Truyền Nhân Nam-Khoa-Y

Truyền Nhân Nam-Khoa-Y
Hai người ăn mặc chỉnh tề, đeo kính mát, mang theo hai mũ bảo hiểm, chuẩn bị chu đáo cho một ngày đi xa… Năm đổ xăng thật đầy bình, vui vẻ chở Mi Mi từ Sài Gòn đi lên Nghiã Trang “Đô Thành”. Cơn triều cường chảy hoài đến khúc quanh cầu Bình triệu, Thủ Đức, vẫn ngập tới nửa bánh xe, mặc dù mưa chiều hôm trước không to lắm, nhưng nước đọng còn dâng cao. Ồ, đó là nơi nhà ga cũ, nơi xưa kia mỗi lần đi qua đây, Năm và Mi bị ngập lụt nước mưa, phải bỏ cả giày dép ra, hai người lội bì bõm dưới nước bùn sình hôi tanh đen ngòm. Hầu đẫy chiếc dream chết máy khó khăn nhọc nhằn vô cùng, hì hục mãi không đẫy xe nỗi. Hai anh em nâng đầu xe lên cao cho nước chảy ra. Sau đó anh đạp hoài đạp mãi, thì xe nổ máy.
Năm chen lấn đoàn xe đông như kiến đang bì bõm trong sình lầy dù nước đọng, họ vẫn chạy nhanh. Nước bắn tung toé lên đầy ngực Mi. Chỗ đó vẫn luôn bị ngập lụt. Năm chạy xe đến gần cầu Gò Dưa mới có đoạn đường tốt. Chạy xe mãi đến gần ngã tư xa lộ Thủ Đức. Anh rẽ vào lối đi tắt, đi lung tung vòng vèo đến nghĩa trang Đô Thành thăm bạn thân nhất đời đã về cõi vĩnh hằng. Gửi xe xong, Mi mua một bó hoa, một bó nhang, hộp quẹt, nến. Hai người đủng đỉnh tới ngôi mộ Tấn, khi mặt trời đang đứng trên đỉnh đầu.
Gia đình Tấn chọn nơi nầy thật đẹp, nghĩa trang rộng khoảng 10 hecta đất gò cao ráo, phóng khoáng. Nơi mà hồi xưa Trung-tướng Mai Hữu Xuân đã mua, rồi nhờ ba của Năm đứng ra chăm chút cai quản. Tấn được vào nằm trong nghĩa trang nầy (nghĩa trang uy linh tương tự như Arlington ở Washington DC), là một vinh dự to lớn, vì Tấn nổi tiếng là một bác sĩ khá giỏi. Trước ngôi mộ xây đá cẩm thạch đen khá cao, rất đẹp, bia mộ Tấn có ghi đầy đủ tiểu sử. Hình Tấn chụp vào độ tuổi trung niên thật phong độ, trẻ trung, vui tươi, hiền hoà. Sau lưng bia mộ lớn là tấm bảng đen bóng, trên đó khắc ghi một bài thơ tiếng Anh, đại ý là:
I burst into tears at my birth.
Whereas one laughed for congratulations!
Now I am brought at an early grave.
One mourns over me crying.
Only me that I smile quietly.
“Lúc tôi mới sinh ra đời.
Tôi khóc thét lên.
Mọi người đều vui cười hoan hỉ.
Nay tôi đã nằm xuống.
Mọi người tiếc thương và than khóc.
Chỉ riêng tôi lặng lẽ mỉm cười”. (*)
[(*) Chuyển ngữ câu tiếng Anh trên, là do tác giả (THH) viết; không phải do nguyên bản của lời ghi từ bia mộ Tấn].
Mi Mi cúi đầu lặng lẽ thì thầm gửi anh Tấn lời tống biệt cuối cùng:
- Thôi anh Tấn ơi! Nếu em có khóc thương tiếc nuối anh. Thì... Bây giờ em đành chấp nhận sự thật của tạo hoá ngàn năm an bài: Sinh. Lão. Bệnh. Tử. Sống. Gặp gỡ. Vĩnh biệt chia tay. Có tựu rồi tan. Có sống rồi chết. Ai ai cũng phải bước qua “cái Ải buồn phiền đau đớn” nầy! Mi thật buồn, và rất qúy trọng anh Tấn. Anh biết không? Nhớ ngày đầu tiên cách đây bốn chục năm, Mi Mi quen anh Tấn, hôm đó là ngày Mi Mi và anh Hoàng Năm Tony chia tay nhau ở trên bến xe Đà Lạt, gần tiệm cà phê Domino. Dù Mi Mi chỉ gặp và trò chuyện cùng anh Tấn không đầy mười lăm phút, nhưng em thấy anh Tấn thật vui tính, dí dỏm, hiền lành, hóm hỉnh có duyên và dễ thương. Duy có một điều bây giờ em vô cùng nuối tiếc về anh Tấn. Vì, anh Tấn đã làm một chuyện rất tốt đẹp mãi lưu truyền đến nay. Mặc dù anh Tấn chết đi, nhưng anh đã để lại một kho tàng vô giá cho y học (nói chung, và cho cánh đàn ông nói riêng). Nếu em nhìn đúng khía cạnh thuần tuý về nghề nghiệp chuyên môn của anh Tấn. Em sẽ không nghĩ là anh Tấn “khích dục hay gia tăng độ dâm đãng”. Anh Tấn hãy lắng nghe Em, anh Năm, Sơn, đã từng thảo luận nè:
* Đây là một khía cạnh không kém quan trọng của xã hội. Rất ít ai dám đề cập đến. Ai cũng sợ nó. Vì, nó tế nhị, nhạy cảm (nếu không muốn nói là hơi trắng trợn). Vã lại nếu đàn ông mà không “làm tròn bổn phận thiêng liêng cao cả tuyệt vời” trong điạ vị cuả người chồng đối với vợ. Người Nam nhút nhát thú nhận “mình bất lực” ; thì còn gì là “đàn ông tính”! Ở đây không đề cập đến vấn đề “trai gái lố lăng lẵng lơ đĩ thoả”.
