Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Tinh Hoai Huong
    Senior Member
    • May 2009
    • 1081

    #46
    Mùa Xuân Mây Xám Vắt Ngang Đời Cơ Cực



    Mùa Xuân Mây Xám Vắt Ngang Đời Cơ Cực
    Tình Hoài Hương
    ***



    Đàn bươm bướm trắng xanh vàng nâu lí lí lắc lắc, chập chờn, nhởn nhơ, trêu trêu, ghẹo ghẹo mấy đài hoa dã qùy e lệ nép mình dọc con sông um tùm lau sậy lô nhô. Cỏ lau bông trắng bay đầy bãi ruộng lúa chỉ còn trơ gốc rạ vàng lởm chởm. Trên chiếc cầu gỗ cũ được mang tên Cầu Bông Nhị Tân lấp loáng nhiều giọt nắng lung linh, long lanh từ mặt nước trong vắt, phản chiếu muôn tia nắng rạo rực luôn lấp lánh đổi màu. Bầu trời lơ lửng năm ba đám mây trắng dài lê thê, dài ngoẵng như sợi tơ len. Mây kéo từ thôn nầy vắt qua thôn khác, in xuống lòng sông biếc xanh. Phút chốc bóng mây trăng trắng dài lướt thướt loang tỏa ra trùm kín bầu trời, mây đổi thành màu xám đen nặng trĩu đang lững thững trôi về nơi vô định.

    Tôi lặng nhìn đám mây trắng xám im sửng trên trời, dường như mây giống một dải màn sô tang trắng viền chỉ len màu lam xám đã và đang vắt ngang kiếp đời cơ cực. Rồi bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo cơn mưa dầm ào ạt trút xuống đời, suốt mấy ngày đêm, làm nặng nề thêm bầu trời u ám của:

    “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý.
    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”.
    (2)

    Chúng tôi đã rớt xuống vực thẳm sâu hun hút, úp mặt xuống tận đáy xã-hội chủ-nghĩa. Dẫu vậy, các con trai tôi học hành ưu tú, xuất sắc. Hai con lớn dưới mười tuổi, ba giờ sáng các con đã thức dậy, lo chạy bộ đến lò bánh bò, lò cà rem, xa khoảng bốn cây số. Các con ngồi co ro cúm rúm ngoài vỉa hè, để chầu chực chủ mở cửa, hy vọng con có hàng bán chạy rong mời khách. Tháng nắng ngày mưa các con đều khổ cực lầm than như nhau. Ngày ế-ẩm, bánh bò bị thiu, cà rem chảy nước. Chúng tôi lặng-lẽ ngồi ở góc nhà, nhịn khát, nhịn đói, khóc thầm. Vì chồng, cha, là lính “ngụy” bị ở tù “cải tạo” (tôi dùng chữ "cải tạo" phải có hai ngoặt kép). Ai dám giúp! Nhưng, thiệt khổ là hầu như đa số dân lành cũng không có ăn, có mặc, thì lấy gì mà ai giúp ai!?
    Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ.
    Nón tai bèo che khuất nẽo tương lai”.
    May không chút nữa em lầm.
    Khoai lang khô xắt lát, em tưởng cao ly sâm bên Tàu
    (2)

    Vài ba năm sau, thì con trai đầu mỗi buổi sáng con đi học, chiều con đi bán bánh bò, cà rem, tối tối con theo chủ ra tận Long Khánh, Hàm Tân, Phan Thiết…, con cùi cụi vác trấu thuê, vác bó mía thuê. Con leo lên nóc nhà dỡ tôn, dỡ nhà, (do chủ mua) và chủ tớ đem đi bán. Con làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc, khổ sở, miễn sao con có tiền đem về cho mẹ mua gạo nuôi nhau sống lây lất qua ngày. Ngày hè không đi học, các con phải đi nông trường Nhị Xuân lo trồng thơm, trồng mía. Hoặc con làm dân công thủy lợi đi đào kênh rạch trên Lê Minh Xuân. Tối về, Đảng phát cho một tờ phiếu, dân tự vét tiền túi ra mua gạo, mua mắm (dĩ nhiên!). Ráng đi con ôi!:
    Phượng hoàng ở chốn cheo leo.
    Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.
    Bao giờ gió thuận mưa hòa.
    Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng.
    (2)

    Con mẹ Thân là vợ của một sĩ quan Nhảy Dù ở “chế độ cũ”, miếng thịt Thân còn nhét trong kẽ răng, ấy thế mà bà ta đã toa rập với bọn cán bộ làm trong Xã Tân Thới Nhì, phản bội, lừa thầy phản bạn. Chúng cắt xén lương thực của dân đen đi làm thủy lợi đó. Dân muốn chết đói mà con mẹ ấy vẫn sống nhăn răng, phè phỡn và đú đa đú đởn. Thật xấu hổ! Sau giờ lao động nhọc nhằn, bà con lối xóm hò nhau xách tụng chạy đi, chen lấn vô cửa hàng, mắng nhiết nhau inh ỏi, vì sợ hết giờ, không có gạo đổ vô nồi. Bà Muôn, bà Cát, bà Liêm ơi ới gọi tôi:
    - Cô đi mua gạo “liên xô”. Mau lên kẽo hết. Nhịn đói thì chết.
    - Vâng.

    Tôi lo ba chân bốn cẵng chạy theo mấy bà hàng xóm. Tôi rù rì nói nhỏ vào tai bà Cát (bà ta là người đàn bà đanh đá, chì chiết, hai hàm răng luôn nghiến lại, bà nói chuyện không hở môi. Bà luôn mồm nhắc tôi “giữ bí mật”. Ấ́y thế mà chính miệng bà ta bi bô không giữ được, và “bật mí” phun xì ra. Í dà da! Bà ta thèo lẽo, tò mò tọc mạch như con ma xó! Tôi trách chi bà.
    - Sao chị dám nói là gạo Liên Xô hử?
    - Chứ cô không thấy có bao giờ mình được mua gạo đàng hoàng, từ tốn đâu. Không “liên” tục chen lấn, giành giật, “xô” đẩy nhau, mà rách toạt cả quần ra, là gì!
    Chị Dung cười toe:
    - Ồ! Thì để cho… ông trùm sò dê Bảy De thèm một xí.
    Tôi thật thà hỏi:
    - Dê Bảy De là ai, hở chị Muôn?
    - Là cái thằng cha mặt ngựa mỗi ngày rả rả trên “loa” phóng thanh, hắn ưa nói Dóc. Nói Dai. Nói Dở. Nói Dổm. Nói Dối. Nói Dốt… í mà.
    - Ai vậy cà?
    - Bộ thích ổng rồi hay sao, mà cô cứ hỏi tới dữ dậy he?!
    - Hổng dám đâu.
    - Bà Liêm, bà Muôn nhìn nhau nháy mắt, trêu tôi:
    - À, cô giỏi văn, vậy tui nhờ ổng “nhất ngoặc, nhì thân, tam thần, tứ chế”. Ổng có thần thế, sẽ giới thiệu cô vô ngành giáo dục he.
    - Hừ! Em mà giỏi cái nỗi gì.
    - Cô nói láo một cây xanh dờn hén.
    - Em hỏi chị chớ: Thầy cô đi dạy, ít ra cũng phải có ba bốn bộ đồ, để thay đổi. Còn em, chỉ có hai bộ dính da. Trời mưa em giặt đồ phơi, không kịp khô. Thì làm ăn cái nỗi gì!

    - Tại vì: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
    Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau.
    Bác Hồ khuyên ăn cơm rau.
    Đừng ăn thịt cá, mà đau dạ dày”
    (2). Nghe ra chưa?
    - Ui Trời! Chị dám rên la he. Em… hổng dám à nha.
    Bà Liêm háy nguýt một cái dài lê thê, chanh chua:
    - Cô nghe cho rõ nè:

    Một năm hai thước vải thô.
    Nếu đem may áo, cụ Hồ ló ra.
    May quần thì hở lá đa.
    Chị em thiếu vải, hóa ra lõa lồ.
    Vội đem cất ảnh bác Hồ.
    Sợ rằng bác thấy tô hô, bác thèm.
    Có áo mà chẳng có quần.
    Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
    Có đói mà chẳng có no.
    Lấy gì độc lập, tự do hỡi người?
    (2)
    Bà Cát:
    - Mắc mớ gì mà rên la. Tui có làm nên chế độ chế đá chi. Cô hổng thấy bên Tây, người ta có thịt, cá, ê hề, đầy nhóc, mà họ chỉ thèm ăn rau toàn là rau thôi đó sao.
    - Thôi. Đừng nói nữa, không khéo bóp méo sự thật, nói lung tung beng, mang tội chống báng chế độ, thì bị tù mọt gông đa, mấy chị ui.
    - Tui có hai cái cùi chỏ. Sức mấy dám “chống” đối ai. Chống gậy đi thủy lợi, thì có. Ai không đi thủy lợi, thì không có phiếu lương thực đã đành. Còn phải lên Ấp, lên Huyện “học tập cải tạo tư tưởng”. Hứ! Học tập cái ngữ gì hổng biết, một chữ bẻ đôi không rành, không biết, dốt còn hơn con bò tót, mà đòi đi dạy dỗ học tập “cải tạo” ai hử!? Đừng nên dùng chữ cải tạo nếu không có dấu ngoặt kép à nha.
    - Đúng thế!
    * * *

    Có lần tôi bị đau nặng, không đi thủy lợi được, thì họ bắt bà mẹ già cuả Luật đi làm việc “bù” không công. Mẹ chồng hơn bảy mươi tuổi lặn lội mót lúa, mót sắn, mót khoai… . Vì “lao động là vinh quang”, mẹ đi bắt ốc mò cua, tửng bưng sáng mẹ mò mẫm ra đi khi trời còn đầy bóng tối. Rồi, tối mịt mù mẹ lò mò đội lúa trên đầu, mệt mỏi trở về. Mẹ làm việc nặng nhọc, cực khổ, nhưng mẹ luôn ăn cháo, không đủ sức “lao động phấn-đấu”. Nên đặc biệt ở trong nhà tôi chỉ một mình mẹ già được ăn cơm tấm pha ít cám chấm muối mè gói trong tàu mo cau! Sự thật 100%.

    Hôm sau, hai đứa con nhỏ bé nhất của tôi có bổn phận phơi lúa, trở lúa, cào quét lúa đem vào nhà, không để mất sót hạt ngọc Trời ban. Chiều chiều, mấy mẹ con tôi lo giả gạo trong cái nón cối sắt (cuả “tàn dư đế quốc” ấy là nón “nhà binh”. Dù quân nhân chế độ cũ nay không còn, nhưng vẫn để lại những chiếc nón sắt, cho dân hữu dụng làm thành cái nồi để nấu thức ăn, hoặc giả gạo…). Mỗi lần tôi nâng niu chiếc nón sắt trân quý nầy, (vì đó là gia tài cần thiết nhất cuả chúng tôi sau ngày mất nước, thật sự tôi cảm thấy cảm động, thường trào nước mắt). Tuy lúa tươi còn mầm sữa, chúng tôi vẫn phải giả ra thành gạo. Sàng sảy thế nào vẫn bị trấu, cám, bám chặt vô hột tấm, vì lúa còn tươi, nghĩa là chưa phơi khô nên còn mầm sữa, đã vỡ nát. Đói quá, chúng tôi đành nấu nồi cháo tấm cám nham nhám độn củ mì rau dền, rau lang, rau đắng mọc hoang. Chúng tôi luôn ăn nồi cháo độn, bữa ăn quá sức tệ; thua bầy heo mập ú của nhà “con mẹ cán bộ xu thời xu thế Thân”.

    Hết gạo ăn bo bo.
    Học trò không có tập.
    Độc Lập với Tự Do.
    Nằm co mà hạnh phúc!
    (2)

    Nhà tôi” là một căn gia binh bỏ hoang trống-trơn từ trước ra sau, không có cửa lớn cửa sổ che kín lồng lộng gió. Không bàn, chẳng ghế, tủ, giường. Chúng tôi chỉ có: Một thau giặt, một thau rửa chén, một cái rổ, hai cái nồi đem theo từ ngày ở nhà thờ Huyện Sỹ: Nồi lớn chuyên dùng để nấu cháo, (họa huần lắm mới có một bữa cơm tấm pha xí cám. Một nồi nhỏ dùng luộc rau, hoặc kho tí muối quẹt. Một cái bình nhôm to nấu nước sôi. Đôi thùng gánh nước. Sáu tô nhựa lớn, sáu muỗng, sáu đôi đũa, vài cái dĩa sứt vành.

    Một bao quần áo mặc thường ngày. Một bao cói đựng đồ vặt, một bao cói đựng hai chiếc mùng đôi màu xanh. Cái mền làm bằng bao cát Mỹ. Một valy da quý giá sang trọng mang theo từ ngày ở Đà Lạt di tản về đây (vì hồi xưa gia đình tôi ngồi trên nhung lục giàu sang với nhà lầu ba tầng gạch đúc, có xe hơi Peugeot 404 mới toanh, nhưng nhờ bác và đảng “giải phóng”, nên đã bỏ lại hết). Đó là tất cả gia tài quý giá của gia đình tôi trong XHCN. Chúng tôi phải giữ bo bo chằng chằng bên người những đồ vật cũ mèm ấy bất ly thân, vì hở ra một xí là bị mất trộm, kẻ cắp vờn quanh xóm nghèo như rươi!

    Nằm dưới manh chiếu cũ nát láng đen và thô thiển, ngửa mặt nhìn trên nóc nhà, tôi thấy ngàn ánh sao xuyên qua lỗ tôn xi măng thủng vì bom đạn. Ngày nắng chói chang thì mặt trời soi rọi xuống vạt chiếu ẩm, khiến chiếc chiếu càng dòn đã bể nát vài chỗ, chiếu và nền xi măng hầm hập nóng, muốn lột da lưng. Mùa mưa ở trong nhà thì nước lụt ngập lên gần bắp chân. Nước trên mái tôn lủng trút xuống ào ào, nước ngoài sân cao hơn nền nhà ở tứ phía tràn vô. Mẹ, con, bà, cháu lội lủm bủm, bì bõm, chúng tôi cùng thi nhau cúi cúi tát tát nước, như tát ao, tát đìa. Chúng tôi cố gắng làm tận sức, vã mồ hôi hột trong cơn mưa, vẫn không thể ngăn nỗi cơn lũ ào ạt tràn vô căn nhà bị thấp hơn mặt đường. Trong nhà nầy đã giống như một cái ao. Nhiều lần chúng tôi đành chịu thua, bà cháu mẹ con vịn nhau, đứng dựa lưng vào tường, ngâm chân trong nước bùn hôi thối, mà ngủ gà ngủ gục.

    Sau này biết khôn hơn, năm mẹ con tôi đi tìm các nhà gia binh bỏ hoang, con trai lớn mười hai tuổi mượn cái “búa tạ tày xồi” của ông bà Hùng, con dùng búa đập tường. Mẹ con khệ nệ ì ạch bưng từng viên gạch táp lô về, kê lên cao cao, để làm thành “cái giường”, hầu tránh nước lụt. Khổ nỗi, khi đã có cái giường “siêu tổ chức xã hội chủ nghiã” thì rệp, rận, gián, và muỗi núp dưới các khe hở, nhiều vô số kể, chúng luôn bòn rút máu của chúng tôi. Đó là “nhà của chúng tôi” luôn luôn nóng hầm hập như lò lửa, mưa ngập thành một cái ao bùn đầy nước bẩn trong chế độ xã hội chủ nghĩa thật. Đó là nơi nương thân của những kẻ không có tương lai, không có cuộc đời tươi sáng, không có ngày mai hứa hẹn hạnh phúc, tốt đẹp hơn.

    Từ tửng bưng sáng mẹ già đi ruộng mò bắt được mươi con ốc, năm ba con cua, và một con cá lóc nhỏ bằng ngón chân cái. Về ngang bờ kinh, mẹ hái thêm chục dọc môn dại. Hôm đó, mẹ bảo tôi:
    - Con nấu nồi cháo đặc, thật đặc nhá, chứ cả nhà ta luôn luôn ăn cháo lỏng bỏng, ruột mẹ cứ cồn cào, xót xa thế nào ấy.

    Vâng lời mẹ, tôi cẩn thận nấu nồi cháo: độn một bó rau muống, ba phần củ sắn mì, hai phần dáu môn, và một phần gạo tẻ (gạo là do đi lượm mót lúa ngoài đồng, con trai đội về, tôi và con nhỏ giả bằng tay trong chiếc nón sắt, rất chu đáo và công phu). Các con tôi ra giếng công cộng tắm rửa xong. Các con gánh về hai thùng nước. Tôi múc ra sáu tô cháo, để xuống nền xi măng loang-lỗ vết đạn cày xới. Sau khi mời bà nội, mời mẹ, anh em vui vẻ mời nhau ăn cháo. Các con tôi hí-hửng cười reo dưới ánh trăng tròn, (chúng tôi sống ở “trong bóng tối”, chỉ nhờ trăng soi sáng, thì dùng đèn dầu làm chi, cho hoài phí của đi! Nếu ngày nào không có trăng tỏ, thì chúng tôi lo ăn cơm sớm).

    Ai sinh ra cái củ mì?
    Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn!
    Nước nhà mãi mãi khó khăn.
    Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì
    (2)

    Cứ thế, các con của tôi sung sướng bưng tô cháo, hí hửng đưa lên miệng, húp rột rột, (vì hôm nay đặc biệt có thêm mùi vị của cá lóc) coi thật ngon lành. Bỗng, các con đồng thanh hét to. Đứa quăng tô xuống nền nhà. Đứa nằm lăn lộn trên nền nhà lỗ chỗ. Đứa dùng hai bàn tay cào móc cổ họn. Các con vật vã rên siết la làng, khóc lóc tru tréo inh ỏi. Mẹ già kêu rú lên quá to, bà dựa lưng vào tường, trợn trắng mắt, thở dốc và ho sặc sụa. Tôi đã húp ba bốn muỗng cháo, tự dưng cổ họng rát bỏng, ngứa cồn cào, ngứa điên cuồng, tôi cào móc khạc nhổ thế nào, cũng không bớt. Mặt, môi, lưỡi, họng, cả nhà chúng tôi đã phồng rộp, sưng vù, đỏ choét. Thì ra, chúng tôi bị dị ứng hay suýt bị ngộ độc, vì ăn phải mấy dọc môn dại hay sao!?

    Tôi vội chạy ra thùng thiết dật dờ múc gáo nước, khuấy muối, vắt mấy trái chanh đưa cho mẹ già. Tôi kéo các con chạy đến thùng nước thứ nhì, cứ như thế, tôi bắt các con móc họng ói ra, súc miệng, nhổ đi nhổ lại nhiều lần. Bà cháu, mẹ con chúng tôi đều bị đau nhức cổ họng kinh khủng ghê lắm. Thân thể chúng tôi đều bần thần, bụng cồn cào vì ói ra mật xanh mật vàng, và nhịn đói, rị mọ vất vưỡng lọt tọt dìu nhau đi ra giếng tắm giặt. Lòng buồn xo như xé tâm tư.

    Từ khi ta có Bác Hồ.
    Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào.
    Lương chồng, lương vợ, lương con.
    Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm.
    Lương tâm đem chặt ra hầm.
    Với rau muống luộc khen thầm là ngon
    . (2)

    Ôi! khổ nỗi một miếng ăn độn tồi tàn hơn nồi cám của con mẹ Thân cho heo của bà ta ăn, thế mà cả nhà chúng tôi cũng không thể nuốt trôi vô khỏi cuống họng! Ngày Tết Nguyên Đán và suốt cả tháng Giêng nầy, gia đình tôi nằm co ro trên cái giường táp lô, chúng tôi bị đau đớn quá độ, không tiền thuốc thang, đành vật vã ôm bụng nhịn đói. Chúng tôi không thể ăn nồi cháo đặc khổ qua con cò rị mọ con rùa. Ôi! Bài học ăn cháo đặc ấy trong tận đáy xã hộI, chúng tôi ghi nhớ suốt đời. Ấy là lúc xuân xanh của tôi vừa tròn:

    Trai ba mươi tuổi còn xoan.
    Gái ba mươi tuổi đã toan về già”
    Bác Hồ chết phải giờ trùng
    Nên bầy con cháu dỡ khùng dỡ điên.
    Thằng tỉnh thì đã vượt biên.
    Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng.
    (2)
    ***

    Kính gửi quý anh chị... & xin thông cảm về nỗi đau của người vợ tù “cải tạo”. Anh thương ơi! Bây giờ anh ở tù “cải tạo” nơi nao!? Anh có thấu chăng cho hoàn cảnh đau thương, bi đát, khốn cùng của bà cháu mẹ con em bây giờ không hở anh!? Ôi! Mùa Xuân năm 76 - 85!!!:
    Như một người già ngồi nuối tiếc dĩ vãng xa xưa...

    Như một danh tướng ôn lại những chiến tích oai hùng!
    Như chim trong lồng ai oán nhìn bầu trời bao la.
    Tôi mất Sài Gòn, nhưng thành phố vẫn sống mãi trong tim tôi.
    Nhưng tôi không là người già, thì vẫn còn tương lai.
    Tôi không là danh tướng, nên chẳng chiến công nhiều.
    Tôi không là chim trời mãi mãi mất tự do.
    Tôi chỉ là con bệnh trong cơn đau chung nầy.
    Rồi sẽ hết, rồi sẽ hết những tháng năm đau thương trong cuộc đời!
    Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy.
    Rồi sẽ thấy, rồi sẽ thấy những tháng năm đau thương trong cuộc đời.
    Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy.
    (1)
    *
    (1) “Uống chén đắng” Lời và nhạc: Cung Mi
    (2) Lượm lặt sưu tầm
    *

    Tình Hoài Hương
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 02:05 AM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #47
      Mưa Xuân Ập Đến Góc Biên Thùy




      Tình Hoài Hương
      Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-14-2019, 01:53 AM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • Tinh Hoai Huong
        Senior Member
        • May 2009
        • 1081

        #48
        XA... Xa. Xa... Là Nhớ Nhung Ngẩn Lòng!



