Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Tinh Hoai Huong
    Senior Member
    • May 2009
    • 1081

    #196
    Người Đà Lạt Cuối Cùng Vỡ Tổ Tan Hàng




    Người Đà Lạt Cuối Cùng Vỡ Tổ Tan Hàng


    Con đường dốc đứng bên cạnh rừng đầy lá thông khô được sương chiều rửa sạch, trơn bóng láng mướt ve vuốt đôi chân êm ái mát lạnh khi mình dẫm lên. Khiến Luật muốn ngã lưng nằm trên thảm nhung nâu nâu, mượt mà, mơ màng nhìn lên trời cao, xao xuyến nghĩ về… đất nước còn, thì người lính có thể là một phần tử của con cờ thí thân trong chiến tranh. Họ gánh trên vai nhiều trọng trách, nhiệm vụ, và bổn phận nặng nề đầy phức tạp; dù biết bao cơ cực lầm than, nhọc nhằn, khổ sở, chua xót, đắng cay, trăm bề o ép. Trước đám sương dày đặc kia là tương lai xa xăm mù mịt, là con đường tiến thân để giành lại, giữ lại từng tất đất, không biết sẽ bắt đầu từ mấu chốt nơi đâu?!

    Lúc nầy, tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam xoay quanh cơn lốc chính trị cao tột độ lẫn kinh hoàng vô cùng, giống như hai giòng nước ngược đục ngàu xô vào nhau, toé lên thành những cơn triều cường sóng thần dâng cao vút và đảo điên nhất. Họ chẳng thể chí tình thiết tha yêu thương ôm trọn quê hương ở trong lòng, khi Trọng Luật cùng hầu hết quân nhân đã vâng lời nghe lệnh cấp trên ban ra rành rành là:
    - Quân nhân, cán bộ các ban ngành, thanh niên nòng cốt, tuổi trẻ phải ở lại “tử thủ” tại mỗi đơn vị: từ đầu tháng Ba năm 1975 tới giờ phút cuối cùng, (còn ông già bà cả, trẻ con phụ nữ… thì cho di tản ra khỏi Đà Lạt/Tuyên Đức).

    Tin như thế loan ra nhiều ngày, nhiều ngày... hầu hết ai ai nghe cũng cả tin chắp bắp và khá an tâm, "chúng ta" cùng vững chí đồng lòng cương quyết trụ ở lại 24/24 giờ nơi những tuyến phòng thủ. Té ra, ôi mà có ngờ đâu... có một nhóm người cao cấp đã làm cuộc tình lờ, len lén tình vờ lo cao chạy xa bay chuồn đi từ lâu, (từ khuya rồi anh ơi)! Họ tụ tập dòng dõi và "bay" nhiều lần từ Đà Lạt về Phan Rang, gom thêm "một mớ... rồi dzọt dề" thủ đô Sài Gòn. Có nguồn tin đáng tín cẩn cho Luật hay số ít cao cấp ở Sài Gòn cùng vợ con họ đã dọt đi ra nước ngoài! "Bản thân cao cấp"... và... "vợ con cấp cao" cần bảo vệ an toàn, là cái chắc. Còn vợ con lính là "thứ loại" gì nhỉ?

    Hẳn là đã lâu lắm rồi khi vừa ra "thượng lệnh"; họ chỉ biết rũ bỏ sau lưng sự đau khổ tang thương cùng khó ấy: đành tâm cho người khác âm thầm ở lại chịu trận, gánh gồnh gian nan, khổ đau. Đám sĩ quan hạ giới nầy nào có hay, thì lính tráng binh nhứt, binh nhì bẹt dem cùi bắp làm sao biết! Bây chừ đạn pháo đang nổ dậy trời! Tưởng chừng như hai phe quốc nội giàn quân ngoài mặt trận đánh nhau một phen chí tử. Thật tình phía Việt Nam Cộng Hoà "đã bị" có lệnh rút lui, bỏ ngỏ, chứ nào có sòng phẳng thẳng thừng đánh đấm gì cho cam. Nếu quân tử và oai dũng chơi nhau một trận quyến liệt trên bàn cờ chiến cuộc, thì chưa chắc ai thắng ai à. Tức giận và uất ức điên người.

    Đài phát thanh Đà Lạt dấu nhẹm chuyện các nơi khác lo cho quân đội và dân triệt thoái, đài chỉ phát ra những mục bình thường trong chương trình hằng tuần & vớ vẩn, đài phát thanh chẳng hề toan báo một tin tức thời sự nóng bỏng nào! Họ cũng chẳng tiếp vận đài phát thanh Sài Gòn như trước, cho người dân Đà Lạt được nghe. Không hiểu tình cờ thế cuộc, nên mọi người bình chân như vại lo làm vườn tưới hoa. Lúc biết ra cớ sự, thì nhiều quan, lính và dân không tìm thấy đường đi lối về nơi đâu, họ đi tới thì mắc thác, mắc hồ, đi lui mắc núi, mắc đèo.

    Tai biến đến sau ngày 17 tháng Ba, khi cấp trên ban lệnh tử thủ, khẩu lệnh chỉ rò rỉ ra, tức là láo pháo rỉ tai nhau về việc quân nhân triệt thoái rút bỏ Đà Lạt; chỉ biết tin vài giờ rất ngắn ngủi vào phút chót mong manh và hối hả. Từ đó đến ngày nay đã ngót tháng ròng rã rồi, nhưng quân nhân thanh niên tráng niên nầy không hề biết. Vì thế họ đã chưng hửng bàng hoàng, nên trở tay không kịp. Sau ngày 11 tháng Tư năm 1975, Luật và “nhóm tình nghĩa tử thủ bất diệt" quyết giữ gìn quê hương ấy, mới biết tin tức triệt thoái chậm chạp, trể tràng vì bị người ta dấu nhẹm, kín bưng. Chẳng đặng đừng... Luật đến toà Tỉnh Trưởng cùng các đại diện những phái đoàn: quân, cán, chính và cảnh sát nổi, cảnh sát chìm (cảnh sát đặc biệt, xâm nhập), ... đã tham dự buổi họp thượng khẩn:

    Về việc triệt thoái được ấn định phân chia như sau: Tất cả quân nhân sĩ quan của trường Võ Bị, và sinh viên sĩ quan toàn khoá ở trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam có số lượng người hùng hậu đông đúc, thì họ sẽ chỉ huy ở vòng bên trong, để kẹp cho đồng bào tuần tự đi ở hàng giữa, dân là đội ngũ lộn xộn không có súng ống, họ toàn gánh gồnh đồ đạc, của cải linh tinh...). Nghĩa là trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt sẽ dàn quân dọc hai bên quốc lộ 20, vừa từ từ rút, vừa giữ an ninh và bảo vệ tối đa đồng bảo tuần tự đi, có trật tự, bằng mọi giá họ cẩn thận chăm sóc giúp đỡ đồng bào. Dân phải tuân lệnh quân nhân về lối Phan Rang, đi Phan Thiết... v.v... Đồng thời trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt là những đoàn người bọc hậu cuối cùng đành phải rời bỏ thành phố. Những cảnh sát và quân nhân ở các binh chủng khác sẽ cặp đi song song một bên với trường Võ Bị ở vòng ngoài.

    Các cửa ngỏ hậu phương, kho lương thực, ngân hàng, ngân khố, quân trang quân cụ, khu nầy, sở nọ, ty kia mở toang hoang, kể cả nhà thường dân vắng chủ đều bị cướp bóc, đốt phá cháy rụi. Một phần do trước khi ra đi, những người có trách nhiệm với công sở của mình phải hủy diệt hồ sơ mật. Một phần do nhóm tự xưng là “cách mạng 75” khích động kẻ gian thừa nước đục thả câu, chúng mặc sức tha hồ thao túng, càn quét vơ vét tung hoành mọi mặt. Đà Lạt như rắn mất đầu, như đàn gà con mất mẹ.

    Tất cả mọi tầng lớp di chuyển từ Đà Lạt xuống đèo Ngoạn Mục cao chất ngất và ngoằn ngoèo tới Sông Pha, rồi tới Phan Rang, dưới sự điều khiển của Đại-tá Quỳnh đều nhịp nhàng, ăn khớp, chu đáo, rất có trật tự lớp lang trước sau đều đặn an toàn; Cho đến khi xuống quá Phan Rang qua ngã Phan Thiết thì an ninh trật tự không còn toàn vẹn như cũ. Bởi do Quân Đoàn II đã triệt thoái về hướng nầy rất đông, quá đông... Hai bên dân quân từ trên hướng Kontum về, và hướng Đà Lạt xuống đã bất ngờ... "gặp nhau ở tụ điểm son đồng tâm"... nhiều đến nỗi không thể nào tưởng tượng. Tất cả mọi người đụng nhau tại đây. Khi đó thì quốc lộ chính đã tràn ngập người và người đông kinh khủng, nhiều vô số kể! Hiện trạng bấy giờ đã lộn xộn kinh khủng.

    Thế là "Người Đà Lạt cuối cùng bị vỡ tổ tan hàng" từ đó. Luật coi quân đội là một tổ ấm quan trọng linh thiêng quý giá, vô cùng cần thiết; vì đó là nơi an tựa vững vàng trong đời sống của người trai có lý tưởng trong thời loạn. Tổ quốc ấy, dường như Luật muốn ví là một tổ ấm mật thiết, quan trọng không kém gì gia đình mình: đã có mẹ già thân yêu, có vợ hiền con ngoan. Nhưng hôm nay cái tổ ấm linh thiêng ấy sụp đỗ rồi chăng? Nghĩ tới điều đó, Luật đã bật khóc, khiến bạn đi cùng xe ái ngại và sửng sốt ngoái nhìn.

    Gần tới vòng ngoài của tỉnh thành Phan Thiết đầy bụi bặm và gió cát thổi vù vù, bỗng có nhiều tràng súng từ xe sau ria tới tấp xẹt tới phía hai xe ngân khố (không biết xe tiền ấy của Tỉnh Kontum, Pleiku, Ba Mê Thuột, hoặc Thị-xã Đà Lạt chăng?). Xe chở những bao bố tiền to khổng lồ, tiền ơi là tiền rơi kín một góc phố, và bay tá lã theo gió lồng lộng như đàm bươm bướm chập chờn trên không trung. Khi đó thì... không thể nào diễn tả nỗi cảnh kinh dị lúc mọi người khum xuống nhặt tiền dưới cơn mưa chì bão lửa, nơi xe cộ gầm rú đó. Cảnh thương tật, khóc than, thét mắng, đói khát, chết chóc, lẫn trong tiếng súng đạn gầm rú xa gần, khiến mọi người bị hút vào điệu quay chóng mặt, bàng hoàng đến rợn người. Luật ngồi trên xe thấy những pha cướp giật, bóc lột, đánh chém nhau dã man và trắng trợn ven đường... Hò hét. Chưởi rủa. Đánh đập tùm lum. Luật cảm thấy chua xót đắng cay, nhục là ở chỗ đó. Tệ là ở chỗ đó. Đau quặn thắt lòng ở chỗ khúc ruột thừa.

    Luật cùng sáu anh khác thay bộ đồ tác chiến, mặc bộ đồ dân sự vẫn cầm theo mấy hôm nay để dễ bề đi đứng, anh vứt bỏ hết tất cả lon lá mũ mão hành trang rối rắm trên đầu, trên vai. Luật mang đôi giày ba ta cũ, áo lạnh, mấy chục ngàn tiền vợ để trong tủ, một chiếc đồng hồ Omega, chiếc nhẫn cưới, sợi dây chuyền, cái nón thường dân đội đầu, và một khẩu súng lục mang kè kè bên nách, để phòng thân. Nhóm Luật là những người lính chiến đấu dũng cảm cuối cùng lìa bỏ quân ngũ, bỏ đơn vị, ngao ngán tự lo cứu chính bản thân trong cơn biến loạn ngặt nghèo lâm nguy, hấp hối.

    Lúc bây giờ không có người chỉ huy, thì nhóm nầy quan cũng như lính có nhiều ý kiến, ý cò, tự vạch ra cho mình con đường sống mới. Mạnh ai nấy dọt, họ luống cuống, hốt hoảng băng đèo vượt đồi cát chạy tan tác. Không còn cảnh tình đồng đội keo sơn như cá với nước, như cây cần đất, cần rễ bám vào đất cho cây liền cành. Mà thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, mạnh ai nấy chạy thiếu sống bán chết, tự lo thoát thân. Họ xin đi chuyền từng đoạn xe đò, xe tải, xe GMC hết xăng, họ chạy bộ chen lấn nhau mà xéo bước, họ thở dồn dập, gò lưng chạy thục mạng từng đoạn ngắn, người chạy đi kẻ chạy lại, rồi thì nhóm Luật đã bị lạc mất nhau. Người đi lánh cư đông kinh khủng bất ngờ gặp gỡ nhau giữa trùng trùng lớp lớp, trên bước đường chạy loạn những kẻ sống còn mong vượt qua gian nguy khổ ải.

    Ngày chạy bộ với những người dân tay xách tay mang đùm đề vợ con, chân thấp chân cao khổ ải mệt nhoài. Đêm đêm ngủ với người thoi thóp, nằm với những xác chết cứng đơ giữa đồng không mông quạnh. Luật mong tìm làn hơi ấm bên người lân cận, hầu hổ trợ an ủi tinh thần, nương nhờ lẫn nhau. Nào ngờ, khi hoàn hồn, bừng mở mắt ra ngoảnh nhìn lại, anh mới biết đó chỉ là những thây ma. Luật mệt lả người phải bật dậy ra đi, vì sợ hơn vì đói, khát. Phải! Giữa cảnh màn trời chiếu đất, trong tay những người dân không có một cây que để phòng thân tự vệ. Mà cuộc sống vẫn vô cùng mong manh và hối hả. Con người phút chốc trở thành da bọc xương, bối rối, ngơ ngơ ngáo ngáo, ngố ngố ngờ nghệch. Nhìn họ, anh không khỏi nghẹn ngào bàng hoàng xúc động và cảm thấy họ rất đáng thương. Nhìn thấy đồng bào di tản đông đúc ngược xuôi bần thần như kẻ mất hồn, Luật luôn bồn chồn lo lắng nghĩ tới mẹ, vợ và các con, chẳng biết bây giờ họ ra sao? lưu lạc phương nào rồi! Ngày đêm Luật vẫn cầu nguyện cho gia đình mình, và cả những người đang chạy loạn được an toàn.

    Anh chưa biết mò mò đi đâu, và không tri thức giữa những nấm mồ xanh đắp sơ sài tươi màu đất chưa mọc cỏ non. Màn đêm tiếp nối bóng tối và đồng lỏa với mọi tội ác. Đã thế, đêm đêm từng đàn chó hoang ốm đói tong teo gầm gừ cắn xé nhau, tranh giành xương cốt, thi thể thối nát của người di tản nào đó, chúng nhai ngấu nghiến. Luật nghe tiếng kêu rào rạo từ mấy thây ma cứng đơ thum thủm. Bầy chó nhe răng tru hú lên từng hồi hoang dại, dã man, Luật cảm thấy rợn tóc gáy khi đối mặt với tận cùng bi thiết thảm sầu, cay cực. Chiến tranh tàn ác đã lột da con người vô cùng trần trụi, thô thiển đến tận xương tủy. Và, những vết thương hoác miệng từ dĩ vãng, hiện tại, có thể trong tương lai… đã để lại trong lòng Luật những vết thương mãi nóng sốt sôi bỏng, bừng bừng nhói buốt rung lên từng cơn quặn lòng, đau khủng khiếp.

    Luật đang nằm thẳng đơ mất hết ý niệm về không gian lẫn thời gian bên mấy xác chết, quả thật bây giờ trông mình vô cảm vô hồn thiệt giống những xác chết. Giữa lúc khốn đốn đau buồn chán nãn và tuyệt vọng nhất, Luật nghe có tiếng người ngồi trong bóng tối rù rì gì đó, có lẽ họ ở đâu vừa mới đến đây thôi. Luật hé mở mắt ra nhìn quanh, thì nghe họ nói với nhau:
    - Hai đứa mình vô trong Tiểu Khu, may ra còn có xe chạy về Nha Trang chăng.?
    - Ông ơi! biết đâu ngoải cũng bị mất rồi.
    - Còn nước còn tát, chưa đi làm sao biết.
    - Nhưng ra Nha Trang... có phải là mình lại đi xa hơn... nữa à?
    - Làm sao bây giờ! Phải đi ra hướng ấy thôi.
    - Ông điên à? từ Phan Thiết về Sài Gòn gần hơn.
    - Không nghe hồi nãy dân họ nói hướng đi Long Khánh tiêu rồi sao!?
    Hai người đó im lặng một lúc, có tiếng nói tiếp:
    - Vậy nên đi Nha Trang, dù sao ở đó cũng có tàu, thuyền, hoặc máy bay. Tôi có bà con ở đó.
    Luật vui mừng như đã gặp đồng hương, anh ngồi bật dậy:
    - Anh bạn nói phải.

    Hai người đàn ông kia sửng sốt giật mình, toan đứng lên vùng chạy, vì họ nghĩ Luật cũng là một xác chết cứng đơ, hoặc ít ra là một người lạ, có thể là "dân cướp cạn" cũng nên. Luật bò bò qua bên kia góc tối trong căn nhà hoang, thì ra anh nhận diện được một người quen sơ giao trong lúc đoàn quân Đà Lạt triệt thoát. Thế là ba người đàn ông chạy vô Tiểu khu, cũng may họ xin đi ké xe GMC ra Nha Trang.

    Tới Nha Trang, trước tiên Luật ghé qua nhà Oanh, thì anh rất vui mừng được biết mẹ, vợ con mình đã an toàn lên máy bay vô Sài Gòn rồi. Luật hỏi tại sao Oanh và gia đình không di tản? Oanh đã trả lời giống y như nàng đã nói với bạn. "Không thể đi đâu hết vì ở nhà còn ông bà ngoại già hơn 90t, còn cha mẹ và... không biết bỏ nhà cửa mà đi đâu!" Oanh gói cho Luật một bịch xôi đậu xanh, Luật e ngại cầm mà bùi ngùi bỏ trong túi xách nhỏ. Hai ông bạn mới quen đứng bên góc đường Hồng Bàng chờ Luật trong giây lát.

    Thấy nhau rồi, họ đi từ nhà Oanh ra mé biển chưa đầy năm phút. Thành phố Nha Trang càng đông người kinh khủng. Quan sát khắp nơi, biết tình trạng nầy nếu chờ tàu lớn, hoặc máy bay quân sự hay dân sự gì cũng không xong, nên họ bàn tính với nhau hồi lâu, rồi quyết định thuê ghe buôn của thường dân đi vô Vũng Tàu, cho chắc ăn. Ba người đi rảo quanh bãi biển Nha Trang tìm thêm người có thể chung nhau tiền lộ phí. Sau đó họ ra xóm Bóng và mướn ghe đánh cá nhỏ, ghe nầy đang chuẩn bị chuyển hàng về Bà Rịa hôm nay. Đi Bà Rịa cũng tốt, miễn sao về gần thủ đô là mừng. Đúng là may mắn!

    Mặc cả giá tiền cho tám người đàn ông cũ và mới chung chuyến đi, ai nấy tự động móc tiền túi ra đóng cho chủ ghe xong xuôi, họ mừng rỡ lên ghe. Sợ chủ ghe ra đi bất ngờ, nên không có ai kịp mua gì phòng hờ, may mà có bọc xôi đậu xanh chắm muối mè Oanh đưa cho Luật, anh lấy ra chia cho tám người đồng hành, mỗi người chỉ nhón một ít xôi cỡ bằng trái chanh mà e dè ăn ngấu nghiến. Họ còn đói, (nhất là Luật đã chưa có hột cơm nào từ hơn hai ngày qua) và khát kinh khủng, nhưng tám người bó tay chịu trận. Trên ghe bây giờ cộng thêm ba người cha con chủ ghe ấy, thì có tất cả mười một người đàn ông. Khi ghe đã êm ái bình an ra khỏi cửa biển Nha Trang, và lướt xuôi về hướng Phan Rí cửa, qua Hàm Thuận Bắc, Bình Lâm rồi tới gần Mũi Né khoảng 20 hải lý, thì chủ ghe dỡ chứng trở quẻ, ông ta viện cớ:
    - Tui sợ ngoải cũng lộn xộn, chẳng ai mua hàng, tui muốn quay ghe về Nha Trang.
    Mọi người chưng hửng! Đức, người đi trong nhóm Luật nói:
    - Ông giỡn chơi à! Ông muốn gì?... Nói.
    - Tui không đủ xăng chạy tới bển.
    Tâm cười gằn:
    - Ông muốn chúng tôi đóng thêm tiền, để ông mua thêm xăng chớ gì?
    - Phải.

    Mấy người đàn ông thuê bao ghe nhìn nhau, rất bực tức nhưng "đã lỡ đò rồi"... nên họ hí húi móc tiền ra, kẻ nhiều người ít, gom tất cả thêm 95.000 ngàn đồng nữa, nộp cho chủ ghe. Thế mà tên nầy vẫn không chịu. Bình (là người quen đã đi chung với Luật từ Đà Lạt) định móc thêm tiền ở túi kia, để "dâng" cho tên chủ ghe. Nhưng Luật ngăn lại, thì thầm:
    - Anh điên à. Từ đây đến Sài Gòn... còn nhiều đoạn phải chi trả. Để đó.

    Luật lột đồng hồ Omega và chiếc nhẫn cưới ở trên tay ra, để xuống sàn, anh móc củ súng colt 45 đeo ở nách ra, cầm lên:
    - Chúng tôi mặc cả sòng phẳng và rõ ràng với anh trước khi lên ghe rồi. Chúng tôi đã hào phóng tặng thêm cho anh rất nhiều, nhiều tiền hơn số tiền mà anh đã định giá. Từng ấy... anh chưa hài lòng sao? Thế thì, bây giờ anh có muốn nhận thêm đồng hồ, chiếc nhẫn cưới của tôi. Hay là anh thích nhận khẩu súng lục nầy, mới hả dạ. Hở?

    Tất nhiên... tên "cướp cạn" kia không thể ngờ là trong người Luật còn có "củ súng chết người" đang bị cái áo lạnh che phủ bên ngoài. Hắn lại nhìn lom lom sợi dây chuyền hai lượng vàng y chói lói lấp lánh ánh mặt trời rọi lại, nó đang lung linh lủng lẳng trên ngực trần của Luật, mà thèm... ứa nước miếng.
    Thanh nói như hét:
    - Ông là một thằng hèn hạ, không có tình đồng loại, bộ ông muốn chết tiệt vì hám của hả!

    Hắn xanh mặt cúi đầu chẳng dám trấn lột thêm tiền, mà liếc liếc, riu ríu len lén run run lượm cái đồng hồ, theo lệnh của Luật:
    - Anh phải cầm lấy cái đồng hồ của tôi, giữ làm kỷ niệm, mà nhớ đời. Nha.

    * * *

    Tình Hoài Hương
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-19-2017, 05:17 AM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #197
      Niềm Đau Tình... Đời



      Niềm Đau Tình... Đời


      Thứ Năm, ngày 19 - 4 -1975.- Trên con đường hẽm hầm hập nóng và bẩn thỉu, bước tới đụng người bước lui đụng người chen lấn nhau, vì ngay ngoài hiên nhà nầy là chỗ người khác xin ngồi nhờ, bán mua ồn ào náo nhiệt sát chợ Nghĩa Hoà. Bà cháu mẹ con tôi đùm túm dắt díu nhau trụt xuống hai chiếc xích lô rẽ vô nhà anh chị Tạo (anh cùng cha khác mẹ của chồng tôi). Mọi người ở trong nhà sửng sốt, nhốn nháo giây lát, rồi họ hét lên, ríu rít mừng rỡ chào đón chúng tôi. Chuyện trò xôn xao hỏi han nhau đủ mọi thứ nghe rôm rã. Phút chốc buổi cơm chiều đơn sơ dọn ra.

      Nhà anh chị Tạo chật như nêm, căn nhà rất tối tăm, lụp xụp, chen chân không lọt trong một chu vi quá hẹp: 3m x 8m, ngoài trời đã nóng trong nhà càng nóng hầm hập, quá khó chịu. Bếp sát bên một cầu tiêu nhỏ xíu đang bị nghẹt ứ cứt đái trôi lềnh bềnh, xông lên mùi hôi kinh khủng. Trong nhà, vợ chồng con cái họ đã là mười hai người. Cộng thêm bảy người em họ là chú Hồng di tản từ Ba Mê Thuột về đây cả tuần. Nay có thêm sáu người chúng tôi về tá túc nữa. Thật đông hết biết. Chúng tôi trải chiếu nằm xếp lớp bên nhau ngổn ngang như cá mòi trên gác xép tối om, thấp lè tè nóng như trong lò lửa. Anh Tạo chia cho bà nội ngủ với chị Tạo ở nhà dưới.

      Ngay hôm sau gửi cháu cho bà nội trông coi, tôi đi xe bus xuống đường Trần Cao Vân vào trình diện Nha Học Chánh. Giờ cao điểm thì có hàng chục ngàn xe đạp, xe Honda… chạy thành giòng không bao giờ dứt, trên những con đường luôn luôn đông như nêm đến công sở, đến trường học, hay tan trường sở. Trên lề đường chen lấn cả ngàn người đi bộ, với kẻ gồng người gánh bán hàng rong, họ lấn chiếm ra lòng lề đường vô số kể người là người! Trình diện tại phòng Giáo-dục, tại đây tôi gặp lại hầu hết bạn bè ở Đà Lạt. Không ngờ họ lanh tay lẹ chân đến trình diện trước tôi cả tháng, họ hay hơn tôi nhiều.

      Tôi làm giấy tờ chờ truy lãnh mấy lương tại chỗ. Thế là, ngày ngày tôi phải đến phòng nhân viên trình diện có mặt, và chờ đợi mọi tin tức cập nhật. Nếu ngày nào tôi không đi trình diện, thì coi như tôi bỏ nhiệm sở và bị sa thải. Tôi làm đơn xin về dạy một trường nào đó gần khu Ông Tạ. Nhưng hầu như không ai có thì giờ để lo cho đám giáo chức lao nhao khổng lồ ùn ùn kéo về Sài Gòn lánh cư nầy cả. Tình hình chung trong cư dân Sài Gòn xét ra rất phức tạp, hỗn độn, rối loạn lắm.

      Mang tiền lương về nhà, tôi liền đưa chị Tạo ba chục ngàn đồng, để đóng góp chung vào tiền chi phí ăn uống. Chúng tôi ở nhà anh chị Tạo chỉ được ba ngày vui vẻ thôi. Mấy đứa con tôi lạ người lạ chỗ, đi ra vấp người đi vô đụng ngưởi, đêm cũng như ngày không biết làm gì, các con cứ đứng quanh quẩn bên bà, liền bị anh Tạo quát mắng la rầy, đuổi chúng đi ra xa bà, không được quấy rầy bà nội. Anh Tạo không biết rằng các con tôi quyến luyến yêu thương bà nội, ưa gần gũi bà nội còn hơn cha mẹ nó. Ở Đà Lạt suốt ngày các cháu chơi đùa với nhau, quanh quẩn bên bà nội, nên họ đuổi chúng đi không cho đứng gần bà nội.

      Đuổi chúng đi! chúng đi đâu bây giờ! ở trong nhà nóng kinh khủng và chật chội, đứng thôi cũng chạm người khác. Đi ra ngoài hiên nắng và nóng, càng không có chỗ chen chân, những thúng mẹc chất đầy hàng hoá và người bán ngồi trên vĩa hè nhà chị. Anh chị không nghĩ đến điều đó ư? Ở nhà anh Tạo con cái tôi cũng không yên thân. Anh ta bắt tôi phải bế bé Tồ đi xe bus đi trình diện ở Nha đông nghẹt người. Nơi đây chỉ có người lớn, đàn ông đàn bà. Tuyệt nhiên không có một đứa trẻ nào có thể giam mình trong những căn phòng chật cứng người to lớn đi lại. Thế nên, tôi bế con đi trình diện Ty được ba ngày. Hôm sau, tôi đành để bé Tồ ở nhà. Hôm ấy từ Nha Học Vụ trở về nhà, đứa lớn chưa đầy 6 tuổi đón tôi ở ngoài đường:

      - Mẹ ơi! Ở nhà bé Tồ đói bụng, em đòi ăn cơm. Bác không cho em ăn. Bác lấy roi mây đánh mấy anh em con. Bác nói:
      - “Tụi bây phải dắt em đi chỗ khác, phải cõng em đi chỗ khác, không được về nhà. Khi nào con mẹ mày về, thì cõng nó về. Nó quấy bà”. Con bị đòn, đau quá mẹ ơi!
      Trời! Chị Tạo có đứa con mười tháng tuổi, chị vẫn bế nó suốt ngày nằm trên võng, mà hễ ngưng đu đưa võng, là nó khóc thét lên, vì nóng đó. Thì sao? Tôi vạch lưng mấy đứa con ra, quả thật có lằn ngang lằn dọc đỏ bầm trên lưng và mông đít con. Tôi hầm hầm về nhà, ôn tồn hỏi bà nội, me đáp:
      - Phải. Me tính xới cơm cho bé Tồ ăn trước, vì nó đói. Nhưng bác la me:
      - “Bà cứ chìu, cho chúng nó hư. Đánh bỏ mẹ chúng nó đi”.

      Tôi nghe mà vuốt giận chịu nhục, tôi có ý muốn cố ở nhờ trong nhà họ, thì tiện cho việc đi trình diện Nha Học Vụ. Tôi biết anh chị Tạo lòng dạ hẹp hòi, ích kỹ, nhỏ mọn, họ ghen ghét mẹ con tôi (vì mẹ ân cần săn sóc thương yêu các con tôi). Dĩ nhiên là bà nội phải thương các cháu nầy, hơn các cháu con của họ, bà sống với chúng tôi bao năm nay có sự quyến luyến yêu thương nhau. Trong khi vợ chồng họ chẳng chăm sóc yêu thương gì bà mẹ ghẻ, họ không ở với mẹ kế ngày nào. Tại sao ganh ghét lạ vậy? Chỉ một chuyện nhỏ nầy: khi thấy tôi ủi áo dài để đi trình diện, thì hôm sau anh chị dấu cất cái bàn ủi trong tủ, khoá lại, sợ hao tốn điện. Tôi hỏi mượn bàn ủi, chị nói:
      - “Xím” ủi xong là phải cất đi. Mất rồi.
      Tôi nhìn mấy đứa con anh chị, là biết ngay chị nói dối. Nhưng chị cứ buộc tội là tôi để bàn ủi hớ hênh, nên mất rồi. Nghĩ thật tức cười! Ủi đồ trên gác xép kín như bưng thế nầy, chỉ có vài cửa sổ nhỏ xíu, có lưới mắc cáo và chấn song sắt bọc ngoài dày cui, trên gác không có cửa lớn ra ngoài, trần nhà lợp tôn. Con chuột lủi vô nhà e còn chưa lọt. Còn tên trộm có muốn ăn cắp, ăn trộm... thì phải vào nhà dưới, rồi nó mới leo lên cái thang dựng đứng đặt sát bên chiếc giường rộng, là nơi chị ta nằm đưa võng, cũng là nơi tụ tập thường xuyên không dưới mười người. Tên ăn trộm có giỏi cỡ nào, có tài thánh gì hoá thân mà bay, cũng không thể lọt qua ba bên bốn bề trong nhà!

      Sau ngày bị vu khống tôi làm mất bàn ủi, thì hôm nào đi trình diện tôi cũng mặc quần áo nhàu nát. Thật xấu hổ cho một giáo chức “chỉnh tề”. Hể tôi đi vắng thì thôi, về nhà là có đủ thứ bực mình: Bác Tạo hết đánh đứa nầy, phạt quỳ đứa nọ, giam đói đứa cháu khác, tôi không ngờ “tình khúc ruột thừa thịt dư” nầy, thua xa gia đình ông bà Niềm, cô Thúy Lan, cô Oanh ngày cũ ở Nha Trang, khiến tôi bực tức không thể nào chịu nỗi. Một buổi trưa trời nóng như thiu đốt, nắng chói chang từ trên xe bus trụt xuống, tôi đã thấy bé Dzũng, bé Huy, bé Tuấn cõng bé Tồ cùng đứng ở trạm xe. Dưới đất, bé Bi đang ăn củ khoai lang còn dính đất. Sợ mất hồn mất vía, sợ các con đi lạc, hay bị bắt cóc, tôi vội chạy tới bế bé Tồ. Mấy đứa con mặt mày lem luốt, đều khóc:
      - Bác Tạo đuổi tụi con đi. Bác nói:
      - “Chúng mày chỉ giống con mẹ mày. Lo cút xéo đi cho rãnh mắt tao”.
      Con đã trả lời:
      - Con thì phải giống cha mẹ.
      Bác Tạo ông liền lấy cái roi da cá đuối treo trên tường, bác quất vào lưng con. Bác nói con dám “trả treo”. Em Tuấn thấy bác đánh con, chạy tới can. Bác cũng quất túi bụi vào em nữa. Hụ hụ hụ...
      Nói xong, hai con lớn oà khóc và vạch lưng, tụt quần xà lõn ra cho tôi xem. Nào lằn ngang, nào lằn dọc từ trên lưng xuống mông, bầm tím hơn lần con bị bác cho ăn roi vọt trước kia. Bác đánh cháu nhỏ còn hơn tra tấn quân thù.
      Tôi hỏi bé Tồ:
      - Tại sao con khóc, để anh bị đòn oan.
      Con chỉ vào bụng và bập bẹ nói:
      - ...ói… b…ụng.

      Tôi giận run và nghĩ: “Yêu nhau yêu cả đường đi. Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”. Các con quá đói khổ rồi, chẳng lẽ cứ bị khổ sở, đánh đập vô cớ hoài sao. Có lẽ mình nên dời đi chỗ khác sống thì hơn. Tôi ẳm bé Tồ, tay dắt bé Bi về nhà. Các con sợ sệt lẽo đẽo theo sau, len lén núp sau lưng mẹ. Thấy họ, trong lòng tôi tức giận sôi lên. Chẳng thà họ cứ thẳng thắng nói “không cho gia đình tôi ở nhờ”, tôi có lòng tự trọng, sẽ dọn đi ngay. Họ không nên kiếm cớ nầy cớ nọ, mà đánh đập chưởi đuổi chúng tôi đi, làm cái ngữ nầy, ai chịu cho thấu! Tôi đã mất tiền đưa cho họ rộng rãi thoả đáng, ăn ở chưa trót sáu ngày. Chứ có phải chúng tôi ăn chực ở chùa đâu. Chắc họ muốn “vòi” thêm tiền? Họ nghĩ xưa kia gia đình mình nổi tiếng giàu có, mà quả thật trước khi chạy giặc, tôi có xe hơi nhà lầu, hôm nay tôi keo kiệt “trùm sò” không chịu rỉ thêm tiền ra hậu hỉ! Họ đối xử không tốt, quá tệ là đằng khác, thế mà chúng tôi phải mang ơn mang nghĩa.
      Con cháu mới lên ba lên năm, nếu có lầm lỗi, thì bắt nó nằm xuống, răn dạy nhịp nhịp cái roi vô mông, cũng đủ cho chúng sợ mất hồn mất vía rồi. Tôi cám ơn không hết, chớ cần chi phải lấy cái roi loại da cá đuối mà thẳng tay quất cháu bị đòn vọt đau đớn, như đang tra tấn cháu?! Chỉ vì: “chúng mày giống con mẹ mày”. Con không giống cha giống mẹ, chẳng lẽ giống ông bà hàng xóm à?

      Về nhà đặt bé Tồ xuống thềm, tôi nói luôn một hơi:
      - Mấy đứa con em, nếu không đúng, không phải, thì anh chị bắt chúng nó nằm xuống giường mà răn dạy, nếu anh chị dùng bàn tay đánh vài cái vào mông, cũng khiến cháu sợ và đau rồi. Em phục, cám ơn anh chị, không dám nói gì. Nhưng tại sao anh lại lấy cái roi cá đuối quất túi bụi vào lưng, vào cổ cháu vậy? Em hỏi anh: Các cháu có tội gì nặng không, mà anh nỡ lòng hành hạ chúng? Loại roi da cá đuối, nếu ai bị đòn chảy máu, sẽ bị thúi thịt, anh có biết không? Anh chị đánh đập cháu dã man, chỉ vì nó đói, xin ăn cơm. Anh chị coi nè, có được không?

      Tôi lôi hai đứa: bé Dzũng và bé Tuấn tới trước mặt họ, tôi khóc và vạch lưng, vạch mông, hai cánh tay con lên, cho cả nhà xem. Bà nội lúng túng nói:
      - Thằng Tồ đói bụng. Bác mày chưa nấu cơm. Tao bế nó dỗ cháu tị, nó nín í mà.
      Anh Tạo đốp ngay:
      - Bà không việc gì phải thí dỗ cho chúng hư đốn, quen đi. Quấy không ai chịu nỗi. Lúc nào mặt mũi cũng đỏ kè, sãy sài, khóc nhè mãi. Bố ai chịu nỗi sự ồn ào hư đốn, hử!?
      Khi đó, tôi không thể nhịn anh ta, tôi vừa khóc vừa gào lên:
      - “Lời nói không mất tiền mua.
      Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
      Ngoài miệng thì nói nam mô.
      Trong lòng thì chứa ba bồ dao găm
      ”. Một ngày anh biết say sưa ăn ba bữa đàng hoàng với rượu đế, thức nhắm ngon lành. Có ngày nào anh không ăn nhậu hử! Cháu anh đói, đòi ăn, anh cấm không cho cháu ăn. Là sao!? Anh đừng ác ôn... như đối với quân thù vậy nhen.
      - Bà về đây là để bà nghỉ ngơi. Không phải làm gì sớt.
      - Sao anh quá nhỏ mọn vậy? Chẳng lẽ từ xưa đến giờ thấy cháu đói, mà bà không cho cháu ăn. Vã lại, anh chị không nên hẹp hòi vì miếng ăn, tôi đã gởi anh chị tiền cơm nước đàng hoàng, hậu hỉ và đầy đủ. Tôi lầm tưởng mình có bà con ruột thịt, nên về nhà anh chị ở, mong nương tựa lẫn nhau lúc khốn cùng, cho có anh chị, có em, có mẹ có con. Nay anh chị muốn đuổi, thì anh nói. Tôi sẽ đi ngay. Chứ anh chị không được hành hạ các con tôi tàn nhẫn, vô cớ đến thế nha.

      Nói xong tôi chạy đùng đùng rầm rầm leo lên thang gác vơ quần áo của các con, tộng vào túi vải cũ, tôi hầm hầm kéo xềnh xệch ba túi vải xuống thang gác. Tôi dặn mấy đứa con đứng chờ ngoài hè, rồi chạy ra ngoài ngả ba Ông Tạ, gọi chiếc xe ngựa vô hẽm, xe ngựa đậu trước cửa nhà. Tôi chất đồ, các con liền leo lên xe. Tôi nói với bà nội:
      - Me cứ ở đây cho khoẻ. Chúng con phải đi, không thể ở đây, để người ta hành hạ tàn nhẫn cháu bà như thế được.
      Bà nội chưng hửng, ú ớ, ngại ngần, bà không biết tính toán làm sao cho phải phép. Một bên là mẹ ghẻ con chồng, một bên là con dâu cháu nội ruột của bà. Tôi đưa cho bà mười ngàn đồng dằn túi ăn quà vặt. Rồi tôi giận run quay lại, trừng mắt nói với họ, như hét:

      - Anh chị tưởng là: nếu chúng tôi không có anh chị, thì chúng tôi không có chỗ nương thân, sẽ chết bờ, chết bụi hay sao? Anh chị nè, mẹ hôm nay và sắp tới có ở lại đây, thì me cũng không phải ăn bám, ăn chực cơm canh nhờ ở nhà anh chị đâu. Khi tôi có tiền, thì anh anh chị chị em em ngọt xớt. Bây giờ tôi sa cơ lỡ vận, thì anh chị muốn trở mặt dở dóc đủ điều, tệ mạt, khốn nạn hết chỗ nói. Người dưng thật ra còn tốt hơn anh chị. Anh chị cư xử thua kém gia đình bà Niềm xa lạ ở Nha Trang, họ đối với chúng tôi rất tốt. Không tin, anh cứ hỏi me, thì rõ. Phần mẹ, mẹ cứ yêm tâm ở lại nhà nầy ăn uống thoải mái, vì con đã trả tiền cơm cho nhà mình ăn no cả tháng. Anh chị không phải nuôi me nhá. Sau nầy anh chị đừng kể công là: khi tôi ra đi, đã để gánh nặng lại cho nhà anh chị lo.

      Vừa nói, tôi giận dữ móc túi quăng ra thêm nắm tiền vung lên trên giường, ngay dưới chân chị Tạo (chị đang nằm ru con trên võng móc ngang giường). Tôi chỉ ném ít tiền lẻ khoảng hai ba ngàn thôi, chứ ngu gì tôi móc cục tiền lương vay trước ba tháng thật to ra quăng vào mặt họ. Bộ điên mà ném tiền hết, để mẹ con tôi lưu lạc bị chết đói! Cứ chưởi một trận cho đã, rồi từ nhau là vừa. Chính tôi cũng không ngờ tại sao tôi trở nên hung dữ đanh đá như thế! Tính nết tôi bình thường biết giữ thể diện, sợ xấu hổ không mấy khi to tiếng. Nhưng nay đụng chuyện “quá độ”, quá trí khôn rồi, thì tôi cóc cần, cóc sợ ai. Có phải do tôi thấy các con đít bị rỉ máu, lưng sưng húp bầm thâm thì… “máu chảy ruột mềm” chăng? Nếu biết tình nghĩa “bà con lạt hơn nước ốc” như thế nầy, chẳng thà chúng tôi ăn ngủ ở đầu đường xó chợ cho xong, chẳng phiền ai, các con không bị hành hạ khổ sở thế nầy. Mỗi khi tôi thò mặt về nhà nầy, thì tôi nghe đủ thứ chuyện đinh tai nhức óc, muốn điên đầu. Nay, tôi đùng đùng túm đồ đạc dẫn các con ra đi họ ngẩn tò te và im phăng phắc. Có lẽ họ không ngờ là tôi dám làm chuyện động trời như thế. Họ cũng mắc cỡ với hàng xóm láng giềng đang bu lại đông đúc xem tuồng chăng?

      Con ngựa hí vang, nó đứng ngoài trời nắng chang chang, bốn vó nhịp nhàng dậm trên mặt đường kêu lóc cóc. Tôi leo lên xe ngựa, năm mẹ con ra bến xe đi Hóc Môn. Các con tôi hí hửng mừng rỡ reo vui khi lần đầu tiên được ngồi xe ngựa. Cũng như được thoát ra khỏi căn nhà nóng hầm hập, chật chội và nhất là luôn bị bác Tạo của chúng nó trù dập, tra khảo, đánh đòn cháu tươm máu đít, vì những chuyện không nguyên cớ chính xác. Dẫu chúng chưa biết rồi đây miền đất mới sẽ cho chúng ấm no, hay đói lạnh thế nào. Nhưng chúng biết chắc chắn rằng đã thoát ra nơi tột cùng kinh dị, là các con vui mừng rồi.

      Tôi thương các con lắm! Khi mấy mẹ con trụt xuống xe đò Sài Gòn Hốc Môn, thì tôi thấy hai cháu Sơn, Nhân đang đứng chơi ở ngoài ngả ba trại Lam Sơn (Thành ông Năm). Chúng tôi mừng rỡ ôm nhau mà khóc ở ngoài đường. Tại nhà chị Sáu (chị mẹ goá con côi có năm người con: ba đứa con trai lớn đi lính. Hai đứa nhỏ dưới mười lăm tuổi đi học). Trong nhà nầy có gia đình chú Ri (là em ruột chồng chị, gồm mười hai người từ trên Tây Ninh chạy loạn về đây tá túc.

      Nay có thêm sáu người chúng tôi, vị chi trong nhà chị Sáu có tất cả là hai mươi bốn người lớn bé đông đúc, ngày đêm chui ra chui vào ở một căn nhà nho nhỏ của trại gia binh. Tối tối mọi người cùng trải chiếu ra nằm la liệt trên nền xi măng đã lau chùi sạch sẽ, hoặc nằm ra ở ngoài mái hiên mà ngủ. Tôi góp tiền với hai gia đình kia đi chợ nấu ăn chung. Mỗi bữa ăn chia ra làm hai mâm to: Một mâm người lớn. Một mâm trẻ nhỏ đông đúc, nhất là bầy con của chú thím Ri lút chút lít chít nheo nhóc la khóc suốt ngày đêm.

      Mặc dù góp gạo nấu cơm chung, nhưng phần ăn thì họ chia không công bằng. Ví dụ như các con tôi họ xới chén cơm rời rời xôm xốp, nhưng con chú thím Ri thì họ (tự tay thím Ri phân phát) xới chén cơm ém thật chặt xuống đáy chén, ở bên trên họ chêm cho rời rời, và múc nhiều thức ăn cho các con họ thứ nào ngon. Miếng ăn là miếng tồi tàn mà, chấp nhứt làm chi! Tuy biết vậy đầu óc tôi không căng thẳng, mà có phần thảnh thơi được ít ngày. Tôi ăn cơm ngon nhưng luôn mất ngủ, vì kể từ khi rời Đà Lạt di tản đến nay, tôi sống trong cảnh màn trời chiếu đất, nằm lăn lóc ở bụi bờ, không giường nệm êm mền ấm như ở Đà Lạt. Vì thế, khi đặt lưng xuống chiếu là toàn thân đau nhức rần rần. Những đau khổ kể trên, khiến cho tôi nhớ lại thuở còn ở Đà lạt... mà khóc ròng! Mỗi ngày tôi bế con ra ngoài ngả ba Lam-Sơn Hóc-Môn, thì thấy xe GMC từ ngả Trảng Bàng– Tây Ninh chở binh lính đầy nhóc trên xe, xe nườm nượp chạy đi chạy về trên quốc lộ nầy tấp nập. Thỉnh thoảng súng lớn đạn nhỏ từ trong Thành Ông Năm câu đi đâu đó uỳnh uỳnh uỳnh… làm rung động cả góc trời.

      Tôi ở nhà nầy một tuần, thì Luật ở Đà Lạt đã chạy thoát về Sài Gòn, ở nhà anh Tạo hai hôm Luật mới đến nhà chị Sáu, mặt anh hầm hầm coi hung dữ như muốn ăn tươi nuốt sống tôi. Dĩ nhiên Luật ghé nhà anh chị Tạo ở Sài Gòn trước, và anh đã nghe họ “tả oán” về mẹ con tôi đủ thứ chuyện xấu, (người ta nói sau lưng mình, dĩ nhiên mình xấu, họ tốt; trước khi Luật nghe vợ con phân bày phải trái). Luật là người đàn ông độc đoán, gia trưởng, kẻ cả, ít khi anh lắng nghe điều hay lẽ phải, anh không nhìn các dữ kiện, mà chỉ nhìn sự kiện đã xảy ra, rồi vội vàng kết luận. Tôi vừa mừng rỡ vừa sợ. Phải! Thú thật là tôi rất sợ chồng. Luật có “cái uy” để anh “trị” tôi. Luật tức giận ngồi phịch xuống sofa, anh nói như hét trước mặt mẹ con chị Sáu, gia đình chú Ri, và mẹ con tôi. Anh khóc hụ hụ:

      - Em tưởng là tôi bị kẹt lại Đà Lạt, thì tôi không thể thoát đi được, hay tôi đã chết rồi. Em làm kẻ tình lờ không bao giờ gặp lại tôi hay sao!? Nên em lo từ bỏ họ hàng của tôi cho sớm. Hử?

      Thím Ri tỏ vẻ khoái chí, lết đít xích lại gần Luật để nghe rõ cho biết chuyện riêng tư. Đại loại là thím tưởng giữa tôi và Luật có “sứt mẻ” vợ chồng gì đó. Thím là hạng đàn bà ưa tò le mách lẽo, tọc mạch tò mò nghe ngóng chuyện người khác, ưa đưa chuyện. Chị Sáu thì chưng hửng, ngạc nhiên không hiểu chuyện gì xảy ra. Nhưng chị tôi ôn tồn, khéo léo an ủi vỗ về Luật:
      Cây khô nghe sấm nứt chồi.
      Đạo chồng nghĩa vợ giận rồi lại thương.
      Cãi nhau là chuyện bình thường.
      Cãi xong tâm sự trên giường cả đêm.
      (cd)
      _ * ** _

      Khi bình tĩnh đôi chút, Luật từ tốn kể lại chuyện anh chạy nạn từ Đà Lạt về Cam Ranh, Nha Trang, anh đi bộ nhiều ngày rất khổ sở điêu đứng gian truân không tả xiết vô Sài Gòn, những điều rùng rợn không sao tả hết vào giờ phút cuối. Ở lại nhà chị Sáu hai ngày, sau đó Luật thu xếp cho vợ con lên Sài Gòn. Chúng tôi đến ăn ở tạm tại nhà dân biểu Tony Tẻh. Bởi Luật thường đi công tác với ông bà dân biểu Thượng-Viện, Hạ-viện, Nghị-viên, Luật về hội họp.

      Nói chung, Luật chí tình nhiệt tâm với bạn, không quản ngại bỏ tiền túi ra, bao cho bạn đến bến đến bờ. Nhất là Luật đã chu toàn, ráo riết lo vận động cho anh bạn thiểu số Toneh Tẻh đắc cử dân biểu vào quốc hội, làm tôi mệt lắm. Trong thời gian Toneh Tẻh vận động tranh cử, tôi luôn “hầu bạn” cơm ngon canh ngọt, cá tươi chiên dòn, thịt heo kho trứng vịt, thịt bò lúc lắc, bún bò giò heo, bánh xèo, phá lấu, xôi thập cẩm tự nấu, vân vân... Các thức ăn để trên bàn có lồng bàn đậy kín hẳn hoi, (hoặc chờ họ về mới hâm nóng). Mẹ con tôi ăn cơm trước, họ không bị mẹ con nheo nhóc nầy quậy phá ồn ào. Khi nào “hai ba bốn ông tướng” ấy về, thì họ vui vẻ ung dung rỉ rả ăn uống no say, nói chuyện thời sự, chuyện chiến tranh, chuyện thế giới, kể cả chuyện tiếu lâm.

      Đôi khi Tẻh ở dưới quê tại Đơn Dương bất ngờ vào nhà tôi nghỉ ngủ. Dù sớm hay muộn, thế mà tôi phải bò dậy ra vườn rượt bắt con gà, (con vịt), vô bếp cắt cổ, mổ bụng con gà (hoặc con vịt), làm thức ăn hầu tiếp bạn của Luật, tôi lo cho bạn vài năm như thế. Gia đình Tẻh nghèo lắm, không thể có tiền đi vận động đây đó xã giao. Thế là Luật đứng ra làm đầu tàu (trong một nhóm bạn thân nhiệt tình lo cho Tẻh đầy đủ hết biết). Họ lo cho cá nhân Tẻh lên danh phận có chức có quyền đã đành.

      Ấy thế mà cả gia đình vợ con (đông đúc những mười bốn mạng) của Tẻh, thì nhóm Luật xoay xở đi xin tiền các nhà hảo tâm, ân nhân, xin ở trại cưa, chủ đồn điền… đâu đó, hầu cung ứng cho gia đình Tẻh mỗi tháng. Tẻh hứa hẹn chắc chắn khi đắc cử thì anh sẽ… “chu đáo lo cho dân”. Nhiều tháng qua nhóm người nầy (Luật, Ngọc, Minh, Trí, Cương, Tâm), không đi xin ai được, họ cùng nhau ứng tiền túi ra đưa cho Tẻh. Rồi như “thông lệ” cứ đến tháng thì bà vợ của Tẻh đến nhà tôi lấy tiền. Bà chị nói:

      - Chị ui! Ông Tẻh ra đi, có nói tui đến nhờ bà chị giúp tiền mua cơm gạo. Nhà tui hết sạch mọi thứ rồi.
      Ông bà Tẻh làm y như tôi là ngân khố, kho gạo, vựa lúa, tôi có bổn-phận-sự, trách-nhiệm-vụ lo cho gia đình họ ấm no!? Nói với chị Tẻh thiểu số nầy hoài, thật mệt. Vì chị ngu ngơ dấm dớ mà khôn vặt không chịu thông cảm, chị cứ đứng ù lì… ù ù cạc cạc ranh ma, ì thộn ra đứng chần dần cả buổi trước cửa, chị không dám hay không chịu vô nhà. Nói nào ngay nhà tôi “nom rất bề thế” ở mặt tiền đường Đoàn Thị Điểm ba tầng lầu đúc bê tông cốt sắt, nền láng gạch bông bóng lưỡng, đầy đủ tiện nghi, rộng 5m sâu (dài) 45m phủ bì, còn dư 10m cho sân sau rợp bóng cây. Chị Tẻh cứ đứng hoài đứng hủy chờ đến khi nào tôi văng tiền, văng gạo (hoặc văng “cái nhu cầu của chị”) ra, thì chị mới chịu đi.

      Lối xóm người quen đi qua nhà tôi, họ ưa thắc mắc cứ tưởng tôi mắc nợ ù lì không chịu trả cho bà ta. Thật là mất mặt của “nợ oan gia” ngàn kiếp vì Luật mê bạn hơn mê vợ con. Chị Tẻh chả hiểu rằng “anh chị Tẻh” đối với riêng tôi không là cái đinh, cái thá gì. Vậy mà, tôi phải cắn môi bặm miệng nghiến răng trèo trẹo để “giao hảo” vì danh dự và “lệnh lạc” của đức ông chồng quá hảo tâm! Có nhiều lần, Luật về nhà nói tôi đưa tiền cho Tẻh “mượn”, để anh ta đi lo công chuyện: áp phe áp phẩy chi chi đó. Vài ba lần đầu, tôi bấm bụng lấy tiền lương của gia đình trích ra đưa cho Tẻh mượn. Nhưng hôm nay, tôi biết là trong tủ chỉ còn đủ tiền đi chợ nửa tháng. Nếu đưa cho Tẻh mượn nữa, thì có lẽ nhà mình nhịn đói vào tuần cuối tháng mất (đưa cho Tẻh mượn hoài, coi như chả bao giờ ảnh nhớ trả nợ)̣. Tôi làu bàu:
      - Làm như nhà mình là kho bạc, hay có tiền núi sao?
      Tôi không chịu xì tiền ra, thì Luật cự nự, mắng nhiếc tôi:
      -“Lên chùa thấy bụt muốn tu.
      Về nhà ngó vợ muốn xù em ngay.
      Bấy lâu vắng mặt khát khao.
      Bây giờ thấy mặt muốn cào mặt ra
      ” (1)

      - Người gì mà ngu lạ, chỉ biết tham tiền, phải thả con tép mới câu được con tôm hùm. Em có tiền là mờ mắt, chả biết giúp người hoạn nạn lâm nguy.
      Úi cha! trong lòng tôi ức lắm, giận sôi lên. Tôi đi dạy về mệt đừ, vì lo làm cơm và giặt quần áo dưới bếp, nghe anh nói mà hai tai lùng bùng, mắt tóe lửa, giận run. Bỗng dưng ở đâu Luật vất vả mời, rước, cõng, tha “cái nợ đời bạn với bè” về nhà nầy! Đã một thời tôi khốn đốn bơ phờ vì anh Trí mượn tiền của mình ở Cam Ranh, đến nay coi như xù độ rồi. Luật chưa tởn mà, anh vẫn bận tâm vì bạn, làm điêu đứng vợ con quá sá vậy hổng biết!? Tôi chưa kịp phản ứng, thì Luật nhảy tót một lần hai bậc cấp lên lầu, vào phòng ngủ, anh móc túi quần lấy chìa khoá mở tủ rột rột, Luật gom tiền và hầm hầm đùng đùng bỏ đi một nước. Bạn là trên hết, bạn là số một của đời Luật mà.

      Tôi đứng dậy vội lau khô tay, lật đật leo lên cầu thang, chạy vô phòng, mở tủ ra kiểm: trong tủ vòng vàng xuyến nhẫn còn nguyên, duy chỉ còn vài ngàn đồng thì có thấm vào đâu so với nửa tháng chợ!? (không kể nếu có những bất trắc, ốm đau, thuốc men, mua sữa cho các con, hay những chi tiêu vặt cần trong gia đình, thì đào đâu ra đây hở trời!?). Tôi khổ hết biết, tức quá tôi đập tay xuống nệm bộp bộp, nằm úp mặt xuống gối, gào lên và bật khóc hù hụ.

      Luật vẫn luôn vô tình đến cái độ ấy: “Ai lo mặc ai. Ráng mà xoay xở. Ai chết mặc ai. Tiền nầy tao đem cho bạn bỏ túi”. Thật tình là tháng đó mình ên tôi vắt giò lên cổ chạy ngược chạy xuôi, chạy đi mượn tiền cô bạn, mượn anh chị Tư, để bù đắp vào khoảng tiền Luật đã “xoáy” cho bằng được, mà đem đi cho bạn gây dựng sự nghiệp! Tức cành hông, điên tiết. Ấy thế mà tôi không đành “tình vờ bỏ anh”. Vì sao!?:
      Dao phay kề cổ, máu đổ không màng.
      Chết thì chịu chết, buông chàng không buông.
      Phòng loan trải chiếu rộng thình.
      Lăn qua đụng cái gối tưởng bạn mình, anh ơi!
      (cd)

      Nhất là Luật nhiều lần ngọt ngào, đằm thắm nỉ non ngâm những câu thơ trữ tình (vã chăng do tôi mê thơ, mê đàn, mê anh đánh đàn, mê anh hát, và anh đánh trúng yếu điểm tim đen vợ) từ hồi trẻ dại anh theo bén gót chân tôi, bám riết không hề “xa” nửa bước:

      Cho tôi hỏi đàn bà là chi rứa?
      Là những gì rung động trái tim ta.
      Làm cho ta cảm thấy nổi da gà.
      Là gặp gỡ, xốn xang, là tiếng sét...

      Là hợp “gu” vì cùng chung tính nết (!?)
      Là âm thầm nhung nhớ lúc chia xa.
      Là nụ hôn. Ôi rợn cả thịt da.
      Là ẻo lả vòng tay nhưng rất chắc.
      (2)

      Hoặc có nhiều khi Luật đã âu yếm ôm tôi vào lòng hun hít hú hí, khiến tôi “khoái”:
      Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa.
      Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều.
      Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh.
      Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình... dễ thương
      (cd). Vậy nên tôi đã "trút hết" vì chồng!

      Khi Toneh Tẻh đã thành công trên con đường danh vọng rồi, thì anh ta không nhớ những ngày cơ hàn cũ, chẳng nhớ về bạn xưa gì ráo. Tẻh có những “cái ngu lỏi đời đáng sợ” là không nhớ ai đã nhiệt tâm trong những cuộc vận động ráo riết ấy, do ân nhân, thân nhân âm thầm ưu ái đóng góp sức lực, tiền bạc giúp anh? Những người đã hy sinh hạnh phúc, gia đình và có thể nói là cả tính mạng nữa.

      Tẻh quên hết chuyện nợ nần gia đình vợ con ở Đà Lạt, mặc ai lo gì thì lo. Ra sao thì ra. Tới đâu thì tới. Tony Tẻh ở Sài Gòn làm dân biểu mới chỉ bốn năm tháng đầu, Tẻh đã “quơ” ngay một cô “Ba Tàu tình hờ”, dẫu sao thì cô nầy cũng trắng da dài tóc, mập ú nà ú nần, mắt híp, tươi tắn trẻ trung; (hơn bà vợ Thượng già đen dòn quê mùa cũ mèm của Tẻh). Trong bữa ăn đầu tiên ở nhà hàng Nhất Dạ Đế Vương, Tẻh đã chọc ghẹo nàng tiếp viên:
      Trúc xinh trúc mọc đầu đình.
      Em xinh em hút thuốc lào cũng xinh.
      Nếu mà không lấy đặng em
      Anh về đóng cửa cài rèm đi tu
      (1)
      Nàng đi học trường Tàu đã đành, lại biết đọc biết viết tiếng Việt kha khá, liền đối đáp:
      Tu đâu cho em tu cùng.
      May ra thành Phật thờ chung một chùa.
      Phải chi cắt ruột đừng đau.
      Để em cắt ruột em trao anh mang về
      (1)

      Tuyệt vú mèo chưa! mây mưa nước nôi “hữu duyên thiên lý tương năng ngộ” nhỉ! Thế là Tẻh mê em tít thò lò, mê em híp mắt, si mê “ẻm” ngay từ “thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Tẻh thèm “ẻm tình hờ” quá cỡ thợ rèn. Cá đã cắn câu do mấy anh xì thẩu cố gài độ,̣ muốn câu móc anh chàng xứ núi già còn “dại gái” tòn ten tỏn tẻn với cô ả ỏn ẻn, ngỏ hầu bọn tài phiệt dễ bề móc nối, xí xa xí xô “làm ăn chuyện lớn” ở nhiều mặt thiết thực khác.

      Tẻh híp mắt với danh vọng, lạm dụng tình thân, an nhàn sung sướng riêng bản thân, anh về quê xây một căn nhà đồ sộ, mua nhiều hecta đất, mua đàn bò, và mua một căn nhà gạch xây sang trọng ở cuối đường Hoàng Diệu. Ở Sài Gòn Tẻh mua sắm cho bà bé nầy không thiếu thứ gì sang trọng trong một ngôi nhà thuê bao rộng rãi tiện nghi tại Hoà Hưng. Đầy đủ. Trọn vẹn, Tẻh càng vinh thân phì da sung sướng tê người. Bà vợ bé của Tẻh béo ơi là béo phì, còn trẻ, nói tiếng Việt trọ trẹ, nhưng hiểu nhiều, nói nhiều nói luôn mồm nghe thật tức cười. Hạnh phúc ào ào trút xuống lưng, trút xuống vai anh ta:
      Trẻ em thường thích ở trần.
      Nhưng mà người lớn muôn phần thích hơn.
      Nhớ hôm bụi chuối sau hè.
      Giỡn chơi chút xíu ai dè có con.
      (2)

      Năm sau “con đĩ Ba Chệt*” (từ nầy là do bà vợ lớn của Tẻh dám trịch thượng ám chỉ bà nhỏ kia thôi. Còn tôi... có đánh chết tôi, tôi chả dám nào), đã “sản xuất” cho anh ta một con bé ngo ngoe bụ bẫm. Trong khi chúng tôi muốn khuynh gia bại sản. Mỗi lần nghe tin Tẻh về quê, Ngọc, Luật lái xe jeep đến nhà. Tẻh tiếp bạn nhạt nhẽo, gượng gạo, lãnh đạm, ú ớ ù ơ, lầm lì. Nhiều khi Tẻh né tránh không giáp mặt. Người gì mà quá đổi tệ bạc vô ơn đến thế không biết. Hầu như chuyện nợ nần, đền ơn đáp nghĩa những ân nhân, thân nhân Tẻh coi như pha.

      Chức phận của Tẻh chỉ là hư danh, thực tế Tẻh chưa giúp ích thiết thực cho cư dân ở Tỉnh nầy và cho đời (nói chung), và anh chả trả nợ ân tình và nợ bạc tiền cho nhóm tôi. Tôi quên nói là sau khi “Tẻh hiền lành” (trên vài khía cạnh nào đó) với tư cách là đồng viên ở pháp nhiệm I và II đắc cử dân biểu, thì bao nhiêu lời hứa hẹn, (nợ nần tiền bạc xưa của Tẻn chưa trả cho tôi), đều bay theo bà vợ bé nầy. Gia đình tôi và các bạn đã gieo lúa trên đá rồi.

      Tại nơi nhà Tẻh ở Hòa Hưng hôm nay vừa có thêm gia đình bà vợ lớn và năm đứa con Tẻh gùi những cái gùi to lớn đến lánh nạn. Mỗi buổi sáng bà bé ngủ dậy sau chín giờ, bà ta ẳm con nhỏ hơn một tuổi, (và có cái bụng bầu năm tháng nữa) đi chợ xong, bà bé về nhà quăng giỏ xách cái bạch xuống nền gạch, giống như bố thí.

      Thì tôi và bà vợ lớn của Tẻn lo xúm lại nấu nấu, xào xào, chiên chiên vài món ăn. Rồi hai gia đình chúng tôi xúm xít ngồi ăn với nhau. Bà bé không hề ăn, bà chỉ ngồi trên võng ôm con đong đưa, và nhìn ngó chúng tôi chằm chằm, mà nói nói nói... Ăn uống đạm bạc như thế, khiến bà vợ lớn tức giận. Hầm hầm mặt, bà nói nhỏ với tôi:
      - “Ớt nào mà ớt chẳng cay. Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng”. Con đĩ Ba Chệt*” nầy đã cướp chồng tôi. Nó cướp hết tiền của trong gia đình tôi. Vậy mà nó cho cả nhà mình ăn uống tầm thường hí. Trong khi ngày ngày nó đi chợ ăn quà, chiều chiều nó đợi ổng về, là nó tót đít đu lên sau xe honda, ôm siết, bu ổng như đỉa, bắt ổng chở đi ăn tiệm sang hà, không phải à, nè:
      Bồ hay mơ mộng mông lung.
      Vợ rất thực tế vô cùng đáng yêu.
      Bồ luôn đòi hỏi đủ điều.
      Vợ lo cơm sáng cơm chiều quanh năm.

      Bồ chỉ lo chuyện ăn nằm.
      Vợ thường chịu đựng cả năm mới tài.
      Bồ nào nghĩ đến tương lai.
      Vợ lo tính toán chuyện dài mai sau.
      (2)

      Tôi khuyên can hoài, năn nỉ mong bà có thể hòa thuận đôi đàng thân ái xí, nên bà lớn chưa nổi sùng, nguôi ngoa nhẫn nhịn đôi chút. Nhưng tối tối, khi “hai ông già bà trẻ phong lưu” hú hí du dương đi ăn cơm tiệm về, thì ông Tẻh ỏn ẻn chào hỏi bà lớn xí, nói lí nhí vài ba câu tiếng Thượng xã giao qua loa lạt lẽo. Rồi ông lật đật lẽn vô phòng bà bé, khóa chặt cửa và ở riết, cho đến sáng hôm sau ông vội vàng ra đi. Chỉ vì ông trót:
      - “Trồng trầu thì phải khai mương.
      Làm trai nhiều vợ biết thương vợ nào
      ”? (2)

      Điều kém tế nhị, trắng trợn và không biết cách xử trí nầy, khiến vợ lớn cáu tiết, bà nỗi cơn ghen bốc lửa tam bành lục tặc, không thể ngậm câm nhìn cảnh chướng tai gai mắt, cố làm ngơ hoài, nổi sùng lên bà tức giận không thể tả, vợ Thượng ngồi chờ sẵn ở phòng khách, (nơi gia đình bà lớn đang trải manh chiếu ra sàn gạch, để ngủ mỗi đêm, cạnh ngoài cửa phòng ngủ của họ, thiệt là không công bằng!).

      Khi hai anh chị “Thượng-thư và Tàu ú nù đĩ-ba-chệt*” (*bà vợ lớn vẫn trịch thượng thẳng thừng ù ơ như thế, có lẽ không chua ngoa lắm hì) ung dung vui vẻ trở về sau buổi ăn cơm ngon lành ngoài tiệm. Bà bé vừa bế con nhỏ tọt vào phòng ngủ, thì bà lớn không thể nín câm nữa, bà túm ngay cổ áo đức ông chồng, khiến ông lớn bị bất ngờ, chao đảo chới với tay chân. Bà lôi giật ông xềnh xệch quay ngược ra phòng khách, bà lớn trợn trừng tráo trưng, nghiến răng chưởi chồng một tràng dài, như bắn súng đại liên thanh bằng tiếng Thượng pha tiếng Việt, lẫn tiếng Tây, chêm chút chút tiếng Anh. (bà có học ở trường Domain De Maria đàng hoàng, ngu sao bà không xổ cả chùm... nho ra, cho con nhỏ kia nể sợ mà khiếp vía, hì).

      - Nè ông Tẻh đừng tưởng bở nhá, tuy tui là người Thượng, nhưng theo học trường đạo do soeur đầm Tây dạy đàng hoàng. Tui biết ông chê tui già, quê mùa, xấu xí, có thể không xứng với một dân biểu, (tui rành ba bốn ngôn ngữ mà ông chê, là lầm đấy)! Ông sinh ra ở chế độ mẫu hệ, mà có cái tội tày trời là ngang nhiên “tự tiện” dấu nhẹm tui con mụ kia, con riêng, và giờ đây “con đĩ” mang thêm một cái bầu bốn tháng. Úi Trời! đầu năm một đứa, cuối năm một đứa:
      Trứng rồng lại nở ra rồng.
      Liu điu lại nở ra dòng liu điu”
      (cd). “Đồng vợ đồng chồng, con đông mệt quá”! Chẳng lẽ tui để cho ông mang tiếng sở khanh quất ngựa truy phong:
      Yêu em mấy núi cũng trèo.
      Đến khi em chửa mấy đèo anh cũng dông
      ” sao cho đành! Ha!

      Ông lớn đứng như trời trồng cúi đầu im lặng chịu trận làm tình vờ! Thôi thì... ráng nhịn nhục ngoảnh mặt làm kẻ tình lờ. Bà lớn thấy thế cũng nén giận. Nếu bà biết trước hoàn cảnh éo le và “nghịch đồ” như thế, bà lớn sẽ nằm lì tại Đà Lạt, không thèm vô ở cái nhà đầy dẫy chuyện buồn, xáo trộn đủ thứ kỷ cương, không có “tôn ti trật tự phân giai cấp lớn bé” chi cả. Bây giờ bà lớn nằn nặc đòi ông lớn một hai là:

      - Tui nói cho ông Tẻh biết, ông phải đưa ngay tiền của, đưa hết tiền bạc vòng vàng xuyến nhẫn tay hòm chìa khóa ra, để tui quán xuyến. Người ta nói: “có tiền mua tiên cũng đặng”, thì nhằm nhò gì chuyện ông Tẻh có con qủy cái ú nần lùn xủn mắt ti hí kia! Tui sống với ông có giá thú hẳn hoi, còn con kia nếu ông khai gian làm giá thú giả với nó, thì tui cho cả lũ vô tù mút chỉ cà tha. Tin đi, rồi một mai lá rụng về cội, ông chẳng tiếc cái tình vờ ấy, mà ông sẽ quay về “cây đa bến cũ con đò năm xưa” cho coi! Ông và nó không có một đồng xu dằn túi, thì mẹ con tình lờ đĩ ba chệt ấy phải ra đi khỏi đời ông, ông xa nơi trơ trẽn hắc ám đầy chướng tai gai mắt. Coi ai chết nhăn răng, cho biết mùi đời cái tình hờ mà ông cho tôi nếm hôm nay. Há...

      Tôi ngạc nhiên và thừa nhận là bà lớn tuy ở chung một nhà với bà bé, dù bất bình và rất ghen lẫn yêu thương chồng con lắm. Nhưng bà lớn khá biết điều, bà chỉ béo, ngắt, cú đầu ông xí, cằn nhằn lải nhải dày vò ông chồng biết cúi đầu hổ ngươi, đỏ mặt tía tai ti tí. Bà lớn có bản lĩnh, lịch sự nghiến răng trèo trẹo, ghé môi vào sát bên mang tai chồng, nhưng khiến ông lớn thật sự run sợ. Bà biết giữ danh dự cho ông chồng dân biểu! Khâm phục.
      *
      (1) ca dao
      (2) thơ tiếu lâm & sưu tầm lượm lặt đó đây.
      ***

      Tình Hoài Hương
      Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-17-2017, 08:20 PM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • Tinh Hoai Huong
        Senior Member
        • May 2009
        • 1081

        #198
        Những Ngày Tao Loạn




        Những Ngày Tao Loạn


        Khổng Tử đã nói:
        "Kẻ sĩ lo trước cái lo của thiên hạ. Vui sau cái vui của thiên hạ”.
        Cũng như cổ nhân Nguyễn Trường Tộ đã nói:
        Nhất thất túc thành thiên cổ hận.
        Tái hồi đầu thị bách niên thân”.
        (Một bước lỡ để nghìn năm mang hận.
        Ngoảnh đầu trông lại đã trăm năm
        ).

        Quả thực như thế. Những người lính làm viên gạch lót đường cho danh vọng, tham tàn, bạo lực, oằn vai nặng gánh, lưng gồnh mối thù phân chia hai miền Bắc. Nam: Nay người lính đem xương máu ra chiến trường đã là, đang là những viên gạch lót đường, dài dài… từ vĩ tuyến 17, nơi con sông Bến Hải có cầu Hiền Lương nghẹn ngào đớn đau tạm thời phân giới hai miền Nam Bắc. Họ quyết ở lại miền Nam Việt Nam dựng nước và giữ nước. Một thời gắn bó keo sơn mặc dù biết mình vô tình làm ván bài mưu lược chính trị sục sôi. Họ vẫn chia nhau ra trấn giữ đất nước, cố duy trì sự tồn-hưng một quốc gia trong thời chiến tranh:
        Giống như Mã Viện xưa đã nói:
        - “Làm trai, nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn, mới đáng qúy. Chớ chết trong tay lũ trẻ nâng đỡ. Nào có hay gì"!

        Phân chia là thế! Nhưng lòng yêu nước thiết tha và hoài bão mong ước tự do an bình, ấm no cho toàn dân, thì “Quan, Tướng và Lính” đều có ước vọng giống nhau. Hôm nay nếu trải qua chung cuộc ngậm ngùi trong cơn xoáy đục ngầu, tưởng đã chia phần đều nhau: Là vậy. Ngày đêm kề cận sự chết, chiến tranh tàn khốc xảy ra trên từng đoạn đường giao tranh, trên những bước ngắn bước dài, bước thấp bước cao. Lòng lính càng quặn từng cơn đau buốt, khi họ đi kè kè hai bên lề đường: để hộ tống từng đoàn dân di tản tất tả chạy dọc theo ven những quốc lộ trên triền quê hương.

        Sau 21 giờ - ngày 29-4-1975 - thiết quân luật bắt đầu 100%. Màn đêm đã sớm về đến khi khuya lắc khuya lơ, chúng tôi vẫn đứng thấp thỏm, thập thò từ trong cửa sổ ở phòng ngủ Hotel Hưng Đạo 2 đã tắt hết đèn đóm, tôi nhìn xuống đại lộ Trần Hưng Đạo, thì thấy lố nhố hàng hàng lớp lớp lính tráng: Tôi âm thầm quan sát “những tình thương và sự hy sinh cao cả bên lề cuộc sống”: Nào là: Thủy-quân Lục-chiến. Nhảy Dù. Biệt Động Quân. Bộ-binh, vân vân... (không kể có ba Lữ đoàn Dù. Ba Liên đoàn Biệt Động Quân đóng tại Hóc Môn. Gò Vấp. Bình Chánh. Nhà Bè. Tân Sơn Nhứt).

        Quân đội đã đặt những ụ súng cối, súng máy, do các chiến hữu Sư-đoàn 5 – 18 – 22 – 25, ngỏ hầu chu tất việc bảo vệ an toàn lãnh thổ Việt Nam, Thủ-đô, và lương dân vô tội. Cứ một giờ, tốp lính nầy đến gác, là tốp kia lầm lũi âm thầm ra đi... Súng dài gác bên nhau, mũi súng chụm vào chỉa lên trời, báng súng dựng dưới mặt đường nhựa. Họ nói rất khẽ hay chỉ lặng lẽ ra hiệu lệnh. Họ là những quân nhân Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa anh dũng quyết chiến đấu, hy sinh đến giờ phút cuối cùng. Súng lại đeo lên vai nòng chĩa xuống đất, họ lặng lẽ và tuyệt đối vâng lời thượng cấp, từ từ rút lui có quy củ, trật tự tôn nghiêm trong hàng quân ngũ. Họ nhìn nhau lặng lẽ nhếch miệng cười qua cái bắt tay giã từ vừa đủ chặt, dường như âm thầm nói lên niềm đắng cay, trào dâng trên sóng mắt tiếc thương, quặn đau trong lòng họ sự hy sinh vô vụ lợi, không điều kiện.

        Từng tốp lính mười tốp bảy người, nhiều vô số đang nằm gối đầu trên vĩa hè, tay gác lên trán tư lự. Có người đứng hoặc ngồi bên đường. Dù ở trên vĩa hè, quân nhân đều có trật tự, nhịp nhàng, kỷ cương. Họ chia nhau ra canh giữ quê hương trong giờ phút lâm nguy khốn cùng. Những đóm lửa nhỏ lập loè loé lên trên bờ môi khô. Những đôi mắt dường như đọng ngấn lệ tủi hận đầy bi ai. Có người đang mặc áo giáp, đăm chiêu suy tư, bơ phờ, hốc hác. Có người đội mũ sắt, hất ngược mũ ra sau gáy, sợi quai mũ cứa vào cục yết hầu oan gia nhô cao cay đắng chạy lên chạy xuống cuống cổ. Có người đội mũ sụp che xuống gần tới mí mắt. Có người đội mũ lệch qua một bên. Họ mang giày đinh lấm lem bụi đỏ, lưng đeo ba lô nặng trĩu đường hành quân, râu ria lởm chởm, tóc tai không mấy chỉnh tề. Những bàn tay anh tài vẫn đưa lên ngang tầm mắt, nghiêm nghị đứng thẳng, ngực ưỡn ra oai vệ chào thượng cấp.

        Bỗng dưng tình hình chính trị quyết liệt căng thẳng, vận nước đột biến từ góc 45/o, chỉ trong một tuần ngắn ngủi, vụt nhảy tọt lên 360/o nhanh như chớp. Khiến tôi vô cùng hoang mang, bàng hoàng sửng sốt, lo lắng, buồn phiền, bối rối tột cùng. Trở lui mắc núi, đi tới mắc sông, xoay quanh mắc vòng lẩn quẩn đủ mọi thủ thuật rối rắm. Mặc dù các bạn trong nhóm có nhiều sáng kiến, có nhận thức thời cuộc chính xác và quyết định đúng đắn, nhưng dẫu sao họ ở nơi xứ lạ quê người ồn ào náo nhiệt, tột cùng hổn loạn thế nầy, bốn anh ấy giống chú khỉ bị nhốt trong chuồng kín ở hotel Hưng Đạo 2: lòng và trí nóng như lò lửa, thì có tài giỏi đến mấy, họ cũng không biết đâu mà mò.

        Tuần trước, bốn anh trong nhóm chờ đợi bầy trẻ nhỏ ngủ yên, liền khều mấy bà qua phòng tôi, để bàn tính chuyện lủi xuống miền Tây. Vì, nghe nói tại miền Tây bây giờ hoàn toàn bình yên tĩnh mịch. Vã lại Ngọc đã cho ba của anh đi xuống miền Tây dò đường đi nước bước trước rùi. Ngọc dặn dò ông ba nếu thấy tình hình bất ổn, thì ông lo tìm đường trở về Sài Gòn, hoặc đi ra Phú Quốc. Ngọc ấn định ngày giờ sẽ gặp ông ba ở điạ điểm chính xác ở miền Tây, nếu không y hẹn, có nghĩa là Ngọc sẽ đưa bầu đoàn thê tử, “hò” bạn bè cùng nhau ra đi. Ý kiến cuối cùng: mình phải sáng suốt dứt khoát ra đi, khi thấy Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa đã triệt thoái hết về miền Nam, thì ở miền Tây ắt sẽ còn là nơi vững chắc như đinh đóng cột.

