “ca khúc tuyệt mạng” Gloomy Sunday tới thế hệ trẻ. Cũng với mục đích đó, nhạc sĩ Nam Lộc đã đặt lời Việt mới cho Gloomy Sunday với tựa Chủ Nhật Xám, và đã được Nguyễn Hồng Nhung & Thùy Hương trình bày trong video số 56 của Trung Tâm Asia, phát hành năm 2008.


                          Phụ lục (4): Gloomy Sunday , Sarah Brightman


                          08-GloomySunday-SarahBrightman


                          Phụ lục (5): Chủ Nhật Xám, Nguyễn Hồng Nhung &


                          Thùy Hương


                          09-ChunhatxamGlommySunday-LVNamLoc_NguyenHongNhung


                          Phụ lục (6): Gloomy Sunday, Piano


                          10-SombreDimanche-GloomySundayChunsa


                           


                           


                           


                           


                          Hòai Nam

                          Comment

                          • saomai
                            Moderator
                            • Jun 2008
                            • 2146

                            #14
                            Chúa Nhật Xám (Sombre Dimanche) Lời Việt : Nam Lộc






                            Chúa Nhật Xám (Sombre Dimanche) Lời Việt : Nam Lộc

                            Comment

                            • saomai
                              Moderator
                              • Jun 2008
                              • 2146

                              #15
                              DONNA DONNA – ca khúc dân gian của người Do-thái lưu vong

                              DONNA DONNA – ca khúc dân gian của người Do-thái lưu vong




                              clip_image002


                              Theo phác họa ban đầu, chương trình “Những ca khúc ngoại quốc lời Việt” của chúng tôi sẽ khởi đầu với thời kỳ nhạc cổ điển, tiếp đến là thời kỳ hiện đại, sau đó tới một số ca khúc dân gian điển hình, rồi tới những ca khúc nổi tiếng trong phim ảnh, và cuối cùng là một số ca khúc được ưa chuộng sau năm 1975.


                              Hiện nay, chúng ta đã bước vào thời kỳ hiện đại, và trong mấy kỳ vừa qua, chúng tôi đã giới thiệu những ca khúc điển hình của tiền bán thế kỷ thứ 20. Theo dự trù, tiếp theo sẽ là những ca khúc của thời nhạc Pop (thập niên 1950), nhạc Rock (thập niên 1960), tuy nhiên khi nhìn lại thời điểm xuất hiện của những ca khúc dân gian sẽ được giới thiệu, chúng tôi nhận thấy hầu hết đã được phổ biến và ưa chuộng trước thời nhạc Pop. Vì thế, để dòng nhạc chảy xuôi theo dòng thời gian, chúng tôi sẽ gửi đến bạn đọc các ca khúc dân gian ấy trước khi giới thiệu các ca khúc của thời nhạc Pop.


                              Ca khúc dân gian đầu tiên chúng tôi giới thiệu là một ca khúc của người Do-thái lưu vong, sau khi được nữ ca sĩ du ca Joan Baez của Mỹ hát lời bằng tiếng Anh và Claude Francois hát bằng tiếng Pháp, đã trở nên nổi tiếng quốc tế. Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, Donna Donna đã được Tuấn Dũng đặt lời Việt với tựa “Tiếc Thương”, và sau này được ca nhạc sĩ du ca Trần Tiến dịch lời hát bằng tiếng Pháp sang tiếng Việt, tuy nhiên vẫn giữ nguyên tựa “Donna Donna”.


                              Donna Donna có tựa đề nguyên thủy là “Dana Dana”, trích từ vở ca kịch “Esterke” của người Do-thái lưu vong sống ở Hoa Kỳ (diễn trong 2 năm 1940, 1941), viết bằng tiếng Yiddish.


                              [Yiddish là ngôn ngữ của một bộ phận lớn người Do-thái vong quốc, bắt đầu hình thành vào thế kỷ thứ 10 tại vùng sông Rhine (Rhineland, Đức), rồi phát triển sang Trung Âu và Đông Âu, nơi có nhiều người Do-thái sống lưu vong. Về mặt cấu tạo, Yiddish là sự phối hợp giữa thổ ngữ của người Đức ở khu vực sông Rhine với tiếng Do-thái cổ và tiếng Slavic. Tới thế kỷ thứ 18, Yiddish trở thành ngôn ngữ chính thức của nhiều cộng đồng Do-thái ở Bắc Âu, Đông Âu. Hiện nay, Yiddish chỉ còn được gần 2 triệu người Do-thái hải ngoại sử dụng như ngôn ngữ chính thức, và khoảng 12 triệu người khác sử dụng như ngôn ngữ thứ hai]


                              Tác giả của vở ca kịch “Esterke” là nhà soạn kịch Aaron Zeitlin và nhạc sĩ Sholom Secunda; nội dung vở kịch nói về số phận bi thảm của người Do-thái đang bị Đức Quốc Xã tàn sát trong các trại tập trung.