        XA...Xa Xa... Là Nhớ Nhung Ngẩn Lòng!
        Tình Hoài Hương
        ***



        Tình yêu đã đem lại cho lứa đôi niềm an thư, vui vẻ, hạnh phúc trong mấy ngày, rồi cũng đem đến cho nhau bao nỗi ưu buồn, lo âu và run sợ. Do có gay gắt đột ngột giữa chị Khánh và chuyện hai người yêu nhau, nên Nam không xuống nhà chị Khánh nữa, mà “hai anh chị nhỏ” lén lén lút lút thụt thò hẹn nhau ở nhà anh chị Tuế (Hạc). Việc anh chị bao che “chứa chấp nàng, và chàng” có nghĩa là chị Hạc chỉ cho phép họ ngồi nói chuyện với nhau trong phòng khách mà thôi, cũng khiến chị Khánh nổi giận hơn. Chị Khánh gọi chị Hạc (vợ anh Tuế) qua nhà la cho một trận. Thế là con nhỏ hết đường đi. Chị Khánh dồn cô em vào ngỏ cụt không lối thoát, tiến thối lưỡng nan rồi.
        Đêm đêm nằm úp mặt xuống giường con nhỏ khóc ướt gối. Khi nhỏ chạy qua được bên nhà chị Hạc, chàng đã đợi con nhỏ ở đó ba giờ liền. Nam và Hạnh đi lên giáo đường “con gà”, hai cô cậu quỳ bên nhau cầu nguyện thật lâu, mong cho lòng thanh thản, dịu êm đôi chút. Nhỏ không thể ngăn dòng nước mắt uất nghẹn tuôn trào, cô thì thầm van xin cùng Mẹ Maria cho mình thoát khỏi đắng cay, xin gìn giữ tình yêu bền chặt, lâu dài. Khi quá lo âu, đau khổ, buồn phiền, run sợ cùng tuyệt vọng, người ta thường tìm đến Đấng Tối Cao nhiệm mầu, xin Ngài mở rộng vòng tay từ ái. Ngài là nơi an hoà, bình yên, yêu thương tuyệt diệu, là điểm tựa vững chắc miên viễn. Nam cũng rướm lệ, uất ức, buồn phiền khi qùy trong giáo đường. Nam lấy khăn tay lau khô hàng nước mắt trên má cô, và tự lau nước mắt.
        Ra khỏi giáo đường nàng và anh đến văn phòng hội quán, nơi chị Hạc làm việc giúp chị đánh máy thật nhanh, chị mừng lắm. Mấy chị em buồn rầu chuyện trò nho nhỏ, chị khuyên nhủ hai em cố chịu đựng, lo gắng học hành cho có tương lai. Chị nồng nhiệt an ủi,
        nhỏ nhẹ vỗ về hai em, chị Hạc không to tiếng la hét em như chị Tư. Chiều đến ba chị em chia người đi mỗi nơi.
        Nam trằn trọc trên giường, chàng đăm đăm nhìn qua khung cửa sổ đóng kín, vắt tay lên trán nghĩ ngợi mông lung. Nam không thấy gì hơn là nỗi tức giận, buồn phiền. Khi ngày chia tay gần kề, Nam muốn đến nói thẳng, nói thật, nói với chị Khánh về chuyện Nam thành thật yêu Mười. Nhất là Nam sẽ nói nhiều với nàng, nói với người con gái tha thiết hơn là bạn thân. Dù Mười chưa là vị hôn thê, chưa là vợ chàng, rằng:
        - Anh yêu Hạnh – Em quan trọng hơn thế gấp ngàn lần, trong đời của Phương Nam nầy. Bởi vì em chính là Tình Yêu. Và, anh đã yêu em nhiều, yêu em nhiều lắm! Cho dù mai đây anh sẽ xa xa xa... Hồng Hạnh. Nhưng anh luôn nhớ nhớ nhớ... em. Anh mãi thương thương thương... em nhiều! Nhiều! Nhiều...! Tình yêu, là hạnh phúc duy nhất trong cuộc đời anh, sao bây giờ vô cùng mong manh bé nhỏ, đau buồn đến thế!? Như đám mây hồng thoáng bay qua nơi tầm tay, Nam không thể làm cho lòng mình yên vui thanh thảng lại tháng ngày hồn nhiên, nên thơ, yên vui xưa cũ. Hở em!?
        Nhưng sao hôm sau khi gặp Hạnh trong chốc lát, thì những lời anh định nói: ngọt ngào như trái dâu chín nép bên lá xanh, bỗng dưng rụng rời, khô héo, tóp teo vì dâu đã bị hong khô trên giàn bếp! Bây giờ Nam không nói được, mai kia giữa Sài Gòn và Đà Lạt, hay giữa Sài Gòn và Huế xa xôi nghìn trùng, sẽ ngăn chia biết bao sông núi ao hồ, tít mù ngót nghìn cây số đường trường, xa xăm đến tận chân trời mút tầm mắt, đường dài như vô tận. Hạnh và Nam sẽ bị ngăn cách bởi không gian, thời gian, bởi đỉnh núi rất hiểm trở, biển đèo, hồ ao, sông ngòi vạn dặm, chia lìa bởi vực thẳm cheo leo hun hút. Mặt cách mặt, lòng xa lòng. Biết ra sao ngày sau!? Bây chừ muốn nói; mà anh sẽ nói gì đây?
        Buổi trưa ngày thứ mười ba, Nam thấy Hạnh cùng mấy bạn đi học về ngang qua cầu Bá Hộ Chúc như mọi khi, cô không cười nói tung tăng vô-tư-lự như trước, nàng lầm lũi bước đi bên bạn. Nam vừa dợm bước tính qua bên lòng lề đường bên kia. Bỗng anh khựng lại khi thấy hai chị Lê, Khánh, từ trong ngỏ Đoàn thị Điểm đi ra, hai chị đứng sững, chỉ chỏ cô nhỏ em, họ nhìn Hạnh chằm chằm. Nam không hiểu cô có thấy hai chị không mà cứ cúi đầu lẫn trong các bạn đi lên con dốc Bà Triệu để về nhà?
        Tựa lưng bên cầu Bá Hộ Chúc, cây cầu gỗ đen sì như tương lai hắc ám của hai người bạc phận, Nam nhìn theo bóng cô mãi. Khi bóng Hạnh dần khuất sau dốc vòng cao của trường dì phước Thiên Hương, Nam quay người chống hai tay lên thành cầu, anh cúi nhìn khá lâu xuống con suối chảy siết dưới chân cầu. Nước chảy qua cầu cuộn sóng, cuốn theo cây lá bồng bềnh lênh đênh trôi trên mặt. Tự dưng Nam cảm thấy buồn bã, đơn điệu, trống vắng vô ngần; một sự đau đớn phiền muộn nặng nề, đầy tức giận phủ chụp xuống tâm hồn Nam, khiến anh buông nhiều tiếng thở dài. Nam quên tiệt, và không thể ngờ bên kia quán cóc cô Lượm, có hai bà chị của cô còn đứng như trời trồng, họ đang dán mắt nhìn Nam, theo dõi từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất của anh. Họ thì thầm nói với nhau:
        - Hứ! chẳng lẽ thằng nầy muốn đâm đầu xuống suối tự tử sao ta?
        Nam lững thững đến chào gia đình anh chị Lê, chị Khánh, chị Hạc, để ngày mai về Sài Gòn. Hạnh xin phép chị Khánh cho mình đi nói chuyện "dứt khoát với Nam". Ngày cuối cùng sánh bước bên nhau. Nam âu yếm hôn lên đôi mắt cô ứa lệ, anh không thổn thức như cô, nhưng hai hàng lệ từ trong tuyến nước mắt Nam tự động lăn trên má, uất nghẹn. Vì nhiều điều không thể nói hết, vì bao trăn trở ưu phiền, lo lắng buồn đau, tức giận chính thân Nam chưa đem đến cho Hạnh điều vui, mong cô là người trước tiên cần an hòa trong tâm hồn. Sau là để hai chị của Hạnh thấu hiểu, thông cảm, yêu thương cô em của họ hơn. Dòng lệ chảy từ đôi mắt dấu yêu từng nén lại nỗi nghẹn ngào, uất ức có tác dụng mạnh hơn cả ngàn lời chia tay. Nỗi đau của Hạnh, Nam, quá đột ngột, bất ngờ phủ chụp xuống đầu, khiến họ không thể chịu nỗi cuộc chia tay chưa hẹn ngày tái ngộ ở phương nào? Họ không lường chuyện gì sẽ xảy ra từ phía trước. Nơi cô sẽ đến, nơi anh quay về chốn phồn hoa đô hội cũ? Nơi ấy họ sẽ sống thấp thỏm lo âu, khắc khoải, bồn chồn, mòn mõi, quắt quay bao nỗi đau, nỗi nhớ, nỗi thương yêu và, nhất là nỗi ân hận dày vò.
        Ngồi trên đám cỏ bồng bềnh ở góc đường Phạm Phú Thứ, hai bạn nhìn xuống nhà thờ Tịnh Tâm. Họ cảm thấy rã rời, đau đớn, cái đau tâm hồn mỏi mệt làm dại khờ thể xác. Nam và Hạnh không muốn cất bước dìu nhau đi lượm trái thông khô, hái hoa hoặc lượm lá vàng rơi, đem về ép trong trang sách. Mặc dù thả bộ trên con đường rợp bóng cây, nhặt lá hái hoa là điều hai người cùng yêu thích. Họ nhìn xe cộ, người người qua lại rải rác. Thỉnh thoảng có nhiều đôi trai gái nắm tay nhau cười vui tung tăng trên đường. Không hiểu chàng ấy nói điều gì, khiến cô gái cười dòn tan, đầy vui thích. Có lẽ họ là những cặp tình hạnh phúc thực sự, không rơi vào hoàn cảnh khắc nghiệt, gia đình họ không lấy “quyền huynh thế phụ”, buộc em chấm dứt đoạn tuyệt đủ mọi thứ. Nhất là buộc em nghỉ học trong lúc mùa thi cử sắp đến, mất cả niên học, chẳng còn tương lai, hoặc có cơ hội đến trường. Nghĩ vậy, "nàng và chàng" càng tủi thân, thương cảm biết mấy! Nam cầm tay côi, âu yếm nói:
        - Nếu gia đình quyết định về việc em ra Huế, thì cho anh biết gấp. Nhé.
        Hạnh gật đầu im lặng. Nam ôm chặt Hạnh trong vòng tay thư sinh, dường như sợ khi xa mình, cô nhỏ sẽ tan biến vào giấc mộng trắng toát tuổi học trò. Nam dặn dò:
        - Giữ liên lạc thường xuyên nhe. Chờ đợi anh, đừng nãn lòng ha. Lúc nào buồn, nhớ viết thư thật dài, kể cho anh nghe về mọi sinh hoạt của em. Qua đó, anh có thể an lòng. Tình yêu của anh. Hạnh phúc của anh là ở nơi nầy nè.
        Nam chỉ tay lên ngực cô, nơi Hạnh đeo một mặt dây chuyền vàng, có khắc chữ HH. Đó là lời trao yêu tha thiết, chân thành nồng nhiệt, lời hứa hẹn đầy ắp ân tình trìu mến, tương kính như tân. Bằng cử chỉ dịu dàng, thân ái và trân trọng, Nam đắm đuối hôn lên môi Hạnh, nụ hôn có nhiều vị đắng, vị cay, vị chua, vị mặn, vị nồng: từ hai hàng nước mắt lăn xuống đôi má phớt hồng và bầu bĩnh, để bù đắp lại bao ngày trống vắng, chia lìa mai đây.
        Xa! Xa! Xa... là xao xuyến, nhớ nhung ngẩn lòng. Là mến tiếc bâng khuâng. Là lo lắng băn khoăn, bồn chồn ray rứt. Là bất ổn đớn đau trong lòng nhiều lắm! Là quạnh vắng nhớ thương, mòn mỏi bồn chồn khắc khoải lo lắng băn khoăn đợi trông. Là suy tư đắm chìm về từng kỷ niệm, vui buồn xếp lớp lăn tăn thức. Là kéo dĩ vãng về với hiện tại, để sống cho tương lai. Là ước nguyện và hy vọng trùng phùng một thuở bên nhau. Tình yêu Nam và Hạnh là nguồn yêu thương chân thật, an ủi nhất. Là điểm tựa cuối cùng trong muôn điều đắng cay, đau khổ vừa ập đến. Và, thực tế là xóa sạch nỗi hận không ngờ, tẩy bỏ niềm đau buồn đột ngột, làm bàng hoàng, vò xé, ân hận, thương tổn tình yêu ít nhiều.
        Ôi! Còn đâu nữa những tiếng cười hồn nhiên rơi trên từng giọt mực tím trái mồng tơi? Còn đâu sự ân cần âu yếm, gọi nhau bằng "bậu" mà xưng là "qua". Hoặc ngọt ngào xưng "đây" goị "đấy". Hay là “ta” với “mình” ríu ra ríu rít âu yếm thủ thỉ thì thầm bên tai:
        - Thôi! Em hãy về bên dòng sông Hương điệp trùng xa cách, em uống nước thượng nguồn, sẽ nhớ người anh hậu giang. Em như con cò hiu hắt đơn độc, nép mình bên bờ ruộng khô lững thững côi cút đi tìm mồi. Em ơi! Anh muốn mình hóa thành bóng mây bồng bềnh, lang thang phiêu lãng cùng em bay về vùng trời quê hương của em, hai đứa mình sẽ cùng nhau nhìn con đò nho nhỏ êm êm lướt nhẹ trên dòng sông xưa, mà có lần Hạnh thân thiết gọi: “Con thuyền hoa chở Hạnh đi gặp Nam". Chúng ta sẽ cùng nhau tìm lại dĩ vãng hoang dại, có một thời thân thương xiết đỗi mến yêu dưới mái nhà ấm áp, gợi nhớ bữa cơm chiều thân mật. Anh sẽ về tìm em, nơi phương trời xa xôi vạn dặm ấy, nơi xứ lạ phương xa mà anh chưa hề biết đến. Anh sẽ về tìm em, dù xa xôi và muôn vàn cách trở. Anh sẽ về bên em, dù bất cứ giá nào!
        Quá thương yêu Hạnh, Nam càng ôm chặt cô vào lòng, dường như anh sợ mất em. Nam muốn ghì xiết cô như con sên suốt kiếp bám chặt vào ốc vỏ. Những giờ phút cuối trong giờ chia tay thật yên lặng, buồn bã, đầy xúc động bên nhau. Một giờ trưa, hai người thong thả đứng dậy, từ từ dời gót như còn cả tương lai và chân trời trước mặt. Không vội vàng chi. họ dìu nhau đi thật chậm trong lòng phố thênh thang. Cúi đầu trên mái tóc cô, một tay anh xách valy, một tay Nam ôm bờ vai người yêu bé nhỏ. Nam, Hạnh đứng khuất sau bức tường, trên bến xe cũ ở đường Hàm Nghi. Họ lặng ngắm nhìn nhau không thốt lời nào. Hình như trải qua bao nhiêu đắng cay, buồn phiền, trong tích tắc thời gian nóng bỏng nhất, cổ họng họ đã tuôn trào mật đắng. Đắng nghét. Không còn hơi sức thốt nên lời.
        Nam lấy mũi dao nhỏ trong cái kéo bấm móng tay, khắc vô bức tường: Phương Nam Hồng Hạnh
        * * *
        Rồi việc gì sẽ đến, đã đến… dưới buổi hoàng hôn lảo đảo! Má cô từ Huế đến Đà Lạt trên chuyến xe tốc hành đêm mười lăm tháng Chạp áp Tết cổ truyền. Mới vài năm xa mẹ hiền, mà nay má già lắm! Ở chốn quê nhà lam lũ một nắng hai sương, má vất vả trăm chiều, lặn lội sớm hôm tần tảo, để kiếm tiền nuôi con ăn học. Hạnh vô cùng ân hận, một sự hối lỗi dày vò khẩn thiết, rất chân thành phát xuất tự đáy lòng. Cô biết má buồn lắm! Khiến lòng Hạnh càng tái tê, càng dày vò! "Má ơi! Hãy nhìn con, nói lời tha thứ, cho con chạy đến ngã vô lòng mẹ hiền, như con hoang đàng trong thánh kinh, được vòng tay cha nhân ái rộng mở đón mừng. Con muốn được như vậy. Má ơi"!
        Hạnh nghỉ học, nàng cảm thấy như ngồi trên ổ kiến lửa, ngu si thọc tay vào tổ ong quậy phá, khiến chúng đốt sưng vù. Càng hơn nữa Mười như tên tội phạm đứng trên giàn hỏa thiêu, bồn chồn sợ hãi tột đỉnh, nàng giống như tên tử tội thấy người khác thọc ngọn dáo nhọn sắt cạnh vào tim mình.
        Phòng ăn treo bức ảnh đại gia đình họ tộc từ "ông xơ bà cố tổ" trở xuống hàng con, cháu, chắt. Dường như từ những khung ảnh lạnh lẽo, nhiều người ngồi trên đó, luôn dõi mắt nhìn đàn con, cháu, chắt, nhắc nhở họ thường xuyên nhớ phong tục tập quán cổ truyền, đạo lý gia phong tổ tiên dòng dõi Nhà Trần, Nhà Ngô. Bữa cơm thịnh soạn họp mặt ở nhà chị Khánh có đầy đủ con, cháu, để mừng mẹ từ xa đến. Trên bàn ăn tươm tất các thứ đã sắp sẵn: Củ hành tím phi vàng, hai tô nước mắm me (gồm có: tỏi vàng óng với ớt chỉ thiên chín đỏ rất cay, đã bằm nhuyển, nước mắm me dốt thì me đâm nát lọc lấy nước), dĩa xoài tượng xắt mỏng còn vỏ, dĩa điều vàng, dĩa giá sống, kèm mấy miếng chanh, dĩa sung và chuối chát, ớt trái tươi rói. Hai dĩa bánh tráng, tô nước trong để nhúng bánh tráng, ba dĩa bún. Mấy dĩa rau gồm: xà lách, đọt đinh lăng, lá đọt sộp, đọt vạn thọ, lá xoài non, lá sung, quế, dấp cá, tía tô, ngò, húng cây, húng lũi, hẹ, cần ta, cải cốm, cần nước, tần ô... Thịt gà thịt vịt thịt bò thịt heo, kể cả thịt dê thì ê hề... Ôi là đủ thức ăn ngon làm sao kể xiết.
        Ăn uống xong xuôi, khi em bưng chè đậu xanh đánh lên, ăn tráng miệng, thì chị Khánh mở đầu buổi họp gia phong, hạch hỏi tình yêu của Nam Hạnh, rồi nói:
        - Má liệu đem nó về. Không khéo nó có bầu rồi. Con thấy nó giã lá thuốc ngãi cứu, uống mấy ngày nay đó.
        Như có ai vừa tạt gáo dầu sôi bỏng. Đớn đau kinh khủng, khiến cô lịm đi, để chống đối lời lăng nhục đó, em bèn trợn trừng mắt lườm nguýt chị, mặt bừng bừng đỏ, và nhún nhẹ đôi vai, và trề môi ra. Mặt chị Khánh đỏ như trái gấc, chị quắt đôi mắt sáng, sắc như dao cau, hướng về phía em, chị "hừ" một tiếng lớn, nghe thật ớn lạnh. Có ai trong đời mà không trải qua năm, bảy lần hỗn láo với người lớn không nhỉ? Em phải bảo vệ tình yêu, tự trọng và danh dự. Cho dù em biết cử chỉ đó là “mất dạy” cách mấy đi chăng nữa. Bởi chưng, chưa bao giờ Nam có lời nói kém nhã nhặn, chớ nói chi đến cử chỉ thất thố, suồng sã với mình. Chưa bao giờ! Nam và Hạnh yêu nhau hồn nhiên nên thơ rất trong sáng, chưa một lần quá trớn, lăng loàn. Vả lại chuyện vợ chồng có gì mà gấp rút, khi tuổi đời hai ta còn quá trẻ dại? Điều đó, giữa Nam và Hạnh là sự thật trong sáng trăm phần trăm. Cô tôn trọng sự thật. Toà án lương tâm không bao giờ cắn rứt mình, mà toà án trong gia tộc nầy sẽ khiến người ấy sẽ ân hận mãi về buổi họp hôm nay.
        Chị Khánh đánh giá con người và tình yêu sai lầm rồi. Không có gì sỉ nhục bằng nghĩ xấu cho một mối tình đẹp đến thế! Phải chăng, đa số anh chị thường mang định kiến không tốt về tình yêu? Tại sao họ nghĩ nông cạn đến độ cứ yêu nhau: là phải làm đến cái chuyện tầm bậy tầm bạ ấy? Cô thương Nam quá! Nơi chân trời xa xôi anh giữ mối thiện cảm, duy trì lòng mến mộ các anh chị, có ngờ đâu, họ nhìn anh ở một góc cạnh xấu nhất. Họ đang đóng đinh mối tình dẫy chết của chúng mình. Đó anh!
        Chị Lê trợn mắt lên, chị xỉ vào mặt em, la:
        - Mi ghê gớm thiệt. Để tao coi mi có lá gan bê lớn? Hắn dạy mi rứa đó hả?
        Thấy tình trạng căng thẳng quá, em sợ, nên từ từ len lén đứng dậy thu dọn chén bát trên bàn, mặt cúi gầm xuống và im lặng. Chị Khánh lại la, khi em bưng chồng chén xuống bếp:
        - Cuốn gói theo hắn đi? Cút xéo ngay. Cho ăn học uổng quá!
        Liếc nhìn hai chị, rồi nhìn má, Hạnh trả lời:
        - Con không muốn ở đây, sợ phiền anh chị thêm.
        Chị Khánh trợn mắt, đứng lên, tay chống ngang hông:
        - Đi ra khỏi nhà ngay.
        - Em chờ má đi luôn.
        Cả nhà nghĩ em có ý chế nhạo, trêu tức, hỗn hào, thách thức họ. Duy chỉ có anh Tư, vốn dĩ là người trầm tĩnh, thâm thúy, tế nhị nhất. Anh lịch sự, ôn tồn nói:
        - Việc gì phải đi đâu. Muốn nên người, dì cần ở đây, ăn học tử tế. Chịu tất cả quy luật trong gia đình nầy.
        - Em đã quyết định rồi.
        - Tùy ý dì. Thế cậu ấy còn ở đây không?
        - Ai cơ?
        Chị Khánh quát tháo:
        - Thằng Nam chớ ai. Nói nó lập tức đem mày đi đi.
        - Em không có ý định đó. Tụi em thương yêu nhau đứng đắn, đàng hoàng, không tầm thường, không tầm bậy, tầm bạ, như chị nghĩ. Sao chị cứ vu oan cho em?
        - Chuyện rành rành như ban ngày, còn chối leo lẻo nữa há, trả treo nè... Trả treo nè...
        Liền với câu mắng nhiếc ồn ào, chị Khánh xấn tới bên êmm bưng mặt đầy máu chạy vào phòng, nàng nằm vật lên giường, nghiến chặt hàm răng chịu đựng đau đớn, tay chân bủn rủn, rụng rời. Như nọc rắn cắn vào thân, trong tích tắt, nọc đủ làm bầm tím, rồi tái méc, xanh lướt đi, không vì máu mũi chảy trên nền áo trắng thư sinh. Máu chảy từ trong trái tim em đau đớn, quặn xiết đầu đời, dội ngược lên lứa tuổi ô mai, mận dòn khế ngọt. Lỡ chân còn gượng được, chứ lỡ lời đến bật máu ra, thì thôi. Còn chi nói nữa! Lời chị nói như ngọn giáo lạnh lùng, thọc qua lồng ngực nóng rang, khiến Hạnh quay quắt, đau hơn những cái tát. Máu mũi đã chảy ra, lằn tay đỏ bầm in trên hai má nàng nóng rần rần khắp thân thể, làm tê bại chân tay. Rồi máu cũng có lúc khô, ngừng chảy, không còn thấy tì vết. Thời gian sẽ xóa hết mọi dấu vết bầm tím sưng húp. Nhưng tuyệt nhiên lời nói của các chị dẫu có lâu ngày, vẫn hằn in sự sỉ nhục. Thì, không có cách gì tẩy xóa, kỳ cọ, không cách gì lấp đầy, tan biến được. Không bao giờ!
        Nhớ có một lần hồi ấy em rât nhỏ. ở nhà bà bếp bị đau không thể nấu cơm, chị Tư đi chợ về trễ, nên vội vàng sai em đi nhóm bếp nấu cơm. Loay hoay mãi em không biết làm sao gầy bếp lửa cho nó đỏ cháy. Chị Khánh làm cá gần đó thấy em không làm được, thì chị bực bội la to. Chị càng lo thì em càng sợ run, tay chân quýnh quáng không thể nhóm bếp được. Chị Khánh tức lắm, chị giật đôi đũa sắt mà em đang gắp than, chị đánh mạnh lên đầu em mấy cái. Máu chảy thấm ướt cổ. Hạnh quắt quay đau điếng, nên em khóc lớn. Chị bồi thêm mấy cái tát vào má em nữa. Hạnh run sợ vụt đứng dậy chạy ra khỏi bếp. Con bé núp trong xó vườn thút thít khóc, em lấy tay bụm đầu mãi, đến khi máu ngừng chảy qua kẽ tay, máu khô và bết lại với tóc.
        Không hiểu tại sao hồi xưa chị Khánh hay nói:
        - "Tụi bây mà học hành cục cứt gì. Hồi nhỏ, cha mẹ không cho tao đi ăn học ngày nào, vậy mà tao biết viết, biết đọc làu làu như ai. Ngày nay, tụi bây được cha mẹ cho đến trường, mà học hành chẳng ra cái quái gì".
        Như Nam đã nói, đôi lúc Hạnh "lì" quá! Không chịu ra nói rõ phải trái, về việc quen anh, việc học hành của mình. Lì lợm như vậy thì thôi đi. Vả lại, em nói gì cũng bằng thừa. Ai tin mình, khi lỗi cô trốn học hai giờ còn sờ sờ trong học bạ! Mặc kệ. Hạnh không muốn ở lại đây, thở than, xin xỏ, năn nỉ, rồi anh chị em tiếp tục phạm sai lầm, nghi kỵ, xem thường phẩm giá con người, chị đánh đập em như con chó. Đôi bên oán trách, giận dữ, hành hạ đối xử với nhau như kẻ thù. Tình cảm gia đình, anh, chị, em, đã có vết rạn bên ngoài khung ảnh đại gia tộc đang treo trên tường, trong phòng ăn rồi. Tất cả anh, chị, em, không ai có thể xóa tan sự đau đớn, tủi nhục, nỗi muộn phiền quắt quay, ấn tượng không tốt đẹp, về tình máu mủ ruột thịt, sự thất học và có học, xua tan sự cứng rắn ra khỏi lòng cô. Họ không bao giờ hiểu cô em nghĩ gì về họ? Họ không hiểu lý do. Và, em không tầm thường như thế. Em sẽ giữ nguyên nhân sâu xa thầm kín nầy cho đến chết. Phải! Làm sao họ hiểu nỗi em?
        Hạnh đi từ giã bạn vội vàng. Cô chủ tiệm Mỹ Dung sửng sốt, đầy xúc động, băn khoăn, cầm tay cô nói lời chia tay, ngấn nước mắt trào ra bốn khóe mi. Cậu Kỳ ngạc nhiên không kém, cậu thẳng thắng trách mấy bà chị họ sao độc đoán và hủ lậu, không chừa cho em một con đường thoát. Tài, Phú, Ngữ đã về Sài Gòn. Chỉ còn Vinh và Lễ ở lại căn nhà thơ mộng bên sườn dốc Hai Bà Trưng nhìn lên đồi hoa qùy. Lễ nói:
        - Hồng Hạnh à! Phú rất buồn, thất vọng về điều gì đó.
        Vinh nhìn cô giây lát, ngập ngừng nói:
        - Có lẽ, bọn nầy sẽ không ở Đà Lạt nữa.
        Hạnh giật mình, vụt hỏi bạn:
        - Vì chuyện của tôi, anh chị muốn xù nhau sao!?
        - Không phải. Tôi về Sài Gòn làm việc, và kết thúc sự học.
        - Có vậy chứ, không thì tôi buồn gấp ngàn lần.
        * * *
        Nam viết một bức thư dài mười trang giấy pelure để tiễn đưa cô trên đoạn đường thiên lý định mệnh, xa mù xa. Hạnh dõi mắt nhìn từng chùm hoa anh đào đan trên cành, ngắm từng bụi cỏ bờ cây, như muốn ghi dấu tình yêu mến vào đáy lòng. Đà Lạt thân yêu ơi! thật sự xa rời nơi chôn nhau cắt rốn rồi. Thương biết mấy ngày thơ ấu, cô chạy lon ton theo ba, đi câu cá trên Cam Ly Hạ, đôi má hồng hồng bầu bĩnh, men theo bờ suối bắt ốc, hái hoa, đuổi bắt chuồn chuồn, bươm bướm. Mình ưa nằm lăn trong cánh rừng lá rộng, lá kim, cạnh bờ tre, nứa, lồ ô, bên cỏ bồng, đôi mắt nai tơ, nhìn lên trời xanh, băn khoăn hỏi:
        - Ba ơi! Mây với sương, có giống nhau không?
        - Không. Mây là mây, mà sương là sương.
        - Mây có chở mình về Huế không?
        - Hỏi cái chi mà tào lao, lác lác rứa hè! Huế có cầu Trường Tiền, sông Hương núi Ngự, lăng tẩm đẹp lắm. Vài năm nữa, ba cho cả nhà về Huế, ở đó luôn.
        - Mà ở đó, có đẹp như ở Đà Lạt không? Ba!
        - Đẹp lắm!
        - Xa Đà Lạt, con nhớ lắm.
        Thế mới biết, từ trong huyết quản, từ trong tư tưởng, từ trong tiềm thức, từ buổi thiếu thời, cô đã có tình hoài hương, tình yêu thiên nhiên, quyến luyến chốn xưa biết ngần nào. Chính câu nói ngây thơ, trò chuyện lẩm cẩm, nên đi đâu, ba ưa dắt con gái út theo, nói chuyện, nghe đỡ buồn.
        Chị Lê mua vé xe hãng Phi Lực cho hai mẹ con về Huế vào giữa ngày hai mươi tháng chạp. Chợ búa vào mấy ngày cận Tết, đông đúc người qua kẻ lại, chật như nêm, ồn ào náo nhiệt, rộn rịp khác thường. Bến xe phức tạp đủ mọi người bán mua mời chào, chen lấn. Xe cộ dập dìu bon chen, cố tranh nhau một đoạn ngắn để khỏi trễ giờ, xe đưa má con cô trở về một thời xuân trẻ quê xưa, xuôi Trung cập rập vào ngày cuối năm. Thật buồn da diết!
        ***

        Tình Hoài Hương
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 02:59 AM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #49
          Đà Lạt: Cuồng Loạn Dưới Tầng Hầm Domain De Marie



          Đà Lạt: Cuồng Loạn Dưới Tầng Hầm Domain De Marie
          Tình Hoài Hương
          ***



          Mấy con kiến dương, con cánh cam từ đâu bay vù vào tầng hầm đã bị bể những ô kính, chúng liệng đi liệng lại vài vòng, rồi đâm sầm vào vách tường đá, nghe cái "cộp". Chúng cố tìm chỗ thoát ra ngoài, nên bò đi bò lại trên vuông cửa bể, lớp vỏ cứng bóng láng, ánh lên màu xanh biếc, lẫn màu cánh cam lóng lánh xoè ra, phủ hai cánh bên trong mỏng te, có nhiều sợi gân nổi trên lớp vỏ mềm mại khép dần, rất duyên dáng hài hòa.

          Ngày xưa ấy, tôi ưa ngồi dựa lưng vào cây thông chạc hai, chạc ba, để rình bắt cho bằng được con cánh cam, và bụm nó ở trong hai bàn tay, khum khum mà nương nhẹ, nâng niu. Tôi đong đưa đôi chân trên thân cây thông lùn, thân cây thông tách chẽ ra làm đôi. Tôi nhìn lên bầu trời xanh lồng lộng gió, nhìn chiếc máy bay lượn trên cao, tôi hy vọng hão huyền, vui vẻ hát nho nhỏ những bài tình ca, khi hai bàn tay tôi đan áo thật đều, thoăng thoắt, lướt nhanh trên cây kim mà chẳng thèm nhìn.


          Nay có nhiều phi cơ không nhìn thấy rõ vụt bay trên bầu trời, qua khung kính bể dưới vòm mái cao. Thì, câu chuyện hứng khởi về các kỳ công, thành tích của chiến binh giàu kinh nghiệm chiến trường, thường là đề tài bàn thảo đầy hấp dẫn, hứng thú, nuôi dưỡng trong lòng người dân đen niềm sung sướng, hứng khởi và kiêu hãnh khác thường. Chúng tôi đang ăn không ngồi rỗi ở dưới tầng hầm nầy. Những chiếc phi cơ thi nhau gào rú trên bầu trời, khẩu minigun sáu nòng có bốn ngàn viên đạn đang vút bay ra khỏi nòng, nhấp nháy chỉ vài phút, khiến lòng tôi càng nôn nao, bồn chồn, cuống quít, lo lắng, sợ hãi xiết bao khi hôm nay trời đổ mưa tầm tã, mưa trái mùa suốt từ trưa tới chiều, hạt mưa xiên xiên to tròn nặng hạt rơi lộp độp trên mái ngói mãi hoài không dứt, gió lồng lộng thổi vun vút theo dọc hai hàng hiên.

          Đời có lắm chuyện tôi không hiểu. Không thể hiểu nỗi. Quá khứ rồi sẽ giống như cánh cửa sắt nầy đóng chặt lại sau lưng tôi. Rồi cũng giống như thau nước hứng mưa dột dưới góc nhà vừa bị sập. Tôi đã cong cong lưng bưng thau nước đầy sóng sánh bóng mình trong thau, nhanh nhẹn bước ra hiên nhà, tôi hắt mạnh nước vào màn mưa đục ngầu, cho nó hoà tan trong mưa, mất hút, như hắt cả hiện tại và tương lai lui về với quá khứ muộn phiền.

          Từ lúc có “bọn giặc” về, mỗi ngày chúng tôi phải bồng bế con, cùng nhau đi ngang qua Tiểu-đoàn lính trấn thủ Thị Xã Đà Lạt, tôi ngẩng nhìn anh hiệu thính viên giữ máy truyền tin AN/PRC 25 đang liên lạc giữa Tiểu-đoàn và Đại-đội. Các chiến sĩ có người cài lựu đạn M 26, mang súng colt 45, có người mặc áo poncho đang mở nắp bi đông uống nước, vác khẩu M 16. Bên chiến xa M 48 trọng pháo cơ động họ nằm lăn lóc trên các nẽo đường, dưới ngọn đồi chiếm đóng, trên cành cây còn ngái ngủ. Người choàng áo ca pốt ngồi sưởi lửa, hong đôi bàn tay sạm nắng trên bếp than hồng từ những trái thông khô xẹt tia lửa ly ti nổ tí tách. Cành lá thông tươi chất thêm vào lửa, tỏa ra mùi nhựa thông thơm hăng hắc, nhưng thật dễ chịu. Họ hong lửa mong xua tan bớt gió rét. Giá lạnh ban mai làm tê cóng người lính phong sương dãi dầu mưa nắng. Bản tính chiến sĩ đa số thích phóng khoáng, tự do, hăng hái, nhiệt thành, nhất là trọng danh dự và bổn phận trách nhiệm.

          Thời gian lạnh lùng nghiệt ngã trôi qua, họ không tính bằng gian lao cay cực, khó nhọc, hạnh phúc hay hoài bão, ước vọng. Dù mùa hạ tới, thu đi, đông về, xuân đến... Thời gian lạnh lùng trôi qua, đời chiến sĩ phong sương, dãi dầu nắng gió khuya chiều, không gian bàng quan chả nương nhẹ đôi tay: dù phũ phàng, cay nghiệt, và buốt giá. Niềm nhớ thương da diết mỗi lúc một hao gầy trong đớn đau thầm lặng. Khóe mắt lính choáng đọng huyết lệ bi ai cảnh chiến tranh quyết liệt. Chiến sĩ ấy chấp nhận chết ngoài sa trường vì quê hương, vì dân tộc, thì có sá gì cái lạnh rét run run ngoài da. Nhưng chiến sĩ ấy đã chết lịm trong lòng, vì cảnh huyết nhục tương tàn thật vô nghĩa trước tiên do bọn khát máu “đều têu” gây ra.

          Lần đầu tiên, vấp phải sức kháng cự không tương xứng với đối phương, các chiến binh không dám ra tay càn quét cộng quân. Bởi vì, nơi vùng sẽ giao tranh tại khu Số 6 và khu Số 4 nầy, còn kẹt lại khá nhiều người dân vô tội trong tầm tay kềm tỏa. Khiến anh lính chiến có chiếc nón sắt rộng, thỉnh thoảng úp xuống tận mũi, che cả cằm đến nồng ngộp nghẹt thở, hơi mỏi mệt, ngỡ ngàng, và bồn chồn xôn xao bâng khuâng làm sao ấy. Lính nằm ngửa trên đám cỏ bồng chờ đợi quyết định của chính phủ, anh bực tức, vác súng đi lui đi tới, bồn chồn đứng ngồi không yên. Người lính chiến biết nghe đạn xoáy rít bên mang tai ù ù, mà không có mũ sắt đội đầu thì đời đi đong. Anh biết bổn phận làm trai phải trả nợ núi sông. Lính gồm đủ mọi thành phần phong tục khác nhau, đã sống trên miền đất quê hương khác nhau, với hoàn cảnh gia phong và ước muốn càng khác xa nhau hơn. Họ lũ lượt kéo nhau lên đây quyết giữ gìn thành phố Đà Lạt nho nhỏ xinh lịch nên thơ, và quê hương Việt Nam khỏi cảnh xâm lược nghịch lý hung tàn.

