Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Tinh Hoai Huong
    Senior Member
    • May 2009
    • 1081

    #181
    Truyền Nhân Nam-Khoa-Y



    Truyền Nhân Nam-Khoa-Y


    Hai người ăn mặc chỉnh tề, đeo kính mát, mang theo hai mũ bảo hiểm, chuẩn bị chu đáo cho một ngày đi xa… Năm đổ xăng thật đầy bình, vui vẻ chở Mi Mi từ Sài Gòn đi lên Nghiã Trang “Đô Thành”. Cơn triều cường chảy hoài đến khúc quanh cầu Bình triệu, Thủ Đức, vẫn ngập tới nửa bánh xe, mặc dù mưa chiều hôm trước không to lắm, nhưng nước đọng còn dâng cao. Ồ, đó là nơi nhà ga cũ, nơi xưa kia mỗi lần đi qua đây, Năm và Mi bị ngập lụt nước mưa, phải bỏ cả giày dép ra, hai người lội bì bõm dưới nước bùn sình hôi tanh đen ngòm. Hầu đẫy chiếc dream chết máy khó khăn nhọc nhằn vô cùng, hì hục mãi không đẫy xe nỗi. Hai anh em nâng đầu xe lên cao cho nước chảy ra. Sau đó anh đạp hoài đạp mãi, thì xe nổ máy.

    Năm chen lấn đoàn xe đông như kiến đang bì bõm trong sình lầy dù nước đọng, họ vẫn chạy nhanh. Nước bắn tung toé lên đầy ngực Mi. Chỗ đó vẫn luôn bị ngập lụt. Năm chạy xe đến gần cầu Gò Dưa mới có đoạn đường tốt. Chạy xe mãi đến gần ngã tư xa lộ Thủ Đức. Anh rẽ vào lối đi tắt, đi lung tung vòng vèo đến nghĩa trang Đô Thành thăm bạn thân nhất đời đã về cõi vĩnh hằng. Gửi xe xong, Mi mua một bó hoa, một bó nhang, hộp quẹt, nến. Hai người đủng đỉnh tới ngôi mộ Tấn, khi mặt trời đang đứng trên đỉnh đầu.

    Gia đình Tấn chọn nơi nầy thật đẹp, nghĩa trang rộng khoảng 10 hecta đất gò cao ráo, phóng khoáng. Nơi mà hồi xưa Trung-tướng Mai Hữu Xuân đã mua, rồi nhờ ba của Năm đứng ra chăm chút cai quản. Tấn được vào nằm trong nghĩa trang nầy (nghĩa trang uy linh tương tự như Arlington ở Washington DC), là một vinh dự to lớn, vì Tấn nổi tiếng là một bác sĩ khá giỏi. Trước ngôi mộ xây đá cẩm thạch đen khá cao, rất đẹp, bia mộ Tấn có ghi đầy đủ tiểu sử. Hình Tấn chụp vào độ tuổi trung niên thật phong độ, trẻ trung, vui tươi, hiền hoà. Sau lưng bia mộ lớn là tấm bảng đen bóng, trên đó khắc ghi một bài thơ tiếng Anh, đại ý là:
    I burst into tears at my birth.
    Whereas one laughed for congratulations!
    Now I am brought at an early grave.
    One mourns over me crying.
    Only me that I smile quietly.
    “Lúc tôi mới sinh ra đời.
    Tôi khóc thét lên.
    Mọi người đều vui cười hoan hỉ.
    Nay tôi đã nằm xuống.
    Mọi người tiếc thương và than khóc.
    Chỉ riêng tôi lặng lẽ mỉm cười”. (*)
    [(*) Chuyển ngữ câu tiếng Anh trên, là do tác giả (THH) viết; không phải do nguyên bản của lời ghi từ bia mộ Tấn].

    Mi Mi cúi đầu lặng lẽ thì thầm gửi anh Tấn lời tống biệt cuối cùng:
    - Thôi anh Tấn ơi! Nếu em có khóc thương tiếc nuối anh. Thì... Bây giờ em đành chấp nhận sự thật của tạo hoá ngàn năm an bài: Sinh. Lão. Bệnh. Tử. Sống. Gặp gỡ. Vĩnh biệt chia tay. Có tựu rồi tan. Có sống rồi chết. Ai ai cũng phải bước qua “cái Ải buồn phiền đau đớn” nầy! Mi thật buồn, và rất qúy trọng anh Tấn. Anh biết không? Nhớ ngày đầu tiên cách đây bốn chục năm, Mi Mi quen anh Tấn, hôm đó là ngày Mi Mi và anh Hoàng Năm Tony chia tay nhau ở trên bến xe Đà Lạt, gần tiệm cà phê Domino. Dù Mi Mi chỉ gặp và trò chuyện cùng anh Tấn không đầy mười lăm phút, nhưng em thấy anh Tấn thật vui tính, dí dỏm, hiền lành, hóm hỉnh có duyên và dễ thương. Duy có một điều bây giờ em vô cùng nuối tiếc về anh Tấn. Vì, anh Tấn đã làm một chuyện rất tốt đẹp mãi lưu truyền đến nay. Mặc dù anh Tấn chết đi, nhưng anh đã để lại một kho tàng vô giá cho y học (nói chung, và cho cánh đàn ông nói riêng). Nếu em nhìn đúng khía cạnh thuần tuý về nghề nghiệp chuyên môn của anh Tấn. Em sẽ không nghĩ là anh Tấn “khích dục hay gia tăng độ dâm đãng”. Anh Tấn hãy lắng nghe Em, anh Năm, Sơn, đã từng thảo luận nè:

    * Đây là một khía cạnh không kém quan trọng của xã hội. Rất ít ai dám đề cập đến. Ai cũng sợ nó. Vì, nó tế nhị, nhạy cảm (nếu không muốn nói là hơi trắng trợn). Vã lại nếu đàn ông mà không “làm tròn bổn phận thiêng liêng cao cả tuyệt vời” trong điạ vị cuả người chồng đối với vợ. Người Nam nhút nhát thú nhận “mình bất lực” ; thì còn gì là “đàn ông tính”! Ở đây không đề cập đến vấn đề “trai gái lố lăng lẵng lơ đĩ thoả”.
    * Khoa Y học NIỆU nầy, chính thức công nhận chỉ chừng 15 hoặc 25 năm nay. Gọi đó là Nam Khoa Andrology - được phơi bày ra dưới lăng kính Y Học nghiêm túc, đứng đắn đàng hoàng cần thiết rất khoa học - (chứ không phải dưới lăng kính kích dục, cường dục, hay... dâm đãng điếm đàng vui chơi). Trước kia, chỉ có khoa trị liệu về các bệnh liên quan về Niệu. Còn chuyện kín đáo riêng tư “tế nhị phòng the” giữa tình yêu hai vợ chồng, thì ai ai cũng sợ lộ ra. Họ cứ sợ nói ra thì... người khác sẽ chê mình… “phóng đãng dâm tặc”.
    Tony Năm có một phần suy nghĩ trong vấn đề nầy:
    - Nhất là một số các bà vợ cho rằng: do chồng mình ưa bay bướm, đàng điếm, ăn chơi, sa đoạ, mà ra nông nổi ấy! Chứ gì!?
    Sơn phản đối kịch liệt:
    - Tầm bậy nữa rồi. Khoa nầy hiện nay đã chứng minh được sự cần thiết của môn y học. Dân số trên thế giới đa số trên 65% đã rơi vào tuổi khá cao, nếu chưa muốn nói là già. Còn lại 35% là tuổi trẻ. Do đó những vị cao tuổi của NAM và NỮ, đều tối cần thiết là Andrology. Nếu họ muốn có cuộc sống gia đình hạnh phúc lứa đôi trường tồn. Vấn đề bạn Tấn theo môn Nam Khoa, không phải tự ên do Tấn hứng khởi đề xướng ra, (nhất là ở Việt Nam có phong tục tập quán khác biệt hẳn Tây Phương). Mà là do một vị giảng sư đại học Y khoa: Lichsteinberger là tên của vị linh mục khả kính trong dòng Tên, ông ấy là một bác sĩ rất tài ba, xuất chúng trên nhiều lĩnh vực y khoa.
    - Em nghĩ anh Tấn chọn ngành Y nam khoa nầy, chỉ vì xu hướng cá nhân. Vì chính anh Tấn đèo bồng một lúc ba bốn bà. Hai bà vợ lớn, bé. Cộng thêm hai bà bồ hờ kia nữa, là gì!
    - Không đúng đâu. Trước kia, Tấn chỉ là một bác sĩ đa khoa giỏi. Sự trở về ngành chuyên môn, là do tình cờ mà thôi: Lúc ấy có một bác-sĩ giảng-sư dòng Tên, khi cùng làm việc trong bệnh viện ở Việt Nam, ông ta đã tâm sự với Tấn:
    - Anh nên chọn về ngành Y-Nam-khoa. Vì cánh đàn ông các anh rất thiệt thòi. Anh có điều kiện, nên lưu ý về khoa đặc biệt nầy. Tôi hy vọng anh sẽ phát huy y-học Nam-Khoa tốt, để giúp nam giới trong vấn đề tình yêu vợ chồng.
    Thế là sau khi về Pháp, vị linh mục đó gửi cho Tấn những tư liệu, tài liệu, sách vở chuyên môn, để Tấn nghiên cứu, nghiền ngẫm, học hỏi thêm. Ông bác sĩ dòng Tên ấy nghiên cứu kỹ về những cặp vợ chồng, về hạnh phúc lứa đôi trong xã hội. Nhưng thực tế là ông ta hoàn toàn không có điều kiện, để phát huy hay thực hành. Vì vậy, ông ta truyền đạt vấn đề nầy lại cho môn sinh giỏi là: Tấn. Tấn làm “truyền nhân” nghiên cứu kỹ càng. Thành thật mà nói: Không biết bao giờ ngành Y học Việt Nam mới có được một bác sĩ khác: được kết nạp vào E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới). Vậy thì, em không nên nghĩ đó là chuyện “kích dục” nha.
    - Em chưa đồng quan điểm với anh... về việc nầy tí nào cả.
    - Tại sao em cứ nhìn “nó” với bản năng tầm thường của một người đàn bà ru rú thu mình trong trôn ốc? Như con ốc len rụt rè nhút nhát? Mà em không chịu vươn mình lên đỉnh cao của y học và nghệ thuật và sự thật!? Anh hỏi em: Tại sao nữ giới đã có phụ-khoa, có sãn-khoa? Trong khi đó người đàn ông không nhiều thì ít, bị “trục trặc” yếu xìu vấn đề ấy, lại không có phép đi khám Nam-khoa? Theo như thống kê gần nhất, đàn ông từ 40 -> 60; 70; 80 tuổi - đa số bị trục trặc đến 65%, 85%. Mà chả có môn y-học nào để chuyên trị! Hở? Không công bằng.
    - Có phải anh gián tiếp khuyên em: Hãy cứ nhìn vấn đề Nam-khoa một cách khoa học, chính chắn, lành mạnh. Em sẽ thấy nó bổ ích lành mạnh cho nhân loại. Chứ không phải để cánh đàn ông lợi dụng điều đó mà đi “ăn chơi” trác táng chắc?
    - Ư Ứ Ừ. Nó phục vụ cho sự hoà hợp gia đình giữa vợ chồng. Em cứ nghĩ anh như thế, thật oan ơi ông địa! Đó cũng là quan niệm chung chung của một số ít phụ nữ, có chút mặc cảm về chồng mình quá bay bướm.
    - À ra thế! Vì lúc đề cập đến chuyện nầy, có không ít đàn bà Việt Nam “kín cổng cao tường -rất khó nói”. Biết thắc mắc cùng ai? Thì anh Tấn đã dày công nghiên cứu y học, và mạnh dạn phổ biến trong Nam-khoa chuyên về Niệu-đạo-học Urologist nè!
    - Đúng Mi Mi ạ! Hãy cùng nhau nhìn vào lăng kính Y-Học mà tìm hiểu, nghiên cứu, nghiền ngẫm lại em nhé! Anh chỉ công bằng, và lấy công tâm ra để cùng nhau chia sẻ, tâm tình, tìm hiểu, nói với nhau vấn đề tế nhị. Anh không có ý tranh chấp chuyện nầy với em. Hay bất cứ với ai gì cả. Nhá.
    - Dạ vâng! Thưa ông tướng!
    - Ông... Tướng gì nào?
    - Tướng công E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới) đó!
    - Vậy, em sẽ là nữ “trợ tá đắc lực của Urologist” nha.
    - Hahaha!!! Hổng dám đâu. Thưa Tướng công E.D.A.C.T !!! Nay, đã già lắm, cuộc tình giữa hai người: Thật ra chỉ là những ủi an, sẻ chia trên phone khi vắng xa nhau, thân thiết, nồng nhiệt, vui vẻ, nâng vực nhau những lúc gặp muộn phiền, thất vọng nào đó. Chúng ta nói những chuyện đôi khi ba xàm ba láp, ân cần san sẻ, cũng có chút xí vui vui và hữu ích. Cho đến một ngày nào đó… có một trong hai người vĩnh viễn nằm xuống, đành đoạn rứt áo ra đi... Thế thôi.
    ***

    Nói rất thật tình thì Mi Mi không hề ưa thích gì bà Hoà, (là bà vợ bé) của bác sĩ Tấn. Vì Mi cho rằng: Bà Hoà giựt chồng người! Mi nghĩ cánh đàn ông các anh ưa bênh vực nhau. Nhất là Sơn, Năm Tony, họ với Tấn đã thân thiết từ hồi còn bé tí, nên họ coi nhau như ruột thịt. Kể cả con nhỏ Sáu (cháu ruột cuả bà Thủy) đang ngồi nói chuyện với Mi Mi về mấy anh ấy và bà Thuý:
    - Cháu kêu bà Thúy bằng dì. Cháu mới thấy thấm thía nỗi đau của dượng Tấn. Chỉ vì dì Thúy và dượng Tấn thuở còn non trẻ: đã bồng bột vội vàng làm đám cưới. Khi họ chưa thật sự thấu hiểu nhau. Khi về làm vợ chồng rồi, thì họ mới lộ ra cả trăm điều trái ngược, mà không ai có thể ngờ! Nhất là sau nầy khi dượng Tấn đã thành danh trên đường đời. Dượng Tấn càng không thể chấp nhận có một người vợ kém sút từ mọi mặt. Dì không biết ngọt ngào chia sẻ với chồng, không đảm đang. Theo cháu nhận xét thì: dì Thúy vốn là cô gái nông thôn, nên dì Thúy hơi nhà quê, ít học. Vì thế lối ăn nói cuả dì thiếu suy nghĩ, xử trí kém cỏi, không tế nhị, vô duyên, lại có chút trẻ con. Cộng thêm tính ghen là số một, làm mất danh dự chồng không kể xiết, cùng lười biếng và vô trách nhiệm. Ở nhà dì ưỡn ẹo rông rống ngồi chơi xơi nước, dì không làm gì cả. Nhàn cư vi bất thiện mà! Có tật xấu là khi dì Thúy tức giận, thì chuyên môn đi ngồi lê đôi mách nói xấu người nầy, nhún vai chê trách người kia. Dì Thúy chẳng chịu đi chợ búa cơm nước gì, chồng đi làm về luôn đói meo. Thế là dượng bỏ nhà ra đi ăn… “phở” mệt nghỉ. Trước tiên là tốn tiền, sau đó lây lan qua tốn tình! Dì Thúy nói:
    - Tội gì chợ búa cơm nước chi cho mệt. Ổng làm tới chức bác sĩ, bác sĩ thiệt à, có nhiều tiền ổng cho gái ăn cũng vậy. Tui cứ kêu người ta bưng cơm tháng, tội gì tui chui vô bếp cho khổ! Ổng đi… coi kià:
    Đi đâu? Nay mới về nhà???
    Có thấy xó góc chổi chà dựng bên
    Tôi hỏi: “chỉ một mình ên
    Sao mà thì thọt góc thềm làm thinh?
    Nếu không có tật giật mình
    Tại sao cúi mặt má phình tím thâm?
    Dại khôn anh cứ thật tâm,
    Kể ra… cho cả sơn lâm biết nào.
    Thì tui… cha bảo chẳng gào
    Ba bà có tức… ra ao nhảy ùm
    Cùng nhau kéo cổ lùm lum
    Cho anh chết ngộp khóc um mới chừa
    Cái tật tành hanh ai ưa
    Thấy gái, anh lấy vải thưa bịt liền
    Anh mà mở mắt láo liên
    Tui thề móc mắt rồi khiêng vô TÙ
    (*)

    Mi ngậm ngùi nghe cô cháu gái cuả bà Thúy kể tiếp:
    - Đúng ra, dượng Tấn rất mất mặt với bạn bè khi mang vợ ra ngoài xã hội giao tế. Dì Thúy luôn đốp chát những câu thiệt vô duyên, như gáo nước tạt vô mặt bạn. Sau nầy, khi Tấn gặp bà Hoà thì khác hẳn, Tấn yêu bà Hoà thông minh, tế nhị, khôn ngoan, đảm đang, vui vẻ. Có thể nói Tấn rất hãnh diện vì đã gặp và yêu bà Hoà (là vợ lẽ). Vì thế, thời gian sau dì Thúy cứ buồn xo “ngồi trong bóng tối”.
    Mi liếc nhìn Sơn dò hỏi. Anh gật đầu:
    - Ưà, Sáu nói nghe thật lạ lùng! Vậy mà thật đó. Bà Thúy có ba đứa con với Tấn, nay con cái khôn lớn, thành đạt cả. Các con Tấn rất yêu mẹ. Tấn đã tạo cho bà Thúy có cái nhà tươm tất, có cửa tiệm để các mẹ con sinh sống. Đặc biệt là Tấn chưa hề ly dị với bà Thúy. Trên pháp lý mọi tài sản đều là của Tấn (trừ khi Tấn làm di chúc để lại). Theo anh nghĩ Tấn không ngờ... Nên, em đừng nghĩ rằng bà Hoà “cướp” hết nha: Chồng, và 2 tài khoản: Một bank tiền Việt Nam. Một bank tiền USD. Bà Hoà chỉ giữ mấy quyển sổ ghi tên Tấn thôi. Bà Thúy vợ chính thức mới là người thừa kế tài sản, (khi Tấn nằm xuống xuôi tay, ba đứa con cuả bà Thúy rất tốt đã xúm lại thuyết phục mẹ chúng, nên làm giấy ủy quyền (vợ lẽ cuả cha); cho bà Hoà có tiền nuôi hai đứa em nhỏ cùng cha khác mẹ. Bà Thúy rất thân với bà vợ cũ của Năm. Hai bà có những tính giống nhau, nên mỗi lần gặp mặt, là họ xúm lại chửi Năm và Tấn ác liệt. Thật oan uổng và tội nghiệp lắm em! Hãy lấy công tâm mà xét xử công bằng đi.
    - Thì anh cũng kinh khủng không vừa gì! Chắc anh muốn nói: Tình yêu chân thật phát xuất từ hai trái tim đồng điệu, thông cảm. Thì sự cần thiết ấy không có tội, có lỗi. Phải không nà?
    - Thôi em! Moi móc làm gì. Chuyện buồn mà! Anh không muốn tranh luận với em điều nầy. Có thể em nghĩ anh không công bằng, thiên lệch, khi anh chỉ đến thăm mẹ con bà Hoà, mà hầu như ít đến thăm mẹ con bà Thúy (vợ chính thức). Nếu em biết sự thật, em sẽ thấy anh có lý. Tấn cũng “đào hoa” ra phết đó em à. Ai có ngờ con người coi như có vẽ chậm chạp, lù đù, hiền lành, ít nói. Thế mà có khối bà, khối cô mê Tấn tít thò lò! Kỳ xưa, anh Tấn bị “hai bà: vợ lớn, vợ bé” đuổi ra khỏi nhà, chỉ vì anh ta có thêm “bà Ba” nữa mới chết! Tấn phải đi lang thang ngoài phố, ăn cơm quán, ngủ hotel suốt một năm. Ấy là vì hồi đó Tấn lại cặp một con bồ xinh xắn luôn xà nẹo khác. “Một vợ nằm giường lèo. Hai vợ nằm chèo queo. Ba vợ ra chuồng heo mà... nằm”. Anh Tấn định thuê nhà để bà đó về ở chung.
    - Trời! Thì hồi đó chính Sơn thuê nhà cho Tấn ở đó mà. Cả đến bây giờ, khi anh Tấn chết rồi, lại có cô bác sĩ trẻ măng mê anh Tấn hết sức. Lúc sắp sữa liệm, cô ta chạy ra ngoài ôm mặt khóc nức nở! Cô bác sĩ nầy trẻ tuổi lắm, cô chỉ hơn con của Tấn năm bảy tuổi là cao. Tôi có biết cô ta. Theo tôi nghĩ có lẽ do cô ấy quý trọng tài năng của Tấn, thì đúng hơn. Nghe chị nói, tôi mới té ngữa ra. Ai dè cái bề ngoài Tấn đạo mạo, nghiêm trang. Mà ẩn chứa trong lòng những “sống động tình cảm sôi sục cồn cào” chứ. Có điều làm sao mà anh ta “dàn xếp” tuyệt hữu khi chia tay với bà nầy, hẹn hò chung sống với bà kia yên ổn. Dù họ:
    BA BÀ đấu khẩu bên thềm
    Nạt nhau đừng có vác mền giữa đêm
    Lưng dài cao cẵng lại thèm
    Suốt đêm anh lỡ say mèm “Phở, Bia”
    Cơm không thể nuốt "ôm bia mộ” buồn!!! (hê hê hê!!!)
    Lỡ "khiêng về" BA vợ khùng!!!
    Bởi vì: Bà(1) nói lung tung,
    Bà(2) trợn mắt. Bà(3) lủng củng trong mùng
    BA BÀ chẳng thể thủy chung
    Đánh anh chí choé lùng bùng lỗ tai
    Chàng bèn than thở vắn dài
    Ba bà bỏ tuốt. Một hai vái chừa !!!
    (*)
    Năm còn nhớ có lần đám bạn gặp nhau, Tấn mời tôi đi ăn cơm rồi giành trả tiền. Tấn moi trong ngăn bóp tờ một trăm xếp nhỏ xíu, nhét kỹ một góc kín.
    Ai ơi! ngó lại mà xem
    Thời nay có một anh thèm cặp ba
    Bà hầu quạt đêm Hạ. Bà
    úm mền. Bà bóp hông ‘đá’ tứ tung
    “Em ơi, khe khẽ anh cưng
    Ôi dào đau quá cái lưng sụm rồi!!!”
    Bởi do BA BÀ tơi bời
    Bị đây, tại đó chẳng rời vén vun
    ‘Đây’ thì do ‘đấy’ ôm hun
    Lim dim bốn mắt môi chùn chụt thôi
    Chu choa cái ấy em ơi
    “Chắc là tui trốn cho rồi”. Về quê!!!
    Trốn đâu BÀ cũng moi về
    Nợ đời phải trả BÀ thề "hưởng dương"
    ÔNG ở góc phố cuối vườn
    Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao!
    (*)

    - “ÔNG ở góc phố cuối vườn. Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao”! Nhưng bây giờ chết đi, anh Tấn chả mang theo được đồng nào. Thậm chí mấy nút áo, nút quần, cũng bị lặt ra để lại trên trần thế. Theo tục lệ Việt Nam, họ nói phải cắt hết mọi thứ để lại, không có đem theo sắt đá nút neo gì hết. Xác mới nhẹ nhàng, dễ siêu thoát. Tuy vậy Tấn chết đi, còn để lại mối ưu phiền cho hai bà vợ, cùng bầy con hai dòng máu một cha khác mẹ, quả thật là rất buồn! Thiệt! Xét cho cùng, Mi vẫn thấy thương bà vợ lớn hơn. Bà lớn tất nhiên không khôn khéo, thất học, không biết cư xử, không biết cách giữ chồng, (như lời cô Sáu và Sơn nói). Nên bị người khác giựt chồng là phải! Vì bà lớn quá yêu chồng, sợ mất chồng, nên “kè kè giám sát” từng hành vi, cử chỉ chồng. Khiến anh ta nổi giận vì sự ràng buộc khắt khe quá mất tự do, mà... xa! Còn bà nhỏ lanh lẹ, khôn ranh hơn là ngoan, có học, tinh tế là có chủ đích cả! (như lời anh ca tụng). Bà Hoà rất biết là Tấn có vợ con “đình huỳnh”. Nhưng bà ta vẫn có cách ngầm ngầm ma lanh để câu móc chiều chuộng chồng người. Vỗ về an ủi chồng người! Rồi đương nhiên nhào vô giựt chồng người... Anh cho là... là phải nốt!?

    - Thôi, dù sao cũng là chuyện nói cho vui, chứ chả còn gì! Giữa hai bên chỉ là khoảng trống mênh mông. Thấy tội cho mấy đứa nhỏ con cuả hao người đàn bà: chúng cũng là anh chị em ruột cùng cha khác mẹ, mà hai bên chưa bao giờ quen biết nhau, từ xưa đến bây giờ, và mãi mãi... Họ đứng trên hai “chiến tuyến” khác hẳn nhau.

    ***

    (*) Thơ Vui Tình Hoài Hương

    Tình Hoài Hương
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-20-2016, 01:14 PM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #182
      Tôi đã có một Việt Nam như thế…



      THH xin chân thành cảm ơn anh Viễn đã gởi một bài viết quá hay, rất cảm động, chua xót & ngậm ngùi... khiến tôi không thể ngăn đôi giòng lệ tuôn trào.
      Nay, tôi trân trọng kính gởi đến quý vị trong HQPD cùng đọc & tuỳ nghi...

      HH

      ***

      Tôi đã có một Việt Nam như thế…
      Do: Ku Búa @ Café Ku Búa viết.

      ***


      Ngày xưa tôi đã có một Việt Nam khiến tôi muốn trở về. Khi tôi hoàn thành chương trình du học của mình, tôi không màn đi tìm việc làm ở nước sở tại, cũng chẳng quan tâm đến thẻ xanh...


      Ngày xưa tôi đã có một thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Biển Đông. Tuy nó còn thua xa những thành phố ở những nước phát triển, nhưng nó là điều gần nhất với văn minh mà đất nước tôi có. Ngày xưa tôi đã có một thành phố mà những người ở vùng khác luôn ngưỡng mộ và ao ước để trở thành một người dân ở đó. Thành phố đó tuy nhỏ nhưng luôn mở rộng cửa để đón người tứ xứ về làm ăn buôn bán. Người dân ở thành phố đó chẳng bao giờ quan tâm đến bạn từ nơi đâu tới, cha mẹ bạn là ai, bạn nói tiếng Việt với giọng bắc hay nam.


      Họ cũng không bao giờ phân biệt người khác qua cái hộ khẩu. Ngày xưa tôi đã có một thành phố là đầu tàu của cả nước, là sự tổng hợp của những văn hóa và tinh hoa của thế giới. Thành phố đó là nơi mọi người nhìn vào để học hỏi và noi gương. Ngày xưa, tôi đã có một thành phố như thế.


      Ngày xưa tôi có những anh cảnh sát khiến tôi luôn cảm thấy an toàn và trật tự. Tôi đã có những anh cảnh sát mà tôi luôn tin tưởng và luôn tìm đến khi có một vấn đề gì cần giải quyết. Họ không bao giờ đi vòng vòng kiểm tra tạm trú hay tạm vắng, hay đúng hơn là làm có cái thứ gì gọi là tạm trú tạm vắng đâu mà kiểm tra. Tôi đã có những anh cảnh sát nếu phải giữ gìn trật tự đường phố và vỉa hè, họ cũng không bao giờ đánh đuổi những người bán hàng rong. Họ chỉ nhắc khéo và mỉm cười. Và nếu họ phải kêu đi thì họ sẽ sẵn lòng phụ giúp dọn dẹp.


      Tôi đã có những anh cảnh sát không bao giờ đánh dân, những người sẽ luôn sẵn lòng hy sinh bảo vệ tôi. Tôi đã có những anh cảnh sát trên xa lộ mà tôi gọi là những con bồ câu trắng, đó là những anh cảnh sát xa lộ luôn sẵn lòng giúp tôi đẩy chiếc xe nếu nó bị hư dọc đường. Tôi đã có những anh cảnh sát mà tôi luôn ngưỡng mộ. Ngày xưa tôi đã có những anh cảnh sát như thế.

      Ngày xưa thành phố của tôi có các bệnh viện chuyên chữa bệnh miễn phí cho người bệnh, nếu có viện phí cho dù có cao đến mức nào, thì cũng không từ chối chữa bệnh.


      Tôi đã có một hệ thống y tế không phân biệt giàu nghèo. Một hệ thống y tế dù phải hoạt động theo quy luật tài chính, nhưng không bao giờ để tiền làm cản trở y đức. Tôi đã có một hệ thống y tế sẵn lòng kêu một chiếc trực thăng để giải cứu bất cứ ai gặp nạn. Tôi đã có những bác sĩ và y tá chuyên tâm làm việc và ít khi nào, nếu có, vòi tiền bệnh nhân. Ngày xưa, tôi đã có một hệ thống y tế như thế.


      Ngày xưa tôi đã có những người thầy và người cô luôn dạy tôi cách làm người trước khi dạy tôi học thức. Tôi đã có những người thầy cô luôn tận tâm giảng dạy, luôn học hỏi để trao dồi kiến thức.


      Tôi đã có những thầy cô, tuy tư tưởng vẫn mang tính chất văn hóa Nho Giáo, những luôn cho tôi phát biểu, luôn cho tôi chỉ trích, luôn cho tôi không đồng ý.


      Tôi có thể công khai phản đối bài tập, tôi có thể biểu tình để đòi hỏi quyền lợi mà tôi cho rằng mình nên có. Tôi đã có những thầy cô luôn mang tầm hồn của những nhà học thức. Ngày xưa tôi đã có những người thầy và người cô như thế.


      Ngày xưa tôi đã có những nhạc sĩ tài ba, những nhạc sĩ sáng tác những bài hát mà tôi nghe không bao giờ biết chán. Họ ít khi nào, hoặc chẳng bao giờ, đạo nhạc. Vì mỗi bài họ sáng tác là một tác phẩm nghệ thuật.



      Ngày xưa tôi đã có những nhà sách bán đầy sách, mọi thể loại sách. Nơi đó là nơi tôi gọi là những thư viện tri thức. Nơi đó bán những cuốn sách của nhiều tác giả của nhiều quốc gia khác nhau. Nơi đó thậm chí bán những cuốn sách mà tôi không hề thích và đồng ý chút nào. Nhưng đã là nhà sách thì phải da dạng và phong phú. Ngày xưa tôi đã có những nhà sách như thế.


      Ngày xưa tôi đã có một Tổng Thống khiến tôi cảm thấy hãnh diện. Ông ấy có thể nói tiếng Anh, đủ để hiểu, đủ để trả lời phỏng vấn của các phóng viên quốc tế, đủ để đàm phán với các nhà lãnh đạo quốc tế, đủ để cất lên tiếng nói cho tất cả người dân dù đa số người dân không bầu chọn ông ta.


      Ngày xưa tôi đã có một Tổng Thống khiến tôi tự tin để nói với các bạn bè quốc tế rằng “that is our President.” Ngày xưa, tôi đã có một Tổng Thống Như Thế.

      Ngày xưa tôi đã có một Chỉ Huy Trưởng khiến tôi tự hào về lực lượng Quân Lực. Tôi đã có một Chỉ Huy Trưởng khiến tôi cảm thấy an toàn, cho dù đất nước vẫn còn trong thời chiến. Tôi đã có một Chỉ Huy Trưởng khiến tôi cảm thấy yêu nước để sẵn lòng mặc bộ quân phục để bảo vệ đất nước. Và cho dù có chết thì tôi cũng vinh dự. Ngày xưa, tôi đã có một Chỉ Huy Trưởng như thế.

      Ngày xưa tôi đã có một Việt Nam khiến tôi muốn trở về. Khi tôi hoàn thành chương trình du học của mình, tôi không màn đi tìm việc làm ở nước sở tại, cũng chẳng quan tâm đến thẻ xanh hay thẻ đỏ, cũng chẳng mộng mơ hay để trở thành một công dân của nước khác, cũng không nghĩ đến việc mình nên ở hay về, vì điều duy nhất trong đầu tôi là trở về. Cho dù đất nước đó vẫn đang trong thời chiến, cho dù nơi ấy tôi phải làm việc nhiều lần hơn, cho dù nơi ấy có nhiều rủi ro hơn. Nhưng tôi chỉ muốn trở về, đơn giản, bởi vì nơi đó, đất nước Việt Nam đó, mảnh đất đó là nơi tôi gọi là nhà. Vì tôi chỉ muốn về nhà. Ngày xưa, tôi đã có một Việt Nam như thế.

      Ngày xưa tôi đã có một nước Việt Nam khiến tôi tự hào. Tôi đã có một nước Việt Nam khiến tôi không thổ thẹn khi cầm hộ chiếu ra nước ngoài và không cảm thấy xấu hổ khi nói “I’m a Vietnamese.”


      Ngày xưa tôi đã có một Việt Nam như thế. Tôi đã từng có một Việt Nam như thế. Nhưng đó là quá khứ. Bởi vì bây giờ nước Việt Nam như thế đã không còn. Nhưng tôi lại muốn nó trở lại. Tôi muốn có một nước Việt Nam như thế. Bạn có thể gọi tôi hoang tưởng hay gọi tôi mơ mộng.


      Tôi không mơ mộng hay ảo tưởng. Tôi cũng không tôn vinh bất cứ thể chế hay chế độ nào. Tôi chỉ muốn có một nước Việt Nam như thế. Có thể bạn sẽ hỏi: “Vì sao? Để làm gì?” Đơn giản, bởi vì ngày xưa tôi đã có một nước Việt Nam như thế.


      Ku Búa @ Café Ku Búa

      ***

      PS: Tôi là một người sinh ra khi nước Việt Nam như thế đã không còn nữa.


      ***
      Last edited by khongquan2; 10-10-2016, 12:49 AM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • VeSau
        Banned
        • Jun 2009
        • 59

        #183
        Hai dzợ thôi...đừng có dại dột lấy ba bà ...!!!

        Nguyên văn bởi Ai Uu Du View Post


        Truyền Nhân Nam-Khoa-Y


        Hai người ăn mặc chỉnh tề, đeo kính mát, mang theo hai mũ bảo hiểm, chuẩn bị chu đáo cho một ngày đi xa… Năm đổ xăng thật đầy bình, vui vẻ chở Mi Mi từ Sài Gòn đi lên Nghiã Trang “Đô Thành”. Cơn triều cường chảy hoài đến khúc quanh cầu Bình triệu, Thủ Đức, vẫn ngập tới nửa bánh xe, mặc dù mưa chiều hôm trước không to lắm, nhưng nước đọng còn dâng cao. Ồ, đó là nơi nhà ga cũ, nơi xưa kia mỗi lần đi qua đây, Năm và Mi bị ngập lụt nước mưa, phải bỏ cả giày dép ra, hai người lội bì bõm dưới nước bùn sình hôi tanh đen ngòm. Hầu đẫy chiếc dream chết máy khó khăn nhọc nhằn vô cùng, hì hục mãi không đẫy xe nỗi. Hai anh em nâng đầu xe lên cao cho nước chảy ra. Sau đó anh đạp hoài đạp mãi, thì xe nổ máy.

        Năm chen lấn đoàn xe đông như kiến đang bì bõm trong sình lầy dù nước đọng, họ vẫn chạy nhanh. Nước bắn tung toé lên đầy ngực Mi. Chỗ đó vẫn luôn bị ngập lụt. Năm chạy xe đến gần cầu Gò Dưa mới có đoạn đường tốt. Chạy xe mãi đến gần ngã tư xa lộ Thủ Đức. Anh rẽ vào lối đi tắt, đi lung tung vòng vèo đến nghĩa trang Đô Thành thăm bạn thân nhất đời đã về cõi vĩnh hằng. Gửi xe xong, Mi mua một bó hoa, một bó nhang, hộp quẹt, nến. Hai người đủng đỉnh tới ngôi mộ Tấn, khi mặt trời đang đứng trên đỉnh đầu.

        Gia đình Tấn chọn nơi nầy thật đẹp, nghĩa trang rộng khoảng 10 hecta đất gò cao ráo, phóng khoáng. Nơi mà hồi xưa Trung-tướng Mai Hữu Xuân đã mua, rồi nhờ ba của Năm đứng ra chăm chút cai quản. Tấn được vào nằm trong nghĩa trang nầy (nghĩa trang uy linh tương tự như Arlington ở Washington DC), là một vinh dự to lớn, vì Tấn nổi tiếng là một bác sĩ khá giỏi. Trước ngôi mộ xây đá cẩm thạch đen khá cao, rất đẹp, bia mộ Tấn có ghi đầy đủ tiểu sử. Hình Tấn chụp vào độ tuổi trung niên thật phong độ, trẻ trung, vui tươi, hiền hoà. Sau lưng bia mộ lớn là tấm bảng đen bóng, trên đó khắc ghi một bài thơ tiếng Anh, đại ý là:
        I burst into tears at my birth.
        Whereas one laughed for congratulations!
        Now I am brought at an early grave.
        One mourns over me crying.
        Only me that I smile quietly.
        “Lúc tôi mới sinh ra đời.
        Tôi khóc thét lên.
        Mọi người đều vui cười hoan hỉ.
        Nay tôi đã nằm xuống.
        Mọi người tiếc thương và than khóc.
        Chỉ riêng tôi lặng lẽ mỉm cười”. (*)
        [(*) Chuyển ngữ câu tiếng Anh trên, là do tác giả (THH) viết; không phải do nguyên bản của lời ghi từ bia mộ Tấn].

        Mi Mi cúi đầu lặng lẽ thì thầm gửi anh Tấn lời tống biệt cuối cùng:
        - Thôi anh Tấn ơi! Nếu em có khóc thương tiếc nuối anh. Thì... Bây giờ em đành chấp nhận sự thật của tạo hoá ngàn năm an bài: Sinh. Lão. Bệnh. Tử. Sống. Gặp gỡ. Vĩnh biệt chia tay. Có tựu rồi tan. Có sống rồi chết. Ai ai cũng phải bước qua “cái Ải buồn phiền đau đớn” nầy! Mi thật buồn, và rất qúy trọng anh Tấn. Anh biết không? Nhớ ngày đầu tiên cách đây bốn chục năm, Mi Mi quen anh Tấn, hôm đó là ngày Mi Mi và anh Hoàng Năm Tony chia tay nhau ở trên bến xe Đà Lạt, gần tiệm cà phê Domino. Dù Mi Mi chỉ gặp và trò chuyện cùng anh Tấn không đầy mười lăm phút, nhưng em thấy anh Tấn thật vui tính, dí dỏm, hiền lành, hóm hỉnh có duyên và dễ thương. Duy có một điều bây giờ em vô cùng nuối tiếc về anh Tấn. Vì, anh Tấn đã làm một chuyện rất tốt đẹp mãi lưu truyền đến nay. Mặc dù anh Tấn chết đi, nhưng anh đã để lại một kho tàng vô giá cho y học (nói chung, và cho cánh đàn ông nói riêng). Nếu em nhìn đúng khía cạnh thuần tuý về nghề nghiệp chuyên môn của anh Tấn. Em sẽ không nghĩ là anh Tấn “khích dục hay gia tăng độ dâm đãng”. Anh Tấn hãy lắng nghe Em, anh Năm, Sơn, đã từng thảo luận nè:

        * Đây là một khía cạnh không kém quan trọng của xã hội. Rất ít ai dám đề cập đến. Ai cũng sợ nó. Vì, nó tế nhị, nhạy cảm (nếu không muốn nói là hơi trắng trợn). Vã lại nếu đàn ông mà không “làm tròn bổn phận thiêng liêng cao cả tuyệt vời” trong điạ vị cuả người chồng đối với vợ. Người Nam nhút nhát thú nhận “mình bất lực” ; thì còn gì là “đàn ông tính”! Ở đây không đề cập đến vấn đề “trai gái lố lăng lẵng lơ đĩ thoả”.
        * Khoa Y học NIỆU nầy, chính thức công nhận chỉ chừng 15 hoặc 25 năm nay. Gọi đó là Nam Khoa Andrology - được phơi bày ra dưới lăng kính Y Học nghiêm túc, đứng đắn đàng hoàng cần thiết rất khoa học - (chứ không phải dưới lăng kính kích dục, cường dục, hay... dâm đãng điếm đàng vui chơi). Trước kia, chỉ có khoa trị liệu về các bệnh liên quan về Niệu. Còn chuyện kín đáo riêng tư “tế nhị phòng the” giữa tình yêu hai vợ chồng, thì ai ai cũng sợ lộ ra. Họ cứ sợ nói ra thì... người khác sẽ chê mình… “phóng đãng dâm tặc”.
        Tony Năm có một phần suy nghĩ trong vấn đề nầy:
        - Nhất là một số các bà vợ cho rằng: do chồng mình ưa bay bướm, đàng điếm, ăn chơi, sa đoạ, mà ra nông nổi ấy! Chứ gì!?
        Sơn phản đối kịch liệt:
        - Tầm bậy nữa rồi. Khoa nầy hiện nay đã chứng minh được sự cần thiết của môn y học. Dân số trên thế giới đa số trên 65% đã rơi vào tuổi khá cao, nếu chưa muốn nói là già. Còn lại 35% là tuổi trẻ. Do đó những vị cao tuổi của NAM và NỮ, đều tối cần thiết là Andrology. Nếu họ muốn có cuộc sống gia đình hạnh phúc lứa đôi trường tồn. Vấn đề bạn Tấn theo môn Nam Khoa, không phải tự ên do Tấn hứng khởi đề xướng ra, (nhất là ở Việt Nam có phong tục tập quán khác biệt hẳn Tây Phương). Mà là do một vị giảng sư đại học Y khoa: Lichsteinberger là tên của vị linh mục khả kính trong dòng Tên, ông ấy là một bác sĩ rất tài ba, xuất chúng trên nhiều lĩnh vực y khoa.
        - Em nghĩ anh Tấn chọn ngành Y nam khoa nầy, chỉ vì xu hướng cá nhân. Vì chính anh Tấn đèo bồng một lúc ba bốn bà. Hai bà vợ lớn, bé. Cộng thêm hai bà bồ hờ kia nữa, là gì!
        - Không đúng đâu. Trước kia, Tấn chỉ là một bác sĩ đa khoa giỏi. Sự trở về ngành chuyên môn, là do tình cờ mà thôi: Lúc ấy có một bác-sĩ giảng-sư dòng Tên, khi cùng làm việc trong bệnh viện ở Việt Nam, ông ta đã tâm sự với Tấn:
        - Anh nên chọn về ngành Y-Nam-khoa. Vì cánh đàn ông các anh rất thiệt thòi. Anh có điều kiện, nên lưu ý về khoa đặc biệt nầy. Tôi hy vọng anh sẽ phát huy y-học Nam-Khoa tốt, để giúp nam giới trong vấn đề tình yêu vợ chồng.
        Thế là sau khi về Pháp, vị linh mục đó gửi cho Tấn những tư liệu, tài liệu, sách vở chuyên môn, để Tấn nghiên cứu, nghiền ngẫm, học hỏi thêm. Ông bác sĩ dòng Tên ấy nghiên cứu kỹ về những cặp vợ chồng, về hạnh phúc lứa đôi trong xã hội. Nhưng thực tế là ông ta hoàn toàn không có điều kiện, để phát huy hay thực hành. Vì vậy, ông ta truyền đạt vấn đề nầy lại cho môn sinh giỏi là: Tấn. Tấn làm “truyền nhân” nghiên cứu kỹ càng. Thành thật mà nói: Không biết bao giờ ngành Y học Việt Nam mới có được một bác sĩ khác: được kết nạp vào E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới). Vậy thì, em không nên nghĩ đó là chuyện “kích dục” nha.
        - Em chưa đồng quan điểm với anh... về việc nầy tí nào cả.
        - Tại sao em cứ nhìn “nó” với bản năng tầm thường của một người đàn bà ru rú thu mình trong trôn ốc? Như con ốc len rụt rè nhút nhát? Mà em không chịu vươn mình lên đỉnh cao của y học và nghệ thuật và sự thật!? Anh hỏi em: Tại sao nữ giới đã có phụ-khoa, có sãn-khoa? Trong khi đó người đàn ông không nhiều thì ít, bị “trục trặc” yếu xìu vấn đề ấy, lại không có phép đi khám Nam-khoa? Theo như thống kê gần nhất, đàn ông từ 40 -> 60; 70; 80 tuổi - đa số bị trục trặc đến 65%, 85%. Mà chả có môn y-học nào để chuyên trị! Hở? Không công bằng.
        - Có phải anh gián tiếp khuyên em: Hãy cứ nhìn vấn đề Nam-khoa một cách khoa học, chính chắn, lành mạnh. Em sẽ thấy nó bổ ích lành mạnh cho nhân loại. Chứ không phải để cánh đàn ông lợi dụng điều đó mà đi “ăn chơi” trác táng chắc?
        - Ư Ứ Ừ. Nó phục vụ cho sự hoà hợp gia đình giữa vợ chồng. Em cứ nghĩ anh như thế, thật oan ơi ông địa! Đó cũng là quan niệm chung chung của một số ít phụ nữ, có chút mặc cảm về chồng mình quá bay bướm.
        - À ra thế! Vì lúc đề cập đến chuyện nầy, có không ít đàn bà Việt Nam “kín cổng cao tường -rất khó nói”. Biết thắc mắc cùng ai? Thì anh Tấn đã dày công nghiên cứu y học, và mạnh dạn phổ biến trong Nam-khoa chuyên về Niệu-đạo-học Urologist nè!
        - Đúng Mi Mi ạ! Hãy cùng nhau nhìn vào lăng kính Y-Học mà tìm hiểu, nghiên cứu, nghiền ngẫm lại em nhé! Anh chỉ công bằng, và lấy công tâm ra để cùng nhau chia sẻ, tâm tình, tìm hiểu, nói với nhau vấn đề tế nhị. Anh không có ý tranh chấp chuyện nầy với em. Hay bất cứ với ai gì cả. Nhá.
        - Dạ vâng! Thưa ông tướng!
        - Ông... Tướng gì nào?
        - Tướng công E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới) đó!
        - Vậy, em sẽ là nữ “trợ tá đắc lực của Urologist” nha.
        - Hahaha!!! Hổng dám đâu. Thưa Tướng công E.D.A.C.T !!! Nay, đã già lắm, cuộc tình giữa hai người: Thật ra chỉ là những ủi an, sẻ chia trên phone khi vắng xa nhau, thân thiết, nồng nhiệt, vui vẻ, nâng vực nhau những lúc gặp muộn phiền, thất vọng nào đó. Chúng ta nói những chuyện đôi khi ba xàm ba láp, ân cần san sẻ, cũng có chút xí vui vui và hữu ích. Cho đến một ngày nào đó… có một trong hai người vĩnh viễn nằm xuống, đành đoạn rứt áo ra đi... Thế thôi.
        ***

        Nói rất thật tình thì Mi Mi không hề ưa thích gì bà Hoà, (là bà vợ bé) của bác sĩ Tấn. Vì Mi cho rằng: Bà Hoà giựt chồng người! Mi nghĩ cánh đàn ông các anh ưa bênh vực nhau. Nhất là Sơn, Năm Tony, họ với Tấn đã thân thiết từ hồi còn bé tí, nên họ coi nhau như ruột thịt. Kể cả con nhỏ Sáu (cháu ruột cuả bà Thủy) đang ngồi nói chuyện với Mi Mi về mấy anh ấy và bà Thuý:
        - Cháu kêu bà Thúy bằng dì. Cháu mới thấy thấm thía nỗi đau của dượng Tấn. Chỉ vì dì Thúy và dượng Tấn thuở còn non trẻ: đã bồng bột vội vàng làm đám cưới. Khi họ chưa thật sự thấu hiểu nhau. Khi về làm vợ chồng rồi, thì họ mới lộ ra cả trăm điều trái ngược, mà không ai có thể ngờ! Nhất là sau nầy khi dượng Tấn đã thành danh trên đường đời. Dượng Tấn càng không thể chấp nhận có một người vợ kém sút từ mọi mặt. Dì không biết ngọt ngào chia sẻ với chồng, không đảm đang. Theo cháu nhận xét thì: dì Thúy vốn là cô gái nông thôn, nên dì Thúy hơi nhà quê, ít học. Vì thế lối ăn nói cuả dì thiếu suy nghĩ, xử trí kém cỏi, không tế nhị, vô duyên, lại có chút trẻ con. Cộng thêm tính ghen là số một, làm mất danh dự chồng không kể xiết, cùng lười biếng và vô trách nhiệm. Ở nhà dì ưỡn ẹo rông rống ngồi chơi xơi nước, dì không làm gì cả. Nhàn cư vi bất thiện mà! Có tật xấu là khi dì Thúy tức giận, thì chuyên môn đi ngồi lê đôi mách nói xấu người nầy, nhún vai chê trách người kia. Dì Thúy chẳng chịu đi chợ búa cơm nước gì, chồng đi làm về luôn đói meo. Thế là dượng bỏ nhà ra đi ăn… “phở” mệt nghỉ. Trước tiên là tốn tiền, sau đó lây lan qua tốn tình! Dì Thúy nói:
        - Tội gì chợ búa cơm nước chi cho mệt. Ổng làm tới chức bác sĩ, bác sĩ thiệt à, có nhiều tiền ổng cho gái ăn cũng vậy. Tui cứ kêu người ta bưng cơm tháng, tội gì tui chui vô bếp cho khổ! Ổng đi… coi kià:
        Đi đâu? Nay mới về nhà???
        Có thấy xó góc chổi chà dựng bên
        Tôi hỏi: “chỉ một mình ên
        Sao mà thì thọt góc thềm làm thinh?
        Nếu không có tật giật mình
        Tại sao cúi mặt má phình tím thâm?
        Dại khôn anh cứ thật tâm,
        Kể ra… cho cả sơn lâm biết nào.
        Thì tui… cha bảo chẳng gào
        Ba bà có tức… ra ao nhảy ùm
        Cùng nhau kéo cổ lùm lum
        Cho anh chết ngộp khóc um mới chừa
        Cái tật tành hanh ai ưa
        Thấy gái, anh lấy vải thưa bịt liền
        Anh mà mở mắt láo liên
        Tui thề móc mắt rồi khiêng vô TÙ
        (*)

        Mi ngậm ngùi nghe cô cháu gái cuả bà Thúy kể tiếp:
        - Đúng ra, dượng Tấn rất mất mặt với bạn bè khi mang vợ ra ngoài xã hội giao tế. Dì Thúy luôn đốp chát những câu thiệt vô duyên, như gáo nước tạt vô mặt bạn. Sau nầy, khi Tấn gặp bà Hoà thì khác hẳn, Tấn yêu bà Hoà thông minh, tế nhị, khôn ngoan, đảm đang, vui vẻ. Có thể nói Tấn rất hãnh diện vì đã gặp và yêu bà Hoà (là vợ lẽ). Vì thế, thời gian sau dì Thúy cứ buồn xo “ngồi trong bóng tối”.
        Mi liếc nhìn Sơn dò hỏi. Anh gật đầu:
        - Ưà, Sáu nói nghe thật lạ lùng! Vậy mà thật đó. Bà Thúy có ba đứa con với Tấn, nay con cái khôn lớn, thành đạt cả. Các con Tấn rất yêu mẹ. Tấn đã tạo cho bà Thúy có cái nhà tươm tất, có cửa tiệm để các mẹ con sinh sống. Đặc biệt là Tấn chưa hề ly dị với bà Thúy. Trên pháp lý mọi tài sản đều là của Tấn (trừ khi Tấn làm di chúc để lại). Theo anh nghĩ Tấn không ngờ... Nên, em đừng nghĩ rằng bà Hoà “cướp” hết nha: Chồng, và 2 tài khoản: Một bank tiền Việt Nam. Một bank tiền USD. Bà Hoà chỉ giữ mấy quyển sổ ghi tên Tấn thôi. Bà Thúy vợ chính thức mới là người thừa kế tài sản, (khi Tấn nằm xuống xuôi tay, ba đứa con cuả bà Thúy rất tốt đã xúm lại thuyết phục mẹ chúng, nên làm giấy ủy quyền (vợ lẽ cuả cha); cho bà Hoà có tiền nuôi hai đứa em nhỏ cùng cha khác mẹ. Bà Thúy rất thân với bà vợ cũ của Năm. Hai bà có những tính giống nhau, nên mỗi lần gặp mặt, là họ xúm lại chửi Năm và Tấn ác liệt. Thật oan uổng và tội nghiệp lắm em! Hãy lấy công tâm mà xét xử công bằng đi.
        - Thì anh cũng kinh khủng không vừa gì! Chắc anh muốn nói: Tình yêu chân thật phát xuất từ hai trái tim đồng điệu, thông cảm. Thì sự cần thiết ấy không có tội, có lỗi. Phải không nà?
        - Thôi em! Moi móc làm gì. Chuyện buồn mà! Anh không muốn tranh luận với em điều nầy. Có thể em nghĩ anh không công bằng, thiên lệch, khi anh chỉ đến thăm mẹ con bà Hoà, mà hầu như ít đến thăm mẹ con bà Thúy (vợ chính thức). Nếu em biết sự thật, em sẽ thấy anh có lý. Tấn cũng “đào hoa” ra phết đó em à. Ai có ngờ con người coi như có vẽ chậm chạp, lù đù, hiền lành, ít nói. Thế mà có khối bà, khối cô mê Tấn tít thò lò! Kỳ xưa, anh Tấn bị “hai bà: vợ lớn, vợ bé” đuổi ra khỏi nhà, chỉ vì anh ta có thêm “bà Ba” nữa mới chết! Tấn phải đi lang thang ngoài phố, ăn cơm quán, ngủ hotel suốt một năm. Ấy là vì hồi đó Tấn lại cặp một con bồ xinh xắn luôn xà nẹo khác. “Một vợ nằm giường lèo. Hai vợ nằm chèo queo. Ba vợ ra chuồng heo mà... nằm”. Anh Tấn định thuê nhà để bà đó về ở chung.
        - Trời! Thì hồi đó chính Sơn thuê nhà cho Tấn ở đó mà. Cả đến bây giờ, khi anh Tấn chết rồi, lại có cô bác sĩ trẻ măng mê anh Tấn hết sức. Lúc sắp sữa liệm, cô ta chạy ra ngoài ôm mặt khóc nức nở! Cô bác sĩ nầy trẻ tuổi lắm, cô chỉ hơn con của Tấn năm bảy tuổi là cao. Tôi có biết cô ta. Theo tôi nghĩ có lẽ do cô ấy quý trọng tài năng của Tấn, thì đúng hơn. Nghe chị nói, tôi mới té ngữa ra. Ai dè cái bề ngoài Tấn đạo mạo, nghiêm trang. Mà ẩn chứa trong lòng những “sống động tình cảm sôi sục cồn cào” chứ. Có điều làm sao mà anh ta “dàn xếp” tuyệt hữu khi chia tay với bà nầy, hẹn hò chung sống với bà kia yên ổn. Dù họ:
        BA BÀ đấu khẩu bên thềm
        Nạt nhau đừng có vác mền giữa đêm
        Lưng dài cao cẵng lại thèm
        Suốt đêm anh lỡ say mèm “Phở, Bia”
        Cơm không thể nuốt "ôm bia mộ” buồn!!! (hê hê hê!!!)
        Lỡ "khiêng về" BA vợ khùng!!!
        Bởi vì: Bà(1) nói lung tung,
        Bà(2) trợn mắt. Bà(3) lủng củng trong mùng
        BA BÀ chẳng thể thủy chung
        Đánh anh chí choé lùng bùng lỗ tai
        Chàng bèn than thở vắn dài
        Ba bà bỏ tuốt. Một hai vái chừa !!!
        (*)
        Năm còn nhớ có lần đám bạn gặp nhau, Tấn mời tôi đi ăn cơm rồi giành trả tiền. Tấn moi trong ngăn bóp tờ một trăm xếp nhỏ xíu, nhét kỹ một góc kín.
        Ai ơi! ngó lại mà xem
        Thời nay có một anh thèm cặp ba
        Bà hầu quạt đêm Hạ. Bà
        úm mền. Bà bóp hông ‘đá’ tứ tung
        “Em ơi, khe khẽ anh cưng
        Ôi dào đau quá cái lưng sụm rồi!!!”
        Bởi do BA BÀ tơi bời
        Bị đây, tại đó chẳng rời vén vun
        ‘Đây’ thì do ‘đấy’ ôm hun
        Lim dim bốn mắt môi chùn chụt thôi
        Chu choa cái ấy em ơi
        “Chắc là tui trốn cho rồi”. Về quê!!!
        Trốn đâu BÀ cũng moi về
        Nợ đời phải trả BÀ thề "hưởng dương"
        ÔNG ở góc phố cuối vườn
        Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao!
        (*)

        - “ÔNG ở góc phố cuối vườn. Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao”! Nhưng bây giờ chết đi, anh Tấn chả mang theo được đồng nào. Thậm chí mấy nút áo, nút quần, cũng bị lặt ra để lại trên trần thế. Theo tục lệ Việt Nam, họ nói phải cắt hết mọi thứ để lại, không có đem theo sắt đá nút neo gì hết. Xác mới nhẹ nhàng, dễ siêu thoát. Tuy vậy Tấn chết đi, còn để lại mối ưu phiền cho hai bà vợ, cùng bầy con hai dòng máu một cha khác mẹ, quả thật là rất buồn! Thiệt! Xét cho cùng, Mi vẫn thấy thương bà vợ lớn hơn. Bà lớn tất nhiên không khôn khéo, thất học, không biết cư xử, không biết cách giữ chồng, (như lời cô Sáu và Sơn nói). Nên bị người khác giựt chồng là phải! Vì bà lớn quá yêu chồng, sợ mất chồng, nên “kè kè giám sát” từng hành vi, cử chỉ chồng. Khiến anh ta nổi giận vì sự ràng buộc khắt khe quá mất tự do, mà... xa! Còn bà nhỏ lanh lẹ, khôn ranh hơn là ngoan, có học, tinh tế là có chủ đích cả! (như lời anh ca tụng). Bà Hoà rất biết là Tấn có vợ con “đình huỳnh”. Nhưng bà ta vẫn có cách ngầm ngầm ma lanh để câu móc chiều chuộng chồng người. Vỗ về an ủi chồng người! Rồi đương nhiên nhào vô giựt chồng người... Anh cho là... là phải nốt!?