* Khoa Y học NIỆU nầy, chính thức công nhận chỉ chừng 15 hoặc 25 năm nay. Gọi đó là Nam Khoa Andrology - được phơi bày ra dưới lăng kính Y Học nghiêm túc, đứng đắn đàng hoàng cần thiết rất khoa học - (chứ không phải dưới lăng kính kích dục, cường dục, hay... dâm đãng điếm đàng vui chơi). Trước kia, chỉ có khoa trị liệu về các bệnh liên quan về Niệu. Còn chuyện kín đáo riêng tư “tế nhị phòng the” giữa tình yêu hai vợ chồng, thì ai ai cũng sợ lộ ra. Họ cứ sợ nói ra thì... người khác sẽ chê mình… “phóng đãng dâm tặc”.
Tony Năm có một phần suy nghĩ trong vấn đề nầy:
- Nhất là một số các bà vợ cho rằng: do chồng mình ưa bay bướm, đàng điếm, ăn chơi, sa đoạ, mà ra nông nổi ấy! Chứ gì!?
Sơn phản đối kịch liệt:
- Tầm bậy nữa rồi. Khoa nầy hiện nay đã chứng minh được sự cần thiết của môn y học. Dân số trên thế giới đa số trên 65% đã rơi vào tuổi khá cao, nếu chưa muốn nói là già. Còn lại 35% là tuổi trẻ. Do đó những vị cao tuổi của NAM và NỮ, đều tối cần thiết là Andrology. Nếu họ muốn có cuộc sống gia đình hạnh phúc lứa đôi trường tồn. Vấn đề bạn Tấn theo môn Nam Khoa, không phải tự ên do Tấn hứng khởi đề xướng ra, (nhất là ở Việt Nam có phong tục tập quán khác biệt hẳn Tây Phương). Mà là do một vị giảng sư đại học Y khoa: Lichsteinberger là tên của vị linh mục khả kính trong dòng Tên, ông ấy là một bác sĩ rất tài ba, xuất chúng trên nhiều lĩnh vực y khoa.
- Em nghĩ anh Tấn chọn ngành Y nam khoa nầy, chỉ vì xu hướng cá nhân. Vì chính anh Tấn đèo bồng một lúc ba bốn bà. Hai bà vợ lớn, bé. Cộng thêm hai bà bồ hờ kia nữa, là gì!
- Không đúng đâu. Trước kia, Tấn chỉ là một bác sĩ đa khoa giỏi. Sự trở về ngành chuyên môn, là do tình cờ mà thôi: Lúc ấy có một bác-sĩ giảng-sư dòng Tên, khi cùng làm việc trong bệnh viện ở Việt Nam, ông ta đã tâm sự với Tấn:
- Anh nên chọn về ngành Y-Nam-khoa. Vì cánh đàn ông các anh rất thiệt thòi. Anh có điều kiện, nên lưu ý về khoa đặc biệt nầy. Tôi hy vọng anh sẽ phát huy y-học Nam-Khoa tốt, để giúp nam giới trong vấn đề tình yêu vợ chồng.
Thế là sau khi về Pháp, vị linh mục đó gửi cho Tấn những tư liệu, tài liệu, sách vở chuyên môn, để Tấn nghiên cứu, nghiền ngẫm, học hỏi thêm. Ông bác sĩ dòng Tên ấy nghiên cứu kỹ về những cặp vợ chồng, về hạnh phúc lứa đôi trong xã hội. Nhưng thực tế là ông ta hoàn toàn không có điều kiện, để phát huy hay thực hành. Vì vậy, ông ta truyền đạt vấn đề nầy lại cho môn sinh giỏi là: Tấn. Tấn làm “truyền nhân” nghiên cứu kỹ càng. Thành thật mà nói: Không biết bao giờ ngành Y học Việt Nam mới có được một bác sĩ khác: được kết nạp vào E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới). Vậy thì, em không nên nghĩ đó là chuyện “kích dục” nha.
- Em chưa đồng quan điểm với anh... về việc nầy tí nào cả.
- Tại sao em cứ nhìn “nó” với bản năng tầm thường của một người đàn bà ru rú thu mình trong trôn ốc? Như con ốc len rụt rè nhút nhát? Mà em không chịu vươn mình lên đỉnh cao của y học và nghệ thuật và sự thật!? Anh hỏi em: Tại sao nữ giới đã có phụ-khoa, có sãn-khoa? Trong khi đó người đàn ông không nhiều thì ít, bị “trục trặc” yếu xìu vấn đề ấy, lại không có phép đi khám Nam-khoa? Theo như thống kê gần nhất, đàn ông từ 40 -> 60; 70; 80 tuổi - đa số bị trục trặc đến 65%, 85%. Mà chả có môn y-học nào để chuyên trị! Hở? Không công bằng.
- Có phải anh gián tiếp khuyên em: Hãy cứ nhìn vấn đề Nam-khoa một cách khoa học, chính chắn, lành mạnh. Em sẽ thấy nó bổ ích lành mạnh cho nhân loại. Chứ không phải để cánh đàn ông lợi dụng điều đó mà đi “ăn chơi” trác táng chắc?
- Ư Ứ Ừ. Nó phục vụ cho sự hoà hợp gia đình giữa vợ chồng. Em cứ nghĩ anh như thế, thật oan ơi ông địa! Đó cũng là quan niệm chung chung của một số ít phụ nữ, có chút mặc cảm về chồng mình quá bay bướm.
- À ra thế! Vì lúc đề cập đến chuyện nầy, có không ít đàn bà Việt Nam “kín cổng cao tường -rất khó nói”. Biết thắc mắc cùng ai? Thì anh Tấn đã dày công nghiên cứu y học, và mạnh dạn phổ biến trong Nam-khoa chuyên về Niệu-đạo-học Urologist nè!
- Đúng Mi Mi ạ! Hãy cùng nhau nhìn vào lăng kính Y-Học mà tìm hiểu, nghiên cứu, nghiền ngẫm lại em nhé! Anh chỉ công bằng, và lấy công tâm ra để cùng nhau chia sẻ, tâm tình, tìm hiểu, nói với nhau vấn đề tế nhị. Anh không có ý tranh chấp chuyện nầy với em. Hay bất cứ với ai gì cả. Nhá.
- Dạ vâng! Thưa ông tướng!
- Ông... Tướng gì nào?
- Tướng công E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới) đó!
- Vậy, em sẽ là nữ “trợ tá đắc lực của Urologist” nha.