        Tôi sống tạm bợ nơi Sài Gòn xa hoa, nhộn nhịp, và lắm xô bồ trong tháng 4 năm 1975, với ngàn lo âu, run sợ hãi hùng đầy cay đắng, băn khoăn lo lắng trăm mối tơ vò. Tin dữ loan ra thì có, tin lành về lại không. Nhìn xuống lòng đại lộ Hưng Đạo 2, tôi càng run rẩy nghĩ rằng: “Trận chiến nầy, hẳn là sẽ đến hồi quyết liệt để giành thắng. Nay mai sẽ có giao tranh trên cùng khắp các nẽo đường. Chạy đi đâu cho thoát ra khỏi con ngỏ sâu hun hút, đầy đạn bom đây! Hở Trời!? Tôi vô cùng hối hận khi đưa gia đình về đô thành. Chạy đi đâu, cũng không thể thoát khỏi nanh vuốt chiến tranh bạo tàn. Thì thà rằng cứ ở yên lại Đà Lạt, có lẽ gia đình tôi không đến nỗi nào khổ sở đến thế”!

        Trên những con đường lớn nhỏ tại Sài Gòn đều đông nghẹt người đi bộ, người ta đông hơn kiến tràn ra ngoài lòng lề đường, chen lấn nhau đi kẹt cứng. Mặc cho từng hàng xe hơi đủ loại, xe gắn máy, xe đạp, xe xích lô, xe ba gác vân vân… chồng chất đủ mọi thứ lỉnh kỉnh lên xe. Họ ùn ùn hối hả đi đi, về về! Đi đâu?! Về đâu?! Hầu hết các doanh trại ven đô, các công sở ty mỏ, và thường dân lo đào hầm hố cá nhân. Những đại công sở và cao ốc, cũng như ngoài những đại lộ, gần trung tâm Sài Gòn đều ráo riết chuẩn bị. Thế mà bà mẹ Ngọc và hai cô Quy, Cúc, ung dung dẫn nhau đi từ hotel Hưng Đạo 2 tà tà qua chợ Đũi, xuống chợ Thái Bình dạo chơi, rồi ba mẹ con tấp vào ăn bún ốc, bún thịt nướng, ăn xoài, dưa hấu, thơm. Họ ăn xã láng... ăn đã đời.

        Mấy tháng trước lo lánh nạn từ Cam Ranh chạy riết dài dài về đây, họ ăn uống có phần tiết kiệm khổ sở. Bây giờ yên ổn nơi thành phố vinh sang giàu có, họ cũng sẵn tiền dư bạc rủng rỉnh như ai, ngày ngày ở không trong phòng ngủ không biết làm gì, chẳng lẽ có bộn tiền có vàng leng keng trong túi, mà phải nhịn thèm “ăn mì ngóng cháo ngó” sao. Thế là ngày ngày họ đem con cháu đi ăn hàng xã láng cho đã. Lúc nào về phòng ngủ cô Cúc cũng khệ nệ bưng thêm: Khi thì quày chuối già hương to bự sư, mít ướt, mít ráo, hoặc một chục xoài cát thơm lựng. Do mấy bà vợ thừa nước đục thả câu, được đằng chân lần lên đằng đầu, cô Cúc cô Quy tha hồ leo lên đầu lên cổ đức ông chồng nhẫn nhịn hiền lành, tha hồ ăn hiếp chồng. Cánh đàn ông yêu quá hóa sợ mấy mụ vợ một phép, mặc “bà” muốn làm gì thì làm, lớp đàn ông im re xép ve:
        Lỗ mũi mười tám gánh lông.
        Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
        Đêm nằm thì ngáy o o.
        Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
        Đi chợ thì hay ăn quà.
        Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
        Trên đầu những rác cùng rơm.
        Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
        (1)

        Sau vài ba ngày no say ăn uống, thì bà cụ Tài đau bụng, trên ói dưới té re, thổ tả thổ te tá lả hoài! Bà cụ Tài tái phát bệnh đau bao tử ói ra máu tươi, máu bầm, máu loãng, rồi ói ra mật xanh mật vàng. Bà ôm bụng gò lưng quằn quại rên la dữ dội. Anh Ngọc vội vàng thuê xích lô chở bà đi cấp cứu tại bệnh viện Sài Gòn. Đã biết là bà cụ đau bao tử kinh niên, mà còn dám “tộn” mấy thức ăn mát mẻ thế, nếu bà không đau bao tử, cũng bị té re là cái chắc! Không biết bà cụ trúng độc do ăn bún ốc, hay cụ ăn quá nhiều thứ mà “trúng thực”? Ngày ngày chúng tôi ghé vô bệnh viện thăm, thấy bà cụ có phần thuyên giảm. Ngọc bảo cô Cúc ở lại bệnh viện trông coi mẹ. Còn anh sẽ đưa vợ con, gia đình cô em gái là Quy, cùng chúng tôi đi xuống miền Tây trước. Lúc nào bà mẹ khoẻ hẳn, thì cô Cúc sẽ đưa mẹ đi xuống Bạc Liêu. Nghe thế, bà mẹ Ngọc dù rất yếu, bà lắc đầu quầy quậy, giẫy nẩy lên, chồm dậy khăng khăng nhất định đòi trở về hotel. Nếu có đi đâu, mà bà đi không nỗi, thì cõng bà đi cùng, chớ không trước không sau gì cả. Bà rất sợ con trai bỏ rơi. Bà thất kinh hồn vía, không dám kêu rêu con dâu bắt bà nhịn đói, không rên siết trước mặt Ngọc, bà không dám ăn uống bậy bạ nữa.

        Ngọc đành chìu ý mẹ già, anh đưa mẹ về nghỉ tại hotel Hưng Đạo 2. Thật kinh hồn, chúng tôi chỉ sợ lây lan hết cả đám, thì khốn. Bà phải ở cách ly mình ên. Ngọc đi rước bác sĩ tư đến khám bệnh ghi toa, liền đi mua thuốc về cho bà uống. Anh Bàn phụ Quy, Luật, khiêng những tấm nệm chuyển qua phòng của tôi, đặt nệm ở giữa nền gạch cùng nằm xếp lớp với nhau. Bốn gia đình ngủ chung hai phòng cho ấm áp tình người. Chúng tôi cảm thấy vui vui, cũng đỡ lo sợ và buồn. Do thế, chuyện dự tính cả nhóm về miền Tây trước ngày 30-4 đã không thành. Phần vợ chồng tôi, khi thấy tình hình bất an, thì Luật chạy đến nhà anh Tạo rước bà mẹ anh xuống ở phòng ngủ. Tôi đến nhà Yến Nga để hỏi thăm tin tức.

        Ở nhà, bốn đứa con của tôi tự trông coi nhau. Chẳng may bé Tồ bị đau bụng ỉa chảy té re. Bé Tuấn thay đồ cho em, giặt giũ áo quần, lau chùi phòng sạch sẽ. Bé DZũng tắm rửa cho em, cõng em và dỗ em ngủ. Bé Bi sợ hãi chui vào gầm bàn trốn, và ngủ quên trong xó góc. Khi trở về phòng trọ, nghe các con nói lại, tôi sợ hết hồn. May mắn là bé Bi chỉ đi cầu hai lần. Tôi cho con uống thuốc, (tôi đã mua sẵn đầy đủ mọi thứ thuốc dự trữ phòng hờ). Ngày hôm sau con đã thuyên giảm nhiều. Tôi lo sợ là con bị lây chứng thổ tả từ bà cụ mẹ của Ngọc thì khốn!

        Chỉ trừ những đứa trẻ ngây thơ vô tội là ngủ chập chờn trong bóng tối mờ mờ. Còn mọi người lớn thì tắt hết đèn đóm, ngồi tụ vòng tròn lại một góc phòng, nơm nớp lo sợ và mong trời mau sáng. Ngoài đường vắng ngắt đến ghê rợn, khuya Sài Gòn càng khuya càng hoang vắng lạnh lẽo, bầu trời vần vũ mây đen báo hiệu cơn mưa đầu mùa. Đến năm giờ sáng thì quả thật trời đổ cơn mưa rả rích, kéo dài hơn ba giờ, trông thật ngao ngán. Cánh đàn bà lo chuẩn bị làm mì gói cho cả nhóm ăn, uống nước suối Vĩnh Hảo. Bốn người đàn ông bàn tính với nhau là: để tránh tai mắt người khác tò mò dòm ngó, và không biết tông tích của mình làm gì, ra sao, đi đâu, thì bốn anh sẽ đưa từng nhóm ra đi.

        Điểm hẹn là ở nhà thờ Ngã Sáu (nhà thờ thánh Jeanne D’ Arc, trong khu nghĩa trang Huê kiều, do người Pháp gọi là Plaine Des Tombeaux, ở 116b Hùng Vương, phường 9 quận 5). Luật hướng dẫn lộ trình chu đáo, anh nhắc đi nhắc lại: ai không nhớ, thì ghi vào sổ tay, kẽo nơi xứ lạ không thuộc đường, lớ quớ sẽ lạc nhau. Cứ mươi phút là có một nhóm rời phòng ngủ. (Làm như chúng tôi đi quỵt nợ, trốn nợ tiền phòng không bằng. Mặc dù chúng tôi đã chi trả hết tiền ba phòng nầy, và đặt cọc phòng thêm trước mười ngày).

        Anh Bàn không có vợ con gia đình bận bịu lu bu bên cạnh, nên anh rảnh tay dìu bà cụ Tài bệnh hoạn, cùng cô Cúc ẵm đứa con gái ba tuổi ra đi đầu tiên. Kế đến là gia đình Quy. Gia đình Ngọc, sau rốt là gia đình tôi gồm bảy mạng lủi thủi ra khỏi hotel. Tôi đứng trên cửa sổ tầng hai nhìn mấy anh chị lạ nước lạ cái cúi đầu lầm lủi ra đi, nhất là những đứa trẻ yếu ốm xanh xao, ngây thơ, hồn nhiên vô tội. Sao ai nỡ lòng để con em sớm bơ phờ nếm mùi đau khổ, gánh lấy nỗi ưu phiền, cơ cực đắng cay cuộc đời làm vậy! Tôi cảm thấy thật buồn.

        Bốn nhóm gặp nhau ở nhà thờ ngã sáu rồi, lúc đó đã có nhiều người đi bộ, đi xe đạp, xe honda, xích lô qua lại trên đường đông đúc hơn. Tuyệt nhiên không thấy xe nhà, taxi hoặc xe bus. Chúng tôi ngoắt mãi vẫn không có chiếc xích lô máy, hay xích lô đạp nào chịu ngừng. Chẳng biết họ vội vã chạy đi đâu! Mãi về sau lâu thật lâu mới có hai chiếc xe ba gác trờ tới. Luật mặc cả giá xong, liền cho hai bà cụ cùng bầy nhóc ngồi lố nhố trên xe. Bốn anh kia phụ hai ông ba gác đẫy xe đi tà tà. Chúng tôi dắt díu nhau lẽo đẽo đi xuống khu Chợ Lớn. Quang cảnh ở Chợ Lớn khác hẳn ở khu Sài Gòn. Nơi đây ồn ào náo nhiệt đông đúc, người ta tụm năm tụm mười đông đen trên đường phố xí xa xí xô đi đi, nói nói, la la mắng chửi om sòm, buôn buôn bán bán đủ mọi thứ.

        Thỉnh thoảng mới có chiếc xe bus khác tuyến đường chật như nêm vút qua, chạy về hướng xa cảng miền Tây. Ngọc vào nhà bạn thân cùng làm việc ở gần chợ Tam Biên, để dò hỏi tin tức cập nhật. Luật cũng có bạn Thành ở đường Nguyễn Tri Phương. Lúc bạn hai đến nhà đó, mọi người trong nhóm ngồi bệt ngoài vĩa hè nghỉ mệt chờ đợi Luật, Ngọc vào hỏi thăm tin tức. Kiểm chứng lại những tin nghe ngóng suốt dọc mấy lộ trình, thì mỗi người nghe một cách khác hẳn, người nói thế nầy, người nói thế nọ; càng hoang mang, băn khoăn, bồn chồn, lo lắng, rối tung rối mù, không phân định được điều gì xác thật là đúng, điều gì sai. Toàn nghe những tin vu vơ mù mờ như vịt nghe sấm.

        Chúng tôi không rành đường dưới khu Chợ Lớn, nên cứ đi lo lắng sợ sệt đi lung tung loanh quanh đường nọ qua đường kia, đi vòng vòng khá xa Chợ Lớn. Chẳng biết tại sao chúng tôi quay trở về ngã Bảy? Khùng thiệt. Cuộc ra đi nầy thật vô duyên ngớ ngẩn hết chỗ nói. Thế là chúng tôi mò mẫm tìm về nhà thờ Huyện Sĩ. Tôi bàn với Luật để tôi đến khách sạn Hưng Đạo 2 lấy lại những đồ dùng cần thiết, đem đến nơi nầy. Luật quát mắng tôi:
        - Coi chừng tiếc của mà toi mạng. Bỏ hết.

        Tôi tiu nghĩu buồn xo theo các bạn vào cha chánh xứ xin cho ở nhờ ngoài vĩa hè trong khuôn viên nhà thờ Huyện Sĩ. Nhà thờ hình cung nhọn oai dũng với công trình thiết kế quy mô, đặc thù, tinh xảo, khang trang xinh lịch, còn được gọi là nhà thờ Chợ Đũi xây năm 1902. Thiết kế giáo đường do đức cha Bouttier kiến trúc theo phong cách gothique tuyệt tác tinh vi, cao sang với vật liệu đá granit. Do ông bà Huyện Sĩ Lê Phát Đạt giàu có nhất thời ấy bỏ tiền ra xây dựng. Sau khi tạ thế hai ông bà có mộ xây bằng đá cẩm thạch ở hậu cung. Hầu hết mọi người quá mỏi mệt ngao ngán chán chường, chẳng thiết tha sự gì ngồi bó gối ủ rũ buồn chán nơi xó góc trong một lớp học bỏ trống. Ông trùm họ đạo nầy đi lễ về ngang chỗ chúng tôi đang ngồi co rúm một xó, thấy chúng tôi hốc hác, trẻ con bơ phờ lem luốc nằm la liệt lăn lóc trên vĩa hè nóng và hanh nắng. Ông vào tận nơi tôi ngồi, ân cần hỏi thăm qua loa, rồi ông bảo tôi cử đại diện vài người đến nhà ông, để ông tiếp tế cho ít thức ăn.

        Cô Quy, Cúc và tôi lẽo đẽo theo sau lưng ông, đến bên hai cánh cổng sắt màu xanh kín mít to cao lút đầu người. Mở ổ khoá cánh cửa sắt nhỏ phụ kế bên, ông mời ba chị em vào nhà ba tầng lầu có vườn cây trước sân mát mẻ, rộng rãi, ngôi nhà bề thế sang trọng xây đá hoa cương lát gạch men bóng láng. Ông mời chúng tôi ngồi ở sofa da nhung đỏ. Ông đi xuống nhà bếp. Chúng tôi chưa kịp quan sát kỹ lối trang trí tân thời trang nhã vinh sang trong phòng khách, thì bà vợ ông trùm và mấy con cháu gì đó từ phòng bên cạnh, xách ra ba bốn tụng đồ ăn thức uống đầy nhóc, nhiều nhất là mì gói, bánh mì khô, cá khô, tôm khô, khoai lang, dưa leo và củ sắn. Thêm một tụng khá to quần áo trẻ con, một tụng nhỏ hơn bốn tụng kia đựng độ năm bảy lít gạo, (bà vợ chu đáo lo đầy đủ, hình như bà đã nghe ông chồng kể lại, hoặc là gia đình họ đã từng làm việc thiện nầy, tôi không biết).

        Ba chị em tôi cảm động ứa nước mắt, rối rít cảm ơn lòng từ bi thiện nguyện của ông bà trùm họ đạo Huyện Sỹ. Khệ nệ bưng các giỏ xách về lại góc trường học, chúng tôi cảm thấy có phần vui vẻ an tâm. Cô Quy, Cúc và chị Ngọc xúm lại chia nhau áo quần con trẻ. Còn tôi không nhận (vì đang có, tôi đã vứt bỏ lại ở hotel nhiều lắm, chỉ mang đi những bộ quần áo cần thiết, vậy mà các con mang vác còn không nỗi, nữa là tham lam chi mà quơ vô thêm sao). Mấy chị em rủ nhau đi ra chợ Đũi mua hai cái nồi lớn, mua tô chén, muỗng, đũa, rổ, rá, củi, ba bó rau muống, mắm muối, chút bột ngọt, chuối cau, mua bình để nấu nước, mấy chai ni lông đựng nước (vã chăng thấy ăn uống tầm bậy tầm bạ ở ngoài chợ, sợ trúng nước đi “ị” té re như bà cụ Tài, thì khốn; chúng tôi không dám uống nước trà đá bán sẵn). Có tiền là có của tươi rau ngon.

        Về lại chỗ cũ, Ngọc xin bà từ trông coi nhà thờ cho mượn hai cái lò để nấu ăn. Bà từ vui vẻ bảo chúng tôi cứ vào trong bếp tự tiện nấu nướng, khỏi mua củi hay mượn lò làm gì mất công. Nhưng chúng tôi không lấy củi của bà. Phụ nữ xăn tay áo lên lo làm bếp. Đàn ông đi tắm rửa cho con cháu, và tắm rửa chính họ ở ngoài giếng hay ở vòi nước. Chẳng mấy chốc nồi cơm trắng, canh mì gói nấu kèm với rau muống, trái bầu xắt nhỏ, khô cá sặc nướng, mọi thứ đã chín. Sau một ngày nhịn đói nhịn khát, kéo nhau đi thất thểu lang thang cầu bơ cầu bất ở ngoài đường mệt mỏi rã rời. Giờ đây cả nhóm ngồi bệt dưới nền xi măng, quây quần quanh hai mâm cơm nóng sốt. Một mâm dành cho trẻ con được cho ăn trước. Một mân cơm của người lớn thì ăn sau. Đây là buổi cơm tối thanh đạm, nhưng quả thật lần đầu tiên trong những ngày xa xứ, kể từ khi tôi về Sài Gòn ăn bữa cơm nầy cảm thấy rất ngon miệng. Thiệt đúng:
        Đầu tôm nấu với canh bầu
        Chồng chan, vợ ngó lắc đầu “ham ăn.”
        Bầu ơi thương lấy bí cùng
        Mai sau có lúc nấu chung một nồi!
        (1)

        Lúc đó có hai gia đình ở Huế, Đà Nẵng di tản vào Sài Gòn, họ cũng tay xách tay mang, con cái đùm đề, vừa vào xin ở nhờ, kế bên lớp học cạnh chúng tôi. Luật, Ngọc qua bắt chuyện hỏi thăm, rồi mời cả sáu người ấy qua bên lớp học nầy, vì chúng tôi nấu cơm và canh thật nhiều, nên nhân tiện mời họ dùng cơm. Hai người đàn bà tỏ vẻ e dè khách sáo hơn hai ông kia. Nhưng khi thấy chúng tôi thành thật chứ không qua loa mời lơi, họ cũng vui vẻ nhập vào nhóm. Cô Cúc đi lấy chén đũa của bọn trẻ vừa ăn xong, chạy ra vòi nước rửa sạch và đem vô. Chúng tôi vừa ăn vừa tỉ tê trò chuyện. Chỉ vài giờ ngắn ngủi, chúng tôi đã thông cảm và hiểu thấu những gian khổ, cơ cực trên bước đường gian truân lưu lạc, đồng hội đồng thuyền thật hợp ý nhau. Được biết hai gia đình Tâm và Phương có ý muốn về Phú Quốc, vì hồi xưa họ đã sinh sống ở đó. Nghe bạn mới tâm tình, chúng tôi hoan hỉ vui mừng như mở được tấc lòng. Vì quả thực chúng tôi rất muốn đi Phú Quốc, mà ngại một nỗi không rành đường, không biết lối mô tê, sợ lạc vào “mê cung Vẹm”, nên quá ngại ngùng. Tâm nói:

        - Năm giờ sáng ngày mai phải ra bến xe bus Sài Gòn, đón xe đi một lèo tới xa cảng miền Tây, xe không ngừng ở mấy trạm phụ. Một ngày chỉ có ba chuyến xe bus đông nghẹt thôi.
        - Thì ra bây giờ tôi mới hiểu: nguyên ngày nay chúng tôi đón xe bus lẻ tẻ dọc đường tới Chợ Lớn, mà chả thấy chiếc nào ghé trạm, là do vậy.

        Thế là mọi người bảo nhau đi ngủ sớm. Phụ nữ rửa dọn nồi son chén bát, lau chùi chỗ nằm dưới nền xi măng (vừa dùng nơi ăn cơm). Đàn ông lo lùa bọn trẻ về lớp học bên hông nhà thờ, để dỗ con cái ngủ. Chị em phụ nữ xin đi tắm nhờ ở nhà bà từ. Cũng may là ở trong miền Nam lúa gạo dồi dào cò bay thẳng cánh, hầu kịp thời cung ứng cho cư dân ở miền Cao Nguyên và miền Trung, sau mỗi khi thấp kém mùa màng hay thiên tai lũ lụt. Chúng tôi mò tìm về miền Tây là phải lắm. Thật cám ơn nông dân và cư dân ở miền Tây Việt Nam hết sức.

        Những giọt buồn lê thê xin gác lưng mây bay bay sau triền đồi Đà Lạt xa mờ xa nhé! Dù gần hay xa xôi muôn trùng sóng vỗ, thời khắc quý giá nầy vẫn mãi hoài ghi nhớ, chiếm ngữ trong hồn tôi giông bão. Chiến tranh biêu riếu đã hạ bức màn đen trong chung cuộc đầy bi kịch rồi chăng? Ví dù như thế thì họ và tôi hoàn toàn tin tưởng vào cấp lãnh đạo tối cao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tin các cấp chỉ huy đã và đang dấn thân từ các nơi còn trụ lại, rải rác khắp nơi… có thể là:
        - Vùng I : Quảng Nam. Quảng Trị. Thừa Thiên.
        - Vùng II : Dakto. Kontum. Pleiku. Đà Lạt. Khánh Dương.
        - Vùng III : Bình Long. An Lộc. Long Khánh.
        - Vùng IV : Nhất là hy vọng từ Long An về Miền Tây, vẫn còn… trấn giữ.

        "Quốc hữu phân tắc thực" (nước có người giỏi, thì nước mới vững chắc). Mặc dù giàu sự dũng cảm hào hùng của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: từ tất cả các binh chủng đang ở lại rải rác trên quê hương nầy; họ có kiên cường bất khuất anh dũng và oanh liệt quyết chiến đấu tại các chiến trường sôi động khói lửa, hay tại các địa phương, Tỉnh, Thành, nào... Nhưng nếu họ không còn những vị “thủ lĩnh”, họ đã mất cấp lãnh đạo. Hoặc giả họ không có những vị chỉ huy nữa. E là thua chắc!
        Nghĩ thân phù thế mà đau,
        Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê!
        ” (2)
        *
        (1) = ca dao.
        (2) câu thơ của Nguyễn Gia Thiều.
        * * *

        Tình Hoài Hương
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-21-2017, 09:12 PM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #199
          Từ SÀI GÒN tới RẠCH GIÁ





          Từ SÀI GÒN tới RẠCH GIÁ


          Sài Gòn chóa mắt vì đèn điện thắp sáng rực thâu đêm. Tiết trời quang rạng, gió hiu hiu nhè nhẹ phe phẩy mơn man trên đầu cây ngọn cỏ, không gian se lạnh khi màn sương nhợt nhòa buông lơi. Rồi bình minh ló dạng sau những toà cao ốc tráng lệ, oai sang đứng sừng sững trên các thổ cư: vẫn rạng danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông”.

          Bốn giờ khuya chị Ngọc và tôi dậy sớm, tôi nấu nước sôi chờ nguội, để đổ vô bốn chai ni lông to. Tôi nấu ba lít gạo, rang đậu phụng làm muối mè. Chị Ngọc nấu canh mì gói trộn chung với rau muống, và chiên khô cá. Cơm chín, hai chị em lấy khăn ướt mỏng để nhồi cơm nóng thành từng nắm cơm vắt, xắt lát vừa vừa, tôi bỏ cơm vô hộp ni lông mang theo cho mọi người ăn ở dọc đường. Tôi gọi bọn trẻ dậy sớm, cho con cháu ăn chút canh mì gói. Các con cháu còn ngái ngủ, nên ăn rất uể oải. Có lẽ do hôm qua đi bộ nguyên ngày giữa trời mưa, rồi trời nắng chang chang nóng như thiêu đốt, nên bọn trẻ thấm mệt, rã rời, lừ đừ thân xác chăng?

          Sau đó phụ nữ quét dọn, rửa chén bát nồi niêu sạch sẽ, bỏ vào mấy cái bao cói (hôm trước ông bà trùm đã cho quà). Cô Quy và tôi bưng xách mấy giỏ mùng, quần áo linh tinh. Một lần nữa, tôi soạn mấy túi vải các con (tôi đã may ngày hôm trước). Tôi chọn lọc ra mấy bộ áo quần gọn nhẹ, bỏ vào những túi vải cho các con mang theo thay đổi dọc đường. Những thứ khác tôi đem gửi nhờ ở nhà bà từ, xin cất dùm. Bà từ nói:
          - Chị cứ để ở bên vĩa hè, không có ai lấy lầm đâu”.

          Chúng tôi ra đi. Luật một tay dắt bé Bi, tay kia anh xách giỏ cơm vắt, muối mè, khô cá. Bà mẹ Luật mang túi vải bỏ thêm hai chai nước. Tôi bế bé Tồ, một khuỷu tay kia móc thêm hai túi xách quần áo (của tôi và bé Tồ). Bốn gia đình bạn thân là: Ngọc. Quy. Cúc. Bàn; cùng nhập với hai gia đình mới quen là Phương, Tâm; tất cả hăng hái nôn nao vui vui lên đường. Chúng tôi lặc lè đến trạm xe Sài Gòn, kịp lúc có chừng năm chiếc xe bus từ các hướng đi khác nhau, vừa trờ tới. Các anh nhanh nhẹn lùa đám trẻ, đàn bà, lên xe bus đi ra Xa Cảng.

          Trên xe lác đác có ba người khách. Nhóm chúng tôi ngồi sát gần nhau, người lớn cho trẻ con ngồi trên đùi mình yên ổn xong. Nhìn lui nhìn tới chỉ thoáng chốc thì người và người ở đâu túa ra đông nghẹt, chỉ có người lên xe, không có người bước xuống. Hai hàng ghế kín mít không còn chỗ ngồi, hành khách đứng chật cứng trên lối đi lại.

          Thật là may, nếu chỉ chậm trể mươi phút nữa, kể như nhóm chúng tôi không bao giờ chen chân lên xe bus nỗi. Quang cảnh tại bến Xa Cảng miền Tây lúc tửng bưng sáng vô cùng náo nhiệt, hổn độn kinh khủng. Những trạm bán vé đông nghẹt người chen lấn ồn ào hơn vỡ chợ. Thế là nạn ăn trộm, cướp bóc, giật giỏ xách, móc túi, bấm dây chuyền, giựt bông tai, bốc hốt, mò mẫm bóp vú... loạn xạ. Dưới đất thì bọn du thủ du thực rượt đuổi nhau huyên náo, đánh lộn, chửi bới inh ỏi cả một vùng.

          Tới Xa Cảng miền Tây, đàn bà trẻ con nhóm tôi ngồi xép nép, chò hỏ ở một góc kín sát ngoài cửa bến, gần bức tường gạch, (tạo thành một vòng đai tròn sát bên nhau cho bọn trẻ con ngồi ở giữa), các con cháu đứa ngồi đứa nằm gối đầu lên những túi đồ đạc hèn mọn lỉnh kỉnh mang theo. Những người khách đi tới đi lui tò mò đứng lại lỏ mắt nhìn ngó lom lom bầy trẻ bị cái nóng Sài Gòn thiêu đốt, khiến mồ hôi mồ kê chảy ra như tắm.

          Mặt mày con trẻ xứ Đà Lạt đa số xinh xắn, hai má đỏ au như dồi phấn, mắt to sáng môi tươi (tuy suốt hai tháng nay bọn chúng sống lăn lóc, cực khổ, cù bơ cù bất, thiếu ăn thiếu ngủ, mà còn xinh như vậy!). Nhìn những đôi mắt phượng long lanh phảng phất mặt hồ thu Đà Lạt mơ màng, hai gò má phinh phính nõn nà hồng phấn của các cháu bé, khiến ai cũng thèm cắn một cái ghê! Họ trầm trồ khen bầy nhỏ xinh đẹp là phải! Chúng tôi giữ bọn trẻ chằng chằng, chỉ sợ mình sơ ý, bọn trẻ sẽ bị bắt cóc, thì chết!

          Mới tửng bưng sáng mà quầy bán vé treo bảng hôm nay “hết vé” rồi!!! Chúng tôi chẳng thấy các phòng vé mở cửa bán vé. Nghe nói ngày mai có thể không có xe đi Rạch Giá. Mấy ông trong nhóm tôi đi đến phòng bán vé ở trạm xe Xa Cảng cứ kiên nhẫn đứng xếp hàng chờ đợi mua vé. Họ đứng mỏi rã rời chân từ chín giờ sáng, mà mãi tới bốn giờ chiều mới mua được vé xe đi Rạch Giá cho ngày mai. Mém chút nữa thì chả còn vé để mua. Vé xe khan hiếm đến độ chỉ bán có bốn năm người đứng xếp ở hàng đầu, đã đóng cửa với ghi chú: “hết vé” Thế là bao nhiêu vé đều tộn ra ngoài bán giá chợ đen, họ chả sợ bể mánh bể mung giữa chợ đời bát nháo! Bà sương phụ háy một cái thiệt dài, cầm loa oang oang nói:
          - Để tránh tình trạng ứ đọng hành khách, cũng như nạn lưu thông trì trệ, hay kẹt xe. Khi nào những đoàn xe hiện đang chờ trực tuyến đã xuất phát. Thì phòng vé sẽ tiếp tục mở cổng chính, cổng phụ, cho đoàn xe đậu từ ngoài đường cái vào bến, chờ đợi lấy tài.

          Úi Trời! Cả nhóm bàn nhau là nên ở lại bến xe, ngủ đêm tại nơi nầy. Nếu chúng tôi quay trở về lại nhà thờ Huyện Sỹ, cả “bầu đoàn thê tử” đùm đề lôi thôi lốc thốc toàn trẻ con nheo nhóc, người già yếu đuối và đau ốm, đàn bà lụ khụ, thì quá bất tiện. E rằng ngày mai chúng tôi không thể đến đây. Biết có ra xe bus đúng giờ không? Có chen chân với hành khách để lọt vào cổng Xa Cảng, mà leo lên xe đi về miền Tây không!? Quyết định như thế thật đúng. Vì, sáng hôm sau, thỉnh thoảng tôi nghe thông báo ở trên loa phóng thanh rằng: “Hét vé”.

          Nhóm phụ nữ yên ổn ngồi trong lòng xe đò cũ kỹ chật như nêm xong, thì đa số đàn ông phải leo lên ngồi trên mui xe, chẳng thể phản đối, hay càu nhàu cằn nhằn la mắng gì! Ai có vé mà không chịu đi chuyến nầy, thì chủ xe lập tức hoàn trả tiền vé lại cho cố chủ. Sẽ có người khác (không ngủ qua đêm ở trạm bán vé) vui vẻ mua vé chợ đen, cao gấp năm lần tiền vé chính thức. Sao không ham. Chờ đợi giá biểu mới phiền toái và lâu lắc. Tự mình muốn cần đi đó đi đây, chớ ai bắt. Thế nên lớp trai tráng ép bụng chịu thiệt thòi ngồi bó gối chút, hoặc ngồi lắt lẻo phơi đầu ngoài trời mưa tầm tã, hoặc nắng chang chang một xí. Cũng đành!

          Ông tài xế bảo tất cả mọi người xuống xe, chỉ trừ những ông bà già yếu ốm và trẻ con thì được ngồi trên xe. Còn mọi người khỏe mạnh phải đi bộ xuống phà Bắc Mỹ Thuận. Cô Cúc mua cho nhóm mỗi người một trứng hột vịt lộn ủ ở rổ trấu nóng hổi. Các con tôi thấy con vịt chết nằm trong quả trứng, thì quá sợ lắc đầu lia lịa không dám ăn. Tôi mua cho cả nhóm bánh mì thịt, trái cây đủ loại, nào là mận, đào, chôm chôm. Bánh trái, kẹo mứt bán nhiều vô số mà thật rẻ. Thú vị nhất là các em bé bán chim cút lanh lẹ vui vẻ rao hàng:
          . . . Ăn chim em đi anh.
          Nè chim em mập lắm.
          Nè chim em ít lông.
          Chim em vừa mới lớn.

          Anh ăn chim em không.
          Chim em toàn những nạc.
          Chim em chẳng có xương.
          Anh sờ đi: toàn thịt.

          Lại to hơn chim thường.
          Lại to hơn chim thường.
          "Ừ, chim em bự lắm.
          Nhưng anh cũng... có rồi.

          Anh dừng lại xem thôi.
          Để anh đi, em nhé".
          Xe chuyển bánh nhè nhẹ.
          Cô em còn ghé theo.

          Chim em, chim rất nhiều.
          Lần sau anh mua nhé.
          Nay qua sông Mỹ Thuận.
          Gặp cây cầu ước mơ.

          Thương cô em mười tám.
          Biết tìm đâu bây giờ?...
          (1)

          Đoàn xe lại bon bon lên đường xuôi về hướng Rạch Giá. Trùng dương sóng vỗ mênh mông, bạt ngàn nước cuồn cuộn nhấp nhô bên mạn phà to tướng, êm êm. Lần đầu tiên xuôi về miền Nam phồn vinh trù phú, tôi cứ tưởng chỉ có phà Bắc Mỹ Thuận là to lớn sầm uất thôi. Nào dè, một lần nữa tài xế gọi mọi người xuống xe, để qua phà, thì tôi càng sửng sốt mở rộng tầm mắt nhìn phà Bắc Cần Thơ bao la, bát ngát, mênh mông sông nước rộng kinh khủng! Bờ nầy và bờ kia xa tít mờ xa ngàn trùng. Đúng là:
          đi cho biết đó biết đây.
          Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn
          ”.

          Đặc sản nổi tiếng nhất vùng là Bưởi Năm Roi múi to nhiều nước và ngọt lịm. Vú Sữa Lò Rèn vỏ mỏng hột nhỏ, khi trái vú sữa chín thì vỏ giống màu cẩm thạch, ruột trắng sữa. Có Dừa Sáp Cầu Kè nhiều nước và cũng ngọt lịm. Mít ruột đỏ múi dày giòn thơm ngon, và cả Dưa Bồn Bồn. Vân vân… như câu ca dao:
          Bánh tráng Mỹ Lồng. Bánh phồng Sơn Đốc.
          Măng cụt Hàm Luông.
          Vỏ ngoài nâu trong trắng như bông gòn.
          Anh đây nói thiệt sao em còn so đo!
          (2)

          Ôi! Bao nhiêu là quà bánh đặc sản tươi rói ngon lành ở miền quê đều tập trung ở hai bến phà đông đúc, vui vẻ nhộn nhịp, tưng bừng nầy. Chị em chúng tôi chọn mỗi người mua một loại trái cây khác nhau, để mọi người trong đoàn ăn nếm, cho biết vị ngon của lạ trên quê hương.
          Bến Tre giàu mía Mỏ Cày.
          Giàu nghiêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.
          Bến Tre biển cá sông tôm.
          Ba Trì muối mặn Giồng Trôm lúa vàng.
          Biên Hòa có bưởi Thanh Trà.
          Thủ Đức nem nướng Điện Bà Tây Ninh.
          (2)

          Xe vun vút chạy qua bao nhiêu cầu, bao nhiêu phố xá, ruộng lúa vừa gặt xong còn trơ cuống rạ, vô số cò diệt, le le, bay thẳng cánh ngút ngàn. Vườn tượt kinh rạch làng mạc sông nước hai bên chập chùng. Quê hương mình muôn màu muôn sắc, mỗi nơi có một vẻ đẹp tuyệt vời riêng với mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Trên ghe thuyền thương hồ mái chèo tung tăng quẫy nước, vẵng tiếng hò câu ca vọng cổ đó đây, chen lẫn với những cây đàn cò, đàn guitar cùng tiếng trống bập bùng, rộn rịp, bồng bềnh, nhấp nhô trôi theo ghe thuyền sông nước mây trời.

          Có sông chợ nổi lớn và các mặt hàng hóa treo lên một cây sào cao, hoặc bỏ trong nhiều giỏ cần xế to. Nào là Chợ nổi Cái Răng Cần Thơ, chợ nổi Phụng Hiệp bán rùa, chim, sóc, kỳ đà… rắn đủ loại quanh năm, chợ nầy rất lớn là nơi tuyệt vời đầy đủ các thứ nhất, và chợ nổi Cái Bè. Những chợ nổi ở miền Nam ...ôi bán mua bạt ngàn đủ loại trái cây, dừa, dưa hấu, gạo củi, rau, tôm cá, áo quần, mùng mền gối chiếu, kể cả các mặt hàng ăn uống nhậu nhẹt như: Bánh cuốn, phở gà, cháo vịt, cơm, bún, vân vân... và vân vân... đều được bán trên sông ròng nước lớn.

          Lòng tôi cảm thấy nao nao cảm xúc ngọt ngào, dịu nhẹ, lâng lâng, dạt dào, ngẩn ngơ. Hạnh phúc lang thang trong lòng tôi rót tơ vàng trôi theo dáng hoàng hôn hây hây, lung linh, huyền ảo với sóng trường giang rộn ràng đập bên mạn thuyền luyến thương nhiều thao thức. Cảnh vật huyên náo vui nhộn không kém phần đặc biệt thi vị thơ mộng: đã thể hiện vào câu hò, điệu lý, được lưu truyền từ xưa đến nay:
          Dòng sông thì rộng mênh mông.
          Áo em lại thắt lưng ong làm gì?
          Anh từ Xà No đến.
          Em từ Ba Láng sang.
          Sợi tình yêu ai dệt.
          Trên mặt nước mênh mang.
          Bảy sông dồn nước cuồn cuộn nước.
          Phù sa lớp lớp quyện phù sa...
          (2)
          ***

          Chiếc xe đò cà tàng, thổ tả, lọc cọc, rệu rạo lăn bánh trên những cục đá dăm khi hoàng hôn nhè nhẹ quệt đường nắng yếu ớt, sóng sánh trên dòng sông mờ mờ, thì chúng tôi thực sự đặt chân về miền Tây bỗng trời mưa thật lớn. Nhóm tôi đã trải qua một đoạn lãng du dài dằng dặc giữa trời đất tĩnh lặng bao la, hoang sơ, lãng mạn trên nẽo đường gió bụi trôi về xứ lạ, nơi vừa cũ vừa mới, vừa họa, vừa phúc, vừa lương thiện, từ bi lẫn tội ác quyện bện vào nhau, mà tôi không ngờ! Nhưng lòng trí ai nấy đều nôn nao, bồn chồn, lo âu thấp thỏm: vì xứ lạ phương xa mà đa số bạn của tôi và tôi chỉ biết ngao du qua sách vở, chứ tôi chưa hề thú vị chứng kiến sông nước ruộng đồng bao la, vườn tượt xanh um bóng mát, như thi sĩ Bùi Giáng đã nói:
          Chào Lục Tỉnh thu về xuân nức nở.
          Ở trong cây trong lá ở bên sông.
          Dòng nước chậm chần chờ con sóng chở.
          Còn không em? kỷ niệm ở bên lòng!
          Và:
          Chưa đi chưa biết Bến Tre.
          Đi rồi mới biết toàn tre với dừa.
          Dừa to dừa nhỏ dừa vừa.
          Trèo lên tụt xuống nước dừa đầy tay.
          (2)

          Xuống đến Rạch Giá cảnh vật thôn quê êm đềm tĩnh mịch không kém phần thơ mộng, nhưng đa phần nhà cửa cư dân vắng vẻ, xóm làng quạnh hiu vô cùng, thì nhóm tôi hoàn toàn bị lạc lõng, xa lạ, đơn độc buồn thiu đến độ nào. Chúng tôi líu ríu dắt díu nhau đi tới chỗ lạ cái lạ nước, lạ hoắc, thật lúng túng bất tiện trăm bề. Nhóm người già trẻ lớn bé nầy chẳng hiểu sao lòng cảm thấy bất an, lo sợ, e dè, lấp ló thập thò, kín đáo dè dặt ngó quanh, nhìn trước ngó sau lén lút như kẻ gian, kẻ trộm. Hết cả đám có miệng mà như câm, không ai dám hỏi thăm khi dân địa phương nhìn chúng tôi chằm chằm, xoi mói. Không có bản đồ địa phương, không rành phong thổ cũng như tập quán nơi đây, không thấy xe xích lô, không tìm ra khách sạn hay phòng trọ nào. Thế nên đã nhiều giờ nhóm tôi đi lạc lung tung. Sau đó:
          Hỏi em, em đã đi rồi.
          Hỏi chim, chim chỉ mỉm cười bay đi,
          Hỏi cha, cha chẳng biết gì.
          Hỏi sư, sư bận vội về tụng kinh.
          Hỏi cô hàng xóm làm thinh.
          Hỏi nàng bán bánh cười tình không hay.
          Nhìn trời một đám chim bay...
          (2)

          Duy có điều quan trọng là dù chúng tôi ngu ngơ ngố ngáo nơi quê hương thân yêu, cũng phải cương quyết rứt áo ra đi, phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Đang ngơ ngác, bồn chồn, lo lắng khi trời đã về chiều, mà chân chồn gối mỏi, đúng lúc đó chúng tôi văng vẵng nghe:
          Đạt là chàng trai yêu xứ Đà Lạt.
          Anh “pLê mê” đi lính ở Plei-me.
          Cầu ma bà xã tui đi Cà Mâu.
          Cây còn xa quê mình nhớ con cầy
          Lợn sang đồng lo chạy rông Lạng Sơn.
          Hiền ta ra hiên tà thấy Hà Tiên.
          Chúng ta hoan hỉ tá chung chiếc thuyền.
          Ngày mai anh Viễn định xuống Vĩnh Điện.
          Cao Bằng đau bụng đụng bao căng bào.
          Trai Hà Giang chỉ cơm hỏi hàng gia?
          Đi Lai Châu gót chân mình lâu chai.
          Gái Hà Đông đa hồng hỏi Đông Hà.
          Cán ngố trên rừng cố ngán không khóc.
          Con cóc vàng trên đàng bị cán vọc
          Tớ chổng khu hỏi chủ không chổng khu?
          Cù Lao Chàm càm ràm chú cào lu.
          Tên “Plu-kê” chạy rông đi Plei-ku.

          Chúng tôi tần ngần do dự đứng khựng lại trầm lặng hồi lâu, lắng nghe bọn trẻ choai choai, dé dé, xíu xíu khoảng độ tuổi mười lăm mười sáu, có lẽ là nam nữ sinh học trường Trung–học gần đấy đang ngồi trên sân đình, các em vui vẻ trao những câu “thơ thẩn tiếu lâm dám xướng ngôn vô loại” lên, cười ha hả mà không sợ bị bọn du kích 30 tống giam.

          Thì trong dạ tôi vui mừng như mở cờ, ruột hớn hở đánh lô tô tưng bừng và nghĩ rằng: “ở đây có lẽ còn khá tự do, dễ chịu, chắc là còn thoải mái yên bình ca hát, ngâm thơ, hát câu vọng cổ... bên sông nước mơ màng” cũng có thể làm cho người lạ xích lại gần kề, thân ái gợi chuyện làm quen, làm thân một cách dễ dàng, cởi mở. Anh Bàn liều đi tới hỏi thăm đám trẻ, các em trai lanh lẹ vui vẻ chỉ lối đưa đường cho nhóm tôi biết: nên đi về hướng chợ nhỏ ở xa xa.

          Mấy anh dấm dớ dò dẫm qua một chiếc cầu gỗ cũ, tới trạm mua vé tàu thủy, dự định ngày mai cả nhóm sẽ đi Phú Quốc. Chiều tà ở tại Rạch Giá từ bước chân khách lạ cô đơn trên đường chiều, khiến lòng tôi buồn vô hạn, đứng trên cầu gỗ nhìn về phía góc vườn dừa rợp bóng nhà ai sông nước chập chùng. Có chút tâm hồn đa cảm và nhạy cảm... khiến tôi cảm thấy nơi đây thật sự kỳ diệu thanh bình lãng mạn lắm. Lòng tôi càng xúc cảm vấn vương nỗi buồn thê thiết, khi thấy mấy giang thuyền lạnh lẽo lắc lư nằm im ỉm, trơ trọi bên những cầu tàu quạnh vắng, làm thức dậy trong tâm trí tôi hình ảnh dĩ vãng lãng đãng mộng mơ thiết tha thật gần...

          Nhưng bây giờ đã rời xa... xa mờ xa nơi chân trời mê-hoặc, xao xuyến mông lung bao tiếc nhớ, bâng khuâng lặng lờ nỗi đau sâu thẳm: Đâu rồi những anh thủy thủ phong trần trẻ trung vui tính ưa huýt gió, vui vẻ, xinh lịch oai hùng hào hoa trong bộ quân phục Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trắng tinh? Họ mặc bộ quân phục với niềm kiêu hãnh vinh quang hào hùng trong dĩ vãng? Mặt nước có còn in bóng chàng trai phong sương đa cảm, đa tình đứng trên bon tàu vu vơ nhìn mây trời quyện bện vào nhau xanh bát ngát? Dưới đáy thuyền sóng cả cuồng phong thịnh nộ ngày ấy vỗ nước bồm bộp vào mạn thuyền, đẫy đưa anh lính Hải-quân có cuộc sống hào hoa phong nhã lang bạt vui tươi đi xây mộng giang hồ tứ xứ!? Ý chí của bạn và tôi bây giờ chỉ còn là ảo ảnh: trăng tròn giữa lòng sông lắc léo giòng chảy trên luống đời điệp trùng bóng tối. Tiềm ẩn trong tâm hình ảnh đường chiều nâng ước vọng dâng cao ngút ngàn.

          Đến gần chân cầu sắt dày cui lót gỗ bên kia trạm vé, thì có một khu nhà tôn chen lẫn nhà lá tồi tàn, nhưng đã đem lại lòng tôi sự ấm áp rộn ràng rạo rực niềm vui, chen lẫn sự xót xa chân thật: khi tôi nhìn cư dân địa phương vất vả, thiếu thốn, nghèo nàn. Các anh vào thuê mấy chỗ trọ. Không phải là phòng trọ như ở nơi khác có phòng riêng sạch sẽ tươm tất, mà lán trọ ở đây giống như khu nhà trống, hoàn toàn không có cửa nẽo, chỉ là những hàng ghế bố cũ mèm nối dài, mái lợp lá dừa trống trơn, hơi giống patio bốn bề lộng gió. Nước mưa lộp độp trên mái lá, bùn đen sền sệt dưới chân ghế bố luôn luôn ướt nhẹp, mốc xì, đen thui, ghế bố có nhiều gián, rận, rệp hôi rình, thậm chí có cả chí mén, chí cồ bò lổm ngổm trên gối. Thế nhưng người ra kẻ vào lội nước lủm bủm vẫn tấp nập ồn ào ngược xuôi đông đúc lắm.

          Chị Ngọc, Cúc, tôi vội vàng xẹt ra khu chợ xép nhỏ gần xịch một bên, chị em tôi chẳng buồn hỏi khu chợ nầy có tên gọi là chợ gì. Mỗi quầy hàng là một cái chòi bằng tre lợp lá dừa, giống túp lều nho nhỏ luôn kêu kẽo kẹt, nước bùn đen đen đọng dưới chân cột và trên đường nhựa. Quán xá lộn xộn, họ bán đủ thứ: cá, tôm, sò ốc, rùa, ếch... Úi trời! có nhiều con rắn còn sống đang uốn éo thân, cái lưỡi chẽ đôi thò ta thụt vô, cả những chú chuột đồng lông lá lưa thưa có móng nhọn dài to bự sư. Coi thật gớm à!

          Chị em tôi mua nhiều tôm tươi, cá trê vàng, cá sặc bướm, cá sặc rằn. Rồi day qua hàng khô mua gạo, mua một trái thơm, rau sống, cà chua, mua củi. Họ thật thà hào phóng bán trái cây tươi rói, tính một chục là 16 trái xoài bóng láng, mập ú, thơm ngon. Họ không nói thách, không làm hàng màu mè: không chất thứ to bỏ làm hàng mặt ở trên, trái nhỏ chêm ở dưới thúng. Mà có sao họ bán vậy. Dân quê và dân chợ đa số khá hiền lành chất phác, vui vẻ, chăm chỉ, thật thà. Họ nói ở đây cái gì cũng tươi và rẻ nhất là: cá, tôm... Nhưng họ khó kiếm ra tiền, vì nhà nhà ai ai cũng có cá, có tôm. Thịt ếch và các loại cá ở miệt nầy càng rẻ rề, thì đem bán cho ai đây, để có tiền xây xài?

          Chúng tôi xin bà chủ nhà trọ cho mượn mấy cái son nồi, để nấu nhờ bữa cơm tối. Bà chủ nhà vui vẻ dễ dãi nhận lời. Chị em tôi xúm lại người nấu cơm, người làm cá. Lớp kho, lớp nấu, chiên xào... Đây là bữa cơm đặc biệt đầu tiên, có thể cũng là bữa cơm cuối cùng tại Rạch Giá. Nhóm chúng tôi ăn uống no nê, dư dả và rất ngon miệng. Sau đó chị em bưng nồi niêu son chảo ra bờ kè rửa ráy, rồi trả lại cho bà chủ nhà tốt bụng. Chị em cho các con ra sông tắm gội sạch sẽ.

          Khi màn đêm buông xuống, tôi nhìn bên kia kinh lạch tối om vì không có điện, bên nầy ngọn đèn đường tù mù hắt ánh sáng yếu ớt vàng vọt, giống như đèn đêm lốm đốm lập lòe ở khu nghĩa trang. Thiệt cảm thấy quá nãn. Đêm buồn nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên lá, gió lồng lộng rít rít từng cơn, thổi bay tấm mùng vải cũ ố vàng đen đen, khiến cái lạnh càng về khuya càng ngấm xuyên qua da thịt tôi thêm dúm dó và rùng rợn. Bầy trẻ suốt ngày đi đường quá vất vả, nên tắm gội xong, vừa đặt lưng xuống ghế bố, là chúng đã “phè cánh nhạn” ngủ say. Riêng bọn già nầy thì bồn chồn, băn khoăn, lo lắng, không sao chợp mắt, dù chỉ vài phút.

          Thỉnh thoảng có đám tuần tra đi ngoài đường nói cười rổn rảng sát ngay bên ghế bố nơi Luật nằm. Tôi không biết họ đang oang oang chưởi gì, chưởi ai!? Chưởi số phận nghiệt ngã đã trao cho họ: phải xách súng đi ngày đêm kiểm soát dân; từ buổi giao thời vừa mới có “tự do hạnh phúc”?! Hoặc hắn tự chửi mình ngoảnh mặt làm lơ nhìn người khác hả hê trả thù dân tộc!? trợn mắt sung sướng nhìn đồng bạn tuông trào những lời cay độc, hét to từng tiếng lát gừng thị oai:
          - Tên gì?
          - Ai đó?
          - Đi đâu?
          - Kiểm tra giấy tờ.

          Anh em thằng Tùng (con của Ngọc) giật mình thức giấc vì tiếng quát, Thắng xù xì hỏi anh nó:
          - Mấy ông kia có phải là lính mình không anh Hai? Lính Thủy Quân Lục Chiến mặc đồ đen, quàng khăn cổ bằng lá cờ xanh đỏ, cánh tay ổng đeo băng đỏ, đó anh.
          - Tầm bậy tầm bạ! Mầy đoán già đoán non, mà ngu như bò! Thủy-quân Lục-chiến oai lắm, họ mặc đồ xanh rằn ri, đội mũ màu xanh cứt ngựa, mang giày đinh.
          - Vậy à… hay mấy ông kia là người trong đảng ca ca ca chi đó, phải hông?
          - “Ca ca”… tiếng Tây nôm na là cứt nghen. Còn đảng K K K... là là… thời da trắng ám sát da đen, khi Nam Bắc phân tranh bên xứ Mỹ. Không có ở đây! Biết không?
          - Thì… thì em thấy mấy ông du kích nầy có khác chi…
          - Xuỵt! Mầy có câm ngay cái miệng ưa bép xép không!?
          - Em không biết, mới hỏi chút xíu, anh làm gì dữ vậy!
          - Coi chừng cái... bản mặt đó. Thấy thì biết.

          Nghe hai cháu nhỏ “nóng ruột” từ lời nói, còn tôi “lộn ruột ứa gan” từ trong tim! Thành phố khiêm nhường bé nhỏ nầy đã trở nên trơ tráo hơn khi có “quân giải phóng miền Nam” tới với những thứ lạ, thứ mới, có ít thứ tốt và nhiều thứ xấu, lắm thứ dữ: Một ông già chệnh choạng thất thểu bước thấp bước cao, và mấy thanh niên đứng xớ rớ dưới cột đèn mờ mờ. Ông già ấy đã bị móc túi, không còn giấy tờ tùy thân, không có tiền xì ra.

          Cha con ông cháu nói dai, ú ớ van xin lằng nhằng lải nhải gì đó, liền bị một du kích địa phương dùng báng súng đập ông già bể một mé đầu, vọt máu tươi. Tên du kích ấy bắt ông già bó gối, hai tay đan vào nhau chấp lên đầu chung với đám thanh niên: Khổ thiệt, ở thời buổi giao thời nầy, sao ông dám mở miệng phân bua, với ai hì! Bị thương ngoài da rồi sẽ có ngày lành, nhưng tổn thương trong lòng dù không ai trông thấy (dù chuyện không đáng), nhưng đau dài lâu. Luật tức giận cành hông, anh dợm đứng lên nhảy ra can thiệp, nhưng Ngọc nhanh tay lôi giật Luật, ra dấu im re nằm xuống câm mồm, coi chừng đầu không phải phải tai. Ông lẩm cẩm không nhớ cho:
          Phong lan, phong chức, phong bì.
          Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn?
          Phong lan ngắm mãi cũng buồn.
          Phong chức thì phải cúi luồn vào ra.
          Chỉ còn cái phong thứ ba.
          Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui.
          (2)

          Cổ họng ai nấy đều đắng nghét như ngậm vốc trà khô. Trà đắng có thể không thích nghi với thổ địa bởi tại phong sương, hoặc trà chát, chua, bởi tại tình người? Vã chăng, khi chiều chúng tôi nhìn “mấy tên 30”, hoặc ngó ai ai thì cũng thấy họ tò mò nhìn sững mình không chớp mắt, chả biết đâu là thù, mô là bạn! Nhiều người ra vào ở phòng trọ nầy mặt lạnh như tiền. (Chớ tôi có tật gì mà giật mình)!? Đúng. Một số ít dân cách mạng lâm thời đội mũ tai bèo, mang súng AK trong buổi giao thời, bên cánh tay cột khăn vải đỏ, cổ mang màu cờ nửa xanh nửa đỏ, họ hầm hầm ngó chúng tôi trừng trừng, nhìn muốn nổ con mắt, muốn trợn trừng tráo trưng con ngươi mà ăn tươi nuốt sống.

          Nếu ví như có những điều tự trong thâm tâm qúy vị đang vui tươi, trong sáng, bỗng một sớm một chiều trở nên sụp đỗ, âu sầu, băn khoăn, suy tư, lo lắng, bâng khuâng ray rứt về cái ngày 30-4; ngày lịch sử bất hạnh là: một giòng chảy không bao giờ chảy ngược lại! Hoặc giả qúy vị hay tôi muốn cầm bút viết lại, nói ra, lượt thuật, lượm lặt sưu tầm đó đây, nhã ý là: do ta chỉ ước mong bộc lộ những uẩn khúc quá đau lòng tự thâm tâm {trong đời sống thực. Có lần tôi đã nói: “tôi không hề lên án ai, xúc phạm ai, bới móc ai điều gì! Cho dù con người ấy, xã hội ấy sau 30-4-1975; đã đả thương tôi đớn đau trầm trọng cách mấy chăng nữa!

          Tôi rộng lượng bỏ qua & tha thứ. Vâng)}! Thì xin qúy vị tha cho tôi, đừng vội thẩm định tôi khuynh tả hay thiên hữu: Do thân tình ghi lại loạt chuyện (mà bạn TtTm hoặc tôi kể) để con cháu ngày ấy chưa thành nhân, thành danh; ngày nay sẽ hiểu rằng: Tình Đời và Tình Người cần thiết, dù có tiền rừng cũng không thể mua được thanh danh. Hũy hoại thanh danh dù một lần, một ngày làm mất danh dự, nhưng đã lưu lại suốt đời.

          Nếu tôi hoặc bạn tôi cố chấp, thì chẳng khác nào như con chuột, con dơi vắt mình trên cành: Con dơi chỉ thấy một phần nhỏ xíu dưới cành, mà chẳng thể nhìn thấy cả toàn cây. Con chuột chỉ là con vật loắt choắt tẻo teo, chuyên đi phá phách, hại ruộng hại đồng cây cối nhà cửa, dù nó có uống nước trong, hoặc mò mẫm lặn lội húp nước đục, thì chỉ no được cái bụng bé tí teo. Chuột vẫn là giống chuột lủi tanh hôi, có khi truyền đến ta bệnh dịch hạch nguy hiểm đáng sợ. Chuột nhớp nhúa không thể làm điều gì cao sang, ích lợi cho đời.

          Bây giờ thì nó có hóa thân làm con chuột hét ra tiếng người cốc lốc, lấc xấc mà thị oai, có hét tướng lên trong màn đêm u tịch, càng khiến người rất sợ hãi, không dám hó hé dáo dác len lén nhìn quanh, mà phải nằm im ru câm họng trong mùng lim dim hi hí ngó trộm. Con cháu tôi nghe, thấy rõ, đã biết sự hung ác kia... thì bây giờ con nên tôn trọng nhân cách sống, cư xử với nhau hòa ái, bao dung, vị tha; vẫn trân qúy đáng ngưỡng phục, hơn sự thô lỗ bạo tàn rợn người.

          Có miệng không nói lại câm.
          Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa.
          Mang danh Dân Chủ Cộng Hòa.
          Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền.
          Xuất trình giấy phép liên miên.
          Chứng từ thị thực ở miền nào qua.
          (2)
          Khoảng mười hai giờ khuya, có một toán choai choai dé dé xíu xíu bặm trợn khác lại xồng xộc vô nhà trọ, vếu váo tốc ngược mùng của mọi người lên, chúng giựt giọng gọi những khách trọ đêm dậy để kiểm soát giấy tờ tùy thân. Qua nhiều thủ tục khám xét gắt gao, những túi hành trang vải, (mà tôi đã may hôm 28-4-1975). Họ lừ mắt trợn ngược, hất hàm chĩa súng vô bụng, gặn hỏi khách trọ cộc lốc đủ thứ chuyện không có chủ từ danh từ:
          - Tránh qua bên kia, đứng xếp hàng.
          - Trước ở đâu?
          - Làm gì?
          - Nay đi đâu?
          - Đưa coi giấy tờ.
          - Còn có gì dấu đút ở đâu không?
          - Có lệnh không được đi đâu hết.

          Nhóm tôi nói láo: hồi trước gia đình đã sinh sống ở Phú Quốc. Nay có tự do, hoà bình, thì chúng tôi muốn về lại chỗ cũ sinh sống:
          Trăm năm trong cõi người ta.
          Ở đâu cũng được đi ra đi vào.
          Xa xôi như xứ Bồ Đào.
          Người ta cũng được đi vào đi ra.
          Đen đủi như Ăng Gô La.
          Người ta cũng được đi ra đi vào.
          Chậm tiến như ở nước Lào.
          Người ta cũng được đi vào đi ra.
          Chỉ riêng có ở nước ta.
          Người ta không được đi ra đi vào.
          (2)

          Người ta nói: Ông Trời có mắt nhưng do ổng ở xa lắm, nên có mắt cũng như mù! Úi Trời đất thánh thần thiên địa ơi! giờ nầy qúy ngài hiền đức thánh nhân ở trên thiên đình: lo đi rong chơi, ngao du nơi biển sâu sông dài núi cao nào rồi!? Sao qúy ngài không cúi xuống nhìn đám dân giả dưới trần gian của qúy ngài đang rét run, sợ té khói ra đít nè! Đã thế mà trời còn mưa giông gió bão! Khi Trời gieo sấm sét đánh chết người, thì thiên hạ nói:
          - Do người ấy ăn ở ác, không có đức, nên bị Trời đánh.
          - Hứ! Vậy chớ ông Trời làm sét đánh chết người, thì không ai nói là ông Trời ác hì!

          Bốn giờ khuya, toán du kích già dặn kinh nghiệm thứ ba mặt mày đằng đằng sát khí, súng ống lăm le chĩa ra đằng trước ngực khách, đạn lên nòng róc róc róc… rắc rắc rắc... réc réc réc..., ngón trỏ hắn đặt trên cò; họ lại dựng đứng khách trọ ra khỏi mùng, để “hỏi cung”. Chúng tôi sợ mấy cha nội không rành về súng ống đạn dượt, ưa tháy máy tay chân, thích “bụp” liền, thích “đục” , thích “nẻ” bậy vào dân ngu khu đen, thì chết toi cả đám oan đời. Tôi ngồi co rúm, không dám hó hé, xép re im thin thít trong một góc nhà trọ, lẩm bẩm đọc kinh cầu nguyện mà run như cầy sấy. Vậy thì tôi chẳng biết “ai” ác hơn ai hở Trời!
          Hãy đến bất cứ nhà nào.
          Chị em không việc cũng vào cũng ra.
          Thật là ngứa mắt chúng ta.
          Nhưng thôi cứ để họ ra họ vào.
          Không thì “cửa sắt” họ rào.
          Anh em đố có dám “vào” dám “ra”
          . (2)

          Một đêm có tới ba lần bị kiểm soát! Tửng bưng gần năm giờ sáng thì tốp dân ở Phú Quốc cặp tàu vô đất liền. Sau đó, cả lán trọ được biết là tù-phạm sau ngày 30-4 ở ngoài Phú Quốc đã phá ngục, có lớp người vượt ngục ra tù về đất liền, họ cầm súng giương oai đi quậy tưng trời, phá phách cướp bóc nhiều nơi. Cả đám di tản chúng tôi đang đứng xớ rớ bên góc cầu, may mắn Ngọc gặp ông ba của anh trên chiếc cầu gỗ lắt lẽo: Ông ba mừng rỡ ôm con trai vừa khóc vừa nói:
          - Phú Quốc đã có nhiều trại tù nổi loạn. Cướp bóc tràn lan. Có những cuộc chém, giết, chạm súng gắt gao. Bọn mình phải quay trở về Đà Lạt ngay thôi.

          Chúng tôi tứ cố vô thân ở xứ lạ quê người, nghe thế lại càng tăng lòng sợ hãi lên cao độ, phân vân băn khoăn hết sức. Nếu chúng tôi đi ra Phú Quốc, biết đâu: Ngoài đảo đang lộn xộn kinh khủng, thì tai ách giữa đàng lại mang vào cổ. Thế là chuyện đi Phú Quốc và từ nơi đó sẽ “đào tẩu” ra nước ngoài, nhưng... “em ơi nếu mộng đã không thành thì sao? Non cao đất rộng biết đâu mà... tìm!”.

          Tất cả anh em chúng tôi như con ngố, rù rì to nhỏ xầm xì với nhau nửa tiếng Anh, nửa tiếng Pháp, pha tiếng lóng chêm tiếng Ba Chệt, tiếp theo ngôn ngữ Việt mà bàn tính: nên trở về Sài Gòn thôi. Dù sao ở thủ đô vẫn còn có bộ mặt thị thành văn minh, còn có tai mắt quốc tế dòm ngỏ hầu vô cứu nhân độ thế!

          Chuyến đi Rạch Giá mong ước lẽn ra Phú Quốc nơi ấy còn vùng vẫy trong tự do độc lập. Nhưng thật vô duyên hết chỗ nói. Háo hức hân hoan hy vọng ra đi. Đến nơi Rạch Giá chứng kiến cảnh mắt thấy tai nghe bọn oắt con nhỏ bằng con cháu mình hung hăng, thô thiển, xất xượt “lên mặt” đánh đấm răn dạy cha chú. Tôi chong mắt trông trời mau sáng, để quày quả trở về nơi vừa mới bỏ đi. Có phải chúng tôi sẵn tiền, hay đã trở thành kẻ du mục dị ứng thời cuộc đã bị tẩu hỏa nhập ma điên khùng, “lắc lư con tàu đi”... tìm tự do hạnh phúc!?

          Giá mà hôm qua chúng tôi không gặp mấy tên du kích có đôi mắt trắng dã, có cái nhìn dữ dằn, hành động hung ác, ăn nói cộc cằn, thô lỗ. Thì chắc chắn sáng tửng bưng nầy cả nhóm tôi đã lên tàu thủy dong ra Phú Quốc lánh nạn rồi. Cũng có lẽ định mệnh an bài cho chúng tôi nên ở lại Sài Gòn đông vui, thì đời không cô độc, sẽ là nơi an tựa vững vàng cho tương lai cuộc sống của chúng tôi chăng?!
          Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ.
          Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
          Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
          Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
          - Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
          Hãy về thăm xóm đạo.
          Có trái ngọt cây lành.
          Tha La dâng ngàn hoa gạo.
          Và suối mát rừng xanh.
          Xem đám chiên hiền thương áo trắng.
          Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh... (
          3)
          *
          (1) Thơ sưu tầm lượm lặt.
          (2) ca dao
          (3) Thơ Tha La Xóm Đạo – Vũ Anh Khanh.
          ***

          Tình Hoài Hương
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-26-2017, 01:14 AM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • Tinh Hoai Huong
            Senior Member
            • May 2009
            • 1081

            #200
            Giây phút nát lòng: Liệt Lão Đào Huy Ngọc


            Dưới đây là hồi ký của một sĩ quan cao cấp của Không Quân VNCH vào mấy ngày cuối cùng dẫn đến ngày 30-4-1975. Như cuối bản hồi ký ghi lại, nhiều phần, nó đã được viết từ năm 1998 và mới đây được phổ biến lại trên Internet. Tác giả thiên hồi ký này còn trí nhớ thật tốt nên tường thuật lại khá nhiều những chi tiết của những ngày cuối cùng tại Bộ Tư Lệnh Không Quân.
            ***

            Giây phút nát lòng:
            Liệt Lão Đào Huy Ngọc



            Tôi thật muốn quên cái ngày đen tối đã qua, cái ngày mà cái hèn, cái nhục, cái bất ưng đã ám ảnh tôi đến mãi ngày nay. Nhưng cứ mỗi lần tháng tư đến nó lại ray rứt trong tôi, nó nhứt định làm khó tôi, kéo tôi sống lại ngày ấy, cái ngày mà phản đồ A 37 oanh kích phe mình.

            Vào lúc tan việc, mọi người đều lo miếng cơm chiều lòng tôi như lửa đốt, tôi vội một mình lái xe về Tân Định thăm mẹ tôi mang bệnh tim, sống một mình ở một căn phố thuộc khu xóm Chùa. Gặp tôi còn nguyên quân phục tác chiến, mẹ tôi mừng mừng tủi tủi, không muốn xa tôi, cầm tay tôi nói:
            - Con cấm trại triền miên, mẹ không yên tâm. Hay để mẹ vào TSN cho mẹ con còn được có nhau.
            Tôi vội quay mặt tránh cho mẹ tôi khỏi nhìn thấy cái đau lòng đang nhạt nhòa mắt tôi. Tôi từ tốn thưa:
            - Mẹ! TSN là nơi chinh chiến, con để mẹ sống ngoài khu quân sự cho được an toàn. Chiều chiều con sẽ chạy về thăm mẹ, lúc nào tình hình bớt căng thẳng con xin rước mẹ về gần con.
            Nói xong tôi móc nguyên bì lương tháng tư tôi vừa lãnh trao hết cho mẹ tôi, để người chi dụng rồi vội cáo từ trở lại TSN. Tôi không ngờ chính lần gặp nầy lại là lần cuối tôi thu nhận hình ảnh mẹ tôi vào trong lòng.

            Tôi định đi tắm. Mới cởi được cái áo thì nghe nhiều tiếng nổ lớn phía SĐ5KQ. Nhìn lên trời, A 37 nhào lên lộn xuống. Nhìn xuống đất, vọng vào sân bay, từng cụm khói đen bốc cao. Không chút do dự tôi vội xỏ tay áo một bên, một bên còn để trần, lái vội xe vào BTLKQ.
            Dọc đường mọi người tất tả chạy ra, riêng mình tôi ngược vào, súng liên thanh lớn nhỏ nổ ran. Thấy tôi ngược dòng thác người, có mấy anh em thuộc quyền xưa cũ vội chận tôi lại:
            - A 37 dội bom, VC đánh tới, mọi người thoát thân sao ông lại chạy vào. Ông ơi ! hãy quay xe ra đi.
            Tôi chẳng anh hùng gì, gan dạ hơn ai, nhưng nghĩ đến trách nhiệm tôi đã lắc đầu:
            - Các anh hãy chạy đi, tôi phải vào chỉ huy phòng thủ. Nói xong tôi rồ máy phóng vào TLB. Lính Hành Dinh nghiêm chỉnh canh gác. Cổng BTL, ngựa sắt đã kéo ngang. Tôi hỏi:
            - Các Tướng đâu?
            - Trong Đại Sảnh. Lính gác nói vội.
            Đậu xe trước tiền đình, tôi phóng xuống gặp ông Lượng vận phi bào vừa bước ra, tôi hỏi:
            - Các ông ấy đâu ?
            - Ở cả trong đó, ộ Lượng trả lời.
            Tôi yên bụng, các Tướng Tàu bay còn đó. Thay vì vào gặp, tôi quay ra xem xét phòng thủ. Điểm quân số tôi chỉ có hơn Tiểu đội phòng vệ và ½ Tiểu đội QC. Tất cả ứng chiến trực đều vọt đi ăn chưa kịp đáo hồi đơn vị. Tôi ngao ngán nhưng vội quyết định nhanh:
            - QC trách nhiệm TLB, bảo vệ Tướng lãnh. Phòng vệ ứng chiến, xử dụng vũ khí cộng đồng, chiếm lãnh cao điểm, nóc hiên Khối Hành Quân, phòng ngự mặt tiền TLB và cổng chính BTL. Số khác phòng ngự cổng sau hướng về khu có VC trong ủy ban Liên hợp 2 bên.
            - Lệnh cho các anh “Tử Thủ”.
            Thú thật, tôi ra lệnh để lấy tinh thần quân sĩ chứ chiến đấu gì với một lực lượng què quặt và không phương tiện truyền tin. Tất cả chỉ thị đều dung người chạy tới chạy lui như kiểu giao liên thời Du kích đánh Tây.
            Thanh tra vị trí chiến đấu vừa xong, tình hình cũng vừa lắng dịu. Tôi lên trình diện TLB những toan phúc trình tình hình phòng thủ nhưng chẳng ai bận tâm! Người ngươì nhìn nhau đăm chiêu dường như trong thâm tâm mỗi người chỉ muốn buông rơi tất cả.
            Ói ! Thần sắc không còn, dũng khí cũng tiêu tan, Đại Bàng đã “xệ cánh” !
            Nhớ lại ngày nào, Mậu Thân đỏ lửa, hùng khí ngất trời, hiên ngang sấm sét, quét sạch cộng quân, sao nay bỗng dưng rũ liệt ! Buồn rơi nước mắt.
            Tôi trông chờ một lệnh họp khẩn cấp, duyệt xét tình hình chung, lấy quyết định tối hậu: “Chiến” hay “Lui”. Chiến thì chiến ra sao ? Kamikazé ! ? Lui thì lui thế nào ? Có trật tự, tuần tự trước sau, “Không bỏ một ai” hay hỗn loạn mạnh ai nấy chuồn ! ! ?
            - SĐ 5 còn nguyên C 130, C 119, C 47, Caribou, Trực thăng và cả phi đội nghênh cản F 5.
            - SĐ 4 nguyên vẹn hỏa lực sẵn sàng ứng chiến
            Tôi chờ lệnh. Tôi không có. Tôi trở thành anh lính chiến bộ binh trưởng đồn như ngày tôi xuất thân khóa 1 Thủ Đức bị ném về miền Tây, khu Đồng tháp, trông nom một đồn binh án ngữ ngã ba sông ngòi.
            Tôi đã được học cầm quân một SĐ chiến đấu để rồi cuối đời lính tôi không chỉ huy được một Trung Đội. Tôi không nhận được một lệnh Hành Quân rõ rệt. Tôi đã bi bỏ quên. Không hiểu được ý định thượng cấp, Tôi chỉ còn biết chu toàn trách vụ của tôi, Tôi lo cho thuộc cấp. Tôi ước tính tình hình và lệnh cho quân phòng thủ:
            - Chia nhau thay phiên ngơi nghỉ tại vị trí chiến đấu. Bây giờ yên tĩnh nhưng có thể đêm khuya, rạng sáng Địch sẽ “Tiền pháo hậu xung”, đó là chiến thuật cố hữu của chúng, lúc ấy cần đến các anh em đủ sức ngăn địch.
            Tôi chẳng phải thần thánh gì mà biết trước ý Địch. Tôi tự đặt tôi ở vị thế của Địch thì tôi sẽ làm thế. Này nhé:
            - Tôi biết TSN đã nằm trong vòng pháo của tôi.
            - Tôi biết TSN là ngả rút lui cuối cùng của chính phủ và cơ quan đầu não VNCH.
            - Tôi biết KQ/TSN vẫn còn khả năng gây tổn thất nặng nề cho tôi.
            - Tôi biết KQ đã nao núng vì đã có những phản đồ gây bất an cho các căn cứ KQ.
            - Tôi phải đánh, phải thanh toán sớm. Mất TSN kể như trận chiến Quốc Cộng chấm dứt.

            Saigon đã bị vây chặt. Kế hoạch lấy QK 4 trường kỳ kháng chiến không có, không thấy vùng 4 chuẩn bị. Chính trường bấy nhậy còn mải dằng co giữa cụ Hương và Big Minh, giữa sự trốn chạy trách nhiệm trước lịch sử của Tổng Thống và Quốc Hội.
            Xem như thế, ấy mới chỉ phân tách sơ lược thôi, là tôi, là anh, nói chi đến VC, cũng phải ra quân dứt điểm. Cho nên việc đến đã đến. Khoảng nửa đêm về sáng rạng 29/4 Cộng quân đã pháo loạn TSN.
            Tôi và một QC tùy tùng thám sát phòng thủ thì pháo cộng chớp nhoáng trên đầu. Chú QC xô tôi nằm xuống và lấy thân đè lên bảo vệ cho tôi đồng thời tâm sự:
            - Giờ thứ 25 rồi, ông có sao thì đất nước cũng không còn. Nói dại ông chỉ trúng thương thôi, ai ở đó chạy chữa cho ông. Các bác sĩ đã vắng cả rồi. Ông hãy thôi thanh sát. Các anh em đã yên trong vị trí chiến đấu rồi. Ông cứ khơi khơi xổng lưng giữa mưa đạn đâu có lợi ich gì trong lúc nầy.
            Mình thường tự tôn đánh giá thấp sự hiểu biết và dũng cảm của em út. Ở trường hợp khói lửa ngút ngàn, Tôi đã thấy ở họ có những suy xét hữu lý. Họ không trốn chạy, họ vẫn theo gót chân mình, họ góp ý cho quyết định của mình.
            Tôi do dự rồi vỗ vai chú QC:
            - Tôi cám ơn anh đã lấy thân che cho cấp chỉ huy, Tôi cũng cám ơn anh đã nghĩ cho cái an nguy của tôi. Tôi không ra tuyến phòng ngự thì ai là người nằm đó tử chiến. Sống chết có số! Anh hãy quay lại TLB, để tôi đi.
            Chú QC đã không trở về vị trí chỉ định. Chú cứ nhất định lẽo đẽo theo tôi. Pháo cộng vẫn chốc chốc nổ đều. Tôi nghĩ chẳng may chú QC trúng đạn còn tôi thì không, hẳn tôi sẽ ân hận, chỉ vì tôi mà chú ra nông nỗi, vợ con chú cũng vì thế mà thêm tang tóc, điêu linh trong khi “Đất” vẫn mất, mình vẫn cửa nát nhà tan, gia đình ly tán. Tôi quyết định bỏ dở thanh sát tuyến phòng ngự và quay về ngồi thẫn thờ trước tiền đình TLB mặc cho pháo nổ đó đây. Pháo đã rơi vào khu nữ quân nhân và một quả rơi vào khu nhà “Môn Lù” (QC) ngang sân banh BTL (May cho Môn Lù đã cõng vợ con biến dạng qua DAO từ mấy ngày trước). Sức nổ vang dội lồng ngực. Một miểng hỏa tiển to bằng 4 đốt ngón tay chập lại văng lóc cóc trước mặt tôi, lượm lên còn nóng rẫy. Tôi đem vào phòng Hành Quân Chiến Cuộc báo cáo cho biết VC đang nhắm BTLKQ khai hỏa để các vị lo ẩn nấp kỹ hơn.
            Tôi đã nhận được “Cái Búa”. Phải, Cái Búa ! Cụ Võ (TMT Võ Dinh) qua hệ thống Truyền Tin nghe
            được báo cáo hoảng của Phòng Thủ Căn Cứ: “Phi cơ bỏ bom” (Họ đã nhầm lẫn phi cơ phóng pháo của mình đang phản kích bay trên vùng đúng lúc cộng pháo) nên gay gắt với tôi:
            - Phi cơ bỏ bom chớ pháo kích gì.
            Tôi uất nghẹn, tay còn cầm miểng hỏa tiễn, lặng lẽ quay ra. Tôi không hiểu sao lại không tin tôi, người ở Tuyến phòng ngự, đã mục kích lại có cả bằng chứng trên tay thế mà không được lắng nghe, lại tin nghe báo cáo hoảng của một anh lính nào đó. Có lẽ đấy là vận nước đã đến hồi đốn mạt!
            Hừng sáng thấy rõ mặt người, VC cũng đã ngưng pháo, tôi mới lững thững ra trước Cổng BTL quan sát tình hình thiệt hại trong đêm. Vừa bước ra ngoài “Ngựa sắt” một quả pháo ở đâu đã nhoáng nhoàng bên kia đường, khu ông Kỳ, hất rơi cả mũ tôi. Tôi vội lui vào phòng trực TLB (gần cổng chính) và nghĩ rằng đâu đây đã có “Tiền sát” Cộng quân điều chỉnh tác xạ. Tôi đã nhìn lên lầu nước trong khu ông Kỳ thì thấy thấp thoáng bóng người. Tôi không rõ phải lính của Lê Ngoạn (Trưởng Cận Vệ Ô. Kỳ) hay một tên “lộn sòng” VC nào đó. Tôi không có phương tiện truyền tin giữa các lực lượng phòng thủ khu vực để kiểm chứng.
            Tôi đã chỉ huy trong vô vọng. Tôi nghĩ tôi vô phước nhưng khi biết được cái dũng cảm chiến đấu cho đến lúc “Cá chậu chim lồng” của con Đại Điểu Phùng Ngoc Ẩn và các KQ thuộc CTCT thì tôi lại là người có diễm phước vì tôi chưa phải nếm “đòn thù” như các anh mà chỉ nếm “cái xuẩn” của bạn mình thôi.
            Tôi không muốn làm “con mồi” nhử cho Cộng quân pháo bừa vào BTL, tôi lặng lẽ lui vào phòng Hành Quân Chiến Cuộc nghe thuyết trình buổi sáng. Tin tức rời rạc không gì rõ rệt (còn ai đâu báo cáo, QĐ 3 đã gẫy súng !) Đang ngồi âu lo cho số phần Cộng Hoà sắp dứt thì được điện thoại của ông Hiệp trố (ANKQ) hỏi bây giờ làm sao? Tôi mạn phép Tư Lệnh khuyên nhỏ:
            - Hãy thu xếp vào ngay BTL. Có thể rút bất kỳ lúc nào. Nói xong tôi cắt điện đàm. Ngồi kế tôi, ông Hà Dương Hoán hỏi nhỏ:
            - Moa chạy về đón Bà cụ liệu có kịp không?
            Tôi trả lời:
            -Có thể không kịp. Tình thế quá khẩn trương rồi. Còn, mất chỗ nầy chỉ trong nội sáng nay thôi.
            Nghe thế, Hoán rời BTL. Tôi không rõ ông ấy đi đâu, làm gì. Sau nầy tôi có tin ông ấy và ôn= g Hiệp đã có mặt tại Hoa Kỳ mà không phải qua các đợt “Cải Tạo”.