        - Thôi, dù sao cũng là chuyện nói cho vui, chứ chả còn gì! Giữa hai bên chỉ là khoảng trống mênh mông. Thấy tội cho mấy đứa nhỏ con cuả hao người đàn bà: chúng cũng là anh chị em ruột cùng cha khác mẹ, mà hai bên chưa bao giờ quen biết nhau, từ xưa đến bây giờ, và mãi mãi... Họ đứng trên hai “chiến tuyến” khác hẳn nhau.

        ***

        (*) Thơ Vui Tình Hoài Hương

        Tình Hoài Hương
        Hai Dzợ...

        Chiều kêu bìm bịp kêu chiều
        Lấy vợ phải lấy hai kiều một đôi
        Ban ngày ôm ấp đã đời
        Đêm về sung sướng mê tơi đêm trường
        Nằm chung là phải hai nường
        Nằm riêng nó dzỗi... muốn thương ai nào ?
        Lãng mạng nó bảo ...tào lao
        Đứng đắn nó bảo...người sao khùng khùng
        Hai đứa nó ...khiêng dzô mùng
        Làm chi cũng phải làm chung hổng rời
        Ai ơi thật phí của giời
        Lấy dzợ thì phải hai người mới dzui
        Số mình thôi thật là xui
        Lấy có một dzợ ngậm ngùi tủi thân !

        VeSau
        (10/09/2016)

        * Nói dzậy mà không phải dzậy, chuyện tưởng tượng ... mơ mộng... quý dzị đừng có nghe xúi dzại, mần thiệt là... tan cửa nát nhà... trở thành homeless  là bỏ bu đấy !!!
        Last edited by VeSau; 10-10-2016, 06:29 AM.

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #184
          Đêm NOEL ở Đà Lạt



          Đêm NOEL ở Đà Lạt


          Noel xưa anh nhớ
          Khi hãy còn yêu nhau
          Nhà thờ nơi cuối phố
          Thấp thoáng sau ngàn dâu
          Anh chờ em đi lễ
          Chung dâng lời nguyện cầu...
          Mimosa mimosa bừng nở
          Đẹp như tình ban đầu
          (1)


          Đêm Noel Đà Lạt khai sinh Mười với tuổi xuân hồng phơi phới rót mật vàng từ thinh không xuống lòng phố nở hoa mùa đông. Gió cuối mùa lồng lộng thổi về làn hơi buốt giá lạnh tê người. Bầu trời ướt đẫm sương đêm Noel tuyệt vời, ngọt ngào ngây ngất đầy hương vị tình yêu miền núi. Từng hồi chuông dài ngân nga giữa đỉnh đồi bay qua các sườn dốc, các khe thung: tiếng chuông mừng vui réo gọi hoan hỉ reo vang cùng thế nhân. Một đêm hội lịch sử đón chào Chúa Giáng Sinh 24 tháng 12: là đêm lạnh lẽo buốt giá hạnh phúc vui vẻ tưng bừng rất mùa xuân. Hàng cây tối mờ trong lớp sương mù dày bao bọc vòm trời ẩn hiện ánh đèn vàng vọt mờ nhạt ở đầu phố, tạo thành nhiều đóm sáng bất động. Các mái nhà dưới thấp trên cao chênh vênh bên sườn đồi thoai thoải. Những con đường mòn chạy dài xuống thung lũng âm u văng vẳng đâu đây tiếng lao xao cười nói ồn ào. Nhiều tốp nam nữ thoáng chốc tấp nập ra phố đêm đi dự lễ.

          Trên các nẻo đường lớn trong thành phố, người đi kẻ lại đông vô số kể. Họ khoác bộ cánh rực rỡ, áo lạnh khăn quàng, găng tay, mũ len đủ mọi màu sắc. Phố phường tưng bừng rộn rã hoan ca, khác hẳn ngày đầu đông ở xứ lạnh. Người người vui vẻ cười đùa, chuyện trò ríu rít, đi lại ngược xuôi chen lấn nhau trên đại lộ. Nơi đây không một chiếc xe nào có thể qua lọt giữa rừng người bách bộ đông như kiến. Người ta vui vẻ nói cười, không cần biết những ông cảnh sát đang vất vả làm việc lưu thông không ngưng nghỉ.

          Mười chợt bừng tỉnh giấc ngủ nồng say sau mùa Thu héo úa, rồi mùa đông buốt giá gần tàn. Lòng cô em xôn xao, thỉnh thoảng gió thổi qua mát rượi, đủ làm cho da người con gái xứ lạnh càng thêm thắm hồng, dấy động từng thoáng nhớ đắm say, vấn vương ngọt ngào mãi không rời, qua tiếng tơ lòng dìu dịu rung ngân trên mỗi phím loan. Ở trong tư gia: Bảo, Quốc Toàn, Thịnh, Trình đang loay hoay trang hoàng cây thông cao quá, đọt đụng trần nhà bị cong hẳn lại, Bảo phải cưa bớt một đoạn dài. Sau đó các cháu móc đầy dây kim tuyến, ngôi sao, quả cầu đủ màu sắc, thiệp Noel, thiên thần, ông già Noel, và giăng nhiều đèn màu chớp tắt. Dưới gốc thông có những gói quà nho nhỏ, xinh xinh, bánh, kẹo, đồ chơi linh tinh... Nhạc giáng sinh trỗi lên tưng bừng nhộn nhịp, hoan hỉ vui vẻ trong căn nhà ấm áp. Tiếng cười con cháu vang khắp nơi vui như mở hội. Sau nhà ngang: chị Khánh, và bà bếp đang chiên xào nấu nướng các món ăn thơm phức. Họ chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, lát nữa đi lễ về, là gia đình ăn réveillon.

          Ăn cơm tối xong, Mười quét dọn, lau chùi nhà cửa sạch sẽ tươm tất. Nàng ủi áo quần cho gia đình để chuẩn bị đi lễ. Thơ vừa lau bụi trên các kệ sách, nàng nói:
          - Hồi chiều, có anh Phú, Lễ, Tài, Vinh, đến nhà mời chị em mình, mười giờ rưỡi lên Couvent xem lễ, chứ ở Nhà Thờ Lớn đông lắm! Rồi tụi mình về nhà họ ăn réveillon, mở party... Em chưa kịp nói gì, thì anh Nam đến.
          Ngạc nhiên, Mười ngừng ủi áo, ngẩng nhìn em, hỏi:
          - Anh Nam gặp Phú? Họ nói chuyện vui vẻ há?
          - Coi chừng cháy áo. Chị "táp pi" em tới tấp à? Họ chào hỏi nhau, vui vẻ cả làng. Khoái chưa?

          Hồi chiều Mười bất ngờ thấy Nam ngoài phố, lòng Mười đã rộn ràng, xao xuyến, mừng rỡ. Về nhà Mười dấu kín niềm vui nầy, vờ như chưa biết gì. Phần các cháu muốn Mười có chút bất ngờ thú vị, nên chúng cũng không nói Nam từ Sài Gòn đã lên Đà Lạt. Tâm trạng Mười lúc này thật kỳ, vừa mừng vừa lo, bồi hồi, quắt quay với nỗi mong chờ. Bây giờ nghe cô em vừa nói, lòng nàng nao nao, băn khoăn bồi hồi. Lãng mạn không? Nhắc đến Nam, Mười quên hết mọi sự, tươi vui nét mặt ngay, mọi thứ bỏ sang một bên. Khi tình yêu đến có khác gì cây khô gặp mưa thuận gió hòa, đã trở nên xanh tốt. Muốn sớm gặp người yêu, nàng nôn nao, vui mừng, thấp thỏm, không yên ổn ấy mà.
          - Chị cũng đi lễ với các anh kia chứ?
          - Đi sao được!
          - Đến nhà Phú xí, rồi chị về đi lễ với anh Nam. Không có chị, chẳng vui.
          - Đủ rồi. Em không chuẩn bị gặp người yêu sao?

          Thơ cười hì hì, nàng mặc sẵn áo dài mới màu xanh nhạt, điểm cánh hoa vàng nhỏ rải rác trên tà, quàng chiếc manto đen. Từ khi có "bồ", vấn đề ăn mặc trở nên cần thiết với Thơ, quần áo tuy lèng xèng giản dị, nhưng tươm tất. Nàng nghĩ: Dù sao nên "giữ kẽ" một tí, diện một tí, chứ xuềnh xoàng quá, coi cũng mất mặt bầu cua. "Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần" mà! Mười đi lên, đi xuống con dốc mờ tối năm bảy lần, chờ đón, ngóng trông Nam kinh khủng. Ruột nóng như lửa đốt. Dưới ánh đèn vàng vọt đầu phố có hàng cây tối mờ, bụi qùy cánh lá xòe to nham nhám, thấp thoáng nhiều bông hoa màu nghệ, nhụy nâu nở hết cánh trông vui mắt, chúng nép mình dưới chân vách đá. Các mái nhà dưới thấp, trên cao, chênh vênh bên sườn đồi thoai thoải, chạy dài xuống thung lũng âm u, có ánh đèn mờ nhạt chiếu ra, tạo thành nhiều đóm sáng bất động, lớp sương mù dày bao bọc cả vòm trời. Cuối sân sau của trường kỹ thuật Lasan, nơi bờ khe nhỏ ăn xuống phiá dưới là khe mương nước chảy một bên đường.

          Thỉnh thoảng vài hòn đất, đá, lăn trên khe cao rơi xuống nghe một tiếng "bủm" khô khan to và lạnh lùng. Mười dừng lại, nhìn về phía đó đăm đăm, hình như có tiếng ai nói gì trong bóng tối, nơi ánh đèn đường không dọi tới. Ai nói gì vậy!? Văng vẳng đâu đây tiếng lao xao cười nói ồn ào thoáng chốc đến nhanh. Ồ, thì ra chỉ là tốp nam nữ tấp nập đi nhanh ra phố đêm dự lễ. Coi vậy nàng nhác gan ghê! Có cái gì khiến Mười nhìn ra đầu đại lộ Yersin? Năm ba cây anh đào hoa nở rộ cài cánh hoa mong manh, ẻo lả, trên cành trơ trụi lá. Đồi thông rì rào trò chuyện dưới thung lũng, khu đất nhà ông Nguyễn Đệ rộng mênh mông, thì có gì để nàng phải đăm đăm nhìn về hướng đó, mà lòng thấp thỏm bồn chồn âu lo quá đỗi?

          Chiếc taxi ngừng lại ở đầu dốc; Nam bước xuống, chàng mặc bộ veston mùa đông màu đen, cà vạt màu nâu non ôm kín cổ áo sơ mi vàng nhạt, áo pardessuis màu kem vắt trên vai như khách lữ hành ngày xưa mới gặp. Nam mang đôi giày da thời trang cùng màu với bộ veste. Mười cười rạng rỡ, liền ríu rít rảo bước về phía Nam. Dưới cột đèn đường khi nhìn thấy Mười, anh âu yếm trao nàng nụ cười tươi thắm. Nam im lặng nắm tay Mười đi xuống dốc. Nàng líu lo:
          - Sao anh không viết thư báo tin trước. Em sẽ đi đón?

          Nam im lặng đưa Mười quyển album, hộp bánh, quyển "Trau Dồi Ý Chí" của Claude Maillard, một hộp nho nhỏ bao giấy kính vàng cột nơ hồng (quà gia đình các anh chị, các cháu, thì Nam đã đem đến hồi chiều).
          - Anh lên đây hồi nào vậy. Nam?

          Chàng siết chặt tay nàng, khẽ thở dài, Nam không nói: Mặc cho Mười ríu rít hỏi chuyện, Nam chỉ cười cười siết chặt tay Mười. Dừng lại dưới ánh đèn, nàng giựt tay ra khỏi tay Nam, ngẩng lên, hỏi:
          - Giận em à, hở anh?
          - Mười đi đâu, từ sáng sớm đến tối mịt vậy em?
          - À, em đi Cầu Đất với mấy nhỏ bạn làm chuyện tào lao, ngu ngốc. Anh lên đây, em rất mừng.
          - Biết có "họ", thì anh hổng thèm lặn lội từ Sài Gòn lên Đà Lạt (để dự lễ Noel đầu tiên của chúng mình). Mười có vài chàng trồng cây si, cây mơ… nhớ gì đến anh, mà mừng vui. Họ chờ em suốt buổi đó.
          - Tự họ qúy mến cả nhà. Chẳng riêng ai. Không vì ai, anh ơi!
          - Chưa chắc à.
          Hai người tiếp tục đi xuống con dốc nhà:
          - Anh thấy Nghi “bà con xa xa" của em đã đến đây.
          - . . .
          - Ủa! không bà con sao? Vậy không lẽ… là “bạn yêu” của chị Hạc?
          - Mỉa mai gì ác thế? Em yêu anh nhiều mà.

          Cảm động trước câu nói bất ngờ, Nam nhận tình em yêu bằng cách chàng tìm bàn tay Mười trong bóng tối, ánh mắt tha thiết nồng nàn hơn. Không nỡ trêu chọc nàng, Nam sợ Mười hờn dỗi, thì mất vui. Họ buông tay nhau khi đứng trên thềm. Sau đó Nam, Mười, cùng các cháu đi lễ đêm Noel. Họ đi trong lòng phố giá băng buốt lạnh, mang trong lòng niềm hân hoan yêu đời, vui vẻ hạnh phúc, bình an, tuyệt vời nhất. Thỉnh thoảng gió đông thổi qua mát rượi, đủ làm cho da người con gái xứ lạnh càng thêm thắm hồng. Noel khai sinh tuổi xuân hồng phới phới đang rót mật vàng từ thinh không xuống: lòng phố nở hoa mùa đông trên đỉnh đồi mù mịt sương muối và trong cánh đồng thương yêu của Nam và Mười. Một Noel tuyệt vời ngọt ngào ngây ngất, đầy hương vị tình yêu miền núi.

          Từng hồi chuông dài ngân nga giữa đỉnh đồi, qua các sườn dốc, các khe thung tiếng chuông mừng vui réo gọi, hoan hỉ reo vang cùng thế nhân đón chào ngày Chúa giáng trần. Có hai vì sao sáng nhất thân ái quỳ gối bên nhau trò chuyện trên bến Ngân Hà. Vành trăng khuyết lơ lửng như chiếc thuyền con trôi đi trôi về giữa các tầng mây. Noel là một lễ Giáng Sinh tuyệt diệu, hạnh phúc nhất của đời cô gái mười sáu tuổi chớm lớn. Và, có lẽ là một Noel tươi đẹp thú vị nhất của một chàng trai mười chín tuổi. Lòng Nam và Mười xôn xao dấy động, họ vui không thể tả. Tay trong tay tình nồng trong mắt biếc trao đưa, đôi mái đầu xanh chụm lại, cùng dạo bước bên nhau quanh khu trường học, theo các cháu vào hội trường xem học sinh trường trình diễn văn nghệ. Triển lãm tranh ảnh. Bích báo. Tuần san. Máng cỏ. Riêng “hai anh chị”̣ sau khi dạo xem quang cảnh trường, họ ngồi ngoài băng ghế đá, cạnh vườn hoa trước nhà thờ Dòng. Chàng lấy trong túi áo veste ra một hộp sơn mài nhỏ, có sợi dây chuyền vàng 18k, mặt chữ ghi NM. Anh vui vẻ ân cần đeo sợi dây chuyền vào cổ Mười, âu yếm nói:
          - Kỷ niệm dù bé nhỏ, vẫn có giá trị về hạnh phúc một đời. Ta cảm ơn Chúa cho chúng mình gặp nhau, yêu nhau. Em nha.
          - Dạ phải.
          Vuốt lọn tóc buông dài trên bờ vai Mười:
          - Mái tóc em dài, anh rất thích, đừng cắt ngắn nghen em.
          - Anh khen quá, em bể lỗ mũi, chết à.
          - Ơ kìa! Ai khen em mà bể mũi. Mắc cỡ chưa!
          - À há. Anh chỉ nói mái tóc em dài, chớ chẳng phải khen em, em mà dị dạng rứa hè. Anh là khách lữ hành, dù đất lành chim vẫn chưa đậu. Rồi chốn phồn hoa đô hội cũ sẽ gọi anh quay về thôi. Có gì mà không bể mũi em chứ.
          - Phượng hoàng đã gãy cánh trên đôi vai nầy rồi.

          Vỗ vỗ trên vai Mười, Nam nói lời dịu ngọt, Nam nâng niu lọn tóc dài xõa bên má và đưa lên môi hôn. Mười cắn nhẹ làn môi, đầu nghiêng hẳn lên vai chàng. Hơi thở Nam ấm nồng phả nhẹ vào trong tóc Mười như làn hơi sương nhút nhát mà ấm áp. Ngón tay thư sinh trắng trẻo mềm mại truyền qua làn tóc mỏng xõa trên vai Mười cảm giác đằm thắm, lâng lâng ngọt ngào dễ chịu. Nam biết, nếu anh cúi xuống đặt lên môi Mười nụ hôn đầu tiên, có thể nàng không phản đối. Nam đắm mình trong hạnh phúc bất tận, ngây ngất niềm vui dạt dào. Nam nâng niu, trân trọng mối tình nên thơ, hồn nhiên nở hết cánh trong trái tim chân thật. Sao lạ quá! Cũng như lần Nam gặp gỡ Mười trước kia, ý nghĩ về việc Nam muốn ôm ghì Mười vào lòng mà hôn, cho thoả những nỗi niềm nhớ nhung bấy lâu vẫn nung nấu trong lòng. Nhưng rồi… Nam nhìn Mười hồn nhiên và giản dị ngây thơ, thì Nam cố gắng “đè nén” xúc cảm hừng hực và rạo rực… chìm xuống xí. Cứ vẩn vơ nghĩ đến… là Nam cảm thấy người mình xôn xao nóng rang trong trạng thái lâng lâng dật dờ rất khó chịu…

          Tiếng chuông báo hiệu nửa đêm ngân dài giữa vùng núi đồi trùng điệp chập chùng biển sương mù trắng xóa, thì hai người dìu nhau vào giáo đường xem lễ. Nam dâng cuộc đời, tình yêu nầy và tương lai cho Chúa Hài Đồng gìn giữ. Sau đó Nam về nhà chị Khánh ăn mừng lễ trong không khí gia đình ấm cúng, thân mật. Ba giờ khuya, chàng từ giã Mười để về nhà Tuấn ở cuối đường Hoàng Diệu.

          Chàng sẽ không bao giờ quên kỷ niệm vàng son một thuở yêu nhau, không thể nào quên… dù mai đây thời gian trôi chảy mãi, đời mỗi người trong hai chúng ta sẽ xa cách, phai mờ đi. Cuối cùng tình yêu nầy vẫn sống mãi trong tiềm thức, trong tư tưởng mỗi người. Một mình Nam đi trên lòng phố vắng, hồi lâu chàng còn nghe rõ tiếng gót giày cô đơn thong thả gõ lóc cóc lộp cộp đều đặn trên mặt nhựa đẫm sương mù, giống như Nam đang đi trên dòng thác vừa tráng thêm lớp men tình. Sương rơi lốp đốp trên cành, hạt sương mọng to tròn long lanh như ngấn lệ đọng, sương đậu ở đầu ngọn lá rung rinh dưới ánh trăng nhạt nhòa. Sương phủ trên thân Nam tê buốt thịt da giá rét vô vàn.

          Nam dừng lại giữa lòng thế kỷ lần tay tìm trong túi quần gói thuốc Craven “A”, hai lòng bàn tay Nam khum khum che đốm lửa, điếu thuốc lập loè gài lên môi, Nam ngửa mặt lên trời thả ngụm khói tản mạn trong không trung, quyện lẫn hơi sương ngút ngàn bay bay. Nam cảm thấy đơn điệu, cô độc lạ thường đang choàng vô cái khuya buốt lạnh, giá băng, im ngắt đến ghê rợn. Đường về khuya tại thành phố Đà Lạt trữ tình càng hiu hắt hoang vu. Khuya thăm thẳm sắc bén ăn sâu vào lòng du khách, khuya lạnh lùng vây bọc nhận chìm Nam trong đam mê ngút ngàn phong thổ. Ngàn đời xứ Cao Nguyên Lâm Viên vẫn không thể mất đi vẻ thơ mộng, hữu tình, tràn lan quyến rũ, trọn vẹn những tấu ca hương trầm dạ khúc đêm trường qua cung đàn đắm say ở trần thế: Thôi thì xin hưá anh là Sương, em là Cỏ: Chúng ta sẽ vĩnh hằng “Mộng Chung Đôi Cánh”* nha em:

          Đời phiêu lãng thấm đẫm sương rơi
          Mái tóc anh bỗng thấy bạc rồi
          Sương cỏ giao tình mơ khắng khít
          Cỏ sương thầm ước mộng chung đôi.

          Không lẽ Không-quân mãi giạt trôi
          Núi mòn sông cạn lướt chơi vơi
          Thương em hứa hẹn làm thân cỏ
          Hạt ngọc sương trao ngậm chẳng rời.

          Sương đọng rung rinh ánh mắt nàng
          Xuân tình bay bổng nhớ đài trang
          Phi công cánh bay vờn trong gió
          Lả lướt tình sương cỏ dịu dàng.

          Danh lợi phù vân chẳng có màng
          Cỏ đây sương đấy ước bình an
          Đôi ta nghĩa trọn tình chung thủy
          Phước lộc vui vầy sống thọ khang...
          (2)
          ***
          (1) Thơ Nhất Tuấn
          (2) thơ Tình Hoài Hương
          *

          Tình Hoài Hương
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • Tinh Hoai Huong
            Senior Member
            • May 2009
            • 1081

            #185
            Kỷ Niệm Sợ Té…!




            Kỷ Niệm Sợ Té…!
            NGHỊCH NHĨ


            Nhìn dáng vẻ chiếc OH–6 tròn tròn, nho-nhỏ mảnh mai như vậy, mà trong chiến trường VN làm cho nhiều người sợ nó lắm, ngoài địch ra, còn có tui nữa!
            Dân miền quê gọi chiếc OH-6 là cái “hột vịt”, chiếc “cán gáo” hay con “cá nóc” đều là nó cả; còn chiếc Cobra mình ốm, thon dài được ví là con “cá lẹp”, hoặc tuỳ theo vùng kêu là con “còng cọc”! Hai anh chàng nầy thường đi có đôi có cặp, hể thấy OH-6 là y như rằng có Cobra quanh quẩn đâu đó!

            Cái hột vịt khi bay nghe âm thanh kêu xè xè trộn lẫn với o-o; chứ mình không nghe tiếng phành phạch từ xa, như chiếc UH! Nó nhanh lắm, đến và đi thật lẹ, thường đi săn và bắt sống VC hoài! Mấy tay du kích đi lang thang, lỡ độ đường nghe nó từ xa, lật đật chạy chui vô rừng lẫn trốn, bị nó bám theo hover (bay đứng một chỗ sẵn sàng bóp cò, thì làm sao trốn thoát, hoặc mấy anh vừa chui vô hầm trong đám rừng lá, cũng không khỏi nó cho ăn lựu đạn banh thây! Đôi khi nó cũng bị… “hố”! Hốt nhằm mấy ông nông phu đang ở ngoài ruộng với mấy cây chĩa bảo:
            - VC weapons!
            Các đơn vị lớn của VC đang ém quân trong rừng, thấy nó cũng khôn hồn nằm im, không dám bắn, vì biết rằng chọc đến nó, là ít phút sau con “cá lẹp” sẽ đến, mà hoả lực của Cobra mạnh khiếp lắm! Tôi có anh bạn là dân bay AD–6, tình cờ một lần về quê bị kẹt xe đò, nên chứng kiến cảnh Cobra đang xịt rocket, và bắn minigun như bò rống, nhìn kiểu đánh và hỏa lực của nó, anh còn phát mê; cứ trầm trồ kể lại và còn gật gù khen:
            - Không ngờ “coi gầy gầy… mà thầy chạy” đấy!

            Còn OH-6 thì xoay trở nhanh nhẹn, dễ dàng; mới thấy hover đó, mà tạt ngang một cái vèo cách đó độ 100 mét nhanh như cắt! Các bạn có bao giờ quan sát mấy con ruồi lằn (con nhặn) trong buổi sáng sớm chưa? Nó đang kêu vo-vo bay đứng một chỗ, bỗng nghe tiếng rít lên “te” một phát là mất tiêu, rồi hiện ra cách xa đó chừng 5 mét, mà mắt mình không tài nào trông thấy kịp nó bay đến đó cả, nhanh hơn mấy con ruồi thường nhiều! Ấy đấy! mấy chiếc OH –6 cũng nhanh gần như vậy!

            Quý bạn đã sống ở ngoại quốc văn minh sạch sẽ nên hiếm khi gặp, và thấy chỗ ruồi bu kiến đậu, nên chắc là không để ý, chứ còn cá nhân tôi được… “hên”, nên thấy hoài và quan sát kỹ lắm! Số là thời gian đầu đi “tập trung cải tạo” tại trại Hốc Môn, mỗi khi đi “thăm lăng Bác” ; ngồi ở dãy nhà cầu có mái tôn che mưa nắng, nằm sát hàng rào kẽm gai doanh trại; do chính mình đào hố, ngăn vách; cũng thưởng thức được cái hoạt cảnh nầy. Ruồi nhặn đang xôn xao, vo–ve bay tùm lum; từ trên cao cả chục con chim én nhào xuống ngược chiều nhau lạng qua, lách lại để bắt ruồi trước mặt mình rồi vọt lên; trông không khác gì mấy chiếc phản lực đang oanh kích vậy. Thỉnh thoảng được làn gió nhẹ thoáng qua thổi mát, ngồi đó mà nhìn cảnh nầy xem như màn giải trí thật thú vị! Nhờ vậy, tôi mới có dịp quan sát kỹ mấy con ruồi lằn, để bây giờ đem so sánh!

            Trở lại với chiếc OH-6, tôi có một kỷ niệm, xin kể: Một buổi xế chiều cuối năm 1969, trong phi vụ liên lạc tôi bay UH-1 chở mấy ông Sỉ Quan Bộ Binh đi từ Cần Thơ đến Cao Lảnh, với copilot là anh Lư Chí (sau nầy lên Đ/uý về Biên Hoà và rớt chết trong chuyến bay đêm) và cơ phi là anh Th/ sĩ Chua. Chúng tôi đáp ngoài ruộng khô, trơ gốc rạ; gần Bộ Chỉ Huy hành quân đặt ven tỉnh lỵ, để thả mấy ông sĩ quan xuống, xong tắt máy nằm chờ!

            Khoảng nửa giờ sau có một anh OH –6 bay hành quân về, và đáp gần với chiếc của tôi. Tôi chạy đến và xin anh pilot Mỹ cho tôi lên đi bay thử chơi với anh, vì tôi thích nó! Anh đồng ý, tôi bèn quay về lấy helmet và lên ngồi ghế trái! Tôi nói:
            - Đây là lần đầu tiên tôi bay thử loại nầy.

            Tôi bắt đầu nhấc máy bay lên hover; thấy cũng nhẹ nhàng, máy bay đứng yên một chỗ, không có chao đảo gì cả, tôi yên chí tiếp tục quay tròn 360 độ, rồi bay ngang trái, ngang phải… tiếp theo đó tôi cất cánh đảo một vòng, rồi về đáp. Nói nào cho ngay, tôi cũng ráng “gò” để đáp cho êm, sợ anh Mỹ nầy cười. Anh pilot Mỹ hỏi tôi:
            - Cảm thấy thế nào?

            Vì phép lịch sự nên cái gì tôi cũng khen good cả, thank you và định leo xuống. Đột nhiên, anh ta nói:
            - Let me try it !
            Máy bay đang nằm dưới đất, anh bỗng hốt thẳng lên một cái ào cở 30 feet để hover, quay 360 độ một cái vù, rồi giựt sang trái, kéo sang phải vèo vèo, như thể bay test (thử tàu) vậy, xong đáp xuống lại! Rồi lần nầy anh lại kéo vút thẳng đứng lên thật cao cở 100 feet, để hover, xong anh chúi mũi xuống lấy tốc độ, xuống thật thấp, thấp nữa... đúng là bay rase mottes, hai càng (skids) gần liếm gốc rạ! Tôi nhận ra tay nầy bay cũng “bạo” đây, và có thêm tí… “giựt le” nữa, mà tui đâu có ngán!

            Đến khi thấy tốc độ khá cao, anh Mỹ mới kéo cho máy bay vọt thẳng đứng lên, thấy máu trên mặt chạy rần rần, tôi cho rằng đó cũng là lẽ thường thôi, đến khi máy bay vọt lên hết đà, anh bắt đầu quẹo ngược lại 180 độ, kiểu như bên khu trục làm loop vậy, tôi không để ý biết là góc độ bao nhiêu, mà lúc đó nhìn xuống chân thấy trời mây không hà! Tôi hoảng hồn, và bắt đầu thấy sợ thiệt! Khi quẹo lại xong, anh tiếp tục bay và vẫn còn trên cao, anh liền nghiêng mình quẹo phải thật gắt; tôi chưa kịp hoàn hồn, thì lại thấy chân cẳng chỉa lên trời một lần nữa. Vậy mà nào đã ngưng đâu, anh cứ bay tới, và thình lình biểu diễn làm một cái quick–stop, coi như thắng gấp vậy. Rồi lần nầy mới khiếp: anh nghiêng quẹo gắt về phía trái, tôi thấy đầu mình chúi xuống đất, nhìn mặt đất cứ dâng dâng lên… Tôi gồng mình mà sợ, nghĩ thầm tự trách mình "sao chơi dại quá, tự dưng đi tìm cái chết lảng xẹt". Cũng may đầu tôi chưa đập xuống đất, máy bay đã trở lại bình phi và anh đảo một vòng nữa, rồi về đáp.

            Tôi chưa có dịp đi theo khu trục để oanh kích, nên chưa được cảm giác mạnh, nhưng tôi nghĩ mỗi khi máy bay lao xuống bỏ bom bắn phá, rồi cất lên,thì mình đã biết trước trong đầu như vậy rồi, tinh thần có chuẩn bị sẵn, nên cũng không sợ lắm đâu. Trái lại đằng nầy tôi không biết trước, và đoán được những phi tác của anh pilot Mỹ nầy, cộng thêm cái góc độ quẹo của chiếc OH-6 nầy quá lớn, hơn hẳn với chiếc UH1. Cả hai cái bất ngờ đó “ập” đến, làm cho tôi kinh sợ cũng phải. Thật lòng mà nói thế, dù ai có chê cười tôi là “chicken”, cũng xin chấp nhận. Thú thật trong suốt gần 20 phút bay đó, tôi chỉ trân mình mà sợ, chớ có thưởng thức được cái hay dở gì của OH-6, và tài nghệ của anh pilot Mỹ nầy đâu!

            Lúc máy bay đáp xong, tôi biết rằng mình không chết rồi, mừng hết lớn! Mặt mày không biết có còn tái mét không, nhưng bạo gan, tôi làm bộ tỉnh cũng ngồi yên gật gù khen good, you’re number one nầy nọ; chứ trong bụng muốn leo ra khỏi máy bay ngay lập tức. không cần chờ đợi anh ta tắt máy gì cả; chỉ sợ anh ta được khen, rồi hứng chí hốt máy bay lên biểu diễn tiếp vài cú nữa là... bỏ bu!

            Nhìn ra ngoài tôi thấy hai anh Lư Chí, và Chua đang hướng về phía tôi cười ngặt ngoẻo! Vừa về gần đến tàu mình, Lư Chí nói liền :
            - Trời đất ơi! thấy nó dợt anh ghê quá, tôi tuởng là anh tiêu tùng rồi đó. Từ trước đến giờ tôi chưa từng thấy ai bay như vậy bao giờ cả, ghê quá đi!
            Tôi cũng thú nhận:
            - Ờ! tao cũng ghê, ớn thật, từ nay xin chừa không dám chơi dại nữa.

            Ngay sau đó, tôi cũng bỏ cái tò mò lởn vởn trong đầu là có dịp sẽ bay thử chiếc Cobra xem sao, vì nghe nói chiếc “cá lẹp” nầy sau khi chúi xuống bắn, đôi lúc kéo vọt lên, cũng có lực đè hơn 1G gì đó nữa! Thôi từ nay dẹp cái ý định đó, thà rằng mộng không thành, mà khoẻ hơn.

            Anh chàng Mỹ sau khi tắt máy, cũng lại tàu của tôi chuyện trò. Vừa qua cái màn “giao trứng cho ác”, tôi càng cảm thấy “nổi da gà” hơn khi được biết anh ta mới ra trường, và chỉ bay loại nầy được 400 giờ thôi. Anh khoe máy bay OH-6 xoay trở lẹ làng, bay nhanh, mà có khả năng quẹo góc độ lớn đến 120 (?) độ lận! Anh còn kể : "Nó rất an toàn, như trong Phi Đoàn của anh, lâu lắm rồi có xảy ra một tai nạn máy bay rớt xuống bờ sông, lăn mấy vòng, mà pilot chỉ bị gãy có hai cái răng thôi!

            Tai nghe miệng cũng cười đấy; nhưng có nói gì thì nói; chứ cái màn vừa rồi làm tôi sợ muốn té… đái!!! Xin bỏ lỗi cho từ ngữ không được… thanh-bai, văn-vẻ, nhưng rất chính xác nầy.
            ***

            NGHỊCH NHĨ
            Last edited by Tinh Hoai Huong; 01-25-2017, 03:24 AM.
            Bút trần nào tả được lưu luyến!
            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
            Tình Hoài Hương

            Comment

            • Tinh Hoai Huong
              Senior Member
              • May 2009
              • 1081

              #186
              Nhớ Ơi là Nhớ... Tết Năm Xưa






              Nhớ Ơi là Nhớ...
              (Tết Năm Xưa
              )

              Tết Nguyên Đán lại tưng bừng trở về trên thế trần rồi đó ư? Người ta hân hoan, ríu rít, xôn xao hớn hở hân hoan ân tình gửi cho nhau quà giáng sinh, mừng năm mới với cánh thiệp nồng ấm thắm thiết tình người. Thú vị quá! Đối với Hoài thì ngày Thanksgiving, Christmas, Noel… no iết, hay Tết Nguyên Đán nguyên iết gì gì đó... không còn nữa, như Nhất Tuấn đã ghi bài thơ: "Mimosa Thôi Nở" có những câu thơ nàng rất thích:
              . . . Mới bốn mùa thu qua
              Mimosa, Mimosa, vẫn nở...
              Sao mối tình đôi ta,
              Ai làm cho dang dỡ?
              Đêm nay Noel đây,
              Nhưng em không về nữa.
              Ðường khuya mưa bay bay.
              Mimosa, Mimosa, thôi nở…
              Trong hồn anh đêm nầy…

              Tháng ngày thấm thoát trôi qua nhanh, như bóng chiều câu qua song cửa, cho mình nếm trọn đủ nỗi cay đắng, niềm đớn đau thầm lặng cùng cực buồn nhớ, khiến Hoài chẳng hết ngẩn ngơ lòng! Nỗi buồn xưa quanh quẩn đâu đây... Hồi nhỏ bé, trước thềm năm mới xa xưa ở thành phố khá lạnh xứ Đà Lạt, Hoài ưa theo ba má đi khắp nơi chúc tết cô bác họ hàng. Cô nhỏ thích được có nhiều tiền lì xì thơm mùi giấy mới, dù không biết xài tiền, em cũng cất tiền lẽ trong bóp đầm màu trắng, có dây quai quàng qua ngực, nhỏ vui mừng khấp khởi tới khoe cùng bạn trẻ, xem ai có nhiều tiền hơn ai thôi.

              Hoài vui vẻ tụm năm tụm ba với bạn, niềm hạnh phúc ấu thơ là xum xoe bộ cánh mới, cổ đeo kiềng vàng chạm trổ hoa mỹ, hai tai bé lủng lẳng bông vàng lắc lư theo từng cử động vui mắt. Đêm đêm nhỏ nằm mơ hái hoa bắt bướm lảng vảng bay trên đầu cây ngọn cỏ. Rồi tháng năm qua dần... cô em lớn lên với tà áo hoa màu rực rỡ, cùng bạn hữu thời trung học lượn quanh phố chợ, ánh mắt chan hòa tình mến, lòng bạn với ta phơi phới nét xuân thì. Ôi! Tuổi hoa ngày đó vụt xa bay qua tầm tay, nhanh quá đỗi là nhanh.

              Nay nắng mùa đông sót lại nét hoen sầu, rả rích từng giọt mưa phùn bay bay trên phố Đà Nẵng, điệu buồn êm nhẹ hẫng trên hàng mai vàng lốm đốm khoe sắc. Hoài thấy nhớ những cánh thiệp tươi màu còn cất ở dưới đáy va ly, nàng muốn mở ra xem một lần, một lần rồi thôi. Ở tình bạn, cũng như ở tình yêu, có điều gì mong manh, chơi vơi, xa xăm, lẻ loi khôn tả. Cuộc đời nàng như một hoang đảo ngoài khơi chói nắng, quanh năm toàn thấy đại dương mênh mông, bao la bát ngát. Còn con tàu, lục địa, bờ biển, thì ở xa -rất xa- Tất cả bạn và người thân từ từ xa (như con tàu dừng chân lại trước thềm lục địa, tạm nghỉ ngơi, thân ái nồng nhiệt, đôi khi có phần ích kỷ và ganh tị, nhưng họ tươi cười thản nhiên về sự phản bội đó. Rồi con tàu lặng lẽ nhổ neo đi).

              Hoài không giận, vì cho đó là sự kiện không quan trọng. Tình bạn non đời sống có chiều rộng, nhưng chưa có chiều sâu mà buồn làm chi. Do vậy tình bạn có phần dễ chịu, tình cờ, đơn sơ, như một túp lều cất lên bên sườn đồi, dưới giàn hoa thiên lý kế rặng tre xanh, bên nương sắn, cạnh ao bèo, muốn đặt nơi nào cũng được, không phân biệt giai cấp sang hèn, học thức thấp cao. Chính vì thế, nó mong manh, dễ tan vỡ, chẳng mang vết buồn đau thầm nhớ! Chả cần thiết!

              Buổi tối Hoài về nhà anh chị Thương, (vì nhà ba má ở quê Mỹ Chánh đang lộn xộn, không yên, nàng sống ở đó chẳng tiện). Hoài kinh ngạc khi nhận được thiệp xuân của Phú, Đông, chị Hạc. (Phú giới thiệu Đông gửi thư cho nàng theo kiểu bạn bốn phương, vì Hoài không hề quen biết Đông). Thật quá lạ, Phú nghĩ gì về tôi? Tự thâm tâm, có nhiều điều đắng cay, đau buồn, đến nỗi Hoài không nhớ mấy về ai, và quên mất mình đã quen thân Phú. Mừng rỡ cầm mấy phong thư vào phòng, nàng ngồi lên giường, mở thư Phú ra đọc trước tiên. Phú cho biết khi đậu tú tài toàn xong, chàng đã nhập ngũ, nay làm việc tại ven biên tỉnh Khánh Hòa. Đi nghỉ phép ở Đà Lạt, Phú đến thăm chị Khánh, và xin điạ chỉ Hoài.

              Thoáng thời gian ngắn ngủi qua nhanh, Phú có biết bao thay đổi, đầy hứa hẹn ở tương lai. Còn ta? Mình không có gì ngoài mớ đau thương chất chồng, bao khốn khó quằn xiết lấy tấm thân mảnh dẻ, hai bàn tay trắng, tấm bằng không làm cho đời sống riêng mình tươi hơn. Hoài thấy có cái gì sắt cạnh đâm sâu trong lồng ngực vỡ vụn ra, đau nhói. Một cái gì tê buốt, bàng hoàng. Mà, trước kia nàng tưởng là không có ai có thể bóp nát trái tim đầy tin yêu nầy. Thuở xa xưa ấy, Hoài gặp Phú, quen Phú, trái tim nàng như cuộn giấy trắng tinh, chưa sâu sắc thâu nhận bóng hình ai. Hoài thấy Phú đẹp trai, phong nhã đa tình, và sao mà chàng lãng mạn, lả lướt quá đi! Hoài sợ. Vã chăng, nói cho cùng thì lúc đó nàng đã có một xí cảm tình thân thiết với “cố nhân”. Không! Hoài chẳng muốn nhớ đến “tên ai”, dù kỷ niệm nhỏ nhặt gợi lên hình ảnh đẹp trên đại lộ khuya, làm bừng sống giấc mộng bạc bẽo nơi người con gái trước ngưỡng đời mệt nhoài, hụt hơi đến đắng cổ bây giờ.

              Mùa đông trôi tuột về dĩ vãng mất rồi, chẳng bao giờ tìm thấy nữa! Thời gian và không gian chìm sâu từng ngày, từng ngày vào ý niệm. Hoài đã đi từ Đà Lạt xuôi qua mọi miền, đi thênh thang giữa lòng đô thị Đà Nẵng, về vùng trời Hội An, Huế, Mỹ Chánh, Quảng Trị, La Vang, ra tới Bến Hải… Có thể suốt đời Hoài vẫn nhớ nhung, nâng niu, trân trọng giữ gìn kỷ niệm dịu êm một thuở vàng son. Kỷ niệm đó, thoáng mắt nhớ nhung đó, nụ cười đó, không gian và thời gian ngày cũ vẫn theo nàng đến chân trời góc bể, nơi nàng đã sống, vui buồn, mòn mỏi, khát khao nỗi nhớ niềm mong, hay đã quên hết rồi? Hoài âm thầm, nhỏ bé như loài hoa cỏ may tầm thường mọc bên lề viả hè trong thành phố xa hoa. Bao lo âu, buồn bã, nhớ nhung, làm úa vàng ngăn kéo kỷ niệm một thuở ru tình... do vậy nàng rất yêu bài thơ dài của Triều Hoa Đại, trong đó có câu:
              Nửa bước em về chiều nay tư lự.
              Nửa bước em về ngày xưa tháng cũ.
              Bước đi bây giờ làm sao lam lũ!
              Bước đi bây giờ buồn thế sao em!?
              Thơ anh bỗng buồn viết mãi không nên
              Chiều cũ ven mưa phố lạnh lên đèn
              Tình yêu bây giờ làm sao xa cách?
              Tình yêu bây giờ buồn thế sao em?
              *


              Cô Ba Thuận năm nay ngoài bốn mươi lăm tuổi, vóc dáng cô Thuận mập ơi là mập, lùn xủn; cô siêng năng chăm chỉ lo làm ăn buôn bán, nên hái ra tiền, cô ăn nói hoạt bát, nếu không muốn nói là hơi quá lanh miệng lanh mồm. Bạn thân thiết của cô Thuận là cô Nga thì ốm nhom, cao lêu khêu, Hoài ít khi nghe cô Nga nói cười. Cô Nga cũng siêng năng, kín đáo mà lặng lẽ. Sáng sớm mỗi người đi bán một ngả, tối họ về ở chung một phòng chật chội, cùng nhau ngủ một giường. Họ bán những thứ hàng tạp hóa giống nhau. Chẳng bao giờ nghe họ ồn ào, bực bội, băn khoăn, to tiếng cãi cọ. Hai cô bạn già suýt soát tuổi nhau, thân thiết dịu dàng rất mực, mà thuở ấy Hoài chưa từng nghe có từ thông dụng gọi họ là “lesbian” hay “gay ghiết, bóng biết, lại cái” chi cả! Họ là hàng xóm bạn sơ giao của chị Thương. Hôm nay bỗng nhiên cô Thuận qua nhà, cô nói nhiều chuyện vui thật là vui, rồi cô vào đề: xin phép chị Huyền cho Hoài đi phụ cô trông coi cửa tiệm dùm cô. Cô cười:

              - Tiền! Tiền! Có tiền mua tiên cũng được. Hết sẩy! Chị đồng ý cho em Hoài ra ngoài xã hội vui vẻ, thi thố "tài lăng" bé nhỏ mí đời, chị nhé!
              Chị Thương nói:
              - Em nghỉ Tết, không gì làm, nếu đi giúp cô Thuận, thì cũng hay, em ha.
              Hoài đã ỏn ẻn mỉm cười đồng ý.

              Đại lộ Hùng Vương ồn ào, nhộn nhịp, tấp nập, đông đúc người người chen lấn đi mua sắm tết. Cô và Hoài bận rộn suốt từ sáng đến tối chưa kịp ăn cơm trưa, bán buôn không ngơi tay nhưng nàng cảm thấy vui không phiền hà‎ khi hoà mình theo lòng phố thị huyên náo. Trong tiệm chỗ tụm năm tụm ba, người mua cái nầy, người mua cái nọ. Hai người lăng xăng rối rít bán hàng không ngừng tay. Bận rộn quá chừng. Bốn giờ chiều thì hai chị em mới có thể nghỉ ngơi xí, họ chia phiên nhau vào góc tiệm ăn cơm, chứ đói chịu không nỗi. Nhà hàng mang cơm phần đến từ lúc mười một giờ, thức ăn bây chừ đã nguội, mỡ đóng váng trên mặt. Nàng ăn chẳng thấy ngon lành, và mệt quá.

              Ngày thứ hai trước khi đi làm, Hoài ghé tiệm ảnh Phụng Ký ở đường Đồng Khánh lấy mấy tấm ảnh. Ngày thứ ba, hai chị em rảo bước trên phố thật sớm. Hoài mặc áo lạnh lông xù màu cánh sen, cổ quàng khăn voan màu tím hoa sim, quần tây đen, mang giày bít. Má đã mua cho Hoài đủ mọi thứ cần thiết từ đồng tiền lao nhọc của mẹ cha. Vui lạ! Có ai từ nhỏ đến lớn không có năm bảy lần mặc áo mới đẹp nhất, khi họ đã đi qua hầu hết quãng đời mình, mà không vui thích mỉm cười, không nhỉ?

              Tiệm của cô Thuận đông nghẹt khách mua hàng. Hoài đứng sau quầy, niềm nở cười cười, vui vui, bán bán, trao trao. Bất ngờ và quả thật rất tình cờ, nàng chợt nhìn thấy và… nhìn theo mãi người con trai ngồi sau chiếc Velosolex do bạn chở. Họ đã chạy vòng lui vòng tới bốn năm lần trước cửa tiệm. Nhìn vào tiệm, họ cười hoài. Hai anh chàng cứ... “liếc mắt đưa tình” với nàng, và húc cùi chỏ cười đùa với nhau. Họ chưa dám dựng xe vào trêu ghẹo con bé áo tím. Mặc cô Thuận đon đả mời chào, và, cô sẽ nói huỵch toẹt ra nếu ai có ý lã lơi với nàng, khiến khách đỏ mặt mà xéo bước nhanh. Tính cô thẳng như ruột ngựa là gì!

              Chàng thanh niên ngồi sau lưng bạn có dáng dấp thư sinh, mày rậm mũi cao, da trắng trẻo, đôi mắt chàng sáng ngời đẹp như mắt chim phượng, khuôn mặt càng xinh trai hơn với đôi má lúm đồng tiền sâu hoắm, chiếc răng khểnh khép nép bên khóe môi phớt hồng, chàng có nụ cười tươi mát đến ngã lòng người. Ah! Chàng có dáng dấp khá giống Phú ở nụ cười có hai lúm đồng tiền! Chàng nhìn Hoài đăm đăm và quay lại tươi cười, vẫy tay với mình nữa kìa! Ôi Lạy Chúa! Quả thật họ đã để ý đến con người tội nghiệp nầy rồi!

              Cuối cùng dựng xe trước cửa tiệm, họ vào mua năm hộp mứt, hai lố thuốc lá 555 International, hạt dưa, ba chai rượu Martin. Hộp quẹt. Dao cạo râu. Dây nịt đủ kiểu. Dép đàn ông mang trong nhà. Mười áo thun trắng, mỗi cặp có màu và nhãn hiệu khác nhau, quần sọt cũng vậy.

              Trong khi Hoài gói hàng, cô Thuận loay hoay soạn mấy cái giỏ xách nhựa mới, cô hào phóng tặng họ mang mớ quà cồng kềnh về. Chờ Hoài ngẩng lên, chàng thư sinh Bắc Kỳ đẹp trai ấy lại khoe má lúm đồng tiền, chiếc răng khểnh, chàng đá lông nheo "kịch kịch" với nàng vài ba cái, mới chịu khệ nệ bưng hàng hóa ra về. Ơ hay! Chàng lại gật đầu vẫy vẫy tay chào thân thiết, gật gật gù gù nheo nheo mắt ướt. Hai anh chàng to nhỏ điều gì, lại khúc khích cười cười mãi nữa kìa!

              Hoài mắc cỡ, hai má nóng bừng, vội vàng cúi xuống tủ kính, vờ xếp lại đồ đạc bên trong. Nàng "không có đồng tiền bát gạo nào" làm sao dám khoe với ai! Nàng thấy vui khi tối hôm ấy cô Thuận qua nhà đưa tí tiền. Nửa đùa nửa thật, cô nói:
              - Em Hoài giúp tôi mấy hôm nay, thú thật là em đỡ đần tôi rất nhiều. Chị và em đừng ngại gì sớt. Mỗi ngày, tôi sẽ trả em năm chục đồng, còn nửa tháng cuối, thì mỗi ngày một trăm, vì em sẽ thức khuya bán chợ đêm Tết. Ăn uống tôi lo hết. Vất vả đấy nhá. Ra Giêng, nếu em còn ở nhà, thì giúp tôi bán hàng, tôi đưa em mỗi ngày vài ba chục thôi, tùy ngày bán được hay không, vì tháng Giêng là tháng “ăn chơi” sẽ ế ẩm mà. Chỗ chị em, tôi hay nói thẳng, chị Thương và em Hoài không giận tôi nhá.
              - Em vừa ở quê vào đây... lưng chừng ngày tháng, chưa tính đi học lại ở trường nào, em ở nhà nghỉ, nên giúp cô cho vui, tiền nong gì. Cô.
              - Ấy chết. Ai lại thế bao giờ. Chị biết không? Em Hoài có duyên bán hàng ra phết nhé. Tiệm tôi đắt hẳn lên. Hôm nay có mấy cậu vào mua, hỏi đến đâu họ mua đến đó, chả mặc cả kỳ kèo gì sớt. Buôn bán, tôi chỉ trông chờ khách xộp điệu nghệ thế chứ. Tôi có nhờ hai cậu ấy ra Giêng đến mở hàng khai xuân đầu năm hộ tôi. À, chị nhớ cho em Hoài giúp tôi một tay nhá.
              - Việc đó tùy em tôi thôi. Đôi khi nó không thích, làm sao tôi dám hứa.
              - Ối dào! Em cứ đi làm cho vui mà có tị tiền còm, chờ bao giờ đầu mùa khai giảng, em đi học là tốt.
              - Chị nói có lý. Tôi sẽ bảo em Hoài suy nghĩ, rồi trả lời chị sau nhé.

              Liên tiếp mấy hôm sau, hai chàng trai vẫn thả bộ trên phố, rồi họ vào tiệm cô Thuận mua cái nầy, mua cái nọ. Có lần,“anh chàng đẹp giai” nhờ nàng chọn hộ cà vạt. Hoài biết chàng ăn mặc lịch sự, tươm tất, lẽ dĩ nhiên sẽ chọn đúng thời trang, chứ mình nào có tài cán gì, mà chọn! Chẳng qua chàng muốn gợi chuyện làm quen. Thế thôi. Hoài thấy sợ! Mặc dù quen họ, với tính cách là người khách mua bán hàng quen thuộc. Có thể chỉ là bạn, hay là anh trai hơn hẳn mình về tuổi đời, kinh nghiệm sống, không thể đi xa hơn. Nàng như con chim non lìa đàn, sớm bị thương, nay đậu cành mềm sợ gãy cánh, sợ cơn đau buồn điếng lặng khác sẽ ập đến.

              Nửa tháng cuối năm, chiều nào cũng thế, chỉ còn một mình chàng thơ thẩn solo trên phố, dường như chàng cố ý chờ đợi ai. Sau đó, chàng tạt vào tiệm, phụ cô Thuận treo đồ đạc khách chê đã vứt bừa bãi trong góc phòng. Dù một hai giờ khuya, chàng vẫn chờ cô dọn dẹp xong, chàng mời hai chị em đi ăn. Gì chứ về cái món ăn uống "chùa", khỏi chi địa, là cô Thuận khoái khẩu, vui vẻ nồng nhiệt tươi tắn hẳn lên. Chuyện gì cô cũng tốt, nhưng việc tiền nong thì: "tôi là Bắc Kỳ dón, vắt cổ chày ra nước mà lị". Cô Thuận vẫn nói thế với ông chủ cho cô thuê nhà mà.

              Có người khách không mời bỗng dưng đêm đêm đến giúp một tay, cô Thuận khoái tỷ vì chả mất tiền công, lại khá được việc. “Ảnh” còn hào phóng mời “hai chị em” nhiều bữa ăn tối, ăn khuya, hậu hĩ quá chừng. Họa có điên hay sao mà không nhận lời chứ. Cô Thuận chuyện trò vui vẻ hồn nhiên "thoả mái" thế nào ấy. Vui vẻ tử tế quá đi. Đôi khi, cô Thuận cũng mời lại "con người tốt bụng ấy" tô bún bò giò heo, tô hoành thánh mì, chén chè, dĩa xôi. Vã chăng, cô Thuận thấy nếu cứ làm cái việc tình vờ phớt lờ ăn hoài của người ta, như ngầm ngầm lợi dụng anh chàng “dại gái”, thì nó cũng hơi kỳ kỳ, ngượng ngùng bẽn lẽn sao sao ấy! Hoài đi theo họ vào tiệm ăn như chiếc bóng âm thầm, chẳng mấy khi thân mật chuyện trò với ai, khiến cô Thuận nhăn mặt, nói nhỏ bên tai:
              - Người đâu mà kém xã giao đến thế. Sao em ngu tệ. Chả biết.