- Hahaha!!! Hổng dám đâu. Thưa Tướng công E.D.A.C.T !!! Nay, đã già lắm, cuộc tình giữa hai người: Thật ra chỉ là những ủi an, sẻ chia trên phone khi vắng xa nhau, thân thiết, nồng nhiệt, vui vẻ, nâng vực nhau những lúc gặp muộn phiền, thất vọng nào đó. Chúng ta nói những chuyện đôi khi ba xàm ba láp, ân cần san sẻ, cũng có chút xí vui vui và hữu ích. Cho đến một ngày nào đó… có một trong hai người vĩnh viễn nằm xuống, đành đoạn rứt áo ra đi... Thế thôi.
***
Nói rất thật tình thì Mi Mi không hề ưa thích gì bà Hoà, (là bà vợ bé) của bác sĩ Tấn. Vì Mi cho rằng: Bà Hoà giựt chồng người! Mi nghĩ cánh đàn ông các anh ưa bênh vực nhau. Nhất là Sơn, Năm Tony, họ với Tấn đã thân thiết từ hồi còn bé tí, nên họ coi nhau như ruột thịt. Kể cả con nhỏ Sáu (cháu ruột cuả bà Thủy) đang ngồi nói chuyện với Mi Mi về mấy anh ấy và bà Thuý:
- Cháu kêu bà Thúy bằng dì. Cháu mới thấy thấm thía nỗi đau của dượng Tấn. Chỉ vì dì Thúy và dượng Tấn thuở còn non trẻ: đã bồng bột vội vàng làm đám cưới. Khi họ chưa thật sự thấu hiểu nhau. Khi về làm vợ chồng rồi, thì họ mới lộ ra cả trăm điều trái ngược, mà không ai có thể ngờ! Nhất là sau nầy khi dượng Tấn đã thành danh trên đường đời. Dượng Tấn càng không thể chấp nhận có một người vợ kém sút từ mọi mặt. Dì không biết ngọt ngào chia sẻ với chồng, không đảm đang. Theo cháu nhận xét thì: dì Thúy vốn là cô gái nông thôn, nên dì Thúy hơi nhà quê, ít học. Vì thế lối ăn nói cuả dì thiếu suy nghĩ, xử trí kém cỏi, không tế nhị, vô duyên, lại có chút trẻ con. Cộng thêm tính ghen là số một, làm mất danh dự chồng không kể xiết, cùng lười biếng và vô trách nhiệm. Ở nhà dì ưỡn ẹo rông rống ngồi chơi xơi nước, dì không làm gì cả. Nhàn cư vi bất thiện mà! Có tật xấu là khi dì Thúy tức giận, thì chuyên môn đi ngồi lê đôi mách nói xấu người nầy, nhún vai chê trách người kia. Dì Thúy chẳng chịu đi chợ búa cơm nước gì, chồng đi làm về luôn đói meo. Thế là dượng bỏ nhà ra đi ăn… “phở” mệt nghỉ. Trước tiên là tốn tiền, sau đó lây lan qua tốn tình! Dì Thúy nói:
- Tội gì chợ búa cơm nước chi cho mệt. Ổng làm tới chức bác sĩ, bác sĩ thiệt à, có nhiều tiền ổng cho gái ăn cũng vậy. Tui cứ kêu người ta bưng cơm tháng, tội gì tui chui vô bếp cho khổ! Ổng đi… coi kià:
Đi đâu? Nay mới về nhà???
Có thấy xó góc chổi chà dựng bên
Tôi hỏi: “chỉ một mình ên
Sao mà thì thọt góc thềm làm thinh?
Nếu không có tật giật mình
Tại sao cúi mặt má phình tím thâm?
Dại khôn anh cứ thật tâm,
Kể ra… cho cả sơn lâm biết nào.
Thì tui… cha bảo chẳng gào
Ba bà có tức… ra ao nhảy ùm
Cùng nhau kéo cổ lùm lum
Cho anh chết ngộp khóc um mới chừa
Cái tật tành hanh ai ưa
Thấy gái, anh lấy vải thưa bịt liền
Anh mà mở mắt láo liên
Tui thề móc mắt rồi khiêng vô TÙ (*)
Mi ngậm ngùi nghe cô cháu gái cuả bà Thúy kể tiếp:
- Đúng ra, dượng Tấn rất mất mặt với bạn bè khi mang vợ ra ngoài xã hội giao tế. Dì Thúy luôn đốp chát những câu thiệt vô duyên, như gáo nước tạt vô mặt bạn. Sau nầy, khi Tấn gặp bà Hoà thì khác hẳn, Tấn yêu bà Hoà thông minh, tế nhị, khôn ngoan, đảm đang, vui vẻ. Có thể nói Tấn rất hãnh diện vì đã gặp và yêu bà Hoà (là vợ lẽ). Vì thế, thời gian sau dì Thúy cứ buồn xo “ngồi trong bóng tối”.
Mi liếc nhìn Sơn dò hỏi. Anh gật đầu:
- Ưà, Sáu nói nghe thật lạ lùng! Vậy mà thật đó. Bà Thúy có ba đứa con với Tấn, nay con cái khôn lớn, thành đạt cả. Các con Tấn rất yêu mẹ. Tấn đã tạo cho bà Thúy có cái nhà tươm tất, có cửa tiệm để các mẹ con sinh sống. Đặc biệt là Tấn chưa hề ly dị với bà Thúy. Trên pháp lý mọi tài sản đều là của Tấn (trừ khi Tấn làm di chúc để lại). Theo anh nghĩ Tấn không ngờ... Nên, em đừng nghĩ rằng bà Hoà “cướp” hết nha: Chồng, và 2 tài khoản: Một bank tiền Việt Nam. Một bank tiền USD. Bà Hoà chỉ giữ mấy quyển sổ ghi tên Tấn thôi. Bà Thúy vợ chính thức mới là người thừa kế tài sản, (khi Tấn nằm xuống xuôi tay, ba đứa con cuả bà Thúy rất tốt đã xúm lại thuyết phục mẹ chúng, nên làm giấy ủy quyền (vợ lẽ cuả cha); cho bà Hoà có tiền nuôi hai đứa em nhỏ cùng cha khác mẹ. Bà Thúy rất thân với bà vợ cũ của Năm. Hai bà có những tính giống nhau, nên mỗi lần gặp mặt, là họ xúm lại chửi Năm và Tấn ác liệt. Thật oan uổng và tội nghiệp lắm em! Hãy lấy công tâm mà xét xử công bằng đi.