            Khoảng 8 rưỡi 9 giờ, ông Tiên (Phan Phụng Tiên, người có lần được ông Kỷ nói là sẽ sai tới PX cướp rượu của Mỹ về đãi anh em) vào TLB gặp Tư Lênh, lo âu hiện rõ, sau đó bỏ đi. Ít lâu sau, ông Kỳ lái Riviera đậu trước tiền đình TLB, mở cửa xe bước lên Đại Sảnh, nét mặt cương nghị, dăm cọng tóc lòa xòa trước trán không dấu được phong trần thâu đêm trực thăng dạ thám, điều không, chỉ điểm mục tiêu cho Hỏa Long khóa mõm Đại pháo Cộng quân. Ông đã thảo luận riêng với “Cửu Long” (TLKQ Trần Văn Minh), lúc quay ra đã hỏi tôi:
            - Ai chỉ huy phòng thủ ở đây?
            Tôi nhìn xững trả lời:
            - Tôi, sao ạ ?
            Nghe xong ông hạ thấp giọng:
            - Có tin được không ?
            - Tin được cái gì cơ ? Tôi phân vân hỏi lại.
            - Lính của anh đó. Ông Kỳ nói rõ hơn.
            Lúc nầy tôi đã hiểu cái lo lắng của ông, tôi vội trấn an:
            - Ông yên tâm. Có điều tôi không đoan chắc, nếu khi rút đi không cho họ rút theo thì phản ứng của họ tôi không lường được.
            Ông Kỳ gật đầu ra lấy trực thăng bay đi, để lại Riviera nằm tại BTL.
            Chuông điện thoại reo vang, Cửu Long bốc nghe và đáp:
            - Khổ lắm, cả đêm đến giờ . . . !
            Tôi không biết Cửu Long nói chuyện với ai. Điều chắc chắn không phải Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân vì vị nầy đã xa rời quân ngũ mấy ngày nay rồi, cũng không phải Tổng Thống hay Thủ Tướng hay Bộ Trưởng Quốc Phòng vì các vị nầy còn đang bận nghi thức trao quyền cho Big Minh lập chính phủ nói chuyện với “Mấy người anh em bên kia”. Đây hẳn là bạn bè trang lứa thăm hỏi tình hình.
            Chốc lát sau, cựu Tham Mưu Trưởng Liên Quân N.V.Mạnh cùng với cựu Tư Lệnh QĐ 3, Trưởng Ủy Ban Quân Sự Liên Hợp 2 bên Dư Quốc Đống tất tả vào gặp Cửu Long , kế đó 2 vị và Cửu Long ra đi, gặp tôi còn vững tay súng trong y phục phi hành ngoài thêm áo giáp. Tôi đưa tay chào nghiêm túc, quân cách, trước Tiền đình TLB. Thấy tôi Cửu Long chào trả, ngập ngừng chân bước, ái ngại nhìn tôi và đột nhiên dứt khoát:
            - Toa ở lại đi sau với Lành nghe!
            Nói xong Cửu Long vội bước mau ra xe đã chờ sẵn, mặt buồn rười rượi. Tôi khẽ gật đầu ngụ ý chấp nhận số phần ở lại. Tôi suy nghĩ mông lung dẫu sao lời nói cuối cùng của vị Tư lệnh còn ngập ân tình với tôi, còn nghĩ đến và mong tôi cũng ra đi được cùng với người chỉ huy đoạn cuối.
            Tôi với Cửu Long là bạn học thời Trung học, rồi Cao đẳng Công chánh và sau đó cùng động viên nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị khóa I Thủ Đức. Ra trường mỗi đứa một nơi nhưng rồi tôi với Cửu Long lại có duyên cùng một quân chủng. Cho nên vào cuối đời binh nghiệp trước cảnh phân ly, sống thác chưa lường, Cửu Long đã dùng lời lẽ ân tình đãi ngộ người bạn quen biết từ thuở sơ thân tuổi học. Tôi không bao giờ quên anh ở giờ phút luyến lưu tình nghiã này. Tôi vốn đa cảm mà anh ấy lại thường chí tình với tôi. Những lúc bất ưng ảnh thường xa xôi mát mẻ với tôi chứ không ỷ quyền hành hạ tôi. Trên bước đường lưu vong, sa cơ thất thế, biết tôi trốn tránh cảnh đời, lặng lẽ nuôi con, giúp vợ, anh đã nhiều lần tìm viếng thăm tôi nhưng không gặp, ảnh cũng chẳng phiền mà chỉ: “Đ.M. nó lặn rồi!”. Gần đây tôi lên tiếng mời anh qua chơi, anh đã thư cho tôi hẹn có ngày sẽ qua bù khú với tôi cho thỏa tình 50 năm quen biết. Tôi thúc dục, ảnh bảo:
            - Lúc nầy moa đi đứng bất tiện nên chưa thăm ông bạn già được, cho moa khất hẹn, khi thuận tiện nhất định chúng mình sẽ bù khú bên nhau. Lúc nào có vào đất liền nhớ ghé thăm nhau nghe.
            Cái ngày hẹn gặp, nay đã chẳng bao giờ còn gặp, còn thấy lại nhau, kể cho nhau nghe cái ngày ly tan ấy để cho nhau thẩm thấu thêm cuộc đời nó vừa đen vừa bạc! Ảnh đã vỗ cánh vút cao tiên cảnh. Tôi còn chới với hồng trần chưa giải xong cái ấm ức trong tôi, giữa tôi và ảnh, giữa ảnh và những người bao quanh xum xoe ăn hại đái nát.
            Lòng tôi còn đang đau nặng phút phân ly thì “Cụ Võ” (Võ Dinh) và “Cụ Hách” (TTHLKQ Nguyễn Oánh), 2 vị tay nặng chĩu “Valise” hặm hở bước ra, bương bả (Võ Dinh và Nguyễn Oánh là hai sĩ quan bộ binh được Pháp chuyển qua khi KQVN được thành lập) . QC nghiêm chào. Tôi nghiêm mặt quan sát, lòng thầm trách:
            - Thế là cái quái gì ! Ai lại sách tế nhuyễn khơi khơi trốn chạy thế kia?
            Còn đang bàng hoàng trước phong thái hết nhuệ khí của 2 cụ, tôi đột nghe:
            - Cho tôi cận vệ !
            Một lệnh chắc nịch không chút ngượng ngùng. Lúc ấy cộng quân mà nổ súng dứt điểm thì chắc chắn tôi mời 2 cụ đi chỗ khác chơi cho quân binh chúng tôi diệt Cộng. “Cọp chết để da, Người ta chết để tiếng” nhưng Cụ Võ” chẳng chịu để tiếng. Cụ Hách chắc thầm hiểu cái “không phải” nên biết thủ khẩu như bình.
            Tôi với 2 cụ chẳng lạ gì nhau thế mà một lời ly biệt chẳng thấy tạ từ. Tôi và quân sĩ của cụ đang ở ngưỡng cửa cái sinh và cái tử, cụ chẳng chịu cùng chúng tôi giữ cái “danh tiếng muôn đời” nỡ nào cụ đòi lấy đi bớt những tay súng vốn dĩ đã nghèo lại dồn tôi phải chịu cái eo.
            Lệnh cụ ban. Tất cả đều im lặng.
            QC túc trực, Đ/U Trâm chỉ huy phòng vệ thuộc quyền tôi, ngơ ngác nhìn tôi, ngỡ ngàng, chờ phản ứng của tôi, vị chỉ huy trực tiếp đã gian nan chia xẻ những nhọc nhằn với họ suốt từ lúc phản đồ A 37 (Nguyễn Thành Trung) vung vít xuống đầu anh em.
            -Những tên phản đồ nầy đừng tưởng được “lưu danh thiên cổ”, các chú đã “lưu xú muôn đời” có hiểu không ?
            - Họ (QC + Đ/U Trâm) đã tìm thấy vị trí của họ, họ đã đứng hẳn sau lưng tôi, họ không còn thói xu nịnh cố hữu bọc theo Tướng như lúc an bình. Họ không nhúc nhích.
            - Cho tôi Cận vệ “escort” (hộ tống) tôi đi, nghe không?
            Cụ Võ (vẫn cụ Võ) đã hung hăng lập lại lệnh “Hèn” (xin lỗi cụ!). Tôi không còn thầm trách, tôi cũng chẳng còn thấy giận. Tôi đã hiểu đến giờ phút này thế là xong. Tuyệt vọng ! Gương bỏ ngũ đang Diễu Võ Dương Oai. Quân sĩ tinh thần đang giao động mãnh liệt, chỉ cần một tiếng súng, không cần rõ ai khai hỏa, Quân sẽ tan từng mảnh, chúng sẽ chạy vì Tướng đã chạy trước rồi! Trí óc tôi làm việc nhanh. Tương kế tựu kế, đánh tháo đàn em, cứu chúng thoát vòng trách nhiệm của cái “Vô trách nhiệm”. Tôi dõng dạc ban lệnh:
            - Đ/u Trâm và QC “theo sát” cận vệ. Đi đi “đừng rời trách vụ”.
            Tôi ngụ ý: “các anh hãy nắm lấy cơ hội này theo Tướng thoát đi”. Tôi nhìn nhân viên với ánh mắt thông cảm và khẽ gật đầu phất tay cho họ đi thoát. Họ đã chào tôi lần cuối, có thể là cái chào tri ân. Tôi mỉm cười, quay bước vào phòng tình hình, lúc này chỉ còn ông Linh, ông Lành. Óng Lượng đã đi đâu lúc nào tôi không biết. Được một lúc khoảng hơn mười giờ gì đó, ông Ước đáp trực thăng trên sân banh chạy vội vào gặp ông Lành, xong cùng ông Linh trở ra kéo luôn tôi theo, miệng nói:
            - Đi mày.
            Tôi nhìn Linh xong quay qua hỏi Ước:
            - Đi đâu ?
            - Qua Tổng Tham Mưu xem tình hình ra sao Ước nói vội và nắm tay tôi lôi đi.
            Vũ Văn Ước là thế, đối với anh em lúc nào cũng tận tình, không tìm cách dối gian, không quên bằng hữu, không bỏ bạn bè. Tôi và Ước đã từng âm thầm vượt qua những lúc khó xử của chính biến và binh biến. Vào những thời điểm đó chúng tôi chỉ lặng lẽ nhìn nhau, hiểu ý. Ước không đón gió, xu thời. Anh luôn luôn đứng bên lẽ phải, hòa đồng với mọi giới, không hách xì xằng khi đắc thời. Anh rất nhậy bén tình hình. Hẳn nhiên anh đã cảm thấy cái gì không ổn nên đã tìm gặp ông Lành rồi lôi tôi đi vì chẳng yên lòng để tôi ở lại làm “Đười ươi giữ ống”.
            Tôi, Ước và Linh lên trực thăng qua đáp tại sân cờ trước tiền đình Bộ TTM. Linh, Ước chạy lên văn phòng TTMT. Tôi không theo, bước xuống trực thăng ngó quanh quan sát một vòng, thấy Công binh chiến đấu đang đặt bộc phá, giây nhợ tùm lum tại Trung Tâm Hành Quân Bộ TTM. Đảo mắt chỗ khác thấy trực thăng Tướng Kỳ. Đàn em trước kia của tôi hiện là cận vệ ông Kỳ vội từ trực thăng nhảy xuống chạy đến tôi nói nhỏ:
            - Trong giây lát trực thăng sẽ bay ra Blue Ridge (Soái hạm Đệ thất hạm đội Thái bình Dương của Hoa Kỳ), ông hãy lên cùng đi.
            - Tôi hỏi Tướng đâu ?
            - Họp trên Văn Phòng TTMT.
            Tôi lững thững bước lại trực thăng nhìn vào đã thấy Hà Xuân Vịnh ngồi trên đó từ hồi nào. Tôi buột miệng:
            -Lẹ vậy!
            Vịnh nhún vai cười toét, không trả lời. Vịnh là văn nhân phải hơn, lúc nào cũng nhởn nhơ chẳng coi việc gì là quan trọng, chẳng thích hơn thua, kèn cựa thế mà lại là Hoa tiêu phóng pháo đã có Chiến thương bội tinh.
            Tôi leo lên ngồi cạnh, suy nghĩ lung đến những lời tâm sự của ông Kỳ với các Tướng lãnh KQ anh em mấy ngày trước đó: “Tôi (ông Kỳ) đã tìm gặp và hội kiến với cụ Hương (đang hành sử chức vụ Tổng Thống VNCH thay thế vị tiền nhiệm vừa từ nhiệm trong hằn học) thỉnh cầu cụ chính thức chỉ định tôi giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân cho tôi có đủ thẩm quyền chỉnh đốn hàng ngũ quân đội, lập thế ngăn địch, lấy QK 4 trường kỳ chiến đấu. Cụ Hương đã từ chối khéo, viện dẫn tôi đã từng là Thủ Tướng Chính Phủ và Phó Tổng Thống nên chức vụ TTMT Liên quân không hợp thể thống lễ nghi cho tôi. Cụ ấy yêu cầu cho Cụ ít ngày sẽ bổ nhiệm tôi làm phụ tá Quân sự đặc biệt giúp Cụ. Tôi giải thích, nhấn mạnh, tôi không quan tâm đến nghi lễ, tôi chỉ mong có cơ hội chỉ huy quân lực ngay giờ phút thậm chí “nguy ngập” này. Cụ Hương đã lắc đầu nhất định không trao quyền chỉ huy cho tôi”.
            Phải, cụ Hương đã sợ, cả “Đồng minh chạy làng” cũng sợ ông có binh lực trong tay. Họ sợ sẽ không khống chế nổi= ông, làm sách lược của họ hư cả !!!
            - Khốn nạn thay cho một nước nhược tiểu lại có một vị trí chiến lược trong vùng tranh chấp!
            - Cũng khốn nạn thay cho Quân Dân miền Nam vô phước, gặp cảnh Quân cướp đã tới ngoài ngõ, lửa phừng phừng khắp nơi, trong nhà còn nghi kỵ lẫn nhau, phân tranh ngôi thứ!
            Đang miên man nghĩ cho mạt vận của nước, mạt kiếp của mình thì ông Linh từ Tư lệnh Bộ/TTM chạy ra một mình đến bên trực thăng có tôi và Hà Xuân Vịnh đang ngồi đăm chiêu mỗi người một ý nghĩ, Linh cứ loanh quanh ở dưới chẳng chịu bước lên cùng chúng tôi. Tôi vội leo xuống lại gần Linh nhỏ to:
            - Linh ! Kỳ sẽ rút ra Đệ thất hạm đội, hãy lên cùng đi. Hết cách thôi!
            Linh dường như có điều gì bất ưng nên nhứt định không lên tàu. Tôi hỏi:
            - Sao?
            Linh nói:
            - Thiếu gì máy bay.
            Tôi vội báo động:
            - Máy bay nào nữa, còn chiếc duy nhứt này thôi.
            - Chiếc nữa kia kìa. Linh vừa nói vừa chỉ tay về chiếc trực thăng mà Tôi, Ước và Linh vừa đáp hồi nãy.
            - Tàu còn đó, Hoa tiêu đã vội bỏ đi rồi (có lẽ họ đã hiểu đây là phút ly tan nên vội về lo cho vợ con).
            Tôi nói với Linh thế là vì tôi đã thấy họ phóng Jeep ra khỏi TTM. Linh nhứt định không nghe, không lên tàu di tản. Tôi đành ở lại bên anh. Tôi không thể bỏ anh thoát thân một mình. Tôi ở lại chia sẻ số phần với anh vì ngoài tình quân ngũ, ảnh còn có liên hệ gia đình thật gần với tôi. Anh em sống chết có nhau. Hơn nữa tôi chợt nhớ còn ông Võ Xuân Lành vị chỉ huy đoạn cuối mà Cửu Long khi rời đơn vị đã căn dặn tôi đi cùng, tôi cần phải chu toàn lời nhắn nhủ lúc chia phôi.
            Óng Lành với Tôi cùng bạn quân trường, chung một khóa học, nằm đối đầu nhau cùng một đơn vị khóa sinh. Lành ít= nói, suốt ngày lầm lì, kỷ luật gương mẫu, thương lính như thương mình, chẳng hề nạt nộ ai.
            Vào những đêm cuối cùng cuộc chiến, Lành vẫn xuống văn phòng ứng chiến của tôi xoa mạt chược còm, chờ đợi kết quả các phi vụ Hành quân đêm chặn địch tại Long Khánh, Xuân Lộc. Ảnh đã mỉm cười khi nghe báo cáo “Qủa bom heo” (Daisie cutter) thả từ C.130 đã làm cóc nhái, ễnh ương (cộng quân) câm tiếng. Mặt trận Xuân Lộc, bình thường nhóc nhen, à uõm thâu đêm, nay bỗng dưng bặt tiếng yên lặng dễ sợ! Đột nhiên, quân bài chưa bốc, Lành đã vỗ mạnh tay xuống bàn, miệng hô “MỦN CUN” rồi đúng dậy, cười, quay về văn phòng của anh trên Tư Lệnh Bộ.
            Tôi hiểu ý, cười theo, đứng dậy tiễn đưa.
            Tôi còn đang phân vân bàn thảo với Linh những bước kế tiếp thì ông Kỳ từ Đại Sảnh Bộ TTM bước ra hướng về chổ trực thăng đậu chờ, dẫn theo số đông (Tướng lãnh?) bước rảo lên tàu cùng với Ước bay đi để lại tôi và Linh tự quyết lấy phận mình. Tội và Linh đồng thời cả Đặng Duy Lạc, Không Đoàn Trưởng KĐ-A37 (không biết từ đâu chui ra) vội gọi QC/TTM yêu cầu hộ tống chúng tôi trở lại BTLKQ.
            Trong khi còn sớ rớ chờ QC lấy xe thì có mấy anh SQ P.2/TTM biết tôi vội chạy lại hỏi dò:
            - Các Tướng đi đâu vậy. Ông có tin gì cho anh em biết với. Tôi ái ngại nhìn vẻ âu lo của các anh ấy và thẳng thắn nói toặc ý nghĩ của mình:
            - Tất cả đã hết. Các Tướng đã cao xa. Các anh cũng nên tìm đường tự cứu.
            Tôi không thể dối nhau vì mọi người đã lén lút dối nhau quá nhiều rồi. Tôi không hiểu tại sao lại phải dối nhau, nếu mình không lo được cái an nguy của nhau thì cứ đường đường, chính chính nói thẳng để anh em tự tính, có phải trong nhau không vẩn oán hờn. Nói xong xe QC cũng vừa trờ tới, chúng tôi 3 người KQ lạc lõng lên xe. Với tài xế tôi nói:
            - Nhờ anh cho chúng tôi trở lại BTLKQ.
            Xe rồ máy phóng đi, trực chỉ Cổng Phi Long, xạ thủ Đại liên trên xe cảnh giác cao độ khi tiến đến đám đông lẫn lộn quân dân bu nghẹt cổng vào. Cảnh vệ KQ, sau hàng kẽm gai, khẩn trương phòng thủ: “Nội bất xuất, Ngoại bất nhập”.
            Tinh cầu lấp lánh trên vai, Linh cho lệnh mở cửa. Quân ta phớt tỉnh không nghe. Đặng Duy Lạc ngồi yên khúc gỗ. Tình hình thật gay cấn, quân dân hỗn độn, nếu cộng quân có măt trà trộn trong đám đông thì thương gì mà không tặng cho chiếc Jeep có Tướng Tá KQ đang kẹt cứng với quân mình một quả lựu đạn hay một tràng AK phong thần tụi nầy. Âu cũng là cái hay không còn thấy cái hèn, cái tủi thêm nữa!
            Thấy ông Linh hết “linh” tôi bước xuống xe tiến thẳng đến chỗ anh KQ bất tuân thượng lệnh, điềm đạm ra lệnh không thiếu vẻ đanh thép:
            - Em! Hãy mở cổng ngay. Đừng chậm trễ. Lệnh HQ khẩn cần thi hành. Mau lên!
            Tôi chẳng hiểu cái “Uy” hay cái “Tình” của tôi đối với thuộc cấp thủa xưa đã khiến được anh riu riú vâng lời. Có lẽ cái “TÌNH” vì cả cuộc sống tôi chỉ biết lấy “TÌNH' đối xử với nhau dẫu cho tôi ở cương vị nào đi nữa. Trong đời Binh Nghiệp tôi đã thấy và gặp cái “VÔ TÌNH” có khi đến tán tận lương tâm của nhiều Quyền lực bệnh hoạn tâm hồn nắm quyền sinh sát trong tay… (Tôi đã đau buồn, tôi tủi phận tôi, tôi chỉ âm thầm ôm lấy cho riêng tôi.)… Cổng mở, Quân dân vội theo vào. Lính gác nổ sung chỉ thiên. Tôi vội ngừng xe bảo họ:
            - Hãy cho các KQ và gia đình vào. Cần cảnh giác tối đa. Đừng để mất trật tự.
            Nói xong chúng tôi vào thẳng BTLKQ gặp ông Lành. Ôi ! Hãnh diện thay! Niềm tự hào KQ đang ở chỗ này! Niềm danh diện QLVNCH cũng đang ở chỗ này! Tướng Lành, trước thế quân tan vỡ, quân binh đang đua nhau bỏ ngũ, ông vẫn trầm tĩnh kiên trì thủ Đài chỉ huy Hành Quân Chiến Cuộc KQ. Ông giữ vững liên lạc với SĐ4KQ, SĐKQ duy nhất còn hăng say chiến đấu trong khi nhiều Đơn vị đã vội ngừng nghỉ. Ông đang chờ lệnh tung toàn lực KQ còn lại đánh canh bạc chót.
            Ông Linh tóm lược tình hình bên Bộ TTM cho ông Lành rõ. Ông đứng dậy rời Phòng HQCC bước ra tiền đình Đại sảnh mặt không lộ tâm tư. Ông Linh đề nghị rút khỏi TSN. Tướng Lành thật là “lành” nói với Linh trước sự hiện diện của tôi và Đặng Duy Lạc:
            - Moa chưa có lệnh.
            KQ vẫn đợi lệnh. Phải, chúng tôi vẫn đợi, vẫn chờ dài cả cổ suốt từ lúc mấy “tên mất dạy” làm chuyện lừa thầy phản bạn đến giờ. Chúng tôi chờ lệnh ai đây! Tổng Thống dân cử, Phó Tổng Thống dân bầu đã viện hết lý này lẽ nọ chối bỏ trọng trách toàn quân toàn dân trao phó, tìm thế yên thân, bỏ mặc quân dân tang tóc…
            Thủ tướng chính phủ, Đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng chỉ còn biết nghĩ cho cái an nguy của riêng mình. Thật quả bất hạnh cho quân dân miền Nam! Mọi người đã bỏ đi cả rồi!
            Tội cho ông Lành vẫn ngồi chờ lệnh. Mà lệnh của ai đây! Tôi buột miệng:
            - Ông chờ lệnh ai, còn ai đây nữa để có lệnh cho mình.
            Ông Lành trầm ngâm không nói, chúng tôi lặng yên chờ (lại chờ) quyết định của ông, chợt Tướng Lưỡng (dù) xịch Jeep đến, thấy tụi này còn đương nhìn nhau vội hỏi:
            - Tụi toa định làm gì đây?
            Ông Lành ngượng nghịu chưa biết phải nói sao cho đỡ khó nói. Lành là thế đó, lúc nào cũng sợ phải mang tiếng hèn nên chẳng có lời hèn. Tôi nghĩ khác, giờ này không phải đem cái “DŨNG' cái 'HÈN' mà luận anh hùng, giờ này phải là lúc có quyết định nhanh và dứt khoát.
            Tôi nhận cái “Hèn” cho tôi. Tôi nhìn thẳng Tướng Dù nói nhanh:
            - Tụi này Zoulou đây. Ông có theo thì cùng đi.
            - Zoulou ? Zoulou bỏ lại mấy đứa con (ý nói các TĐ dù) lang thang sao đành! Ông Lành hỏi:
            - -Toa còn mấy đứa con ?
            Ông Lưỡng:
            - Sáu đứa chung quanh đô thành.
            Lúc này trực thăng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ và bốc người loạn cào cào không phận Saigon TSN. Tôi đỡ lời ông Lành:
            - TSN không giữ được, KQ chúng tôi phải rút khỏi tầm pháo địch trước đã.
            Ông Lưỡng vội hỏi:
            - Tụi toa định rút đi đâu ?
            Tôi lại nhanh nhẩu:
            - Có thể vùng 4, có thể đi luôn.
            - Chờ moa một chút, cho moa về thu xếp với mấy đứa con cái đã.
            Nói xong ông Lưỡng lên Jeep về SĐ Dù. Nhân lúc chờ đợi Tướng Dù trở lại, các Sĩ quan cấp
            KĐ, Tham Mưu BTL KQ hiện diện cùng với một số binh sĩ thuộc Tổng Hành Dinh KQ vội tập họp trước tiền đình TLB bao quanh chúng tôi nghe ngóng tình hình. Biết ý họ, tôi nói thật nói thẳng:
            - Dưới áp lực nặng của Pháo cộng, BTLKQ buộc phải rút khỏi đây. Ai muốn theo hãy sẵn sàng.
            - Thưa rút đi, đi luôn ạ. Một Hạ sĩ quan thuộc THDKQ hỏi lại.
            - Hãy biết rút khỏi đây đã, có thể là vậỵ Tôi vắn tắt không giải thích nhiều hơn. Vị Hạ sĩ quan này đã không cầm được nước mắt buồn bã xin tôi:
            - Cho chúng em ở lại vì chúng em còn vợ con không thể bỏ đi cho đành.
            - Tùy các anh, tôi không ép buộc ai cả.
            Chỉ có Th/sĩ Văn, chỉ huy trưởng QC/BTLKQ quyết chí theo chúng tôi. Một Binh nhì KQ gốc miền Trung bỗng lên tiếng:
            - Thưa, tất cả đi rồi Em còn tiếp tục đứng gác Cổng BTL nữa không?
            Tôi đau lòng thấy lính mình quá chân thật, vội nói lớn như muốn mọi người hiện diện cùng nghe:
            - Kể từ giờ phút này các anh không còn trách nhiệm gì với KQ nữa. Các anh có thể rời đơn vị lo cho sự an nguy của vợ con càng sớm càng tốt. Còn em, tôi vỗ vai anh Binh nhì đơn thuần, Em không cần lo cho cái BTL bỏ trống này, Em hãy về nguyên quán.
            - Thưa, Em chẳng còn ai, đường xá đã cắt đứt cả rồi.
            Nước mắt chảy vào tim, tôi chỉ còn biết dúi vào túi người lính thiếu may này mấy tờ “tiền Lèo” để cậu ta có thể sống đỡ ít hôm liệu tính cho phận mình. Cùng lúc đó, Tướng Dù đã trở lại. Chúng tôi luận kế rút đi, khi xét kỹ lại không ai là Hoa Tiêu vận tải. Tướng Lành, Thảo Nâu, Đặng Duy Lạc đều là Hoa Tiêu phóng pháo. Ông Linh đề nghị qua DAO.
            - SĐ5KQ thì sao? Tôi hỏi nhỏ Linh.
            - Các Hoa Tiêu đã tự ý rút cả rồi (vì không muốn đưa lưng chịu thêm Pháo cộng nữa). Linh thở dài trả lời tôi.
            Bây giờ tôi đã “hiểu” tại sao ông Tiên lên TLB gặp Cửu Long với nét mặt không vui và đầy lo âu hồi sáng nay. Sau phút suy tính, Vị chỉ huy đoạn hậu BTLKQ cho lệnh rút. Tất cả đã lên 3 Jeep, dẫn đầu bằng Jeep có đèn chớp ưu tiên trực chỉ DAO. Tới Cổng DAO, một dân sự Mẽo mặc áo giáp, M17 cầm tay chặn chúng tôi lại:
            - General only ! Tên đó hách dịch ra lệnh.
            Hai Tướng KQ một Tướng Dù bước vào trong rào kẽm gai, ông nào cũng đeo Browning 14 phát cạnh sườn. Tôi mặc áo liền quần đèo thêm áo giáp cũng lủng lẳng Browning ngang lưng, lững thững theo vào phớt tỉnh kể như không nghe anh Mẽo sủa gì, chờ tôi bước vào trong, anh mọi Da đỏ kéo kẽm gai khóa lối.
            Một tiếng mách bu chói lói vang lên:
            - There are only 3 generals. Three only!
            Tôi quay nhìn ra mới hay ĐVR đang hận vì sao tôi không lon không mão lại được hưởng quy chế Tướng Lãnh ngang xương.
            Ghen ? Ganh ? hoặc muốn ngầm ý nhắn với giặc Mỹ anh mới là người xứng đáng được qua ải sau Tướng vì anh, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh KQ, đường đường một đấng cao sang !!! Tên Da đỏ chẳng có phản ứng gì, chắc còn đang tìm hiểu xem cái ông đeo 3 hoa bạc sáng ngời muốn lắp bắp cái gì hoặc thấy tôi phong trần trong quân phục phi hành tác chiến nên muốn đặc biệt đãi ngộ tôi. Ông Linh nghe tiếng ĐVR tiếp tục tru tréo vội gỡ sao của ổng, nói lớn trước sự chứng kiến của ông Lành:
            - Anh hãy nhận “Sao” này. Vừa nói vừa gắn “Sao” cho tôi.
            Tôi đưa tay chận lại vừa đùa vừa phân bua:
            - Các ông nhớ đấy nhé. Vào giờ phút cuối cùng của KQ tôi đã lên Tướng, Tướng KQ. Đúng là Tướng Không còn Quân. Ông Linh dã không cười, ông Lành cũng không cười. Linh nói trong nước mắt:
            - Giờ phút này anh còn đùa được sao ! Anh hãy nhận “Sao” đi.
            Tôi lắc đầu, đồng thời quay ra, tự tay gỡ kẽm gai bước khỏi vòng phân ranh Mỹ-Việt. Anh Mẽo gác cửa chẳng hiểu cái anh phi hành bé người kia đã vào sao lại bỏ đi trong khi nhiều người muốn vào lại vào không được. Tôi mặc xác anh Mẽo nghĩ gì, tôi chỉ lo trấn an ĐVR:
            - Tao không bỏ nhau đâu.
            Linh thấy tôi bỏ đi, mếu máo, có lẽ đã hối hận để tôi kẹt lại trong khi tôi đã có thể cùng ông Kỳ thoát đi an toàn rồi, nên trước khi vào DAO đã nói vọng ra ngoài kẽm gai:
            - Anh về hãy dùng đường bộ rút xuống vùng 4 với Tần.
            Tôi nghĩ đó là đường tự sát vì giờ đây quanh Đô thành còn nơi nào Cộng quân không đóng chốt. Để Linh yên lòng đi thoát, thoát người nào vẫn may cho người đó, tôi an ủi:
            - Linh, yên tâm, cứ đi. Tôi biết tự lo. Nhớ lo cho vợ con tôi, nếu có cơ hội.
            Nói xong tôi vội nhảy lên Jeep và nói lớn với các SQ không phải là Tướng, lố nhố kẹt cứng trước Cổng DAỌ
            - Chúng mình quay lại SĐ tìm phương tiện khác thôi.
            Tất cả nhảy lên mấy Jeep đậu đó, lúc ấy tôi mới để ý thấy có ông Thảo Nâu, ông Thân Kiểm Báo, ông Đặng Duy Lạc, ông Chu Trọng Để, một số SQ cấp tá, cấp úy khác và lẽ dĩ nhiên có cả người anh em “mách bu”.
            Dẫn đầu là chiếc Jeep có đèn hiệu chớp tắt do Th/sĩ Phan Thành Thiệt lái, kế là xe tôi đoạn giữa, xe lăn bánh hướng về phi cảng thì “Đoàng! Đoàng” mấy quả đại pháo nổ ngang trước mặt, Phan Thành Thiệt trúng thương (chắc nhẹ), xe đổi hướng lòn qua khu Cứu hỏa, vừa lú đầu ra khỏi thì “Đoàng! Đoàng” thêm mấy quả pháo giăng. Đoàn xe vội ngừng, tất cả nằm dài trên thềm cement tránh đạn.
            Tôi suy nghĩ cớ gì đạn pháo lại đeo đuổi đoàn xe sát thế. Hẳn nhiên Tiền sát Cộng quân điều chỉnh tác xạ rồi, không biết chúng núp ở đâu? Trên Đài kiểm soát Không lưu? Trên lầu nước SĐ? Trên nóc nhà thờ Gò Vấp cận vòng đai phi trường? Chúng ở đâu mình không rõ nhưng chúng biết rõ mình ở đây, trong khu Cứu hỏa dân sự, đang phơi bụng chờ Pháo phanh thây. Chúng sẽ “salvo” vì chúng đã đóng khung mình rồi. Nghĩ đến đó tôi quyết định không nằm chờ chúng làm thịt, tôi phải thóat khỏi nơi nầy. Tôi nói lớn:
            - Chúng ta hãy rời khỏi nơi đây. Cộng có thể đìều chỉnh pháo tới. Hãy tìm phương tiện thoát thân.
            Nói xong tôi đúng dậy ra xe thì nghe tiếng Phan Thành Thiệt:
            - Em không đi nữa. Em ở lại ăn thua đủ với chúng. Em đã trúng thương.
            Tôi quay lại xem xét vết thương cho Thiệt, chỉ thấy vài đốm lấm chấm máu khô trên má, trên cổ, có lẽ do đá sạn cement văng trúng ngoài ra không có vết thương nào xuất huyết cả. Tôi bảo:
            - Đi Thiệt, anh bị thương nhẹ thôi. Hãy theo tôi, ở lại không được đâu.
            Thiệt cương quyết ở lại. Tôi đành lên xe ra đi. Trên xe có Thảo Nâu, Thượng sĩ Văn và một số sĩ quan chừng độ chục người đeo nặng thành xe. Xe vừa xiêu vẹo ra bãi đậu thì Cộng lại ẫm ương pháo, chỗ này đám khói, chỗ kia đám cháy. Tôi, Thảo, Văn đổ lỳ, cứ đi nghĩ rằng hôm nay là ngày lên ngồi bàn thờ cũng phải rồi. Thảo bảo tôi:
            - Mình ra khu trực thăng, moa thấy nhiều lắm, đậu phiá gần phi đạo hướng Bà Quẹo đó
            Tôi thắc mắc:
            - Cậu ra khu trưc thăng làm gì ? Cậu khu trục thì đến khu trục chớ ! Cậu biết lái Trực Thăng à?
            Thảo cười mũi:
            - Tàu nào Thảo Nâu chẳng lái được. Óng đừng coi thường tôi chứ, Thảo Nâu mà ông quên rồi sao?
            Bụng tôi nghĩ “Nâu” chỉ liên hệ với “Nắng” vì “Nắng” nhuộm Nâu hắn chứ ăn nhậu gì đến lái đủ loại máy bay, chẳng lẽ hắn Nâu vì dầu mỡ đủ loại máy bay nhuộm hắn, hắn lăn lộn với đủ loại tàu à ? Có lý ! Tôi khích hắn:
            - Có thật không đó cha, Thảo Nâu lái khu trục thì biết rồi. Chapeau! Còn cái khác chưa biết à.
            - Ông cứ tin tôi đi. Tàu gì tôi chẳng nhúng tay vào.
            Thoáng chốc đã đến chỗ đậu Trực Thăng. Lên chiếc nào mở máy cũng không nổ. Tôi cười cười, hắn nổi xùng nhảy xuống mở thùng khám xăng, hết tàu này đến tàu kia. Tàu nào cũng khô ran.
            Thảo Nâu thành Thảo Xám, hắn đù lu bù. Sau cùng hắn nắm lấy chú lính gác quanh đó chất vấn:
            - Sao không có chiếc nào có xăng vậy hả. ĐM làm ăn sao vậy ?
            Chú lính lắp bắp:
            - Tại Tướng Tiên cho lệnh rút hết xăng khỏi tàu.
            Tôi đã hiểu, ông Tiên sợ các người hùng bỗng dưng nổi sùng, Tập đoàn cất cánh về nơi vô định thì ông Tiên còn ai đâu để đàm đạo đánh đấm… ồng cũng có cái lý của ông vì thực ra khi ổng vào TLB gặp Cửu Long với nét mặt âu lo như gà mắc đẻ là lúc các Hoa tiêu Vận tải rủ nhau lên chiếc tàu C.130 xuôi “Thái Lan” giã từ Tổ Quốc Không “Gì-Ăn” nhập đoàn “Cái Bang” lang thang khắp chốn “Cờ Hoa” khất thực.
            Chọn Trục Thăng thoát nguy không xong, Thảo Nâu chở tôi trên Jeep tìm Cessna. Gặp Cessna Thảo leo lên bảo tôi ngồi ghế phải. Hắn quay máy, máy nổ. Bỗng nhiên con tàu xao động dữ dội. Quan quân ở đâu nhiều thế, đang dành nhau lên tàu. Chú Văn (QC) vẫn theo sát tôi từ sớm cũng đã nhanh chân lên được ghế sau.
            Cessna chỉ có 5 chỗ, 2 trước 3 sau, làm sao chứa trên chục người. Đeo toòng teng? Mặc kệ cứ đeo!
            Thảo Nâu nổi thịnh nộ:
            - Tàu chỉ đủ chỗ cho 5 người thôi. Tụi bay đeo đầy như thế bay làm sao được. ĐM tao chịu thua rồi đó.
            Thảo Đù mặc Đù, chạy chết cứ chạy, Sĩ quan, Binh sĩ cứ lì, ai ngồi cứ ngồi, ai đeo cứ đeo. Tôi cảm thấy bất nhẫn, mình muốn đi lại bảo người ở lại, mình muốn tự do lại bảo người cá chậu, mình muốn thoát lại bảo người đừng theo. Tôi thấy xấu hổ! Rõ ràng mình trốn chạy lại bảo thuộc cấp ở lại cho mình dễ trốn. Nếu chở đủ cả chục người đeo trong đeo ngoài thì tàu làm sao cất cánh, cứ là rụng như sung, cái chết cầm chắc. Lỡ mình sống, thóat, nhưng thuộc cấp tan thây, nát thịt, chắc chắn mình sẽ sống không yên trong quãng đời bại trận còn lại. Lương tâm người chỉ huy chẳng bao giờ tha thứ cho hồn mình.
            Tôi bất lực. Tôi cũng chỉ là người tháp tùng, chiếm một chỗ ngồi, mặc dầu tôi chủ xướng tìm phương tiện thoát thân. Tôi không thể lấy tư cách chủ xướng mà có được một chỗ ngồi an lành. Tôi cũng không thể lấy tư cách là vị Sĩ Quan cao cấp thâm niên nhất mà dành quyền chễm trệ.
            Thảo Nâu thì khác, anh có quyền vì anh là “Thợ Lái”, không có anh tất cả đều ở lại. Anh ta là Phi công Khu trục, chiến đấu quyết liệt suốt chiều dài cuộc chiến, ảnh không đầu hàng, không thể đầu hàng dễ dàng nhất là cái trở ngại nhất thời “chạy chết của anh em”. Chỉ còn tôi, tuy tôi bất lực với mọi người, với con tàu, nhưng tôi vẫn còn quyền, còn khả năng quyết định cho chính tôi, chính bản thân tôi. Tôi không sai khiến ai đươc nữa nhưng tôi vẫn sai khiến được tôi.
            (Phần này sẽ sửa tiếp)
            Tôi lấy quyết định:
            - Các anh không chịu nhường nhau thì tôi nhường chỗ tôi cho các anh.
            Nói xong tôi mở cửa bước xuống. Thảo vội níu tay tôi lại, có lẽ anh ấy đã mục kích cảnh tôi đã vào DAO lại quay ra cùng chia xẻ gian nguy khốn khó với anh, cùng anh đổ lì trong lửa đạn tìm hết tàu này đến tàu khác để có được con đường sống, nay đường sống trong tầm tay thì lại nhường lại cho em út, ảnh đã không chấp nhận:
            - Không được! Ông có xuống thì cũng chỉ có một chỗ trống thôi.
            - Anh Thảo ! Lời nói của anh cho thấy cái công chính mà anh luôn có trong anh, cho thấy cái thân quí mà anh dành cho tôi trước cảnh chia ly. Chính cái tình này đã đủ sưởi ấm lòng tôi cho tôi thêm can đảm dứt khoát rời tàu.
            Nói với tôi xong Thảo quay về phiá sau la lớn:
            - Tụi bay có xuống bớt không. Tao chịu thua rồi đó.
            Thảo lập lại “chịu thua” một lần nữa, không một ai nhúc nhích. Tôi cương quyết leo xuống dành đường sống cho em út dẫu cho chỉ có một chỗ thôi: một mạng được sống còn hơn một mạng phải chết! Tôi không kiêu hùng gì, quả cảm gì, tôi chỉ hành sử đúng tư cách của cấp chỉ huy lo cho cái an nguy của thuộc cấp trước khi nghĩ đến cái an nguy của chính mình.Tôi leo xuống, hi vọng nêu gương tốt cho những anh em khác cũng nhường chỗ cho nhau để ít ra cũng còn người sống không đến nỗi chết cả đám, chỉ vì lo chạy mà không nghĩ đến phi cơ rơi do qúa tải; lưu xú muôn đời!
            Tôi lên Jeep định lái đi thì QC Văn cũng bỏ tàu leo lên ngồi cạnh tôi. “Huynh đệ chi binh” là chỗ này đấy!
            Sống chết có nhau cũng chỗ này đấy! Thày trò chúng tôi vẫn có nhau từ sáng đến giờ. Văn không để tôi đơn lẻ trên bước đường bại tẩu. Tôi mở máy, lái xe đi, chợt thấy một Caribou cửa hậu để mở, trên đầy quân nhân, đàn bà, trẻ nít và hành trang ngổn ngang. Tôi vội lái xe về hướng đó thì chiếc Caribou chuyển bánh chạy đi. Tôi càng đuổi, Caribou càng tăng tốc lực. Tôi ra dấu cho mấy người trên Caribou báo cho Hoa tiêu chờ chúng tôi đi với. Caribou cứ vô tình gia tốc. Văn bỗng nổi giận “mất khôn” đưa Tiểu liên toan lảy cò vào lòng tàu. Tôi vội cản lại:
            - Đừng, đừng bắn anh Văn. Anh em vợ con KQ cả đó. Tôi xin anh!
            - Mấy người đó vô tình, quyết bỏ rơi mình. Ông yêu cầu, chúng bỏ mặc, chúng cứ đi, Văn hằn học nói, chúng muốn cho mình chết thì tôi cho chết cả.
            Văn giận quá rồi. Tôi kéo tay súng của Văn chĩa đi hướng khác và dùng tâm lý khuyên anh bỏ ý định trả hận giữa anh em nhà:
            - Anh Văn ! hãy nghe tôi. Tôi là nhân viên phi hành tôi biết loại phi cơ này cũ quá rồi, chở nặng thường rơi bất tử. Anh trông kià phi cơ chỉ có một máy chạy thôi, máy trái đang cố quay mà không được. Nếu cứ thế mà cất cánh thì chắc chắn sẽ rơi. Chúng mình tội gì chui lên cho bầm dập thân xác. Văn nghe ra và bình tĩnh ngồi lại ghế cạnh tôi và hỏi với giọng bình thường:
            - Bây giờ mình tính sao ?
            Tôi nhếch mép cười:
            - Nếu chúng ta không còn phương tiện ra đi nào nữa thì tối nay tôi với anh vào Chợ Lớn “Nhất dạ đế vương” một chuyến rồi ra sao thì ra. OK ?
            Văn nín thinh. Tôi lái xe lòng vòng, lang thang phi đạo chủ ý vớt vát có Tàu nào cất cánh muộn thì quá giang. Mọi Tàu để ngơi nghỉ lạnh lùng nơi bãi đậu. Tôi chán nản quay xe ra phố. Trên đường rời khỏi SĐ5KQ, ngang qua văn phòng Tư Lệnh Phó SĐ, thấy ánh đèn, cửa mở, tôi đậu xe bước vào gặp Đinh Thạch On, ngồi thẫn thờ sau bàn giấy.
            Tôi hỏi :
            - On ! Sao còn ngồi đây? Tất cả bỏ đi hết rồi, anh cũng đi đi thôi. Đinh Thạch On lúng túng, không dứt khoát, dường như có cái gì dùng dằng giữ ảnh lại. Tôi hối thúc:
            - Đi đi toa. Ở lại chỉ còn tôi với anh là lớn cấp nhất, Cộng nó nắm được, nó đem tôi và anh qùy trước sân cờ “Cắc bùm” tế cờ đó. Đinh Thạch On như người mất thần:
            - C.130 tụi nó lấy đi trốn cả bầy rồi.
            - Còn C.47 mà. Tôi nhắc nhở On.
            On thở dài:
            - Đã lâu lắm tôi không còn lái C.47. On vốn ít nói, hiền như cục đất nên chỉ trả lời vừa đủ.
            Tôi khích lệ:
            - Dẫu sao anh cũng đã có lái nó rồi. Quên chút lúc đầu, ôn lại trong đầu anh lại nhớ ra đó mà. Anh cứ lái, tôi chấp nhận để anh đập máy bay giết tôi hơn là để tụi Cộng hạ nhục tại sân cờ trước hàng quân của mình. Chết vì máy bay rơi, chết mau. Chết với quân khát máu, chết mòn chết tủi đó bố = ơi.
            Đang cố thuyết phục ông TLP/SĐ, thình lình nghe tiếng xôn xao và tiếng động cơ nặng nề gầm gừ. Ngó ra ngoài một chiếc M113 đang lùi, thụt lùi. Tôi vội bước ra chận lại hỏi:
            - Có chuyện gì ? Tại sao lùi?
            Trưởng xa, một KQ trả lời:
            - Chúng em thuộc Phòng thủ, tụi Cộng tiến xát rào, chúng em rút sâu về.
            Tôi phản ứng lấy lệ vì nghĩ mình cũng đang thuyết phục rút thì rầy rà chuyện rút với không làm gì nữa:
            - Rút đi đâu nữa!
            Nói xong, buông xuôi, tôi quay vào nói với On:
            - Anh nghe rồi đấy chứ, không thể chần chờ hơn được đâu. Lúc ấy On mới nghiêng người cúi xuống, kéo học tủ, lôi ra cuốn kỹ thuật C.47 lật từng trang và nói:
            - Để moa ôn lại chút đã.
            Cứ thế On ngồi thản nhiên học hết cuốn kỹ thuật. Một phút lúc ấy là một thế kỷ đối với tôi. Tôi như ngồi trên lửa. Bên ngoài M.113 lui tới lui lui, quay ngang, quay dọc, binh sĩ chạy xuôi chạy ngược, tiếng súng lẻ tẻ đây đó. Tôi ngồi trước bàn giấy On, đăm đăm ngó ra ngoài cửa chính, tay nắm chặt tiểu liên, cùng với Văn, sẳn sàng nhả đạn, chờ cho On học bài xong. Cuối cùng On cũng đứng dậy theo tôi đi ra tìm tàu thoát hiểm.
            Chúng tôi ra thẳng bãi đậu C.47. Leo lên chiếc đầu mở máy, máy gầm gừ, cánh quạt quay từng vòng uất nghẹn chẳng chịu vung mình đoạt gió. Leo xuống khám xăng, xăng còn, khám máy, máy lủng chảy dầu, có lẽ đã trúng hỏa tiễn hay miểng bom thù. Leo lên chiếc khác, chiếc đó lại không xăng. Cứ thế lếch thếch kéo nhau từ ụ C.47 này qua ụ C.47 khác giữa cơn nắng trưa. Tàu nào cũng ỳ ra chẳng chịu chuyển mình.
            Ngay lúc ấy một trực thăng TQLC Mỹ bay đứng trên đầu chúng tôi, nghiêng mình quan sát. Tôi ra hiệu, yêu cầu đáp bốc chúng tôi. Quân “Bạc nghĩa” quay ngoắt bay đi bỏ mặc lũ bại quân tự liệu. Ai bảo có cánh mà không bay lại nhờ người cõng. Chúng đâu có hiểu “Phụng Ho= àng” đang thất thế sa cơ vì cộng quân bế mất huyệt đạo nên mới nhờ “Gà Mỹ” mượn sức qua cơn khốn khó. Đâu ngờ cái giống Gà này nó “xỏ rét”, nó “xỏ lá”, xỏ lá kềnh.
            Thật ra mình cũng chẳng nên trách người. Có trách nên trách chúng mình đã thiếu hẳn một kế hoạch rút quân chu đáo, an toàn và trật tự. Trong mọi cuộc hành quân thì hành quân tháo lui là khó khăn và gay go nhứt, cho nên cần được nghiên cứu tỉ mỉ, ước tính và tiên liệu thật sát, chuẩn bị thật chu đáo, thi hành thật cẩn trọng. Thế mà mình lại vội vã, “Quân hồi vô phèng” mạnh ai nấy rút chẳng ra cái “Thống chế” gì để cho cả Bạn lẫn Thù coi khinh coi rẻ. Xấu hổ ! ! !
            Sau phút ngỡ ngàng vì “Tình Phụ” do người anh em bất nghiã bỏ đi, Đinh Thạch On chán nản ra mặt vốn dĩ dùng dằng chẳng muốn đi từ đầu thì đây cũng là cái cớ buông xuôi cho tiện. On không muốn tìm tàu thêm nữa. Tôi bắt đầu lo cho kiếp cá chậu chim lồng, cộng quân cắt tiết. Tôi mở bóp lấy mọi giấy tờ, thẻ kiểm tra, chứng minh thư Phủ đầu rồng, thẻ mang vũ khí tùy thân hủy bỏ chỉ giữ lại thẻ bài kim khí có ghi rõ số quân, loại máu, đeo lòng thòng trên cổ (hiện tôi còn giữ làm kỷ niệm, nhớ lại một mùa xuân để mất).
            Hủy xong giấy tờ, tôi ngó mông lung qua dẫy phi cơ lặng lẽ bên đường, lòng hướng về Mẹ già chẳng biết giờ này ra sao? Tôi không khóc được. Tôi buồn thê thảm. May hừng sáng nhân lúc cộng quân tạm ngưng pháo kích, tôi đã bắt liên lạc được với vợ chồng người em trai cư ngụ vùng Chí Hòa, yêu cầu chăm nom Mẹ cho tôi được yên lòng trong phút tử sinh ly biệt đang chập chờn bên tôi.
            Vợ con tôi!Trước đó it ngày, cô em vợ, công dân Mỹ, đã từ Mỹ bay về lập thủ tục giấy tờ ngoại giao trong đó có cả tôi, bốc đem đi vội vã. Tôi đã từ chối đi theo vì nghĩ rằng nước mới trong dầu sôi chưa mất, quân trong rối rấm chưa tan. Vợ tôi vùng vằng:
            - Nếu anh không cùng đi thì Em và các con cùng ở lại.
            Tôi vội khuyên:
            - Em hãy đem con rời khỏi đây và nuôi nấng dạy dỗ chúng nên người cho anh. Anh đi bây giờ là anh bỏ ngũ đó. Anh không muốn muôn đời lưu xú. (Cũng vì cái lẩm cẩm này mà tôi được Bà Xã tặng cho biệt hiệu: Ông già lẩm cẩm mỗi khi nàng nhắc đến phút luyến lưu của ngày buộc phải để nước lại= sau lưng, ra đi tìm một ngày mai ít buồn, ít tang tóc hơn cho mình và cho con cháu). Vợ tôi không chấp nhận lập luận của tôi:
            - Chồng đâu, vợ đó. Em không đi.
            Tôi làm mặt giận:
            - Em phải nghe anh!
            Rồi tôi dỗ dành:
            - Em hãy đi, đem con về chốn an toàn, như thế anh được rảnh tay, đúng lúc phải đi anh sẽ đi kịp lúc, không phải tìm Em và các con, e rằng như thế quá muộn và quá hiểm nguy.
            Vợ tôi ngần ngừ, suy tính. Các con tôi còn quá thơ dại, đứa lớn chưa đầy 7 tuổi, đứa bé mới hơn năm còn bế ẫm, ngơ ngác hết nhìn cha đến nhìn mẹ. Tôi cầm tay vợ đoan chắc:
            - Em đi bây giờ, chúng mình còn có cơ hội gặp nhau. Nếu em và các con ở lại, chắc chắn sẽ ly tan vì lửa đạn vô tình chẳng chừa ai, tội nghiệp các con vì mình mà lây họa.
            Xuôi lòng, vợ tôi gạt nước mắt dẫn con cùng gia đình bên ngoại các cháu qua DAO nhập đoàn di tản có trật tự. Gia đình bên nội các cháu (Mẹ tôi, Em tôi, cháu tôi) đã nằm lại chịu chung số phận với con dân miền Nam bất hạnh.
            Đang để hồn vấn vương trong đau thương, tuyệt vọng, tôi chợt thấy một C.47 óng ả phơi mình bên ụ hangar trước mặt, hàng rào kẽm gai khóa kín, liền vội bảo On:
            - Có chiếc C.47 kia trông còn nguyên vẹn. Hãy qua xem.
            On lắc đầu:
            - Cũng “dzậy” thôi !
            Tôi chưa hết hi vọng, còn nước còn tát, tôi cương quyết rảo bước qua mau. On không theo, chẳng ai buồn theo. Tới nơi, tôi loay hoay gỡ kẽm gai để tiếp cận quan sát con tàu cuối bãi và cũng là cuối cùng. Một Hạ sĩ quan đã theo chân tôi hồi nào không hay, vội tiếp tay gỡ kẽm gai kéo qua một bên.
            Tôi hỏi nhỏ:
            - Anh chuyên môn gì ? Có biết gì về phi cơ ?
            Người Hạ sĩ quan kiêu hãnh trả lời:
            - Em là cơ phi.
            Tôi mừng rỡ:
            - Em hãy tiền phi, xét tình trạng động cơ và xăng nhớt. Mau đi em !
            Chú em này thật rành việc. Chú thoăn thoắt nhảy lên cánh, mở nấp xăng miệng reo to:
            - Mucho ! Mucho ! Ý nói xăng đầy.
            Tôi quay ra ngoài gọi to, ngoắc Đinh Thạch On qua mở máy thử. Tôi chỉ là Phi hành dẫn lộ (Navigator, KQ mình gọi là điều hành viên, cái tên chẳng phi hành tí nào!), không có “thợ lái” thì “thợ tính gió chỉ đường mây” cũng chỉ là “loài Bò sát”. Sau khi biết chắc phi cơ đầy xăng, Cơ phi nhảy xuống kiểm soát động cơ, đến khi mở cửa lên tàu mới vỡ lẽ cửa khóa với cái khoá tổ bố, liền thất vọng kêu lên:
            - Cửa tàu khoá làm sao đây ?
            Tôi chưa kịp phản ứng thì một Binh nhì cầm M.16, chẳng biết đã có mặt ở đó từ hồi nào, có lẽ chú ta canh gác sớ rớ ở đây mà vì bận tâm với kẽm gai tôi không thấy, hô to:
            - Để em bắn bể khoá.
            Nói xong chú ta lên đạn, đưa súng chĩa vào ở khoá. Tôi thất kinh quát lớn:
            - Đừng bắn, nguy hiểm. Mình còn một tàu này thôi.
            Chú lính xững sờ nhìn tôi:
            - Không phá cửa làm sao lên?
            Tôi vội giải thích:
            - Em bắn thì được nhưng có biết đạn đạo đi đâu không. Nếu đường đạn đi cắt đứt các giây “Cable” điều khiển cánh bay thì tàu làm sao bay được nữa. Chú em nầy vẫn ương chưa chịu hiểu. Tôi nghiêm nét mặt:
            - Chú chỉ huy hay tôi. Nếu còn coi tôi là cấp chỉ huy thì hãy nghe tôi. Thật ! vào lúc hàng quân tan rã muốn chỉ huy được quả muôn phần khó khăn. Quay qua Cơ phi tôi bảo:
            - Em hãy phá cửa gió cockpit chui vào, luồn ra sau mở chốt cửa nhảy dù là mọi người lên được.
            Cơ phi làm theo ý tôi, cửa dù C.47 mở rộng vào trong. Tiếng reo vang dậy, mừng vui. Trời ơi ! Người đâu mà lắm thế, hồi nãy có bao nhiêu đâu, hết đợt này, đợt khác ùn ùn tay sách nách mang lên tàu.
            Tôi đứng dưới trông chừng, chờ mọi người lên hết thì đột nhiên một chiếc xe Jeep rít thắng bên tôi, một Sĩ quan vận phi bào người đẫy đà, khỏe mạnh, nhảy vội xuống miệng nói hấp tấp:
            - Cho chúng em đi với.
            Tôi liếc lên Jeep thấy có vợ con, tôi vội hỏi:
            - Anh có lái được C.47 không?
            Sở dĩ tôi hỏi câu này vì tôi vẫn ngại Bố On một mình không biết xoay trở ra sao, nếu thêm co-pilot thì cũng chắc dạ phần nào. Tươi nét mặt, cậu Sĩ quan hào hoa tự tin:
            - Thợ ! Thợ C.47 là em ! Em, Đại úy Quý C.47 đây.
            Tôi đã rời Liên Phi Đoàn Vận Tải từ lâu, từ hồi cụ Ngô còn chấp chánh, tôi đâu có biết Đại úy Qúi là ai, nhưng điều chắc là tôi đã có một Hoa tiêu lão luyện tiếp tay với con chim già mệt mỏi Đinh Thạch On rồi. Tôi cười vỗ vai thân mật:
            - Lên đi mà tiếp tay với Tư lệnh phó của anh trên đó. Trông cho mọi người lên hết, tôi mới leo lên sau. Bước lên khỏi bậc thang cuối, ngước mắt nhìn lên: Trời! Người, hành trang, hỗn độn, ngổn ngang, chật hơn nêm cối,= chẳng chỗ len chân. Nhìn kỹ mới vỡ lẽ chiếc C.47 này là loại đặc biệt trang bị giường ngủ, bàn làm việc dành cho Tướng Tư lệnh vùng II. Giờ tôi đã hiểu vì sao mà nó ngoan ngoãn nằm im không ai đụng tới, xăng nhớt đầy đủ, khóa trước khóa sau.
            Cái số tôi cũng lạ, suốt 25 năm quân ngũ chỉ chạy hiệu, bỗng dưng vào ngày mạt vận lại được tặng “sao” rồi “Tư lệnh Vùng” (Tư lệnh trên chiếc phi cơ này thôi) điều động một dúm bại quân trốn chạy. Chẳng biết đáng cười hay đáng khóc!
            Phi cơ trang bị nặng nề nay lại đầy khách quý, quá tải là cái chắc. Nhẩm đếm đầu người, tất cả 76 người kể cả phi hành đoàn (2 hoa tiêu 1 cơ phi). On nhìn tôi lắc đầu. Tôi nhìn On ngầm hỏi có bay nổi không? On yêu cầu xuống bớt (lại cảnh xuống không xuống) không một ai nhúc nhích. Tôi thở dài, hiểu rằng C.47 Full combat load cũng chỉ chở được tối đa 41 người với vũ khí trang bị. Đằng này tàu đã trang bị giường sắt, tủ sắt, bàn sắt, ghế sắt, hằm bà làng, lủng ca lủng củng lại còn đèo theo 76 mạng với đủ tài sản thiết thân thì làm sao cất cánh nổi đây! Tôi nói dỗi:
            - Nếu không ai xuống, tôi xuống. Có ai theo cùng không?
            Tôi nói mặc tôi. Tôi đảo mắt nhìn mọi người. Mọi người đều cúi xuống tránh ánh mắt tôi. Tôi quá thất vọng, len chân bước về hướng cuối tàụ Đặng Duy Lạc nắm tay tôi kéo lại, ảnh nhứt địn= h không cho tôi rời tàu. Giờ tử ly này, ai đi ai ở, ai nỡ bỏ ai! Một chuyến tàu suốt cũng đành xuôi thôi !
            On đã quay lên buồng lái giúp Quí quay máy. Tôi ngồi phịch xuống ghế, đâu mặt với Lạc, phó mặc sinh mạng trong tay Đức Cao Sanh.
            Máy nổ, một vừng khói trắng tỏa lên: Máy một rồi máy hai. Hoa tiêu kiểm soát phi cụ, phi kế. Tàu còn trong ụ đậu thì “Đoàng” pháo cộng đã nhắm bắn tới. Không chờ nóng máy, Quý-On vọt ra phi đạo cất cánh khẩn cấp.
            Chở nặng phi cơ cần đường dài, chưa đủ lực hổng cẳng Quý-On đã kéo vội, cưỡng ép con tàu bốc lên vì một pick up truck ai đó đã bỏ nằm chắn ngang đường. Con tàu chao đảo dường như bánh đáp đã đụng pick up. Tàu gầm dữ dội, không lên cao nổi, bê bê về phía hangar. Nhìn qua cửa sổ tôi thấy hangar đến gần. Tôi chỉ kịp nói với Đặng Duy Lac vừa đua mắt cho Lạc nhìn ra:
            - Niệm Phật đi, Một, hai, ba !
            Tất cả vẫn êm rụ Phi cơ vừa vượt khỏi nóc hangar SĐ trong gang tấc. Tôi vừa thở phào chợt thấy có người đang ôm cứng ngang lưng tôi, đầu húc sâu vào bụng tôi. Tôi vội gỡ ra mới biết đó là Thiếu tá Nguyễn Kim Hằng (cựu vô địch bóng bàn). Hằng bẽn lẽn cười nhìn tôi nói:
            - Ông là cấp chỉ huy của em, nếu phải chết, em cũng được chết trong lòng của cấp chỉ huy. Gớm, chí tình thế ! Quý hóa thế ! Tôi nghi ngờ cái “Huynh đệ chi= binh” này.
            Tôi cười nói:
            - Chớ không phải cậu muốn mượn đỡ cái bụng mềm mại của tôi làm cushion đỡ cho cái đầu của cậu khỏi bể nếu chẳng may phi cơ kềnh ra đất.
            Hằng chữa thẹn:
            - Đâu có! Người cứ nghi oan cho em út. Thương Người lắm, thật mà. Tôi gục gặc:
            - Cám ơn, cám ơn ! Hân hạnh cho “qua” quá! Đặng Duy Lạc nghe mẩu đối thoại yêu nhau chí tình của đôi quân nhân cùng chung hoạn nạn, cười vỗ vai Hằng:
            - Thôi được rồi.
            Phi cơ vẫn là là bay không cao hơn ngọn cây là bao. Trong phòng lái có tiếng vọng ra:
            - Nặng quá, tàu lên không nổi, yêu cầu vứt đồ cho nhẹ.
            Tôi lập lại ý trên. Không ai chịu rời tài sản của mình. Người ta thường nói “lấy của che thân” nhưng nơi đây lại “lấy thân che của”! Các cụ thường dạy, gặp cơn nguy đe dọa đến tính mạng thì “bỏ của chạy lấy người”, nơi đây thì “Thà chết còn hơn”!
            Tôi chẳng có gì đem theo ngoài nón sắt và aó giáp. Tôi đứng dậy nêu gương, mở cánh cửa nhỏ bên hông tàu nơi thường dùng để thả truyền đơn, ném nón sắt ra ngoài. Phụt! nón bọc gió, giật vụt bay về phía sau qua cánh đưôi. Tôi thấy quá nguy hiểm, nếu tôi vứt nốt áo giáp, áo bọc gió đập vào đuôi lái, chắc chắn tàu không thăng thiên mà độn thổ đó.
            Sau cái nón sắt vụt bay tôi chẳng tha thiết lắm đến cái mời các anh em đồng hành “dzô ta” cùng vất cho nhẹ con tàu. Cứ khỏi ngọn cây, Tàu là là bay qua vị trí Cộng quân thế mà chúng tôi chẳng trúng đạn thù. Có lẽ tụi chúng bắn quá dở nên tàu lặng lờ lấy hướng Côn Sơn là nơi điểm hẹn của Đệ Thất Hạm Đội bốc quân bại tẩu rời khỏi non sông yêu dấu, một cách an toàn.
            Côn Sơn đã ẩn hiện trước mắt, tôi bước vội lên phòng lái nhắc khéo On:
            - Cẩn thận ! Trước khi đáp, quan sát kỹ xem cờ Vàng hay cờ Đỏ. Láng cháng Mỹ đâu không thấy lại bị “nón cối” mời vào bóc lịch thay nó đó.
            Thợ Lái mình chẳng quan ngại xa xôi. Cái làm họ bận tâm không phải “Nón cối” mà là đáp rồi nếu phải cất cánh lại thì thật là Tử vì sân Côn Sơn quá ngắn so với cái quá tải của con tàu.

            Lượn một vòng thấp: Phi cơ phe ta đậu đầy, ngổn ngang chiếc dọc chiếc xuôi, hỗn độn vô cùng. Các anh em nhanh chân tới trước chẳng hề nghĩ cho các anh em chậm chân đến sau! Chúng tôi đành quay trở lại bay về đất Mẹ, nhắm SĐ4KQ Bình Thuỷ lướt tới. Vào Vùng Không lưu, liên lạc đài Kiểm soát, một tiếng vang trong máy: Căn cứ đang bị pháo địch uy hiếp. Tôi đề nghị bay qua UTAPAO, Căn cứ B.52 của KQ chiến lược Mỹ bên Thái Lan. Mấy anh em cấp nhỏ nhao nhao:
            - Đi Singapore ! Đi Singapore !
            Tôi phản đối và giải thích:
            - Chúng ta không nên đi Singapore, Chính quyền Singapore khó tin lắm. Mới ngày qua, một C.130 của SĐ bị đánh cắp trốn qua đó đã bị Chính quyền sở tại bắt giữ, định dẫn độ cả tàu lẫn người về cho VC xử lý hầu làm quà thỏa hiệp. Chỗ bảo đảm nhất là phi trường B.52 vừa dài vừa đủ tiện nghi, an phi bậc nhất và an ninh cũng bậc nhất. Mẽo cũng không đến nỗi quá hèn đem mình bán cho đối phương. Tất cả đã thôi lao xao. Tôi hỏi có ai mang bản đồ tiếp cận UTAPAO không vì phòng lái vừa than thiếu bản đồ vùng đó. Một Trung úy vội lục cặp phi hành lôi ra xấp tài liệu và nói lớn:
            - Có đây, đủ cả đây.
            Tôi cầm lấy trao cho cơ phi đem lên cho Quí-On nghiên cứu phi trình đồng thời hỏi nhỏ chú em:
            - Ở đâu mà sẵn thế?
            Chú ta tỉnh bơ trả lời:
            - Chúng em cũng định “chuồn” đi nhưng vì phi cơ rơi khi cất cánh nên phải theo chiếc nầy.
            - Phi cơ rơi không chết à?
            Tôi hỏi hơi phi lý vì đã có sao thì đâu còn đối đáp với tôi được nữa.
            Chú em cười:
            - Không ai chết, chẳng ai què, chỉ rêm mình chút chút!
            Đúng vậy, lúc tôi còn thẫn thờ tìm phi cơ ra đi thì Th/sĩ Văn có kéo tay tôi chỉ lên trời, hốt hoảng:
            - Coi kìa ! Chiếc phi cơ đang giẫy giẫy như diều đứt dây.
            Tôi ngó theo tay chỉ, quả nhiên là chiếc Caribou (có lẽ là chiếc đã bỏ tôi và Văn ở lại) đang bị triệt nâng vụt rơi xuống, bụi cát lầm lên mù mịt.
            Tôi ghé tai Văn:
            - Chiếc Caribou hồi sáng đó. Nếu mình được đi thì nay đã chung số phận rồi.
            Nói xong tôi quay đi nghĩ đến các anh em xấu số đã bỏ tôi sáng nay và giờ đây đã xa tôi thật rồi! Lòng tôi chợt thắt lại, thương cho kiếp người mới đó không còn đó. Tôi đã lầm. Chẳng một ai xa tôi. Tất cả đã cùng tôi trên chiếc C.47 định mệnh nầy, đang trôi về nơi vô định xa xôi. Bây giờ tôi chợt hiểu vì sao lúc tìm C.47 thoát hiểm tôi chẳng có bao ngoe mà nay sao lại nhiều thế. Thì ra các Yên hùng không gian chưa bị Ngọc Hoàng rũ sổ đang đáp chuyến bay cuối chầu cùng tôi. Duyên nợ bên nhau đâu dễ dứt!
            Còn đang miên man nghĩ đến cái duyên, cái nợ tôi chợt thấy mặt Nguyễn Kim Hằng dính đầy tro lẫn bụi, nhem nhuốc. Tôi ghé tai hỏi nhỏ:
            - Cậu cũng trong đám “Bất tử” Caribou đó à?
            Hằng gật đầu không đáp.
            Thật tình ! Con người sống chết có số. Cái phút nguy hiểm nhất của nghiệp bay là cất và hạ cánh, nếu tay nạn xảy ra lúc đó thì yên trí sẽ được “TRUY THĂNG'.
            Thế mà tàu tôi đụng khi cất cánh, Tàu hắn rơi khi hạ cánh vội, chúng tôi vẫn sống nhăn. Tiếng máy phi cơ nổ đều, con tàu chở “Vịt” (chạy như vịt) bồng bềnh trong gió lướt về không phận Thái Lan. Mọi người đều đều hơi thở, mắt mơ màng hoặc khép kín thả hồn chơi vơi về với tương lai mù mịt, bỗng nhiên cửa phòng lái bật mở, cơ phi hốt hoảng:
            - Hồi nãy ai coi xăng ?
            - Sao? Tôi bật dậy hỏi ngược. Hết xăng à ?
            Cơ phi ú ớ. Tôi liên tưởng đến tàu cạn xăng, nhìn ra ngoài, mênh mông trời nước. Tim tôi thắt lại, chẳng lẽ số mình phải dứt hôm nay! Chợt tôi nhận ra chú cơ phi này là người check xăng sáng nay và đã reo to Mucho, mucho. Tôi chỉ anh và nói:
            - Chính anh là người coi xăng mà. Anh đã chẳng bảo với tôi là xăng đầy, sao bây giờ lại sợ cạn. Tàu mới bay có 4 tiếng, cho tôi biết đồng hồ xăng còn chỉ bao tiếng bay nữa. Cơ phi:
            - Dạ còn 4 tiếng.
            - Thế thì đúng rồi. Tầm bay C.47 là 8 tiếng, nay bay được khoảng 4 tiếng, còn lại 4 tiếng là phải rồi. Tôi ôn tồn giải thích cho Cơ phi. Cơ phi còn cố chày cối:
            - Không tin đồng hồ được.
            Câu nói này làm nhiều người tháp tùng chuyến bay hoảng hốt, nhớn nháo, phi cơ tròng trành gây khó cho Hoa tiêu điều khiển con tàu. Áp huyết máu tôi phụt cao. Tôi chất vấn Cơ phi:
            - Anh làm Cơ phi được bao lâu rồi?
            - Bảy, Tám năm. Cơ phi trả lời gọn.
            Tôi sùng thêm:
            - Tám năm bay Vận tải, không tin vào phi cụ thi tin cái gì! Chú nhỏ nầy chợt tỉnh, bẽn lẽn quay lên và đóng cửa phòng lái. Đặng Duy Lạc ngó tôi tủm tỉm cười:
            - Xin cụ bớt nực, cho đàn Em sống tí.
            Lạc tên đúng với người, lúc nào anh cũng lạc quan, tươi cười cả lúc tôi muốn khóc. Suốt sáng qua bao cảnh đái ra cây, cười ra nước mắt mà ảnh cứ bình chân như vại mặt phớt Ăng lê. Có anh này trong những lúc bấn xúc xích, mình cũng mau yên dạ. Tôi vẫn còn thắc mắc về cái không đủ xăng để tới bến, tôi bò lên phòng lái thăm hỏi:
            - Còn bao lâu tới Utapao?
            - Khoảng hơn tiếng. On trả lời.
            Tôi nhẩm tính, dư sức qua cầu. Tôi quay về chỗ ngồi trước mặt Lạc, vỗ đùi anh và bảo:
            - Yên trí ! Một giờ nữa đáp.
            Yên vị tôi nhắm mắt cố ru hồn cho bớt xao động. Tôi đã thấm mệt với đủ mọi biến cố, căng thẳng tinh thần suốt từ lúc phản đồ mất dạy gây biến. Đang mơ màng chợt thấy Tàu nghiêng cánh, nhìn ra cửa sổ thấy 2 vệt dài trắng xóa song hành lượn dài theo đường bay Tàu mình. Tôi nghĩ mình đã gặp phản lực Thái nghênh tiếp (nói cho oai), nói cho đúng sách vở: nghênh cản. Tôi bước vội lên phòng lái cho rõ sự tình, thì ra tôi sớn sác trông gà hóa cuốc, thấy nước tưởng trời thấy “out board” tưởng “Jet”. Dẫu sao thì Tàu đã nhập không phận Thái Lan, đất liền đã ló dạng.
            Vào vòng không lưu Utapao, Quí-On xin đáp khẩn cấp và báo cho Đài Kiểm soát, phi cơ khi cất cánh có đụng chiếc xe hơi Pick Up, yêu cầu họ quan sát chân đáp. Đài Kiểm soát:
            - Looking good.
            On-Quí cho Tàu vào vòng cuối, đáp nhẹ. Bánh vừa chạm phi đạo, phi cơ chợt xẹt qua phía trái, rời phi đạo, nhảy chồm chồm như ngựa chứng bên lề đường bay, nghiênh cánh quẹt đất bụi mù.
            Tử thần vung lưỡi hái. Mỹ quốc An= phi tung toàn lực tiếp chiến. Đại tá chỉ huy căn cứ dẫn đầu đoàn quân cứu ứng, cứu hỏa, cứu thương đủ bộ, điều quân tuyệt hảo. Qủy sứ nhà trời nhượng bộ. Tàu nằm yên xệ cánh. Quân Mỹ bao quanh dàn chào. Tàn quân ta sửa sang mũ áo.
            - Xin mời “Người” xuống trước. Một tiếng xướng (không biết của ai) trăm miệng hùa.
            - Gớm, sao tử tế ! Lúc lên chẳng có lời mời, lúc xuống đương đầu lắp “Verb” thì mời “Người” xuống cho.
            Tôi nghĩ nên để Trưởng phi cơ xuống trước cho đúng phép lịch sự. Tôi yêu cấu On xuống trước, On lắc đầu đùn miết cho tôi. Tôi đùn cho Lạc. Lạc đẩy tôi đi. Đùn tới đùn lui chẳng ra cái thể thống gì. Tôi liền bước tới mở cửa cho xong, dùng già dùng dằng xăng phát nổ thiêu sống cả đám lại khổ nữa.
            Cửa Tàu vừa mở, Đại tá Mỹ đã trực sẵn đưa tay chào. Tôi trả lễ. Óng ta lịch sự đón tay tôi đỡ xuống, miệng không ngớt xã giao:
            - Congratulation, Good landing!
            Tôi có đáp chó đâu mà congratulation tôi. Tôi còn bận lo đến cái “không biết ra sao ngày sau” nên chẳng buồn đính chánh:
            - Thank you. Any Vietnamese before me ? Anh văn nhát gừng, tôi hỏi ông bạn đồng đẳng lịch duyệt.
            - Plenty. Don't worry!
            Người bạn ân tình cứu mạng vội trấn an tôi, đồng thời yêu cầu tôi cho mọi người lên 2 GMC trực sẵn. Tôi yêu cầu đoàn quân bại tẩu, trật tự hàng lối lên xe, cố chứng minh với anh bạn Đồng minh tốt bụng này:
            Tuy ta bại nhưng quân ta vẫn còn kỷ cương. Mọi người tuần tự lên xe, trẻ nít trước, phụ nữ sau, bại quân sau chót.
            Ai nấy hối hả thì bỗng Th/tá Nguyễn Kim Hằng bước ra khỏi hàng, qùy xụp xuống đất, 2 tay
            trước ngực, mặt ngước nhìn trời, mắt nhắm kín, miệng khấn lâm râm. Mỹ ngơ ngác, quân ta ngơ ngẩn nhìn. Chờ cho Hằng xong nghi thức tạ trời, Tôi lại gần hỏi nhỏ:
            - Cậu khấn gì vậy. Trông như cậu đang xin tha mạng.
            Hằng nghiêm trang:
            - Em qùy cảm tạ Trời Phật đã cứu sống chúng mình vì khi thấy phi cơ nhào ra lề, cà cánh xuống đất Em lo phát nổ. Sợ teo!
            Có niềm tin vẫn là liều thuốc an thần. Tất cả đã yên vị trên 2 GMC, Đại tá Mỹ cho lệnh lăn
            bánh đưa chúng tôi v= ề nơi tập trung tàn quân không lực (phải, hết xíu quách rồi !)
            Xe vừa rời xa con tàu cứu tinh yêu dấu tôi bỗng thấy, thấy mấy Airmen cờ hoa nhẩy vội từ chiếc xe Pick Up vừa xịch đến tay cầm lon sơn xịt lấy xịt để, bôi xóa cờ hiệu và huy hiệu VNCH trên chiếc C.47 kiêu hùng của chúng tôi.
            Mỹ làm thế để chủ quyền Thái không bị xâm phạm, không tìm cớ tịch thu phi cơ vì không có bằng chứng phi cơ lạ xâm nhập Thái Lan. Thấy người mà ngẫm đến ta. Mình chạy, không kế hoạch, Mỹ hứng, đầy đủ lớp lang. Người khinh ta là phải!
            Tới nơi phải xuống. Tôi uể oải leo xuống tiến về nơi chỉ định, miệng lý nhí chẳng biết có ai nghe:
            - Kể từ phút này, Tôi cũng như tất cả, phận ai nấy lo chúc mọi người may mắn!
            Bây giờ đã quá chiều, Tôi cảm thấy rã rời, tìm vội một nơi ngả lưng dưới mái “Tent” căng tạm của Không lực Mỹ. Chưa được bao lâu, mọi người chộn rộn, lăng xăng xếp hàng chuẩn bị dùng bữa cơm chiều. Lúc đó tôi mới chợt nhớ suốt đêm hôm trước đến chiều hôm nay tôi chưa có gì lót dạ.
            Tôi không thấy đói. Biến cố dồn dập, liên tục xảy ra không còn thì giờ lo cho cái bao tử. Những nhức nhối, uất nghẹn, ứa gan cho cái tan hàng rã ngũ “Vô duyên” đã đầy ắp lòng tôi làm tôi quên cả đói. Tôi không muốn ăn. Anh em khuyên tôi cố ăn chút ít cho lại sức. Nuốt “miếng cơm Từ Mẫu”, tôi nghẹn ngào cho thân phận, 25 năm dâng trọn tuổi thanh xuân cho đất nước những tưởng tìm được yên vui cho dân tộc nhưng mộng ước không thành, giờ đây khởi đầu lạc loài nơi đất khách, thật ê chề cho kiếp mình!
            Đã 23 năm tôi ôm câu chuyện cất kín lòng mình. Tôi sợ nói ra, buồn nhiều cho bạn, buồn thêm cho tôi, cho anh, cho cả ½ phần dân tộc. Tôi không muốn ai, lúc đó, cả bạn lẫn thù, khinh mình thêm nữa.
            - Bí ẩn lịch sử rồi đây sẽ được phơi bầy.
            - Chúng ta chỉ là con cờ thí !
            - Chỉ buồn, những người cầm vận mệnh đất nước.
            Ngày đó cũng như ngày nay, không đủ khôn cũng không đủ khéo để tránh cho dân khỏi khổ, nước khỏi nghèo, tiền nhân khỏi hổ thẹn.