              Vì phép lịch sự, Hoài vờ lắng nghe chàng ấy giới thiệu tên, nhưng thật tình không nhớ rõ tên gì. Hoài nhút nhát rụt rè không dám hỏi lại, e bất lịch sự, sợ chàng nghĩ mình điếc, thì buồn năm phút. Trời đất ơi còn cô Thuận! Cô chê em là con nhà quê vừa thập thò ra ngưỡng cửa thành phố đó. Thế, cô tưởng em còn "ngây thơ vô tội" chưa biết trộm yêu, thầm nhớ và đau khổ ấy chắc? Hoài ngập ngừng gượng gạo cười nói, như gã hề đeo mặt nạ méo mó, trông thật kỳ. Lúc còn lại hai người trước cổng nhà, cô Thuận ân cần nói:
              - Cậu Toàn Thắng là người khá lịch sự, dễ thương, đứng đắn. Em nên vui tươi một tí nha. Suốt buổi ăn, em cứ xụ mặt xuống, trông thật khó coi, bất lịch sự đấy. Nhớ nhá!

              Hôm sau quên lời cô dặn, Hoài vẫn buồn xo, lặng thinh, nên cô Thuận nhích tới khẽ húc một cái vào hông nàng. Giật mình, Hoài vội nhăn răng ra, cười rõ tươi. Trong khi chàng đang bình luận chuyện thời sự, chuyện chính trị đứng đắn, không có gì vui, để cho nàng cười như reo thế. Ngạc nhiên, chàng im bặt nhìn Hoài đăm đăm. Có lẽ chàng nghĩ con nhỏ nầy có dòng máu khùng khùng, lãng lãng, điên điên, chi chi đó nhỉ!? Cô Thuận liền quay sang Hoài, cô lén thò tay xuống gầm bàn, dùng mấy ngón tay mập ú cô bấm bấm cào cào vô đùi nàng, thì thầm:
              - Đừng có dỡ hơi thế chứ. Im nào!
              - . . .
              ***

              Người ta vội vã, hấp tấp quét dọn sạch sẽ những ụ rác to tướng, họ đem đổ trên xe chở rác, ở ngả tư, ngả năm đường phố. Họ lau chùi nhà cửa, bàn ghế tươm tất. Chuẩn bị tiễn đưa năm cũ, và hân hoan nồng nhiệt, vui vẻ đón chào năm mới cổ truyền tưng bừng, háo hức trên những cành mai vàng tứ qúy nở hết cánh, đẹp ơi là đẹp. Giao thừa và Tết Nguyên Đán lại đến. Bây giờ là ngày mồng hai tết, Hoài ghi tên dự thi hoa hậu, do Sư Đoàn 2 tổ chức tại Hội chợ Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ, bên Sơn Trà. Vì Hoài còn quá nhỏ tuổi, nên anh Thương bắt nàng phải chạy xuống nhà anh Thuận ở đường Đống Đa, để ký giấy chấp thuận cho Hoài đi thi (như ban tổ chức thi hoa hậu tại Sư Đoàn 2 yêu cầu).

              Đúng tám giờ tối, cuộc thi bắt đầu. Giàn nhạc trỗi dậy âm giai lên bổng xuống trầm tuyệt diệu, khi hùng dũng như vũ bão, khi lả lướt êm đềm, nhẹ nhàng, êm êm lâng lâng như mây khói mong manh. Đó là thứ từ trường mãnh liệt, tiết tấu hài hòa, đầy rung cảm, tạo thành âm điệu tuyệt vời do ban văn nghệ Sư Đoàn 2 điều khiển, phủ chụp lên tâm hồn nàng đa cảm, những dòng âm thanh rì rào, lâng lâng, ngất ngây, táo bạo và run rẩy. Sự tưng bừng huyên náo nầy khuấy đảo tâm hồn chưa yên tĩnh, khiến Hoài càng bối rối, băn khoăn, âu lo. Tuy vậy, nhờ sự hổ trợ mật thiết, tương đắt của chị Sáu Huyền, các cháu Châu, Trân, Vân, Sơn, và có năm mười người bạn mới, cũ, cùng khán giả đông nghẹt nồng nhiệt cổ võ, thì Hoài vững tin, cố gắng hết mình.

              Khuôn mặt Hoài để tự nhiên không hề biết dùng chút phấn son trang điểm. Xiêm y kín đáo hài hoà, thấm đượm tình cảm thiên nhiên, mang nặng tính cách dân tộc miền núi thượng nguồn Việt Nam, qua vũ khúc Dămbalada. Vũ điệu sôi động, đầy tính chất buông làng, rừng núi thâm u hiểm bí, đã khích động khán thính giả nhiệt liệt hoan ca rất nhiều. Sau vũ điệu, nàng phải hát một bài tự chọn "Nắng chiều" của Lê Trọng Nguyễn. Vì khá mệt trong điệu nhảy sôi động và hoang dại, nên Hoài vừa ca vừa thở, nghe dỡ ẹc. Đồng thời nàng phải trả lời năm câu trắc nghiệm, vấn đáp hóc búa, cùng thi các thích ứng thông minh mau lẹ khác. Hoài lo mình kém tài sẽ gây nên cảnh lố bịch, đến các bậc đàn anh, đàn chị cười chê, châm chọc, thì thật ngượng ngùng hết chỗ nói; sẽ hổ thẹn với bạn trẻ biết mấy!

              Đứng trên sân khấu có 83 vị xinh như mộng, tươi như hoa đang dự thi. Tất cả chờ đợi ban giám khảo phê duyệt rất lâu. Họ và Hoài đã vượt qua vòng sơ kết. Rồi đợt hai còn năm mươi cô lọt vào vòng bán kết. Đợt ba có mười lăm người may mắn vào vòng chung kết. Những cô bị loại ra thì buồn xo, cúi mặt lủi thủi bẽn lẽn đi xuống. Những cô còn nuôi hy vọng được đứng lại trên sân khấu, thì reo hoan tươi cười ôm nhau nhảy tưng tưng, giống trẻ con ghê, mặc dù cô nào cô nấy ít nhất từ mười sáu đến “hâm” đi hâm lại tới bâm mấy tuổi rồi. Những cô còn đứng trên khán đài, đã được ban điều hành mời họ qua đứng hai bên cánh gà tả và hữu. Hoài hồi hộp lo lắng, bẽn lẽn, sợ bị ném cà chua, trứng thối, bị xịt nước dơ, hay bị đuổi xuống khán đài, thì thật quê một cục, mất mặt, xúi quẫy cả năm chứ chẳng chơi.

              Còn lại hai cô kia và Hoài là người cuối cùng đứng giữa khán đài rộng mênh mông. Giờ phút quyết định quan trọng đã đến. Cuộc đời Hoài như thăng hoa từ khi đại diện ban giám khảo đội vương miện lên đầu, cổ quàng hoa tươi, đeo hàng chữ Hoa Hậu - Cây Muà Xuân Chiến Sĩ... Giải thưởng là chiếc xe đạp đầm Pháp, model mới nhất, màu xanh. Bó hoa liz cầm tay, và mười ngàn đồng. Số tiền khá lớn, (trong khi lương lính một tháng chỉ có 1.200$)!

              Ôi! Tuyệt vời xiết bao! Lòng hân hoan vui vẻ kinh khủng, Hoài mừng rỡ không thể tả nỗi. Mọi người ùa đến chúc mừng, bất kể lạ hay quen. Họ chen lấn nhau đứng bên nàng chụp ảnh. Chị Huyền, các cháu và mấy bạn phải nhảy lên sân khấu đứng gần nàng, đưa hai tay che chắn bớt số người ngưỡng mộ, chen lấn quá đông. Trái tim Hoài bừng sống, bay lên tận mây xanh, nàng cười liên miên, vui mừng, luôn miệng nói cảm ơn mọi người ưu ái đã gửi đến Hoài lời chúc tụng nồng nhiệt. Ồ! Định mệnh đã đưa đến tay nàng những gì cao qúy, tươi đẹp nhất trong đời. Nàng tưởng không bao giờ với tới, chạm tới đáy hạnh phúc. Không có ngôn ngữ nào có thể diễn đạt hết tâm tư Hoài mừng vui cuống quít kinh khủng trong lúc nầy. Thì ra ông Trời rất nhân hậu, từ ái, có chừa cho nàng một kẽ hở, vô cùng niềm nở, tuyệt vời, trân qúy, thân yêu nhất đó mà. Hoài không biết để tri ân và tạ ơn Ngài.

              Hoài háo hức nhón gót nhìn quanh, cố ý tìm kiếm xem trong số khán giả đông đúc còn ngồi dưới khán đài, có "ai quen" lẫn lộn ở đó thì... vui vẻ, hãnh diện, tự hào biết bao. Quả thật, “chàng trai sơ giao” ấy đã đến chúc mừng vinh quang bè bạn. Lần đầu tiên, bây giờ nàng có dịp nhìn kỹ anh trong bộ quân phục đại lễ mùa đông oai hùng. Ah! Thì ra chàng là lính ở văn phòng, chứ không phải thư sinh bạch diện như Hoài đã nghĩ lầm! Bảng mica màu xanh gắn trên túi áo, mang tên: Đ Toàn Thắng. Hai bên cầu vai đỏ có một bông mai vàng lấp lánh dưới ánh đèn, tay cầm chiếc nón casket. Bây giờ nhìn anh quân nhân trẻ, mũ mão cân đai chỉnh tề, oai vệ, Thắng đứng nói chuyện bên mấy người quen mặc cevil, Hoài thấy họ khác lạ như hai thái cực tách rời, chênh lệch nhau quá. Thắng gật đầu chào Hoài, cười thân ái:
              - Thân chào Hoài. Ngồi làm khán giả, anh nghĩ thể nào em cũng đạt được ngôi vị cao nhất. Rất hân hạnh đến chúc mừng, Hoài nhé.
              - Cảm ơn anh. Không ngờ anh có mặt ở đây, và là... một sĩ quan.
              - Như anh, có ngờ đâu anh quen biết với một hoa hậu kìa.
              - Ban giám khảo thấy em tội nghiệp, sắp mít ướt tới nơi. Họ cho lầm.
              - Ấy. Ở đời muôn sự đều giả dối, và nhầm lẫn. Chỉ có sự thật mới đáng qúy trọng. Dù ở cảnh ngộ nào, anh cũng thích tôn trọng sự thật hơn.
              - Điều đó quý lắm chớ.
              - Là thế. Mong em giữ mãi niềm vui, hạnh phúc ngọt ngào như hôm nay.
              - Hoài cảm ơn anh nhiều.

              Thắng nhìn nàng cười thân ái. Thoáng giờ phút rực rỡ huy hoàng nhất đời mình đã để lại trong lòng nàng tuyệt phẩm cao đẹp với cuộc đời. Hoài lâng lâng, xúc động, ngất ngây niềm vui vì bất ngờ có thành công chói sáng, hiển đạt không dám mơ. Tim nàng rung lên từng hồi theo nhịp đập trong lồng ngực cuồng quay, muốn hụt hơi, khiến nàng hoa mắt, môi luôn nở nụ cười toại nguyện. Tạ ơn Chúa! Ngài đã ban cho mình đặc ân tốt lành. Có điều thực tế nhất là từ nay, Hoài có thể ngẩng mặt với đời chút xí, và phụ chị ít tiền, cho gia đình chị bớt khó khăn sau ngày cháu bé vừa mất. Xin cám ơn Đời đãi ngộ. Cám ơn sự ưu ái, nồng nhiệt vô vàn của khán giả. Cám ơn Ban Tổ Chức cho mở cuộc thi. Cám ơn Ban Giám-khảo và Sư-đoàn 2 Bộ Binh. Cám ơn gia đình chị Sáu Huyền, các cháu Châu, Trân, Vân, Sơn, và bạn hữu thân quen rất nhiều.

              Trên đường về, ngoài số khán giả ngưỡng mộ đông đúc, đông rất đông, còn có anh em Trịnh Trần, Mai Nương, Thu Tuyền, Lan, Ngọc, … đã đưa chị em Hoài từ bến Sơn Trà lên phà qua sông, về đến tận ngỏ nhà. Đêm bây giờ tuyệt đẹp. Đêm không u sầu. Đêm không hoang liêu. Đêm không ủ dột. Đêm không lo âu. Đêm không còn hãi hùng đau thương do chiến tranh tàn phá, không phải đói khát, nhường cơm chia áo cho nhau. Đêm không đơn điệu. Mà là đêm đầy tuyệt vời. Đại lộ Phan Chu Trinh nở ra dưới đêm đầy sao lấp lánh, huyền diệu trên bến Ngân Hà. Dù không có Thắng tiễn đưa Hoài về nhà như mọi ngày. Anh phải ở lại trực trong Sư Đoàn 2. Không có "anh". Nhưng, đêm càng về khuya, càng thơ mộng và tuyệt diệu dường bao! Đúng lúc đời Hoài lên hương, Thắng đã lên sân khấu tặng Hoài bài thơ:
              “Dạ thưa!” người con gái khá ngoan hiền.
              Tóc thề dáng nhỏ nón lá chao nghiêng.
              Gió sớm khuya chiều vờn quanh môi thắm.
              E ấp ngập ngừng xuân tình bẽn lẽn.

              Khao khát trao em tình như thầm hẹn.
              Ngày tôi đi mây xám ngủ bên thềm!
              Cung đàn nhè nhẹ sáo diều êm êm.
              Phượng hoàng tím soãi mình vờn quanh núi.

              Tình bỗng tha phương trống vắng ngậm ngùi…
              Bãng lãng gót son em về tư lự.
              Xinh đoá hồng gai trao chút an thư.
              Dẫu trăm năm xin nồng nhiệt tương tư.

              Mắt em nhìn là rung lên vạn ý,
              Môi chưa hé nhưng đã nói muôn lời.
              Gói tâm tư theo từng áng mây trôi.
              Tha thiết lắm. Ôi! Tình em gái nhỏ...
              (*- Thơ THH)
              *
              Ố... ồ ô! Thì ra em hân hạnh quen biết với một quân nhân thi sĩ! Vui lắm thay.
              * * *

              Tình Hoài Hương
              (29 tháng Chạp 2016)
              Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-25-2017, 06:43 PM.
              Bút trần nào tả được lưu luyến!
              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
              Tình Hoài Hương

              Comment

              • Tinh Hoai Huong
                Senior Member
                • May 2009
                • 1081

                #187
                Pháo… “NỔ”





                Lời nói đầu :
                Đây là vài mẫu chuyện có thật không ngại hay dỡ, tôi xin kể lại với mục đích duy nhất đọc làm vui...Nguồn cảm hứng bắt đầu từ những đoạn viết kể chuyện xưa của Niên Trưởng Phượng Hoàng Nâu; và để gây chú ý bạn đọc nên tôi xin đặt bài viết nầy với tựa là: pháo… “NỔ”
                NN

                ***
                Pháo… “NỔ”

                NGHICH_NHĨ



                Nếu tôi nhớ không lầm, thì khoảng năm 1967 trở về sau nầy, lúc chiến trường càng ngày càng khốc liệt, để nâng cao tinh thần binh sĩ có sự hãnh diện, niềm kiêu hãnh của quân binh chủng mình, nên giới truyền thông mới đặt thêm những cái tên nghe oai phong lẫm liệt như: anh hùng mũ đen... để chỉ Biệt Đông Quân và Thiết Giáp, và thay vì TQLC nghe không được tượng thanh và tượng hình dữ dằn bằng Cọp Biển, ngoại trừ "Thiên Thần Mũ Đỏ" đã có từ lâu. Cũng trên cái chiều hướng đó, mới có những cái tên như “người lính Thông-thái” để chỉ Pháo Binh và Truyền Tin. Còn KQ nhà mình thì đựơc gọi là “Người lính Hào-hoa”!

                Cái từ hào hoa nầy từ trước đã có, nhưng ám chỉ một số cá nhân nào đó, hoặc trong những buổi chuyện trò với nhau, chứ không nói đến cả một tập thể KQ như sau nầy! Rồi nghe nói là những SVSQ//KQ của các Khoá từ năm 68 (?) trở về sau, được trang bị thêm những mỹ từ: “hào hùng, độc đáo” nữa! Tôi được nghe cũng khoái thật, cũng thấy... “kênh” một chút, dù tự xét bản thân… “cù lần lửa” của mình, chẳng có được một chữ nào trong đó cả. Thôi thì mình cứ ăn ké, cứ hưởng… “của người phúc ta” mà, có chết thằng Ma-rốc nào đâu, mà cần phải đính chánh chớ!

                Nhìn chung cũng thấy đúng, vì những điều kiện đòi hỏi để trở thành một quân nhân KQ, cũng không dễ dàng gì so với các quân binh chủng bạn. Vâng, nếu anh là một chuyên viên kỹ thuật, thì anh đâu phải sửa chữa xe hơi, máy móc thường, mà sửa đến… phi cơ lận! Còn mấy anh phi hành thì tự hào là ăn cơm dưới đất, mà làm việc trên trời… Với lại áo quần cũng sạch sẽ không bê bết bùn sình; còn đêm thì bên cạnh người thân ở những thành phố lớn, chỉ nhìn thấy ánh hỏa châu và tiếng đại bác từ xa vọng về… Những cái vụn vặt, lỉnh kỉnh của… “người lính cậu” ấy, đã gây cho tôi có ấn tượng và định kiến (stereotyped). Hễ đã là quân nhân KQ, thì hầu như đa số đều có cái niềm kiêu hãnh ngầm, một chút “sô- ốp” và kèm theo tí… “nổ”; mà mức độ nổ đây thuộc loại pháo tiểu, trung, hay pháo đại, là tuỳ theo người… Nhưng ba chuyện thật sau đây, thì cái định kiến của tôi… SAI đến hai phần ba! Xin kể:

                * Chuyện đầu:

                NT Phượng Hoàng Nâu có kể lại một chuyến bay yểm trợ đêm thuở xưa, và có nhận được thơ của mấy ông Hội Đồng Xã, và anh em Dân-vệ cám ơn được cứu mạng! Tóm tắt câu chuyện là: NT PHN hướng dẫn 1 phi tuần 2 chiếc đến giải vây cho một đồn gần biên giới Việt Miên; nhưng vì phương tiện thời bấy giờ còn eo hẹp, thô sơ, nên khi xác định được vị trí đồn, thì than ôi, cái đồn đã tiêu ma rồi… và VC đã bắt trói mấy ông hương chức xã và lính dân vệ, giải về phía biên giới Miên.

                Đám tù binh hàng dọc mập mờ ẩn hiện trong sương sớm, khiến cho hai con chim sắt tưởng cả bọn đều là Cộng phỉ, nên xà xuống tấn công! Đúng là người gian mắc nạn, nên đám dẫn giải tù binh… “muốn chết” liền nhảy xuống bờ đê, và lãnh đủ loạt đạn cà-nông-vanh. Riêng những nạn nhân phe ta, vì đang bị cột dính chùm khó xoay xở, nên còn đứng nguyên trên bờ đê, nhờ vậy mà sống sót chạy về. Một vài tháng sau đó viết thơ cám ơn ân nhân đã cưú mạng!

                Đọc xong câu chuyện… bây giờ mới kể của NT PHN, tôi đâm ra bần thần, ngẩn ngơ 5 phút! Đúng là "ông nầy" không có một tí… nổ nào cả, “pháo lép” cũng không! Phải chi lúc nhận được thư cám ơn, còn ràng ràng ra đấy, ông chỉ cần làm mặt… “nghiêm và buồn”, trịnh trọng nói:
                - Mình đâu có làm gì hơn được, vì trong cái đám lẫn lộn địch và ta ấy, mình đâu dám “chơi” bom, mà bắt buộc phải dùng cà nông mà “thịt” chúng thôi! Rồi ông buông thêm vài lời lửng lơ:
                - Còn mấy ông làng xã và lính nầy mạng cũng còn lớn, cho nên năm bảy tên VC dẫn giải ăn đạn hết, cả đám thoát được là một điều may!

                Chỉ cần nói có vậy thôi, và trưng thêm một bằng chứng hùng hồn là lá thư cám ơn nữa, thì -tiếng lành đồn xa-, mà càng xa… thì càng có thêm mắm thêm muối, thêm râu ria… Biết đâu bây giờ sẽ có một huyền thoại:
                - Trong Không Lực VNCH, có một Ách chủ bài là Phượng Hoàng Nâu đã dùng cà-nông-vanh bắn sẻ từng tên VC, một viên là một thằng, có lúc ổng còn chơi xuyên-táo một viên hai thằng nữa cơ đấy…v.v…
                Đó là phe ta nói; chứ còn phe anh Ba nói cái kiểu phi công Mig của ta núp trong mây, chờ B52 đi qua kè theo, nhảy qua bắt sống giặc lái B52 nữa, thì vụ nầy sẽ đưa NT lên tới tận mây xanh lận đó. Tiếc quá Niên Trưởng ơi! Lúc cần nổ, sao ông không cho nổ; một viên... pháo chuột cũng được mà!

                Rồi trong mấy bài viết sau đó NT PHN còn kể bị mấy cái… “vạ miệng” nữa, nào là chối từ việc gắn huy chương cho các phi công anh dũng nơi phạn điếm, mà đòi hỏi phải ở sân cờ có mặt trước ba quân, nào là đọc hai câu thơ:
                Bó thân về với Triều Đình
                Quần thần lơ láo phận mình ra sao?!


                Để trả lời một Ông BỰ khi bị hỏi xỏ nữa chứ! Sao mà tôi… “Chịu” ông quá đi thôi! Phải chi trong KQ, hay nói rộng ra trong Quân lực VNCH có được kha khá nhiều những sĩ quan cao cấp, mà có được tánh tình khiêm cung, ngay thẳng, bộc trực, nhạy bén trong nhận định đúng sai, có tấm lòng với đàn em thuộc cấp như Phượng Hoàng Nâu, thì đất nước miền Nam mình đỡ biết mấy!
                Viết đến đây thế nào cũng có bạn vổ vai tôi và bảo:
                - Stop đi bạn! “nâng bi” bao nhiêu đó đủ rồi!

                Tôi xin thưa ngay: À! Cái “vụ” đó hổng có tui à nghen! “You hot you say so”, anh nóng anh nói thế, chứ bây giờ mà nâng bi ổng, để được cái gì chứ? Hổng lẽ ổng chia cho một ít… tiền già? hoặc phòng xa vài chục năm nữa, ông ấy sẽ đệ trình Diêm Vương: cất nhắc cho tui một chức quan nho nhỏ nào đó ở chốn Diêm đình?! Nói là nói vậy, chứ cũng đề phòng miệng lưỡi thế gian gán cho tội... “nâng-bi” nên bây giờ xin... “mó-dế” Niên Trưởng một chút nha. Theo như NT cho biết: chính những lời trung-ngôn đối với cấp trên mà bị...vạ miệng! Vậy bây giờ dám hỏi: "nếu đổi vị trí NT là thượng cấp, mà thuộc cấp, hoặc đàn em có những lời nói như vậy, thì NT cư xử ra sao? Sẽ khen: À! thằng ni nói đúng, để ta xem lại; hay dằn mặt kiểu nào? hoặc… “đì” cho chết bỏ vậy?

                Kính thưa Niên Trưởng Phượng Hoàng Nâu, nhân đây em cũng xin nói thêm nhận định của mình.. Phượng Hoàng đã xuất hiện từ lâu trên CT, đang bay trên chín tầng mây, không muốn dính líu đến chuyện hồng trần, chuyện thị phi “Bênh và Chống” trên Cánh Thép mấy tuần qua! Dù Ông Thầy đã bay cao và xa thế, nhưng vẫn dõi mắt trông xuống mấy thằng học trò đang hăng say thảo luận, dù những lời lẽ nội dung trong bài viết: chưa có gì là gay cấn. Nhưng áp lực cũng có vẻ nặng nề, nên Ông Thầy mới ra tay… xuất chiêu giải toả áp lực, bằng một bài viết chuyện xưa, và quả đúng như ý… đã làm cho lũ học trò nhớ lại những ngày xưa bên nhau, mà bỏ qua đi những lục đục về ý thức hiện nay…? Có phải vậy không? Cái ngu ý và sự phỏng đoán đã tỏ bày, nếu được Ông Thầy búng ngón tay nghe cái… “tróc” một phát và nói:
                - Chỉ có... nhà ngươi mới hiểu ta! Được vậy thật là vạn hạnh…

                * Chuyện giữa:

                Chuyện nầy tôi xin nói đến anh Nguyễn Thiện ÂN, có hổn danh là "Ân mù" , hay "Hiệp sĩ mù" cũng là chàng! Anh thuộc Phi Đoàn 520 ở Cần Thơ. Tôi nhớ không chính xác, dường như là cuối năm 1968, KĐ 74 (ông ÁNH là KĐT) có tổ chức tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan một party, để vinh danh và ăn mừng PĐ 520 đã đoạt được plaque (?) và bằng khen là TOP GUN, sau khi chiếm giải thi đua ở bãi biển Nha Trang, gồm có nhiều PĐ Khu Trục tham dự. Trong bữa tiệc, có ông Mỹ đại diện cho hãng Cessna tặng mấy kết săm banh. Trên bục ông PĐT vinh danh và mời người phi công Top Gun đã đem vinh quang về cho PĐ lên, cho anh em biết mặt và khen thưởng một ly… bồ đào mỹ tưủ! Một anh mặc bộ civil, đóng thùng đàng hoàng, leo lên bục và từ từ móc cặp… kính cận ra đeo lên, và nâng ly pha lê đế cao, đầy rượu săm banh, trước sự vỗ tay, cười nói của anh em SQ trong KĐ.
                Thưa quý bạn, người ấy chính là anh: Nguyễn Thiện Ân, Hiệp sĩ Mù! Hằng ngày gặp mặt, tôi thấy anh ít nói, bản tính hiền lành, ngày trước và sau đó anh cũng rất bình thường như mọi ngày, không thấy cái mặt… vác hất lên trời, "ra cái điều ta đây” gì cả! Không rõ từ 1970 đến 1975, Ân về đơn vị nào, hay làm gì, nhưng chắc một điều, sau năm 1975 thì anh là "bạn cùng… khoá tù" với tôi.

                Thời gian 1976 lúc ở trong trại tù Tân Hiệp, chiều chiều mấy chàng “giặc lái” nhà ta hay tụ năm, tụ ba ở ngoài sân đấu láo! Cũng có một anh cùng khoá với anh Ân có cánh vàng Navy, kể chuyện tùm lum trong thuở còn tung mây lướt gió, chứ không có... nổ gì cả, vì hầu hết đều quen mặt, biết nhau quá mà nổ làm chi! Anh Ân nghe và cười cười thôi, chứ ít có nói gì! Tối vô phòng anh thường kể chuyện tiếu lâm nghe cũng thâm thuý, hay lắm! Tôi thì len lén lật cuốn tự điển ra học Anh Văn. Khi đọc đến chữ bull’s- eye, anh mới nói đó là: "hồng tâm", đúng không?
                Rồi nhân đấy anh mới kể lúc đi xuyên huấn A37 tại Hoa kỳ, trong một bữa thi bắn, có nhiều PILOT bạn, mà họ có tiếng là giỏi rồi đấy; vậy mà anh cũng đạt được điểm cao nhất, hơn hẳn họ; vì mỗi lần anh nhào xuống, cất lên... là nghe tiếng trong hầm xạ-trường kêu lên là bull’s- eye! Làm ngay cả ông thầy cũng kinh ngạc, vì anh có cách ngắm riêng không theo đúng y chang như kiểu của ông thầy dạy! Anh còn kể lúc bay AD6 có khi nhào xuống một lần, mà bỏ hai trái bom, một trái bên nầy kinh, một trái bên kia bờ kinh trúng phóc; chỉ cần điều khiển cái pedal (rudder) thôi!

                Thừa cơ hội tôi hỏi tới, nhân đó anh bèn kể lại chuyện đoạt giải ở bãi biển Nha Trang. Thuở ấy, ông Nguyễn Cao Kỳ là phó Tổng Thống, muốn biểu dương sức mạnh của KQ, hay của quân đội VNCH, vì mới được trang bị thêm phản lực A37, nên có cho biểu diễn bắn phá ở bãi biển Nha Trang cho dân chúng xem, và tuyên bố trong nội bộ KQ là:
                - Nếu PĐ nào mà thả trái bom đầu tiên trúng đích, sẽ được thưởng một số tiền lớn.

                (Tôi không nhớ là bao nhiêu, nên không ghi ẩu, sợ mất đi sự xác thực). Lúc ấy có đủ các PĐ tham dự. PĐ 520 do anh Ân lead 4 chiếc, trong đó có anh Xuân rổ bay wingman nữa! Anh nhào xuống thả bom và ngay trái đầu tiên, tiêu cái pa-nô làm mục tiêu… Bingo! Mấy anh wing man… phẻ quá, cứ tới phiên là trút bom ngay chỗ… mất mục tiêu thôi! Vậy mà không biết lý do vì sao mà không…."ẩm" được số tiền thưởng, kể cũng “đau” thật! (Nếu anh Nguyễn Thiện Ân, hay một anh nào… cũ cũ biết rõ, xin bổ túc hoặc hiệu đính dùm cho được chính xác, nhất là ngày giờ…v.v... Cảm tạ.)

                Tôi thấy anh ÂN là một người tài, con người bình dị, khiêm nhường rất hiền lành, thuộc típ người không… nổ; mà cũng không… gáy! Xin lưu ý với bạn đọc chữ gáy là… “y cà lết” nhé. Chứ không phải I ngắn là con gái, kẽo thiên hạ tưởng anh… không gái, là chay tịnh, hay là… “GAY” tội cho ảnh! Từ năm 70 đến “ngày sập tiệm”, tôi đã rời Cần Thơ, nên không rõ và quên hỏi anh Ân làm ở đâu, và “có-chức” (xin đừng đọc lái) gì không? Tôi nhận xét con người tài đức như anh: phải là cấp Trưởng (như PĐT, Trưởng Phòng... vv...) mới đúng! Mà con đường hoạn lộ của anh cũng trầm trầm, không phất lên sớm, tại anh im lìm quá.

                Không “nổ” thì thôi, cũng phải biết… "ca”, biết… “gáy” chứ cha nội! Không nghe tiếng gáy, thì ai biết ở đó có con gà trống? Mà nầy anh Ân ạ !Anh xem con gà trống muốn…. “ấy” cũng còn làm bộ bươi bươi… rồi kêu... “tụt tụt”, để dụ mấy chị gà mái chạy lại. "Đạt mục tiêu" rồi, còn nhớ vỗ cánh… gáy nữa đó! Tiếng gáy quan trọng lắm nghe anh! Ông đại PHÁP mà còn lấy biểu hiệu là “con Gà Trống” đó, không thấy sao?! Anh ÂN, nếu anh có tình cờ đọc, cho tôi xin lỗi, vì có lẽ anh không muốn bị nêu tên ra đây; nhưng lỡ rồi, thôi cũng nhân thể chúc anh còn có sức… để gáy trong 20 niên nữa nhe!

                * Chuyện cuối:

                Năm ngoái (2006) trong một buổi họp KQ địa phương, tôi ngồi vào bàn ăn gồm có các anh pilot đủ ngành: Vận tải, L19, Khu Trục AD6, F5, Trực Thăng... Tôi ngồi kế bên anh "Xoài", Pilot F5. Câu chuyện bắt đầu khi có một anh khác là Trưởng Phòng An Phi của KĐ vào ngồi bàn kế bên. Anh Xoài bắt đầu:
                - Ông ấy là An phi của KĐ, vậy mà tụi tôi thuộc Phi-đoàn, chứ không lệ thuộc, hay báo cáo gì ông ấy hết!
                - ???
                - Vì tụi tôi là Phi Đoàn F5 nghênh-cản, coi như là lực lượng Tổng Trừ Bị; chỉ có bộ Tổng Tham Mưu, hay là Bộ Tư Lệnh KQ, mới có quyền điều động tụi tôi. Tụi tôi chỉ báo cáo thẳng ở đó thôi!
                Chà nghe hấp dẫn rồi đây! Tôi thực tình nói:
                - Thế nhiệm vụ của PĐ là nghênh cản lo bảo vệ vùng trời, như vậy anh em chỉ nằm ứng trực thôi, chứ khỏi đi bay hành quân, khoẻ nhỉ!
                - Ai bảo anh thế, tụi tôi cũng hành quân như điên, chứ ở đó mà nằm chơi không à!
                - Nghe thế mà.
                Tôi cũng tệ thật, quên hỏi xem ai điều động, lệnh từ đâu kêu PĐ nầy bay hành quân! Hổng lẽ mỗi lần đi bay, phải do lệnh từ bộ TTM hay từ BTL/KQ?
                Chuyện vãng một lúc, tôi hỏi:
                - Mình bay F5, nếu VC xâm nhập bằng Mig 19, hay Mig 17… thì không ngán, nhưng lỡ nó bay vào bằng Mig 21, liệu mình có chơi lại không? Hả anh? Mà hồi đó tới giờ, tụi nó có dám léo hánh vào không?
                Anh Xoài:
                - Thì thứ Mig nào mình cũng phải lên, chớ sợ nó à! (nghe ngon!) Anh nên nhớ là tôi bay F5 E, chứ không phải F5 thường đâu nhá! Còn bọn nó cũng thấp thoáng định bay vào đấy chứ.
                Tôi chận ngang:
                - Chắc tụi nó (VC) không dám vào đâu, vì tôi nghe nói: vùng trời miền Nam mình được Mỹ bảo vệ mà!
                Anh Xoài có vẻ giận dữ:
                - Ai nói Mỹ bảo vệ? (anh lên giọng) Ai, mà ai nói mới được chứ?
                Tôi đâm… hoãng và ái ngại:
                - Thì tui nghe người ta nói vậy mà, chứ trước đây mình không có F5, hay phi cơ phản lực. Nếu không phải là Mỹ bảo vệ, thì ai vô đó?!
                Anh Xoài nhìn tôi, và có lẽ thấy cái bản mặt của tôi có vẻ khờ khờ, ngu ngu, ngốc nghếch, hay sao đó… (chứ bộ vó của tôi cũng cao to, có phần hơn anh, và còn “ngầu” lắm nha!), ảnh bèn hỏi:
                - Hồi trước anh làm ở đâu? dưới đất hay có đi bay không?
                - Dạ, tôi cũng có đi bay, mà khác ngành với anh.

                (Cái tật của tôi là hay “dạ” với người lạ lắm, chứ không ẩn ý gì) sau đó tôi bèn… "viện binh" kể tên một số bạn quen bay F5. Nên anh Xoài có vẻ dịu giọng lại… Tôi còn nói trong chiến trường VN, bộ binh rất thích được AD6 yểm trợ hơn, là A37 và F5, vì hoả lực mạnh và ở lại trận địa lâu hơn nữa. Tôi cũng phàn nàn:
                - Sao Mỹ không cho mình mấy loại phản lực mạnh như (F104) Phantom... v.v...
                Anh XOÀI đồng ý:
                - Hoả lực có hơi ít hơn, nhưng mà F5 bay nhanh lắm, về đổ xăng rồi lên lại mấy hồi!

                Nghe đến đó, tôi thấy rằng chẳng lẽ máy bay mà giống như xe taxi, hay Honda ôm, hết xăng thì về refuel, rồi đi tiếp, chứ không cần lệnh lạc gì cả! Tôi thấy anh nầy cố nói lấy được mà thôi, nên tôi cũng vả lả cho qua buổi; chứ không còn nói gì đến bay bỗng cả! Anh bay Khu-trục ngồi chung bàn dường như đã biết anh Xoài rồi, nên anh ấy ngó lơ, như không nghe thấy, không bàn bạc gì cả. Riêng anh Chuối bay vận tải, anh nầy vừa là thi sĩ vừa là vỏ sĩ, hình như cùng khoá với anh Xoài; sau một lúc lắng nghe anh Xoài ăn nói, có vẻ xem thường bên vận tải quá, nên anh nầy bực (tôi còn nhớ lời anh Chuối nói):
                - Tao chỉ cần ông trời cho tao biết trước hai phút, trước khi tao chết thôi!
                Anh Xoài hỏi:
                - Để chi vậy?
                - Hai phút, đủ thời gian để tao...“đục” cho mầy tiêu, chớ làm gì!

                Tôi thấy tình hình hơi căng, nên chuyển đề tài qua chủ đề mà Hội KQ địa phương sắp thảo luận. Hôm sau tôi gọi phone cho anh bạn Mận, cùng khoá với tôi, bay F5 ở Tiểu-bang khác (xin dựa hơi và… loè với đọc giả, là tôi rất hãnh diện được quen biết gần cả chục tên cùng khoá, bay F5 cơ đấy!), tôi kể chuyện hôm qua cho bạn nghe, và nói:
                - Mầy có biết không, tao nghe nó nói chuyện tao… “mê” luôn, và nhiều lúc tao nghĩ: tao là dân Bộ Binh đang nghe chuyện, chứ tao hổng phải là KQ đó.
                Anh bạn Mận cười:
                - Thằng Xoài nói đúng ở điểm: nó là thuộc PĐ Hồng Tiễn, có nhiệm vụ nghênh cản… nó bay cũng khá lắm! Lúc trước tao check out nó ra Phi Tuần Trưởng đó chứ ai! Còn nó cũng có danh là... “Xoài nổ” mà mậy!
                Bẵng đi hơn hơn một tháng sau đó, trong một bữa picnic do hội KQ địa phương tổ chức, thấy anh Xoài đang trên bục vui chơi ca hát; tôi nhớ mặt mà quên tên, nên hỏi anh Nguyễn cũng bay F5 “có biết anh đó… là anh gì không”?
                Anh Nguyễn nhìn lên:
                - À Thằng “Xoài nổ” đó chứ ai. Rồi chính anh Nguyễn kể thêm:
                - Thằng nầy ăn nói cũng bạo lắm! Có lần nọ nó nói gì đó, mà gọi mấy thằng khu trục nọ kia; một bị một chàng; bay khu trục khoá đàn anh (cỡ khoá 65, 66) tự ái nổi giận, bảo:
                - Cái thằng nầy... khoá nào mà ăn nói hổn láo, xấc xược quá!
                Anh đàn anh Khu-trục kêu ra sân, và xuýt choảng nhau, may nhờ anh em cản ngăn!
                Anh Xoài học bay thẳng qua F5 luôn, không phải như mấy anh “lão thành” khác, có gốc là dân AD 5, AD 6…

                Trên đây là chuyện có thật, tên tuổi là giả, vì không muốn đụng chạm chẳng ích gì, nhưng tình tiết chính xác có… “bớt” (vì lâu ngày hơi quên, và không cần nhớ) chứ không có “thêm”! Kể ra, để anh em biết rằng: "trên đời nầy, mỗi người mỗi tánh, và nếu anh em có gặp anh Xoài, hoặc những anh khác có tánh tình tương tự, biết tánh nhau như vậy, cũng lấy làm vui thôi, không thiệt hại gì ai cả". Anh Xoài chỉ có… “nổ một xí”; Chứ tôi thấy anh ta có vẻ nhiệt tình và năng động lắm! Hễ người “có tài”, (cứ cho là vậy đi) thì “có tật”; Biết thế và nghĩ vậy là: vui vẻ cả làng; bạn được vui mà mình cũng vui…

                Trong đám đông hay đám múa lân cũng vậy, phải cần có pháo nổ nó mới...vui, mới xôm tụ, mới hào hứng. Phải không quý vị? Nhưng mà nổ cũng vừa vừa cỡ… pháo trung thôi, đừng xài tới pháo đại, nó điếc tai quá, và đôi khi nó văng xác trúng người đứng gần, làm xót-xót làn da cũng… “hổng nên”! Tôi cứ nghĩ anh Xoài nầy… xui thật; và mình cũng lấy làm tiếc cho anh ấy, phải chi lúc trước mà có thằng Mig nào cả gan xâm phạm; thì anh lấy F5 dợt cho nó một trận và… “xơi tái” nó một phát, để thoả mãn cái ego của anh. Và anh được dịp… nổ nghe đã luôn! Chuyện đó có thể lắm, vì thuở ấy dogfight là do phần lớn nhờ vào tài nghệ của Pilot, chứ không do sự tân tiến của kỹ thuật như bây giờ!

                Tôi còn nhớ anh bạn, cũng cùng "khoá….tù" với tôi, Lưu Tùng Cương (đã chết bệnh) bay F5, anh kể lại:
                - Thời gian đầu Mỹ bỏ bom miền Bắc, không có máy bay theo bảo vệ nhiều tầng như sau nầy (nào là tầng không chiến, nào là tầng diệt Sam, phòng không... v.v.) lần đó mấy chiếc cánh quạt A1H (AD6), ở ngoài Hạm Đội Mỹ đi đánh miền Bắc VN; bị mấy anh Mig phục kích, (nghĩa là Mig chưa lên không chiến ngay, mà chờ lúc khi phi cơ Mỹ cạn xăng, và trên đường về, mới nhào lên chặn đánh, rượt đuổi cho hết xăng… rớt cũng được), mấy anh Mig 17 quần thảo đám phi cơ cánh quạt nầy, và vì khinh địch, ỷ lại hay sao, mà khi nhào xuống bắn, lại bắn không trúng, mà có một chiếc Mig 17 trờ qua khỏi đầu, đằng trước mặt anh Mỹ! Được dịp bằng vàng, anh AD6 Mỹ nhanh như chớp ngóc đầu lên, "dzớt "đẹp chiếc Mig! Đấy một anh phi công cánh quạt, động cơ nổ; không chiến mà còn… diệt gọn một anh phản lực.

                Anh AD6 nầy được tuyên dương trên báo, radio; nên anh nầy mặc sức mà... “ca” và xứng đáng cho… nổ pháo đại lắm, phải không quý vị! Đến đây chắc bạn đọc có người hỏi tôi:
                - Còn bạn, (NN) thuộc loại pháo nào đây? có nổ dữ không???
                Tui cũng thành thật thưa rằng:
                - Khi nói chuyện với người ngoài, hoặc quân nhân bạn, tôi cũng có cái kiêu-hãnh ngầm, hơi tự-tôn ngầm; còn cái vụ… nổ! thì thật tình chưa biết thể nào; vì thưa các bạn, trong suốt thời gian phục vụ trong quân đội, tôi hoàn tất công việc, mà bất cứ một quân nhân trung bình nào, cũng làm được cả. Tôi chưa có gặp việc gì thật nổi bật, thật khó khăn… để có dịp nổ, nên tui chưa biết tôi có… “nổ” không, và pháo cỡ nào cả!!!


                NGHICH_NHĨ
                Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 04:56 PM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment

                • Tinh Hoai Huong
                  Senior Member
                  • May 2009
                  • 1081

                  #188
                  Đoạn Tình Ngoái Vọng




                  Đoạn Tình Ngoái Vọng
                  (Thương mến tặng em Thu Huyền của chị Hoài Hương)
                  ***

                  Trước khi gia đình Tom & Hoa thu xếp gọn gàng mọi công việc ở đây, để chuẩn bị đi Mỹ, Hoa cần phải về quê tại Sãi thăm mệ ngoại, & bà con làng nước. Đó là ngày đầu tháng Hai năm 1972. Từ Đà Nẵng Hoa nôn nao háo hức vui vẻ lên xe đò Phi Long ra Huế. Khi Hoa thấy cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp hiện ra trước mắt, thì Hoa vui không thể nào tả được.

                  Hoa ghé vô nhà người quen dạo trước xin ở lại mấy ngày, ông bà Thảo vui vẻ và hiếu khách không nề hà gì chuyện ăn ở, nên Hoa không mấy ái ngại, ngược lại Hoa cảm thấy thoải mái, thân tình hơn. Hoa tới tiệm may gấp một bộ áo dài trắng. Hoa ra chợ Đông Ba mua guốc vông, mua nón lá bài thơ, mua một cái cặp táp và mấy quyển tập. Hai ngày sau thì áo quần đã may xong. Thế là Hoa lật đật đi vô tiệm làm tóc. Trở về nhà Hoa mặc áo dài trắng quần trắng vô người, tay ôm cặp da, mang guốc, đội nón lá đứng trước tấm gương lớn, Hoa sung sướng soi bóng mình, mà không thể ngờ mình giống hệt một nữ sinh mười sáu tuổi xinh như mộng! Thật là tuyệt vời. Hoa gởi tặng gia chủ mấy món quà xứng đáng và từ giã họ, để đi Quảng Trị.

                  Trời đang trong xanh, bỗng chốc cơn mưa trái mùa ngân vọng tí tách rơi khắp đó đây, màn mưa mỏng tanh giăng mắc nơi nơi, như dãi lụa lung linh luân vũ trên dòng sông Hương nhạt nhoà, nơi có những con đò đang lênh đênh xuôi ngược. Dù mưa không lớn, nhưng Hoa sợ bị cảm, nên tránh vô trên lề phố đụt mưa. Gió lùa qua bộ quần áo trắng dính vô thân thể Hoa những hạt mưa li ti, khiến Hoa run rẩy, cảm thấy ớn lạnh rùng mình. Khoảng hơn nửa giờ sau, mọi sinh hoạt bắt đầu nhộn nhịp, ồn ào… hình như chốn nầy mưa chưa hề đi qua, vì trời đã nắng ráo trong xanh trở lại. Khiến Hoa chợt nhớ mục đích của mình từ Đà Nẵng ra Quảng Trị là: cần phải làm gì.

                  Hoa ôm những món quà lỉnh kỉnh ra đường, đứng trên lề một lúc thì có một xe xích lô trờ tới, Hoa ngoắc ông đạp xe xích lô lại, và nhờ chở Hoa đến bến xe. Tụt xuống xe xích lô, trả tiền xong, Hoa chạy tới bến xe đò đi Quảng Trị. Vì chuyến xe đó đã có quá nhiều người đông đúc chen lấn ồn ào, nên không còn một chỗ trống nào nữa. Hoa thất vọng đành ngồi lại ở phòng bán vé khoảng nửa giờ, để chờ chuyến xe sau. Chẳng hiểu sao trong lòng Hoa thấp thỏm lo âu bồn chồn chen lẫn rộn ràng háo hức đến thế không biết.

                  Rồi thì mọi thấp thỏm băn khoăn qua đi, trên xe đò Hoa đã yên tâm ngồi ở ghế trước cạnh bác tài xế. Lúc xe đò bon bon ra tới gần cầu đúc Hà Lỗ, (nói trắng ra ở đó là một cái ống cống đúc to), bỗng nhiên Hoa thấy đằng phía trước đông nghẹt xe GMC, xe jeep, xe đò… xe cứu thương, vân vân… và mọi người đang chộn rộn, họ vội vã chạy lui chạy tới la hét ầm ĩ, cảnh tượng thật náo loạn. Bác tài xế ngừng xe lại bên mé quốc lộ, bác biểu chú lơ xe chạy tới xem thử chuyện gì. Thì ra chuyến xe trước, nghĩa là chuyến xe đò ở Huế mà Hoa “bị đi hụt” kia… khi chiếc xe đò ấy vừa chạy tới ống cống, thì bị việt-cộng dã man giật mìn, nên hầu như chiếc xe đò hư hại tan nát, có rất nhiều người chết và bị thương trầm trọng.

                  Hoa thầm nghĩ:
                  - “Ôi! Đúng là Chúa, là Phật… đã cứu mạng mình! Nếu mình đừng bị mắc mưa, nếu mình không đi chợ Đông Ba mua quà bánh về cho mệ và bà con làng xóm, nếu mình không bị đi hụt chuyến xe ấy; thì giờ đây có thể mình đã nằm phơi thây tan xác tại nơi đây rồi”!

                  Hoa bần thần ngơ ngáo tụt xuống xe đò như người bước trong mộng. Nghe người ta hướng dẫn đi đâu, thì Hoa mở mắt trừng trừng, không biết gì mà mất hồn mất vía, lẽo đẽo đi theo đoàn người trong xe nầy như vậy! Hoa quá sợ hãi… rùng rợn nhìn thấy những thây người cụt tay, cụt chân, lòi bụng… máu me lênh láng đỏ lòm, xác của những người xấu số đã được những anh lính Nhảy Dù khiên đi đặt tạm bên mé đường. Người bị thương thì ngấp ngoãi quằn quại, rên siết, kêu la không ngớt. Cảnh tượng ấy vô cùng thương tâm, khiến Hoa không thể cầm được nước mắt, và sự lo lắng sợ hãi, bần thần bồn chồn ngơ ngác càng dâng lên tột đỉnh. Hoa không thể hoàn hồn!

                  Hoa lùng bùng nghe trên loa phóng thanh đặt ở một chiếc xe GMC nói láo pháo gì đó, thì đám khách trên xe đò của Hoa cùng đi, đã rộn ràng xôn xao thúc hối Hoa lội bì bõm xuống đám ruộng, mà đi qua bên bờ bắc, phía về hướng Quảng Trị. Hoa ngố ngáo đi theo họ mà tâm trí bay lên trời xanh. Có thể do cơn mưa buổi sáng vừa trút qua nơi nầy, nên bộ quần áo trắng của mình bi giờ đã bết bùn, nhòe nhoẹt, bẩn thỉu lem luốt. Hoa đang chống hai tay xuống đất, để bò bò lên bờ đê. Bỗng nghe có người trai giọng miền Bắc nói gì đó. Hoa ngẩn nhìn lên: một anh Trung-úy Nhảy Dù đang ngồi trên xe jeep. Anh ta mỉm cười nhìn Hoa, giọng nói của người con trai miền Bắc nghe êm ái ngọt ngào, thân ái:
                  - Em về đâu?
                  - Dạ…
                  Hoa ngẩn ngơ hầu như chưa hoàn hồn, cũng chẳng nhớ mình muốn đi đâu, làm gì.
                  - Em muốn về đâu hở? Anh giúp em, không sao. Em đừng ngại nhé.
                  - Dạ thưa… em về ngoại.
                  - Nhưng nhà ngoại ở đâu?
                  - … Sãi. Dạ… An Tiêm.

                  Trung-úy Dù bảo để anh ta lái xe, còn ông tài xế thì lui ra ngồi ở băng ghế sau, nhường chỗ cho Hoa ngồi ở ghế trước, cạnh chàng. Suốt đoạn đường dài Hoa vẫn còn hãi hùng, sợ hãi, bấn loạn tâm trí. Có lẽ anh Trung-úy cũng biết được điều đó, nên cả hai người im lặng không nói thêm lời nào. Đến khi Hoa tụt xuống xe, cám ơn chàng và dợm bước đi, thì anh Trung-úy mỉm cười mở lời:
                  - Anh tên là Hồ. Phan Bá Sơn Hồ. Còn em tên gì nhỉ?
                  - Dạ, em tên Thu Huyền.
                  - Bao giờ em về Huế thế?
                  - Ngày mai.
                  - Cho anh xin địa chỉ của em. Nhé.

                  Hoa nói dối với Hồ là "ngày mai" về lại Đà Nẵng, nhưng thật ra Hoa tính ở lại với mệ khoảng hai ba ngày mới đi. Hoa cho Hồ biết địa chỉ, nhưng không phải địa chỉ của nhà ba má mình, mà Hoa cho Hồ biết địa chỉ bà O ở đường Đống Đa, Đà Nẵng. Hoa tươi cười khi chia tay Hồ. Hồ cũng cười vui, vẫy tay rồi vội vã quành xe trở lại bon bon chạy về lối cũ, có lẽ anh đi tới nơi đã xảy ra tai nạn khủng khiếp.

                  Hoa đứng xớ rớ ở đó một lúc, lòng cảm thấy có chút vui vẻ rồi quẹo vô đường kiệt nhỏ về nhà mệ. Chao ơi! mệ ngoại đang bưng rổ rau trên tay, thấy cháu gái bất ngờ về thăm, mệ ngoại mừng rỡ vất rổ rau xuống đất khi Hoa ôm chầm lấy mệ. Hai bà cháu vui vẻ mừng rỡ rối rít cười cười nói nói huyên thuyên, vui không thể nào tả nỗi. Suốt buổi hai bà cháu rìu rịt bên nhau chuyện trò không biết chán.

                  Ngày hôm sau Hoa ôm cặp đi tìm nhà một người bà con ở bến Đá, để xin vô gụt rửa bớt mấy chỗ tà áo bị bùn dính lem luốt. Vì nhà của mệ có đứa em họ đang đi học tại trường Nguyễn Hoàng. Hoa cảm thấy “dị”, mắc cỡ , muốn dấu nhẹm chuyện mình "giả làm nữ sinh", nên không cho nó biết “cái tẩy” lếu láo của mình. Nhà của người bà con ấy ở bến Đá là một tiệm bán bách hoá, họ bận rộn lu bu vì có nhiều khách ra vô đông đúc, họ chẳng lưu ý về việc Hoa đang làm gì. Hoa thay áo quần xong, nàng bước ra đường thuê xe xích lô:
                  - Chú cho cháu đến trường Nguyễn Hoàng.
                  Vừa nói Hoa liền leo lên xe. Ông ta gò lưng đạp xích lô, và bắt chuyện:
                  - Hình như O ở nơi khác mới tới nơi ni, hỉ!
                  - Ồ, răn chú giỏi rứa?
                  - Thì tui đoán mò thôi.
                  - Chú đoán, mà hay thiệt. Cháu ước chi cũng được như rứa, thì vui biết mấy.
                  - O là học sinh ở trường Nguyễn Hoàng hả?
                  - Lần ni thì chú sai rồi.
                  - Có sai, chớ chẳng lẽ tui trúng hoài, thì tui bỏ nghề đạp xe xích lô, để làm thầy bói.
                  - Dạ phải.
                  - Nhưng mà… tui thắc mắc: nếu O không phải là học sinh ở trường Nguyễn Hoàng, thì mắc mớ chi O tới nơi nớ, O mặc bộ áo dài trắng, đi guốc vông, đầu đội nón lá, mái tóc thề, rồi tay O lại ôm cặp nữa. Thấy như rứa, hỏi răn tui không lầm, hỉ!
                  Hoa toét miệng cười tươi:
                  - Chú giỏi thiệt. Cháu phục chú rồi.
                  - Giỏi cái chi nà.
                  - Dạ… thì cháu luôn ao ước sẽ được vô học ở trong trường Nguyễn Hoàng đó chớ. Nhưng vì nhà cháu rất nghèo, không thể đi học.
                  - Tới nơi rồi. O cho tui vài ba đồng.
                  - Dạ. Nhưng cảm phiền chú làm ơn chớp cho cháu những bô hình ở trường Nguyễn Hoàng!
                  - Tui nỏ biết chớp bóng chớp hình chi mô.
                  - Để cháu chỉ cho chú biết cách xử dụng. Cũng dễ mà.

                  Nói xong, Hoa mở xách tay lấy chiếc máy hình nhỏ ra, và hướng dẫn cho ông xích lô biết cách chụp hình. Hoa tươi cười đứng trong sân bên gốc cây Phượng. Khi thì Hoa đứng ở cổng trường, khi thì Hoa ngồi trên thềm mở tập ra. Khi Hoa đội nón lá ôm cặp “giả” làm nữ sinh đi trên đường tới trường công lập Nguyễn Hoàng. Ông “phó nhòm” dù mỏi tay, vẫn chịu khó chìu chuộng một người khách nhỏ, ông chụp hết cả cuộn phim 35 bô, trong lòng ông cảm thấy ấm áp và vui lây niềm vui của người xa lạ.
                  - Tặng chú năm chục đồng. Cháu cám ơn chú nhiều.
                  - Tui cũng cám ơn O. O cho nhiều tiền, quá lớn như ri. Tui được về nhà nghỉ sớm. Hì.

                  Hoa cười nhìn người đàn ông quắt thướt cao ốm, da sạm khô vì dày dạn phong sương nắng gió khuya chiều, nhưng trông ông ta khỏe mạnh. Hoa cảm động trước lời nói chân thật của người xích lô vui vẻ. Hoa không muốn làm phiền ông ta thêm, nàng sợ rằng nếu nhờ ông ta chở tới bến xe, bến xe cũng gần, không cần đi xích lô. Dù bấy giờ ông ta muốn về nhà ngay, nhưng do nể nang hoặc áy náy, mà ông ta chở mình đi, không nhận thêm tiền. Thì mất hết ý nghĩa. Nhưng ông ta nằn nặc chở Hoa tới bến xe. Đành vậy. Hoa chào từ giã chú xích lô nàng lửng thửng lên xe đò đi vô Huế.