- Thì anh cũng kinh khủng không vừa gì! Chắc anh muốn nói: Tình yêu chân thật phát xuất từ hai trái tim đồng điệu, thông cảm. Thì sự cần thiết ấy không có tội, có lỗi. Phải không nà?
- Thôi em! Moi móc làm gì. Chuyện buồn mà! Anh không muốn tranh luận với em điều nầy. Có thể em nghĩ anh không công bằng, thiên lệch, khi anh chỉ đến thăm mẹ con bà Hoà, mà hầu như ít đến thăm mẹ con bà Thúy (vợ chính thức). Nếu em biết sự thật, em sẽ thấy anh có lý. Tấn cũng “đào hoa” ra phết đó em à. Ai có ngờ con người coi như có vẽ chậm chạp, lù đù, hiền lành, ít nói. Thế mà có khối bà, khối cô mê Tấn tít thò lò! Kỳ xưa, anh Tấn bị “hai bà: vợ lớn, vợ bé” đuổi ra khỏi nhà, chỉ vì anh ta có thêm “bà Ba” nữa mới chết! Tấn phải đi lang thang ngoài phố, ăn cơm quán, ngủ hotel suốt một năm. Ấy là vì hồi đó Tấn lại cặp một con bồ xinh xắn luôn xà nẹo khác. “Một vợ nằm giường lèo. Hai vợ nằm chèo queo. Ba vợ ra chuồng heo mà... nằm”. Anh Tấn định thuê nhà để bà đó về ở chung.
- Trời! Thì hồi đó chính Sơn thuê nhà cho Tấn ở đó mà. Cả đến bây giờ, khi anh Tấn chết rồi, lại có cô bác sĩ trẻ măng mê anh Tấn hết sức. Lúc sắp sữa liệm, cô ta chạy ra ngoài ôm mặt khóc nức nở! Cô bác sĩ nầy trẻ tuổi lắm, cô chỉ hơn con của Tấn năm bảy tuổi là cao. Tôi có biết cô ta. Theo tôi nghĩ có lẽ do cô ấy quý trọng tài năng của Tấn, thì đúng hơn. Nghe chị nói, tôi mới té ngữa ra. Ai dè cái bề ngoài Tấn đạo mạo, nghiêm trang. Mà ẩn chứa trong lòng những “sống động tình cảm sôi sục cồn cào” chứ. Có điều làm sao mà anh ta “dàn xếp” tuyệt hữu khi chia tay với bà nầy, hẹn hò chung sống với bà kia yên ổn. Dù họ:
BA BÀ đấu khẩu bên thềm
Nạt nhau đừng có vác mền giữa đêm
Lưng dài cao cẵng lại thèm
Suốt đêm anh lỡ say mèm “Phở, Bia”
Cơm không thể nuốt "ôm bia mộ” buồn!!! (hê hê hê!!!)
Lỡ "khiêng về" BA vợ khùng!!!
Bởi vì: Bà(1) nói lung tung,
Bà(2) trợn mắt. Bà(3) lủng củng trong mùng
BA BÀ chẳng thể thủy chung
Đánh anh chí choé lùng bùng lỗ tai
Chàng bèn than thở vắn dài
Ba bà bỏ tuốt. Một hai vái chừa !!! (*)
Năm còn nhớ có lần đám bạn gặp nhau, Tấn mời tôi đi ăn cơm rồi giành trả tiền. Tấn moi trong ngăn bóp tờ một trăm xếp nhỏ xíu, nhét kỹ một góc kín.
Ai ơi! ngó lại mà xem
Thời nay có một anh thèm cặp ba
Bà hầu quạt đêm Hạ. Bà
úm mền. Bà bóp hông ‘đá’ tứ tung
“Em ơi, khe khẽ anh cưng
Ôi dào đau quá cái lưng sụm rồi!!!”
Bởi do BA BÀ tơi bời
Bị đây, tại đó chẳng rời vén vun
‘Đây’ thì do ‘đấy’ ôm hun
Lim dim bốn mắt môi chùn chụt thôi
Chu choa cái ấy em ơi
“Chắc là tui trốn cho rồi”. Về quê!!!
Trốn đâu BÀ cũng moi về
Nợ đời phải trả BÀ thề "hưởng dương"
ÔNG ở góc phố cuối vườn
Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao! (*)
- “ÔNG ở góc phố cuối vườn. Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao”! Nhưng bây giờ chết đi, anh Tấn chả mang theo được đồng nào. Thậm chí mấy nút áo, nút quần, cũng bị lặt ra để lại trên trần thế. Theo tục lệ Việt Nam, họ nói phải cắt hết mọi thứ để lại, không có đem theo sắt đá nút neo gì hết. Xác mới nhẹ nhàng, dễ siêu thoát. Tuy vậy Tấn chết đi, còn để lại mối ưu phiền cho hai bà vợ, cùng bầy con hai dòng máu một cha khác mẹ, quả thật là rất buồn! Thiệt! Xét cho cùng, Mi vẫn thấy thương bà vợ lớn hơn. Bà lớn tất nhiên không khôn khéo, thất học, không biết cư xử, không biết cách giữ chồng, (như lời cô Sáu và Sơn nói). Nên bị người khác giựt chồng là phải! Vì bà lớn quá yêu chồng, sợ mất chồng, nên “kè kè giám sát” từng hành vi, cử chỉ chồng. Khiến anh ta nổi giận vì sự ràng buộc khắt khe quá mất tự do, mà... xa! Còn bà nhỏ lanh lẹ, khôn ranh hơn là ngoan, có học, tinh tế là có chủ đích cả! (như lời anh ca tụng). Bà Hoà rất biết là Tấn có vợ con “đình huỳnh”. Nhưng bà ta vẫn có cách ngầm ngầm ma lanh để câu móc chiều chuộng chồng người. Vỗ về an ủi chồng người! Rồi đương nhiên nhào vô giựt chồng người... Anh cho là... là phải nốt!?
- Thôi, dù sao cũng là chuyện nói cho vui, chứ chả còn gì! Giữa hai bên chỉ là khoảng trống mênh mông. Thấy tội cho mấy đứa nhỏ con cuả hao người đàn bà: chúng cũng là anh chị em ruột cùng cha khác mẹ, mà hai bên chưa bao giờ quen biết nhau, từ xưa đến bây giờ, và mãi mãi... Họ đứng trên hai “chiến tuyến” khác hẳn nhau.
