Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Tinh Hoai Huong
    Senior Member
    • May 2009
    • 1081

    #136
    Em Đi TU Hú !!!



    Em Đi TU... "Hú" !!!


    Nhân một mùa nghỉ hè, khi về quê thăm cha mẹ đang lập sở ươm cây giống ở Thôn Thượng Phước (thuộc xã An Đôn, quận Triệu Phong, Quảng Trị), đi xem lễ ở nhà thờ An Đôn, tình cờ Út thấy những nữ đệ tử dòng Mến Thánh Giá đang vui vẻ cắm trại bên hông trường học (trong khuôn viên nhà thờ). Nhìn chung ai nấy đều dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, vui tươi và hiền lành, thì trong lòng Út cảm thấy xôn xao lâng lâng mến thích họ.

    Bỗng nhiên Út nẩy sinh niềm khát vọng được vô dòng nầy. Về nhà, sau nhiều ngày suy nghĩ, Út xin ba má cho con vào ở tu viện: Không vì buồn, không vì chán, chỉ vì Út rất mến thích cuộc sống êm đềm, trầm mặc an hoà, có thể ở đó cho ta sự bình yên vui vẻ, lắng lòng, không bon chen với đời chăng?

    Từ ngày Trung Thu cho đến đầu tháng Chín, lúc nào má cùng Út cũng bận rộn, lu bu lo chuẩn-bị một danh sách sắm sửa cho một nữ tu, ít nhất cần phải có: - 6 bộ áo dài & quần: tất cả chỉ là màu trắng, màu đen. - 6 áo bà ba. - 6 áo lót. - 1 lố quần lót. - 2 hoặc 3 áo lạnh trắng hoặc đen. Ít nhất là 4 đôi bít tất trắng và đen. - khăn mặt, khăn tắm, giày, dép, các thứ linh tinh, bàn chải đánh răng cá nhân, vân vân… Út dồn tất cả mọi thứ trong một va ly da chật cứng. Ngoài ra còn mang theo mùng, mền, thau giặt, thau rửa mặt…

    Thế rồi những háo hức mong chờ đã đến, ba má tần ngần do dự lên xe ngựa của nhà, để đưa Út hăm hở bồn chồn vô tận văn phòng tu viện. Sau khi bà xơ quản nhiệm làm hồ sơ nhập tu, đóng tiền viện phí, đọc nội quy… họ mời ba má và Út ăn bữa cơm đầu tiên. Nhìn mâm thức ăn trong dòng đã mời tân khách, má tế nhị kín đáo nhìn ba ngao ngán thở dài rất nhẹ. Phút bịn rịn luyến lưu nói lời chia tay rồi cũng qua đi, nhưng ý con đã quyết, thì biết làm sao bây giờ, chẳng thể khiến lòng má trĩu nặng nỗi ưu phiền hơn lúc cánh cửa tu viện Trí Bưu (Quảng Trị) đồ sộ bao bọc bởi bốn bức tường gạch nâu xây cao, từ hai cánh cửa sắt màu xanh rêu to lớn vừa đóng ập lại sau lưng nghe lạnh lùng một tiếng “ầm”.

    Sát bốn bờ tường trồng tre trúc um tùm san sát, đã che khuất những đôi mắt tò mò bên ngoài muốn len lén nhìn vào, cũng chẳng thấy gì! Từ cổng đi vô khoảng sân rộng, dính liền khu trường Tiểu-học (của dòng tu), gọi là “nhà khách” có nghĩa là nhà nầy riêng biệt với khu nhà dòng. Bên trong cánh cửa hông của vòng cấm địa (chỉ có nữ tu mới được phép qua cửa thứ nhì nầy) là vô khu nhà xây lợp ngói đồ sộ, mỗi nhà có mười hai căn rộng rãi, nối thành hình chữ U.

    Bao bọc quanh nguyện đường lớn là sân gạch đỏ rất rộng, sân nầy dùng đi dạo sau những buổi ăn, hoặc dùng sân phơi luá, ngũ cốc, linh tinh… Phía trái có một giếng lớn nước trong và ngọt, dùng làm nước uống, nấu nướng. Phiá bên phải là nguyện đường râm mát có hai hồ xây bằng gạch lót men trắng, hồ chuyên nuôi cá phi, cá rô, cá chép, hầu cung cấp thức ăn cho dòng. Chung quanh hồ có hòn non bộ và tượng Đức Mẹ tuyệt đẹp ẩn trong hang đá lớn.

    Bên cạnh hai ao cá là dãy nhà giải trí, phòng học, phòng ngủ của đệ tử, các phòng ngủ của dì thử, dì tập, phòng soeur, phòng dệt, phòng tập hát, vân vân... Trước cửa phòng học và sau lưng các phòng ngủ có thêm hai ao (lớn hơn hai hồ gạch men ở phía mặt tiền), hai ao nầy nuôi cá lóc, cá trê, lươn. Cộng với hai hồ ở sân sau sâu rộng thả đầy sen, cây súng lênh đênh trên mặt nước. Những cánh bèo lớn nhỏ li ti trôi. Lại có hai ao đắp bằng đất nện đầy rau muống, cần nước, hoa sen, hoa súng, lục bình. Ôi hồ ơi là hồ, ao ơi là ao!!!

    Lục bình là loại bèo cánh lá to như trầu bà, có bầu sữa xôm xốp mềm mềm, hoa tím nhạt nở từng chùm, lúc sống cũng như chết, nó trôi nổi trên mặt nước. Út tinh nghịch nhận chìm nó xuống nước, có lẽ vì bầu sữa và thân xốp, là chiếc phao gia bảo, loài bèo không biết khuất phục khi ai cầm nó rồi thả tay ra, nó ương ngạnh phóng mình trồi lên cao. Chiều chưa sụp bóng, bốn năm ao hồ nầy là nơi chứa nhiều muỗi nhất. Từ mọi xó xỉnh muỗi bay ra kêu như ong, con nào bụng cũng đầy máu, chân tay đệ tử bị muỗi đốt ngứa rần, vuốt một cái vào chân là tay mình nhơm nhớp, ai nấy luôn bị lấm tấm mụn đỏ do muỗi đốt.

    Dãy nhà ngang xa nhà bếp có hai giếng to, nước ở hai giếng nầy dùng: tắm, giặt ở sân sau. Có mười phòng tắm và mười phòng vệ sinh. Về hướng tây là nhà bếp khá rộng, nhà ăn, lại có thêm một cái giếng nữa gần trại chăn nuôi gia cầm. Vườn trồng đủ các loại rau cải, đậu mè, bầu bí, vân vân… Cuối góc vườn, cách khá xa tu viện. Một góc cuối tường là trung tâm dưỡng lão, nơi mà các dì phước “quá đát” (già nua) lão thành mang bệnh trầm kha đang tịnh dưỡng. Đời sống nơi xó góc tu viện quả thật rất buồn bã, đơn độc. Họ yên ổn chờ ngày trở về chầu Chúa. Mỗi ngày đều có các nữ tu trực ban đến phục vụ cơm nước, thuốc men, làm vệ sinh cho các “bô lão trưởng thượng”!

    Út tu như bức tượng đoan trang biết đi, không nhìn ngang liếc dọc, không nói leo trèo với cấp chỉ huy đàn chị, không thèo lẽo đùa cợt hô hố "nhố nhăng, nham nhở", sống khắc khổ, nhẫn nhục, ép mình hy sinh. Đức vâng lời là điều tiên quyết. Giúp đỡ qúy mến mọi người giống nhau trong tình yêu Chúa, và thương người. Không bầu bạn kết thân riêng với bất kỳ ai. Không được rù rì nói chuyện khi chỉ có hai người. Dòng không ghi một nguyên tắc quy luật rõ rệt, mãi sau nầy khi “ra trường”, Út mới biết là: Luật dòng tu cần có ba điều cốt lõi: “Vâng Lời. Trong Sạch. Khó Nghèo”. Nếu ai phạm một trong những tội ấy vài lần, họ không tỏ ý sửa đổi, dốc lòng ăn năn sám hối, là bà dòng cho về, như một lần đạp cứt là phải chặt chân.

    Các chị trên mười tám tuổi (soeur) làm công việc riêng của từng nhóm: Người lo dạy học, đi may, đi dệt cửi, đi chợ nấu ăn, làm vườn. Đệ tử nhỏ lí tí mới vào dòng hầu hết đều đi học. Đa số thì giờ là tất cả mọi người trong dòng làm việc, hy sinh, hãm mình: xem lễ mỗi sáng, chiều, tối… đọc kinh cầu nguyện, hội họp khuyên bảo nhau. Mỗi ngày có một nhóm nữ tu thay đổi luân phiên trực ban, lo việc: Tiếp tân khách: có một soeur và một đệ tử.
    - Dưới phòng ẩm thực nấu bếp mỗi ngày gồm có: Hai “soeur hỏa đầu quân chính”, lo đi chợ mua sắm mỗi ngày. Ở nhà có thêm một soeur hoả đầu quân quản gia, một chị phòng tập, một chị phòng thử, năm nữ đệ tử loi choi nho nhỏ như Út, để họ sai việc lặt vặt. Vị chi là mười người cho một nhóm luân phiên dậy sớm từ tửng bưng bốn giờ sáng.

    Mạnh người nào cứ cúi đầu làm việc nhẹ, việc nặng, (lúc bốn giờ sang tới mười giờ đêm, tới khi tu viện yên ắng, tắt hết đèn dầu, thì cuối cùng những người nầy se sẽ đi ngủ). Người lo việc nấu cơm, nấu nước, làm hầu hết công việc cần thiết. Năm đệ tử nhỏ được phân chia các việc lặt vặt phụ, ai sai bảo gì, thì mình làm cái đó như: Lặt rửa rau, xắt bầu, bí, múc nước từ hai cái giếng sâu, khiêng đi đổ đầy vào các chum vại to tướng trong bếp. Dọn dĩa, dao, nĩa lên bàn ăn. Múc sẵn những chén nước mắm, rau dưa, cà muối đặt trên bàn. Út là “lính mới”, lớ ngớ không biết làm việc, thì đã có mấy chị vào tu trước “kềm kẹp” hướng dẫn chu đáo.

    Cứ mỗi lần nghe chuông hiệu rung, là tất cả nữ dòng từ các phòng tụ tập trước ba dãy hành lang dài và rất rộng, họ xếp hàng im lặng từ từ đi vào nhà ăn (như những chiếc bóng âm thầm). Trước cửa phòng có đặt hai cái lọ thủy tinh to. Một lọ đựng đầy hột đậu rằn. Một lọ trống không. Trước khi vô phòng ăn, thì mỗi người (bất cứ ai) đều bốc một hột đậu rằn, bỏ qua bên lọ trống không kia, (để trong dòng tiện kiểm soát là buổi ấy có bao nhiêu người hiện diện vô nhà ăn).

    Bình thường mỗi ngày ba bữa, nhà dòng cho tất cả ăn uống thanh đạm: buổi sáng ăn cháo với trứng vịt muối, khi ăn khoai, sắn, hoặc ăn bánh mì. Buổi trưa, buổi tối, đều ăn cơm no đủ. Có ba món chính là: Canh, thức ăn mặn, rau xào, hoặc luộc. Thức ăn luôn thay đổi kèm một chén mắm nêm, dĩa dưa cải chua, dĩa cà ghém, ba món nầy là không lúc nào quên. Nhưng… thú thật là họ nấu ăn lạt lẽo và quá tanh, vì không đậm đà gia vị tiêu, ớt. Dỡ ơi là dỡ kinh khủng, nhưng ai nấy cúi đầu cố trợn mắt… mà nuốt. Út rất sợ mắm nêm vì nó tanh và đôi lúc thấy cả dòi. Kinh khủng xiết bao! Lúc đó Út nhớ bữa cơm ngon nóng sốt và lạ miệng do má khéo tay làm bếp, mà thèm.

    Nghe chuông hiệu nhỏ trong phòng ăn rung leng keng (chuông của bà Nhất để cạnh bà), thì nữ tu đứng tại chỗ đọc kinh, rồi mọi người tuần tự ngồi xuống bàn. Trong lúc ăn cơm, có một nữ tu phòng trực ngồi trên ghế, có bàn nhỏ đặt trên bục gỗ cao, nữ tu đọc kinh thánh, đọc các truyện tích nói về những kinh nghiệm nam nữ tu trên thế giới. Sau khi ăn uống xong, bà Nhất lại rung chuông hiệu, nữ tu đứng dậy đọc kinh cám ơn. Lúc cả dòng ra khỏi phòng ăn, thì họ được phép nói chuyện… nói nho nhỏ vừa phải không ồn ào chỉ trong mười lăm phút. Sau đó cả dòng đắm chìm trong im lặng… triền miên.

    Tất cả đồ dùng như: tô, dĩa, nĩa, dao, tô múc canh, (đều bằng nhôm) thì có một nhóm mười lăm nữ đệ tử nhóm A, (hoặc nhóm B, hay C) có phiên trực phòng ăn của tuần đó: lo thu dọn, rửa ráy sạch sẽ, úp lên các khuôn kệ ngay cạnh bồn rửa chén. Ai lo việc người ấy xong, họ trở về bổn phận của mình (tuần sau, thì mười lăm nữ đệ tử ở nhóm B, hoặc nhóm C khác, lại đến phiên đi phụ bếp, dọn dẹp phòng ăn, rửa chén…).

    Nếu có các lễ kỷ niệm như: Ngày thành lập Dòng, Noel, Phục-sinh, Tết Nguyên Đán, Trung Thu, lễ mừng vua chúa như: Đức Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, hay các thánh bổn mạng, sinh nhật “các bà lớn” quản trị dòng, thì bà Nhất, bà Nhì cho quản gia giết trâu, (khi giết bò, hay heo), gà, vịt, cho mọi người ăn đã đời. Còn dư thịt bò, thịt heo… lớp ướp muối gừng sả, mè trắng, ớt bột, rồi đem sấy khô. Lớp ngâm nước mắm đường, chờ mùa đông tháng giá lụt lội, không có chợ đò, dòng lại đem ra dùng.

    Mỗi cuối tháng trong dòng sẽ chiếu những phim hay, đa số là phim lịch sử danh nhân trong đạo, phim hoạt họa. Có văn nghệ do chị em đệ tử tự biên tự diễn "thoái mái". Nói chung cuộc sống trong tu viện thật lặng lẽ, khép kín, êm đềm. Mỗi buổi tối khi Út học xong lúc chín giờ rưỡi, mọi người nghe tiếng chuông hiệu lớn ngân rung tại phòng trực đánh hai hồi dài, một hồi ngắn: là tất cả nữ tu lớn bé đều chuẩn bị thu xếp sách tập cất vào ngăn tủ riêng (bên một gian nhà: có tủ, va ly, kệ, nơi đây dùng để đồ dùng cá nhân linh tinh).

    Từ giờ phút nầy trở đi trong dòng tuyệt đối im lặng. Khi các đệ tử họp mặt đông đủ tại phòng ngủ, soeur quản lý rung cái chuông nhỏ xíu của bà. Các đệ tử (dé dé choi choi như Út) quỳ xuống nền gạch đọc kinh. Cuối kinh là phần ăn năn tội, mọi người giăng tay ra, ôn lại những gì mình đã làm trong ngày, tự đấm vào ngực mình, duyệt xem ngày hôm nay mình đã làm những điều thiện gì, hoặc làm những gì sai trái! mà đọc kinh sám hối. Chuông rung lần thứ ba, là đệ tử đi làm vệ sinh cá nhân, thay quần áo ngủ, lên giường lúc đúng bon mười giờ.

    Vào những chiều thứ bảy, chủ nhật, các ngày lễ nghỉ, ai nấy ở nhà, không biết làm gì cho hết ngày dài lê thê, bà soeur “quản gia hoả đầu quân” thường kêu chị em nhà thử, nhà tập, (nói chung các chị ở nhà “tu thử, tu tập” thường “lao động” công việc nặng nề vất vã lắm. (Nhưng khi các chị ấy được tuyển chọn sẽ… trở thành dì phước, thành soeur rồi, thì cuộc sống của họ có đôi phần sướng hơn, nghĩa là không mấy khi họ bị “đì”).