            Tháng 4-98

            NB: Chiếc xe hơi Rievera của ông Kỳ đầu tiên một chuẩn uý bộ đội KQ chiếm cứ và tính chuyển vế Hanoi, nhưng sau đó đã bị Trung tá Trung bộ đội KQ, dân Hàng Ngang Hanoi tháu cáy chiếm giữ làm của riêng – Ông Kỳ có thể hỏi thăm người phe ta để biết chiếc xe Rievera của ông hiện nay đang nằm ở đâu?


            Liệt Lão Đào Huy Ngọc
            Last edited by Cowboy72A; 05-09-2017, 01:25 AM. Lý do: Đổi mấy chiếc MIG 23 thành chiếc F-18 cua? Hoa Kỳ
            Bút trần nào tả được lưu luyến!
            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
            Tình Hoài Hương

            Comment

            • Tinh Hoai Huong
              Senior Member
              • May 2009
              • 1081

              #201
              Ngậm Ngùi Trở lại Chốn Xưa




              Ngậm Ngùi Trở lại Chốn Xưa


              Từ Rạch Giá trầm lắng u hoài, chúng tôi kéo lê đôi chân mệt mỏi rã rời leo lên xe đò trở về Sài Gòn, phiêu lãng bơ phờ suốt trên đoạn đường dài ngót 248 cây số ngút ngàn! Xe đò vẫn chật như nêm, tôi buồn bã nhìn trên đầu nhiều người lớn bé đang chít khăn sô, họ hớt hải vội vàng chen lấn nhau đi đâu? trở về đâu? mà tất tả lũ lượt thế nầy!? Tôi quá chán nãn nghe lòng mình phủ chụp xuống bao tơ rung suy nghĩ dập dồn. Mệt mỏi lắm! Tôi chẳng cần hé mắt nhìn lại quang cảnh hai bên đường (mà lúc mới ra đi, tôi rất bồn chồn, háo hức nhìn ngang ngó dọc lung tung ấy sao)! Chúng tôi và các con cháu không thèm ăn uống gì, chỉ cúi đầu trên chiếc xe đò cà xịch cà đụi lắc lư mà ngủ gà ngủ gật. Cười ra nước mắt… Cũng đành. Có nghĩa là chúng tôi thực sự quay trở về thủ đô Sài Gòn dấu yêu tại quê hương mình.

              Ôi! Quê hương Việt Nam cẩm tú giàu đẹp hùng vĩ, là hòn ngọc của ta ơi! Cảm giác ấm nồng xôn xao nở lăn tăn trên làn môi nóng bỏng khát khao cơn thèm âu yếm gọi lên hai chữ: “Quê Hương”! Tôi xin cúi đầu lui gót quay về, từng bước chập choạng bấp bênh chấp nhận số phận bồng bềnh, cho dù đắng cay, sô tang, bùi ngùi, khổ đau có; Ngọt ngào vui vẻ hân hoan không. Tôi đã quyết định dừng chân “phiêu bạt giang hồ”, để trở về thành đô, nhưng sao trong lòng cảm thấy quá buồn đau tê tái hụt hẫng khôn cùng? Tôi có cảm tưởng như mình đã thực sự mất đi một báu vật thân yêu.

              Dường như tôi không còn mê những giọt sương mai đọng trên cánh hồng nhung tươi thắm vừa hé nở, từng giọt sương mòng mọng tí tách rơi trên phiến lá giao mùa. Mất rồi chiếc lá vàng xinh lịch ép trong trang sách cũ. Mất ơi đàn én chiêm chiếp líu lo vun vút lượn bay trong không gian chói sáng ánh bình minh. Mất hết những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo, lượn quanh sườn đồi rì rào tiếng thông reo vi vu. Hết rồi thảm cỏ sân Cù mịn nhẹ êm như nhung, nơi ấy khi xưa tôi ưa ngả mình trên triền đồi quạnh vắng, mắt lim dim mơ màng, tai lắng nghe tiếng thông reo, và gió núi xôn xao thì thầm gọi nhau về ngủ trên đỉnh Lâm Viên hữu tình.

              Ôi! Có thể nay đã mất hẳn những bước chân lãng du trùng lặp bao kỷ niệm tìm về chốn cũ. Mất rồi! Thật sự mất đi không gian, thời gian, và kỷ niệm vàng son một thuở trìu mến xa xưa. Nay lòng tôi bừng bừng rung giật cơn sốt tiếc thương, môi co siết những giọt mật vừa chát, vừa đắng, đang trào dâng lên khoé mi tôi giọt sầu quắt quay niềm tiếc thương vô hạn, ẩn dấu nơi mắt nhìn tư lự, lăn tăn nét chân chim trên khoé mắt ưu buồn trước thời gian, nơi đôi má hoen màu, nơi đôi môi khô nhạt, nơi mái tóc phiêu bồng sớm ngả bụi đường lãng tử, nơi áo quần xốc xếch trong dáng vẽ tiều tụy hao mòn. Làm gợn sóng trong lòng mình biết bao sầu đắng chua cay và tê tái:
              Anh bỏ đi rồi, tôi ở lại.
              Chờ bao oan nghiệt trút lên đầu.
              Tôi vẫn đứng giữa một trời ly loạn.
              Tàn chiến chinh mùa nắng lửa mưa dầu.
              Chiều hun hút giữa rừng thiêng nước độc.
              Đêm uy linh nhờn nhợn tiếng ma Hời.
              Từng giọt máu căng phồng bầy muỗi đói.
              Tôi bỗng sờn da, bỗng rợn người
              (Xuân Du)

              Lủi thủi về thành phố Sài Gòn lúc 18giờ, nhóm chúng tôi thuê xe xích lô tới nhà thờ Huyện Sĩ đang vang ngân tiếng chuông chiều cô tịch. Vẫn có những khuôn mặt bơ phờ hốc hác, thiếu ăn thiếu ngủ hôm qua đang vạ vật nằm nhờ ở đậu ngoài mái hiên. Những bộ hành tất bật mệt nhọc lấm lem bụi đường đi đầy trên phố chiều đông đúc. Bên hông nhà thờ Huyện Sỹ hai bao bố đồ dùng nấu nướng linh tinh, giỏ quần áo (mà hôm nao tôi gửi lại bà từ, nhờ trông coi vẫn còn y nguyên chỗ cũ). Những người chăm sóc nhà thờ, những bà xơ (soeur) và ban điều hành giáo dân rón rén đi lại đọc kinh dâng lễ, chẳng có gì khác: giống như khi tôi đến ở, khi tôi tất tả ra đi, và nay đã trở về.

              “Ngoài đời” tôi chứng kiến không biết bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt! Bây giờ thành phố Sài Gòn xa hoa thì đầy bụi... tràn ngập rác rưới, nhiều ụ rác to cao ngập đầu người, tanh hôi và hằng hà sa số ruồi bọ lúc nhúc. Không có phương tiện di chuyển, không có xe đổ rác nên rau và cây trái khắp các vựa ứ đọng cả đống, hư hao, thúi um đến nghẹt thở. Con buôn chợ đen giành giựt từng kí gạo, từng con khô, con mắm, từng bó rau héo. Tình trạng khan hiếm thực phẩm, gạo, đường, kể cả muối là thứ rẻ hơn bèo, cũng tăng giá lên vùn vụt. Hoạ huần lắm mới thấy vài chiếc honda dame cố len lỏi chen lấn với người và người chật ních trên đường. Tôi đứng ít nhất là vài giờ, mới có một chuyến xe bus chật như nêm, đông nghẹt người chạy đi chạy về trên phố. Một người đàn bà cao tuổi khệ nệ bưng mấy thúng mủng bao bị lộn xộn cố trèo lên xe khách, bà bị té ngả lăn cù cù, chả ai thèm nâng đỡ bà đứng lên, khi bác tài xế bóp kèn inh ỏi ra hiệu tấp vào trạm.
              Xe chưa ngừng hẳn, người trụt xuống, kẻ chen lên, dày xéo dẫm đạp lên nhau, ai kêu la inh ỏi mặc ai. Họ lo bu bám ngoài cánh cửa xe đen nghịt. Thế là có bọn thời cơ thừa nước đục thả câu, lạm dụng nơi đông đúc chen chân không nỗi, đã trổ mòi rờ đít, bóp vú, nhưng nạn móc túi, giựt đồ, bấm dây chuyền vàng, giựt bông tai, máu chảy ròng ròng, thì nhiều hơn kẻ thô lỗ rờ mó. Kẻ cắp như rươi chôm chĩa đủ thứ, giành giật đánh nhau diễn ra ngang nhiên, hổn độn và náo loạn.

              Nhất là xăng, dầu hôi, nhớt, càng mắc mỏ cao độ, giá xăng là giá máu mà! Họ buôn lậu từng lít xăng, từng lít dầu hôi, lại pha chế chút nước lạnh, nên khói đen mù mịt bốc cao, cay xè mắt, bay tá lả. Bác tài cho xe nổ máy lâu lâu bác làm bộ rồ máy, cho xe thụt lui thụt tới, cứ cà giựt, cà xịch cà đụi, rồi bác nhấn còi inh ỏi, xe đứng im nằm ì một chỗ, không nhúc nhích. Lơ xe luôn miệng kêu mời khách và đập rầm rầm inh ỏi vô hông xe, thật là nhức bưng cái đầu. Không còn các loại xe chạy bằng xăng dầu nữa, thì đâu đâu cũng thấy trai trẻ lớn bé, leo lên xe đạp mới có, cũ có, hàng ngàn chiếc xe đạp chồng chất vợ con, đồ đạc linh tinh, họ tấp nập chạy đi, chạy lại trên các đường phố lớn.

              Bên kia khu trường học sát nhà thờ Huyện Sỹ, cứ mỗi buổi sáng khoảng hơn bốn giờ, loa phóng thanh đã inh ỏi ồn ào “tra tấn” tai người nghe lùng bùng điếc cả con ráy, càng nhức bưng bưng cái đầu, tôi muốn điên vì "bệnh thời đại"! Tôi nhìn lên mấy tầng lầu thấy từng đoàn thanh niên nam nữ reo hò, giỡn cợt, khăn mặt vắt vai, họ dùng hai ngón tay trỏ để đánh hàm răng ối vàng. Rồi chuyện trò vanh vách, lườm nguýt nhau, cười hô hố, và nói huỵch toẹt ra những điều thô tục quá trắng trợn, mà họ không cảm thấy nhột lổ tai, không biết xấu hổ ngượng mồm. Thật sự là ở trong miền Nam tôi chưa từng nghe! Cô gái miền Bắc sống đời nhọc nhằn, lam lũ ngược xuôi trong dãy trường sơn, nay vào phòng tắm sang trọng trên lầu ba, cô tò mò giật cái dây lủng lẳng bên góc tường. Hoa sen phụt toả ra những giòng nước trong bồn tắm mát lạnh, khiến bộ-đội-cái giật mình nhảy tót ra khỏi bồn tắm, hốt hoảng cô ré lên như con bò bị chọc tiết, kêu nhau ơi ới chạy đi.
              Quả thật... kể ra cũng tội nghịêp cô ở tít trong rừng sâu, chưa một lần nhìn thấy những đồ dùng thời trang tinh vi, văn minh tiến bộ như thế trong miền Nam. Họ lo sợ Mỹ rút đi, còn gài lại chất độc giết người. Có anh vênh váo mặt, mắt nai ngẩng nhìn lên những toà cao ốc hơn chục tầng, làm văng cả nón cối xuống đất, nhưng anh ta vẫn vung tay lên trời chỉ chỏ đếm hoài...Họ lũ lượt kéo nhau đi ồn ào huyên náo chen ra cửa, lo đổi tiền bác Hồ ra thành tiền miền Nam Việt Nam, họ cười nhô hàm răng mã tấu:
              - Tớ đổi bạc hào, bạc lẽ là chuyện nhỏ. Đây! Tiền có hình bác Hồ mới vĩ đại nhá. Đấy! Xem nào. Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, bác giơ bàn tay năm ngón lên chào ta đấy.

              Khi họ lũ lượt kéo nhau từ trường sơn đông, trường sơn tây, từ hướng bắc cầu Hiền Lương, lưng còng vác tay nải bên trong đựng ít vắt cơm khô và chén bát lọc cọc thô vụng sứt mẻ, (thời kỳ đồ đá) tay xách hai con vịt mái, mặc cho con vịt quạt cánh kêu la khắp phố. Họ hãnh diện mua chén tô cùng vịt sống kêu inh ỏi vang vọng nơi nơi... để chứng tỏ cho thiên hạ biết mình "vẻ vang, rủnh rỉnh" có tí tiền quà cáp đem vô Nam biếu-xén cho bà con, vì họ nghe đảng đồn rằng: “Rân miền lam đói khổ hơn nhân rân ta gấp bội”. Họ ngố ngáo đi tìm thân nhân trong Nam, nhưng đã ngơ ngác sững sờ:
              Qua vĩ tuyến nón anh rơi lộp độp
              Vì ngước cao chót vót để nhìn xem
              Anh chính ủy bảo miền Nam nghèo lắm
              Nên hiểu rằng: Lời cộng sản mà em!

              Đến Nha Trang, biển xanh anh bật khóc
              Như trẻ thơ lạc mẹ giữa phố phường
              Dăm kẻ lạ, tò mò giương đôi mắt
              Có lẽ anh đã lạc cõi thiên đường.
              (NT)

              Ngày ngày trên các khu lộ thiên, dưới những cột đèn đường là nơi tập trung bán hàng rong "mới mọc lên" hàng chuối chiên, bánh bò, bắp nướng, đậu phụng, thuốc lá, vân vân… Họ đổi chát cho bộ-đội bất cứ thứ gì ai đó mánh mung nhặt nhạnh được. Người ta đánh đập nhau loạn xạ, chỉ vì tranh giành bán mua đổi chát nhiều thứ với mấy “cán ngố”. Thuốc lá dổm bán dạo do nhóm dân lậu làm bằng lá khoai mì xắc mỏng dính, phơi khô, sao vàng, tẩm ủ tí rượu đế, pha trộn ít thuốc lá cẩm lệ thật, thì hút vào đắng nghét, khô khốc hai lỗ mũi, rát cổ họng, tỏa khói mịt mù. Vài bộ đội bố láo bố lếu xưa kia chuyên uống nước vốí, nay vào miền Nam hí hửng mua một lần cả chục cây “cà lem”, họ để cà rem trên cái dĩa, mà "ăn dần" cho đã! Rồi "cụ ta" cho nguyên hai chân mang dép râu lên ghế ngồi xổm, hả hê uống trà ướp sen hương thơm tỏa bay nơi nơi. Đường phố càng tối thì quán cà phê rẻ tiền mở vội bên vệ đường mọc lên như nấm. Cà phê thật và ngon thì ít, mà trộn hột thu đủ, hột thầu dầu rang vàng cháy trộn với hột bắp, lại nhiều hơn. Hôi hôi, đắng đắng, chua lè. Thế mà vài bộ đội uống vào, đã khen:
              - Ngon đáo để.

              Ấy thế! “Ông bộ” mới vào Nam thật thà và chất phác đếm tiền miền Nam mãi không xong. Họ thích thú nhất là mua “đài” (radio) thứ “xì cúc lô can” của Tàu sản xuất dõm, thứ “xì cúc lô can” mà chả biết! Thế là miệng la ơi ới, ổng chạy theo một tên nhãi con tự nhận là dân buôn, thằng bé nhanh tay chôm chĩa đâu đó, rồi miệng huýt gió hắn lẹ chân dzọt đi mất. “Ông bộ” tức mình chưởi đổng:
              - Không hiểu "rân" miền "Lam, nàm" cái "rống nanh mưu rì", mà “nưu manh” thế!
              Ở Sài Gòn, dân thành thường xỏ lá
              “Bộ đội ơi, miền Bắc có cà rem”?
              Nét hớn hở, tỉnh bơ như Hà Nội
              “Ồ thiếu gì, ăn không hết, phải phơi khô”
              ! (NT)

              Mời quý vị nghe "ổng" nổ tung Long Đất, Long Giao, Long Hải, Long Bình, Long An nè:
              Ở ngoài Bắc, Ti Vi ai cũng có
              Sáng sớm ra thì nó chạy đầy đường
              Anh nhìn chiếc đồng hồ hai người lái
              Mắt thèm thuồng, cứ nhìn thấy là thương.
              (NT)

              Anh tự mãn quê anh nhiều cà chớn
              Còn cà phê thì uống chẳng cần tem
              Ghé vào tiệm mua nửa đôi nịt vú
              Lọc cà phê, ừ cộng sản mà em!
              (Nguyên Thạch)
              * * *

              Những ngày đi dạy học, tôi rất thích mặc áo dài, và ngắm tà áo dài tha thướt cuả phụ nữ Việt Nam tung bay trong gió chiều. Chồng tôi thường bảo "em nên giống như một thi sĩ đã làm bài thơ mà anh rất thích nhé":
              Em cứ mặc, nhưng xin đừng ngắn quá
              Để tôi nhìn chột dạ phải liêu xiêu
              Em cứ mặc, nhưng xin đừng mỏng quá
              Để cho tôi tưởng tượng thật nhiều

              Em cứ mặc, nhưng xin đừng hở quá
              Người ta nhìn lại đổ vạ cho tôi
              Em cứ mặc, nhưng xin đừng gợi quá
              Tha cho tôi vì tôi đã già rồi

              Em cứ mặc, nhưng xin đừng lộ quá
              Người ta nhìn trông thấy cả dây leo
              Em cứ mặc, nhưng xin đừng mỏng quá
              Để mưa rơi, hàng xóm tưởng em nghèo...
              (PVT)

              Thi sĩ ơi! Hãy yên trí đi, đa số các cô giáo ở miền Nam đều thanh lịch, nho nhã, và bên trong nét yêu kiều thanh nhã lịch lãm ấy, còn ẩn chứa cả sự tự tôn thâm thuý và một tấm lòng... Nhưng chẳng hiểu tại sao những tà áo dài tung bay uốn lượn trong gió trước kia, ngày nay sau 30-4 đã bị cấm, vì "đảng" bảo:
              - "Bây giờ đã hoà bình và độc lập rồi, thì mọi người bình đẵng, ai cũng như ai, không cần phải mặc áo dài cho ra vẻ đài các cao sang" .
              Khổ thân tôi! áo dài các cô giáo phải biến đi đâu mất: Bây giờ hầu hết nữ sinh, thiếu nữ, phụ nữ, bà già ở miền Nam Việt Nam, khi ra khỏi nhà chỉ đóng bộ đồ bà ba: quần đen, áo trắng, áo nâu sồng! Một số thầy, cô giáo ở “chế-độ Sài Gòn cũ” bị Đảng và Nhà Nước cho “mất dạy” gần hết phân nửa. Ui, không “bị mất dạy” sao hở!? Khi bài học vỡ lòng trong miền Nam dạy tôi học từ thuở bé thơ là:
              - “Phải biết kính trọng người lớn. Nhớ ơn Tổ tiên. Yêu mến quê hương. Yêu gia đình. Nhường cơm chia sẻ áo đến người cùng-khổ. Thương bạn học. Thân tình đoàn kết đùm bọc yêu thương lẫn nhau”.
              Thì giờ đây mọi thứ đã đảo lộn. Đảng dạy trẻ thơ bài toán hận-thù: “Phải giết bao nhiêu “tên ngụy” (rebels) một ngày. Bác dạy người ta rình mò, thi đua đấu-tố nhau, tố khổ nhau đến cùng kiệt hơi thở cuối cùng. Nhất là thanh niên trai tráng trí thức đã bị đi Tù. Tù đày trắng trợn trên danh nghĩa lừa bịp: học tập “cải tạo”... Tôi đứng lớp mười giờ mỗi ngày để giảng về văn học mới:
              Liên hoan có mấy quả chuồi,
              Ra đi, nhớ mãi cái buồi hôm nay!
              Anh đi chiến dịch Pờ–Lây
              Cu
              dài dằng-dặc, biết thuở nào... ra?
              (2)

              Quơi Trời cao đất dày ơi! Tôi cố gắng mở ngoặc kép, ngoặc đơn, ngỏ hầu thuyết phục cho học sinh miền Nam nên thông minh hơn xí, tìm hiểu chút xíu về cách diễn đạt “tư-tưởng-lớn” của nhà “giao-lưu văn-hóa của nhà nước ta” là thế. Dạ vâng! Là thế đấy! Nhưng học sinh miền Nam không chịu tin. Không tin. Ấy dà dà...! Thế nầy là thế nào mà buồn cười nhỉ. Quả chuối trong buổi quan-hà tiễn đưa người đi Pleiku í mà! Ngoài miền Bắc thì gọi là "quả chuồi" cho đúng âm điệu văn vần, văn hoa vui vẻ một tị! Còn trong miền Nam thì thành thật nôm na ngắn gọn kêu nhau ăn "chuối". Khổ quá! Mong các em cứ suy nghĩ nghĩa đen nghĩa bóng gì cũng được, vì "đất Plei... ku thì dĩ nhiên dài đằng dặc...". Có thế mà các em hổng chịu hiểu cho cô giáo nhờ xí! Thế là tôi càng “bị mất dạy” sau bài thơ rồi. Tôi cũng như các bạn chung ngành đã ngơ ngơ ngác ngác:
              Thầy giáo, lương lãnh ba đồng.
              Làm sao sống nỗi mà không đi thồ.
              Nhiều thầy phải đạp xích lô.
              Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh?
              Cô giáo phải bán bia ôm.
              Ôm phải học trò, ăn nói sao đây?
              (3)

              Rất may là “bần-ni-tôi chưa “trổ nghề” điêu-đứng đứng-đường moi tiền móc túi, hoặc làm nghề liếm láp bọt bia ôm, hay là vác cuốc đi đào bia mộ! Mặc dù ở thời buổi nầy ai ai cũng biết và "thèm thích bia ôm” xí. Chứ có ai thích vác cuốc đi đào “bia mộ” bao giờ! Vả chăng “bia ôm” cũng còn có tay ôm chân đi... Còn “bia mộ” hì hì …nếu có “mộ chân” cũng ráng “bò đi” xuống mồ cho xong kiếp đời ô trọc trong một xã hội chủ nghĩa!
              Cái xứ gì đâu thiệt lạ kỳ
              Đèn xanh cũng chạy, đỏ cũng đi
              Dân không phương kế đành phải ở
              Cột đèn không cẳng cũng muốn... đi
              (Bùi Phạm Thành)
              ***

              "Bị mất dạy" thì dĩ nhiên là mất việc. Tôi lui về khu 18 thôn vườn trầu của huyện Hốc Môn, là nơi hang ổ của bọn nằm vùng! thì gia đình tôi càng lầm than cơ cực, đói rách tả tơi gấp ngàn lần di-tản trước. Bởi vì:
              Khi xưa vác bút theo thầy.
              Bi giờ em lại vác cày theo trâu.
              Trên đồng cạn dưới đồng sâu.
              Vợ chồng cùng “cấy”... thằng cu ra đời.

              Nhân dân thì chẳng cần "no".
              Nhà nước no sẵn bo bo mỗi ngày.
              Hãy chăm tay cấy tay cày.
              Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang.
              (3)

              Ồ! Chẳng qua: Tất cả mọi thứ là của nhân dân: Ủy ban nhân dân. Quân đội nhân dân. Viện kiểm soát nhân dân. Cửa hàng ăn uống nhân dân. Hợp tác xã phân bón nhân dân. Công ty bách hoá nhân dân.... Đặc biệt chỉ có “Kho Bạc” phì-lũ béo bở là của Nhà Nước! Buồn tình, tôi nhìn họ rỉ tai nhau ơi ới từ Bắc ùn ùn kéo vào Nam, như cụ Cao Bá Quát cảm hứng mấy câu thơ bất hủ:
              “Một thầy một cô một chó cái,
              Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi"...
              giống y đúc như cá nhân ba bốn tên cán bộ nọ vênh vang, vui vẻ vẫy vùng, vơ vất vùng Vịnh* (Trích dẫn thơ ngắn trong 4 Tập, 4 hồi: thể loại thơ Vần V tiếu lâm, có: Giới thiệu những nhân vật > Vững* + Vũ* + Vẹm* Vân* của THH như sau:
              Với Vẹm* vỡ vai, vì vẩu vừa vểnh
              Vì vậy Vũ* vừa vúc vắc vênh vang
              Vả* vất va vất vưỡng vài vốc vích*.
              Vun vén vỏn vẹn vài vố vịt vương*

              Vẹm + Vũ + Vững vẫn vá víu vụ vườn
              Vả* vỡ vài vồng vòi voi vắn vuông
              Vùng Vinh* vắng vẻ, vùng vẩy về Vũng*
              Vả* vài vườn vắng vẻ với vạn vật

              Vịt vo ve vỗ vù* vai, vang vọng*
              Vích vênh váo Va* Vân vanh vách
              Vân vì vụ vịt, vênh vang vùng vằng
              Vợ Vững vác võng vào ven vũm vườn

              Vòm vườn vắng vẻ vật vờ võng vãnh
              Vật vờ vi vu vui vì vô Vũng*.
              vờ vĩnh vỡ vạc vài vồng vông vang
              Vả* vụng về vồ, ve vuốt, vòng vòng
              (vân vân... ) (2)

              Vì: Nhất đổng (đồng hồ có hai cửa sổ). Nhì đai (radio). Tam đeo (kính “dâm”). Tứ đạp (xe đạp). Cũng chỉ vì họ bảo chiếc đồng hồ reo chuông ở miền Nam là: “mìn nổ chậm”. Phin café là: “cái nồi ngồi trên cái cốc”. Thủy-Quân Lục Chiến là: “Lính nước đánh bộ”. Trực thăng là: “tàu bay lên thẳng”. Nhà vệ sinh là: nơi “Đái, ỉa”. Nhà Hộ-sinh là: “Tập thể Xưởng-Đẻ”. Và những câu khẩu hiệu quái đản. Biểu-ngữ giăng ngay cổng ra vào ở Từ Dũ, viết nguệch-ngoạc, sai bét chính tả, nhưng đúng hàng lối trên dưới ghi rõ như sau:
              Mọi “da” đình, chỉ có hai con vợ
              Chồng hạnh phúc!
              (3)

              Ô ồ!... (có "hai con vợ", thì... đặc biệt “thằng chồng” phải rất hạnh phúc!!! hì hì hì… sung sướng là cái chắc). Hô hô! Do chủ tịch hội đồng Bộ-trưởng Trung-ương ra lệnh đẩy cao kế hoạch hoá gia đình, mỗi gia đình chỉ được phép sanh hai con, đứa nầy cách đứa kia 5 năm. Đảng sáng suốt lỏ mắt nhìn các bà, các chị lần lượt vô nhà bảo sanh để cai, nạo tuốt, khỏi nuôi báo cô; vì gạo cơm mắm muối vải vóc chả có.
              Trai khôn lấy vợ đặt vòng.
              Gái khôn lấy chồng thắt ống dẫn tinh.
              Đàn ông đi biển có đôi.
              Đàn bà đi biển mồ côi một mình.
              Dù em con bế con bồng.
              Thi đua yêu nước quyết không lơ là.
              (3)

              Tình trạng học đường tụt xuống dốc bi thảm, cháu tôi học cấp II, về nhà cháu đã kể lại chuyện một thằng bạn trong trường bị đuổi học, vì tiếng Anh tiếng U như sau:
              Giờ Anh Văn, cô giáo cho học sinh tập “giao tiếp và ghi vào báo cáo”.
              Hai thằng bạn hỏi nhau:
              - Mầy thích loại nhạc gì ?
              - Pop.
              - Còn mầy?
              - Disco.
              - Rồi ghi vô đi.
              - Nhưng mà hai từ đó viết sao?
              - Tao cũng cóc biết.
              – Đây là từ lai tây, thôi ghi phiên âm đi.
              - Uhm, có lấy điểm đâu mà lo...
              Thằng bạn gật gù, ghi vào báo cáo:
              - Thể loại nhạc ưa thích: "Bóp Đít Cô" (2)
              ***

              Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam “siêu việt” là chỉ có thế thôi.
              Thế đấy.
              (!!! ; ???)
              *

              Vinh = ngoài Bắc / Vả = Các anh ấy, hoặc Vả lại, vả chăng / Vũng* Tàu. / Vịnh = Vịnh Hạ Long. / vích* - loại rùa / Vù = sưng vù vai / Vang vọng = vịt kêu quang quác /
              (1) Thơ Bút Tre
              (2) Sưu tầm lượm lặt
              (3) Thơ tiếu lâm Tình Hoài Hương
              * * *

              Tình Hoài Hương
              Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-10-2017, 01:32 AM.
              Bút trần nào tả được lưu luyến!
              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
              Tình Hoài Hương

              Comment

              • Tinh Hoai Huong
                Senior Member
                • May 2009
                • 1081

                #202
                Khi Người Lính “Thua Cuộc …"




                Khi Người Lính “Thua Cuộc …"


                Sau ngày 30/4 "đổi đời" tối đen đầy tang thương... dẫn tới tháng 5... trở đi, là những chuỗi tháng năm đoạ đày: Hầu như suốt hơn hai tuần qua nhóm di tản chúng tôi hùn tiền để nấu cơm ăn chung, tối tối ngủ nhờ ở trong góc vĩa hè, (dưới mái hiên nhà thờ Huyện Sĩ). Lòng tôi trĩu nặng nỗi ray rứt muộn phiền sầu đắng theo từng cơn lắc léo luồng chảy trên dòng đời phức tạp, điệp trùng núi tiếp núi đồi tiếp đồi, chập chùng bóng tối hoang vu tĩnh lặng kỳ lạ. Người ta càng ồn ào, náo nhiệt buôn buôn bán bán, đổi chác bao nhiêu thứ lăng xăng, thì tôi càng lo lắng, bồn chồn, ray rứt bấy nhiêu. Tôi cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, dường như bị bỏ rơi giữa đời, không nơi nương tựa. Thanh niên phụ nữ 30 từ đâu đâu mọc lên chả biết, ồn ào hí hửng đeo băng đỏ, mang súng AK đi đầy đường. Đám thanh niên náo nhiệt ngồi trên xe lam phóng loa kêu mọi quân nhân và công chức đi trình diện. Họ là những tay “sừng sỏ”, là những "ông Trời Con" uy quyền nhất trong buổi giao thời lộn xộn kinh khủng nầy. Chẳng biết đám thanh niên 30 nầy có đọc qua thuyết của Mạnh Tử chưa? -"Vua là thuyền, dân là nước. Nước bồng bềnh trôi có thể nâng thuyền lên cao, mà khi trái gió trở trời giông bão nước cũng có thể lật úp nhận chìm thuyền xuống đáy sông".

                Tôi chua xót mãi suy nghĩ về: “quyền lực” trong buổi giao thời thật vô cùng cay đắng và đớn đau!!! Quyền lực có hai mặt: -Có điều đúng và có điều sai-. Quyền lực mà ai đang nắm trong tay, (cho dù đó là "kẻ chiến thắng" xâm chiếm quê hương) do tước đoạt, giành giựt, -mà quyền lực cần dung hòa, thông cảm, độ lượng, chia xẻ lẫn nhau, có lẽ phải và có điều trái-. Để bảo đảm mọi điều ta đang hoài bão về lý tưởng hằng ước ao: Không vinh quang nào mà không trả giá bằng gian khổ, mồ hôi, nước mắt, máu; ngỏ hầu duy trì sự trường tồn cho một dân tộc vĩnh thịnh. Vậy thì, “Việt+ cách-mạng lâm-thời” muốn có tất cả, thì họ phải chiếm được lòng dân, phải được dân tôn trọng. Muốn có sự sinh tồn của một đất nước phục-hưng vĩnh-thịnh trong hoà bình, và một dân tộc giàu mạnh phú cường, hạnh phúc... điều ấy sẽ tùy thuộc vào các cấp chấp chính lãnh đạo đất nước đương nhiệm: Tôi xin khẳng định thêm lần nữa: nếu anh minh, thì chính thể ấy có cả thiên hạ, dân tộc ấy sẽ trù phú, đất nước ấy thái bình, tự do, nhân quyền, độc lập, bình đẵng, hạnh phúc trường tồn thật sự!

                Suốt thời trai tráng ngang dọc phong sương: vinh nhục sang hèn, buồn vui đớn đau sung sướng: anh đều có đủ… Tranh đã tranh, cười đã cười với bao lần khóc thầm. Đời mỗi người có nhiều lý tưởng, đam mê, hoài bão, ước ao, hy vọng và hối tiếc; đã làm nhiều người tổn thương! Trái tim bạn chúng tôi đau, tôi và Luật càng đau ghê lắm khi mất sạch mọi thứ, thì đã thất vọng tột cùng. Vì những điều bạn và anh làm, đã hy sinh và sống chính trực trong bổn phận, danh dự, trách nhiệm làm trai phải trả nợ non sông, sự thịnh hưng tồn vong cuả quốc gia dân tộc; bạn & anh chọn con đường phụng sự tổ quốc, đưa thân ra gánh lấy trọng trách, quên thân mình, quên tình riêng, vắt cạn bầu tâm huyết, dũng cảm chiến đấu vì dân tộc: Bạn và anh đã làm hết sức với khả năng có thể.

                Chính bởi họ là “quan”... của một chính phủ Việt Nam Cộng Hòa: do quan VĂN lấy trí, dùng lời để luận người, sống chết vì lời nói, cây bút, công tâm vi thượng. Quan VÕ lấy sức dùng tài sống chết ở sa trường, xã thân ngoài chiến địa, da ngựa bọc thây là chuyện thường. Hai loại QUAN cộng với Tướng, Tá, Úy, Binh... đều tương-đồng: trọng NHÂN, trọng chữ TÍN, trọng NGHĨA, bảo vệ lãnh cư và dân tộc; họ lấy trách nhiệm và danh dự làm gốc, để lập thân, cùng nhau ôn hòa chung vai nếm mật, chia xẻ với DÂN mà cộng khổ ; ngỏ hầu trải qua: “Chua. Cay. Mặn. Ngọt. Bùi. Đắng. Lạt. Trong”.

                Cuộc đời như một trò chơi, một ván cờ... cho đến lúc nào đó ta phải có sự chọn lựa, cân nhắc, dứt khoát quyết định, đặt hết nhiệt tình tin tưởng vào trò chơi đó. Ai may mắn “thắng” chưa chắc là do mình hoàn hảo; hoặc người “bại” sau cuộc “đổi đời” không hẳn là yếu kém. Trớ trêu thay, "người thua cuộc" (không phải quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hoà là người thua trận chiến, mà là người thua cuộc cờ, trên bàn cờ quốc tế), thì chắc chắn sẽ bị kẻ thắng lừa, hại cho thê thảm... vì sự thanh trừng và trả thù hèn hạ... Biết thế, nhưng họ ôn nhu cùng cả tin đơn giản nghĩ: ("Không đến nỗi nào... vì "người ta" đã có hứa sẽ "khoan hồng & độ lượng" mà...)

                Vô cùng khó khi QNQLVNCH đã u trầm, chua xót, đắng cay, nghẹn ngào, lặng thinh, ẩn nhẫn trong cách đối nhân xử thế! Tôi xin nghiêng mình ngã mũ cung kính chào qúy vị “Tù Cải Tạo” (chữ “tù cải tạo” được riêng tôi và nhiều thế nhân trang-trọng, tôn vinh trong hai cái “ngoặc kép”). Đáng trân-trọng và khâm-phục lắm thay! Nay không còn gì... khiến cho anh có thể THUA. Chẳng có gì anh có thể HƠN nữa! Anh trầm ngâm lặng lẽ nhìn "đời", và dĩ nhiên anh không còn gì phải hối tiếc và ân hận.

                “Hòa-bình” đến, nhiều kẻ hắc ám xu thời xu thế hí hửng hân hoan cứ tưởng bở, reo vui, mừng rỡ nên phất cờ nửa xanh nửa đỏ với ngôi sao vàng chính giữa, ùn ùn đi đón khách lạ phương xa không mời mà đến xâm lăng, gian trá tước đoạt, giành dân giựt đất... Trong khi mọi quân cán chính nhân (Quân-lực Việt Nam Cộng Hoà) tuân phục thông báo mới của phe "giải phóng miền Nam" sau 30/4, họ, (QNVNCH) những quân cán chính ở trong chế độ cũ quả thật cả tin “chân thành & hiền triết” can trường chấp hành, tuân phục điều luật do “Việt+ nhà nước” mới thành hình ban hành, họ tuân phục chấp nhận đi trình diện “học tập cải tạo trong tù” 14 ngày, (như cách-mạng lâm-thời đã ra rã rao truyền trên những loa phóng thanh đặt khắp các nẽo đường); Cũng có nghĩa là quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hoà trọng chữ tín, tận trung muốn tìm ra con đường chính nghĩa, không lừa đảo và bội tín. Họ đi tìm hạnh phúc thực sự không tự đến (trong tương lai mù sương), mà ta phải quyết giành về, cho tổ quốc, cho quê hương, cho gia đình và riêng bản thân.

                Thế nên, mọi người công dân ở trong chế độ cũ “chân thật cả tin” răm rắp chấp hành điều luật, quy phục theo lệnh lạc mới ban hành của "cách mạng" đưa ra. Họ nộp giấy tờ tùy thân, để được phát cho một tấm giấy viết tay nguệch ngoạc chứng nhận đã trình diện với ủy ban giải phóng, xin giấy phép chứng nhận đi đường, chen nhau ở các bến xe đông nghẹt người, họ ngủ lại đêm nầy qua đêm khác, tuần nầy qua tuần khác, ngỏ hầu mong có chuyến xe đêm, trở về nguyên quán trình diện Ủy-ban Giải-phóng địa phương. Người ta riu ríu tuân theo, không ai muốn hó hé động đến “cách mạng Việt+ phi thường”. Vã chăng chiến tranh tàn ác khiến mọi người thê thảm, rất đau khổ cùng kiệt sức rồi. Ai ai cũng muốn đất nước thanh bình, thịnh trị, để toàn dân an cư lạc nghiệp, đời sống ấm no & hạnh phúc. Ngỏ hầu khi đất nước Việt Nam thái bình, thì dân hai miền Nam Bắc không còn chính kiến, lúc đó chúng ta sẽ chung vai góp sức xây dựng quê hương, chí làm trai hào hùng tung hoành vẫy vùng qua bốn bể, thì sẽ có ngày quê hương rạng rỡ phú vinh:


                Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
                Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
                Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
                Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
                Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
                Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
                (*)

                Tôi trộm nghĩ: “khi người đàn bà (hoặc đàn ông) đã thành thật yêu ai, thì họ chung thuỷ, cố bảo vệ, duy trì hạnh phúc đến cùng. Họ đặt hết niềm tin tưởng, yêu mến thiết tha, và ngưỡng vọng người ấy... Nhưng khi họ biết rõ mình đã bị lừa gạt, (cả ba phương diện: tinh thần, vật chất và thể chất), họ đã bị “cách mạng lâm thời 30” phản bội; thì trong lòng họ (đa số) rất tức giận, uất hận... và chỉ muốn tìm cơ hội trả thù. Thế nhưng theo thiển ý của riêng tôi thì: những người bị gọi đi “Tù” trên danh nghĩa: “học tập cải tạo”; khi biết mình đã bị trắng trợn “lừa vào rọ tù”, (tù vì tội yêu quê hương, yêu tổ quốc, yêu đồng bào), họ phải đi “học tập cải tạo”, có ngày đi, mà không biết có ngày về, chẳng có án tù: Đó chính là một biến thể của cú bất nhẫn quay giò lái, đã minh định sự trả thù về hai ngã rẽ cuộc đời đối nghịch tất yếu vì chính kiến. Đó là hình phạt trắng trợn và ghê tởm của con người đối với con người. Ấy thế mà “người can trường trong chiến bại” vẫn ôn nhu, kiên trì, khoan dung, chịu đựng, nhẫn nhục, xót xa cam phận, ngỏ hầu cho “trải sự đời”:

                Ăn ở sao cho trải sự đời.
                Vừa lòng cũng khó há rằng chơi.
                Nghe như chọc ruột, tai làm điếc.
                Giận đã căm gan, miệng mỉm cười.
                Bởi số chạy đâu cho khỏi số.
                Lụy người nên mới phải chiều người.
                Mặc ai chớ để điều ân oán...
                (*)

                Họ thành tâm muốn hòa mình với cỏ cây và nhân quần, để níu lấy cơ duyên “làm lại cuộc đời”. Nếu họ có buồn, có đau đớn, có đắng cay, khổ sở và cơ cực, chắc chắn là khổ cực trăm bề rồi: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại mà”. (Một ngày trong tù bằng ngàn thu ở ngoài), thì họ cay đắng ngậm bồ hòn, xót xa tự trách thân:

                Ngồi buồn mà trách ông xanh,
                Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
                Kiếp sau xin chớ làm người,
                Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
                Giữa trời, vách đá cheo leo.
                Ai mà chịu rét thời trèo với thông
                (*)
                ***

                Cuộc sống dày vò tôi suốt đoạn đường ly hương trên quê cha đất tổ, kể từ khi chồng tôi cầm tờ giấy trình diện đi “học tập cải tạo” mười bốn ngày, (than ôi 14 ngày) được ghi thêm câu thòng-lọng:
                - … , … sau nầy nếu cần, phải trình diện theo đường lối khoan hồng.

                Ngày ấy, bạn cùng chồng tôi đứng xớ rớ ngoài gốc cây sao, gần trung tâm trình diện, đã nghe cán bộ phóng loa thông cáo thứ hai ra đời:
                - Quân nhân cấp: Úy, Tá, Tướng... Trưởng phòng, Trưởng ty, Sở, đi học một tháng!
                Một ông thượng úy khác dõng dạc thòng thêm câu:
                - Các anh có biết: Jean De Lattre De Tassigny không? Ông ta là Tư-lệnh quân đội viễn chinh Pháp đấy. Ông ta có cậu con trai là trung úy Bernard De Lattre, vào tháng 5 năm 1951 tên Bernard đã bị đàn anh của chúng tôi, (mà hồi xưa thường gọi các “đồng chí” ấy là Việt Minh đấy), chặt đầu tại Ninh Bình. Các đồng chí ấy cột cái xác không đầu vào thân con trâu, họ phát một cái rõ mạnh vào mông con trâu, thế là con trâu ù té chạy xộc vào trong đơn vị trú đóng của Bernard. Khiến quân đội viễn chinh hoảng loạng, chúng lo đầu hàng gấp, cút xéo về Tây, chạy có cờ! Bọn thực dân mà còn sợ kinh như thế, huống hồ ai… Hử?

                Rợn người! ... Dẫu Luật thì-thầm bên tai, nhưng tôi chẳng thể nghe gì. Tôi chỉ thấy tiềm ẩn trong tâm tư: hình ảnh diễm kiều của đường chiều trong dáng hoàng hôn ve vuốt nâng niu bao ước vọng thanh bình, an ấm, của con người thuở xưa bay bổng lâng lâng dâng lên cao vút. Nay đã phũ phàng rơi cái độp xuống vực thẳm mênh mông không đáy. Rồi sẽ ra sao đây khi (anh chồng tôi “cù lần, dại... dột nghe người ta ngọt ngào phỉnh nịnh”) Luật đã dứt khoát rủ bỏ tất cả, để rứt áo ra đi... tiến tới ngày mai, anh cương quyết dấn thân tới vùng tương lai mù mờ, sâu hoắm, mịt mùng trong "Trại tập trung...", mà tôi không thể; không làm sao ngăn cản anh nỗi)!?

                Rồi sẽ ra sao nữa đây? Khi chồng tôi ở một nơi nào xa xăm biền biệt không tin tức, và tôi: vợ ngu ngơ đần độn, cùng bầy con nhỏ xíu ngây thơ thủng thỉnh dò dẫm từng bước thấp cao, với mẹ già lum khum một nẽo rị mọ đớn hèn, chúng tôi cùng dắt díu nhau phiêu lãng lang bạt nơi nao? Bao tủi nhục làm thân cô thế khô, tôi sẽ biến dạng làm con rùa lọt tọt, con cò lẹt đẹt âm thầm lặn lội kiếm sống trong Mười Tám Thôn Vườn Trầu Bà Điểm, Hóc Môn? Chao ôi! Da diết buồn đau biết mấy!!! Chẳng hiểu sao lòng tôi dấy lên một cảm khúc quặn lòng, đớn đau, chua xót, đắng cay, nghèn nghẹn ứ nghẽn vô bờ?! Tôi cảm thấy dường như mình hẩng hụt, chơ vơ, lạc lõng khát khao từ mọi phía, mắt còn ngái ngủ, bỗng chốc tôi bàng hoàng gặp giữa khuya trùng trùng lớp lớp, toàn những khuôn mặt xa lạ, lạnh lùng, thô thiển. Chúng tôi lo sợ những cuộc trả thù triền miên đột nhiên dội vào đời.

                Cũng có người bồn chồn, lo sợ tột cùng, dè dặt, bơ vơ đầy ngao ngán, lặng im, tò mò, hiếu kỳ và nhút nhát rụt rè như tôi. Mọi người mưu tìm cho chính thân cuộc sống mới, đầy bon chen, kỳ thị, chính kiến từ cơn lốc cao độ trong nền chính trị “30/4 giống đúc đêm giao thừa”! Chiến cuộc giao tranh tàn khốc thì đổ máu, hận thù, tang thương, cay đắng, và chết chóc. Còn hoà bình lại ngậm ngùi bi thương ở muôn mặt đắng cay vô vàn khác. Bao sợi tóc trên đầu xanh giờ đã điểm bạc, vò võ cô đơn trong góc tù, thỉnh thoảng nhận được gói qùa bé tí, anh cảm thấy ấm lòng, nghèn nghẹn… nhưng ngày về vẫn hun hút xa xăm. Điều đau buốt nhất là tuổi thanh xuân, tương lai, sự nghiệp, hy sinh, tình yêu, phục hưng tổ quốc đã hủy diệt, tiêu tan trong tù ngục. Sự đớn đau mất nước đã dày vò anh tột đỉnh, nhận chìm anh xuống đáy hố thẳm, đã quá sức rồi.

                Phía sau và đằng trước con đường đầy sương mù đó, hầu như còn đọng lại cái nhìn gay gắt, lạnh lùng (của con tàu định mệnh) có nửa quá khứ hào hùng, và nửa tương lai mù tối, đang trôi lênh đênh theo từng cuộn mây trắng đục trên đầu? Bây giờ, Bạn & anh… thân bất do kỷ đã bị tù đày “cải tạo” rất lâu năm. (Thời trai trẻ Luật bị giam cầm suốt mươi năm, cùm kẹp, đói khát, khổ sở, bệnh hoạn, đau xót, dày vò, khổ ải, điêu đứng, đầy tủi nhục đắng cay… Có bạn là Phan văn Bàn mới "ghê" chứ! bị "TÙ cải tạo" suốt 29 năm đó sao)!?

                ***

                (*) Thơ: Nguyễn Công Trứ

                _ * _

                Tình Hoài Hương
                Last edited by Cowboy72A; 05-20-2017, 12:18 AM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment

                • Tinh Hoai Huong
                  Senior Member
                  • May 2009
                  • 1081

                  #203
                  MẸ Tôi & Chiếc Áo Gấm...



                  MẸ Tôi & Chiếc Áo Gấm...
                  Từ năm 1980: chúng con đau đớn kính gởi về mẹ (& ba: 1982) đóa hoa hồng trắng.
                  Tình Hoài Hương

                  *

                  Tôi cố gắng giằng co, níu kéo, quyết giành lại chiếc áo gấm sờn nhàu nát cũ mèm với định mệnh. Dù thời gian dài dằng dặc lặng lẽ đơn điệu dần dần trôi qua, đã khiến chiếc áo hư hao, phai mòn, sờn úa mục nát ít nhiều. Và không gian trôi dần, trôi dần về phía tương lai mù xa tách bạch ra đôi bờ cuộc sống. Không ai có cách gì ngăn chận tuổi già héo hắt đến trước thời gian. Vâng! Có lẽ nay tinh thần lẫn thể chất tôi đã già cỗi! Và, chiếc áo gấm năm xưa còn đây, mà ngón tay gầy run run tôi cài hoài mấy nút áo cũ, vẫn chưa xong. Thời gian đã cướp dần đi tất cả. Vẫn biết thế, nhưng tôi mong muốn níu kéo, âu yếm dùng-dằng ngắm nhìn lại chiếc áo gấm. Nếu tôi được nhìn nhiều lần càng tốt.

                  Ngày ấy, chúng tôi vui vẻ dừng chân trên con đường mòn vòng vo gãy khúc uốn lên uốn xuống quanh co ven đồi thông rì rào ru tình tại Đà Lạt. Chúng tôi chỉ nhìn vài con chim lí lí lắc lắc, rù rì, bay qua bay lại trên những cành cây mảnh dẻ, là cảm thấy hay hay, vui vui. Lần đó, tôi liếc liếc, lí lắc ghé ghé nghiêng nghiêng đầu thẹn thùng e ấp cười, tôi dùng hai ngón tay quệt nhè nhẹ vào một bên má mà lêu lêu Luật, để trêu chọc chàng, và say đắm nhìn Luật. Hai bàn tay tôi nhẹ nhàng, khéo léo khép vạt áo veston của chàng, rồi cài hộ Luật mấy nút áo, cho chàng bớt bị gió lạnh lùa vào cơ thể.

                  Giờ nầy, Luật cùng muôn ngàn người trai trẻ khác đã bị tập trung đi “cải tạo” trong tù rồi! Chàng đã ra đi. Nhưng Luật không ra khỏi đời tôi. Còn mỗi mình tôi đứng lại bơ vơ, lạc lõng, muộn phiền giữa chợ đời sóng sánh muôn mặt, với sợi tơ hồng quá mong manh cứ rung lên bần bật giữa lưng trời. Tôi lặng lẽ chua chát đối mặt với cuộc sống, ấp ủ kỷ niệm thời chớm lớn, những tủi hổ tiếc xót vô vàn, và những đắng cay thăng trầm tột độ trào lên bờ mi mọng từng chuỗi giọt sầu.

                  Ngày bị vào tù “cải tạo”, Luật đã bỏ chiếc áo vét (veston) nầy lại, trên chiếc áo vét đã dính hai ba sợi tóc đen mướt khá dài cuả tôi, và một hai sợi tóc ngắn cuả chàng, cùng với những lá thư tình đầy ắp yêu thương do chàng viết dày cui, còn trang trọng cất trong túi áo. Thư của Luật viết có văn phong gợi cảm, là những bức tranh phác thảo duyên dáng về câu chuyện gia đình, tình yêu, phúng dụ, vỗ về, hứa hẹn, an ủi, mang tính cách gia đình đầm ấm yêu thương, hạnh phúc bền lâu. Đó cũng là chiếc áo gấm lý tưởng thiêng liêng tinh tuyền muôn thuở, có dấu vết đậm đà khắc sâu vào tim rất thân yêu, quen thuộc duy nhất từ buổi thiếu thời. Dù qua phong sương sáng khuya trưa chiều mưa gió… chiếc áo của chàng đã cũ. Thư tình Luật viết ngả màu vàng úa đọng bụi phấn thời gian, cùng năm ba sợi tóc cuả hai chúng tôi vẫn bóng mướt đen tuyền còn duyên tình mãi đến tận bây giờ.

                  Tôi nâng niu giữ gìn những sợi tóc, phong thư, cùng tấm áo từ hồi chưa cưới nhau. Ngày còn trẻ, tôi chưa lo nghĩ đến tuổi xế chiều phôi pha rồi sẽ ra sao. Bởi tình yêu chúng tôi đó, giống dòng sông chảy qua bao dãi đất: Phù sa phì nhiêu có, cằn cỗi có, tươi tốt có, băng giá hoang tàn lẫn đau khổ buồn xo cũng có. Rồi dòng sông xô sóng sau dồn sóng trước, cuồng nộ đập vào gờ đá, hay lặng lờ êm ả, thong dong xuôi chảy ra biển cả. Mỗi khi chạm trán với thực tế bẽ bàng đắng cay, trong lòng ngút ngàn đau thương, lúc đó tôi lặng lẽ vuốt từng nếp nhăn trên tấm áo, và trang trọng nâng mấy sợi tóc trên hai bàn tay khẽ khàng khum khum bụm lại. Tôi sợ gió từ đâu vô tình lướt qua, tóc sẽ cuốn theo chiều gió bay mất hút, thì biết đâu mà tìm?

                  Đó là những kỷ vật ưu ái đã theo tôi trên muôn dặm đường đời cay cực, để xoa dịu nỗi hãi hùng và bàng hoàng rất kinh ngạc trong cuộc đời phù du. Tôi ấp ủ tình luyến nhớ, thút thít, bùi ngùi khi soi bóng mình trên gương, cảm thấy lòng nao nao nỗi buồn da diết. Vì đến nay tôi chẳng thể giữ lại kỷ niệm nào thân thiết nhất về chàng, khi mái tóc mình thấp thoáng những sợi tóc bạc quyện-bện cùng bao sợi tóc chẳng còn đen mướt? ngoài mấy di vật bé tí ti như đã kể. Thế nhưng, ngọn nguồn óng ả tình trần hiện nay có mất đi chăng? Khi thời gian khẳng định ngàn mối lo âu, đói khát cơ cực run rẩy dâng tràn!? Không thể chối quanh từ sau ngày mất nước, thì lòng trí tôi luôn ray rứt, thương-xót hồi tưởng về quá khứ buồn vui lao xao, dẫu đời xáo trộn, chao đảo.


                  Nay tôi đang mặc chiếc áo cũ của chàng, mà lẻ loi đơn côi ghê gớm, tôi âm thầm đi một mình, buồn bã trên con đường xám ngắt thuở xa xưa. Hai bàn tay lạnh giá run rẩy, run lẩy bẩy, tôi không làm sao cài nổi nút áo bạc phếch thời gian và cũ mèm nầy. Thì ra… giờ đây tôi quá yếu kém và đã già! Kỷ niệm bây giờ chả là gì! Không quan trọng! Chỉ là những chương đã viết trong pho sách tình, xếp lớp lớp trên kệ sách, ít khi được mở ra xem đã phủ lăn tăn bụi vàng. Pho sách cuộc đời từ đây phải đóng lại. Trang giấy đã lật qua quyển mới, thì hồi tưởng nhớ nhung kỷ niệm; chỉ như chiếc lá úa lắc lẻo đong đưa trên cành cao, chờ cơn gió lay để chao đi. Như những áng mây xám lưng đồi lững lờ bay qua bầu trời mùa thu. Như côn trùng biến dạng vào lòng đất mà thôi. Tôi thấy rõ tính chất phù phiếm của quá khứ mang đầy kỷ niệm lãng mạn rồi.

                  Sau ngày “đổi đời”, tôi muốn sống một cuộc sống khác hẳn: Thực tế sung mãn hơn. Nhưng, chả hiểu có thực hiện nổi không, là còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và ý chí: Trước tiên, tôi muốn cho đàn con phải nên người hữu dụng, kiên cường dù bụng đói cồn cào, để vượt qua mọi chông gai thử thách, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ ngất ngư mà. Ý nghĩ nầy như viên sỏi ném xuống mặt hồ phẳng lặng, tạo thành những vòng tròn đồng tâm, ám ảnh tâm thức tôi bồn chồn, băn khoăn, co siết mãi trong lồng ngực quắt quay.
                  *


                  Ngày mồng 5 tháng 5 năm 1980 âm lịch, anh Chín Dzoãn báo tin sét đánh: Mẹ tôi đã chết ở trong Ta In (khu đất thuộc cuối vùng Tỉnh Tuyên Đức Đà Lạt). Ta In là cuối địa đầu quận Đức Trọng, giáp ranh giới vùng Di Linh. Nơi tít tót đèo heo hút gió, thâm u cùng cốc lạnh lẽo, vô cùng hiểm trở, có đi mà ít có ai về nguyên vẹn. Nơi chó ăn đá gà ăn muối, nơi khốn cùng của vùng “kinh tế mới” khô cằn toàn sỏi đá. Chỉ nhiều rắn, rết; vô số muỗi, vắt, đỉa, ruồi trâu, bò cạp rừng to và độc kinh khủng. Chúng chuyên bu bám vào người để hút máu. Nơi có nhiều mụt măng le, tre rừng, ta ăn vào cho đỡ đói, thì sẽ bị sốt rét ngã nước, mà lăn ra chết toi.

                  Cầm tờ điện tín, tôi lặng người rất lâu, không thể khóc thành tiếng. Nước mắt u uẩn tự động quằn quại tuôn chảy từng dòng rồi dội ngược vào tim mình đau điếng. Hình như tôi nghẹt thở, chết dần chết mòn, không còn cảm giác nào khác, ngoài sự dày vò, ân hận, đớn đau dâng lên tột đỉnh. Vì, giá như trước ngày 30-4-1975, nếu có chiến tranh, có đánh nhau dữ dội, tôi cũng còn chiếc xe hơi riêng mới toanh mang hiệu Peugeot 404 chạy đi... Hay là tôi có thể mua vé máy bay khứ hồi cấp tốc bay về với mẹ, tôi qùy xuống bên mép giường, cầm tay mẹ, ôm chặt mẹ lúc mẹ hấp hối.

                  Ôi! Giờ đây tôi không thể đến bên xác mẹ già yêu dấu, để nhìn mẹ một lần chót trong giờ phút mẹ lâm chung. Tôi không thể nào xin tấm giấy phép đi đường. Tôi cũng không thể chen lấn ra bến xe đông nghẹt người có giấy phép ưu tiên. Vì, tôi là kẻ “ưu tiên u đầu” thì có. Tôi không thể đứng ngày nầy qua đêm khác ngoài bến xe, nhịn đói nhịn khát, mà chẳng dễ dàng gì chờ mua vé xe từ Sài Gòn đi Đà Lạt. Biết tin mẹ chết, cũng đành chịu! Dù từ Hốc Môn đi Ta In, chỉ hơn 300 cây số.


                  Thế là hết thật rồi! Một thân xác héo hon đã thực sự trở về với cát bụi phù du. Tôi không lẽo đẽo đi sau quan tài mẹ, vật vã khóc than mà tiễn đưa mẹ về nơi an nghỉ nghìn thu. Má con chúng tôi không biết làm gì hơn, ngoài việc quây quần bên nhau, gùy dưới nền đất, bồn chồn lo âu, sụt sùi, băn khoăn, suy niệm lời Chúa, lâm râm dâng lời cầu nguyện. Tôi ứa nước mắt nhìn mẹ trong hồi tưởng:


                  Mẹ tôi sanh tại làng Thuận Nhơn. Nhà ông bà ngoại ở quê (tức ông bà cố ngoại của con tôi. Làng ở bên con sông rợp bóng hai hàng dừa và lũy tre xanh um bóng mát thuộc Tổng Cù Hoan, Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Mẹ lớn lên trong một gia đình bế thế, phong lưu giàu có, ruộng vườn của ông bà ngoại cò bay thẳng cánh, lúa gạo trâu bò nhiều nhất trong vùng thời bấy giờ. Ông cố ngoại là một võ quan rất giỏi ở triều đình vua Khải Định, Huế). Mẹ có dáng dấp thon thả, làn da bánh mật, răng hạt huyền nho nhỏ đều đặn, miệng cười chúm chím, mắt phượng mày ngài, mũi cao, mái tóc dài láy đen bối thành một búi to sau gáy. Áo quần mẹ luôn trang nhã, sạch sẽ và tươm tất.

                  Mẹ đi ra ngoài đường, ở trong nhà, hay đi ngủ, mẹ đều thay đổi quần áo đâu ra đó hẳn hoi. Dù đi khỏi xóm, đi chợ, hay đi bán, mẹ luôn mặc áo dài đoan trang kín đáo che thân. Đặc biệt mẹ sống cuộc đời bình dị đạo đức, chất phác lương thiện, dịu hiền phúc hậu. Mẹ siêng năng tần tảo đầu tắt mặt tối, long đong bán buôn xuôi ngược. Mẹ nhẫn nhục lao khó giúp chồng, nuôi đàn con mười mạng nên người. Vất vả vì chồng vì con nheo nhóc, mẹ không hề tỏ lộ bất bình, hay nặng lời to tiếng. Trời mưa tháng gió ở nhà rảnh rỗi, mẹ siêng năng cần mẫn khéo tay tự chằm nón lá. Mẹ may áo quần cho chồng, con. Đôi khi mẹ cũng may biếu cho bạn mẹ, và người thân.

                  Đó là việc vặt trong nhiều hy sinh to lớn khác. Phải nói là hầu như suốt cuộc đời mẹ, chưa có lúc nào an nhàn thảnh thơi, ngưng nghỉ tay chân. Cái số mẹ cực thân đến thế mà! Đồng thời mẹ xứng hợp với đức tính bác ái khoan dung của chồng. Mẹ dễ dãi cả tin khi ai nói điều gì xuôi tai “nịnh” mẹ, thì có bao nhiêu tiền của, mẹ nhẹ dạ trút cho người ấy hết. Dù sau đó biết mình bị lừa, nhưng mẹ không giận lâu, mẹ “hờn mát” một chút, rồi quên ngay.

                  Mẹ chân chất hiền lương đến độ thật thà như đếm. Mẹ tính tiền cũ từ thời vua Bảo Đại ra tiền cụ Ngô, đến thời đổi tiền ở chế độ Sài Gòn, ra tiền mới sau ngày mất nước 75, thì mẹ giống thầy bói mù sờ con voi. Mẹ luôn bị kẻ chợ ăn lường. Thế nên, dẫu bị mất hết tất cả tiền bạc, nhà cửa villa, biệt thự tan hoang, mẹ không thèm tiếc. Mà mẹ chỉ ôm khư khư bình vôi đồng đen nhỏ như cái chén kiểu, nhưng khá nặng, và rất có giá trị, chiếc bình vôi nầy có mấy tiệm vàng như Kim Khánh hoặc Kim Ngọc trả giá 5 cây vàng bốn số 9, nhưng gia đình chẳng ai chịu cho mẹ bán! Thân bình vôi tròn vo, đít vôi bằng phẳng, có quai xách đồng xinh xinh bên tai vôi.

                  Mỗi lần ăn trầu, mẹ khéo léo lấy cây chìa vôi têm vào mấy lá trầu xong, còn dư vôi trên cây que chìa, mẹ quệt quệt lên trên miệng bình, cho “bình vôi hưởng tí xái”. Thế là miệng “bình vôi vui vẻ” nhô cao, còn lỗ miệng bình vôi thì teo tóp dần nhỏ xíu; trông nó hô, loe, vẩu ra, hơi giống miệng con heo nái, coi ngộ nghĩnh sao đâu. Hồi ấy tôi nói với mẹ:
                  - Tại mẹ ưa mời bình vôi ăn trầu, nên cái miệng nó mới loe ra dị hợm kinh khủng nè.

                  Mẹ cười vui vẻ. Mẹ rất thích bình vôi đồng đen nầy, nó đã theo mẹ suốt từ thời mẹ về nhà chồng, đến tận ngày nay. Ấy vậy mà bây giờ mẹ cũng buông thỏng hai từ bỏ hết. Kể cả chồng, con, cháu, chắt, dấu yêu. Mẹ bỏ hết của cải vật chất vinh sang xưa. Một mình mẹ lặng lẽ chết đói ra đi âm thầm, mẹ về bên kia cuộc sống mới.

                  Bà chị dâu của tôi đã kể lại rằng: Hôm mẹ vĩnh viễn từ bỏ con, cháu, ấy là một buổi sáng trời ốm nắng, lất phất từng đợt mưa phùn, trong nhà ai ai cũng lo đi rẫy, đi rừng rất xa, xa ghê lắm; để kiếm sống. Tửng bưng sáng, anh Dzoãn đi bộ từ trong Ta In ra Tùng Nghĩa (xa xôi khoảng hơn hai mươi cây số); anh chạy đi vay tiền, để mua thuốc cảm về cho mẹ. Ở nhà chỉ có một mình chị vợ loay hoay dọn dẹp nhà cửa. Mẹ nằm im trên giường không động đậy nhúc nhích. Chị (chị dâu) thấy mẹ không dậy ăn trưa như mọi ngày, nên chị bước qua gian liếp bên cạnh, chị đến bên giường tre lạnh lẽo, không nệm ấm chăn êm.

                  (Nhà anh chị quá nghèo, sau 30/4 anh đi tù 5 năm, vừa được tha về, khi cả nhà bị đi kinh tế mới. Họ chỉ có mấy nhúm quần áo tẻo teo, vài bao bố: son nồi chén bát, guốc, dép, linh tinh… Ít mùng mền đơn bạc, và những bàn tay trắng. Con dâu dắt díu mẹ già tám mươi tuổi lom khom leo núi chùng chập, vượt đồi trùng điệp. Chồng đau bao tử cùng bầy nhỏ lút chút tám chín đứa con, đứa lớn nhất mười ba tuổi trở xuống đứa non tháng tuổi, thì lấy đâu ra những thứ xa xỉ ấy trong thời buổi gạo châu củi quế như ri).

                  Mẹ trùm chiếc khăn màu nâu, mặc áo dài nỉ dạ đen, quần đen, áo len nâu khoát bên ngoài, và mang đôi tất đen. Mẹ nằm nghiêng, quay mặt vô phía ván vách bằng bìa gỗ. Mẹ chập chờn thiêm thiếp trong giấc ngủ muộn phiền.
                  Chị e dè hỏi thăm:
                  - Mệ ơi! Mệ có khoẻ không?
                  Chị Ngọ không thấy mẹ trả lời, chị liền cúi sát xuống bên mẹ, nhè nhẹ lay lay đập đập vào cánh tay mẹ:
                  - Mệ ơi! Con nấu cháo cho mệ ăn nghen.
                  Mẹ tôi lừ đừ mở đôi mắt nhiều ánh đục, dường như đã bất thần ra, mẹ cố gắng quay ngoái cần cổ yếu ớt về phía con dâu, thều thào:
                  - Hôm ni có… cháo ăn… hả con.
                  - Dạ. Mệ đau, không ăn được măng luộc hầm mềm như mọi ngày đâu. Để con chạy ra chợ xép, mua chút gạo, con về nấu xí cháo.
                  - Có gạo là mừng hì.
                  - Mệ ráng chờ nghe. Chợ hơi xa. Con sẽ đi về ngay, nấu mau lắm.
                  - Thôi con. Để dành gạo nấu… cho thằng Cu Nâu… có chút nước hồ mà uống, thay cho sữa mẹ không có… Con à.
                  - Thằng bé con không đến nỗi nào đâu. Mệ.

                  Thế rồi, mẹ tôi ư hử… ú ớ… mệt nhọc rên khe khẽ, mẹ lại lừ đừ, khó khăn mệt nhọc khi quay mặt vào trong vách. Hơn giờ sau, khi chị dâu bưng chén cháo tới gần giường mẹ. Mẹ mỉm nụ cười méo mó, từ từ nhắm mắt, và dần dần lịm thiếp vào giấc ngủ nghìn thu êm đềm không muộn phiền. Chị không hề nghe tiếng mẹ thở, tiếng nấc, chị cứ ngỡ là mẹ mệt muốn ngủ chút xíu như mọi ngày. Mẹ đã đói khát thiếu thốn năm năm rồi, và trước khi lìa đời, mẹ vẫn nhịn đói. Mẹ không đành lòng ăn chén cháo trắng lỏng bỏng với tí muối hột.

                  Nay mẹ không nói một lời từ giã, không một lời trăn trối. Mẹ muốn im lìm sớm ra đi, ngỏ hầu trút bỏ gánh nợ đời, khỏi làm phiền con cháu khó nghèo đông đúc. Con cháu không phải cưu mang “nuôi người vô dụng” thêm một miệng ăn. Mẹ muốn rũ bỏ từ trên vai anh chị tôi, và các cháu nhỏ nỗi âu lo phiền muộn vì bổn phận và trách nhiệm nặng nề. Ôi Mẹ! Mẹ muốn nhịn phần ăn hiếm hoi ít ỏi qúy báu cuối cùng, để chia sẻ cho đứa cháu nhỏ chưa tròn hai tháng. Mẹ đã chết đói. Mẹ âm thầm lặng lẽ êm ái ra đi đúng vào ngày Tết Đoan Ngọ.

                  Lẽ ra, như Tết Đoan Ngọ từ những năm xa xưa, thì mẹ tôi ưa đi chợ mua đầy thức ăn, hoa quả bánh trái. Mẹ làm bánh tro, bánh nếp, bánh bèo, bánh ít, bánh nậm, vân vân... Mẹ làm cả cơm rượu nếp cẩm, nếp than. Mẹ nấu cơm gạo thơm với nhiều thức ăn thịnh soạn, nóng hổi, linh đình, để cho con cháu từ xa trở về nhà thăm cha mẹ. Cha mẹ con cháu hân hoan sum họp gia đình vui vẻ ăn uống. Mẹ nói:
                  - Các con, cháu, ăn bánh tro, ăn cơm rượu, uống chút nước cơm rượu, thì sẽ diệt giun sán trong bụng. Hì.

                  Hầu như cả xóm Trong xóm Ngoài ở Ta In đều thương cảm mẹ của chúng tôi, họ đã cùng nhau đến nhà anh chị Dzoãn, tận tình lo cho mẹ chúng tôi chu đáo. Mỗi người một việc tươm tất từ đầu đến cuối gọn gàng. Trước khi đậy nắp áo quan, họ vẫn để nguyên bộ quần áo cũ, khăn, tất, lúc mẹ chưa đành-đoạn bỏ đi. Và họ mặc lồng thêm cho mẹ chiếc áo gấm, nền áo màu nâu non điểm rải rác những bông hoa cúc đại đóa vàng nghệ. Chiếc áo gấm xưa kia mẹ tôi đã mặc trong ngày trọng đại nhất của đời con gái, khi họ nhà trai hân hoan tưng bừng đến rước dâu. Nay thì những người khác đã thay ba tôi mặc chiếc áo gấm (của ba đã ưu ái trao tặng mẹ). Họ đặt xâu tràng hạt Mân Côi vào bàn tay mẹ lạnh giá, và họ nhớ để bình vôi đồng đen bên cạnh mẹ. Sau rốt, họ choàng thêm cổ áo quan dày cui thô sơ thơm mủ ngo ra bên ngoài toàn thân mẹ.


                  Mọi người tiễn đưa mẹ về an nghỉ nơi nghĩa trang quạnh quẽ. Không một vòng hoa cườm đen cườm tím cùng lời thành kính phân ưu. Không có cỗ áo quan sang trọng đắt tiền, mà chỉ là sáu tấm ván thông đơn sơ hèn mọn thơm lựng mùi nhựa mới. Không hề có bát nhang đèn nến, rườm rà nghi lễ. Không có gì, không còn gì tất cả ngoài nỗi đớn đau kinh hoàng phủ chụp xuống đời lặng lẽ. Ấy thế mà người dân cùng đinh đến thăm viếng mẹ đứng lố nhố đông đúc, từ ngoài ngỏ đầy kín người cho đến trong nhà tranh lụp xụp đìu hiu chật chội nầy. Họ chia buồn, ân cần giúp đỡ gia đình anh chị tôi nhiệt tình. Họ nghỉ đi rừng ngày hôm ấy, không đi rẫy, nghỉ đi làm dù một ngày, là họ nhịn đói nhịn khát và có thể càng thêm đau ốm xanh xao. Họ cùng nhau lặng lẽ khiêng quan tài mẹ tôi băng rừng, leo qua một triền núi thấp, vượt đốc, qua bãi đầm, đi trong thung lũng sình lầy.

                  Rồi họ leo lên ngọn đồi toàn đá ong lởm chởm, đi trên núi cao chót vót và đơn điệu, nơi đây chỉ toàn sỏi đá và gió lồng lộng hú rít, thổi đám bông lau xoay xoay trắng cả lòng quê, và từng cơn gió kéo dài lê thê lạnh thấu xương. Mẹ tôi nằm xuống, vĩnh viễn ở lại nơi rừng núi bạt ngàn hoang vu lạnh lẽo, đơn điệu chơ vơ với cây thánh giá gỗ lắc lư theo gió rì rào. Tấm bia mộ gỗ đơn sơ ghi khắc nơi an giấc nghìn thu đạm bạc và đớn hèn: Mattha Ngô thị Cúc, sanh năm: 1895 >> 1980. Thọ 85 t. Thật đông nghẹt người đói khát nghèo nàn lại lủi thủi buồn xo trở về lối cũ, trên con đường đất đỏ gồ ghề, nơi mẹ đã nhờ người sống thút thít ngáp ngáp mang mẹ đi qua. Khi tôi có thể đến với mẹ… thì nấm mồ mẹ đã lút cỏ xanh. Tôi luôn đau đớn, tủi hổ, dày vò và khóc sưng mắt khi nghĩ về mẹ.
                  ***

                  Thời gian lật đật buồn bã chán chường qua đi, tôi tất bật, bồn chồn, âu lo với công việc cơm áo khốn đốn mỗi ngày, nhưng gia đình vẫn không đủ sống, nghĩa là thường xuyên đói khát cơ cực. Ngoảnh nhìn lại, mới đó mà đến ngày giỗ đầu của mẹ. Tôi bươn bả đi mót khoai lang, sắn mì, dưa leo và đậu đũa ngoài ruộng Nhị Tân (Hốc Môn). Tôi hớn hở đem mấy thứ ấy về nhà, làm sạch, chu đáo xào nấu xong. Tôi bày thức ăn lên chiếc bàn cũ kỹ xiêu vẹo, bàn chỉ có ba chân rung rinh như răng rụng. Còn một góc bàn thì kê tấm táp lô sứt mẻ, để thay thế một chân bàn què.

                  Bà Nga hàng xóm là người thân cận nhất bây giờ đã nói:
                  - Xời! Việc gì cô phải nhọc lòng! Chứ cô không thấy giờ nầy trời đang mưa xối xả, nhà thì dột và rách nát như ổ chuột. Ơ! cô lại bắt mẹ mặc áo gấm lội nước lụt, trong nhà y như cái ao. Cô làm gì có bàn ghế cho mẹ ngồi chò hỏ chơi, xơi cơm độn với nước. Mẹ cô chưa kịp về ăn chút xí, thì bầy ruồi ốm đói trốn mưa đã trúng mánh, bu lên mấy dĩa thức ăn tám lớp, và o o o… xơi tuốt rồi. Giỗ mí chạp cho mệt! Khéo vẽ!

                  Bà Nga chẳng ngại mất lòng, líu lo nói huyên thuyên, và cười sảng khoái. Tôi lắng nghe mãi, mới hiểu được thâm ý bà. Thiệt dễ ghét quá đi. Tôi ngẩn ngơ nhìn bà Nga. Những giọt nước mắt nóng hổi đang lăn dài dài xuống má. Giọt khóc quê hương. Giọt hờn tủi khóc ông bà ông vãi cha mẹ khuất mặt khuất mày. Giọt khóc chồng sống đoạ đày ở trong tù “cải tạo”. Giọt khóc bầy con lút chút lù đù, vất vưởng long đong cơ cực ở vòng ngoài, (tù trong và tù ngoài xêm xêm như nhau, có khác chi, như cá mè một lứa). Giọt đắng cay khóc cho chính bản thân tôi lầm than khốn cùng.

                  Khổ đến nỗi tôi không thể đào đâu ra tiền, chẳng có cắc bạc để mua cặp nến đỏ, bình hoa tươi, không hương nhang cắm trên bàn. Tôi không thể mua bột về làm bánh cúng mẹ dĩa bánh bèo, bánh ít, bánh nậm: thứ bánh mà mẹ thích ăn lúc sinh tiền! Tôi không thể kéo mẹ về trong hương khói, để má con chúng tôi quỳ dưới đất, sì sụp lạy tạ lỗi cùng mẹ, cùng bà ngoại! Sợi dây tơ rung quá mong manh, tơ trời nhẹ tênh thiêng liêng kia đang run bần bật giữa lưng trời mưa trắng. Niềm ước mong nối liền tình yêu thương ngút ngàn giữa mẹ -với má con chúng tôi- đã đứt lìa trong khói hương.
                  *


                  Một kỷ niệm bất ngờ về những cơn mưa không sao giải thích nổi, tâm trí tôi vụt quay về dĩ vãng xa lắc xa lơ: có một thuở nào hình như xa xôi, xa xa lắm… gia đình ba mẹ tôi đang từ trên đỉnh cao sung túc, phù vinh, giàu sang… bỗng rớt tụt xuống vực thẳm, vì ba tôi làm chủ nhà máy cưa cây, bị nó hại cho khánh tận, đã khuynh gia bại sản. "Của rừng, rưng rưng nước mắt thật" mà! Bao nhiêu tiền ba làm thầy thuốc đổ vô cây cối, cũng như nước đổ lá khoai. Hồi ấy có màn mưa xám đục buông suốt ngày đêm, rất bé thơ tôi đứng trong khung cửa sổ, nhón chân xem mưa đập lộp bộp vào cửa kính, những dòng nước nhỏ ngoằn ngoèo chảy xuống tấm kính mờ đục, tôi háo hức chờ đợi mẹ về nhà.
                  Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa.
                  Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”
                  (cd)

                  Mẹ đi chân đất, đầu đội nón lá cũ ướt nhẹp, toàn thân mẹ dầm dề nước mưa, chiếc đòn gánh uốn cong đang kẽo kẹt trên vai mẹ, còng xuống hai thùng nước cơm trĩu nặng. Mẹ đã đấu thầu được cơm thừa canh cặn từ ngoài mấy đồn lính, tự mẹ đến gánh về: Một thùng rất sạch đậy kín đựng cơm nóng, có mấy ngăn cào mên đựng thức ăn, còn nguyên trong chảo, (mà chú quản đội vừa múc ra cho mẹ, chưa có người ăn, thì để cả nhà tôi ăn buổi tối). Thùng kia đủ thứ hỗn tạp, là nuôi bầy heo vài chục con. Mỗi buổi nhọc nhằn trở về nhà, mẹ thường dúi cho tôi khi thì vài cái bánh ngọt, khi có miếng chocolate, hay trái chuối, trái bắp. Tôi thèm ăn nhất là lát bánh mì cứng hấp trong nồi nước sôi, bánh mì nóng mà chấm với nước mắm ớt, nước cá hoặc nước thịt, tôi ngấu nghiến ăn cảm thấy ngon hết sẫy.