          Khi vấn đề chiến tranh thật sự phức tạp, làm điên đầu các vị nguyên thủ quốc gia. Người khôn ngoan (của người khôn ngoan nhất), bình tĩnh sáng suốt, có lập trường dứt khoát, kiên định, cần giành lại từng tất đất, từng thành phố. Tất nhiên họ nhanh chóng đánh đuổi “bè lũ khát máu” đi khuất dạng (mỉa mai thay người dân da vàng mũi tẹt, đầu đen máu đỏ, sống từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau). Nay từ phương Bắc họ chuyên mò mẫm, xâm phạm qua vĩ tuyến 17, để xâm lăng phần đất của miền Nam Việt Nam. Gây nên cảnh chiến tranh tàn khốc, chém giết. Nồi da xáo thịt quá kinh hoàng thế nầy ư! Dân chúng nhìn chiến cuộc xảy ra rất gần, với vẻ tò mò nhút nhát, hiếu kỳ không chịu nỗi. Phải! Bên muôn nấm mồ tàn rụi hương nhang, là sự gặp gỡ giữa trùng trùng lớp lớp khuôn mặt lạ xa, hiện diện trong cuộc chiến phức tạp quá cay đắng. Lính Cộng-hoà miền Nam Việt Nam mang đến cho ta sự hy vọng và niềm tin yêu. Hy vọng bừng sáng, nụ cười rộng mở, ước mong an bình, thư thái, ôn hòa, từng ngày, từng giờ, lẫn trong chung cuộc sớm kết thúc. Dù chắc chắc cuộc sống không hứa hẹn an thư dễ chịu chút nào.

          Bất dâng cao sơn, bất tri thiên chi cao.
          Bất lâm thâm cốc, bất tri điạ chi hậu
          (không lên núi cao, không biết trời cao đến mức nào.
          Không xuống hang sâu thì không biết đất dày)
          (tục ngữ)
          *

          Ngoài dãy hành lang của khu bệnh viện Đà Lạt, người người tới tấp tha bùn sình, bê bết đất đỏ bẩn thỉu lê vào trên thềm nhà thương, nền xi măng ướt nhẹp nước mưa bì bỏm, lủng bủng, tanh tanh. Chúng tôi không thể ngủ nhờ ở góc hành lang, đành phải “làm mặt mo” xách chiếu mền lết bết, lội đồi cỏ trũng nước mưa băng qua đường Trần Bình Trọng, để xin vô ngủ nhờ trong tầng hầm nhà dòng Domain. Vừa chân ướt chân ráo lọt vào được trong khu tầng hầm, tôi mệt mỏi đứng thẫn thờ nhìn quanh. Chưa tìm thấy có chỗ nào còn trống, thì hai cánh cửa lớn kiên cố dẫn vào hội trường sau lưng tôi bị ai đó đóng ập nhanh lại, khóa chặt. Người giữ chìa khóa đã lủi vào trốn núp trong nhà dòng. Ông ta nhát hơn cáy! Do các bà dòng không muốn chứa thêm người lạ, các bà sợ "bọn lạ" trà trộn vào ẩn nấp, sẽ thừa cơ hoạt động bí mật chăng?

          Ba khu tầng lầu của nhà dòng Domain: tất cả cửa sổ nhà thờ có những bức ảnh kính màu thủy tinh trang trí hình tuyệt đẹp, đều vỡ nát, rơi loảng xoảng khắp mọi nơi, rơi xuống tận khu tầng hầm. Từ dưới mặt đất của tầng hầm khu Domain ngó lên hàng cửa kính, (cao khoảng chừng bốn năm mét), tường đá phẳng lì, không có thể với tay lên hàng cửa sổ nhỏ ở tít chóp trần trên cao. Dù mấy tay đàn ông cao lớn kia đã chồng chất ba cái bàn, họ hy vọng trèo lên đó, dáo dác nhìn ngó lung tung ra bên ngoài, thăm chừng. Người ta và nhất là tôi vô cùng hối hận, vì tại sao ta không tìm nơi thuận tiện; hay mình tự đào hầm đào hố ở nhà riêng, mà ẩn nấp cho an toàn? Hoặc trốn núp tại tư gia nhà ai có hầm hào kiên cố. Có phải là hơn không, mà dồn cục một chỗ đông người như kiến. Mình tự chui vào cái hầm nhốt người kín bưng khổng lồ kinh khủng nầy, chẳng khác chi tự đem thân vô cửa tử.

          Dưới tầng hầm thì người đạo Thiên Chúa đang lâm râm đọc kinh cầu nguyện, sám hối, đấm ngực ăn năn tội thống thiết. Đạo Tin Lành úp mặt trên hai bàn tay, run rẩy đọc kinh thánh. Phật Giáo niệm Phật, tụng kinh cầu khẩn Đức Phật Thích Mô Ni Ca rất chân thành. Cao Đài, Hòa Hảo bi thiết gọi tên Trời Phật, gọi tên các giáo chủ. Trong nguy cơ bị hủy diệt tập thể thì lành ít dữ nhiều, người ta không phân biệt giàu nghèo, đảng phái, tôn giáo. Vì tôn giáo nào cũng khuyên con người hướng thiện, luôn làm lành lánh dữ, chia sẻ, dùm bọc, bác ái, yêu thương. Tôn giáo cũng như gia đình là nền tảng của xã hội: có nề nếp gia phong, có tôn ty trật tự, biết tôn trọng tự do và nhân phẩm. Giờ phút thập tử nhất sinh gần kề cửa tử thần, họ tự động mở rộng vòng tay thân ái, ngỏ hầu chia sẻ, tìm đến với nhau, mong vơi hận sầu, thân thiết ôm chặt nhau, tựa vào nhau vỗ về an ủi. Họ thành tâm khẩn cầu van vái xin bình an rót xuống mọi nơi, nồng nhiệt kêu xin ơn Trên hãy ra tay cứu giúp tất cả mọi người.

          Bây giờ là mười hai giờ trưa, trên trời trực thăng luôn bay lượn ì ầm, loa phóng thanh liên tục gọi đồng bào nhanh chóng tìm nơi ẩn nấp an toàn, vì tụ điểm giao chiến kịch liệt sẽ là chung quanh khu vực nhà thờ Domain de Marie. Ôi Trời ơi! Vậy chết là cái chắc rồi! Non giờ sau… Không thể tưởng tượng nỗi khi lựu đạn ì ì ầm ầm nổ, súng lớn, súng nhỏ rào rạo bay. Đạn vun vút vèo vèo, bay xuống, bay lên, bay qua, bay lại: Đùng đùng đùng… Pằng pằng pằng… Róc róc róc… Ùm ùm ùm… Oằng ùm… bay tới tấp trên đỉnh đầu người dân đang ẩn nấp dưới tầng hầm cuả ngôi giáo đường kiên cố, ép lồng ngực mọi người như vỡ tan ra từng mãnh. Ngoài sân nhà thờ đã có tàn quân “Vi ci” nép bên hông trên nhà thờ đang cố tìm đường trốn chạy tháo thân về khu Số Bốn.

          Thỉnh thoảng mấy tay ấy chĩa súng lên trời bắn vài chiếc phi cơ trực thăng, bắn lép tép cắt cắt… bụp bụp… xè xè… từng phát súng nhát gừng nổ vu vơ. Qua trần kính tôi thấy rõ trực thăng bay ầm ầm và tràng đại liên tóe lửa nổ rền rất to. Phi cơ đang lượn qua lượn lại vòng vòng quanh nóc nhà thờ Domain. Những viên xạ thủ đeo mặt nạ mặc áo giáp ngồi trên ghế chiã họng súng xuống đất, khạc từng tràng rocket róc róc róc… xíu xíu… xít xịt… Dù ban ngày mà toé lửa qua họng sung đỏ lòm, đạn vùn vụt bay xuống hông nhà thờ. Vô cùng chát tai rùng rợn kinh khủng!

          Thế là trong tầng hầm người ta đồng loạt nhốn nháo, hỗn độn, bừng bừng dâng cao nỗi lo sợ tột cùng: Già trẻ lớn bé đều rú to, kêu khóc inh ỏi, không chừa một ai. Tiếng la, khóc, gào, kêu cứu, rên rú, hét tướng lên to hết biết. Người ta dồn chặt cứng vào một góc chật như nêm, rồi đùn lại với nhau ở cuối tường hầm nhà đá. Họ dày xéo lên nhau, dẫm đạp lên nhau, bất kể người khác tắt thở, chết ngạt. Vài ngàn người dồn cục trong góc kẹt vách, họ đè nhau bẹp dí thành một đống, chồng chất lên nhau tại một chỗ. Người ta không còn liêm sĩ, chả cư xử nhã nhặn làm gì. Mặc xác! Người nào đang đứng ở bên ngoài, thì cố dằng kéo người đứng ở giữa ra, để họ chui tọt vào giữa đám đông mà ẩn nấp, cho an toàn chính thân, cần riêng bản thân ta an toàn thôi.

          Nơi xó xỉnh ngột ngạt tối mờ khói thuốc súng, họ không muốn súng đạn nhìn thấy. Chỉ cần súng đạn bom mìn và Việt-cộng trên kia đừng nhìn thấy mình. Bản năng tự phát cần tự bảo vệ sinh tồn là điều tiên quyết, nếu có ai đối xử với đồng loại tàn nhẫn, có tỏ ra thô lỗ, hỗn loạn đến bàng hoàng, cũng đành. Mặc kệ. Là đủ. Ai ai cũng sợ súng đạn hơn cả mọi thứ trên đời! Lạy Trời xin tha thứ. Ấy thế mà súng đạn vô tình cứ bắn càng lúc càng rát bỏng, tai ù ù, điếc đặc. Rồi đạn cay, đạn ói, đạn khói, đạn mữa, khói thuốc súng, lựu đạn hoả mù tuông theo các khung cửa sổ bể tới tấp bay vào dưới tầng hầm.

          Tại tầng hầm nầy không có người kinh nghiệm trong chiến tranh để hướng dẫn, vã lại giờ nầy không ai chịu nghe ai chỉ huy, mạnh ai nấy bon chen, hầu mong sống còn với đời. Đoàn người tị nạn hỗn độn hết biết (như bầy gà vịt nhốn nháo, bay lung tung, kêu quang quác khi con sói đến cửa chuồng). Nước mắt nước mũi ai ai cũng chảy tùm lum tà la. Họ ói mửa nôn ọe, hỉ mũi sột sột lên đầu lên cổ nhau. Thật kinh khủng và kinh tởm vô cùng. Tôi thật giận Lâm, hôm ấy tự dưng anh nổi sùng đấm bể một ô khung cửa kính làm chi, anh trét máu cục đông cứng trên miếng kính bể, còn đó; vô tình anh đã làm “đầu têu” làm gì, mà bây giờ mọi cửa kính cuả nhà dòng Domain đã vỡ toang, mùi khét cuốn theo chiều gió bay vào, càng hôi kinh khủng vậy!?

          Cạnh đống đồ đạc ngổn ngang trong tầng hầm có từng dòng máu tươi của ai đó trây trét bừa bãi; cũng do những bàn chân ai đó vừa đạp lên mãnh kính vỡ, họ tha lê lết đi khắp mọi xó, máu tươi loang ra, loang ra... trộn với nước đái và phân trẻ con ị vãi ra bừa bãi. Người ta lớn giọng la hét, tru hú, rú rên, khóc hụ hụ hụ từng cơn. Nghe rùng mình dựng đứng tóc gáy.
          Bỗng cánh cửa chính (khu nhà hầm có hai lớp cửa sắt chắc chắn) là cửa ngoài của khu từng hầm bằng sắt dày cui, vừa bị ai đó gài mìn ở phía bên ngoài, đã nổ tung. Toà nhà thờ đồ sộ rung rinh, tiếng rền rền âm âm nghe rất hãi hùng, mái ngói nhô lên hụp xuống rêm rêm, gầm gừ tha hồ rớt xuống rào rạo, loảng xoảng. Gạch đá vôi vữa rơi rào rào, dường như ngôi nhà đồ sộ đang tự đào hố để chôn vùi tập thể dân lành di trú xuống đáy mồ!? Thế nhưng sao tôi thấy cánh cửa sắt trong lớp thứ hai nầy vẫn chưa chịu bung ra? Cảnh ồn ào huyên náo, càng sôi sục, cồn cào, náo loạn gấp ngàn lần trước.

          Kinh khủng! Kinh khủng trầm trọng! Người ta lại dày xéo lên nhau, dẫm đạp lên nhau, lôi kéo, giành giựt chỗ trốn, nên họ húc bừa vào nhau. Họ xô nhau chạy qua bên góc tường phía trái của căn hầm, nơi chưa bị rớt gạch và ngói, có cánh cửa phụ. Cửa hông nầy cũng làm bằng sắt dày kín mít. Tự dưng họ lại ùn ùn kéo nhau chạy qua bên phải. Họ cứ huà nhau chạy qua, rồI ùn ùn chạy lại. Xô nhau chạy theo sau lưng nhau, bất kể đàn bà trẻ con ốm yếu chết ngạt dưới chân. Bất kể tiếng la khóc, gào thét vang lên chát chúa. Tôi nghe thật hãi hùng, rùng rợn như nghe con dê, con heo, con bò, con trâu, con cừu bị chọc tiết, đang trợn mắt le lưỡi, rống rú man dại trong khu lò mổ ở ba toa.


          Gia đình tôi (và mấy gia đình bạn cùng xóm) biết khôn hơn, chúng tôi không chen lấn đến chỗ đông người, nhưng trong lòng cảm thấy rất ân hận, vì mấy mẹ con tôi hôm nay xui rủi làm sao, tự dưng lại chui vào ẩn núp trong hầm nầy. Sao tôi không đi qua trú nhờ trong hành lang khu bệnh viện như mấy ngày trước hỉ!? Thế mới đau khổ. Chúng tôi ngồi bệt dưới gầm bàn, lỏ hai con mắt ra thật to, miệng há hốc, hai hàm răng va vô nhau lộp cộp, hai đầu gối nhịp nhàng run rẩy, mà thấp thỏm nhìn người đàn ông đang nhảy lên đánh trống, tiếng trống dù làm chúng tôi điếc tai nhức óc và choáng váng. Nhưng chúng tôi tránh được cảnh tượng xô đẩy vùi dập nhau đằng kia vô cùng dã man và ác ôn.

          Đó là người đàn ông trung niên sĩ khí dáng vóc khỏe mạnh, mặc áo sọc xanh, quần tây đen, dù qua nhiều đêm âu lo thức trắng, mái tóc nhuốm bạc. Ông ta thấy cảnh xô xát cuồng nộ thật đáng xấu hổ, nên ông ta bèn nhảy lên mấy cái bàn gỗ chất đầy ghế dựa. Ông ta cầm trên tay một cái vồ và đánh rất mạnh vào chiếc trống trường học đang treo lơ lửng trên đà ngang. Tiếng trống nghe rất tức ngực và điếc con ráy. Mọi người đứng ở góc tường quay lại, trợn mắt, im bặt, lo sợ rợn tóc gáy, sửng sốt ngó quanh. Họ không biết chuyện gì xảy ra. Ở đâu? Ông ta kêu gọi mọi người cố giữ trật tự, im lặng ngồi xuống tại chỗ, không ồn ào chen lấn. Ông giải thích về sự lâm nguy:
          - Việt-cộng đang đứng rải rác trên sân nhà thờ. Tui đã thấy có người chết cháy đen thùi lùi ở trển. Khi qúy ông bà anh chị em ở trong khu hầm trú nầy dồn nén xô đẩy, dẫm đạp lên nhau, ồn ào. Ta không nghe được động tĩnh bên ngoài kia, thì chẳng khác nào: "lạy ông tui ở bụi nầy", sẽ tạo cơ hội thuận tiện cho Việt-cộng đã đứng trên sân nhà thờ, họ sẽ phá một cánh cửa nữa, là tràn vào đây. Họ sẽ lấy dân làm bình phong mà đỡ đạn. Thì chết hết cả đám.

          Nghe thế, mọi người càng nhốn nháo, xì xào, dáo dác, tiếng ồn ào đồng loạt rộ to. Bỗng im bặt như ngọn đèn dầu phụt tắt trước gió. Mặt mày ai nấy xanh lè, tay chân run rẩy, họ cố bám bíu vào nhau… lết nhè nhẹ đến gần chỗ khuất kín hơn, và im thin thít. Khi đó, tôi nghe bên dãy nhà của các mẹ dòng có những đọc đoạn kinh lạy cha, rồi nhiều tiếng hát nhạc thánh ca cầu xin bình an vang lên.

          Hai giờ chiều, lính Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Thuỷ Quân Lục Chiến mặc quân phục, chân đi giày botte de saut, đầu đội nón sắt, lưng đeo đầy đạn, ngực móc hai quả lựu đạn. Họ mang súng máy lên đạn trên nòng, lăm le chĩa mũi súng về đằng trước, ngón trỏ đặt trong nòng. Đoàn quân nhanh chóng leo lên từ hướng nhà Thương, từ hướng Mai Hắc Đế, đường Hai Bà Trưng và Ngô Quyền. Họ tràn lên khu đồi Domain, chia ra bọc hết toàn diện khuôn viên nhà thờ Domain. Sau cùng họ vào hầm trú đang chứa lương dân. Họ đi một vòng lục soát mọi cửa nẽo, ngỏ ngách, xó xỉnh. Rồi lính giàn ra thành hai hàng ngang, họ cấp tốc cứu nguy những người bị thương, chết nghẹt, hoặc đã chết. Họ làm việc gọn gàng và nhanh thoăng thoắt.

          Tất cả dân chúng ở trong căn hầm nầy đều im phăng phắc. Chả bù cho lúc nãy căn hầm ồn ào muốn đinh tai nhức óc. Vị sĩ quan chỉ huy dõng dạc kêu từng gia đình ở trong hầm hãy xếp thành hàng dọc, từ từ từng tốp một, từng người bước chầm chậm ra ở ngoài khu chỗ trống, ngay tại trong tầng hầm của nhà thờ. Khi vị sĩ quan đã đếm tất cả đầu người trong hầm xong, ông ta bảo cánh đàn ông, thanh niên, thiếu nữ, tuần tự đi qua bên góc trái căn hầm. Từng người một riu ríu trình báo giấy tờ tuỳ thân, thì làm ơn vui lòng lấy hai tay đan lại, giơ cao để trên đầu, tay ôm ra sau cổ. Ông già bà lão lụm khụm và trẻ con: thì đứng qua bên phía phải, theo hướng chỉ của anh lính phụ tá. Lính yêu cầu những đàn ông trai tráng nam nữ và đàn bà không có con thơ bận rộn ở trong hầm của nhà thờ, sau khi trình diện, từng người một đi ra khỏi tầng hầm của khu nhà thờ Domain.

          Đồng bào đi giữa hai hàng quân lính đông đúc, nghiêm trang đứng bồng súng gác ở ngoài sân. Mọi người tay xách tay mang. Tay bế tay bồng. Họ lục tục ríu rít và trật tự kéo nhau ra cửa. Họ chạy xuống ngồi bên cạnh hang đá Đức Mẹ. Hoặc dân bò từ từ xuống chân nhà thờ, lủi nhanh về hướng Cẩm Đô. Họ chạy qua lối bệnh viện Đà Lạt. Một tay bế con trai Tuấn vừa ba tháng tuổi, khuỷu tay tôi lại kẹp chặt cánh tay bé Dzũng, lôi con xềnh xệch: ba mẹ con chạy ra ngoài sân sao nhanh đến thế! Không biết làm cách nào, mà tôi kéo thêm hai giỏ xách đồ dùng, giỏ thức ăn nặng trĩu to tướng? Tôi kẹp chặt cánh tay bé Dzũng, lôi con tuột dốc đồi xềnh xệch theo mình!? Hai tay tôi quắp hai đứa con nhỏ vào lòng, và cả "gánh” thức ăn, đồ dùng nữa. Quả thật tôi tự khen tôi tài tình. Từ trên dốc đồi cỏ Domain cao gần như thẳng đứng, tôi ngồi thụp xuống, hai chân chuồi thẳng về trước, lăn như khúc cây tròn.

          Trước khi tuột dốc, đầu tôi trùm khăn, tôi mặc hết ba bộ đồ, với áo len lông xù, áo manto, nên mới thoạt nhìn ai cũng có thể nghĩ là tôi mập ú tét. Toàn thân tôi toát mồ hôi hột giữa nắng xế oi ả, tôi lạnh run vì sợ hãi. Chân tôi mang bít tất, chiếc giày thấp run lẩy bẩy trong cổ chân. Còn chiếc kia bay mất lúc nào không rõ. Tôi mặc cả thảy năm chiếc quần mỏng, bị vướng móc vào thép gai, đã rách toạt ra tự bao giờ. Khi cùng những người khác ngồi yên ổn dưới hang đá, lúc đó tôi cảm thấy đau nhức rần rần ở hai mông. Rờ tay vào, tôi mới biết là mông tôi bị chảy máu khá nhiều. Một bàn chân rơi mất chiếc giày, tôi đã đạp lên xác chết ở trên sân nhà thờ. Chiếc tất trắng nõn dính đầy máu tươi.

          Ui trời ơi! Tôi sợ mất hồn, mất vía. Tôi đã thấy hai xác người trợn mắt phơi thây lúc nãy mà. Có một ông co quắp. Một ông nằm ngửa tênh hênh trên vũng máu. Chiếc áo màu cải úa chỗ thâm đỏ, chỗ tím bầm. Khô đọng. Ruồi bu đen nghịt trên thân thể họ. Cạnh đấy có hai cây khiêng bằng tầm dông, luồng qua lớp võng vải bố, loại bố của bao gạo. Họ dùng mấy thứ nầy làm đòn tải thương. Có lẽ khi vừa đến đây họ bị đại liên trên trực thăng nả cho chết tươi.


          Bà nội (của các con tôi), mặt mày hốc hác, bà đờ đẫn, mắt đã lạc thần. Bà muốn chết đứng, tay chân bà lắc lư đung đưa run rẩy như cầy sấy. Tay bà ôm bình thủy đựng đầy nước sôi, bà chạy theo đoàn người sơ tán. Chiếc bình thủy vỏ mây mà bà đang ôm trên ngực, bị bể tan, nước sôi chảy ra, hơi nóng bốc lên từ đám cỏ hoa vàng không tên, tàn úa héo dần. Ấy vậy, thật may mắn bà không bị phỏng nước sôi. Bà sợ Việt-cộng kinh khủng. Sợ quá chừng! Bà đã bỏ quê hương tận ngoài miền Bắc, bỏ làng xóm thân thương, bà vất hết của cải, bà chạy bán sống thừa chết từ Bắc vào Nam. Bà trốn tránh họ bao năm nay. Bà sống hiu hiu mong an vui nhàn hạ đôi chút cho qua kiếp già:
          “Tân niên vạn phúc bình an đến.
          Xuân nhật vinh hoa, phú quý lai”,

          cho khỏi bỏ những ngày lao đao lận đận nơi quê xưa. Bà tưởng thoát nạn, tưởng đã yên ổn tấm thân còm. Bà sẽ hạnh phúc nhờ “phước thâm tự hải, lộc cao như sơn”, do ông cha cố tổ của bà ưu ái để lại. Nào ngờ... giờ đây họ đùng đùng xách súng đến bên đít, đuổi bà vắt giò lên cổ mà chạy có cờ! Bà ngồi thụp xuống đất, giống như em bé lên sáu tuổi chơi trò cầu tuột. Bà xoạt hai chân lướt phom phom trên đồi cỏ. Bà bị té nhào hai ba vòng, đầu bù tóc rối xổ ra dài lết thết trên đất cỏ. Tôi sợ thắt họng, tưởng bà sẽ bị u đầu bể trán chảy máu, hay ít ra cũng gãy cần cổ, lặt lìa lặt lọi tay chân. Thế mà bà tỉnh bơ không việc gì.

          Bà chỉ hốt hoảng dáo dác nhìn quanh, đau khổ lo sợ tột cùng, không sao chịu thấu:
          “Sông sâu có thể bắc cầu.
          Lòng người nham hiểm, biết đâu mà mò”.

          Vì, “Thà rằng chả biết cho xong.
          Biết ra, như xúc, như đong lấy sầu”.


          Bà than như thế! Tôi phải kính phục bà mẹ chồng vô biên, vì bà thuộc về lớp người từ thế kỷ thứ 19, nhất là ở nơi vùng quê Hưng Hiền tận ngoài Yên Mô miền Bắc, thuở xưa ấy ông bà cố đã cho bà đi học chữ quốc ngữ. Bà viết chữ thông thạo, đọc chữ làu làu. Bà nói những câu văn hoa tinh tế. Nhất là bà hát những câu ca đồng dao, quan họ trữ tình luyền nhớ quê hương, thì hay hết biết.

          Sau khi bà cháu mẹ con chúng tôi an toàn tuột dốc Domain De Marie nầy cùng đồng bào trong Thị-Xã Đà Lạt bị dồn vào ngỏ cụt không lối thoát. Tôi và họ cũng bỏ lại sau lưng những gì quý giá nhất, hầu thoát thân mưu cuộc sống còn. Dù cùng cực đắng cay, lo toan, đớn hèn, đau khổ đối mặt với nỗi cô quạnh muộn phiền bất ngờ không lường trước được, và hãi hùng giữa cuộc đời muôn mặt. Nhưng xin cám ơn Trời đã cho thoát khỏi nanh vuốt cái người tôi không muốn xác nhận mà phải coi như quân thù.

          _ * _

          Tình Hoài Hương
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 03:44 AM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • Tinh Hoai Huong
            Senior Member
            • May 2009
            • 1081

            #50
            ĐÀ LẠT Bạch Đằng & Khu Số 4 Kinh Hoàng



            ĐÀ LẠT Bạch Đằng & Khu Số 4 Kinh Hoàng
            Tình Hoài Hương
            ***



            Triệu triệu giọt nắng vàng tươi lung linh lấp lánh trên mình những chú én có cái lưng mướt đen xanh đậm, cái bụng trăng trắng, hai chân đen đen, hai con mắt như hai hạt nhãn lồng và có cái đuôi chẽ ra làm đôi lắc qua lắc lại. Bầy én chào đón bình minh lạnh giá trên những cành mai anh đào run rẩy trong mùa xuân mới. Đàn én duyên dáng thân mật rù rì vui vẻ làm tổ dưới tán lá vòm cây, chúng chuyện trò lảnh lót huyên thuyên đủ mọi giọng điệu hân hoan những âm lên bổng xuống trầm ríu rít, quyện cùng tiếng thông reo triền miên, tạo thành khúc trường ca lả lướt thi vị hữu tình thơ mộng và bất hủ. Giữa khoảng trống yên ắng trong không trung ngan ngát hương hoa và khu đồi thông vừa lặng gió, bỗng dưng có muôn ngàn tiếng súng gầm thét gào rú trên đỉnh đầu mọi người, xen lẫn đàn én hốt hoảng chộn rộn chít chít tất bật bay lên bay xuống vun vút.

            Lâm bế bé Dzũng, anh cho con đứng trên lan can, và gọi vợ ơi ới:
            - Tí Nị! Em đến đây xem. Nhanh lên.
            Lâm đưa vợ cái ống nhòm. Cả bầu trời chiến tranh xa xa đang thu gọn trong hai ống Field-glass xinh xinh. Tuy trông ở mắt thường thì quá xa, nhưng khi nhìn vô ống ngắm, thì tôi thấy rõ mồn một: Đứng trên lầu thông thoáng (từ một góc hướng Tây của thành phố Đà Lạt) nhìn về khu Số 4, tôi thấy nhiều mái đầu lô nhô bên hố lỗ hầm hào đắp vội, mấy đám cháy bỗng nhiên bừng lên, phừng phựt cháy. Không biết tại sao!? Lửa đỏ au chói lòa vẫn tưng bừng nhảy múa lấp lánh dưới ánh mặt trời long lanh. Khói và lửa bốc cao trên đầu ngọn thông bên kia sườn núi, tạo thành những cây nấm lửa, tỏa khói đen nghịt cuộn thành từng lọn, và thân cây oằn xuống vật vã xô qua xô lại theo chiều gió xoáy mạnh.

            Lâm và tôi có tính tò mò và hiếu kỳ ghê lắm, nên hai vợ chồng bèn nhờ bà nội ở nhà trông coi giúp các cháu: Dzũng hai tuổi và Tuấn hơn hai tháng tuổi, chúng tôi tụt xuống thang lầu, vừa đi vừa chạy lên con dốc Mai Hắc Đế, tới trên cửa chính cuả nhà thờ Domain. Bên vai Lâm lủng lẳng máy chụp hình, còn tôi thở hổn hển ngực vẫn có cái ống dòm lắc lư đung đưa. Leo lên những bậc cấp cạnh tháp chuông giáo đường Domain, hoặc trên sân nhà thờ, dù không cần có ống dòm, tôi phóng tầm mắt lướt qua một vòng, vẫn thấy bên kia đồi ở Lữ quán Thanh Niên họ đứng đông nghẹt trên chỗ cao nhất. Nhà Thờ Tin Lành ở đường Hàm Nghi, góc phố Hòa Bình…

            Mọi người lố nhố đứng ngồi, hoặc đang đi tới đường Hàm Nghi quẹo xuống trước ngã ba Chùa Linh Sơn, họ đu đeo trên mấy cây cổ thụ tại Chùa Linh Sơn. Chùa rất gần khu số 4, thế mà họ chẳng biết sợ súng đạn vô tình lạc tới? Có những người chạy xuống dốc Minh Mạng, người ở Phan Đình Phùng ùn ùn chạy cuối phố, họ nhón cao chân, giương to mắt nhìn về hướng Hà Đông, dòng Chúa Cứu Thế, Lạc Dương, vân vân... Xa xa về phiá Khu Số 6 vẵng nghe tiếng súng nổ dòn.