                  Đứng trên bến xe Huế vắng lặng không người qua lại, Hoa lo lắng nhìn lui nhìn tới mà mất hồn! Thôi hết rồi! tuyến đường xe Huế - Đà Nẵng mỗi ngày chỉ có năm bảy chuyến đi & về, trên xe lúc nào cũng chật ních người. Sau bốn giờ chiều tại bến, thì kể như xe ngừng chạy. Hoa không biết điều đó, bi giờ mới “chết đứng” ở đây. Đang bồn chồn lo lắng quá chừng, Hoa bỗng giật mình khi văng vẳng nghe tiếng ai nói:
                  - Chuyến chót, có khách bao đi Đà Nẵng đây.
                  Hoa vui hết sức, lật đật chạy tới chiếc xe đò, trên xe chỉ có năm người khách. Thiệt là mừng hết lớn. Hôm sau Hoa đi lấy hình, chao ơi là không ngờ mình có những tấm hình quá đẹp, Hoa vui thích biết bao, bây giờ thì ước mơ đã toại nguyện rồi nhe, Hoa cứ cầm xấp hình mà nhìn ngắm và trầm trồ tự khen mình giống hệt nữ sinh trường Nguyễn Hoàng mãi.
                  ***

                  - Khi gia đình Hoa lên phi cơ đi Mỹ, vì hành lý quá nhiều, năm cái va ly to, và nhiều túi xách, những thùng carton to tướng, tay nách hai đứa con nhỏ và đồ đạc cồng kềnh. Khi chuyển đổi mấy lần máy bay, thì có mấy va ly bị thất lạc, do đó mất hết tất cả những hình ảnh lúc Hoa chụp ở trường Nguyễn Hoàng. Điều nầy khiến Hoa vẫn tiếc ngẩn ngơ, thiệt là công dã tràng khi chớp bóng chụp hình!

                  Vợ chồng Tom Hoa định cư khoảng ba tháng, thì có cô em họ ở đường Đống Đa đã gởi thơ qua Mỹ, nói với Hoa là:
                  - Có một anh Trung-úy tới nhà mẹ của em, mà anh ấy tìm chị Thu Huyền hoài đó. Anh ấy nói: lúc xưa gặp chị đó, chị nói với anh ấy là ngày hôm sau, tức là "ngày mai" chị đi Đà Nẵng, báo hại anh ấy ra bến xe đợi chị hoài mãi. Em thấy anh ấy rất buồn, ngó tội hết sức chị ơi!

                  Thật tình là lúc đó cũng như bây giờ Hoa không thể nhớ người ấy là ai, mà anh ta tìm mình để làm gì. Thời gian khá dài lặng lẽ buồn bã và bận rộn trôi qua… cho đến một hôm vào giữa năm 1976, có bà bạn người Mỹ mời Hoa đi làm việc cho hội USCC, để giúp bà thông dịch tiếng Anh ra tiếng Việt, và nhờ Hoa bảo trợ cho năm gia đình Việt Nam đã xin tỵ nạn Hoa Kỳ. Ban đầu Hoa không nhận lời, thứ nhất vì nếu Hoa làm việc ở thành phố dầu Oiois City, thì từ nhà Hoa ở Spennylvania đến nơi làm việc, cách xa nhà mình những 90 miles, nên Tom phải đưa Hoa đi làm việc, cũng phiền. Thứ nhì là Hoa được bà Mary cho biết: trong năm gia đình đó, thì một gia đình nọ có hai người đàn ông: Một người là Đại-úy Dù, một người là Trung-úy Không-quân, họ còn độc thân. Vậy, theo Hoa nghĩ hai anh sĩ quan đó có dư trình độ học thức, có thừa ngôn ngữ... để tiếp xúc với người Mỹ rồi, có lẽ không cần đến mình. Nhưng bà Mary giải thích:
                  - Tất nhiên hai ông ấy không cần thông dịch, nhưng họ cần về tinh thần. Vì em biết ở đây quả thật người Việt chỉ đếm không đủ trên một bàn tay. Bây giờ có họ, hẳn là em cũng cảm thấy vui vẻ hơn khi gặp đồng hương. Phải không em?

                  Hoa nghe thật có lý, nên đồng ý nhận lời bà Mary giúp cho năm gia đình ấy có tiền sinh sống, như: xin trả tiền trợ cấp được năm năm, tiền xăng, thức ăn, bác sĩ, vân vân… Hoa liền gọi phone hẹn ngày đi gặp năm gia đình nọ. Hoa gọi cho bốn gia đình xong, Hoa gọi cho hai anh độc thân, thì có một anh (không biết là anh nào) trả lời:
                  - Hello!
                  - Tôi chào anh. Tôi ở trong hội USCC, xin hẹn ngày giờ đến gặp các anh.
                  - Chào cô. Cho chúng tôi hẹn ngày Chủ Nhật nầy, từ 10 giờ đến 12 giờ, tại nhà thờ Antone nhé.
                  - Dạ, chào anh.
                  - Cám ơn cô, chào cô.

                  Như thế cũng tiện, vì ngày thường Hoa còn phải đi làm ở hãng may. Đúng ngày hẹn, Tom phải chở Hoa và hai đứa con đi, từ nhà Hoa đến tại thành phố Oil City cách xa gần 2 giờ xe chạy trên freeway. Bước vô nhà thờ Mỹ, Hoa thấy đa số người có những mái tóc vàng, tóc nâu, tóc bạc, duy chỉ nổi bật lên hai cái đầu có mái tóc màu đen. Biết họ đã có mặt và ngồi ở hàng ghế đó rồi, Hoa quay trở ra đến bên chồng và các con. Sau giờ tan lễ, Hoa trở vô nhà thờ:
                  - Chào anh.
                  - Chào cô. Tôi tên là: Phan Bá Phi Cần.
                  - Còn một người nữa đâu rồi?
                  - À, nó là em tôi.
                  Hoa và Cần bước ra khỏi nhà thờ, thì gặp người em. Cần hỏi:
                  - Sao bỏ đi đâu vậy?

                  Không nghe tiếng người em trả lời, Hoa ngước nhìn người lạ, nàng cảm thấy khá ngạc nhiên khi thanh niên ấy đang sửng sờ đăm đăm nhìn mình không chớp mắt. Hoa hỏi ra mới biết họ là hai anh em ruột, là người Việt Nam rất hiếm hoi ở trên xứ lạ quê người của thành phố Oil City. Hồ nói với anh:
                  - Gặp nhau bất ngờ thế nầy, chúng ta phải đãi Huyền ăn cái gì chứ anh.
                  Người anh khá ngạc nhiên, không hiểu sao em mình lại biết tên cô nầy, nhưng anh Cần không nói gì, lặng lẽ nhìn em gật đầu:
                  - Phải.
                  - Để em với Huyền đi mua Chicken Half Breasts, hoặc New York Steak gì ăn nhé.
                  Cần gật đầu đồng ý:
                  - Anh đợi em. Bây giờ anh vô trong cha xứ có chút việc.
                  - Vâng.
                  Hồ liền dẫn Hoa đi ra xe, anh lái đi. Thật ra trên thành phố nầy Hoa chưa rành chỗ nào bán thức ăn, nên cũng không thể chỉ cho Hồ biết nhà hàng nào ở đâu. Hồ vẫn đăm đăm nhìn Hoa, buồn bã thở dài thườn thượt. Khi Hồ vô tiệm mua thức ăn nước uống xong, trở ra xe. Tuy anh nói dường như trách móc, nhưng giọng người con trai Bắc nghe sao quá dịu, ngọt ngào, êm ái và hay đến lạ :
                  - Có biết em đã giết đời anh không. Hở?
                  Hoa ngỡ ngàng quay qua nhìn Hồ, giọng thảng thốt:
                  - Dạ thưa anh, anh nói gì? Ở trong Hội USCC bảo em đi gặp các anh, thì sao em làm khổ anh? Tại sao vậy?
                  - Em không hiểu, hay em giả vờ không hiểu?
                  - Quả thật em chẳng hiểu anh nói gì.
                  - Vậy cho anh hỏi: Năm 1972, ai là người leo lên ở bờ ruộng, ai ngồi trên xe jeep, để anh chở đi ra Quảng Trị?

                  Giật mình khi quá khứ đang ngùn ngụt ùa về trong hiện tại choáng ngợp ân tình. Hoa mừng rỡ hét to lên:
                  - Ối trời ơi!... Trời ơi! Em cám ơn anh... Lúc đó tinh thần em bấn loạn, vô cùng sợ hãi khi thấy xe đò bị mìn, người chết nằm la liệt, em lo âu hoang mang tột độ. Em có biết chi, có nhớ chi mô.

                  Trở về nhà thờ, Hoa bần thần bấn loạn ngẩn ngơ, chẳng thà Hồ không bình tĩnh mà to tiếng xỉ vả mình ngày đó "bặm trợn, ác ôn" đánh lừa anh đi, thì Hoa đỡ áy náy, đỡ ray rứt. Hoa không thể ăn uống nuốt trôi thứ gì. Hoa lặng lẽ nhìn anh em họ trân trối. Phẩm cách con người có thể đánh giá qua cách nhìn cử chỉ họ tiếp xúc, nói năng, đi đứng, ăn uống... Thế rồi họ mỉm cười chia tay nhau.

                  Ngay tối hôm đó Hồ lái xe xuống nhà Hoa. (Vì ở trong hội, mỗi khi mình muốn bảo trợ cho ai, thì cả hai phía đều có hồ sơ, phải biết số phone và địa chỉ của nhau, để liên lạc lúc cần thiết). Hồ tới trạm gọi phone (thời buổi nầy chưa có cell phone) xin Hoa ra gặp ở điểm hẹn. Hoa nói Hồ cứ vô nhà, vì Hoa chẳng suy nghĩ gì, vã lại chuyện bảo trợ danh chính ngôn thuận, chồng Hoa đã biết việc Hoa làm, không sao cả. Cũng may là Tom đã đi tới nhà thăm mẹ của anh. Hoa không muốn cho chồng biết chuyện Hồ đến nhà làm gì, để Tom phải bận tâm.

                  Hoa đi rót trà mời khách, Hồ ôm con bé sáu tuổi không biết tiếng Việt, (con của Hoa) vô lòng thổn thức:
                  - Cháu có biết không, mẹ của cháu làm ta đau khổ rất nhiều.
                  Có lần Hồ nói:
                  - Mẹ cháu đành lòng ra đi, không ở trên quê hương, là nơi ta và người ta yêu đã sống, cháu à.
                  - Mẹ cháu không biết, hay cố tình không biết ta yêu mẹ cháu rất nhiều.
                  - Mẹ cháu lừa ta. Mẹ cháu đã có chồng con, sẽ đi Mỹ, mà còn cho ta địa chỉ làm gì thế?

                  Hoa sửng sốt mà lạnh toát toàn thân! tay chân rụng rời, nàng run run đặt tách trà sóng sánh nước trên bàn, rồi Hoa khép nép ngồi đối diện với Hồ. Con bé chạy qua sà vô lòng mẹ. Hồ nói mà gần như đang thút thít:
                  - Em là mối tình đầu của anh. Một coup de foudre bất ngờ mà bất diệt.
                  Hoa mang trong lòng nỗi xót thương Hồ, muộn phiền ray rứt vô bờ bến, nghẹn ngào ngẩn ngơ, hoang mang... bàng hoàng mà mình không thể bộc lộ bằng tình cảm. Biết nói gì bây giờ đây, hở Trời!?
                  - Tại sao em không cho anh biết em đã có gia đình?
                  - Tại anh không hỏi... Nhưng... Thật ra lúc đó em đang hãi hùng, lo sợ quá chừng. Không nghĩ chi cả.
                  - Em ra đi… Trong khi anh ở lại chốn xưa, anh không tin em đã thật sự ra đi, nên anh tìm kiếm em trong tuyệt vọng. Ở khắp các vùng chiến thuật anh luôn mang hình bóng em đi theo bên mình. Bây giờ được gặp lại em rồi, anh an tâm đi về. Hẹn tái ngộ.

                  Hoa ngập ngừng lúng túng đứng dậy tiễn Hồ ra cửa, lòng trĩu nặng nỗi sầu đắng buồn thương da diết. Thế rồi ít lâu sau đó, anh em Hồ dọn xuống nhà Trung-tá Th (là chỉ huy của Hồ) để sống cho gần thành phố nơi nhà Hoa hơn, vì ở nơi nầy tiện cho công việc của họ về ngành chuyên môn. Một tuần vài ba lần, "hai anh chị" gặp nhau vì chuyện nầy chuyện nọ, có khi chẳng vì chuyện gì cả, nhưng họ vẫn muốn gặp nhau, gặp nhau cười nói vu vơ mà thân càng thân, hờn trách vẫn cứ trách hờn. Vừa gặp nhau đó ra về tới nhà, thì Hồ lại gọi phone cho Hoa nói chuyện, cứ gọi hoài, nói hũy.

                  "Anh chị" dấu nhẹm không cho người anh rõ... Anh Cần chưa hề biết chuyện từ trước kia Hồ đã yêu Hoa. Hồ chẳng sợ gì hết, trong khi Hoa lo sợ đức ông chồng quá sức. Lạ lùng thay là: dù Hồ đã tặng Hoa một nắm hoa rất đẹp được làm bằng vải nhung êm ái, nhưng Hoa nghĩ là anh đang tặng cho mình một bó hoa hồng, toả mùi thơm dịu dàng được toát ra từ đôi môi của anh.

                  Một hôm Hoa lái xe chở hai anh em đi tới nhà gia đình người Việt (gốc Huế), Hoa cố ý giới thiệu hai anh em nầy, với hai chị em nhà kia quen biết nhau. Thật ra, anh em Hồ người nào cũng hào hoa phong nhã, chững chạc, trí thức, hoạt bát, vui vẻ... lại khá đẹp trai. Trong khi hai chị em kia con nhà danh giá, cũng xinh đẹp và nết na thùy mị không kém. Sau những tháng “tìm hiểu nhau”, thì người anh đã đám cưới với cô chị, và đưa nhau đi Origan sống. Còn Hồ cương quyết dứt khoát không ưng chịu cô em. (Hồ vẫn đi học, rồi năm 81 ra kỹ sư, share phòng ở nhà Trung-tá nọ).

                  Lúc nầy là cuối năm 1979 thì Tom nghi ngờ… âm thầm theo dõi từng cử chỉ hành động của vợ, rồi khám phá ra chuyện “thầm lén” hẹn hò của họ (làm sao mà không lộ chuyện cho được: lúc nào vợ cũng líu lo nói chuyện phone bằng tiếng Việt với một giọng đàn ông duy nhất như thế!). Nhưng Tom bình tĩnh không vội vàng tỏ thái độ gì, điều ấy cũng khiến cho Hoa lo lắng bồn chồn áy náy không yên, không vui mà trở nên bứt rứt lo sợ và bực Hồ hơn. Mặc cho Hoa tức giận, van xin, năn nỉ ỷ ôi và khóc lóc, Hồ vẫn ù lì cóc thèm nghe. Thiệt là điếc bất cần đời không sợ súng của Tom nã cho mấy phát nà.

                  Hồ nói với Hoa:
                  - Ở trại tỵ nạn, anh có quen một cô… Lan rất yêu anh, có gởi thư nhờ anh bảo lãnh.
                  Hoa liền chụp ngay cơ hội đó, đã mách cho anh Cần nghe. Lúc sau nầy khi anh Cần về Ỏigan thì anh đã biết rõ chuyện hai người. Anh Cần cũng biết Lan, anh thường gọi phone về khuyên bảo em trai nên chọn Lan làm vợ, không nên làm cho Hoa đau khổ, gia đình Hoa tan vỡ, thì tội cho họ, và mình chẳng vui vẻ gì!
                  Hồ ra điều kiện với Hoa:
                  - Anh sẽ làm hồ sơ bảo lãnh “vợ Lan” qua Mỹ, với điều kiện khi con gái em đúng 18t ; thì chúng ta ly hôn. Như vậy em phải thề là chúng mình sẽ sống với nhau cho đến trọn đời. Nhé.

                  Hoa không do dự đã thề luôn. Thế là Hồ thu xếp công việc đang làm xong, Hồ đi về bên Origan sống với anh trai, làm hồ sơ bảo lãnh vợ qua Mỹ. Mỗi ngày Hồ đều gọi phone cho Hoa, nói chuyện gì không biết mà ôm khư khư cái điện thoại muốn cháy cả máy. Gọi phone chưa chán, Hồ viết thư thường xuyên kể nầy kể nọ. Có lần Hoa đọc, có lần không đọc mà chỉ khóc, khóc, khóc… vì biết rằng chuyện sẽ bế tắt chẳng đi đến đâu. Rồi nghe phone hoài Hoa cũng sợ Tom sinh nghi, nên Hoa chẳng dám bắt phone, và đi thay đổi số phone mới. Hoa cố gắng sống trong gia đình cho được thanh thản, bình an. Thế là phone pheo thư từ tin tức gì cũng không. Tịt ngòi luôn.

                  Năm 1991 Hoa mở một tiệm bán thức ăn “to go” ngoài phố, nên lu bu bận rộn nhọc nhằn vất vả vô cùng. Lúc nầy thì con gái và con trai đều đã lớn cùng đi học Y khoa. Một hôm trong tiệm hết vật liệu nấu ăn, Tom phải về nhà lấy thêm. Hoa đang lúi húi làm bánh mì, chợt nghe:
                  - Cho xin dĩa chicken.
                  Ngước nhìn lên thấy Hồ, Hoa té xĩu vô lòng bà bạn người Mỹ. Hồ vội chạy tới đỡ lưng Hoa, cho ra nằm ở sofa phía hông nhà. Trong khi bà Mỹ lo làm thức ăn, Hồ bước ra khỏi tiệm. Một lát sau Hoa lồm cồm ngồi dậy, dáo dác nhìn quanh, mặt tái méc và run lập cập, Hoa nói với bà bạn Hoa đi mua thuốc. Tưởng Hồ đã đi, Hoa lật đật vô tiệm thuốc Tây. Nào ngờ Hồ đứng sát sau lưng:
                  - Không trốn khỏi anh được đâu.
                  Hoa lo lắng điếng người vì sợ người ta thấy, tình bây giờ thì ngay nhưng lý gian, nên Hoa rất sợ thiên hạ thấy hai người "rù rì", lại "mách lẽo" với Tom, thì... chết! Hoa vội dẫn Hồ vô một tiệm bánh phía bên kia billding. Ngồi xuống bàn, Hồ nhìn Hoa chòng chọc:
                  - Tại sao thư không đọc, dám trả thư lại, rồi thay số phone mới?
                  Hoa ấp úng cúi gầm mặt nhìn xuống hai đùi, bàn tay xoắn xuýt vào nhau mà vẫn run rẩy.
                  -
                  - Bây giờ các con em đã ngoài hai mươi tuổi, chứ không phải 18 tuổi như chúng mình đã hẹn. Anh sẽ đối diện với Tom, nói hết. Anh về sống với em.
                  Hoa hốt hoảng nói bừa:
                  - Anh chờ hai chị em nó ra bác sĩ, rồi hãy tính.
                  Hồ làm dữ không chịu, viện cớ Hoa kéo dài thời gian lần lữa khất rày khất mai, mà không chịu ly dị chồng, để về chung sống với anh. Tự nhiên Hoa không sợ Hồ nữa. Hoa trừng mắt nhìn Hồ ngao ngán thở dài. Thú thật từ năm 76 đến năm 79 Hoa có thương Hồ lắm, có xao xuyến nhớ nhung Hồ nhiều. Nhưng Hoa không hiểu đó có phải là do tình yêu chân thật, hay do Hoa thương hại Hồ, xót xa thương cảm vì Hồ yêu mình say đắm, mà bao phen điêu đứng khổ sở vì mình. Nên chi Hoa nghĩ Hồ là một người có tình nghĩa sâu đậm và thuỷ chung. Nhưng Hoa phải dối lòng nói với anh không bao giờ yêu anh, để Hồ yên trí mà đi lấy vợ:
                  - Lần nầy, em phải đối diện với Tom, nói cho Tom biết, em dứt khoát không bỏ chồng.
                  Hồ nghe vậy, trên khuôn mặt đẹp trai ấy quá buồn, anh sửng sờ nhìn Hoa không chớp mắt, sau đó Hồ úp mặt vô hai bàn tay khá lâu, rồi ngẩn lên:
                  - Trước khi chúng mình chấm dứt hẳn, anh xin em ba ngày gặp gỡ, anh hứa chúng ta tôn trọng nhau, sẽ kể cho nhau nghe những gì đã và đang xảy ra, mà không làm gì hết. Em chịu không!?

                  Khi đang yêu, ai cũng có những ước nguyện, hoài bão, định hướng và hy vọng có một gia đình hạnh phúc cho riêng mình. Nhưng rồi có ngờ đâu gió bão thường thổi tới, kèm theo những đợt sóng cuốn trôi đi những lý tưởng hoài mong. Từ thuở thanh xuân, Hoa có thể nhìn vào mắt người ấy, Hoa biết có sự đồng cảm tương phùng thấu hiểu, và “chúng ta” đang nghĩ gì. Cho đến bây giờ thì khác hẳn, nhưng Hoa bằng lòng. Hai người dẫn nhau về Pointe West Beach. Họ âu yếm vỗ về an ủi nhau, kể chuyện xưa, chuyện nay… cười đùa rồi hậm hực khóc lóc.
                  Hồ đã thì thầm kể cho Hoa nghe một sưu tầm anh đọc trên báo chí xưa cũ:
                  Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
                  - Tại sao trong cơn giận dữ, người ta thường phải hét thật to vào mặt nhau?
                  Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử ấy đã trả lời:
                  - Bởi vì người ta mất bình tĩnh, mất tự chủ!
                  Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:
                  - Nhưng tại sao phải hét lên, trong khi cả hai đang ở cạnh nhau. Tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe?
                  Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời, nhưng không có câu giải thích nào, khiến vị thầy của họ hài lòng. Sau cùng ông bảo:
                  - Khi hai người đang giận nhau, thì trái tim của họ đã không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm, họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa. Nên muốn nói cho nhau nghe, thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn, thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn. để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.
                  Ngưng một chút, ngài lại hỏi:
                  - Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to, mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao? Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau. Khoảng cách giữa họ rất nhỏ…
                  Rồi ngài lại tiếp tục:
                  - Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà, thì họ không nói nữa, họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng, ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Vì qua ánh mắt đó, họ đã biết đối phương nghĩ gì, muốn gì...
                  Ngài kết luận:
                  - Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì, khiến các con cảm thấy xa cách nhau… Nếu không thì có một ngày khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa... thì các con sẽ không còn tìm ra được đường quay trở về!

                  Hồ và Hoa đã thể hiện mối tình ấy trong cung cách riêng. Tuy trong lòng mỗi người vẫn mang tâm tình yêu thương, âm thầm ngoái vọng về dĩ vãng da diết buồn đau. Nhưng tình cảm trầm buồn mà thiết tha ấy đã êm ái lắng dịu đến không ngờ. Sau ba ngày hạnh phúc trong nước mắt tủi hờn, họ đằm thắm chia tay, không hề liên lạc nữa.
                  ***

                  Năm 2010 Hoa về Việt Nam, có tới thăm cô bạn cũ, Hoa được bạn cho biết:
                  - Anh Hồ đã bảo lãnh chị Lan như đã hứa với Hoa vào năm 1995. Họ có hai mặt con đó, nhưng họ không hề có hạnh phúc. Hồ tính ly dị, thì biết tin Lan bị cancel, rồi sáu tháng sau Lan đã chết. Lâu rồi.
                  Cách đây hai năm (2014) Hoa đi Origan thăm gia đình anh chị Cần, anh chị đã có bốn mặt con. Anh Cần cho biết:
                  - Mới đầu năm 2014 nầy, Hồ vừa chính thức lấy vợ, để thực sự có một gia đình (do tự ý Hồ chọn, chứ không phải do Hoa chọn).
                  Anh Cần lại cười ha hả:
                  - Em quá trời lắm nghe.
                  - Tại răn?
                  - Hồi xưa, lúc mới gặp em ở USCC, anh không hề biết thằng Hồ đã yêu em từ thuở nào. Nên anh cũng âm thầm yêu em đó chứ.
                  - Ui xà, cái anh ni… dị ghê! Vợ anh đài các, tiểu thư, có học và đẹp như rứa, em răn sánh bằng.
                  - Anh nói thật mà.
                  - Anh đừng nói nữa, khiến em càng ốt dột thêm.

                  Nắng chiều xiên ngoài song cửa đang hấp háy trong giếng mắt nhau những niềm vui nỗi buồn hoà quyện, vu vơ… Lòng Hoa dâng lên niềm nhớ nhung mông lung và ngoái vọng về dĩ vãng đang ào ạt tuôn tràn trong hiện tại.

                  ***

                  Tình Hoài Hương
                  Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-21-2017, 12:39 AM. Lý do: Làm lại cho đẹp
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #189
                    Đám Cưới Ngày Xuân


                    Đám Cưới Ngày Xuân


                    Nền trời phơn phớt xanh lơ điểm những lọn mây vàng xám, ươm hồng, lơ lững trôi về nơi vô định. Xa xa xuất hiện đàn chim én bay qua kẽ mây trôi từ phương Bắc về. Tiết trời giá lạnh, run rẩy đang yên ắng lạ thường. Bỗng nhiên tiếng đàn, tiếng trống, tiếng kèn vọng ra từ căn nhà xinh xinh bên sườn dốc do ban nhạc đánh rất hay, ngón đàn điêu luyện chơi vơi trong bầu trời đẫm sương mù, vươn lên đỉnh thông, rồi lặng lẽ tan đi trong ráng chiều dần dần phai nắng: “Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về. Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt. Có những đêm về sáng đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi, đã vội chi men rượu nhấp đôi môi mà phung phí đời em không tiếc nhớ Lá đổ muôn chiều ôi lá úa, phải chăng là nước mắt người đi. Em ơi đừng dối lòng dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta. Thôi thế từ đây anh cố đành quên rằng có người Cầm bằng như không biết mà thôi Lá thu còn lại đôi ba cánh đành lòng cho nước cuốn hoa trôi…”

                    Vào giờ phân giới giữa ánh rạng rỡ của ngày đầu năm mới và bóng tối xuân về, thốt nhiên Anh Thư cảm thấy ngập tràn niềm vui, như cỡi trên con thuyền hoa hạnh phúc bất tận:
                    Bấy lâu em còn nghi còn ngại.
                    Bữa nay em kêu đại bằng “mình”
                    Phụ mẫu hay được, không lẽ đánh mình giết em!
                    (cd)

                    Do bởi... í a ... là tại cái ông Tơ bà Nguyệt mà ra cả, cũng vì... từ hồi xửa hồi xưa kia cà: Thuở đó chàng Vi Cố ngọan cảnh đêm trăng, thì gặp ông Nguyệt Lão râu tóc bạc phơ đang ngồi mân mê mớ chỉ hồng, mà ông ngồi làm chi trước tòa cổ miếu trầm ngâm suy tư hỉ!?. Chàng Vi Cố lân la gợi chuyện làm quen ông lão, rồi khẩn khỏan hỏi thăm ông Lão Nguyệt: “người vợ sau nầy của mình là ai?”. Thì chàng được ông lão cho biết: “vợ của chàng sau nầy là một cô bé bán rau nghèo khổ”. Quả thật đúng y bon thật như vậy. Rằng thì là ...cũng do từ đấy mà ra, nên Anh Thư đã dám bạo gan bạo phổi:
                    Ai về bà Điểm Hóc Môn
                    Hỏi thăm người ấy có còn hay không?
                    Để tôi kiếm sợi chỉ hồng.
                    Nhờ ông Tơ bà Nguyệt kết vợ chồng đôi ta.
                    (cd)

                    Thế nên giờ đây chúng mình mới “có chuyện” vui vẻ nè... cũng phải thôi:
                    Ấy ai dắt mối tơ mành
                    Cho thuyền quen bến cho anh quen nàng
                    Tơ tằm đã vấn thì vương
                    Đã trót dang díu thì thương nhau cùng.
                    Hai anh chị ấy đã quyết chí hẹn thề với nhau:
                    Anh đừng thấy “đăng” mà phụ “đó”
                    Đừng chê em nghèo khó mà vội phụ phàng
                    Anh coi đồng tiền sớm mai còn chiều mất
                    Chớ nhân nghĩa bạn vàng vững chắc thiên kim
                    (cd)

                    Thế nên ngày mai là chính thức hai Họ nhà trai và nhà gái đã làm đám cưới cho Anh Thư và Bửu Bảo mà! Anh Thư là con gái đầu lòng, ba me cô tuy gốc gác miền Trung, nhưng họ rời quê hương khá lâu, gia đình lên Đà Lạt làm việc với Pháp, nên mọi việc từ trong ra ngoài, họ lo cho con gái chu tất, toàn vẹn theo lối phương Tây. Bảo, con trưởng nam dòng họ vương tôn, giàu có và thanh lịch. Gia đình đôi bên có đủ yếu tố xây dựng gia thất cho con, để dòng họ thêm rộn ràng hoan hỉ, nở mày nở mặt. Ngoài kia, họ nhà gái huyên náo lạ thường, đàn ca, nhạc sống vui vẻ hết biết.

                    Suốt đêm Anh Thư không dám nằm ngủ, cô sợ xẹp mái tóc đánh rối bới cao, sẽ bù xù, mất thẩm mỹ đi. Nàng càng bực mình vì đôi giày cao gót, cô chọn lầm, da giày cứng, dày như da voi, cô vừa mang đi lui đi tới mấy vòng, thì gót giày tàn nhẫn “xơi tái” mấy miếng da chân, nên bi chừ rát bỏng, đau điếng. Mỗi lần cử động, nó đau lên thấu tim, dù Anh Thư se sẽ lê tấm thân phì lũ, đi nhè nhẹ, cà nhắc, cà nhót. Mấy phù dâu xúm lại trang điểm cho nàng, vì nước da của Anh Thư ngăm ngăm đen, ai ai cũng nói nàng có làn da như vậy, thì có duyên. Nhưng nàng bực tức khi có bạn đã chế nhạo:
                    “Chưa đi chưa biết Bà Đen,
                    Đi rồi mới thấy đen hơn bà nhà,
                    Bà nhà tuy có hơi già.
                    Nhưng mà vẫn... trắng hơn là Bà Đen”!
                    (st)

                    Chín giờ sáng! Nhà trai đã có mặt trước sân hồng: Hai gánh đi đầu là cặp ngỗng trắng nhốt trong lồng mây, nó luôn hoác mỏ khàn khàn khọt khẹt kêu réo inh ỏi. Tiếp theo là con heo mọi mập ú, ụt ịt quay lui quay tới trong cái cũi sơn đỏ, cột nơ hồng. Gánh thứ ba là vò rượu cẩm chôn bách nhật xủi tăm. Tiếp theo là tám khay mâm quả phủ nhiễu đỏ, viền tua vàng, do những chàng trai mặc áo xanh đỏ, đội nón lá mười vành, khệ nệ trang-trọng bưng. Hai bên có những người đồng cổ phục cầm cán lọng dài màu vàng che nắng. Chàng rể mặc áo dài thụng màu xanh biển, chữ Phước, đầu chít khăn đóng, quần dạ trắng, mang giày thô đen. Chú tiểu-đồng-hầu lon ton xách theo bộ đồ “tuxedo” nữa. Chàng rể (tay ôm bó hoa của cô phù dâu) đi trước giữa hàng thân quyến cùng quý ông bà, mệnh phụ phu nhân, bạn bè, bà con gia tộc nhà trai đi sau lưng.

                    Tất cả dừng lại chờ hai người mối bên họ nhà trai: đi tiên khởi bưng khay trầu rượu vào trước sân hồng, để ra mắt quan viên hai họ. Ông mai bà mối xin họ nhà gái cho nhập gia tùy tục. Thế là đại diện họ nhà gái đứng trên thềm hoa, xoa xoa những bàn tay thân thiện vui vẻ nhận lời. Mọi người hoan hỉ tươi cười trang trọng lục tục kéo nhau vào phòng nghinh tân. Ông mai bà mối nói năng lưu loát, nên vui vẻ cả làng. Các mâm sính lễ đặt trên chiếc bàn dài, cặp ngỗng và “chú hợi” để dưới sân, gần cửa chính. Ui! Ngày xửa ngày xưa muốn cưới hỏi, phải có đủ 6 lễ vật:
                    Lễ thái nạp (đính ước giữa trai gái).
                    Lễ vấn danh: (hỏi tên tuổi cô gái).
                    Lễ nạp cát: (nhà trai trả lời bằng lòng).
                    Lễ nạp lệ: (ăn hỏi).
                    Lễ thinh ký: (lễ xin cưới).
                    Lễ than nghinh: (Lễ cưới).

                    Bi chừ là thời buổi văn minh tiến bộ thì cho giản dị nhiều thứ. Nhưng lễ vật nhà trai vẫn sang trọng lắm. Nào là vòng xuyến, dây chuyền, bông tai, nhẫn, toàn nhận kim cương, còn kiềng chạm, dây chuyền trên năm lượng vàng y 24k (không kể quà bà con chú bác). Nghi thức diễn tiến tốt đẹp, đến lúc Anh Thư hồi hộp, rụt rè, được bà me vén bức màn nhung, dìu con gái rón rén e ấp thẹn thùng bước ra phòng nghinh-tân. Trong lòng nàng ngổn ngang trăm mối, giờ phút chót nàng vẫn lo sợ nhà chồng chê “mình ú na ú nần”, nên nàng đã rỉ tai:
                    “Lấy vợ xin anh lấy vợ ù.
                    Tay em đầy đặn, tối em ru.
                    Kê đầu anh ngủ êm hơn gối.
                    Mộng đẹp, hiên ngoài gió vi vu”.
                    (st)

                    Bỗng chốc bên phía nhà trai có vài mệnh phụ đài các chụm đầu vào nhau xì xào, chỉ chỏ bộ cánh “xê-rê ” trắng trắng, có tấm voan mỏng che mặt, đuôi áo dài lê thê sau gót cô dâu, găng tay trắng dài lên tới cánh, cô dâu đội vương miện lóng lánh kiễu nữ hoàng Anh cao sang. Có người bên nhà trai nói trổng:
                    - Y như con ma da chết trôi. Thấy gớm ghiết, ớn lạnh hè. Thiệt là...
                    Nhà gái tái mặt, vội xuề xòa:
                    - Đồ trắng, là tượng trưng cho sự trinh bạch mà.
                    - Ngày cưới xin, ăn nói chi bậy bạ quá!
                    - Ui xà! “Ở có nhân, mười phân chẳng khốn. Ở có đức, mặc sức mà ăn”.
                    - Miệng mồm ăn mắm ăn muối.
                    - “Chỉ đâu mà buộc ngang trời. Tay đâu mà bịt miệng người thế gian”.

                    Họ đã xầm xì to nhỏ:
                    - Để rồi chị em dòm coi nghe: Cái thứ nớ rồi không trước thì sau sẽ giống như:
                    Ba bà đi chợ với nhau.
                    Một bà đi trước kể chuyện nàng dâu.
                    Một bà đi sau tu tu lên khóc:
                    Nhà bà có phước lấy được dâu hiền.
                    Nhà tôi vô duyên lấy phải dâu dại.
                    Việc làm thì trái, chỉ tưởng miếng ăn.
                    Hễ bảo quét sân đánh chết ba gà.
                    Bảo đi quét nhà đánh chết ba chó.
                    Có mâm giỗ họ miếng ra miếng vào.
                    Rửa bát cầu ao liếm dĩa quèn quẹt.
                    (cd)

                    Hai họ lời qua tiếng lại nghe chói tai, nhức nhối con tim thật khổ hết biết! Khổ nhất là ông Tơ bà Nguyệt, hết ông Tơ cứ lo chạy qua bên nầy, thì bà Nguyệt lại chạy lăn xăn về bên kia năn nỉ ỉ ôi. Hai họ mích lòng nhau, thấy sợ, trong khi ngoài sân pháo bắt đầu nổ rền trời. Tôi đi phù dâu chuyện cãi cọ, đôi co, hay hai họ có làm gì, tôi cũng chả lo chuyện ruồi bu của người khác. Tôi chỉ sợ pháo văng trúng bị cháy áo quần, mà bộ đồ vía nầy là do tiền cần cù lao khó của mình làm ra mà có, chứ nàng dâu chú rể chả ai lo cho! Nên tôi vén váy áo ngồi thụp xuống nền nhà, nhắm mắt bưng hai tai.

                    Khi nghe nhiều tiếng kêu rú thất thanh vang lên, tôi đứng phắt dậy, ngơ ngác nhìn quanh: Hai con ngỗng nghe pháo nổ đì đùng, chúng hoảng sợ tống cửa lồng, một con bay lên bàn đạp đỗ bình hoa, lễ vật, ly tách, bánh rượu, trái cây. Khi người đàn ông nào đó túm bắt được con ngỗng đực, ông ta vặn ngược cổ nó lui sau lưng, thì trên bàn lộn xộn không còn gì ráo. Một con ngỗng kia cứ nhướng cổ, quạt cánh nhắm mấy khuê nữ đài các mặc áo dài màu vàng, màu đỏ chói chang mà rượt theo. Khiến mọi người xô đẩy, đạp lên nhau né chạy... chạy tá lả. Con heo mọi ụt ịt càng hoảng sợ, nó hất chiếc lồng cũi ngã ngửa rồi lăn cù ra, nó hét tướng lên kêu eng éc, éc éc... rồi nó cạp nắp đậy. Nó đã sổng cũi, vừa chạy nó vừa ị ị ị ra từng cục phân vương vãi lung tung, nhão nhoẹt, thúi um.

                    Hầu hết mọi người sửng sốt, ngây người, chết trân, ngơ ngác nhìn trước cảnh tượng khá bất ngờ. Nhưng người đau khổ nhất là Anh Thư. Cô đứng chịu trận hơn một giờ (do những thủ tục nhập-gia rườm rà), nên đôi chân Anh Thư càng lúc càng sưng húp, vì những vết thương cọ xát vào đôi giày mới, mạch máu giật tưng tưng từng cơn. Cô mệt đừ, mồ hôi vã ra như tắm, mặt mày cô tróc dần phấn son, trông cô lem luốc, da cô trổ đồi mồi như con mèo vá. Tự dưng bụng đói cồn cào, cô hoa mắt, chóng mặt, và Anh Thư cũng lăn cù ra như con heo mọi kia mà bất tỉnh nhân sự.

                    Hai cô phù dâu hoảng hốt, luống cuống vội vàng nâng Anh Thư dậy, Trầm Mây và tôi đều gầy ốm, (so với “Thư tán phẩm”), chúng tôi vẫn cố sức làm tròn nghĩa vụ phù dâu. Mỗi người kéo một cánh tay của Anh Thư để quặp vào cổ mình, kẹp cô dâu ở giữa, chúng tôi ra sức kéo lôi Anh Thư xềnh xệch đi vào “the-phòng”. Các bạn gái khác thì không ngớt xoa dầu gió cho Anh Thư, cạo gió, giật tóc mai cô dâu. Dần dà thì Anh Thư cũng hồi tỉnh lại. Thật uổng công mái tóc “búp Ănglê” mà Anh Thư sợ hư, đã ngủ ngồi suốt đêm qua, giờ đây bù xù như tổ quạ. Anh Thư vội bảo Hoa ra phòng khách: lấy hộ hộp quần áo sính hôn vào, vì giờ đi lễ sắp đến. Các bạn gái mỗi người một tay, xúm lại lo chải chuốt, trang điểm cho Anh Thư. Ba me của cô muốn Anh Thư diện bộ cánh thời trang “xê rê” lộng lẫy nhất. Mặc! Về nhà chồng, thì cô dâu cần phải lấy lòng bên họ nhà chồng đã may áo quần cho con dâu chứ. “Thuyền theo lái, gái theo chồng. Chồng đi hang rắn, hang rồng, vợ cũng phải theo” mà!

                    Anh Thư đội khăn đóng vành dây đỏ mạ vàng cao chín tầng quá rộng, nên nó tự động sụp xuống tận mắt. Thỉnh thoảng Anh Thư phải lấy tay đẩy “cái khăn hoàng hậu” lên. Vì mạ chàng rể không ngờ bây giờ cô dâu ốm hơn ngày trước tê mạ đi lên Đà Lạt làm đám hỏi cô. Phần Anh Thư do lo lắng chuyện cưới hỏi, nên ngày nay cô đã sút mất mươi cân! Thành ra áo quần mạ may từ năm bảy tháng trước, nay rộng thùng thình! Cô mặc áo dài nhung đỏ may tà Bắc, quần sa tanh trắng “rô-đê” dưới gấu, khoát ngự uyển bên ngoài. Chuyện áo quần rộng không thành vấn đề, cô chỉ có hơi buồn buồn khi đội khăn đóng, và mang đôi hài đỏ.

                    Hồi ấy do hai họ trai gái ở “ngăn sông cách núi” xa xôi ngàn trùng, chuyện đi lại gặp gỡ bàn tính với nhau bất tiện trăm bề, họ chỉ liên lạc với nhau bằng thư gửi bưu điện, cả tuần hoặc mười ngày nửa tháng mới bắt được thư. Bảo viết thư về cho mạ, ghi số đo để may áo quần và đo số chân của Anh Thư, để mạ đi đặt đôi hài cườm có thêu con rồng vàng uốn khúc hai bên mép hia. Mạ thích tự ý diện cho con dâu í mà! Mạ lẩm bẩm:
                    - Viết cái chi mà lem dem nhỏ xí ri hè? Viết không rõ ràng nơi, con số 40 hay 46 hỉ? À... con dâu mình có da, có thịt, phúc hậu như rứa, thì ta cứ đặt cho con số 46 hỉ! Số lớn số nhỏ chi, cũng bằng từng nớ tiền. Chi bằng, mình cứ đóng số lớn xí, thì rẻ, mình có lợi là được giày to, mà mình không phải bù trả thêm tiền ở khoảng to nớ. Cho tiệm giày hắn lỗ chổng khu luôn.

                    Thành thử đôi hài rộng rinh, ẻo qua, ẻo lại, càng khó khăn khi Anh Thư cất bước đi. Tuy được một điều là đôi hài rộng không cứa vô chỗ đau ở mấy vết thương rát bỏng dưới gót chân kia. Mọi xáo trộn rồi cũng dần qua. Thay vì cho đám rước đi bộ trên đoạn đường ngắn dợt le, làm lé mắt mọi người, để thiên hạ tha hồ ngắm nhìn, trầm trồ khen ngợi đám cưới nầy cao sang, long trọng; và lom lom dòm đoàn người hộ tống cô dâu che tán vàng, tán tía như cha mạ chú rể ước mơ dự tính. Cha mạ chồng sợ cô dâu lăng đùng ra một lần nữa, thì nguy to. Nên cha mạ, họ nhà trai bàn tính kỹ, cuối cùng đồng ý gấp với họ nhà gái: là cả hai họ trai gái cùng nhau leo lên những chiếc xe hoa, nối đuôi chạy dài dài đến giáo đường con gà.

                    Dưới những chòm thông xanh reo vi vu, giáo đường Chính Tòa Đà Lạt tô màu gạch viền trắng uy nghi, sừng sững, tọa lạc trên vùng đất phóng khoáng, có tháp chuông cao vút, in hình Con Gà vươn lên trời xanh mênh mông. Hàng xe hơi khoảng mười lăm chiếc đã đậu đúng hàng lối trước sân giáo đường.

                    Nếu đi trên mặt bằng, thì Anh Thư còn có thể kéo lê “đôi hia một dặm” lết lết theo bàn chân co cứng, cô cố dí sát mấy ngón chân vào đầu mũi hia, cô dồn toàn lực bấm mười đầu ngón chân, ngỏ hầu cố giữ đôi hia lại. Nhưng, khi cô muốn giở đôi chân cao hơn, để bước lên những bậc cấp, thì lực bất tòng tâm. Mười đầu ngón chân Anh Thư mỏi mệt, ương ngạnh, xuội lơ, tê cứng... nó không tuân phục theo ý muốn của cô. Thế là chiếc hài rời chân, ung dung rơi lông lốc xuống cuối những bậc cấp nhà thờ Chính Tòa cao ngất. Trầm Mây ngẩn ngơ giây lát rồi vội vàng xắn quần áo đẹp, chạy xuống để nhặt “hia” lên, Trầm Mây đưa tận chân cô dâu. Anh Thư tay vịn vô vai của tôi, nàng xỏ được chiếc hài nầy, thì chiếc hài khác lỏng lẻo lăn đi. Anh Thư cúi đầu xuống nhìn, mà xỏ chân vào hia, thì báo hại chiếc khăn đóng rộng vành đã che sụp xuống tận mũi. Anh Thư không thấy đường, cô dâu đạp phải vạt áo dài lụng thụng lết bết trên bậc cấp. Áo dài Anh Thư đứt hàng khuy nút bóp, để lòi vú mớm ra. Cô dâu hổ thẹn, luống cuống vội vàng quơ quơ tay để kéo ngự uyển đậy lại.

                    Trong lúc lây lan cái sự dị hợm nầy, và mắc cỡ muốn độn thổ, tôi lúng túng lo lắng nhìn chằm chằm vô mặt Anh Thư, ngỏ hầu ráng chăm sóc tốt cho bạn, nên tôi bị hụt bước chân trên bậc cấp. Thế là tôi ôm bạn té lăn cù cù xuống đủ hai vòng. Chu choa ơi! Bộ giò cô dâu lặt lìa lặt lọi, bị trặc mất toi rồi! Còn tôi thì tím bầm ở hai đầu gối, sưng to như đầu gối voi, đau kinh khủng! Hai phù dâu lại một phen nữa mệt toát mồ hôi hột, tôi cùng bạn xốc nách Anh Thư dựng nàng lên! Chúng tôi quàng cánh tay của Anh Thư vắt qua cổ mình, liếc nhìn nhau mà hô to: “một... hai... ba...” để lôi Anh Thư và cả tôi lặc lìa lặc lọi lết lên bậc cấp, cho chắc ăn, cho chắc cú. Chớ cái kiểu nầy thì tôi mệt muốn ngủm! muốn ngoẻo!

                    Sự việc xảy ra đột ngột quá nhanh, dù chàng rể Bửu Bảo đang đứng gần chúng tôi, ấy thế mà chàng rể thừ người ra trơ trơ lỏ mắt dòm, không kịp phản ứng gì! Lúc đó mặt mày cô dâu, chú rể đỏ bừng như con gà lôi, chuyển sang tái méc. Mà người tiếp nhận tái méc nhanh nhất là mạ chồng! Hai họ đứng chết trân, rủ người dường như tê liệt, họ kinh ngạc há hốc miệng. Bỗng chốc mọi người xôn xao đồng loạt cất tiếng cười ngất (trước nỗi đau của người khác). Họ quên lửng “bộ đồ vía” gây ra nông nỗi tệ hại kia, là do chính Họ nhà trai cất công đi mua sắm. Lúc nầy, hai cô phù dâu quá mệt, đi đứng như kiểu chấm phết cà nhắt cà thọt, không còn hơi sức đâu mà cười. Cười cười… cười… cái gì? mà buồn cười nhỉ!

                    Tất cả mọi người đã vào an tọa trong nhà thờ, chỗ nào ra chỗ đó, có thứ tự lớp lang hẳn hoi. Nhưng ai ai cũng lo ra, có mấy mệnh phụ đài các tỏ vẻ quan tâm chu đáo lăng xăng chạy lên nơi “an ngự của cô dâu chú rể”. Mấy bà to nhỏ rù rì, rồi lấy dầu gió xoa xoa, nắn nắn bóp bóp bàn chân, ống chân của Anh Thư. Điều nầy vô tình gợi nhớ tới “tích xưa”; nên thỉnh thoảng có nhiều tiếng cười rũ rượi, cười khúc khích lao xao nổi lên đây đó. Khiến cha chủ tế người Pháp đứng trên bục giảng ngạc nhiên ngỡ ngàng. Ngài ung dung nhìn mọi người vui vẻ, từ tốn mở lời:
                    - Hôm nay, "dứng" trước quý ông bà, anh chị em, và “co dau chú rẻ”, tôi xin "cào" chúc anh chị trăm năm "hạn phút", răng "lông" tóc bạc suốt đời. Nào: qúy ông bà anh chị em hãy nhìn xem: trên bàn thờ có hoa mai, hoa lan, “hoa hệ" và hoa cứt”...

                    Nhiều tiếng cười đồng loạt bung vỡ, vang dậy khắp đó đây từng hồi. Ngài chủ tế ngạc nhiên, sững sốt nhìn xuống khắp lượt trong nhà thờ. Ngài không hiểu chuyện gì, tại sao giáo dân lại cười trong giờ làm lễ uy nghiêm trang trọng thế nầy!? Rất vô tư lự, ngài dõng dạc tiếp:
                    - Ơ hơ! Anh chị em sao lại không nghiêm trang trong giờ Lễ vậy!? Anh chị đang "cưới" ai, “cưới” cái gì vậy? Anh chị em có muốn thích "cưới nhau", thì xin hãy ra ngoài sân mà “cưới”. Ở trong nhà thờ nầy thì chỉ làm "lễ cười". Mà "lễ cười", thì có gì mà "cưới" chứ?!

                    Ụi! Trời đất quỷ thần thiên địa tổ tông ông bà cô bác anh em cháu chắt ới! Cả nhà thờ ai ai cũng ôm bụng bò lăn bò càng ra mà cười vang. Cười thật to. Cười ngất. Cười ra nước mắt. Cười mệt xỉu. Chịu không thấu. Cái điệu nầy chắc mọi người bị bễ bụng mà chết nhăn răng vẫn cười quá! Rất may, có một vị trung niên bước lên bục giảng, ông chúm chím cười cười duyên ơi là duyên. Ông ta dùng ngôn ngữ tiếng Pháp để xin lỗi cha. Ông giải thích về việc ngài phát âm hơi lệch lạc, méo mó xí. Thế nên từ ngữ bị sai sót chi chi đó.

                    Á, thì ra...! Sau khi ngài hiểu nguyên nghĩa, hiểu từ trước khi họ nhà trai tới nhà gái, lúc đến ở ngoài sân nhà thờ, và ở trong nhà thờ lúc nầy; mọi việc đã xảy ra ra sao. Tại sao cả nhà thờ “đều thích cưới”. Vị linh mục người Pháp không ngớt xin lỗi, và đã cười tươi, vui vẻ thoải mái quá chừng chừng! Phải hơn mươi phút sau thì thánh lễ mới bắt đầu trong sự “lo ra”. Cả cha chủ tế vẫn tủm tỉm cười khi dâng lễ!

                    Sau giờ lễ, hai hàng xe hơi dài chạy lên sát cửa chính điện của nhà thờ Chính Tòa, chứ xe không đậu ở giữa sân, dưới những bậc tam cấp như hồi nãy nữa. Tất cả mọi người mệt đừ, vì kiệt sức, mỏi nhừ hay vì cười ngất? Chả biết. Hai họ nhà gái, nhà trai, đều quên chuyện giận hờn, xoi tì xoi tướng nhau, họ đã thân mật xiết bao, ôn nhu hoà ái vui vẻ cả làng. Thượng khách ngồi vào bàn, nhâm nhi sơn hào hải vị: Nấm đông cô, tóc tiên, mực khô, bát trân, bào ngư, vi cá, yến xào, đùi heo, tôm hùm, do đầu bếp số một bên Thượng Hải qua Việt Nam đảm nhận ở nhà hàng Nam Sơn. Họ nâng ly chúc tụng nhau vui vẻ, nét mặt rạng rỡ, hân hoan. Bác phó nhòm Châu thừa thắng xông lên tha hồ chụp ảnh... lia chia: Trong khi dưới giàn thiên lý em đã...
                    Trên giàn thiên lý
                    Bướm tìm hoa hút nhụy vẩn vơ bay.
                    Cánh chuồn chuồn giỡn nước bến sông mây.
                    Xuân thấp thoáng trên hàng cây mai trắng.
                    Buồm gió ngư ông về xóm vắng.
                    Tiếng tiêu mục tử vọng sông dài.
                    Dưới hàng cây thiếu nữ nhẹ chân hài.
                    Trong đám ấy có người ngày mai tách bến.
                    Mộng xuân đó ai không về lỗi hẹn.
                    Cho người buồn khi bến vắng không.
                    Thuyền hoa em đã theo chồng!
                    (*)
                    ***
                    Tình HOÀI HƯƠNG

                    Mùa xuân lại về, hôm nay Feb.17... kỷ niệm ngày xưa... Anh Thư đã đám cưới. Tôi xin cung-hiến độc giả thân mến chuyện Tết vui có thật. Một cảm tình trân qúy đã xảy ra trong đời tôi... Đã hơn bốn mươi lăm năm rồi đó, Trầm Mây và Anh Thư nhỉ! Mặc dù chúng ta ít có cơ may gặp lại nhau. Nhưng, mỗi lần mở tập album ra, thì trong lòng Hoài Hương tôi dậy lên ngọn sóng dạt dào tình luyến nhớ, hoài mong, ngây ngất nỗi khát khao tìm về thời niên thiếu tươi trẻ xa mờ xa, với giấc mộng quan hoài đã vụt bay cao trong tầm tay với, khi tuổi đời đã nhuộm vàng hanh mái tóc phong sương trên dòng đời phai nắng...
                    Tình Hoài Hương
                    * * *
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-24-2017, 10:55 PM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • Tinh Hoai Huong
                      Senior Member
                      • May 2009
                      • 1081

                      #190
                      NHỮNG CÁI… Không Bao Giờ Quên



                      NHỮNG CÁI… Không Bao Giờ Quên
                      CUA ĐINH
                      Tưởng nhớ đến: Lâm Đế, Trọng Khẹt, Hảo Caribou…
                      ***



                      Tôi xin thưa ngay để quý huynh đài hiểu ngay cho chữ… “những cái” ở đây; có nghĩa là những cái sự việc, những cái kỷ niệm, những cái tên, những cái cảm giác... v.v… đã xảy ra với tôi, chứ không phải là những...cái gì... gì khác, mà tổn thọ. Bởi mới đây có một anh bạn trẻ chuyển cho xem vài bài viết khá lâu của anh ấy về bay bổng ngày xưa, anh nhắc đến tôi vài chuyện, và gợi ý tôi nên kể lại vài vụ việc... từ hơn 40 năm qua, cho các bằng hữu nghe chơi trong lúc trà dư tửu hậu.

                      Chà cũng khó đây! Trước 75 tay tôi cầm cần lái, sau 75 được mấy anh Ba cho hưởng vinh quang… cầm cuốc; chứ có dịp nào cầm viết đâu, mà viết với lách! Nhưng mình có học gồng và mới làm một viên… thuốc liều, nên:
                      “Cũng đành nhắm mắt …múa tay
                      Thử xem chữ nghĩa độ rày đến đâu"


                      Tôi xin kể lại chuyện thật, người thật đến 99%: còn 0,5% vì viết về mình, nên hơi chủ quan và có lẽ hơi… "nổ”, hoặc vẽ vời một xí, cho trẻ trung vui vẻ, âu đó cũng là cái máu con nhà “nòi" KQ mình mà, thông cảm hỉ! Còn 0,5% là chi tiết như ngày giờ không được chính xác, thì quý huynh cũng hiểu cho đệ cũng ngoài sáu bó rồi, nên bộ nhớ nó... early retire chút đỉnh! Tự an ủi rằng có nhiều bậc vĩ nhân, những bộ óc siêu việt, mà về già cũng còn bệnh lú lẫn (Alzheimer); sá gì mình thuộc loại bất tài vô tướng, dân ngu khu...vàng, thì đâu có nhằm nhò gì. Không phải khu… đen mà là khu vàng, vì đang sống trên xứ Mỹ, mà mình thuộc giống dân da vàng, nên phải dùng chữ cho nó đúng… phong thổ! Lại một nỗi khổ nữa là khi đánh máy bài viết nầy, tôi chỉ xử dụng "nhất dương chỉ” làm cò mổ từng chữ một, với sự chú tâm cao độ nên…“văn” (vốn đã hiếm) nó không có ra! Xin bộc bạch vài hàng…phi lộ.