                  Thương con tần tảo sớm hôm.
                  Cơm đùm chéo áo, cháo đùm lá môn”.
                  (cd)



                  Một lần kia, mẹ kêu chủ thầu các trường học nội trú trong địa phương đến nhà, mẹ bán mão bầy heo thịt. Mẹ và các con cháu trong nhà dẫn bà đầm, cùng phu cai xuống chuồng nuôi heo, cách xa nhà bốn mươi mét. Ngả giá xong xuôi, phu cai trói bầy heo cho vào rọ, họ khiêng những rọ heo lên trên đường cái, và vất vào ba chiếc xe ngựa. Bà đầm cầm cái áo veste của bà (đã máng vào càng xe ngựa đậu trên đường cái), bà ta móc túi lấy tiền, thì đồng tiền không cánh mà bay?! Bà đầm tri hô mất ba trăm sáu chục đồng Đông Dương. Bà ta quyết một quyết hai bảo là:
                  “Người trong nhà nầy đã ăn cắp”. (!!?)

                  Bà ta tri hô lên làm hung dữ, bà kêu lính hộ tống chạy đi gọi hiến binh, phú lít tới. Hiến binh không cần biết luật lệ phải trái, không cần biết bà ta có mất tiền thật trong túi áo, máng bên sườn xe kéo, để bên lề đường cái; hay không?! Họ còng tay mẹ tôi và xô dụi mẹ lên chiếc xe ngựa. Mẹ nằm với mấy chục con heo kêu la rần trời. Mặc kệ gia đình tôi kêu khóc, phản đối inh ỏi. Chúng hăm doạ:
                  Nếu lộn xộn làm mất an ninh, sẽ bị bắt - nhốt hết cả đám.

                  Quân cướp cạn hùng hổ, quất ngựa phóng nước đại chạy như bay. Họ tống giam mẹ vào nhà lao. Hơn nửa tháng bặt tin, sau đó chúng thả mẹ ra. Mẹ về như cái xác không hồn, trông mẹ quá tiều tụy thảm thương. Ba tôi, con cháu xúm xít ngồi chung quanh mẹ, lo lắng hỏi thăm. Mẹ im lặng mà rấm rức khóc sưng húp mắt. Mãi lâu mẹ hổn hển kể lại: Suốt bao ngày mẹ bị nhốt, chúng cho mẹ ăn ngày một bữa nửa chén cơm khô, với ít muối hột. Đêm đêm bọn lính Tây lôi mẹ ra tra điện, chúng độc ác tra khảo, chích điện vào người bắt mẹ phải nhận tội, dù mẹ không hề làm. Mỗi lần mẹ bị bọn tà lọt gian ác tra điện, thì mẹ sợ hãi kinh khủng, dòng nước ấm chảy ra ướt dầm thân thể mẹ. Mẹ không thể nén mồ hôi hột lạnh toát, không thể nín lại cơn buồn đái. Mẹ không đủ sức chịu đựng cơn đau, mẹ đau đến ngất xỉu, thì chúng lôi chân mẹ kéo xềnh xệch về phòng giam trống không giường chiếu.

                  Chúng tạt nước lạnh cho mẹ tỉnh lại, mẹ bị chảy máu mũi, máu đầu. Mẹ run rẩy, mặt mày xây xát, sưng húp, bầm tím. Mẹ thật chịu oan ức tột cùng, mà tiền mất tật mang. Suốt từ đó đến nay mẹ luôn luôn sợ hãi và yếu hẳn người. Mẹ bị đau tim và thường xâm xoàng, ngất xỉu vì quá hãi hùng. Bọn Tây thời đó đầy quyền uy, hống hách, ác độc hơn loài hổ sói, người dân thấp cổ hé họng chỉ câm miệng cúi đầu, điếng lặng cắn cỏ ngậm vành, không dám hó hé than van. Vậy đó, mẹ chịu đủ mọi oan ức, khổ sở cay đắng nhọc nhằn, tủi cực trăm bề, để lo nuôi dạy đàn con nên người.

                  Một lần kia, sau thời gian bị tra khảo đánh đập tù đày oan đó khá xa, mẹ vẫn lặn lội đi gánh nước cơm về nhà, mẹ đã thay bộ áo quần ướt sũng nước mưa. Mẹ ngồi bên bếp lò giơ đôi bàn tay nhăn nheo sạm nắng chai cứng, tóp teo vì thấm lạnh ra, để sưởi ấm. Mẹ âu yếm nhìn tôi ngồi kế bên bỏm bẻm ngấu nghiến nhai bánh mì. Bỗng mẹ nhìn tôi sửng sốt, lạnh lùng hỏi:
                  - Đôi guốc mới, con mang đó. Mô rứa?
                  - Dạ... Của con... con... l..a...
                  - Mẹ đã nói rồi, đợi bán heo, mẹ sẽ mua cho con quần áo, dép guốc cho con đi học. Mẹ biết con mau lớn, giày dép cũ con mang không vừa, mà đi chân không thì lạnh lắm. Mẹ lo sợ con đau. Ngặt nỗi, bi chừ chưa có tiền. Mà răng con dám cả gan, đi ăn cắp, của ai rứa?


                  Tôi cúi gầm đầu, một tay túm mái tóc bum bê, nhìn đôi guốc mới mang vừa vặn ở chân mình. Đôi guốc màu đỏ đầy hấp dẫn, có hai quai cánh cam in đủ màu sắc hoa lá. Tôi thấy nó quyến rủ, ước ao vô vàn từ lâu. Khi chị Tư sai tôi vào quán chị Thế mua trứng vịt, tôm khô. Thừa lúc quán xá bận rộn người mua kẻ bán, tôi lấm lét ngó trước nhìn sau, rồi vội thò tay chộp đôi guốc kẹp chặt vào nách, (đã che kín bằng chiếc áo mưa lụng thụng). Trống ngực tôi đánh rất mạnh, mặt mày tái mét, tôi run như cầy sấy, tôi liền lẽn ra và co giò chạy. Vừa chạy tôi vừa ngoái cổ lại nhìn chị Thế, là bà chị dâu của tôi, chị ấy không biết gì hơn, ngoài việc chị thu nhiều tiền đầy nhóc vào tủ sắt.

                  Mẹ già nua trước tháng năm đang gục đầu trên hai đầu gối ướt lạnh, run rẩy, mệt nhọc - và khóc. Mẹ khóc vì tội lỗi của con thơ. Mẹ khóc vì cảnh thăng trầm không thể ngờ, vì mẹ chưa mua nổi đôi guốc cho con, (chỉ đáng vài xu trong khi tiền ba tôi làm chủ trại cưa cây, thì bạc trăm, bạc ngàn, kể như ba đổ xuống biển. Và, tiền bán hai chục con heo, mẹ bị bọn chúng trấn lột hết). Trong đêm trường thanh vắng, khuya lắc khuya lơ, tôi nghe rất khẽ nhưng rõ ràng tiếng mẹ đọc kinh cầu nguyện đều đều. Thỉnh thoảng kèm theo vài tiếng thở dài nho nhỏ, lời mẹ nguyện xin cho con cháu bình an, mạnh khỏe.

                  Tối hôm đó mẹ thức rất khuya, ngồi một mình dưới gian bếp đèn dầu leo lét, mẹ đã cắt khúc vải nhung màu vỏ măng cụt, để may áo cho tôi mặc ấm. Chiếc áo ấm gồm ba lớp: lớp nhung ở ngoài, mẹ bọc thêm một lớp gòn rất mịn ở giữa, và may chằn thêm một lớp lụa sa tanh mới lót ở bên trong. Tôi leo lên giường từ lâu, trằn trọc mãi không làm sao ngủ được, tôi rất sợ và lo âu, không dám nhúc nhích. Tôi cứ mở mắt nhìn mẹ chăm chú làm việc. Khá khuya, mẹ lê đôi dép lẹp xẹp lần mò từng bước, mẹ nhẹ nhàng đi trong bóng tối mờ mờ. Mẹ vặn ngọn đèn dầu hột vịt thật lu, mẹ cố không khua động giấc ngủ của mọi người. Trong bóng tối, tôi hé mắt nhìn mẹ ngồi đọc kinh, sau đó mẹ ngả lưng xuống đệm theo tiếng thở dài. Tôi nằm im giả vờ ngủ say. Bàn tay mẹ lạnh ngắt run run sờ soạn tìm con. Mẹ đặt đầu tôi nằm ngay ngắn trên gối mỏng. Mẹ kéo hai chân tôi thẳng ra, và đắp mềm lên tận cổ tôi. Mẹ ôm tôi vào lòng và hôn lên mái tóc tôi khét nắng. Nước mắt mẹ thấm lạnh da đầu tôi.
                  Nuôi con chẳng quản chi thân.
                  Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.
                  ”(cd)

                  Thì ra mẹ đã khóc. Khóc âm thầm lặng lẽ trong bóng tối. Mẹ giống người chèo đò đơn độc ra tay chống chèo trên dòng nước ngược đầy sóng gió, khi đàn con nhỏ sợ sệt, la khóc, run rẩy bám chặt vào mạn thuyền. Mẹ cố sức chịu đựng giông bão, gian truân âm thầm và câm lặng dai dẵng; miễn sao cho con, cháu, bình yên, no ấm. Mẹ là một trong vạn triệu người Mẹ Việt Nam tần tảo, phúc hậu, ôn hoà cao cả, hy sinh xiết bao suốt đời mình. Bốn tuần sau, mẹ bán bầy heo thịt khác. Ba tôi vượt núi băng rừng khổ cực trăm bề làm cúp cây, nay đã hoàn toàn ổn định.

                  Gia đình chúng tôi lại bắt đầu khá giả, vinh sang hơn năm cũ. Nhờ mẹ tôi quán xuyến, đảm đang, siêng năng, tháo vát. Ba tôi giàu kinh nghiệm và liêm chính đàng hoàng trong việc làm chủ trại cưa, nên ít lâu sau gia đình tôi thoát khỏi cảnh bần hàn. Nhưng dẫu có sung túc giàu có hơn xưa nhiều, rất nhiều, thì vết thương đầu tiên về bài học giáo dục đạo đức trong lòng mẹ và con, hẳn không có cách gì lấp đầy, phôi pha được. Kể từ ngày xa xưa đó, mỗi khi tôi có ý muốn lấy cắp cái gì của ai, thì hình ảnh mẹ tôi ngồi bó gối bên bếp than hồng; nước mắt mẹ chảy ướt thấm vào da đầu tôi, vẫn hiện lên rõ nét. Khiến tôi quắt quay và lặng người, vì hối hận không hề dám tái phạm. Đó là nốt “nghịch phách” đầu tiên trong đời vào chiều mưa giông giá lạnh năm xưa. Ước gì nay tôi được chìm trong dòng sông đã chảy qua thời ấu thơ, nơi mái gia đình êm ấm của tôi ở buổi thiếu thời kia, để tôi có thể nói thật nhỏ:
                  - Mẹ ơi! Cho con xin lỗi.


                  Ôi! Chỉ cần trở về ngày ấy và biết nói câu nầy, thì tôi sẽ sống lại và chỗi dậy trong tâm tư tôi cả quá khứ ngọt ngào, say đắm, êm đềm, nồng nàn, sung sướng xiết bao! Và, bây giờ tôi biết đằm thắm, khôn ngoan gấp bội lần. Người đàn bà còn quá trẻ bỗng co nhói lên từng cơn đau tim nghẹt ứ, xót xa đắng cay khôn tả xiết. Vốn bị nghị lực mài dũa, cọ liếc mỏng tanh, tôi nghẹn ngào, đắng cay, hơn sự cơ cực đọa đày chịu đựng dài lâu. Sự trầm uất nén dưới chiều sâu tâm hồn đã vọt lên tim, lên óc, lên cổ tôi những cục nấc nghẹn ngào tức tưởi. Tôi đứng giữa trời mà khóc, mà cười. Cười khẩy. Tôi không sao hiểu nỗi “đời”! Tâm hồn tôi hằn lên vết rạn, xếp lớp lăn tăn theo sóng đời cơ cực. Gia đình nhỏ chúng tôi lầm than khốn cùng đã rớt dưới tận đáy xã hội phù phiếm.

                  Nơi con đường cũ mà cha mẹ tôi xưa kia rất vinh sang đã từng đi qua đó, và chính gia đình nhỏ cuả tôi từng lả lướt, rộn ràng líu lo ca hát trên đại lộ mỗi độ hoàng hôn… Ngày nay mẹ con chúng tôi dắt díu nhau lọt tọt, líu ríu bước thấp bước cao, lần mò đi từ ngày nầy qua tháng nọ. Đi từ hừng đông đến hoàng hôn không ngơi nghỉ. Những đôi môi khô nứt nẻ run run nếm đủ cay đắng, ngọt bùi xính vính tình đời còn mấp máy và thút thít, như nghiến chặt hai hàm răng, nghiền nát hiện-tại rát bỏng phừng phựt cháy trong lòng.

                  Sau đám sương mù dày đặc ngoài trời kia, là tương lai tối thui và con đường gồ ghề, lởm chởm sỏi đá lẫn lộn bùn tro bầy nhầy. Con đường tiến thân của mẹ con chúng tôi đó, hình như có tiếng âm vọng não nề. Chúng tôi không biết nên bắt đầu từ hướng nào cho phải! Đôi bàn tay tôi khô cứng, chai sạn sần sùi nứt nẻ, hợp lực với những bàn tay các con thơ yếu gầy tong teo bé tí xíu, vẫn quơ quơ về phía trước. Cùng lòng can đảm, tận tụy, chịu đựng gian lao, nghèo khổ siết chặt, thì không có cách gì lay chuyển.

                  Trời bao la xanh xanh trong trong, không có một vắt mây trắng, nhưng sao đôi mắt tôi mù mây xám giăng mắc!? Giống như những sợi tơ tóc ngày xưa đen tuyền óng ả quyện cùng chùm tóc bạc trước thời gian đã phủ khắp nẻo đi lối về? Tôi đang mặc chiếc áo gấm của Lụât để lại, tôi tưởng tượng chiếc áo dù cũ, nhưng có phần nào che gió chắn mưa. Thì hy vọng là tôi bớt cảm thấy cô độc, ấm áp và ít lạnh. Ngỏ hầu tôi sẽ đương đầu, chạm trán, chơi những canh bạc đen đỏ với định mệnh. Đành phải như thế thôi. Nếu định mệnh không thách đố gạt gẫm chúng tôi: Xỏ lá sát phạt, chơi khăm chúng tôi trắng tay –và đểu giả lật ngửa quân bài ra– Khi trận đấu chưa bất phân thắng bại. Thưa ông!

                  _ * _


                  Tình Hoài Hương

                  Bài viết cho ngày "hiền mẫu".
                  THH xin phép cám ơn quý vị nhiếp ảnh gia: đã post những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.

                  Tình Hoài Hương
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #204
                    Các Trại "TÙ CẢI TẠO" & Tiếc thương





                    Các Trại "TÙ CẢI TẠO" & Tiếc thương

                    Chuyện thứ nhứt
                    Định nghĩa tổng quát:
                    *Bị Tù – (theo nghĩa đơn thuần): một tội danh dân sự nào đó phạm sai lầm, - là sẽ bị hình phạt, (do người ấy vi phạm pháp luật giữa người ấy với luật pháp của quốc gia mình). Họ (chính quyền sở tại) cần phải sửa trị, phải uốn nắn người vi phạm trở thành một công dân tốt, hữu ích cho xã hội. Cốt lỏi của hành pháp là sự trừng phạt, răn đe và hướng thiện cho người vấp phạm sai lầm. Nhưng quốc pháp được thiết lập không ngoài mục đích lấy tình trị pháp, lấy pháp trị quốc: Đó là ý nghĩa thật sự của quốc pháp, công bằng phân định rõ ràng ai có tội nặng, tội nhẹ; mà buộc người tù thụ pháp, ngỏ hầu huấn luyện cho người ấy hoàn thiện & có tình người, chừa bỏ các thói hư tật xấu, để hữu ích chính mình, và cho xã hội .

                    *“Tù học tập cải tạo” trái ngược lại: đó là hình phạt giữa con người ở chế độ mới đang ra tay hành xử, chà đạp, đay nghiến, dã man trả thù người ở chế độ cũ. Người mới nổi lên luôn hãnh diện, tự hào là kẻ chiến thắng, họ thay mặt chế độ mới vừa đắc thắng, "được hành xử con người”. Họ không hề cảm thấy ray rứt, dày vò, áy náy lương tâm. Tùy theo mức độ tên tù cũ cao giá đến đâu -mà hành xử-. Nôm na là người mới vừa đứng lên, liền trả thù một chính sách… một chế độ, một nhân phẩm...
                    Vậy thì; *Tù… “cải tạo” là gì? Hừ! Có phải chữ cải tạo không ở trong hai ngoặt kép ( “…” ) được định nghĩa là:
                    - Làm cho “chất lượng” thay đổi -(chưa chắc thay đổi căn bản theo hướng tốt hơn).
                    - Muốn “lao động là vinh quang" -để cải tạo con người!?
                    - Muốn “giáo dục” làm thay đổi con người cũ, trở thành con người mới.
                    - Muốn “cải tạo tư tưởng” xóa bỏ những tập tục cổ xưa, -để thay thế tư tưởng “tiến bộ”?
                    - “Cải tạo xã hội chủ nghĩa” ở trong “quan hệ cải tạo”, sản xuất không xã hội chủ nghĩa, hầu trở thành > “quan hệ sản xuất” xã hội chủ nghĩa; tạo điều kiện cho “lực lượng sản xuất phát triển”?
                    - Và, cuối cùng “cải tà quy chánh”:
                    - Tù nhân 75 “cải tạo” là: bỏ con đường đã đi, để đến “con đường chính nghĩa” vẫn là:
                    *Tù nhân chính trị 75 - cái gọi “học tập cải tạo” là: Tù nhân quanh năm suốt tháng nhịn đói rã ruột, khát khô cổ họng, thất thểu vác cuốc ra đồng, cúi đầu cuốc cuốc, cày cày, bừa bừa, (cày bừa do chính con người vác cày kéo bừa... thay thế con trâu) trong nghĩa "lao động là vinh quang. Lang thang là chết đói" mà trồng trồng... trọt trọt...
                    * Khi Tù nhân “cải tạo” 75 đi trước tên cán bộ coi tù, thì người tù “cải tạo” bị cán bộ ấy dùng báng súng đập mạnh vào lưng tù, quát mắng:
                    - Muốn chạy trốn hay sao, mà lo đi trước cán bộ hử?
                    * Tù nhân “cải tạo” đi ngang hàng với cán bộ, thì bị cán bộ quát nạt:
                    - Muốn đi gần, để giật súng của cán bộ hay sao?
                    * Tù nhân “cải tạo” đi sau lưng cán bộ đang coi tù, thì bị cán bộ quay lại, giơ súng chiã vào trán tù “cải tạo”, đạn lên nòng:
                    - Đi đằng sau lưng cán bộ, muốn ám sát tôi hay sao thế?

                    … "Tù cải tạo” một ngày trong tù, bằng thiên thu tại ngoại cơ mà (nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại). có làm cái gì… dù đầy thiện chí, có tình mến, có lòng bác ái vị tha, dung hòa, trung thực, ôn tồn, tốt lành cam chịu ẩn nhẫn, thì tù "cải tạo" cũng bị cán bộ, công an bắt bẻ và chụp mũ… Thế nên thời buổi nầy người tù nếu có bị đối xử như con vật, vẫn hơn làm “con người"...
                    Trong một trại tù “cải tạo” Z 30 A, tên cán bộ răng đen mã tấu đang thao thao lên lớp:
                    - "Nịch Xử lước" ta toàn "nà" anh hùng đấy nha. Bắt đầu "nà" vua "Nạc Nong" Quân "nấy" bà Triệu Ẩu, đẻ "da" một bọc 100 trứng…
                    Cả hội trường cười ồ. Mất hứng, hắn quắc mắt, hỏi:
                    - Cười cái quái gì thế?
                    Một sĩ quan “ngụy” giơ tay lên, lịch sự trả lời thay cho tất cả tù ngồi:
                    - Thưa cán bộ, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, chứ không phải bà Triệu Ẩu.
                    Hắn khó chịu, im lặng vài giây, và quay sang hỏi tên cán bộ phụ tá, rồi dõng dạc nói:
                    - Nạc Nong Quân "nà" vua, ông ấy muốn "nấy" gái "lào" mà chả được. Bà Âu Cơ hay "nà" bà Triệu Ẩu, cũng đều "nà" đàn bà con gái nốt. Thì… thì chúng ta chả phải nà "ròng rõi" cá mè một "nứa" cuả Triệu… “ẩu tả”... "nà rì"!
                    Cũng trong hội trường một trại tù “cải tạo” khác, một tên cán bộ nọ lên giọng:
                    - Các anh biết không, đất nước ta giàu có cực kỳ, tiền rừng bạc bể. Nhiều nơi trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa của ta, chỉ cần cắm ống nứa xuống đất, là dầu hỏa phụt lên, thế là ta cứ việc mang thùng ra hứng, đem về tha hồ đốt nhá.
                    Cả lớp tù ngồi khúc khích "cừi cừi". Hắn hứng chí tiếp:
                    - Ngoài mỏ dầu, miền Bắc còn có đủ các loại mỏ khác như: mỏ than, mỏ vàng, mỏ xăng, mỏ nhớt...
                    - Thưa cán bộ, có một thứ mỏ mà không biết miền Bắc có không, nhưng miền Nam nghèo đói của chúng tôi chắc chắn không thấy, đó là "mỏ dốc lết".
                    Hắn bỉu môi:
                    - Ồ, cái anh nầy rõ là mang dòng họ Triệu Ẩu nha. Mỏ lết hả? Cái gì chứ mỏ lết, thì miền Bắc thiếu giống gì. Đảng và nhà nước đang có kế hoạch đào bới để khai thác đấy.

                    Đó đó…, chính là cái giá rất đắt cho tù nhân “cải tạo” lương tâm là thế đấy ạ. Vậy thì, người tù đã được “học tập” điều sâu sắc bổ ích gì? Ai “cải tạo” ai? - "học tập cải tạo” những thứ tinh nhuệ gì!? (loạt chữ nầy phải ghi trong hai dấu mang đầy ý nghĩa của cái “ngoặt kép “. . .” ). Họ thấu hiểu được điều gì cao cả trong xã hội chủ nghĩa thế nầy!? Ngoài việc anh ấy không có “bồi dưỡng văn hóa”, cho dù một chữ bẻ đôi cũng không có. Duy có điều anh tù phải “học tập cải tạo tốt” là: cuốc đất trồng khoai mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, trong sự bịp bợm của từ “học tập” và "cải tạo” thành nắm thân tàn ma dại?! bởi do phần lớn trại tù học tập “cải tạo” mọc lên như nấm mà ra.

                    ! trại tù nhiều vô số... hơn cả chuyện nhà nước quyên góp cứu trợ nạn nhân thiên tai, hoả hoạn, lụt lội. Nhà nước không xây dựng kiến thiết quốc gia, không xây trường học, không làm đường sá, hay làm những công trình kiến tạo khác. Mà, trên toàn lãnh thổ Việt Nam đâu đâu cũng có “trại Tù” khổng lồ! Trại tù đã giết chết bao người trai trẻ, hủy hoại rất nhiều tiềm năng, xeo nạy nạo vét hết tinh tuý của những khối óc thông minh tuyệt vời, và tiêu diệt sĩ khí, dũng chí quật cường của con người yêu nước, yêu quê hương và thiết tha với dân tộc.

                    Đa số anh em quân nhân công cán chính Việt Nam Cộng Hoà chân thật cả tin, đã bị trắng trợn phản bội lời hứa, bị mắc lừa, bị lọt lưới, họ xô nhau tới đường cùng, & trở thành những người tù tội bị nhánh tình đoạ đày lưu vong trên chính quê hương. Mặc dù quê hương không bao giờ phản bội con người, chỉ có con người ngoảnh mặt quay lưng nơi chôn nhau cắt rún. Lớp lớp thanh niên trai tráng bị nhà nước đánh cắp không chỉ là gia sản, tài năng, trí dũng, sức khoẻ, thân phận… tình bạn, tình thân giữa đồng loại. Ý niệm về không gian và thời gian từ sự bình thường tiềm ẩn trong những tâm hồn và khối óc phi thường đã qua. Trơ tráo trắng trợn hơn là tù “cải tạo” bị ăn cắp tuổi xuân-thì, bị lột trần về tình yêu – (tình yêu nhìn qua nhiều lĩnh vực và lăng kính: tự tin, dung hòa, tha thứ v.v... trên mọi phương diện). Họ đã bị nhà nước xã hội chủ nghiã láo khoét tuyên bố:
                    - “đi học tập 14 ngày cho thông, rồi về”.

                    Thế nhưng… quá khứ ngục tù canh cánh bên lòng trỗi dậy; hy vọng mong manh, tự do bị vùi dập, lãng quên, một sự thiếu tình thương và thông cảm từ “phía nội thù” nằm ngay trước mặt. Yêu thương, thấu hiểu, chia sẻ, đồng cảm thì ở chân trời xa tít tắp. Để rồi hắt lại trong đời tù "cải tạo" sự buồn phiền, đố kỵ, lạnh lùng, câm nín dày vò... vì những người nghe theo lời khuyến dụ của "cách mạng thành công" mà chọn lầm chỗ, thì người tù sa cơ thất thế đã nằm gọn trên đe dưới búa. Hóa ra chinh nhân chọn lầm một đất nước mà cấp lãnh đạo ấy chỉ biết dẫm đạp lên mọi người tù, mà trả thù! Gợi lại trong lòng mỗi người bao hoài niệm bi hận về một giai đoạn lịch sử quá đau thương, nghiệt ngã, cay đắng xót xa của miền Nam Việt Nam khốn cùng, điêu linh khổ ải và bất hạnh: Họ bị lọt vào cái bẫy sập tinh vi, độc ác, kinh dị nhất thế giới.

                    Hàng hàng lớp lớp thanh niên trai tráng trở thành tù “cải tạo”, vùi dập đời trai đầy dũng khí và tráng kiện, như món hàng béo bở đồ sộ đã ngã giá trong thương vụ quốc tế. Ngược lại qua những túm quà thăm nuôi eo xèo bé xíu đựng mắm muối, đường thẻ, tôm khô, cá khô, bánh thuốc lào, nửa ký đường cát trắng, trăm gram cà phê, v.v… Đôi khi sơ ý ngủ gục, vợ con tù cũng bị cướp sạch trơn. Ai vô phước đeo bông vàng, đều bị cướp giật, đứt lìa tai máu chảy ròng ròng. Thậm chí áo quần mặc trong người, nếu cướp coi “bộ đồ gió, bộ đồ vía” polyester mới xỏ vào lần thứ nhất, cũng bị trấn lột trắng trợn. Bạn tôi nói thế mà linh:
                    - Tao đi thăm nuôi tù “cải tạo” chính trị, chứ có phải đi vào trại tù “cải tạo” coi ca nhạc, hay đi ăn tiệc tùng gì, mà tao xum xoe diện áo quần lành lặn, bảnh bao tươm tất. Hử? Khi trời tối canh ba, cướp ùa ra trấn lột hết, chỉ còn bộ đồ lót. Có may, thì cướp nó quăng cho bộ đồ rách cụt ngủn, vợ tù khóc hu hu đi chân đất vào thăm chồng. Khi đó thì mi nghe tao nè:
                    Ngày xưa ăn nói dễ nghe,
                    Bây giờ cẳn nhẳn chua lè khó ưa.
                    Ngày xưa thích được mây mưa,
                    Bây giờ hạn hán hết ưa tù tì
                    Ngày xưa thường sánh vai đi,
                    Bây giờ chỉ thích năm ì ...xem phim...
                    Ngày xưa nhớ nhau đi tìm,
                    Bây giờ mặc kệ ...con chim mất dzồi.
                    (*)

                    2.- Chuyện thứ hai:

                    Anh Trần Công Thái (là con trai bác Cửu Trí quê làng Hưng Nhơn, Tổng An Thơ, Hải Lăng), anh tốt nghiệp trường trung học Tây, anh làm nghề dạy học, sau đó anh phải động viên đi lính và trở về Tiểu Khu Tuyên Đức. Nhà anh ở khu Nam Thiên, khi đất nước vừa ngấp nghé phong phanh có danh nghĩa hòa bình, thì tối hôm ấy anh vui mừng hân hoan ngủ ở nhà. Nửa đêm có nhiều người mặc đồ đen đội nón tai bèo, quàng khăn xanh đỏ tới nhà anh đập rầm rầm vô vách, gọi cửa tới tấp. Chị Thái hoảng hốt mắt nhắm mắt mở ra mở cửa. Cả nhà bàng hoàng khi thấy súng ống lên nòng rốp rốp lăm le chỉa trước ngực dân, họ xông vào nhà anh Thái, chẳng thèm nói một câu phân minh phải trái, họ bịt mắt, lấy báng súng dụi sau lưng anh, trói thúc kéo anh xềnh xệt lôi đi.

                    Chờ bọn kia đi khuất xa vào rừng ở miệt suối Cát Tiên, chị Thái chạy qua bên nhà láng giềng gần nhất, để báo hung tin. Ai nấy đều lo sợ hãi hùng, chẳng biết khi nào đến phiên ta!? Có là thánh, chưa chắc ai tìm ra anh. Mọi người bàng hoàng lo sợ hoang mang, vì cách mạng đã thành công giải phóng trước Sài Gòn rồi đó! Bốn tháng sau ngày 30-4, một tốp người đi củi trong rừng sâu trở về phố, họ vội vàng len lén hấp tấp ghé tạt qua nhà báo cho chị Thái biết:
                    - Bà chị, ở miệt suối Cát Tiên có sáu nấm mồ mới đắp cạn, mộ chưa mọc cỏ, đã xông mùi thum thủm thối, trên một nấm mồ kia có lưu dấu tấm áo đẫm máu, chữ ngoằn ngoèo đề tên: “Trần Công Thái”.

                    Chị vợ vốn dĩ là một người đàn bà tra trắn, lanh lẹ, lảy chảy, nhưng nghe tin chồng đã chết mà không dám vô nơi quỷ cốc thâm u, để xác minh tin chấn động nầy có thật hay không? Sao họ giết Thượng sĩ Thái đẹp trai, nghèo, nghèo lắm, trên răng dưới đế giày. Anh hiền lành vui vẻ, bao dung và độ lượng. Anh chưa bao giờ làm mất lòng một đứa trẻ. Anh không thiết gì ngoài việc thích dạy học, và tình yêu thiên nhiên, anh đam mê hội hoạ gần như say đắm. Anh vẽ phong cảnh khá đẹp, vẽ chân dung sống động tài tình.

                    Người ta tụm năm tụm ba, xôn xao to nhỏ thì thầm bàn tán đủ thứ chuyện. Không ai giải được con số bí ẩn, phải chăng họ đã thành công rồi, thì trả thù dân tộc từ đây!? Câu chuyện anh Thái chìm dần vào giấc mộng kinh hoàng, đầy bí mật sau ngày 30-4-1975. Sự về thiên đàng hay sa hỏa ngục, không ai tránh khỏi, chẳng ai biết trước sớm hay muộn. Duy có điều cái chết đến với anh Thái, đối với họ hàng thân quyến đã quá đột ngột, bất chợt, đầy kinh hãi không ai có thể tin cách mạng làm như thế! Khi đám con dại chín mười đứa nheo nhóc, rất cần anh chăm sóc, chúng chưa được người cha vui tính hiền lành và nhân hậu dìu dắt đến nơi đến chốn. Vợ con, người thân, ngậm ngùi thương tiếc, bàng hoàng vĩnh viễn mất một người đáng yêu, đáng kính dường bao! Nhưng không ai dám hé môi than thở một lời nào. Vì, điều ấy... cách mạng đã thành công rồi đó!

                    2.- Chuyện thứ ba

                    Một hôm, tôi đang bới nhặt đống rác ở cuối chùa Hoàng Pháp (thuộc huyện Hóc Môn), tôi nghe một tràng súng nổ dòn, nghe thật diếc con ráy và lo sợ kinh khủng. Bộ đội, công an súng chĩa tới trước, chạy rần rần sau lưng tôi. Họ quát tháo kêu gọi nhau ầm ĩ, họ pháo tin là:
                    - Thành Ông Năm có tù “sĩ quan Ngụy” trốn trại.

                    Tôi cùng năm bảy người dân đen ngơ ngác phút giây, rồi vội chạy đến bờ rào kẽm gai sát thành Ông Năm ngóng cổ lên nhìn vô bờ thành, để xem thật tỏ tường. Tôi nhìn rõ cảnh tượng rùng rợn xảy ra: Có một anh lính tù “cải tạo” bị trói thúc ké, quần áo tù binh bê bết máu, tay anh ấy ôm bụng, khúc ruột trắng lòng thòng lòi qua kẽ tay. Anh ấy gò thân chậm bước, hình như không thể bước mà rệu xuống. Thì một công an trở báng súng giáng mạnh vào lưng anh ấy.

                    Một anh khác tay chân bị khóa bởi sợi lòi tói, tay chân anh tù xỏ dưới cán tre. Không phải họ gánh anh ấy đi, mà họ lôi anh ấy, kéo đi lệch xệt, lê theo những vệt máu đỏ lòm. Anh ấy giống con heo mọi bị đồ tể cột bốn chân, gánh đi làm thịt. Bả vai anh ấy đẫm máu. Bàn chân bầy nhầy, giơ bắp đùi mở toang hoang, lòi khúc xương nhọn trắng phếu. Toàn thân anh ấy nẩy lên, đập xuống tưng tưng. Đau đớn nhất có lẽ là chiếc đầu trí thức va cồm cộp vào những cục đá lởm chởm trên đường, đầu anh ấy luôn lắc qua lắc lại, kêu lộp độp. Mặt anh ấy tái méc, nhưng đôi mắt sáng quắc trợn lên, lông mày nhướng cao, quai hàm bành ra môi nghiến chặt. Anh ấy không hề hé một tiếng kêu, dù tiếng than rít qua kẽ răng!

                    Lẽ ra bọn dân quèn chúng tôi còn được xem những pha tình cờ quái dị khác, nhưng có một tên cán bộ ngồi xổm đi “tè re tháo tỏng” ở lùm cây hồng tiên, gần chỗ đám dân ngu khu đen chúng tôi đứng, hắn đã phát hiện ra chúng tôi đang lấp ló bên mé tường thành Ông Năm, hắn sợ dân thấy chuyện kín bị lộ, nên vụt đứng dậy, hắn la bai bãi, tay khoát lia lịa đuổi dân đi ra khỏi vùng ấy. Bọn chúng tôi liền dzọt đi, vừa chạy vừa la ơi ới:
                    - Công an đánh tù, bà con ơi.
                    - Bọn đó giết tù "cải tạo" coi ghê lắm...

                    Hai tên công an rượt theo chúng tôi, cho đến khi bị hàng kẽm gai chận lại, họ mới bắn phát súng chỉ thiên. Ban đầu nghe tiếng súng, tôi sợ hãi nằm úp mặt xuống đất, rất sợ bọn ấy hăng tiết vịt ria ẩu, thì mình sẽ lạc đạn. Nhưng sau khi ngước lên nhìn thì thấy chúng chỉ đứng lại bên trong hàng rào dây kẽm gai mà hù doạ, nên tôi kêu mấy bà kia đứng lên. Rồi chúng tôi trêu chọc bọn công an: người thì vỗ bụng dưới bồm bộp, người thì quay lại vỗ đít và tụt chút xíu quần đen ra, bà ấy chỉ chỉ vô đít, quẹt quẹt vô đít mình mấy cái, rồi vất tay về phía bọn công an, mà cười ha hả. Người thì lấy nắm tay bụm lại thoi thoi vô không khí. Còn tôi nhăn răng le lưỡi và giơ hai bàn tay ngược lại, làm cái kèn để lên miệng, mà lắc lắc mấy ngón tay nhúc nhích, chọc quê họ. Nghĩ lại tức cười... mình già "trên dưới ba bốn bó củi" cả rùi, nhưng đôi khi còn có những hành động như trẻ thơ, cũng quá vui và ngộ thiệt!

                    Ít lâu sau, toàn huyện Hóc Môn biết tin mấy anh ấy bị trọng cấm biệt giam, bị tra tấn hành hạ dã man, tay chân mang gông cùm, gỗ dằm cứa vào da, thối rữa thịt, dòi bọ lúc nhúc ở hai cườm tay và mắc cá chân. Hai anh ấy bị nhịn đói, không hề được cho ăn uống, chẳng thuốc than, không hề có thứ gì... cho đến chết. Dù họ bị bắt, chỉ vì các anh “cải tạo” đi hái rau “cải thiện” ở ngay trong những vòng kẽm gai trại tù, hầu ăn cho đỡ đói lòng.
                    Năm đồng đổi lấy một xu
                    Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy.
                    (1)

                    Chuyện thứ tư

                    Thuở ấy tôi đã có trí khôn, nhưng ưa thích hái hoa bắt bướm ngoài vườn rau, nghe ba tôi gọi con gái út vô nhà chào anh họ mới tới thăm nhà. Tôi vô phòng khách thì đã thấy chị Ấm (chị ở Huế và chồng chị đổi vô học ở trường Võ Bị Liên-quân Đà Lạt. Thời gian hơn một năm đầu, anh chị Ấm tá túc ở nhà ba mẹ của tôi, để họ có phương tiện đi tìm mua nhà khác, mà ra ở riêng, chị Ấm là con ông bác ruột của tôi) chồng chị là Minh (sau nầy là Trung tá Phạm văn Minh, An-ninh Quân-đội). Trong phòng khách còn có ba mẹ tôi, anh chị Ấm, anh Xích ở dòng tu vừa xuất... và một người đàn bà lạ.

                    Do sự giới thiệu của chị Ấm, nên anh Xích mới quen biết với bà bạn gái có đồn điền của Tây ở Xuân Lộc. Họ lên Đà Lạt đã ghé vào nhà thăm ba má tôi. Hình ảnh đầu tiên khi tôi gặp mặt về người anh họ: Anh trắng trẻo, cao ráo, trẻ trung, khá đẹp trai, mái tóc cắt cao bồng bềnh sóng gợn, anh ăn nói hóm hỉnh, hoạt bát, linh động, vui vẻ, lúc nào trên môi anh cũng nở nụ cười tươi, anh kể nhiều chuyện dí dỏm. Khiến tôi có cảm tình ngay với ông anh họ nầy.

                    Ngược lại bà bạn của anh Xích quá bình thường, có nghĩa là bà chị không đẹp, trông không sang, tôi nhìn nét mặt thì thấy bà chị già và xấu, thô thiển hơn anh tôi nhiều. Tuy rằng sau nầy bao lần dùng cơm chung trong gia đình, thì bà chị làm ra vẻ ngây thơ cụ... ưa nhõng nhẽo vòi vĩnh anh tôi đủ thứ, dù trước mặt người lạ hay thân, bà chị thích “bắt nạt anh một xí cho vui” mà coi vô duyên chi lạ. Anh thường hướng dẫn anh chị em chúng tôi nhiều điều hữu ích. Anh thấy tôi sớn sác lóc chóc, lại dốt toán quá, anh thân thiện cóc đầu tôi cốp cốp. Nhưng tôi lì lợm không xoa đầu, không khóc, còn bu bám theo anh, ngụ ý lêu lêu anh "giống bà chằng kia”.
                    - Tại sao anh đi tu gần ra cha mà bỏ về?
                    - . . .
                    - Anh bị bà chằn kia bỏ bùa quyến rũ hả?
                    Anh cười vui vẻ xỉ ngón tay trên trán tôi mà bảo:
                    - Ha ha... con nít biết gì. Anh biết em nói gì rồi, đừng có lém lỉnh nha.

                    Sở dĩ ngày nay tôi biết làm thơ và viết văn, âu cũng nhờ anh một phần góp ý và khuyến khích vậy. Bài thơ "Tình Ươm Nắng" vu vơ đầu tiên có anh dạy tôi biết cách gieo vần:
                    Mộng tương phùng ngời sáng
                    Cành cây rớt giọt sương
                    Nhớ ai tình mới nở
                    Bên thềm thơm nhánh hương.

                    Bầu trời xanh sắc biếc
                    Gió mát thoảng bên tường
                    Hàng phượng chim tìm bạn
                    Trước song gió thoảng hương.

                    Cúc đơm hoa mấy đóa
                    Rực rỡ đón mùa sang
                    Nhịp cầu thương mới bắc
                    Ngồi đây nhớ ngút ngàn.

                    Bên hè tình ươm nắng
                    Nhớ màu áo anh mang
                    Cành hương thơm mùi tóc
                    Hừng đông thấy rộn ràng.
                    (2)

                    Có mấy lần gia đình tôi đi Ba Mê Thuột thăm họ hàng và đồn điền cà phê bạt ngàn của bác Hường (cạnh phi trường, chợ, và nhà thờ). Lúc tôi từ lớp Nhứt lên Trung học, anh Xích đã có bằng cử nhân lâu rồi. Anh bỏ dòng tu, anh đi Sĩ-quan Trừ-bị Thủ Đức, tốt nghiệp khóa 2. Tôi lớn khôn có gia đình, thì anh Xích lần lượt thăng lên Thiếu tá, Trung tá trong Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhất là ngày anh làm Tỉnh Trưởng Tỉnh Gia Định, sau đó làm bên Giám Sát Viện, thì anh em chúng tôi người chân trời kẻ góc biển. Kể từ đó thân nhân bà con anh em thực sự xa cách nhau dài lâu. Tuy thế, thông qua ông bà anh chị em, đại gia đình thân tộc chúng tôi đều có biết tin về nhau cả.

                    Đến ngày mất miền Nam, anh Xích vượt biên ở Rạch Giá chẳng may bị bắt, họ đưa anh lên trại tù quân khu, canh giữ anh rất chặt chẽ, đặc biệt, từ năm 1977. Sau 1978 trại tù dời về vườn Đào thuộc Xã Mỹ Phước Tây, Huyện Cai Lậy, Tỉnh Mỹ Tho. Tôi đi thăm nuôi chồng. Bất ngờ nghe tin anh Xích bị giam giữ cay nghiệt nơi đây, lòng tôi cảm thấy đau buồn và thương anh biết bao! Tôi nghe chồng nói lại:
                    - Anh Xích "khả sĩ tử bất khả nhục" ở tù, do anh có lập trường kiên định, cứng rắn, anh không chịu cúi đầu khuất phục bọn ngu dốt lên làm vua, cỡi đầu cỡi cổ, nên anh bị cán bộ đánh đập tàn nhẫn, dã man, anh bị nhốt trong cornex thường xuyên. Tối hôm đó có hai bạn tù đi lên trạm xá xin bác sĩ cấp cứu một người bị đau nặng. Họ nhìn thấy tên cán bộ cẩn thận mở ba lớp khóa ở cái cornex hừng hực nóng, hắn nói:
                    - Tôi tha cho anh, hãy đi đi.
                    Tưởng thật, anh Xích bước đi độ chừng năm mét, thì hắn nổ một tràng súng bắn từ phía sau lưng anh. Hắn tri hô lên:
                    - Anh ấy trốn trại! Tôi bắn đấy.
                    Trong trại tù ai nấy đều rụng rời nghe hung tin, nhưng không một ai tin về điều cán bộ nói. Vì tù "cải tạo" đều biết anh Xích hiện đã và đang bị nhốt "trọng cấm" ở trong xà lim, nơi cornex có nhiều lớp khoá kín bưng, con ruồi bay không lọt vô trong, huống hồ gì anh là một người cao to dường ấy, nếu anh có được thả ra khỏi xà lim, chắc chắn anh thất thểu rệu rạo bước đi không vững, làm sao anh có thể chạy thoát ra ngoài, mà trốn trại?

                    Chuyện thứ năm:

                    Những buổi chiều gần cuối tháng Sáu năm 1976 tại đảo Phú Quốc, theo lệnh của cán bộ thì mỗi người tù “cải tạo” đều phải gò một chiếc xô nhôm, có nắp đậy kín, chiều cao độ 30cm, đường kính độ 18cm, dùng để mỗi cá nhân ngồi và tiêu tiểu tại chỗ trên tàu. Luật nghĩ: "Có lẽ chúng lại cho dời Tù đi đâu đây".

                    Trời mưa tầm tả không lúc nào dứt hạt, thế nhưng trên đoạn đường dài khoảng chừng hơn ba cây số từ trại Bốn; đoàn tù “cải tạo” đông đúc có lệnh di chuyển về đất liền. Trong các láng trại tù lũ lượt đi ra cảng Phú Quốc. Bởi vì Luật đã bị bệnh sốt rét da vàng rất nặng còn rét run lập cập, nên không thể dễ dàng di chuyển. Luật đứng lại gò lưng thở dốc, và phải nhờ anh Đinh Văn Sinh mang vác dùm thêm đồ đạc cá nhân của mình. Đoàn tù lội bì bõm trong sình lầy, Luật đi không nỗi, bị té chúi nhũi vào một anh tù khác. Chính đó là anh tù Kha Tư Giáo. Hai người gật đầu chào nhau.

                    Luật gượng đứng lên và cùng anh Giáo đi ngang hàng, sát cánh để dìu nhau chập choạng bước. Luật nhìn thấy hai tay của anh Giáo đã bị bẻ quặp ra sau lưng, khóa chặt bởi hai cây thanh gỗ to hình chữ nhật, có chiều ngang 20cm, chiều dài là 40cm. Thanh gỗ dài mới rất nhám không có bào, còn lởm chởm những dằm nhọn cứng tua tủa cứa vô da thịt mỗi khi anh nhúc nhích dượm bước đi. Do những vết cứa của dằm gỗ không được bào láng, nên từ hai cánh tay của anh Kha Tư Giáo lở loét, đóng máu tươi, máu bầm, và những cục mủ lầy lụa. Hai thanh gỗ đục thành một cái lỗ hình tròn, chỉ vừa xỏ hai cánh tay của anh Giáo vào đấy, và đóng kín bằng một ổ khoá bự sư.

                    Mùi hôi thối quanh hai cánh tay của anh Kha Tư Giáo xông lên nồng nặc, hôi thối kinh khủng không thể nào tả nỗi. Nhưng, điều mà Luật quá sức rợn người, cảm thấy như chính mình đau đớn tột độ, (chứ dường như không phải là anh Giáo đang gánh chịu nhục hình khốn khổ kia): Đó là những con ruồi xanh u u u vẫn bay lượn và những con dòi lớn có, nhỏ có, dòi trắng hếu lúc nhúc rúc rỉa bu quanh hai cánh tay của anh Giáo. Cũng có con dòi bò lên vai, lên cổ, hoặc nó lả tả rớt xuống mặt đường. Thế mà Luật chỉ thấy anh Giáo nghiến chặt hai hàm răng, anh lặng lẽ cất bước, không hề hé miệng than thở một lời nào. Luật rất khâm phục, vô cùng quý trọng về cung cách và bản lãnh của anh.

                    Lúc đoàn tù chui xuống hầm của chiếc tàu thủy to tướng tối đen, tàu rất chật chội do nhốt khoảng ngàn người dưới đáy, nên gần như ngợp thở, thì Luật không biết anh Kha Tư Giáo đứng ngồi, hoặc nằm ở xó nào. Người ta bắt tù gò một cái bô là để mình ngồi trên đó mà đái ỉa tại chỗ, là vậy! Đi lênh đênh trên biển như thế chẳng biết mấy ngày. Khi đoàn tù lên bờ di chuyển bằng xe bít bùng về tới Long Giao, thì chẳng hiểu sao anh Giáo lại nằm sát cạnh bên Luật. Đoàn tù đến ở trại tù Long Giao quá đông, nên tất cả tù phải nằm sắp lớp sát rạt như cá mòi, họ đều nằm nghiêng mình về một phía như nhau suốt cả đêm, thì mới có đủ chỗ nằm. Tù nằm y một chỗ chừng vài giờ như thế, thì cùng bảo nhau trở xoay qua một chiều khác, cho đỡ nhức mỏi. Lúc đó, anh Giáo nằm ở ngoài cùng, vì anh vẫn bị cùm ở hai cánh tay, khó cử động, xoay trở, nên anh Kha Tư Giáo đã ôn tồn bảo Luật:
                    - Làm phiền đỡ dùm tôi trở dậy, cho tôi xoay qua bên kia chút nào.

                    Luật mỉm cười ngồi dậy lặng lẽ làm y lời anh yêu cầu, sau đó đa số anh em không thể nào chợp mắt. Họ nằm bên nhau thì thầm chuyện trò to nhỏ. Anh Giáo đã kể rõ cho mấy bạn nằm gần gần chung quanh lán trại nghe: khởi đầu vì sao anh Kha Tư Giáo bị biệt giam khốn khổ tra tấn dã man vô cùng:
                    - Là thế nầy: Ban đầu có một “thằng cần câu” nào đó trong đám “tù cải tạo” của chúng ta, đi méc với cán bộ là: - Tên Kha Tư Giáo đã hát nhạc vàng…
                    - Thì tôi cười mà nói là:
                    - Hát là hát ca cho vui xí, chứ nhạc vàng, nhạc đỏ gì đâu!

                    - Thế là từ đó trở đi... họ nói tôi có tài hùng biện, giỏi lý luận, rồi tiếp sau tôi bị “đì” tới bến; mới sinh ra đủ thứ chuyện oan khiên!… Cán bộ đã đưa cho tôi một “ram” giấy pelure dày cui, để ngồi tại chỗ viết ra, phân tích, so sánh về lý thuyết “Các Mác”. Tôi đã phân tích tỉ mỹ hai chế độ: miền Nam & miền Bắc... Bên đúng, bên sai... Rồi… đến chuyện tôi đã thẳng thắng đốp chát, hùng hồn tranh luận về lý thuyế́t cộng sản trực tiếp với Võ Đông Giang… xong xuôi sau đó a lê hấp tôi bị cùm!

                    Anh Kha Tư Giáo dõng dạc từ tốn kể rất tỉ mỹ chuyện anh đã tranh luận, phân tích mọi khía cạnh của từng vấn đề ra sao! Hầu như những anh tù nằm gần bên đều im lặng lắng nghe như thế, không ai ngủ ngáy gì được! Ngoài hai cánh tay bị dòi rúc, máu mủ lầy lụa, trơ lòi ra khúc xương trắng thành một vòng tròn theo cái "cùm" (còng) gỗ ra, Luật nhận thấy anh Giáo vẫn còn khỏe mạnh, trí óc anh minh mẫn, anh ăn nói lưu loát đàng hoàng chững chạc, trí thức, từ tâm và độ lượng. Nhưng anh Giáo rất trực tính, anh không hề có dấu hiệu nào là người “khùng” hay bệnh điên đau ốm gì.

                    Khoảng hơn bốn giờ sáng (của một ngày đầu tiên vừa đặt chân lên đất liền, vào ở lán trại Long Giao một đêm nầy thôi), thì có một tốp bộ đội tới ngay lán trại. Họ kêu anh Kha Tư Giáo đi. Ngoài trời vẫn còn tối mịt, Luật không biết họ dẫn anh Giáo đi đâu! Độ chừng bảy giờ sáng ngày hôm đó, thì cả trại bàng hoàng, rụng rời, băn khoăn, lo lắng khi nghe tin anh Kha Tư Giáo đã chết!? Nhiều nghi vấn cho rằng anh Kha Tư Giáo đã bị chích thuốc độc. Một người bạn cùng tù ở đội 2 của trại 4 Long Giao với Luật tên: Lê N Ẩn luôn nhắc nhở anh em bạn “tù cải tạo”:
                    - Sau nầy, chúng ta sẽ cố gắng lập một nhóm bạn, đến ngày 30 tháng 6 mỗi năm là làm giỗ: để tưởng nhớ anh Kha Tư Giáo. Đồng thời anh tù “cải tạo” Trần Phong đã làm bài thơ lưu truyền rất nổi tiếng trong giới tù ca Xuân Lộc:
                    Chúa Nhật của người tù. Chúa sao không đến thăm!
                    Người tù ngồi đập đá giữa cơn rét căm căm.
                    Chủa Nhật của người tù có bao giờ được yên.
                    Ngày làm không kịp thở dưới họng súng vây quanh.

                    Chúa nhật của người tù Chúa sao không đến coi.
                    Áo quần tơi tả, bước như những bóng ma trơi.
                    Chúa Nhật của người tù có bao giờ được nghe.
                    Hồi chuông nhà thờ đỗ, thay tiếng quát liên hồi!

                    Chúa Nhật mùa Xuân thay trâu kéo cày
                    Chúa Nhật mùa Hạ vào rừng lấy mây.
                    Chúa Nhật mùa Thu lên núi kéo gỗ
                    Chúa Nhật mùa Đông lên cơn rét rừng.

                    Chúa Nhật người tù Chúa sao không đến cho
                    Người tù ôm bụng đói ước một bữa cơm no.
                    Chúa Nhật của người tù muốn đêm về thật mau.
                    Nằm lịm trong mộng cũ mơ những Chúa Nhật nào...

                    * *

                    Chuyện thứ sáu


                    Trại Tù “cải tạo” Đại Lợi

                    Bác Hồ chết phải giờ trùng.
                    Nên bầy con cháu dở khùng dở điên.
                    Thằng tỉnh thì đã vượt biên.
                    Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng.
                    (*)

                    Chỉ là thế thôi. Anh ra đi “cải tạo” tù tội mút chỉ cà tha, anh đã vứt lại một gánh hành trang quá nặng trên vầng trán nhăn nheo già nua cuả mẹ, trên đôi vai gầy khô đét cuả vợ, trên bờ môi héo hon cuả con trẻ dại khờ. Ngày ngày mặt trời bừng lên soi dọi mọi xó xỉnh, nung đỏ mặt đất, đè nặng hoàng hôn với bóng đêm buông về hừng hực hơi nóng muốn lột da! Bao năm sống trong quá khứ ngục tù “cải tạo”, hy vọng và tự do của người tù "cải tạo" vẫn nằm ở chân trời xa xăm, có thể còn đầy gian truân thử thách đã bị lãng quên nay bùng trỗi dậy. Một thời lừng danh rạng rỡ huy hoàng đã hết, nay anh phải dùng những viên thuốc ngủ bé tí xíu, để xoa dịu cơn đau tâm hồn & thể xác. Vì thực tế "Người nuốt những hờn căm"...:
                    Vàng phai trên thanh gươm.
                    Người mái tóc điểm sương.
                    Ngựa tung vó trong mưa buồn trên quê hương sầu thương.
                    Đường mây vỡ tan thành mộng trong cô đơn còn mơ sa trường.

                    Bóng xô nghiêng hoàng hôn.
                    Mài gươm trong cô đơn.
                    Người nuốt những hờn căm.
                    Ngựa nuôi móng non thay bờm trên quê hương cuồng giông.

                    Đường xa dẫu xa muôn trùng trong đêm nay ngựa phi sa trường.
                    Bóng dõi bóng quê hương.
                    Chiến mã đã đến sát dòng sông đêm quê hương mênh mông.
                    Sao chưa hừng đông?!

                    Chiến mã rất khát miếng nước trong trên quê hương tang thương
                    Ai qua trường giang...!?
                    (1)

                    Chao ôi! Làm thế nào được khi chiến mã đến sát dòng trường giang trên quê hương nầy, chỉ còn là dòng sông cạn và đục ngầu… Dẫu qua bao mùa giông bão, chiến mã vẫn khát miếng nước trong! Không còn cảnh "Đem đại nghĩa thắng hung tàn. Lấy chí nhân thay cường bạo"*. (*Nguyễn Trãi) Có câu sau mà ai đó đã nói rất chí lý: “Phẩm giá con người được tôn trọng trong sự hoàn thiện và cao trọng”. Thế nhưng ở thời buổi mất hết tất cả nầy, nay chỉ ùn ùn mọc lên: Một trong muôn vàn trại tù “cải tạo” khủng khiếp nhất trong đất nước đã mang danh hiệu “thống nhất, hoà bình và tự do”, thì quả thật đã có trại tù Đại Lợi (là một cao ốc của Mỹ bỏ lại) nằm chình ình ngay ở thành phố Sài Gòn, sát nách bên khu chợ ông Tạ. Con đường ấy ngày nay đã đổi tên lại là: Phạm Văn Hai. Nơi trại tù Đại Lợi đây có quá nhiều phòng giam nhỏ, trên một cao ốc năm từng lầu.
                    Mỗi phòng giam làm bằng vật liệu nặng kiên cố bê tông cốt sắt, song cửa sổ sắt, mỗi phòng có chu 3 x 4 mét. Tuy phòng nhỏ xíu, nhưng có mấy lớp khoá bự tổ chảng ở ngoài cửa ra vào. Mỗi phòng có một cái xô nhựa lớn, có nắp đậy, dùng để cho tù đi tiêu, đi tiểu sau năm giờ tối. Mười người hoặc mười bốn người tù bị nhốt trong một phòng kín như bưng, có song sắt to chắc chắn, và dĩ nhiên có sợi xích sắt to bằng nửa cùm tay chạy vòng quanh những song cửa sắt, cuối cùng còn chấn thêm ổ khóa bự sư.

                    Một anh tù đã bó gối không biết làm gì, buồn bã ngâm nga:
                    Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái;
                    Cái công danh là cái nợ nần.
                    Nặng nề thay hai chữ quân thân,
                    Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ!

                    Cũng rắp điền viên vui thú vị;
                    Trót đem thân thế hẹn tang bồng.
                    Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung,
                    Hết bốn chữ "tinh trung báo quốc".

                    Một mình để vì dân,vì nước,
                    Túi kinh luân từ trước đến nghìn sau,
                    Hơn nhau một tiếng công hầu.
                    (Nguyễn Công Trứ)

                    Ngay sau đó mươi lăm phút, tên quản giáo chẳng thể hiểu thơ văn trứ danh của thi sĩ, đã phán cho anh tù tội “có mưu đồ dùng thơ lôi kéo tù phản động”… Anh tù “cải tạo” chưa kịp há hốc miệng, chẳng hề cự nự, liền bị bốn công an súng ống nai nịt điệu đi lên tít tóp trên trần thượng, nơi cao chênh vênh tha hồ cho bọn họ đánh đấm hành hạ dã man… rồi tù sưng húp mặt mũi, máu me lênh láng, tù bị còng tay cùm chân, tự chui vô trong cornex bịt bùng, mấy ổ khoá bự sư siết bên ngoài cánh cửa ti hí, nóng hầm hập suốt ngày đêm, và dĩ nhiên anh tù đói khát triền miên. Người tù đó là Quốc, Trung Úy Thủy Quân Lục Chiến, cháu cuả tôi.

                    Mùa hè tù nhân ở trần, họ chỉ mặc mỗi cái quần xà lỏn, ấy thế mà trong phòng vẫn nóng như nằm trên cái chảo nung đỏ lửa. Mỗi buổi sáng, sau khi một anh tù (đến phiên trực ban), có bổn phận khệ nệ xách cái xô nhôm, lò dò đi xuống những dãy lầu Đại Lợi, tù đem xô nước cứt đái ra đổ trong bồn chứa to ơi là to, để tưới rau xanh. Cũng từ cái xô tráng rửa qua loa đó, (vì khan hiếm chả có xà bong, không sẵn có nước máy, cũng không nhiều nước cạn giếng khô). Họ rửa xô, để phải dùng cái xô nầy đựng nước tắm, đôi khi thiếu vật dụng, cán bộ cai tù lại sai tạp dịch dùng xô ấy, xách nửa xô canh rau lều bều lỏng bỏng lên láng trại, cho tù “cải tạo” chan nửa chén bo bo ăn cầm hơi cả ngày. Tù thì thầm bảo:
                    Ở với Hồ Chí Minh.
                    Cây đinh phải đăng ký.
                    Trái bí cũng sắp hàng.
                    Khoai lang cần tem phiếu.

                    Thuốc điếu phải mua bông.
                    Lấy chồng nên cai đẻ.
                    Bán lẻ chạy công an.
                    Lang thang đi cải tạo.

                    Hết gạo ăn bo bo.
                    Học trò không có tập.
                    Độc lập với tự do.
                    Nằm co mà hạnh phúc!
                    (*)

                    Nếu công an bắt ai, thì ít khi lầm. Mà, lỡ có lầm, thì cứ nhốt ít nhất là bỏ tù vài ba năm, để “lao động là vinh quang”, và theo dõi. Thậm chí nếu con người ấy chưa biết “giác ngộ”, chưa “phấn đấu cải tạo tốt”, chưa “học tập tốt”, không “thành thật khai báo”, chưa “đả thông tư tưởng”, chưa sửa đổi bản thân, hay không làm “cần câu” điềm chỉ…, thì a lê hấp cho vào tù mút mùa lệ thuỷ, chưa về hay không về nữa. Nghe ra chữa?

                    Chuyện thứ bảy


                    Mỗi lần có dịp đi ngang qua Tiền đồn Xà Bang nằm cạnh Liên Tỉnh Lộ số 2 (LTL2), nối liền từ Ngã 3 Tân Phong Quận Xuân Lộc, Tỉnh Long Khánh đến Thị Trấn Bà Rịa, Tỉnh Phước Tuy. Xà Bang cách Bà Rịa 28Km về hướng Bắc Đông Bắc và cách Xã Cẩm Mỹ 6Km về hướng Nam. vùng Long Khánh thăm chồng ở trong trại tù nầy, tôi không thể không hồi tưởng và tiếc nhớ những vị anh hùng khả kính tận tụy vì dân vì nước, đã hy sinh cho tổ quốc sống còn. Cho đến phút chót, khi vĩnh biệt cõi đời ô trọc, chiến sĩ ấy cũng âm thầm về trong khuya muôn trùng lạnh lẽo. Có thể họ âm thầm phù giúp bạn đồng-cam chút tình tri ngộ chăng?

                    Huyền thoại về bức tượng “Tiếc Thương” của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu (sĩ quan trừ bị Thủ Đức, khóa 13) há chẳng phải là một bằng chứng cụ thể hay sao?! Cư dân địa phương gần quanh vùng nghĩa trang Quân-Đội Biên-Hoà, há chẳng luôn luôn đồn đãi về chuyện anh hạ sĩ Võ Văn Hai đi lính Nhảy Dù. Dường như anh muốn nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến các chiến sĩ trận vong, nghĩa tử là nghĩa tận mà! Cư dân địa phương thường rù rì kháo nhau rằng:

                    - Đêm đêm dưới ánh trăng ngà khuya khoắt, có người chiến sĩ mặc quần áo trận, đầu đội nón sắt, mang giày đinh, lưng đeo la lô, từ trong bức tượng "Tiếc thương", anh lính ấy đỉnh đạt bước từng bước, từng bước trên bệ đá. Chiến sĩ ấy đủng đỉnh xuống đồi, băng qua đại lộ, anh ấy chỉ đến một ngôi nhà, và gõ cửa nhà của một bà cụ. Khi cụ bà mở cửa ra, chiến sĩ ấy im lặng cúi đầu chào, anh ấy vẫn lặng lẽ cầm bi đông trên bàn tay trái, anh ấy giơ bi đông ra, xin bà cụ nước uống.

                    Ban đầu cụ bà hoảng sợ, ngập ngừng toan lùi bước. Nhưng sau nhiều lần, cụ bà vẫn thấy chiến sĩ ấy xuất hiện, cúi đầu im lặng, trầm buồn, hiền lành lặng lẽ, âm thầm không hại ai. Cụ bà xúc động, vội vàng trở vào nhà, bà cụ niềm nở ân cần rót nước, đem ra cho người lính đơn độc. Thương lắm thay! Cụ bà ngẩn ngơ lặng đứng nhìn anh từ từ quay trở lại trên đồi hoang vắng.
                    ***

                    Giòng tình cảm đã chảy qua trong đời tôi, mình cảm thấy luôn hổ thẹn, dày vò, băn khoăn một bất nhẫn về hình ảnh ấy không thể gội rửa, xóa sạch... Lúc nầy đôi chân tôi không còn sủng ái tin tưởng lẫn nhau, nên một trong hai bàn chân kia đã giận dữ tự nhô lên hụp xuống, nếu chân nầy chấm, thì chân kia phết, làm tôi run rẩy chới với nghiêng ngả hoài. Cứ như thế mà hai chân lập cập bò lết trong cõi đời ô trọc. Chính “xéc” là “hai thằng chân” ni đã “phẻn” đối cái bản thân tôi đang nhún lên nhún xuống trong đời sống bốc lửa.

                    *

                    * Sưu tầm
                    Thơ Tình Hoài Hương
                    Lượm lặt sưu tầm khắp đó đây trên Net
                    Thơ và nhạc: Trần Ng Phong.

                    Tình Hoài Hương
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-25-2017, 05:04 PM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • Tinh Hoai Huong
                      Senior Member
                      • May 2009
                      • 1081

                      #205
                      Em Cứ Mặc… nhưng Chua Chát Dường Bao



                      Giờ này anh ở đâu
                      Sáng tác: Khánh Băng
                      Do: The Cat's Trio

                      Em Cứ Mặc… nhưng Chua Chát Dường Bao


                      Lòng tôi trào dâng lên nỗi ngậm-ngùi, đắng cay, chua chát dường bao! Những tiếng nấc uất hận, giọt lệ vô cớ trào lên bờ mi tôi lăn hoài xuống má. Bởi vì tôi làm lụng quá vất vả đủ thứ chuyện, không ngơi nghỉ: Tôi thoăng thoắt đan áo lạnh để bán, (phụ nữ sinh sống tại Đà Lạt thì hầu như 85% tự biết đan áo len khá đẹp, thành thạo). Tôi may quần áo bằng kim tay cho con, bàn tay tôi lướt nhanh trên những đường chỉ thật đều, không thưa không vụng.

                      Khi có các vụ mùa thì tất cả bà, cháu, mẹ con tôi bươn bả đi các nơi, nào là: làm ruộng, nhổ cỏ, cấy mạ, đi mót đậu, mót khoai, mót rau, mót nhặt bao ni lông... Rồi nâng niu mang về: đậu, rau, khoai, lớp rửa sạch, nhín nhút để dành ăn ngấu nghiến từ từ, lớp phân ra để độn với ít gạo tẻ, hoặc chia đậu que, đậu phụng kho mặn. Tôi nấu thứ rau chóng héo ăn trước. Lượm giấy carton khắp các mọi nẽo đường, tôi khiên về nhà ngồi bệt xuống vĩa hè, vuốt thẳng ra, xếp gọn để vô một góc, bọc ni lông thì ôi thôi: ở bên trong đựng đủ thứ tanh hôi, bẩn thỉu dơ dáy vô cùng. Tôi xăn quần lên tận háng, đứng trong thau nhôm để đạp bọc ni lông giặt giũ cẩn thận, đem ra cánh đồng đầy nắng phơi khô. Hôm sau mẹ con đội đến hãng ve chai bán, lấy tiền về đong từng lít gạo.

                      Ở Việt Nam là thế, nhưng ở bên Moskva vào những năm 1970 khi mùa đông giá rét, có tin đồn là ngày hôm sau cửa hàng bán thịt số 1 sẽ có thịt. Ngay hôm đó trước cửa hàng đã có hàng chục ngàn người với áo khoác ấm, giày cao cổ, đứng thành hàng dài. Lúc 3 giờ chiều một người bán thịt đi ra và nói:
                      - “Thưa các đồng chí, ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng không đủ thịt bán cho tất cả mọi người, vì vậy mà dân Do Thái nên về nhà”.
                      Dân Do Thái nhẫn nhục bước ra khỏi hàng. Những người khác tiếp tục đợi. Lúc 7 giờ tối người bán thịt lại bước ra và nói:
                      - “Thưa các đồng chí, ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng hóa ra là không có thịt vì vậy mọi người nên về nhà”.
                      Đám đông tản ra, vừa đi họ vừa lầm bầm:
                      - “Bọn Do Thái khốn nạn lúc nào cũng gặp may!”. (2)
                      *

                      Thường khi đi làm ruộng ngang qua khu vực có chiếc phi cơ rơi ngay sau ruộng lúa, tôi tần ngần bâng khuâng dừng lại nhìn chiếc trực thăng nầy bị bắn rớt sáng sớm ngày 29/4/75 ở sát ruộng làng Nhị Tân. Có điều lạ lùng là hồi ấy nhiều người dân, và chị của tôi chính mắt trông thấy trực thăng bốc khói và rơi xuống đất.

                      Có một xe tăng bọc sắt hết xăng còn nguyên vẹn hình dáng nằm ngay trước hẽm nhà thờ Châu Nam, Hóc Môn, gần dãy nhà trại gia cư. Sau ngày "mất nước", bọn trẻ con trong các Xã: Châu Nam, Lục Nam, Tân Thới Nhì, các con em ưa leo trèo vào ngồi lắc lẽo trên khung sườn phi cơ, hoặc chiếc xe tăng, để chơi trốn tìm, nô đùa. Thỉnh thoảng cũng có mấy ông lớn tuổi bu quanh phi cơ, xe tăng đã mất hết những đồ đạc bên trong, kể cả cánh quạt, ghế lái, v.v... Chiếc phi cơ chỉ còn trơ lại cái khung sườn. Người ta đập phá, tháo gỡ phi cơ ra để lấy nhôm, sắt vụn... nghĩa là có cái gì có thể gỡ được, thì họ gỡ ra hết cái đó, đem đi bán ở hãng ve chai. Mặc dù họ vẫn e sợ phi cơ hoặc xe tăng phát nổ thình lình.

                      Sau nầy tôi cùng một nhóm người đi mót lúa, đi làm công, thì có cậu con trai, (con của ông bà chủ ruộng), vào giờ nghỉ trưa tôi dùng cơm nắm mang theo ăn. Cậu ấy ưa lê la đến ngồi nói chuyện với tôi cạnh bên chiếc trực thăng khác chỉ còn trơ bộ sườn, cậu ta ngửa cổ ực một hớp rượu đế, khoái trá “khà”:
                      - Cô không phải là dân làm ruộng chính cống, ha.
                      - Sao anh nghĩ vậy?
                      - Thấy cô mãnh mai, trắng trẻo và đẹp.
                      - . . .
                      - Hay là… cô sa cơ thất thế!?
                      - . . .
                      Cậu ta chỉ cho tôi một ngôi mộ vô danh, cậu ấy nói: người chết là một quân nhân sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, sĩ quan ấy chết trong khu vực ruộng nhà cuả cậu ta. Do ba cậu đã vội vàng lén lút tẫn liệm và chôn cất người lính bên lề đường, vì sợ oan hồn không ai hương khói, sẽ lởn vởn quanh họ quậy phá, cậu ta là con ông bà chủ già khá giả, hiền hậu, chân tình, rất tốt với tôi.

                      Tôi là vợ tù “cải tạo” khi nghe cậu ta nói thế, cũng lấm lét, len lén dáo dác… nhìn thấy có một ngôi mộ đất mới đắp đơn sơ, không tên không tuổi. Nhưng tôi im re, ngu sao mà bép xép thèo lẽo, ấm ớ hỏi nầy hỏi nọ, cho lôi thôi ra, tôi không dám có ý kiến. Tôi rất sợ cậu ta làm gián điệp, chờ tôi hở môi, là a lê hấp bắt đi tù, tôi bỏ con thơ ngoài đời bơ vơ đói khát. Nên tôi chỉ gật gù ừ hử trong khu Bà Điểm mười tám thôn vườn trầu nổi tiếng… có nhiều Vẹm. Vài ngày sau, tôi “lo thăng, lo lặn" mút mùa luôn. Tôi mất một cơ hội có một việc làm ở nhà chủ ruộng, khi nhan nhãn đó đây:
                      Đầu đường Đại-tá vá xe.
                      Cuối đường Trung tá bán chè đậu đen.
                      Giữa đường Thiếu tá rao kem.
                      (2)

                      Tôi già khú, các con tôi là thứ con nít hỉ mũi chưa sạch, thì có sá chi chuyện lượm lon, nhặt bọc dơ, để có tấm bằng khen trong lớp mà vô bổ cho dạ dày! Điều may mắn là thân thể tôi ốm o, nhỏ thó, nên tôi tự ý ngồi rị mọ may bằng kim tay một cái quần đen cùn cụt trên mắc cá, nhưng đáy quần dài xệ xệ và rộng thùng thình, (dễ độn đồ lậu, dễ chạy khi bị rượt bắt) lưng dây rút, (cột chặt vô bụng, không phải lưng dây thun lỏng lẻo). Tôi may một áo ngắn màu nâu khá rộng. Về áo ngực thì tôi tự may cái cọc-xê vải mỏng to, (có thể nhét mỗi bên ngực ít ra cũng được non 1/2 ký đường cát, đường thẻ, tiêu hột, hột điều. Hoặc thường xuyên cho hai núm vú tí nị của tôi tha hồ hút lố thuốc lá đã đời, ha ha ha...).

                      Tôi rất đắc ý, sung sướng, và khoái về sản phẩm “quần áo” tự mình phát minh và sản xuất. Bảo đảm tôi dấu nghề kinh khủng, ngu sao mà hở môi cho răng lạnh! Nên tôi không hề hé lộ tí xíu nào cho đồng bọn “con buôn đầu nậu” biết. Thiệt tình là tôi không tự hào vỗ ngực xưng “bá” ; nhưng phải công nhận là tôi tự khen tôi giỏi, có óc sáng tạo thiệt đa, ít ai ranh ma, có tay nghề chuyên môn, sành điệu như tôi.
                      Khi diện “bộ đồ vía” vào người, bỗng nhiên tôi tủm tỉm cười, nghĩ đến bài thơ rất hay:

                      . . . Em cứ mặc nhưng xin đừng quá ngắn
                      Hở phần lưng, ôi đã khó coi sao!
                      Lần đầu tiên mình tập tành mặc áo chíp
                      Huống chi đưa cái lõm rốn ra chào

                      Vô duyên thế làm sao ai coi được!
                      Mông má có đầy, mắt môi có ướt
                      Cũng không làm "tha thướt" được gì đâu
                      Lỡ quen nhau, giao ước buổi sơ đầu

                      Đừng đòi học, kiểu khoe khoang, mốt, chảnh...
                      Van em cứ hồn nhiên, đừng đỏng đảnh
                      Quần sa tanh và áo lụa Hà Đông
                      Giản dị thôi mà duyên dáng vô cùng

                      Em nên nhớ, còn cho mình ngắm nữa
                      Em cứ mặc van em đừng... thả cửa
                      Xin hãy là cô Tấm của ngày xưa
                      Mộc mạc, đơn sơ, giản dị, quê mùa...!!!
                      ( BPT)

                      Vậy thì, thưa thi sĩ BPT yên chí nhé, thời buổi nầy đã có mấy ai dám ăn diện đỏm đáng “model xịn” như tôi nào! Thế là tôi khoan khoái hí hửng tất tả leo lên xe đò chạy đi Trảng Bàng, Gò Dầu, Tây Ninh, có nhiều lần xe qua tít bên khu chợ trời biên giới Việt-Miên: Tôi mua đường, mua vải, mua thịt, vân vân... Những thứ đó đã bó chặt trong người tôi, có bộ quần áo “sáng tác chiều tác” tinh xảo để che mắt công an giao thông & cán bộ dọc nhiều trạm gác đang lùng sục lục soát tịch thu. Thân thể tôi trở thành tròn vo, mập ú nần ú nù, phì lũ, coi tôi giống mấy mummy Mỹ. Mấy thứ vải vóc, đường cát hoặc thuốc lá thì nó khô, tôi dễ dàng bó trong bụng, làm bà trẻ có cái bụng bầu. Bụng bầu tân thời trong xã hội chủ nghĩa coi ngộ lắm: gồ ghề, lồi lõm, nhô lên sụp xuống, như thung lũng núi đèo Đà Lạt.

                      Duy về chuyện thịt heo, thịt bò, thịt trâu, thịt dê... ở các chợ miền Nam như Sài Gòn, Chợ Lớn… Đa Kao, Bà Chiểu, Tân Định… hầu như khan rất hiếm thịt, thế nên bạn hàng như tôi ai ai cũng lo chạy đi về miền quê mua thịt cuả dân làng làm lậu, lúc ba giờ sáng. Tôi thu dú bó thịt trong đùi gần sát tới háng, mà qua mắt công an cán bộ.

                      Bó thịt vô gần bên háng, thật là một cực hình, ngứa ngáy, khó chịu, sột soạt, bực bội vô cùng! Tôi đi đứng cấn cái vì “cục đùm” cứ lắc la lắc lẽo, dềnh dàng như kẻ mắc bệnh lậu, bệnh tiêm la, sa bọng đái …chi chi đó. Có nhiều lần vào buổi trưa trời nắng chang chang, mà tôi bó hai miếng thịt heo, thịt ba chỉ, mỗi miếng độ chừng một kí lô, để rón rén qua trạm gác, tôi lum khum cúi cúi liếc liếc, lưng đi lòm khòm, làm bộ rên rĩ như bà già đau quặng bụng muốn mắc ị.

                      Nhưng trong ruột tôi sôi lọc ọc, rổn rảng... có thể tên cán bộ đứng xớ rớ gần bên nghe bụng tôi đánh lô tô rột rột, thì ông ta nghĩ rằng: "thứ dân đen đói rách nên sôi ruột, thèm ăn í mà". Thời buổn nầy đói khát là chuyện thường, chuyện nhỏ, ông có nghĩ như thế thì cũng đúng thôi. Mồ hôi cha mồ hôi con chảy ròng ròng. Tôi chỉ sợ hai cục thịt quấng ni lông ở hai bên đùi không chặt, dù tôi đã lấy sợi lòi tói cột siết vô đùi rồi. Do nóng và mồ hôi hột vã ra như tắm, (vì run sợ đủ thứ chuyện) thì thịt thà và sức nóng của Trời ban, cộng với sức nóng từ thân thể tôi tỏa nhiệt ra, thịt trong bọc ni lông sẽ lầy lụa, trơn tuột, mà rớt tỏm xuống đất trước mặt “công an bạn nhân dân”. Thì thịt mất, tiền không có, thêm tội: Tôi mang đồ quốc cấm “lên làng lén lút, lừa lũ lục lâm làm lợn lậu”, thì a lê hấp tôi vô tù mút mùa. Ôi! nghĩ đến điều ấy khiến mình quá sợ hãi.