            Lâm bạo gan bạp phổi kéo tay tôi chạy xuống trường Đa Nghĩa. Trên góc sân trường có vài xác chết ở trần sình to, chương phình bên gói bột ngọt. Một người khác nằm bất động thịt xé ra từng mảnh nhỏ, nửa thân dưới của ông ta bầy nhầy đầy máu thâm đen trên luống cải hoa vàng, cổ chân trái cột dính cuộn băng vệ sinh phụ nữ, máu tươi loang lổ thấm đỏ từng đám trên đất. Cạnh đấy là bầy chó hoang ốm tong ốm teo nhô cả bộ xương sườn, chúng cắn nhau, cào cào, vồ vập, bới bới. Tôi đã chứng kiến con chó hoang nhai một khúc ruột người chết thúi (hôm ở bên hàng rào Tiểu-khu Thị-xã Đà Lạt), nên tôi xanh mặt, cảm thấy run rẩy, sợ hãi, gớm ghiết bầy chó, và lợm giọng buồn nôn kỳ lạ.


            Tít sau góc vườn gần dốc nhà ai có ba em bé đang chạy lui chạy tới loăng quăng tìm kiếm cái gì đó. Chúng chụm đầu vào nhau rù rì rất lâu. Ôi Trời ơi là… tôi sợ thay cho các em. Ấy thế mà các em không hề biết lửa đạn súng ống chiến tranh là gì. Các em đang lúi húi chia nhau một thứ, hình như là củ khoai lang, miếng bánh mì cái bánh thì phải. Cuối cùng các em bỏ tọt vào miệng nhai ngấu nghiến. Một lúc khá lâu có một người đàn bà đầu bù tóc rối chân đất tất tả chạy ra, miệng la bai bải, bà ta vừa nheo nhéo chửi bầy trẻ vừa giáng mấy cái tát vô mặt đứa trẻ lớn nhất. Sau đó mỗi tay một đứa nhỏ bà ta lôi tuột chúng chạy tọt vào trong góc tường, khuất tầm nhìn, để mặc thằng lớn đứng dậm chân dậm cẳng vò đầu bứt tóc khóc hu hu. Khu phố Số 4 lại vắng teo điêu tàn như bãi tha ma.

            Lâm và tôi cứ luân phiên chộp lấy ống nhòm nhìn lung tung tứ phía. Việt-cộng đã chiếm các nhà cao ốc cuả khu Số 4, Số 6, Tùng Lâm kiên cố, họ núp trên la phông, trên những ô cửa sổ tò vò mà bắn sẻ xuống đất, việt-cộng dùng nhà dân để làm chủ chiến địa (nếu quân nhân vô tình đi ngang qua khu vực nầy thì “lãnh thẹo” ngay! Mục tiêu giao tranh quá cận với nhà cư dân, nên đơn vị tiền sát của quân-lực Việt Nam Cộng Hoà nếu chiến đấu thì quá khó khăn. Không tạo được vòng đai an toàn, hầu ngăn chặn địch trà trộn vào vùng dân đang sinh sống. Không thể xin pháo binh yểm trợ lúc tiến quân. Có những ngày dài đằng đẵng người ta đành bất lực nhìn khu Số 4, khu Số 6, Tùng Lâm, Dòng Chúa Cứu Thế… chìm dần trong khói lửa ngút trời kinh dị. Mọi người bàng hoàng, ngẩn ngơ nhìn tai hoạ ác ôn đổ lên đầu bao gia đình vô tội không kịp chạy thoát thân.

            Chân thật mà nói tôi thấy nét mặt dân thị thành ai ai cũng đầy lo lắng chia sẻ ngọt bùi đau đớn. Thương xót. Bối rối điếng đau. Hoảng hốt. Bủn rủn run sợ tột cùng. Người dân cùng cư thộn mặt thờ thẩn, ngơ ngơ ngáo ngáo không chút sinh khí hay hé lộ một lời. Hầu như hoàn toàn im lặng, họ giương to mắt nhìn về nơi lâm nguy. Mặt mày ai nấy đều hốc hác, âu lo tột cùng trong nỗi sợ hãi nên mặt mũi hoá ra xanh chàm, hết cỡ màu chàm. Sự khiếp sợ hãi hùng đang dâng trào lên tột đỉnh đau thương. Ôi! Thảm thương cho người dân hiền ở khu Số 4, khu Số 6 quá! Chiến tranh cúi xuống hành hạ, cưỡng bức mọi thứ tan hoang trên chính quê hương chúng ta. Dân đen biết lấy gì chống đỡ khi thế sự cúi mặt quét tầm nhìn xuống thành phố Đà Lạt nầy!
            * * *


            Trên đường gia đình đi đến nơi hầm trú ẩn, (mà tôi nghĩ đấy là nơi an toàn nhất). Tôi đã nghe anh lính ngồi trên một trong những chiếc GMC ngâm nga bài thơ Lương Từ Châu:
            Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi.
            Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
            Tuý ngoạ sa trường, quân mạc tiếu.
            Cổ lai chinh chiến, kỷ nhân hồi!
            (Bồ đào uống chén dạ quang.
            Tỳ bà thổi khúc lên đàng, giờ đây
            Sa trường chén nhớ rượu nầy.
            Xưa nay chinh chiến, đâu ngày gặp nhau
            !

            Tôi nghe thật xót xa bồi hồi trong dạ sao đâu. Nếu ta đang sống trong thời thái bình thịnh trị; mà vô cớ đi giết người là trọng tội. Nhưng ta sống trong thời chiến thì chuyện giết người; để bảo tồn quê hương và dân tộc, lại là lẽ đương nhiên đáng tự hào & vinh danh.
            Những gốc cây khô đét cằn cỗi, sần sùi khẳng khiu đã cháy đen không còn cành lá, dường như bị róc hết nhựa sống. Giọt nước đang chảy từng giòng ngoằn ngoèo trên thân cây sần sùi, cùng với cơn mưa to ở lưng trời thoáng chốc bỗng tạnh. Cả hồ Xuân Hương Đà Lạt mơ màng, nên thơ, quyến rũ với đồi Cù xanh um nệm cỏ mịn màng mướt mát. Hay đỉnh núi Lâm Viên huyền ảo kỳ diệu có phơi phới rì rào gió sương. Xứ hoa đào mơ mòng đầy quyến rũ, vẫn không được chú ý bằng: Mỏm đồi khu Số 4 - đã hãi hùng trải qua giờ phút đau thương kinh hoàng nhất.

            L-19 bay lượn trên trời thám thính liên tục trên bầu trời. Bên phải cánh cửa lớn (của một chiếc trực thăng đang bay vòng vòng trên trời, có một anh lính cầm khẩu đại liên chĩa mũi súng xuống đất, nhưng anh ta không bắn đi đâu cả. Họ lo sợ đồng bào bị kẹt lại rất nhiều, một quân nhân khác ngồi bên cánh cửa trái phi cơ, thỉnh thoảng chĩa loa phóng thanh xuống dưới đất, phát ra đoạn băng ghi âm không ngớt hướng dẫn dân, đại khái kêu gọi đồng bào, đại khái: … Sau những thông báo trước (đã chiêu hồi và hướng dẫn).
            - Từ giờ phút nầy tại ba khu vực: Khu Số 4. Khu Số 6. Khu Bạch Đằng bắt đầu thiết quân luật 24/24 giờ. Nếu ai còn mắc kẹt. Hãy cố gắng tự tìm mọi phương tiện, di tản gấp ra khỏi các vùng kể trên. Nay mai phi cơ sẽ có oanh tạc khu nầy.


            Nghe thế, đủ biết chính phủ quyết dồn mọi khả năng và nổ lực vào chiến lược, chiến thuật, và sách lược điều quân thuần túy quân sự. Ta phải công tâm mà nói là phía Việt Nam Cộng Hoà từ tâm và độ lượng khi loan báo tin trên cho Việt-cộng biết trước sẽ có bỏ bom. Buổi chiều, lại có L 19, và có vài chiếc trực thăng trang bị đại liên 12 ly 7 bay lượn và thả vô số truyền đơn xuống thành phố Đà Lạt lần thứ tư, lần thứ năm. Muôn vàn tờ giấy trắng chấp choá dưới ánh nắng ấm áp, ngọt ngào hương hoa mùa xuân phơi phới. Hoa giấy uốn éo bay bay che mờ một góc trời xanh xanh. Hoa giấy (confective) phơi phới bay bay trong bầu trời lồng lộng gió thênh thang, mênh mông trống trải và tiếng thông rì rào. Hoa giấy giống chuồn chuồn bươm bướm chập chờn nhảy múa trên không trung giát nắng vàng tươi rói. Nếu không phải là đã bị bao ngày dầm mưa dãi nắng lo âu sợ hãi và buồn tênh, thì tôi tưởng tượng những tấm giấy thông báo kia là những dáng tiên sa vui vẻ cỡi vừng mây mỏng dính, tà tà bay xuống thế trần lấp lánh ánh nắng lung linh gieo ấm áp tới thế trần.

            Qua ngày 1 tháng Tư, đúng 10 giờ sáng, Quân-lực Việt Nam Cộng Hoà mang súng phòng lưu, tiểu liên M.3AL giàn trận thành hình cánh quạt. Các sĩ quan và binh lính người mang súng colt 45 chỉ huy. Người vác súng lớn, súng rouleau. Người cầm bản đồ, máy vô tuyến PRC 25. Sau đó tất cả quân nhân dừng lại nghỉ ngơi, chờ đợi lệnh trên. L 19 bắn khói điều chỉnh xuống mục tiêu xong, đã bay lên cao. Thoáng chốc tôi nhìn loạt máy bay bốn chiếc từ xa bay lượn xuống sát trên đỉnh đồi gần đụng đọt thông, tiếng phi cơ gầm gừ nghe rền rú ầm vang khi bỏ bom khu số 4 rõ mồn một, lần lượt mỗi lần một chiếc thi hành phi vụ, coi giống y như tôi đang xem chiếu phim trên màn ảnh rộng. Ùmmm! … Oằm! Ùuum… Bùuum! Mặt đất khu Số 4 nóng bỏng kêu oc... ọc... oọcc… ục ục ục… nhô lên hụp xuống, đất cát nhấp nhô rung chuyển dữ dội.

            Tiếng nổ rền rền vang trời long lở đất. Khói đen nghịt từng cuộn khổng lồ vụt tỏa lên cao, như cây nấm phù thủy múa máy. Lửa đỏ rực cuồn cuộn bốc lên thấu trời xanh, cháy lan ra từng vùng khá rộng, nổ lốp đốp suốt mãi. Suốt thời gian phi cơ bỏ bom liên tục chính xác (vô những ổ sào huyệt kiên cố do Việt-cộng mới chiếm đóng đào sâu xây đắp dưới lòng đất hơn vài tháng qua) độ chừng mười lăm hoặc hai mươi phút gì đó. Thật quá hãi hùng: âm ầm ầm…. ùmm ùmm… Bùmm… nghe quá quái đảng. Dù hai tay tôi bịt kín lỗ tai, toàn thân rêm rêm, lồng ngực nóng hôi hổi nhô lên hụp xuống phập phồng ứ nghẽn muốn hụt hơi, đôi chân run rẩy, sống lưng lạnh toát, nhưng tôi hồi hộp ngóng cao cổ giương to mắt nhìn… coi cũng thiệt đã con mắt trần, thú vị vì được tận mắt chứng kiến những pha sống động ngoạn mục và oanh liệt!

            Đoàn phi cơ bỏ bom bay đi không bao lâu, trực thăng ào ào lượn trên không trung (ba mẹ tôi ưa nói đó là chiếc tàu bay chuồn chuồn) không ngớt thả những tràng róc két viu viu viu…, xịt xịt xì xịt…, pằng pằng pằng… nòng đạn toé lửa trải dài dài trút xuống mục tiêu: KHU SỐ 4. Tôi chưa hết ngạc nhiên và sửng sốt dáo dác nhìn lên trời cao trầm trồ ngợi ca quân lực KQVNCH. Lập tức xe tăng bọc sắt rổn rảng đi trước, không gian rào rạo tiếng đạn trái phá xíu xít xì xịt..., đùng đùng đùng…, đại liên từ mấy chiếc trực thăng bắn roóoc… roóoc roóoc… Pằng pằng pằng… Tạch tạch tạch… Oằng…

            Quân nhân Việt Nam Cộng Hoà (tôi chẳng thể nào nhớ hết đó là những binh chủng tinh nhuệ nào) từ các nơi: Khu phố Hoà Bình xuống đường Minh Mạng. Từ đường Cường Để qua Phan Đình Phùng. Từ suối Cam Ly qua ngả Hoàng Diệu. Từ Viện Đại Học xuống lối Bùi Thị Xuân… là những điểm quân ta bắt đầu xuất phát. Quân nhân tuần tự chia nhau đi lục soát khắp mọi nơi tình nghi, (dọc theo các đường chính). Tốp khác bọc hông lên khu đất đồi Bạch Đằng. Súng lớn, súng nhỏ, súng cối, súng trường nổ dưới đất ầm ầm rền vang, đảo điên hơn ngày núi lửa bùng phun nham thạch, lựu đạn, đạn cay, đạn khói, đạn ói, đạn mửa. Nhiều mùi hôi thối, khét lẹt nồng nặc lớp lớp lại ùa bay về phố. Sức nóng hừng hực theo hướng gió xô đi xô lại càng rát phỏng da. Ác chiến.

            Phút chốc cây cối trụi cành lá, kêu răn rắc, nổ lép tép, cháy xì xèo, tàn tro và nhiều đốm lửa bay lông lốc. Gió ào ào thổi hơi nóng hừng hực, rực sáng ánh vàng xanh ngũ sắc lên cao. Lửa phừng phựt toả rộng ra hình cây nấm đen khổng lồ, táp vào mặt chúng tôi và nhiều người đang đứng lố nhố nơi các ngỏ đường (nơi đây chỉ cách khu Số 4 không đầy nửa cây số) nóng rát bỏng mặt tôi muốn lột da. Tiếng nổ lốp đốp liên hồi chẳng dứt, nghe thật chỏi tai. Độ nóng, khói đen nghịt tỏa lan dài ra cùng khắp bầu trời u ám. Mùi thối, mùi vỏ xe cao su cùng gỗ ván trộn lẫn mùi lông da heo, chó, gà vịt, mùi mỡ mùi khét mùi nhựa hỗn tạp, lùa theo gió cuốn về thành phố, hôi kinh khủng. Hôi kỳ lạ! Không sao chịu thấu.

            Nhưng, mùi tử khí và mùi chiến tranh thì an nhiên ngủ nghỉ, dừng lại ở khu Số Bốn nầy miết mãi. Làm cháy rụi biết bao ngôi nhà đồ sộ. Làm rợn gáy người nhìn. Làm héo úa những hàng hoa mimosa, vườn mận sai trái rụi tàn đột ngột. Làm đen thui giàn bầu bí. Cháy trụi bao hàng rào dâm bụt. Héo nhanh từng bụi hoa dã quỳ, hoa bìm bìm tim tím cong cong. Tôi cảm thấy rùng mình ớn lạnh, run run, hai cánh tay rung rung như đôi cánh của con gà rù bị mắc mưa. Đầu mùa xuân tươi thắm ấm áp, mà dường như tôi chợt lạnh run trong cơn sốt rét da vàng cao độ, cái lạnh lan ra từ hai ống quyển run rẩy va đập vào nhau bồm bộp.

            Bỗng dưng còi hụ vang rền... khiến ai ai cũng rợn tóc gáy dáo dác nhìn quanh lo sợ tột cùng. Họ quên tiệt đi mất rằng: Đặc điểm thân tình và đa dạng của phố Đà Lạt hữu duyên dễ thương nầy là ở ngay trên nóc nhà của Khu Hoà Bình, đã gắn một cái đồng hồ báo giờ có còi hụ nghe rất to và vang đi xa lắm là xa. Nhưng không phải để báo động chiến tranh như thời xưa, mà là dùng còi để hụ lên báo hiệu ấy là đúng 12 giờ trưa, và 6 giờ chiều, ngỏ hầu cho đồng bào biết giờ phút đó đã đúng ngọ, hoặc báo hiệu đến 6 giờ tối; đấy là giờ mọi người bắt đầu nghỉ ngơi sau một ngày bận rộn nhọc nhằn.

            Tôi quên nói hôm mồng 2 Tết việt-cộng núp ở tiệm ảnh Hồng Châu bắn xuống một xe Jeep đã chở vài sĩ quan của trường Võ Bị đi ăn sáng, tà tà lái xe lên dốc Lê Đại Hành, họ không biết “bọn kia” lẽn đột nhập vô Thị-xã Đà Lạt. Nhưng Việt Cộng đã bắn trật. Các sĩ quan vội nhảy ra khỏi xe, chạy thoát xuống lối Modern Hotel, lo chạy nước rút về hướng cầu Ông Đạo. Xế chiều hôm ấy tôi từ công sở về nhà, phải đi qua phố vắng teo, thì thấy chiếc xe nhà binh vẫn nằm chình ình ở đấy, mui, nệm, bánh xe Jeep bị cháy rụi đen thui, chỉ còn trơ lại khung xe méo mó coi thiệt dị hợm, khói đen còn âm ỉ tản mác vật vờ uốn éo bay bay trong làn sương mờ mờ giăng mắc đó đây.

            Mấy hôm sau Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bắt sống ba tên việt-cộng đã lẫn trốn trên nóc tháp cuả khu Hoà Bình, nguyên do chúng nằm bên đồng hồ báo giờ to tướng, lúc 12 giờ trưa, và 6 giờ tối bỗng nghe có tiếng còi hụ inh ỏi chát tai, thiệt điếc con ráy, e rằng chúng sợ són đái, mất hồn mất viá rợn tóc gáy, (tưởng khi còi hụ là thần chết hiện ra báo tử, cứ ngỡ mình trở về ngoài Bắc). Việt-cộng sợ hãi ngáp ngáp tụt xuống khỏi nóc nhà, đứng lớ ngớ xó góc phố vì run rẩy, đói và khát, họ chờ đợi lúc nào trời nhá nhem tối, thì sẽ tìm đường tấu thoát. Thế là phe ta tóm gọn!

            Ngay sau khi tàu bay thả bom, trực thăng bắn rốc két và quân nhân Việt Nam Cộng Hoà càn quét lục soát tàn quân, thì cư dân ở Đà Lạt nườm nượp chạy chạy chạy..., rối rít ùn ùn thúc hối kéo nhau đi đi đi... xem khu Số 4 bị tàn phá, người ta ở đâu tụ họp lại đông quá chừng chừng. Tôi chạm trán với một người đàn bà gốc Ấn, chỉ có ngoài khoen vòng có hạt ngọc trai và mấy hột kim cương lấp lánh, đính trên trán sát chân mày dài rậm, bà có hàng mi dày cong cong nơi đôi mắt màu tro lánh đen tuyệt đẹp của bà thì mới lộ ra ngoài. Còn tai, mũi và miệng của bà bị cái mạng che mặt, cũng như toàn thân bà ẩn dấu trong bộ áo jellaba mầu xanh lục lụng thụng, áo dài từ cổ xuống tới gót chân, có nhiều lớp vải phủ kín mít thân thể bà, chiếc khăn voan mỏng cùng màu phủ lết bết từ trên đầu bà xuống hai bàn chân mang đôi dép thấp, quai dây cột chéo lên quá mắc cá. Tôi biết bà nầy có tiệm mỹ phẩm ngay khu Hoà Bình, bà có ông chồng hiếu khách đứng bán hàng, ông vui vẻ luôn miệng ca hát.

            Một đứa con trai nho nhỏ ngồi bệt trên lề đường, nó ngẩng lên nhìn bà và nhẹ tay khều khều vào bàn chân ngăm đen, khiến bà sợ hãi né tránh và toan hét lên. Nhưng khi bà thấy nó ngước đôi mắt hiền lành và van lơn chìa bàn tay đen đen run run ra bà xin bố thí. Bà ta len lén nhìn trước ngó sau, liếc liếc dòm lui dòm tới, rồi bà ta thọc tay vô một bên hông, tìm mãi bà mới mò được túi áo. Bà ta ngọ ngoạy bên trong làn áo lụa, vùng bụng cộm lên dưới lớp vải một hồi lâu. Bà ta e dè lặng lẽ cúi xuống đưa cho thằng bé một nắm xôi đậu xanh và tờ giấy một đồng. Nhìn trước ngó sau lần nữa bà cúi đầu len lén lẫn vào đám đông, chen lên lề đường đi về hướng Phan Đình Phùng và ngả ba chùa Linh Sơn.

            Tại khu Số Bốn đích xác có một ngôi nhà lầu đồ sộ, kiên cố, uy nghi chắc chắn to lớn khang trang xinh đẹp nhất vùng nầy đã sụm bà chè, gạch ngói ngổn ngang không còn miếng nào dính miếng nào. Nhà ấy nằm ngay cạnh mé góc đường Phan Đình Phùng, và đầu góc khu nghĩa địa Số 4, đã bị bom dập tơi tả, ấy là nơi đặt bộ chỉ huy cuả việt-cộng. Tòa nhà đã vùi dưới đống gạch ngói nghi ngút khói và lửa cuồn cuộn. Khá lâu, mất nhiều ngày giờ sau, người ta đã dào bới lên, và tìm thấy hai mươi mốt mạng người trú ẩn trong ngôi nhà kiên cố ấy. Đã tưởng là núp trong những ngôi nhà kiên cố thì an toàn. Nào ngờ... chúng tôi thấy họ trợn mắt chết tươi, chết nhiều cách, nhiều kiểu vô cùng thương tâm và kinh dị, chết không kịp ngáp, không nhắm mắt hay trối trăn nửa lời.
            ***

            Sau khi dứt điểm khu Số Bốn là đến phiên càn quét khu BẠCH ĐẰNG – ĐÀ LẠT. Từ hơn hai tháng qua, đài phát thanh Đà Lạt ngưng hết mọi chương trình ca nhạc. Họ chỉ phát toàn bản tin thời sự đó đây nóng bỏng chung chung, lạt lẽo rất vắn tắt, hoặc trực tiếp truyền thanh chương trình đài Sài Gòn thông báo khẩn của các ban ngành ở trong nước, công sở, nhân viên công chức hãy túc trực tại nơi làm việc mỗi ngày. Nhất là kêu gọi: Binh-sĩ. Cảnh-sát, Cảnh-sát dã-chiến. An-ninh quân-đội. Sinh viên các trường đại học, hãy ứng chiến, hay trình diện từng nơi ở đơn vị gốc của mình.

            Chính phủ miền Nam Việt Nam bắt buộc phải vùi dập khu Số 4 xong, suốt mấy ngày đêm, trực thăng quầng thảo mục tiêu, bay vù vù hoài. Máy bay L 19 bay lượn trên vùng Đà Lạt thám thính. Cư dân trong thành phố chẳng thiết làm ăn buôn bán, kiệt quệ, phố xá nhà nào nhà nấy đóng cửa im ỉm, họ thường xuyên tụm năm tụm bảy, đứng ngồi đông đen trên nhiều ngỏ đường bồn chồn thấp thỏm xôn xao. Họ ngẩng đầu chỉ chỏ bàn tán nghe ngóng tiếng động, lo sợ dáo dác nhìn tứ phía. Bao gia đình thảng thốt, tay dắt lưng cõng vừa tất tả chạy băng đồi vượt dốc Thánh Mẫu, qua ngả Hà Đông xuống ruộng dâu về hướng thung lũng ấp Đa Thiện. Họ leo lên dốc Bùi Thị Xuân, cố thoát ra khỏi “vùng tử thù”. Nét mặt họ đầy lo lắng. Đau đớn. Thương xót. Bối rối. Dáo dác. Hớt hãi. Bủn rủn run sợ tột cùng. Họ đứng thừ người ngờ nghệch, đờ đẫn ngồi bệt xuống đất, hai mắt lờ đờ không cảm giác. Mặt mày ai nấy đều hốc hác. Người người điếng lặng, ngẩn ngơ nhìn tai hoạ đang đổ lên đầu, lên cổ anh chị em cùng mũi tẹt máu đỏ da vàng.

            Bản tin địa phương ghi nhận: một toà nhà mái ngói đỏ au nghiêng qua nghiêng lại rồi sụm xuống. Xác người phơi trên nương khoai, dưới ruộng dâu tươi, bên vồng hoa rễ quạt tươi thắm. Cạnh xác một bà mẹ nằm vắt vẽo chân trần trên luống cải úa tàn, có đứa con nhỏ độ tám chín tháng, đứa bé bò lui lết tới khóc la, tìm vú mẹ. Mẹ của cháu bé thật chẳng còn gì ngoài vũng máu tươi đọng lại trên bờ ngực héo hon, đôi mắt đứng tròng mở thao láo, hàng nước mắt đọng trên bờ mi nỗi đau thương, đã vụng dại tuôn chảy qua bên thái dương. Bà cụ lom khom chống gậy, lẽo đẽo theo sau đoàn người tất tả cúi thấp đầu chạy dưới khe mương, mặc kệ người mẹ và đứa bé. Cụ ngoái đầu nhìn, bặm chặt hai hàm niếu móm mén, cụ cố gào lên trong tiếng nấc:
            - Chị kia ơi cố gượng dậy, ngồi lên cho con bú. Bò lại gần mẹ cháu thêm chút đi! Cháu ơi!?

            Nhờ bà cụ vừa đi vừa kêu gào, cụ chỉ lối đưa đường khi quân nhân Việt Nam Cộng Hoà vừa đến, nên em bé đã được cứu sống, mẹ bé thì đem về nhà xác Dân Y Viện chờ thân nhân mai táng. Chính phủ quyết “dứt điểm nợ” cho xong. Ba giờ chiều, khi ra phố tôi nghe dân chúng đồn đãi đâu đó là: Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa quyết định cho phi cơ phân chia ra nhiều phần tách bạch mà dội bom, (loại oanh tạc cơ nặng kí, trang bị toàn titanium, thép, aluminium, có 8 động cơ, Pratt và Whiteney, có trọng tải 35 tấn. Do dự án Patricia Lynn chỉ xem là một chương trình tạm, nhưng sau đó rất hữu hiệu, nên phi cơ B-57E đã thực sự tham chiến. Phi cơ này được đặt tên là Biệt đội 1/Phi đoàn 460 Không-Thám Chiến-thuật) thì phải.

            Nếu, Việt-cộng vẫn ngoan cố ù lì bám sát, tướt đoạt lấy tất cả, từ mạng sống người dân, đến lương thực, của cải quý giá, đất vườn của dân lành vô tội. Thì… Đành phải xin lệnh từ trung tâm Không-trợ dội bom xuống khu Bạch Đằng ngay thôi. Không thể khoan dung nhân nhượng nữa!

            ***

            Tôi đang đi chợ, nghe nhiều bản tin ngắn do xướng ngôn viên Diệu Thư của đài phát thanh Đà Lạt đọc, được phát ra từ bốn cái loa vang lên trên nóc nhà khu Hoà Bình, tôi hốt hoảng lo hộc tốc ba chân bốn cẵng chạy về nhà. Tôi và Lâm ôm hai con lên lầu, mở tung cửa sổ ra nôn nao chờ đợi, lại luân phiên dòm vô ống nhòm, chúng tôi phập phồng dáo dác nhìn đi tứ phía. Quả đúng như thế thật. Chỉ non hai giờ sau là phi cơ đến. Chiến cuộc thực sự bùng nổ quyết liệt không hấp dẫn chút nào trên chuyến tàu suốt cuộc sống vật vã rồi. Sau khi hai chiếc phi cơ dội xong những trái bom, là vút bay đi.

            Chỉ vài giây phút sau lại có hai chiếc khác bay đến. Phi cơ cứ thay phiên nhau lượn trên vòm trời Đà Lạt, khi mấy quả bom xé gió vỡ bung ra, hủy diệt mọi thứ trong tầm ngắm, dội khoảng mấy chục quả bom rất chính xác xuống đồi Bạch Đằng và vùng lân cận trong khoảng chừng non nửa giờ. Trên ngọn đồi Bạch Đằng trống trải có nhiều hố bom khổng lồ, sâu hun hút, có thây ma không kém gì bên nghĩa địa Khu Số 4 dạo nọ.

            Khu Bạch Đằng (do linh mục Phan Văn Đài thuộc dòng Chúa Cứu Thế xin chính phủ cho canh tác khu đất đỏ bazan và nâu vàng làm khu trù mật vô vụ lợi, cho tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã chấp thuận, vừa cho xây dựng ấp mới, được quy mô thành lập vài năm nay, nơi có rừng lá kim, rừng hổn giao lá rộng cùng các loại boxit, than bùn, cao lanh… bồi tụ bởi sự kết lắng các sản phẩm rửa trôi bào mòn từ sườn núi. Cư dân các nơi từ từ dồn về khu đất đỏ màu mỡ phì nhiêu nầy). Đa số đất toàn là đồi trọc, đất đỏ trộn màu nâu non còn trống trải và rộng rãi. Xe máy cày đất vẫn hì hục làm việc không ngừng, thì... đại liên từ trực thăng nã đạn xuống mục tiêu ấn định: Khu Bạch Đằng! Đạn bay roóc roóc roóc, pằng pằng pằng… xíu xiú… xít xít… xịt xịt…vun vút xẹt xẹt… ra những vệt lửa vàng vàng đỏ đỏ. Lựu đạn cay, đạn khói, đạn ói, đạn mửa đủ thứ vỡ bùng. Súng nổ dưới đất rền vang. Long trời lỡ đất như ngày động đất hay tận thế. Mặt đất rung chuyển dữ dội bởi súng lớn, nhỏ, súng cối, súng trường. Xe tăng bọc sắt ùn ùn vươn tới dưới chân đồi Bạch Đằng, và nằm ụ đó.