    Ví dụ như chị Sen ở nhà Tập, sau khi học xong lớp 12, chị được dòng cử đi Đà Lạt để “học ăn học nói học gói học mở” những điều hay mới lạ của dòng Couvent des Oiseaux, chị Sen đi học trên viện đại học Đà Lạt, rồi sẽ đem những kinh nghiệm về dòng, mà áp dụng quy luật cần tu chỉnh cho khang trang. Từ Đà Lạt mỗi tháng vài ba lần, chị Sen viết thư về thăm dòng, chị nói sự học của mình, đồng thời ghi lại những nhận xét của chị về môi trường sống mới. Thư của chị Sen được đọc vào buổi tối ở trong phòng ăn, là nơi đông đủ tất cả nữ tu tụ họp.

    Thế nhưng Út không hiểu tại sao… giữa tháng Chín năm ấy, chị Sen bị bà bề trên gọi trở về, và… mỗi buổi tối chị Sen bị phạt quỳ gối trước mọi người, gần bên bục đọc sách trong phòng ăn. Út thắc mắc mà không dám hó hé hỏi ai? Rồi ngày tháng trôi qua… chị em không thấy nữ tu Sen đâu nữa. Chẳng biết chị Sen có được tiếp tục đi “du học Đà Lạt”, hay là chị “du hí ngoài vòng cương tỏa” của dòng? Họ kín như bưng, câm như hến, phận hèn như Út làm sao biết! Có tin đồn là chị Sen vì khá đẹp, nghe lời dụ khị của tên "nưu manh" bên đã “yêu” ai đó, và chị tự động cỡi áo. Bố ai mà biết.)

    Các chị ở hai nhà Tập, Thử ấy cộng với nhóm đệ tử xuống kho lương thực, bưng lúa trong vựa ra; cùng nhau xay lúa, giã gạo, sàng sảy. Có hai cái cối giã gạo đạp bằng chân, và ba cái cối đá dùng chày giã gạo. Hai chị nhà tập, hai chị nhà thử thì sàng sảy trấu, cám, thành gạo. Họ làm việc nhịp nhàng xong thứ nào ra thứ đó, các đệ tử banh bao bố ra trút vào. Trấu thì đem vào nhà bếp. Tấm, cám, đem xuống khu chuồng heo, khu gia súc. Gạo đem lên nhà kho chứa thực phẩm khô.

    Những giờ làm việc nầy tự do, ai muốn hát hò, kể chuyện, nói chuyện, đều được như ý, miễn sao không nói quá to, không ồn ào, là được. Làm việc cực nhọc, nhưng rất vui, nhờ số đông, mỗi người góp một chân một tay, nên thoáng chốc công việc đều xong ngay. Có nhiều lần giã ớt bột, tiêu hột thật là gay go, ớn lạnh, rùng mình. Dù nữ dòng dùng khăn để bịt mặt, che miệng, nhưng ai nấy đều hách xì nhảy mũi, nước mắt chảy ròng ròng, ho sặc sụa. Thân thể cay và nóng như phải bỏng. Út cũng như các nữ tu đều rất sợ khi giã món ớt bột nầy.
    * * *

    “Nàng Thơ” vào dòng tu trước Út hai năm, coi như Thơ “xếp sòng” cai quản bầy "em lính mới tò te". Út sợ, bực mình và ghét Thơ, vì Thơ ưa ăn hiếp Út hoài, (như Dung ngày xưa ăn hiếp Lê). Thơ gọi Út là "con khỉ đen". Vã lại, ngày trước Út ở ngoài “đời” tự do tung tăng bay nhảy, Út chuyên đi bắt bướm, bắt chuồn chuồn, hái hoa, ép lá, khá thoải mái... Bây giờ Út vào trong dòng ai ai cũng trắng trẻo, hồng hào! Riêng Út đen thùi lùi. Thổ âm của Thơ nghe rất lạ, nên Út không mấy hiểu ý Thơ muốn nói gì:
    - Ưng đập chắt với tui khôn? Tụi mình ra ngoài cươi, thì dì quạn lý nỏ chộ mô hì.
    Hoặc là Thơ hằn học với Út:
    - Ngó chi? Tui có lẻ củi săn, lẻ nè, tui chấp chị cấy rạ nì. Tui ưng cắm một cấy nơi trắp bả của chị ghê hè.
    Thấy “nhỏ tôi” im lặng, Thơ tìm cách gây chuyện khác:
    - Có ưng tui chọi trại ội một cấy, chị lủng cấy trốt, nỏ thậy cái trọ chỗ mô bi chừ khôn? Chị có thửa tui nọi chi với chị cại chi khôn. Hỉ? Răn mà tui ghẹt chị chi lạ rứa hè. Con khị đen.
    Út ngẩn ngơ không hiểu bạn nói gì. Út hỏi nhỏ mấy người ngồi gần bên:
    - Chị Thơ nói về em cái gì vậy? Mấy chị ơi!?

    Các bạn ngồi học gần bò lăn ra cười. Họ giải thích câu Thơ đã nói, thì mặt Út bừng đỏ vì giận. Cũng may nhiều lần Thơ nói tiếng "Tây rốc ken", Út không hiểu, nên chẳng có gì gay cấn đáng tiếc xảy ra. Bạn cũng ưa trêu chọc, lêu lêu âm ngữ giọng Đà Lạt nhỏ nhẹ của Út mà. Thời gian dài một năm sau trôi qua, áo quần giặt hoài cũ đi, da dẽ trắng trẻo hồng hào, đã biến Út trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong dòng, thì tình cảm của Thơ đối với Út thay đổi hẳn 180/o lúc nào, chẳng rõ. Thơ đã… “chịu đèn” Út mất rùi! Dù Thơ lớn hơn Út ba tuổi, quê nhà ba má cô là dân Đông Hà, mà Thơ ở tít “trong bưng”, nơi đó xa xôi không có trường học, nên khi vào tu, Thơ học lớp Nhì (tại nhà dòng nầy chỉ có bậc tiểu học). Út học lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ… nên phải đi học ở trên phố Quảng Trị, tại trường đạo Phước Môn.

    Mấy tuần nay, mỗi chiều Út cùng nhóm bạn đi học trên Tỉnh Quảng Trị trở về dòng, Út thấy áo quần dơ của mình, có ai đã giặt giũ, xếp gọn và để ở trên góc giường?! Út ngạc nhiên không hiểu ai đã làm giúp? Luật trong dòng là đồ đạc của ai, người đó tự lo. Chỉ lúc nào mình ốm đau nặng, cực chặng đã mình mới nhờ vã chị em giúp xí. Sự bất bình thường nầy, khiến Út cảm thấy bất an, phân vân, lo lắng và ray rứt chen lẫn chút ngờ vực. Ban đầu Út tưởng áo quần của ai để sai chỗ, nhưng khi mở góc hò của áo ra, Út thấy số # 138 và tên mình, Út biết là không lầm.

    Một hôm, trong phòng học, bỗng dưng có người tinh nghịch tắt điện. Đệ tử sợ ma kêu la om sòm, họ nhốn nháo xô đẩy nhau té ngã uỳnh uỵch. Bỗng có một người nào đó ôm chầm lấy Út, cô ta hôn vào má Út mấy cái kêu chụt chụt, rồi cô ta buông ra ngay. Con nhỏ nào đó vụt biếng dạng chạy đi ra ngoài sân cùng các bạn. Út toát mồ hôi, rồi bừng nóng, do bất ngờ mà lo sợ kinh khủng, trống ngực nhảy điên cuồng. Ai trêu ghẹo cái kiểu gì ác ôn vậy không biết? Út hét to, run rẩy xô ghế chạy vụt ra ngoài đêm tối.

    Hai tuần sau đó, bị cúm không đi học, Út nằm nghỉ ở nhà. Phòng ngủ của đệ tử có bảy mươi cái giường tre trải chiếu, trên chiếu phủ đều drap trắng thẳng tưng, gọn gàng sạch sẽ. Đắp mền lên tận cổ, Út vẫn bị lạnh run, đầu nhức như búa bổ, cổ họng khô đắng. Lúc nầy Út cảm thấy thật buồn trống vắng nỗi cô đơn, cô nhỏ nhớ cha mẹ anh chị biết ngần nào. Ở nhà mình, mỗi lần đau ốm (như bây giờ) Út được má và anh chị hết lòng chăm sóc, thế nên con bé tha hổ làm nũng, vòi vĩnh nọ kia, nhõng nhẽo. Ôi! Ngày vui ấy nay còn đâu!

    Nằm thiêm thiếp trên giường, Út nghe ngoài song cửa muôn ngàn chim én làm tổ dưới mái ngói, đang ríu rít đủ mọi giọng hót líu lo trầm bổng liên tục. Đàn chim tự do sống thoải mái vùng vẫy ngoài trời, tiếng hót lảnh lót tíu tít nghe thật truyền cảm. Nếu chim bị nhốt trong lồng, thì tự nhiên sẽ ủ rũ, đôi khi tiếng hót não nề như cặp chim sáo treo trước cửa văn phòng tu viện vậy. Giờ nầy sau tiếng dệt cửi quay tơ, tiếng mấy bà dì đọc kinh đều đều văng vẵng ở phòng bên cạnh, thì trong phòng ngủ hoàn toàn im lặng. Không gian tĩnh mịch và thời gian hầu như lắng đọng, im lắng, tĩnh mịch mênh mông, u buồn trải dài ra bất tận.

    Choàng mở mắt giật mình, Út lặng người không thốt nên lời, hồn vía bay lên mây, khi Thơ len lén vào phòng, cô đi nhẹ tới giường Út, nhẹ đến nỗi Út không hề hay biết. Thơ bạo dạn ôm chầm lấy Út và tới tấp hôn chùn chụt vào má, mặt mũi cô nhỏ, rồi Thơ vụt chạy biến ra ngoài. Úi Trời ơi! Út quá sợ hãi. Vì luật dòng nghiêm cấm tuyệt đối: Không cho phép một đệ tử nào vào phòng ngủ -nếu không đúng giờ nghỉ trưa, hoặc vào trước giờ ngủ tối, phải có dì quản lý đứng ở cửa rồi đệ tử mới từng người đi vô.

    Đó là một trọng luật mà Thơ đã mắc phạm. Một trọng luật nữa là Thơ dám bạo gan bạo phổi hôn Út, một trọng tội tuyệt đối cấm hai nữ tu “yêu nhau”. Út sợ hãi muốn đứng tim, dù đó là việc quá bất ngờ không do mình chủ động gây nên. Nhưng tiến thoái lưỡng nan, nếu Út dấu nhẹm chuyện nầy kín bưng trong lòng, là mắc tội, mà phơi bày ra đi xưng tội cũng chẳng thể… Thật quá hãi hùng lo lắng sợ sệt biết bao mà Út không thể hé môi tỏ cùng ai.

    Một lần nữa sau đó ít lâu, Út đang lui cui xếp dọn áo quần trong phòng treo áo, thì Thơ đi ngang qua, cô ta ngang nhiên ôm chầm Út, hôn lên môi Út thật nhanh giữa ban ngày, rồi lủi lẹ đi ra ngoài. Út bàng hoàng run lẩy bẩy, lo sợ kinh khủng, mà không dám la, chỉ sợ người khác biết “chuyện tồi tệ” nầy, thì chỉ có nước chết. Út biết điều nầy xấu xa tội lỗi, tu sĩ không giữ lòng và trí trong sạch, (mặc dù Út không hề nắm tay Thơ, chưa bao giờ hôn Thơ một cái nào), thì dị hợm vô duyên lắm!

    Kể từ đó hình ảnh Thơ lúc ẩn lúc hiện như ma như quỉ, luôn luôn quấy rối tâm trí Út, bắt cô nhỏ suy nghĩ, nhớ nhung một cái gì đó mơ hồ, nhức nhối buồn phiền, trong lòng canh cánh phập phồng lo sợ liên miên. Thú thật là Út rất sợ "chuyện tình éo le bậy bạ” ấy đổ bể. Út sợ trong dòng phát hiện, mọi chuyện bị lộ, thì sẽ gay cấn, bị phạt nặng, bị đuổi ra khỏi dòng, thì xấu hổ ê chề mất mặt lắm. Út sợ nhất là phải xách gói trở về nhà, không do bị đau ốm, bệnh tật, mà vì lý do “tồi tệ” nhục nhã ghê gớm nhuốt nhơ kia.

    Nhưng cô nhỏ không biết làm sao xa lánh lẫn trốn “nàng Thơ quyến rũ”. Út không dám “thố lộ nỗi lòng éo le” với ai, nên tâm trí cô nhỏ không hề yên ổn, luôn bất an, dày vò tột độ. Út thật sự sợ mọi người chung quanh phát hiện, riêng ôm mối lo ngay ngáy ấp ủ trong lòng. Tuy nhiên những cử chỉ âu yếm mơn trớn của Thơ… chẳng hiểu sao Út cảm thấy ấm áp, nhớ nhung, nhẹ nhàng rung động, và… bồi hồi run rẩy trong hạnh phúc bất chợt ùa về với khắc khoải buồn đau da diết. Nửa muốn ôm ghì Thơ, nửa hổ thẹn thụt lùi!? Út luôn đấu tranh với “từng cơn bão lòng”!

    Thấy Út không ưu ái “đáp tình”, nên Thơ bực tức, lì lợm, lộ liễu, trắng trợn làm đủ mọi cách để cho Út chú ý đến mình, Thơ ngang nhiên tỏ tình giữa mọi người chẳng hề sợ ai xầm xì. Út chỉ biết nhìn Thơ gượng cười, hai giọt nước mắt đọng trên khoé mi long lanh. Thơ chọc quê:
    - Em lậy cại rạ chặt cậy cụi khô, thui vô bệp lã, rùi náng vô tóc chị, chị khôn còn tóc, thì chị sẹ ốt dột, hỗ ngươi, chợ chi mà chị nguýt tui hè. Chị nguýt tui, tui vẫn thương nhớ mối tình đầu của tui là chị đó nì.
    ***

    Một buổi trưa cuối mùa hạ chớm thu nhưng có nhiều nắng chói chang và oi nồng, có các chị: Sen, Bình, Tịnh, Quy, Cúc, Hồng, Út, xin phép (soeur) hiệu trưởng Dưỡng đi chụp ảnh, để làm thẻ học sinh. Sau khi chụp hình riêng xong, họ trẻ người non dạ nghe bà chủ tiệm hình dụ dỗ ngon ngọt, cũng thật sự là họ không biết luật dòng nghiêm cấm việc chụp hình chung một tấm ảnh mặc áo dòng, nhưng họ xỏa tóc dài, (thay vì đệ tử phải bịt khăn trắng trên đầu, kẹp tóc sau gáy). Tục lệ bịt một vành khăn trắng nhỏ trên đầu, là để làm gì? Tượng trưng cho cái gì? Thú thật là tất cả đệ tử không thể hiểu, để làm gì? phân biệt điều chi cả?

    Dì quản lý có toàn quyền lục lọi đồ đạt đệ tử bất cứ lúc nào, dì đã bắt gặp tấm hình “các nàng” chụp chung quái ác nầy. Thế là dòng liệt họ vào danh sách "kẻ trọng tội", cho bọn chụp hình chụp bóng ra rìa ở một xó góc. Bây giờ những người còn được tu ở đây, họ không có quyền lai vãng nhìn ngó, hay chuyện trò với “kẻ phạm tội”. Làm như kẻ ấy gớm ghiếc, là ma qủy có ba đầu sáu tay đã lột xác hiện hồn không bằng. Thử hỏi có ai trên cõi đời nầy dám vỗ ngực xưng danh: “ta là người chẳng có tội” không? Hoặc liệt họ mắc phải bịnh thống phong xù, cùi hủi chi, cần phải chia cách biệt lập ra một nơi, không ai dám béng mãng tới gần. Thật là các bà chủ trì chẳng đắc nhân tâm chút nào.

    Suốt ba ngày hai đêm, Út núp núp lén lén trong một góc phòng, để chờ thân nhân đến đón về. Út không được đi xem lễ, Út xấu hổ không dám ngẩng mặt nhìn ai. Mấy ngày đó, có chị Hà bên phòng thử mỉm cười lặng lẽ bưng đến cho Út bình nước lọc, mâm cơm sơ sài vài món để trên bàn. Không ai dám nói với “kẻ nầy” lời nào, vì dòng cấm tiệt, chứ không phải chị Hà không có chuyện cần nói, hay khuyên lơn vỗ về an ủi những kẻ “không trong sạch”.