                      Bây giờ để: "tôi kể người nghe”…: Cái tên…cũng có ảnh hưởng… Tôi và một số bạn Chuẩn-uý “nhô con” về trình diện Phi Đoàn 211, Trực Thăng (H34) đóng tại Tân Sơn Nhứt khoảng giữa năm 1964. Vị trí Phi Đoàn nằm sát cổng Sư Đoàn Dù. Đi từ cổng Phi Long vào, cứ đi thẳng đến gần sát cổng trại Hoàng Hoa Thám, quẹo phải vào cổng nhỏ có đề chữ HELIPORT, đó là PĐ 211.
                      Bộ Chỉ Huy gồm có:
                      · Chỉ Huy Trưởng: Thiếu Tá Nguyễn Huy Ánh
                      · Chỉ Huy Phó: Đại Uý Nguyễn Hữu Hậu
                      · Trưởng Phòng Hành Quân: Thiếu Uý Nguyễn Văn Lân
                      · Trưởng Phòng Huấn Luyện: Thiếu Uý Phạm Huy Lạng
                      · Trưởng Phòng An Phi: Thiếu Uý Bùi Hân

                      Trực thuộc Phi Đoàn còn có Sĩ Quan Hành Chánh Tài Chánh: Thiếu Uý Nguyễn Long Nhan và Sĩ Quan Kỹ Thuật Phi Đạo: Thiếu Uý Phan Võ Viên.
                      Hai pilot chuyên bay thử là: Trần Xuân Quang và Hồng Văn Tý; anh Tý thời gian ngắn sau qua PĐ217, và sau đó lại chuyển nghề qua An Ninh. Thời kỳ đó, KQ không có qui chế rõ ràng! Hơn nữa có một Vị cho rằng KQ chỉ để… đuổi gà (!!?) nên lon–lá kẹt lắm. Quan Ba tàu bay cũng hiếm thấy và... "bự” lắm rồi. Còn quý vị tuy mang lon… thấp Thiếu Uý, nhưng võ công... phi hành thì… cao, và đã vào hạng sư phụ, hoặc sư thúc rồi như: T/U Lê Phước Điền, Nguyễn Thanh Cảnh, Đặng Trần Dưỡng, Nguyễn Kim Bông, T/u Trương Văn Vinh, Nguyễn Văn Vui, Nguyễn Văn Lắm, Đặng Bình Minh v.v…

                      Còn các đàn anh gần lên Thiếu Uý thì… nội-công cũng đã đạt 12 thành công lực và thuật... phi hành ở bậc cao thủ trong giới võ lâm bay bổng như các anh: Phạm Bính, Trần Xuân Quang, Đinh Hữu Hiệp, Nguyễn Hữu Lộc, Phan Ngọc Huệ, Đặng Kim Quy, Nguyễn Hữu Nhàn, Cao Văn Tư, Bùi Văn Be, Châu Lương Can, Nguyễn Văn Minh "con", Lê Quỳnh "tài-tử"… vv...

                      Quý vị sư phu, sư huynh kể trên hơn một năm sau được thăng cấp… hồi tố, có vị chưa kịp rửa lon vừa mới lên, lại phải lo mua lon mới! Bọn tôi mới về được bay huấn luyện thêm, để tái xác nhận làm hoa tiêu phụ đi hành quân, làm sĩ quan trực phi đoàn, và bị bắt học, soạn đề thuyết trình địa huấn (kỹ thuật) cho nhau nghe, với sự chứng giám của vài xếp. Cái món này tôi không ưa, vì đã chán học nên đi lính mà cứ bắt học hoài; cho nên phải thú thật rằng kỹ thuật thì tôi quá dốt.

                      Thuở đó, chiến trường còn lắng dịu nên nhiệm vụ của Trực-thăng thường là đi tải thương và tiếp tế; rất ít khi bay đổ bộ. Vì thế pilot nào trong tháng mà bay được cở 60 giờ, là coi như xuất sắc, thường là cở 20 giờ. Nói chung đây là thời kỳ vàng son và nhàn hạ, nếu có một vài lần đổ quân, thì cũng cở 7, 8 chiếc H34 bay hợp đoàn theo đám UH cuả Mỹ, như trận Ấp Bắc và Bình Giả. Mãi đến năm 1967, và nhất là từ năm 1968 trở về sau nầy, việc đổ quân mới là… cơm bữa...

                      Vừa mới về PĐ cở nửa tháng, là được T/U Lắm (U-Nu) đặt cho tôi cái tên là: “Cua-Đinh”, xin đọc rõ là Cua Đinh; phải chi mà đừng có chữ "a” ở đằng sau rốt, thì hoá ra lại hay, và đâm ra mình còn có giá trị… ngầm! Biết đâu chừng giờ đây tôi ăn nên làm ra, vì các hãng bào chế thuốc mượn tên mình làm quảng-cáo, để ganh đua và cạnh tranh nhộn nhịp với hãng Pfizer! Sở dĩ có biệt danh đó, vì mặt tôi luôn luôn đỏ, nên anh cho rằng tôi bị nổi "đơn" sắp bị... cùi ; hễ ăn vịt xiêm lai, hay cua đinh vào là… rụng móng liền! Cái tên nghe kỳ cục và cũng rất là… độc!

                      Cũng vì vậy mà mấy năm sau trong nghiệp bay bổng của tui, cũng xảy ra lắm chuyện độc… đáo, không giống ai! Thời gian hơn một năm sau, tôi được sắp xếp bay huấn luyện xuyên huấn để ra hoa tiêu chánh, tôi thường được mấy ông thầy huấn luyện cho là T/U Lạng, Thiếu Tá Nguyễn Huy Ánh, và bay nhiều nhất với Chỉ Huy Phó Phi Đoàn Đ/U Nguyễn Hữu Hậu. Nói đến ông Ánh, thì ai cũng nghe danh là bay trực thăng rất giỏi, và những cái xuất sắc khác nữa như: giỏi võ và tài thiện xạ súng colt. Tóm lại cái nào ông cũng thuộc hạng sư cả. Bây giờ nhắc đến tên Nguyễn Huy Ánh, tôi không khỏi ngậm ngùi tưởng nhớ đến một vì sao rực sáng; một vị lãnh đạo tài ba Chuẩn Tướng Nguyễn Huy Ánh, cựu Tư lệnh Sư Đoàn 4 KQ với tất cả sự ngưỡng mộ và kính mến!

                      Sau mấy tháng bay huấn luyện xuyên huấn tại PĐ, tôi được Đ/U Hậu check out ra hoa tiêu chánh. Một thời gian sau PĐ trực thuộc Không Đoàn 33, và dời qua nằm kế bên PĐ 415 Vận Tải. Bãi đậu phi cơ H34 và hangar cũng nằm kế bên bãi đậu C47, gần taxiway; phía cuối phi đạo, hướng trại Sư Đoàn Dù. Phi Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Hữu Hậu; như đã nói trên, có lẽ vì... đeo cái tên kỳ cục, nên tôi cũng gặp những chuyện…lạ đời.

                      Mất Đại Liên 30

                      Mới nghe, ai cũng tưởng đâu tôi là xạ thủ đại liên của một đơn vị tác chiến Bộ-binh, chứ pilot sao lại không mất súng cá nhân ru lô, mà lại mất súng cộng đồng đại liên?? À! Đầu đuôi như thế nầy: chắc chư liệt vị còn nhớ những năm 1965, 66, 67, tình hình chính trị ở Sài Gòn thật bất ổn, cứ chỉnh lý, rồi biểu dương lực lượng, rồi đảo chánh liên miên, lại thêm biểu tình liền... liền… Lệnh bên phòng hành quân chiến cuộc gọi sang là PĐ phải có một chiếc H34 sẵn sàng ứng trực cho bên Bộ Tổng Tham Mưu.

                      Hôm đó tôi làm Sĩ Quan Trực PĐ, và được lệnh phải gắn đại liên 30 cho chiếc ứng trực. Tôi xuống kho vũ khí ký nhận mượn, đồng thời báo phi đạo gắn giá súng cho đại liên 30, mà trước đây trực thăng H34 không có. Bẵng đi cở 10 hôm sau, kho vũ khí gọi lên PĐ đòi lại cây đại liên, tôi xuống phi đạo định gở cây đại liên đem trả về kho. Nhưng quái lạ đại liên không cánh mà... bay đi đâu mất!! Thế là tôi lãnh thẹo! Vì khi xuống ca sĩ quan trực, tôi chỉ bàn giao sổ sách thôi, chứ có ai ngờ cớ sự như vầy đâu, mà bàn giao cây đại liên! Cũng là tại tôi ỷ y và thiếu kinh nghiệm, nên không ghi thêm vào sổ trực cho anh SQ trực kế "ôm" cây đại liên đó!

                      Tôi phải làm tờ phúc trình sự việc, và xách xe pick- up đi tìm khắp các phi đạo mấy ngày liền, mà vẫn bặt vô âm tín. Rốt cuộc sau khi quân cảnh Tư Pháp kết thúc điều tra, PĐ Trưởng Nguyễn Hữu Hậu và tôi lên gặp Không-đoàn-trưởng Không-đoàn 33 Trung-tá Lưu Kim Cương quyết định: Tôi phải đền cây đại liên bằng tiền 16,000$, hơn 2 tháng lương của mình, bằng cách trừ lương nhiều kỳ; tính theo hối xuất đô-la giá chính thức (1 đô = 33 đồng VN). Sau được PĐ thương tình xuất quỹ bù cho tôi số tiền đó. Một lần nữa xin cám ơn PĐ.

                      Đè... Taxi và kẹt tay ga!

                      Hồi mới về PĐ tôi thường nghe kể dường như là Tr/U Bá hay Đ/U Ông Lợi Hồng, hay vị nào đó (mà tôi không nhớ tên)… khi bay hành quân ngoài Vùng 2, máy bay lâm nạn tắt máy và vị đó đã làm forced landing, đã…"thảy lỗ" xuống một lỗ trống trên cánh rừng già! Phi hành đoàn an toàn, và cánh quạt chỉ cách những cây cao xung quanh chừng 2 mét. Tôi thật khẩu phục tâm phục; một cái lỗ nhỏ thật là … "bót”. Như vậy đáp bình thường cũng đã căng rồi, chứ nói gì đến làm autorotation đáp ép buộc xuống ngay chóc chỗ đó!

                      Tôi xin giải thích thêm về chữ autorotation (tự động quay) mà dân trực thăng gọi tắt là Auto để quý huynh khác ngành biết rõ. Làm auto (tự động quay) là coi như máy đã tắt, máy bay là một khối sắt nặng, thay vì rớt thẳng, nhưng nhờ vào cánh quạt (rotor) vẫn còn quay cho nên nó nâng cho máy bay rớt xuống, theo một góc độ lài 45 độ. Chính cái độ cao và giây phút quyết tử đó, pilot phải lèo lái, điều khiển làm sao cho máy bay an vị trên miếng đất trống, êm ái ngon lành, thay vì lật chổng gọng, hoặc nằm… trên ngọn cây! Cũng nói thêm trong tích tắc đó pilot vừa tìm chỗ đáp, vừa phải kiểm soát control cái cánh quạt, đừng để quay quá chậm, thì máy bay rớt lẹ, hoặc quá nhanh thì cánh quạt sẽ văng mất. Cả hai trường hợp đó thì máy bay đụng đất nghe một cái… "ầm ...ầm" và phi hành đoàn chỉ còn là một đống thịt như… thịt bằm hamburger!

                      Dân Trực Thăng đi hành quân đến những chỗ…"hot”, thay vì tà tà đáp xuống như thuở thái bình, rất dễ làm bia cho các loại súng của bọn Vẹm, thì làm Auto, cúp ga cho động cơ vẫn còn nổ ở ra–len–ti, để máy bay rớt xuống thật nhanh, khi gần đến đất, thì rồ ga lại (recovery) và đáp bình thường! Tóm lại đây là kiểu đáp tránh đạn, động cơ còn nổ, và mình cũng yên chí lớn là sẽ đáp như thường thôi, nên nếu có lỡ bộ, hơi quá bãi đáp, hoặc thiếu một chút chưa đến bãi đáp, thì mình cũng đáp được, chứ còn máy tắt thiệt như đã nói ở trên thì… căng lắm. Mọi thứ phải chính xác, không có chuyện xin lỗi làm lại, một là an toàn huy hoàng, hai là điêu tàn từ chết tới bị thương.

                      Nhớ có lần chở mấy ông dân biểu về thăm lại đơn vị ứng cử ở Rạch Giá; có một ông nghe lõm bõm sao đó, mà nói rằng: "mấy anh đừng làm xe hơi..." Xe hơi (mấy ổng dịch chữ Auto) gì đó nó lộn ruột quá!! Lúc ông Ánh còn làm Phi Đoàn Trưởng, trong mỗi buổi họp hằng tuần, thường hay nhắc nhở anh em trước khi về đáp, nên dợt làm vài cái Auto cho nó quen!

                      Từ lúc ra hoa tiêu chánh mỗi lần trực đêm, chiều về tôi thường quay máy và xách máy bay ra vùng Phú -Lâm, để bay thử xem máy bay có ngon lành cho đêm trực không. Khoảng nửa giờ bay thử đó, tôi cũng tự dợt làm được ít cái Auto. Hoặc những hôm đi bay tải thương về gần đến traffic của Tân Sơn Nhứt, tôi cũng xuống thấp cao độ bằng cách làm auto. Không ngờ những việc mình thích, mình khoái làm như vậy, mà sau đó nó lại cứu mình.

                      Tôi nhớ đâu cuối tháng 11 năm 1967, tôi nhận một phi vụ chở VIP, qua sân Cửu Long bên Thị Nghè, chở Tư Lệnh Hải Quân ra Vũng Tàu họp. Phi hành đoàn gồm có tôi, Trưởng phi cơ, anh Nguyễn Thanh Tùng "Tùng Lỏi", Hoa Tiêu Phó, anh Thạch (quên họ) là cơ phi. Lúc đó trên trực thăng H34 chưa có xạ thủ. Sáng hôm ấy trời trong, nắng nhẹ, khoảng 10 giờ sáng, tôi cất cánh ở Tân Sơn Nhứt bay qua sân Cửu Long với cao độ 600 , 700 bộ (feet), đúng theo lộ trình và traffic của TSN.

                      Đang bay ngon lành đến khoảng đường Hiền Vương gần đến rạp ciné Casino Đa Kao, bỗng dưng máy bay nổ to và liên tục, giống như bắn đại liên. Thân tàu rung giật mạnh, kim đồng hồ RPM nhảy lên xuống không ngừng, rồi động cơ tắt hẳn, máy bay rớt. Nhìn xuống bên phải, tôi thấy nhà lầu cao san-sát. Ý tưởng lóe ngay trong đầu tôi là chắc phen nầy mình vào nằm ở bịnh viện Grall rồi, vì bị phỏng (xin nói thêm thời đó pilot bị nạn là đem về Grall, chứ không có đưa qua bệnh viện Cộng Hòa như sau nầy), tôi chỉ kịp la lên:
                      - Tìm chỗ đáp!

                      Anh Tùng chỉ làm dấu bằng hai bàn tay quẹo trái, tôi quẹo 90 độ qua trái ngay, và thấy ngay trước mặt là con đường, tôi nhắm ngay con đường đó làm auto xuống, khi gần đến đất, tôi flare lại (kéo cần lái cho máy bay đứng lại) thấy cánh quạt cuốn dây điện và điện thoại hai bên đường. Máy bay chạm đất và một càng bánh phía phải đè trên đầu máy xe taxi, có lẽ vì vậy mà vô-lăng đập vào ngực làm bác tài xế bị thương, và thiệt mạng sau đó trong bịnh viện. Máy bay nằm trên đường Lê văn Duyệt (Gia Định) và dưới dốc Cầu Bông, cách trại hòm Tobia cở 100 mét. Sau khi tắt điện xăng xong, tôi và anh Tùng leo xuống khỏi phi cơ, và nhờ một chiếc xe jeep của cảnh sát chở đến Tiểu Khu Gia Định, mượn điện thoại gọi về Phi Đoàn. Gặp sĩ quan trực PĐ là anh Minh "con" hay anh Thảo tôi quên mất:
                      - Tao báo cho mầy biết, tao bị rớt trên đường Lê văn Duyệt (Gia Định) tại dốc cầu Bông! Phi hành đoàn vô sự!
                      Tôi nghe đầu dây bên kia la lên:
                      - Ê, thằng D… nó rớt rồi tụi bây ơi!

                      Chúng tôi lên xe Jeep trở lại phi cơ và lấy túi xách helmet, cở 15 phút sau, chiếc trực thăng rescue ở nhà đáp xuống sân vận động trường Nữ Trung học Lê Văn Duyệt cách đó khoảng 400 mét, bốc chúng tôi về. Sĩ quan an phi làm việc: điều tra xem có bay đúng lộ trình không? Và có phải máy bay bị hư thật sự không? Phi hành đoàn qua trung tâm giám định y khoa để check sức khoẻ, xem đầu cổ có bị va chạm gì không? Và bác sĩ không quên hỏi và check xem đêm qua có uống rượu không?

                      Kết quả mọi chuyện êm xuôi, Phi hành đoàn không phạm lỗi gì cả, (mà về sau biết được lỗi là do thằng…starter), mấy cục than bên trong để dẫn điện, tự nhiên nó sút ra, vì vậy có xăng mà lửa tự dưng mất, nên mới ngộp xăng, mà phát ra tiếng nổ. Nghe nói trên đài phát thanh Sài Gòn và Quân-đội có loan tin về việc máy bay bị nạn, và có nói: "trước khi rớt, phi công đã bình tĩnh bắn súng chỉ thiên, để dân chúng tránh xa"… À! Cái nầy đúng là “của người phúc ta”. Cám ơn ông anh, bà chị phóng viên đài phát thanh nói tốt cho! Vì nghe tiếng nổ mà suy luận như vậy thôi, nghe cũng hợp lý quá đi chớ! Sự thật thì sự việc xảy ra quá nhanh đến độ tôi chưa kịp… sợ nữa, chớ có huởn đâu, mà nghĩ hay làm chuyện gì khác. Cũng may nếu gặp anh phóng viên báo trang kịch trường nào đó, có khi họ dám cho tôi xuống sáu câu vọng cổ rồi máy bay mới chịu rớt lắm!

                      Phi hành đoàn được nghỉ ít hôm để lấy lại bình tĩnh! Ngày hôm sau chúng tôi được anh Đ/U Đỗ Minh Đức, Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của PĐ, hướng dẫn đến thăm viếng gia đình bác tài xế bị nạn ở trong đường hẽm Phan Đình Phùng, khu Nguyễn Thiện Thuật. Tôi và anh Tùng mặc đồ kaki vàng đội kết bi, và nhớ tháo cánh bay ra (vì sợ gia đình biết mình là thủ phạm). Anh Đức ngỏ lời là đại diện KQ đến phân ưu cùng gia đình, và có hứa chính phủ sẽ bồi thường vì tai nạn chiến tranh! Rồi đột nhiên anh chỉ tôi:
                      - Mầy vào thắp nhang, khấn vái đi!
                      Tôi cùng anh Tùng đứng trước quan tài và khung ảnh của anh tài xế cở ngoàì 40 tuổi, lâm râm khấn vái.
                      - Tôi xin lỗi anh, vì tai nạn xảy ra ngoài ý muốn, xin cầu nguyện anh sớm siêu thoát, được về nơi cõi an lạc!

                      Trước đây khi cúng vái Trời Phật, hoặc Ông Bà, sau khi kể lể cầu nguyện điều gì xong, câu chót là tôi "xin Trời Phật hoặc Ông Bà phù hộ cho con, được mạnh giỏi... v.v...". Nhưng lần nầy tôi tự nhớ và không quen miệng xin phò hộ nữa, vì dù sao mình cũng làm cho người ta chết, thì có ai có tấm lòng bồ tát đâu, mà phù hộ mình, đã không… “níu giò” là may rồi! Ra ngoàì đường tôi cự anh Đức liền:
                      - Hồi nãy mình đi cả đám, anh không thắp nhang, mà tự dưng kêu ngay mình tôi vào, "cha” làm như vậy, rủi gia đình người ta nghi ngờ tôi là người gây ra tai nạn, họ chém tôi sao “cha nội”?

                      Ngày hôm sau phi hành đoàn chúng tôi cũng đến tiễn đưa linh cữu đi an táng. Chúng tôi đẩy xe gắn máy đi bộ phía sau, từ đường Phan Đình Phùng ra Lý Thái Tổ; đi cùng hàng có anh lính thiết giáp, mặc đồ rằn-ri, mặt và cổ có vết thẹo bị cháy, anh ta hỏi tôi:
                      - Còn mấy ông phi công đó bây giờ ra sao? Hôm nay có đi đưa đám ma không, Trung-úy?
                      Tôi lẹ làng:
                      - À! Mấy ông đó đang bị nhốt để điều tra; chúng tôi đại diện KQ đi tiễn đưa hôm nay.

                      Khi đến bồn binh Ngã Bảy, tất cả lên xe để đưa quan tài đến nghĩa trang ở Phú Thọ Hòa. Tôi nháy mắt ra dấu anh Tùng “lỏi”, cả hai vọt mất; vì trong bụng cũng ngán gia đình họ biết! Mấy hôm sau về nhà, nằm nghĩ lại mới thấy sợ mà cũng hên, nếu không xuống đường mà rớt trên mấy cái nhà lầu, hay đám nhà lá, thì chắc chắn kết quả thảm khốc hơn nhiều! Bởi vậy cả tháng sau, tôi được người quen nói lại, có vài bà tính hỏi xem thằng pilot đó có vợ con gì chưa, để gả con gái cho, vì nếu nó không khéo mà rớt trên đám nhà lá, thì hỏa hoạn và chết nhiều lắm!

                      Mà tôi thấy cũng xui, phải chi nó đợi nửa giờ sau, chờ chở ông Tư Lệnh HQ trên đường đi ra khỏi thành phố rồi, hãy sanh chứng, lúc đó có đủ cao độ và ngoài đồng trống, chắc chắn là không sao cả. Và ông Tư Lệnh có dịp… hú hồn, thế nào ổng cũng thưởng cho một chiếc mề đay, đằng nầy vì rớt gần trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt, nên sau khi được rescue về, vừa vào đến phi đoàn gặp ngay xếp Đại Uý Nguyễn Kim Bông, Phi Đoàn Phó (?):
                      - Tao hỏi thiệt mầy nghe Cua Đinh, có phải mầy "múc” ở Trường Nữ, nên bị rớt phải không??
                      Tôi quăng helmet lên bàn và xì-nẹt:
                      - Tôi bị rớt về, ông không hỏi thăm gì cả, mà tối ngày cứ nghi ngờ người ta múc không hè!
                      Tội nghiệp Đ/U Bông hiền lành, thấy tôi đổ quạu nên ôn tồn:
                      - Thì tao hỏi vậy, mầy không có múc thì thôi, chứ làm gì dữ vậy mậy!

                      Đúng như vậy, lần nầy không có múc! Nhớ lại thời trẻ, tâm tư như tờ giấy trắng, tính tình bộc trực ngay thẳng, bay bổng không nề hà tránh né, không hề tính toán, nhiều lúc ăn nói quá đốp chát, không biết “cách khéo léo và tế nhị” nên với bạn bè và đàn em thì xà –va, ok, dui dẻ; còn đối với cấp trên chắc phiền lòng không ít, nếu không bị... ghét là phúc rồi. Gẫm lại cũng bởi tại ta mọi đàng; nên đừng hỏi cớ sao trời mây rộng thênh thang bay… mệt nghỉ; mà hoạn lộ lại quanh co, lắm… ổ gà!

                      Mà ổng nghi ngờ cũng phải, vì trước đó tôi có tiếng là bay cao bồi, và khi nào có dịp bay tuần phòng trên thành phố: là tôi hay múc lắm! Trực thăng mà bay cao cở 1000 feet, kéo cần lái lại cho máy bay gần đứng lại; xong chúi đầu xuống lấy tốc độ, lúc đó nhìn thấy cũng giống như khu trục nhào xuống bỏ bom vậy; rồi khi xuống dưới khoảng thấp hơn 500 bộ, kéo ngược cần lái, nó vọt lên trông cũng... ác gà lắm, chứ chơi sao!

                      Là pilot mà lúc còn trẻ, còn hăng “tiết vịt” thì ai cũng có “múc”, kẻ nhiều người ít, mọi loại máy bay. Ngoại trừ mấy anh chàng vận tải có lẽ vì kềnh càng, tay chân (thân cánh) khều –khào, nếu múc khó khăn và chẳng giống ai, nên mấy anh nầy mới tha cho! Xin nhắc lại những năm 1966, 67... mọi biến động chính trị thường xảy ra trên thành phố Sài Gòn như đã nói trên.. nên trực thăng được điều động bay quan sát. Đấy là cái dịp, là cái duyên may được dạo trên…không phận Sài Gòn. Ngoài cái duyên còn có cái cớ để múc nữa!

                      Chư vị thử nghĩ coi ở dưới đường người xe xuôi ngược, trong khi ta đang trên cao thánh-thoát, trời êm nắng nhẹ, tinh thần hưng phấn nên cũng muốn làm cho bà con để ý chút chơi. Lại nữa có nhiều khi trên thượng tầng các cao ốc ở Quận Nhất, Quận Nhì Sài Gòn... có nhiều mỹ nữ đang phơi mình tắm nắng, mà tắm nắng thì có ai mà chơi… bộ đồ bà ba và khăn rằn quấn cổ như chị Ba Nguyễn Thị Định đâu; phải để cho nó mát chứ, đã vậy còn rất lịch sự vẫy tay, ngoắc- ngoắc, thì mình chẳng lẽ lại làm ngơ sao đành, mình vốn là kẻ "thương người không mảnh vãi… che thân"! Và cũng có điều vui vui nầy nữa: rằng… thì... là... ở thành phố có rất nhiều nhà tắm cũng giống như xe xì-po nắp trần, không mui, trưa hè thấy ẩn hiện dáng tiên nữ trong đó đang tẩy bụi hổng-trần, nên cũng là một liều thuốc kích thích mạnh cho những ai dù không có máu hay vi vu lạn-lách, múc miết đi nữa!

                      Hoặc nhà em là mục tiêu và thiếu điều tróc nóc khi anh cần báo cho em biết là có chàng đang ở trên…nầy đây! Có lần nhằm ngày cuối tuần xong phi vụ, trước khi về đáp, tôi tạt ngang qua khu Tân Định múc trên nhà một em mới quen, đâu có múc nhiều, chỉ có… năm sáu cái, vậy mà làm cho ông Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn ở gần vùng đó hết hồn, tưởng đâu có chuyện gì xảy ra, ổng vội chạy vào Phi Đoàn, vì đã thấy rõ số đuôi phi cơ, nên tôi hết chối cãi… và mang tiếng bay cao bồi từ đó. Tuy vậy mấy ông xếp cũng thương tình, và thông cảm cho tuổi trẻ nên chỉ cảnh cáo và…"ngầy ngà” chút đỉnh, chứ cũng không phạt vạ gì! Công tình là thế mà của đáng tội, hôm sau gặp; nàng nghe qua cười cười, tỉnh queo:
                      - Lúc trưa đó em ngủ đâu có hay!

                      Sẵn cũng nói luôn là tôi thường bay với cao độ "liếm ngọn cây, khều ngọn cỏ” lắm, nếu ở trên vùng hành quân, ở những bãi đáp hot, thì đây là kiểu tránh đạn, hoặc phòng không địch đã đành! Đằng nầy vì lợi dụng traffic của TSN nên về gần đến là tôi xuống thật, thật là thấp, nhiều khi có mấy lùm cây trước mặt, nhưng cứ đăm đăm bay ngay tới coi như không thấy, đợi đến thật sát mới khều nhẹ cần lái, để né hoặc lướt nhẹ qua nó mới… đã!

                      Chơi dại như vậy nhưng có lẽ nhờ “Cô cho, Bà độ” nên chưa bị gì! Chứ với cao độ đó mà máy bay chỉ cần... ho nhẹ một tiếng thôi, thì tất cả chun tuốt xuống đất rồi, chứ làm sao mà đỡ kịp! Tôi còn nhớ lời của ông Ánh từ khi còn là PĐT, rồi sau nầy lên Không Đoàn và Sư Đòan Trưởng vì thấy đám trẻ bay bổng vung vít quá, nên ổng thường hay nói câu: "Pilot giỏi là Pilot già!” (ý nói ai cũng hiểu là bay bổng làm sao mà được sống đến... già). Theo nghiệm chứng và thống kê, pilot có khoảng 1000 giờ bay là hay.. nghỉ chơi lắm, vì với số giờ đó, dù cũng hơi cứng và khá quen với tàu bay rồi, nên cứ tưởng là mình hay, coi trời bằng vung, ỷ tài, bất cẩn và kết quả sớm... biệt phái cho Diêm Vương!

                      Hồi tưởng lại thấy mình cũng y chang như vậy! Nhưng cái số vẫn còn may. Được cái là hồi còn trẻ nên rất hăng say bay bổng, không hề đắn đo hơn thiệt, hay tị nạnh với bạn bè. Mỗi khi đi tải thương tại quận lỵ, hay tại sân vận động Tỉnh; cảm thấy đáp và cất cánh tà tà chán phèo, còn tại mặt trận, có súng nổ lóc chóc có luồn lách nó mới vui! Đúng là “người hùng tim lạnh” có nhiều khi bay đến địa điểm hot, mà nghe ông anh leader nói: "tự nhiên tay ga của tao sao nó cứng quá… hay liên lạc với quân bạn nó nói gì tao nghe không rõ..." Tôi báo: "để tôi xuống cho", và nhào xuống liền, thay vì bay vòng vòng chờ đợi, chỉ tổ làm bia cho VC và giúp chúng có thời giờ chuẩn bị. Tôi và đám bạn thường nói tụi nó bắn chắc gì trúng, mà trúng chắc gì chết, nên ba cái AK và đại liên tụi tôi coi như "nơ - pa". Chừng nào Trời kêu... mới dạ, chứ bọn VC đâu có rớ được tới mình nỗi!

                      Sau tai nạn được nghỉ ngơi cho tỉnh táo, rồi trở lại ngày ngày đi bay bổng như thường. Cở hơn nửa tháng sau, có chuyện xảy ra mà hể nhớ lại là ớn xương sống, sáng hôm nọ có anh trực rescue nên đi quay máy (warm up) sớm, máy nổ bình thường, và đến khi cánh quạt bắt đầu quay, bỗng dưng có một cánh quạt bị sút ốc, hay sao mà xụ xuống 90 độ. Đó là chiếc mà tôi mới bay về đáp tối ngày hôm trước! Đúng là số còn lớn, nếu hôm trước mà phi vụ đó chỉ dài hơn 3,4 phút là Bà… hú rồi! Không có ai và tài thánh cũng không đỡ nỗi. Lỗi kỹ thuật và lỗi của pilot làm chết nhiều hơn đạn thù!

                      Bẵng đi vài tháng sau cở tháng 4 /1968, một buỗi xế chiều ngày Thứ Bảy, chúng tôi đi tải thương ở Bến Tranh (tỉnh Long An) chiếc leader là anh Đặng Kim Quy; còn chiếc số 2 do tôi lái, anh Nguyễn Ngọc Nhuận làm co-pilot cho tôi, cơ phi và y tá cho ở nhà, thay vào đó là anh Thúy, pilot trong PĐ đi theo quá giang, xuống Mỹ Tho để sau đó về thăm nhà ở Bến Tre. Chiếc của tôi đang quần ở trên chờ anh Quy bốc thương binh lên xong, là tôi sẽ đưa Thúy đi Mỹ Tho. Anh Nhuận đang lái bỗng phát hiện:
                      - Tại sao tay ga cứng ngắt vầy nè!

                      Tôi chụp cần lái và vặn ga thử; kim RPM của rotor và của engine dính chặt nhau, không nhúc nhích; đè cần throttle xuống, thì máy bay có xuống, giảm cao độ, nhưng kim RPM lại từ từ tăng lên, laị phải kéo cần throttle lên, để giảm RPM nằm ở mức cho phép, thì máy bay lại tăng cao độ! Tôi và anh Nhuận hoãng quá. Trời Đất ơi, cái kiểu như vầy thì làm sao mà xuống. Chúng tôi báo cho chiếc leader biết tình trạng và viết giấy cho anh Thúy ngồi ở dưới biết (vì anh không đội helmet) và không quên nhắc anh ấy thắt giây an toàn (safety harness, không biết sẽ ra sao!

                      Trên đường trở về TSN với cao độ đang ở 1500 feet, tôi và anh Nhuận thay nhau bay ráng từ từ xuống thấp, định về tới Phú Lâm cở 500 feet như lệ thường, nhưng cứ đè cần tay ga xuống, cho cao độ giảm thì RPM tăng, mà kéo cần ga lên để giảm RPM, thì cao độ lại tăng, cứ thế mà khi về gần đến TSN thì máy bay lên đến 4000 feet. Chúng tôi sợ quá, cứ hỏi lẫn nhau, như vầy thì làm sao mà xuống! Cá nhân tôi, kỳ trước rớt ở cầu Bông, Lê văn Duyệt, nó xẩy ra quá nhanh, chưa kịp sợ, còn lần nầy trong vòng 15 phút, không kiểm soát được máy bay như ý, nên phải nói là tôi kinh hoàng mới đúng! Mà trường hợp này từ trước đến nay chưa từng nghe ai nói đến bao giờ, nên chúng tôi quá hoang mang! Tôi lâm râm khấn vái; cầu xinTrời Phật, Ông, Bà về đây cứu con… cú nầy! Ngày xưa Ngủ Tử Tư thời Chiến quốc thức trắng đêm, vì lo sợ và mưu tính vượt qua cửa ải, nên sáng ra đầu bạc trắng! Còn tôi nỗi sợ càng ngày càng tăng trong vòng mười mấy phút, chắc cũng trắng bạc đầu!

                      Về đến đầu phi đạo 25, hướng hãng dệt Vinatexco (?) thì máy bay tôi lên đến 5, 6 ngàn bộ rồi. Làm sao bây giờ? Tôi bàn với anh Nhuận:
                      - Cứ cái kiểu nầy một chút nữa hết xăng, thì cũng rớt, hay là mình cúp xăng tắt máy, cho nó rớt, tao sẽ làm auto xuống!

                      Nhưng cả hai cứ phân vân bàn cãi, không biết khi cúp xăng tắt máy, thì kim RPM của engine nó sẽ rớt về zero là đương nhiên rồi, nhưng nó có split (tách ra) khỏi kim rotor không, hay nó lại lôi theo kim của cánh quạt về zero, nếu cánh quạt đứng lại, thì máy bay chỉ là một khối sắt rớt tự do! Nhuận còn chần chừ. Tôi tiếp:
                      - Tao lái, mầy cúp tắt máy, nếu thấy 2 kim tách ra là OK, còn không thì mầy đẩy cần mixture trả lại ngay, cho máy nổ lạ, rồi mình tính tiếp, tìm cách khác…

                      Dù gì thì chúng tôi cũng phải lấy quyết định nầy. Tôi báo cho anh leader, Đặng Kim Quy biết tôi sẽ tắt máy và làm forced landing xuống phi đạo, và nhờ anh liên lạc với đài Air traffic control, để clear mấy máy bay khác, cũng như kêu xe chữa lửa và cứu thương sẵn sàng cho emergency landing, vì cái radio của chiếc nầy... cà giựt quá, nói và nghe cứ rột rẹt và đứt đoạn, dù xài cả hai tần số UHF và VHF, tôi chỉ liên lạc với anh Quy qua tần số FM. Ít phút sau anh Quy cho biết tất cả đã sẵn sàng…

                      Trực thăng với cao độ gần 6000 bộ cảm thấy nó lỏng lẻo, và lạnh quá! Anh Nhuận từ từ kéo cần mixture, từ full về vị trí midle và dừng lại ở đó, và chỉ cần kéo từ middle về off tắt máy, Nhuận chầm chậm kéo thêm một chút nữa… Căng thẳng quá, tôi có cảm giác như mình cầm con dao nhọn từ từ đâm vào cổ mình vậy.

                      Bỗng nhiên, “ầm... ầm"... Hai tiếng nổ như cà-nông bắn! Máy bay giật mạnh và đầu quay ngang gần 90 độ, vì Nhuận đã kéo cần mixture về Off, và đẩy lại liền, tiếng nổ đầu là máy tắt, và tiếng nổ thứ nhì là máy nổ trở lại. Nhìn thấy hai cây kim RPM tách ra, tôi mừng quá!
                      - OK, nó split rồi, mầy cúp luôn đi!

                      Lần nầy đã biết và chuẩn bị đạp pedal, nên Nhuận cúp máy chỉ nghe tiếng nổ, chứ máy bay không bị quay đầu nữa! Phẻ quá! Hết chết rồi. Tôi mừng quá và tin chắc như vậy. Máy bay bắt đầu rớt nhanh, tay lái nặng vì không có thuỷ-điều (hydraulic) vận hành; nhưng không sao, tôi điều khiển máy bay như ý, tôi vừa xuống vừa quẹo một vòng 360 độ. Vẫn còn cao, tôi làm một vòng 360 độ nữa, bị Nhuận la:
                      - Không chịu lo vô phi đạo, đi cứ quẹo ở ngoài hoài, rủi nó rớt ở ngoài vòng đai phi trường thì sao.
                      Tôi bảo:
                      - Mầy an tâm, yên chí lớn đi!

                      Xuống gần, thấy runway rộng rãi, dài thênh thang, bằng phẳng quá! Tôi cho touch down ở đầu phi đạo một cách nhẹ nhàng êm ái. Và máy bay chỉ lăn bánh cở 5 mét. Xe chữa lửa và cứu thương cũng chớp đèn chạy ra đến nơi, phi hành đoàn an toàn lên xe pick up của phi đạo chở vào, tôi quên hỏi Thuý (sau làm sĩ quan ALO, hơn một năm sau, cũng đi theo trực thăng anh bị nạn rớt chết) coi teo bu -gi cở nào, mà lo “ca”với Nhuận:
                      - Ê, mầy có đồng ý là tao làm cái auto touch down vừa rồi quá đẹp không?

                      Nhuận cũng phải cười và công nhận. Sau nầy tôi được Phi Dũng bội tinh cánh chim vàng vì người và tàu đáp an toàn trong vụ nầy. Cũng xin "nổ” thêm là cở gần tháng sau, tôi bay chung với Hảo Caribou, hắn nói:
                      - Tôi nghe đám cơ phi xì xầm với nhau, là đi bay chung với ông, chỉ khi nào bị bắn cháy trên trời thì chịu thôi, chớ tắt máy cũng không sợ chết . Để xem có phải là chó ngáp phải ruồi không? Đâu hôm nay về đáp, ông thử làm một cái auto touch down luôn trên taxiway xem sao!
                      Tôi thầm nghĩ... chuyện nhỏ! Cơm sườn! Lấy ăn! Tôi còn thêm:
                      - À! Để tao thử coi, nhưng mà chạm đất phải cho êm, ngay đầu taxiway và máy bay chỉ lăn bánh vài mét thôi, chớ chạy ào ào như fixed wing thì… rẻ tiền! OK?
                      May mắn, tôi làm đúng như lời nói, lúc đó chắc tôi “hỉnh mủi “ lắm, vì thấy Hảo cười cười có vẻ tâm phục!

                      Sự thật văn ôn, võ luyện mà! Vì tôi thích và thường dợt hoài mỗi khi bay về, hoặc thử máy cho phiên trực đêm. Tôi nhớ đến chuyện của anh thợ săn và anh bán dầu; anh thợ săn tay cầm con chim se-sẽ tí xíu bị mũi tên ghim trên đầu, thợ săn hiu hiu tự đắc đi vào chợ. Anh bán dầu thấy vậy nói có khó khăn gì, và anh biểu diễn rót dầu xuyên qua lỗ đồng xu để trên miệng chai, mà đồng xu không bị dính một giọt dầu nào! Trăm hay không bằng tay quen mà, chứ tôi cũng chẳng tài cán gì! Thật tình là vậy! Tóm lại, chắc là năm vận tháng hạn hay sao, mà chỉ trong vòng 6,7 tháng thôi, mà tôi gặp mấy cú điến hồn!...
                      ***

                      Về việc Tướng VC: Trần Độ.

                      Tiện thể sẵn nhớ, tôi kể luôn việc nầy: Chắc chư liệt vị còn nhớ tin Tướng VC Nguyễn Chí Thanh ăn bom B52, rồi chẳng bao lâu sau đó là trận tổng tấn công của VC vào dịp tết Mậu Thân 1968, thì báo chí, đài phát thanh lại loan tin rùm-beng là:
                      - Tướng VC Trần Độ bị tử thương, khi đánh vào Sài Gòn!

                      Thế rồi mấy năm nay lại nghe tin có Tướng Trần Độ "phản kháng chế độ", đòi sửa đổi nầy nọ… v.v... Ủa lại ông Trần Độ nào nữa đây? Và gần đây nhất năm vừa qua, Tướng “phản -kháng” (?) Trần Độ trước khi chết, có gửi một lá thư lên bộ chính trị CS phân trần gì đó, có đoạn: “… trước đây Tâm lý chiến của Mỹ Nguỵ đã từng khai tử tôi" … (Ý nói là phao tin đã chết). Thì ra chỉ có một ông mà chết hai lần. Lần sau nầy mới chết thiệt. Còn lần trước… dỏm ; không phải do Tâm lý chiến vẽ ra đâu; mà do quý quan An-ninh, Tình báo của ta… nhầm:

                      Cớ sự như vầy: Những ngày sau tết Mậu Thân, PĐ vẫn cung ứng 1 trực thăng H34 ứng trực nằm tại sân Tổng Tham Mưu, để thi hành mọi phi vụ cấp thiết mà bên đó cần. Hôm đó anh Trần Quế Lâm (Đế) ứng trực. Trong phi vụ tải thương ở ngoài ven đô phía Phú Lâm - Phú Thọ Hoà, ngay nghĩa trang; Lâm Đế thấy có những xác VC chết nằm rải rác, nhưng đặc biệt gần cái gò mả có 6,7 xác chết toàn mang súng K54, có vẻ như đám cận vệ , nằm quanh một cái xác nọ có vẻ là… Ông Kẹ. Anh mới về báo sự nhận xét của anh với những vị chức-sắc bên TTM. Đến khoảng ba giờ chiều cùng ngày, tôi được lệnh bay qua thêm một chiếc nữa tăng cường, để chở thêm mươi quân nhân cơ hữu của TTM đổ bộ xuống ngay nghĩa trang đó, nhằm bảo vệ cho quý vị trách nhiệm bên chiếc của anh Lâm xuống xem xét.

                      Khi tôi đáp xuống thì có 4,5 VC ở đó mang súng ngắn hoảng sợ, chạy tán loạn ra ngoài ruộng, anh cơ phi của tôi xả súng đại liên, nhưng chỉ thấy đạn bay tốc bụi đất gần chỗ mấy tay VC chạy, chứ chẳng trúng tên nào cả! Lính trên tàu tôi nhảy xuống bố trí cho chiếc của anh Lâm làm việc. Sau đó chiếc của anh Lâm rinh một xác chết đem về TTM để giảo nghiệm! Xong nhiệm vụ tôi về lại PĐ, một lúc sau Lâm Đế gọi phone về cho biết: "sau khi giảo nghiệm tử thi, lấy dấu tay... v.v... và sưu tra lý lịch, thì xác nhận đó là Tướng VC Trần Độ. Tin tức được loan truyền ra từ đó.

                      Nghe tin đó, anh Đặng kim Quy và anh Nguyễn Hữu Nhàn giật mình, hú hồn, vì biết bộ chỉ huy VC đã về vùng nầy từ lâu, mà hai anh đâu có biết; thường nhờ anh em PĐ đi bay thả xuồng đó để... bắn cò bằng súng carbine, rồi một chút đến rước về! Cũng may vì muốn giữ bí mật, nên hai anh không bị…làm thịt. Đến bây giờ lại nghe tin về Trần Độ nữa, thì ra là... bé cái lầm!

                      Tôi không dám ý kiến hoặc so sánh ngành an ninh tình báo của ta, nhưng tin-tức thời sự gần đây thấy tình báo của DoThái mới hết sẩy! Làm sao mà thu lượm được tin tức một cách chính xác ngày giờ của các thủ lãnh Hamas di chuyển, mà dùng trực thăng xịt rocket tiêu diệt từng người một! Chỉ riêng việc bắn rocket trúng phóc ngay chiếc xe là mục tiêu đang di chuyển, tôi cũng bái phục rồi. Tôi nghĩ chắc có laser hướng dẫn, nên mới chính xác như vậy; chứ trực thăng vì có độ rung nhiều và tốc độ chậm hơn khu trục, nên bắn rocket rất... rất là dễ trớt quớt lắm. Ngoài ra còn phải kết hợp tin tức về giờ giấc, lộ trình xe cộ… v.v... để cho máy bay xuất hiện đúng lúc nữa. Như vậy mới là siêu đẳng, là bậc sư tình báo chứ! Còn dân Palestine cũng không vừa gì, dể nể thật! Còn ta thì sao??? Có hay biết gì không, mà để cho bọn VC; chỉ riêng việc tấn công vào các đô thị với quy mô lớn như vậy trong tết Mậu Thân, , ắt hẳn cũng làm chúng ta phải suy gẫm nhiều lắm!

                      Bạn bè xưa năm cũ…

                      Hôm nay ngồi viết lại những dòng nầy, trong lúc hồi tưởng lại chuyện xưa của những năm từ 1964 đến 1969, tôi không khỏi bồi hồi tấc dạ, gần 40 năm rồi mà sao cứ ngở mới đây thôi, hình ảnh những gương mặt chưa một nếp nhăn, vóc dáng trẻ trung, những mái đầu xanh, những lúc kêu gọi tên tục của nhau mà chọc phá đùa giỡn, sao mà nhớ quá, sao mà thương vậy! Nhớ tất cả mọi người trong PĐ từ anh văn thư nhớ đi…và nhất là làm sao mà quên được anh em Hạ sĩ quan cơ phi, xạ thủ, cùng bay bổng sống chết với nhau trên một con tàu. Thế sự thăng trầm,vận nước nổi trôi, vở tổ đàn chim tứ tán muôn phương… kẻ mất, người còn… mà xa nhau vạn dặm!
                      Âm hưởng hai câu thơ của Vũ Đình Liên nghe sao mà thấy nao lòng:
                      Những người muôn năm cũ
                      Hồn ở đâu bây giờ?!


                      Không thể kể hết ra đây; xin nhớ đến một số người… với hổn danh mà anh em trong đơn vị gán cho vì dáng vẻ, hoặc vì sao đó do cái trực giác cảm nhận mà thốt ra, rồi chết tên luôn, khác hẳn với bí danh bí số của mấy anh Ba VC có suy tính, nghe thật êm dịu, hoặc có vẻ chân chất thiệt thà, mà "lận" mã tấu, dao găm ở trong bụng, và che dấu âm mưu thủ đoạn gian manh!

                      * Nhớ đến các anh:

                      - Nguyễn Kim Bông, "Bông Cô Tông" không rõ nguyên nhân vì sao có danh đó, lúc tôi mới về PĐ, thì đã có sẵn tên rồi, có lẽ Cô Tông là loại Bông vải (?), bên Trực Thăng còn mấy anh tên Bông nữa, không cần nhớ nguyên họ tên, chỉ cần nói "Bông Cô Tông" là biết ngay ổng Không Đoàn Trưởng.

                      - Anh Nguyễn văn Lắm, "Lắm U-Nu", vì anh có gương mặt… lãnh tụ, giống Thủ Tướng 0U –Nu (?) của Miến Điện. Tác giả đặt tên tôi là Cua Đinh đây rồi! Anh Lắm à. Dù nhớ lời anh nói, nhưng thời gian "bị tù cải tạo" vì mợ cả Đọi thường trực ở trong bao tử, nên tôi cũng ăn nhiều "đồ" độc lắm ("đồ" là tiếng trong miền Nam, chứ không phải tiếng Bắc đâu nhé): nhái qué chuyện thường không kể: Con muổm nướng lên gọi là tôm càng bay. Con rít rừng to màu xanh đen nướng lên, ăn mà nhớ tới bang trưởng cái bang Hồng Thất Công (trong truyện Kim Dung). Cắc kè ngon như thịt gà dễ gì kiếm. Rắn mái gầm nếu gặp, nó có… gầm lên xin tha mạng, cũng không được ân xá. Chuột rừng hoạ-hoằng mới gặp.

                      Coi vậy chứ tôi ăn uống cũng có "trình độ" lắm nghe anh, chuột trong trại thật to, lông thưa có lát chút đỉnh, chắc già yếu rồi, khi nó thấy người ta cứ thủng tha thủng thỉnh đi, chứ chạy… không nổi là tui chê! Cùng với mấy con bò cạp nghĩ chắc là không có thịt thà bao nhiêu nên tôi không rớ! Vì mình ở trên rừng nên không gặp con cua đinh, chứ nếu gặp tôi đâu có ngán. Cái đời mình lúc đó kể như… cùi rồi sợ gì lở. Anh thấy toàn là đồ độc không? Mãi đến bây giờ, sáng nào ngủ dậy tôi cũng nhìn xuống bàn tay xem có móng nào rụng chưa? Xin thưa chưa anh ạ! Chắc cở.. 40 năm nửa lận!!!

                      - Anh Vũ quang Triệu, về làm PĐT 211 năm 1969, có tên "Triệu Voi" , hiền lành chân thật, to lớn, khoẻ mạnh đến độ thuở còn bay H19 lúc máy bay bị servo off , tay lái nó nặng kể gì xiết, mà anh vẫn ung dung đáp nhẹ nhàng, và có lần nắm cái núm indicator của "Chân trời giả". để reset; anh kéo… nhẹ thôi, mà nó sút ra, nên anh có biệt danh từ đó, chức vụ cuối cùng mới có… Không Đoàn Trưởng, người mà nhà văn Dương Hùng Cường coi là có thiên phú, vì biết lái máy bay trước khi anh biết cởi… xe đạp (??!) Về sau có anh Nguyễn văn Thành bay UH1 vóc dáng và gương mặt hao hao giống ảnh, nên được “ăn theo” hổn danh là "Thành Voi" !

                      - Anh Nguyễn Thanh Cảnh, tướng đô con, hiền lành nhân hậu, có tên "Quách Tỉnh"; anh là người Huế nói giọng nghe còn nặng. Tôi nhớ hồi anh còn là PĐ Phó 211, đầu năm 1969, trong một phi vụ đổ quân, anh bay chiếc chỉ huy C&C, tôi là Copilot, khi thám sát bãi đáp, hoặc địa điểm nào nghi ngờ, anh ra lệnh cho cơ phi ném khói đánh dấu, để cho gunships bắn phá dọn bãi.
                      - Đôi đi.
                      Anh cơ phi nhanh nhẹn ném hai quả trái màu, rồi một chút nữa lại nghe:
                      - "Đôi" đi !

                      Lại "một cặp" khói màu liệng đi, mỗi lần có lệnh "đôi đi", là anh ta liệng một cặp, ... một cặp bay ra. Tôi không để ý sao anh cơ phi xài sang vậy, đến một lúc lâu anh ta báo:
                      - Khói màu mình còn ít lắm Th / tá
                      - Tại sao không đôi mỗi lần một quả thôi?

                      Lúc bấy giờ anh ta mới bật ngửa ra: "Đôi" tiếng Huế có nghĩa đi là "ném đi", hoặc tiếng miền Nam có nghĩa là "liệng đi", hoặc "quăng đi" ; mà anh cơ phi hiểu lầm "đôi" là hai, nên anh ta... chơi ngay một cặp!

                      Trong Phi Đoàn đa số pilot đều biệt danh, có đến gần ¾ . Như các anh LỘC:
                      - Nguyễn Hữu Lộc, "Lộc Bừa" vì anh có hàm răng hơi chênh một chút, qua bay cho biệt đoàn 83, tiền thân PĐ219 sau nầy, anh là PĐT một PĐ UH1 ở Biên Hoà, anh bay bổng… khỏi chê! dáng vẻ cao ráo hào hoa. Thuở còn hàn vi anh cùng với một số anh khác như K. Phát, anh Ninh, Ông Kim Sanh… và nhiều người nữa… tôi cũng có mặt, thường hay chung vào mấy cái phòng trống mà cờ bạc. Điều đặc biệt ít thấy khi nào anh thắng lắm! Nghe đâu bây giờ anh ở Cali, gần thiên đàng hạ giới Las Vegas, không biết anh có thường lên đó để ân oán giang hồ không? Đừng làm "thầy… cúng” nữa, anh Lộc nhé! Nếu không đi thường, thì lâu lâu cũng nhớ phải duy trì khả năng chứ, đã biết rồi mà để lâu nó quên… uổng! Miệng ăn mắm ăn muối nhắc bậy, anh bỏ qua cho!

                      - Lê văn Lộc, "Lộc Bụng" vì anh có cái bụng của bà bầu bốn tháng; anh đã mất tại Vùng 4, vì SA7.
                      - Anh Lộc Khò, nghe danh không thôi cũng đủ biết, rất dễ ngủ, hể “xểnh ra" là ngủ, đi biệt phái vừa mới chợt tối, anh em còn đang đùa giỡn, cãi nhau ỏm tỏi, mà đã nghe tiếng khò khò của anh rồi, vì vậy anh em mới đùa rằng: "thằng nầy nếu mới cưới vợ, ngay đêm động phòng mà tân giai nhân còn đang nhẫn nha trút bỏ đồ phụ tùng, tế-nhuyển nầy nọ, quay lại là anh đã khò mất rồi, đối với anh có lẽ… ngủ là đủ rồi, nên hiện thời anh vẫn còn "ở vậy”, chưa có chị nào nâng chăn sửa chiếu cả. Anh rất hiền hay cười cười chẳng mếch lòng ai, hiện anh còn kẹt lại ở VN.

                      - Anh Phạm văn Lộc, "Lộc Đại Hàn" anh từ Vùng 2 đổi về PĐ 211cuối năm 1968, anh giống đến nỗi là Đại Hàn thứ thiệt. Có một lần nọ họ còn tưởng là phe nhà, nên đã xổ tiếng Triều Tiên líu lo với anh một lúc lâu. Sang đến Mỹ vẫn còn nặng nợ với nghiệp cầm… cần lái máy bay, nên anh cầm tiền cũng... nặng! Mới gặp lại anh, bây giờ đầu bạc trắng nên anh còn giống Đại Hàn ác liệt!

                      - Anh Lộc Đại liên, có tật nói hơi cà lăm, là C/U Cơ phi, anh chuyển về PĐ đầu năm 1967 , năm sau không rõ chuyển ngành đi đâu,và đến nay không biết tin tức gì về anh.

                      - Còn một anh Lộc nữa, mà tôi quên mất họ, có tên là Lộc “Nức Trứng” là pilot, dáng người trung bình, vui vẻ trẻ trung, chuyển về PĐ 211 lúc đóng ở Bình Thuỷ năm 1968, để mô tả cái gì quá mức là anh xài chữ "nức trứng" ; như: "ngon nức trứng", "đẹp nức trứng" …, anh xài nhiều đến nỗi mang danh đó luôn. Anh về một thời gian ngắn, rồi lại chuyển đi nơi khác, từ đó đến nay chưa biết tin tức gì về anh.