            Từ xóm nhà tôi, có nhiều thanh niên leo lên mái ngói ngồi, ai ai cũng trông thấy rõ những tên việt-cộng từ trong các hầm trú khu Bạch Đằng kêu gào nhau lố nhố chạy ra, có người lũi trốn xuống ruộng dâu, hoặc có tên cố chạy lên đồi dốc đứng, mong sẽ thoát thân tới vùng ấp Nguyễn Siêu (thuộc khu Số 6) khu thổ cư đầy gió lốc cuốn mù đất cát bụi đỏ, ngỏ hầu vật lộn nhau, để tranh giành phù du cuộc đời, cuộc đua, cuộc chạy nước rút, cuộc chơi giữa người sống, người ngáp ngáp cơn hấp hối, và người đành đạch dẫy nẩy chết. Năm tên áo đen mang súng AK cắm đầu cắm cổ chạy riết lên lưng chừng đồi, nơi mấy cái hang đất, có lẽ họ định chui vào đó trú thân, thì chẳng may bị đạn từ trên trực thăng nã xuống viu viu… xít xí xít… pằng pằng pằng...

            Thế là hai tên gục xuống dãy đành đạch mươi phút, rồi nằm im re tại chỗ. Một tên lăn cù cù xuống vạt đất đỏ nâu mới cày. Một tên khác gục tại lỗ hang đất. Tên kia cà nhắc cà thọt nhảy cóc năm bảy bước, ngực ưỡn ra phía trước, hai tay dong lên trời, từ cườm tay lên tới khuỷu tay trái cột miếng băng vệ sinh phụ nữ, mặt y úp vào bụi cỏ rồi cũng rệu xuống. Ngay đơ.

            Trên trời L 19 thám thính quần thảo liên tục. Trực thăng bay lượn như chuồn chuồn, không ngớt thả những tràng róc két viu viu… xì xịt… pằng pằng pằng… Phía khu đất trống nho nhỏ trên đỉnh đồi Bạch Đằng, phi cơ tải thương binh đáp xuống, cánh quạt xoáy tít mù. Vài quân nhân và hai thường dân bị thương, cúi cúi co mình leo lên phi cơ, máy bay nổ ầm ầm, cánh quạt quay vun vút. Trực thăng vụt bốc thẳng lên cao, bay về hướng thành phố, hay bay vào trong khu Võ Bị, thì phải!? Bùm bùm bùm… Ùm ùm ùm… Ầm!... dài dài rải xuống mục tiêu. Nơi ác chiến, mồ mã bị cày xới tan hoang.

            Gia đình tôi đứng trên balcon của nhà mình, nhờ có ống dòm, chúng tôi nhìn về hướng đồi Bạch Đằng rất rõ. Tiếng phi cơ gầm rú trên đầu dù đinh tai nhức óc, dù ở nơi xa xa nầy, mà tôi cũng bị điếc ù tai, ép lồng ngực mệt nhoài, nghẹt thở, muốn bể tim bể não. Huống hồ gì là những cư dân ở gần gần đó, làm sao họ chịu thấu nhỉ!? Trông những cột lửa đỏ rực ùn ùn đùn lên, đùn lên cao, lên cao. Lên cao. Những cây nấm lửa vừa đỏ đỏ vừa quyện khói đen đen, to khổng lồ quằn quại uốn éo trong tiếng Ùm. Ùm. Ùm… Oằm… Bùm! Khói đen nghịt từng cuộn nấm khổng lồ, rồi quyện với lửa đỏ rực, quay lông lốc bốc lên thấu trời xanh, cháy lan ra từng vùng khá rộng. Nhiều tiếng nổ xì xèo lốp đốp suốt mãi. Mùi hôi thối, mùi cháy khét nồng nặc. Sức nóng theo hướng gió xô về tận xóm nhà tôi rát phỏng da. Từng đám tro, từng đám khói lửa dày đen nghịt toả ra. Những cây nấm lửa khổng lồ khác lại quay cuồng lông lốc trong gió xoáy, ùn ùn bốc thẳng lên trời xanh, rồi toả ra mù mịt che kín khung trời thơ mộng mất rồi!


            Tim rung lên từng hồi náo loạn, tôi có cảm tưởng như đang xem một cuốn phim quá hấp dẫn, vô cùng ngoạn mục mà kinh khiếp hãi hùng. Kinh dị tột đỉnh. Rõ ràng. Sống động. Trung thực. Ghê rợn hơn hẳn xem trên màn ảnh rộng stereo. Hơn gấp ngàn lần tôi đã xem các phim Đệ Nhất Thế Chiến. Đệ Nhị Thế Chiến xa xưa. Mấy phim đó chả nhằm nhò gì, so với chuyện tôi đã chứng thực bằng mắt thấy tai nghe. Oanh tạc cơ gầm thét trên đầu đã nhào xuống, và trong tích tắc lại vút bay lên trời. Hai trái bom xé gió vỡ bung ra, nhiều đợt lửa cuồn cuộn bùng lên. Ùm. Ùm. Ùm… Đùng. Đùng. Đùng… Pằng. Pằng. Pằng… Xíu xíu xíu… Xịt xịt xịt… Tạch … Tạch … Tạch… Bùm! Bùm! Bùm! Mưa chì. Gió lốc. Khói đen. Lửa đỏ. Chết chóc. Rùng rợn. Đau khổ. Tang thương. Kinh hoàng. Thảm thiết lắm! Mẹ Việt Nam ba miền: Bắc Trung Nam yêu dấu ơi! Giông tố ngập trời dâng lên cao ngút ngàn. Chao ôi! Hỡi Trời cao đất dày kia ơi!!! Ngày Tết Mậu Thân 1968, mà Ai đã bạo tàn ác ôn gieo chiến tranh thảm khốc, điêu linh đến thế nầy!?

            Chiến tranh tàn sát ghê gớm, đã san bằng, cày xới, đào bới khai quật, lật tung không biết bao nhiêu là mồ mả ông bà cha cố tổ tiên trong nghĩa trang Số 4. Các thây ma đã muốn yên giấc nghìn thu vĩnh viễn. Ấy vậy mà hỡi ơi! Nào được an ổn tấm thây khô! Nhiều ngôi nhà trong khu Số 4 bị cháy rụi, người chết ở khu Số 4. Khu Số 6, và khu Tùng Lâm, Bạch Đằng chưa kiểm soát xác nhận nỗi. Chiến cuộc thực sự bùng nổ quyết liệt vì kẻ xâm lăng hung tàn. Dễ sợ quá! Trầm trọng kinh khủng quá chừng chừng! Rùng rợn biết bao!

            Thật sự Tí Nị tôi rụng rời tay chân, không còn tin ở mắt thấy tai mình nghe nữa! Nhà cửa, ruộng vườn đất đai, đồ vật dẫu có hư hại, thì ta còn thời gian có thể từ từ sửa chữa lại khang trang tươm tất. Trộm cắp gian manh lừa đảo, thì có luật pháp trừng trị nghiêm minh, hữu hiệu và chuẩn xác. Mỗi lần tận mắt chứng kiến cuộc vĩnh biệt chia ly, hoặc nhìn lên màn ảnh xem những thước phim thời sự mô tả về tình đời và tình người sống đối với người đã khuất núi; người ta thường buồn bã u sầu đau đớn đứng trên đầu nguồn, để thả xuống dòng sông những chiếc thuyền giấy đựng cây nến lập lòe đốt sáng.

            Tôi ngậm ngùi khôn tả, vô cùng xót xa về kiếp người. Cái chết chưa hẳn là điều đáng sợ, nhưng điều đáng sợ nhất là người còn sống mà tâm hồn đã chết, vô cảm lạnh lùng làm những việc hại đời hại người. Người sống cũng như kẻ chết đều ở bên dòng sông, và ở trên dòng sông. Có khác chăng là “kẻ” đang lơ lửng trên dòng nước, thì đành im lặng phú mặc cho con thuyền mang cây nến nhấp nhô trên sóng mãi xuôi dòng, trôi đi... trôi đi, trôi đi mất hút! “kẻ ấy” không thể nào và không bao giờ có thể tự quay trở lại bờ. Nhưng… trong giao cảm giữa con người với nhau, có người đánh mất ân tình quý giá, dã-tâm đứng trên bờ xâm chiếm miền Nam Việt Nam, đem chiến tranh về gieo rắc bao đớn đau tang thương, ngang nhiên công xúc tu sĩ, hãm hại hiền lương bá tánh, thì lấy ai xây dựng đạo lý vững chắc trên căn bản đạo đức và luân lý, cùng xoa dịu nỗi hãi hùng, ngỏ hầu bồi thường mạng sống con người rất đáng trân trọng và danh dự đây?

            _ * _

            Tình Hoài Hương
            Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 03:46 AM.
            Bút trần nào tả được lưu luyến!
            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
            Tình Hoài Hương

            Comment

            • Tinh Hoai Huong
              Senior Member
              • May 2009
              • 1081

              #51
              Bách Niên Thương Hải Biến Vi Tang Điền Quốc Hận Đen: 30 Tháng Tư



              Bách Niên Thương Hải Biến Vi Tang Điền
              Tình Hoài Hương
              ***



              Thật tình tôi không thể nào hiểu nỗi tại sao vận nước Việt Nam lại trở nên quá đen tối: sau khi hiệp định Genève 1954 diễn ra kể từ ngày 26 tháng 4 năm 1954 - rồi bản Hiệp Định được ký kết và kết thúc cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954. Thành phần tham dự: Anh, Mỹ, Liên Xô, Pháp, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, Laos, Cambodia, Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Phía Quốc Gia Việt Nam ban đầu do ông Nguyễn Quốc Định làm Trưởng Đoàn. Sau, ông Trần Văn Đổ thay thế. Đáng chú ý: Ông Trần Văn Đổ, Trưởng Đoàn Quốc Gia Việt Nam đã lên tiếng phản đối sự chia cắt đất nước. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (miền Nam Việt Nam) không ký Hiệp Định. Phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (miền Bắc Việt Nam) do Phạm Văn Đồng làm Trưởng Đoàn. Phái đoàn Hoa Kỳ từ chối công nhận Hiệp định Genève.

              Kể từ ngày 21-7-1954– khi miền Bắc Việt Nam ký Hiệp-định Genève xé đôi lãnh thổ Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 và cầu Hiền Lương Bến Hải làm ranh giới, để chia lìa tách bạch hai miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam ra đôi ngả phân ly nghẹn ngào:


              - Ngày 11-11-1960 – Đại-tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu cuộc đảo chánh cùng Trung-tá Vương Văn Đông ở Liên-đoàn Dù, và Thiếu Tá Nguyễn Triệu Hồng, Đại-úy Phan Lạc Tuyên: đã đảo chánh nền Đệ-Nhất Cộng-Hoà hụt; thì “chiến tranh nội bộ” bắt đầu manh nha quyết liệt vì cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt rối rắm bùng nổ liên miên. Từ xưa tới nay sự thôn tính đất đai, tranh giành quyền lực, thế lực, vinh hoa, là mạng lưới quyến rũ dẽo dai và khổng lồ. Nước càng trong thì không có cá. Dù lòng người đơn giản, phước thiện, trong sáng và cao cả; ấy mà nếu du nhập vào hệ thống chính trị, sau khi bị cuốn hút vào cung cầu đó, thì thật khó lòng ít có ai rứt ra được.

              - Ngày 27-2-1962 - Có 2 chiếc khu trục A1 Skyraider dội bom dinh Độc Lập, do Trung-úy Phạm Phú Quốc và Thiếu-úy Nguyễn văn Cử ném bom bắn cháy dinh Độc Lập. Phi cơ của ông Phạm Phú Quốc bị bắn rớt trên sông Sài Gòn, ổng đã vô tù, tất cả bom đạn còn nguyên, nghĩa là ông ta chưa kịp thả trái bom nào. Ông Cử đào thoát bay mút qua hướng Nam Vang, dân chúng bàn tán là ổng bị chính phủ ở bển bắt nhốt vô tù rùi!?

              - Sau biến cố 02-11-1963 – Tổng-thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị thảm sát. Trải qua bao thăng trầm chính trị sục sôi… thì nền Đệ II Cộng Hòa có Tổng-thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi.

              * Ngày 8-3-1965 - Kể từ khi có đoàn Thủy-quân Lục-chiến Mỹ tiên khởi, đông đúc khoảng 3.500 người rầm rộ đổ bộ lên đất liền tại Đà Nẵng, Mỹ viện cớ muốn giữ “an ninh cứ địa”. Do tướng Maxwell Taylor, thỉnh thoảng hút xì gà Schimmelpennick làm đại sứ Sài Gòn, ông dẫn đầu một cuộc phô trương cường quốc Mỹ, để thị oai với các nước tụt hậu, chậm tiến, đang có chiến tranh. Rồi…

              * Ngày 16-8-1965 - Chính phủ Nguyễn Khánh chủ trương thành lập Hiến Chương Vũng Tàu. Trong nước loạn xạ bởi nhiều phe phái chính trị phản đối chính quyền đã hoạt động ráo riết. Sau đó có nhiều bất đồng, các đảng phái, sinh viên lục đục nội bộ, nên tan đàn rẽ đám. Hội-đồng Quân-lực Cách-mạng truất phế ông Nguyễn Khánh, cho ông lưu vong ra ngoại quốc làm đại sứ.

              * Ngày 9-5-1969 - Hạ-sĩ Henry Kissinger đi lính trong Đệ-nhị Thế-chiến, sau lên làm cố-vấn an ninh quốc gia cho Tổng-thống Richard Nixon. Về sau tiến sĩ Henry Kissinger khai mạc hoà đàm Ba Lê (không có chính phủ miền Nam hay Quân-lực miền Nam). Suốt thời gian hoà đàm dưới sự giám sát chặt chẽ của Nixon, ngoại trưởng Kissinger “ráo riết đi đêm” với quân Bắc Việt.

              - Người dân luôn dán mắt nhìn vô ti vi trắng đen, theo dõi công ty Pecten Việt Nam (là chi nhánh của Shell) đã sản xuất khoảng 1.500 thùng dầu thô/ngày, trong giếng dầu mang tên Pioncer sâu 4.500 feet dưới lòng biển. Hoan hô đại thắng!

              - Một phái đoàn Mỹ có tên Project Concern, và phái đoàn Thanh-Thương-Hội Việt Nam do ông Lê Bá Công làm hội trưởng, hướng dẫn phái đoàn săn sóc y tế cho đồng bào Thượng tại miền Nam Việt Nam. Phái đoàn nầy được đồng bào kính trọng và hoan hô nồng nhiệt.

              * Ngày 27-1-1973 – Trong chương 2 điều 2 tại nhiều năm hội nghị, sau đó Hiệp định Ba Lê đã ký kết đình chiến: Ngưng bắn. Ấy thế mà vào ngày 9 tháng 3 năm 1974 Việt-cộng câu súng 81 vào trường Tiểu-học Nhị Quý, Cai-Lậy, Tỉnh Định Tường. Có vô số trẻ em bị chết oan thật đau đớn vô cùng thảm thiết.


              * Ngày 11-3-1975 - Mất Ba Mê Thuột. Thiếu-tướng Phạm Văn Phú, Tư-lệnh Quân-đoàn 2/Quân-khu 2, ra lệnh quân đội triệt thoái khỏi Pleiku – Kontum (do chỉ thị của TT Nguyễn Văn Thiệu).

              * Ngày 19-3-1975 – Một Tiểu-đoàn của Trung-đoàn 43 Bộ-binh đóng chốt phòng ngự tại Định Quán, quanh vùng phụ cận núi Chứa Chan. Gia Rai, Tiểu-đoàn nầy anh dũng đánh trả đối phương rất phi thường.

              * Ngày N+5, 21-3-1975 triệt thoái cuối cùng Lực-lượng Quân-đoàn 2 khỏi Cao Nguyên, trên tuyến đường Liên-tỉnh lộ B.

              * Ngày 22-3-1975 - Tỉnh Quảng Đức thất thủ.

              * Ngày 23-3-1975 – Công-binh VNCH làm xong chiếc cầu dã chiến. Lực-lượng Quân-đoàn 2 cuối cùng vượt qua sông Ba, triệt thoái về Phú Yên.

              * Ngày 25-3-1975 – Các đơn vị Quân-đoàn 1/Quân-khu 1 (Việt Nam Cộng-Hoà) triệt thoái ra khỏi Huế.

              * Đêm 28-3-1975 - Lực Lượng hùng hậu của Quân-đoàn 1 do tướng Ngô Quang Trưởng lãnh đạo, đã triệt thoái khỏi Đà Nẵng.

              * Ngày 8-4-1975 – Các phi trường Tân Sơn Nhất. Cần Thơ. Biên Hoà, có nhiều chiến đấu cơ F 5 – oanh tạc cơ A 37. Không một ai mà không nghe đồn ầm lên là: từ Lâm Đồng dọc theo rặng trường sơn, sông La Ngà chảy từ khu Tánh Linh, qua phía nam Định Quán, Rừng Sát ra cửa biển Cần Giờ: Đang bị đe doạ trầm trọng. Người ta lại đồn máy bay oanh tạc dinh độc lập hụt hay sao đó? Bây giờ thì chuyện không nói có, chuyện có nói không. Chả ai có thể đi đâu kiểm chứng, vì mọi ngã đường đông nghịt người không thể chen chân. Nhưng than ôi! Đúng thế thật, Trung úy Nguyễn Thành Trung, quê ở Bến Tre, đã bay chiếc F5 cất cánh từ Biên Hoà về thả bom xuống dinh Độc Lập. Phi cơ mang bốn quả bom. Y thả hai quả bom trước bị rơi ra ngoài sân dinh.

              * Việt Nam Cộng Hoà có Sư-đoàn 18 tăng cường Lữ Kỵ-binh: Sư-đoàn 5 Thiết-giáp. Các Liên-đoàn Biệt Động Quân từ Quân-khu 1, chuyển về Quân-khu 2 để bảo vệ Xuân-Lộc, do Chuẩn-tướng Lê Minh Đảo là Sư-đoàn-trưởng Sư-đoàn 18 đảm nhiệm. Trận đánh vô cùng ác liệt bắt đầu xảy ra giữa quân đội miền Nam Việt Nam, với Quân-đoàn 4 và Sư-đoàn 6 Chủ-lực Quân-khu 7 của Cộng-sản Bắc Việt.

              * Ngày 10-4-1975 – Hai Trung-đoàn 43 và 48 (của Sư-đoàn 18 Việt Nam Cộng Hoà) và một Lữ-đoàn Dù. Lữ-đoàn 3 Kỵ-binh, từ Biên Hoà ra Xuân Lộc tiếp ứng. Giao tranh ác liệt dữ dội mạnh mẽ. Đường 12 bị cắt đứt là: Xuân Lộc > Biên Hoà. & Xuân Lộc > Bà Rịa.

              * Ngày 17-4-1975 - Mất Phan Rang.

              * Ngày 18-4-1975 - Mất thị xã Phan Thiết và toàn tỉnh Bình Thuận. Thành phần chính phủ do Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo đã xảy ra đột biến. Mặc dù vậy tổng thống Thiệu họp báo, lên Truyền-thanh, Truyền-hình đọc hiệu triệu vấn an quốc dân đồng bào. Đài phát thanh cho nhai đi nhai lại bản tin nầy suốt cả tuần.

              * Ngày 19-4-1975 – Bình Tuy sống trong sôi động. Giao tranh ở tuyến đường số 1, từ phía Đông và Đông-Bắc Sài Gòn, tới Trà Võ. Bàu Nâu. Gò Dầu Hạ.

              * Ngày 20-4-1975 – Khu Rừng Lá, (cách Xuân Lộc độ 20km) coi như mất liên lạc: Bộ Tổng Tham Mưu. Sân Bay Tân Sơn Nhất. Bộ Tư-lệnh Biệt-khu Thủ-đô. Tổng Nha Cảnh-sát, vân vân… (Thủ đô Sài Gòn có 12 Quận Nội-thành: Bình Thạnh. Phú Nhuận. Tân Bình. Gò Vấp. 6 quận ngoại thành: Hóc Môn. Củ Chi. Thủ Đức. Bình Chánh. Nhà Bè. Duyên Hải) > Đều báo động đèn đỏ 100%.

              * Bộ Giáo Dục ra lệnh đóng cửa không thời hạn tất cả các trường: Tiểu-học. Trung-học. Đại-học trong toàn lãnh thổ tại miền Nam Việt Nam.

              Ngày 21-4-1975 - Hằng triệu triệu người già trẻ lớn bé ở miền Nam Việt Nam chồm tới bu quanh nhìn sững vào vô tuyến truyền hình. Toàn dân lắng nghe miết mãi. Khoảng nửa giờ sau vị nguyên thủ quốc gia: Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu chính thức tuyên bố từ chức, ông trở về với quân đội Việt Nam Cộng-Hoà. Ôi! Bàng hoàng sững sốt. Vì; hằng triệu trai trẻ lính tráng, quân đội và dân tộc Nam Việt Nam (có bốn nghìn năm văn hiến quyết chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng trên chiến trường) tin vào chính phủ Nguyễn Văn Thiệu mà. Từ khi nền Đệ Nhất Cộng Hoà sụp đỗ, thì tất cả mọi thứ trên đời, trật tự xã hội bị đảo lộn tùng phèo sao?

              Hồi xưa, nhà bác học lẫy lừng Pierre Curie khám phá ra chất phóng xạ radium vào năm 1900. Và, trước khi ông Mc Robert Namara cho trắc nghiệm khai quang hằng loạt chất độc màu da cam (Agent Orange), để tiêu diệt cỏ, hay tiêu diệt đối phương (?!). Thì ngày nay, Tổng thống Thiệu đã lưu lại danh thiên cổ gì cho núi sông? Khi mà ông Trạng Trình đã nói: “Bắc hữu kim thành tráng. Nam hữu ngọc bích thành”. Cố mà gìn giữ Việt Nam keo sơn gắn bó. Thật ra, Tổng-thống Thiệu làm tổng thống hai nhiệm kỳ, đã thành lập đảng Dân Chủ. Nhiều lần Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu lên đài truyền thanh và truyền hình mạnh mẽ đọc diễn văn; trong đó có những câu tuyệt vời bất hủ:
              - Đừng nghe những gì Cộng-sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng-sản làm!
              - Ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng-sản.
              - Công đức ngàn đời con tố mẹ, tình nghĩa trăm năm vợ tố chồng.
              - Đất nước còn, còn tất cả; Cộng-sản thắng, mất tất cả.
              - Tôi mà tham nhũng, thì cái chính phủ này sẽ sụp đổ chỉ trong 3 ngày!
              - Nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa, thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm, mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!
              - Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó.
              - Sống không có tự do là đã chết.
              - Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống Cộng-sản.

              TT Nguyễn Văn Thiệu hùng hồn khẳng định tuyên bố “bốn không” rất chí lý:
              1.- Không thừa nhận Cộng-sản.
              2.- Không lập chính phủ liên-hiệp.
              3.- Không trung-lập-hoá miền Nam Việt Nam.
              4.- Không nhường một tấc đất cho Cộng-sản.

              * - Tin đồn đã rùm beng:
              1.- Việt Nam trung lập.
              2.- Chính phủ Việt Nam có ba thành phần.
              3.- Miền Nam Việt Nam bị miền Bắc “giải phóng” lan nhanh (chứ chả phải như lời Phó Tổng-thống Nguyễn Cao Kỳ hô hào: “Xung phong > Bắc Tiến”). Tổng thống Thiệu đã ủng hộ chương trình “Người cày có ruộng”, rầm rộ khuyến khích nông dân, củng cố lúa Thần Nông IR 3 và AR 8. Nhờ thế kho vựa miền Nam dư thừa lúa gạo. Việt Nam sản xuất gạo đi các nước. Sau năm 1967 do sự quậy phá của Cộng-sản Bắc Việt, nên nông dân thuộc các tỉnh miền Nam, miền Trung, Cao Nguyên, không thể cày cấy, gieo trồng nhiều. Do đó miền Nam Việt Nam bị khan hiếm lúa. Kinh tế hạn hẹp, Cộng thêm an ninh không an toàn yên ổn. Chính trị, kinh tế, tham nhũng, bè phái, bị đe doạ khiến miền Nam suy thoái trầm trọng. Bây giờ miền Nam Việt Nam phải nhập cảng gạo và “binh khí”, xin viện trợ tiền bạc vào Nam Việt Nam. Là vậy!

              * Tổng-thống Việt Nam Cộng-Hoà Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Phó Tổng-thống Trần Văn Hương lên thay thế! Thành phần nội-các do cụ Trần Văn Hương đảm nhận được mấy ngày vắn vỏi.

              - Ngày 22-4-1975 – Đường quốc lộ 4 nối liền Sài Gòn > Cần Thơ. Các hướng Tây Bắc. Đông Đông Bắc. Đông Đông Nam. Tây Tây Nam bị cô lập với Sài Gòn.
              Thứ Tư, ngày 23-4-1975 - Đô Đốc Noel Gayler Chỉ-huy-trưởng Hạm-đội Thái Bình Dương, đã lập cầu không vận Sài Gòn > Đệ Thất Hạm Đội (trong chương trình di tản người Mỹ và người Việt Nam ra đi), đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu, người ta nghe & phao tin sẽ di tản khoảng vài ba trăm ngàn người Hoa Kỳ và người Việt Nam. (!?)


              Bảy Ngày Đen Tối Nhất:

              Đêm 24-4-1975 – Khói lửa bạo tàn đã gây đau khổ quá sức hằng triệu dân đen lầm than khốn đốn, cơ cực. Miền Nam Việt Nam dỡ sống tức tưởi, dỡ chết không kịp nhắm mắt, không thể há miệng than Trời! Chắc chắn là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu & thành phần nội-các đều nghe bùi tai về tướng cố vấn Lục-quân Mỹ Weyand gián tiếp khuyên chính phủ Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Quân-đội miền Nam Việt Nam bằng mọi giá phải tử thủ! Toàn thể nam nữ thanh niên trai trẻ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã vâng lời ở lại giữ gìn từng pháo đài bị vây hãm, giành lại từng tấc đất quê hương ta, quyết phục vụ dân tộc và tử thủ vì dân tộc Việt Nam!

              Thì tin đồn chuyện Tổng-thống Thiệu bỏ rơi dân tộc, bỏ quê hương đất nước, chỉ là tin đồn nhảm nhí! Khi chung cuộc kết thúc trong bi thương thế ấy, ai nở ra đi phản bội dân tộc, ai lìa bỏ quê hương cẩm tú giàu đẹp sao? Ai đành cao chạy xa bay mưu tìm cho chính mình sự sống riêng, phủi tay trong thau men nước người cho đành?! Nơi chốn xa lạ đó, ai có dịp lắng nghe tiếng nói của hiền dân vô tội gào than kêu khóc? Ai tận mắt xem đồng bào đau thương bị cấp lãnh đạo bỏ rơi, dân đang sống quằn quại trong cơn lốc chính trị kinh hoàng vỡ vụn? Toàn dân sẽ chết thảm dưới cơn sóng thần cuồng phong dữ dội nhất lịch sử Việt Nam nầy. Họ làm sao đành đoạn phủi tay bỏ lại quê hương và dân tộc cho đành?!

              * Thứ Sáu, ngày 25-4-1975 – Sáng sớm bạn Tonny Tơn từ Hạ Nghị Viện tất tả chạy về nhà, đã khẳng định với chúng tôi về việc Tổng-thống Thiệu và đoàn tùy tùng thân tín đã bôn tẩu bỏ nước ra đi!!! Người ta lại đồn ầm lên là ông Thiệu chở theo mấy chục tấn vàng của quốc gia (?!). Làm sao cõng cho nỗi hỉ?! Chuyện ấy rất khó tin, không bao giờ tin! Nhưng khuya Thứ Sáu, ngày 25-4-1975 đương kim Tổng-thống Trần Văn Hương lên đài Truyền-thanh Truyền-hình chính thức tuyên bố: - “Gia đình Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu, và một số thân tín trong chính quyền đương thời đã chính thức rời khỏi Việt Nam, bay đi ngoại quốc ngày 24-4-1975”.
              Ôi! Sự đau đớn ấy có thật ở phi trường Tân Sơn Nhứt là Tướng Timmes, Đại-sứ Martin, một số đoàn tùy tùng đông đảo “viên chức lừng danh cao cấp nhất” của chính phủ miền Nam Việt Nam Cộng Hoà đang làm cuộc “tẩu tướng”. Họ nôn nao lo âu đứng xớ rớ ở đó từ rất lâu, chờ đợi sẵn sàng để dọt đi.

              Một chiếc xe Mercedes chở ông Nguyễn Văn Thiệu từ bến Bạch Đằng chạy nhanh vào phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 21 giờ 30 đêm 24 tháng 4 năm 1975. Chung quanh “các ngài” đông đúc nôn nao ung dung ra đi, có lính Thủy-quân Lục-chiến Mỹ đứng dàn ngang dàn dọc bu quanh, để bảo vệ phái đoàn “các ngài” tống lên chiếc phi cơ C-118 lịch sử của Không-quân Hoa Kỳ. Ông Thiệu, Tướng Khiêm và đoàn tùy tùng lẹ làng tót lên máy bay, không hề ngoảnh lại. Hỡi Ôi là Trời ơi Đất ơi!!!