    Bị gọi lên phòng họp sau chót, Út qùy lết dưới chân hai bà Nhất, bà Nhì đều to lớn mập ú, họ đang phơi hai cái đầu trọc ra, hai tay bà Nhì luôn gãi sồn sột sau lưng. Còn bà Nhất thì cào cào lên cái đầu nhu nhú tóc đen. (Trong dòng tu nầy, khi đã vào lớp tập, lớp thử, gần trở thành “dì phước” (soeur) thì các bà, các chị, đều cạo đầu tóc trọc lóc. (không như vài dòng tu khác cho các xơ để tóc, mà tu!). Ở trong phòng ngủ, họ có quyền cỡi bỏ khăn đội đầu, khi trời nóng hầm hập thế nầy). Họ là hai người quyền cao chức trọng có uy thế nhất, có uy quyền “sinh sát, tha phạt, hay tưởng thưởng” nữ tu. Tất cả mọi người ở trong dòng đây đều sợ họ xép re!

    Út quỳ dưới nền gạch, hai bàn tay bé xíu nhẹ đặt lên hai bắp đùi to bự của bà Nhất, bà Nhì. Họ an toạ trên chiếc ghế dựa mây. Út năn nỉ khóc lóc, van xin “hai bà” tha tội cho “con” được phép ở lại tu. Vì thật tình em mười ba tuổi ao ước thích thành nữ tu trong sáng, khiêm nhường, thật thà, dễ dạy chớ không muốn mất dạy!
    Bà Nhất nói:
    - Con tạm về lánh nạn ít tháng, rồi bà sẽ tìm cách cho con vô lại dòng tu. Quả thật con quá dại khờ. Theo bà nghĩ thì con có lòng ước muốn đi tu lắm. Nhưng nếu bà đuổi các chị em kia về, mà không cho con đi về luôn, thì không công bằng. Nên buộc lòng bà phải cho con về trú tạm ở phần sở An Đôn, chờ bề trên giám tỉnh là cha Lê Hữu Huệ, chánh xứ Trí Bưu, và là bề trên hạt Đinh Cát, quyết định sau. Con cứ an tâm mà đi về phần sở là chi nhánh của dòng mình. Nghe.

    Út khóc rống hụ hụ hụ… thật to, to thật to như trời tru đất diệt tận thế tới nơi. Hai bà e dè nhìn nhau, to nhỏ điều gì, và lắc đầu. Út dùng tay áo quệt lau hai hàng nước mắt, cô nhỏ lủi thủi trở về ngồi phịch xuống xó góc cũ. Khi đó Út càng ngạc nhiên thấy Thơ đã có mặt trong “chỗ xó góc ác ôn” kia. Thơ đang tự ý, tự ên chuẩn bị xếp hành trang bỏ về nhà. (Có một điều kỳ lạ là khi ở trong dòng thì Thơ tỏ vẻ “yêu” Út tha thiết. Nhưng khi Thơ đã “ra đời”, trở về nhà, hai cô nhỏ thường gặp gỡ nhau, nhưng tình cảm ấy đã khác hẳn… rất thân nhưng không bao giờ… dám hôn)!

    Còn Út không trở về nhà ba má, mà ở lại nơi phần sở An Đôn, là chi nhánh của dòng Trí Bưu được hai tháng. Mỗi tuần Út có thể gặp gia đình ba má, anh chị Uyển, chị Hạc và anh Dzoãn đi xem lễ ở nhà thờ. Hai anh chị Hạc, Dzoãn thường “quyến rũ rù quến” em:
    - Thôi em ạ, như vậy là “cái số” em không được Chúa chọn rùi. Đi về nhà mình ở cho rồi. Chớ tội gì đi tu cho khổ, ăn mắm mút dòi rứa hỉ. Ở nhà sung sướng, cha mẹ mình giàu có, của ăn của để không hết. Em ở đây quá buồn tủi, ăn uống kham khổ. Coi em ốm o xanh xao vàng vọt kìa. Về nhà nghe. Anh chị nhớ em lắm à.

    Thế là ngẫm nghĩ thân phận eo xèo buồn thảm “quần vải áo sô” hèn mọn, mà tức nhiều và đầy… tủi hận xấu hổ! Mất tai thì đã mang tiếng rồi! Út nghe lời “đường mật” của anh chị dụ khị nó hoài, cảm thấy xiêu xiêu lòng, nghe thấm thía bùi tai và chí lý lạ! Út bèn nổi cơn “tự ái vặt”, liền một mình đi một mạch lên lại dòng cũ. Chính nơi đây xưa kia Út đã từng nhón nhén rụt rè khép nép lo “tu thân”. Nay Út tôi “hiên ngang” chảnh chẹ xách va ly dọn dẹp hết các thứ, rút vội về nhà ba má và anh chị của mình ở giữa hai ngọn đồi Cấm, tại làng Thượng Phước.

    _ * _
    [/SIZE]


    Tình Hoài Hương
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-13-2017, 10:15 PM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #137
      Từ Nấc Thang Thấp Hèn Đầu Tiên




      Từ Nấc Thang Thấp Hèn Đầu Tiên
      (THH thương tặng nhân vật chính: Trương thị Thu Huyền (Hoa)
      câu chuyện thật của em tôi).

      ***

      Ở nhà một thời gian dài khoảng bốn năm tháng “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, Hoa đi ra đi vô ngao ngán chẳng biết làm gì cho hết ngày, vã chăng cái số của em cực thì thôi, Hoa cảm thấy cần phải “đi làm” có tiền giúp mạ nuôi bầy em nhỏ. Hoa theo người cùng xóm đi Tam Kỳ, nơi cha Hoa đi lính đổi vô đó. Tuy Hoa đã có hơi lớn: hơn mười hai tuổi, nhưng con gái một chữ bẻ đôi cũng không biết, thì làm gì đây?

      Hoa suy nghĩ: tạm thời cứ giữ nghề “ở đợ” cho chắc ăn trước, rồi mai sau hãy “liệu cơm đó mà gắp mắm”. Hoa “làm nghề giữ em” cho gia đình ông bà Trung/úy Nguyển Trí. Tại đây họ có mướn thầy gia sư về nhà kèm cho con họ là Minh Châu và hai em trai học thêm. Ở ngoài thềm rộng Hoa bồng em ngồi xa la xết lết lắng tai nghe và học lóm hoài, rồi một hôm bé em của Minh Châu không thuộc bài, Hoa đứng ở bên ngoài phòng học đã trả bài dùm em những câu cậu Phú hỏi em Châu từ ca dao:
      Con ơi muốn nên thân người
      Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha
      Gái thì giữ việc trong nhà
      Khi vào canh cửa khi ra thêu thùa
      Trai thì đọc sách ngâm thơ
      Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
      Mai sau nối được nghiệp nhà
      Trước là đẹp mặt sau là ấm thân.
      Hoặc:

      Con ơi! Mẹ bảo con nầy:
      Học buôn học bán cho tày người ta
      Con đừng học thói chua ngoa
      Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười
      Dù no dù đói cho tươi
      Khoan ăn bớt ngủ liệu bài cho toan…


      Cậu Phú gia sư ngạc nhiên nhìn ra, và hỏi:
      - Hoa học lúc nào mà nhớ thế?
      Hoa hồn nhiên trả lời cậu Phú:
      - Cháu bồng bé Bê đứng đây nghe cậu dạy mà.
      - Khi nào cháu rãnh, thì tới đây cậu dạy cháu học.
      - Dạ, dạ, thưa cậu…

      Đó là nỗi vui tột đỉnh trong quảng đời ấu thơ, Hoa rất mừng rỡ nhận cậu Phú: một vị thầy giáo khả kính đầu tiên vô-vụ-lợi trong cuộc sống buồn nhiều hơn vui và lắm ưu phiền của Hoa. Thế là từ đó ngày ngày cậu Phú đưa cho Hoa những bài học bài tập của các em ấy đã học. Ngày tháng âm thầm lặng lẽ trôi qua, Hoa biết ơn thầy và sung sướng có thầy ân cần chỉ dạy cho Hoa đọc viết thông thạo. Hoa không nhớ bao lâu.

      Rồi một hôm cậu Phú báo tin buồn rằng:
      - Cậu phải nhập ngũ, tức là cậu sẽ đi lính, không thể kèm cho cháu học thêm nữa. Cháu biết không?
      - ...
      Trước khi ra đi, cậu Phú có dặn Hoa:
      - Mỗi ngày cháu cần đọc nhiều truyện nhi đồng cho lưu loát, ghi nhớ, suy nghĩ về bài cháu đã đọc. Cháu nên đồ lại từng nét chữ, từ những bài viết cậu đã đưa cháu, cho quen thuộc mặt chữ, cháu học thêm những bài mới bằng cách tìm vô thư viện. Thế là cháu sẽ biết đọc biết viết kha khá. Cháu hãy dùng chút vốn liếng đó mà tự vươn lên, Hoa nhé. Cậu biết cháu có nhiều nghị lực và kiên nhẫn.

      Hoa bàng hoàng ngẩn ngơ nghẹn ngào cúi nhìn xuống đất, em nhẹ gật gật đầu mà nước mắt lưng tròng, Hoa ấp úng lí nhí trong cổ, vẫn không thể mở miệng để nói lời cám ơn, hoặc thốt ra câu chào từ biệt cậu. Sau khi cậu đi, ấy là khoảng thời gian Hoa càng cô độc trống vắng, cảm thấy buồn quá sức tưởng tượng, nên Hoa xin nghỉ việc tại nhà ông bà Trí. Hoa lại vào đi ở cho một gia đình khác, là ông Đại/uý Trương Nguyên Thảo tại khu tạo tác trong Thành Nội.
      * * *


      Tình Hoài Hương
      Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-13-2017, 10:33 PM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • Tinh Hoai Huong
        Senior Member
        • May 2009
        • 1081

        #138
        Nguyên văn bởi muahong View Post
        Đời nhà Trần chúng ta thật nhiều tướng tài như Trần Quốc Tuấn , Trần Quang Khải , Trần Bình Trọng , Trần Nhật Duật , Trần Khánh Dư ..., trong đó nổi bật nhất là tướng Trần Quốc Tuấn - Hưng Đạo Đại Vương . Nhờ tài thao lược của Ngài mà quân ta đã đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông , dù đội quân này nổi tiếng hùng mạnh bậc nhất thế giới thời bấy giờ . Nhiều nơi trong nước đã lập đền thờ Ngài , gọi một cách kính cẩn là Chùa Thánh .
        Đọc bài Trần Hưng Đạo Vương của THH , người đọc cảm thấy như có luồng sinh khí chạy rần rần trong cơ thể . Xin cám ơn tác giả .


        THH chân thành cám ơn anh muahong đã chịu khó ngồi đọc bài viết : Đức TRẦN HƯNG ĐẠO Vương (& Những Chiến Trận Lẫy Lừng) dài và khô khan. Thế nhưng anh muahong vẫn vui lòng ghi lại lời khích lệ.
        Khiến tôi cảm kích và ước nguyện sẽ cố gắng viết những bài về lịch sử hào hùng, sống động... mà tổ tiên ông cha chúng ta đã dày công xây dựng nước VIỆT NAM dấu yêu.
        Nay kính,

        THH
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 09-17-2014, 07:40 AM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #139
          Danh Nhân Kiệt Xuất: NGUYỄN TRÃI (1380 – 1442).



          Danh Nhân Kiệt Xuất: NGUYỄN TRÃI (1380 – 1442).

          Từ khi Việt Nam rơi vào ngày 30 tháng Tư 1975 “mất nước”, thì hầu như tất cả trường, lớp, chẳng có giờ học về môn: Công Dân Giáo Dục & Sử Ký & lịch sử Việt Nam nữa.
          Hôm nay, trước tiên tôi xin mạn phép kể hầu cùng quý vị độc giả… (và sau rốt là do đã hứa với các con, cháu… tôi sẽ ghi lại những chiến tích oai hùng, những kỳ công anh dũng, và quật cường của tổ tiên ông cha chúng ta. Họ đã dày công xây dựng và giữ gìn non sông gấm vóc Việt Nam hưng thịnh trường tồn đến bây giờ).
          Tiếp theo chuyện hai bà Trưng Trắc Trưng Nhị ; chuyện bà Triệu Thị Chinh; Đức HƯNG ĐẠO Vương TRẦN QUỐC TUẤN: đã ghi.
          Nay tôi xin kể hầu tiếp quý vị về Danh Nhân Kiệt Xuất: NGUYỄN TRÃI.
          *
          {Xin trân trọng cám ơn giảng sư Nguyễn Văn Trung … đã dạy tôi học môn SỬ VIỆT NAM.
          & THH biên soạn bài viết theo lịch sử Việt Nam, từ:
          * ít sách trong Bộ Giáo Dục V N C H
          * Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim).
          * Nam Hải Dị Nhân (Phan Kế Bính).
          * Đại Cương Lịch sử Việt Nam (Nguyễn Khắc Thuần).
          * Wikipedia
          }

          Tình Hoài Hương

          ***


          Về thời nhà Hồ, có ông Nguyễn Tự khanh công, (nguyên gốc là người ở làng Phượng Nhỡn) ông cùng cả gia đình đã bồng bế nhau di dời linh vị tổ tiên đem đi an táng & nhập tịch tại làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc. Tại làng Nhị Khê, Thường Tín (bây giờ là tỉnh Hà Tây), năm 1380 có một nam nhi chào đời: Đó là ông Nguyễn Trãi. Ông Nguyễn Trãi (con của bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh. Đại tư đồ Trần Nguyên Đán là ngoại tổ của Nguyễn Trãi).
          Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái-học-sinh. Ông tài giỏi về văn thơ, nhất là có công trong việc khai sáng ngành địa lý(*). Ông là một thiên tài về quân sự, là một chính trị gia xuất chúng. Ông Nguyễn Trãi làm quan trải qua hai đời vua: Lê Thái Tổ & Lê Thái Tông.

          Tục truyền rằng: Tại làng Hoắc Sa (Sơn Tây) ngày ngày tháng tháng cũng có ông Trần Nguyên Hãn đi khắp đó đây lân la bán dầu. Một lần kia, ông Nguyên Hãn đi bán dầu tới làng Chèm thì trời đã tối mịt, ông bèn vào nghỉ chân và nằm ngủ ở một ngôi đền cổ. Nửa đêm ông Nguyên Hãn bỗng nghe một vị thần ở làng khác, đến đền rủ vị thần ở làng Chẽm: cùng nhau lên chầu trời. Ông làng Chẽm lắc đầu từ chối:
          - Đang có quốc công ngủ trọ ở đây, tôi không đi được.
          Thế nên một mình vị thần làng kia chỉnh tề áo mũ khăn gói ra đi. Lúc sang canh ba, vị thần làng khác đã trở về, thì thần làng Chẽm dò hỏi:
          - Ông lên Trời có việc gì mà vội thế?
          - Ngọc Hoàng thấy nước Nam chưa có vua, nên cho Lê Lợi (Lê Thái Tổ) làm vua. Ông Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê làm tôi.

          Ông Trần Nguyên Hãn đã nghe lóm hai vị thần chuyện trò trao đổi với nhau như thế, trong lòng ông khấp khởi mừng thầm. Ông Nguyên Hãn liền lặn lội đi đến làng Nhị Khê, cốt ý tìm Nguyễn Trãi. Khi gặp bạn, hai người đã tâm đắc tương phùng, Nguyên Hãn kể rõ đầu đuôi câu chuyện của hai vị thần cho ông Nguyễn Trãi nghe. Nhưng ông Nguyễn Trãi không tin.
          Do dự ít ngày, họ cũng tò mò nên rủ nhau đến làng Chẽm, vô ngôi đền cổ kính ấy cầu mộng, được thần báo:
          - Việc nầy nên tới Tiên Dong hỏi, vì bà tiên ấy biết rõ ràng.
          Hai người lững thững tìm tới đền thờ Tiên Dong, được báo:
          - Lê Lợi ở Nhị Khê làm vua. Còn các ông là bầy tôi.