                      - Anh Robert Quang, là Trần xuân Quang, còn được gọi là "Má Robert" nữa! Tôi và hầu hết anh em trong phi đoàn rất kính mến anh. Chẳng những anh bay hay êm ái nhẹ nhàng, kỷ thuật giỏi mà tính tình hiền hậu đạo đức, biết lo lắng và sống hòa mình với anh em. Dù kêu là Má Robert chớ không phải là anh "lại cái”(gay) đâu. Nhớ lúc Tết Mậu Thân tất cả bị cấm trại, nội bất xuất ngoại bất nhập, là Trưởng Phòng Hành Quân, anh lấy thức ăn trong Ration C chế biến lại, kho nấu với rau cải các bạn đi bay ở các tỉnh đem về, ăn với cơm gạo sấy, thật vừa miệng đậm đà, tối lại còn cho ăn chè đậu. Nên anh em thấy công việc của anh như một bà mẹ mới thân mến gọi anh là Má Robert! Nghe nói thời kỳ bị "tù cải tạo" ở ngoài Bắc, anh bị kỷ luật (cùm) vì cái tội thương anh em trong tổ, anh là tổ trưởng dám nhổ sắn trộm của trại, để "cải thiện" cho anh em! Được biết bây giờ anh sống hạnh phúc an vui cùng gia đình bên ÚC, thuộc hàng bô lão, khoẻ mạnh và béo tốt hơn xưa. Tôi quên hỏi anh xem có phải nhờ thịt con Kangaroo không?

                      - Anh Nguyễn Thanh Tùng, dáng vẻ mảnh mai, nhỏ con mặt mày non choẹt, nên được tên là "Tùng Lỏi", không dùng chữ "con", vì kỵ huý với anh Minh Con. Tùng Lỏi là đồng-phạm với tôi trong vụ đè…Taxi, mà nếu xét kỹ ra, anh là chánh phạm mới đúng, vì anh là người chỉ hướng tôi quẹo theo, không nghe người ta nói ma dẫn lối, quỷ đưa đường sao? Đùa với Tùng chút chơi, chứ thật ra nếu anh thiếu bình tĩnh, để phụ giúp tôi, thì giờ đây tôi không phải mồ đà xanh cỏ, mà là “cồn rêu xanh” rồi!

                      - Anh Cao Văn Tư, hiền lành chất phát, anh bay rất... “độc”, có mái tóc xụ một bên giống chicken wing nên mang danh "Tư Cánh Gà"! Anh về bay cho ông Tổng Tham Mưu Trưởng. Có hôm nghe anh trên tần số, Lâm Đế gọi chọc:
                      - Ê, Cao Văn TƯ ơi, hôm nay rãnh hả, mầy chở anh mầy đi chơi đâu đó vậy?
                      Anh sợ, đáp ngay:
                      - Thôi đừng nói bậy nghe!

                      Vì anh cùng họ với Đại Bàng mà Lâm Đế đâu có biết là Mặt Trời đang ngồi ghế Copilot! Anh Tư “nhột" quá, len lén tắt radio, vì sợ Lâm Đế nói bậy tiếp, một chút lại thấy Mặt Trời mở radio lại và tủm tỉm cười, chứ không nói gì. Anh Tư kể lại vậy.

                      - Anh Nguyễn Chánh Tâm, "Tâm Cóc", không phải da mặt anh sần sùi như con cóc đâu, mà trái lại mịn màng đẹp trai nữa, nhưng anh rất ít nói nên có câu "cóc mở miệng" và có gương mặt chữ điền giống cựu xếp, đàn anh Lân Cóc.

                      - Anh Phạm Thành Quới, tính tình cẩn trọng, ăn nói chậm rãi, thật thà, anh kể chuyện gì cũng có đầu có đuôi, chứ không đi đâu mà vội, không ngắn gọn vắn tắt, ăn nói giống như mấy ông tiên chỉ thời xưa ở trong làng xã, mà cao nhất là ông Cả, nên anh em cứ kêu "Cả Quới" đến bây giờ.

                      - Anh Phan Tất Đắc, mặt mày trắng trẻo mịn màng, bụ bẩm giống như hình em bé trong hộp sữa Babilac, nên còn gọi là "Đắc Sữa" (anh đã bị nạn mất cùng với Tướng Đỗ Cao Trí ở Tây Ninh). Một hôm anh bay chung với anh Nguyễn Văn Hảo, đang bay thình lình anh Hảo chỉ kịp trân mình nhéo vào tay cuả anh Đắc, điến hồn hét:
                      - Caribou!

                      Một chiếc Caribou chần dần xẹt lên ngang qua bụng. Hú vía. Chắc chẳng có "ma” nào thấy nhau cả! Nghe anh Đắc kể lại và thấy anh Hảo cao, tay chân lỏng khỏng giống thân hình chiếc Caribou, nên mang danh "Hảo Caribou" từ đó. Anh là Sĩ quan Hành Quân của PĐ211, bay khá… “chì”. Anh từng bị cánh quạt đuôi của UH1 hư mà đáp an toàn. Tội nghiệp đi sông đi biển không chết mà chết lổ… chân trâu nhà tù VC ngoài Bắc! Đuợc biết vợ con anh đang ở Cali.

                      Tên Trọng thì có:
                      - Nguyển Tấn Trọng, "Trọng Xì", vì anh to con và rậm râu gíống Mễ. Sau nầy anh biệt phái qua Biệt đoàn 83,và cuối cùng chuyển qua Chinook, bị bắn rớt ở Tàu Ô An Lộc, bị bắt và được trao trả tù binh, cái số anh chỉ bị tù một lần thôi, nên anh và gia đình đã đến Mỹ năm 75
                      - Nguyễn văn Trọng, "Trọng Khẹt", dáng vóc trung bình, lì lợm, bay giỏi và siêng năng, chắc thuở nhỏ bị sâu răng nên anh cứ… hít hít rồi thành tật, cứ nghe khẹt khẹt hoài. Anh là PĐT UH1 Ở Biên Hoà, bị đi tù và chết ở trại Hỏa Lò Hà Nội. Tôi có nghe nhiều bạn đồng tù kể lại: anh là một trong nhóm khoảng trên 20 người chống đối trong nhà tù VC, buổi trưa anh thường leo tường đi đánh mấy tên Ăng-ten ở các buồng khác trong trại Hà Nam Ninh. Anh bị VC nhốt cách ly ở Hỏa Lò đến chết!

                      Các chiến hữu nào có biết rõ về Trung Tá Nguyễn Văn Trọng và nhóm nầy; xin kể lại những hành động ngoạn mục, hào hùng của nhóm. Rất cám ơn! Nghe đâu nhóm có nhiều thành phần: có anh là giáo sư Trung học Pétrus Ký, có anh cảnh sát độc nhãn, được phong là Tướng Moshe Dayan (DoThái)...v.v... Tôi rất thân với anh, được biết vợ và hai con gái của anh được qua Mỹ.

                      - Anh Trần Quế Lâm, "Lâm Đế", anh là PĐT cuối cùng của PĐ211, thay anh Nguyễn Thanh Cảnh lên chức vụ cao hơn. Trong những năm 1965, 66 phi trường Bình Thuỷ chưa có PĐ thường biệt phái 2 chiếc H34 cho Quân khu 4, phi hành đoàn tối về ở trong một building vãng lai ngoài phố, gần bến Ninh Kiều; Anh chàng Lâm nhà ta thả rề rề ra mấy chỗ bán khô cá đuối, khô mực nướng, cóc, ổi… với những cái bàn gỗ và chiếc ghế con con, anh thoải mái an vị kêu vài xị đế loại ngon, ngồi nhâm nhi và đưa cay bằng miếng khô, miếng ổi, anh chê la-de nó lạt.

                      Đúng là dân chơi thứ thiệt, anh nhìn nhận có vô chút đỉnh, thì lái máy bay nó mới đằm! Với đám pilot trẻ thì xem đây là một hiện tượng…nên có hổn danh Lâm Đế từ đó. Tôi và anh rất thân với nhau. Nhớ lại những năm 68 , 69 hằng ngày đều có hợp đoàn bay hành quân trực thăng vận cở 10 chiếc. Sau khi đổ quân tất cả về nằm chờ (standby) ở các phi trường nhỏ của Tỉnh lỵ. Cơm trưa xong xuôi mới tụ tập nhau đấu láo, chọc phá nhau. Có lần anh kêu tôi:
                      - Cua Đinh ơi, tao mới vừa tìm được tiểu sử của mầy, lại đây nghe tao đọc nè.
                      Anh tằng hắn lên giọng:
                      - Thiều công tử vốn giòng hào kiệt
                      - Xếp bút nghiêng theo việc kiếm cung
                      Nghe được lắm! Rồi anh lại tiếp:
                      - Thiều tiên sinh vốn người phương Nam, sinh trưởng tại tỉnh Bến Tre, quận Ba Tri, huyện Giồng Trôm, hạt…Cù Lao Rồng (quê của mấy người... cùi), tên cái hạt nầy phải đổi ra tiếng Nho nó mới hay; Rồng là Long rồi, còn Cù lao chữ Hán là gì ta?
                      Một anh bạn nào đó nói:
                      - Cù lao là Lẩu đó. Bộ không nhớ đi nhậu, kêu một cái cù lao ăn với bún đó sao?
                      - Đúng rồi! Hay… hay! Cù Lao Rồng tức là Lẩu Long. Vậy là mầy ở hạt "Lẩu Long" đó nghe Cua Đinh!

                      Cả bọn cười cái rần! Đang quê độ, phát… nực cũng tức cười vì kiểu kẹt… chữ Nho nầy. Sau khi nghe giảng nghĩa…đùi, chữ Lẩu ở đây thật là… “đắc địa”! Sau 75, hơn mười lăm năm tôi mới có dịp gặp lại anh bên Mỹ; câu đầu tiên anh cười hỏi:
                      - Mầy định chừng nào về thăm lại hạt Lẩu-Long của mầy đây?

                      Anh thường điện thoại cho tôi, kể tên một số KQ quen đã nằm xuống, và khuyên tôi nên bớt đi cày, retire sớm mà hưởng đời đi. Nhưng rốt cuộc, tôi bàng hoàng, vô cùng xúc động khi nghe tin anh mất bất ngờ vì đau tim! Đến bây giờ tôi vẫn thường nghĩ và nhớ đến bạn lắm, Lâm Đế ơi!!!

                      Có những anh không có nét gì đặc biệt để chọc mà vẫn không tha; như anh Lê Tiết Chinh, bảnh trai, hiền lành, nho nhã... cũng bị kêu là "Lê Mất Trinh", rồi lại anh Đặng Kim Quy, con người đạo mạo như một nhà giáo, đàng hoàng, ít có ồn ào, thường được gọi là thầy Quy mà cũng bị... khều ra, hôm nào nhẹ nhàng thì:
                      - Ê , bi , xi (a,b,c) bắt thầy Quy rang muối!

                      Làm anh cũng phải phì cười! Còn có hôm anh Lâm Đế cao hứng, thì chọc anh Quy bằng một câu 7 chữ nghe thật đậm-đà, mà tôi không dám viết ra đây vì thuộc loại cấm …đàn bà. Dù cho có vị nào bảo đừng ngại tới… luôn đi bác tài, cứ viết ra đi, vì có ai còn là con trai hay con gái nheo nhẻo nửa đâu, không răng mô! Thật tình không dám, chỉ xin gợi ý: Đây là câu đối lại chan-chát với câu gì, mà trong sách xem tướng có nói;
                      - Không có Mao chủ tịch, nghèo tận mạng (Âm h…vô mao, bần chí tử!)

                      Anh Quy xin lỗi… viết lại anh Quy có còn nhớ không? Nếu anh không nhớ được thì chẳng sao, hãy sống thêm 30 năm nữa, rồi anh đi tìm Lâm Đế mà hỏi nhé!
                      Còn nhớ… nhớ nhiều, và nhớ đừng để quý vị bảo:
                      - Thôi đủ rồi… Tám; nên tôi xin chấm hết ./.

                      CUA ĐINH
                      (10/2004)

                      Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-07-2017, 07:35 PM.
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment

                      • Tinh Hoai Huong
                        Senior Member
                        • May 2009
                        • 1081

                        #191
                        Trên Chiếc Nón Sắt... &


                        Trên Chiếc Nón Sắt...
                        & Vòng Couronne Mortuaire Cườm Đen Băng Tím

                        (Tưởng nhớ về bạn LVT đã vĩnh viễn ra đi: Mar.14.72)
                        * * *

                        Từ nay đã thiếu vắng anh Trọng! Trọng đã đi qua rồi. Xong rồi! Hết rồi tận cùng bàng hoàng kinh hoảng! Trọng dọt lẹ quá! Bây giờ anh thật sự vô cùng đơn độc. Đơn độc kinh khủng đúng với nghiã của nó! Chiến sĩ ấy lạnh lùng hững hờ quay lưng, xoá bỏ tất cả mọi thứ trên bàn cờ (khi cuộc chơi chưa kết thúc). Trong binh thư không dạy anh buông súng gác mũ, vì đấy là người bạn đời thân thiết nâng niu ấp yêu bất khả ly thân của Lính. Thế sao Trọng đành vứt mũ sắt, buông súng bỏ cuộc? Không đầy bước chân, anh đã vụt nhảy qua bên kia bờ vực thẳm, đột ngột trở về cát bụi phù dung trong lòng đất mẹ.

                        Anh ra đi mang theo vết dạn xuyên thù vùi xuống dưới vùng cỏ non! Trọng đã từ giã bạn bè ra đi giữa hai lằn đạn, chẳng thèm thấy bụi lau sậy lô xô bông xoay xoay bay trắng đồng quê. Trọng không còn thấy tre la ngà sọc xanh da vàng rì rào mọc bên suối, suối nước uốn quanh róc rách chảy xuôi đập vào mô đá rêu rong, tạo thành những bọt nước trắng xoá, òa vỡ rồi chìm khuất. Anh không nghe cây cối bực bội cựa mình lao xao suốt tháng năm rồi!

                        Trọng như chiếc lá xanh tươi mơn mởn, đột ngột bị bứt ra khỏi cành, biến đổi Trọng từ trạng thái sinh tồn, sang trạng thái tử quy lạnh giá đau buốt. Anh đã bị chiến tranh lừa mình hụp xuống con đường tử tuyệt sâu hun hút không có lối lên. Trọng gửi xác thân trên quê cha đất tổ, mặc triền cỏ ướt sũng phủ đầy nước sương, nước mưa, nước mắt tình nhớ, tình bạn, tình quê đan quyện bện chặt đan vào nhau mỗi lần họ ghé qua mồ Trọng, họ nghẹn ngào tiếc nhớ, nức nở khẽ khàng đặt lên nấm mộ anh bó hoa tươi. Anh không thấy bao vòng couronne mortuaire cườm đen băng tím có những hàng chữ phân ưu: “Vô cùng thương tiếc”… “Thành kính phân ưu”… hoặc “Chúng tôi vô cùng đớn đau…” làm tâm hồn bạn bè ngậm ngùi, đau đau mà tột độ nhức nhối, rã rời, xúc động mãnh liệt!

                        Trúc phẫn nộ suy nghĩ miên man. Trọng biết yêu nồng nàn tha thiết từ tấc lòng: anh yêu gia đình cha mẹ, anh em, bà con, bạn bè đằm thắm cơ mà! Nơi quê hương nầy cách đây hơn hai mươi sáu năm, Trọng đã sinh ra, lớn khôn từ bầu sữa mẹ ngọt ngào. Cha mẹ anh chắt chiu từng vồng sắn, vườn rau, ao bèo, hồ nước, nơi có khúc sông bên bồi bên lở, con đò xuôi ngược lên xuống qua dòng lưu thủ luân lưu xuyên khắp mọi mạch nguồn chảy ngầm trong lòng đất. Trước cuộc tương tàn đẫm máu quyết liệt, anh không nở ra tay giết hại một ai. Cho dù Trọng đã biết rất rõ, (kể cả người chú tên Linh (tự là Sáu) cùng chung huyết thống với mình. Tất nhiên Trọng đã mất mạng. Trọng là chứng nhân dòng họ đối nghịch đang bôi nhọ từng trang sử tương tàn trong cảnh nồi da xáo thịt.

                        Trọng yêu luống khoai vồng sắn, luôn giữ gìn từng tấc đất ông cha truyền lại từ ngàn xưa. Trong năm điều: Nhân. Lễ. Nghĩa. Trí. Tín, thì Trọng giữ chữ Nhân đứng ở hàng đầu. Nào có phải anh là người bội bạc, dã man tàn ác muốn cầm súng đi xâm lăng kẻ khác đâu! Khốn thay điều ước nguyện duy nhất của Trọng: "Thiết tha mong đợi ngày an bình, ấm no hạnh phúc thực sự, mang canh cánh bên lòng niềm khát vọng kỳ phùng, để khi tàn chiến chinh anh có thể trở về sống trong mái nhà ấm áp xưa. Anh sẽ ngồi dưới giàn hoa thiên lý cùng ba mẹ, anh chị em, bạn bè tri kỷ, và có thể có thêm một cô bồ be bé xinh xinh; hầu mọi người hàn huyên tâm sự… cho vơi những ngày thương nhớ”.

                        Thật, chẳng bao giờ Trọng muốn bất hiếu với ba mẹ, khi anh đột ngột lìa đời thế nầy. Trọng không ưa rứt ruột mà chít vành sô tang trên mái tóc xanh, để mặc áo quần đại tang phục sô gai may bằng tay. Khi mẹ cha ngoài trăm tuổi, Trọng sẽ không thích đội mũ cuộn bằng rơm, lưng thắt dây làm bằng bẹ chuối khô. Nếu ngày cha lìa đời, anh sẽ phải quỳ lết, đi cong người chống gậy tre. Mẹ mất, anh chống gậy gỗ vuông. Em gái sẽ mặc vải sô gai buông gấu, đội vải sô gai phủ mặt. Hàng bậc cháu thì chít khăn tang đỏ. Hàng chắt là chít khăn vàng. Hàng chút quấn khăn xanh.

                        Trước di ảnh cha mẹ già tóc bạc răng long, Trọng sẽ đặt bát nhang trầm nghi ngút khói. Hướng đông bình hoa, hướng tây đĩa trái cây. Trọng sẽ vái hai vái tượng trưng cho âm dương nhị khí. Hai hàng nước mắt tuôn trào, tay anh sẽ run run rót ly rượu tăm, lạy tạ công ơn sinh thành dưỡng dục, kính thờ cha mẹ trước khi anh nhắm mắt xuôi tay, Trọng khẽ nói câu của Léoparde:
                        - "Ôi! Đất Mẹ êm ái. Nguồn sống đã cung cấp cho con. Nầy đây con xin trả lại".

                        Tuyệt nhiên Trọng không dám để cha mẹ phải than: “Lá vàng còn ở trên cây. Lá xanh rụng xuống. Trời ơi là Trời!!!”. Có phải giờ đây anh tột cùng đau xót nghẹn ngào câm nín, ngồi trước trên bàn thờ, Trọng muốn nói như thế hết sức? Phải không hở anh? Anh nằm xuống vĩnh viễn quên đi quá khứ, quên hiện tại và tương lai khi quê hương điêu linh, buồn đau. Không trách nhiệm. Không đùm bọc. Không yêu thương. Đầy thù oán. Chém giết. Khổ đau. Lỡ lầm trách nhiệm. Lỗi lầm trong cuộc: Giữ Nước và Giành Nước tột cùng kinh khủng! Có điều gì vượt quá sức con người. Nó hút Trọng vào điệu quay chóng mặt, tận diệt niềm khát vọng tái tê. Sự căm thù ác độc hung hăng giữa - Người với Người hiện ra rõ rệt. Lòng Trọng bừng bừng ngọn lửa mến yêu quê hương xứ sở, thân nhân, tha nhân, và năm điều "từ Nhân. Lễ. Nghĩa. Trí đến Tín" kia. Khi kẻ khác lòng hừng hực cuồng quay đi từ Bắc vô Nam đốt lên ngọn lửa xâm lăng quyết không buông.

                        Thì ra tử thần thật chí công vô tư không thiên vị anh hùng kiện tướng. Không nể mặt ai! Quê hương hiền hòa, nay buồn thảm, lặng thinh, nhận thêm một nấm mồ chưa xanh cỏ. Chính Trọng, người chiến binh hiền lành, oai dũng, trẻ trung, dĩnh ngộ tự tin, tự trọng, mưu cầu nghệ thuật vị nhân sinh, dạt dào tình cảm, không thích súng ống đạn dược. Anh trung thành nồng nhiệt với chiến hữu, không ngần ngại chung vai góp sức cống hiến tuổi xanh, dâng tình yêu cho nước, vì quê hương xứ sở anh đã sống quên mình. Đời Trọng dầm mình trong chiến tranh, cuối cùng chấm dứt cuộc sống thảm thiết.

                        Sinh nghề tử nghiệp chưa đúng, thật ấm ức hậm hực khi tên anh đã ghi vào danh bạ quân tử. Đau đớn thay! Nơi Trọng vùi tấm thân xuống dưới ba tấc đất, trong chiếc quan tài kẽm phủ kín, có lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ đậy lên. Có tấm thẻ bài ghi tên: Lê Văn Trọng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, kèm Anh Dũng Bội Tinh và Nhành Dương Liễu, cấp bậc cố Đại Úy; đã có dấu đạn xuyên thù trên chiếc nón sắt vấy máu, vẫn hằn sâu dấu tích những viên đạn diệt nhân lỗ chỗ. Chiếc nón sắt thân thương bây giờ đã lìa xa trên đầu Trọng, bị đặt úp nơi bàn thờ nghi ngút khói hương. Cho dù có nước mắt bao người thân tuông chảy, vẫn không bao giờ kỳ cọ gội rửa sạch dấu ấn lỗ thủng hờn căm rỉ máu triền miên.
                        ***

                        Mộ chí chôn người thân chưa kín cỏ. Bỗng một hôm thêm một lần do bị bọn dã nhân pháo kích, đã nhẫn tâm cày xới nấm mồ của Trọng tanh bành, tả tơi. Trọng bị móc thây ma lên. Thối um! Họ hàng thân quyến của Trọng vừa khóc vừa rên, họ lò mò nhặt từng món thịt, từng món xương, từng món… để ráp nối hình hài. Thân thể anh thiếu sót thô vụng, cái mất cái còn, không toàn vẹn tấm hình hài sình thối, trương phình, đụng vào thì rửa nát bầy nhầy, chân một nơi, tay một ngã, đầu một góc.

                        Trọng nào có biết cha mẹ, đàn em nhỏ đã khóc đỏ máu mắt, vẫn chối bỏ sự thật cay nghiệt phũ phàng. Họ không thể đối diện với sự hủy diệt thân thể anh lần cuối cùng đầy bất nhân. Anh ôi! Họ tưởng nếu Trọng có sống khôn thác thiêng, anh nên kéo cha mẹ và đàn em xuống mồ sâu bít kín tối tăm, không cho họ trông thấy điều tàn nhẫn thêm. Hơn là để họ sống lụi hụi, lù đù, buồn xo, dúm dó, hậm hực, ấm ức trên thế gian, mà chứng kiến cảnh đau đớn xé lòng; (khi nhìn thấy thây Trọng thêm một lần nữa tan nát tả tơi nơi cõi đời ô trọc). Có đâu cảnh cha mẹ già mãi hoài khơi lại vết thương không khép miệng, khóc con trẻ bội bạc bỏ cha mẹ mà đi…

                        Trọng nỡ lòng nào từ bỏ cha mẹ, lạnh lùng đơn độc ra đi. Mà lại ra đi biền biệt vào vùng cỏ non thế không biết!? Bởi vì cha mẹ đã phổ tình yêu tuyệt đỉnh vào từng thớ tí nhau, tạo thành một Trọng đẹp như vị thiên thần, anh dần dà lớn lên thì hào hoa, thanh cao, trí thức, thông minh, anh có đời sống tràn đầy sinh khí, dồi dào sức sống. Anh tao nhã thanh lịch, khả ái khi còn sống, và lưu danh thơm sau khi lìa đời. "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng" mà. Chứ họ nào dám chứng kiến anh đã một lần oan khiên dẫy chết rồi.

                        Cay đắng xiết bao! Họ không dám nghĩ tới ngó anh lần thứ hai, chỉ đứng ù lì như trời trồng trơ mắt chứng kiến đống xương thịt bầy nhầy, tanh hôi ruồi bu kiến đậu, bọ rúc trương sình kia: chính là đứa con ruột ngoài hai mươi sáu tuổi: đã có nhiều lần cha mẹ bịn rịn lưu luyến tiễn đưa con hăng hái ra chiến trận, con hiên ngang đi thi hành bổn phận nghĩa vụ làm trai. Và mỗi lần nơi biên thùy xa xôi Trọng hân hoan về phép vui vẻ thăm nhà.

                        “Xin cha mẹ tha lỗi cho con, vì sự bất hiếu trót lỡ lầm qua mặt ra đi trước cha mẹ, để cha mẹ đau đớn cúi đầu, gục mặt rơi nước mắt vì con trẻ hoài mãi thế nầy”! Có phải anh muốn nói như thế lắm không? Phải không anh? Câu: "Ce dernier soupir de ma vie, je le garde pour aimer", (Lamartine) hoặc câu: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng"; với Trọng giờ phút nầy hoàn toàn rỗng tuếch. Vô nghĩa. Dù hiện tại buốt tê, lạnh lẽo, hoặc an lành đang nghiêng mình trên dĩ vãng, hiện tại đầy cay đắng, đau khổ? Trọng thật sự vĩnh viễn ra đi, như con đò khuất dạng sau đám cỏ lau sình lún; như con tàu suốt biến vào vùng dĩ vãng, khuất xa góc trời tao loạn mù mịt khói súng mất rồi.

                        Trọng vĩnh viễn nằm xuống một mình, anh soãi đôi tay ôm trọn từng cục đất quê hương vào trong lòng; khi bạn bè còn oai dũng chiến đấu bên nhau thế nầy. Hỡi anh ôi?! Hoá ra… Trông điệu bộ Trung-úy Đức có mái tóc bạc phếch bụi phong trần, mặc áo flight jacket xệ vai, anh hóm hỉnh giả vờ khậc khưởng làm người say, nách anh cặp vỏ chai rượu Martel, mơ màng ngâm mấy câu thơ tình. Các bạn không thể nhịn cười vì lối diễu ra trò ấy. Sự quyến rũ tuyệt vời nầy làm các bạn mê anh.

                        Thế mới chết. Bạn bè lại sửng sốt bừng bừng mặt tím, xôn xao bàn tán về cái chết đột ngột cuả Trọng, rồi cay cay uống từng men đời say túy lúy. Đã có nhiều lần bạn với Trọng chuyền tay nhau từng điếu thuốc dỡ ngọn!? Bao lần sau tác chiến sống sót an toàn trở về đơn vị, họ vui mừng nâng ly rượu trên tay chúc tụng nhau rồi!? Hay là có lần đầu mà chẳng còn lần cuối!? Tên gọi thân mến cuả những người lính dần dà mất lần lần đi đâu hết? Mất lần theo bóng tối kinh hoàng, chìm sâu vào miên viễn rồi ư!? Cái chết của chiến binh từng xông pha ngoài sa trường giữa hai lằn đạn sát đầu tơ kẽ tóc, thì thỉnh thoảng họ có họp mặt, để “dzăn nghệ dzăn gừng” ti tí, cho đời lên hương chút xíu, ngỏ hầu xóa tan bao nỗi... Cũng vui mà.

                        Vậy, điều tôi muốn nói: Xin Đời rộng lượng bao dung, đức độ, nhân ái và vị tha cho người Lính Thiên Lương (nếu họ có sơ sót, có sai phạm tí lỗi lầm, bởi nhân vô thập toàn)! Xin hãy mến yêu Lính. Hãy thương Lính. Họ là những công cụ, là sản phẩm của chiến tranh. Trong cơn đau buồn tột độ nào đó… họ có quậy phá tưng trời, do cuộc vui lụi tàn đôi khi men nồng lên, để lại trong lòng họ dư âm trống vắng, xót xa, phiền não vô tận. Có thể nay mai sự bất hạnh tràn đến, thì đấy không là điều thất trách, thất thố cuồng loạn lắm đâu.
                        ***

                        Trong tiệm ăn vẳng tiếng đàn hạ uy cầm tha thiết đẩy nỗi buồn phiền, băn khoăn, tiếc thương những người bạn xấu số đã ra đi chợt dấy lên trong lòng bạn bồn chồn ray rứt. Bạn bè dùng rượu đè nén bi thương nội tâm xuống, họ dùng rượu khơi dậy lòng tiếc thương vô vàn, mãi mãi là niềm tiếc thương sâu thẳm, ngút ngàn dâng cao! Đồng thời, họ dùng rượu hầu đốt lên niềm vui mừng may mắn còn ngồi bên nhau, lúc chiến tranh tàn khốc vờn quanh con người và ngang nhiên đi giữa cuộc sống, lửa bạo tàn đang đe dọa từng nhân mạng.

                        Mấy bạn ngồi bên nhau trong bàn tiệc nhỏ, họ từ nhiều vùng đất xa xôi khác nhau, có phong tục tập quán khác nhau, suy tư và tình yêu chẳng giống nhau. Nhiều giọng nói trầm ấm, ngọt ngào, hồn nhiên, cũng không ít có giọng nói gắt gỏng, hoặc sảng khoái cười ha hả mang dấu tích Mẹ Quê Hương Việt Nam ba miền: Trung. Nam. Bắc rì rào giọng nói ấm nồng, súc tích, thân thương đầy âm giai tuyệt diệu, pha hương sắc đặc biệt trìu mến riêng của mọi miền.

                        Họ hoàn toàn riêng lẽ, ánh mắt ngời sáng vui vẻ không ngừng ánh lên nỗi ngạc nhiên, qua câu chuyện vui buồn, trầm lắng, lịch duyệt, dí dỏm, hóm hỉnh không ngờ. Nụ cười họ nở trên khuôn mặt nhuộm nắng gió khuya chiều sâu lắng nỗi niềm ưu tư âu lo chung. Họ không có gì hơn là: gieo tiếng cười, pha nước mắt ân tình, làm quà tặng chân tín trao nhau, ngỏ hầu san sẻ niềm đau quặn thắt dại tê trong thời chinh chiến, chia nhau ly rượu nồng, tách cafe đắng, hay điếu thuốc Quân Tiếp Vụ. Và, trìu mến gửi tiếng lòng thì thầm gọi mời nhau, trầm lắng ngậm ngùi rung lên từng đợt nấc cuồng quay trên mỗi phím loan.
                        ***

                        Nhớ về anh quý trọng, tôi xin thay mặt bạn Tuyết Ngọc Trúc ghi lại mấy vần thơ:

                        Sau Bảy Lăm bỏ quê hương dấn bước
                        Giạt trôi về Mỹ quốc chốn xa xăm
                        Đêm từng đêm em ngồi khóc âm thầm
                        Đời phụ nữ đã một lần lỡ dở
                        Cầu ván gỗ nằm bên phượng đỏ
                        Nấm mồ anh nghỉ cạnh dừa xanh
                        Bên dòng phù sa sóng vỗ trôi nhanh
                        Rơi giọt lệ mong anh về nước Chúa.
                        Trơ dưới nắng cây cầu ván cũ
                        Đường thôn ta hàng so đũa ngày xưa.
                        Vườn cau, bông gạo, hàng dừa
                        Anh đi... để lại bài thơ quê nghèo
                        Chim kêu, vượn hú chiều chiều... (*)
                        *

                        (*) thơ Tình Hoài Hương


                        Tình Hoài Hương
                        Last edited by Cowboy72A; 03-15-2017, 06:38 PM. Lý do: làm hình lại cho đẹp như thường lệ
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment

                        • Tinh Hoai Huong
                          Senior Member
                          • May 2009
                          • 1081

                          #192
                          Nước Mắt Thầm Lặng Tuôn Trào


                          Nước Mắt Thầm Lặng Tuôn Trào
                          (Kỷ niệm buồn đúng ngày: "20 tháng Ba" - 42 năm cũ)

                          Bầu trời xanh lơ điểm những hoa mây trắng qùy gối trên mặt hồ Xuân Hương sáng loáng như tráng men, rồi mây kéo lê thê bay vắt qua sườn đồi buồn thiu, mây lang thang trên con đường mòn đất đỏ vắng tanh, mây bò lên sườn dốc đầy cỏ vàng úa. Trong vùng sương mù và mây trắng xóa đó, tôi an phận đi và về giữa tiếng tíu tít và giọng cười nắc nẻ của các cô gái lí lí lắc lắc đang vui tươi ôm cặp đến trường. Cái lạnh cuối xuân mơn man lành lạnh ơn ớn len lén bay về, làm tê tê bờ môi vụng dại, khiến hai gò má phụ nữ và trẻ em luôn ửng hồng. Những tà áo dài trắng hòa với sương mai mờ mờ lung linh quyện lẫn nhau trong màn sương mênh mông.

                          Mây và sương ru tôi vào mộng tưởng hoài mong luyến nhớ vô vàn... Tôi chợt cảm thấy lòng mình ấm lại những niềm vui khi ngày ngày tôi vẫn bình an, ung dung vui vẻ từ nhà đi trên đường quen thuộc đến nơi dạy học. Tôi đã có gia đình, chồng tôi (Luật) phục-vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hạnh phúc đơn sơ ấy chẳng có được bao lâu, nay sương muối mù mù nặng hạt còn thấm ướt mái tóc, khi tôi đứng lớp giảng bài, thì... lịch sử Việt Nam đang còng lưng vác trên vai những tang thương đau đớn, dày vò, bi thảm tàn khốc nhất trong cuộc chiến tranh xâm lăng hung tàn.

                          Luật hớt-hải chạy đến giữa những khung cửa kính kêu rè rè, bể loảng-xoảng, nâng nỗi khiếp sợ lên giếng mắt nhau. Ngoài xa, xa mãi tận hướng Du Sinh, hay Suối Vàng thì phải, từng hồi pháo-kích đì đùng nổ rền trời. Khói đen nghịt kéo theo mùi cháy khét, tởm lợm, cùng sức nóng rợn người. Có điều gì lo nghĩ đắn đo phiền muộn hay sao, mà khi anh nhìn vào giếng mắt tôi, Luật đã vội vàng cúi cụp xuống, chơm chớp hai giọt mọng nước đọng trên khoé mắt, và anh quay đi lãng tránh, mà báo tin động trời chẳng lành:
                          - Mười ơi! Có lệnh từ thượng cấp báo cho quân đội phải di tản ông già bà lão, phụ nữ, trẻ con gấp. Còn toàn thể quân nhân, cảnh sát, nam công chức, tuyệt đối "phải tử-thủ tại Đà Lạt".

                          Tôi nghe Luật báo tin ấy, cảm thấy rụng rời dật dờ bàng hoàng như sét đánh ngang tai. Tôi sực nhớ đến chuyện động trời: ngày 9 tháng 3 năm 1974, tại trường Tiểu-học Cai Lậy có loạt đạn 82 ly nổ rền. Ôi! Coi trên truyền hình có đoạn thời sự đã chiếu đi chiếu lại: thấy hằng trăm trẻ em vô tội chết đau đớn thảm thiết, thương tâm xiết bao! Bỗng dưng tôi lại nhớ vào khoảng năm 1973 có một thời người ta ùn ùn leo lên núi Lâm Viên: xin nước của Phật Bà ban phước cho bá tánh, hầu trị tà ma bệnh tật, bình an, hoà bình. Bà chị ruột của tôi đã vất vả nhọc nhằn leo núi, khổ sở đi, và khệ nệ bưng về mấy bình nước. Nay thì... "nước" chẳng thể dùng.

                          Và nữa… một số thị dân Đà Lạt nhiều người truyền tin cho nhau rằng: Từ những cánh rừng xa hun hút, suốt ngày đêm đã xuất hiện nhiều đàn sâu róm nối đuôi nhau lũ lượt kéo xuống biển. Sâu róm chết la liệt trên đường (lúc băng qua đường). Những xe khách, xe đò, xe nhà đi từ Đà Lạt xuống Phan Rang… đều thấy. Tôi không biết chuyện tiên tri về đoàn sâu róm và đoàn người sống trên đời lố nhố, đang bỏ núi rừng băng đường vượt sông ùn ùn ra biển, thực hư ra sao. Tuy nhiên tôi tin rằng nếu ai đã từng sinh sống ở vùng Cao Nguyên thời ấy, đều biết, hoặc nghe rõ về chuyện Phật Bà hiện lên chỗ nọ chỗ kia. Có cả chuyện mặt trời xoay quanh phụ nữ tiên mặc áo lụa trắng, thắt lưng xanh, tay bế hài nhi đứng trong vầng mây... và đoàn sâu róm nườm nượp đi xuống biển.

                          Bây giờ tôi chưa biết tình hình náo động nầy sẽ ra sao khi ôm nhau chạy về nơi vô định, nên càng run sợ tột cùng! Phải cho học sinh dọt lẹ mà thôi. Tôi thều thào dặn-dò học sinh thu dọn sách vở, lo chạy nhanh về với gia đình. Trong trường tôi có cô Phùng dạy học sát bên vách lớp. Phùng xin tôi cho vợ chồng và đứa con nhỏ đi theo. Sau một vài phút suy nghĩ, cuối cùng chúng tôi đồng ý cho họ đi nhờ xe nhà của mình về Nha Trang. Vì Phùng không có phương tiện di chuyển, mọi ngả đường bộ về Sài Gòn bị phong toả, kẹt cứng, bế tắt. Duy chỉ còn quốc lộ chính từ Đà Lạt xuôi về miệt Phan Rang, Nha Trang, Phan Thiết là có thể chưa bị mất. Không có một chiếc xe đò nào muốn chở khách, nếu ai may mắn lắm thì hoạ may chủ xe cho lên ngồi trên mui, nhưng giá tiền một người đắt gấp mười lần thường ngày. An toàn nhất là ngoại trừ ai có xe nhà. Vì chính phủ đã trưng dụng hàng không quân sự và dân sự, để làm những việc cấp bách cần thiết hữu ích khác.

                          Vợ chồng tôi vội leo lên chiếc Peugeot 404 của mình chạy về nhà. Đồ đạc trong nhà đầy dẫy! Tôi lính quýnh quờ quạng run rẩy không biết lấy thứ gì? Làm sao có thể gom đi cả gia tài đã dành dụm suốt đời người trong chiếc xe bé tí xíu? Luật la:
                          - Nhanh lên em. Bỏ của chạy lấy người. Còn người còn của mà em. Mẹ, em và các con, cứ lo đi đi. Anh ở đây sẽ tìm cách gửi từ từ những thứ cần thiết theo xe đò xuống Nha Trang, cho mẹ con em dùng sau.

                          Trong khi chờ đợi tôi thu xếp hành trang, Luật kiểm soát xe cộ, sau đó anh báo với tôi sẽ đi châm xăng, dầu nhớt vào xe hơi đầy đủ. Tôi dặn dò các con thu xếp gọn gàng sách vở bút viết cần thiết, bỏ vào mỗi cái cặp riêng của con cần mang theo. Tôi không còn tâm trí để nhớ một cái gì, lấy cái nầy thì tiếc cái kia. Vì ngôi nhà đồ sộ ba tầng lầu đúc bê tông cốt sắt lót gạch bông dài 45m rộng phủ lòng 5m, sẽ buồn tênh và trống trải, mất mác hết khi vắng chủ nhân. Có thể ngôi nhà sẽ không bao giờ đón chúng tôi trở về. Mặc dù tôi đã để lại hết tất cả gia tài cồng kềnh quý giá, nặng nề, do công khó lao nhọc bao năm vợ chồng tôi tằng tiện dựng xây mua sắm.

                          Tôi không giàu có lắm, nhưng giờ đây thì thứ gì cũng có thể không còn, tuy sự cần cù, nhẫn nại chịu đựng lao khó và lòng tin yêu, độ lượng cùng tự trọng thì tôi không thiếu. Cái gì đời cũng ưu ái cho tôi sao!? Nhưng chưa chắc bây giờ tôi cần những thứ đó. Giống như chiếc xe thổ mộ đã chở quá đầy hàng, nếu chất thêm vài trái dưa lên nóc, chẳng biết xe và dưa sẽ đỗ lăn mất lúc nào. Vậy thì ta nên giữ lại những thứ gì thật sự cần thiết trong lúc khẩn cấp mà thôi.

                          Tôi lo nấu hai nồi cơm hơi nhão thật to, dùng khăn ẩm vắt ra từng nắm nhỏ. Tôi gói chà bông, ký lạp xưỡng, khô cá, khô bò, kí giò lụa, dưa leo, cà chua, cà rốt, rau sống, hai thùng mì gói, mươi bọc cơm sấy, mấy ổ bánh mì ba tê gan và bơ sữa, tiêu, xì dầu, muối, đường... Có sẵn nồi xôi đậu xanh, nồi cá thu kho măng với thịt ba rọi ngày hôm trước còn dư, cả nồi trứng thịt heo kho Tàu đầy, do mẹ Luật đã nấu hồi sáng. Vừa làm các công việc trên, tôi bồn chồn lo lắng, bồi hồi, luyến tiếc về sự ra đi.

                          Bởi vì tôi không thể biết cuộc ra đi sẽ lành dữ ra sao, các con trẻ bé dại cùng đi với bạn bè trên dưới hai mươi mấy người (chung chuyến ở ba chiếc xe khác nữa của bạn). Nếu bị lỡ đường, chúng tôi sẽ có thức ăn chia sẻ cho nhau lót dạ. Tôi khiêng một thùng nhựa 20 lít nước lọc ra sân. Hai cái bô có nắp đậy. Mùng, mền, quần áo len, quần áo mỏng, giày, dép, linh tinh... cho bà mẹ chồng, tôi, và các con chu đáo, tươm tất.

                          Đã gần đến giờ hẹn, nhưng không thấy Luật đâu cả, tôi quá sốt ruột lo lắng vô cùng. Thì ra sau đó mới biết Luật chạy vào trong Hà Đông báo tin cho gia đình ông cậu Cương, và gia đình bà Tề lo liệu di tản. Thật là tội, ở trong ấp mù tịt chuyện thời sự náo loạn, họ ung dung đi tưới rau, không hề biết ngoài phố nhốn nháo ra sao. Luật phải đưa cậu Cương ra phố bán hai cây vàng. Cầm đồng tiền giấy nhẹ, có thể mua gì cũng được, hơn cầm cả thỏi vàng, chả lẽ mua ly trà, ly nước dừa, mà đưa cả chỉ vàng, hay cả lượng vàng ra? Mất toi mạng như chơi. Có mà điên! Hầu hết các tiệm vàng trả giá rẻ mạc, hai cây vàng mà họ mua chỉ ép giá bốn chục ngàn. Cậu năn nỉ hoài mà chả ai thèm mua giúp.

                          May sao có bạn của Luật (anh chị Kim là chủ tiệm vàng ở Tùng Nghĩa đến nhà chờ đi chung) mua giúp cho cậu. Nga Kim chạy giặc có những bọc vải ruột tượng, túi áo túi quần cả gia đình... đâu đâu cũng đựng vàng là vàng nặng trĩu. Họ rất sợ mất toi mạng vì thời buổi loạn ly mà có hằng tá vàng chình ình cả đống thế kia, chẳng khác nào “lạy ông tui ở bụi nầy” làm thể nào thu dú đâu được. Gia đình anh Kim cần đi chung với bạn bè có đông người thân thuộc, là điều rất mừng. Anh tin và gửi nhờ bạn mang mấy bọc vàng không sợ bị cướp giật giữa đường. Kim móc túi lấy bốn trăm ngàn đưa cậu, đó là anh trả cho cậu giá rất cao, coi như Kim cho cậu tiền, chứ không phải anh mua vàng. Cậu của Luật vui mừng khôn xiết, cậu lo chạy nhanh về nhà thu xếp.

                          Các bạn thân hẹn nhau tập họp ở nhà tôi đúng hai giờ chiều là lên đường. Dưới chân đèo Krong Pha nhìn lên Đà Lạt tít mù cao, những bè mây trắng xoá kéo thành một dong dài, mong manh lả lơi như hơi sương quấn ngang đồi thông tiếp nối đồi thông rủ tóc, trải thành dải sô tang quấn trên triền quê hương. Đồi thông từ từ khép bức màn sô tang mỏng dính trong gió rì rào lao xao lay động cây cành nghiêng ngả. Rừng lá thấp xưa kia xanh thẩm mịt mùng ngút ngàn bao cây gỗ quý, hôm nay hầu hết cây cối xơ xác héo úa. Tôi thực sự xa nơi chôn nhau cắt rốn. Nơi đó còn cha mẹ, anh, chị, các cháu, chồng tôi (anh rất lệnh cấp trên ở lại Đà Lạt tử thủ), người thân xóm làng hiền hòa. Không hiểu họ sẽ xoay-xở ra sao, khi tiếng đạn pháo ngày càng đinh tai nhức óc, dồn dập rót về trên đầu? Thỉnh thoảng súng đạn vun vút rền vang nơi xa xa, tạo thành những đường dài sáng loáng tóe lửa, vút qua vút lại trên bầu trời.

                          Con đường cái quan ngày xưa rộng thênh thang, nay chật như nêm. Đoàn xe nhà tôi và bạn gồm bốn chiếc nối đít nhau chạy qua khỏi Krông Pha, tôi chẳng hề thấy ai đi ngược lên lại hướng núi, nơi chúng tôi đang đi xuống. Giòng người đen nghịt nối đuôi nhau đi chỉ một chiều xuôi về miền biển… Tôi định tâm nhìn quanh thấy hàng hàng lớp lớp người lũ lượt kéo nhau tấp nập vội vã đi đông hơn kiến. Kể cả những người gánh gồnh, vai mang lưng cõng, đều nối đuôi nhau lũ lượt tất tả lê lết đi bộ, bàn chân họ cột những tấm quần áo mà chen lấn trên đường nhựa nóng muốn rộp da. Bộ hành kiên nhẫn đi vội vàng, dáo dác nhìn ngược ngó xuôi, lo lắng bước thấp bước cao như thế, lòng tôi bâng khuâng nỗi đau xót lạ thường, tim chùng xuống ngàn đắng cay ngậm ngùi không thể tả.

                          Trên đầu dốc tỉnh Ninh Thuận tôi nghe súng đạn luôn ì oành nổ ầm ầm đùng đùng, oằng oằng oằng… pằng pằng pằng… chẳng lúc nào ngớt. Xe hơi lớn, xe hơi nhỏ, xe jeep, xe GMC, xe honda, xe lam, xe ngựa, xe bò... xe lam, xe gắn máy, xe đạp, xe ba gác, xích lô... hầu hết mọi người có phương tiện di chuyển, cùng bầy trâu, bò, heo, chó, ngựa, gà vịt, chen chúc với người và người… tất tả xô đẩy nhau chạy bộ trên con đường chật như nêm, hổn-độn nối đuôi nhau chạy đi, chạy đi... ứ nghẽn.

                          Mãi đến buổi hoàng hôn khi qua khỏi Ba Ngòi nóng bức xé da, đoàn xe di tản chậm hẳn lại, dường như không còn sức sống, cạn kiệt nguồn sống rồi chăng, những xe khác không còn yêu xăng, nên xe ù lì nằm ụ từng đám rải rác trên đường từ Phan Rang tới Ba Ngòi, nên quốc lộ đông xe và người càng bị kẹt cứng, xe chẳng thèm nổ máy nữa rồi! Lúc nầy trong đám bạn tôi ai nấy đều thật sự lo sợ và đau khổ.

                          Mẹ con tôi ôm nhau ngồi lặng-lẽ trên xe, cúi mặt thút-thít khóc, lòng tôi rối bời, ngổn-ngang trăm mối, lo-sợ tột cùng. Tôi cho con nhỏ mẹ già di tản, thì ăn ở đâu, ngủ ở đâu? Nhưng ba bên bốn bề ai ai cũng ùn ùn lũ lượt kéo nhau đi, đông kinh khủng thế nầy. Nếu gia đình tôi ở lại, có lẽ càng cô độc và sợ hãi hơn khi bóng đêm bao trùm xuống vạn vật, súng đạn ùa về nổ chát chúa, đinh tai nhức óc mỗi đêm thế nầy, làm sao đây!? Lương quân-nhân, công-chức, như “tiền lính tính liền”, rồi sẽ ra sao khi bồng bế nhau chạy về nơi vô-định?

                          Mấy lúc trước tôi đã bòn nhặt cất dấu được một số tiền kha khá, (đề phòng khi hữu sự bất chợt như bây giờ, thì có mà chi dùng). Nào ngờ, Luật thấy trong nhà có tiền, anh nghe bạn than thở, động lòng trắc ẩn là thể nào anh cũng “réo rắt, xeo nạy” cho bằng được, để anh mang tiền đi đưa cho bạn mượn. Cả chục lần như vậy thấy chồng ỉ ôi thở vắn than dài, “dằn vặt đay nghiến” tôi. Dù tôi đã quyết dú đút tiền cất đi, nhưng rồi tôi vẫn “lạt lòng nhẹ dạ” không nỡ từ chối lời anh yêu cầu. Vả lại, tôi không phải là loại đàn bà mê tiền hám lợi, quên tình nhân ái mà bo bo ôm rịt giữ kỹ tiền, tôi không thấy vàng bạc là mắt sáng như đèn pha.

                          Tôi “dại lòng” nên trút hết hầu bao, đưa tiền để anh đem cho bạn mượn trước mặt tôi. Thật ra tôi cũng biết hoàn cảnh tùy gia đình mỗi người bạn, đều khó khăn rất tội nghiệp. Họ có tự trọng, nhưng quá khốn đốn mới muối mặt nhờ ta giúp đỡ. Bây giờ bất ngờ ra đi, nên tôi chẳng còn dư bao nhiêu tiền, thì nếu mẹ con tôi không lo chắt bóp ăn rau ăn cháo, chắc là chết đói nơi xứ lạ quê người thôi. Nghĩ tới đó... là tôi cảm thấy quá sợ hãi!

                          Gió lồng lộng thổi những hàng cau lao xao cúi rạp mình gần sát đất, khi những trái hỏa châu mắt thần bùng nở đỏ bầu trời nghiệt ngã đang đè lên đầu nhân thế, hòa cùng khói thuốc súng và từng đám mây trắng bay vội vã như đàn cừu hốt hoảng té chạy tứ táng trên đồi cỏ khô. Tiếng súng đạn bay vút lên không trung, tạo thành những màn nhện đỏ au đan chéo qua chéo lại, có đường cát tuyến tiếp tuyến trên không gian mịt mù, tiếng đạn nổ dòn, hòa cùng tiếng lao xao của rừng xoài, tiếng côn trùng đồng loạt tấu khúc dạ trường ngọt ngào bất tận… Đêm cuốn đi bởi giòng cuồng lưu cuồn cuộn xô đẩy nhau, chảy theo làn sóng người đang tìm cách thoát thân khỏi tai trời ách nước.

                          Trời sập tối thì chúng tôi đến gần Vịnh Cam Ranh, nơi có chỗ neo tàu sâu, có sân bay chắc chắn và an toàn, có câu lạc bộ, có nhà máy làm nước đá, có hệ thống ra đa tối tân nhất bây giờ. Vịnh Cam Ranh là một lợi thế chiến lược tốt nhất của vùng Đông Nam Á. Từng là nơi tiếp liệu xăng dầu cho hạm đội trong chiến tranh Nhật - Nga từ 1904 > 1905. Ngày xưa là thế, nhưng hôm nay im lìm câm nín.

                          Đoàn chúng tôi cùng đi gồm: gia đình Trần Ngọc: (mười chín người). Gia đình tôi (sáu người). Gia đình cô Phùng (ba người). Gia đình anh Bàn (mười người). Gia đình Kim mười người, (sau buổi ăn tối, Kim từ giã chúng tôi đi về hướng Phan Thiết, vì có thân nhân ở đó). Nhà anh chị Trí ở Cam Ranh có mười tám người, và không kể họ hàng di tản. Nay ở tại nhà anh Trí có thêm đoàn chúng tôi, vị chi tại nhà có cả thảy là 78 người! Kinh khủng quá. Anh chị Trí, mẹ anh, em gái và các con anh chạy ra mừng rỡ tíu tít rôm rã chào đón.

                          Chúng tôi đến bất ngờ, Kim, tôi, Phùng, Ngọc, Bàn, cùng hùn tiền đưa chị Trí, nhờ chị đi chợ nấu ăn giúp có lẽ vài bữa. Ban đầu chị Trí nói qua loa, không nhận. Nhưng sau anh Trí thấy chị Bàn nhét tiền vô túi vợ, anh chồng hất hàm nhìn vợ, vợ Trí mừng rỡ xách giỏ đi chợ. Phút chốc hai ba nồi cơm trắng to tướng, nồi canh chua cá chim, cá thu kho và rau sống, rau muống luộc, đã đọn lên đầy nhóc. Những người mới tới dùng bữa no nê ngon lành. Nhưng tôi và Phùng có con dại, mệt quá nên chỉ ăn qua loa nửa chén cơm, rồi đi tắm rửa, giặt giũ áo quần. Phùng và tôi leo lên giường rù rì nói chuyện tới khuya. Phùng bảo đảm với tôi là chỉ cần "chúng ta" an toàn tới Nha Trang, thì mẹ con tôi sẽ ở nhờ tại nhà bà cô của Phùng. Nghĩa là hai gia đình tôi và Phùng sẽ tách riêng những gia đình: Ngọc. Quý. Cúc. Bàn.

                          Ở Đà Lạt là quê hương tôi, dù gì tôi cũng dễ dàng xoay trở. Nếu về Nha Trang thì coi như tôi bơ vơ, lạc lõng. Tôi chỉ quen thân duy nhất cô Oanh trước kia dạy học ở Đà Lạt, hai năm nay Oanh đã đổi về Nha Trang. Chẳng biết Oanh có còn ở chỗ cũ không?! Còn Phùng về Nha Trang thì bà con hai họ nội ngoại có nhiều. Phùng hy vọng có thể lưu lại nhà thân nhân một thời gian, và tìm cách trở về Sài Gòn. Lúc nầy tôi thật mừng khi có Phùng cùng đi.

                          Bốn giờ sáng hôm sau, chị Trí và mấy người đàn bà trong nhóm tôi lo dậy nấu mấy nồi cơm, canh cá tươi thật to như tối hôm qua. Tôm, cá, mực ở miền nầy quá rẽ so với Đà lạt. Chúng tôi ăn uống no nê xong, tất cả ba đoàn xe chúng tôi từ giã anh chị Trí, lên đường đi Nha Trang. Khi tôi tới chỗ trạm đổ xăng, vì xe hơi của tôi cũng cạn xăng, tôi đi tìm hầu hết mấy trạm xăng, không nơi nào mở cửa. Các chủ trạm xăng đều nói:
                          - “Từ đây về Nha Trang các trạm xăng đều bị hết, khan hiếm, đóng cửa không có xăng từ một tuần nay”.

                          Trời ơi! Lẽ ra tôi còn bình xăng phụ hơn mười lít dự trữ mà Luật đã bỏ sau cốp, nhưng tôi ỷ y là dọc đường có thiếu khối gì trạm bán xăng, mà lo. Thế nên tôi đã chia sạch xăng cho hai chiếc: xe be, xe của Kim; là bạn đi cùng đoàn. Tôi không hề dự đoán có chuyện bất trắc nầy. Chết rồi. Không ai chịu bỏ xe của mình lại nửa đường, (dù xe của họ cũ, coi thổ tả). Thế là tôi đành ngậm ngùi rơi lệ mà "bỏ rơi" chiếc xe hơi Peugeot 404 mới của mình, (nếu chịu khó chật chật xí, xe tôi cũng có 18 chỗ ngồi) nằm ụ tại Cam Ranh. Đúng như Luật đã nói: “bỏ lại tất cả của cải qúy giá, bỏ hết, lo túm chạy lấy sáu mạng người mình nghen em. Còn người còn của mà em”!