                              clip_image003clip_image005


                              Nhà soạn kịch Aaron Zeitlin và nhạc sĩ Sholom Secunda


                              Cho tới nay, vẫn chưa có một sự giải thích thống nhất về tựa đề nguyên thủy “Dana Dana”; tuy nhiên theo đa số, có lẽ chữ “Dana” ở đây là rút gọn của chữ “Adonai”, có nghĩa là “Thượng đế” trong tiếng Do-thái cổ. Sự giải thích này ra vẻ hợp lý, bởi vì trong điệp khúc, lời hát đã lập đi lập lại “Dana Dana Dana Dana…” như một khúc vãn ca tuyệt vọng.


                              Lời hát của “Dana Dana” kể một câu truyện mà chúng tôi cho là gần giống truyện ngụ ngôn “Mỗi người một số phận” (Chacun son sort) của Pháp mà chúng ta đã đọc từ thời tiểu học. Khác biệt đáng kể chỉ là trong truyện “Mỗi người một số phận”, con vật bị chủ đem ra chợ bán cho người ta giết thịt là một con lợn, còn trong bản “Dana Dana”, con vật xấu số ấy là một con bê.


                              Trên đường đi tới chợ, con bê luôn miệng than thở cho số phận bi thảm của mình, và so bì với con chim sẻ đang tung cánh bay trên bầu trời, và gió thì cứ cười đùa lả lơi trước sự nghiệt ngã, bất công ấy.


                              Thấy con bê cứ than thân trách phận, người chủ bực mình bảo nó:


                              “Tại sao mày sinh ra làm con bê làm gì cho người ta giết thịt? Sao không sinh ra làm con chim sẻ để tung cánh trên bầu trời tự do?!”


                              Tự trong câu nói của người nông dân đã vô tình hàm chứa một nghịch lý trong nhân sinh mà không ai có khả năng giải thích thỏa đáng: tại sao cùng sinh ra trên cõi đời này, trong khi có những người, hoặc nói rộng ra là những dân tộc, phải chịu quá nhiều thua thiệt, đau khổ triền miên, thì những người khác, những dân tộc khác lại sung sướng, hạnh phúc ấm no từ thế hệ này sang thế hệ khác?!


                              Chính vì không giải thích được, người Do-thái lưu vong chỉ biết vãn than với Thượng đế “Dana Dana Dana Dana…”. Và ca khúc này đã mau chóng trở thành một bài hát dân gian phổ biến trong các cộng đồng Do-thái lưu vong.


                              Sau đó, nhạc sĩ Sholom Secunda đã dịch lời bản Dana Dana từ tiếng Yiddish sang tiếng Anh với tựa Donna Donna.


                              [Mặc dù trong lời hát bằng tiếng Anh, chữ “dana” được chuyển âm thành “dona”, nhưng hầu như tất cả mọi ấn phẩm bằng tiếng Anh đều viết tựa của ca khúc là “Donna” (2 mẫu tự “n”) mà không có một sự giải thích nào]


                              Cũng xin viết thêm, tên của ca khúc chúng tôi đang đề cập tới là “Donna Donna”, xin đừng lẫn lộn với “Donna”, một ca khúc của nam ca nhạc sĩ Mỹ Ritchie Valens, do anh viết và thu đĩa năm 1958, để tặng người yêu thời trung học là nàng Donna Ludwig, và đã lên tới hạng 2 toàn quốc Hoa Kỳ.


                              Tới thập niên 1960, bản “Donna” này đã được nam ca sĩ Anh Cliff Richard (Cliff Richard & The Shadows) thu đĩa.


                              Ritchie Valens cũng là người đã thu đĩa bản dân ca “La Bamba” của Mễ-tây-cơ, giúp nó trở thành một ca khúc nổi tiếng quốc tế.