          Họ lặng lẽ nhìn nhau. Ông Nguyễn Trãi quan niệm: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (lật thuyền mới biết sức mạnh của dân như nước). Có vua. Có tôi, mà không có dân thì… coi như pha! Thế rồi… hai ông băng rừng vượt núi, lò mò đến làng Lam Sơn (Thanh Hóa) lặn lội bao dặm trường… tìm vị minh vua.
          Bất chợt họ lạc đến nhà kia, thì gia nhân ra vô chuẩn bị đám giỗ, họ thấy một người ở ngoài đồng mới về, quần lận xăn lên quá mắc cá chân, áo cánh vải cũ sờn, nhưng ông Lê Lợi bình dị nhìn hai vị khách tươi cười, tay ông còn giắt con bò già. Hai người xin vào chầu. Lê Lợi vui vẻ mời họ vào nhà nghỉ ngơi. Hôm sau trong nhà có đám giỗ tưng bừng náo nhiệt thật. Hai ông Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn xắn tay áo lên cao, cùng xông xuống nhà bếp nấu thổi, họ nhìn lên nhà ngang thì thấy ông Lê Lợi một tay xắt thịt, tay kia thỉnh thoảng bốc thịt bỏm bẻm ngấu nghiến nhai ăn. Họ nhìn nhau thì thầm to nhỏ:
          - Bà Tiên Dong gạt mình ư! Lẽ nào một thiên tử mà cử chỉ lại tầm thường thế!
          Họ bấm nhau cùng lẽn ra lối sau, bỏ đi cầu mộng lần nữa. Bà Tiên Dong phán:
          - Trời đã định, có thiên tinh giáng trần rồi, người đó là: Lê Lợi.

          Hai ông lẵng lặng trố mắt nhìn nhau trong bụng nửa tin nửa ngờ. Một lần khác cách đấy không lâu, đang đêm hai ông Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn cảm thấy bứt rứt và ấm ức trong lòng, họ lại lén đến thăm ông Lê Lợi. Họ thấy Thái Tổ ung dung phong độ thư thái, ông đang ngồi đọc một quyển sách dày. Hai ông phủ phục xuống đất thưa:
          - Từ nơi xa xôi có muôn vàn trắc trở, chúng tôi đã lặn lội đến đây, xin ngài cho chúng tôi theo hầu.

          Thái Tổ tủm tỉm cười, mời hai ông lưu lại nhà, từ tình cờ sơ giao tới thân thiết, ba người hàn huyên rất tương đắc về việc: tuyển chọn, huấn luyện binh sĩ, cùng lập kế hoạch khởi binh diệt Minh:

          Núi Lam sơn dấy nghĩa
          Chốn hoang dã nương mình
          Ngẫm thù lớn há đội trời chung
          Căm giặc nước thề không cùng sống

          Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
          Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
          Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
          Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ

          Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
          Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
          Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
          Chính lúc quân thù đang mạnh.
          (*)

          Ông Nguyễn Trãi bí mật lấy mỡ đặc trét lên những chiếc lá tươi trên cây cao. Thế là bầy sâu và đàn kiến lớp lớp bò lên cắn lủng hết những chỗ đã bôi mỡ ấy, thì những chiếc lá lòi ra tám chữ: “Lê Lợi vi quân. Nguyễn Trãi vi thần”. Sâu cắn hết cuống lá rụng đầy ắp xuống đường, gió thổi lá trôi trên sông… Mọi người tình cờ lượm lá lên xem, đã đồn đãi với nhau: “đó là điềm lành linh ứng do trời đã định”. Thế nên người ta ào ạt đi theo ngài Thái Tổ rất đông như nước vỡ bờ. Ông Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn cùng vua Thái Tổ bàn thảo với nhau chu đáo, hoạch định kỹ lưỡng về việc đánh quân Minh.
          Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
          Để trong nước lòng dân oán hận
          Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn
          Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh

          Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
          Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
          Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
          Gây thù kết oán trải mấy mươi năm

          Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
          Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
          Người bị ép xuống biển còng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
          Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.

          Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
          Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
          Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
          Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,

          Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
          Nặng nề những nổi phu phen tan tác cả nghề canh cửi.
          Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
          Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
          (*)

          Từ năm Mậu Tuất đến năm Bính Ngọ, vua Lê Lợi cùng quân lính đã toàn thắng hơn 20 trận. Thừa thắng xông lên, vua, tướng, cùng binh lính đã ồ ạt tiến sát đến Đông Đô (nơi đây do tướng nhà Minh là Vương Thông đang trấn giữ).
          Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
          Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
          Như nước đại Việt ta từ trước,
          Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
          Nước non bờ cõi đã chia,
          Phong tục Bắc Nam cũng khác;
          Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
          Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
          Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
          Song hào kiệt thời nào cũng có.
          (*)

          Biết tin chẳng vui, nhà Minh sai Mộc Thạnh và Liễu Thăng chia ra hai hướng khác nhau, cùng đi tiếp viện Vương Thông ở Đông Đô. Thế nhưng vua Thái Tổ quan tướng và quân binh đóng tại núi Mã An, đã giết chết Liễu Thăng, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc, và hơn 300 người khác. Vương Thông hốt hoảng mở cửa thành Đông Đô ra đầu hàng. Mộc Thạnh lẽn chạy trốn về nước. Do vậy, ông Nguyễn Trãi đã ghi:
          Thằng nhãi con Tuyên đức động binh không ngừng
          Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
          Đinh Mùi tháng chin: Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
          Năm ấy tháng mười: Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

          Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
          Sau lại sai tướng chẹn đường tuyệt nguồn lương thực
          Ngày mười tháng tám: trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế
          Ngày hai mươi: trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu

          Ngày hăm lăm: bá tước Lương Minh đại bại tử vong
          Ngày hăm tám: thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
          Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
          Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau

          Lại thêm quân bốn mặt vây thành
          Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
          (*)

          Từ lúc binh đoàn hùng dũng của vua Thái Tổ thắng trận vẻ vang, thì tờ thảo hiệp ước do ông Nguyễn Trãi biên soạn ra đời: Nên nước Ta và Tàu lại giao tiếp với nhau. Ông Trần Nguyên Hãn được vua phong làm quốc công.
          Hoàng Phúc (Tàu) là người giỏi về khoa tướng số và địa lý, ông ta đã lén biên chép hết những chỗ đất quý ở phương Nam, nơi sinh ra các công hầu vương tướng, hắn đều ghi trộm hết. Khi Thái Tổ bắt được thượng thư Hoàng Phúc, ông Nguyễn Trãi nhìn y có ý khinh bỉ, thì Hoàng Phúc chỉ cười:
          - Mả tổ nhà tôi có “xá văn tinh”, chẳng qua tôi bị nạn mấy ngày. Không như ông, có đất có nhà mà bị tru di tam tộc!
          Ông Nguyễn Trãi trừng mắt nhìn Hoàng Phúc mà lặng im suy nghĩ mông lung.
          * * *

          Về phần ông Nguyễn Trãi có một trang trại Tiêu Viên ở tỉnh Bắc, đến đời vua Thái Tôn, trí sĩ Nguyễn Trãi không mê danh lợi, đã về ẩn cư tại trang trại ấy. Huyền sử ghi rằng: Khi ông Nguyễn Trãi chưa thành danh, tại làng Nhị Khê, ông sai học trò ra ngoài đồng dọn cỏ từ một cái gò, để làm nơi dạy học. Thì ông nằm mơ thấy người đàn bà kêu van:
          - Tôi mẹ yếu con thơ. Xin ông nán lại ba ngày, tôi sẽ đem con đi nơi khác, rồi ông hãy dọn cỏ.
          Ông thức dậy đi ra đồng, thấy học trò đã dọn sạch cỏ ở đống gò. Nguyễn Trãi hỏi, học trò thưa:
          - Có con rắn trong bụi cỏ, chúng tôi đập, nó bị đứt đuôi, đã chạy thoát, chỉ thấy hai quả trứng nầy.

          Ông Nguyễn Trãi suy nghĩ: “Con rắn ấy có lẽ là điềm của người đàn bà báo mộng”, nên ông đem hai trứng rắn về nhà nuôi, chờ nở. Mấy hôm sau, ông đang ngồi đọc sách, thì có con rắn trắng ở trên xà nhà, nó nhỏ một giọt máu xuống, đã thấm giọt máu xuống ba tờ giấy trong trang sách, trúng ngay ở chữ đại (đại= ba đời). Khi hai trứng rắn kia nở ra, thì một con ngắn, một con dài. Ông Nguyễn Trãi ngậm ngùi sai gia nhân đem hai con rắn nhỏ ra thả trên sông Tô Lịch. Một hôm khi trời đã tối mịt, ông ở trong triều về ngang qua hàng chiếu, ông gặp cô gái bán chiếu có nhan sắc mỹ miều, muốn đùa với cô gái tí, ông đọc bốn câu thơ:
          Ả ở đâu đi bán chiếu gon?
          Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?
          Xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi?
          Đã có chồng chưa! Được mấy con?!


          Người con gái ỏn ẻn cười, đáp lại:

          Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
          Nỗi chi ông hỏi hết hay còn!
          Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẽ
          Chồng còn chưa có, có chi con.


          Ông Nguyễn Trãi thấy nàng xinh xinh mà đáp thơ trôi chảy, gãy gọn và hay, lòng cảm thấy hân hoan vui thích, ông liền hỏi tên, thì nàng thưa: “Thị Lộ”. Ông đã đem nàng về nhà làm hầu. Có lần khi Nguyễn Trãi có việc đi xa vắng nhà, vua Thái Tôn ngao du qua tỉnh Bắc, vua cùng đoàn tùy tùng đã vào dạo chơi trại Tiêu Viên, nàng hầu Thị Lộ ở nhà pha trà hầu vua. Khốn thay chiều tối hôm ấy vua Thái Tôn băng hà! Triều đình quyết đổ tội Thị Lộ giết vua, nên phán cả nhà ông Nguyễn Trãi bị thảm họa tru di. Thế nhân bấy giờ mới tin lời ứng nghiệm: Hoàng Phúc được vua Thái Tổ tha về nước, còn ông Nguyễn Trãi mắc oan. Khi vua mất, các quan tướng bắt Thị Lộ tra hỏi, thì nó vu:
          - Ông Nguyễn Trãi xui tôi làm.

          Triều đình định tội chiếu theo lời cung khai của nó, bắt cả gia đình ông Nguyễn Trãi tru di tam tộc. Riêng tên Thị Lộ thì nhốt vô trong lồng củi, và quăng ra sông Nhị Hà, thì người ta thấy nó hóa thân thành con rắn, chui ra khỏi lồng củi, đi mất (?!). Thiên hạ lại kháo nhau:
          - Thị Lộ pha trà mời vua, chính là con rắn nhả nọc độc vô chén trà, nó đã hiện hình người, để báo thù!!!

          Khi đại gia tộc ông Nguyễn Trãi gặp hoạn nạn, ông có người vợ bé đang mang thai, nàng lẽn trốn xuống tỉnh Nam sinh con trai tên Anh Võ. Đến đời vua Thánh Tông xét duyệt tích xưa, thương ông Nguyễn Trãi mắc hàm oan, vua đã ban chiếu giải oan, phong ông Nguyễn Trãi làm “Thái sư tuệ quốc công”, vua sai người đi tìm dòng dõi Nguyễn Trãi, mới lòi ra ông Anh Võ. Vua sai ông Anh Võ qua sứ bên Tàu, khi thuyền ông Anh Võ đi qua hồ Động Đình bị phong ba ầm ầm sóng cuộn. Bỗng thấy con rắn ở dưới nước bò lên, Anh Võ nghĩ lại là con rắn độc báo oán thuở trước, ông đã khấn:
          - Xin cho tôi làm tròn việc nước, lúc trở về sẽ chịu tội.

          Quả nhiên, lúc ông hoàn thành trách nhiệm trở về ngang qua hồ Động Đình, thì phong ba bão táp lại nổi lên, thuyền bị chìm và ông Anh Võ đã chết đuối.
          * * *

          Năm Cảnh Hưng triều đình đã duyệt lại các sắc phong cũ những vị khai quốc công thần. Lúc họ duyệt đến phần của ông Nguyễn Trãi, thì ông Lê Quý Đôn xé đạo sắc ấy, mà rằng:
          - Bọn loạn thần tặc tử, giữ cáo sắc lại làm gì!

          Vừa dứt lời, Lê Quý Đôn bỗng ngả xuống, ông thấy mình bị dắt đến một đền đài, hai tên lính bắt ông Lê Quý Đôn quỳ dưới thềm. Nơi có mấy chục chiếc ỷ, có một vị quan uy nghi, anh hào kiệt xuất đang ngồi chễm chệ oai nghiêm trên sập gụ, ông ta mặc áo bố tử, đầu đội mũ, chung quanh ông đầy dẫy lính hầu. Vị quan ngồi trên sập nói to mà y như hét:
          - Ta là Tế văn hầu, ngươi là tiểu sinh, sao mà dám phỉ báng người đã có công với tiền triều hả. Tội ngươi thật đáng chết.

          Lê Quý Đôn sợ hãi, kinh hoàng nín lặng cúi gầm mặt xuống, không dám ngẩn đầu lên. Bên cạnh vị quan có người mặc áo xanh, đội khăn lượt đã cúi đầu kêu van, xin vị quan oai dũng kia tha mạng cho ông Lê Quý Đôn. Vị quan ấy lại bảo:
          - Ngươi đừng tưởng ngươi đỗ bảng nhỡn, mà lên mặt lếu láo khinh người. Công danh sự nghiệp của ta, không thèm so sánh với ngươi. Ta tha cho ngươi, về mà xem ít câu từ: “Bình Ngô Đại Cáo” của ta nè:
          Đánh một trận: sạch không kinh ngạc
          Đánh hai trận: tan tác chim muông.
          Cơn gió to trút sạch lá khô,
          Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

          Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
          Thượng thư Hoàng Phúc trói tay, để tự xin hàng.
          Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
          Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

          Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
          Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
          Bị ta chặn ở Lê Hoa,
          Quân Vân Nam nghi ngờ

          Khiếp vía mà vỡ mật
          Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
          Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau
          Chạy để thoát thân.

          Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
          Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
          Thành đan Xá, thây chất thành núi,
          Cỏ nội đầm đìa máu đen.

          Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
          Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
          Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
          Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

          Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
          Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước… mà vẫn tim đập chân run.
          Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
          Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
          (*)
          - Nếu ngươi làm hay hơn bài hịch ấy, thì ngươi xé sắc phong của ta, âu cũng đành.

          Ông Lê Quý Đôn tỉnh dậy, sợ hãi tột cùng, lập tức viết lại đạo sắc của ông Nguyễn Trãi.
          * * *

          Tính tình ông Nguyễn Trãi điềm đạm, ôn nhã, nhưng văn chương lưu loát, hùng hồn, đôi khi trữ tình, xao xuyến vấn vương nỗi thương dân nhớ nước, văn phong của ông có khí phách nam nhân và đầy tâm huyết. Nổi bật nhất là bài văn “Bình Ngô Đại Cáo” và “Lam Kinh Thần Đạo”, điều mà trên dưới trong triều thần và dân gian: ai ai cũng tâm đắc, bội phần kính phục từ chí hướng, lý tưởng sâu sắc:
          Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
          Lấy chí nhân để thay cường bạọ
          Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
          Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
          (*)

          Triều đình vua Lê Thái Tông vào niên kỷ 1437 tháng 1 năm Đinh Tỵ, ông Nguyễn Trãi được giao thêm nhiệm vụ dạy nhạc, dạy vũ & chế nhạc khí. Ông Nguyễn Trãi liền khiêm tốn trình tâu vua:
          - Kể ra thời loạn dụng võ. Thời bình chuộng văn. Nay đúng lúc nên làm lễ nhạc. Song nếu vạn vật không có gốc, thì không thể đứng vững. Nếu không có văn làm sao lưu hành! Thái bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Nay thần vâng chiếu, ngày đêm tận tâm dốc sức soạn nhạc, thần không dám lơi là qua quýt. Nhưng vì học thuật của thần nông cạn, sợ e thanh luật khó hài hòa. Nay thần dám khẩn xin bệ hạ hãy yêu nuôi muôn dân, để mọi người không còn oán hận buồn than. Có như thế mới không làm mất nguồn gốc của thanh nhạc:
          Như nước Đại Việt của ta từ trước
          Vốn xưng nền văn hiến đã từ lâu
          Bắc Nam bờ cõi đã chia
          Phong tục mỗi nơi một khác


          Hoàng đế Lê Thái Tông nghe xong lời tấu trình của Nguyễn Trãi, thì rất ngợi khen, và vui vẻ sai thợ đi lấy đá ở núi Kính Châu để làm. Nhưng khi triều đình bàn đến chuyện sẽ chế nhạc khí, do vua còn ngây thơ ít tuổi (bấy giờ mới 14 tuổi) chưa có kinh nghiệm, non nớt về chính trị và thiếu bản lĩnh, nên vua Thái Tông nghe lời bàn ra của hoạn quan Lương Đăng: chuyên sao chép nhạc của nhà Minh, quan văn trong triều không sáng tác được điều chi. Sự kiện nầy trái ngược với sự uyên thâm đậm đà bản sắc trân quý dân tộc Việt của mình; khiến Nguyễn Trãi rất đau buồn, bèn xin thôi việc soạn nhã nhạc. Khi:
          Chẳng những mưu kế kỳ diệu
          Cũng là chưa thấy xưa nay
          Xã tắc từ đây vững bền
          Giang sơn từ đây đổi mới

          Càn khôn bĩ rồi lại thái
          Nhật nguyệt hối rồi lại minh
          Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
          Muôn thuở nền thái bình vững chắc

          Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
          Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
          Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
          Nên công oanh liệt ngàn năm

          Bốn phương biển cả thanh bình…

          * * *


          (*) tác phẩm -Ức Trai Dư Địa Chí- Nguyễn Trãi.
          (*) Bình Ngô Đại Cáo – Thơ Nguyễn Trãi - Ngô Tất Tố dịch *



          Tình Hoài Hương
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 08:26 PM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • hieunguyen11
            Super Member
            • May 2011
            • 2230

            #140
            Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị VNCH chọn Trần Nguyên Hãn là Thánh Tổ ngành Truyền Tin.