                      Nhưng mười tháng qua, sau những chuyến đi buôn ấy tạm suông sẻ, thì họ đã phát hiện ra “bọn bà bầu” cái tội lừa. Vì ngồi trên xe đò có chừng mười lăm phụ nữ, thì đã có tới tám chín chị có cái “bầu tâm sự to bự sư”. Những thứ mánh mung gian trá đó, tôi đã học được ở xã hội chủ nghĩa từ ngày bắt đầu có cách mạng thành công. Ngỏ hầu tôi có thể qua mắt họ, đem lên Chợ Lớn, chợ Bến Thành, chợ Tân Định… bán, ở những nơi nầy nhiều nhà giàu dư dật tiền bạc, mà thiếu thịt thà, tôm cá; thì mình bán có lời gấp bốn năm lần tiền vốn. Con buôn ai không ham! Người dân ở thành phố còn giàu, có sẵn tiền, họ thèm và ưa ăn thịt, ăn tôm tươi, cá tươi. (Nói đến chuyện buôn tôm cá tươi, cũng có lần tôi làm cái "mánh" bó tôm cua trong người, ui trời quơi! Nó tanh và hôi đến nôn mửa! Sau đó tôi đành "bỏ cuộc chơi", đành trở lại nghề cũ, nghĩa là tiếp tục "bó hàng hoá" vô trong người mà đi buôn lậu)! Nhưng hàng hóa luôn thiếu thốn, thịt thà nào thấm vào đâu giữa thời buổi gạo quế củi châu. Cơ khổ thân tôi làm không thiếu thứ gì, (trừ chuyện “ăn nằm”) miễn là có tiền đem về nuôi gia đình. Tôi phải tận lực vắt cạn kiệt sức lực:

                      Thứ Hai em phải đi làm.
                      Thứ Ba em cũng vì làm phải đi.
                      Thứ Tư làm việc nên đi.
                      Thứ Năm càng phải vội đi để làm.
                      Thứ Sáu em cũng phải tham.
                      Thứ Bảy bận quá vì làm phải đi.
                      Chủ Nhật thủng thẳng nghĩ suy.
                      Ở nhà buồn quá có khi... đi làm.
                      (1)

                      Thời gian khá lâu sau… chúng tôi chia phiên nhau đi thăm nuôi chồng bị tù tội vì bốn chữ... “học tập cải tạo”. Thật ra, chúng tôi mừng rỡ đùm túm gói ghém những gói quà tẻo teo khiêm nhường, dỡ tệ đến mắc cỡ, do cả nhà nhịn ăn nhịn mặc vất vả nhọc nhằn đến thế, mà khó có tiền dư để thăm nuôi tù thường xuyên.
                      *


                      Tình Hoài Hương

                      (1) = Thơ Bút Tre
                      (2) Sưu tầm lượm lặt.
                      Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-25-2017, 06:10 PM.
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment

                      • Tinh Hoai Huong
                        Senior Member
                        • May 2009
                        • 1081

                        #206
                        Ông ÁNH còn ngán TUI



                        Ông ÁNH còn ngán TUI
                        NGHỊCH_NHĨ
                        *

                        Thưa vâng. Ông ÁNH trên tựa bài viết đúng là ông Nguyễn Huy Ánh cựu tư lệnh Sư-đoàn 4 KQ, một vị Tướng lổi lạc, mà hồi đó có lúc còn phải… ngán tui đấy! Chuyện thật hư thế nào, nói theo kiểu truyện Tàu, xin xem hồi sau sẽ rõ… còn bây giờ thì… : Dường như người Việt (miền Nam) mình trước kia ít khi chịu khen ai, hay vinh danh ai, dù đó thực sự là những người anh hùng tài giỏi khi họ còn đang sống, đang tại chức lắm; đợi chờ chết rồi, mới thấy tiếc rẻ, mới khen, mới đề cao!; có thể vì lòng đố kỵ, có thể vì sợ mang tiếng là kẻ sum xoe, nịnh bợ chăng?

                        Tôi còn nhớ trong quân đội VNCH dạo ấy có biết bao nhiêu vị Tướng, thế mà có mấy ai được báo chí, truyền thanh, truyền hình đề cao vinh danh? phải chăng đó là là một khuyết điểm của mình? nếu có, ít ra cũng làm cho binh sĩ, dân chúng lên tinh thần khi được một ông Sư Đoàn Trưởng… như thế… như thế chỉ huy và trấn giữ vùng mình chứ! Nói nào cho ngay… Ừ mình cũng có đấy, sau trận An Lộc ông Nguyễn Văn Hưng có được vài số báo nói đến! Rồi báo Tiền Tuyến hay Diều Hâu(?) có đề cao bốn vị: nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng là Tướng “sạch”. Trời đất! làm Tướng mà chỉ được khen “sạch” là đủ sao?! Còn cái điểm chánh yếu là cầm quân trước trận tiền sao không thấy nói tới, chẳng lẻ... “nhất tướng công thành” mà không đánh được vài trận nào ngoạn mục à? Còn Tướng Lê Minh Đảo vừa sáng lên ở mặt trân Xuân Lộc, rồi cũng bị chìm theo vận nước…!

                        Nghĩ tới nghĩ lui thấy mình..."yếu" thật; trong khi ấy bên địch, trong quân đội thì có chính trị viên từ trung, đại dội trở lên để theo dỏi, đôn đốc nâng cao tinh thần bộ đội… ngoài ra họ còn có thêm cái đám binh(địch) vận, dân vận (trí thức, sinh viên học sinh…) …v.v… để lôi kéo, mua chuộc nữa; đánh ta mọi mặt như thế; nên ta… "mệt" là phải!!! Bạn ơi đó là chuyện cũ, còn nay thì ba bốn chục năm đã qua rồi, mà con cháu của chú Hồ vẫn kiên trì… không mệt mỏi tuyên truyền, nhiều lúc vẻ vời để tự đề cao xưng hùng mọi lúc mọi nơi nghe phát mệt; nói theo kiểu văn chương… hiện đại của bọn chúng, thì… “cái đéo” gì cũng ca được; nghe muốn ói!!! Tôi không có thèm nói thêm đâu, nầy nhé:
                        - Chuyện dũng sĩ tí hon Lê văn Tám tẩm xăng vào người, rồi chạy… u vô đốt kho đạn, hay kho xăng gì đó bên Thị Nghè là xưa rồi, bỏ đi Tám! Mấy năm qua mấy tay “Cách mạng lão thành ” tìm tên tuổi và gốc gác của anh hùng… nhóc nầy để… phong thánh; rồi tự đi đến kết luận là: Hổng có!!!
                        - Rồi câu chuyện kể cái… dũng của “cháu ngoan bác Hồ” nầy mới dể nể chứ: Có hai em bé chiều chiều đùa giởn trên bờ đê sông Hồng, bỗng hai em thấy có một lỗ rò rỉ của bờ đê phía nước chảy cuồn cuộn, với một tinh thần cảnh giác và nhận thức cao độ, nếu để vậy đê sẽ bị xoáy mòn và đê vỡ; nên một em bèn nằm dài xuống bờ đê đầu cuối xuống nhìn rõ cái…lỗ, và lấy ngón tay bịt lại, còn em kia chạy về thông báo cho dân làng biết!!! Đến khi bà con làng xóm chạy ra cưú đê thì thấy em nầy chết ngộp đúng vị thế ấy… cái ngón tay vẫn còn đang… ém lỗ!

                        Mấy cháu nho-nhỏ thoạt nghe qua thấy nể quá đi chứ, hãy tưởng như cái bồn chứa bằng xi–măng đang cho nước chảy vào, bị một lỗ mọt nên em phải chồm xuống để lấy ngón tay bịt lỗ lại; trong khi đó nước cứ chảy vào từ từ dâng lên, và em cứ… uống nước thoải mái tới chết thôi; chứ ngón tay vẫn… ém lỗ không rời!!!. Có lý quá mà! Còn mấy người lớn hiểu chuyện lại cười thầm trong bụng: chắc “cháu ngoan” nầy được bác yêu, cho lên chơi phủ chủ tịch (nhà sàn) đến giờ nghỉ trưa cháu quanh quẩn bên ngoài, và vô tình nhìn qua khe vách nứa thấy bác Hồ đang dùng ngón tay mò tìm… ém lỗ bà Nông thị Xuân, hay mấy cô hộ lý, nên cháu cứ in trí và noi gương theo chứ gì!

                        Nhưng mà mấy cái chuyện đó thuộc loại xưa rồi …Diễm! Cái chuyện nầy mới ràng ràng có in trên tờ nhựt trình Tuổi Trẻ ngày 16 /06/2007 trong đề mục “kể về bác Hồ” ở hội thi, có giải thưởng như sau: “…(trích nguyên văn): Một trong những thí sinh cao tuổi nhất, là thiếu tướng Nguyễn văn Ninh nguyên phó cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu, 77 tuổi, kể câu chuyện xúc động về bác Hồ, mà ông được trực tiếp chứng kiến vào mùa hè năm 1967 khi Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc. Bác thương những chiến sĩ phòng không trực chiến mà không có đủ nước uống nên dã tặng toàn bộ số tiền tiết kiệm 25.000 đồng (tương đương 60 lượng vàng) cho Tổng cục Hậu cần mua nước uống làm quà cho chiến sĩ phòng không. Thiếu tướng Ninh lúc ấy đang là Tiểu đoàn trưởng tên lửa phòng không, đã được uống nước từ số tiền tiết kiệm của bác Hồ giửa cái nóng 41 độ C và cảm thấy vô cùng xúc động trước tấm lòng của Bác..”

                        Đấy ai muốn tin thì cứ tin và ai chưa hề biết Việt Cộng là gì thì cũng nên tin… thử một lần cho biết! Còn tôi cho rằng: Gớm! cho ông phó Cục, như vậy mà cũng ráng… “ngoéo” vô khen cho được mới tài..! Nếu gặp ông “Bải trưởng” (thì lớn hơn Cục là Bải chứ gì nữa!) thì tình tiết có phần hấp dẫn hơn… như:
                        - Các đồng chí và đồng bào biết không?, có hôm nọ Bác dang đứng chuyện trò với một ổ phòng không thì bọn giặc Mỹ bay đến bỏ bom, Bác vẫn gan lì ngồi tại đó, để động viên các đồng chí đội phòng không đang bắn chống trả, đến khi bọn Mỹ hoảng sợ bỏ chạy hết. thì lúc ấy bác mới phát hiện ra là mình bị… chột bụng, mà trong lúc khẩn trương phải ở tại đấy cho bộ đội lên tinh thần, nên… “mọi thứ” nó vải ra trong quần…! mà thưa các đồng chí và đồng bào, quả Bác là bậc thánh, nên tôi… chỉ ngửi thoang thoảng một mùi thơm thôi quý vị ạ!

                        Rồi nay mai có thể mấy bà cụ còn sẽ nghe:
                        - “Mẹ biết không, đồng chí ấy là dũng sĩ, anh hùng lắm, trước kia ở trong binh đoàn đặc công, một mình bò vào đồn địch giết được 5,6 tên giặc, và cả chục tên đồng bọn tay sai đàn bà, con nít; chẳng may đồng chí ấy bị một tên địch “hèn nhát” bắn trúng vào đầu ; nhưng mẹ biết không… đồng chí ấy vẫn anh dũng, hiên ngang... nằm chết tại đấy, chứ không thèm chạy đi nửa bước nữa đấy !”

                        Y chang kiểu như lời một anh bộ đội người thiểu số từng tuyên bố trước đám tù:
                        - “Lói cái rì... miễn có nợi cho Đảng và Nhà lước, nà tôi lói, dù lói náo cũng được!”
                        Biết mà:
                        Chúng mầy mở miệng cứ xưng hùng
                        Ong-ỏng ngày đêm riết phát khùng!
                        Kho đạn là nơi bây được… đẻ
                        Nên giờ mặc sức… nổ lung tung
                        !

                        Bây giờ đã đến lúc chúng ta cũng cần ghi lại những sự thật, người thật việc thật... cho những thế hệ mai sau thấy rằng: người VN, tuỳ theo vận nước có lúc thịnh suy, nhưng anh-hùng, hào-kiệt thời nào cũng có…! Và sống bên Mỹ nầy, nhận ra được cái hay, cái thực tiễn của người Mỹ, nên tư duy của mình có thay đổi, và như quý vị thấy bây giờ mới có những buổi vinh danh, hoặc nhớ ơn những người còn đang sống: những khoa học gia, văn sĩ, nhạc sĩ, những nhân vật nổi tiếng có đóng góp, và giúp ích cho cộng đồng .v.v... đặc biệt ngày Mẹ, Cha… được ghi trong lịch Ta để mà nhớ nữa đó!

                        Thôi thì như vậy cũng là hay, cũng là tiến bộ; dù hơi trễ, nhưng có vẫn hơn. Theo khuynh hướng đó, tôi xin viết ra đây những nhân vật trong Quân-chủng KQ mà tôi rất kính nể; tiếc thay cả ba vị đã không còn tại thế, nhưng những việc làm của nhũng vị ấy, sao tôi cứ nhớ mãi …và trong ý thức, trong lòng cứ thôi thúc tôi phải viết ra:

                        1./Anh hùng bị lãng quên:

                        Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho trưng bày một chiếc máy bay ở ngoài Saigon cho dân chúng coi. Anh là một Hạ sĩ quan của KQ đứng bảo vệ và trông coi khu đó! Bọn khủng bố Việt Cộng đã ném lựu đạn vào trong lúc dân chúng đông đảo đang bu quanh chiếc phi cơ, kết quả lựu đạn nổ và anh đã hy sinh! Nếu nghe đến đây thì một quân nhân chết trong lúc thi hành công vụ là chuyện thường tình của người… khoác áo chinh y, chưa thấy được hết cái ý nghĩa của chữ “hy sinh” và “anh hùng” ! Suy nghĩ một xí và xét lại đi: - Trong tình huống xảy ra như thế, với một phản xạ tự nhiên của con người bình thường khi thấy quả lựu đạn sắp nổ, thì nằm sát đất ngay, có thể không chết, nếu bình tĩnh hơn thì lẹ làng chụp quả lựu đạn ném ra xa… ; còn Anh đã có dòng máu anh hùng trong huyết quản, nên trong thoáng nghĩ suy anh đã nhào vô nằm đè trên quả lựu đạn, để trọn tấm thân anh chịu sức công phá của quả đạn, tránh sự sát hại lớn lao cho đồng bào ! Đúng là anh dành lấy cái chết cho người dân hiền hoà , vô tội sống!
                        Vì sự an nguy của người khác; không một chút đắn đo thiệt hơn, anh dám đem cả mạng sống của mình để bao che, bảo vệ ; như vậy chưa đủ gọi là anh hùng để người đời nhắc nhở và ghi tạc sao?!! Tiếc rằng thuở ấy tôi chưa vào lính, nên không nhớ tên vị anh hùng và ngày giờ chính xác!

                        2./Ông Tướng Nguyễn Ngọc Loan

                        Nhìn qua vóc dáng của ông Loan thì ông cũng cao ráo, còn gọi là có đẹp trai, hấp dẫn , oai phong hay không thì, theo tôi, ông cũng… “thường thường bậc trung” , lúc còn làm Tư lệnh phó KQ, khi đến dự party của các PĐ tổ chức, ông thường mặc bộ trây-di lè phè bỏ ngoài, chân mang giép nhật (bây giờ là giép lào) , trước mặt thường có chai la de loại lớn (bia cao)…
                        Tôi nhớ lúc ông qua làm Giám Đốc An ninh quân đội,năm 1965 tôi có dịp lái Trực Thăng H34 chở ông đi ra Hàm Tân, khi vào dinh Tỉnh Trưởng thì có điện thoại từ Trung Ương gọi ra, đầu dây bên kia nói gì tôi không rõ, chỉ nghe ông trả lời:
                        --Em đang bận ra thăm… “sức khoẻ” ông Tỉnh Trưởng một chút rồi về!
                        Nghe thế, ông Tỉnh trưởng cười cười nhìn ông có vẻ hơi “nhột”, bởi cái gì mà dính líu đến An Ninh là phiền hà lắm. Cỡ hai giờ sau phi hành đoàn theo đoàn xe ông ra về. Tụi tôi lên đề máy con- trâu- già H34 , hai ba lần mà nó không nổ, mà thưa quý bạn, nhớ cho nếu đề hoài cỡ 5, 6 lần là Battery là plat, hết hơi bình còn chết dở nữa, nên phải nghỉ một chút cho không ngộp xăng rồi đề lại. Ông Loan còn đứng dưới đất kêu lên “chọc quê” :
                        - Ê , tụi bây phải cần tao dán mấy tờ giấy $ 500 lên đây, nó mới nổ chắc!
                        Chưa chi mà Ổng thấy cái .. “Tẩy” hết trơn! Sẵn đây khai luôn cho quý anh các ngành khác biết, dân Trực Thăng chở VIP bên dân sự thường là được… “ăn theo” mấy Ông Bự lắm; khi về lại có thêm được bao thư lì xì, có nhiều lúc rất là hậu hĩnh, nếu gặp được mấy ông “Phụ tá đặc biệt”…! Tất cả những cái đó là tuỳ lòng… hảo tâm, góp… “công đức”của chư vị ấy, chứ anh em Trực Thăng không có mặt mũi à nghe! Cũng may chiếc trực thăng nghe thế, nó sợ làm bẽ mặt mấy bác tài, nên đề máy lại lần nữa, là nó chịu nổ…

                        Một lần thứ nhì, ông Loan làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát, tôi có chở ông đi xuống Ty Cảnh Sát Mỹ Tho, Bến Tre trong những ngày cận tết năm Mậu Thân, sở dĩ tôi nhớ vậy, vì ông có nói mở đầu trước quan quân Cảnh Sát: Năm nay là năm Mậu…xì, nên không có lì xì gì hết... Qua vài kỷ niệm trên thì cũng tầm thường, nhạt nhẽo, đâu có gì đáng nói, và nếu cuộc đời bình thản như vậy thì sao rõ mặt anh hào? làm sao lộ những điểm để tôi thấy kính nể, khâm phục vị Tướng nầy được.
                        Có thể cái nhận thức của tôi còn nông cạn, tầm nhìn hạn hẹp, nhận xét chưa sắc bén và phiến diện; nên không tạo được sự đồng thuận ở một số người… Nhưng tôi thấy nổi bật nhất trong đời binh nghiệp của ông qua hai sự việc dưới đây:

                        A.- Biến động miền Trung:
                        Hãy để chuyện chính trị qua một bên, không bàn đến phía nào sai trái trong thời gian đó, mà chỉ xét về ông Loan trong vụ nầy: Tình hình miền Trung lúc ấy thật là phức tạp, hổn lọan, Phật giáo thì đem bàn thờ xuống đường, quân đội thì chia rẻ, có cả một lực lượng khá đông quân sĩ có cấp chỉ huy, đứng về phe chống đối chánh quyền Trung Ương, kèm theo trong bóng tối có sự thao túng giật giây của bọn Cộng Sản…! Nghe nói Trung Ương có đưa một vài vị Tướng bên Bộ-binh ra để dẹp loạn, mà không biết lý do gì mấy ngày sau đó vẫn nguyên trạng, và có mòi trầm trọng hơn. Giờ chót ông Loan được cử ra dẹp loạn! Kết quả sóng tan, biển lặng!

                        Tôi thấy phục ông Loan ở chỗ là:
                        - Một Sĩ Quan cao cấp KQ, một Sĩ quan chuyên ngành có bao giờ điều binh khiển tướng cở cấp Trung đoàn, trực tiếp ra trận đâu, mà ông làm nên việc? Ngược lại trong khi các vị khác đã là cấp Tướng mà làm không xong vụ nầy!
                        - Ông có một cái nhìn tổng quát và nhận biết đâu là yếu điểm của nhóm phản loạn, đâu mới thực sự là đầu nảo điều khiển vụ nầy, nên vạch ra một kế hoạch hành động hữu hiệu!
                        - Về mặt chiến thuật, ông biết phải móc nối ai và đơn vị nào để làm hậu thuẫn, và ông biết chọn, tin dùng người có khả năng để kết hợp và phụ giúp ông trong vụ nầy!
                        Mới nghe qua thấy đơn giản, nhưng thực sự những vị Tướng tài mới có được cái nhãn quan và đầu óc ấy mà thôi! Không dễ!!! Đó là vụ việc thứ nhất tôi nể phục ông, còn vụ thứ hai:

                        B.- Vụ Tướng Loan “bụp” tên đặc công bảy Lốp:
                        Trong chúng ta chắc ai cũng biết vụ Tướng Loan bụp tên VC Bảy Lốp trong năm Mậu Thân, nên tôi xin miễn tường trình! Chính vụ nầy với bức hình do Adams(?) chụp, mà người thì nên danh, được giải thưởng cao quí của báo chí, còn người thì mang tai tiếng và thân bại danh liệt!!! Về mặt nghề nghiệp, thì ông phóng viên ấy không có gì đáng trách, mà còn trái lại; và tấm hình đó cũng là cơ hội bằng vàng cho đám truyền thông thân Cộng đả kích ông, và chế độ VNCH (tôi không muốn dùng từ phản chiến, không đúng). Nhưng cũng chính nó mà tôi lại càng thương mến, cảm phục kính nể Tướng Loan hơn; đồng thời mang thêm nổi uất hận …. mãi đến nay; xin được tỏ bày:

                        @ Phải nói thẳng rằng ở ngoài mặt trận khi bắt được địch quân (không phải là hàng binh), cả quan và quân bên Bộ Binh “rửa cẳng” bọn nó là chuyện thường tình, lý do họ đang nổi nóng vì thằng bạn vừa mới trúng đạn chết tươi sau khi vừa ăn chung bịch gạo sấy với hộp thịt ba lát không lâu ; hoặc họ nói giam giữ nó làm gì tốn cơm, nuôi ăn cho mập, khi thả ra, lại ôm súng bắn lại ta nữa!
                        Còn bên KQ dù anh có thả một quả bom tan xác cả chục tên giặc, hoặc mấy anh gunship có xịt rocket và xả súng mini gun giết hàng loạt quân địch đi nữa, nhưng tôi dám chắc rằng không có anh KQ nào có gan mà chỉa ru-lô vào đầu tên VC bóp cò, như ông Loan đâu! Đó là điểm đầu tiên khác biệt mà tôi nể ông Loan (xin nhấn mạnh lại, đó là thời trước 75, chứ còn bây giờ khi đã thấy được cái tàn độc của VC đối với dân chúng ra sao rồi, và ai đã có thêm ân oán nữa, thì đâu cần đợi súng đạn làm chi lâu lắc ; búa, xẻng… dùng ngay để “dứt điểm” cũng gọn, thật dễ dàng!)

                        @@ Không cần phải là một nhà tâm lý học, ta cũng thấy ngay sự phẫn nộ ấy bắt nguồn từ tấm lòng, tình thương yêu của ông với thuộc cấp, một sĩ quan cảnh sát và toàn gia đình vừa bị chính tên đặc công Bảy Lốp sát hại.
                        Ông Loan hành động theo cảm xúc chân thành phát xuất từ con tim, chứ không đắn đo suy nghĩ cái hậu quả dưới ống kính của đám ký giả đang bu theo! Dĩ nhiên là ông hiểu chứ! Nhưng tình thương và tấm lòng của ông đối với thuộc cấp đã lấn át tất cả, nên ông cũng không cần cân nhắc cái thiệt hơn, lợi hại cho danh tiếng và bản thân ông.
                        Tướng Loan cũng không phải là con người nham hiểm, độc ác. Nếu là người thâm trầm hiểm độc thì giải quyết như vầy, chắc được khen, nghĩa là không vội gì giết tên đặc công khát máu nầy ngay, mà phải đích thân chứng kiến lại tấn tuồng mới… “đả nư” chứ ; phải ngồi trên ghế nệm da đàng hoàng, tay cầm ly rượu mạnh nhâm nhi, miệng ngậm xi gà nhả khói… đợi chờ, chờ bắt mang về cả vợ và mấy đứa con hắn đang sinh sống tại vùng Phú lâm chứ đâu; rồi bắt buộc hắn phải dích thân, chính tay hắn giết vợ và con hắn, như kiểu hắn đã sát hại toàn gia của anh sĩ quan cảnh sát; để cho hắn thấy cái đau khổ của người vô tội như thế nào, rồi hắn mới được chết!
                        Bởi vậy mới thấy quân dân miền Nam hành xử quá bộc trực ngay thẳng, nặng về cảm xúc đầy ắp tính nhân bản; khác hẳn tư tưởng và đường hướng có kế hoạch sẳn của con người VC mà chúng ta nghe ra rả trên đài phát thanh:
                        - Một trong những lời bác Hồ dạy:
                        - Phải “cương quyết” với kẻ thù.
                        Quyết liệt và đẹp đẽ thay chữ "cương quyết", nhưng cũng "ghê rợn" thay cái ý nghĩa ẩn tàng của chữ nầy!

                        @@@ Thuộc cấp mà thấy được sự yêu thương chí tình, hết lòng của cấp chỉ huy không bằng “đầu môi chót lưỡi” , màu mè; thì đáp lại họ có sá gì gian khổ, hy sinh chứ! Nếu vị Tướng mà biết tiếc từng mạng sống của mỗi người lính, thì họ sẽ không bao giờ thí quân, không bao giờ muốn đạt mục tiêu với bất cứ giá nào, để được danh tiếng trên hàng đống xác thân của binh sĩ mình! Chỉ bao nhiêu điểm trên cũng lộ ra cái phẩm chất và bản lãnh, đáng nể phục vị Tướng nầy; dâu phải ai cũng có được đâu!

                        @@@@ Dư luận dạo ấy hay nói đúng ra là giới truyền thông gây trong tôi sự bực tức và niềm uất hận không nguôi! Đám ký giả ngoại quốc thuộc loại có tên tuổi mà thân Cộng bu nhau đã kích ông Loan và chế độ ta, trong khi đó các phóng viên ký giả miền Nam thì im lặng khó hiểu! Tôi xin mở ngoặc nói về chữ “phản chiến” mà bọn ký giả thân Cộng xử dụng và tự nhận! Một danh từ mỹ miều! Đúng là chúng khôn ngoan và xỏ lá hết sức; cho nên đến tận ngày nay hể nói đến "phản chiến" là thiên hạ nghĩ ngay đến bọn chúng, chứ họ không gọi bọn chúng là Thiên tả hay thân Cộng! Tôi thấy không đúng! Như vậy nếu đả kích hay chống bọn đó, hoá ra mình là người "hiếu chiến" sao?! Nhìn lại chiến cuộc VN, thì ai gây ra chiến tranh? Đâu phải Mỹ! Mỹ chỉ vào phụ giúp ta sau nầy thôi, chứ nguyên thuỷ là do CS Bắc Việt mà! Như vậy quân dân miền Nam là người phản chiến mới đúng, mới chính xác, mới thuận ngôn chứ! Xin tạm đóng ngoặc lại.

                        Trở lại vụ Tướng Loan, đám ký giả không phải là dân VN không có được cái tình cảm, thấm thía được nổi khổ đau của miền Nam, họ không nằm trong chăn làm sao biết được chăn có rận ?? nên họ cóc cần biết gì, hơn là chỉ dựa vào bức hình và theo sách vở Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để mà nhục mạ phía ta mà thôi!

                        Nhìn lại, tìm xem các ký giả quốc gia miền Nam ở đâu, mà không thấy một bài để bênh vực, hay phân tích cái lý, cái tình ở đây? Chẳng lẽ trong nền báo chí miền Nam đã bị VC trà trộn vào quá đông, đủ khả năng điều hành và lủng đọan, chỉ đạo khoá mồm, khoá tay hết rồi sao?
                        Hay chư vị cũng có nhận thức và lý lẽ quá cao siêu, nên mới im lặng đồng tình với bọn thân Cộng? Hoặc giả quý vị cảm thấy… “khớp” trước những ký giả “lớn” có tên tuổi của ngoại quốc; nên bị… đớ lưỡi, cóng tay, không viết nên lời?! Còn tăm hơi của quý vị ký giả lão thành, những nhà bình luận, và những chính khách đã từng lừng-lẫy, dạn-dày trên trường văn trận bút đâu rồi? sao quý vị không lấy cái thành tích thảm sát tập thể Tết Mậu thân ở miền Trung có sự đồng ý và chỉ đạo của đám chóp bu VC, một bằng chứng còn ràng ràng ra đấy, cũng đủ để… “đập vào mặt” bọn chúng, chứ cần gì phải trích dẫn “những ý, những lời” bằng tiếng Tây tiếng U, cho ra vẻ thông thái như thường thấy làm chi cho mệt!!! Thật lạ lùng tôi cứ hỏi: vì sao? vì sao?

                        Sau nầy tôi lợm giọng khi thấy mấy ông “nhà báo” có sáng kiến là lập ra nhóm…“ ký giả ăn mày” nữa chứ! Đúng là vận nước suy tàn nên quỷ vương dậy! Một số khá đông trong nhóm nầy mặc áo rách rưới, cầm gậy ăn mày mặt tươi cười khoa trương thanh thế lắm mà; thế lúc trước không có một sáng kiến nào để phản-biện lại đám ký giả ngoại quốc thân Cộng sao? Chẳng lẽ Cộng Sản len lỏi vào báo giới mà đông đến thế à??? Ai cũng nhìn thấy quý vị đã góp một bàn tay xô chính quyền miền Nam sớm sụp đỗ đấy! Không biết khi đi "tù cải tạo", trong tờ tự kiểm quý vị có kể và khoe công trạng là: << dù sống và ăn cơm trong chề độ đó chứ… chúng em không hề làm gì có lợi cho chúng cả, dù một chút nhỏ nhoi; trái lại chúng em đã ngầm tham gia cách mạng như trong vụ…, trong vụ…>>

                        Viết đến đây, nếu anh linh của ông Tướng có đọc thấy và hỏi:
                        - “Thế thì lúc đó sao mi không viết ra, mà mãi đến bây giờ mới nói-thánh, nói-tuớng hử ?? ” Xin thưa lúc ấy tay chân tôi quen cầm cần lái, bóp cò, chứ đâu được cầm viết; hơn nữa nếu có viết chắc gì báo nào chịu đăng đâu. Ông!

                        Thật buồn, ngậm ngùi, và thấu hiểu nỗi cô đơn trong một dũng Tướng! Mãi đến gần đây khi ông lánh xa trần thế... mới thấy có một bài viết của nhà văn Phạm Phong Dinh với tựa: Một con Sói già cô đơn(?). Có muộn màng nhưng chắc ông ấm lòng vì có người hiểu ông! Tôi, một thuộc cấp KQ hàng hậu bối, xin đốt nén hương lòng tưởng nhớ đến ông, và thầm mong ông vẫn còn niềm tin yêu, và hãnh diện nơi hàng thuộc cấp KQ của ông. Xin nhấn mạnh chỉ hàng thuộc cấp KQ của ông thôi nhé!

                        3./ Ông Tướng Nguyễn huy Ánh:

                        Thực lòng mà nói tôi chỉ nghe lời khen hoặc sự thán phục của rất nhiều người, chứ tôi chưa hề nghe một lời nào than phiền hay chê bay ông Ánh cả! Những bình phẩm ấy với tính cách truyền khẩu rất nhiều, nghĩa là trong lúc chuyện trò với nhau, hể có việc gì dính líu đến ông Ánh, là họ khen ông nào là: đã làm như vậy… giải quyết như vậy…v.v…

                        Trong chương trình học Tham Mưu Trung Cấp KQ, học viên phải có 2 bài viết: một ngắn 1200 chữ, một dài 3000 chữ. Tôi có nghe một sĩ quan học viên có viết một bài mang tựa: "Ông Nguyễn Huy ÁNH, Nhà lãnh đạo tài ba"! Xin nói rõ đó là chữ “lãnh đạo”, chứ không là “chỉ huy” nha! Tôi không đọc bài đó, nhưng tôi tin chắc tác giả có đủ chứng cớ xác thực, lý lẽ hùng hồn, nhận xét sắc bén, mới dám viết một bài như thế trong lúc ông còn tại chức, và các chứng nhân cũng còn sờ sờ ra đấy!

                        Kính mong tác giả trên, tình cờ đọc qua đây, xin vui lòng phổ biến lại bài viết đó, và những vị khác hãy kể ra những nét đặc sắc mà quý vị biết về ông ÁNH, để cho mọi người thấy được đó là những tia hào quang của vì sao sáng chói nầy! Phần tôi còn nhớ như in ông có nước da ngâm ngâm đen, dáng người trung bình tầm thước, trầm tĩnh hấp dẫn và thu hút người nghe! Mắt một mí, nói chuyện với người lạ ông thường nhìn hơi nghiêng và hơi…. “nghinh” lên một tí! Bởi vậy lúc mới về Phi đoàn 211 (Thần Chuỳ) do ông làm Chỉ Huy Trưởng PĐ, tôi đùa, nói lén với mấy anh “Chuẩn Uý sữa” như tôi:
                        - Ông nầy mà đi ra đường, vô phòng trà, hay tiệm kem, mà nhìn người ta nghinh nghinh như vậy, là dễ có “oánh lộn” lắm nghe!!!...

                        -*** Ông thuộc hàng thiện xạ về súng Colt! Người ta nói ông lắm tài, mà thứ nào cũng bậc Sư cả! Nghe kể ông Phước (Nùng), tay thiện xạ đoạt giải Đông Nam Á(?) cũng phải nhìn nhận khi thấy ông Ánh dùng Colt bắn trúng đầu con chim cu, không phải chó ngáp phải ruồi à! vì tiếp theo là những lon bia, sữa bò cũng bị tung lên sau mổi phát súng, như thế mới được xác nhận là thiện xạ chứ!

                        -***-Vỏ nghệ thuộc hàng cao thủ, thượng thừa; cả bà Ánh cũng không phải tầm thường !(Lại ) nghe kể lúc trẻ (chắc lúc ông còn cấp Uý) hai ông bà vào hồ tắm Chi Lăng bên Gia Định, có mấy tên cao bồi chọc ghẹo, và ném nắp chai bia vào người, thật không ngờ với vóc dáng đào tơ liểu yếu, mà một mình bà đã ném 4, 5 tên du đảng xuống hồ tắm!!! Sau nầy khi ông làm KĐT ở Bình Thuỷ, sáng sớm hai ông bà đều ra sân Tennis tập kiểu vỏ gì... mà trông rất nhẹ nhàng như rồng bay phượng múa vậy! Trong một buổi biểu diễn võ thuật Đại Hàn và Judo, Vovinam… có anh TNĐ đã có đệ nhị đẳng huyền đai Tai- won- đo biểu diễn sao đó, mà nghe bà nói nhỏ, bình phẩm:
                        - Anh Đ có ham mê võ nghệ, nhưng mà thiếu căn cơ!

                        Còn ông, lúc còn làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn, cấm cờ bạc; mà mấy cha Sĩ quan và Hsq thường hay trốn vào phòng bỏ trống đánh bài, khi ông đứng chận cửa là không có... ma nào dám chạy ra trốn tránh cả!!! rồi sau ông có bắt nhân viên đơn vị chiều chiều ra học võ Thiếu Lâm do ông dạy nữa, cũng vui! Về sau (cũng) nghe ông cùng học chung hay được Đ/tá Chức (bên Pháo, Bộ binh) truyền lại môn võ gì, mà để mấy ngọn đèn cầy từ xa, đánh một phát hơi gió làm tắt phụt đèn, và ông để bàn tay trên thau nước vận công làm cho mặt nước chao lên, kiểu như “Đả ngưu cách không” trong truyện Kiếm Hiệp! Đó là những gì tôi nghe từ những người đứng đắn, đáng tin cậy kể lại nên tui cũng ghi ra cho chư vị biết thôi, chứ tôi không có cái may chứng kiến tận mắt, thì làm sao dám bảo đảm đúng 100% được, phải không?

                        ***Về bay bổng, ông Ánh đúng là bậc sư trong nghề Trực Thăng. Lúc xưa khi bay huấn luyện để nâng cấp cho các hoa tiêu trong Phi Đoàn, ông thường dợt và dạy cho đám pilot học trò làm auto nhiều kiểu lắm (xin giải thích cho quý vị khác ngành biết, auto là nói tắt chữ autorotation là tự động quay, nghĩa là coi như máy tắt, máy bay rớt, hoa tiêu khéo léo điều khiển máy bay dựa vào cánh quạt còn đang quay làm sao mà đáp được trên mặt đất an toàn) nên auto coi như "môn võ Trấn sơn" của dân Trực-thăng, ngón nghề ruột để phòng thân! Trong buổi họp PĐ hằng tuần ông thường nhắc nhở các anh em khi đi bay về, nên dợt làm auto vài cái, cho nó quen, cho nó nhuần nhuyển! Riêng ông hay dợt và làm cú auto như thế nầy: bay ở độ cao 500 600 feet (càng thấp càng khó) trên một miếng ruộng ô vuông, càng nhỏ càng tốt cho sự chính xác, đang bay cở 80 knots, giảm tốc độ lại còn 0=Zero knot ngay trên miếng đất nhỏ ấy, rồi cúp ga coi như máy tắt, nhanh nhẹn chúi đầu lấy tốc độ, rồi flare cho máy bay đứng lại và rớt ngay chóc trên thẻo ruộng nhỏ ấy là ăn tiền! Thiệt là... hết sẩy, khi máy bay nằm trong tay ông cứ êm ái nhẹ nhàng, dễ bảo như một cừu non! Nếu pilot mà lão luyện trong việc nầy; lúc đang bay độ cao vài ngàn bộ (hoặc cao hơn còn dễ, càng ngon nữa) trên một cánh rừng già, bị máy tắt, thì chỉ cần nhìn thấy một lỗ nhỏ nào đó, là pilot ấy có thể dư sức thảy lỗ, nghĩa là đưa máy bay vô cái lỗ đó dù có… “bót” một chút cũng chả sao, và vẫn sống hùng sống mạnh như thường!

                        Trên đây coi như những món… ăn chơi về ông mà thôi ! Chứ theo tôi đây mới là những… “ tinh anh lộ ra ngoài” của một vị Tướng! Từ lúc còn là KĐT ở Bình Thuỷ, tôi để ý nhận thấy ông Ánh thường giải quyết mọi chuyện dù nhỏ nhặt, đến nơi đến chốn.Theo lệ thường mỗi sáng ông thường chủ toạ một buổi họp tại Liên Đoàn tác chiến, sau khi nghe báo cáo tình hình thời tiết và quân báo, kế đến là một sĩ quan của một phi đoàn nào đó lên nói một đề tài (có lẽ tập cho sĩ quan quen ăn nói trước đám đông?) và sau đó đưa ra một biện pháp giải quyết, hay thắc mắc đều được ông giải đáp thoả đáng, hoặc chỉ thị cho phần sở liên hệ thi hành, và ông có theo dõi kiểm tra giám sát đàng hoàng.

                        -- Chỉ có ông mới là cấp chỉ huy đầu tiên hiểu và lo vấn đề cơm nước cho Trực Thăng. Các anh bay fixed wing thường xong một phi vụ là về nhà, hoặc đi câu lạc bộ ăn uống nghỉ ngơi. Còn hợp đoàn Trực thăng bay đổ quân hàng chục chiếc, có khi phải bay liên tục không nghỉ từ sáng đến chiều tối (hành quân trực thăng vận, diều hâu) làm gì có đủ xe để chở 4,5 chục mạng ra phố ăn cơm ; nên ông có sáng kiến: CLB hằng ngày phải lo cơm nước cho vào gà-men, đến trưa có một chiếc tàu mang cơm đến cho đoàn đổ quân.Việc ấy giúp cho anh em Trực Thăng khỏi phải cơm hàng cháo chợ thất thường, có thời gian ăn uống nghỉ ngơi!

                        - Sau khi kiểm tra và tính tóan, ông dám cam đoan, bảo đảm cung ứng đủ nhân viên đi hành quân, nên hằng tuần ông có cho 1 tàu chở nhân viên “OFF ” được về Saigon thăm nhà, cứ tuần tự thay phiên như vậy. Phải nói thẳng rằng ông là một cấp chỉ huy của KQ, thông cảm, có thấu hiểu đến việc làm của Trực thăng biết nuôi dưỡng và xử dụng quân!

                        - Quý anh em bay fixed wing ít khi có va chạm với bộ binh, ngoại trừ việc thả bom trật, hoặc lầm vào quân bạn là bị kiện cáo lôi thôi. chứ còn Trực-thăng làm việc chung đụng hằng ngày với quân bạn nên có… rất… rất nhiều cái phiền phức lắm, mà mấy "ông Bự" bên Bộ-binh coi Trực thăng như một công cụ chỉ biết “xài” mà thôi! Có vài vụ ông ÁNH khi hiểu rõ phải trái và phức tạp của vấn dề; dám đứng ra bảo vệ đàn em tận lực, để khỏi bị mấy Ông Gộc đưa ra toà án mặt trận!
                        Có một chuyện nho nhỏ mà tôi còn nhớ lúc ông còn là Trung Tá KĐT 74CT, có vài lời than phiền của dân Trực Thăng đến tai ông về việc phải bay ra sân vận động Cần Thơ nằm chờ, túc trực cho ông Tướng Vùng từ sáng đến chiều có khi không bay, mà phi hành đoàn cứ nằm ỳ trên tàu; đến trưa đi ăn mà vội vàng, cũng ngán sợ rũi ro ông Tư lệnh ra đi bay mà không có mặt ở đó, là kẹt lắm…
                        Một hôm cũng phi vụ như vậy, ông Ánh làm Trưởng phi cơ, còn tôi là Copilot, đem 1 UH ra sân vận động Cần Thơ nằm chờ, cỡ ½ giờ sau, ông Tướng Tư Lệnh Vùng ra, chúng tôi đứng nghiêm ở cửa máy bay chào ông Tướng, viên sĩ quan tuỳ viên nói nhỏ với ông Tướng là:
                        - Có ông KĐT /KQ đi bay hôm nay.
                        Ông Tướng chào lại, chỉ liếc mắt không nói gì và leo lên tàu, bay đến Cao Lãnh, ông Tướng lên xe đón đi, mà không nghe để lại lời nào cho phi hành đoàn biết phải chờ bao lâu, đến giờ nào! Chúng tôi lại nằm chờ hơn 2 giờ sau, mới chở ông Tướng bay về Cần Thơ!
                        Sau đó ông ÁNH kết luận:
                        - Ông nầy quan liêu quá!
                        Sau đó ông quyết định là: "khi nào Ông Tướng cần máy bay thì gọi xin theo thủ tục, lúc ấy PĐ mới cho thi thành phi vụ đó, chứ không có cái kiểu cung cấp một chiếc ra túc trực, ăn dầm nằm dề suốt ngày ngoài đó nữa"! Nhờ vậy mà tình trạng có "cải thiện" và được duyệt xét lại, và đó cũng là cái tiền đề mở đầu cho các Tư Lệnh Vùng khác có được biệt phái riêng một Trực Thăng hằng ngày và các bác tài Trực Thăng được cư xử, đối đãi… “phải quấy” hơn! Đó là vài điểm lặt vặt của ông Ánh, thoạt nghe tưởng chừng như rất tầm thường, nhưng đó lại là một đặc tính cần có của vị Tướng, không xa rời cách biệt mà vui khổ trong cái vui khổ của lính! Lối hành xử và việc làm của ông, thấy khác hẳn với mấy ông đã mang Sao rồi!

                        Mãi đến khi lên làm Sư Đoàn Trưởng, quân nhân mọi cấp từ thấp đến cao cũng không hề than phiền chê trách ông gì hết, mà chỉ nghe khen và khen với kính nể thôi! Tài năng và bản lãnh nắm một Sư Đoàn phải ra sao, mới được Mỹ tưởng thưởng một huy chương cao quý vào bậc nhất năm 1969 chứ! Tóm lại, nhìn lên nhìn xuống, nhìn ra nhìn vào, so sánh các vì sao ; tôi thấy Tướng Nguyễn huy Ánh sáng chói và đáng nể phục về tư cách , đức độ và tài năng hơn cả!

                        *** Đến đây, chắc quý huynh đệ cũng nóng lòng sao thấy tôi cứ lòng vòng hoài, còn.. “vụ Ông ÁNH... ngán tui” muốn chạy… làng sao đây?
                        Ờ... ờ... như vậy thì phải giáo đầu sơ vài hàng về chiếc máy bay H34 mới được, vì nó là chứng nhân và có liên hệ vụ nầy. So ra giữa H34 và UH, thì phải nói bay H34 nó mệt hơn và hay, dỡ ở cái tay ga! Cần tay ga nằm bên trái, và vặn lên xuống giống như xe gắn máy vậy. Nó được chỉ trên cái đồng hồ RPM, gồm có 2 kim chỉ: engine RPM và Rotor RPM. Khi bay lên, xuống, hoặc đáp, chở nặng phải điều chỉnh lia lịa, bằng cách vặn ga lên xuống, và đè cần hoặc nhấc lên, làm sao cho 2 kim RPM dính với nhau, và nằm ở mức ấn định, để khỏi bị over boost (hư máy) hay over speed (hư rotor). Cho nên khi pilot bay chung với nhau ; chỉ cần liếc nhìn vào cái đồng hồ nầy khi đáp, hoặc chở nặng khi cất cánh là biết ông pilot đó hay, dỡ liền hà ! Nghe thấy đơn giản vậy, mà cũng tức cười là có một đàn anh, khi bay bình phi không biết đang mơ màng, hay thả hồn thơ thẩn thế nào mà bị over boost (nghĩa là tay cứ nhè nhẹ nâng cần ga lên hoài, vượt quá manifold pressure [=torque bên UH] cho phép, mà không màng để ý đến kim engine tuột xuống) ….

                        Nhớ lại, tôi về trình diện PĐ 211 (H34) Thần Chuỳ đóng tại TSN, do ông Thiếu tá Ánh là Chỉ huy Trưởng PĐ. Mấy tháng sau tôi được ông Thầy Ánh bay huấn luyện, ông ngồi ghế trái, tôi ghế phải và vùng huấn luyện ở Phú Lâm! Sau hơn một giờ bay tập đáp, cất cánh, làm auto… v.v.. về đáp tại parking Heliport. Tắt máy bằng cách cúp ga, vặn tay ga về phía phải, đồng hồ RPM cho thấy 2 kim tách ra, kim engine RPM từ từ rớt xuống, máy nổ nhỏ ; còn kim Rotor Rpm cũng rớt xuống, cánh quạt quay chậm lại, cần hoà khí Mixture kéo về giữa vị trí Idle, chờ máy nổ về ở mức “ralenti” kéo mixture về “Off”, tắt diện là xong, cánh quạt còn trớn quay chậm... mặc kệ nó. Ngay lúc chờ máy về ralenti đó, ông ÁNH xách nón bay, leo ra cửa để xuống. Còn tôi ngồi đó làm thủ tục tắt máy như lệ thường. Tôi nóng ruột muốn cho máy về ralenti cho lẹ, thay vì vặn ga về phải một lần nữa; mà không biết “ông bà” , “ cô cậu” gì nhập, “hay bị... gì bắt”, tôi lại vặn ngược ga về trái, máy rú lên! Phải công nhận lẹ thiệt, nghe một cái rột, đã thấy ông Ánh ngồi yên vào ghế, Ông Thầy la:
                        - Cái gì vậy??
                        - Dạ, bị lộn mép!
                        - Đừng lộn vậy chớ!

                        Ổng lại leo xuống và tôi ngồi đó vừa tức cười vừa xấu hổ. Vào phi đoàn ông briefing những điểm còn non yếu trong lúc bay tập, chứ ông không đá động gì cái…"lần lộn" của tôi hết !Dẫu sao đó cũng là một kỷ niệm, tôi làm ông giật mình, và tôi nhớ mãi đến ông Thầy! Rồi lần bay huấn luyện tiếp theo, qua kinh nghiệm trên, chắc ông cũng còn… ngán tui, nên khi về đáp tắt máy, ông vẫn ngồi chờ máy hết nổ, rồi hai Thầy trò mới leo xuống khỏi máy bay! hi hi hi...
                        Và những lần bay huấn luyện sau đó, chắc ông cũng để tâm, coi chừng hơn vì ông cũng… ngán hành động “sảng”của tôi, không biết đâu mà lường trước được!
                        Đấy tôi có nói ngoa đâu! Đến đây... chắc có vài vị nói thầm trong bụn : bố khỉ đúng là nghịch (ngợm) nhỉ! làm ta cứ tưởng…!

                        Thay lời kết:

                        Thưa quý vị bạn đọc, qua bài viết khá dài thêm những “râu ria” vòng vo... nhưng tựu chung một mục đích là đến giờ đây chúng ta cần ghi lại, cần nói ra những sự thật đáng kính phục, về những người anh hùng, tài ba thật của dân quân miền Nam, để cho những thế hệ mai sau thấy và họ đừng lầm lẫn lạc vào mê hồn trận của bọn cộng sản đa ngôn xảo trá; đang dành lấy và cho rằng chỉ có họ mới giỏi, hay, đẹp mà thôi!

                        Tôi tin rằng anh linh của Tướng Ánh thấy được tấm lòng và thành ý trong sáng của tôi, sẽ mỉm cười tha thứ cho kẻ bất tài, dùng xảo thuật mượn danh của ông để lôi kéo sự chú ý của người khác, và tôi cũng tin rằng chư hiền huynh, hiền đệ đang mài dao định... “xẻ” tôi, vì tội dám lộng ngôn, phạm thượng uy danh của một vị Tướng khả kính; đến phút nầy cũng thấy hiểu ra và phì cười ném dao đi, thay vào đó cầm bút viết bổ túc những điểm kỳ tài của ông Ánh; mà quý huynh đệ đã gặp, thấy! Mong thay!
                        *

                        NGHỊCH_NHĨ
                        Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-31-2017, 01:12 AM.
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment

                        • Tinh Hoai Huong
                          Senior Member
                          • May 2009
                          • 1081

                          #207
                          “NƯỚC” Mất, thì “Đổi Đời"






                          “NƯỚC” Mất, thì “Đổi Đời"



                          Hội. Họp. Hành liên miên… Sau ngày đất nước "đổi đời" 30 tháng Tư... thì liên tục tại thôn Ấp, (nơi gia đình tôi đang trú ngụ), một tháng có ít nhất bốn ngày buộc dân phải đi họp Tổ, nếu không họp Tổ, thì đi họp Ấp: suốt từ năm 75 đến năm 93. Không đi thì lãnh thẹo á. Nhà nước không cấp phát phiếu mua dầu hôi, mua gạo, mỡ, đầu cá, đầu tôm ươn sình, đã đành. Mà dân còn bị phạt đi làm “công tác chùa" điạ phương không tiền công! Ai ai cũng sợ, ban ngày cùi cụi đi làm nông, làm vườn vất vả khó nhọc, ban đêm phải đi họp ở dưới thôn ấp mình, mỗi người mang theo một cái đòn, chiếc chẹ, hay đoạn chiếu cũ! Ai không có, rút dép mòn kê dưới mông, hay ngồi bệt xuống đất.

                          Phần tôi, do họ biết tôi có chút xíu "trí thức", nên mỗi lần bà Trưởng Ấp đi họp trên thành phố nhà Hồ, hoặc các miền "giao lưu văn hoá" khác, thì tôi phải lẽo đẽo đi theo bà, ngỏ hầu ghi chép khi họ "báo cáo", đi làm “công chùa” mút chỉ cà tha. Họ vắt cạn kiệt sức lao động con người như vắt miếng chanh hết nước. Hôm nay có "bàn hội nghị" tại thành Hồ, trước khi họp, cán bộ chính trị trịnh trọng dõng dạc hô:
                          - Toàn thể "rân" chúng đứng "nên", để tôn vinh tưởng "liệm" Bác:
                          Bác Hồ ta thật vẻ vang
                          Đang từ khỏe mạnh chuyển sang… từ trần
                          (2)

                          Sau đó từ từ họ chuyển tông sang:
                          Cùng vào lăng bác đi cầu
                          nguyện cho thân quyến vừa giàu vừa sang.
                          (2)
                          Sau đó nữa, cán bộ quơ tay ra dấu cho dân chúng lần lượt ngồi xuống, giải thích về việc bầu bán:
                          Ta đi bầu cử tự "ro"
                          Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm
                          (2)

                          Cán bộ chính trị trên thành phố xuống chủ trì (ngoài Bắc vô Nam) ông đứng dậy hân hoan vui vẻ trịnh trọng chống nạnh, nói:
                          - Hôm "lay" nhà "lước" ta nhiệt "niệt" chào mừng các đoàn đại biểu từ khắp "lơi", đến tham "rự" hội thảo: Trước hết tôi "rới" thiệu:

                          1.- “Đoàn Việt "Lam" (Nam) ” có rân tộc Thiểu số trên Cao Nguyên vùng sâu vùng xa về:
                          Lò Văn Tôn.
                          Cú Có Đeo.
                          Lừa Song Phắn
                          Nông Đức Đai
                          Bạc Cầm Cu

                          2.- Đại biểu Cộng Hoà Rân Chủ nhân rân Nào (Lào):
                          Tay Xỏ Mông Thum Thủm
                          Vay Vay Hẳn Xin Xin Hẳn.
                          Hắc Lào Mông Chi Chít.

                          Xăm Thủng Kêu Van Hỏng.
                          Teo Hẳn Mông Bên Phải.
                          Ngồi Xổm To Hơn Hẳn.
                          Đang ị Lăn Ra Ngủ.

                          Lông Chim Xoăn Xoăn Tít.
                          Say Xỉn Xông Dzô Hãm.
                          Ôm Phản Lao Ra Biển.
                          Cu Dẻo Thôi Xong Hẳn.

                          Cai Hẳn Thôi Không Đẻ.
                          Xà lỏn dây thun giãn.
                          Xà Lỏn Dây Thun Lỏng
                          Y Hẳn Tay Xin Đểu.

                          Leo Tủ Ăn Đu Đủ
                          Ăn Tỏi Xong Bum Bủm

                          3.- Đại Hàn Rân Cuốc (Xẻng):
                          Chim Sưng U.
                          Nâng Su Chieng.
                          Kim Đâm Chim.

                          Pắt Song Híp.
                          Chơi Xong Dông.
                          Eo Chang Hy (y chang heo).

                          4.- Nhật Bản:
                          Xa Ku Ta ra.
                          Ta Cho Ku Ra.
                          Cu ta ta xoa.

                          5.- Niên Bang Xô Viết :
                          Cu Nhét Xốp.
                          Cu Dơ Nhét xốp.
                          Nicolai Nhai Quai Dep.
                          Ivan Cu To Nhu Phich.

                          Trai Cop Xờ Ti.
                          Mooc Cu Ra Đốp.
                          Ivan Xach Xô Vôi.

                          6.- Ncraina:
                          Nâng Cu Lên Cô.

                          7.- Rumany:
                          Lo Nhet Cu.
                          Lôi Cu Ra Đốp.

                          8.- Trung Quốc:
                          Bành Tử Cung.
                          Quách Vô Hòm
                          Đại Cường Dương.

                          9.- Đài Noan (Loan):
                          Kim Xuyên Quần.
                          Hà Ra Kinh.
                          . . .

                          Một lần khác tôi và bà Mừng đi họp tại huyện Củ Chi: sinh hoạt, bầu bán, đả thông tư tưởng, quán triệt đường lối, thi đua, nâng cao sản xuất. Đảng lãnh đạo. Nhà nước quản lý. Nhân dân làm chủ... Kho Bạc thì... "nhà lước ta phải quản ný" mệt nghỉ! Ngoài trưởng, phó, thư ký, an ninh, công an khu vực ra, họ có ghế ngồi chung quanh một cái bàn và ghế dài cũ. Hầu như hôm nào cũng có vài ba cán bộ ngồi kiểu nước lụt, chò hỏ như con khỉ đánh đu, họ co một chân trên ghế, thờ ơ bỏ báng súng xuống bàn, tôi tưởng hắn đang chiả súng tới đám đông làm một phát “đùng”.... mà lạnh cả gáy! Có “vị” vừa nói vừa ngồm ngoàm nhai bánh mì nhồi thịt, uống nước ừng ực, cũng bàn tay ấy giơ lên hỉ mũi rột rột, rồi lau vô vạt áo. Coi “vô tư”, “nịch xự” và "bình rân ráo rục" sao đâu á!

                          Bỗng nhiên, chẳng hiểu có ông bô bà lão, cô bác già nua bệnh tật nào mà "mất lết", mất na, mất danh, hoặc mất trí; vị ấy đã bị lỏng ruột già, yếu ruột non chi chi đó, nên vị ấy đau bụng đau bão, cố ôm bụng nhịn cơn xì té khói... mà không thể. Ui! không thể chống chọi với “cơn bão lòng”, đã “tịt… ti… xit…” ra một tràng rõ dài và rõ to: bũm bũm bũm... xịt xịt xì.... dài dài dài… (nghe như củ cà nông đại pháo, thời mấy ông Tây bà đầm xí xô dắt nhau ỏng ẹo tràn qua nước ta). Tiếng bũm... xịt... bay theo gió nồm rõ to, và trời quơi! ren mờ thối um! Khiến cả hội trường bịt mũi, phải “tốc hành” xô nhau giạt qua một bên, né sang hướng không “cuốn theo chiều gió”.

                          Mặc ông trên bàn chủ toạ rống tên các “vĩ nhân” thao thao bất tuyệt ra. Dân ngồi bệt dưới đất ôm bụng cười bò lăn bò càng. Họ bưng mồm, bịt miệng đồng thanh cười ầm, xôn xao náo loạn. Cán bộ chính trị đang thao thao bất tuyệt, đã dừng lại, im phắc, lỏ mắt, tức giận giơ nắm đấm đập mấy phát xuống bàn, quát:

                          - Ai đã “đánh rắm”, nghe hãi thế hở???
                          Hội trường nín khe im re, cũng có sợ bị cán bộ quở, hoặc bắt phạt đi lao động đó. Cán bộ chính trị mặt vẫn đỏ gay, hắn là một cây sừng sỏ có nhiều tham vọng, tuy cà lơ phất phơ, nhưng hắn cần đánh bóng cuộc đời, bất chấp tất cả để đạt đến mục đích, hắn muốn hành động một tay che trời. Đầu trên thôn dưới ai mà chả biết hắn chỉ là thùng rỗng kêu to, mặt mũi sĩ diện nào ngồi chung với chúng tôi, như thế chẳng khác chi lòi cái đuôi ngu dốt, làm sao mà trị dân! Nói trắng ra là con đường tiến thân của hắn bước dần vào ngỏ cụt đang cố trườn lên. Hắn xỉ xỉ ngón tay vô đám đông:
                          - Tôi hỏi "nại": Tôi đang "riảng" về "ný" thuyết ưu việt của Bác và Đảng. Thế tại sao... ai đã "rùng" thủ thuật đấy để phản đối, hử! Cút xéo khỏi đây ngay!
                          Nhiều tiếng xì xầm to nhỏ bàn tán vang lên đó đây. Cuối cùng có một bà chính cống là “nhà giáo, nhà nhạc, nhà văn, nhà buôn, nhà cái, nhà đá, nhà giam, nhà hát, nhà giao lưu dzăn hoá” Toàn là thứ NHÀ, nghe oai và thứ dữ không hà. Bà ngoại tuần khoảng năm "mưi" mấy bó… bà đang xiả cục thuốc, chà qua chà lại lia lịa trên hai hàm răng, rồi bà nhéc bên kẽ môi trên. Khi bà ta nói thì cục thuốc to nhấp nhô, coi hay hay và ngộ ghê:
                          - Tui hỏi chút xi: cán bộ giảng về bài học cách mạng, và hỏi: ai đã “đánh rắm”... là cái điều luật thứ mấy của đảng dzậy?
                          - . . .
                          - Chị kia bảo "rì" đấy nhỉ!
                          - Bởi vì: Thiệt tình là ngôn ngữ hai miền khác nhau, tui không hiểu gì á cán bộ. Giống như những ví dụ sau đây nè:
                          Nam rờ bông Bụp. Bắc vuốt “Tường Vy”
                          Nam nói: “mày đi”! Bắc hô: cút xéo.
                          Bắc bảo: cứ véo! Nam: “ngắt” nó đi.
                          Bắc gửi phong bì. “Bao thơ” Nam gói

                          Nam kêu: muốn ói. Bắc bảo: “buồn nôn”!
                          Bắc gọi tiền đồn. Nam kêu “chòi gác”
                          Bắc hay khoác lác. Nam bảo “xạo ke”
                          Mưa đến Nam “che”. Gió ngang Bắc chắn

                          Bắc khen giỏi mắng. Nam nói “chưởi hay”.
                          Bắc nấu thịt cầy. Nam thui “thịt chó”.
                          Bắc vén búi tó. Nam “bới tóc” lên
                          Anh Cả Bắc quên. Anh “Hai” Nam “lú”
                          (3)

                          Cán bộ chính trị ớ ra một lúc, ngẩn ngơ nhìn trời hiu quạnh, rồi la:
                          - Chị kia, cố tình trêu ngươi tôi đấy phỏng?
                          - Ông ui. Tui không hiểu nữa rùi, ông nói: “đánh rắm" dzà "trêu ngươi” là gì?

                          Cán bộ mặt đỏ tía tai hầm hầm tức giận đến cực... điểm, hai bàn tay xoắn xuýt lấy nhau, hắn vụt đứng bật dậy đi lui đi tới. Trong khi đó có một cán bộ khác đang ngồi chò hỏ kiểu nước lụt, ông ta chống hai tay lên cằm, ngó bạn cười ha ha:
                          - Dân miền Nam như chúng tui không hiểu chữ “đánh dắm” của đồng chí đâu. Nếu đồng chí nói là: “địt”, thì họ hiểu, biết ngay.
                          - Có "rì" mà chả đả thông tư tưởng hở: “Đánh dắm” hay "nà đánh rắm”... thì có nghĩa: muốn khỏi uất sình hơi trong ruột, trong bụng, ta cứ để cho nó tự "ro", cho hơi trong ruột hân hoan thoát ra "nỗ" đít, bay ra ngoài trời “thái mái”. Có thế mà không hiểu. Dốt thật!
                          Một ông lão “lao động là vinh quang” nông dân bấy giờ ngà ngà say, cóc sợ ai, ông ngồi bệt dưới đất, bèn thong thả lên tiếng:
                          - Dzậy chớ còn chữ “trêu ngươi” là gì, cán bộ nói đi, cho tui học nữa, cho dzui.
                          - Trêu ngươi tức "nà": cố ý chọc tức, không kiêng nể "rì", khi tôi đang "rảng" bài, và “đả thông tư tưởng” đấy. Hiểu ra chưa. Cố tình chưa hiểu, "nà" chống đối cách mạng đấy. Ông bảo cho mà "niệu" thân nhá.

                          Bà già xồn xồn giáo sư Văn kia trở thế ngồi cho ngay ngắn, bây giờ bà lại khúc khích "cừi cừi":
                          - Bởi “dzì” cán bộ nói không “gõ gàng”, nên tui có thắc mắc xi. Chèn quơi, chừ hiểu rùi, đồng chí!
                          - Ai là đồng chí với bà, mà "nải" nhải.
                          - Ồ... xin lỗi cán bộ, tui già cả ưa “guên”! Dzậy ra tui là đồng rận! thì:
                          . . . Bắc nói trổng thế thôi. Nam bâng quơ “dzậy đó”
                          Bắc đan cái rọ. Nam làm “giỏ tre”.
                          Nam không nghe “nói dai”. Bắc chẳng mê lải nhải
                          Nam “cãi bai bải”. Bắc lý sự ào ào
                          Bắc vào Ô tô. Nam vô “xế hộp”
                          Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam “đạp thắng”
                          (1)

                          Một cán bộ miền Nam khác ghé tai qua cán bộ chính trị miền Bắc “cừi cừi”:
                          - Bà kia là một “giáo sư dzăn-chương”, bả đã đi dạy trên Sè Gòn, nên xổ cả chùm nho, chùm thơ, bả dám đấu hót "dzới" cán bộ, chẳng “goa” là có chồng làm khá lớn, con thuộc "dzề" tầng lớp liệt sĩ trong Nam, rất có công "dzới" cách mạng đó.

                          Cán bộ chính trị dịu giọng, liền lãng qua chuyện vẩn vơ khác cái rụp. Thế là vô tình buổi họp biến thành buổi đối đáp thơ tiếu lâm, vui ơi là vui “hả hê” nhất từ xưa tới nay. Ai ai cũng có nhen nhúm chút xí hân hoan khoan khoái cởi mở tấc lòng. Tôi ngồi bệt dưới đất gục mặt lên hai đầu gối nhô cao mà nực cười, nhìn một cánh tay liệt của cán bộ Mưu luôn đong đưa, lúc lắc, thân hình y nghiêng nghiêng qua một bên, ông ta lê từng bước cứng cỏi, nặng nề. Đi lui đi tới, ổng mang không vừa đôi dép râu nhỏ hơn khổ chân, nên ngón út ương bướng chìa ra ngoài, cọ quẹt xuống đất, trông dễ gai hết sức. Tôi nhìn lom lom vào ngón chân út “giao liên” xuống đất của ổng, ngón chân chìa ra chả khác nào lưỡi cày bấm sâu xuống nông trường Nhị Xuân, nơi vắt cạn kiệt sức lực người dân đen đến giọt mồ hôi cuối cùng. Trong tranh tối tranh sáng, khi tiếng ếch nhái, ễnh ương tưng bừng kêu ộp oạp, uồm uộm… tiếng dế gáy ré ré, tiếng ve sầu rã rích than van, tiếng muỗi vo ve đốt sưng đít, dân mất của mất công, mất tất cả mọi thứ trên cuộc đời ô trọc, mà phải ngồi xổm xép de dưới đất tới hơn 12 giờ khuya, nhìn lên:
                          Hội trường yên ắng ngủ say
                          Thuyết trình vừa dứt, vỗ tay ra về.
                          (2)
                          * * *

                          Bằng hai bàn tay thô cứng, dân vét rạch, đào kinh, dẫn thủy nhập điền, trồng thơm, trồng mía, trồng ngô, khoai, trồng dưa leo, bí bầu… Ôi! Đủ thứ trồng trồng… trọt trọt… hầm bà làng xí cấu.
                          Hoan hô các cụ trồng cây
                          Mười cây chết chín, một cây gật gù
                          Tụi bay có mắt như mù
                          Mười cây chết cả, gật gù nỗi chi…
                          (mà thi hành). (2)

                          Thì, một năm nhà nước sẽ ưu ái bán cho mỗi hộ dân hưởng đặc quyền: Mua ít bánh mứt tẻo teo, gạo mắm, tí đầu cá, đầu tôm, xà bong, bột ngọt. Nhất là mỗi hộ chỉ có vài mét vải hoa hoè, hai mét vải dù quần đen (mà đàn bà rất cần) cho cả gia đình. Mẹ già héo hắt đi mót lúa ở ngoài đồng, cần có cái che đít che húm... cho đỡ xấu hổ. Tôi ở nhà đôi mắt mờ lệ, hai tay mỏi nhừ đang giặt bọc, hai chân đau nhức đạp bọc ni lông. Tôi chỉ mặc “cái khố xì xịp líp”. Nếu có ai lạ bất thần vào nhà, nhà không có cửa khóa then gài, thì tôi vội vàng bụm húm lại, cười ruồi! Các con trai lớn tồng ngồng cũng trần truồng như nhộng. Khỏi mặc quần, nước dơ bám vô, quần áo mỗi người chỉ có hai bộ, mặc bộ nầy giặt quần áo chưa khô, lại thay và mau rách sẽ hoài phí đi.

                          Ở ngoài vòng tù ngục bao la thì như thế. Bên trong vòng kẽm gai với hầm hố và cornex, thì những bạn tù của chồng, và chồng mình đớn đau cơ cực gục đầu trên gối bó cao: Dù đói khổ nhọc nhằn đến vậy, mà tôi vẫn nghe con trai ngồi một góc, ôm cây đờn guitar khảy những điệu nhạc cuả chú bác ở trong trại tù “cải tạo” tập trung, hờn đau buồn thảm, nghe thật não nề.

                          Có những lúc ngó sâu trong thinh lặng
                          Thấy quê hương vẫy gọi từ trùng xa
                          Ôi thân trai! Ôi nợ nước tình nhà!
                          Sao cúi mặt loanh quanh đời cơm áo?

                          Có những lúc đắm chìm trong áo não
                          Sống một đời vô dụng, kẻ tha hương
                          Nửa đã qua, nửa còn lại chán chường
                          Như cát bụi đang chờ ngày hóa kiếp!
                          (TPKW)
                          * **

                          Tệ Trạng Xã Hội: thời 75 > 93, tôi trở thành tội-đồ ô-danh nhất chế-độ, chỉ vì tội: “con vợ-ngụy” hồi xưa giàu có sang trọng, có xe hơi Peugeot 404 láng cón mới toanh, có nhà ba tầng lầu đúc bê tông cốt sắt sâu 40m rộng 5m, nền lót gạch bông loại đắt tiền, trong nhà trang hoàng tươm tất nhưng trang nhã và thanh lịch, không rườm rà kiểu cách. Bởi ngày xưa do tự bốn bàn tay siêng năng & thanh liêm (tôi và chồng), dù chỉ có bốn bàn tay cần cù chăm chỉ, mà tạo thành cơ ngơi sáng giá, có vốn liếng dành dụm làm thiệt ăn thiệt.

                          Ngày nay “giải phóng” tự do hòa bình rồi, tôi (và 4 con, cộng 1 mẹ chồng già, vị chi có sáu cái đầu, 12 bàn tay, 12 bàn chân) hết sức “lao động là vinh quang” làm lụng vất vã, khổ cực hết biết! Sáu người đông đúc thế mà... không thể có cái ăn, cái mặc cho ra hồn; Chúng tôi nỡ lòng nào bêu rếu chế độ, vì đói khát rách rưới tả tơi, luộm thuộm thảm thê. Thiệt là mắc cỡ cho chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ cộng hòa! để nhà nước giải phóng dân phải cho đứng xếp hàng chầu chực suốt ngày mà mua:
                          Một năm hai thước vải thô.
                          Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra.
                          May quần thì hở lá đa.

                          Chị em thiếu vải hóa ra lõa lồ.
                          Vội đem cất ảnh bác Hồ.
                          Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm.
                          Có áo mà chẳng có quần.

                          Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
                          Có đói mà chẳng có no.
                          Lấy gì độc lập, tự do hỡi người?
                          (2)

                          Không ai thân thiết ngọt ngào hơn ba tấm mền bao cát của Mỹ ra đi đã để lại cho gia đình tôi dùng chống lạnh mỗi độ đông qua xuân về! Dáng xuân phơi phới vô tình dày xéo lên tâm tư tôi những bất mãn, chua xót và ước mong. Tôi không dám tin ai, không dám hy vọng, không thể dựa vào đâu để sống lê lết qua chuỗi ngày đói rét cơ cực còn lại. Tôi thấp thỏm lo âu, trông ngóng từng giờ phút, từng ngày... sẽ có một tin lành đến. Hằng đêm tôi quỳ dưới đất, chấp tay cầu mong những người đã vượt thoát ra đi ở bên kia bờ đại tây dương, hãy mau mau quay về... cứu cánh, hãy giải phóng quê hương, và chính chúng tôi thoát khỏi cảnh đời cay cực, lầm than khổ sở, vô vàn điêu đứng. Dẫu niềm hy vọng mơ hồ quá mong manh và tê tái...
                          “Qua cầu ngả nón trong cầu.
                          Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu”.
                          (2)

                          Mạng lưới y tế vệ sinh ở Quận, Huyện, Thôn, Xã, Ấp: (sát nách thuộc thành phố Hồ Chí Minh) nơi gần thành thị mà còn tệ như thế, chứ chả phải nơi vùng quê xa xa, hầu như càng thấp kém, xuống thấp trầm trọng. Trong khu xóm đã phát sinh ra bệnh dịch tả, sốt rét, ho lao, bệnh xã hội lây lan phát triển nhanh chóng. Dân đến bệnh viện nhăn nhúm rên siết đứng ngồi la liệt. Thiếu bác sĩ trầm trọng, dù họ làm việc tối mặt tối mày, vẫn không có giờ nghỉ ngơi. Gia đình bệnh nhân theo toa bác sĩ phải mua thuốc ở ngoài vào, vẫn khó khăn. Hầu hết các nơi không có thuốc kháng sinh. Tại các phòng trên thành phố ở Chợ Lớn, người Hoa chân chất thật thà, mà nè… họ ăn ngay nói thẳng, thẳng như ruột ngựa, họ xí xa xí xô khua tay “múa... mỏ” phản ứng bộc trực. Dân nói dân nghe, cán bộ học lóm chữ “tô chè” thản nhiên coi như pha, chứ có ai hiểu mô tê răn rứa chi tề.

                          Bệnh viện miền quê cũng thế, mỗi cái gường chiếc có tới bốn người, kẻ nằm xuôi, người nằm ngược, “con bệnh” lây lan từ người nầy sang người khác vụt nhanh. Muốn khám bệnh, tôi phải viết tờ đơn trình Tổ-trưởng ký, rồi chuyển lên chờ Trưởng Ấp là bà Mừng già khoảng 65t chờ đợi một hai ngày bà "quan liêu" mới ký. Tôi lại đi bộ lên Huyện Hóc Môn đứng xếp hàng, chờ xin xác nhận chữ ký của “Tổ và Ấp”. Sau đó tôi chạy qua bệnh viện xếp hàng, chờ nộp tờ đơn có đầy đủ ba nơi ấn ký. Đau ốm liệt giường cũng trải phải qua thủ tục quá rườm rà, phức tạp trên. Nếu phải chờ đợi ba bốn ngày khi bệnh nhân đang ngáp ngáp, cũng chịu! (có khi cả tuần kẹt rơi vào mấy ngày Tết, lễ, thì ôi thôi...) mới có giấy chuyển cho đi trình “cửa quan”. Nếu không có bất cứ đơn từ, hộ khẩu, giấy chứng nhận của các cơ quan trên, nhất là giấy chứng nhận tôi đã đi bầu cử, giấy tôi lao động tốt, không có “thủ tục đầu tiên” đóng đầy đủ. Thì, đừng hòng mà vô bệnh viện.

                          Tôi có chết, cứ coi như con chó chết ngoài “diện và tuyến” của họ. Người nghèo tất nhiên giống hàng chó ngựa mà thôi. Cũng phải! Chó ngựa, nên mẹ đi nuôi con đau ốm ở bệnh xá phải nằm ở dưới đất sát bô cứt đái, cạnh ống nhổ toàn đờm và máu. Không thiếu gì bệnh nhân, sản phụ bị lây bệnh trầm uất hậu sản. Sự hèn kém, nhọc nhằn, đói khát, đau yếu đến rất vội với những mái đầu bạc nhanh trước thời gian. “Lương y như tử mau”. Thời gian đầu của 75 – 85: Dù đã 10 năm rồi mà đâu vẫn hoàn đấy! Đó là nét kinh dị vô cùng của y sĩ cắt ké ở Thành và Huyện, “bác xỉ” có tuổi đảng từ miền Bắc “tha” vào Nam; không qua kinh nghiệm đào tạo ở một ngành chuyên môn nào sớt. Con cút muốn vỗ cánh bay lên đọt cây làm con phượng hoàng mà! Cho nên có không ít người dân ngu khu đen vùn vụt đâm đầu lao xuống âm tào địa phủ oan mạng!
                          * * *

                          Do:
                          CÁI HỘ khẩu bày, CỐ HẠI dân.
                          HỘ KHẨU từ nay HẬU KHỔ dần.
                          HỠI HỒ chủ tặc, khi HỒ HỞI.
                          ÐỘNG CƠ bốc lột ÐỢ CÔNG nhân.

                          CÁN MẠCH nhân quyền, nào CÁCH MẠNG.
                          CHỈ TRÙ dân tộc, CHỦ TRÌ bàn.
                          THƯỢNG THỜI bán nước, ngay THỜI THƯỢNG.
                          CHẤT LƯỢNG bạo quyền, CHƯỚNG LẬT gian.

                          - Hành chính & quản lý - trong đó có:

                          - Đổi tiền lần thứ nhất: ngày 2/9/1975- là đổi tiền của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ra tiền xu của bác Hồ. Chiếu theo đó đến ngày 22 tháng 9 năm 1975: thì tiền Việt Nam Cộng Hòa 50$ bị cấm lưu hành, phải đổi sang tiền xã hội chủ nghĩa. Tiền mới có giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu. = 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng.

                          - Sau ngày 21-3-1978, một số lớn cán bộ ập vô từng nhà lục soát, kiểm kê từng món, từng hiện vật, qúy vật, kiểm kê toàn bộ tài sản tư sản mại bản ở miền Nam, lục lạo mọi ngỏ ngách, không sót chỗ nào.

                          Đổi tiền lần thứ nhì: ngày 3/5/1978.- Sài Gòn - Chợ Lớn đầy những ông bà tai to mặt bự giàu kếch xù ngày trước, chộn rộn, bồn chồn, lo lắng, run sợ như cầy sấy. Không chỉ những nhà giàu mới run rẩy, mà cả cả nước đều rúng động. Chả biết ngày nào đến lượt ta bị “các ông bác” dòm đây? “Ông bác X” bặm trợn ở thời buổi nầy to bự hơn ông Nghè ông Tỉnh ưa rình mò nghe lỏm chuyện tư gia người khác, rồi tinh ranh ma mãnh một mạch xồng xộc vô cửa sau ra cửa trước, hoạnh hoẹ giở từng cái nồi, coi nhà ai có nấu rẽo bầu, nhóm bí rợ với nồi bo bo độn ba phần sắn kí cóp bòn nhặt không, có mẫu gạo tẻo teo nào không.

                          Thấy mà phát bực vì những xính vính cơ cùng đổi thay thật chán chường thân phận xã hội chủ nghĩa. Tôi chỉ muốn chết dúi ở xó góc tồi tàn cho xong kiếp người! “Bác” vếu váo xì xào ngồi lê đôi mách dòm ngó kẻ khác đang xính vính, bác mới hả cơn giận thù nghịch nguồn cội thấp cao ở hai miền Nam Bắc phân tranh thê thiết bao năm. Hãi hùng vì những chính kiến thù hận nguồn gốc ông cha dội ngược vào lòng tôi, mà ai ai cũng im thin thít. Dân miền Nam có xí của cải cất dú đi đâu cho thoát khỏi những đôi mắt cú vọ. Hở Trời? Từng cơn đau và nỗi sợ hãi dày vò từ người nầy lan nhanh qua người kia, nhưng ai nấy đều câm như hến, không dám kêu rêu nửa lời. Dù đảng và nhà nước chẳng hề mất một viên đạn nào, chả thèm bắn phát súng thị oai nào, thế sao mình vẫn run như cầy sấy!?