***
(*) Thơ Vui Tình Hoài Hương
Tình Hoài Hương

Truyền Nhân Nam-Khoa-Y
Hai người ăn mặc chỉnh tề, đeo kính mát, mang theo hai mũ bảo hiểm, chuẩn bị chu đáo cho một ngày đi xa… Năm đổ xăng thật đầy bình, vui vẻ chở Mi Mi từ Sài Gòn đi lên Nghiã Trang “Đô Thành”. Cơn triều cường chảy hoài đến khúc quanh cầu Bình triệu, Thủ Đức, vẫn ngập tới nửa bánh xe, mặc dù mưa chiều hôm trước không to lắm, nhưng nước đọng còn dâng cao. Ồ, đó là nơi nhà ga cũ, nơi xưa kia mỗi lần đi qua đây, Năm và Mi bị ngập lụt nước mưa, phải bỏ cả giày dép ra, hai người lội bì bõm dưới nước bùn sình hôi tanh đen ngòm. Hầu đẫy chiếc dream chết máy khó khăn nhọc nhằn vô cùng, hì hục mãi không đẫy xe nỗi. Hai anh em nâng đầu xe lên cao cho nước chảy ra. Sau đó anh đạp hoài đạp mãi, thì xe nổ máy.
Năm chen lấn đoàn xe đông như kiến đang bì bõm trong sình lầy dù nước đọng, họ vẫn chạy nhanh. Nước bắn tung toé lên đầy ngực Mi. Chỗ đó vẫn luôn bị ngập lụt. Năm chạy xe đến gần cầu Gò Dưa mới có đoạn đường tốt. Chạy xe mãi đến gần ngã tư xa lộ Thủ Đức. Anh rẽ vào lối đi tắt, đi lung tung vòng vèo đến nghĩa trang Đô Thành thăm bạn thân nhất đời đã về cõi vĩnh hằng. Gửi xe xong, Mi mua một bó hoa, một bó nhang, hộp quẹt, nến. Hai người đủng đỉnh tới ngôi mộ Tấn, khi mặt trời đang đứng trên đỉnh đầu.
Gia đình Tấn chọn nơi nầy thật đẹp, nghĩa trang rộng khoảng 10 hecta đất gò cao ráo, phóng khoáng. Nơi mà hồi xưa Trung-tướng Mai Hữu Xuân đã mua, rồi nhờ ba của Năm đứng ra chăm chút cai quản. Tấn được vào nằm trong nghĩa trang nầy (nghĩa trang uy linh tương tự như Arlington ở Washington DC), là một vinh dự to lớn, vì Tấn nổi tiếng là một bác sĩ khá giỏi. Trước ngôi mộ xây đá cẩm thạch đen khá cao, rất đẹp, bia mộ Tấn có ghi đầy đủ tiểu sử. Hình Tấn chụp vào độ tuổi trung niên thật phong độ, trẻ trung, vui tươi, hiền hoà. Sau lưng bia mộ lớn là tấm bảng đen bóng, trên đó khắc ghi một bài thơ tiếng Anh, đại ý là:
I burst into tears at my birth.
Whereas one laughed for congratulations!
Now I am brought at an early grave.
One mourns over me crying.
Only me that I smile quietly.
“Lúc tôi mới sinh ra đời.
Tôi khóc thét lên.
Mọi người đều vui cười hoan hỉ.
Nay tôi đã nằm xuống.
Mọi người tiếc thương và than khóc.
Chỉ riêng tôi lặng lẽ mỉm cười”. (*)
[(*) Chuyển ngữ câu tiếng Anh trên, là do tác giả (THH) viết; không phải do nguyên bản của lời ghi từ bia mộ Tấn].
Mi Mi cúi đầu lặng lẽ thì thầm gửi anh Tấn lời tống biệt cuối cùng:
- Thôi anh Tấn ơi! Nếu em có khóc thương tiếc nuối anh. Thì... Bây giờ em đành chấp nhận sự thật của tạo hoá ngàn năm an bài: Sinh. Lão. Bệnh. Tử. Sống. Gặp gỡ. Vĩnh biệt chia tay. Có tựu rồi tan. Có sống rồi chết. Ai ai cũng phải bước qua “cái Ải buồn phiền đau đớn” nầy! Mi thật buồn, và rất qúy trọng anh Tấn. Anh biết không? Nhớ ngày đầu tiên cách đây bốn chục năm, Mi Mi quen anh Tấn, hôm đó là ngày Mi Mi và anh Hoàng Năm Tony chia tay nhau ở trên bến xe Đà Lạt, gần tiệm cà phê Domino. Dù Mi Mi chỉ gặp và trò chuyện cùng anh Tấn không đầy mười lăm phút, nhưng em thấy anh Tấn thật vui tính, dí dỏm, hiền lành, hóm hỉnh có duyên và dễ thương. Duy có một điều bây giờ em vô cùng nuối tiếc về anh Tấn. Vì, anh Tấn đã làm một chuyện rất tốt đẹp mãi lưu truyền đến nay. Mặc dù anh Tấn chết đi, nhưng anh đã để lại một kho tàng vô giá cho y học (nói chung, và cho cánh đàn ông nói riêng). Nếu em nhìn đúng khía cạnh thuần tuý về nghề nghiệp chuyên môn của anh Tấn. Em sẽ không nghĩ là anh Tấn “khích dục hay gia tăng độ dâm đãng”. Anh Tấn hãy lắng nghe Em, anh Năm, Sơn, đã từng thảo luận nè:
* Đây là một khía cạnh không kém quan trọng của xã hội. Rất ít ai dám đề cập đến. Ai cũng sợ nó. Vì, nó tế nhị, nhạy cảm (nếu không muốn nói là hơi trắng trợn). Vã lại nếu đàn ông mà không “làm tròn bổn phận thiêng liêng cao cả tuyệt vời” trong điạ vị cuả người chồng đối với vợ. Người Nam nhút nhát thú nhận “mình bất lực” ; thì còn gì là “đàn ông tính”! Ở đây không đề cập đến vấn đề “trai gái lố lăng lẵng lơ đĩ thoả”.
* Khoa Y học NIỆU nầy, chính thức công nhận chỉ chừng 15 hoặc 25 năm nay. Gọi đó là Nam Khoa Andrology - được phơi bày ra dưới lăng kính Y Học nghiêm túc, đứng đắn đàng hoàng cần thiết rất khoa học - (chứ không phải dưới lăng kính kích dục, cường dục, hay... dâm đãng điếm đàng vui chơi). Trước kia, chỉ có khoa trị liệu về các bệnh liên quan về Niệu. Còn chuyện kín đáo riêng tư “tế nhị phòng the” giữa tình yêu hai vợ chồng, thì ai ai cũng sợ lộ ra. Họ cứ sợ nói ra thì... người khác sẽ chê mình… “phóng đãng dâm tặc”.