            Comment

            • Tinh Hoai Huong
              Senior Member
              • May 2009
              • 1081

              #141
              Nguyên văn bởi hieunguyen11 View Post
              Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị VNCH chọn Trần Nguyên Hãn là Thánh Tổ ngành Truyền Tin.

              THH chân thành cám ơn anh hieunguyen11 nhiều.
              Nhờ có anh ghi RE: ở QUOTE trên, mà THH được học hỏi thêm & mở rộng kiến thức .
              Tình thân,
              HH
              Last edited by Tinh Hoai Huong; 10-28-2014, 12:42 AM.
              Bút trần nào tả được lưu luyến!
              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
              Tình Hoài Hương

              Comment

              • Tinh Hoai Huong
                Senior Member
                • May 2009
                • 1081

                #142
                Thái Nghệ Quân & “Thư Cứu Người Bị Hàm Oan”



                Thái Nghệ Quân & “Thư Cứu Người Bị Hàm Oan”
                Sau khi đi thăm em ở Pennsylvania, New York, Ohio, Canada... về,
                THH thương tặng nhân vật chính:
                Trương thị Thu Huyền (Hoa) một loạt bài viết về câu chuyện thật của em tôi.


                Nắng chói chang trên quảng đường dài dằng dặc, lặng gió, oi ả, ngột ngạt, bốc hơi nóng hừng hực phừng phừng đã phả vô mặt, nên Hoa cảm thấy mệt nhoài. Nắng rót lên thân thể Hoa mảnh khảnh như ngàn mủi kim châm càng rát bỏng, khiến lưng nàng ướt đẫm mồ hôi, chùm tóc ướt dính trên hai má Hoa thắm hồng, đôi mắt long lanh, khiến cô bé chớm dậy thì càng xinh, mà em hồn hồn nhiên vô tư lự đâu có ngờ. Từ xóm Sen quạnh hiu, nghèo nàn và đơn điệu thuộc làng Trường Sanh, Hoa uể oải xách va ly cũ do chị Lộc mua tặng, để lên đường đi Huế.

                Hoa lại đi ở đợ cho gia đình ông Đại/uý Trương Nguyên Thảo tại khu Tạo Tác trong Thành Nội, thời gian dài ở nhà nầy, ông bà Thảo là người đức độ, họ thương mến Hoa, xem Hoa như em út, cho Hoa ngồi ăn chung bàn, không phân biệt sang hèn, họ thường cho Hoa đi chơi đó đây vui vẻ cùng gia đình. Hai con trai của họ là Mỹ và Nguyện độ chừng bảy tám tuổi, mỗi khi các em học bài, Hoa cũng ngồi ngoài hè nghe các em học. Ông Thảo có vợ và năm người con, Vỹ: cậu con trai thứ, là nam sinh trường Quốc Học. Vỹ và Quân thân thiết do học cùng lớp, ở cùng xóm, hợp tính tình, vui vẻ và dí dỏm.

                Mỗi cuối tháng, sau giờ học ở trường, họ nhàn hạ đạp xe từ trường Quốc Học về qua cầu Trường Tiền, gởi xe đạp đâu đó, hai bạn tà tà thả bộ ven phố Trần Hưng Đạo, phố Phan Bội Châu mua cái nầy, cái nọ. Nếu thấy quảng cáo có phim hay, họ nháy nhau đi xem cine xong, trước khi ra về họ ghé quán ăn: khi thì nhâm nhi vị ngọt của chè đậu xanh đánh, chè hột sen, khi ăn tô phở, hoặc ghé vô quán bánh xèo. Ăn uống no nê, hai bạn ung dung chia tay nhau ai về nhà nấy. Thường khi sau những giờ học tại trường, buổi tối Quân đến nhà Vỹ, hai bạn vùi đầu vô trang sách miệt mài ôn luyện bài tập bài học. Để giải trí, Quân ưa sưu tầm những bài thơ tình hay, thơ vui, những mẫu chuyện tiếu lâm lượm lặt đó đây, như:

                Cạnh cuối chùa Chứa Chan có cây cầu.
                Có các cụ ca, cười: cao cát, công,
                Có cây cổ cọ chi chít chim chóc.
                Càng chiu chít: cú, cò, chích choè, cưỡng,

                Chiền chiện, chuồn chuồn, châu chấu, cào cào...
                Con cưỡng cái cứ căm cay con cò
                Cò chảnh: cẳng cao cao, cổ cong cong,
                Cưỡng cấm cò chảnh chẹ, càng chua cay,

                Cưỡng căm cay con cò có cái cẳng
                Cánh cùn cụt. Cưỡng càng cay cú, cắn
                cánh, cắn cổ, cắn cẳng chân cò cà!?
                Chu choa! Cò cụt cả chân cẳng cánh.

                Cánh cùn cụt cổ cao cao, cong cong
                Chỉ chờ chết! Chừ cò chẳng còn chi!
                Cò chiêm chiếp, chí chóe chu cheo chéo.
                Chít chít, chiêm chiếp, chí chóe, chì chiết! (*)


                Hoặc:

                Nhật nguyệt nơi nao NGỰA ngàn năm niên
                Ngồi nơi nầy NGỌ nồng nàn náo nhiệt
                NGỰA nghèo nhưng nết na, nỏ nanh nọc*
                Ngoi ngóp ngoen ngoẻn nắc nỏm NGỌ nòi

                Nói nào ngay NGỌ nghịch ngợm nhảy nhót…
                Nhỏ NGỰA như nũng nịu ngầm nhức nhối
                NGỌ nôn nao nõn nà nhiều nhố nhăng
                NGỰA nấc nấc nên “nao-nực* ngấm ngầm

                Năm nay NGỌ ngồi nom nồi nem nấm
                Nem NAI ninh na ná nồi… nước nhão
                Nhà nào nấu nướng? NGỰA ngửi ngạt ngào
                Năm ngoái NAI non nhún nhảy nơi nao!?

                Năm nay Nai "nằm ngủ" nơi nồi nấu…
                NGỰA ngắc ngoải nhìn NAI nhăn, nhẵn nhụi
                NGỌ nghẹn ngào ngốn ngấu nhai ngẳng nghiu
                Nhưng nỏ nhấm nháp nuốt NAI “nhân-ngôn”
                (1)
                *
                [Nanh nọc*= *không bộc lộ sự hiểm độc. / “nao-nực*= lao-lực
                “nhân-ngôn”*= hợp chất arsenic rất độc, vị đắng, màu vàng.]
                (1)

                Thật ra, với lối hành văn qua ít thể điệu cho một bài Thơ Vui dài, pha chút tiếu lâm mà vô hại, chỉ ghi ghép cùng một vần chữ duy nhất thế nầy, thì rất khó làm, đôi bạn cố moi óc ra, nghĩ cách ghi lại bài thơ hóm hỉnh cho vui cửa vui nhà, cùng cười một trận thỏa thích, cốt ý chỉ chọc cho độc giả mua vui và giải trí, cũng làm không xong. Thế nên, họ xoay qua sưu tầm chuyện tiếu lâm: Đại khái như nói về Ba nước: Ngô, Thục, Ngụy; thế nầy :
                Một hôm, Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyên: cùng chư tướng và thân bằng cố hữu họp hội nghị G3, và ăn búp-phê trên chiến thuyền to và đẹp nhất nước NGÔ. Buổi tiệc đang vui vẻ, thì trời bỗng nổi giông bão... có một tướng chạy vào bẩm báo:
                “Thưa tam vương: gió giật cấp 12, tầm nhìn xa trên 10 kilômét… tàu ta đâm vào đá ngầm và sắp chìm... để chống chọi chờ tiếp viện, thì phải vứt bớt đồ đạc cho tàu nhẹ bớt.”
                Vừa nghe xong, Tháo sai Chữ vứt sạch vàng bạc mang theo xuống biển, trước ánh mắt thèm thuồng của mọi người… Tháo bèn nói:
                “Yên tâm, nước Ngụy còn nhiều vàng bạc lắm”.
                Tháo chưa dứt lời, Quyền sai vệ sĩ vứt hết thê thiếp đẹp hơn hoa hậu của Quyền xuống biển, trong ánh mắt kinh hãi của quan khách.
                Quyền cười nói:
                “Yên tâm, nước NGÔ gái đẹp còn nhiều lắm...”
                Chưa kịp nói gì, thì Lưu Bị đã bước tới ném Tháo và Quyền xuống nước, rồi nói:
                “Yên tâm, nước Thục (Trung Quốc ta!) còn nhiều thằng bốc phét lắm!”... (2)
                *

                Có lần Hoa lén nghe họ đọc chuyện tiếu lâm: Hội Nghị G3 (Tam Quốc Chí):
                Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền họp Hội nghị G3 do vua nhà Hán chủ trì. Vua Hán cho các cung nữ cởi trần, bôi nhọ nồi vào ngực, bắt họ múa để đãi tướng. Cuối cùng, chọn ba cô đẹp nhất cho ngồi cạnh ba vị: Tào, Lưu, Tôn. Bỗng đèn đuốc tắt hết. Hồi lâu đèn nến mới sáng lên. Thì thấy tay Tôn Quyền đầy nhọ đen nhẻm. Mũi Lưu Bị cũng bị đen. Vua Hán nghĩ bụng:
                - Tôn Quyền khua khuắng cả cung nữ của ta, thế nào nó cũng lấy đất Ngô. Lưu Bị ngửi cả cung nữ của ta, thế nào nó cũng lấy Ba Thục. Chỉ có Tào Tháo là trung thành với ta mà thôi.
                Vua Hán bèn khen Tào trung nghĩa. Tào Tháo khoái quá, cười nhe răng. Thì… răng và lưỡi đen thui. (2)

                Đang đút cơm cho em ăn ở cạnh phòng học của họ, được nghe lóm chuyện vừa học vừa giải trí của hai anh chàng thư sinh, Hoa ngây thơ khờ dại chẳng thể hiểu tại sao khi đọc xong câu chuyện tiếu lâm (mà theo em Hoa bé nhỏ: thì chuyện ấy chẳng thấy vui tí nào), hai anh chàng nam sinh Quốc Học đã khoái chí hả hê cười ha ha ha… Nhưng mấy hôm sau suy nghĩ chợt hiểu ra, Hoa đã không nín được cười. Đời Hoa đi làm thuê ở mướn như thế nầy, đôi khi cũng có chút vui vui và bình an.

                Một hôm, chẳng biết từ đâu Quân hớt hãi vội vã chạy tọt vô nhà Vỹ (để trốn ông ba của chàng). Tuy có chút bất ngờ sửng sốt, Vỹ không muốn cho cha mẹ mình biết chuyện riêng của Quân, Vỹ kéo tay Quân vô núp trong kho phía sau nhà. Vỹ và Quân ngồi trong góc phòng nhỏ to tâm sự rất lâu. Thoạt tiên Hoa kinh ngạc, có chút bất tiện không dám đột ngột chường mặt ra, nên bối rối hồi hộp ngồi lì nín thinh, im re thập thò lấp ló núp trong xó góc tối, lâu lâu Hoa ngóc đầu lên len len nhìn Quân kể lại đầu đuôi sự việc, và tức tưởi khóc hụ hụ. Hoa hiểu rằng Quân đã bị ông ba của anh đánh đập nhiều, đánh oan vì ba anh nghi ngờ Quân phạm một lỗi tày trời, mà quả thật chàng không hề làm. Quân uất ức buồn phiền đã chạy xuống núp dưới nhà Vỹ, Quân dự tính sẽ bỏ nhà ra đi, vì tức giận mà chẳng biết thổ lộ cùng ai nỗi phi lý và oan ức.

                Vỹ vỗ vào vai bạn ân cần lựa lời an ủi Quân, Vỹ không ngờ nơi góc kho mờ tối nầy có Hoa đang lui cui dọn dẹp lu hủ chai lọ bên cái bồ chứa lúa. Hoa ngồi chò hỏ xuống nền gạch, lắng nghe hai người kia dáo dác lo âu rù rì mãi lâu. Hoa đã biết chuyện chẳng lành xảy ra. Mãi lâu, khi họ đi lên phòng học, Hoa nghĩ mình nên ra tay làm một việc cần phải làm, để cứu người mắc hàm oan, ngoài ra Hoa chẳng hề nghĩ gì! Hoa vội vã âm thầm kiếm tìm em của Vỹ, (có lẽ Lạc lớn hơn Hoa vài tuổi).

                Hoa kể rành mạch hết những điều đã tai nghe mắt thấy về Quân cho Lạc biết. Vì Hoa không biết chữ, nên Hoa đành khẩn khoản nhờ Lạc viết một lá thư gửi cho ba của Quân (làm ở Ty An Ninh) kể rõ đầu đuôi chuyện oan ức của con ông. Lạc hí hoáy viết lá thư xong, Lạc đọc lại cho Hoa nghe. Hoa rối rít cám ơn Lạc, và lận lá thư trong lưng quần, Hoa liền chạy tới trước cổng nhà Quân đưa lá thư cho em gái của Quân, nhờ Xoan chuyển cho cha mẹ của họ.

                Ba của Quân đọc xong lá thư, mặt tái xám sửng sờ! do ông là một vị tai to mặt lớn trong ngành an ninh, nên điều tiên quyết là ông nghi ngờ, phân vân suy nghĩ. Ông không hiểu tại sao một sự kiện đã xảy ra trong gia đình mình, thì dĩ nhiên riêng trong nhà nầy biết mà thôi, cớ sao lại có người không hề quen, lại biết rõ tường tận như thế!? Có phải trong nhà đã có “kẻ gian” đột nhập cài vô đây làm nội gián? Thế nên, ông chỉ thị hai nhân viên an ninh đến nhà ông Thảo, tìm Quân trở về nhà. Đồng thời ba Quân gọi ông bà Thảo lên văn phòng, để điều tra xem ai là người biết rõ nguyên nhân, nguyên cớ để gửi lá có tựa đề: “Thư Cứu Người Bị Hàm Oan”.

                Về phần ông bà Thảo… bị mời lên Ty thẩm vấn, nghe qua câu chuyện kia, họ xanh mặt, đã té ngữa ra rụng rời ngẩn ngơ, bàng hoàng khi biết vụ việc “từ thiện” do một cô bé quần thô áo vải nghèo hèn, nhưng bên trong bộ quần áo đơn sơ đó: đã chứa đựng tấm lòng trong sáng, bác ái, thương người, hiền lành, thật quý hiếm. Một “bé Hoa” mới nhúm tuổi non nớt, nhưng đầy bản lĩnh, can đảm, khôn ngoan, thông minh và từ nhân đức độ, đã làm việc “cứu người” rất đáng trân trọng, khiến gia đình Quân, gia đình ông bà chủ Thảo đều kính phục con bé đầy nhiệt huyết và quả cảm.