                          - Đổi tiền lần thứ ba: ngày 4/9/1985 - với hối xuất 1 đồng mới = ăn từ 1 đến 10 đồng cũ, (tùy theo trương mục tiết kiệm), mỗi gia đình chỉ được đổi 2.000 đồng, còn lại bao nhiêu phải nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xét. Úi Trời ơi! Có biết bao nhiêu người mất trắng tay, họ đã tự tử bằng độc dược, chết toi cả! Người ta càng rùng rợn hơn là thấy nhà giàu mất tất cả, họ nổi khùng nổi điên, dám “can đảm” (oai hùng hơn những anh lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hoà). Vì sao hơn? Dạ thưa... vì họ chẳng cần mang dù mang dây chi hết, họ cứ nhảy đại xuống đất ạ. Họ nhảy từ trên cao ốc cả chục tầng xuống đất, bể đầu nhăn răng trợn mắt hộc máu chết tươi. Không biết thuở trước đám dân đen nầy có đi lính Nhảy Dù không cà? Mà họ bạo gan bạo phổi “yên hùng” quá sá chừng! Tôi bái phục dập đầu xuống đất mà cung kính nghiêng mình chào những vị anh hùng chân đất khả kính!

                          Tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh một người đàn ông treo tòn ten trên cột điện cao thế, ông đang thủ-thỉ thù-thì lảm nhảm với ai đó. Ui cha! Chắc chắn là ông ta bị điên, khi thằng con ngu dại đã trèo lên lấy cắp dây điện đem đi bán, nó đã bị điện giật chết toi, mà ông không thấy, không sợ, không chừa sao? Ông đã già khú đế lại bắt chước trai trẻ làm chi, ông trèo lên đấy phân bua với mọi người về sự sống còn của một thể xác vô hồn, trí óc ngớ ngẩn. Hay là ông ta muốn chia sẻ nỗi đau... tiu nghĩu ngượng nghịu của bà con cô chú ở dưới đất? Họ đang nhìn lên hai chân teo tóp trong ống quần xà lõn tuột tới đì, ở dưới "dòm lên" họ cũng chả thấy cái tóp teo chi chi mô!

                          Vậy mà khiến cho không chỉ những người giàu có lo sợ và cả những thôn xóm ấp làng xã... đều rúng động. Chả biết ngày nào đến lượt ta bị “các ông bác” sẽ có lần "dòm" đây? Ai có xí của cải thì trong bụng đánh lô tô, mắt dòm chừng ra cửa, chờ khi có ánh trăng thượng huyền, thì cất dấu thu dú vô nơi kín đáo, cầu mong sao thoát khỏi những đôi mắt cú vọ. Hở Trời? Người ta tụm trăm tụm ngàn, bàn tán xôn xao về thảm trạng tự vận:
                          - Coi ổng khờ câm à. Vậy mà cháy nhà mới lòi ra mặt chuột.
                          - Giàu xụ ha.
                          - Mất hết, tiếc của hùi hụi, ổng nhảy lầu là phải!

                          Không có tài chính, thì dân chẳng thể làm kinh tế, cồn cào đói khát triền miên không cục cựa nhúc nhích, lo cho cái dạ dày réo gọi triền miên chưa xong, lấy đâu ra sức mà làm đầu tàu phản đối hoặc làm cách mạng "phẻn động" nhà nước nỗi. Ngu gì! Do vậy chẳng ai có thể làm nên xơ múi, cho dù muốn làm cuộc cách mạng, muốn đi “lập nghiệp ở phương trời” cũng đành thua! Hầu bao cuống rún ruột tượng chả còn, thì kinh tế như chuỗi dây chuyền kéo guồng máy xã hội chủ nghĩa ngày càng xuống thấp. Dù có những bảng hiệu mọc lên nghe rất kêu, hấp dẫn vừa thành hình như:
                          - Colusa = (Công ty lương thực HCM).
                          -Cotevina = (Công ty tem VN).
                          - Yteco = (Công ty y khoa, y tế).
                          - Hovila, Hovilo... v.v…
                          * *

                          Thế nhưng mọi thứ "bảng hiệu danh giá cao quý" dần dần cũng xụm bà chè. Việc bắt dân lao động, đóng góp sức lực và tiền bạc, là đưa dân lên “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Mà, một nhóm “bình dân giáo dục” ở trên Sài Gòn, dám rù rì… chuyền tai nhau láo pháo về 4 chữ "Xã Hội Chủ Nghĩa" ấy, bằng các chữ viết hoa đầu câu “dệt” sau:
                          1.- X H C N = Xạo Hết Chỗ Nói.
                          2.- X H C N = Xuống Hố Cả Nước.
                          3.- X H C N = Xuống Hàng Chó Ngựa.
                          4.- X H C N = Xiết Họng Công Nghiệp.
                          5.- X H C N = Xe Hư Chẳng Nổ.
                          6.- X H C N = Xế Hư Cứ Nằm.
                          7.- X H C N = Xe Hết Chỗ Ngồi.
                          8.- X H C N = Xếp Hàng Cả Ngày.
                          9.- X H C N = Xấu Hết Chỗ Nói.
                          10.- X H C N = Xoá Hết Chữ Nghĩa.
                          11.- X H C N = Xâu Hổng Cho Nghỉ.
                          12.- X H C N = Xét Hỏi Con Người.
                          13.- X H C N = Xã Hội Chó Ngựa...

                          Trong khu xóm A, B, và C của tôi thuộc Huyện Hóc Môn: có chừng ngàn căn nhà gia binh hồi xưa, nay đã bỏ hoang. Hồi trước khu trại lính nầy thuộc Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo, phồn vinh, sầm uất vui vẻ, ồn ào không khác gì một thị tứ nhỏ. Nay đa số vợ con lính đều bỏ đi hết, lớp thì về quê móc đất móc đai làm vườn làm ruộng, lớp lo đi kinh tế mới. Bây giờ tại khu xóm này rải rác còn độ hai mươi mấy gia đình “bá vơ tứ cố thân và vô phương” ở mọi nơi, họ đã tập họp tại trại gia binh bỏ hoang trống trước trống sau. Không thiếu gì người đi hôi của, giở tôn xi măng, giở cửa, đập tường lấy táp lô về làm của riêng. Ai có vợ chồng con cái lớn đầy đủ, và có tiền, thì còn làm cửa làm phên, ngăn che căn nhà cho bớt trống trải. Những căn nhà kê ra thành một vòng đai từ hướng Đông, Nam, Tây, Bắc.

                          Tuy nhiên trong số dân giả bần cùng kia, có gài lọt vô hai gia đình xem ra đó là thành phần “trí thức và công nhân viên” ở chế độ mới, họ ở đâu được chuyển tới để làm tổ trưởng, tổ phó an ninh của khu vực nầy! Tuy cả hai gia đình ấy cộng lại đếm không đủ trên mười đầu ngón tay, nhưng ai ai cũng khiếp! Đó là gia đình ông bà Hai Bé, và ông bà Tư An. Chồng đi làm vợ ở nhà trông chừng con và dòm chừng dân ngu khu đen! Hai đại gia giàu xụ và nghề nghiệp của họ trong khu xóm nhỏ bé nầy: Dòm ngó bọn trẻ thất học chiếm 87% tỷ số. Đàn ông đàn bà dân đen ăn không ngồi rồi chiếm 94% nên khu xóm tôi rất nhàn cư vi bất thiện.

                          Từ cờ bạc “chui”, rượu trà say sưa, vợ chồng chưởi nhau inh ỏi, vui đó cười đó, rồi quay ra xích mích, đánh nhau bể đầu, gãy tay què chân, là chuyện thường. Nạn đĩ điếm tụ họp lại ở khu nhà trống tùm lum tà la. Đúng là “khu ô danh tứ đổ tường” đã xảy ra không biết bao nhiêu chuyện thật đau lòng. Mặc dù trên thành phố đảng cho lệnh phát triển văn nghệ, ve vuốt xuê xoa dân chúng, hầu mong dịu bớt nỗi kinh hoàng. Thì đó; mỗi tuần, mỗi tháng, trong Tao Đàn đều có chương trình văn nghệ, có các tiết mục vui chơi, ca múa, để “Tao đàn; Mày đàn” cho người khác mua vé vô cửa, ngồi bệt dưới đất mà nghe. Mỗi vé từ 5$ sau đó nhảy lên 10$. Lồng vào giờ “tao-đàn” có một hai giờ nhồi sọ dân chúng.
                          ***

                          Tình Hoài Hương

                          (1) = Thơ Bút Tre
                          (2) Sưu tầm lượm lặt.

                          THH xin cống hiến quý độc giả thân thương của HQPD câu chuyện thật, để cùng nhau chia sẻ mà "cười ra nước mắt"... Đồng thời THH xin phép cám ơn quý vị nhiếp ảnh gia: đã post những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.
                          * * *

                          Tình Hoài Hương
                          Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-07-2017, 06:02 PM.
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #208
                            Lời Người Tình Phụ & Mail + Chat: Bù Khú






                            Lời Người Tình Phụ & Mail + Chat: Bù Khú

                            (của ông già gân & bà già khọm).

                            Date: Mon, 1 - 26 - 2005 -00:05:34 -0700 (PDT)
                            From:
                            "Tony Dautry Hoàng" < khanhson2@saigon.vn >
                            Add to Address Book Add Mobile Alert
                            Subject: Thư mang số # 5.946 *Chuyện MAIL & “CHAT” bù khú.
                            To: "Wit Mi Mi" < ti1@yahoo.com >

                            *

                            Ghi chú CHAT
                            :
                            - Hoàng Phương Nam (hoặc là thứ Năm) = lời của chàng già gân.
                            - Mười (Mi Mi) = lời của nàng già khọm.

                            Hoàng Nam.– Hello… Ah! Chào em yêu thương, (từ bi giờ anh phải gọi em là con mèo Mi Mi của anh nha): Thời gian trôi qua dài quá dài... thăm thẳm sau 45 năm vợ chồng tan hợp rồi hợp tan, mail nầy anh em mình kể chuyện bù khú linh tinh cho vui cửa vui nhà, em nhen:
                            Hôm đầu tháng Giêng, anh bị con “vòi vọi” to như con bọ xít, thân đen bóng, cánh cứng, có vòi như cây kim cong cong, nhọn hoắt. Nó có bốn chân, và hai cái râu, từ dưới gầm giường nó bò lên nệm. Thừa lúc anh ngủ say, nó chích anh mấy phát. Ui! cái trán sưng chù vù, cứng ngắt và ngứa ngáy, nhức nhối kỳ lạ. Gần cả tháng rồi, vẫn đau nhức, trán vẫn u, sưng tấy lên và ngứa lắm. Vậy mà em còn chọc quê anh là “mọc sừng” ha. Giận thì thôi.
                            Mười, (tự Mi Mi).- Ui! Em cứ tưởng là do anh đi hoang. Xin lỗi nha.
                            Hoàng Nam.- Hôm nay, anh tức quá, đi thay tấm drap mới, giặt mền, gối, rồi anh lật hết những thanh giường ra. Lau nhà sạch sẽ xong, anh lấy thuốc xịt hết vào mấy cái khe. Thì thấy hai con “vòi vọi” đen đen lăn ra chết. Chứ nó chạy nhanh kinh khủng, không thế nào đập trúng. Anh bỏ nó trong bao nylon. Chiều nay sẽ đem nó xuống bác sĩ chữa trị da liễu, cho ổng xem. Vì bác sĩ cho rằng nó là con A Sừng! Cách đây vài tháng anh cũng bị nó chích như thế, nay vẫn còn u lên một cục cứng ngắt.
                            Mi Mi.- Anh cẩn thận nhen. Ở một tỉnh thành gần khu núi đồi, hồ ao, đầm lầy bên Úc (nơi chị Tú ở). Có một chỗ dành để người dân cắm trại. Nhiều mái lều dựng lên, ăn ở vui vẻ. Bỗng họ nghe tiếng hét to kinh khủng, ở một cái lều hơi gần gần bờ hồ, có con cá sấu to lớn bò đến ngoạm chân người đàn ông, lôi đi xềnh xệch. Cả khu cắm trại hốt hoảng nhốn nháo, họ ùa ra bãi xem chuyện gì. Thì một người đàn bà cùng gia đình cắm lều gần đó, nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng đó trước tiên. Hai bàn tay không, bà ta can đảm nhảy xuống hồ, bà cỡi lên mình con cá sấu. Hai tay bà ta ôm ghì lấy lưng và nách con vật, hai chân bà quắp chặt vào bụng nó. Con cá sấu giật mình, nó hãi hùng nhả chân người đàn ông ra. Nó quay ngược mỏ lên, táp táp vào người đàn bà không được.
                            Thế là nó vát bà ta chạy tuốt xuống hồ nước. Mọi người bất ngờ sững sốt, nhốn nháo, sợ hãi kêu la inh ỏi. Một người đàn ông ở lều khác, bình tĩnh xách súng chạy đến gần. Tay thiện xạ do dự một phút, rồi đưa súng lên nhắm và bóp cò. Đùng!... Đùng! Con cá sấu giẫy giụa vài cái, rồi nằm ngay đơ nửa trên nửa dưới hồ nước. Người đàn bà can đảm phi thường cỡi con vât ấy không bị lạc đạn. Mệt đứt hơi, bà ta nằm vật ra bên con vật nhuộm máu đỏ. Người ta vội vã gọi trực thăng đến, cấp cứu hai nạn nhân. Một người bị cụt chân, một bà bị gãy tay. Chỉ vì “cái mỏ” con cá sấu.
                            Hoàng Nam.- Còn một chuyện có thật nữa: Hai chị em cô bé nhà kia đi tắm sông ở Nam Phi. Cô chị độ mười tuổi, thấy em nó bị con cá sấu ngoạm, con cá sấu đang cố sức lôi đứa em xuống sông, để ăn thịt. Cô chị quýnh quá, không biết làm sao, cô ấy không còn sợ hãi, cô ấy chạy đến bên con cá sấu, cô gái lấy ngón tay trỏ chọt lủng mắt con cá sấu, chọt rất mạnh. Con cá sấu bị bất ngờ, và đau lắm. Nên nó nhả cô em ra. Nó lo chuồn xuống nước, lặn mất tiêu. Cô em bị thương nặng. Họ cấp cứu hai chị em vào bệnh viện.

                            Mi Mi.- Đó, anh thấy chưa? Mà anh còn đòi cuối tuần nầy, đi ăn thịt cá sấu với anh Vượng, anh Nuôi hỉ! Em sợ nên em “ghê tởm” cá sấu. Vì thấy nó dữ dằn, da lởm chởm sù sì gớm ghiết, móng chân móng tay nhọn hoắt. Cái mỏ và hàm răng ôi thôi kinh dị. Nhất là buổi tối hôm đó, ngày chúng mình đi vào trại nuôi cá sấu xem. Trong bóng tối, mình lấy đèn pin rọi xuống ao, hồ, thì trông thấy những đôi mắt của nó, như là ánh sao lấp lánh. Vì hai con mắt nó sáng rực, đỏ au, từng con từng con nhìn sững vào ánh đèn. Thịt nó trắng, mềm và thơm ngon. Lại có hương vị đặc trưng thơm hơn thịt vịt, thịt gà nữa. Em làm thịt cá sấu sạch, xào với sả, ớt, mè, tỏi, hành, ngũ vị hương, ít dầu hào, ăn với bánh tráng nướng. Thật ngon hết sẩy.

                            Hoàng Nam.- Rượu nầy là môn thuốc, người ta nói để trị bệnh suyễn hữu hiệu lắm em ơi! Uống vào nghe "đã" đến óc. Tuyệt cú mèo. Rồi anh hỏi đố em: Có biết con cá chình không? Mất mấy trăm ngàn đồng Việt Nam, anh mới mua được một con cá chình, chỉ nặng vào khoảng 800 gr. Ở Việt Nam bây giờ con gì cũng được đưa lên bàn ăn, để thiên hạ xài, có tiền là “chiêm ngưỡng” hết: Chồn. Cheo. Rùa. Mễn. Nai. Rắn. Ba ba. Vân vân… Ôi thôi đủ thứ hết. Đến nỗi bi giờ hầu như những loài qúy hiếm e có nguy cơ diệt chủng. Đã có lệnh cấm săn bắn, cung cấp thịt rừng. Cho tiền thuê, bạc mướn, có lẽ em cũng hổng dám ăn thịt cá sấu.
                            Mi Mi.- Anh lại nhem thèm em nếm tí rượu cá sấu nữa hả? Ghê quá đi.

                            Hoàng Nam. - Em có thấy ớn lạnh không? Người đàn bà cỡi lưng cá sấu. Cô bé chọt mắt cá sấu. Rất phi thường. Can đảm lắm. Nhưng... Chưa đáng kính phục bằng một người đàn bà Việt Nam đám cỡi lên mình con rắn, và bóp nát trái tim con rắn nữa. Và nhất là bà ta đã làm con rắn cúi đầu khuất phục. Thật đáng ngợi khen. Anh đố em biết bà ấy là ai nào?
                            Mi Mi.- Bói bài hay cầu cơ cũng chịu thua. Đừng nói tới em. Em hổng biết.
                            Hoàng Nam.- Ấy! ... Là em đó.
                            Mi Mi.- Ui chà chà. Thương thiệt!
                            Hoàng Nam.- Anh lại đố em 4 chữ MEN nè:
                            1.- MEN TAL ANXIETY : Hoảng loạn tâm thần.
                            2.- MEN TAL BREAKDOWN : Suy sụp thần kinh.
                            3.- MEN STRUAL CRAMPS : Co thắt khi có kinh.
                            4.- MEN OPAUSE : Hiện tượng tắt kinh.
                            Mi Mi.- Ôi! Thì anh đố em, nhưng anh đã giải thích hết rồi. Lại còn phải hỏi ư.

                            Hoàng Nam.- Em có để ý là tất cả nguyên nhân các sự kiện ở trên, đều do chữ MEN mà ra không nhỉ! Đó đàn ông các anh là thiên đường. Mà đàn ông cũng là địa ngục. Em à.
                            Mi Mi.- Ồ! Cái nầy họ “chơi chữ” quá hay. Vì trong bốn triệu chứng của người đàn bà, đều bắt đầu từ chữ “MEN” mà ra! Dễ ghét mà rất dễ thương. Anh hỉ!
                            Hoàng Nam.- Loài chuột có thể giao phối hơn 20 lần/ngày. (Còn hơn con dê nữa ha)! - Con gián có thể sống trong suốt vài tuần với cái đầu lìa khỏi thân. Voi là loài động vật có vú duy nhất không thể nhảy cao. - Muốn luộc con ếch hoặc con rắn trước tiên ta bỏ nó vô trong nồi nước lạnh, đậy kín nắp, và mở gas thật nhỏ, chờ bao giờ nồi nước từ từ nóng và sôi. Chớ nếu bỏ nó khi nước đang sôi, thì nó sẽ quậy lung tung và nhảy phóc ra khỏi nồi. À, anh nhớ có chuyện nầy nữa… Ôi vui ơi là vui. Đúng rồi! Sau đêm em bị ma đè (chứ hổng phải người đè à nha), thì cả anh và em đều hoảng loạng, đến nỗi rắc rối… bồi hồi, quên trước quên sau, quên đầu quên... quên… luôn cái phao câu! (con gà con vịt, thì ít khi ai gọi là đuôi gà, đuôi vịt. Mà họ “thít” gọi là phao câu mập ú nù. Phải hông nà?
                            Mi Mi.- Đúng quá đi thưa “bác xĩ mu rùa hóc môn”.
                            Hoàng Nam.- Ha ha! Ui xà, dzậy mà còn phong cho anh làm tới chức “bác sĩ mu rùa hóc môn” nữa chứ. Ôi trời ới! Nếu vô tình, có ai lọt chân vào trong mạng internet riêng của chúng mình, thì chắc là họ sẽ cười bể bụng, vì mấy cái chuyện tiếu lâm của hai ông bà già gân 60-70U lẩm cà lẩm cẩm nầy ha.
                            Mi Mi - Vậy chứ công dụng của cái rốn là gì nè chàng?
                            Hoàng Nam.- Để cuống rốn gắn liền tí nhau với người mẹ, như sự nương tựa vào sự sống của con từ mẹ mà có. Nhưng khi sinh ra đời, cuống rốn của em bé được cắt đi, thì từ đó sự sống hay gọi nôm na là hơi thở của em bé tách rời mẹ, độc lập. Đáng lẽ ra khi cái rốn lành, phải thành một vết sẹo bằng phẳng. Chứ tại sao cái rốn lại teo tóp nhăn nhúm, và trở thành sâu hoắm thế cô nương của anh?
                            Mi Mi.- Xin chịu thua.
                            Hoàng Nam.- Còn nữa, cặp vú của người đàn bà có công dụng: Là để nuôi con. OK! Thế thì, người đàn ông không thể cho con bú mớm gì. Sao vẫn có vú hỉ?
                            Mi Mi.- Công dụng nầy, chỉ có Trời mới biết.
                            Hoàng Nam.- Rồi, khi người đàn ông đi “quờ quạng ăn phở bậy bạ”, hắn gặp một “gái già bia ôm” nên bị lây rận, (do người đàn ông khác “di dân rận” cho bà ta), con rận thân dẹp lép, bò lết tới mình tên đàn ông thứ tư, thứ năm gì đó. Họ chỉ cần hai thân thể áp vào nhau chừng vài phút thôi, là lãnh đủ! Có hơi ấm cơ thể, thế là lũ rận bò sang người mới, định cư liền. Tên đàn ông trăng hoa đó lại mang rận về, tặng lại cho vợ.

                            Mi Mi.- Úi quơi Trời đất thiên địa ui! Vậy ra anh đã từng mang rận đi, mang rận về ư! Xin bái biệt và tống khứ anh.
                            Hoàng Nam.- Không. Đừng nóng thế em.
                            Mi Mi.- Dieu seul le sait...
                            Hoàng Nam.- Nè em: ngày anh còn học chung với Trung trong đại học Y Khoa Sài Gòn. Trong phòng thí nghiệm có kính hiển vi điện tử. Hôm xưa, chả biết làm sao Trung có được mấy con rận, nó mang rận vào lớp. Ta có thể soi rọi con rận ra to chừng 15.000 lần thực tế. Rận có cả thảy ba đôi tay chân (6) lông lá xồm xoàm! Phía trước rận có hai càng nhọn hoắt, dùng để đào hang. Con rận màu trắng ngà khác với con chí màu đen. Con rận đẻ trứng bám chặt trên những sợi lông, giống như con chí đẻ trứng trên những sợi tóc của người ta. Lấy trứng rận ra để trên bàn: giết, nó cũng kêu “cái cốc”, y như trứng chí vậy.

                            Rận không sống ở ngoài da, mà nó đào hang. Nghĩa là nó dùng càng đào lỗ, chui vào lỗ chân lông mà nằm ở chỗ kín, dơ bẫn. Nó không giống con chí sống lúc nhúc, luôn bò rần rần, loi choi hút máu ở trên đầu (do người ít tắm gội). Khi nào đói, rận mới bò ra châm vòi vào thịt, hút máu tươi để sống. Mình ngứa điên cuồng là đó. Rận giống như con rệp tiết ra chất hôi, chuyên sống ở khe vách, giường, phản. Rận, rệp, chí, đều sinh sôi nẫy nở rất nhanh. Em có biết: kinh khủng vô cùng là con gián có thể sống suốt vài tuần với cái đầu lìa khỏi thân. Anh quên nói mỗi năm, số người chết do ong đốt còn nhiều hơn cả số người chết do rắn cắn.
                            Mi Mi.- Phải làm sao mà diệt chúng nó chứ anh.
                            Hoàng Nam.- Biện pháp duy nhất là ta phải hy sinh cạo bộ lông, cạo tóc. Không còn chỗ cho chí rận bu bám. Mỗi ngày ta nên tắm gội sạch sẽ, lấy DDT (thuốc diệt côn trùng) xoa đều lên bề mặt da. Làm như thế cả tuần nhe, thì chí rận mới “dứt điểm”, sẽ chết hết. OK! Đó là phần giải thích của anh là “bác sĩ mu rùa hóc môn”. Em thỏa mãn chưa?
                            Mi Mi.- Cảm ơn chàng. Nhà em có quá nhiều kiến. Tại sao Trời sinh con kiến để làm gì? Tả và nói con kiến có công dụng gì. Cho em nghe nhe.

                            Hoàng Nam.– Cô Nương! Coi chừng mùa nóng thường có nhiều kiến nhen. Bọn kiến tinh ranh, khôn đáo để đó em. Trời lạnh lẽo hay sắp chuyển mưa, là chúng biết trước, lo dời trứng lên cao, phòng trú trên trần nhà. Trời nóng nó lại chuyển chỗ xuống đất. Vì thế, kiến không tha mình chỗ nào cả. Đâu đâu nó cũng bò tới “thám thính” được. Ngay cả tủ quần áo, khi không còn mùi long não (naphtalin), nó cũng chui vào. Nhất là nhà em có thịt, cá, chất béo, mỡ, mật ong, thức ăn, thực phẩm khô, là có kiến. Vì thế, anh phải cẩn thận với thức ăn. Mệt lắm. Em đọc đi: Ants hate cucumbers. Keep the skin of cucumbers near the place or ant hole. (Trị kiến: Kiến ghét dưa leo. Bỏ võ dưa leo gần chỗ có kiến hay ổ kiến).
                            Mi Mi.- Em hỏi chàng, vậy chứ con kiến có cái đuôi, như những con vật khác không anh?
                            Hoàng Nam.– Ha ha ha!!! Nương ơi! Đúng nguyên tắc thì con kiến cũng có đuôi đó em à. Hổng phải nó có đuôi rõ ràng như đuôi chó, đuôi mèo, hay “đuôi phao câu gà, vịt”. Em có tin không? Kiến có đuôi. Nhưng kiến có hai cái đuôi, chứ không phải một cái đuôi đâu em. Đuôi mọc ngược phía trên đầu. Mà ta nôm na gọi là hai cọng râu. Theo khoa học thì con kiến bài tiết trên các cành cây. Và chúng liên lạc truyền tin với nhau bằng hai “cọng đuôi râu” nầy. Nếu loại kiến là “cùng chung một nòi giống”, thì nó sẽ có chung một tần số âm thanh như nhau. Còn nếu khác giống nòi, nó tự động phát ra những tần số âm thanh khác. Lập tức nó dùng càng to cắt đứt đầu đối thủ. Nói chung, loài vật đều có đuôi cả, tùy theo dài, ngắn, to, nhỏ, cụt đuôi nữa.

                            Mi Mi.- Ồ thì ra... cọng râu con kiến cũng “hoá thân” là cái đuôi tinh xảo anh nhỉ! Mấy loài khác, thì em thấy cái đuôi rõ rệt. Còn con ruồi, con kiến, khi xem trong discovery em ”nỏ thấy”. Con kiến có thể nâng một vật nặng gấp 50 lần trọng lượng của nó và nó luôn ngã về phía phải khi bị ngộ độc. Kiến không biết ngủ. Anh à, mỗi năm, số người chết do ong đốt còn nhiều hơn cả số người chết do rắn cắn. Vậy cái đuôi con rắn, thì có ở từ khúc nào nè anh?
                            Hoàng Nam.- Cái đuôi của con rắn, theo anh biết thì tính từ khúc cuối cùng của các đốt xương sống. Nghĩa là từ 1/5 đoạn cuối cùng của con rắn. Đặc biệt ở Thái Lan em đã chứng kiến người Thái biểu diễn màn xiệc rắn. Họ cho người đi du lịch “nhâm nhi” chút rượu thuốc ngâm rắn. Họ lại cho em sờ vào chỗ bộ phận sinh dục con rắn đực, nó chia ra làm đôi. Ổng nói ai mà sờ được chỗ đó đó, thì lucky lắm.
                            Mi Mi.- Em nhớ ra rồi. Hồi ấy thật thú vị, vui quá à.
                            Hoàng Nam.- Còn tính về con người "tiền kiếp"... thì cũng có “cái đuôi” ngắn tủn ngắn tỉn, như cục thịt thừa đó chứ em. Họ ưa chà đít xuống đá, để mài đuôi cho rụng đi. Nay mất gốc rồi. Vì mọi sự yêu thương truyền cảm, cũng từ “cái đuôi” mà phát xuất ra. Phải chăng đó là giây liên lạc mật thiết của con người không ha?

                            Mi Mi.- Anh nầy vớ va vớ vẩn. Bộ cứ “Nhân Chủng Học” là anh tin vào thuyết Darwin, thì loài người xuất thân từ loài đười ươi sao! Họ cũng có cái đuôi rất ngắn. Nhưng sau vài triệu năm, thì cái đuôi của loài người rụng đi?? ( Ah! Em lại tưởng tượng giống như con nòng nọc, con thằng lằng rụng mất đuôi!?). Rồi do cái thế đi đứng của loài người mình ung dung, hoàn hảo hơn, nên họ đứng lên, bắt đầu đi bằng hai chân. Chứ ngày xưa như trái đất, thì họ đi bằng bốn chân há?
                            Hoàng Năm.- Vậy ra, em là “cái đuôi” của anh rồi. Anh phải “bảo-trì” thật tốt, cái đuôi yêu dấu của anh nha. Từ nay anh sẽ chính thức phong chức cho em là: “Người quản-đuôi yêu dấu của anh”. Còn anh sẽ là NO của em: Nô nức. Nô đùa. Nô giỡn. Nô bộc. Nô tỳ. Nô lệ. Nô gia. Nô nhân. Nô dịch... No. No. No. Yes. Yes. Yes... của em suốt đời. Chịu chưa Mi Mi Nương nương?
                            Mi Mi.- Dạ vâng! Nhưng, anh cho em xin anh cái đuôi khúc giữa kia.

                            Hoàng Nam.- Ui Trời! Sao em khôn thế. Nếu em là cái đuôi của anh. Tất nhiên em là hiện thân tình yêu trọn vẹn duy nhất của anh rồi. Em đã trở thành cái đuôi, mà em còn đòi chọn khúc đầu, khúc giữa, khúc nầy, khúc kia nữa. Thôi xin em hãy bằng lòng làm cái đuôi lý tưởng của con rắn nha! Em biết anh tuổi “Tân Tỵ” mà! Thì rắn đi đâu cũng phải “tha” cái đuôi kéo lết đi theo. Đi đâu rắn cũng “có đầu có đuôi” kéo lê thê lòng thòng theo cùng. Hà gì em phải lo lắng, chọn khúc giữa cho ấm áp an toàn hỉ!
                            Mi Mi.– OK Salem!
                            Hoàng Nam. - Yes. Amen!
                            ***

                            Cái CHAT, hay cái "TÁT" Ngút Ngàn Lưng Mây

                            Date: Mon, 10-26 -2009 -00:05:34 -0700 (PDT)
                            From:
                            "Tony Dautry khanhson21@saigon.com Add to Address Book Add Mobile Alert
                            Subject: Thư mang số # 4.946* “CHAT” bù khú nghen
                            To: "wit < tio1@yahoo.com >

                            * * *

                            Mi Mi .- Allo! Chào anh. Em vừa về Việt Nam, hiện đang ở Đà Lạt. Anh có khoẻ không?
                            Năm Tony.- Ah! Chào em. Cám ơn em. Dạo nầy anh không được khoẻ lắm. Buồn và đau nhiều là đằng khác.
                            Mi Mi .- Em đã nói với anh hằng trăm lần rồi: Bi giờ mình cũng đã có tuổi, chứ nào phải còn trẻ mỏ như hồi xuân xanh đâu. Mà anh nay cặp bồ bà Kiêm. Mai bà Nguyệt. Em nói đứt lưỡi không được à.
                            Năm Tony.- Tự nó phone đến anh hò hẹn, rủ rê. Chứ anh nào muốn.
                            Mi Mi .- Không có lửa, làm sao có khói. Chỉ từ ba bốn tháng nay thôi, khi anh bắt đầu quen với Kiêm, thì anh mới cấm Nguyệt không được gọi phone đến nhà. Anh sợ các con nghe được, sẽ méc lại em. Anh đâu biết là Nguyện đã gọi phone tới khóc lóc, kể lể với bé Tư đủ điều: Nó kể về anh và bà Kiêm đó sao?
                            Năm Tony.- Thì... anh đã ngăn cấm Nguyệt thật. Nếu nó thật lòng sợ anh, thì phải nghe lời anh. Tiếc thay. Nên anh từ bỏ nó rồi. Em.
                            Mi Mi .- Có thể nó không thương yêu anh, mà sợ mất anh như món hồi môn béo bở. Không tin, anh cứ hỏi các con gái. Đúng là nó đã gọi phone đến nhà mình kể tội anh. Một chân bên nầy và một chân bên kia, anh không thể bước chàng hảng cùng một lúc qua hai con thuyền đang bồng bềnh trên sóng nước: Vì mỹ kim, giang sơn, hay vì mỹ nhân thế hở!? Tình yêu cuả người đàn bà nầy xét ra coi “chàng” còn có sự bất trung, lừa dối và vụ-lợi, gây tổn thương trầm trọng đối với tình cảm thiết tha “nàng” đã trao tặng. Làm trai nên nhìn thẳng về phía trước, anh hãy nói đi: Anh chọn mỹ kim, chọn giang sơn, hay chọn mỹ nhân 60 không có gì cả ngoài sự trao đổi thô thiển về dục tính... !?

                            Năm Tony .- Anh biết cách xử sự. Đừng dạy khôn anh nha. Anh sẽ không viết thư cho em nữa. Đọc chưa hết thư kia, thì lòng đùng đùng nổi giận, chẳng thèm viết thư! Em muốn làm gì thì làm. Em cứ quyết định theo ý em. Nghe rõ chưa? Đây là lần nghi ngờ thứ bao nhiêu rồi? (Trừ khi em không còn hấp tấp, nóng nảy, em nghĩ là anh còn đam mê chúng).
                            Mi Mi .- Ủa!? Thì ra ngắn gọn là thế... Giống hồi năm 1989 ấy. Khi em nói đúng tim đen cuả anh. Anh đùng đùng kiếm cớ nổi giận. Rồi anh nói: vì giận em, anh đã sa vào vũng lầy, phung phí bao nhiêu tiền vào tay chúng nó ha? Bao nhiêu lần rồi, anh vẫn chừa một kẽ hở hoãn binh, là tạm thời úp úp mở mở, lẫn trốn chúng thôi.
                            Anh không dám dùng biện pháp mạnh là: Nhìn thẳng vào mặt chúng. Nói lời chia tay vĩnh biệt. Nên sau khi chúng “mè nheo” khóc lóc, năn nỉ, thoả mãn rồi, thì đâu vẫn hoàn đấy. Anh tiếp tục nói láo với em và các con. Thưa anh! Em không thể chịu đựng hơn. Tình yêu em trọn vẹn chân chính. Em chưa bao giờ lợi dụng anh một đồng xu. Nên; Tuyệt nhiên em không bao chấp nhận anh, về sự anh lừa gạt em trắng trợn từ tiền bạc, lẫn tình cảm. Sự việc đã rõ rành rành. Anh nên quay về phủ phục dưới chân chúng, cầu mong chúng gia ân tha tội cho anh. Anh liếm lại mấy bãi đờm anh đã trót nhổ ra. Đó chính là lời anh nói là: nếu anh mà quen lại mấy con đó, thì anh cúi xuống liếm bãi nước miếng anh đã nhổ xuống đất. Em sẽ không thèm quấy rầy anh. Em hứa như thế.
                            Năm Tony .- Hừ hừ! Sao em đánh giá anh thấp thế. Em cứ nghĩ như vậy, anh sẽ rất buồn và nổi giận kinh khủng. Đã nghi ngờ nhau hoài, thì còn gì là tình yêu nữa. Bây giờ, anh sẽ im lặng. Cứ nói đi.
                            Mi Mi .- Vậy chứ, từ sáng thứ Hai, 24-01-05 lúc 9:49, anh nói anh đi Đà Lạt với ông Ba, và ở một tuần. Để anh lo về việc mua đất đai, bán kiếm lời gì đó. Thật ra, anh không hề đi với ai, mà anh đi với con Kiêm, lên Đà Lạt ở tại Hotel Dream. Trong khoảng thời gian đó, anh không có một giờ rảnh rỗi tách rời nó, để lẽn đi e-mail về em. Mặc dù đi chơi, nhưng anh vẫn mất tự do ha. Chứ nào em có cấm cản anh mất tự do. Đâý, chính là lúc anh bị kềm kẹp. Bị ra lệnh, bị bám sát từng bước. Nhất là bị tước đoạt tiền bạc cuả chúng ta, một cách dã man và thô bỉ, ô trọc nhất. Vậy, anh tự sa chân vào vũng lầy sa đoạ, thì đừng đỗ tội cho em nha. Em không thể nói gì hơn, khi anh tính nào vẫn tật ấy. Em chán hết biết. Không vì lý do gì, em cần níu kéo cuộc tình đã mất nữa.
                            Năm Tony .- Em đừng có tối ngày đi rình mò anh, như tên trộm vậy. OK. Anh có lỗi trong việc nói dối em. Chẳng qua sợ em buồn. Sorry. Em hãy rộng lượng thứ tha và bao dung. Anh xin hứa là thôi. Anh không muốn nói gì nưã. Anh im.
                            Mi Mi .- Chỉ cần một tiếng sorry trơn tru từ cưả miệng dẽo mồm dai mép, tràn môi trên mà trề môi dưới cuả anh; Là sẽ xí xoá bao điều bất nhân gian ác hoài mãi sao? Vậy thì, anh đừng bao giờ mở miệng ra nói câu: - “Em và các con không tôn trọng anh” nhe. Anh muốn cho các con tôn trọng anh?
                            Trước tiên, anh phải làm thế nào tỏ ra xứng đáng, và tự tôn trọng mình. Sau đó các con và em mới cảm thấy anh xứng đáng được em và các con >Không những là tôn trọng anh, mà anh sẽ được sự trìu mến và kính trọng hơn<. Để khỏi làm phiền nhau vô ích, em sẽ về Việt Nam: -* Trong đó, sẽ giải quyết chuyện tình cảm & tiền bạc anh vay mượn em từ xưa. Em sẽ đưa ra ánh sáng cho minh bạch vụ nầy. Bởi tự vì, do anh đi rao réc với các em cuả anh là:
                            - Em gian ác, đã lấy tất cả đồ đạc trong nhà, không chừa lại cho anh cái gì cả.
                            - Thưa anh Hoàng Năm Tony, sao anh mở miệng ra nói láo kinh khủng, mà không biết mắc cỡ vậy? Vậy chứ, anh có muốn em nhắc lại cho anh nhớ rõ không? Tiền bạc phủ phê vài chục ngàn usd. Đó là cuả chìm. Còn nào là cho anh bao nhiêu đồng hồ, máy ảnh, cả lượng dây chuyền vàng, nhẫn vàng, cà rá, giày sports, quần jeans, áo len, những bộ áo veston đắt tiền, vô số chuyện…
                            Còn của nổi to chình ình như: tủ đựng quần áo đáng giá vài triệu, tất cả máy móc trong nhà, tivi, microwaue. Cho anh tiền mua tủ kính úp chén bát, đồ dùng son nồi. Một giàn tủ tuyệt đẹp mới toanh (do em gửi thêm 2.000 usd, đế anh thuê thợ đóng ở trên bếp, đựng những thứ cần thiết), nhất là em phải chi tiền cho anh làm hết hai hàm răng giả của anh bị nha chu, phải nhổ quách đi rùi, vân vân... và vân vân… Tất cả của ấy vẫn còn nằm lì ở nhà anh đó. Kể cả cái máy lạnh mới cáu cạnh ở đâu ra, để ngày đêm cho anh mát mẻ? Chả lẽ em sắm ra tất cả tại nhà nầy của anh, rồi em leo lên gỡ xuống, để em đem đi Mỹ hết à?

                            Mấy lần rồi anh làm mất toi hết, em hỏi tới anh nào dây chuyền vàng y, cà rá, đồng hồ, vân vân… khi thì anh nói láo là anh túng tiền, có bán xài, cầm cố. Hay đi chơi đã bị mất, bị giựt. Úi Trời! Cáo già mà cũng bị giựt ha! Vậy thì gần vài chục ngàn usd? Chắc cũng bị con nào giựt béng mất toi hết sao?
                            -* Này anh; Anh đừng có dựng đứng lên em đã lấy lại đồ đạc hết, rồi anh đi bêu rếu, vu oan giáng hoạ cho em những chuyện không, anh nói dựng đứng lên là có à nha. Việc nầy, các con đều biết, đều thấy rất rõ. Anh đừng tiếp tục bôi tro trác trấu lên mặt. Anh nói láo để con cái càng khinh anh. Cái tội của anh to ngập đầu ngập cổ đó. Anh đem… tóm lại, tất cả mọi thứ, anh đem đi dâng cúng bất lương vào những cuộc truy hoan. Anh nói láo và lường gạt em mọi chuyện. Kể cả chuyện anh dám đến nhà con gái bé Hai để lấy danh nghĩa tên của em, mà anh nói với con gái:
                            - Con ơi! Cô Mi rất cần tiền. Con cho cô M mượn 5.000usd. Nhưng con đưa cho ba - để ba gửi gấp qua Mỹ cho cô M.
                            -* Con gái tin anh nói thật, con đã đưa tiền cho anh, và anh dấu diếm đem đi phung phí hết. Mà anh không hề nói cho em biết, là sao? Mãi đến một năm sau, khi em về thăm anh, thì bé XuTu hỏi em:
                            - Vậy chứ cô đã mượn tiền của chị Hai, khi nào cô mới trả lại?
                            Em đã giật mình, cố hỏi con cho ra lẽ: Thì con gái kể lại đầu đuôi như thế. Anh có nhớ là khi đó em giận quá, gọi anh chở em đến nhà bé Hai, để đối chứng ba mặt một lời. Thì lúc đó, anh đã cúi gục đầu trước mặt em, và con gái bé Hai mà thú tội không?
                            Nói thật với anh, vì em thương bé Hai, con gái không dám cho chồng S… của nó biết việc tồi tệ nầy, nên em không nở làm to chuyện. Rồi tự em bỏ tiền túi ra, để trả nợ đậy mà anh gian trá nói láo để em giúp anh vuốt mặt mà nhìn con. Anh nói láo, mượn danh của em, anh dùng số tiền mượn ấy để làm gì hử? Có dôn dốt như em, cũng thấy và biết rất rõ chân tướng anh mà. Vì sao? Khi xưa em yêu anh, em chưa hề có những ngày cận kề bên anh. Chúng ta không có môi trường thuận tiện sống chung dưới một mái nhà. Tình yêu ấy được em sơn phết lên một lớp mạ vàng quá lý tưởng, thần thánh, ảo tưởng, mà người Mỹ gọi là “American Idol” và thi vị hoá cuộc tình. Anh bưng bít, che đậy cố tật xấu xa khá tài tình. Nay em và các con đã biết được những hành động, những suy nghĩ cuả anh.
                            -* Đã trải qua mấy chục năm yêu và biết nhau. Thì bản chất con người anh đã lộ rõ nguyên hình. Ngày xưa, anh nói vì anh buồn chị Tư của em cấm mình yêu nhau, nên anh trở nên sa đoạ? Vậy chứ bây giờ anh tóc bạc già U-70 rồi, anh vẫn nhúng chân vào vũng lầy! Bởi tại ai? Anh chỉ là một đàn ông “ảo” hèn mọn quá tầm thường. Đúng là em tô màu phóng đại, nâng bi anh là siêu sao thần tượng, em đã nắn nót công dã tràng xe cát trên biển. Sụp đỗ. Bây giờ anh đừng đỗ lỗi tại ai. Nha. Anh nói láo tàn bạo, phản bội tình, lừa gạt tiền, lì lợm trắng trợn thô bỉ nhất đời.
                            -* Em không thể rộng lượng tha thứ cho anh thêm; Lần thứ mấy chục rồi? Em cương quyết dứt tình với anh. Em đã cho anh rất nhiều với sự bao dung, chịu đựng, hy sinh quá đáng. Hậu quả là không đúng chỗ và thua thiệt.
                            -* Tuy nhiên, một điều cuối cùng em yêu cầu anh: Kinh qua cuộc tình dai dẵng hơn 45 năm nầy. Em biết rõ anh hơn ai cả. Mong anh thức tỉnh. Không nên nhẫn tâm để mưu toan đi lường gạt tình cảm, tiền bạc những người nhẹ dạ khác nữa; Nhất là em, bà con, Thu, Bích Hà, Hồng Anh, và những bạn trai Không-quân, Tabert của anh ở hải ngoại vô tội à. Ai ai cũng phải làm việc vất vã. Chứ họ không như anh, (được em và bé Hai nuôi anh sung túc, no đầy). Anh không làm việc gì cả, ngồi không an hưởng, nên anh không thấy giá trị cao quý từ tình bạn, tình yêu, qua đồng tiền của người khác dành dụm, chắt chiu gửi về anh đâu. Ở hải ngoại bạn bè thân nhân của anh cứ tin anh bị đau chứng nan y. Anh đã nói láo, lừa dối họ là anh có di chứng ung thư cổ, để họ lo quyên góp tiền về cho anh.
                            Đồng tiền kiếm được qúy lắm, họ hy sinh để giúp những người thực sự nghèo đói, đau khổ. Và khao khát sự sống trong lành. Nhất là những đồng tiền bạn Không-quân của anh quyên góp ở hải ngoại, lẽ ra nên đến tận tay các em bé mồ côi đáng thương, ốm yếu, những ông già bà lão mù lòa, bệnh tật khốn cùng, nghèo khổ ở vùng quê xa xôi, mới phải. Trong khi đó, anh nhận tiền của người khác, lại tiếp tục sống phây phây, phè phỡn đi ăn chơi trác táng với con Nguyệt, con Kiêm. Em “nói có sách, mách có chứng” rõ ràng.
                            Đầu dây bên kia bờ đại dương đã giằng mạnh phone cái cộp, dội lại rất to trên máy.
                            Thì ra... giận dữ nghe! Sợi dây đã dứt lià đường nối…
                            ***

                            49 năm sau: Thời gian và không gian dài lê thê, thăm thẳm… từ "thuở có anh có em đi nhẹ vào đời nhau" ở Đà Lạt, ra Huế, Mỹ Chánh, Quảng Trị, rồi vô Đà Nẵng, Sài Gòn... Thế rồi, vào những chiều giông bão khi định mệnh cúi nhìn xuống đời hai anh chị thì... như Abraham Lincoln nói. “ai đó” có thể lừa dối một số người trong một lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc, nhưng không thể mãi mãi lừa dối được tất cả mọi người”.
                            Đôi bàn tay Mười đan chặt vào nhau để ôm đầu gối run rẩy nhô cao, thế mà cũng có lúc hai mu bàn tay rã rời tuột ra, rơi rụng buông thõng xuống. Có thể do tấm lòng mình không rộng rãi, vị tha; nên nhiều lúc nàng không quản đại, bao dung, không quên những uất hận đau buồn vò xé trong quá khứ, khiến Mười càng điên tiết, muốn vạch trần bộ mặt gian trá lưu manh của Hoàng Phương Nam. Nàng muốn đốp chát vô mặt chàng, xỉ vã những lời cay độc, chì chiết, khinh khi, phỉ nhổ bãi nước miếng vô mặt “đẹp lão nhưng than ôi ghê tởm” đó, cho lại gan, cho hả cơn giận. Nhưng… do bản tính hiền lành nên mình không nỡ.

                            Năm buông lời ngọt dịu năn nỉ van lơn nàng hơn cả chục lần: “anh nói cho cô nghe, anh có lỗi, hãy tha lỗi cho anh”. Hừ! “em” đã tha thứ hơn cả chục lần em buồn bã tha lỗi... từ khi anh còn là sinh viên cho đến nay rồi đấy chứ). Bây chừ không nhất thiết em phải bao dung, (dù quảng đại bằng cái miệng, mà bằng sự chân thật từ ái), và lòng đức độ khoan dung trong trái tim rực lửa nữa rồi. Anh chẳng còn hưởng đặc ân đó, vì anh đã quá tàn ác, nhẫn tâm đối với mối thân tình của em, thì anh đừng trách em sao nỡ đáp trả lại như thế nhé. Chẳng qua em vừa giống anh, em đã "học cái sách ấy từ anh đó thôi". Đừng, anh đừng van xin làm gì! Vô ích. Khi Hoàng Phương Nam cũng biết giận mà nhấn mạnh giọng: “Anh nói cho cô nghe” một cách bề trên, kẻ cả, láu cá, trịch thượng, chứ không hẳn do tinh tế, biết nhận điều sai trái qua chữ “cô” thay thế chữ “em”, như bao lần chàng âu yếm dịu giọng làm hòa, những lời có căn bản giáo dục cuả một gia đình khả trọng tôn ti.

                            Lòng Mười lơ lững, phiêu linh, chênh vênh như lá cuốn trong gió lùa rần rật trên lưng áo thưa. Nàng cảm thấy rất buồn, vì một hôm vào ngày nắng tươi, nàng đã mời bốn người: Hoàng Nam, Vịnh, và Vượng (gồm có ba ông và một bà) - cùng đi ăn thịt cá sấu ở một nhà hàng thơ mộng, tại vùng quê Bình Thới. Ban đầu mọi người vừa ăn, vừa uống… và rỉ rả chuyện trò vui vui. “ông Hoàng To Bị” (trong giới nhậu nhẹt xỉn xỉn đã đặt biệt hiệu cho Nam đấy). Sau khi ba người đàn ông nầy, mỗi người đã uống bốn lon bia hộp ngoại, vỏ lon để ngổn ngang dưới chân bàn. Có lẽ do tu quá nhiều bia, nên họ ngà ngà say, hay do hai ông kia có ý nói muốn nhắn nhe cho nàng biết rõ về câu chuyện của “Hoàng Năm to-bị" và con “phở xí Kiêm”, cũng nên. Họ đặt tên con bồ Kiêm là "xí Kiêm", có hai nghĩa: xấu xí & xí phần: Ông Vịnh cười to:
                            Vượng tóc bạc khơi chuyện:
                            - Tui kể cho mấy già nghe chiện nầy: "Hoàng Nam to... bị" quả thật ông có cái bị khổng lồ thiệt sung sướng quá! ăn chưa no lo chưa tới. Còn tui, tui ăn cơm mới nói chuyện cũ… đây bạn. Ông Nam đúng là đào hoa, (do đào mỏ to bị mà ra à nhe):
                            Sáng đèo cơm đi ăn phở.
                            Trưa hăm hở rước phở đi ăn cơm.
                            Chiều cơm về nhà cơm.
                            Phở về nhà phở.
                            Tối nằm với cơm nghe thơm thơm mùi phở.
                            (1)
                            Vượng dằn mạnh lon bia cái cộp trên bàn, lắng nghe bạn Vịnh nói:
                            - Hẳn “cụ mi” biết con Kiêm là tình nhân của Vượng từ chín năm nay rồi? Phải hông?
                            - Khà khà! Biết chứ. Tôi đã đọc ở đâu đó: “vợ” là cơm nguội của ta. Mình ăn hoài thấy ngấy lên tận cổ... Nhưng phở tái là cha láng giềng. Tôi ăn phở tái... hì hì tất nhiên ăn bánh trả tiền, có hao tốn tiền bạc thiệt, đôi khi run sợ phải mang bệnh Aid. Tuy vậy tôi vẫn thèm… ăn phở, ăn “thịch”, kèm với ngầu pín và tả pín lù. Mặc dù tôi bị heart attach và protaste, vậy mới "chít".
                            Bây giờ hai ông kia không nói chuyện tiếu lâm nữa, mà bắt đầu nhập đề:
                            - Hẳn là ông Hoàng Nam biết chắc con xí Kiêm là ca va, nó có bốn đời chồng không chính thức, có hai dòng con riêng. Nay con ghẹ ấy vẫn đèo thêm một số tình hờ. Ông biết rõ nó đục khoét của Vượng không biết bao nhiêu của chìm của nổi, kể sao cho hết? Vậy mà, ông còn công nhận mình là bạn già U-70 cuả Vượng nầy ha?
                            - Dĩ nhiên... Chả thế có một bài thơ “tiếu Tức” của THH tả về con xí Kiêm sao, nghe nè:
                            Anh đi vắng, thâu đêm em thức.
                            Cỡi áo vì em đang bức rức...
                            Chỗ ấy bi giờ vẫn nóng nực.
                            Nhìn xuống nhìn lên càng thêm tức.
                            Nhìn lên nhìn xuống đà quá tức.
                            Nhìn qua nhìn lại không có thực!
                            Anh ẵm mụ nào vô xó... xực?
                            Sao bằng em... múi mít thơm phức!
                            (2)
                            Vịnh đứng dậy, một tay chống ngang hông, ông ta lừ mắt nhìn soi mói vào mặt hắn:
                            - Nè, ông đang cặp bồ với con xí Kiêm hử?
                            - Nghe anh Vượng không còn bao con xí Kiêm, họ xù độ rồi mà? Thì tôi cũng muốn ăn phở vui chơi qua ngày thôi... Tui với nó cũng như: “kẻ trộm mới đi ăn đêm. Ai người tử tế ra đường giữa đêm”!? Ừ, tôi nào có hạnh phúc như anh: “Có phước lấy được vợ già. Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh”. Khổ thân! Riêng tôi thì "ở giá" đã hơn hai mươi sáu năm nay: “Đói cơm lạt áo kém hem. No cơm ấm áo lại tìm nọ kia”... Nhất là lúc tôi nhìn thấy phở, thì nước miếng nước mồm tuôn ứa ra bên mép: “Có làm thì mới có ăn. Ngồi không ai dễ đem phần đến cho”. Tất nhiên là tôi phải làm tới, là là... tôi phải tán hưu, tán vượn con ghẹ, con mồi mới chịu đèn, chớp mắt lia chia, nhoi nhoi cái đít vịt ra. Ha ha...
                            Nam cười rất đễu, tiếp tục:
                            - Tôi dùng hết thủ thuật, lân la làm quen, hầu nhữ cho được “con mồi phở”. Tôi tủm tỉm "cừi cừi" nói nói, tôi cố ý lê la tới, để gù gạ cắn cái phao câu con ghẹ. Nói thiệt với mấy ông nghen, nó xấu xí bỏ mẹ à... Nhưng có hề gì, nó xấn tới xáp lá cà ráo riết, thì tội gì mình không vồ: Tôi mở mòi tán con ghẹ rằng: có phải xóm em đang… “hôm nay có đám giỗ gần. Trong bụng bần thần em chẳng muốn nấu cơm”, cho anh ăn không vậy? Cưng ui! Thế là chỉ mươi phút sau, chúng tôi dễ dàng xáp lại với nhau cái rột! “Được đà cứ tiến, được miếng cứ ăn”… Chỉ có vậy!
                            Vượng vuốt ngược nhóm tóc bạc ra sau gáy, ông ta lừ mắt:
                            - Thì có lần chạm mặt nhau, tui đã hỏi Nam: “Hỏi anh, anh nói học trò, sao mà tui thấy cỡi bò hôm qua”?! Hừ! Tui thật lấy làm tiếc, khi ông đã làm một chuyện mà tôi thấy một người luôn tự hào trí thức cao như ông, đều không ai dám làm. Ông là bạn cuả tui, ông thừa biết tui coi con xí Kiêm là “cơm áo gạo tiền”, là vợ chính thức (vì vợ tui đã chết). Chớ có phải là loại “cơm hàng cháo chợ” chi đâu! Mà ông vẫn lao đầu vào, để giật vợ của bạn. Là sao? Hử!?
                            Vượng ngừng một lát. Còn Vịnh thì nhìn trừng trừng vào mặt hắn:
                            - Nhất là, ông không làm gì ra tiền, ông ăn bám “cơm thừa canh cặn”, bòn rút vào con rể việt kiều của ông. Rồi… ông bu bám người đàn bà hải ngoại, ông nói với nàng ấy: “Em chính là tình yêu của anh, em là tình đầu, và là tình cuối. Ngoài em ra, anh không còn yêu ai, không hề yêu ai được”. Ông dùng tiền của mồ hôi nước mắt những người bạn khác, đục khoét tiền của những người thân khác, mà ăn chơi xã láng. Ông không có liêm sĩ, và làm những chuyện ác ôn, táng tận lương tâm, láo lường gạt gẫm bạn bè. Nào ông nói là: “bị đau cổ họng có thể ung thư, bị suyễn kinh niên, và tiền tuyến liệt, phải cấp cứu vô bệnh viện không tiền lo, xin bạn tận tình giúp”. Các bạn hải ngoại và thân nhân tưởng thật, đã thương cảm, quyên góp tiền gửi về cho ông hậu hỉ.
                            Thật ra ông mạnh như trâu, chẳng hề ốm o ho hen gì ráo. Ông đem số tiền ấy đi chơi bời, "ăn phở triền miên”, hầu thoả mãn dục vọng, và tự ái của thằng đàn ông sa đoạ, vì ông cứ tưởng mình hào hoa phong lưu, mà bị vợ bỏ. Ông hận vợ, hận đời. Nói thật với ông nhe: Tại sao ông không nhìn kỹ lại bản thân của ông đi, ông có ác ôn làm sao, thì chắc chắn ông mới bị "cô mối tình đầu từ năm 60", là người ông yêu quý nhất đời lặng lẽ chia tay? Bây giờ tui mới biết rõ cái bản chất của ông, tui nhục nhã khi quen biết ông, ông không xứng đáng làm bạn với chúng tôi nữa đâu. Hèn quá mà!
                            Vịnh trợn mắt đứng nghiêng qua một bên, xỉ xỉ ngón tay thẳng vào mặt hắn:
                            - Chỉ có loài thú “cơm niêu nước lọ” mới trơ cái trán bóng, mặt dày mày dạn ra. Loài chó nó có nghiã, nó cũng không làm cái chuyện đi lấy bậy. Đừng nói ông là con người có học thức cao, mà lén đi húp xái nước lèo, lấy vợ của bạn, rồi đi rêu rao ta có một thời phong lưu đào hoa. Nè, đào hoa cũng có nơi có chỗ với năm bảy hạng đào hoa, phong lưu. Tui vì ông Vượng thân quý, hôm nay tui đến đây là lần đầu tiên tui gặp ông, và cũng là lần cuối cùng nha.
                            Nạn nhân Ngọc Vượng nhìn Mười gật gật gù gù, nháy mắt nheo mày, lắc lắc mái tóc bạc phơ, như muốn trút bỏ cơn say, hay ông ta muốn nhắn nhe gì? Nhưng Vượng là người miền Bắc có giọng nói ngọt ngào, anh khôn ngoan, từ tốn, nhẹ nhàng can ngăn bạn thân:
                            - Thôi ông ơi:
                            “vợ là địch.
                            Bồ bịch mới là ta.
                            Khi chiến sự xảy ra.
                            Ta buộc về với địch.
                            Nằm trong lòng địch.
                            Rục rịch ta nhớ ta”.
                            (1) Ông xĩn rồi. Tụi mình đến đây mục đích là thăm chị Thương Mười, vui gặp chị cho biết ân tình xí... Thôi. Để tui đưa ông đi về gấp nà...
                            Vịnh hất tay bạn ra, cự nự:
                            - Tui phải nói cho thằng chả sáng mắt ra. Thật là ngu, khi hắn có người yêu qúy dám từ bỏ tất cả, để tới với hắn, chị ấy từng chăm lo và thủy chung với hắn như vậy, mà hắn còn đi tơ tưởng, khèo móc tùm lum, hắn lại dở trò bú dù với vợ của người khác. Xấu hổ, hãy mở mắt ra mà quay về với cố nhân đã từng yêu ông suốt 45 năm qua đi: “Hoàng Nam to bị” cứ tưởng con ruồi nằm trên lưới mạng nhện, thì dễ dàng thoát thân những con ghẹ từng hút máu ông sao. Nghe nè :
                            Bồ là cô gái qua đường
                            Vợ mới trân quí nhớ thương vô vàn.
                            Bồ thì nũng nịu than van
                            Vợ lo nhà cửa lầm than vô cùng.
                            Bồ hay mơ mộng mông lung
                            Vợ rất thực tế vô cùng đáng yêu.
                            (1)

                            Hai ông bạn già đứng dậy, nháy mắt chào nàng, rồi ung dung tự tại bá vai vít cổ, dìu nhau ra bãi giữ xe. Anh tóc bạc chở anh tóc hoa râm đi, tràng cười ha ha ha… lướt thướt lùa trong gió, rớt lại sau tấm lưng Nam. "Thằng chả" hai tay bưng lấy mặt, cúi gục đầu, hắn nhiên Hoàng Nam đã nhận gáo nước sôi tạt vô mặt đau điếng. Mặt mày hắn thộn ra, sượng sùng, tái nhợt rồi bừng bừng đỏ au, hắn trợn mắt, hàm răng nghiến trèo trẹo.
                            Do sơ ý khi nàng mở nắp lon bia cho chàng, (bây giờ nàng bắt chước mấy ông già U 70 kia, không dám thân thiết âu yếm gọi “anh Hoàng Phương Nam yêu” nữa, mà gọi là “Hoàng Năm To Bị”), nên miệng lon đã cứa đứt cạnh bàn tay và hai ngón tay của nàng, chảy máu. Lẽ ra, thì chỉ đau nhức ở cạnh bàn tay và ngón tay thôi. Nhưng không hiểu sao nàng lại nhói lên từng cơn đau đớn ở bờ ngực trái kinh khủng!? Dường như có ai thọc con dao găm vô trái tim nàng ngoáy sâu lút cán vậy. Đau ghê lắm! Tình bạn già và tình yêu mà nàng tưởng lầm là: thần tượng, lý tưởng cao vời, nay đã lố bịch sụp đỗ, rơi tỏm xuống vũng bùn. Buồn lòng và cay đắng nghẹn ngào, đau xót nhất là: từ nãy giờ lắng tai nghe lời họ nói, Mười mới bừng tỉnh, mắt nàng mở ra, cảm thấy sự thật phũ phàng qua những điều sống-sượng quá trơ trẽn. Mười nhận chân được giá trị về sự mỉa mai và đau xót khôn lường: Nam có một thời hào hoa và phong lưu, (dựa vô gia đình cha mẹ giàu sang, mặc sức cho con hào phóng ăn chơi với ai ai, chứ chẳng hề có nàng dự cuộc, dù một món quà nhỏ). Nay tự bản thân "Hoàng Nam chỉ là một kẻ hèn mọn, là tên lường gạt lố bịch, quá thô bỉ và tầm thường mà thôi.

                            Nàng khá choáng váng, bất ngờ, hốt hoảng tột độ, đờ đẫn cả người, ngượng nghịu ngồi chết trân, không kịp phản ứng. Chao ơi là đau kinh khủng! Mười chỉ biết ngậm ngùi xót xa, kèm theo những tiếng thở dài thườn thượt, lặng lẽ suy tư. Nàng im lặng suốt từ đầu đến cuối, sửng sốt, trợn mắt, há hốc miệng chăm chú nghe họ kể về “chàng”. Mười cắn mạnh môi ngăn chặn mọi đảo lộn khác thường. Trong tim Mười dẫu sao cũng có chút bừng bừng cơn sốt, tiếc thương vang vọng trở về mỗi lần có người nào vô tình gợi nhớ đến “người xưa”. Thuở trước, ngày xa xưa của thời kỳ sinh viên ấy, khi nàng và cố nhân mới yêu nhau, trái tim Mười bừng bừng co siết nhiều giọt mật say sưa, cuồng quay, trìu mến, dạt dào tình âu yếm. Tình yêu cuốn trôi mọi thứ đến tận tơ rung từng tế bào run rẩy, nồng nhiệt lẫn đam mê, nhưng khá trong sáng và êm ái, làm phẳng phiu mọi buồn đau trong lòng nhau.

                            Rồi thì bức biếm họa tình cảm có hai chân ngang trái, có bước thấp bước cao, lạnh lùng chụp
                            mũ lên đầu hai người ra đi. Quá khứ hay tương lai như hòn sạn khô niêm kín Mười giữa hai hàm răng nghiến chặt. Dẫu khát khao, quay quắt về cuộc tình xưa kia ôm nhiều kỷ niệm tái tê, khiến nàng đau đớn, chới với, hụt hẫng như bong bóng bay cuốn hút lên trời. Cuộc sống ấy đã có một thời đầy cạm bẫy, phức tạp, éo le, chua chát, dày vò... đi vào căn nhà định mệnh từ tiền kiếp và diễn tiến mãi tới hôm nay. Từ ngày xưa đến nay nàng chỉ: “Tri nhân tri diện, bất tri tâm. Hoạ hổ hoạ bì, nan hoạ cốt” (thấy người thấy mặt, không thấy lòng. Vẽ hổ vẽ da, không thể vẽ xương). Càng về lâu về dài thì nàng mới biết: Hoàng Nam ích kỷ vô cùng, anh muốn thoải mãn bản thân thôi, mà quên đi đạo đức tất yếu của con người biết tự trọng. Lòng tự trọng không ngăn nỗi tính già khú vẫn "háo thắng phong tình", và tội lừa phỉnh mọi người ùa về. Năm yêu bản thân riêng mình đến độ hèn hạ, mất thể diện và ô danh. Tính nào tật nấy, ngựa cũ quen đường xưa, đồng thời Nam chuyên lợi dụng người khác, sự lạm dụng trắng trợn đầy bất nhân, thất đức:

                            Thời xuân trẻ trai tráng cho đến bây giờ, không khác gì nhau: > Từ hồi xa lắc, cũ rích thuở mười bảy mười tám, Nam đã dan díu với mụ già khú Tư Râu Rậm ở gần nhà, mụ ta lớn tuổi hơn Năm tới một con giáp, mụ có chồng và sáu con, con gái đầu của mụ nhỏ hơn Năm ba tuổi. Và, Nam ngủ với nhiều hạng người: Từ bà chủ chứa gái từng lấy guốc sắt đập trên đầu Nam đã lõa máu tươi, (chỉ vì anh từng ngủ với bà ta, mà còn ngủ với con ghẹ trẻ, là con riêng của bà ấy, nên bà ta ghen thôi!). Khi Nam bỏ hai mẹ con bà ta, thì năm 2000 tiến tới con bé ăn sương bị mù loà, tối tối con nhỏ đứng chờ bên hẽm Hai Bà Trưng, để đón khách đưa lon xin tiền. Hoàng Nam dám khoe với nàng, và bạn bù khú điều ghê tởm đó, mà anh không hề đỏ mặt; coi như là một sự hào hoa, bay bướm, lả lướt, phong lưu của con đĩ đực!

                            Rồi; Năm lăng nhăng với “bà phở” bên sát hông nhà, Nam dám cả gan tò te với bà xồn xồn nầy đã có chồng con. Nói nào ngay dù có chồng, nhưng “gái một con trông mòn con mắt” mà. Nam thèm quá... ngồi ở góc cửa nhà mình, dòm lom lom qua nhà mợ kia, Năm canh me rình rập, khi chồng “mợ phở” đi vắng, Năm liền đảo qua lượn lại, tằng hắng tì hí, nháy nhó, thì thụt rủ rê “mợ phở” qua nhà. Con mợ ấy làm bộ ôm túm quần áo qua nhà Nam, để ủi áo quần nhờ. Nam liền đè “mợ phở” trên gác xép lấy mụ. Có ngờ đâu con gái út ở trong phòng, vô tình con hé cửa nhìn thấy hành vi của cha. Kể từ đó các con ra mặt phản đối, khinh bỉ hắn biết chừng nào!
                            Nhiều lần sau, Năm nháy nhó hẹn mợ phở xồn xồn đi du hí mặn nồng ái ân nơi khác, thì một hôm chuyện tồi tệ bị đổ bể; khi Nam gò lưng trên chiếc xe đạp, chở mợ phở ấy về gần ngỏ nhà, thì đôi gian phu dâm phụ bị chồng của mợ phở rình rập, và bắt gặp quả tang. Chồng của mợ phở nổi cơn lôi đình dzợt hắn một tăng te tua. Thằng chồng của mợ phở cầm con dao nhíp, lăm le đòi lụi Nam. Nam đã sụp quỳ xuống giữa lề đường góc Hiền Vương và Hai Bà Trưng. Mặt đỏ mặt tía tai bầm dập sưng u khắp nơi, Nam dập đầu xuống sát lề đường, hai tay chắp lại lạy lục ông chồng của mợ phở lia lịa, như tế sao. Nam khẩn cầu, van lơn xin “ông” tha mạng, (trước bao nhiêu kẻ qua người lại, kể cả mụ Tư Râu Rậm quá ghen đã dậm chân dậm cẵng ở ngoài sân nhà mụ ta. Mấy đứa con của Nam cũng thấy trọn từ đầu đến cuối. Sau nầy các con kể lại cho nàng nghe. Ông chồng của mợ phở bị mọc sừng, mà còn lưu lại chút tình người, thật ra ông ta giữ sĩ diện gia phong của riêng mình, chứ không tử tế gì, và không vô liêm sĩ như cái thằng đã quỳ mọp dưới đất, mà tha chết cho mình. Ông chồng của mợ phở sợ thằng hàng xóm 35 xấu nết quá, ổng lo bán nhà gấp, tức tốc thu dọn vợ con chạy đi mất biệt!

                            Tính nào vẫn tật đó, Năm quơ cả bà Nga nghèo khổ buôn mồ hôi bán nước mắt, tay bưng thúng xôi vò ngồi bệt ở vỉa hè ở đầu ngỏ Hiền Vương. Ngày ngày Năm ghé xe đạp qua góc đường, ung dung lấy vài ba vắt xôi. Bà ta thương yêu con người phong lưu kia, luôn dúi cho gói xôi, kèm chút tiền com cóp nhặt nhạnh trong thời kỳ mới hoàn tất cuộc cách mạng 75 – Kế đến bà Lan, là bạn nhậu bù khú với nhóm của hắn, bà ta tu rượu như uống nước lạnh, thời gian đó Nam bị vợ bỏ, đã say bí tỉ, nhậu nhẹt ly bì không biết trời trăng. Bọn họ ăn nhậu say sưa, khèo móc nằm la liệt, ôm nhau làm tình chung chạ chẳng hổ ngươi, họ không phân biệt “ông bà” như cá mè một lứa, tự nhiên như loài thú hoang ở ngoài chợ ngoài đồng.

                            Nhất là "xí Kiêm" mặt ngựa thô thiển xấu xí, ốm nhom ốm nhách, giơ ra cặp “trường túc bất chi lao” khẳng khiu, giọng nói bà ta lơ lớ, đanh đá, hung dữ, bặm trợn hết biết. Mấy người đó chả giống con giáp nào! (như Nam đã tả chân về những đàn bà đó, khi xỉn xỉn, Nam thường oang oang kể cho bạn, hoặc cả nhà nghe về "câu chuyện tình hờ" mà không cảm thấy xấu hổ); lớn, bé, già, trẻ, “thằng chả” cũng bòn mút liếm láp hết, không tha. Hoàng Nam đã dùng lời lẽ ngon ngọt đúng “một tông y khuôn đúc” đem ra sao chép, để phỉnh lừa họ.
                            Chỉ vì Nam muốn dùng những người đàn bà kia, để thoả mãn tự ái: Ta vẫn còn phong lưu, hào hoa, phong độ, có sức chinh phục mê-hoặc quý đàn bà nhẹ dạ, vì cái vỏ bên ngoài trau chuốt khá đĩ trai, Nam ưa dùng nước hoa sực nức mùi thơm dạ lý hương xịt quanh người. Hoàng Nam hận! bị vợ ly dị, (vì sự sa đọa trác táng chính mình). Nam đã lường gạt tiền của bạn bè đã gửi về lo cho mình đầy đủ mọi phương diện. Nhất là Nam muốn trả thù đàn bà, muốn che đậy niềm đau đớn đã bị người con gái xưa kia mình rất yêu, thế mà “cô nàng”… bỏ rơi Hoàng Phương Nam.

                            Sau khi chia tay người mà Hoàng Nam rất yêu, (nàng không thèm lo cho nữa), thì Nam túng thiếu vô cùng, Nam bán tống bán tán cái nhà, để mua một căn nhà nhỏ ở Gò Vấp, và đưa "mụ phở xí Kiêm" về chung sống như con vợ hờ lòi tói. Năm dùng tiền bán nhà ở Quận I, để mua nhiều vé số cặp, may mắn thay Nam đã trúng hơn 6 tỷ bạc. Và vẫn do… Nam muốn ăn cho khoái khẩu, nên Nam bị “phở xí Kiêm” lừa, mụ nầy là tay không vừa, rất tinh quái và thủ đoạn, thật là võ qúit dày có móng tay nhọn. Mụ ta khéo nịnh và tâng bốc Nam lên đọt cây dừa, nên Năm thích ngọt nghe bùi tai và sung sướng lâng lâng cả ngưởi.

                            Năm sang tên cho mụ căn nhà mới mua! đồng thời Năm đưa tiền cho mụ ta đứng tên tài khoản riêng là 80 triệu đồng tiền VN, để mụ ta có hiện kim, hiện vật làm bảo chứng, nhà nước sẽ chấp thuận cho họ tung tăng diễu trên đất Mỹ. Năm đinh ninh rằng mụ ta sẽ làm giấy tờ đi Mỹ du lịch với mình. Nào ngờ mụ xí Kiêm có chủ ý hẳn hoi, nên khi vô phỏng vấn, mụ xí Kiêm ú a ú ớ, làm bộ ngu ngơ, lúng túng, giả nai, ấp úng, mắt la mày lém, thì thọt, nháy nhó. Nên mụ xí Kiêm bị Mỹ từ chối. Trúng kế mụ xí Kiêm rùi! Thế là Nam đành đi du lịch mình ên năm 2009. Ở nhà, mụ xí Kiêm tom góp tiền bạc, vì mụ Kiêm biết Năm lại vi vút phong lưu với một con đàn bà khác. Mụ xí Kiêm chả thèm ghen tuông gì, mụ ta chỉ cần bắt tại trận, là xong béng. Thế là mụ Kiêm tống cổ hắn lìa ra khỏi chính cái nhà mà “anh yêu” đã sang tên cho “em cưng”. Nhân dịp Nam khăn gói lên đường đi Mỹ nầy, mụ “phở xí Kiêm” ở nhà dọn sạch đồ đạc của hắn vất ra khỏi căn nhà, mụ thay ổ khoá cho hắn ra rìa! Ồ! đúng “hắn” là thằng ma cô, thì gặp con phở xí Kiêm ta đây Tú Bà, là con ma cạo! Hoàng Nam hận vô cùng. Thế là… sau đó có rất nhiều chuyện kinh thiên động địa đã xảy ra… “Phở pin ngầu tả pín lù nhà hắn” đã bốc hơi thúi thum thủm ra thành phân, thúi hoắt mất rồi! Than ôi! ”! Mụ xí Kiêm không yêu mến gì Hoàng Năm cả, bấy lâu nay mụ ta sống với Năm chỉ vì tiền và thoả mãn dục vọng. Châm ngôn của mụ xí Kiêm:
                            - "Đàn ông không thiếu giống gì, không là cái thá gì, không ông nầy thì có ông khác. Chỉ có tiền là trên hết".
                            Bồ tôi chỉ thích ăn quà…
                            Về nhà lén vợ qua phà ăn thêm.
                            Phở bò gân tái sụn mềm…
                            Ăn cơm quá ớn Bồ thèm phở… rơi!
                            Phải chăng duyên phận do Trời?
                            Bồ tôi có đủ… đầy vơi các nàng!
                            Nước hoài chàng chớ mơ màng.
                            Ngày đêm nút chát với nàng vi vu…
                            Mặc dù con vợ lù đù!
                            Khui ra Bồ đã nhảy dù bao phen…
                            Xấu chàng hổ thiếp phận hèn.
                            Tên anh sẽ phải lem nhem danh đời!
                            Khôn ngoan chàng hãy nên rời.
                            Từ nơi “phở tái”… “cơm” thời xa anh!
                            Lôi thôi lốc thốc sao đành.
                            Tối ngày chàng ngủ gốc chanh hận đời.
                            Chẳng ai màn tới Phở dai…
                            Chàng ra nông nổi tiếng hoài thị phi.
                            Thử coi chàng bỏ lần ni.
                            “Cơm” không có mút nói gì “Phở” thiu!
                            Chẳng qua em chỉ vì yêu.
                            Khuyên chàng khuya tối sớm chiều bên em.
                            Vòng tay ấm áp xiết thêm.
                            Trải giường mơ lá mình êm chàng nằm…
                            (2)
                            ***

                            Một hôm, Năm nhận được thư của vị hôn thê

                            Hoàng Phương Nam nè,
                            Đã có chút xí tình cũ nghĩa xưa, ngày nay tôi gắng gượng muốn tạo ra tình bạn thuần túy giữa tôi và anh. Thế nên tôi cố ý lờ đi, lặng lẽ chia tay anh, muốn quên tất cả câu chuyện hèn hạ, không hay, không tốt đẹp về anh thế nầy. Tôi không muốn bẽ bàng nhắc tới… Tôi đã buồn trong im lặng, vì tôi thương hại anh, tôi nghĩ là con người thì ai cũng có chút biết điều & ăn năn muốn hoàn thiện. Sự thật thì tôi đã quên anh từ khuya, như quên một chiếc lá úa cuối mùa, như quên một hạt bụi lãng tử. Nào ngờ anh vẫn bươi móc lên. Lẽ ra anh phải xin lỗi tôi (người phụ nữ tuyệt vời… là tôi đây nè) anh mong tôi nên bỏ qua tất cả lỗi lầm cho anh, xin tôi tiếp tục bao che cho anh, mới phải… Nè anh; anh đừng có dựng đứng lên:

                            - “Em” đã lấy lại hết đồ đạc, rồi anh đi bêu rếu, vu oan giáng hoạ cho tôi những chuyện không, anh nói dựng đứng lên là có à nha. Việc nầy, các con gái đều biết, đều thấy rất rõ. Anh đừng tiếp tục bôi tro trác trấu lên mặt anh nữa. Tội nghiệp anh! Anh nói láo quá, anh gian trá thì con cái càng khinh bỉ anh. Cái tội của anh to ngập đầu ngập cổ, anh không biết hối hận, anh sẽ chết bất đắc kỳ tử không nhắm mắt.

                            Tôi không hề dựng đứng câu chuyện ấy, trái lại, tôi cố tình che dấu tội ác & sự láo khóet dùm anh, tôi dấu diếm chuyện anh phi nhân bất nghĩa như mèo dấu cứt. Lẽ ra, anh nên cám ơn tôi, câm mồm mới phải đạo làm người chứ. Nào ngờ anh cố tình moi móc lên. Anh còn hậm hực trở mặt vu khống nói xấu tôi. Những chuyện như vậy, tôi chưa nói với ai. Nhưng sao những chuyện thật tốt trong cách đối nhân xử thế về tôi đó, thì anh không làm ơn NÓI XẤU TÔI với mọi người, cho tôi nhờ xí hả?

                            Lần thứ mấy chục tôi đã tha thứ cho anh rồi? Bởi lẽ đó mà tôi buồn bã cương quyết dứt tình, đoạn tuyệt, xa lìa anh trong im lặng. “Em” đã cho anh rất nhiều với sự bao dung, chịu đựng, kiên nhẫn, hy sinh rộng lượng quá đáng. Hậu quả là không đúng chỗ. Điều ấy tôi không hề than van oán trách anh. Tôi không tức thì thôi; anh phải sáng mắt mà nhìn ra sự tuyệt vời cao thượng của một người đàn bà trong nhân cách sống của “em” đối với “anh”; mới phải đạo làm người chút chứ!