                              * * *


                              Nhưng bản Donna Donna lời Anh của Sholom Secunda không mấy phổ biến, phải đợi tới giữa thập niên 1950, sau khi hai tác giả Arthur Kevess và Teddi Schwartz dịch lần thứ hai thì Donna Donna mới được nhiều người biết tới, và vào năm 1960, đã lên “top” qua sự trình bày của Nữ hoàng du ca Mỹ quốc Joan Baez.


                              clip_image006


                              Donna Donna


                              On a wagon bound for market

                              There’s a calf with a mournful eye.

                              High above him there’s a swallow

                              Winging swiftly through the sky.


                              *


                              How the winds are laughing

                              They laugh with all their might

                              Laugh and laugh the whole day through

                              And half the summer’s night.


                              Dona, dona, dona, dona,

                              Dona, dona, dona, do,

                              Dona, dona, dona, dona,

                              Dona, dona, dona, do.


                              *


                              “Stop complaining,” said the farmer,

                              “Who told you a calf to be?

                              Why don’t you have wings to fly with


                              Like the swallow so proud and free?”


                              *


                              How the winds are laughing …


                              Calves are easily bound and slaughtered

                              Never knowing the reason why.

                              But whoever treasures freedom,

                              Like the swallow has learned to fly.


                              Dona, dona, dona, dona,

                              Dona, dona, dona, do,

                              Dona, dona, dona, dona,

                              Dona, dona, dona, do.


                               


                              Phụ lục (1): Donna Donna, Joan Baez





                              Viết thêm về Joan Baez:


                              clip_image008


                              Joan Baez sinh năm 1941, là một nữ ca nhạc sĩ du ca Mỹ gốc Mễ-tây-cơ, có tài đàn guitar và một giọng hát thiên phú từ nhỏ. Ngày ấy, Joan Baez cùng với Bob Dylan thường được giới sinh viên phản chiến ở Sài Gòn so sánh với cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly.


                              Joan Baez không chỉ có công quảng bá các sáng tác của Bob Dylan mà còn được các thành phần phản chiến quốc tế suy tôn làm thần tượng với bản nhạc thiều phản chiến “We Shall Overcome” và bản du ca phản chiến “Blowing in the wind”, một sáng tác để đời của Bob Dylan (video: Blowing in the wind – YouTube)


                              Joan Baez là một trong những nghệ sĩ Mỹ tham gia tích cực vào phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, không thua gì cô đào Jane “Hanoi” Fonda. Tháng 12 năm 1972, Joan Baez cùng một đoàn phản chiến sang Hà Nội đúng vào thời gian xảy ra cuộc oanh tạc kéo dài 11 ngày đêm của các pháo đài bay B-52 của Không Lực Hoa Kỳ (người Mỹ gọi là The Christmas Bombing).


                              Tháng 5 năm 1975, sau khi cộng sản chiếm miền Nam, Joan Baez đã hát bản “The War Is Over” trong cuộc xuống đường liên hoan của các thành phần phản chiến thiên tả tổ chức ở thành phố Nữu Ước.


                              Nhưng khác với một Jane Fonda phản chiến một cách xuẩn động, mù quáng, ít lâu sau khi Sài Gòn đổi chủ, Joan Baez đã công khai chỉ trích những vi phạm nhân quyền của chế độ CSVN, đặc biệt là hành động trả thù đối với quân nhân công chức của chế độ cũ. Năm 1979, Joan Baez đã vận động lấy chữ ký của nhiều nhân vật uy tín, và vào ngày 30 tháng 5, mua nguyên một trang quảng cáo trên bốn nhật báo lớn ở Hoa Kỳ, để đăng một bài dài tố cáo sự tàn ác của chế độ CSVN (nguồn tham khảo: (1) Joan Baez starts protest on repression by Hanoi”. The New York Times. May 30, 1979. p. A14), (2) A Voice To Sing With… – A Memoir by Joan Baez)


                              * * *


                              Sau Joan Baez, Donna Donna (lời Anh) còn được nhiều danh ca khác trình bày, và cũng đều lên “top”, như Donovan, cựu thần đồng Patty Duke ở Mỹ, Julie Roger, Mary Hopkin ở Anh…


                              Phụ lục (2): Donna Donna, Julie Roger


                               


                              Donna Donna được dịch hoặc đặt lời hát mới bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, và trở thành một ca khúc dân gian được ưa chuộng khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở Đức, Pháp, Nga, Nhật.