                Từ khi nổi danh là cô bé ngoan hiền đức độ, Hoa đã được mọi người trong gia đình ông bà Thảo và gia đình cha mẹ, anh, chị của Quân mến thương, nhất là Quân xem “nàng bé bỏng” như một vị cứu tinh, thì Quân lưu tâm chú ý đến Hoa, nếu không muốn nói là Quân đã có tình cảm đặc biệt với “nàng Hoa áo vải”. Quân thường xuyên đến nhà Vỹ, thỉnh thoảng sau giờ cùng Vỹ ôn học, Quân gặp Hoa lúc ở bờ giếng, khi sau vườn cây quả, bên ao sen… Hai người trò chuyện vui vẻ, Quân cảm thấy lòng dâng lên nỗi dịu ngọt lâng lâng, có mối đồng cảm xao xuyến đầy thi vị. Lòng Quân bâng khuâng xen lẫn niềm ấm áp nhớ nhung mối cảm thương tình người. Cha mẹ Quân cũng thương mến Hoa, coi em như con cháu, điều nầy khiến Quân rạng rỡ vui mừng Quân đã yêu lúc nào… chẳng nhớ.

                Mới ngày nào… khi Hoa đi “làm chuyện nghĩa hiệp” đó, thời gian trôi chảy mãi, nay hơn một năm… đôi bạn sống với nhau đầm ấm, mặn mà đầy tình thương. Quân có nhã ý nhờ mai mối cùng về quê xin đi làm đám hỏi Hoa. Thật ra, cha mẹ Quân rất thương Hoa, thương… thương như tình mến con cháu mà thôi. Chứ họ giàu có, địa vị, môn đăng hộ đối, cho dù họ băn khoăn, bâng khuâng cùng xen lẫn ít buồn phiền… nhưng không hề có ý nghĩ sẽ cưới vợ cho Quân!

                Thôi cũng đành! Suốt mấy tháng băn khoăn lo lắng trằn trọc, ray rứt không yên, lòng Hoa buồn vô hạn và cay đắng xót xa khi nhận ra mình cảm mến Quân, không dám yêu thương Quân trong tình nghĩa vợ chồng muốn gắn bó keo sơn, như Hoa tưởng. Kỳ lạ một điều là khi Quân đi học Thủ Đức, ra trường về Huế, mỗi lần Quân đến nhà ông bà Thảo, thì Hoa luôn lẫn tránh chàng. Cho đến một hôm chẳng đặng đừng, Hoa ái ngại cúi mặt không dám nhìn Quân, e dè:
                - Xin anh hãy quên đứa em tội nghiệp nầy. Đôi ta nổ lực đi tìm hạnh phúc, nhưng khốn thay, dù cố gắng mà không thể tìm thấy.

                Quân lặng lẽ ra đi về đơn vị tiền đồn ở Tây Ninh. Hơn năm sau Thái Nghệ Quân về phép thăm ba mẹ, Quân tình cờ gặp em Thủy (em của Hoa) ở bến xe tải Huế. Quân năn nỉ em Thủy ngồi nán lại nửa giờ, để Quân chạy về nhà lấy quyển nhật ký của anh, đưa cho em Thủy nhờ chuyển giúp đến Hoa. Thủy đọc nhật ký của Quân tới đâu thì khóc tới đó. Thủy khóc quá trời. Cũng tội.
                * * *

                Rồi một ngày đẹp trời, ba Hoa được về phép, ba ghé lại nhà ông bà Thảo thăm Hoa, bà Thảo bàn với ba Hoa:
                - Anh hãy cho Hoa học nghề may. Hoa đã lớn, mười lăm mười sáu tuổi rồi còn gì, anh đừng để con phải “đi ở” nữa, tội nghiệp con bé lắm.
                Ba buồn rầu nói:
                - Nghề may cần biết đọc và viết, con tôi không học được chữ nào. Thưa bà, và… tiền đâu mua máy may?

                Bà Thảo vui vẻ trả tiền lương Hoa đã ở nhà bà là một năm rưỡi, bà ân cần tặng cho Hoa thêm số tiền tương đương như thế nữa. Đích thân bà Thảo đưa hai cha con đi chợ Đông Ba mua bàn máy may. Hoa mừng rỡ cúi đầu cảm tạ ông bà Thảo, hớn hở đem máy may và tiền bạc rủng rỉnh về quê, lớp đưa cho mạ trang trải mọi thứ, lớp lấy tiền đi học nghề. Nhờ tấm lòng bác ái bao la của vị ân nhân rất đáng quý trọng kia, hạnh phúc xiết bao.

                Hoa chính thức từ giã nghiệp “tôi tớ” đáng buồn tủi đau buồn, để hăng hái lăng xã ra với đời (khi Hoa bước vào tuổi chớm mười sáu). Hoàn cảnh gia đình mình đông em nhỏ nheo nhóc, nghèo khó, Hoa là người chị đầu, dù chỉ mới có nhúm tuổi, Hoa đã ý thức trọng trách gia đình, quả cảm, đầy nghị lực, thế nên làm việc gì Hoa cũng ước mong cho mau lẹ và thành công, không thể thất bại.

                Vì nếu Hoa thất bại, là bầy em sẽ càng nheo nhóc và đói rách te tua thê thảm. Nghĩ tới cảnh đó, Hoa cảm thấy lòng mềm nhũn, đau đứt ruột, nhói trong tim. Lúc nầy, nhờ Hoa đóng góp tiền tháng với mạ kha khá, nên các em trai gái được hân hoan cắp sách đến trường ăn học tử tế. Các em có đủ mọi thứ tối thiểu cần thiết giản dị bình thường của một học sinh. Hoa càng phải cố gắng xoay xở “kiến tạo sáng tác” ra việc làm hữu ích và lương thiện! Ấy là những lúc không có hàng may, Hoa theo chị Thoa, O Dỏ ra Quảng Trị mua thuốc lá về bỏ mối lại. Hai người đó tận tâm dìu dắt Hoa bước đầu, nên sau vài ba lần đi buôn, thì Hoa cảm thấy vững vàng, có thể tự xoay xở, nên may mắn có thêm tiền để giúp mạ lo cho các em đỡ cơ cực và đói khát.
                ***[/SIZE]

                (1) Thơ Vui Tình Hoài Hương
                (2) Sưu tầm lượm lặt.

                Tình Hoài Hương**
                Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 08:53 PM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment

                • Tinh Hoai Huong
                  Senior Member
                  • May 2009
                  • 1081

                  #143
                  Võ Hải Triều... Anh Ôi!



                  Võ Hải Triều... Anh Ôi!


                  Sau khi đi thăm em ở Pennsylvania, New York, Ohio, Canada... về,
                  THH thương tặng nhân vật chính:
                  Trương thị Thu Huyền (Hoa) một loạt bài viết về câu chuyện thật của em tôi.


                  Cơn gió heo may rít lên vô tình lùa qua cửa lớn kêu kẽo kẹt, mang theo ít khí lạnh mùa thu hiu hắt và đơn điệu, càng buồn hơn khi chiếc lá vàng nghiêng mình chao cánh, cài lên mái tóc thề buông lơi xỏa trên tấm thân Hoa thon thon và mảnh khảnh. Bất chợt Hoa cảm thấy ớn lạnh và khẽ rùng mình. Hoa đưa tay kéo hai nẹp áo bung một hột nút để cài kín bờ ngực nhỏ. Hoa đứng dậy ra cửa lớn. Hoa định đóng cánh cửa kính của tiệm, nơi Hoa đang học may.

                  Nàng bỗng nghe: “Gió bay từ muôn phía tới đây ngập hồn anh, rồi tình lên chơi vơi. Thuyền anh một lá ra khơi, về em phong kín như mây trời, đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai. Mộng nữa cũng là không… Ta quen nhau mùa thu, ta thương nhau mùa đông, ta yêu nhau mùa xuân, để rồi tàn theo mùa xuân. Người về lặng lẽ sao đành” …!
                  - Ồ… Hoan hô anh Hải Triều hát hay quá.
                  - Anh hát cho tụi em nghe nữa đi.
                  - Anh hát đi.
                  - Anh mắc cỡ sao?

                  - Ừa… Để anh hát cho các em nghe nha, có gì mà mắc cỡ ha... “Chiều nao áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người. Đường về miền Bắc bao cách xa. Nhìn về đường lối bao khó khăn: Đây núi cao, đây suối sâu, đây lá hoa reo như ngàn xưa. Đường về ngập gió tha phương, tiếc đời gấm hoa ta đành quên màu sắc núi rừng. Qua bao rừng núi anh về đây, nhớ nhau từng phút yêu từng giây"… Ah! Anh ca từng đó đủ rồi. Bây giờ đến lượt các em ca hát cho anh nghe, mới công bằng và đúng điệu chứ. Ha!

                  Úi ui! Hoa ngạc nhiên, ngẩn ngơ, chúm đôi môi hồng khe khẽ xuýt xoa, chen lẫn chút mến phục, nàng liền thò đầu ra khỏi cửa lớn, dáo dác tò mò nhìn quanh khu xóm nhỏ, dường như Hoa muốn kiếm tìm chàng thanh niên ấy là ai, mà anh ta ưa thích ca nhạc tiền chiến, và có giọng ca trầm ấm, trữ tình, ngọt ngào cuốn hút làm sao, y như giọng ca Sĩ Phú trong ca khúc “Tà Áo Xanh”, và “Đường Về Miền Bắc” ; nhạc và lời của Đoàn Chuẩn Từ Linh vậy hổng biết!

                  A ha! Ở mé góc đường cái quan trong làng Phú Nông, nơi ngôi nhà lai ba gian khang trang rộng rãi và hai chái ghép ở hai đầu hồi, mái lợp ngói gạch nâu nung, tường quét vôi vàng, trong khu vườn cây ăn quả (đối diện với tiệm may) có một thanh niên trẻ tuổi đã nhìn bầy nhóc và tủm tỉm cười, anh cùng bốn năm em nhỏ đang đứng bên chiếc bàn trên góc sân, nơi có tàng lá vú sữa rợp bóng. Họ vui vẻ chuyện trò vừa ca hát vừa lúi húi vót nan tre, dán giấy bóng màu, giấy bóng kiếng: để làm lồng đèn kéo quân, đèn ngôi sao năm cánh kép. Người ấy mặc quần tây đen, áo màu xám, vóc dáng cao gầy, mái tóc cắt ngắn lộ ra khuôn mặt chữ điền, mũi cao, miệng rộng, mắt hai mí to và đẹp, cằm đôi. À, thì ra…
                  Hoa nghe chị Tâm (chủ tiệm may) thường nói:
                  - Bà Tố có cậu con trai cả đã đi “lính… tàu bay” trong Sài Gòn. Cậu ấy thiệt dễ thương, vui tính, chưa vợ con gì!

                  Nhìn anh “lính tàu bay” vui vẻ ca hát và dán lồng đèn cùng em cháu trong xóm, anh ta vô tình không biết Hoa đang nhìn trộm. Tự nhiên Hoa có thiện cảm với người lạ, nàng hồn nhiên nở nụ cười vu vơ và nhẹ nhàng đóng hai cánh cửa kính. Hoa trở lại ngồi vô bàn máy cắm cúi làm việc. Hoa đang theo chị Tâm học nghề may, Hoa học thì ít mà “ma lanh” ăn cắp nghề học lóm thì nhiều. Như chị Thùy Mến đã nhận xét về mình: “Hoa khôn ngoan, dịu hiền, khá thông minh, em học một mà biết mười, giỏi lắm”.

                  Hôm sau, khi chị Tâm đã xách giỏ đi chợ vắng, ở dưới bếp Hoa đang quạt lò, gắp than hồng để bỏ vô trong bàn ủi mà làm việc. Nghe tiếng chó sũa, Hoa bỗng nhớ đến chuyện mình về ở làng Trường Sanh, một hôm Hoa đang đi trên đường, bỗng bị con chó nhà ai ở đâu trong bụi sim xồ ra cắn, đau kinh khủng. Hoa hét to lật đật chạy về nhà, máu chảy ròng ròng mà không hề có thuốc men chữa trị. May sao Hoa không bị điên dại như người ta thường nói. Ngày ngày mạ chỉ biết rửa nước nóng pha chút muối, xong rồi lấy lá ngãi cứu đắp vô vết cắn. Cả hai chân của Hoa bắt đầu sưng tấy lên to ú nù, làm độc, nhứt nhối vô cùng. Ruồi ngưởi thấy mùi máu tanh, đã bu đến, Hoa rên siết bần thần đau đớn và mỏi tay xua đuổi ruồi vẫn không xuể.

                  Rồi một ngày kia Hoa không thể ngồi đó mà đuổi ruồi hoài, càng không thể bước đi đâu, hai chân Hoa bị dòi lúc nhúc ăn sâu vào gần tủy. Cái nước đau đớn tột cùng nầy có lẽ chết mất. Thật kinh khủng! Mạ lật đật tất tả đi khắp xóm vay mượn ít tiền, mạ thuê người cõng con chạy vô bệnh viện cấp cứu. Chờ đợi không lâu, bác sĩ khám rất kỹ những vết thương sưng tím và hôi hám nhầy nhụa, ông đã buồn phiền lắc đầu ngao ngán, ông họp ban giám đốc và cuối cùng họ bảo muốn cứu sống con bé, chỉ có nước cưa cả hai chân. Thật là: Phúc bất trùng lai. Họa vô đơn chí. Đời mình chi mà đau khổ lạ lùng rủi nhiều hơn may! Làm con gái bị cụt hai chân sao!? Chẳng thà chết quách đi cho rãnh nợ, hơn là sống lê lết trên đời. Nhưng mệ ngọai cương quyết không cho họ cưa chân. Mệ nói:
                  - Vì cháu là con gái, mệ không thể thấy cháu sống tàn tật. Tội quá!

                  Mệ mang Hoa về nhà nuôi, mỗi ngày mệ ra đồng bắt con đĩa về, để Hoa ngồi trên ghế, ở ngoài sân, mệ cho đĩa đeo vô vết thương mà hút máu độc. Ui chao ơi! Hoa sợ mất hồn mất vía. Hết con đĩa nầy đến con đĩa khác hút máu mũ nhầy nhụa, Nếu nó hút máu mũ chưa đủ, Hoa nắm con đĩa để giựt rứt nó ra, nó vẫn (đeo dai như đĩa) bu bám cứng ngắt, nó không phải là con đĩa mà… hình như nó đã biến thành xương thịt của mình!

                  Hoa không thể rứt nó ra khỏi người mình, vì khi cầm con đĩa giựt ra, thì chân Hoa đau đến tột cùng! bị đau thấy mấy ông trời. Nó hút máu no nê, thân thể mập ú thù lù vì no, thì nó mở miệng tự động lăn kềnh ra đất thành một cục to to đen thùi lùi nằm ngay đơ y như chết. Thế là chân Hoa lành. Hoa tạ ơn mệ ngoại! thời đó mà mệ thật kiên nhẫn chịu khó vì cháu, mệ văn minh, thông minh… mệ đã nghĩ ra được cái kế như vậy nhỉ? Chớ không có mệ ngoại thì “đã tàn đời Hoa” !

                  Bỗng nghe có tiếng gõ cửa ở nhà trên, Hoa vội chạy lên mở cửa ra. Hoa sửng sốt:
                  - Ô Chào anh Hải… Triều!
                  - Ơ hơ! làm sao em… em… biết tên anh vậy?
                  Hoa toét miệng cười:
                  - Dạ… em biết mà.
                  - Anh mới ở Sài Gòn về đây, anh chưa đi đâu thăm ai trong xóm. Vậy cho anh hỏi: em cũng là người lạ tại nơi nầy. Phải không?

                  Hoa tủm tỉm gật gật đầu mời Triều vào nhà, nàng né qua một bên, nhường lối cho Triều bước vô tiệm may. Triều ngồi xuống cái ghế dựa cạnh chiếc bàn to đang bày nhiều vải vóc, thước dây, kéo và quyển sổ dày:
                  - Tại sao em biết tên anh. Hở?
                  - Hi hi… chuyện nầy có chút bí mật. Em không bật mí cho anh Triều biết đâu. Nhưng anh tới đây hỏi ai rứa?
                  - Anh hỏi em chớ hỏi ai.
                  - Không phải.
                  - Úi Trời! Tức thì thôi.
                  - Nếu anh muốn hết tức, thì anh trả lời câu em vừa hỏi. Rồi em sẽ nói cho anh Triều nghe: tại sao em biết tên anh nha.
                  - Anh chịu thua em, thì… anh hỏi chị Tâm thợ may.
                  - Dạ, chị chủ tiệm vừa đi vắng ạ. Lát nữa anh trở lại nghen.
                  - Vậy sao!
                  - Dạ.
                  - Em không muốn tiếp anh à?
                  - Em không dám.