Tony Năm có một phần suy nghĩ trong vấn đề nầy:
- Nhất là một số các bà vợ cho rằng: do chồng mình ưa bay bướm, đàng điếm, ăn chơi, sa đoạ, mà ra nông nổi ấy! Chứ gì!?
Sơn phản đối kịch liệt:
- Tầm bậy nữa rồi. Khoa nầy hiện nay đã chứng minh được sự cần thiết của môn y học. Dân số trên thế giới đa số trên 65% đã rơi vào tuổi khá cao, nếu chưa muốn nói là già. Còn lại 35% là tuổi trẻ. Do đó những vị cao tuổi của NAM và NỮ, đều tối cần thiết là Andrology. Nếu họ muốn có cuộc sống gia đình hạnh phúc lứa đôi trường tồn. Vấn đề bạn Tấn theo môn Nam Khoa, không phải tự ên do Tấn hứng khởi đề xướng ra, (nhất là ở Việt Nam có phong tục tập quán khác biệt hẳn Tây Phương). Mà là do một vị giảng sư đại học Y khoa: Lichsteinberger là tên của vị linh mục khả kính trong dòng Tên, ông ấy là một bác sĩ rất tài ba, xuất chúng trên nhiều lĩnh vực y khoa.
- Em nghĩ anh Tấn chọn ngành Y nam khoa nầy, chỉ vì xu hướng cá nhân. Vì chính anh Tấn đèo bồng một lúc ba bốn bà. Hai bà vợ lớn, bé. Cộng thêm hai bà bồ hờ kia nữa, là gì!
- Không đúng đâu. Trước kia, Tấn chỉ là một bác sĩ đa khoa giỏi. Sự trở về ngành chuyên môn, là do tình cờ mà thôi: Lúc ấy có một bác-sĩ giảng-sư dòng Tên, khi cùng làm việc trong bệnh viện ở Việt Nam, ông ta đã tâm sự với Tấn:
- Anh nên chọn về ngành Y-Nam-khoa. Vì cánh đàn ông các anh rất thiệt thòi. Anh có điều kiện, nên lưu ý về khoa đặc biệt nầy. Tôi hy vọng anh sẽ phát huy y-học Nam-Khoa tốt, để giúp nam giới trong vấn đề tình yêu vợ chồng.
Thế là sau khi về Pháp, vị linh mục đó gửi cho Tấn những tư liệu, tài liệu, sách vở chuyên môn, để Tấn nghiên cứu, nghiền ngẫm, học hỏi thêm. Ông bác sĩ dòng Tên ấy nghiên cứu kỹ về những cặp vợ chồng, về hạnh phúc lứa đôi trong xã hội. Nhưng thực tế là ông ta hoàn toàn không có điều kiện, để phát huy hay thực hành. Vì vậy, ông ta truyền đạt vấn đề nầy lại cho môn sinh giỏi là: Tấn. Tấn làm “truyền nhân” nghiên cứu kỹ càng. Thành thật mà nói: Không biết bao giờ ngành Y học Việt Nam mới có được một bác sĩ khác: được kết nạp vào E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới). Vậy thì, em không nên nghĩ đó là chuyện “kích dục” nha.
- Em chưa đồng quan điểm với anh... về việc nầy tí nào cả.
- Tại sao em cứ nhìn “nó” với bản năng tầm thường của một người đàn bà ru rú thu mình trong trôn ốc? Như con ốc len rụt rè nhút nhát? Mà em không chịu vươn mình lên đỉnh cao của y học và nghệ thuật và sự thật!? Anh hỏi em: Tại sao nữ giới đã có phụ-khoa, có sãn-khoa? Trong khi đó người đàn ông không nhiều thì ít, bị “trục trặc” yếu xìu vấn đề ấy, lại không có phép đi khám Nam-khoa? Theo như thống kê gần nhất, đàn ông từ 40 -> 60; 70; 80 tuổi - đa số bị trục trặc đến 65%, 85%. Mà chả có môn y-học nào để chuyên trị! Hở? Không công bằng.
- Có phải anh gián tiếp khuyên em: Hãy cứ nhìn vấn đề Nam-khoa một cách khoa học, chính chắn, lành mạnh. Em sẽ thấy nó bổ ích lành mạnh cho nhân loại. Chứ không phải để cánh đàn ông lợi dụng điều đó mà đi “ăn chơi” trác táng chắc?
- Ư Ứ Ừ. Nó phục vụ cho sự hoà hợp gia đình giữa vợ chồng. Em cứ nghĩ anh như thế, thật oan ơi ông địa! Đó cũng là quan niệm chung chung của một số ít phụ nữ, có chút mặc cảm về chồng mình quá bay bướm.
- À ra thế! Vì lúc đề cập đến chuyện nầy, có không ít đàn bà Việt Nam “kín cổng cao tường -rất khó nói”. Biết thắc mắc cùng ai? Thì anh Tấn đã dày công nghiên cứu y học, và mạnh dạn phổ biến trong Nam-khoa chuyên về Niệu-đạo-học Urologist nè!
- Đúng Mi Mi ạ! Hãy cùng nhau nhìn vào lăng kính Y-Học mà tìm hiểu, nghiên cứu, nghiền ngẫm lại em nhé! Anh chỉ công bằng, và lấy công tâm ra để cùng nhau chia sẻ, tâm tình, tìm hiểu, nói với nhau vấn đề tế nhị. Anh không có ý tranh chấp chuyện nầy với em. Hay bất cứ với ai gì cả. Nhá.
- Dạ vâng! Thưa ông tướng!
- Ông... Tướng gì nào?
- Tướng công E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới) đó!
- Vậy, em sẽ là nữ “trợ tá đắc lực của Urologist” nha.