                              Tại Pháp, Donna Donna được ca nhạc sĩ Claude Francois đặt lời bằng tiếng Pháp với nội dung hoàn toàn khác với ca khúc nguyên thủy.


                              clip_image010


                              Nhắc tới Claude Francois, quý độc giả yêu nhạc Pháp thuộc lứa tuổi “baby boomers” (ra chào đời sau Đệ nhị Thế chiến) hẳn còn nhớ anh là một tên tuổi được ái mộ hàng đầu ở Pháp và các quốc gia nói tiếng Pháp, có lẽ chỉ đứng sau Johnny Halliday. Chúng tôi sẽ có dịp viết thêm về Claude Francois trong tương lai khi giới thiệu bản Comme d’habitude – ca khúc đã được Paul Anka đặt lời tiếng Anh với tựa My Way, và trở thành ca khúc “nhãn hiệu cầu chứng” của Frank Sinatra.


                              Claude Francois là một người đa tài, vừa sáng tác vừa trình diễn, đặt biệt là những ca khúc ngoại quốc thịnh hành do anh đặt lời Pháp, trong đó có bản Donna Donna.


                              Lời hát do Claude Francois đặt nghe như một bài hát ru, kể chuyện một cậu bé sống đầy đủ, hạnh phúc trong một ngôi nhà to đẹp, nhưng trong lòng lúc nào cũng khao khát sớm được trở thành người lớn; thấy vậy bà mẹ thường vừa bẹo má cậu vừa nói: “Rồi đây, con sẽ nuối tiếc những ngày ấu thơ”.


                              Năm tháng trôi qua, cậu bé ngày xưa ấy nay đã trở thành một người đàn ông mỏi mòn, xác xơ, tơi tả sau khi trải qua bao nỗi bất hạnh trên đường đời – tình phụ, đói khổ, thất bại, bơ vơ…, và chợt nhớ lại lời mẹ ngày xưa:


                              Phụ lục (3): Donna Donna, Claude Francois





                              Donna Donna

                              Il était une fois un petit garçon

                              Qui vivait dans une grande maison

                              Sa vie n’était que joie et bonheur

                              Et pourtant au fond de son cœur

                              Il voulait devenir grand

                              Rêvait d’être un homme.

                              Chaque soir il y pensait

                              Quand sa maman le berçait:




                              Donna Donna Donna Donna

                              Tu regretteras le temps

                              Donna Donna Donna Donna

                              Où tu étais un enfant…


                              *


                              Puis il a grandi, puis il est parti

                              et il a découvert la vie

                              Les amours déçues, la faim et la peur et souvent au fond de son cœur

                              Il revoyait son enfance

                              Rêvait d’autrefois

                              Tristement il y pensait

                              et il se souvenait:

                              Donna Donna Donna Donna

                              Tu regretteras le temps

                              Donna Donna Donna Donna

                              Où tu étais un enfant…


                              *


                              Parfois je pense à ce petit garçon,

                              Ce petit garçon que j’étais.


                              Video: Dorothée & Hélène ~ Dona Dona (Rock’n Roll Show 1993) YouTube


                              Trước năm 1975, Donna Donna lời Pháp do Claude Francois thu đĩa đã trở thành một trong những ca khúc Pháp được ưa chuộng nhất tại miền Nam Việt Nam. Vào thời gian “trăm hoa đua nở” trong phong trào đặt lời Việt cho các ca khúc ngoại quốc thịnh hành (đầu thập niên 1970), Donna Donna đã được Tuấn Dũng đặt lời Việt với tựa Tiếc Thương.


                              Nội dung của Tiếc Thương là lời một người con trai khóc thương người yêu vừa từ giã cõi đời. Sau khi được ban hợp ca Mây Trắng của Lê Hựu Hà (thành lập sau khi ban Phượng Hoàng tan rã) thu băng, Tiếc Thương đã trở thành một ca khúc “thời trang” (mà có người còn gọi là nhạc “sến”) phổ biến bậc nhất ở miền Nam VN.


                              Tiếc Thương

                              Ánh đèn vàng hiu hắt, khói trầm cay đôi mắt.

                              Em nằm đó sao thôi cười thôi nói?

                              Dáng buồn còn vương nét. Mắt huyền giờ đã khép.

                              Em nằm đó như đang mơ mộng gì.