                  Triều ngạc nhiên nhìn Hoa chằm chằm, nàng liếc nhìn Triều, bốn mắt chạm nhau, Triều hóm hỉnh đá lông nheo mấy cái kịch kịch, khiến nàng mắc cỡ, liền e dè cúi mặt xuống nói lãng:
                  - Vậy thì mời anh ngồi đây đợi chị chủ về nghen. Em đang bận xí.
                  - Em không sợ anh khiêng hết đồ đạc… đem đi bán à?
                  - Em nghĩ anh không làm chuyện nớ mô.
                  - Em cứ vắng mặt nơi đây, thử coi anh có dám hay không nà.
                  - Em sợ anh rồi.
                  - Mà em nè… cho anh biết: em tên gì?
                  - Dạ, anh biết tên rồi còn hỏi.
                  - Em… ui! Em nói đi.
                  - Em tên “Em”.
                  - À… cô bé nầy khôn ghê nơi. Vậy anh đoán nghen, nếu sai, thì anh không rinh hết vải vóc, bàn ghế, máy may đi về nhà anh. Mà nếu anh đoán trúng, thì em phải chịu điều kiện anh đưa ra, nghe: Lan. Mai. Hồng. Cúc.
                  - Sai anh ơi.
                  - Vậy thì: Trúc xinh trúc mọc đầu đình
                  Em xinh em đứng một mình cũng xinh
                  Thân tui thui thủi một mình
                  Đêm đêm lạnh lẽo buồn tình lang thang
                  Nếu ai nghĩ chuyện đá vàng
                  Tôi xin được dạo cung đàn tình chung


                  Hoa lắc đầu cười tươi. Triều hơi nhíu mày:
                  - Cổ tay em trắng như ngà
                  Con mắt em liếc như là dao cau
                  Miệng cười như thể hoa ngâu
                  Cái khăn đội đầu như thể hoa sen



                  Triều vui vẻ cười ha ha ha, và giơ ngón tay xỉ xỉ về phía Hoa, ngâm tiếp:

                  Trèo lên cây bưởi hái hoa
                  Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân
                  Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
                  Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay
                  Ba đồng một mớ trầu cay
                  Sao anh không hỏi những ngày còn không
                  Bây giờ em đã có chồng
                  Như chim vào lồng, như cá cắn câu
                  Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
                  Chim vào lồng biết thuở nào ra.
                  (*) Có phải em tên Xuân, Ngâu, Sen... không?

                  Thốt nhiên Hoa giật mình, le lưỡi xuýt xoa, trợn mắt, co rúm người lại, vì trong mấy bài thơ có chữ “hoa”. Hoa chỉ sợ Triều đoán ra tên mình, thì phiền. Triều ngẩn ngơ bần thần nhìn Hoa giây lát, lòng anh đột nhiên… Phải! phải, đột nhiên anh cảm thấy lâng lâng tràn ngập niềm vui khó tả, xao xuyến dịu dàng ấm áp trong sự hồn nhiên ngây thơ đầy thi vị của “nàng”. Phần Hoa thật lúng túng bẽn lẽn hồi hộp làm sao! Kịp lúc đó, từ đằng xa vừa bước xuống xe xích lô, chị chủ tiệm may đã ơi ới gọi tên Hoa…
                  - Hoa ơi! phụ chị ra sân bưng đồ vô nhà. Em.

                  Hoa vụt đứng dậy bước ra sân chào Tâm, lanh lẹ xách giỏ thức ăn rảo bước vô sau bếp, lúc Triều cũng trờ tới giơ tay xách quầy chuối nặng trĩu. Chị Tâm thấy Triều, vội đon đả chào:
                  - Chào cậu. Cậu mới về thăm cha mạ hả.
                  - Dạ, em về khuya hôm kia chị à.
                  - Cậu về phép được bao lâu?
                  - Mười bốn ngày, mà em mất hai ngày đi đường rồi. Tiếc ha chị.

                  Triều nói xong, nhìn chị chủ tiệm cười cười, hất hàm ra dấu về phía Hoa như ngầm ngụ ý: mất hai ngày thì “chàng tiếc vì nàng”. Chị chủ là tay từng trải chuyện yêu đương bồ bịch, có lý nào lại không biết! Chị Tâm toét miệng cười, nói nho nhỏ với Triều khi Hoa đã xách giỏ khuất xuống bếp:
                  - Em thích không!?
                  - Thích gì… chị ha!?
                  - Gớm! Còn làm bộ làm tịch.
                  - Chị đi guốc trong tim em rồi còn gì! Chắc là em phải xin nghỉ phép thường niên dài dài, ở lì nơi đây quá, chị à.
                  - Thì ai cấm em. Cô ấy còn rất trẻ, hiền lành, nết na, cần cù, giỏi, xinh xắn mà đoan trang. Bỏ qua cơ hội ngàn vàng, rất uổng.
                  - Vâng… Em qua đây để nhờ chị lựa vải, may cho cha mạ, mấy đứa em… mỗi người ít là ba bốn bộ đồ vía. Cũng sắp đến Tết rồi còn gì. Em thúc giục hoài, mà mạ không chịu đi mua sắm gì. Mạ em nói “già rồi không muốn may áo mới”. Chị coi, bộ già rồi, thì không thích mặc áo mới sao!?
                  - Ừ. Các cụ tiếc của, vã lại áo quần các cụ thì mặc làm sao cho xuể.
                  - Em xách quầy chuối xuống bếp, nhân tiện chào Hoa. Nhờ chị mà em biết tên cô ấy. Chớ Hoa không chịu nói tên.
                  - Phải.
                  Triều dựng quầy chuối cạnh tủ đứng, Hoa quay lui thấy Triều, liền nói:
                  - Em cám ơn anh giúp em mang quầy chuối, cho em đỡ bị vác nặng…
                  - Vậy… em còn mắc nợ anh đó nghe.
                  - Nợ anh!?
                  - Chẳng phải anh đã biết tên em là Hoa rồi sao!
                  - Anh ăn gian thấy mồ.
                  - Ha ha… bây giờ anh phải đi với chị Tâm ra chợ lựa vải cho cha mẹ và mấy đứa em. Hẹn gặp em sau nghe.
                  - Dạ, dạ…
                  ***

                  Ngay xế trưa hôm ấy, chị Tâm muốn cố ý cho “hai anh chị nhỏ” có dịp thân tình làm quen, nên chị biểu Hoa mang quyển sổ may, viết Bis, thước dây, cùng chị đi qua nhà Triều, đo kích thước của họ để may áo quần cho gia đình anh. Đến phòng khách thoáng mát, rộng rãi, tranh sơn mài trang nhã và lịch sự treo trên tường không rườm rà, gian giữa là tủ đứng đồ sộ và bàn thờ ông bà tổ tiên. Hoa thấy ông Tố đang nằm trên võng đọc tờ báo. Bà Tố ngồi ngoáy trầu trên bộ ván gõ cẩm lai, mấy em cùng Triều xúm xít bên nhau đánh cờ tướng ở bộ bàn gỗ sao hình chữ nhật bóng láng có mười ghế dựa bọc da.

                  Chị Tâm đon đả chào hỏi ông bà. Khi Hoa mở miệng lí nhí chào ông bà Tố, thì nhận ra Hải Triều đã đến bên cha, anh dìu ông rời khỏi võng, để chị Tâm đo kích thước cho ông. Hoa lúi húi ghi chép từng người xong, hai ông bà ngồi trên sofa đối diện với Hoa, họ tủm tỉm cười, thì thầm to nhỏ những gì Hoa không nghe rõ, nhưng ông bà vẫn chằm chằm nhìn Hoa ghi chép. Sau khi đo cho các em ấy xong, chị Tâm và Hoa chào gia đình ông bà Tố ra về, thì Hải Triều cười:
                  - Ớ… còn phần em nữa chớ. Chị Tâm.
                  - Vậy sao?
                  - Ở bên tiệm may của chị có mặt hàng vải kia, em thích may một áo sơ mi giống loại đó.
                  - Vải đó là của khách hàng đem tới may. Không phải của chị bán.
                  - Thì em… muốn may một áo sơ mi giống như vậy, để kỷ niệm mà. Em nhờ chị…

                  Thế là ba người kéo nhau trở về tiệm may. Chị Tâm bắt Hoa thực tập và thực hành “ca may” bằng cách tự Hoa đo đạc, cắt, may tấm áo đầu tiên, mà hoàn toàn độc lập, tự tin, không có sự trợ giúp của chị. Ban đầu Hoa cảm thấy e ngại, rụt rè, lúng túng… càng ngượng ngùng nhất là khi Hoa đo ở vòng ngực, vòng cổ Hải Triều, thì Hoa phải đứng đối diện với Triều, lấy cái thước dây choàng từ ngực Triều qua lưng anh ta, rồi vòng trở lại phía trước, coi như bụng, ngực Hoa và Triều phải “ôm sát” vào nhau, (thì mình ôm trọn anh ta rồi còn gì)!

                  Kinh khủng hơn lúc Hoa đo ở vòng cổ… eo ơi! Thiệt “hãi hùng” khi Triều quá cao, anh mỉm cười cúi xuống, Hoa thấp bé lại phải nhón gót ngửng đầu lên mắt chạm mắt… xao xuyến, rung động, ngẩn ngơ nhìn muốn nổ con ngươi! ngực nầy bám riết vào ngực kia, hơi thở dập dồn, ấm áp và bờ môi run run vụng về nở nụ cười coi ngây ngô vụng dại! Thiệt tình mắc cỡ hết biết! Nghề thợ may có lắm chiêu bất hủ, độc đáo và tình dễ sợ ha! Kể từ lúc đó, lúc đó đó… họ đã phải lòng nhau đậm sâu khi nào, chẳng rõ. Suốt tám chín ngày Hải Triều quanh quẩn bên Hoa nhìn nàng đi lại, nhìn Hoa nói, nhìn Hoa cười. Triều nhận thấy Hoa run rẩy ngại ngùng bẽn lẽn may một cái áo cho mình mãi vẫn không xong:
                  - Anh về nhà nghỉ đi. Có anh ngồi ở đây, em không may vá gì được.
                  - Tại sao?
                  - Anh nhìn em chằm chằm, khiến em ốt dột, run rẩy cả tay chân nà.
                  - Thì anh đã nói thiệt:
                  Anh nói em hủy hủy hoài hoài
                  Biểu em đừng kết ngãi với ai
                  Xin em kết ngãi lâu dài với anh.
                  (*)

                  Hoa cảm thấy lòng ngất ngây hạnh phúc mừng vui bất chợt ùa về, nàng nhớ đến những câu ca dao... mình cần nhắn nhủ với Triều:
                  Anh có thương em thì thương cho trót
                  Có trục trặc thì trục trặc cho luôn
                  Đừng làm theo thói ghe buôn
                  Nay về mai ở cho buồn dạ em
                  Anh ơi làm sao phải phải phân phân
                  Thì em mới dám trao thân gởi mình


                  - Hoa à: Anh lấy em đồng cheo đồng cưới
                  Đủ mặt họ hàng xóm dưới làng trên.
                  Vì em là “mối tình sấm sét” của anh nờ.
                  - Cái gì là sấm sét?
                  - Tạo nên sấm sét là do nhiệt độ trong không khí xung quanh tia chớp bị mặt trời hâm nóng đột ngột, khiến không khí nở ra mau hơn tốc độ của âm thanh, không khí xung quanh bị nén lại, tạo nên shock wave, ta nghe như tiếng sấm. Anh thấy em… thì từ giờ phút đó cũng hâm nóng điên lên như vậy thôi.

                  Hoa chỉ tưởng một thanh niên trẻ trung, hào hoa đẹp người và đức độ ấy chỉ nói câu bông đùa chốc lát, cho vui cửa vui nhà. Mai kia mốt nọ khi anh hết những ngày nghỉ phép, Triều sẽ bay đi biền biệt như cánh chim trời phiêu lãng, anh chẳng buồn quay lại chốn cũ đồi xưa, nơi miền quê nghèo khó và anh nhớ chi cô học làm thợ may nghèo nàn nép mình bên lũy tre xanh!

                  Nào ngờ… Hải Triều đã thưa cùng cha mẹ, họ hàng thân hữu, anh quyết đưa gia đình về xóm Sen cách xa nhà anh chừng ba cây số, khẩn khoản cầu hôn Hoa. Trước bàn thờ tổ tiên ông bà nội ngoại hai bên, có sự chứng kiến đông đủ mọi người… cha mạ Hoa đã rưng rưng ứa nước mắt nhận sính lễ từ chàng trai phong trần. Đó là một ngày tuy trời không lạnh lắm, nhưng Triều cảm thấy ấm lòng, hạnh phúc hân hoan cùng niềm tin yêu trỗi dậy dâng cao trên mỗi bước chân. Bây giờ thì anh không phàn nàn gì chuyện thay đổi đơn vị, trái lại Triều cảm thấy sung sướng được biệt phái đi về ở Quảng Ngãi, vì nơi nầy anh sẽ gần vị hiền thê một đoạn đường khá dài.

                  Kể từ lúc Hoa mới hơn mười lăm tuổi non nớt, Triều ngoài hai mươi tuổi, hai cô cậu ríu rít quen biết mến thương và yêu nhau, hí hửng hạnh phúc nhận món quà -tình sét đánh- làm sính lễ đầu tiên, -vị chi vỏn vẹn chỉ có mười ngày. Trước khi Hoa bịn rịn khóc lóc nức nở nói lời chia tay, để Hải Triều lặng buồn ra đi, Triều âu yếm hôn vị hôn thê trẻ, anh cho Hoa biết địa chỉ KBC rõ ràng, hướng dẫn cho Hoa biết nơi anh sẽ trú đóng một thời gian dài trong quân ngũ.

                  Triều hy vọng một ngày đẹp trời nào đó Hoa sẽ lặn lội lên tận miền gió núi mây ngàn quanh năm quạnh hiu, Triều không có gì vui bằng nhận thư người yêu, nhớ thương người anh sẽ âu yếm gọi em là vợ mãi mãi! Hoa sẽ thăm người lính chiến ở chốn giang đầu. Hai người sẽ nồng nhiệt trao nhau trọn trái chín ân tình bấy lâu hằng ấp ủ. Thời gian xa cách dài lâu, thỉnh thoảng hai người vẫn liên lạc thư từ trao đổi. Tuy không thường xuyên, nhưng biết tin nhau, là Triều vui mừng như bắt được viên ngọc quý.

                  Khoảng chín mười tháng sau, gia đình mạ và các em Hoa thu dọn nhà cửa tươm tất, giao các thứ lại cho mệ ngoại nhờ trông coi, mạ, Hoa, các em cùng lên đường vô Tam Kỳ sống với cha... Yên ổn gia đình cha mạ con cái đoàn tụ đâu vào đó xong, một hôm Hoa nhận được thư Hải Triều, ấy là lúc Hoa giật thót mình, chua xót nhận ra rằng: Hoa bồng bột, nông nỗi vô cùng, Hoa trẻ người non dạ ăn chưa no lo chưa tới, Hoa chỉ thương vớ thương vẩn, vu vơ… chứ Hoa không hề nhớ nhung thương yêu Triều thật tình, Hoa càng không thể lấy chồng bây giờ! (như Hải Triều hẹn vài tháng tới anh sẽ về phép, xin cưới Hoa, mang vợ đi cùng anh qua khắp nẽo đường quê hương, nơi nào có gót giày đinh dẫm lên, là chốn ấy sẽ có bước chân ngà ngọc của vợ sánh cùng chồng)! Ui chao ôi! Lúc đó, trong lòng Hoa dậy sóng, lo lắng, bồn chồn, sợ hãi… Hoa không biết làm sao, có cách nào êm đẹp để hồi hôn.
                  Khi xưa nhận sính lễ, trước mặt quan viên hai họ, năm ấy mạ đã hỏi Hoa:
                  - “Con suy nghĩ kỹ càng chưa”! Nếu đã ưng rồi, không được thay đổi. Nghe không!?