                          Mẹ con tôi, mẹ con cô Phùng leo lên xe lam của Qúy chật cứng những đàn bà, trẻ con cả thảy là mười ba người. Mẹ của Luật và đàn ông, phụ nữ mạnh khỏe khác thì leo lên chiếc xe be không mui. Dạo trước kia xe be nầy dùng chở cây gỗ, nay chở người. Khoảng hơn ba chục người lố nhố chen chúc ngồi trên xe be trần trụi không có bờ vách, họ dùng những sợi dây dừa cột chặt thân người nầy vào người kia, rồi cột vô một cây gỗ cẩm lai và đống đồ đạc cao chất ngất.
                          Xe be và xe lam chạy chậm rì, cà rị cà mò, nhưng tôi vẫn lo sợ người ngồi trên xe be chen chúc chật cứng có thể bị lọt xuống đất! Xe be không có mui che mặt trời nên càng nóng rát. Nhóm người lết bộ tay bồng tay bế các em nhỏ khóc la thảm thiết, mặt mày trẻ lem luốc, đỏ ửng như con tôm luộc, mũi dãi lòng thòng. Xe không thể chạy nhanh trên đường dài ngoẵng có đủ mọi thành phần và tầng lớp… đông hàng vạn người gánh gồnh đi bộ, có đủ thứ loại xe lớn nhỏ. Thỉnh thoảng những chiếc xe bò lọc cọc chở đầy người phủ tấm bạt bay phần phật.

                          Đến gần ngả ba thì có một chiếc xe hàng mui bẹp dúm, bốn bánh xe chổng ngược lên trời quay tít máu me lênh láng, trên lề đường đã có mấy xác chết nằm ngay đơ, người trong xe ấy hò hét. Mẹ con tôi sợ hãi bưng mặt nhìn đi chỗ khác, tôi tột cùng run rẩy hoảng loạn, tim nghẽn nghẹt ứ cơn đau, thân thể muốn bay bổng lên chín tầng mây. Đồng thời xe lam của Quý bị hư, cũng do chất đầy người và quá nóng máy, xe lam nầy nhích chạy đường trường không có đèn. Chiếc xe be do Phú lái phải đi sát phía sau, để dọi đường cho xe lam chạy, thật quá nguy hiểm. Đèn pha của xe GMC ngược chiều nào đó dọi sáng trưng, suýt tí nữa thì xe lambretta của Quy chồm tới rất sát xe khách trước mặt, (hoặc là chúng tôi nằm gọn dưới lòng xe be)!

                          Anh tài xế xe GMC nghiến răng gò lưng đạp thắng kít kít kít, trên xe mọi người đông nghẹt đều dồn đống, chúi nhũi tới phía trước xe GMC. Bốn bánh xe GMC rít ken két dưới mặt nhựa, tỏa khói bay khét lẹt. Tôi khó có thể đoán tuổi đời anh lính dãi dầu sương chiều nắng gió ấy đã trải qua bao xuân xanh, khiến da mặt anh càng sạm đi lúc hiểm nguy nầy? Cả bộ quân phục mặc trên người hình như càng bạc phếch phong trần, hay do bụi cát rít dưới những bánh xe? Chúng tôi chỉ biết kêu Trời cứu mạng. Khi đèn xe rọi tới trước, tôi thấy những đứa trẻ con trạc bằng tuổi con tôi, nghe tiếng bánh xe lết dài trên đường nhựa, chúng hốt hoảng mệt mỏi quýnh quáng bám theo chân người lớn vọt lẹ lên lề.

                          Thật hú hồn hú vía, nếu anh tài xế xe GMC không tháo vát, nhanh nhẹn, không có kinh nghiệm, ắt hẳn là tai nạn rùng rợn kinh khủng sẽ xảy ra không thể lường! Trong lúc nầy lòng tôi bỗng nổi lên sự ấm ức quá tức giận, vì chuyện tôi đã "nhân ái" và "anh hùng rơm" để rồi đành vứt bỏ lại chiếc xe 404, để leo lên chiếc xe lam cũ thổ tả nầy! Biết làm sao được khi mình có lòng nhân không hề tính toán thiệt hơn, đã hậu hỉ hân hoan và thành tâm trút hết xăng cho xe bạn!
                          * * *

                          Từ Cam Ranh khởi hành lúc mười giờ sáng, mãi đến mười môthị2 đoàn xe dài ì ạch khoảng trăm cây số nầy mới đến Nha Trang. Các ngã ba ngã tư giòng người đang cố chen lấn, giành cướp tí đất sống, xe và người vội vàng sát nhập chung nhau trườn lết tới vùng đất hứa hẹn an toàn. Họ cố chen từng bước, từng bước, ùn ùn tìm về vùng tạm lánh cư có lẽ bình an hơn: Nha Trang

                          Chúng tôi ghi cho nhau địa chỉ bà con ở nhiều nơi, ngộ lỡ có biến loạn, hay cần liên lạc, thì biết mà tìm nhau. Chúng tôi chia ra nhiều hướng: Gia đình Phan Bàn ở nhờ với bà con của họ tại đường Nguyễn Tri Phương. Đại gia đình Trần Ngọc ở nhà bà con. Vợ chồng Phùng, bà mẹ Luật, tôi, và bốn con thì về nhà bà cô của Phùng. Có thêm chúng tôi, nhà bà cô hơi chật càng nghẹt thở hơn, cổng sắt cao lút đầu, màn che trướng rủ kín mít. Họ nói chuyện với nhau thì thầm to nhỏ, mắt la mày lém, dáo dác nhìn trước ngó sau len lén rù rì. Họ tỏ lộ vẻ khó chịu ra mặt khi có sự hiện diện của gia đình chúng tôi, họ bất an sợ sệt những điều gì lạ lắm. Hay họ sợ mẹ con tôi biết họ quá giàu, họ “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ đốt nhà”... thì tôi nảy sinh ra tham lam mà trộm cướp chăng?

                          Sống tại nhà bà con của Phùng, tôi sợ các con ồn ào làm vướng bận, phiền gia đình bà cô, nên mỗi ngày chúng tôi phải đi qua bên trường Tiểu-học, ngồi ngoài gốc cây phượng mua quà bánh ăn qua loa. Chiều chiều chúng tôi mò ra biển ngồi dưới hàng dừa hứng gió mát, để cho các con nô đùa ở biển. Chờ sau giờ họ ăn cơm ,tối mịt chúng tôi mới dám mò về xin phép chủ nhà cho tắm rửa, đi nằm ngủ nhờ dưới gạch bóng loáng trải mền bông xuống nền nhà, mẹ con bà cháu đều chui vào nằm chen chúc trong một cái mùng rộng. Tóm lại, chúng tôi chỉ xin ngả lưng ngủ nhờ. Năm giờ sáng, tôi lo đánh thức cả nhà dậy, lại thất thểu lang thang đi ra ngoài lộ sớm. Hai hàng nước mắt tôi thầm lặng vẫn tuôn trào.

                          Mặc dù từ Đà Lạt về Cam Ranh, bạn biết tôi không có thân nhân ở đây, Phùng đã cam đoan chắc chắn là: mẹ con chúng tôi khỏi lo vấn đề ăn & ở Nha Trang trong thời gian vài tháng. Tôi ngây thơ đã tin bạn. Nay Phùng cảm thấy khó xử, tôi cảm thông vì nhà nầy không phải là nhà của Phùng. Dẫu sao Phùng cũng áy náy và hổ thẹn với tôi. Qua ngày thứ bốn, tôi thấy mặt mày ai nấy đều nặng như chì, khi Phùng bồng đứa con lên máy bay về Sài Gòn. Thái độ ngược đãi ấy đã được khẳng định mọi điều dứt khoát rằng: Sau khi gia đình Phùng an toàn tại Nha Trang, có đủ điều kiện để họ tìm đường trở về Sài Gòn, thì họ muốn bỏ rơi chúng tôi. Như thế thì đã rõ rồi, dễ hiểu quá. Phùng nên đi trước, mai mốt ông chồng Phùng sẽ về sau, là lưỡng tiện đôi đàng, ông sẽ ú ớ ù lì ngơ ngơ ngáo ngáo, là huề cả làng. Họ “siêu tổ chức” khỏi mất công “hứa lèo” với tôi. Mặc tôi xử trí ra sao với bà cô và chính chúng tôi, thì ra... Tôi thật ngây thơ, việc vợ chồng Phùng hứa suông chẳng khác nào đem con đi bỏ chợ, tôi đã giao trứng cho ác...

                          Thà rằng tôi ở lại Cam Ranh, dù sao gia đình anh chị Trí cũng là chỗ thân tình. Vả lại họ còn nợ tôi một món tiền kha khá... (do Luật “hứng nợ” đưa cho Trí). Rồi sau nầy cộng thêm nợ mới là: Trí nợ bạn và chúng tôi một số tiền khổng lồ: Do, công ty chúng tôi làm ăn chung, đã trúng thầu, nên thuê một trăm nhân công tháo gỡ xuống năm trăm căn nhà tiền chế của Mỹ, & thuê bao nhân công và tài xế ăn uống, tiền làm mỗi ngày, họ chở vài trăm chuyến xe vật liệu, về bán trả góp cho dân ấp Vĩnh Linh, họ cần làm nhà (thuộc Cam Ranh). Vì ở ấp Vĩnh Linh mới thành lập, chính phủ chiêu mộ dân tứ xứ đến vùng nầy lập nghiệp...

                          Những chi phí ban đầu trang trải do công ty chúng tôi hoàn toàn bỏ ra, từ tiền mua nhà tiền chế hai triệu tư, tiền thuế cầu đường, thuế trạm... tiền bến bãi chứa hàng, tiền mướn nhân công tháo gỡ, đài thọ nhân viên lao động ăn uống, tiền linh tinh, v.v... công ty đã chi phí mà chưa hề thu lại vốn. Vì tiền bán những nhà tiền chế nầy, các bạn ở Đà Lạt xa đây cũng tin Trí, để ưu tiên cho Trí đứng ra bán, và làm thủ trong việc thu tiền. Thì anh ta đã thâu tóm hết, vung vít tiêu xài hoang phí, lại lòi ra chuyện Trí đèo bồng thêm vợ nọ con kia, (mà bà vợ hai nầy không ai khác là em ruột của vợ anh ta). Trí lem nhem không chuyển trả cho tôi, và bất cứ ai ai trong nhóm bạn một đồng nào cả.

                          Tôi muốn nấn ná ở lại Cam Ranh, là cốt ý muốn Trí trả bớt món tiền riêng của tôi, (do Luật “hứng nợ”), mà Trí đã mượn tôi, (chứ tôi chưa tính đến chuyện Trí phải trả tiền anh ta nợ chung trong công ty. Mặc dù chúng tôi biết lúc nầy Trí vẫn có khá nhiều tiền, nhưng do lòng tham lam, vô trách nhiệm, không hề biết tự trọng, không biết xấu hổ, nên anh ta cứ "mặt trơ trán bóng" trơ tráo... ù lì, không chịu rỉ ra đồng nào, Trí phải biết chính lúc nầy ai ai cũng cần có tiền). Sau nữa là để tôi giữ liên lạc dễ dàng với Luật. Dù sao đường đi từ Đà Lạt về Cam Ranh, cũng gần hơn đi Nha Trang, và nơi nầy chưa bị phong toả.
                          Ôi! Thế nhưng... người tính không bằng Trời tính!

                          Tình Hoài Hương
                          Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-15-2017, 03:21 AM.
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #193
                            Gãy Gánh Gươm Đàn



                            Gãy Gánh Gươm Đàn
                            (Tiếp theo bài viết tuần trước)
                            ***


                            Thứ Hai, ngày 24-3-1975.- Có căn nhà đang cháy trong xóm đìu hiu, (do một người đàn bà bày bàn cúng ra giữa sân nghi ngút khói hương, đã bị gió tạt vô nhà). Bà ta hì hụp khấn vái kêu xin Trời Phật ban ơn lành... cho sống lâu trăm tuổi. Cứ thật thà mà nói, sau vụ bàn thờ ông cha cố tổ bị rầm rộ xuống đường năm xưa, thì tôi có ít thiện cảm để vãng lai tới chùa thăm viếng ai. Điều mà xưa kia tôi rất trang trọng, mến thích tới lui nơi "quý tăng bào lão trượng”, hầu ân cần chia sẻ chum cà, lọ tương, hủ đậu, chùm cây trái ngọt ngon, & sâu nặng tình nghĩa đậm đà. Vã lại chồng tôi vẫn nói:
                            - Mình già rùi, “gần đất xa trời”, can chi mà phải sợ chết, lo nọ lo kia cũng rứa hử?
                            Tôi gân cổ lên cãi lại anh:
                            - Anh nói thật tức cười. Có ai đang sống ở trên đời nầy, mà “gần trời xa đất” mô nà! Vậy thì “đất” phải gần hơn “trời” là cái chắc. Vì ta đang đạp hai bàn chân trên đất, để đi hà rằm đây nè. Khi nào chết mới gọi là “gần trời xa đất”. Cũng do vì... người ta đều muốn lên Thiên Đàng cả. Chẳng ai muốn xuống dưới đất ở tại lò hỏa ngục với Diêm Vương.

                            Chúng tôi vơ quần áo ra đi lang thang ngoài đường như thế, ban ngày đi ra biển ngồi dưới những gốc dừa, tối về thì xin vào ngủ nhờ ngoài mái hiên của trường Tiểu-học. Qua ngày thứ sáu thì gia đình bà Niềm (ở đối diện với nhà bà cô của Phùng), thấy thương mẹ con chúng tôi bơ vơ nheo nhóc, họ động lòng trắc ẩn, bà kêu chúng tôi cho đến ở nhờ. Tại đây có một phòng riêng rộng rãi đầy đủ giường nệm mền gối. Muốn nấu ăn thì có sẵn bếp, cứ tự túc. Tôi ứa nước mắt mà mừng vui khôn tả xiết. Thế là cả nhà tôi tíu tít vui vẻ dọn qua bên đường. Vẫn biết là ông bà Niềm quá tốt, nhưng sợ các con thơ dại quậy phá, nên tôi không dám làm phiền họ. Ông bà Niềm có hai người con. Một anh con trai đi lính Nhảy Dù. Một cô con gái tên Thúy Lan làm ở Hàng-không Quân-sự Nha Trang.

                            Dưới những gót chân bé tí lún xuống bờ cát mịn, từng vệt chân trần nhòe đi trong sóng khẽ khàng vỗ tan bọt nước. Tôi rón rén bước trên nền cát ẩm, với ước mong có tí chút hạnh phúc lướt thướt lan theo từng ngấn sương khuya rơi rụng nhạt nhòa trên phố biển Nha Trang. Lòng vẫn dạt dào nỗi hoài mong tiếc rẻ bao nhớ nhung về quá khứ hao gầy. Nỗi nhớ làm cảm quan và lòng mình mềm nhũn, choáng váng, thẫn thờ tiếc nuối, nghẹn ngào tức tưởi bao mộng mơ bạt ngàn lắng đọng. Ngày ngày mẹ con tôi vẫn đi tản bộ ra bãi biển, ăn cơm hàng cháo chợ. Nhưng chỉ non tuần sau, tôi phải tính đến chuyện tự nấu ăn. Tôi tiếc hùi hịu vì đã để trên chiếc xe nhà của mình ở Cam Ranh hết mọi thứ, chỉ mang đi những túm quần áo cần thiết.

                            Bây giờ tôi mua một cái lò than, tôi phải tính toán cân nhắc kỹ từng đồng nơi xứ lạ phương xa: mua một nồi nhôm to ấu cơm, một nồi nhôm nấu canh, một nồi nhỏ dùng kho cá, một bình nhôm nấu nước, mua muỗng, đũa, sáu cái tô nhựa, (dùng khỏi bị bể). Dù các con tôi biết thương mẹ, chúng ra đường nhặt cây khô mục, lá khô, bã mía, để nấu cho đỡ tốn tiền mua củi, nhưng có thấm vào đâu. Tôi mua củi, gạo, rau, cá...

                            Có ngày trời nắng oi ả, có ngày mưa ào ào, bầu trời miền biển khác hẳn với khí hậu thoáng mát ở miền núi, khiến các con khó chịu, mặt mũi lúc nào cũng đỏ bừng, mồ hôi nhễ nhại, rôm sảy bắt đầu nổi lên từng đám dày, ngứa ngáy, thật quá tội nghiệp. Chúng ngồi đâu là hai tay gãi sồn sột, móc chỗ nầy cào chỗ nọ, như mấy con khỉ. Tôi vô cùng lo sợ các con lạ nước lạ cái, sinh ra ốm đau, thì nguy to.

                            Sáng sớm, khi các con còn ngủ, tôi lò mò đi chợ, về nhà vội nấu một bữa ăn (mà chia làm hai lần: một phần ăn vào lúc mười giờ sáng, một phần khác tôi múc ra trước, để dành ăn vào lúc năm giờ chiều). Khi ăn uống dọn dẹp rửa ráy xong, mẹ con bà cháu đều tản bộ ra đường nầy qua đường nọ. Chúng tôi thường đứng lại hằng giờ trước cổng một ngôi nhà xinh xinh phủ đầy hoa giấy, tôi thèm thuồng cuộc sống ấm áp gia đình mà mình đã bị mất, rồi ngậm ngùi buồn xo. Chân ngập ngừng e ngại bỗng dưng tôi chùng bước, len lén nhìn vào nhà họ.

                            Dẫu rằng ngôi nhà bên trong hàng dậu thưa ấy, tuy lạ mà rất quen thuộc, vì hình ảnh ông bà cụ đứng nơi bồn hoa thắm đỏ với vòi sen phun nước. Họ giống ba mẹ tôi, bước chân họ di động chậm chạp, khẽ khàng dẫm trên nền gạch, khiến lòng tôi chùng xuống nỗi tiếc xót ngậm ngùi. Tôi nhớ những bọt nước đã rơi xuống vệ cỏ ven đường nhà xưa. Tim tôi rung lên từng chặp, như nhắc nhở tôi nhớ về thuở nhỏ bên hàng hoa anh đào, trong ngôi biệt thự của ba má ở tại đường Quang Trung (dưới ga Đà Lạt) mà ngậm ngùi nấc lên từng cơn.

                            Tôi muốn quay đi chỗ khác, nhưng đôi mắt cứ dán chặt vào mỗi gốc cây trong ngôi nhà ấy. Tưởng như mới ngày nao tôi đứng tỉa cành già, hái lá vàng trên những cây cảnh trong khu vườn nhà riêng của mình khi đã lập gia đình. Nay cảnh vật và con người từ tha nhân cho tới chính mình, đã biến dạng ngoài sức tưởng tượng! Không ai có thể cứu lấy mình, chứ nói chi đến chuyện cứu người. Thời buổi loạn ly nầy “làm người” thật khó khăn: Nếu tôi có chút của cải, có máu mặt xí, thì bị hàng xóm, bạn bè dòm ngó và chính tôi nghi ngờ coi chừng… họ! Nay tôi lang thang xốc xếnh giống tên hành khất, thì bị coi là bôi bẩn chính thân, bị miệt thị, bị xô ra khỏi xã hội, và tụt xuống đáy bần cùng. Thật khó sống làm sao khi người dân thị thành vẫn lạnh lùng thờ ơ, tấp nập, dáo dác ùn ùn kéo nhau đi đâu mà đông đúc quá?

                            Bình minh dâng cao trên đầu thì nóng rát da người, hay hoàng hôn tàn dần, bóng râm từ các vách đá lan ra, buông xuống đường chân trời xa tít tắp một màu đen, dù thế trời chưa thể dịu mát khi ở ngoài đường. Mẹ con bà cháu tôi coi "ung dung nhàn hạ" thơ thẩn vì không biết làm gì, để giết bớt thời gian quá tẻ nhạt, là ra biển ngồi hóng gió. Chúng tôi ngồi nhìn từng con tàu lớn đậu ngoài xa xa, các con tưởng tượng nhiều điều thú vị, theo dõi và biết ngày nào con tàu nầy đến bến, ngày nào con tàu kia đã ra đi. Tàu thuyền trên sóng nhấp nhô, có chiếc lênh đênh trên đại dương, chiếc ra khơi, chiếc vào bến đậu. Tuy mục đích có khác nhau, nhưng con tàu cùng lênh đênh bồng bềnh chơi vơi cỡi trên ngọn sóng lớn. Tôi nhìn những con tàu khổng lồ mà buồn bã vô cùng, không dám ước mơ hay hy vọng, dù niềm hy vọng bé tí xíu. Tôi cảm thấy mình đang chới với, cô độc lữ hành trên sa mạc cháy nắng, dẫu biết rằng: không có ai biến thành là một hoang đảo, vì phải có sự tương giao với đời. Thế nhưng tôi quá bơ vơ lạc lõng, cảm thấy mình giống ông lính già cô độc, run rẩy trong một pháo đài bị vây hãm.

                            Trời xanh lồng lộng, biển Nha Trang thơ mộng thi vị dịu êm có gió hây hây thổi, mặt biển vẫn là thảm hoa cương óng ả gờn gợn lấp lánh, rì rào, lung linh và mênh mông. Trẻ nhỏ vô tư lự nô đùa trên biển, các con ưa thích vỗ tay và ngẩn ra nhìn những con tàu. Dù tôi bảo thế nào các con vẫn e dè, sợ sệt; vì các con không quen, chưa bao giờ cởi áo quần ra giữa chỗ đông người. Tuy các con đến với biển mỗi ngày, nhưng chúng chưa dạn dĩ. Nhìn sóng biển trắng xoá xô bờ, đẩy tới đưa lui, thì các con cảm thấy chóng mặt và sợ, nhút nhát co chân, chúng chỉ dám xăn quần lên tới đầu gối. Hoặc mặc áo quần dài mà reo vui, lội bì bõm vọc nước sát ven bờ, khi sóng vừa bén gót chân, các con lo sợ hét to, chúng vội vã nắm tay nhau chạy lên bãi cát khô, làm y như là các con sợ nhúng chân vào nước nóng.

                            Cái thú duy nhất của các con là cùng nhau chạy đi rượt đuổi những con còng. Kể ra các con cũng khôn, biết mò ra chỗ để bắt ốc, bắt còng về luộc ăn. Con còng, con ốc cũng khôn không kém. Còng chạy rất nhanh, thoáng một cái chúng tìm mọi cách thoát thân đằng nào thật lẹ. Bao nhiêu lần các con không bắt nỗi, nhưng có một hôm các con làm thành một hình tròn to, rồi từ từ khép chặt vòng tròn, vây quanh mấy chú còng lêu khêu. Ba đứa con tôi chầm chậm bò dần dần tới bên mấy con còng, các con nháy mắt giơ ngón tay trỏ đặt lên môi, (làm như lũ còng biết nghe tiếng người vậy), chúng đồng loạt ụp cả người, phủ lên mấy con còng ngố ngáo. Tôi cười thầm:
                            - “Con còng què chân làm chi tội rứa, nên mới bị trẻ bắt sống hỉ!”.

                            Thế là mấy chú còng bẹp dí. Bé Bi giơ một chú còng què lên trời, cười ha hả, hôm đó cả nhà chúng tôi có được bữa "ăn nhậu" canh chua còng, cùng nhau chuyện trò vui và rôm rã ra phết!. Có một hôm, mấy con đang tắm biển, thì bé Bi do sợ sóng nước, đã ị ra quần thối um, khiến cả nhà cười vang. Tôi thương các con bị đói khát, nhưng biết thân phận mình, các con không dám đòi quà bánh. Bé Dzũng thường cõng bé Hoàng trên lưng, Tuấn dụ em Huy (bé Bi) đi ra ngoài gốc phượng nhặt hoa rơi. Mấy anh em xếp hoa thành từng đống, cho em chơi để em nhỏ quên đói, không đòi bú mẹ.

                            Khi ta có đủ thứ trong tay, thì mình xem thường các thức ăn. Nhưng, bây giờ sống trong cảnh đói khát, nằm gai nếm mật, ăn ngủ ở đầu đường xó chợ, bơ vơ bất vất, dù có những thức ăn tầm thường nhất chúng tôi cũng quý, mới thấm thía buồn và cảm thấy đau nhừ, như ai dần từng khúc ruột, tôi lại tiếc ngẩn ngơ những thứ đã mất. Thật ra, chúng tôi đang sống trong cảnh phập phồng lo sợ. Chẳng ai cấm tôi gào thét, thi gan cùng biển cả mênh mông. Nhưng tôi không còn tâm trí nào mà tắm táp thoải mái ngoài biển, chứ nói gì gào thét cho đã nư. Tình cảnh mẹ con tôi bây giờ khốn đốn là thế!

                            Chín giờ tối gia đình chúng tôi sung sướng về ngả lưng trên cái giường rộng. Có một điều là trời rất nóng và muỗi, vô số muỗi; nên dù ngày nào ở nhà, không đi biển, thì bà cháu mẹ con ở ngoài sân trường học, hay ở trong nhà có quạt máy vù vù trên trần, nhưng vẫn nóng hầm hập, chúng tôi dùng thêm quạt giấy, quạt phành phạch suốt. Cuộc sống di tản của chúng tôi có lẽ từ nay là những ngày tháng mòn mỏi đợi chờ thật dài, trống vắng như người hụt hẫng bước đi trên đại dương, khiến tôi mất hẳn ý niệm về cuộc sống, mà chẳng biết sẽ chìm lúc nào.

                            Tôi như con ốc sên nhút nhát thu mình trong vỏ, mất hết bản năng sinh tồn, nhụt chí và chán nãn tuyệt vọng dường bao! Thời gian nhàn hạ ở đây thật vô vị và mù tịt, tôi không hề biết ất giáp gì về chuyện trong nước đang hỗn loạn tột cùng. Ngày nào cũng như ngày đó: do nỗi lo lắng về tương lai bấp bênh mịt mùng, sợ hãi đói khát và bệnh tật cứ trỗi dậy trong lòng tôi. Sự khốn cùng càng tăng mãi, niềm hy vọng bình yên thanh thản đôi chút mỗi lúc một vơi cạn.

                            Từ thành đến tỉnh, đâu đâu tôi cũng nghe người ta bàn tán xì xào chuyện chính trị và chiến tranh mà tôi chúa ghét. Tôi nghe chán tai lúc người ta quả quyết:
                            - Đã mất nước tới đèo Hải Vân.
                            - Mất tới Đà Nẵng...
                            - Có lẽ đất nước nầy chia ra làm ba thành phần.
                            - Lại nghe đồn từ vĩ tuyến 13 trở vào Cà Mau: là do chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tin “bỏ” vùng nầy, bỏ vùng kia.
                            - Khi thì nghe người ta bàn tán Việt Nam sẽ trung-lập.
                            - Sẽ có chiến tranh huynh đệ tương tàn khốc liệt.
                            - Sẽ hoà bình: Đó là tiếng pháo bông nổ lớn trong đêm trừ tịch tối đen mừng ngày đất nước thanh bình, hay báo nguy lầm than, cơ cực, nghèo đói, chia ly, và sẽ thanh trừng "người thua cuộc" tràn ngập trên đất Việt vào một ngày không thể ngờ tới?! Làm sao biết được ngày mai!

                            Mẹ con chúng tôi đến thăm Oanh ở trong một biệt thự nho nhỏ xinh xinh tại Xóm Mới, nhà có vườn cây rợp bóng im mát, gia đình ba má Oanh gốc người Huế, hiền lành, vui vẻ thật thà. Hai bạn gặp nhau mừng rỡ, trào nước mắt chảy ròng ròng, chúng tôi thì thầm chuyện trò. Mặc dù ba má Oanh có nhã ý dành cho gia đình tôi một phòng nhỏ, nhưng tôi sợ các con dại sẽ làm phiền họ, lại mất lòng và mất cả tình bạn cao qúy, nên tôi từ chối.

                            Trong khoảng thời gian qua, Luật theo lệnh thượng cấp phải “tử thủ” ở Đà Lạt, (nhưng khốn thay... "người chủ chốt" ra lệnh tử thủ ấy, đã "rút dù" đi biệt tích giang hồ, lũi trốn đi trước đồng đội rồi. Nhưng vì đa số người lính đã ý thức về trách nhiệm và bổn phận làm trai... nên họ ở lại giữ nước, cho đến ngày cuối cùng, họ mới cùng trường Võ Bị Quốc Gia triệt thoái). Luật gửi nhờ những chuyến xe GMC quen về địa chỉ nhà Oanh, (lúc nầy trên quốc lộ chỉ có những xe "nhà binh" được phép di chuyển trên tuyến đường Đà Lạt xuống Phan Rang...) người chủ xe đã đến giao cho Oanh, rồi Oanh chuyển cho tôi: quần áo, mền, mùng, nồi niêu son chảo, vân vân… cùng tám chục ngàn đồng, tiền lương vài tháng qua của vợ chồng chưa kịp lãnh.

                            Mấy lá thư Luật báo tin đã mất Bamêthuột và Huế. Luật dặn dò mẹ con tôi “phải cố gắng, bằng mọi cách tìm đường di tản về Sài Gòn” gấp. Tôi chỉ nhận tiền Luật gửi về Oanh, còn tất cả đồ dùng kềnh càng, tôi gửi lại trong nhà kho của Oanh. Chúng tôi kiểm chứng tin Luật đã báo, thì đúng y bon, vì bà con của Oanh từ Huế, nườm nượp di tản bằng thuyền đánh cá của họ chạy ra Nha Trang, họ kể lại Huế đã đi vào cửa ngỏ cuộc chiến. Nghe đâu Đà Nẵng rất lộn xộn, gần như thất thủ nơi ấy. Gia đình Oanh không tính đi đâu cả, có chết thì chết ở xứ nầy, vì họ còn một bà cố già lụm cụm ngoài chín mươi tuổi, nếu họ đem cụ theo chạy loạn, thì không được, mà để cụ ở lại một mình với mấy căn biệt thự, càng không thể.

                            Tôi hốt hoảng chạy tới nhà của chị Bàn đã thuê, hầu báo tin chẳng lành, cùng những lời Luật nhắn nhủ. Tôi vui mừng thấy gia đình Ngọc, (gồm các em của Ngọc là: gia đình Quý, gia đình Cúc vẫn sống chung, giống như khi họ ở Đà Lạt) đã về tá túc ở đây vài hôm trước rồi. Các bạn khuyên tôi nên về ở chung nhà, nếu có bề gì, thì hú nhau một tiếng, cùng giúp nhau chạy loạn. Tôi nghe phải, nên về nhà bà Niềm thu dọn ít bọc quần áo trẻ nhỏ, cám ơn ông bà chủ nhà, rồi đến ở chung với các bạn cho bớt tẽ nhạt và sợ hãi.

                            Đến ở trong ngôi nhà tôn vách đất thấp lè tè, nóng như thiu đốt. Chúng tôi góp chung tiền, ngày ngày mấy người đàn bà cùng đi chợ nấu ăn hai bữa, một bữa ăn lúc mười giờ rưỡi, (thay cho buổi sáng và trưa nhập thành một bữa). Một bữa ăn lúc sáu giờ chiều. Ngày nào cũng từng ấy thứ: Nồi cơm thật to, nồi canh rau muống trộn mì gói hiệu ba con tôm to tướng, cá kho rim mặn, (thay đổi loại cá mỗi ngày, ở đây cá tươi rất rẻ, tươi và rẻ hơn Đà Lạt rất nhiều, là cái chắc).

                            Họ giống tôi, ai cũng muốn thủ thân, chắt bóp nhín nhút ăn uống qua loa, để sống, chứ chẳng phải sống để ăn. Nấu nướng bằng bả mía phơi dôm dốp vài nắng, thì khói bay mù mịt, cay xè mắt, nước mắt nước mũi chảy tùm lum. Ba thằng con trai lớn, (hai đứa con của Ngọc, một đứa con của tôi) thay nhau nằm dài xuống nền đất, phồng má thổi lửa phù phù. Bụi tro, khói, đất, bay lên đầu cổ, mặt mày chúng đỏ rần và ho sù sụ. Dù ở đây có phần tù túng khổ sở hơn ở nhà bà Niềm, nhưng có bạn chia sẻ chịu đựng, tôi cảm thấy đỡ sợ, bớt lo lắng nên yên tâm hơn.

                            Sau những bữa ăn sum họp vội vã, nhà nào nhà nấy ai ai cũng ra ngoài đường, tới ngoài chỗ đông người, để nghe ngóng thu lượm tin tức. Chúng tôi lo lắng sợ hãi, cùng đường quẫn trí, rối bời đầu óc, bồn chồn cùng nhau bàn lui tính tới hết cách. Kết luận cuối cùng là: giả thiết từ bây giờ cho đến khi nào Nha Trang bị lung lay, nếu trong nhóm nầy ai có phương tiện thuận lợi nào, thì cứ lo cho gia đình đó vượt thoát. Nếu lúng túng với một đám trẻ con trên dưới mười bảy đứa, (không kể người lớn), đông người như thế nầy, thì chẳng biết làm sao có thể di chuyển chung chuyến xe, chuyến tàu, như khi chúng tôi ở Đà Lạt đã cùng nhau chạy đi. Tôi thật buồn và vô cùng tuyệt vọng nghe chị Bàn đã đi thu lượm tin tức ở ngoài bến xe về, chị nói:
                            - Ngày 11-3-1975 mất Ba Mê Thuột.
                            - Ngày 26-3-1975. Huế đã thất thủ. Kế đến là Đà Nẵng.

                            Ở các bến xe khách, hải cảng, cũng như ở phi trường dân sự, người ta đông hơn kiến, chen chân không lọt, đông vô số kể. Ai muốn đi về Sài Gòn, thì phải ghi tên trước cả tuần, sau khi được gọi, phải mua một chỗ ngồi cả bạc triệu, hay đóng mỗi đầu người hai lượng vàng. Ai muốn sống cứ thế mà tính, không cò kè bớt một thêm hai. Nếu chần chờ không kịp nộp tiền, thì có người khác “xí phần” đưa tiền hoặc vàng ra ngay.

                            Chiều nào cũng thế, mẹ con bà cháu nhà tôi không biết làm gì cho hết thì giờ nhàm chán nôn nao lo lắng, nên chúng tôi thơ thẩn ra biển. Những con sóng lớn ập tới, tôi bị lún sâu xuống nước, tưởng chừng như muốn khuỵu đôi chân. Tôi bị sóng nước dồn hất lên hụp xuống, chao đảo khi hai tay đập loạn xạ trên mặt nước. Càng vùng vẫy, tôi tưởng như đang nhận chìm mình tụt tong tong xuống vực sâu. Tôi sợ hãi kinh khủng!
                            ***


                            Tình HOÀI HƯƠNG
                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-15-2017, 09:29 PM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • Tinh Hoai Huong
                              Senior Member
                              • May 2009
                              • 1081

                              #194
                              Ông Tướng… Nuôi Gà !



                              Ông Tướng… Nuôi Gà !
                              Nghịch_Nhĩ
                              *

                              Nếu ai trong chúng ta có… “chơi ”gà, mới thấy được cái tấm lòng, cái cực khổ chăm sóc, cái tâm hồn của những tay nuôi gà đá như thế nào! Từ cách tìm chọn giống gà, xem vi vảy, rồi đem về nuôi ăn; phải là loại thóc đặc biệt, thứ đừng có nhọn nó hóc cổ, nào là phun rượu rồi vô nghệ cho thịt săn cứng. Như vậy chưa đủ, đêm đêm khoảng 2 , 3 giờ sáng còn nhè nhẹ nhấc cái đầu bà xã đang gối trên cánh tay, len lén ra cái bội gà, để xem con gà ngủ coi có lộ ra cái tướng nào không; có phải thuộc loại gà chiến... “tử mị” không? Rồi còn tẩm bổ cho nó bằng lúa non vừa ngậm sữa, thằng lằn, thả ra phơi sương cho nó... “sung” nữa chứ! Thật là lắm công phu và nhiêu khê quá phải không bạn. Vậy mà có ông Tướng lại Nuôi Gà đấy!

                              Xin bạn đừng vội vàng cho là tui có ý xoi mói đến ông Tướng Đá Gà nha?! Hổng dám đâu! “Đá” và “Nuôi” khác nhau à! Nếu thế thì bạn nghĩ chắc ông nầy nuôi gà... “móng đỏ” như một số Tướng khác chứ gì nữa??! Trật… lất! Thôi để tui nói ngay: đó chỉ là cách ẩn dụ, nói ví von về ông Tướng ÁNH đã nuôi quân, đã lo lắng chăm sóc thuộc cấp với một tấm lòng… như người nuôi gà nòi vậy!

                              Để tôi kể thêm một vài chuyện mà tôi biết được về ông Ánh, những chuyện thật chứ không phải tôi thêu dệt, tô vẻ thêm cho người mà tôi kính phục ngưỡng mộ đâu; mà theo tôi đó chỉ là vài tia hào quang thôi, còn biết bao tia khác, mà tôi không biết về ngôi sao rực sáng nầy! Người ta cứ nghĩ rằng ông chỉ quan tâm đến các phi công, những người trực tiếp ra chiến trận thôi. Không hẳn vậy, thực ra ông vẫn để tâm giám sát đến các ngành các cấp từ trên xuống dưới, và giải quyết mọi chuyện dù nhỏ nhặt có lý có tình, đâu ra đó đàng hoàn! Kỷ luật nghiêm minh, ông đã treo bằng lái và ký củ một số hoa tiêu, chứ đâu phải không có! Nhưng tôi không nghe tiếng ta thán trách móc gì ông cả, mới lạ chứ !

                              Bạn nghĩ sao về việc nầy? Một hôm ông Ánh để ý thấy một anh lính không quân ăn mặc, trang bị như đi phép, mà cứ lẩn quẩn ngoài phi đạo Cessna, rồi qua phi đạo trực thăng. Anh ta cứ tới lui như vậy có vẻ nôn nóng sốt ruột lắm. Ông Ánh bèn đến hỏi căn do, mới biết thì ra anh nầy được ba ngày phép về Saigòn thăm vợ sanh, mà chờ cả buổi rồi chưa có máy bay nào đi cả. Ông bảo "chờ đó". Rồi ông về thay đồ bay, làm tài xế Cessna đưa anh lính kia về Saigòn! Có ngon không chớ! Đố ai biết được sự cảm động của anh ta đến mức nào, và hình ảnh của ông Sư Đoàn Trưởng đến bao giờ mới phai mờ trong tâm khảm của anh?!

                              Chẳng những thế, bà ÁNH lại muốn chia xẻ tình cảm của thuộc cấp đối với ông, hay là muốn bồi đắp thêm cho ông những cảm tình ấy, khi chính tay bà nấu những nồi cháo gà hằng đêm, và bưng sang khu cư xá Phi Đoàn 520, để bồi dưỡng cho anh em pilot bay đánh suốt đêm trong thời tết Mậu Thân (1968). Riêng vợ chồng anh Tạ Hoà Hưởng chắc cả đời cũng không làm sao gặp được một bà KĐT nào, như bà ÁNH đích thân chăm sóc, nuôi đẻ cho vợ anh trong thời gian nầy, lo từng miếng ăn đến từng tấm tả... một cách tận tình như chị em ruột thịt. Phải không?

                              Tôi nghĩ ông chẳng những đồng ý, mà còn khuyến khích bà làm những việc trên với tấm chân tình của huynh đệ chi binh, đậm tình người... chứ không phải kiểu trình diễn cho lên màn ảnh TV. Người ta muốn... “lấy diểm” ở cấp trên, chứ với cấp dưới bao giờ?! Về ông Ánh, kỳ nầy tôi xin lần lượt kể vài chuyện nữa, để thêm những bằng chứng tại sao người ta kính phục ông:

                              1/* Lần trước trong bài viết “ pháo... Nổ”, tôi có nói đến anh Nguyễn Thiện Ân, "Hiệp sĩ Mù", và chỉ bàn tán đùa vui về anh thôi. Tất cả những gì tôi đã viết là sự thực, nhưng còn thiếu chưa đủ tình tiết, lần nầy xin nhắc lại, bổ xung thêm và có một điểm… “lộn lầm” cần đính chính luôn! Tôi xin thưa trước có những chi tiết nào tế nhị và nhạy cảm, tôi sẽ bỏ qua; cũng xin quý vị bạn đọc và những vị có liên hệ, đừng hiểu lầm là tôi nhắc lại chuyện xưa: để bươi móc, chế diễu, nhẽ trong hàng ngủ KQ chúng ta. Tôi cũng tránh nêu danh tánh những ai khi không cần thiết.

                              Khi được tin là có cuộc thi tác xạ và cũng nhân dịp phô trương sự lớn mạnh của KQ đưọc tổ chức tại bãi biển Nha Trang ngày 19/04/1969, do KĐ 62 đảm nhận tổ chức. Ông Ánh cũng nhận thấy những thất thế của đơn vị mình và hơi xao xuyến vì:
                              - Phi Đoàn 520 sẽ làm ăn ra sao đây, khi những “con gà” pilot của mình vừa xuyên huấn bay A37 mới đây thôi, so với PĐ524 (Nha Trang) lâu hơn; và lại phải đua tranh với PĐ F5 đã có từ trước, và căng hơn là có anh PĐ AD6 thâm niên trong nghề nữa!
                              - Mục tiêu thực tập tác xạ, chỉ có vài lần, là tạm dùng hòn đảo nhỏ nhấp nhô trên mặt nước ở ngoài khơi Rạch Giá, chứ không được địa hình địa lợi sẵn, để tập dợt làm quen như PĐ ngoài Nha Trang!

                              Tuy vậy ông cũng dẩn đám học trò đi thi, mà kỳ nầy coi như thi “công-cua” trước mặt bá quan văn võ triều đình, có sự chứng giám của ông Kỳ, người có hứa thưởng100 ngàn cho ai trong pass đầu tiên đánh trúng mục tiêu. Và ông Thiệu (có mặt độ nửa giờ rồi rời khỏi đấy). Để cho công bằng, thì đơn vị phải đem theo chuyên viên kỹ thuật, và vũ khí theo để phục vụ, và có một ban giám khảo do Bộ Tư Lệnh KQ chỉ định, bay trên trời để chấm điểm, dựa theo những quy định như: mỗi PĐ có bốn chiếc: 2 chiếc đầu (1&2) mang rocket và Napalm. Hai chiếc 3&4 mang bom nổ, 4 quả cho mỗi chiếc. Tất cả chỉ đánh hai pass thôi. Giờ TOT (time on target ) phải đúng. Độ cao minimum để release bom được ấn định ban đầu là 2500 feet (giờ chót lại hạ xuống còn 1500 f , lý do? ai biết !) …v..v…

                              Mấy quan giám khảo gồm có 5 vị : Nguyễn văn VECHAI, Trần Anh Tuấn (Tacc)… (nếu anh VeChai có tình cờ đọc, xin bổ túc những gì thiếu sót mà anh còn nhớ dùm. Cám ơn). Các anh hào dự tranh gồm có:
                              -* 1 Phi Tuần F5 (pđ 522), 1 Phi Tuần AD6 (pđ 518), 1 Phi Tuần AC 119 (???), 1 Phi Tuần A37 (pđ 524 N-T) và 1 Phi Tuần A37 pđ 520 C-T) - (lúc ấy VN chưa có Trực Thăng gunships, nếu có cũng phải dự riêng, chứ nếu áp dụng độ cao để bắn rocket như thế, thì “chơi ép” trực thăng, hổng fair à!).

                              Mấy chiến tướng của PĐ 520 được sắp xếp như sau:
                              - Chiếc số 1: Huỳnh Hữu Hải và Thuyết (leader).
                              - 2: Huỳnh Công Danh (Rock).
                              - 3: Nguyễn Thiện Ân (Hiệp sĩ mù)
                              - 4: Trần Quốc Tuấn

                              Chiều ngày tổng dợt (3 ngày trước ngày chánh), ông Ánh đã lái xe ra phi đạo để đón anh em bay về, ông lộ vẻ vui vui khi nghe mấy anh chuyên viên kỹ thuật Cần Thơ đã cá độ với đám bạn Nha Trang, và thắng được 5000$, thì gà ai người đó theo! Dĩ nhiên!

                              Ông ÁNH theo anh em về tận phòng vãng lai dặn dò anh em đi ăn tối xong, rồi về briefing và 9:00PM đi ngủ sớm, để lấy sức! Sáng hôm sau (ngày thứ nhì) ông lại xuống bảo anh em đi ra phố ăn sáng, uống cà phê ở mấy kiosque, rồi đi tắm biển chơi, chứ KHÔNG về phòng vãng lai. Ông bận việc đến trưa xế sẽ ra tìm, nhớ đấy! Đúng như lời, khoảng 3 giờ chiều ông chạy xe dọc bờ biển Nha Trang, tìm thấy anh em còn lang thang, vui chơi ở ngoài đó, kêu gom họ lại, ông nói:
                              - Tôi hài lòng vì anh em tuân lời, tôi chỉ ngại là mấy chú về phòng ngủ trưa, tối ngủ trể hoặc mất ngủ, sẽ có ảnh hưởng đến sức khoẻ cho ngày mai! Bây giờ tôi đưa tiền cho mấy chú đi ăn cơm Tây, beef steak xong, rồi đến 8:30 tối là phải về phòng, để 9 giờ là phải đi ngủ nghe. Không được đi lăng-nhăng... “phí sức” đấy!!

                              Tất cả ai nấy đều cảm động không nói nên lời trước sự chăm lo từng chút của ông Ánh… Rồi tựa người vào thành xe, ông hỏi:
                              - Ai bay chiếc số 3 mang bom nổ?
                              Hiệp sĩ mù giơ tay lên; ông Ánh giơ ngón tay trỏ chỉ Nguyễn Thiện Ân nghiêm giọng:
                              - Tôi giao chú ngày mai phải lấy được 100 ngàn, và mang chiếc Cúp Lớn Số 1 về cho tôi!

                              Nói xong, ông lên xe chạy đi! Hình ảnh 100 ngàn tiền thưởng cho pass đầu tiên đánh trúng mục tiêu, và chiếc Cúp hạng nhất là một áp lực trên vai các anh. Không phải vì danh dự được tiếng hay dở, mà chính vì cái tấm lòng, cách đối xử và sự chăm lo của ông ÁNH mấy ngày qua xúc động. Họ nhìn nhau trong im lặng nhưng ánh mắt các anh đã thay cho lời “quyết tâm”!
                              Tối đến, ông lại xuống kiểm tra, hỏi có ai cần gì không? briefing lần chót chưa? và dặn 9:00PM là phải đi ngủ!

                              Hôm sau là ngày thi đua chính 19/04/1969 ; tờ mờ 6:00 sáng ông lại xuống ngồi ngay trên giường của Ân, thăm hỏi anh em đêm qua có ngủ được ngon giấc không? và dặn dò đi ăn sáng xong, xuống kiểm tàu, nổ máy warm up, rồi về phòng nằm nghỉ chờ đến giờ mới ra đi bay! Anh Ân đã từng vào vùng lửa đạn mà sao không hồi hộp và lo âu như lần nầy; nếu có thuốc an thần (anti- depression) anh cũng dám… “làm” một viên lắm à!

                              Giờ đã điểm…! Cuộc thi mở màn ! Phi tuần đầu (xin miễn nói phi cơ gì và PĐ nào) nhào xuống đánh rocket. Không biết lý do gì một hoả tiễn…. “né” mục tiêu, mà lại tìm đúng vào chiếc tàu Hải Quân chạy tuần phòng vòng đai phía ngoài, cách xa các pa–nô, mới lạ chứ! Hú vía! Bạn và ta vô sự! Phi tuần đầu 4 chiếc, đã xong một pass, mà cái pa-nô vẫn còn trêu-ngươi dập-dềnh trên sóng nước!

                              Phi tuần thứ hai là các “con gà” PĐ520 của ông Ánh vào mục tiêu…và trễ TOT (giờ trên mục tiêu) 10 seconds, cũng not bad! Chiếc 1&2 lần lượt cắm xuống nhắm mục tiêu xịt rocket, rồi vọt lên và kết quả: pa-nô vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”! Chiếc thứ 3, Hiệp sĩ mù nhào vô, lao mình xuống… hồi hộp quá! Anh canh…, nhắm, nhắm kỹ… bấm nút thả 2 trái bom nổ, không nhớ là miệng có đọc thần chú không; lại cất vọt lên..! Ở dưới đất anh Sơn Gáo thấy có một quả bom bay có vẻ lệch mục tiêu quá, anh phải ẹo người lấy ép–phê như đánh bi da vậy…

                              Đang vọt lên trời, Ân chỉ nghe chiếc lead hét thất thanh trong máy: Dzô…! Dzô rồi…! Anh nhìn xuống thấy pa–nô tung toé lên như đàn bướm vở tổ! còn dưới đất Sơn Gáo tung nón ca-lô lên trời, chạy la hét như điên, vì cả hai trái vô ngay chóc mục tiêu! Cái nặng ngàn cân đè nặng trong người Ân mấy ngày qua đã biến mất,a nh cảm thấy hồn mình đang lâng lâng bay bổng… nhìn quanh thấy cái gì cũng đáng yêu, cũng đang mỉm cuời với anh: từ cụm mây trắng trên trời cao trong vắt, đến lọn sóng tung lên trắng xoá như giơ tay vẫy chào trên mặt biển xanh rì! Còn anh Sơn tỉnh người, nhớ đi tìm lại cái ca- lô đã ném tung đi trong lúc hứng chí, mà cũng chẳng thấy, mất tiêu luôn! (T/t Sơn con người rất nhiệt tình, dể mến, đã hy sinh vào những ngày tàn cuộc chiến! Thương thay!).

                              Về đáp và phi hành đoàn vào dự yến tiệc, ông Ánh hân hoan xuống thềm xiết tay Ân thật chặt, và dẫn anh Ân lên giới thiệu với ông Phó Tổng Thống Nguyễn cao Kỳ. Tiếp theo không biết ông ÁNH có trình rằng: đây mới chỉ là tên “pilot cận thị” của đơn vị tôi thôi đấy hay không, mà anh Ân phải thò tay móc cặp kính cận để dưới túi áo bay ra làm bằng! Và cả hai cười thật vui, khi nghe ông Kỳ nói:
                              - Như vậy là không được, chơi ăn gian vì dùng đến bốn con mắt nó rõ hơn người ta!

                              Thực tình khi nói đến phi công VN, nhờ được tôi luyện hằng ngày nơi trận mạc, nên các phóng viên ngoại quốc đều khen ngợi tài ba và anh hùng lắm! Nhưng tài giỏi trong ba năm, mà chỉ bị tổ trát trong tít- tắc, thì cũng ôm nỗi buồn…5 phút chứ. Còn Pđ 520 nhờ thánh nhân đãi ngộ kẻ... miền xa, nên được lãnh 100 ngàn, và chiếc… cúp nhỏ (trong bài viết “pháo ..Nổ”, tôi đã viết sai lầm, nói ngược là lãnh cái cúp Lớn, mà không được 100 xín, xin đính chính lại!).

                              Vài tháng sau các PĐ có họp lại, và quyết định làm một cái cúp khác, để thay thế chiếc cúp Số Một, gửi tặng PĐ 520; vì trong mức thang điểm tối đa là 240 điểm, anh chàng Thần Báo 520, hạng Nhất được 214 điểm; về Nhì được 162 điểm…! Còn vị nào thắc mắc tại sao không được cúp Số Một lúc đó? Ai biết đâu nè…! À! phần đó xin dành cho quý vị tự tìm hiểu... Đấy! đấy mời quý vị nhìn trở lại vụ trên, để thấy cho đôi nét về con người của ông ÁNH, với sự chăm lo sớm hôm.. có từa tựa như mấy ông nuôi gà nòi không thôi. Đó mới là chủ đích của bỉ nhân!
                              ***

                              2/* Còn cá nhân tác giả cũng nhớ vài lần… “thưa gởi, trình bày phải quấy” với ông Ánh có liên quan với Trực Thăng nữa! Trân trọng xin thưa: Đây cũng là cái dịp để... “một lần” nói về Trực Thăng cho các bạn pilot khác ngành, hoặc không bay, biết cho vui hay thông cảm... những nỗi niềm dân Trực Thăng VN thời chiến!

                              Bây giờ tôi viết thoải mái không sợ bị ghép tội có đầu óc địa phương, bươi móc, hay gây mầm móng chia rẻ... và tôi cũng không sợ bị… “khiền” , vì cho rằng tôi có luận điệu bất mãn, so đo ganh tị; hoặc than vãn kêu ca...vân vân và… vân vân! Nói để mà chơi, chớ được cái gì… đã vậy mà còn dài dòng nữa, xin báo trước!

                              Dân chúng vùng IV thuở trước thường thấy một đám trực thăng mươi chiếc phành phạch tà tà đáp xuống đổ quân trên bãi trống, giữa khu rừng dừa hoặc rừng cây, lau sậy, … rồi lại từ từ cất lên thấy có vẻ an bình, thảnh thơi và ung dung quá phải không? Thấy dễ quá mà, có gì đâu... nhưng “đoạn trường… ai có qua cầu mới hay”! Nhớ hồi đó từ giữa năm 1968, dân Trực Thăng của 2 PĐ 211&217 (Cần Thơ) nếm mùi trực thăng vận, hay diều hâu đầu tiên!Thời đó, chiếc C&C (Command and Control) và Gunship đều là Mỹ!

                              Khỏi tưởng tượng làm gì cho mệt óc, điển hình đây là một cuộc đổ quân diều hâu, điểm hẹn có mặt tại sân bay Trà Vinh lúc7:30AM. Phi hành đoàn 10 chiếc (=30, 40 mạng) lo gọi nhau thức dậy giờ nào không cần biết, mà phải có mặt để cất cánh lúc 6:30 sáng. Thành ra tài xế xe pick up của Phi Đoàn phải chạy xuống cư xá gom quân cỡ 5:30!

                              Đúng 6:30 cất cánh! Đến sân bay Trà Vinh là lo refuel ngay cho đầy, rồi tắt máy chờ đó. Độ ½ giờ sau, một chiếc C&C do Mỹ bay đáp xuống cạnh chiếc Leader, một anh xạ thủ Mỹ chạy qua đưa tần số, danh hiệu cho Leader, và ra dấu quay máy kêu lên trời liên lạc nhận chỉ thị sau; xong anh cất cánh bay mất tiêu! Anh số một Leader bốc máy bộ đàm Motorola gọi anh số 10 cuối dãy, thông báo kêu gọi anh em quay máy cất cánh ngay! Leader thấy hơi… mệt, vì biết hôm nay làm việc chung với C&C và Gunships Mỹ thuộc Phi Đoàn Vulture (Kên-Kên?). Danh hiệu là Vulture 6 (call sign của PĐT), còn danh hiệu mình thường dùng là Black Horse (Ngựa Ô). Kiểu của mấy ông nầy là không có phóng đồ hành quân trước, mà lên trời mới cho biết chi tiết… “mần ăn” thế nào! Cất cánh xong, gọi ngay và được ông C&C Mỹ cho một hơi 4 cái toạ độ: 1 pick up quân, 2 RP (report point), 1 bãi đáp LZ (Landing Zone). Đồng thời cũng cho biết danh hiệu của gunships Mỹ là Tiger 3, để liên lạc khi đến điểm hẹn RP.

                              Thường hợp đoàn 10 chiếc là bay đội hình 2 chữ V, trong đoàn phải ráng giữ yên lặng trên tần số, để lắng nghe lệnh lạc của anh lead, số 1, và anh cuối số 10 là anh trail (đuôi). Anh Trưởng Phi Cơ lead giao cần lái cho copilot, và anh lo ghi chép, chấm toạ độ! Sau khi bốc quân lên xong lại báo cáo với C&C, và lấy hướng bay đi đến điểm hẹn với Gunship ở RP, để gunships yểm trợ và hướng dẫn vào mục tiêu đổ quân. Từ giờ phút nầy mới thấy hơi căng thẳng, và mệt mỏi đây! Không phải sợ VC bắn, (vì lúc đó VC chưa có SA7) mà mệt ở chỗ: bay hầu như trọn ngày mà phải bay theo đội hình, tức là cần sự chăm chú của cả phi hành đoàn từng chiếc một.

                              Chiếc leader phải bay cho thật êm ái, nhẹ nhàng, lên xuống hay quẹo cua cũng từ từ để dễ dàng cho cả đoàn đang đeo theo phía sau; vì anh PHẢI biết rằng: nếu anh sữa một, thì mấy anh phía sau sữa gấp chục lần! Không khéo thì khi anh đáp tới đất rồi, còn thấy năm ba mạng còn lơ lửng trên cao, vì xuống không kịp! Vừa “gò” bay cho “xì–mút”, vừa tìm coi RP để liên lạc gunships, vừa xem toạ độ LZ nằm đâu, để liệu tính lúc nào bắt đầu xuống, phần nghe và nói với ông Mỹ bằng tiếng Mỹ qua vô tuyến đôi khi… cà giựt nữa, nên đủ mệt rồi. Có rãnh đâu mà để ý đến mấy tên thổ phỉ bắn lên lóc chóc chứ! Còn mấy chiếc theo sau thì phải bay sát vào, ráng giữ khoảng cách lý tưởng là 1 vòng quay của rotor, hơi cao hơn chiếc trước một xí, để tránh bị gió đè, đừng bay sát quá, lỡ đấu kiếm (rotor chém nhau) trên trời là… “ hui nhị tì” sớm! Nếu bay hơi lơi một chút, là bị ông bay số 10, bay trail, la "thúc vô đít rồi"!