              * Thứ Bảy, ngày 26-4-1975 – Ông Khiêu Samphan dẫn một phái đoàn Trung Quốc từ Mimót Nam Vang, đi qua ngả Xa Cam. Tại đó có một Đại-tá Không-quân người Pháp, một Thiếu-tá Pháp, {họ trực thuộc Nha An Ninh Tình-báo hải ngoại Pháp (SDECE)}. Họ đưa phái đoàn Trung Quốc nầy vào ở trong toà Đại-sứ Pháp Sài Gòn (!?)

              * Vẫn ngày 26-4-1975 - Bão lửa chiến tranh xâm lược đã ùa vào xâm chiếm các khu sau đây: Long Khánh từ hướng Đông-Bắc đi Sài Gòn xa khoảng 80km. Long Khánh nằm giữa hai quốc lộ: 1 và 20- 105 kinh độ đông- 11 vĩ độ bắc, ở múi giờ 17 GMT – Giáp giới mặt Đông hướng Đông Đông Nam về Sài Gòn. Long Khánh có đỉnh núi Gia Ray cao 916 mét, là tấm bình phong che chắn thuận lợi cho toàn vùng. Muốn đi từ miền Cao Nguyên, hay từ miền Trung vào Sài Gòn xuống miền Tây, tất cả loại xe đều phải đi ngang qua vùng Long Khánh. Sông Ray từ phía Nam của núi Gia Ray có đường đi qua Xuyên Mộc. Trảng Bom. Hố Nai. Biên Hoà. Long Thành. Nước Trong. Đức Thạnh (Bà Rịa). Lang qua vùng Phước Tuy. Xuyên Mộc. Đất Đỏ. Về hướng Tây Tây Nam > Bến Lức. Tân An. Trung Lương. Tân Hiệp. Long Định. Giao lộ 4. Cai Lậy đi An Hữu. Xuống tới Lộc Giang. Vàm Cỏ Đông qua Tây Vĩnh Lộc. Mỹ Hạnh. Hướng Bắc thì các đoạn đường 16 Phú Lợi. Thủ Dầu Một. Tây Bắc về Đồng Dù. Hóc Môn.

              * Chủ Nhật, ngày 27-4-1975 - Mất thật rồi Bà Rịa. Phước Tuy. Nước Trong. Trảng Bom. Suối Đĩa. Cầu Rạch Chiếc. Rạch Cát. Cầu Bình Phước. Quán Tre lan ra tận xa lộ Đại Hàn.

              * Vẫn ngày 27-04-1975 – Người ta bịa đặt ra: Caritas. Usaid. Usom. Juspao. Cords. The Asia Foundation. IUS, chỉ là những thành phần ấy vào miền Nam Việt Nam do CIA cầm đầu trá hình. Nay họ lo đóng cửa và chuồn bay đi hết rồi! Tất cả mọi liên lạc trong nội thành Sài Gòn với ngoại thành, đi các Tỉnh, hầu như tê liệt, trục giao thông chính dẫn đến phi trường, hải cảng, các bến xe miền Đông, miền Tây, miền Trung, hoàn toàn ứ đọng và “bế quang tắc lộ”. Chao! Lúc đó thì người người tụm trăm tụm ngàn ở các nẽo đường chính, để nghe ngóng thăm dò tin tức. Toàn là những giả thiết, những tin đồn hoang mang. Người ta nhốn nháo, ồn cả lên, chèn ép nhau, xô đẩy nhau mong tìm đường chạy thoát thân, mong khỏi bị trụ lại nơi thành phố đông nghẹt người, từ các nơi dồn về Thủ-đô Sài Gòn hối hả, ngột ngạt, nghẹt hơi. Mọi tiếng động đều đinh tai nhức óc nổi hoài thâu đêm suốt sáng, không bao giờ ngưng. Người ta muốn điên vì đủ thứ chuyện thay đổi liên tục xảy ra từng giờ trên tivi, tin đã xấu càng xấu thảm xấu tệ biết bao! Toàn là những tin chả lạc quan vui vẻ gì!

              * Thứ Hai, 28-4-1975 – Sân bay Tân Sơn Nhứt to lớn đồ sộ sầm uất nhất miền Nam Việt Nam đến thế, có F5, hoặc A 15, A 37, C 130. Mà nay chỉ còn có một số ít bom Daisy Cutters, và những phi cơ dân sự thường dùng trong nội địa, có phi cơ dân sự cũ từ thời Pháp để lại dùng bay ra ngoại quốc (không kể những phi cơ quân sự hiện có). Ngày 28-4-1975 Phi công Nguyễn Thành Trung (y thả bom hai lần, lần đầu y thả ở dinh Độc lập bằng F5, y cất cánh từ phi trường Biên Hoà). Lần sau vào chiều 28/04/1975: Một tốp phi cơ Dragonfly A 37 (phi đội Quyết Thắng) do phi công Nguyễn Thành Trung & Nguyễn Văn Lục dẫn đường, ép Trần Văn On & Nguyễn Văn Xanh bay cùng mấy tên “giặc lái” Từ Đề, Mai Vượng, Hán Văn Quang, họ xuất phát từ phi trường Phan Rang bay về thả bom ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Nhiều tiếng nổ long trời lở đất đâu đó vang rền, khói lửa ngùn ngụt bốc cháy, đen nghịt thành phố.

              * Ngày 28-04-1975 – Tổng thống Trần Văn Hương lên nắm chính quyền quốc gia Việt Nam được bảy ngày (7) thì tuyên bố rút lui. Theo yêu cầu của Lưỡng-viện Quốc-hội Việt Nam Cộng-Hoà, cụ Trần Văn Hương sữa “hiến pháp, hiến dâng” chức “tổng thống không dân cử” cho Đại-tướng Dương Văn Minh. Chả hiểu sao cụ Hương tụt lẹ xuống, cho ông tướng Dương Văn Minh trồi lên nắm chính quyền nhanh như chớp!? Việt Nam như quả bóng tròn, khi thì đá dưới gót chân, khi đội đầu, khi quay giò lái đá qua đá lại rồi “sút” bóng lăn xuống vũng bùn. Một chính phủ sắp đến ngày diệt vong rồi hay sao, mà suy tàn đến độ xót xa thảm thiết tột cùng! Làm gì… thì cần ngồi lại thân thiện bên nhau và chia sẻ mọi quyền lực. Cần một lòng trung dũng đoàn kết vì nước vì dân. Thì toàn dân và toàn quân sẽ đứng vững như kiềng ba chân. Miền Nam Việt Nam sẽ không bị sụp đỗ toàn diện đâu. Lúc nầy Tổng thống Dương Văn Minh nói rất hùng hồn: “Không bao giờ đưa miền Nam Việt Nam cho Việt-cộng”.

              * Thứ Ba, Ngày 29-04-1975 – Tổng-thống Dương Văn Minh ra lệnh trục xuất những người Mỹ cuối cùng phải đi ra khỏi đất nước Việt Nam. Chính lúc đó mất thật rồi: Nhơn Trạch. Thành Tuy Hạ. Cát Lái. Cầu Sông Buông. Long Bình. Biên Hoà. Phú Lợi. Lai Khê. Bến Cát. Bình Dương. Tân Uyên. Lái Thiêu. Gò Vấp: Hướng Tây Bắc Đồng Dù. Củ Chi. Hướng Tây Tây Nam Hậu Nghĩa. Tân Túc. Tân Hoà. Phú Lâm. Tin tức mỗi ngày mỗi giờ một xấu hẳn đi. Thế là trong thành phố Sài Gòn vốn dĩ ồn ào náo nhiệt, bon chen sợ hãi, càng tăng thêm nhốn nháo, xôn xao, xớn rớn hãi hùng hơn. Sài Gòn chìm trong biển tình đau thương tràn ngập mịt mùng. Sài Gòn như rắn mất đầu, người người xớn rớn ồn ào như núi lở, như động đất, như triều cường sóng thần vùi dập. Sài Gòn đã mất đi vẽ hào nhoáng thanh lịch sang trọng xa hoa của hòn ngọc viễn đông xưa. Thành phố ấy giờ đây ồn ào náo nhiệt hỗn loạn, bụi bặm và rác rưỡi ụ từng đống to tướng.

              Sài Gòn càng hổn loạn, hoang mang lo sợ bùng lên dữ dội. Nhất là những gia đình giàu sang quyền qúy ở Sài Gòn, cư dân gốc Trung Hoa đã và đang sinh sống ở Chợ Lớn hãi hùng huyên náo loạn cả lên. Thuở xa xưa người Hoa có quốc tịch Anh, được người Pháp (đang cai trị nước Việt Nam lúc bấy giờ), cho phép người Hoa từ Singapore nhập cư vào Việt Nam. Họ giàu xụ! Có tiền rừng bạc bể nên độc chiếm thị trường kinh tế, thương mại sầm uất ở một giang sơn Chợ Lớn!

              Dinh Độc Lập trước kia theo bản vẽ của kiến trúc sư Hermite, là dinh của Thống Đốc Pháp Charles Le Myre De Vilers rất uy quyền, xây cất năm 1875. Nhà văn Jules Boissiere đã nói: “Mounument don’t s’honoreraient avec raison les plus fíeres villes du monde” (Toà nhà ấy mà những thành phố kiêu hãnh nhất trên trái đất, sẽ lấy làm tự hào, thật là rất xác đáng). Dinh Dộc Lập và Sài Gòn đã lừng danh thành Hòn Ngọc Viễn Đông kể từ đó.
              Lúc xưa hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc dội bom đã cháy Dinh Độc Lập, (vào tháng 2 năm l962), làm hư hại dinh. Tổng-Thống Ngô Đình Diệm cho xây lại dinh Độc Lập. Gia đình Ngô Tổng Thống phải dời sang Dinh Gia Long an vị, chờ kiến thiết lại. Bản vẽ Dinh Độc Lập do đồ án của kiến trúc sư đô thị gia Ngô Viết Thụ (đoạt giải Khôi Nguyên La Mã) đảm nhiệm. Theo thiết đồ của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, thì có hai vị Công-binh là: Đại-tá Nguyễn Văn Quý, Đại-tá Điển điều động một đoàn Công-binh Việt Nam xây dựng. Sau đó hoàn tất tốt đẹp.


              Tiền đình dinh Độc Lập có quảng trường Pigneau De Béhaine, có đại lộ rộng thênh thang rợp bóng cây, có tượng Đức Mẹ ngự ở trước công viên Hoà Bình làm bằng đá hoa trắc. Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn kiến trúc theo lối roman và gothic, thế kỷ XII, thánh đường xây gạch trầm màu hồng có chiều dài 93m, rộng 35m, cao kể từ dưới đất lên ngọn tháp 57m, có sáu quả chuông to. Tất cả vật liệu chở từ Pháp qua Việt Nam, ngày 11 - 4 - 1880 là khánh thành.

              Thuở còn Tây cai trị nước ta, con đường có tên là Norodom chạy từ Dinh Độc Lập suốt tới khu Thảo Cầm Viên. Trong đó có Viện Bảo Tàng tên gọi là Blanchard de la Bross, do Pháp xây dựng năm 1929. Ấy thế mà… Hết rồi vẽ sạch sẽ bóng loáng thanh cao rộng rãi trên những phố Catina, đại lộ sang trọng Norodom xa xưa, nào là đường Lê Văn Duyệt. Trần Hưng Đạo. Hai Bà Trưng, Nguyễn Huệ, vân vân… thậm chí cả đường Duy Tân cây dài bóng mát có từng tốp mười tốp hai ba mươi người tụ tập lo lắng, bồn chồn xôn xao, hốc hác, băn khoăn đứng ngồi không yên, kể từ khi phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích.

              * Thứ Tư hắc ám Ngày 30 tháng 4 đen tối năm 1975. Sài Gòn nóng như một hoả lò. Càng ghê rợn hơn, tin từ đài phát thanh Sài Gòn loan báo kể từ giờ phút nầy: Thiết quân luật 24/24. Tình hình thủ đô Sài Gòn từ sáng tinh mơ vắng lặng như tờ, không giống một thành phố chết, là gì!? Cho đến ngày hãi-hùng. Ngày đớn-hèn bi thảm. Ngày tối đen hắc-ám nhất lịch sử Việt Nam. Ngày đánh dấu than trầm-uất, thống-hận:

              - 8 giờ:00 ngày 30-4-1975 - Sáng sớm, Tổng-thống Dương Văn Minh lên Truyền-thanh Truyền-hình ra lệnh buộc các tuyến phòng thủ của Lữ-đoàn Liên-binh Phòng-vệ Phủ Tổng-thống không được nổ súng.
              - 9 giờ:00 ngày 30-4-1975 - Ông Dương Văn Minh đọc diễn văn trên đài Truyền-thanh: Yêu cầu Toà Đại sứ Mỹ và văn phòng tùy viên DAO Hoa Kỳ, phải rời khỏi Việt Nam ngay lập tức.
              - 10 giờ:00 ngày 30-4-1975: Ông Dương Văn Minh leo lên làm Tổng thống được ba ngày! (3), ông liền “mở cửa khẩu” kêu gọi Quân-lực Việt Nam Cộng Hoà: “Ở đâu, hãy giữ nguyên vị trí ở đó”. “Ngưng chiến. Chờ bàn giao chính quyền miền Nam Việt Nam cho lực lượng Mặt Trận Giải Phóng vào chiếm”. “Chuẩn bị giao nạp vũ khí cho đối phương”.

              * Ngày 30 tháng 4 năm 1975 Khi Trịnh Công Sơn hát lui hát tới bài “Nối Vòng Tay Lớn”, không có nhạc đệm trên đài phát thanh Sài Gòn. Không những là ngày uất hận “nối vòng tay tang chế lớn”, mà còn là ngày co giật từng cơn run kinh phong nhăn nhúm rúm ró teo tóp lại. Ôi! Quả đúng là có một phép lạ như điềm dự báo trước kia, khi con chim bồ câu đã đậu trên bàn thờ Đức Mẹ Fatima, ở trên khu vực giáo dân Đà Lạt, nơi thường cung nghinh rước ảnh tượng Đức Mẹ đến từng nóc nhà vào năm 1974. Người ta nói: - “Con chim bồ câu tượng trưng cho sự hoà bình”. Nay “hoà bình” đã đến thật rồi sao?!

              Dinh Độc Lập, vương cung Đức Bà và con đường Norodom độc đáo nầy, ấy vậy mà hôm nay đã do tướng Trần Văn Trà cầm đầu mặt trận Cách-mạng Lâm-thời 75 (!) tại Sài Gòn, cùng đoàn xe molotova rền rú ì ầm chạy đến cổng dinh cổng dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng. Khi ấy đại sứ Pháp tại Việt Nam là Jean Marie Mérilon, còn ở trong toà đại sứ ở trên “đường Thống Nhứt”. Ui chao! Chao ôi! Sụp đỗ toàn diện một chế độ. Bàng hoàng cả một dân tộc Việt Nam. Chiến tranh hai miền Nam Bắc đưa con người bải hoải lết lết tới đường cùng cuối bờ vực sâu. Khi có những chiếc xe tăng ì ầm chạy trên các đại lộ chính, chở đầy bộ đội đầu đội nón cối, chân mang dép râu, cổ quàng khăn lau mặt, thân hình dắt đầy cành cây. Đoàn xe vượt qua cán nát chôn vùi nền Đệ Nhị Cộng Hòa do Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu bôn tẩu lánh cư và do tân Tổng-thống Dương Văn Minh ngồi trên ngai vàng lãnh đạo chỉ có ba ngày!!!

              Quân Bắc Việt được sự hổ trợ tối đa của Nga và Tàu-cộng cung cấp đầy đủ đạn dược, súng ống và xe tăng. Trong khi miền Nam Việt Nam bị Mỹ hứa lèo hứa cuội, rồi trở mặt phản bội, lãnh đạm bỏ rơi. Mỹ từ chối hết thảy, kể cả chính phủ miền Nam chỉ xin chi viện 300 triệu đồng. Cũng không!

              Toàn Quân miền Nam thiếu thốn đủ mọi thứ. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải tự anh hùng oai dũng kiên cường chiến đấu, quyết liệt chống trả đến viên đạn cuối cùng, trong sự cô độc, vô cùng đắng cay chua xót và tuyệt vọng dường bao!!! Những Người Lính dũng cảm ấy chưa hề buông súng bỏ cuộc. Họ không bao giờ phản bội dân tộc và cương quyết ở lại giữ gìn quê hương Việt Nam dấu yêu. Cho đến một *Ngày thứ Tư: 30-04-1975: Họ phải cúi gầm đầu bật khóc; vì buộc lòng phải tuân phục thượng-lệnh. Đời sống ấy phơi bày cuốn phim cay nghiệt, có cảnh-tượng kém thanh-lịch, bóc trần những điều quá thật, làm tan nát đời nhau. Chẳng bao giờ xóa nhòa, tàn phai trong ký-ức mọi người. Tan hoang kinh khủng. Đau đớn tột độ! “Hạnh phúc Hòa Bình” đến, vội-vã chợt đi giật theo tấm áo đơn bạc. Lộ ra quá-khứ trần trụi. Hiện tại đọa-đày, tương lai đen tối mịt mù. Vẫn hay, vô cùng nghẹn ngào cay đắng!!! Bách niên thương hải biến vi tang điền!


              _ * _

              Câu "Bách niên thương hải biến vi tang điền" là câu gồm 8 chữ, không phải là Thơ Đường Luật, có thể là loại Thơ Cổ Phong, nghĩa là thơ Cổ trước khi có Thơ Luật của Đời Đường ra đời. Cổ Phong có thể gồm thơ 3 chữ, 5 chữ, 6 và 8, không theo Luật Thi. Thơ Đường Luật thường gồm Thơ 5 Chữ và Thơ 7 Chữ theo Luật Bằng Trắc và Đối Ngẫu.
              Bốn cuốn sách tham khảo gồm: Tự Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh.

              1. Tự điển Từ, & Ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân.
              2. Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Tự Điển của GS Trịnh Văn Thanh.
              3. Nguyễn Du Toàn Tập Quyển 1 Thơ Quốc Âm Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang.
              4. Theo cuốn Tự Điển Truyện Kiều (trang 68) & cuốn Tự Điển Từ & Ngữ VN (trang 1797) thì đa phần giống nhau trong sự giải thích: "Thương hải biến vi tang điền, mà viết tắt là 'Thương hải tang điền" nghĩa đen là "Biển xanh biến thành ruộng dâu", nghĩa bóng là những cuộc thay đổi lớn lao. Nhưng không ghi xuất xứ điển này từ đâu ra.

              *5.- Theo cuốn Nguyễn Du Toàn Tập Quyển 1 Thơ quốc Âm Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang thì điển Thương Hải Tang Điền, xuất xứ từ Thần Tiên Truyện vào thời Đông Hán. Tiên nhân Vương Phương Bình xưa đỗ Hiếu Liêm, làm quan chức Trung Tán Đại Phu, rồi bỏ quan đi tu tiên đắc đạo, giáng xuống nhà Thái Kinh (người đời Hậu Hán), cho mời tiên nữ Ma Cô đến. Ma Cô bảo Phương Bình rằng: "Tiếp thị dĩ lai, dĩ kiến Đông Hải tam vi tang điền." Nghĩa là: "Từ khi được tiếp hầu ông đến nay, tôi thấy bể Đông đã ba lần biến thành ruộng dâu."

              6.- Cuốn Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Tự Điển của Trịnh Văn Thanh nói giống như cuốn Thơ Quốc Âm Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang, nhưng đơn giản hơn một chút. (*)

              (*) nguồn Wikipedia, & sưu tầm đó đây:

              Tình Hoài Hương
              Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 03:47 AM.
              Bút trần nào tả được lưu luyến!
              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
              Tình Hoài Hương

              Comment

              • Tinh Hoai Huong
                Senior Member
                • May 2009
                • 1081

                #52
                Chuyện Kinh Khủng: Từ Chiếc F 5 Rớt tại Hồ Xuân Hương Đà Lạt



                Chuyện Kinh Khủng: Từ Chiếc F 5 Rớt tại Hồ Xuân Hương Đà Lạt
                Tình Hoài Hương
                ***




                Từng cuộn mây trắng bồng bềnh trôi trôi, mây như đoàn thuyền con nhấp nhô trên sóng nước đang quỳ gối in bóng xuống mặt hồ Xuân Hương phớt xanh. Sương phơi phới rải rác đó đây nhã từng cụm dày là đà bay bay, như cô thiếu nữ xuân-thì khoát tấm áo lụa mỏng manh. Đôi khi mây chuyển thành màu ngà, trở qua màu hồng thắm pha ngai ngái vàng, rồi ánh bạc lấp lánh từng dãi dài. Mi Mi đang ngẩn ngơ nhìn từng cụm mây giống như bà tiên xõa tóc huyễn hoặc đứng trên đồi tuyết vào cuối tháng hai năm 1974.

                Bỗng nhiên có một tiếng nổ gầm rú to kinh khủng ngân rền, như những nhịp sấm, làm rúng động, quặn thắt cả bầu trời trong xanh và cao mênh mông. Giây lát sau kèm theo một tiếng nổ long trời lở đất vang đinh tai nhức óc. Mi Mi tưởng chừng như núi Lâm Viên đã sụp đổ (hay vũ trụ tận diệt vào ngày tận thế). Đúng lúc ấy, những tiếng xì xì… xẹt xẹt… vút vút… bay trên đồi Cù (đối diện với nhà nàng), kèm một tiếng nổ phụ khác to to rền rền không kém tiếng nổ ban đầu. Mấy cửa kính, cửa sổ, đồ đạc bằng thủy tinh trong nhà tự động nhảy xuống đất, bể loảng xoảng. Gió lùa vào khung cửa bể khiến mùng màn trong nhà Mi lồng lộng bay phất phới.

                Mi giật nẩy mình, hai tay đang bưng thau nước để tắm cho bé Hoàng đã rơi xuống đất, nước văng tung toé lênh láng trên nền gạch, văng ướt hết quần áo Mi. Chú bé hai tháng tuổi đang ngủ vùi khóc thét lên. Mi vội chạy đến ôm chầm lấy con trai. Mọi người trên phố đều nhốn nháo, thất thanh hốt hoảng, họ la hét tướng lên rõ to, gọi nhau không dứt, ơi ới kêu rống, giống như con heo, con bò trong ba toa bị chọc huyết.

                Chỉ non mươi lăm phút sau, Mi nghe nhiều tiếng còi xe cứu thương hú inh ỏi, vang dội mấy góc phố. Phút chốc người nhà đi chợ về báo tin:
                - Có một chiếc máy bay rớt ở ngoài hồ Xuân Hương. Mọi nẽo đường bị chận đứng hết.
                Thôi chết rồi. Bây giờ là lúc tan trường, các con phải đi bộ về ngang qua cầu Ông Đạo. Làm sao đây hở Trời? Vô cùng lo lắng, ruột gan nóng như lửa đốt, Mi quá lo sợ run lập cập, nàng vội vàng trao con út cho mẹ chồng, nhờ me trông coi. Mi thay bộ đồ ướt, mặc thêm hai áo lạnh, Mi Mi run rẩy lần từng bước thấp bước cao, khi chạy khi đi, miệng nàng không ngớt lâm râm đọc kinh cầu nguyện. Từ nhà Mi đi bộ đến bờ hồ đến nhà hàng Thanh Thủy chỉ mất năm phút.

                Vừa vòng ra đầu ngỏ đường Cộng Hoà và Võ Tánh, gần khu toà tổng Giám-mục, thì Mi đã thấy hàng hàng lớp lớp người và người, đông nghìn nghịt. Kẽ la người hét, họ chạy lui chạy tới lố nhố; ồn ào hơn vỡ chợ. Tất cả mọi con đường đều bị niêm phong bởi nhiều vòng kẽm gai. Quân-cảnh, Cảnh-sát Dã-chiến, Biệt-đội phòng vệ tay bồng súng, miệng luôn thổi còi báo động. Họ giải tán mọi người đang tò mò muốn đến gần ven hồ Xuân Hương, để nhìn cho tỏ tường.

                Hình như mọi biện pháp an ninh đề phòng, đều không thể ngăn chặn được làn sóng người hiếu kỳ, mỗi lúc một kéo dồn về khu vực bị tai nạn, đông hết sức đông. Tất cả xe đạp, xe gắn máy, xe lam, xe ngựa, xe hơi, đều bị cấm vào khu vực cầu ông Đạo là nơi lâm nạn. Thế nên người đi coi cứ đứng ù lì ra không thể nhúc nhích cục cựa. Mặc kệ! Ai muốn la khàn cổ, cứ la. Ai muốn chửi cứ chửi. Người ta vẫn ùn ùn xô đẩy nhau chạy đi xem, càng lúc càng đông nghịt. Coi như điếc không sợ súng, cứ chen lấn xô đẩy nhau mà coi… "cho đã".

                Mi run như cầy sấy, lo sợ tột đỉnh cố chen vai thích cánh với những người đi bộ san sát nhau. Bên kia dốc đường Lê Đại Hành đã bị xe cảnh sát chận ngang, họ không cho dân vào thành phố, hay vào khu phố chợ hoặc đi lên phố. Nội bất xuất, ngoại bất nhập rồi. Mi khiếp đảm, kinh hoàng, rụng rời bãi hoãi thân thể, đứng chôn chân xuống đất nhìn mặt hồ Xuân Hương tù hãm. Nước mắt cứ trào ra, mặc dù nàng không chủ định khóc. Mi Mi đứng thừ người nhìn xuống hồ Xuân Hương dường như muốn điên. Úi trời đất qủi thần ơi! Một cảnh tượng vô cùng hãi hùng đã phơi bày ra trước mắt: Mặt hồ thường ngày trong xanh dường bao, ta có thể soi rõ bóng mình dưới làn nước xanh biếc im sóng.

                Thế mà nay hồ trở thành một đầm lầy, bầy nhầy đất bùn sền sệt, sủi bọt bong bóng lăn tăn to, nhỏ, đủ kiểu, nhiều vô số bong bóng cứ đứng yên một chỗ không bể tan. Dầu nhớt, xăng máy bay lênh láng, khói đen vần vũ trên mặt hồ, mặt nước bầy nhầy từng miếng thịt vụn, thịt mỡ, từng khúc ruột trắng lòng thòng, thịt tươi dính rong rêu, bùn đất, từng cánh tay, lóng chân, giày, dép, mũ, nón, đủ thứ, vân vân… và vân vân… loạn xà ngầu, đang tròng trành lờ đờ trôi đi, trôi lại trên mặt hồ sùi sụt sủi tăm.

                Ngay chính giữa hồ, nửa cánh bay trái của chiếc phi cơ F 5 lâm nạn chĩa thẳng lên trời, thân phi cơ nhấp nhô khỏi mặt nước đen ngòm, đuôi phi cơ chổng kềnh nhô cao lên khỏi mặt hồ (một phần cổ phi cơ đã cắm phập xuống đáy hồ, không hiểu sao cái phần đầu phi cơ lại bức thân mà bay vụt lên phía sân Cù, cắm phập xuống đất? Mi không thể nào hiểu nỗi tại sao??? Đó là nguyên nhân mà Mi đã nghe có tiếng nổ phụ lần thứ nhì lúc mười giờ sáng (liền sau khi nghe tiếng nổ to kinh khủng đầu tiên). Ngẫm nghĩ thì hết sức may mắn! Chứ nếu nguyên cả chiếc phi cơ, hoặc chỉ một cái đầu của phi cơ thôi, mà vô phúc rơi đúng vào khu vực phố Hoà Bình, hay rơi vào khu chợ mới, thì coi như người dân chết vô số kể! Xin cám ơn Thượng Đế vô ngần.

                Xe cứu thương vẫn hú còi inh ỏi, tới tấp chạy bán sống lên bệnh viện Đà Lạt, hay chạy vào hướng trường Võ Bị Đà Lạt, lo cấp cứu thương nhân. Trong chớp nhoáng Ty Thông Tin Đà Lạt làm loa phóng thanh dã chiến đã móc tạm trên mấy cột điện, tiếp tay với Cảnh-sát, Biệt-đội phòng-vệ Tỉnh Thị-xã giữ gìn an ninh trật tự. Đồng thời, họ luôn kêu gào đồng bào hãy tản mác ra, ai về nhà nấy, hay có ai đã chứng kiến từ đầu các sự kiện xảy ra, hoặc muốn tìm thân nhân; lạc người thân, thì hãy đến ở sân bến xe đi các Tỉnh (có trạm văn phòng cứu nguy đặt tạm ngay ở cây xăng Shell, gần đầu hồi mấy dãy nhà ấp Ánh Sáng) ngỏ hầu khai báo hoặc tường trình các sự kiện.
                Trên trời, bây giờ có chiếc bà già, L-19, luôn bay lượn vòng vòng. Một chiếc trực thăng đã hạ cánh xuống đồi Cù, khu vực nầy hoàn toàn bị cô lập. Mấy phi công Mỹ đang lúi húi tháo những cục bạch kim. Hồi sáng, cánh quạt của chiếc F 5 bị nạn, quay tít, đã chém chết một em bé chăn bò, và mấy con bò gặm cỏ trên đồi Cù. May quá, hôm nay là ngày thường nên không có những cặp tình ngồi rù rì hú hí dưới gốc thông trên sân Cù. Cám ơn Trời!

                Ba dãy nhà bên ấp Ánh Sáng có nhiều mái tôn bị lột sạch mái, bay đi tứ tung tá lả. Căn nhà nào còn, thì mái tôn cũng cháy đen, bị cuốn cong lại. Ôi thật hãi hùng. Nặng nề nhất là dãy nhà thứ ba ở ven suối, đa số gia đình ấy còn làm nhà bằng gỗ, lợp mái tôn thiết, là bị cuốn sạch, hư hại, sụp đổ khá nhiều. Vì dãy nhà thứ ba nầy, nằm dưới sức ép, và sức nóng của đường bay khi phi cơ xẹt vút qua trên mái. Có những mái nhà, vách ván, giống như miếng bánh tráng bị nướng phồng rộp lổm chổm, cháy đen. Những hàng cột cháy trụi, nhà bị sập, hay còn lại bức tường vách chông chênh. Trông thật ngao ngán.