                            Đọc thư nầy, anh hãy vắt tay lên trán nghiền ngẫm, suy nghĩ cho kỹ… lỗi về ai KHUI ra chuyện nầy LÊN trước. Anh muốn làm, thì phải gánh chịu hậu quả anh gieo gió gặt bão, đừng nóng mặt mà đổ tội cho tôi BÂY GIỜ, NGÀY HÔM NAY: TÔI nói xấu chuyện thật 100% về anh; Bao lâu rồi, (từ ngày tôi lặng lẽ chia tay anh đến nay, đã mười năm), tôi đã nhịn anh từ bấy năm qua, cớ sao mỗi khi anh gặp người thân, bạn bè, anh vẫn hậm hực nói:
                            - Tôi nói xấu anh, tôi là người không vừa gì, đã tố cáo anh với công an, nên chúng rình mò trước nhà anh hoài, khiến anh không dám cụ cựa nhúc nhích đi đâu, không thể làm ăn gì (khi tuổi già).

                            Tại sao anh nói láo vậy??? Vậy thì, cho tôi hỏi: Chắc chắn là anh “xấu” không ra gì, nên mới có chuyện người vợ yêu nói xấu, chứ anh đàng hoàng, thì hẳn nhiên người ta nói “tốt” rồi. Ủa, chứ công an chắc hẳn khờ me, nên “biết” anh như thế, mà chỉ ngồi ở trước nhà rình mò một ông lão ngoài 70U, thì chắc hẳn hắn còn tốt bụng hơn anh đó! Anh nên nhớ: Anh nói láo, nên quên trước quên sau, vì thời xuân xanh dù có vợ con đùm đề, thì anh vẫn “ăn vạ” ở nhà cha mẹ. Sau khi ly dị vợ thì có con gái nuôi. Thời thanh niên hay tráng niên anh chưa làm ăn gì để nuôi ai. Thì ngày nay anh còn “đòi làm ăn” gì, khi anh đã là một ông lão. Hỉ! anh trắng trợn đến thế là cùng.

                            Tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe rành mạch rõ ràng về chuyện XẤU XA của anh hết. Nhá. Ngày nay nếu anh đã nói vậy, thì oan ức cho tôi lắm, buộc lòng tôi phải lên tiếng trả lời anh & (bạn hữu, và người thân) hiểu rõ về anh & tôi: đôi chút đây. Bởi tự vì do chính anh luôn miệng đi rao réc với các anh chị em, họ hàng, bạn hữu và thân nhân:
                            - “Nó” gian ác, nói xấu anh, đã lấy tất cả đồ đạc trong nhà, tiền bạc, nó ra đi không chừa lại cho anh thứ gì cả. Anh mất trắng.

                            Thưa anh “Hoàng Năm Tony, tự to bị ơi”, sao anh không còn chút liêm sỉ và danh dự con người, mở miệng ra anh nói láo kinh khủng, mà không biết mắc cỡ? Vậy chứ, anh có muốn tôi nhắc lại cho anh nhớ rõ không? Nầy nghe:
                            -* 01.- Kể từ năm 1977 đến năm 2009: Tiền bạc phủ phê, tôi tốn với anh bao nhiêu thứ: đồng hồ, máy ảnh, camera, vài lượng dây chuyền vàng, nhẫn vàng, cà rá nhận hột, những đôi giày sports, những quần jeans, áo gió, áo len, những bộ áo veston đắt tiền, không kể đồ dùng son nồi… vân vân... & vân vân… Tôi lo cho anh vô số chuyện… đó là chuyện vặt, chuyện nhỏ. Của nổi to chình ình như: tủ đựng quần áo giá vài triệu, tất cả máy móc trong nhà, tivi, microwque Whirlpool Gold Cooking Accubake. Cho anh tiền mua tủ kính úp chén bát, tôi khệ nệ mang vác từ Mỹ về. Cho anh tiền làm một giàn tủ tuyệt đẹp mới toanh, thuê thợ đóng ở trên bếp đựng những thứ cần thiết.

                            -* 02.- Tôi chi tiền ra mấy lần: anh làm hết hai hàm răng giả bị nha chu, (anh phải nhổ quách đi hết rùi). Những lần anh nói: “Anh đi nằm nhà thương, đi bệnh viện, đi Cần Thơ, Đà Lạt, Vũng Tàu, Nha Trang (những lần nầy, tôi biết anh đi du hí chơi riêng với những con đàn bà; do con gái méc với tôi. Nhưng tôi lờ đi, vì thông cảm & thương anh ưa sống đời phóng đãng, ắt sẽ thèm thuồng chuyện sex vậy mà)… Mấy lần rồi, anh nói anh làm mất toi hiện vật, hiện kim mất hết trơn. Tôi hỏi tới, nào: “dây chuyền vàng y, vàng tây, cà rá, đồng hồ, camera”, vân vân… khi thì anh nói láo: anh túng tiền, anh có bán xài, hoặc anh đã cầm cố. Đôi khi anh đi chơi đã bị mất hết cả bóp tiền USD, bị giựt vàng bạc, đồng hồ đồng cháo… Tuy nhiên tôi đều bỏ qua hết. (Úi Trời! Cáo già mà cũng bị giựt ha)!

                            Anh mượn tiền tôi để hóa giá căn nhà ở hẽm Hiền Vương, tiền làm dịch vụ nhà đất, tiền đóng thuế nhà đất. Anh mượn tôi tiền đóng thuế nầy, dịch vụ nọ, dịch vụ kia, sữa xe cúp, lấy bằng lái xe cúp, vân vân... và vân vân… Tiền tôi gửi chị Ba Jeanne của anh, (tôi nhờ chị ấy làm giấy tờ dịch vụ bảo lãnh anh đi du lịch qua Mỹ). Tiền tôi gửi cho anh mua vé máy bay khứ hồi, sắm sữa… Vậy thì vài chục ngàn USD anh nói: anh để trong bank, chắc cũng bị “con nào” giựt béng mất toi hết sao? Anh đem… tóm lại, tất cả mọi thứ, anh đem đi dâng cúng bất lương vào những cuộc truy hoan & ăn uống xã láng, anh cố ý dợt le với những bà Kiêm, bà Nguyêt, bà Dung, Lan…. Tóm lại, mọi vấn đề “lo lắng yêu thương của tôi về anh” không làm sao kể xiết.

                            -* 03.- Tất cả của cải ấy vẫn còn nằm lì ở nhà anh: từ cái máy lạnh mới cáu cạnh, nếu tôi không xuất tiền túi của tôi, thì ở đâu ra?, để ngày đêm phà ra cho anh mát mẻ? Chả lẽ “em” mua sắm ra tất cả tại nhà nầy cho anh, rồi khi vợ chồng mình giận nhau, tôi leo lên tường tháo gỡ xuống, đem đi Mỹ hết à? Bằng chứng thực tế nhất là hai hàm răng còn dính trong miệng anh đó, chẳng lẽ “em” banh miệng anh ra, mà lấy lại răng tất?. Tiền mặt dollars tôi tới tấp gửi về, hoặc tận tay đưa riêng anh trên vài chục ngàn, (không kể tiền tôi đưa ra trước mặt cho bé Khanh để trả nợ đậy dùm cho anh 5,000 US,) thì sao?

                            -* 04.- Dĩ nhiên tôi phải và chỉ lấy lại quần áo cá nhân của tôi khi ra đi mà thôi. Anh nói láo và lường gạt tôi và con gái mọi chuyện. Kể cả chuyện anh dám cả gan bạo phổi một mình anh tự đến nhà con gái Khanh ở HvH, anh... (nhân danh) dùng danh nghĩa tên tôi, (mượn uy tín “tên của em”), anh nói láo với con gái:
                            - Con ơi! Cô Mi rất cần tiền. Con cho cô ấy mượn 5.000usd. Nhưng con đưa tiền đây cho ba, ba gửi qua Mỹ cho cô gấp.
                            -*- Con gái tin anh nói thật, nên bé Khanh đã đưa tiền cho anh. Anh dấu diếm mẹ con chúng tôi, đem đi ăn chơi phung phí với bà Kiêm hết. Anh không hề nói cho tôi biết, là sao? Mãi đến một năm 2004, khi về VN, thì bé XuTu hỏi “em”:
                            - Má đã mượn tiền của chị Hai lâu rồi, vậy khi nào cô mới trả lại?
                            Tôi giật mình sửng sốt…“Em” khéo léo hỏi con bé cho ra lẽ:
                            - “Cô mượn bé Khanh sao? tiền gì? Hồi nào? Cô không bao giờ mượn tiền bé Khanh, hoặc bất cứ mượn ai một thứ gì cả. Chớ đừng nói là cô mượn tiền gì, con à.

                            Thì con gái bé kể lại cặn kẽ đầu đuôi, (như đã nói ở trên). Hẳn là anh còn nhớ rất rõ: Khi đó tôi giận quá, giận run, tôi đã bắt buộc anh phải chở “em” đến nhà bé Hai, để đối chứng thực hư ba mặt một lời. Trên lầu hai trong phòng khách, ở sofa nhà con gái, lúc đó có ông Cường (chồng sau của bà vợ anh) ngồi đọc báo gần cửa ra vào. Anh đã cúi mặt gục đầu trước mặt tôi, con gái, bé Hai; mà thú tội:
                            - Anh đã dùng uy tín của em để tự ý mượn tiền của con, tiêu xài riêng như vậy.

                            Đúng 100% không? Nói thật với anh nha, vì tôi quá thương bé Hai, con gái dấu nhẹm không dám cho chồng… của nó biết việc anh làm tồi tệ nầy, nên lúc đó tôi không nở làm to chuyện, sợ con gái mất hạnh phúc. Rồi tự “em” (là= tôi) móc tiền túi của tôi thêm nữa, tận tay tôi đưa cho bé Hai; trả nợ đậy cho anh (anh gian trá nói láo mượn uy tín của tôi, móc tiền các con của anh đó). Tôi hứng nợ đậy giúp anh trả tiền cho con, có nghĩa là tôi muốn để anh biết ăn năn hối cải, ngầm giúp anh vuốt lại cái mặt, bớt nhục nhã xấu hổ, ngỏ hầu anh có thể ngẫng lên nhìn ba đứa con gái, nhất là đường đường chính chính ngó con rể, họ rất đàng hoàng đứng đắn, không biết có cha vợ hèn đến thế, anh rõ hử? Lúc đó anh nói trước mặt chúng tôi:
                            - “Em cho anh mượn những món tiền nầy, và những món tiền trước kia, sau khi bán nhà xong, anh sẽ hoàn trả lại cho em”!

                            Nhớ chưa anh? Bây giờ anh bán nhà cũ đã chục năm rồi, sao anh không nói gì chuyện nợ nần vay mượn?? Nè, tôi chưa bao giờ cầm một đồng xu nào của anh cả nghe! Do đó, thư nầy tôi sẽ chuyển tới những người mà anh từng bêu rếu tôi, cho họ đọc, để xác minh.

                            - *5.- Có dôn dốt như tôi, thì ngày nay tôi cũng thấy, biết rất rõ chân tướng anh mà. Vì sao? Khi xưa “em yêu anh”, anh được em sơn phết lên một lớp mạ vàng quá lý tưởng, thần thánh, ảo tưởng, như người Mỹ gọi là “American Idol”. Tôi cố tình bưng bít, che đậy tật xấu xa của anh. Nay “em” và các con gái & người thân đã biết được những hành động khả ố cuả anh. Anh nói láo tàn bạo, phản bội tình, lừa gạt tiền, lì lợm trắng trợn thô bỉ nhất đời. Tôi không thể rộng lượng tha thứ cho anh thêm; Trái lại cớ sao anh ngu ngốc như vậy? Ngày nay anh cố tình khêu lên chuyện dĩ vãng đã bao năm qua làm chi? Anh là người không biết điều, mà khi qua Mỹ anh còn cố tình nối giây liên lạc phone, mail và kể với tôi:
                            - “Từ 5 năm qua, (2005-2010) anh nói với tôi:
                            - Anh đã có “vợ hờ” là bà Kiêm, để bà ta lo cho anh trong tuổi già, chớ ai lo cho anh đây?”.

                            Khi đó tôi đã thẳng thắng nói với anh rằng:
                            - Nếu anh lấy ai, thì em don’t care, nhưng anh lấy bà Kiêm làm “vợ lòi tói, hầu hạ anh trong tuổi già”, thì thật tình là em khinh bỉ anh. Vì anh biết rõ là anh đã dùng nhiều tiền bạc của em, để mua vui, truy hoan tình cảm với Kiêm mà! Ôi! Cũng như anh đã nói: Anh đã nhổ bà Kiêm ra khỏi miệng, giống như anh nhỗ bãi nước miếng xuống đất. Anh không thèm liếm lại. “Anh ở làm sao cho vợ anh thôi? Bây giờ anh khóc đứng than ngồi với ai?!”. Lần cuối cùng cách đây vào cuối năm 2009, anh đi Mỹ du lịch, anh phone và có e-mail cho “em” ; anh lại nói:
                            - “Bây chừ… Anh đã có “vợ hờ lòi tói” khác, một cựu nữ sinh tên “Lý Lắc”… tuyệt vời”.

                            - *06.- Lần nầy thì “em” thật tình có chút hơi mừng cho anh. Vì nếu quả thực “một cái bà Huế kia” sẽ sẽ … và sẽ …là người vợ thứ mấy của anh đi nữa, bà ta cũng không hẳn là người đàn bà tuyệt vời mà anh mơ tưởng đâu ạ! Vì sao? Nếu NGÀY XƯA kể từ năm 1976 đến năm 1992, khi Hoàng Năm Tony chỉ là một “thằng” đàn ông đi xe đạp lọc cọc lạch cạch, không có đồng xu dính túi, trên & trong mồm miệng mỏng dính không còn hai hàm răng, ở dưới thì áo thô quần vải, nghèo xơ nghèo xác. Sáng sáng anh ẹp mình trên chiếc xe đạp gò lưng đi làm công nhân viên quèn, với khúc bánh mì, gói xôi cất trong cái xà cột đeo bên hông.

                            Trong khi đó 1976 – 1996 bên cạnh anh đã có một phụ nữ tuyệt vời đúng nghĩa: Sáng tửng bưng nàng vừa nai lưng đi làm xa xôi vất vả. Buổi chiều nàng tất bật về nhà chu đáo lo cơm nước, giặt giũ (bằng tay), ủi quần áo, hầu hạ săn sóc cho “anh và hai con nhỏ dại” đâu ra đó tươm tất chu đáo đàng hoàng. “Nàng” cần cù nhẩn nhục bỏ tiền túi ngỏ hầu lo cơm nước, chịu đựng chăm lo vun xới cho gia đình NGHÈO ấy từng ly từng tí. Nàng xăn quần lên tận háng, lội lủm bủm trong nhà, hứng từng thau nước mưa khi nhà dột, vách nhà hư nát. Nền xi măng lổ chổ, ngày ngày nàng vẫn cúi qùy hai đầu gối xuống đó mà hai tay lạnh cóng với cái khăn lông lau nhà, lau cửa.

                            Có nhiều lần nàng quảy túi cói sau lưng, một tay nhặt những bịch ny lông đựng đầy phân rác thối tha; một tay quệt mồ hôi, con vợ hờ hững đi suốt ngày từ đường nầy qua phố nọ nhặt những thứ bọc thối tha, rồi đem về nhà, nàng dùng hai bàn tay lở lói (vì rủ và giặt thứ bẩn thĩu bám vào da thịt), giặt từng bọc ny lông. Nàng cẩn thận đem phơi khô, ngồi ngòai nắng canh chừng, vì sợ gió bay. Sau cùng nàng bưng những bọc ny lông sạch đem ra hãng ve chai bán. Lấy tiền chắt chiu dành dụm, nàng vui cười hoan hỉ, vì anh có biết không? mặc dù ở nhà con đói khát, (anh biết rõ mà), nàng vẫn đem những món quà (đối với họ là vô giá), hầu mỗi tuần đi thăm nuôi Hoàng Năm Tony bị biệt giam ở trong tù Đại Lợi, (vì anh có tội tham nhũng lường gạt của chung của xã hội chủ nghĩa; chớ không phải anh đi tù do bị "học tập cải tạo" như nhưng người trai khác mà tôi rất kính trọng).

                            Nàng ở nhà ngồi trên gác xép khâu vá áo cho “ông ta” từng mủi kim, luôn tay quệt hai hàng nước mắt vào ống tay áo, chỉ khóc thầm… do nàng quá “yêu ông chồng”. Khi Hoàng Năm đã ra tù, sống lây lất, ông ta bất nhẫn tiếp tục lấy đi từng món, từng món… của người vợ; kể cả “anh lén cắp lấy hết mấy bộ quần áo cuối cùng còn lại của tôi”, anh đem ra chợ trời bán, anh đi nhậu nhẹt, say túy lúy với bà Lan, bà Dung, bà... Tôi đứng ở góc bờ kinh Nhiêu Lộc nhìn anh ôm hót đú đởn với mấy con đó, mà quệt hai hàng nước mắt khóc thương chồng vô lương tâm tàn ác.

                            -* 07.- Trong khi đó, ngày HÔM NAY nếu anh có đào bới nặn bóp lên hình tượng một “nàng Lý Lắc”, mà anh cho là “vợ hời lòi tói tuyệt vời”! Thì tôi không lấy gì làm ngạc nhiên và kính phục xí nào. Vì sao?! bà ấy biết khôn ngoan một tay nắm mớ tóc muối tiêu, một tay nắm túi… và dùng thủ thuật của một người đàn bà quá tuổi xồn xồn từng trải, mà níu giữ lấy “cái hạnh phúc hờ loi choi” ấy, thì chứng tỏ rằng bà ta chưa hẳn có tình yêu chân chính, không quá ngu dại, và đần độn… để nắm bắt một thời cơ hiếm hoi trong tuổi già xế bóng còn lại ở XHCN!

                            Vì sao thế ư?! NGÀY NAY anh không còn là: “cái thằng đàn ông trần trụi”… ; mà ngày hôm nay anh đã là “thứ Ông” CÓ điều kiện ĐẦY ĐỦ, áo quần tốt đẹp, có tiền bạc phủ phê bỏ trong bank, bà ta không hề rỉ ra một xu chinh nào, không tốn với anh đồng xu cắc bạc nào, bà ta chỉ tốn có công nằm ngửa rung đùi chơi xơi nước... Nếu anh là thằng bất nhân, bất lực, bất lương, bất tài, có chết bất đắc kỳ tử, thì bà ta chả cần… vì gia tài về tay bà ta hưởng trọn: có xe cúp cỡi lên, có nhà cửa… (dù không sang, vẫn hơn cái nhà tôn nóng bức cũ kỷ xưa); bà ta có tiền rủng rỉnh đi du lịch cặp bồ đó đây…

                            Thì… thưa anh! Bà ta không nằm ở trong thời điểm khi anh còn là thằng áo rách khố ôm, bà ta không nếm biết cái cảnh anh rượu chè say sưa be bét, anh mặc mỗi chiếc quần xà lõn xệ xệ xuống mông, anh nghiến răng trèo trẹo chân cao chân thấp, anh cầm dao chạy rượt dân chúng chưởi bới xóm làng. Bà ta không sống trong cảnh chứng kiến anh cạy tủ con gái: anh lấy cắp của con $4,000 dollars. Hoặc anh đã lấy tiền bạc $5,000 của tôi đi với gái và ăn nhậu. Bà ta không có tài cán gì để “thông cảm, nhẫn nhục chịu đựng và thấu hiểu”... Thì ngu dại gì mà bà ta không nâng bi anh, nhỏ nhẹ vuốt ve mơn trớn anh hè??? Có mà điên! Bà ta ngu sao mà trở mặt bái bai anh… như bà Kiêm đã bye anh không thương tiếc khi anh đã giàu xụ hỉ?! “Cái đàn bà” anh cho là tuyệt vời, ngày nay dự định làm vợ hờ lòi tói ấy… Ui, xét cho cùng quá thô thiển, tầm thường thôi đấy ạ!

                            - *08.- Tuy nhiên, một điều cuối cùng tôi muốn thật tình khuyên anh: Kinh qua cuộc tình dai dẵng hơn 50 năm xưa ; cuộc tình của anh và bà Phùng đầu đời sau 10 năm chăn gối vợ chồng mặn nồng:
                            Anh nghe ai nhón gót đưa chân.
                            Sao không nhớ nghĩa Châu Trần ngày xưa”?
                            Khi anh & bà Phùng ly dị, anh đã nói xấu: Bà ta vơ vét tất cả, không chừa cho anh, dù đôi đủa cái chén bà ta cũng mang đi”. Cuộc tình 5 năm lòi tói với Kiêm khi hai người: “Anh điêu khốn gian ác… gặp chị khốn tà trổ trời”, thì bà Kiêm bỏ rơi anh, anh cũng đi nói xấu Kiêm là: “Kiêm lấy hết tất cả mọi thứ của anh”. Hoàng Năm nè, họ khác tôi, rất khác, họ có lấy đi hay không, tôi không cần biết; Nhưng chính TÔI là vị hôn thê đầu đời của anh- thì TÔI đã ĐỂ LẠI cho ANH tất cả; nha anh. Thế mà tôi vẫn không hề mở miệng than van, hoặc nói tiếng nặng tiếng nhẹ với anh! Vậy thì, trong mắt anh có phải tôi là người hôn thê tuyệt vời ấy… hay tôi là người phụ nữ xấu không, anh nhỉ???

                            - Tôi biết rõ anh hơn ai cả. Mong anh thức tỉnh. Không nên nhẫn tâm, bất lương mưu toan lường gạt tình cảm, tiền bạc những người nhẹ dạ khác thêm nữa; anh đã già lắm: ngoài U 70 rồi, anh cần để phúc đức lại cho con cháu bớt tủi hổ nhờ. Nhất là bà con, con cái, những bạn trai gái của anh ở hải ngoại vô tội, ai ai cũng làm việc vất vã. Chứ họ không như anh, (được tôi và bé Khanh nuôi sung túc, no đầy). Anh không vất vả làm việc, anh ngồi không an hưởng, nên không thấy giá trị cao quý từ tình bạn, tình yêu người vợ chân thật từng đầu gối tay ấp, qua đồng tiền của người khác dành dụm, chắt chiu gửi về anh đâu. Đồng tiền kiếm được qúy lắm, họ giúp những người thực sự nghèo đói, đau khổ khao khát sự sống trong lành. Nhất là những đồng tiền bạn bè quyên góp ở hải ngoại. Lẽ ra, những mớ tiền đó, nên đến tận tay các em bé mồ côi tật nguyền đáng thương, ốm yếu, những ông già bà lão mù lòa, bệnh hoạn khốn cùng, nghèo khổ đơn độc ở vùng quê xa xôi, mới phải.

                            Trong khi đó, anh nhận tiền của tôi, (hoặc của người khác), anh tiếp tục sống phây phây, phè phỡn đi ăn chơi trác táng với mấy bà… Tôi “nói có sách, mách có chứng, có biên nhận chữ ký của anh & CMND của anh, tiền của tôi gửi do tên anh nhận, tôi còn giữ đây rõ ràng. Ở hải ngoại bạn bè thân nhân của anh cứ tin anh bị đau nan y. Anh đã nói láo, lừa dối họ: “anh có di chứng ung thư cổ”, để họ quyên góp tiền gởi về cho anh. Tôi và các con gái ở nhà đã kiểm chứng: Anh không hề có hồ sơ bệnh lý gì, anh không uống một viên thuốc nào, anh không hề đau ốm chi cả, anh không có mặt trong bất cứ một bệnh viện nào tại VN. Anh béo phì to mập, mặt anh tròn úc núc như cái mâm. Anh khỏe mạnh hơn một việt kiều thứ thiệt bội phần.

                            - *09.- Để khỏi làm hậm hực phiền nhau vô ích nữa, sau năm 2013 tôi dự tính sẽ về VN > ở lại lâu năm: Trong đó, tôi sẽ giải quyết trắng đen chuyện tiền bạc anh đã vay mượn của bạn, tôi, từ xưa, và đưa ra ánh sáng cho minh bạch vụ nầy, cùng mấy vụ khác. Anh có hiểu tôi rất khổ tâm khi bao che cho anh không?: bây giờ Phụng, Thu Thủy, bà Ngọc Hương, hiện đang sống tại Mỹ, & - Kể cả gia đình ông Vinh, ông Ngọc, ông Thanh, g/đ ông Đoàn, (họ hiện ở VN) biết anh ở VN sống phây phây, anh qua Mỹ vung vít, họ bảo tôi phải chỉ cho họ biết tin về anh, vì chuyện: Năm 1977 tôi và họ đã đưa “Hoàng Năm có biệt danh Hòang Năm Tony to bị” chục lượng vàng, để anh vờ vịt lếu láo chuyện làm không tặc. Họ muốn anh sòng phẳng trả lời trước công lý.

                            Tôi bây giờ thật bình an, hờ hững nghe tình tàn phai. Đây là lần thư cuối cùng, xin anh hãy tha cho tôi, đừng liên lạc với tôi bất cứ phương tiện gì. Nhá!!! Anh đừng cố gắng níu kéo giằng co vô ích. Do tôi không nỡ, tôi can ngăn. Họ không còn gì để e dè sợ hãi, khi nói ra chuyện có thật, họ chỉ làm sơ sơ một lần cho tỏ. Vì danh dự và sự thật, cùi rồi không sợ lở, có chết không ân hận. Ngày ấy anh quá tàn ác đã hại chúng tôi xấc bấc xang bang bấy lâu nay không có chỗ dung thân, chỗ ở, chưa đủ sao? Anh hãy chờ ngày đối diện với những người bạn của chúng tôi (và cả anh) cần đối mặt nơi ánh sáng sự thật -thêm lần nữa, nếu anh muốn, muốn không???). Anh biết chắc chắn một điều: họ không thèm hù dọa anh.

                            Hẳn nhiên là anh biết tính tôi: tuy tôi ôn hòa nhân ái, thùy mị, bao dung chịu đựng và độ lượng. Nhưng anh ạ, anh đã quá nhẫn tâm, tàn ác, không có đức độ khi xử sự với một người vợ từng vì anh mà cho tất cả mọi thứ trên đời. Bao lần tôi đã muốn quên đi chuyện buồn lòng, nhưng anh vẫn nhẫn tâm, tàn ác… làm cho tôi quá đỗi đau khổ và cùng quẫn. Dù tôi nhẫn nhục, nhưng lần nầy không thể chịu đựng nỗi, Thì ngày nay, nếu thêm một lần nữa có chuyện tranh chấp giữa nhóm bạn và anh, thì anh đừng trách sao chu1ngtôi xử tệ với anh, vì chính do anh đã và đang dạy cho chúng tôi học theo từ cái sách độc ác của anh đó thôi.
                            Tôi mở nhạc đây: Hãy nghe Vicky cho thật kỹ nhá: APRÈS TOI của Vicky Leandros

                            Tu t’en vas
                            L’amour a pour toi.
                            Le sourire d’une autre
                            Je voudrais mains ne peux t ’en vouloir
                            Désormais
                            Tu vas m’oublier.
                            Ce n’est pas de la faute
                            Et pourtant tu dois savoir
                            Qu’ après toi,
                            Je ne pourrai plus vivre, non plus vivre
                            Qu’en souvenir de toi
                            Après toi
                            J’aurai les yeux humides
                            Les mains vides, le coeur sans joie
                            Avec toi
                            J’aurai appris a rire
                            Et mes rires ne viennent que par toi
                            Après toi
                            Je ne serai que l’ombre
                            De ton ombre - Après toi ...

                            Cố nhân ký tên TtTm:
                            (Trịnh thị Thùy Mến,
                            tự là Mười)
                            *

                            Tình Hoài Hương
                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-10-2017, 01:05 AM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • Tinh Hoai Huong
                              Senior Member
                              • May 2009
                              • 1081

                              #209
                              Cục Đất Quê Hương


                              Cục Đất Quê Hương


                              Dù không muốn cào bới dĩ vãng vùi trong đất, trong tro, trong bùn… mà mỗi lần chỉ cần khơi lại lò bếp tàn, lòng tôi cảm thấy quằn quại, đau đớn, xót xa hơn bị dao lam mài liếc, bào mòn, ghim siết, chọt thủng từng nơi mọi chỗ trên da thịt. Tóc tôi sớm bạc trước thời gian theo luống tuổi chất chồng. Tôi không biết mình đã trải qua bao đau thương thảm khốc, lòng dẫy đầy nỗi ưu phiền sầu đắng nặng trĩu! Kể từ ngày gia đình tôi bỏ tất cả mọi vinh sang sung túc phù dung ở Đà Lạt, để di tản lưu lạc chạy có cờ xuống Nha Trang, và mới bước chân tới Sài Gòn chẳng được bao ngày, lại tất tả lủi về miền Tây, đến ngày mất hẳn nước; thì bây giờ tôi lủi thủi xuống phía Thành Ông Năm, gia đình tôi ít có ngày được an thân, mà hầu như luôn khổ sở, điêu linh, chết đứng như bị trái bom Napalm dội vào cuộc đời điêu linh khốn khổ, đầy gian truân, ngậm ngùi khổ đau cho một kiếp làm người!

                              Từ đời tam cố đại xa xưa, dòng họ tôi giàu sang danh giá ra phết! và “nhân chi sơ tính bổn thiện” thiệt là hiền lành. Nhưng sau 1975, thì tôi “mất giá, mất dạy và mất danh”, cũng ra phết nốt. Tôi là nữ nhi hèn mọn; mà thuộc loại lì lợm, chân thật mà bướng ngầm. Chuyện gì nghe trái tai gai mắt, trái với sự công bằng và lẽ đoan chính, thì tôi cố gân cổ trợn mắt lên cãi lại. Tôi cũng như đa số người khác: trong lòng ôm ấp bao lý tưởng hoài mong, kỳ vọng. Nhưng trong cái phẳng lặng nội tâm... nào hay tôi đã âm ỉ ẩn chứa nhiều đợt sóng ngầm.

                              Có những sự kiện mình không thể khắng định là “trắng” hoặc “đen”, đúng hay sai. Nếu trắng ở ngoài sáng thì thấy là trắng, trắng ở trong bóng đêm có thể trông thấy trắng. Nhưng nếu “đen” mà ở trong bóng tối thì... vẫn hoàn đen! Hà tất điều gì cũng đạt đến thành công mỹ mãn! Trên đầu tôi và mỗi người đều có một khoảng trời riêng biệt, trời rộng trời hẹp đều do suy tưởng, do từng hoàn cảnh và ở trong lòng mỗi nhân sinh quan. Cho dù:
                              Con nhà tông không giống lông, đỡ giống khỉ.
                              Mình vì mọi người, mọi người coi mình như "mọi"
                              . (1)

                              Tôi, bẩm sinh là tuổi “cọp cái sư tử Hà Đông” mà! Như thầy bói đã vui vẻ chúc Tết:
                              Chúc cho tuổi Cọp... các bà.
                              Đừng quá lớn tiếng cửa nhà nổ tung.
                              Nhẹ nhàng một chút mới khôn.
                              Chắc chắn sẽ thấy tâm-hồn thảnh-thơi.
                              (1)

                              Nói đùa cho vui tí vậy, chứ chả phải tôi tuổi Dần cao số đâu nà! Hổng dám đâu. Tuy thế, sau bao năm đói khát cơ cùng gậm nhấm bào mòn cơ thể. Nên nay tôi nghiệm ra một điều là: tập kiên nhẫn, chịu đựng, cúi đầu, cố gắng nhịn nhục, nhoẽn cười duyên ti tí với thế nhân. Vì, nếu ông Trời có cho tôi mọc thêm ba đầu sáu tay trên sợi gân cổ, thì “cái thế xã hội chủ nghĩa” tạp nham nầy, vẫn không chịu mở mắt khai hoa chia sẻ tình thương, cho con người cùng khổ như tôi bớt phần nào cơ cực đắng cay rất chi là đau khổ tột cùng! Và, vì tôi bắt buộc phải ngửa mặt lên nhìn Trời cao lồng lộng, cúi xuống đất dày cui khô cằn, nhìn hai bên giá vai có hai thánh soi xét, ghi chép: "Chứ tôi nào có tội tình chi, mà mười ngón tay già run run, tôi luôn cúi xuống đất túm chặt buị bờ để nhổ cỏ, vọc đất, vọc bùn, đã đời như ri rứa, hả"?

                              Thoạt nhìn phớt qua, tôi cũng như ai ai, thấy mình đang nâng niu trên tay cục đất quê hương thơm lừng mùi đất bùn: mặn nồng xương thịt tổ tiên ông bà thân nhân quá cố, ai nấy đã có từng dòng mồ hôi muối cuả người đang sống nhỏ tong tong xuống đất, hoà trộn chung với giọt mồ hôi bao người chết, xương cốt ấy trở về tro bụi... đã tạo thành đất trên những luống cày tại các nông trường, trên những công trình xây dựng kinh rạch, thủy lợi dẫn thủy nhập điền.

                              Cái ngữ thân thiện “ngây thơ cụ” nơi đất cát, gò mối ao bùn, kinh rạch kia… Ai nấy đều có tí hy vọng là người với người cùng chung ý niệm lý tưởng tin yêu, luyến mến thân tình, lãng mạn và đoàn kết nông dân sao đâu! Thế nên, bây chừ chẳng còn ông bà cha mẹ cuả bạn (hoặc của tôi) đứng dậy bước ra khỏi mồ, đội đất chun lên, để họ rầy la quở trách “con gái già” ưa dùng tay chân và gò lưng chơi đất, vọc bùn bê bết dơ bẩn! Biết bao người có bàn tay sần sùi, gót chân nức nẻ, bờ ngực khô héo, cuộc sống gian khổ đắng cay đầy tái tê? Chúng tôi cứ bắt chước Adam và Eva (hoặc ông bà thủy tổ loài người cổ đại tiền sử, hay ví von mình giống khỉ đột hoang sơ,) là xong ngay một đời xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi ở trong nhà hoang phế dưới tận đáy xã hội rồi, không thèm mặc gì hết. Thôi cũng đành! Vã lại… cơ khổ thân tôi:
                              Ngày xưa yểu điệu như tiên
                              Bây giờ lẹt đẹt như con vịt bầu.
                              Ngày xưa chum chúm núm cau,
                              Bây giờ lỏng thỏng như bầu trên cây.

                              Ngày xưa nhựa sống căng đầy,
                              Bây giờ vắt mãi bảy ngày cũng không.
                              Ngày xưa thắt đáy lưng ong,
                              Bây giờ to bụng còn mông phẳng lờ.
                              (1)

                              Vấn đề tự-trọng. Danh dự. Sự hổ thẹn hay liêm-sỉ –Ở thời buổi 1975 * 1995 nầy– là cái quái gì! Âu chỉ là lớp sơn đỏ phù dung mỏng dính, được bọc hào nhoáng phết phủ bên ngoài, để che đậy lớp rỉ sét, khô mục thối um ở bên trong. Lòng tôi chùng xuống, hội nhập với bao phiền não chua xót đắng cay. Lo âu. Khắc-khoải. Hãi hùng về vấn đề gạo cơm, tạm trú tạm vắng, ăn đói ở lỗ, hơn là chuyện "danh với dự". Hơi sức đâu mà còn nhớ đến sĩ diện nữa không biết! “Thấp thỏm nhúc nhích” chi mà nhớ chuyện “ruồi rượn bu bên đít” í hỉ!

                              Tuy nhiên cái bực tức nhất của tôi bây giờ là: suốt ngày chúng tôi rất vất vả nhọc nhằn vô cùng, vẫn bị những cơn đói và khát hành hạ; tối về lo cơm canh cho gia đình con cái chưa xong, lúc nào nghỉ cũng gần tới nửa đêm, có khi "đi họp đi hành" thì ôi thôi kể như thức trắng. Nằm đặt lưng trên “giường đá” trằn trọc lo âu tìm kế sinh nhai hoài, không sao chợp mắt. Mãi đến canh ba, canh tư đang thiu thiu; bỗng làng xóm ai nấy đều giật mình bật người dựng đứng dậy, nghe loa phóng thanh rống to lên, bắt mọi người dậy... lảy đảy đi tập thể dục. Hứ, tập tành cho ai ”nghể” đây!?:
                              Phong trào thể dục phường ta
                              Có ông bà lão thở ra hít vào
                              Dù cho mệt nhọc thế nào
                              Ông bà cũng cố hít vào thở ra . . .

                              . . . Khi nào vĩnh biệt đi xa
                              Người ta mới hết thở ra hít vào
                              Bây giờ tôi cũng xin chào
                              Để tôi còn phải hít vào thở ra.
                              (Bút Tre)

                              Hồi xưa còn trẻ trung, cái thời huy hoàng sung túc đầy đủ, họa may tôi còn có thì giờ tập thể dục thể thao, tự do thoải mái hít thở không khí trong lành cho buồng ngực no tròn. Nay tay cầm cuốc vai vác bừa, chân đi rã gối, phờ người để chạy ăn từng bữa một… Chưa đủ rã rời xương cốt tiêu hao sức lực sao, mà phè phỡn “dửng mỡ dục với dịch!”:
                              Trước đây con tưởng gặp thời
                              Chúa ban con được tìm người con yêu
                              Giờ đây thân xác tiêu điều
                              Đời con phải chịu rất nhiều đắng cay

                              Thân con chẳng khác trâu cày
                              Nợ nần con trả đời đời chưa xong
                              Con giờ như cá lòng tong
                              Sụt ba chục ký ốm nhong rã rời
                              (1)

                              Điều duy nhất tôi phải ghi nhớ trong đầu mỗi đêm chắp tay cầu xin:

                              Người đâu gặp gỡ làm chi
                              Để cho khổ thế còn gì tuổi Xuân?
                              Chúa ơi! Con khổ vô ngần
                              Chúa mà không giúp, là thân con tàn
                              (1)

                              Tôi chả dám khùng điên như ai kia, (vì tôi phải lo cho chồng tù tội “cải tạo”, lo cho mẹ già con dại bơ vơ cùng khổ). Ngày qua tôi đi làm nông trường, nghe đồng bào rỉ tai nhau đã có một thanh niên "Ngụy" đứng trước cửa chợ Bến Thành chưởi đổng:.
                              - Tiên sư cha nó! Chỉ vì một thằng già khốn nạn, mà cả nước khổ sở, lầm than.
                              Anh ta bị công an điệu ngay về đồn. Cán bộ chấp pháp thẩm vấn:
                              - Anh chưởi ai là thằng già khốn nạn?
                              - Thưa cán bộ, tôi chưởi... Dương văn Minh!
                              - Ý anh bảo vì Dương văn Minh đầu hàng, nên cả nước mới khổ, phải không?
                              Anh chàng thanh niên "Ngụy" thuộc loại lỳ đòn, nên bai bãi:
                              - Không phải. Tôi chưởi vì thằng chả giết Ngô Đình Diệm, nên cả nước khổ.
                              - Anh cho rằng Ngô Đình Diệm với giải pháp Ấp Chiến Lược đủ sức trấn áp lực lượng giải phóng chứ gì? Hay anh cho rằng Ngô Đình Nhu với chính sách Bắc tiến, có thể đánh thắng miền Bắc?
                              - Không phải vậy. Vì Dương văn Minh giết Ngô Đình Diệm, khiến Mỹ đổ quân vào, làm cả nước khổ sở.
                              - Nghe tạm được! Cả nước tuy gian khổ, nhưng rồi cũng chiến thắng vinh quang. Thôi tha cho anh về. Đừng làm ồn chỗ công cộng nữa. Tôi biết nhiều người cũng ghét Dương văn Minh, nhưng chả cần phải làm náo loạn như thế. Vả lại muốn chưởi ai, phải nêu rõ tên người ấy ra mà chưởi, kẻo lại có chuyện hiểu lầm lôi thôi. Anh nghe rõ chưa?
                              Anh thanh niên lễ phép đứng lên:
                              - Dạ tôi xin nghe lời cán bộ từ nay tôi sẽ chưởi rõ tên "thằng già Minh khốn nạn làm cho dân khổ"
                              Cán bộ chấp pháp vỗ bàn:
                              - Anh kia anh chưởi ai thế?
                              - Thằng già Minh. Dương văn Minh!
                              Cán bộ bực quá, gầm lên:
                              - Anh mang cái thằng già Minh khốn nạn xéo ngay! Xéo mau! {st = (Cadman)}
                              *

                              Ngày kia bá cháu mẹ con tôi lặn lội từ Hốc Môn ngồi xe chuyền từng đoạn suốt ba ngày mới có thể đi thăm nuôi cha, chồng. Con: ở trong tù “cải tạo” Z 30B Gia Rai, Xuân Lộc. Gặp nhau mừng mừng tủi tủi, chúng tôi hàn huyên tâm sự bao nỗi đắng cay nghẹn ngào tức tưởi. Luật đã hai phổ bản nhạc: “Bài Hát Chiều Thứ Bảy” :
                              Ta viết bài ca chiều Thứ Bảy
                              Trong ngục tù buồn chán chất ngất
                              Bao gian khó khổ đau ta đối mặt

                              Mắt nhạt nhoà dòng mực chua cay.
                              Ta mất đời ta chiều Thứ Bảy
                              Khi cuộc đời đầy dẫy mất mát
                              Nhưng ta biết ngày mai ngày Chủ Nhật

                              Cánh chim bằng soãi gió tung bay…
                              Người ơi lắng nghe chiều nay
                              Quả tim bốc cháy đốt cơn mê nầy
                              Trái tim hồng người ơi giữ lấy
                              Cho quê hương rồi sẽ đổi thay!
                              –[*nhạc & lời… còn dài, (2)]

                              Và “Bông Hoa Tím”. Tôi trang trọng mang hai bản nhạc về nhà, con trai đánh đàn, chúng tôi chụm đầu vô líu lo ca hát, để quên đói khát:
                              Thấy bông hoa màu tím.
                              Nhớ em đang buồn phiền.
                              Nghe tin đời khốn khó.
                              Thấy lòng mình không yên.

                              Đứng bên trong rào kín.
                              Nhớ quê hương từng miền.
                              Quê hương còn khốn khó.
                              Giấc ngủ nào cho yên!

                              Chút gió cho cỏ mềm.
                              Chút nắng cho chiều êm.
                              Đốm sáng nầy cho đêm.
                              Tiếng hát nầy ru êm.

                              Thấy bông hoa còn thắm.
                              Khắc ghi sâu lời nguyền.
                              Ngay trong tù khốn khó.
                              Giữ một lòng trung kiên...
                              (2)

                              Bà cháu mẹ con chúng tôi đang vui vẻ véo von ca hát, bỗng thấy tên "tay tổ" trông coi khu vực ấp láo liên dòm vô nhà, (ông ta lom lom đi lung tung quanh xóm, để ngầm ngầm điều tra gia cảnh dân tình làm ăn sinh sống). Cuối cùng ổng đến trước sân nhà tôi, sớn sác dòm ngó lung tung, rồi lân la ghé hỏi:
                              - Tui tưởng hôm ni lờ ngày Thứ Bưa, thì chị đi Đè Nẽng, Quảng Nôm, hay Quảng Ngỡi, hay Phủ Côm (Phủ Cam, Huế) chi rùi?
                              - Tôi xin giấy phép rồi, nhưng chưa có tiền mua vé xe.
                              - Chị cồm rồm chi cho mệt. Không có tiền đi xe hơi, thì đi xe lôm, xe độp... rồi cũng tới nơi.
                              - Phải.
                              - Chị đeng lồm cới chi rứa!?
                              - Ông khôn chộ răng? Tôi ngồi coi chừng ló ngoài cươi.
                              - Chẻng có ai thôm lôm mô. Méc chi mờ phải coi hì!?
                              - Ông không biết, chớ hở ra một xí, là kẻ cắp như rươi. Có ai dám duã, dám đục, dám dần bọn hắn mô! Ông nghe hỉ:
                              Cái xứ gì đâu lạ lắm đây
                              Sát nhân, trộm cướp cả một bầy
                              Thế mà lại gọi là lãnh đạo
                              Ăn trên, ngồi trước khoẻ phây phây
                              (3)

                              - Úi xà... tui tưởng mình để cả cái bâu(bao) thì hén mới dớt(vát) đi chớ. Chị noái rứa, tui mứi hỉu! Thì ra lờ dư rứa hì.
                              - ...
                              - Bữa trước tui toạ đồm ở trên thèng phố, mới biết... chị tên thặc là chi?
                              - Tên trên giấy tờ thì ông biết rồi, còn gì mà thật với giả.
                              - Tôi đìu tra ra, chị còn một tên khớc nữa.
                              - Sao, thưa ông?

                              Mỗi lần nói chuyện với ông an ninh nầy, tôi phải nhìn vào một đường rãnh sâu hoắm từ cửa môi trên, ăn thông xéo lên tới lỗ mũi. Nhất là khi ông ta ho, hoặc hách xì, thì nước dãi nhớt chảy ra từ hốc mũi, trào xuống miệng, giọng nói ông ta càng ngọng nhịu, khó nghe. Tôi có cảm tưởng ông ta nói với tôi, mà cố dùng mồi giả, để nhữ cá cắn câu. Cá cắn vào sâu biết đâu mà gỡ, chỉ có nước cá nằm trên thớt dãy đành đạch, ngáp ngáp chờ chết thôi. Tôi thấy ớn ông, hơn là sợ “danh phận cao qúy” của ông:
                              - Noái thặc đi.
                              - . . .
                              - Cả tên thèng dôn của chị nữa?
                              - Tên ta hay tên tân thời!?
                              - Lợi có cới chiện nớ hử? Tui phải noái reng thì chị mứi hỉu ý tui nà!?
                              - Tại tôi ngu dốt quá.
                              - Nếu chị và thèng dôn của chị có hơi ba cới tên chi đó, thì chính xéc nghĩa lờ vợ chồng chị đã lồm en phi phốp, có âm mu dấu đút cới chiện chi rùi hì!
                              - Ông nói lạ! Tôi không hiểu.
                              - Khôn phải reng? bòa con lối xóm đã ngầm bấu cấu với tui rùi: vì khi say rựu, thì họ luôn luôn noái thặc.
                              - Họ nói thật với ông về chuyện gì?
                              - Thì... thèng dôn của chị ít khi en cum, mờ hén... hén ưa kiu bợn bè tới dà dậu dẹt, mờ nấu thịt rén en, lồm thịt chó en, en tơm cá tưng bừng. Rùi khi bợn nớ say rựu, lờ cả bợn nớ tụ tập, dém tính tới cới chiện đi lồm phẻn động.
                              - Chồng tôi nhóc tì bằng trái ớt hỉm, ảnh mới về vùng nầy chưa quen biết ai, thì bị đi học tập “cải tạo”, ảnh có biết ất giáp chi, mờ dám uống rượu, rồi bày đặt toan tính làm phản động, thưa ông, đừng chụp mũ, tội lắm.
                              - Không có tịt thì thôi, chớ seo chị lợi théc méc, mờ rục rịch dúc dích. Bi chừ tui hỏi lợi nà: tên thặc của chị lờ chi. Hử?
                              - Tên cúng cơm hồi tôi chưa có chồng là: “Ệp”. Còn tên tân thời bi chừ của tôi là: “Mít Đót”.
                              - Còn thèng dôn chị?
                              - Phần chồng tôi thì… ngày xưa ảnh có song tịch, nghĩa là ảnh có “quốc tịt” Pháp, thì ảnh phát sinh ra thêm một tên tân thời.
                              - Tên chi? Tôi hỏi cả hơi thứ.
                              - Tên cúng cơm ảnh là: Phạm Trọng Luật. Tên tân thời là: Phăng Xoa Bẹt Xon. Tiếng Tây gọi ảnh là: Francois Bergson đấy. Nick name Tây cuả ảnh là: “Ca Ca Cun”, tiếng Việt có nghĩa là: “cứt cún” đó, ông à.
                              - Phẹm Trọng Lựt!?
                              - Vâng! Bố mẹ anh ấy đặt cho anh Luật cái tên chết tiệt! Thảo nào ảnh bị đi tù “cải tạo” mút chỉ cà tha.
                              - Chị đừng ngoan cố như rứa. Chị phải hỉu, lồm seo mờ thèng dôn chị bị đi hặc tập cởi tậu chớ.
                              - ?!
                              - Hừ! Đểu thật. Lồm en cới chi mờ đi cởi tậu lâu rứa hỉ!?
                              - Vâng! Xin lỗi ông, người miền Bắc thì nói “đểu thật”. Còn người miền Nam tui thì nói “đểu giả” nà.
                              - Chị lụm mót ở mô ra... mờ dém chơi chữ với tui, hứ?
                              Tôi tủm tỉm cười:
                              - Xời! Tôi là bần nông có ra môn ra khoai gì mà dám chơi chữ, mí chơi hành tỏi. Ông nói y như thần y phong thấp! Tôi phục. Còn việc chồng con thì tôi nói thật, chúng tôi ví như đôi chân, nếu không tin yêu nhau, thì một trong hai bàn chân giận dữ tự nhô lên hụp xuống. Chân nầy chấm, thì chân kia phết, đi đứng lộn xộn, cứ như thế mà bò lết trong cõi đời ô trọc như bi giờ mỗi người một nẽo.
                              - Ừ, “chính xéc” là hai thèng thưn đã “phẻn đối” trái ớt hỉm rùi!
                              Tôi ngẫm nghĩ lời ông ta nói mà cười thầm. Ổng thay đổi chiến lược:
                              - … Chị có ngừi thân ở Mỹ, chị có thuốc đau gơn không? Cho tôi mươi viên, hì.
                              - Cậu tôi ở Mỹ gởi về mấy hộp thuốc. Vị thuốc nầy rất đắng, đắng bao nhiêu ở xã hội nầy cũng phải uống, dù uống vô thì trong lòng càng đắng hơn.
                              - Đéng bâu nhiêu mà hết bệnh, cũng uống chớ seo.
                              - Vậy ông chờ, tôi soạn thuốc đau gan ra cho.
                              Ông ấy chẳng hiểu ý ngầm của tôi, nên tươi rói nét mặt xoa hai bàn tay vui vẻ giả lả:
                              - Thuốc Mỹ không tốt.
                              - Sao lạ vậy!?
                              - Chị théc méc lồm chi, chớ không nghe ngừi ta noái: mua thuốc ngoại là “thuốc Tây” tốt. Chớ chẻng có ai nóai mua thuốc ngoại, lờ thuốc Phốp, thuốc Mỹ, hay lờ thuốc Ngơ tốt cả, hè!?
                              - Chính ra thuốc men bên Mỹ là tốt nhất, vì họ sàng lọc tinh hoa ở nước ngoài, tỷ mỹ nghiên cứu, rồi họ mới điều chế ra sau rốt, ông à.
                              - Tôi cần thuốc Tây.
                              - Vậy thì tôi không có thứ thuốc ông cần.
                              - ... Điêu hì! Ôi xà! Mỹ, Ngơ, với Phốp hay Tây… lờ mấy thứ. Uống tờm tợm cũng tốt.
                              - Ông đến đây xin thuốc, thì tôi cho. Nhưng lỡ ông có bề gì, tôi không chịu trách nhiệm nghen. Có bà con ba bên bốn bề làm chứng cho tôi. Vì ông biết đó: hàng hoá thuốc men chưng bày lơ thơ trong quầy, khi dân hỏi tới, cô bán hàng bảo: “Hàng mẫu, không bán".
                              - Chị nỏ khun hơn tui mô nờ! Tui cho chị mắc lửa nà. Vì răng! Vì… chị cho tui thuốc, coi như lần ni huề. Hí!
                              - Dạ… dạ không dám mô! Khi họ đến hỏi tôi:
                              - Chị xinh đẹp thế nào ấy! Thế nhưng… chồng chị đâu? Đi hoạt động hả?” Thì chỉ có nước tôi chết treo ở cửa Bắc. Hay gia đình tôi bị tập trung đi kinh tế mới mất thôi. Xin kiếu từ ông.
                              ***

                              “Kinh tế mới”, thoạt nghe qua thì đầy ắp ân tình, hứa hẹn no đầy hứng khởi nơi vùng đất mới. Rồi thì “ già sinh tật, đất sinh cỏ”... e tôi sẽ điên mà sinh ra chứng
                              :
                              Quanh năm hút chích ở mom sông,
                              Hít đủ năm phân chích một liều
                              Lặn lội thân cò khi quãng vắng
                              Ỉu xìu bủng bẻo buổi tuần tra,
                              Một duyên hai nợ âu đành phận.
                              Năm nắng mười mưa chẳng bỏ chơi,
                              Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
                              Có tiền hổng chích cũng như không...
                              (1)
                              *
                              st = sưu tầm, lượm lặt.
                              Bài Ca Chiều Thứ Bảy & “Bông Hoa Tím”:
                              Nhạc: Phạm Thiên Tứ. Lời: Lê XuânN…
                              3. Thơ Bùi Phạm Thành
                              ***

                              Tình Hoài Hương
                              Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-17-2017, 05:41 PM.
                              Bút trần nào tả được lưu luyến!
                              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                              Tình Hoài Hương

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #210
                                Sự Hổ Thẹn của “Mít Đót”



                                Sự Hổ Thẹn của “Mít Đót”


                                Như đã có lần tôi hầu chuyện cùng quý vị rồi; nay tôi xin thưa tiếp: Từ đời tam cố đại xa xôi… thuở trăng sao hoa lá lao xao đong đưa còn tươi rói trên cành, thì dòng họ tôi giàu sang danh giá tri thức ra phết! Thế nên tôi đã danh chính ngôn thuận làm một “công tằng mỹ nữ” cao sang và đài cát, được yểu điệu vác cặp cầm bút ung dung tự do tự tại theo thầy học... nào là: Tam cương (vua và tôi. Cha và con. Vợ và chồng). Ngũ thường, gồm: Nhân: (lòng thương người). Lễ: (những phép tắc). Nghĩa: (có tình nghĩa, lẻ phải đạo con người). Trí: (sự hiểu biết, khôn ngoan). Tín: (không gian dối, giữ đúng lời, có uy tín). Do đời sống ở trong đại gia đình mình quá đầy đủ, nên tôi không thích:

                                Đeo đồng hồ hai cửa sổ không người lái,
                                Mở truyền hình kênh phát sóng thông tin.
                                Ông cán bộ đang “quy hoạch” quy trình,
                                Đang báo cáo tình hình năm nay tốt.

                                Chị “quán triệt phương án” từng chút,
                                Rồi xuống nhà, “hồ hởi” uống cà phê,
                                Kiểu cái nồi ngồi trên cái cốc chị mê,
                                Xong đâu đó, chị chiên con sâu mỡ.
                                (1)

                                Nguyên do:
                                Tuy thất thoát thật to, lại được coi là cái lỗi rất nhỏ.
                                Vì thế VIỆT NAM ta, từ từ biến thành một đất nước nho nhỏ.
                                Trong cái đất nước nho nhỏ, lại có những ông lãnh đạo thật to.
                                Trong những ông lãnh đạo thật to, lại có những cái đầu quá nhỏ.

                                Những cái đầu quá nhỏ, lại có những túi tham thật to.
                                Những túi tham thật to, lại có những hiểu biết rất nhỏ.
                                Và những hiểu biết rất nhỏ, lại gây hại cho đất nước thật to.
                                (*)

                                Bây chừ, trước tiên: gia đình tôi sau ngày 30-4 đã vô phúc rơi vào… “hang ổ gốc mít đót” (ám chỉ là cả nhà tôi thấp hèn chuyên nghề đi “mót… đít”), cũng do phát sinh nguyên thuỷ từ chữ: “Phú Lăng Sa A Na Mít” mà ra đấy! Số phận tôi quá vô duyên, vô phước, bạc bẽo bị lọt… vào khu 18 thôn vườn trầu làm chi, mà nay rơi tủm xuống tận đáy xã hội khốn cùng, nơi có toàn thứ dữ cán bộ nồng cốt không hà:
                                Cái xứ gì đâu chán gớm ghê
                                Thịt thà lãnh đạo đớp ê hề
                                Thằng dân rau cỏ và khoai sắn
                                Ăn để mà sống, chẳng dám chê
                                (*)

                                Bằng hai bàn tay thô cứng, tôi trở thành dân ruộng vét rạch, đào kinh dẫn thủy nhập điền: Trồng thơm, trồng mía, trồng ngô, khoai, trồng dưa leo, trồng bí bầu… Ôi! đủ thứ trồng trồng trồng..., trọt trọt trọt... trỉa trỉa trỉa... hầm bà làng xí cấu, tum lum tà la vẫn không xong: mặc dù khi vất vả khó nhọc trăm bề, tôi luôn ước ao mình sẽ trở về với thời hoang dại xa xưa. Dù chỉ là mơ mộng thế thôi, vẫn không thể. Vì:
                                Người con gái hôm nay mặc quần đỏ
                                vì hôm qua đã mặc chiếc quần đen
                                đen và đỏ là hai màu rồi đó
                                cũng như đời, đường hai nẻo xuống lên

                                Người con gái hôm nay mặc quần trắng
                                vì hôm qua đã mặc chiếc quần hồng
                                hồng và trắng là hai màu bẽn lẽn
                                cũng như núi và rừng đều rất mực chênh vênh.

                                Người con gái hôm nay mặc quần tím
                                vì hôm qua đã mặc chiếc quần vàng
                                vàng và tím là hai màu mỉm miệng
                                mím môi cười và chúm chím nhe răng

                                Người con gái hôm nay mặc quần rách
                                vì hôm qua đã mặc chiếc quần lành
                                lành và rách đều vô cùng trong sạch
                                bởi vì là lành rách cũng long lanh
                                (BG)

                                Tôi mới mấp mí gần tuổi "hâm mấy" mà tưởng chừng dường như mình đã già khọm tới tuổi “bảy mưi” ; nên mình chỉ muốn bước xề tới hố tử thần! Khi người ta tới tuổi 40 thấy chết còn xa, người 50 thấy chết từng năm. Qua 60 thấy chết từng tháng. 70 thấy chết từng ngày. Người thọ tới 80 nói: "chết là hết" Vậy mà tôi đang đếm cái chết từng ngày… từng tháng; khi tôi mới vừa tới tuổi "hâm đi hâm lại"?! Tôi cứ bắt chước Adam và Eva trong vườn “địa... ngục tân thời”, hoặc giống ông bà thuỷ tổ loài người cổ đại tiền sử, thiệt giống lũ khỉ đột, là xong ngay một đời thê nữ trong căn nhà hoang phế, dưới tận đáy xã hội chủ nghĩa, không thèm muốn ước ao gì hết. Thôi cũng đành!

                                Vấn đề: tự-trọng. Danh dự. Sự hổ thẹn hay liêm-sỉ –Ở thời buổi 1975 - 1995 nầy– là cái quái gì! Âu chỉ là lớp sơn đỏ mỏng dính, hào nhoáng phết phủ bên ngoài, để che đậy lớp rỉ sét, khô mục thối um ở bên trong. Lòng tôi chùng xuống, hội nhập với bao phiền não đắng cay. Lo âu. Khắc-khoải. Hãi hùng về vấn đề gạo cơm, tạm trú tạm vắng. Hơn là chuyện... không có ăn mà ở lỗ. Thật ra, ở nơi nầy hầu như ai ai cũng chả có “tấm mền lá chuối” như ông "Trần Minh khố chuối" thời tiền sử đã dùng lá che bụm chim. Thì; ngày nay hơi sức đâu tôi còn nhớ đến sĩ diện nữa không biết! “Thấp thỏm” chi, mà mình nhớ tới chuyện “ruồi bu bên đít” í hỉ!

                                Sau khi Việt Nam đã mang "ranh rự" bởi danh ngữ hoà bình, tự do, thống nhất, độc lập rồi, thì thế giới tự do dân chủ của người Việt Nam mỗi ngày một gò bó, teo tóp lại từ thời điểm 1975 – 1985 - 1995 trở đi: Việt Nam biến thành một nhà tù bao la khổng lồ, dài lê thê, dài ngoẵng. Sự tù đày trong ngục tù "cải tạo" vô cùng trắng trợn dã man, gông cùm, đói khát, chết chóc từ Ải Nam Quan xuôi miền Bắc, chạy dọc xuống miền Trung, lan tràn đến miền Nam, chạy ra tới biển cả trùng dương trên các đảo Phú Quốc. Côn Sơn… Đâu đâu cũng có muôn trại tù “học tập cải tạo” nườm nượp mọc lên như nấm.

                                Ai chết mặc ai! Đảng và nhà nước có công giải phóng dân miền Nam thoát khỏi nanh vuốt Mỹ, thì hoà bình, thống nhất từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau... rồi đất nước sẽ có tự do, là “nhức nhĩ”. Kế đến, đảng uốn nắn con người trong chế độ tư sản mại bản phải “đổi mới tư duy”, “cải tạo tư tưởng”, “cách mạng toàn diện” một con người mới, không phải chỉ một sớm một tối ; là xong đâu nhá. Mà phải kiên trì huấn luyện trường kỳ, dài hạn: “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” đấy là gì! Người dân ở vòng tù ngoài chẳng hơn gì trai tráng trí thức ở tù “cải tạo” bên trong. Ở vòng ngoài nôm na gọi là “tù ngoài địa bàn xã hội chủ nghĩa" họ kiếm đủ cách đi vượt biên. Ra đi… bằng đường bộ, đường biển, tìm tự do trước cái chết, vẫn hơn sống thấp thỏm trong quê hương xiết đổi kinh hoàng:
                                Chung quy chỉ tại vua Hùng
                                Sinh ra một lũ dở khùng dở điên.
                                Đứa khôn thì đã vượt biên.
                                Những thằng ở lại chả điên cũng khùng.

                                Bác Hồ chết phải giờ trùng
                                Nên bầy con cháu dỡ khùng dỡ điên.
                                Thằng tỉnh thì đã vượt biên.
                                Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng.

                                Trung kỳ có những thằng khôn,
                                Nó đi cửa trước nó luồn cửa sau.
                                Suốt ngày cứ nghĩ làm giàu
                                Nó đi đúng chỗ, nó thâu đúng người

                                Nghị quyết nó thuộc mười mươi
                                Nhưng chỉ xử dụng những nơi nó cần.
                                (1)
                                ***

                                Thế rồi… mấy năm sau đứa con thứ ba của tôi mới bốn tuổi, nhúm tuổi non nớt phải lăn ra đời lê lết kiếm sống, khi thùng cà rem to và cao đến ngực cháu. Bán cà rem ngày càng ế-ẩm hơn, vì chỉ có mấy bộ đội thích ăn cà rem bỏ trên cái dĩa cho chảy nước ra. Người dân “thắt lưng buộc bụng” không dám ăn thứ “cà lem xa xí phẩm” ấy. Các con tôi luôn đem bánh bò bị thiu, cà rem chảy về ăn, ăn trừ cháo. Riết rồi trong nhà chúng tôi cụt vốn. Hết sạch trơn tiền vốn, dù một thùng cà rem tiền vốn vỏn vẹn chỉ có năm đồng. Năm đồng vốn (tiền Hồ) khiêm nhường vẫn không có, thì nói gì gia đình tôi có tiền lời nhỏ nhoi, để độ nhật qua ngày! Thế là đói rã ruột:
                                Từ khi ta có bác Hồ.
                                Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào.
                                Lương chồng, lương vợ, lương con.
                                Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm.
                                Lương tâm đem chặt ra hầm.
                                Với rau muống luộc khen thầm là ngon.
                                (*)

                                Mót nhặt những bọc ni lông đựng tạp uế tanh hôi thì ôi thôi: ở bên trong đựng đủ thứ tanh hôi, bẩn thỉu dơ dáy vô cùng, chỉ nghĩ lại vẫn muốn ói. Nhiều lần mấy mẹ con phơi bọc ni lông ngoài cánh đồng khô trời nắng chang chang, bị cơn gió lốc xoáy cuốn thốc mọi thứ lên trời, bọc ny lông bay tứ tán tản mác khắp nơi. Chúng tôi đứng dưới đất, dậm chân, bức tóc, vò đầu, ngửa mặt nhìn lên mà khóc rống giữa bầu trời bao la. Tôi hận trời hận đất quá “ác”: Trời sáng và trời tối không phải là đối địch nhau. Nhưng mà để toả sức sống cho nhau. Dù thế đối với cảnh khốn cùng nầy, tôi xin nói: "Trời vẫn ác làm vậy"! Ông ơi! sao không chừa cho chúng tôi một lối thoát! Ông ơi! khi ông làm mưa giông sấm sét, vô tình đánh chết ai đó, thì không ai mở miệng nói:
                                - “Trời ác”. Trái lại người ta chỉ đổ tội là: Do “người ấy ác”, nên mới bị Trời đánh, Trời mới hành. Bi giờ thì sao đây?

                                Người khôn của khó, vì miếng cơm manh áo, dần dần nơi ruộng lúa có đầy người chết đói trong khu xóm C, cũng bắt chước (mẹ già con thơ chúng tôi), họ kéo nhau ùn ùn nườm nượp lẽo đẽo đi theo bà cụ “mót” đủ thứ. Thế nên ruộng đồng ngày càng khan hiếm, không còn con cá lòng tong, chả có con cua, con cáy, con ếch, con nhái, con dế, cào cào… nào sống yên. Hạt lúa rơi, rau, củ, v.v… đều sạch trơn, chẳng còn chi, chớ nói “hạt ngọc lúa” Trời ban, mà buồn. Ngậm nhúm cháo trong miệng, ít khi chúng tôi nuốt trôi, hai hàng nước mắt không khỏi tuôn trào!

                                Hồi xa xưa lúc cha mẹ tôi phú qúy, vinh sang, có nhiều lần tôi theo ba tôi đi qua Lào, Miên, sang cả Thái Lan. Ba tôi là danh y thuở ấy, nên được chính phủ giới thiệu ba đi ra ngoại quốc tham quan, học hỏi thêm về y học nước ngoài, chính ba tôi đã trị bệnh cho vua quan Lào, vua Cao Mên nơi xứ người. Tuy tôi còn rất nhỏ, quá nhỏ nhưng có trí khôn, tôi đã có dịp nếm thử: Nhất điểu. Nhì ngư. Tam xà. Tứ tượng, ui chà ngon hết sẫy, ngon nhức nhĩ. Bi chừ nhớ lại tôi vẫn thèm. Ngày nay thì tôi đã già kinh nghiệm: “Nhất sĩ, nhì nông. Hết gạo chạy rông. Nhất nông nhì sĩ”! Vì:
                                Ai sinh ra cái củ mì?
                                Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn!
                                Nước nhà mãi mãi khó khăn.
                                Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì.

                                . . . Đảng béo mà dân thì gầy.
                                Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?
                                Nhân dân thì chẳng cần lo.
                                Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày.

                                Hãy chăm tay cấy tay cầy.
                                Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang.
                                (*)
                                * * *

                                Mẹ già con côi làm việc bần cùng tệ mạt đến thế, đôi bàn tay, bàn chân cả nhà chúng tôi bắt đầu ngứa rần rần, sưng húp, phù to, chảy máu đỏ loét, vì mót nhặt bọc ni lông dơ bẩn! Sự dơ bẩn tầm thường nhất ở tận đáy "xã hội chủ nghĩa Việt Nam": đã ăn sâu vào da thịt, tổn thương trầm trọng đến đời sống chúng tôi quá rùng rợn. Đôi bàn tay, bàn chân của tôi sần sùi, tê nhức, bại xuội, càng cảm thấy đau đớn; đau đớn vì tuyệt vọng; hơn vì thê thiết khốn đốn, hoặc ruột gan cồn cào đói khát. Mất hết rồi thuở “trăng sao hoa lá thơ thẩn ngự trong hồn". Có chăng là còn những đêm không đèn nến ngồi ngoài trời: hai bàn tay quơ đập lia lịa, mà muỗi vẫn vo ve đốt thoả thích, sưng chù vù và ung mủ dày cui. Thú thật là do:
                                Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ.
                                Nón tai bèo che khuất nẽo tương lai.
                                (*)

                                Vã lại, giờ đây, nơi nầy... ai có tâm trí đâu mà cho con cái đến trường, khi:
                                Năm đồng đổi lấy một xu.
                                Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy
                                (*)

                                Nơi vùng đất phì nhiêu màu mở xưa kia trù phú là thế, nay nghèo nàn cằn khô và nóng bức; lại là nơi có quá nhiều ruồi, gián, muỗi, rệp, rận chí... bu quanh bòn rút hút máu người khô đét, (mặc dù chúng tôi ốm tong ốm teo, chả ai có chất dinh dưỡng). Nhà nào cũng chứa nước trong cái chum đen đen không nắp đậy, những con lăng quăng lặn xuống đáy chum nhiều vô số. Bọn trẻ thường làm cái vợt vải mùng, để vớt lăng quăng cho mấy con cá bảy màu, cá ba đuôi ăn, (chúng bòn nhặt nhịn ăn dành dụm từng xu, để mua ít con cá sống mà làm trò giải trí nho nhỏ).
                                Cũng do trong chum còn có loại côn trùng chỉ màu đỏ huyết mình nhỏ như sợi chỉ, một đầu nó bám chặt vào chum, một đầu kia ngúc ngoắc theo nước lượn sóng nhấp nhô, thấy mà sợ! Vì thế tôi không dám xài cái chum đựng nước dự trữ lâu ngày. Muỗi lại truyền cả xóm bệnh sốt rét, mà thuốc ký ninh không có. Ai đau bệnh gì, khi đi khám bệnh cũng chỉ dùng: lá sống đời, xuyên tâm liên, hoàng bá, cắt cánh, hay cam thảo, là đại sang rùi.

                                Đa số dân hầm bo bo mất cả buổi lại tốn nhiều củi, vẫn ăn bo bo cứng thay cơm, vì nhà nước không bán gạo, nên đành làm "dân niên xô" (Liên Bang Xô Viết) ban đầu trên loa phóng thanh kêu cả Ấp đi mua bo bo, ai nấy đều cảm thấy hí hửng mừng rỡ như vớt được của lạ! Bởi lẽ là chưa có ai từng thấy bo bo bao giờ! Cũng không ai biết cách xử dụng, nấu nướng quá mất thì giờ. Nhưng qua nhiều lần thí nghiệm, có kinh nghiệm, thì người nầy truyền khẩu, truyền tai cho người kia biết, phải xay bo bo mà nấu nướng pha chế đủ thứ kiểu, nếu chê bỏ bo bo thì đói rã rời, chịu sao nỗi! Nhưng phải là "dân thứ xịn" cơ! nghĩa là "ta lao động tốt" mới có tem phiếu mua bo bo à nha:
                                Thuốc điếu phải mua bông.
                                . . . Hết gạo ăn bo bo.
                                Học trò không có tập.
                                Độc Lập với Tự Do .
                                Nằm co mà hạnh phúc
                                ! (*)

                                Thế là món bo bo hầm nguyên hột với muối, ăn chán & chê vì khó nuốt và không hợp khẩu vị với dân Việt Nam. Bo bo đem đi ra nhà máy xay lúa xay nhuyễn, về nhà làm thành bột, nhồi nước sôi cán bột thành từng lá mỏng, để nấu cháo bánh canh. Khi thì khuấy bột ra làm bánh xèo ăn với rau chắm nước muối, sang tí thì có nước mắm ớt tỏi đường. Có nhiều lần tôi vo viên bột bo bo, giả làm bánh bao, xíu mại là những hột đậu phụng và ít củ sắn (củ đậu). Ăn các thứ trên chán quá, tôi lại làm bánh bo bo nướng. Ăn bo bo không ngờ nó lại bị nóng kinh khủng, không như gạo nấu thành cơm, hoặc bột gạo.

                                Vì thế mà ai nấy đều sinh ra ghẻ lở tum lum. Hầu hết ai ai cũng bị nóng ruột nóng gan cồn cào, rôm sảy, ghẻ ngứa, lở loét, da thịt mủ nhớt nhờn chảy ra rít rít nhầy nhụa, hôi tanh kinh khủng cùng khắp thân thể. Nhất là ở mấy đầu kẽ tay, kẽ chân và mông háng thì… bầy nhầy máu mủ. Kể cả “cán bộ bạn dân” cũng cảm thấy ngứa ngáy, khó chịu nhức nhối nhúc nhích đứng ngồi không yên khi "họp hành bầu bán"! Nay tôi mới hiểu tại sao trước khi tôi "bị"... thì "mấy ổng mấy bả" đã được đảng "ưu tiên" phát bo bo cho ăn trước dân, nên bi giờ họ càng "lậm", như chó thiến bị nhét mãnh chai, như đứng trên tổ kiến lửa, họ ngồi họp hành ở đâu, thì hai tay bận móc móc, gãi gãi ở chỗ ngứa đó lia lịa, quỉ tha ma bắt thiệt! Càng gãi càng ngứa rần! Hai tay liên tục đánh đờn… bùm búm bum… tằng tắng tăng... từng tứng tưng... và vỗ muỗi như vỗ cái trống cơm bộp bộp bộp riết… Từng đám da sần sùi đỏ ửng, từng cục máu mủ lầy nhầy, sưng húp. Bầy ruồi o o o… bu quanh người có ghẻ chóc tha hồ hút máu mủ, rồi "chúng lang thang tha đi khắp bốn phương trời", đem bệnh truyền nhiễm lây lang cho kẻ khác càng mau ác liệt hơn.

                                Nhìn thấy nhau lợm giọng muốn ói và muốn nổ con mắt. Kinh tởm quá! Hầu hết mọi người trong xóm tôi đều bị ghẻ chóc. Nạn chuột, gián, ruồi, muỗi, rệp, chí, rận: thì ôi thôi sinh sôi nẩy nở... lúc nhúc, tràn lan! Chẳng có cách gì diệt hết chúng! Ai cũng như ai “cùi” rồi không sợ “hủi”; nên “ta” hết co ro cú rú, hết biết mắc cỡ, xấu hổ, e thẹn làm gì cho mệt! Mọi người chẳng sợ lây căn bệnh gớm ghiết nầy, họ rủ nhau ra bờ sông tắm gội, rửa ráy, kỳ cọ. Họ ngâm mình trong nước cả giờ, vẫn không thấy “đã ngứa”. Rồi họ leo lên ngồi trên bờ kè, trên mấy cục đá để kỳ cọ. Họ tự nhiên lột quần dài áo cánh ra phơi trên bụi cây. Đàn ông ở trần, mặc quần đùi lỏng dây thun xề xệ. Đàn bà cũng "thổn thển" ở trần, chỉ mặc xì líp cũ mèm! Họ hong khô người dưới trời nắng như thiu đốt, ai nấy lo cúi xuống lột từng lớp vảy trên các mụt nhọt ửng đỏ. Tiện thể một công hai ba chuyện: họ giặt giũ, (giặt và tắm không có xà bong) tiêu tiểu cũng trong dòng sông đó. Chính từ nơi vừa tắm rửa, ngâm mình, họ gánh hai thùng nước về nhà, để dành uống nước mát. (!?)

                                Tôi hình dung họ giống những con khỉ đột trọc lóc đầu, mặt đỏ đít chai ưa gãi sột sột trong sở thú. Tôi không dám nhìn họ, phải lờ ngó lơ đi chỗ khác và lắc đầu muốn gãy cần cổ, mà ngao ngán, nhưng với trí tưởng tượng phong phú của mình, nếu tôi phì cười... thì họ tính sao đây, có lẽ họ... rượt tôi chạy có cờ?! cho tôi chạy về nhà buông gàu xuống cái giếng nước do tự mấy đứa con mới đào lên chăng? Dù cả đời tôi trọng tình. Còn cả đời “các bác ấy” không trọng chi ngoài danh dự và tiền! Vốn dĩ quá nghèo hèn, nhưng chúng tôi muốn bình lặng, an ổn kể từ khi đổi đời đi lượm lặt mót moi mọi thứ. Kể từ đó trong làng trên thôn dưới đã "thân thương" đặt cho tôi cái biệt danh thiệt (bình dân giáo dục): "mít đót”:

                                Ở với Hồ Chí Minh.
                                Cây đinh phải đăng ký.
                                Trái bí cũng sắp hàng.
                                Khoai lang cần tem phiếu.
                                (*)
                                ***

                                Khi mấy cán bộ “mượn tạm” (của dân đã trốn ra nước ngoài), họ để lại biết bao của nổi: nhà lầu xe hơi, xe honda, đất đai và của chìm còn chôn dấu kỹ trong nhà, chưa kịp đào bới moi móc lên. Công an, bộ đội, cán bộ có cần câu tà lọt điềm chỉ, rủ nhau đến nhà dân làm biên bản tịch thu gia sản. Rồi ít lâu sau nhà nước lại làm biên bản chia chác nhau bốc thăm: nhà cửa, xe cộ, ti vi, tủ lạnh, máy móc điện tử, bàn ghế, giường nệm, thậm chí cả cái quần xà lỏn cũng bị bốc thăm, hầu hưởng xái thừa của “tàn dư đế quốc” để lại. Người thân ruột thịt của tôi (và chính tôi) ở trong những ngôi nhà đồ sộ, có chút máu mặt, thì coi chừng bị chụp mũ, gài là: ở lại để phản động liên lạc làm “ăng-ten” móc nối với tư sản. Bị "đôi mắt cú vọ bạn dân" dòm ngó, lưu ý, “hỏi thăm sức khỏe”, thì dân ngu khu đen phải chìa hai tay ra, cúi đầu biếu không, cho không, dâng hiến nhà nước. Như trường hợp ông bà Tư Cóc (chị tôi) có năm người con trai đều có vợ con đùm đề, gia đình họ chả có ai đi Tây, Mỹ đi Đức gì cả. Thế mà ông bà Tư có ba cái nhà, nhà nào cũng cửa rộng nhà cao, một nhà ông bà đang ở. Một nhà cho con ở, và một nhà cho thuê. Nhưng công an phường khóm đã buộc ông Tư Cóc phải lên “Thành” làm giấy “dâng hiến” nhà nước... cho “đi đứt” hai cái nhà đang cho con ở và cho thuê.

                                Tất cả ông bà cha con chồng vợ cháu chắt, bây giờ đều tụ họp về ở chui rúc đông đen trong nhà ông bà Tư (nếu khán chỉ, cán bộ công an không ngại ngần tống khứ họ ra đường, hay “nhân đạo” cho xuống ở bên chuồng trại gia súc sau hông nhà). Ông bà Tư Cóc được thành ủy phát tấm giấy khen, ưu tiên hộ trong nhà họ được mua nửa ký thịt ba chỉ, một ký ruột heo, một ký gạo nếp, ký thèo lèo cứt chuột, hai mét vải nội hoá màu mè hoa lá cành. Và cũng ưu tiên lắm, nên ông bà Tư Cóc được hai (2) mét vải dù đen hoặc trắng. Trong khi đó Cán bộ Ấp ưu tiên gấp 10 thường dân Nam-bộ. Cán bộ cấp Huyện ưu tiên gấp 20 lần Ấp. Cán bộ cấp Thành thì ôi thôi… ưu đãi gấp 20 lần cán bộ Huyện. Cứ thế, mà làm tính nhân lên (tôi phải ghi rõ con số: 1, 10, 20 cho chính xác mà nhân, mà cộng, thay vì viết thành chữ: một, mười, hai mươi, không thể nhân cộng nhập nhằng).
                                * * *

                                Tình Hoài Hương

                                (*) Thơ sưu tầm lượm lặt đó đây.
                                (1) Hp-TnT
                                Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-30-2017, 01:04 PM.
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...