                              Sở dĩ bay đội hình thật gần sát như vậy, không phải phi diễn cho đẹp, để cho VC ngắm chơi rồi nó quên bắn mình đâu; mà mục đích duy nhất là để gunships yểm trợ, cover cho dễ thôi! Thế nên cả bầy bay chùm-nhum như vậy, cũng khiến cho địch… “khoái” bắn nữa, vì thấy mục tiêu cả “dzề” như vậy, cứ bắn đại lên, không dính chiếc nầy cũng trúng chiếc kia, cần gì nhắm! Nhiều lúc bị VC bắn vừa-vừa phải-phải, không “rát” lắm, thì cả đoàn cũng tới luôn... bác tài.

                              Xuống bãi đáp đổ quân luôn, miệng thì la báo cáo cho gunships biết có địch trong hàng cây hướng 3 giờ bắn “chúng ông” đấy. Mấy chàng wingman tay chân thì hơi “gồng” một chút, mắt cứ lo bám theo chiếc trước, cứ thế mà tiến tới! Anh phải nhớ là anh bay theo hợp đoàn, trong đội hình, chứ không phải bay một mình như đi tiếp tế hoặc tải thương, mà muá-may quay cuồn, lạn lách, nghiêng mình lúc khoan lúc nhặt, rớt nhanh rớt chậm, đáp như kiểu như chiếc lá vàng rơi để tránh đạn… được à!

                              Nếu anh mà quờ quạng nhút nhát một chút là chết cả lủ đấy! Bởi vậy khi cắt bay, Leader cũng lựa tay số 2 và số 3 cho “cứng cựa” ; sợ ổng non tay nghề, thêm yếu bóng vía nữa, thì có ngày hớt đuôi mình là cái… cẳng! Thường là trong líp (lift?) đầu, bãi đáp chưa có quân bạn, nếu gặp bãi đáp “hot”, mấy anh gunship Mỹ cho lệnh mình “full suppression” là mấy cây đại liên của ta có dịp khạc lửa xối xả. Còn hai bên hông thì tiếng rocket nổ “oành… oành” liên tục, do gunships từ phía sau xịt tới, cảnh tượng thấy cũng đầy khói lửa… “hoành tráng” lắm chứ giởn chơi à! Đó là xong một líp đầu, cứ thế tiếp tục vài ba bận nữa, xong mới về sân bay nằm chờ standby; trong lúc nằm chờ như vậy mà nào có được yên, có khi vài chiếc trong đoàn phải bay tiếp tế đạn, hoặc tải thương!

                              Cũng nhớ ơn ông Ánh là có nhìn thấy sự khổ cực, nhất là việc ăn uống thất thường của đám Trực thăng như vậy, nên ông nghĩ ra giải pháp là hằng ngày có cho tàu đem cơm trưa đến cho đoàn đổ quân. Đó vừa là một hình thức trong An Phi, vừa biết giữ gìn sức khoẻ cho họ; mới xử dụng về lâu về dài được! Một chuyện ĂN tưởng là nhỏ nhoi và đơn giản như vậy, nhưng tôi nghĩ cũng phải báo cáo lên thượng cấp, để lấy quyết định từ Bộ Tổng Tham Mưu, và coi như thông báo cho Bộ Binh biết, để họ trù liệu thời gian bốc và đổ quân; tránh cái kiểu tới giờ ăn trưa rồi, mà ông Trung Đoàn Trưởng ra năn nỉ mấy anh ráng làm cho tôi thêm 2 chuyến nữa, (cũng phải mất 2giờ) vì quân ít như vậy sợ bị đánh úp v.v…! Nói là nói thế thôi, chứ dân Trực Thăng đi bay đổ quân, ăn trưa khoảng 1:30 chiều là thường!
                              Bây giờ, tui… “mới dám” hỏi ở Bộ Tư Lệnh KQ mãi tận… Tân Sơn Nhứt, có Vị nào đó, trong một giây phút nào đó, có… “tình cờ” nghĩ đến mấy thằng Trực Thăng tác chiến nầy không??? hay lại xuỵt môi:
                              - "Ồ! đó là chuyện nhỏ, để ý làm gì ba cái vặt vãnh đó" …!!!

                              Có hôm ăn uống và nghĩ ngơi ngoài phi đạo trông có vẻ…. giang hồ lãng tử quá, khiến tôi nhớ cảnh nhà quê: mấy bác nông phu, thợ cày thợ cấy cũng được chủ điền bưng một thúng xôi ra ruộng cho ăn thêm, coi như bồi dưỡng giữa buổi; nên tôi buộc miệng:
                              - Lẩm rẩm mà tao thù anh em thằng Rai quá đi!
                              Bạn bè nghe, tưởng đâu trời nóng nực quá nên tôi bị… mát dây nói bậy; chúng nó cười cười hỏi lại:
                              - Thằng Rai nào vậy?
                              - Thì anh em nhà Wrights, người phát minh và sáng chế ra Trực thăng đó chứ ai; tại "hai Ông Tổ sư" nầy, nên bây giờ mình mới có Trực Thăng để mà lái, để mà bụi đời như vầy, không phải TẠI mấy “chả” sao?
                              Nếu là kiểu Diều Hâu thì lại có màn bốc chỗ nầy, thảy chỗ kia nữa, thường khi đến chiều lại phải bốc rút quân về; mãi dến khi được nghe câu:
                              - Black horse! Good job! You are released now!

                              Ai nấy thở phào và bay ào ào về đến căn cứ địa Bình Thuỷ, thì có khi mặt trời vừa mới lặn thôi! Đó mới chỉ là mở màn… cái thuở ban đầu “lúc trời đất nổi cơn gió bụi ”. Chứ càng về sau nầy chiến trường càng khốc liệt, càng nặng độ hơn nhiều, nên “đám chuồn-chuồn lắm nỗi truân chuyên”... ngoài cái mệt lã còn kèm theo cái gian nguy, hiểm nghèo biết dường bao!

                              Mãi từ năm 1970 trở đi, mình có được Trực Thăng vỏ trang (dù là cải biên chứ không được “rặt” như UH1-B), mới thấy được biết bao gương anh dũng, sự gan dạ đã tiềm ẩn trong các Phi Hành Đoàn Trực Thăng; có nhiều phi hành đoàn Gunships rất lì đòn, đi săn VC với cao độ vài ba trăm bộ, những anh xạ thủ lẫm-liệt, móc dây đeo vào lưng, đứng lên mắt trừng, chong súng tìm con mồi...! Còn khi gunships đã lên vùng vô trận địa rồi, họ chỉ e dè SA7 thôi, chứ địch chơi đại liên thì họ có 6 nòng để quạt lại, không hề nao núng, nhiều lúc đang say-máu, mà phát hiện địch có phòng không 12.7ly, họ chấp luôn không ngán, xuống thấp hơn để né đòn và … “chơi” tới luôn! Đấy mới thật sự là những anh chàng... dễ nể!!!

                              Còn trong ngày bay hành quân, tàu bay bị dính đạn vài ba lỗ, là chuyện quá thường, chuyện nhỏ…! Dù gọi “nhỏ” vậy chớ tính chi li thấy mấy viên đạn ấy chỉ cách Phi hành đoàn có khi vài tấc đến vài ba mét, xém trúng; cũng “ớn” chứ. Cho nên không biết dùng từ ngữ nào để diễn tả cho đúng đây! Thực tình tôi thấy đa số Phi Hành Đoàn Trực Thăng sau một ngày gian lao, họ vẫn cười đùa, giỡn hớt vô tư, dường như họ rủ bỏ, quên đi cái thoát chết vừa trải qua, và cũng không thấy lộ vẻ ưu-tư gì cho phi vụ ngày mai cả!

                              Mấy chàng độc thân, xa nhà; chiều thường vào ăn ở CLB Cửu Long, gặp đủ mặt bá quan ăn cơm dưới đất mà làm việc và nói… “tận” trên trời xanh; nên thường nghe mấy anh chàng tuổi trẻ cũng vốn giòng hào kiệt… “ca” điếc con ráy! Mấy cụ non… “cối xay” chỉ mỉm cười bảo nhau:

                              - Ừ mấy ông mãnh đó “ gáy” cũng phải, vì họ ít gặp trường hợp như vậy. Còn mình hằng ngày thấy tử thần lảng-vảng trước mặt, riết rồi đâm lì; coi tử thần như bạn bè, nên chả có gì phải lo! Mấy chả lao xuống thấp bỏ bom rồi vọt lên trời xanh, trong khi mình đạt được cái cao độ minimum, để cắt bom của “mấy giả” là mình thấy hơi “ấm” cẵng rồi, chớ dám đâu mơ tưởng đến 3 ngàn bộ?! Còn cái kiểu cứ lù-lù đi vào đáp, trong khi đạn thù cứ réo gọi; phải chăng bọn mình điếc nên không sợ súng, hay có bùa hổng chừng, hoặc vô cà-tha hết rồi, nên trở thành mình đồng da sắt cả rồi chắc?!. Thôi thì cứ để mấy tay đó “gáy” nghe sướng tai, đã hơn! Tôi thấy họ cam nhận cái số phần hẩm-hiu; mà không than-vãn so bì: [Phần gian lao, máu xương mình có nặng phần đóng góp, mà đến lúc vinh quang chẳng được dự phần ..!]

                              Tôi xin quay lại với đề tài ông Ánh, kẽo miên-man lạc xa đề, chứ nói đến Trực Thăng là nói hoài, còn hoài, … đã vậy làm việc chung đụng trực tiếp với Bộ Binh, nên cũng gặp lắm chuyện phiền hà, mà phần thua thiệt là mình chứ còn ai, nếu không có được một thượng cấp “cứng cựa” như ông Ánh, minh xét và đỡ cho; lấy chứng cớ như dưới đây: Khoảng đầu năm 1969, tôi dẫn một đoàn Trực thăng đáp tại sân bay Chương Thiện, để đổ quân miệt Gò Quau. Cả ngày bay như vậy đến chuyến chót khoảng 4PM, nghe C&C bảo:
                              - Black horse!Go back to your Home base!

                              Cả hợp đoàn thấy khoẻ quá, lật đật chuyển tần số qua PADDY, và trực chỉ về căn cứ (base) Bình Thuỷ! Vừa về đến, dang taxi vào ụ đậu. Lại nghe lệnh từ Hành Quân Chiến Cuộc bảo: "phải quay trở lại Chương Thiện và liên lạc với C&C ngay" ! Cả đám lại lủi thủi đi xuống Chương Thiện hành quân tiếp! Bực cái… mình tên C&C nầy, sao hồi nãy không nói mẹ nó ra là về Chương Thiện standby đi, mà bày đặt xài chữ "Home base" làm gì cho rắc rối!

                              Dễ gì yên thân! Chiều hôm ấy nghe Liên Đoàn Tác Chiến báo là ngoài Quân Đoàn… “xin” tên tuổi của tôi, để có thể đưa ra toà án quân sự vì đã làm trì trệ cuộc hành quân! Cơm nước xong được lệnh ông Ánh gọi đến nhà ông, để tường trình sự việc! “Tư dinh” của ông chỉ là hai căn phòng cư xá độc thân nhập lại, và thuộc dãy nằm ngang gần với dãy phòng chúng tôi đang ở!

                              Sau khi nghe tôi trình bày, ông bốc phone hot line gọi thẳng ra Quân Đoàn nói rõ lại sự việc. Một lát sau "Lệnh vào" cho biết là:
                              - "Từ nay về sau chỉ nghe lệnh trực tiếp từ VN mà thôi, không qua lệnh của Mỹ nữa, thôi khỏi ra trình diện"!!!
                              Ừ thì ít ra cũng cho biết cái quy tắc, hay gọi là cái gì… gì đó, để mà theo chứ!

                              Bẵng đi hơn 1 tháng sau, cũng … “lại là” tôi dẫn một đoàn Trực thăng đáp ở sân vận động quận Hiếu Lễ (?) lúc 7:00 AM, để sẽ đi đổ quân vùng Rạch Giá! Có nhận phóng đồ Hành quân ở Liên Đoàn Tác Chiến đàng hoàng (nghĩa là bản đồ có vẻ sẵn toạ độ bốc quân , LZ…). Tôi đáp xuống đúng giờ, nằm chơi gần 2 giờ, mà chẳng thấy ma nào ra liên lạc cả! Tôi ngạc nhiên bèn quay máy lên trời liên lạc về Hành quân Chiến Cuộc xin chỉ thị! Lại có lệnh nằm chờ đó đi! Thế là an tâm rồi… Lạ thiệt! mấy thuở mà thảnh thơi như vầy..! Cỡ khoảng 45phút sau, tức là hơn 9:30 sáng, có một chiếc Trực thăng Mỹ thả xuống một anh Hạ Sĩ Quan Mỹ (có vẻ như path finder) chạy lại kêu cất cánh lên vùng!

                              Tại sao làm ăn như thế? không cho một giới chức VN nào ra liên lạc hết! Nhớ lại khẩu lệnh của "Ông Lớn" ngoài Quân Đoàn trong tháng trước, nên tôi vẫn nằm chờ..! Mãi đến gần 10:30 mới có một sĩ quan của Sư Đoàn 21-BB chạy ra, cho toạ độ và gọi cất cánh đến đó, để bốc quân! Trên đường đi đến thì đã được ông Đại-bàng Bộ-binh cho…uống cà phê đen, với lời lẽ phiền hà trách cứ "tại sao giờ nầy mới đến"?!

                              Xong việc, chiều về đến căn cứ, mọi việc diễn ra cũng y như lần trước, cũng Quân Đoàn gọi… vào, tôi lại phải đến nhà ông ÁNH chiều tối hôm đó, để giải bày sự thật; mọi chuyện êm xuôi!
                              Qua vài việc trên, tôi nhận thấy ông Ánh rất bình dân, dễ gần gủi với thuộc cấp, tính tình rất trầm tĩnh, kiên nhẫn lắng nghe phải trái, và không có hốt-hoảng, lo-sợ rồi… “chuyển” lệnh và lời của cấp trên, để đánh phủ đầu, răn-đe đàn em trước!

                              Còn phần tôi, nếu tin tưởng và nói theo số mạng, thì có lẽ tôi không hạp với nhà binh lắm! nên con đường binh nghiệp không được phẳng phiêu, suông sẻ thong dong, mà cứ gặp chuyện gì đâu và bị… “ạch đụi” hoài!!! Như đầu năm 1970, tôi được T/tá Phi Đoàn Trưởng 21 , kêu vào cho biết là PĐ đề cử cho tôi đi làm Sĩ Quan Liên Lạc bên Mỹ kỳ nầy! Khỏi nói, mừng quá xá cở. Ngày thì đi bay, tối về lo học, dợt lại ba cái tiếng Anh, mà trong lòng phấn khởi nở hoa với ý nghĩ là thời vận tới hồi… “thới lai” rồi đây!

                              Niềm vui chưa được bao lâu, thì nghe tin là tên tôi đã bị gạt ra rồi! Thật buồn! buồn quá đi chứ ..! Sau bữa cơm tối hôm ấy, tôi cứ đi tới đi lui... ngẫm nghĩ mình bay hành quân hằng ngày, VC bắn mà không sợ, thì cớ chi mình không dám hỏi thẳng ngay ông Tư Lệnh SĐ (KĐ?) cho rõ trắng đen, cho hết ấm ức, có gì phải sợ chứ! Lòng cả quyết, nên tôi bốc điện thoại gọi xin lên gặp ông tại nhà, vì hôm sau tôi phải đi bay. Ông đồng ý ngay! Sau khi nghe tôi trình bày và thắc mắc, ông giải thích:

                              - Chỗ Sĩ Quan Liên Lạc kỳ nầy, tôi đã dành cho anh TTL (Trực thăng) rồi, theo như tôi hứa hồi năm ngoái…vì anh ấy đã bị thương tích trong chiến trận!

                              Tôi cáo từ đi ra với nổi buồn dịu vợi, và thấy niềm ước mơ của mình đang nằm cuối chân trời viễn mộng! Là con người bình thường, nên tôi phiền muộn là điều dĩ nhiên, nhưng thật lòng mà nói (ngay lúc ấy đến tận bây giờ, tôi thấy trọng nể ông hơn nữa vì lẽ:
                              *Ông là người trọng chữ tín, vẫn nhớ và giữ lời hứa. Do đó ông tạo được niềm tin của mọi người đối với ông!
                              *Là con người thẳng thắn, không quanh co; nếu gặp người khác, họ có thể trả lời một cách ngoại giao, xoa dịu, để tôi vui lòng và còn hy vọng: “được rồi để tôi xem lại”..v..v... rồi sau đó cũng gạt tên tôi ra, đến lúc tôi vỡ mộng, thì cứ cho đó là trên Bộ Tư Lệnh quyết định giờ chót, ai biết được!

                              Tóm lại cấp chỉ huy có được đức tính như trầm tĩnh, sáng suốt trong quyết định, ngay thẳng, bình dị, biết trọng chữ tín và không mị dân, làm cho ai cũng nể phục, và quý mến ông cả! Và có điểm rất quan trọng mà tôi quên nói, đó là ông rất quý trọng mạng người: từ lúc ông còn là PĐT, khi nghe máy bay rớt, câu đầu tiên mà ông hỏi là:
                              - “Phi Hành Đoàn có sao không”?
                              Trái ngược với câu: “Tàu có sao không” mà tôi thường nghe!

                              3/*** Anh Lê Tấn Thinh rất tiếc thương ông Ánh, và vẫn xúc động khi nhắc đến tai nạn đã xảy ra với anh cách nay tròn 35 năm! Anh nhớ mãi một buổi chiều đầu năm 1972, sau một phi vụ bay Gunship yểm trợ hành quân bên Kampuchia về đáp tại Bình Thuỷ, khi vào ụ đậu, vừa tắt máy cánh quạt quay chậm; chiếc số 2 vô sau cũng vào ụ, bị gió giật xoáy, nên đã chạm quẹt đuôi tàu của an , anh leo xuống đi ra phía sau, để xem tình trạng chiếc tàu ra sao, tự dưng chiếc tàu của anh bị nghiêng, hay bẹt càng mà cánh quạt chánh trực thăng còn trớn quay, chém xuống tận ngang lưng trúng cây ru-lô hất anh văng đến 5 ,6 mét, bất tỉnh! Anh được đưa ngay vào bệnh viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ trong tình trạng hôn mê!

                              Ngay tối hôm đó ông Ánh dùng xe của Sư Đoàn Trưởng chở vợ anh Thinh vào bệnh viện lo cho anh, và ông cũng ngồi tại phòng bệnh, lo lắng theo dõi tình trạng thập tử nhất sanh của Thinh. Các bác sĩ giải phẩu giỏi của bệnh viện đều tập trung, để chuẩn bị giải phẩu xem nội tạng bị trọng thương chỗ nào. Nhưng cái khó là áp huyết của Thinh xuống quá thấp, nên chưa thể nào vô máu để phẫu thuật anh được! Hầu hết các bác sĩ bệnh viện thường đi máy bay, nên đều quen biết và thân tình với anh Thinh, họ rất tận tâm… ngoài ra có sự hiện diện thêm ông Sư Đoàn Trưởng nữa, nên sự nổ lực của các bác sĩ càng cao hơn…

                              Ông cứ ngồi chờ, theo dõi tình trạng của Thinh như thế không biết đến bao lâu, mãi khi nhịp tim và áp huyết của anh Thinh có nhích lên, đủ để bác sĩ truyền máu cho giải phẫu, lúc ấy ông mới lui gót! Anh Thinh bất tỉnh, hôn mê hơn ½ tháng, và điều trị hơn 5 tháng mới bình phục! Chuyện của Thinh và ông Ánh hầu như trong Sư Đoàn 4KQ đều biết cả!

                              Bỗng một hôm, giữa trời quang mà tin dường sấm nổ: Tướng Ánh tử nạn trong phi vụ câu chiếc phi cơ quan sát! Mọi quân nhân trong căn cứ bàng-hoàng đến sửng-sờ, nước mắt ràn-rụa, lắc đầu, chắc lưỡi…!! Anh Thinh đang dưỡng thương, chống nạn vào Câu-lạc-bộ Sĩ Quan, và chết lặng người đứng nhìn thi thể của Ông Tướng được tẩn liệm trong áo quan. Anh khóc ròng ở trong lòng, nào có ai hay! Quanh đấy, ai cũng rưng rưng nhìn nhau, như thầm hỏi liệu mình có còn được may mắn phục vụ dưới quyền của ông Tướng nào, như Ông Ánh nữa không???!!

                              Viết đến đây tôi không khỏi bồi hồi tấc dạ, vì sự kính mến, cảm phục cứ mãi dâng trào!!
                              Tiếc thay! tôi chưa là một nhà văn, làm sao có đủ ngôn từ để lột tả hết được về ông. Tôi thuộc hàng “trí đoản” không thấy được những cái tiềm ẩn nơi ông, thì làm sao Luận được anh-hùng!
                              Tiếc thay! Một vì sao rực sáng vội chợt băng, nên Quân Đội VNCH chưa có dịp thấy bản lĩnh và tài thao luợc của Tướng Nguyễn Huy ÁNH . Ô hô! Tiếc thay!!!
                              ***

                              NGHỊCH NHĨ


                              Nhắn:
                              * Cùng Quan ngự y TRẦN LÝ kiêm “nhà KQ học” , những chi tiết trong bài viết nầy khá chính xác, anh có thể tin tưởng và xử dụng được! Tôi thân tình khuyên anh, nếu có ý định viết những “Phi Công Trực Thăng theo với con tàu” như bên Khu Trục (nói chung) thì rất khó được, vì “tử” số quá nhiều, nhiều lắm không ai nhớ hết; mà chẳng lẽ hơn phân nữa quyển sách là danh tánh những người đã biền biệt ra đi ??!

                              *Cùng chư huynh đệ “cố nhân” đã đọc và theo dõi bài viết của tôi bấy lâu nay, chắc hẳn nhận ra “ thằng tôi” là ai rồi, nếu biết xin để bụng. và đừng tiết lộ danh tánh, vì rất bất lợi cho tôi . Đa tạ

                              N-N
                              Bút trần nào tả được lưu luyến!
                              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                              Tình Hoài Hương

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #195
                                Ngày 7 Tháng Tư Tình Cờ



                                Ngày 7 Tháng Tư Tình Cờ



                                Thành phố Nha Trang thơ mộng đầy cát trắng với những hàng dừa du dương nghiêng mình soi bóng ven bờ biển Nha Trang tuyệt vời, nay đã có nhiều tiếng nổ và tiếng động quái dị lan nhanh theo xe cộ tất tả chạy ngược xuôi. Họ bồng bế nhau dứt khoát ra đi... quay lưng ngoảnh mặt... phản bội với quá khứ vàng son đã một thời nâng họ lên đài danh vọng.

                                Từ nơi xa xôi ở vùng núi đồi lạnh giá... chúng tôi vừa vội vàng đến Nha Trang, chưa quen thuộc phong thổ, chưa trìu mến luyến lưu gửi lại bạn và tôi niềm tin vui sống, thế mà nay tôi nơm nớp lo âu... mong muốn tất tả rời xa chốn nầy, để thoát thân ra đi như kẻ lỡ tàu, như người chạy trốn. Nhưng biết làm sao trốn đi đâu!? Đi đâu? Chính nơi tôi đến và sẽ ra đi trong sự bàng hoàng ngao ngán, phiền muộn lo lắng băn khoăn, đang tột độ dày vò tan nát đau buồn! Tôi cúi mặt loay hoay... len lén đào tẩu chính bản thân, khi nắng chiều sẽ lịm dần vào bóng tối. Nơi sinh mạng con người bây giờ rớt vào cảnh lâm nguy, khẩn cấp, và rẻ hơn cỏ rác. Cảm nghĩ chân tình của tôi thẩm thấu và bùng vỡ từ những đường đạn rung chuyển ngoài trời, đang xuyên qua buồng phổi, vô trái tim, tới túi mật lá gan mình.

                                Một chiều bất ngờ vào ngày 7 tháng Tư, tôi gặp Thúy Lan, (cô bạn mới quen rất tình cờ), cô mừng lắm:
                                - Sao chị không lo ôm con chạy vô Sài Gòn gấp đi. Ở đây sắp mất rồi. Không biết sao?
                                Tôi khóc ròng. Như ếch ngồi đáy giếng, như trâu chậm uống nước đục, tôi nào hay biết gì về bàn cờ thế cuộc từng giờ chong chóng đổi thay, và sự triệt thoái lan nhanh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa! Vả lại nếu biết, tôi cũng không thể chen chân đến rừng người ở bến xe, bến tàu, phi trường, hải cảng, hoặc bất cứ nơi nào; để có thể vượt thoát, khi đêm đêm tôi nằm chập chờn trằn trọc trên giường lạ, mơ từng cơn ác mộng mà giật thót người, đã xốc ngược tôi ngồi bật dậy, mồ hôi hột vã ra như tắm, ú ớ gào rú rên la. Tôi chỉ còn hai bàn tay trắng cắp kè kè một nách đàn con thơ rất bé nhỏ, với một mẹ chồng bảy mươi lăm tuổi! Tôi không thể làm gì hơn. Không thể!
                                Thúy Lan cúi đầu suy nghĩ giây lát. Cô vội lấy giấy bút ra hí-hoáy viết, rồi đưa tôi, dặn dò:
                                - Chị đưa cháu đến địa chỉ nầy, sẽ có người giúp về Sài Gòn ngay. Đi gấp nha. Chào chị em đi, em rất bận.

                                Như kẻ chết đuối gặp chiếc phao, tôi không ngớt nói vói theo cám ơn cô bạn nhỏ mới quen. Tôi mừng kinh khủng, cầm chặt tờ giấy, thế mà vẫn sợ rơi, nên đứng lại thở dốc, tôi cẩn thận xếp tờ giấy Thúy Lan viết bỏ trong túi áo, rồi gài cây kim băng to lên túi áo, cho chắc ăn. Tôi cắm đầu chạy mà mừng khôn tả xiết. Tôi đã gặp quý nhân Thúy Lan tận tình giúp đỡ, người bạn sơ giao trong những ngày mẹ con tôi ăn bờ ngủ bụi tại miền cát trắng. Thuý Lan đến lúc nầy như một phép lạ từ Thượng Đế sai nàng đem món qùa cho tôi, không một điều kiện, hay do một sợi dây tình cảm luyến ái nào ràng buộc, ngoài lòng nhân và đức ái của cô. Còn tôi, có thể do hồng phước nhân đức của cha mẹ để lại, kiếp nầy cha mẹ tôi ăn ở hiền lành đức độ đã ra tay làm phước nhiều, nên bây giờ con cháu được hưởng lộc chăng!?

                                Tôi vội về gặp các bạn báo tin là tôi đã có phương tiện di chuyển về Sài Gòn. Đồng thời biết gia đình Trần Văn Ngọc cũng chờ chuyến xe về Sài Gòn có lẽ ngày mốt là xong. Riêng gia đình chị Bàn quyết định chờ tin tức anh Bàn, nên họ ở lại Nha Trang. Tôi vội lo thu dọn mấy túm quần áo mang theo phòng thân. Tôi bịn rịn chào các bạn.

                                Trước khi lên xe xích lô, tôi mua sáu ổ bánh mì nhỏ xíu (không có nhưn), để phòng hờ. Vì lúc mười giờ sáng nầy các con chỉ ăn qua loa nửa chén canh bún lỏng bỏng nấu với rau muống, thay thế cơm cho cả ngày, tất con sẽ bị đói meo. Trên bước đường lưu lạc từ Nha Trang về Sài Gòn, không biết sẽ diễn ra bao điều âu lo khác, vẫn cần có tiền tôi mới có thể quyết định mọi việc nơi phương xa xứ lạ. Mẹ chồng cùng hai con lớn ngồi một chiếc xích lô. Tôi và hai con nhỏ ngồi một chiếc xích lô khác. Vì đi bộ từ đây đến phi trường quân sự rất xa. Ngộ lỡ bị trễ giờ phi trường khoá cổng, không cho ai vào nữa, thì nguy to. Lần đầu tiên ngồi trên xích lô, các con tôi rất thích thú hí hửng vui mừng, vì ở Đà Lạt các con chưa hề thấy xe xích lô. Đặc biệt ở Nha Trang các chàng trai trẻ làm nghề “chạy xe rong” khá hồn nhiên vui nhộn, đa số họ ưa rung chuông inh ỏi, và ca hát nghêu ngao trên đường đi, nghe thật vui tai.

                                Xuống xe xích lô tôi vội trả tiền, lật đật chạy tới xuất trình giấy tờ ở trạm gác cổng doanh trại Không-quân Quân sự. Tôi trở lại chỗ mấy bà cháu đang ngồi bên vệ đường lấy bánh mì ra cho bà và mẹ con ăn. Các con ăn hết ổ bánh mì vẫn thòm thèm hoặc còn đói. Bé Hoàng đói nên quấy hơn mọi ngày, con cứ rúc vào vú mẹ đòi bú vú da, khổ nỗi từ ngày “chạy giặc” đến giờ, bao nhiêu năng lượng đã cạn kiệt, thì làm sao có thể vắt ra sữa cho con! Tôi muốn mua bánh mì cũng không thấy khu nầy có câu lạc bộ, không một hàng quán, hoặc có người gánh hàng rong đi lại bán dạo ở bên ngoài. À, đây là khu quân sự mà. Khoảng mười lăm phút sau thì đóng cửa cổng gác. Ôi đại phước! Nếu chúng tôi chậm mươi phút thì hết cách rồi! Thật là chỉ có Trời có mắt cứu nguy. Tôi dặn dò các con ngồi một chỗ với nhau, không được chạy lung tung, sẽ bị lạc mất.

                                Chúng tôi được gọi tên vào cổng, họ dồn chúng tôi ngồi xuống một góc ở ngoài sân dưới hàng phượng đỏ rực, (cùng những người lạ khác rất đông chờ đợi gọi tên, để vào trong văn phòng làm việc). Qua những thủ-tục do an ninh Quân-cảnh kiểm soát chặt chẽ, trật tự, cần thiết, cấp bách. Những đoàn dân di tản được lọc lại thành từng gia đình, có mấy quân nhân thư ký đánh máy tốc hành ghi rõ: tên, họ, danh sách chuyến bay. Họ dẫn gia đình tôi qua một phòng trong phi trường. Ở đây đã có rất nhiều người im lặng hoặc rù rì chuyện trò nho nhỏ. Thỉnh thoảng có một quân nhân Việt Nam áo quần tươm tất ra đứng trên thềm nhà gọi từng tốp người có tên trong danh sách đã ghi, dù máy phóng thanh mở hết cỡ, mà tôi vẫn nghe không rõ, do những chiếc máy bay quân sự luôn gầm rú ngoài phi đạo làm điếc tai.

                                Thời gian mỏi mòn chờ đợi dần qua, thoáng chốc gia đình tôi đến lượt được gọi tên. Họ dẫn chúng tôi vào đứng xếp hàng trước một phòng khách rộng đông người gấp hai ba lần ở ngoài sân. Những dãy phòng ăn và phòng làm việc thông với nhau có điện giữa ban ngày sáng trưng, có máy lạnh mát rượi. Mặc dù trên đầu phi cơ quân sự không ngớt gầm rú, nhưng nơi đây không đến nỗi ồn ào, không chen lấn, mà có trật tự hơn.

                                Tôi nhìn những mệnh phụ phu nhân rực rỡ xa hoa quần là áo lụa chưng diện trong phi trường, mà bẽn lẽn! Giờ phút vắt giò lên cổ “tẩu thoát thân” nầy, nhưng lắm bà trưởng giả còn có thì giờ phù phiếm tô trét phấn son cẩn thận, mái tóc chải bồng, móng tay móng chân đỏ chói, "quý công nương" sai khiến chỉ chỏ “gia nhân” vài người tay đùm tay xách, cong lưng chạy lui chạy tới. Hoặc vài anh lính đi sau đuôi mấy bà khệ nệ khiên vác nhiều chiếc va ly da cồng kềnh khá nặng và đắt tiền mới toanh, & thùng giấy to đặt dưới chân họ mới và sạch sẽ. Những người cùng vào xếp hàng ở đây thân tỏa mùi nước hoa Ici, Neblina, Ode à L’amour... rất thơm. Còn loại túi xách tay là thứ sang trọng mang hiệu: GUCCI made in Ilaly– LOUIS VUITTON Paris – SIENNA RICCHI ở hải ngoại du nhập về Việt Nam.

                                Tuyệt nhiên không một ai có “tay nải” cũ mèm bẩn thỉu, xấu xí dị hợm, khiêm nhường, nghèo nàn coi thô thiển quê mùa hết chỗ nói: như hành trang của tôi. Đến nơi nầy, tôi mới nhận thấy tình cảnh hèn kém, chua xót bi thương cùng khổ của mình trong những ngày ly tán:trắng trợn phơi bày quá tệ, quả là đáng thương xót xiết đỗi! Tôi lúng túng ngượng ngùng, bực bội cúi xuống len lén che dấu gói hành lý thô thiển, hèn kém dưới gót chân kẻ làm vợ, làm mẹ: đã bao năm qua vẫn thấp hèn với anh chồng "lính chiến".

                                Tôi cảm thấy thật buồn vì số phận mình sao nghiệt ngã, đắng cay, bạc bẽo, khổ cực và phũ phàng tệ mạt đến thế! Tôi đau xót không kém phần tủi hổ̉ ,thật phí hoài không gian và thời gian về tuổi trẻ tràn đầy nhựa sống: một thiếu nữ tri thức nổi danh người đẹp biết chừng nào! khi trao thân cho người chồng không thích danh phận, (nói trắng ra là anh không thích bon chen trên đài danh vọng, không ham muốn cao sang, thật quá lạ! mặc dù với khả năng, kinh nghiệm, và sự từng trải... thì anh có thừa), để rồi anh đã đẫy vợ con đến bước đường cùng nầy!

                                Tôi vụt nghĩ đến ngôi nhà ba tầng lầu đúc bê tông cốt sắt dài 45m, rộng phủ bì 5m của vợ chồng mình, và chiếc xe hơi 404 láng cón cũng của mình bị hết xăng đã vất lại Cam Ranh, mà tức sôi người. Phải chi đừng có bọn “gian tặc” vô xâm lăng miền Nam, thì bây giờ tôi có thể ung dung le lói ngẩng cao đầu, nheo nheo mắt nhìn những hành khách “kiêu sa, cao sang và quý phái” kia chẳng chút bẽn lẽn ngượng ngùng, mà có thể ngược lại: mình hãnh diện cũng có một thời vàng son vang bóng cần cù kiên nhẫn làm việc và thành công như ai đấy chứ!

                                Tuy nhiên, lúc tôi ngồi bó gối trên nền gạch, vò đầu bứt tóc bứt tai suy đi nghĩ lại cho cùng thì... bộ áo tác chiến của chồng tôi và những bộ quân phục mà những quân nhân đang mặc trên người kia, nào có khác chi nhau!? Đó là niềm vinh dự tự hào rất kiêu hãnh của người lính oai dũng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (và dĩ nhiên cả "cô vợ lính" biết thông cảm, hân hạnh, tự hào về phong độ: quốc hồn, quốc túy, quốc sử, quốc ca, quốc thiều, quốc huy, quốc thể, quốc gia Việt Nam); Đồng thời mỗi một người không phân biệt cấp bậc quan hay lính: họ đều gánh vác trên vai tất cả trọng trách, nghĩa vụ, biết tuân phục bổn phận làm trai phải trả nợ núi sông, quyết giữ gìn quê hương Việt Nam an thịnh trường tồn.

                                Thế nên, chồng tôi cùng lớp lớp thanh niên trai tráng đã răm rắp vâng lời thượng cấp "phải ở lại tử thủ” Đà Lạt! (trong khi người ra lệnh lạc nầy thì... than ôi! họ đã chuồn đi tự bao giờ!). Nhưng tôi cũng cố gắng nghĩ tốt cho họ rằng thì là... nếu "người ta" đi di tản về Sài Gòn đông đúc kinh khủng, ấy là do ai ai cũng mong Mỹ và Quân-lực Việt Nam Cộng Hoà ra tay làm việc nghĩa, cứu vớt mình vượt thoát nhanh ra khỏi vùng đất khốn đốn, (nơi có nguy cơ khói lửa chiến tranh ập vào, hoặc có thể sẽ bị xâm chiếm, bị quân vẹm tàn ác pháo kích bừa bãi dội lên đầu không tiếc thương). Khi sống còn, thì ai ai cũng có cơ may phục hồi cuộc sống và danh dự. Thế thôi. Tôi tôn trọng Luật và những suy nghĩ mỹ cảm của anh về việc bảo trọng quốc luật. Chồng tôi cùng lớp lớp thanh niên trai tráng dù biết những cấp trên trước khi vọt lên đường trước thuộc hạ, người ra “lệnh” ấy, nay đã “lạc” ; nhưng họ không ngần ngại ở lại giữ thành, hy sinh mạng sống, họ tuân lệnh “ở lại tử thủ Đà Lạt" 100% !

                                Lần chót, chúng tôi được gọi ra ngoài sân bay đứng chờ gần chiếc phi cơ quân sự khổng lồ quay cánh quạt vù vù. Họ đang gọi tên những tốp dân đã ghi danh trước tôi đi lên chiếc phi cơ nầy. Mặt đất rung chuyển dữ dội, tóc tai quần áo mọi người bay phần phật. Hai tay các con nắm chặt lấy hàng dây thép gai, hoặc những cột trụ rào sơn màu trắng xanh xanh đỏ đỏ. Đây là lần đầu tiên trong đời các con tôi được thấy tận mắt những chiếc phi cơ to tướng gần thật gần. Các con vui mừng chạy ra dán mũi sát vào cửa kính, con ở lì một nơi chằm chằm nhìn những chiếc phi cơ bay lên, đáp xuống.

                                Chốc chốc các con lại hí hửng chạy vào chỗ tôi ngồi: con khoe đã thấy nhân viên hàng không lo tới tấp bốc hàng, con líu lo nói chuyện lạ xảy ra những gì ở đâu đó. Bé Bi (Quốc Huy) chạy tới một chiếc thùng gỗ trèo lên đứng ở đó, để nhìn những chiếc máy bay cho rõ, rồi con lại tụt xuống đất, chạy đến chỗ gần cánh cửa sắt. Bé Bi dù sống cảnh di tản màn trời chiếu đất, ăn uống thất thường, nhưng vẫn còn là đứa trẻ có hai má đỏ rực vì chưa quen ở xứ nóng, bé bụ bẫm, tròn trịa mủm mỉm xinh xắn, bé Bi mặc bộ đồ bay màu xanh da trời, (giống y đồ bay của pilot, nên ai nhìn bé Bi cũng thấy cháu hồng hào ngộ nghĩnh dễ thương.

                                Chiếc phi cơ khác từ từ quay ra phi đạo, thì gió từ những cánh quạt ào ào thổi, làm cho mọi người đứng bên hàng rào muốn té nhào. Không hiểu sao lúc đó bé Bi ở đâu chui ra khỏi hàng rào, và nắm lấy tay một bà Mỹ mặc áo đầm vàng, bà có đôi mắt xanh ngọc, mái tóc vàng hoe. Bà ta ngạc nhiên ngập ngừng chốc lát, rồi đặt chiếc va ly xuống đất, bà lấy trong giỏ xách một hộp bánh ngọt đưa cho bé Bi, bà chỉ tay về phía cửa kính bên trong hàng rào, nơi mọi người đang ngồi hoặc đứng chờ đợi chuyến bay.

                                Nhưng thằng bé không nghe, không hiểu, hoặc mãi nhìn những chiếc phi cơ, nó không cầm hộp bánh, mà chỉ nắm chặt váy đầm bà Mỹ kéo rị lại. Bà Mỹ trắng nầy cứ nhìn bé Bi và nhìn quanh quất hoài. Có lẽ bà Mỹ nghĩ con cái nhà ai bị thất lạc trong lúc cả nước hổn độn chạy loạn?! Đến phiên bà Mỹ tiến bước ra cổng phi trường xa xa hàng rào, để lên chiếc máy bay kia, thì thằng bé nhà tôi vẫn túm chặt váy áo bà Mỹ và líu ríu đi theo bà. Nhưng thằng bé Bi bước đi, mà luôn luôn ngoái cổ lại đăm đăm nhìn chiếc phi cơ đáp xuống trên phi đạo.

                                Tôi cúi đầu vạch áo cho bé Hoàng mút vú da, khi ngẩng lên nhìn ra hướng phi cơ, ngay từ đầu tôi thấy có đứa nhỏ con ai, hình như giống con trai của mình, mà đang nắm chặt váy của một phụ nữ Mỹ, khiến váy đầm bà ta giảng dài ra lôi theo thằng nhỏ?! Thật tình ban đầu tôi cứ tưởng nó là con của bà Mỹ kia, tôi không hề nghĩ đó là bé Bi, (bé Bi là tên gọi thân thiết trong gia đình). Quay lại nhìn lui nhìn tới, nhìn quanh, thì quả thật tôi thấy thiếu mất bé Bi, nó không còn đứng trên cái thùng gỗ, hoặc bên hàng chắn rào cùng hai anh Dzũng và Tuấn của nó nữa. Tôi hốt hoảng bỏ thằng bé (Tồ) đang cắn kéo cái vú của tôi dài ngoẵng ra đau điếng. Tôi đứng phắt dậy, hoảng hốt kêu réo to thật to:
                                - Bé Bi. Bé Huy. Úi Trời ơi! Mẹ đây nầy Huy ơi! Huy ơi...

                                Khổ nỗ̉i thằng bé không thể nghe được, vì tiếng phi cơ nổ ầm ầm, inh ỏi gầm rú. Đồng thời lúc đó con trai trưởng của tôi là bé Dzũng đứng ở gần tôi hơn, nên con nghe tôi la hét, con quay lại nhìn thấy tôi cứ chỉ chỉ tay về hướng bé Bi. Bé Dzũng và bé Tuấn cũng thấy bé Bi ngố ngáo từ từ theo đoàn di tản đi ra ngoài chiếc C 130 khác. Bé Dzũng hoảng hồn, con nhanh nhẹn bò lòn qua lớp hàng rào sắt, con tức tốc chạy chạy... chạy rõ nhanh tới bên bé Bi. Bé Dzũng lôi giật thằng em đứng khựng lại. Thằng bé Bi xiểng liểng suýt té, nó ngơ ngác nhìn lên bà Mỹ, nó vội buông váy của bà ta ra. Hai anh em túm cánh tay nhau cúi cong lưng cùng tất tả chạy về chỗ cũ. Hú hồn hú vía!

                                Tôi mừng rỡ điên người mà khóc hụ hụ hụ như mọi người bình dân..., tôi vừa quệt nước mắt vừa hét tướng lên bai bải la mắng mấy đứa con trước mặt mọi người lạ. Tôi không hề biết xấu hổ, chỉ vì tôi sợ mất con. Kể từ giờ phút đó, tôi lấy một sợi len dài cột cườm tay đứa nầy dính với cườm tay đứa kia, và bắt các con ngồi bệt xuống nền gạch, ở yên một chỗ, không được đứng dậy xớ rớ dòm ngó chi cả, cho chắc ăn. Tôi giữ các con chằn chằn sát bên.

                                Thật ra, nào biết đâu bé Bi mới hơn hai tuổi, nếu con đi với bà Mỹ, thì sau nầy con không thể biết cha mẹ là ai! Ở nơi xứ văn minh tột đỉnh giàu sang vinh phú kia, có thể đời con sẽ ấm êm sung sướng hạnh phúc, hơn ở với cha mẹ chăng?! Cũng có thể ngược lại. Nhưng... Thôi con ơi, nếu con ở nơi quê hương với tổ tiên ông bà cha mẹ, mình có đói khổ nghèo hèn, cũng còn mẹ cha anh em ruột thịt: yêu thương con, chí tình đùm bọc, ủi an, sum họp bên nhau. Sau nầy nếu gia đình mình may mắn trở lại giàu sang sung túc như xưa. Hoặc vô phúc mà lâm vào cảnh hoạn nạn đói khổ, thì mình cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng dắt díu nhau bước trên con đường gian truân. Mẹ không thể rứt ruột đem con thơ đi bỏ chợ, bơ vơ lạc lõng ở xứ người lạ hoắt cho đành. Xin lỗi con.

                                Đợt người di tản thứ ba đã tuần tự được gọi tên lên phi cơ. Tôi lo lắng nghĩ vơ nghĩ vẩn và cảm thấy bồn chồn nóng ruột lạ lùng, chỉ sợ bị sót tên, hoặc vì lý do nào đó, bị đình chỉ chuyến bay. Thì chết thôi! Hai sĩ quan Không-quân đã đọc danh sách lúc nãy đích thân dẫn đoàn người di tản, trong đó có tên gia đình tôi là tốp cuối cùng mang số chuyến bay 449 A. Tôi để bà nội, các con, đi trước, cườm tay các con vẫn cột sợi len dùng dằng níu kéo nhau run run con leo lên chiếc phi cơ C–130 “hả toác hoác mồm”.

                                Lúc ở xa xa trong khu hành lang tôi nhìn thấy chiếc phi cơ nhỏ, nhưng khi đến bệ cầu thang sắt nối liền với đuôi phi cơ, thì thấy phi cơ nầy to lớn lạ thường. Từ đuôi máy bay dọc theo lòng phi cơ có bốn hàng ghế, hai hàng ghế giữa đâu lưng vào nhau, bốn hàng ghế đệm bọc nhung màu huyết dụ rất êm đang mở “cái đuôi hoác mồm ra”, để lần lượt đón từng gia đình trèo leo lên phi cơ vẫn nổ máy ầm ầm. Chiếc máy bay nầy sẽ mang chúng tôi ra khỏi vùng đại nạn khói lửa binh đao. Biết đâu nơi Nha Trang sẽ diễn ra bao đau thương tàn khốc nay mai!?

                                Các con đứa nào đứa nấy tóc tai quần áo ướt nhẹp mồ hôi, hai má đỏ rực vì nóng. Đã được tháo sợi dây len “chắc cú” ra rồi, các con thoải mái cứ chồm lên nhìn qua những ô cửa, vui vẻ hí hửng cười nói tía lia, lí lắc, huyên thuyên. Nhiều lần mỗi khi đi đâu chơi, tôi đều mua dự phòng bánh mì kẹp gà, ba tê, thịt nguội, hoặc chuối, nước lọc, đựng trong giỏ xách để cho các con ăn. Nhưng bây giờ sống trong cơn hoạn nạn, lại bất ngờ được ra đi quá đột ngột, không thể chuẩn bị chu đáo, nên mọi thứ đều thiếu thốn. Bé Tồ lúc đó quậy tưng trời, tôi mệt hết sức, phần vì tiếng động cơ gầm rú đinh tai nhức óc khiến con sợ hãi, phần vì nóng nực kinh khủng, mồ hôi con vã ra như tắm, ướt hết áo quần, vì lúc đó trong phi cơ chưa mở máy lạnh. Phần nữa là con đói bụng đòi bú. Khổ nỗi hai bầu vú tôi nhăn nhúm teo tóp sát vào xương sườn, thì còn gì có sữa cho con! Chẳng cần biết xấu hổ khi tôi vạch áo trước nhiều người lạ, để vắt hai đầu vú teo tóp hoài vẫn không còn một giọt sữa. Bé con cứ chui rúc đầu vào tìm vú mẹ, bú bú, mút mút, day day... con nhả vú ra, vật vã khóc la. Con lại giẫy nẩy lên, thiệt chướng quá chừng.

                                Chính lúc đó có một người đàn bà trung niên qúy phái, thanh lịch, ăn mặc gọn gàng trang nhã, bà ngồi đối diện với tôi, bà ấy cầm cái quạt giấy quạt hoài cho mẹ con tôi. Sau đó bà đưa cho tôi ổ bánh mì:
                                - Chị đút cho cháu ăn... Có lẽ cháu đói bụng.

                                Tôi nghẹn đắng cổ chua xót lí nhí cảm ơn bà, cầm ổ bánh mì kẹp thịt xé nhỏ ra, tôi đút từng miếng cho con ăn. Bé Tồ nín khóc, mặc dù con vẫn nấc lên từng hồi. Con ăn ngấu nghiến gần hết một phần tư ổ bánh mì, con thút thít đẫy tay tôi ra, bé Tồ đưa phần bánh mì còn lại cho các anh nó. Mấy anh em ỏn ẻn cười hì hì... liếc nhìn bà ấy, rồi các con thay phiên nhau mỗi đứa e dè cắn một miếng bánh mì nhỏ, nhai bỏm bẻm. Lát sau thì trong khoan tàu mở máy lạnh mát rượi, thế là bé Tồ dụi đầu vào ngực tôi vừa nấc nấc mà ngủ vùi.
                                Người đàn bà thân thiện mỉm cười nhìn chằm chằm mấy đứa nhỏ. Giọng miền Nam ngọt ngào, bà ấy nhỏ nhẹ:
                                - Các con của chị rất đẹp và ngoan thiệt.

                                Tôi e ấp mỉm cười. Bà ấy lại lúi húi lục tìm trong giỏ xách sang trọng ra một hộp bánh Coffee Milk Biscuits to, và chai nước lọc, bà đưa cho tôi. Giỏ xách của bà bây giờ đã xẹp lép. Thật bất ngờ, dù tôi không bảo, nhưng ba đứa con lớn vẻ mặt rạng rỡ, hớn hở, vui vẻ, hí hửng nhìn nhau, chúng vòng tay cúi rạp đầu sát xuống gần đùi nó, để nói:
                                - “Cháu cảm ơn bà” rất to.
                                Chúng bắt chước nhau giống như chú khỉ; khiến ai nấy ngồi chung chuyến máy bay đều cười ồ. Các con ngồi ngay ngắn từ tốn ỏn ẻn ăn uống gọn gàng xong. Tôi nhìn người đàn bà xa lạ lại ấp úng lí nhí cám ơn, lặng lẽ cúi đầu xuống trên mái tóc thằng bé nhỏ mà quệt nước mắt.
                                * * *

                                Tôi nghĩ mãi không ra và không thể nào ngờ là mình có diễm phúc vinh dự đến thế nầy: Khi xế chiều có ông sĩ quan Không–quân Việt Nam ở Nha Trang gọi tên tôi (tôi đứng đầu tên trong danh sách gia đình) ông đưa cho tôi tờ phê duyệt “Thuận” do vị một Trung-tá ấn ký (tôi không thể nhớ rõ tên vị ấy). Ôi! Trí óc của tôi lúc đó thật tồi, tôi chỉ biết lo lắng về riêng “cái tôi” hiện tại là: làm sao mình có thể “đào tẩu” ra khỏi vùng đất chứa nhiều súng đạn và hận thù!, mà không hề nghĩ đến ai- thì bây giờ tôi biết làm thế nào nhớ rõ tên họ và ân tình không thể trả đền nầy! Trên tờ giấy ghi “thuận” không hề có con dấu: “Nhất thế. Nhì Thân. Tam ngân. Tứ chế” gì cả.

                                Thời gian loạn lạc thất điên bát đảo nầy; thật sự tôi biết chắc chắn một điều là: trong trường hợp hổn loạn cao độ, thì dù ai di chuyển bất cứ phương tiện nào gần hoặc xa, đa số ai có thế lực, có “chi địa, chi vàng” thì mới có thể thoát thân. Tôi không phủ nhận trước ngày gia đình tôi di tản khỏi Đà Lạt, thì tôi có xe hơi, nhà lầu, rủng rỉnh tiền bạc leng keng trong túi như ai! Ấy thế mà chính lúc nầy chúng tôi nghèo rớt mồng tơi. Nhưng vẫn có người chính thức công nhận cho chúng tôi đường hoàng leo lên “tàu bay free”! Ôi! Sung sướng làm sao! Hạnh phúc vô ngần khi tôi ngồi trong lòng phi cơ, cảm thấy như đời bay bổng lên đào nguyên tiên cảnh. Ơn cứu mạng nầy gia đình tôi xin vô vàn tạ ơn “người”.

                                Khấp khởi vui mừng khôn xiết khi đã ngồi an toàn yên ổn ở một nơi sang trọng thế nầy, tôi nhìn lui nhìn tới không thấy ai lưu ý đến mình, tôi len lén thò tay xuống nhéo ở bắp đùi mình mấy cái, xem thử mình có nằm mơ, hoặc thân mình có đau điếng vỡ mộng hay không!? Bởi vì tôi vẫn chưa dám tin chắc là mình sung sướng hạnh phúc may mắn được hãng Hàng-không Quân-sự “biếu” cho tờ giấy chứng nhận được “đi không”, “đi chùa” tuyệt vời như thế nầy.

                                Lòng tôi rối bời sầu nhớ hình ảnh đóa hoa hồng tươi thắm óng vàng đang gục đầu bên ngăn kéo kỷ niệm bảng lảng dáng hoàng hôn hắt hiu hư ảo thuở nào! Ôi! Đó là những đóa hồng nở rộ thắm tươi trong trái tim nhân-ái hiếm thấy. Tôi không “nịnh” những chàng phi công hào hoa phong nhã và "rat... rát..." rất chi là... bay bướm làm gì! Vì sự thật không cần biết tôi là ai, họ tận tâm giúp đời vô vụ lợi, tấm lòng họ tận-hiến cho bổn phận, trách nhiệm, danh dự và nghĩa vụ cứu người.

                                Những vị ân nhân đức độ mà tôi không hề biết mặt nhớ tên. Những người tình cờ tôi chỉ biết một lần, sơ sài quen một ngày, rồi xa nhau muôn thuở, không bao giờ tìm thấy lại, nhưng suốt đời tôi vẫn luyến nhớ thầm mong có ngày hân hạnh tái ngộ. Tôi xin trân trọng cúi đầu tạ ơn vị Trung-tá Không quân (tôi không hân hạnh nhớ tên “ngài” ). Tôi vô cùng cảm-kích những tấm lòng cao cả của các vị Không-quân. Trân trọng cảm ơn gia đình ông bà Niềm, cô Thúy Lan vô vàn. Cám ơn người đàn bà thanh lịch qúy phái ngồi trên phi cơ, đã cho các con tôi một miếng khi đói. Ân tình nầy suốt đời tôi không thể trả đền, xin trọn kiếp mang theo kính nhớ trong lòng.

                                Biết làm sao bây giờ! Dù mai sau nếu gia đình tôi sẽ trở lại sung túc giàu sang như thuở xưa, hoặc tôi chỉ là một người vợ lính quèn hèn mọn tầm thường: tôi nguyện sẽ cố gắng viết những bài văn (dù hay hoặc dỡ), tôi thành tâm tạt cốt “tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm” để ca tụng những vị anh hùng có nhân cách thầm lặng xã thân giúp đời vô vụ lợi. Một lần nữa tôi không bao giờ và chẳng thể nào quên: những người đã âm thầm lặng lẽ ưu ái ban tặng free đặc ân cao qúy tốt đẹp cho riêng gia đình tôi, và cho Đời. Nguyện xin Thượng Đế trả công bội hậu ban đến họ được vui vẻ bình an hạnh phúc trường tồn.

                                Chiếc “mõm hàm ếch” từ từ khép miệng lại, nhốt trọn mấy trăm dân di tản vào trong lòng phi cơ. Phi cơ bay hoài và an toàn hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, phía dành riêng cho khu phi cơ quân sự cũng ồn ào, náo nhiệt đông đúc kinh khủng. Chúng tôi được leo lên một chiếc xe bus chở free ra lối Bảy Hiền.


                                _ * _



                                Tình Hoài Hương
                                Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-11-2017, 05:53 PM.
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...