- Hahaha!!! Hổng dám đâu. Thưa Tướng công E.D.A.C.T !!! Nay, đã già lắm, cuộc tình giữa hai người: Thật ra chỉ là những ủi an, sẻ chia trên phone khi vắng xa nhau, thân thiết, nồng nhiệt, vui vẻ, nâng vực nhau những lúc gặp muộn phiền, thất vọng nào đó. Chúng ta nói những chuyện đôi khi ba xàm ba láp, ân cần san sẻ, cũng có chút xí vui vui và hữu ích. Cho đến một ngày nào đó… có một trong hai người vĩnh viễn nằm xuống, đành đoạn rứt áo ra đi... Thế thôi.
***
Nói rất thật tình thì Mi Mi không hề ưa thích gì bà Hoà, (là bà vợ bé) của bác sĩ Tấn. Vì Mi cho rằng: Bà Hoà giựt chồng người! Mi nghĩ cánh đàn ông các anh ưa bênh vực nhau. Nhất là Sơn, Năm Tony, họ với Tấn đã thân thiết từ hồi còn bé tí, nên họ coi nhau như ruột thịt. Kể cả con nhỏ Sáu (cháu ruột cuả bà Thủy) đang ngồi nói chuyện với Mi Mi về mấy anh ấy và bà Thuý:
- Cháu kêu bà Thúy bằng dì. Cháu mới thấy thấm thía nỗi đau của dượng Tấn. Chỉ vì dì Thúy và dượng Tấn thuở còn non trẻ: đã bồng bột vội vàng làm đám cưới. Khi họ chưa thật sự thấu hiểu nhau. Khi về làm vợ chồng rồi, thì họ mới lộ ra cả trăm điều trái ngược, mà không ai có thể ngờ! Nhất là sau nầy khi dượng Tấn đã thành danh trên đường đời. Dượng Tấn càng không thể chấp nhận có một người vợ kém sút từ mọi mặt. Dì không biết ngọt ngào chia sẻ với chồng, không đảm đang. Theo cháu nhận xét thì: dì Thúy vốn là cô gái nông thôn, nên dì Thúy hơi nhà quê, ít học. Vì thế lối ăn nói cuả dì thiếu suy nghĩ, xử trí kém cỏi, không tế nhị, vô duyên, lại có chút trẻ con. Cộng thêm tính ghen là số một, làm mất danh dự chồng không kể xiết, cùng lười biếng và vô trách nhiệm. Ở nhà dì ưỡn ẹo rông rống ngồi chơi xơi nước, dì không làm gì cả. Nhàn cư vi bất thiện mà! Có tật xấu là khi dì Thúy tức giận, thì chuyên môn đi ngồi lê đôi mách nói xấu người nầy, nhún vai chê trách người kia. Dì Thúy chẳng chịu đi chợ búa cơm nước gì, chồng đi làm về luôn đói meo. Thế là dượng bỏ nhà ra đi ăn… “phở” mệt nghỉ. Trước tiên là tốn tiền, sau đó lây lan qua tốn tình! Dì Thúy nói:
- Tội gì chợ búa cơm nước chi cho mệt. Ổng làm tới chức bác sĩ, bác sĩ thiệt à, có nhiều tiền ổng cho gái ăn cũng vậy. Tui cứ kêu người ta bưng cơm tháng, tội gì tui chui vô bếp cho khổ! Ổng đi… coi kià:
Đi đâu? Nay mới về nhà???
Có thấy xó góc chổi chà dựng bên
Tôi hỏi: “chỉ một mình ên
Sao mà thì thọt góc thềm làm thinh?
Nếu không có tật giật mình
Tại sao cúi mặt má phình tím thâm?
Dại khôn anh cứ thật tâm,
Kể ra… cho cả sơn lâm biết nào.
Thì tui… cha bảo chẳng gào
Ba bà có tức… ra ao nhảy ùm
Cùng nhau kéo cổ lùm lum
Cho anh chết ngộp khóc um mới chừa
Cái tật tành hanh ai ưa
Thấy gái, anh lấy vải thưa bịt liền
Anh mà mở mắt láo liên
Tui thề móc mắt rồi khiêng vô TÙ (*)
Mi ngậm ngùi nghe cô cháu gái cuả bà Thúy kể tiếp:
- Đúng ra, dượng Tấn rất mất mặt với bạn bè khi mang vợ ra ngoài xã hội giao tế. Dì Thúy luôn đốp chát những câu thiệt vô duyên, như gáo nước tạt vô mặt bạn. Sau nầy, khi Tấn gặp bà Hoà thì khác hẳn, Tấn yêu bà Hoà thông minh, tế nhị, khôn ngoan, đảm đang, vui vẻ. Có thể nói Tấn rất hãnh diện vì đã gặp và yêu bà Hoà (là vợ lẽ). Vì thế, thời gian sau dì Thúy cứ buồn xo “ngồi trong bóng tối”.
Mi liếc nhìn Sơn dò hỏi. Anh gật đầu:
- Ưà, Sáu nói nghe thật lạ lùng! Vậy mà thật đó. Bà Thúy có ba đứa con với Tấn, nay con cái khôn lớn, thành đạt cả. Các con Tấn rất yêu mẹ. Tấn đã tạo cho bà Thúy có cái nhà tươm tất, có cửa tiệm để các mẹ con sinh sống. Đặc biệt là Tấn chưa hề ly dị với bà Thúy. Trên pháp lý mọi tài sản đều là của Tấn (trừ khi Tấn làm di chúc để lại). Theo anh nghĩ Tấn không ngờ... Nên, em đừng nghĩ rằng bà Hoà “cướp” hết nha: Chồng, và 2 tài khoản: Một bank tiền Việt Nam. Một bank tiền USD. Bà Hoà chỉ giữ mấy quyển sổ ghi tên Tấn thôi. Bà Thúy vợ chính thức mới là người thừa kế tài sản, (khi Tấn nằm xuống xuôi tay, ba đứa con cuả bà Thúy rất tốt đã xúm lại thuyết phục mẹ chúng, nên làm giấy ủy quyền (vợ lẽ cuả cha); cho bà Hoà có tiền nuôi hai đứa em nhỏ cùng cha khác mẹ. Bà Thúy rất thân với bà vợ cũ của Năm. Hai bà có những tính giống nhau, nên mỗi lần gặp mặt, là họ xúm lại chửi Năm và Tấn ác liệt. Thật oan uổng và tội nghiệp lắm em! Hãy lấy công tâm mà xét xử công bằng đi.
- Thì anh cũng kinh khủng không vừa gì! Chắc anh muốn nói: Tình yêu chân thật phát xuất từ hai trái tim đồng điệu, thông cảm. Thì sự cần thiết ấy không có tội, có lỗi. Phải không nà?