                              *

                              Em theo mây bay quên cuộc đời, đời đầy nghĩa thương đau.

                              Mây đưa em bay đi tìm trời, và nơi đó em có nhớ tôi.

                              Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!

                              Sao em yêu vội sớm ra đi. Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!

                              Đau lòng thay phút giây xa rời.


                              *


                              Tiếng đàn ai buông lơi, tiếng đàn như tiếng khóc

                              rung từng phím tơ não nùng ai oán.

                              Khiến lòng tôi thổn thức, khiến lòng tôi ray rức.


                              Môi mặn đắng nước mắt thương tiếc nàng.


                              *

                              Em theo mây bay quên tình người,

                              người đầy những dối gian.

                              Mây đưa em bay đi về trời, và nơi đó em có nhớ tôi.

                              Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!

                              Sao đôi ta vội sớm chia ly!

                              Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!

                              Thế rồi tôi mất em suốt đời!


                               


                              Phụ lục (4): Tiếc Thương, Như Quỳnh





                              Ngày ấy tại Sài Gòn, nhiều người từng nghe quen bản Donna Donna lời Pháp đã không hài lòng cho lắm, nếu không muốn nói là bất mãn trước bản lời Việt của Tuấn Dũng. Nguyên nhân chính không phải vì lời hát khá tầm thường mà vì ý nghĩa cũng như tác động của nó: trong khi Donna Donna đem lại cho người nghe những rung cảm nhẹ nhàng, man mác, thì Tiếc Thương lại gợi tưởng những bi lụy thảm sầu – một cách khá ngô nghê, gượng ép.


                              Gần đây, Donna Donna lời Pháp đã được nhạc sĩ Trần Tiến ở trong nước dịch sang lời Việt. Chúng tôi viết “dịch sang lời Việt” chứ không viết “đặt lời Việt” bởi vì trên thực tế, Trần Tiến đã phỏng dịch một cách tuyệt vời bằng sự rung động của một người viết và hát du ca nổi tiếng. Nhưng có một chữ mà Trần Tiến không thể dịch, hoặc không muốn dịch, đó là “Donna Donna”. Rất có thể anh cho rằng “Donna Donna” trong bản lời Pháp đã trở thành tiếng ru quốc tế, không cần dịch và không nên dịch, cho nên anh đã giữ nguyên tựa “Donna Donna” của ca khúc và những lời ru “Donna Donna…” trong toàn bài.


                              Donna Donna


                              Mái nhà xưa yêu dấu, bức tường rêu phong cũ

                              nơi cậu bé qua những ngày thơ ấu.

                              Muốn mình mau khôn lớn. Giữa đùa là yên ấm,

                              em ngồi ước mơ bước chân giang hồ.

                              Mơ bay theo cánh chim ngang trời, biển xa núi chơi vơi.

                              Mơ bay đi khát khao cuộc đời. Một đêm nhớ tiếng ai ru hời:

                              Donna Donna Donna ngủ đi nhé.

                              Ngoài trời đường nhiều gió tuyết rơi.

                              Donna Donna Donna ngủ đi nhé.

                              Hãy nằm trong cánh tay của mẹ.


                              *


                              Có một người đàn ông, trước thềm nhà rêu phong

                              bỗng ngồi khóc nhớ những ngày thơ ấu.

                              Sống đời bao cay đắng, tóc bạc phai mưa nắng.

                              Tay đành trắng những giấc mơ thơ dại.

                              Đi qua bao núi sông gập ghềnh.

                              Cuộc tình mãi lênh đênh.

                              Đi qua bao tháng năm vô tình, một đêm nhớ tiếng ru mẹ hiền:

                              Donna Donna Donna ngủ đi nhé.

                              Ngoài trời đường nhiều gió tuyết rơi.

                              Donna Donna Donna ngủ đi nhé,

                              Hãy nằm trong cánh tay của mẹ


                              *


                              Oo-ooh-oo…

                              Giờ này người đã khuất xa tôi


                              Oo-ooh-oo…

                              Uớc ngàn năm bé trong tay người.


                              clip_image012


                               


                              Phụ lục (5): Donna Donna, Tam Ca áo Trắng





                              Phụ lục (6): Donna Donna, Hòa tấu (Jazz)





                              Phụ lục (7): Donna Donna (guitar) Vô Thường





                               


                               


                              HOÀI NAM


                               


                               


                               


                               


                              ©T.Vấn 2013

                              Comment

                              Working...