                Trở về nàng Mi Mi xem phi cơ rớt đã đời xong, mới sực nhớ tới chú con trai đầu lòng là bé Dzũng đang học giáo lý ở bên nhà thờ chính toà (mà cư dân địa phương, thường gọi nhà thờ “con gà”). Mi cố chen lấn, len lỏi, lùi ra xa. Vất vã lắm Mi mới tìm lối thoát ra được vòng người ngoài cùng, ở gần toà nhà tổng giám mục. Thế là, nàng đâm đầu chạy một mạch về phía đường Cộng Hoà, Võ Tánh, Phan Bội Châu, phố Hòa Bình vắng như chùa bà Đanh. Mi chạy ngược trên đường đến rạp ciné Ngọc Lan. Nàng không nhớ là mình có tiền trong túi để nhảy lên xe lam, hay ngồi xe taxi đi đón con cho lẹ. Nàng cứ cắm đầu, cắm cổ mà chạy một mạch xuống đường Cường Để. Chạy lên dốc Bà Triệu, lại chạy trên đại lộ Yersin, chạy tới nhà thờ. Hai chân bắt đầu run, Mi ngồi phịch xuống trên bờ cổng đá của nhà thờ, thở hổn hển. Khi bớt mệt, Mi vô sân nhà thờ vắng lặng. Chưa thấy các em học sinh. Mi không thấy con trai, nàng lo lắng dáo dác nhìn quanh, thì cha phụ trách lớp giáo lý từ vòm hội quán đi ra báo tin lành:
                - Bình yên cả. Lẽ ra, cha cho lớp về đúng giờ. Nhưng không hiểu sao hôm nay cha cho các em về chậm mất một giờ. Nên thoát nạn. Cha đã cho các học sinh em nào cư ngụ ở ngoài phố, thì đi tắt về lối Lục Lộ, để qua cầu Bá Hộ Chúc, mà lên phố rồi.

                Mi cám ơn cha. Vô cùng tạ ơn Chúa! Lòng khấp khởi vui mừng ngẩn ngơ. Cha phụ trách đã bỏ đi lúc nào không rõ. Mi vội chạy trở lại đường cũ, trở về nhà. Lúc nầy nàng mệt kinh khủng! Khắc khoải lo sợ và chạy bộ cả buổi như thế. Do vừa sanh con mới non hai tháng, nên hai chân run rẩy, dường như Mi Mi choáng váng muốn nghẹt thở, hụt hơi, muốn lả đi, tim đập thình thịch. Buộc lòng nàng phải đi từng bước ngắn, có khi Mi ngồi bừa lên lề đường, thở hổn hển, mà nghỉ mệt thật lâu.

                Thế rồi, cũng cố gắng lê từng bước về tới nhà, Mi thấy bé Dzũng đang ngồi trên giường con toe toét cười, con kể lại chuyện đi về nhà cho bà nội, và mấy đứa em (của con) nghe:
                - Học và tập dợt xong. Đáng lẽ là cháu về rồi. Nhưng cha phụ trách gọi các cháu ở lại, cho tụi cháu ăn bánh ngọt. May quá! Nếu cha không kêu tụi cháu ở lại, thì đúng lúc đó, là cháu đã đi về tới ngang cầu ông Đạo rồi.
                Mi mừng rỡ đến ứa nước mắt, dịu dàng hỏi con trai:
                - Sao con về nhà được?
                - Dạ, tụi con đang đứng ngoài sân nhà thờ, thì thấy trên trời có những đám khói mù mịt, toả xịt từ trên trời xuống, lửa đỏ rực, kéo dài từ hướng Cam Ly. Có cả tiếng động, tiếng kêu rất điếc tai. Cha biểu tụi con lủi chạy vô núp dưới hầm nhà thờ, nằm xuống nền nhà ngay. Nhưng tụi con chỉ kịp chạy vô tới ngang cửa hông, là nghe mấy tiếng nổ to lắm. Nhà thờ rung rinh quá sá. Nằm một hồi lâu, không thấy gì nữa. Cha cho chúng con đi về nhà ngay.
                - Mọi người đều bị cấm không đi qua cầu ông Đạo mà.
                - Dạ phải. Con chạy xuống dốc nhà thờ, nhưng bị xe cảnh sát chận lại không cho đi. Người ta đứng coi ở trên phố, bên chợ, đông lắm. Con khóc rống lên vì sợ quá. Cuối cùng con tụt xuống đường Phạm Ngũ Lão, chạy qua cầu Bá hộ Chúc, con lên chỗ rạp ciné Ngọc Lan, mà về nhà.
                Bé Tuấn mới bảy tuổi, cũng góp chuyện:
                - Con ngồi viết bài trong lớp (trường Đoàn Thị Điểm). Nghe tiếng động điếc tai, nổ to lắm. Trong lớp rớt cái la phông và cái bảng đen. Bụi đất, gạch cát, bay rào rào trên đầu. Thầy Tu nói tụi con chui xuống gầm bàn, nằm úp mặt xuống đất, hai tay bưng lấy đầu. Nằm lâu lắm. Thầy đi đâu đó, rồi thầy trở vô lớp cho tụi con về nhà. Thầy nói bị rớt máy bay ở bờ hồ. Thầy cấm, không cho tụi con đi xuống chỗ cầu ông Đạo. Tụi con chạy xuống đứng ở trên sân của rạp ciné Ngọc Lan coi. Đông lắm. Đồng thời, lúc đó Thứ chân thấp chân cao, chạy về ở ngoài sân, chàng thở hổn hển, đã hỏi dồn dập:
                - Em ơi! Các con về nhà chưa?
                Mi quá mệt, không thốt nên lời, chỉ nhìn Thứ gật gật đầu.
                Dzũng, con trai lớn nhanh nhẹn đáp lời ba, (thay cho mẹ):
                - Dạ! Các con về nhà hết cả rồi. Ba yên tâm.

                Đông đủ cả nhà mừng rỡ vô cùng. Không ngờ các con biết tìm lối về, khôn ngoan đến thế! Vậy mà, Mi quá lo lắng, run sợ các con có bề gì... Hay bị kẹp cứng giữa làn sóng người đông đúc. Các con chỉ mới chín tuổi, bảy tuổi đầu, nếu không bị kẹp cứng trong đám đông người hơn kiến, thì con sẽ bị nghẹt thở, bị người ta to lớn dềnh dàng, xô đẩy, dẫm đạp lên đầu lên cổ, tất bẹp dúm ra! Thì chết là cái chắc. Tạ ơn Chúa!
                ***

                Xế trưa đã có tin ban đầu cho hay: Người bị nạn ở trên dọc hai bên bờ hồ, trên cầu Ông Đạo… là do bị sức gió của phi cơ F 5 thần tốc ào ào cuốn mạnh, nên đã hút họ và quăng họ xuống hồ mất tiêu: Trong đó hai người da trắng ngoại quốc. Hai ba cặp trai gái ngồi tâm tình bên gốc cây bách tùng. Sáu người bán dạo: Cà rem, kẹo kéo, bánh bò, khô mực, hột vịt lộn, vé số Kiến-thiết Quốc-gia. Ba bốn người ngồi câu cá rải rác ven mé hồ, gần nhà hàng Thanh Thủy. Những người đi tản bộ, hay người ngồi xe lam, đi honda, xe đạp trên cầu Ông Đạo, ai đi ở chung quanh khu vực hồ, thì Ty Thông Tin chưa thể kiểm chứng được. Một vài nguồn tin không hiểu có chính xác chăng, loan báo về thân phận chiếc phi cơ như thế nầy:

                Tin thứ nhất: Anh phi công lái phi cơ F 5 từ Sài Gòn lên vùng Cao Nguyên làm nhiệm vụ. Sau khi xong việc, phi cơ bị trục trặc kỹ thuật sao đó, không thể quay về Sài Gòn ngay, nên chẳng may phi cơ lao rất nhanh từ hướng phi trường Cam Ly, vụt đâm đầu xuống hồ Xuân Hương?!

                Tin thứ nhì: Một sĩ quan pilot Việt Nam tên Toàn, có hôn thê ở ngay ấp Ánh Sáng, còn độ tháng nữa là họ làm đám cưới. Anh ta đi làm nhiệm vụ trên vùng cao nguyên xong, đã ghé qua vùng trời nầy, anh bay lượn mấy vòng tại “khu nhà em” để dợt le… Chẳng may anh bay khá thấp, đà lướt quá trớn, nên phi cơ sa sầm đâm đầu xuống đất? Thật là huyền thoại hoang đường, mộng ảo, ba xàm ba láp, xạo xự, điên rồ không tưởng! Bố ai mà tin cho nỗi! Theo Mi thiển nghĩ: Tất nhiên anh là phi công lái loại F 5 là người từng am tường thiên thời địa lợi, giàu kinh nghiệm, nếu anh bay quá thấp, sức hút của trái đất sẽ kéo giật phi cơ hụp mạnh xuống. Anh ta không thể kềm chiếc phi cơ F 5 (đã trở thành nặng nề kinh khủng), để phi cơ có thể nhẹ nhàng tự vút bay bổng lên cao (giống như chiếc trực thăng uyển chuyển tự dựng đứng bốc lên cao). Nếu anh phi công F 5 tống ga, thì sức quay của cánh quạt tạo ra lực đẩy rất mạnh, anh ta không thể kéo phi cơ trở lại bình phi tối thiểu ở 200 bộ (tốc độ kinh hoàng của F 5), trong một khoảng không gian quá thấp, quá nhanh, lại vừa hạn hẹp đến thế. (!?)

                Cô bạn của Mi nhà ở dãy nhà thứ nhất của Ấp Ánh Sáng đã kể:
                - Lúc đó, tôi đang phơi quần áo trước sân nhà, bỗng nghe những tiếng động vô cùng điếc tai, ào ào, cuồn cuộn gầm rú. Rồi một sức nóng kinh khủng, nóng tột độ từ trên trời phủ chụp xuống đầu, rất nhanh. Kèm theo những đường khối lửa đỏ lòm, và khói đen nghịt chạy dài dài từ hướng Cam Ly về. Theo đà lướt rất sát của phi cơ, tôi bị xô chúi nhủi, nằm sấp, đập mặt xuống nền xi măng. Tôi cứ tưởng trời long đất lở. Tôi bị tức ngực, điếc tai, đau đầu ghê lắm.


                Bên kia lối Thuỷ Tạ có một chiếc trực thăng vừa đáp xuống bãi cỏ. Họ thả mấy người nhái ra, đồng thời xe GMC kéo mấy chiếc thuyền con tới. Cuộc tập trung mò kiếm chớp nhoáng bắt đầu. Hầu như tất cả người dân dự-kiến đều ngồi xếp lớp chung quanh vòng bờ hồ đen nghịt. Mặt mày ai nấy đều tái xanh tái xám, bất động, và tỏ lộ nét lo sợ tột cùng. Mấy “ngư ông” bắt đầu chèo thuyền đi thật nhẹ, chậm chạp, họ chèo bằng mái chèo gỗ. Mi nghĩ họ không dùng thuyền máy, vì sợ máy nổ sẽ khua động sóng to, họ không vớt được những miếng thịt rữa nát ra chăng? Bốn anh thợ lặn đủ đồ nghề đeo đựng đầy người, đã nhảy ùm xuống hồ nước lạnh giá và hôi thối đất bùn. “Ngư thuyền” cầm cái vợt lưới to rộng vành, có cây sắt khá dài. Một người khoan thai khua mái chèo, một người cầm cây vợt lưới tìm vớt những miếng thịt vụn, những khúc ruột, những lóng tay, lóng chân, vân vân...

                Đứng trên bờ, người ta có thể nhìn thấy những miếng thịt vụn trôi đi trôi về, trôi vòng vòng loanh quanh, thịt dính từng chùm cỏ, bèo, lục bình bồng bềnh trên mặt nước ao tù. Lập tức, người đứng ở bờ hồ nầy la hét chỉ chỏ cho người bên kia bờ xem, rồi họ đồng loạt bụm hai tay vào miệng, làm loa kêu to, ngoắt, vẫy tay lia lịa, cho bác “ngư thuyền” thấy, mà bơi đến “vớt cái xác vụn” tẻo teo kia lên. Họ “lượm được” thứ gì của “cố nhân”, thì họ liền bỏ vào bọc ni lông, đựng trong mấy chiếc thau nhôm to. Rồi họ từ từ chèo thuyền vào mé bờ hồ, (phía bên gần nhà hàng Thanh Thủy). Trong khi đó, những thân nhân của người lâm nạn, nằm vật vã trên các gốc bách tùng, các bãi cỏ, họ gào khóc thảm thiết vô cùng. Họ chẳng cần biết những cái bọc ni lông đó là thịt xương bầy nhầy của bà con thân nhân của họ, hay của ai!? Cứ thế, họ ôm những bọc ny lông kia, vật vã dữ dội gào khóc rất buồn thảm.

                Ngay tức khắc, xe thông tin bắt loa phóng thanh chạy cùng khắp đọc thông báo: ông Tỉnh Thị Trưởng Đà Lạt ra lệnh cấm:
                - Người dân không được dùng nước máy ở khu vực hồ Xuân Hương. Nhà máy nầy phải đóng cửa. Thì, nhà máy nước ở Suối Vàng và hồ Than Thở, sẽ cung cấp nước cho toàn dân thành phố Đà Lạt.
                - Thưa ông Tỉnh Thị Trưởng ơi! Thấy cảnh tang thương, rùng rợn kinh khủng kia, người dân Đà Lạt hiền lành đã sợ mất hồn mất vía, kinh thiên động địa hồn xiêu phách tán. Họ không lăn đùng ra dãy đành đạch mà chết bất đắc kỳ tử, là may thì thôi. Có mô dám ăn uống cái thứ nước bùn sền sệt, hôi tanh pha lẫn thịt thà, máu huyết không thể chịu nỗi chớ!
                * * *

                Tai nạn thương tâm đó đã xảy ra hơn một tuần rồi. Ấy thế mà mặt hồ luôn luôn sôi bọt bong bóng. Bọt bong bóng cứ hết bể bụp cái nầy, lại nổi lên đợt bong bóng khác, sủi bóng sì sụt hoài. Lúc nầy người hiếu kỳ đến xem, thưa thớt dần dần. Họ chỉ tập trung vào mỗi buổi chiều nhàn hạ, khi mặt trời chưa gác núi. Riêng Mi dạy học mỗi ngày đều dẫn hai con trai đi ngang qua bờ hồ, qua cầu ông Đạo để tới trường. Chung quanh khu vực nầy bắt đầu có mùi hôi tanh thoảng lại, rất khó chịu. Mi luôn chứng kiến những cảnh thật đau lòng, thương tâm vô cùng, không thể nào cầm lòng mà âm thầm rơi lệ.

                Mi thấy những thân nhân (của người bị nạn) họ cùng nhau tụ họp lại ở ngay góc bờ hồ, phía bên lối đầu cầu Ông Đạo vào chợ (mấy bồn cây Tùng, gần quán Hạnh Tâm). Họ mở đàn để cúng cầu siêu suốt tuần. Họ đặt những hàng quách dài, mỗi quách độ vài ba tấc, quách để dưới thảm cỏ, sát ven bờ hồ. Từ trong quách nho nhỏ ấy, họ đắp tạm bậc cấp bằng đất, trên mỗi bậc cấp trải những tấm vải trắng dài thật dài (thành con đường từ ven hồ nước nối liền với những cái quách. Con đường trắng nầy tạo thành chiếc cầu giao cảm linh thiêng, ngỏ hầu chiêu hồn kêu gọi những vong linh vô quách an nghỉ). Thầy cúng đến lập bàn thờ cúng vái suốt mười ngày đêm, khói hương nhang trầm nghi ngút. Thân nhân khóc than não nuột. Tiếng khóc than rên siết không lúc nào ngưng bay lên trời cao. Thảm thiết lắm. Đau đớn lắm! Không ngày nào đi ngang qua khu vực cầu ông Đạo, Mi không khỏi bùi ngùi cảm động dù không muốn vẫn vô tình nhỏ nước mắt, khóc sưng đỏ hai con mắt xót thương người dưng.


                Sau mười ngày tụng niệm, một buổi sáng tinh sương Mi chứng kiến họ cuốn mười chín tấm khăn vải trắng kia, họ cuốn từng cái, từng cái, cuốn vải từ từ... trước tiên họ cuốn tròn tấm vải ở dưới nước lên ven bờ hồ, để đó, thầy tu cúng xong, hai chú tiểu tiếp tục cuốn từng tấm vải, cuốn vải rất chậm rãi, từ từ, dần dần tới cái quách. Cuốn tấm vải của cái quách nào xong, thì họ bỏ hẳn tấm khăn vải trắng ấy vào trong quách đó, chỉnh tề, ngay ngắn, nghiêm trang. Mỗi lần cuốn cổ quách nào, thì có hai thầy cúng đứng hai bên tụng kinh (do hai chú tiểu cuốn tấm vải). Thân nhân bò lết dưới đất vật vã, khóc rống lên. Thảm thiết vô cùng. Sau hết, thầy cúng cho người đóng kín cổ quách lại. Chở đi. Mặc dù người ta đi xem cuộc chiêu hồn, đông vô số kể, nhưng mọi người im lặng cúi đầu quệt nước mắt xót thương. Đó là chút tình “tứ hải giai huynh đệ. Máu chảy ruột mềm. Thương người như thể thương thân. Bầu ơi! Thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn”! Là vậy.

                Mặt hồ Xuân Hương suốt mấy tháng qua vẫn sủi tăm, bồng bềnh những bèo bọt bong bóng nhớp nhúa. Bùn đất tráng lên mặt nước đen ngòm rờn rợn. Luôn thoảng mùi hôi thối tanh um thúi kỳ lạ. Dầu, mỡ, xăng nhớt, cứ đọng lại từng khóm, ánh lên từng vệt loang dưới mặt trời đỏ chói. Không có cách gì tẩy uế hết. Thật ngao ngán quá chừng. Dù mỗi ngày, chuyên viên tháo gỡ phi cơ lặn xuống hồ tìm kiếm... đôi khi họ tha xương cốt thịt thúi lên từng ít một.

                Cuối cùng trước mùa mưa, ông giám đốc nhà máy thủy điện phải mở những ngăn cửa đập ở dưới chân cầu ông Đạo, xổ hết nước trong hồ Xuân Hương, cho nước chảy qua cầu Bá hộ Chúc. Con suối nhỏ uốn lượn chảy vào men đường phố Cường Để, rồi chảy vào thác cam Ly, lẫn khuất trong rừng sâu. Hồ Xuân Hương đã lồ lộ ra chiếc phi cơ méo mó nhăn nhúm như trái táo khô, cụt lủn, mất đầu mất đuôi, chỉ còn giơ ra bộ sườn trông vô cùng dị hợm khó coi! Vô duyên xấu xí hết chỗ nói. Lòng hồ Xuân Hương trơ trẽn sâu sâu hắc ám phơi ra giữa lộ thiên, giơ đầy sự bẩn thỉu lên trời. Đáy hồ lổm chổm những đụn rác rưởi ô tạp. Cỏ lác, cỏ năn, quyện chặt với xe đạp, vỏ xe hơi, xe Honda. Rải rác xác xương súc vật. Tôm búng mình, nhảy tưng tưng trên mặt bùn sền sệt. Ếch, nhái, cóc, lươn, cá lóc, cá trê, cá lớn cá bé phóng mình giãy giụa, đập đuôi bành bạch lủi thật nhanh trong sình lầy đặc quánh.


                Dạo trước, ai ai cũng thấy bề mặt của hồ Xuân Hương duyên dáng, thơ mộng, tuyệt diễm, quyến rũ, tràn lan thi vị là thế. Không ai trông thấy bề sâu của lòng hồ. Nay, lòng hồ Xuân Hương đã khác hẳn cách nhìn... Và Mi Mi nữa, nàng thường tư lự ngước mắt lên không trung: để ươm mộng vàng dõi mắt qua vạn sơn lâm, tìm bóng chim bằng rong nghìn núi, hoặc toả rung ngàn nốt nhạc mơ về dáng phi công nào… ở phương trời xa xôi lắm (!!!)
                Đời phi công dọc ngang vượt ngàn non.
                Từ đại dương bay qua vạn lâm sơn.
                Giữa sáng nắng khuya chiều bồng bềnh trôi.
                Tự hào đó muôn đời tôi ước muốn…

                Ươm mộng vàng mây cuốn giữa non sông.
                Thiều quang cánh chim bằng rong nghìn núi.
                Đêm chập chờn thao thức vùi trăng vỗ.
                Ngày tha phương cánh bạc tô vuông đời.

                Bầu trời tròn hoài mong đợi trong tôi.
                Từ thinh không anh nhìn đời bát ngát.
                Tự do ấy toả rung ngàn nốt nhạc.
                Mộng hải hồ hằng khao khát thế nhân.

                Dưới chân mây tôi nhìn lên vạt nắng
                Vờn trong gió mà mơ chuyện song hành.
                Bỗng hoá thân anh tan vào vòng xoay.
                Phiêu lãng về đâu tầm tay tang biến?

                Anh: con nước lặng trôi về miên viễn
                trên dãi ngân hà. Tôi nào giữ được.
                Dẫu lãng du tình lả lướt lưng trời.
                Biết bao giờ ta ôm trọn giòng trôi!?
                (*)
                * * *

                (*) Thơ Tình HOÀI HƯƠNG
                (**) Những ảnh trong bài viết THH do sưu tầm lượm lặt đó đây. Xin mạn phép chân thành cám ơn qúy vị nhiếp ảnh gia (đã post hình phong phú lên internet) để độc giả thưởng thức.
                Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 03:49 AM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment

                • Tinh Hoai Huong
                  Senior Member
                  • May 2009
                  • 1081

                  #53
                  Trọng kính thưa quý Đại-Sư-Huynh Không-Quân thân mến


                  Trọng kính thưa quý Đại-Sư-Huynh Không-Quân thân mến,




                  Bài viết: CHUYỆN KINH KHỦNG: Từ Chiếc F 5 Rớt tại hồ Xuân Hương Đà Lạt.
                  Dạ thưa, đó là một câu chuyện hoàn toàn có thật 100%, tác giả Tình Hoài Hương không hề biết thêu dệt, thêm bớt, hoặc hư cấu chút xí nào! Một sự thật xảy ra quá thương tâm và kinh hoàng tột độ, thế nhưng ngày ấy (từ khoảng cuối tháng Ba hay đầu tháng Tư năm 1974 - cho đến trước năm 1975, - và bây giờ); hầu như trên báo chí ít có ai gợi lại… hoặc nhắc nhở gì!
                  Phần (thị-dân cư ngụ tại Đà Lạt nói chung), và tác giả (nói riêng) vô tình chứng kiến và chứng nhân trong sự kiện lịch sử nầy, thỉnh thoảng khi tháng Tư về, tôi vẫn băn khoăn thắc mắc không thể biết được nguyên nhân cuả dữ kiện: tại sao chiếc phi cơ F 5 lại bị rớt như thế! Bởi do có những nguồn tin hoặc giả thiết ghi sau:
                  1*.- Tin thứ nhất: (giả thiết) Anh phi công lái phi cơ F 5 từ Sài Gòn lên vùng cao nguyên làm nhiệm vụ. Sau khi xong việc, phi cơ bị trục trặc kỹ thuật sao đó, không thể quay về Sài Gòn ngay, nên chẳng may phi cơ lao rất nhanh từ hướng phi trường Cam Ly, vụt đâm đầu xuống hồ Xuân Hương?!
                  2* .- Tin thứ nhì: (già thiết) Một sĩ quan pilot Việt Nam tên Toàn, có hôn thê ở ngay ấp Ánh Sáng, còn độ tháng nữa là họ làm đám cưới. Anh ta đi làm nhiệm vụ trên vùng cao nguyên xong, đã ghé qua vùng trời nầy, anh bay lượn mấy vòng tại “khu nhà em” để dợt le… Chẳng may anh bay khá thấp, đà lướt quá trớn, nên phi cơ sa sầm đâm đầu xuống đất?
                  3*.- Thật là huyền thoại hoang đường, mộng ảo, ba xàm ba láp, xạo xự, điên rồ không tưởng! Bố ai mà tin cho nỗi! Theo Mi thiển nghĩ: Tất nhiên anh là phi công đã bay tới loại F 5 thì thuộc về hạng "cừ khôi" từng am tường thiên thời địa lợi, giàu kinh nghiệm, nếu anh bay quá thấp, sức hút của trái đất sẽ kéo giật phi cơ hụp mạnh xuống. Anh ta không thể kềm chiếc phi cơ F 5 (đã trở thành nặng nề kinh khủng), để phi cơ có thể nhẹ nhàng tự vút bay bổng lên cao (giống như chiếc trực thăng uyển chuyển tự dựng đứng bốc lên cao). Nếu anh phi công F 5 tống ga, thì sức quay của cánh quạt tạo ra lực đẩy rất mạnh, anh ta không thể kéo phi cơ trở lại bình phi tối thiểu ở 200 bộ (tốc độ kinh hoàng của F 5), trong một khoảng không gian quá thấp, quá nhanh, lại vừa hạn hẹp đến thế. (!?)

                  Riêng về tác giả chỉ tin phi cơ F 5 lâm nạn, do bị trục trặc kỹ thuật, nên đã có sự kiện quá đỗi thương tâm, và tôi cũng không thể biết trong phi cơ F 5 kia có mấy phi công cùng bay trong chuyến đó, gồm những ai, tên gì!? Tôi không thể tin vào giả thiết thứ nhì (ở trên). Và do đó tác giả có những lý-luận-cùn như đã ghi ở mục (3*)
                  Trân trọng kính xin quý Đại-Sư Huynh lão luyện trong ngành Không-quân đã biết nguyên nhân cuả dữ kiện… và sự kiện, xin vui lòng chỉ giáo. THH chân thành cảm ơn được mở rộng kiến thức, học hỏi thêm những điều rất hữu ích và THH hết lòng ưu ái đa tạ.

                  *

                  Tình Hoài Hương
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #54
                    Bên Lề Cuộc Sống


                    Bên Lề Cuộc Sống
                    Tình Hoài Hương
                    ***



                    Khổng Tử đã nói: “Kẻ sĩ lo trước cái lo của thiên hạ. Vui sau cái vui của thiên hạ”. Cũng như cổ nhân Nguyễn Trường Tộ đã nói:
                    Nhất thất túc thành thiên cổ hận.
                    Tái hồi đầu thị bách niên thân”.
                    (Một bước lỡ để nghìn năm mang hận.
                    Ngoảnh đầu trông lại đã trăm năm
                    ).

                    Quả thực như thế. Những người lính làm viên gạch lót đường cho danh vọng, tham tàn, bạo lực, oằn vai nặng gánh, lưng gồnh mối thù phân chia hai miền Bắc. Nam: Nay người lính đem xương máu ra chiến trường đã là, đang là những viên gạch lót đường, dài dài… từ vĩ tuyến 17, nơi con sông Bến Hải có cầu Hiền Lương nghẹn ngào đớn đau tạm thời phân giới hai miền Nam Bắc. Họ quyết ở lại miền Nam Việt Nam dựng nước và giữ nước. Một thời gắn bó keo sơn mặc dù biết mình vô tình làm ván bài mưu lược chính trị sục sôi. Họ vẫn chia nhau ra trấn giữ đất nước, cố duy trì sự tồn-hưng một quốc gia trong thời chiến tranh: Giống như Mã Viện xưa đã nói: “Làm trai, nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn, mới đáng qúy. Chớ chết trong tay lũ trẻ nâng đỡ. Nào có hay gì"!

                    Phân chia là thế! Nhưng lòng yêu nước thiết tha và hoài bão mong ước tự do an bình, ấm no cho toàn dân, thì “Quan, Tướng và Lính” đều có ước vọng giống nhau. Hôm nay nếu trải qua chung cuộc ngậm ngùi trong cơn xoáy đục ngầu, tưởng đã chia phần đều nhau: Là vậy. Ngày đêm kề cận sự chết, chiến tranh tàn khốc xảy ra trên từng đoạn đường giao tranh, trên những bước ngắn bước dài, bước thấp bước cao. Lòng lính càng quặn từng cơn đau buốt, khi họ đi kè kè hai bên lề đường: để hộ tống từng đoàn dân di tản tất tả chạy dọc theo ven những quốc lộ trên triền quê hương.

                    Sau 21 giờ - ngày 29-4-1975 - thiết quân luật bắt đầu 100%. Màn đêm đã sớm về đến khi khuya lắc khuya lơ, chúng tôi vẫn đứng thấp thỏm, thập thò từ trong cửa sổ ở phòng ngủ Hotel Hưng Đạo 2 đã tắt hết đèn đóm, tôi nhìn xuống đại lộ Trần Hưng Đạo, thì thấy lố nhố hàng hàng lớp lớp lính tráng: Tôi âm thầm quan sát “những tình thương và sự hy sinh cao cả bên lề cuộc sống”: Nào là: Thủy-quân Lục-chiến. Nhảy Dù. Biệt Động Quân. Bộ-binh, vân vân... (không kể có ba Lữ đoàn Dù. Ba Liên đoàn Biệt Động Quân đóng tại Hóc Môn. Gò Vấp. Bình Chánh. Nhà Bè. Tân Sơn Nhứt). Quân đội đã đặt những ụ súng cối, súng máy, do các chiến hữu Sư-đoàn 5 – 18 – 22 – 25, ngỏ hầu chu tất việc bảo vệ an toàn lãnh thổ Việt Nam, Thủ-đô, và lương dân vô tội. Cứ một giờ, tốp lính nầy đến gác, là tốp kia lầm lũi âm thầm ra đi...