- Thôi em! Moi móc làm gì. Chuyện buồn mà! Anh không muốn tranh luận với em điều nầy. Có thể em nghĩ anh không công bằng, thiên lệch, khi anh chỉ đến thăm mẹ con bà Hoà, mà hầu như ít đến thăm mẹ con bà Thúy (vợ chính thức). Nếu em biết sự thật, em sẽ thấy anh có lý. Tấn cũng “đào hoa” ra phết đó em à. Ai có ngờ con người coi như có vẽ chậm chạp, lù đù, hiền lành, ít nói. Thế mà có khối bà, khối cô mê Tấn tít thò lò! Kỳ xưa, anh Tấn bị “hai bà: vợ lớn, vợ bé” đuổi ra khỏi nhà, chỉ vì anh ta có thêm “bà Ba” nữa mới chết! Tấn phải đi lang thang ngoài phố, ăn cơm quán, ngủ hotel suốt một năm. Ấy là vì hồi đó Tấn lại cặp một con bồ xinh xắn luôn xà nẹo khác. “Một vợ nằm giường lèo. Hai vợ nằm chèo queo. Ba vợ ra chuồng heo mà... nằm”. Anh Tấn định thuê nhà để bà đó về ở chung.
- Trời! Thì hồi đó chính Sơn thuê nhà cho Tấn ở đó mà. Cả đến bây giờ, khi anh Tấn chết rồi, lại có cô bác sĩ trẻ măng mê anh Tấn hết sức. Lúc sắp sữa liệm, cô ta chạy ra ngoài ôm mặt khóc nức nở! Cô bác sĩ nầy trẻ tuổi lắm, cô chỉ hơn con của Tấn năm bảy tuổi là cao. Tôi có biết cô ta. Theo tôi nghĩ có lẽ do cô ấy quý trọng tài năng của Tấn, thì đúng hơn. Nghe chị nói, tôi mới té ngữa ra. Ai dè cái bề ngoài Tấn đạo mạo, nghiêm trang. Mà ẩn chứa trong lòng những “sống động tình cảm sôi sục cồn cào” chứ. Có điều làm sao mà anh ta “dàn xếp” tuyệt hữu khi chia tay với bà nầy, hẹn hò chung sống với bà kia yên ổn. Dù họ:
BA BÀ đấu khẩu bên thềm
Nạt nhau đừng có vác mền giữa đêm
Lưng dài cao cẵng lại thèm
Suốt đêm anh lỡ say mèm “Phở, Bia”
Cơm không thể nuốt "ôm bia mộ” buồn!!! (hê hê hê!!!)
Lỡ "khiêng về" BA vợ khùng!!!
Bởi vì: Bà(1) nói lung tung,
Bà(2) trợn mắt. Bà(3) lủng củng trong mùng
BA BÀ chẳng thể thủy chung
Đánh anh chí choé lùng bùng lỗ tai
Chàng bèn than thở vắn dài
Ba bà bỏ tuốt. Một hai vái chừa !!! (*)
Năm còn nhớ có lần đám bạn gặp nhau, Tấn mời tôi đi ăn cơm rồi giành trả tiền. Tấn moi trong ngăn bóp tờ một trăm xếp nhỏ xíu, nhét kỹ một góc kín.
Ai ơi! ngó lại mà xem
Thời nay có một anh thèm cặp ba
Bà hầu quạt đêm Hạ. Bà
úm mền. Bà bóp hông ‘đá’ tứ tung
“Em ơi, khe khẽ anh cưng
Ôi dào đau quá cái lưng sụm rồi!!!”
Bởi do BA BÀ tơi bời
Bị đây, tại đó chẳng rời vén vun
‘Đây’ thì do ‘đấy’ ôm hun
Lim dim bốn mắt môi chùn chụt thôi
Chu choa cái ấy em ơi
“Chắc là tui trốn cho rồi”. Về quê!!!
Trốn đâu BÀ cũng moi về
Nợ đời phải trả BÀ thề "hưởng dương"
ÔNG ở góc phố cuối vườn
Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao! (*)
- “ÔNG ở góc phố cuối vườn. Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao”! Nhưng bây giờ chết đi, anh Tấn chả mang theo được đồng nào. Thậm chí mấy nút áo, nút quần, cũng bị lặt ra để lại trên trần thế. Theo tục lệ Việt Nam, họ nói phải cắt hết mọi thứ để lại, không có đem theo sắt đá nút neo gì hết. Xác mới nhẹ nhàng, dễ siêu thoát. Tuy vậy Tấn chết đi, còn để lại mối ưu phiền cho hai bà vợ, cùng bầy con hai dòng máu một cha khác mẹ, quả thật là rất buồn! Thiệt! Xét cho cùng, Mi vẫn thấy thương bà vợ lớn hơn. Bà lớn tất nhiên không khôn khéo, thất học, không biết cư xử, không biết cách giữ chồng, (như lời cô Sáu và Sơn nói). Nên bị người khác giựt chồng là phải! Vì bà lớn quá yêu chồng, sợ mất chồng, nên “kè kè giám sát” từng hành vi, cử chỉ chồng. Khiến anh ta nổi giận vì sự ràng buộc khắt khe quá mất tự do, mà... xa! Còn bà nhỏ lanh lẹ, khôn ranh hơn là ngoan, có học, tinh tế là có chủ đích cả! (như lời anh ca tụng). Bà Hoà rất biết là Tấn có vợ con “đình huỳnh”. Nhưng bà ta vẫn có cách ngầm ngầm ma lanh để câu móc chiều chuộng chồng người. Vỗ về an ủi chồng người! Rồi đương nhiên nhào vô giựt chồng người... Anh cho là... là phải nốt!?
- Thôi, dù sao cũng là chuyện nói cho vui, chứ chả còn gì! Giữa hai bên chỉ là khoảng trống mênh mông. Thấy tội cho mấy đứa nhỏ con cuả hao người đàn bà: chúng cũng là anh chị em ruột cùng cha khác mẹ, mà hai bên chưa bao giờ quen biết nhau, từ xưa đến bây giờ, và mãi mãi... Họ đứng trên hai “chiến tuyến” khác hẳn nhau.
***
(*) Thơ Vui Tình Hoài Hương
Tình Hoài Hương





























Comment