                    Súng dài gác bên nhau, mũi súng chụm vào chỉa lên trời, báng súng dựng dưới mặt đường nhựa. Họ nói rất khẽ hay chỉ lặng lẽ ra hiệu lệnh. Họ là những quân nhân Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa anh dũng quyết chiến đấu, hy sinh đến giờ phút cuối cùng. Súng lại đeo lên vai nòng chĩa xuống đất, họ lặng lẽ và tuyệt đối vâng lời thượng cấp, từ từ rút lui có quy củ, trật tự tôn nghiêm trong hàng quân ngũ. Họ nhìn nhau lặng lẽ nhếch miệng cười qua cái bắt tay giã từ vừa đủ chặt, dường như âm thầm nói lên niềm đắng cay, trào dâng trên sóng mắt tiếc thương, quặn đau trong lòng họ sự hy sinh vô vụ lợi, không điều kiện.

                    Từng tốp lính mười tốp bảy người, nhiều vô số đang nằm gối đầu trên vĩa hè, tay gác lên trán tư lự. Có người đứng hoặc ngồi bên đường. Dù ở trên vĩa hè, quân nhân đều có trật tự, nhịp nhàng, kỷ cương. Họ chia nhau ra canh giữ quê hương trong giờ phút lâm nguy khốn cùng. Những đóm lửa nhỏ lập loè loé lên trên bờ môi khô. Những đôi mắt dường như đọng ngấn lệ tủi hận đầy bi ai. Có người đang mặc áo giáp, đăm chiêu suy tư, bơ phờ, hốc hác. Có người đội mũ sắt, hất ngược mũ ra sau gáy, sợi quai mũ cứa vào cục yết hầu oan gia nhô cao cay đắng chạy lên chạy xuống cuống cổ. Có người đội mũ sụp che xuống gần tới mí mắt. Có người đội mũ lệch qua một bên. Họ mang giày đinh lấm lem bụi đỏ, lưng đeo ba lô nặng trĩu đường hành quân, râu ria lởm chởm, tóc tai không mấy chỉnh tề. Những bàn tay anh tài vẫn đưa lên ngang tầm mắt, nghiêm nghị đứng thẳng, ngực ưỡn ra oai vệ chào thượng cấp.

                    Bỗng dưng tình hình chính trị quyết liệt căng thẳng, vận nước đột biến từ góc 45/o, chỉ trong một tuần ngắn ngủi, vụt nhảy tọt lên 360/o nhanh như chớp. Khiến tôi vô cùng hoang mang, bàng hoàng sửng sốt, lo lắng, buồn phiền, bối rối tột cùng. Trở lui mắc núi, đi tới mắc sông, xoay quanh mắc vòng lẩn quẩn đủ mọi thủ thuật rối rắm. Mặc dù các bạn trong nhóm có nhiều sáng kiến, có nhận thức thời cuộc chính xác và quyết định đúng đắn, nhưng dẫu sao họ ở nơi xứ lạ quê người ồn ào náo nhiệt, tột cùng hổn loạn thế nầy, bốn anh ấy giống chú khỉ bị nhốt trong chuồng kín ở hotel Hưng Đạo 2: lòng và trí nóng như lò lửa, thì có tài giỏi đến mấy, họ cũng không biết đâu mà mò.

                    Tuần trước, bốn anh trong nhóm chờ đợi bầy trẻ nhỏ ngủ yên, liền khều mấy bà qua phòng tôi, để bàn tính chuyện lủi xuống miền Tây. Vì, nghe nói tại miền Tây bây giờ hoàn toàn bình yên tĩnh mịch. Vã lại Ngọc đã cho ba của anh đi xuống miền Tây dò đường đi nước bước trước rùi. Ngọc dặn dò ông ba nếu thấy tình hình bất ổn, thì ông lo tìm đường trở về Sài Gòn, hoặc đi ra Phú Quốc. Ngọc ấn định ngày giờ sẽ gặp ông ba ở điạ điểm chính xác ở miền Tây, nếu không y hẹn, có nghĩa là Ngọc sẽ đưa bầu đoàn thê tử, “hò” bạn bè cùng nhau ra đi. Ý kiến cuối cùng: mình phải sáng suốt dứt khoát ra đi, khi thấy Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa đã triệt thoái hết về miền Nam, thì ở miền Tây ắt sẽ còn là nơi vững chắc như đinh đóng cột.

                    Tôi sống tạm bợ nơi Sài Gòn xa hoa, nhộn nhịp, và lắm xô bồ trong tháng 4 năm 1975, với ngàn lo âu, run sợ hãi hùng đầy cay đắng, băn khoăn lo lắng trăm mối tơ vò. Tin dữ loan ra thì có, tin lành về lại không. Nhìn xuống lòng đại lộ Hưng Đạo 2, tôi càng run rẩy nghĩ rằng: “Trận chiến nầy, hẳn là sẽ đến hồi quyết liệt để giành thắng. Nay mai sẽ có giao tranh trên cùng khắp các nẽo đường. Chạy đi đâu cho thoát ra khỏi con ngỏ sâu hun hút, đầy đạn bom đây! Hở Trời!? Tôi vô cùng hối hận khi đưa gia đình về đô thành. Chạy đi đâu, cũng không thể thoát khỏi nanh vuốt chiến tranh bạo tàn. Thì thà rằng cứ ở yên lại Đà Lạt, có lẽ gia đình tôi không đến nỗi nào khổ sở đến thế”!

                    Trên những con đường lớn nhỏ tại Sài Gòn đều đông nghẹt người đi bộ, người ta đông hơn kiến tràn ra ngoài lòng lề đường, chen lấn nhau đi kẹt cứng. Mặc cho từng hàng xe hơi đủ loại, xe gắn máy, xe đạp, xe xích lô, xe ba gác vân vân… chồng chất đủ mọi thứ lỉnh kỉnh lên xe. Họ ùn ùn hối hả đi đi, về về! Đi đâu?! Về đâu?! Hầu hết các doanh trại ven đô, các công sở ty mỏ, và thường dân lo đào hầm hố cá nhân. Những đại công sở và cao ốc, cũng như ngoài những đại lộ, gần trung tâm Sài Gòn đều ráo riết chuẩn bị. Thế mà bà mẹ Ngọc và hai cô Quy, Cúc, ung dung dẫn nhau đi từ hotel Hưng Đạo 2 tà tà qua chợ Đũi, xuống chợ Thái Bình dạo chơi, rồi ba mẹ con tấp vào ăn bún ốc, bún thịt nướng, ăn xoài, dưa hấu, thơm. Họ ăn xã láng... ăn đã đời.

                    Mấy tháng trước lo lánh nạn súng ống từ Cam Ranh chạy riết dài dài về đây, họ ăn uống có phần tiết kiệm khổ sở. Bây giờ yên ổn nơi thành phố vinh sang giàu có, họ cũng sẵn tiền dư bạc rủng rỉnh như ai, ngày ngày ở không trong phòng ngủ không biết làm gì, chẳng lẽ có bộn tiền có vàng leng keng trong túi, mà phải nhịn thèm “ăn mì ngóng cháo ngó” sao. Thế là ngày ngày họ đem con cháu đi ăn hàng xã láng cho đã. Lúc nào về phòng ngủ cô Cúc cũng khệ nệ bưng thêm: Khi thì quày chuối già hương to bự sư, mít ướt, mít ráo, hoặc một chục xoài cát thơm lựng. Do mấy bà vợ thừa nước đục thả câu, được đằng chân lần lên đằng đầu, cô Cúc cô Quy tha hồ leo lên đầu lên cổ đức ông chồng nhẫn nhịn hiền lành, tha hồ ăn hiếp chồng. Cánh đàn ông yêu quá hóa sợ mấy mụ vợ một phép, mặc “bà” muốn làm gì thì làm, lớp đàn ông im re xép ve:
                    Lỗ mũi mười tám gánh lông.
                    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
                    Đêm nằm thì ngáy o o.
                    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
                    Đi chợ thì hay ăn quà.
                    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
                    Trên đầu những rác cùng rơm.
                    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
                    (1)

                    Sau vài ba ngày no say ăn uống, thì bà cụ Tài đau bụng, trên ói dưới té re, thổ tả thổ te tá lả hoài! Bà cụ Tài tái phát bệnh đau bao tử ói ra máu tươi, máu bầm, máu loãng, rồi ói ra mật xanh mật vàng. Bà ôm bụng gò lưng quằn quại rên la dữ dội. Anh Ngọc vội vàng thuê xích lô chở bà đi cấp cứu tại bệnh viện Sài Gòn. Đã biết là bà cụ đau bao tử kinh niên, mà còn dám “tộn” mấy thức ăn mát mẻ thế, nếu bà không đau bao tử, cũng bị té re là cái chắc! Không biết bà cụ trúng độc do ăn bún ốc, hay cụ ăn quá nhiều thứ mà “trúng thực”? Ngày ngày chúng tôi ghé vô bệnh viện thăm, thấy bà cụ có phần thuyên giảm. Ngọc bảo cô Cúc ở lại bệnh viện trông coi mẹ. Còn anh sẽ đưa vợ con, gia đình cô em gái là Quy, cùng chúng tôi đi xuống miền Tây trước. Lúc nào bà mẹ khoẻ hẳn, thì cô Cúc sẽ đưa mẹ đi xuống Bạc Liêu.

                    Nghe thế, bà mẹ Ngọc dù rất yếu, bà lắc đầu quầy quậy, giẫy nẩy lên, chồm dậy khăng khăng nhất định đòi trở về hotel. Nếu có đi đâu, mà bà đi không nỗi, thì cõng bà đi cùng, chớ không trước không sau gì cả. Bà rất sợ con trai bỏ rơi. Bà thất kinh hồn vía, không dám kêu rêu con dâu bắt bà nhịn đói, không rên siết trước mặt Ngọc, bà không dám ăn uống bậy bạ nữa. Ngọc đành chìu ý mẹ già, anh đưa mẹ về nghỉ tại hotel Hưng Đạo 2. Thật kinh hồn, chúng tôi chỉ sợ lây lan hết cả đám, thì khốn. Bà phải ở cách ly mình ên. Ngọc đi rước bác sĩ tư đến khám bệnh ghi toa, liền đi mua thuốc về cho bà uống. Anh Bàn phụ Quy, Luật, khiêng những tấm nệm chuyển qua phòng của tôi, đặt nệm ở giữa nền gạch cùng nằm xếp lớp với nhau. Bốn gia đình ngủ chung hai phòng cho ấm áp tình người. Chúng tôi cảm thấy vui vui, cũng đỡ lo sợ và buồn. Do thế, chuyện dự tính cả nhóm về miền Tây trước ngày 30-4 đã không thành.

                    Phần vợ chồng tôi, khi thấy tình hình bất an, thì Luật chạy đến nhà anh Tạo rước bà mẹ anh xuống ở phòng ngủ. Tôi đến nhà Yến Nga để hỏi thăm tin tức. Ở nhà, bốn đứa con của tôi tự trông coi nhau. Chẳng may bé Tồ bị đau bụng ỉa chảy té re. Bé Tuấn thay đồ cho em, giặt giũ áo quần, lau chùi phòng sạch sẽ. Bé DZũng tắm rửa cho em, cõng em và dỗ em ngủ. Bé Bi sợ hãi chui vào gầm bàn trốn, và ngủ quên trong xó góc. Khi trở về phòng trọ, nghe các con nói lại, tôi sợ hết hồn. May mắn là bé Bi chỉ đi cầu hai lần. Tôi cho con uống thuốc, (tôi đã mua sẵn đầy đủ mọi thứ thuốc dự trữ phòng hờ). Ngày hôm sau con đã thuyên giảm nhiều. Tôi lo sợ là con bị lây chứng thổ tả từ bà cụ mẹ của Ngọc thì khốn!

                    Chỉ trừ những đứa trẻ ngây thơ vô tội là ngủ chập chờn trong bóng tối mờ mờ. Còn mọi người lớn thì tắt hết đèn đóm, ngồi tụ vòng tròn lại một góc phòng, nơm nớp lo sợ và mong trời mau sáng. Ngoài đường vắng ngắt đến ghê rợn, khuya Sài Gòn càng khuya càng hoang vắng lạnh lẽo, bầu trời vần vũ mây đen báo hiệu cơn mưa đầu mùa. Đến năm giờ sáng thì quả thật trời đổ cơn mưa rả rích, kéo dài hơn ba giờ, trông thật ngao ngán. Cánh đàn bà lo chuẩn bị làm mì gói cho cả nhóm ăn, uống nước suối Vĩnh Hảo. Bốn người đàn ông bàn tính với nhau là: để tránh tai mắt người khác tò mò dòm ngó, và không biết tông tích của mình làm gì, ra sao, đi đâu, thì bốn anh sẽ đưa từng nhóm ra đi.

                    Điểm hẹn là ở nhà thờ Ngã Sáu (nhà thờ thánh Jeanne D’ Arc, trong khu nghĩa trang Huê kiều, do người Pháp gọi là Plaine Des Tombeaux, ở 116b Hùng Vương, phường 9 quận 5). Luật hướng dẫn lộ trình chu đáo, anh nhắc đi nhắc lại: ai không nhớ, thì ghi vào sổ tay, kẽo nơi xứ lạ không thuộc đường, lớ quớ sẽ lạc nhau. Cứ mươi phút là có một nhóm rời phòng ngủ. (Làm như chúng tôi đi quỵt nợ, trốn nợ tiền phòng không bằng. Mặc dù chúng tôi đã chi trả hết tiền ba phòng nầy, và đặt cọc phòng thêm trước mười ngày). Anh Bàn không có vợ con gia đình bận bịu lu bu bên cạnh, nên anh rảnh tay dìu bà cụ Tài bệnh hoạn, cùng cô Cúc ẵm đứa con gái ba tuổi ra đi đầu tiên. Kế đến là gia đình Quy. Gia đình Ngọc, sau rốt là gia đình tôi gồm bảy mạng lủi thủi ra khỏi hotel. Tôi đứng trên cửa sổ tầng hai nhìn mấy anh chị lạ nước lạ cái cúi đầu lầm lủi ra đi, nhất là những đứa trẻ yếu ốm xanh xao, ngây thơ, hồn nhiên vô tội. Sao ai nỡ lòng để con em sớm bơ phờ nếm mùi đau khổ, gánh lấy nỗi ưu phiền, cơ cực đắng cay cuộc đời làm vậy! Tôi cảm thấy thật buồn.

                    Bốn nhóm gặp nhau ở nhà thờ ngã sáu rồi, lúc đó đã có nhiều người đi bộ, đi xe đạp, xe honda, xích lô qua lại trên đường đông đúc hơn. Tuyệt nhiên không thấy xe nhà, taxi hoặc xe bus. Chúng tôi ngoắt mãi vẫn không có chiếc xích lô máy, hay xích lô đạp nào chịu ngừng. Chẳng biết họ vội vã chạy đi đâu! Mãi về sau lâu thật lâu mới có hai chiếc xe ba gác trờ tới. Luật mặc cả giá xong, liền cho hai bà cụ cùng bầy nhóc ngồi lố nhố trên xe. Bốn anh kia phụ hai ông ba gác đẫy xe đi tà tà. Chúng tôi dắt díu nhau lẽo đẽo đi xuống khu Chợ Lớn. Quang cảnh ở Chợ Lớn khác hẳn ở khu Sài Gòn. Nơi đây ồn ào náo nhiệt đông đúc, người ta tụm năm tụm mười đông đen trên đường phố xí xa xí xô đi đi, nói nói, la la mắng chửi om sòm, buôn buôn bán bán đủ mọi thứ. Thỉnh thoảng mới có chiếc xe bus khác tuyến đường chật như nêm vút qua, chạy về hướng xa cảng miền Tây.

                    Ngọc vào nhà bạn thân cùng làm việc ở gần chợ Tam Biên, để dò hỏi tin tức cập nhật. Luật cũng có bạn Thành ở đường Nguyễn Tri Phương. Lúc bạn hai đến nhà đó, mọi người trong nhóm ngồi bệt ngoài vĩa hè nghỉ mệt chờ đợi Luật, Ngọc vào hỏi thăm tin tức. Kiểm chứng lại những tin nghe ngóng suốt dọc mấy lộ trình, thì mỗi người nghe một cách khác hẳn, người nói thế nầy, người nói thế nọ; càng hoang mang, băn khoăn, bồn chồn, lo lắng, rối tung rối mù, không phân định được điều gì xác thật là đúng, điều gì sai. Toàn nghe những tin vu vơ mù mờ như vịt nghe sấm. Chúng tôi không rành đường dưới khu Chợ Lớn, nên cứ đi lo lắng sợ sệt đi lung tung loanh quanh đường nọ qua đường kia, đi vòng vòng khá xa Chợ Lớn. Chẳng biết tại sao chúng tôi quay trở về ngã Bảy? Khùng thiệt. Cuộc ra đi nầy thật vô duyên ngớ ngẩn hết chỗ nói. Thế là chúng tôi mò mẫm tìm về nhà thờ Huyện Sĩ. Tôi bàn với Luật để tôi đến khách sạn Hưng Đạo 2 lấy lại những đồ dùng cần thiết, đem đến nơi nầy. Luật quát mắng tôi:
                    - Coi chừng tiếc của mà toi mạng. Bỏ hết.

                    Tôi tiu nghĩu buồn xo theo các bạn vào cha chánh xứ xin cho ở nhờ ngoài vĩa hè trong khuôn viên nhà thờ Huyện Sĩ. Nhà thờ hình cung nhọn oai dũng với công trình thiết kế quy mô, đặc thù, tinh xảo, khang trang xinh lịch, còn được gọi là nhà thờ Chợ Đũi xây năm 1902. Thiết kế giáo đường do đức cha Bouttier kiến trúc theo phong cách gothique tuyệt tác tinh vi, cao sang với vật liệu đá granit. Do ông bà Huyện Sĩ Lê Phát Đạt giàu có nhất thời ấy bỏ tiền ra xây dựng. Sau khi tạ thế hai ông bà có mộ xây bằng đá cẩm thạch ở hậu cung. Hầu hết mọi người quá mỏi mệt ngao ngán chán chường, chẳng thiết tha sự gì ngồi bó gối ủ rũ buồn chán nơi xó góc trong một lớp học bỏ trống. Ông trùm họ đạo nầy đi lễ về ngang chỗ chúng tôi đang ngồi co rúm một xó, thấy chúng tôi hốc hác, trẻ con bơ phờ lem luốc nằm la liệt lăn lóc trên vĩa hè nóng và hanh nắng. Ông vào tận nơi tôi ngồi, ân cần hỏi thăm qua loa, rồi ông bảo tôi cử đại diện vài người đến nhà ông, để ông tiếp tế cho ít thức ăn.

                    Cô Quy, Cúc và tôi lẽo đẽo theo sau lưng ông, đến bên hai cánh cổng sắt màu xanh kín mít to cao lút đầu người. Mở ổ khoá cánh cửa sắt nhỏ phụ kế bên, ông mời ba chị em vào nhà ba tầng lầu có vườn cây trước sân mát mẻ, rộng rãi, ngôi nhà bề thế sang trọng xây đá hoa cương lát gạch men bóng láng. Ông mời chúng tôi ngồi ở sofa da nhung đỏ. Ông đi xuống nhà bếp. Chúng tôi chưa kịp quan sát kỹ lối trang trí tân thời trang nhã vinh sang trong phòng khách, thì bà vợ ông trùm và mấy con cháu gì đó từ phòng bên cạnh, xách ra ba bốn tụng đồ ăn thức uống đầy nhóc, nhiều nhất là mì gói, bánh mì khô, cá khô, tôm khô, khoai lang, dưa leo và củ sắn. Thêm một tụng khá to quần áo trẻ con, một tụng nhỏ hơn bốn tụng kia đựng độ năm bảy lít gạo, (bà vợ chu đáo lo đầy đủ, hình như bà đã nghe ông chồng kể lại, hoặc là gia đình họ đã từng làm việc thiện nầy, tôi không biết).

                    Ba chị em tôi cảm động ứa nước mắt, rối rít cảm ơn lòng từ bi thiện nguyện của ông bà trùm họ đạo Huyện Sỹ. Khệ nệ bưng các giỏ xách về lại góc trường học, chúng tôi cảm thấy có phần vui vẻ an tâm. Cô Quy, Cúc và chị Ngọc xúm lại chia nhau áo quần con trẻ. Còn tôi không nhận (vì đang có, tôi đã vứt bỏ lại ở hotel nhiều lắm, chỉ mang đi những bộ quần áo cần thiết, vậy mà các con mang vác còn không nỗi, nữa là tham lam chi mà quơ vô thêm sao).

                    Mấy chị em rủ nhau đi ra chợ Đũi mua hai cái nồi lớn, mua tô chén, muỗng, đũa, rổ, rá, củi, ba bó rau muống, mắm muối, chút bột ngọt, chuối cau, mua bình để nấu nước, mấy chai ni lông đựng nước (vã chăng thấy ăn uống tầm bậy tầm bạ ở ngoài chợ, sợ trúng nước đi “ị” té re như bà cụ Tài, thì khốn; chúng tôi không dám uống nước trà đá bán sẵn). Có tiền là có của tươi rau ngon. Về lại chỗ cũ, Ngọc xin bà từ trông coi nhà thờ cho mượn hai cái lò để nấu ăn. Bà từ vui vẻ bảo chúng tôi cứ vào trong bếp tự tiện nấu nướng, khỏi mua củi hay mượn lò làm gì mất công. Nhưng chúng tôi không lấy củi của bà. Phụ nữ xăn tay áo lên lo làm bếp. Đàn ông đi tắm rửa cho con cháu, và tắm rửa chính họ ở ngoài giếng hay ở vòi nước. Chẳng mấy chốc nồi cơm trắng, canh mì gói nấu kèm với rau muống, trái bầu xắt nhỏ, khô cá sặc nướng, mọi thứ đã chín.

                    Sau một ngày nhịn đói nhịn khát, kéo nhau đi thất thểu lang thang cầu bơ cầu bất ở ngoài đường mệt mỏi rã rời. Giờ đây cả nhóm ngồi bệt dưới nền xi măng, quây quần quanh hai mâm cơm nóng sốt. Một mâm dành cho trẻ con được cho ăn trước. Một mân cơm của người lớn thì ăn sau. Đây là buổi cơm tối thanh đạm, nhưng quả thật lần đầu tiên trong những ngày xa xứ, kể từ khi tôi về Sài Gòn ăn bữa cơm nầy cảm thấy rất ngon miệng. Thiệt đúng:
                    Đầu tôm nấu với canh bầu
                    Chồng chan, vợ ngó lắc đầu “ham ăn.”
                    Bầu ơi thương lấy bí cùng
                    Mai sau có lúc nấu chung một nồi!
                    (1)

                    Lúc đó có hai gia đình ở Huế, Đà Nẵng di tản vào Sài Gòn, họ cũng tay xách tay mang, con cái đùm đề, vừa vào xin ở nhờ, kế bên lớp học cạnh chúng tôi. Luật, Ngọc qua bắt chuyện hỏi thăm, rồi mời cả sáu người ấy qua bên lớp học nầy, vì chúng tôi nấu cơm và canh thật nhiều, nên nhân tiện mời họ dùng cơm. Hai người đàn bà tỏ vẻ e dè khách sáo hơn hai ông kia. Nhưng khi thấy chúng tôi thành thật chứ không qua loa mời lơi, họ cũng vui vẻ nhập vào nhóm. Cô Cúc đi lấy chén đũa của bọn trẻ vừa ăn xong, chạy ra vòi nước rửa sạch và đem vô. Chúng tôi vừa ăn vừa tỉ tê trò chuyện. Chỉ vài giờ ngắn ngủi, chúng tôi đã thông cảm và hiểu thấu những gian khổ, cơ cực trên bước đường gian truân lưu lạc, đồng hội đồng thuyền thật hợp ý nhau. Được biết hai gia đình Tâm và Phương có ý muốn về Phú Quốc, vì hồi xưa họ đã sinh sống ở đó. Nghe bạn mới tâm tình, chúng tôi hoan hỉ vui mừng như mở được tấc lòng. Vì quả thực chúng tôi rất muốn đi Phú Quốc, mà ngại một nỗi không rành đường, không biết lối mô tê, sợ lạc vào “mê cung Vẹm”, nên quá ngại ngùng. Tâm nói:
                    - Năm giờ sáng ngày mai phải ra bến xe bus Sài Gòn, đón xe đi một lèo tới xa cảng miền Tây, xe không ngừng ở mấy trạm phụ. Một ngày chỉ có ba chuyến xe bus đông nghẹt thôi.
                    - Thì ra bây giờ tôi mới hiểu: nguyên ngày nay chúng tôi đón xe bus lẻ tẻ dọc đường tới Chợ Lớn, mà chả thấy chiếc nào ghé trạm, là do vậy.

                    Thế là mọi người bảo nhau đi ngủ sớm. Phụ nữ rửa dọn nồi son chén bát, lau chùi chỗ nằm dưới nền xi măng (vừa dùng nơi ăn cơm). Đàn ông lo lùa bọn trẻ về lớp học bên hông nhà thờ, để dỗ con cái ngủ. Chị em phụ nữ xin đi tắm nhờ ở nhà bà từ. Cũng may là ở trong miền Nam lúa gạo dồi dào cò bay thẳng cánh, hầu kịp thời cung ứng cho cư dân ở miền Cao Nguyên và miền Trung, sau mỗi khi thấp kém mùa màng hay thiên tai lũ lụt. Chúng tôi mò tìm về miền Tây là phải lắm. Thật cám ơn nông dân và cư dân ở miền Tây Việt Nam hết sức. Những giọt buồn lê thê xin gác lưng mây bay bay sau triền đồi Đà Lạt xa mờ xa nhé! Dù gần hay xa xôi muôn trùng sóng vỗ, thời khắc quý giá nầy vẫn mãi hoài ghi nhớ, chiếm ngữ trong hồn tôi giông bão. Chiến tranh biêu riếu đã hạ bức màn đen trong chung cuộc đầy bi kịch rồi chăng? Ví dù như thế thì họ và tôi hoàn toàn tin tưởng vào cấp lãnh đạo tối cao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tin các cấp chỉ huy đã và đang dấn thân từ các nơi còn trụ lại, rải rác khắp nơi… có thể là:
                    - Vùng I : Quảng Nam. Quảng Trị. Thừa Thiên.
                    - Vùng II : Dakto. Kontum. Pleiku. Đà Lạt. Khánh Dương.
                    - Vùng III : Bình Long. An Lộc. Long Khánh.
                    - Vùng IV : Nhất là hy vọng từ Long An về Miền Tây, vẫn còn… trấn giữ.

                    "Quốc hữu phân tắc thực" (nước có người giỏi, thì nước mới vững chắc). Mặc dù giàu sự dũng cảm hào hùng của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: từ tất cả các binh chủng đang ở lại rải rác trên quê hương nầy; họ có kiên cường bất khuất anh dũng và oanh liệt quyết chiến đấu tại các chiến trường sôi động khói lửa, hay tại các địa phương, Tỉnh, Thành, nào... Nhưng nếu họ không còn những vị “thủ lĩnh”, họ đã mất cấp lãnh đạo. Hoặc giả họ không có những vị chỉ huy nữa. E là thua chắc!
                    Nghĩ thân phù thế mà đau,
                    Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê
                    !” (2)

                    (1) = ca dao.
                    (2) câu thơ của Nguyễn Gia Thiều.
                    * * *

                    Tình Hoài Hương
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 03:55 AM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • Tinh Hoai Huong
                      Senior Member
                      • May 2009
                      • 1081

                      #55
                      Cố Thiếu Tá Không Quân TRƯƠNG PHÙNG Khả Kính




                      Cố Thiếu Tá Không Quân TRƯƠNG PHÙNG Khả Kính







                      Last edited by Tinh Hoai Huong; 11-29-2019, 03:57 AM.
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment

                      • bebau
                        Moderator
                        • May 2008
                        • 273

                        #56
                        [CENTER]
                        Last edited by bebau; 05-10-2013, 05:56 AM.

                        Comment

                        • Tinh Hoai Huong
                          Senior Member
                          • May 2009
                          • 1081

                          #57
                          Sinh Vi Tướng Tử Vi Thần (Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử)


                          Sinh Vi Tướng Tử Vi Thần (Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử)






                          Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-07-2017, 06:31 PM.
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #58
                            Khổ Hết Biết

                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-07-2017, 10:23 PM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • philong51
                              Người Thân
                              • May 2009
                              • 38

                              #59
                              Không Xạo Không Phải Là Vẹm

                              Nguyên văn bởi bebau View Post



                              Tấm hình nầy là thân của chiếc AD-6 tụi Vẹm trưng bày ở Sài Gòn, đối diện với Thảo Cầm Viên vào thập niên trước KHÔNG phải là chiếc AD-5 của Th/Tá Trương Phùng.

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #60
                                Về chiếc AD-6

                                Nguyên văn bởi philong51 View Post
                                Tấm hình nầy là thân của chiếc AD-6 tụi Vẹm trưng bày ở Sài Gòn, đối diện với Thảo Cầm Viên vào thập niên trước KHÔNG phải là chiếc AD-5 của Th/Tá Trương Phùng.
                                ***


                                Dạ... dạ... thì ra là như thế đấy!
                                Quý anh đã lão luyện, từng trải trên đường binh nghiệp (Không-quân) ... nên chỉ cần nhìn một bên thân của chiếc máy bay "cụt đầu cụt đuôi, chả giống con gì" ; đã biết chắc đó là chiếc AD-6.
                                THH bội phục và cám ơn anh philong51 & Anh bebau nhiều.
                                Anh bebau thân kính, vậy THH kính xin anh bebau vui lòng delete GIÚP THH tấm hình "chiếc tàu bay méo mó" kia ra ngoài lề... cuộc sống chả có giá trị trung-thực và chính xác.
                                Có nên không, thưa quý anh?
                                Tình thân,
                                THH
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...