                  Chính lúc ấy Hoa lia lịa gật đầu không do dự, Hoa còn thộn mặt nhíu mày, bặm môi, tỏ ra có chút bất bình, vì mạ hỏi chi ngớ ngẩn trong ngày vui. Bây giờ, nếu mạ biết chuyện từ hôn nầy, tính mạ đàng hoàng, không muốn mất mặt mất mũi với họ hàng, xuôi gia, (chữ “xuôi gia” có nghĩa là "xuôi chèo nhà mát mái", chớ không có chuyện “xui xẻo" từ hôn từ hiếc tréo cẳng ngỗng)! Lời hứa như đinh đóng cột: một là một hai là hai, không nói lui nói tới… thì mạ sẽ đánh Hoa nhừ tử; vì tội bất tín, bất trung, bất nghĩa, bất nhân, phản bội. Suốt nửa tháng bất thần sửng sờ như người mất hồn, tâm trí bay lên đọt cây, lo lắng, bồn chồn, sợ hãi, Hoa suy nghĩ nát óc, bị dằn vặt, dày vò kinh khủng giữa trao nhận và từ chối! Phải chọn… thiệt chết mất thôi. Một buổi sáng không thể nào im, Hoa khèo em Chiến ra ngoài bờ đê, thổ lộ hết tâm sự, Hoa nói trong hai hàng nước mắt lăn tròn trên má:
                  - Em ơi! Chắc là chị phải nhờ em nói giúp với cha mạ.
                  - Em làm răn dám quyết định chuyện to tát nớ. Hay chị đi gặp anh Hải Triều, nói hết với anh ấy. May ra…
                  - Phải… phải! Em có ý kiến rất hay.
                  Chị em Hoa lật đật trở về nhà, Hoa lấy hết can đảm xin mạ cho phép đi thăm Hải Triều. Mạ nhìn Hoa, chỉ nói:
                  - Nếu con biết chỗ hắn ở chắc chắn, thì liệu đi mau về sớm.

                  Hoa không ngờ mạ lại dễ dàng đồng ý, chẳng vặn vẹo hỏi nguyên do làm sao Hoa cần đi gặp Triều để làm gì! Có lẽ mạ đã từng lặng lẽ sống xa cha, mạ thông cảm thế nào là sự âm thầm nhớ thương chồng lúc xa vắng. Thật vui mừng thoát nạn. Hoa liền túm một bộ áo quần, chạy ra chợ mua ít quà vặt cần thiết để tặng Triều, dẫu sao không có tình cũng có nghĩa. Từ bến xe lam ở Tam Kỳ Hoa đón hãng xe Phi Long chạy từ Đà Nẵng đi Qui Nhơn, Nha Trang… xe chạy đường trường chẳng hạn, dĩ nhiên xe đò ấy chạy càng nhanh và thuận tiện, nếu Hoa đi xe đò chỉ tới bến Quảng Ngãi, e rằng phải chờ rước khách xe thụt lui thụt tới lâu lắc, phiền phức.

                  Hoa nôn nao nóng ruột như ngồi trên đống lửa, không có thì giờ. Hoa tụt xuống xe tìm lối vào Mộ Đức đúng hai giờ chiều, chẳng hiểu sao lúc đó Hoa cảm thấy rã rời, hai chân nặng như đeo tảng đá, không thể cất bước, bụng dạ không có hột cơm miếng nước nào, nhưng cứ như ứ hơi no nê, lòng trí Hoa nặng trĩu, bồn chồn, lo lắng, đầy ắp âu sầu.

                  Hai hàng nước mắt tự động lăn dài trên má, khi Hoa ngỡ ngàng nhìn Triều mừng rỡ hân hoan ôm eo Hoa bước vô văn phòng trại. Không thể nào diễn tả được nỗi vui mừng rạng rỡ hiện ra trên nét mặt phong sương rắn rõi kiên cường của anh. So với lúc trước Triều mặc âu phục, trông anh bình thường như một thư sinh bạch diện. Nay Hoa nhìn Triều mặc bộ quân phục, tuy anh sạm đen, gầy ốm, cao, nhưng anh có dáng oai hùng đỉnh đạt phong trần! Có một lúc Hoa mềm lòng nhũn chí không thể thốt nên lời ngăn cản, khi Triều vui vẻ nói:
                  - Em chịu khó ngồi đợi đây chút nhe. Anh lấy phép xuất trại, mình đi Quảng Ngãi, nơi đó đầy đủ tiện nghi ăn nghỉ. Ôi là mừng biết mấy.

                  Nói xong, Triều vui vẻ huýt gió nhanh nhẹn bước ra khỏi văn phòng. Hoa ngồi điếng lặng khoảng hơn nửa giờ, sững sờ suy nghĩ: “mình đến đây mục đích chính là gì?! Phải cương quyết lựa lời bày tỏ dứt khoát nói với anh, cho dù khó khăn, bẽ bàng”! Khi Triều đã có giấy phép xuất trại ngày thứ Bảy cuối tuần, Triều mặc bộ thường phục chiếc áo sơ mi màu xanh có sọc đen nhỏ li ti, mà Hoa đã tập may cho anh ngày ấy, quần tây màu đen, mang giày da, Triều ung dung bỏ ít đồ dùng cá nhân vô ba lô, khoát tay Hoa rời khỏi doanh trại. Không để Hoa kịp nói gì, Triều kéo tay Hoa tót lên một xe jeep của bạn. Đến thành phố Quảng Ngãi, Triều vẫy tay chào bạn, âu yếm ôm vai Hoa cùng bước vô tiệm ăn. Triều nhìn Hoa:
                  - Em dạo nầy… rất lạ nghe. Tự dưng ít nói ghê ta.
                  Hoa liếc nhìn anh, nụ cười méo xệch, nghẹn ngào ấp úng:
                  - Anh thấy vậy sao!?
                  - Phải. Sắp làm vợ anh, còn lạ nỗi gì!
                  - Rồi em sẽ còn xấu hổ gấp ngàn lần.
                  - Là con gái ngoan hiền, ai mà chẳng vậy.

                  Triều vui vẻ gọi các món Hoa đã thích ăn, (khi ở quê nhà có lần họ đã cùng nhau đi ăn, lúc sắp làm đám hỏi). Muốn để cho Triều thoải mái ăn uống, vui vẻ được phút nào hay phút đó, hay là… Hoa không đủ can đảm thốt lên những câu mà Hoa biết sẽ quá tàn nhẫn, ác độc, khiến giấc mộng xây dựng lâu đài tình ái của anh đang huy hoàng phải sụp đỗ trong chớp mắt!? Quả thật, ít ra lúc nầy Hoa không nỡ! Triều nhìn dĩa thức ăn của Hoa:
                  - Em mệt sao, hoặc là thức ăn không vừa ý em nào!
                  - Dạ, dạ… do em mệt mỏi thôi.
                  - Bậy bạ quá, anh thật vô tình không nhớ là em vừa đi đoạn đường xa. Xin lỗi em.
                  - Không có chi anh.
                  - Mình vô phòng trọ trên lầu, em đi tắm, sẽ cảm thấy khỏe ngay thôi.
                  - Đừng anh ạ. Không cần tốn kém vậy đâu anh. Mình ngồi đây nói chuyện riêng xí, cũng được mà.

                  Triều nhất định không chịu, vì ở đây có khách ra vô ăn uống ồn ào, đông nghẹt, làm sao có thể nói chuyện riêng tư! Anh dìu Hoa đứng dậy bước lên lầu, Hoa riu ríu đi theo, tâm trí trống rỗng. Khi Hoa thay bộ đồ ngủ từ phòng tắm bước ra ngoài, thì đúng thật là Hoa cảm thấy có phần dễ chịu, bình tĩnh và bớt căng thẳng. Hai người ngồi đối diện bên chiếc bàn vuông nhỏ kê cạnh cửa sổ. Hoa nhìn Triều đang âu yếm mỉm cười. Hoa vội vàng cụp mắt nhìn xuống hai bàn tay lạnh cóng buông trên đùi, Hoa buột miệng nói một hơi dài:
                  - Anh Hải Triều ôi! Xin anh bình tĩnh ngồi yên lặng, anh đừng ngắt lời, anh nghe em nói. Em van xin anh. Em nói liền kẽo không còn cơ hội. Dạ, ý em là là… dạ, em xin được từ hôn với anh. Em không thể lấy anh. Em không hề yêu anh. Đó chỉ là một phút bồng bột của tuổi trẻ. Xin anh tha thứ lỗi lầm nầy.

                  Ban đầu Triều ngỡ Hoa nói đùa, nhưng nhìn kỹ lại, anh thấy mặt Hoa nhợt nhạt, lúng túng, chẳng có ý đùa cợt, trái lại rất thật tình. Hoa vẫn cúi gầm mặt xuống nhìn mấy giọt nước đá vo viên ngoài ly thủy tinh, giống như những giọt nước mắt long lanh chực trào ra từ khóe mắt nàng.

                  Tái xanh mặt, Triều bàng hoàng ngẩn ngơ, không thể tin ở mắt thấy tai mình nghe, anh xô ghế đứng bật dậy, một tay vịn song cửa sổ, một tay Triều chống ngang hông, mọi thứ trước mắt anh hầu như mờ nhòa và sụm xuống. Triều nghẹn cứng cổ họng, miệng mồm đắng chát, khô lông lốc không thể thốt nên lời. Họ im lặng như thế rất lâu. Lâu lắm, Triều nói nhỏ :
                  - Nếu muốn từ hôn, cần gì đến đây cho bẽ bàng. Em viết ít chữ gửi anh, cũng được mà.
                  - Dạ… dạ, nhưng nếu em nói với mạ chuyện từ hôn: là do em, thì mạ rất giận, mạ sẽ giết em chết thiệt.
                  - Hừ… Vậy em muốn gì ở anh nào!?
                  - Xin anh cứu em… ngày mai anh cùng về với em, anh trực tiếp nói với mạ: "Anh từ hôn là do anh đã lỡ lấy người con gái khác, làm cô ta có bầu".
                  - Úi Trời đất ơi!

                  Triều kinh ngạc trợn mắt bàng hoàng đăm đăm nhìn Hoa. Cuối cùng Triều uể oải buông mình ngồi phịch xuống ghế:
                  - Em có biết không, anh yêu em nhiều lắm… Làm sao bây giờ!
                  - Dạ… thưa anh, em rất xấu hổ, nhục nhã, và hèn hạ, em không xứng đáng.

                  Bỗng nhiên Triều bước tới bên Hoa, anh quỳ xuống sàn nhà, úp mặt anh vô hai bàn tay mình mà buông thỏng trên đùi Hoa. Triều đã khóc nức nở. Hoa ôm chầm lấy đầu Triều, òa khóc to như đứa trẻ vừa bị đánh cắp món đồ quý giá. Cũng lâu rất lâu, không biết đêm khuya và gió lạnh đã tràn vô phòng lúc nào, lạnh như những giọt nước mắt thấm ướt da đầu anh. Triều thở dài từ từ gỡ hai bàn tay Hoa ra, anh đứng dậy nhìn Hoa:
                  - Bây giờ trời đã khuya, mình về Tam Kỳ không kịp rồi. Đành phải nghỉ lại đây. Em nằm nghỉ trên giường nầy. Anh sẽ nằm ở sofa kia. Chúc em ngủ ngon.

                  Triều thản nhiên đi tắt hết đèn đóm, và quay ra sofa nằm gác tay lên trán, Hoa trông anh bình thản đến độ lạnh lùng. Hoa ái ngại lấm lét nhìn anh, hết sức ốt dột, xấu hổ lịm người. Hoa rón rén mò mò đến bên giường len lén vật mình nằm lì im re bên trong xó góc, không dám nhúc nhích. Sáng hôm sau Triều vẫn mời Hoa đi ăn sáng bình thường, anh lên xe đò đi Tam Kỳ cùng Hoa, làm y như giữa họ không hề xảy ra chuyện đáng tiếc. Hai người vô nhà lúc mạ vừa đi chợ về. Triều nói mạ vui lòng ngồi xuống ghế, cho anh thưa chuyện. Triều quỳ xuống bên chân mạ:
                  - Con xin mạ tha lỗi khi con từ hôn: Hồi hôn với em Hoa, là do con đã lỡ lấy người con gái khác, làm cô ta có bầu.

                  Vừa nghe xong, mạ giận quá, đã mắng nhiếc Triều đủ điều xấu xa, nhục nhã ê chề, mạ thẳng chân đạp Triều một cái vô ngực anh thật mạnh. Bất ngờ, khiến Triều té ngửa ra sàn nhà, đầu đập vô chân tủ, lỏa máu. Hải Triều đứng dậy lặng lẽ cúi đầu bước ra khỏi nhà. Các em của Hoa khóc lóc thảm thiết, các em rống to hụ hụ hụ... vì các em biết rõ phần lỗi về ai, mà tụi em không hề dám lên tiếng bênh vực anh. Họ thương Triều bị oan ức, không hề than van trách móc. Thật là một người quá cao cả, vô cùng hy sinh vì người mình yêu, anh Hải Triều ơi! anh rất cao thượng.
                  ***

                  Năm 1993 Hoa và các em trở về quê Trường Sanh, Phú Nông, Lương Điền, xóm Sen: xây mấy nhà thờ tổ của dòng họ Trương; bên nội, cũng như bên dòng họ ngoại. Nhờ xây nhà thờ to lớn, sầm uất, cúng tổ linh đình, Hoa đã làm một việc nở mày nở mặt hai họ biết bao. Hoa làm cơm đãi họ hàng thôn xóm, rồi theo các em đi thắp nhang hầu hết những ngôi mộ trong làng. Khi dợm bước lên xe hơi, thì có một cô gái đến bên Hoa dịu dàng bảo:
                  - Em cần dẫn chị đến nơi nầy.

                  Hoa nhìn cô gái có ý dò hỏi, nhưng cô ấy không nói gì, lặng lẽ đi trước dẫn đường khá xa. Lúc đến gần cuối bức tường rêu phong, cô ấy nhìn Hoa e dè nói:
                  - Có lẽ chị quên em, nhưng chắc hẳn chị chưa quên anh trai của em. Anh ấy đã có vợ và hai đứa con trai còn nhỏ. Vì khi xa người mà anh ấy rất yêu, thì lâu lắm anh ấy mới lấy vợ. Em không hiểu vì sao, có thể cũng do buồn, nên thay vì anh ấy được trở về ngành điều hành không lưu cũ, nhưng anh ấy muốn ở lại phục vụ tại Quảng Ngãi. Năm 1972. Nhân một hôm nghỉ việc, anh ấy không làm ở phi trường quân sự Quảng Ngãi, mà anh ấy đi chơi theo mấy bạn Bộ Binh, để phát lương ở Minh Long, anh trai đã bị mìn, anh chết vô cùng tội nghiệp.

                  Cô em vạch đám cỏ may cao lút đầu gối giạt qua một bên, Hoa thấy ngôi mộ hoang phế vôi gạch rữa nát, trên bia mộ lờ mờ mấy hàng chữ: Võ Hải Triều sinh 10 tháng Giêng năm 1947. Từ trần ngày 20-12 năm 1972.

                  Hoa chết sững ngồi hụp xuống đám cỏ may vàng òa lên khóc nức nở, y như hồi nào đó trong quá khứ Hoa đã khóc rống lên trước những cơn đau khổ đầy chua xót bẽ bàng của chàng. Nỗi đớn đau và dày vò chua xót đó, cho đến mãi tận hôm nay mới thấm đẫm sự ân hận trong trái tim khô héo nầy. Hoa không biết nói gì hơn là lẽo đẽo theo cô em đi về trên đường nhựa dẫn tới khu xóm cũ, nơi Hoa đã từng học nghề may. Hoa vô ngôi nhà lai ba gian hai chái thuở xưa, nước mắt lưng tròng Hoa đặt một phong thư dày cộm lên bàn thờ, thắp mấy cây nhang cắm vô lọ sứ, ánh lửa lập lòe lung linh hơi khói phảng phất bay bay trên khuôn mặt cố nhân. Hoa cúi đầu lâm râm khấn vái, mắt long lanh, nghiến chặt hai hàm răng:

                  - Anh Hải Triều ôi! Tuy em biết rằng món tiền nầy không thể nào chuộc lại sự đau đớn nhức nhối do từ em gây ra, không bao giờ có thể đền bù, xóa tan, rửa sạch, hay hàn gắn. Em xin anh hãy nhận cho tấm lòng em tan nát, dày vò, biết ơn và rất trân trọng anh vô vàn.
                  Dĩ vãng đầy ắp đang lừ đừ trôi về trên hiện tại não nề bi đát, không kém muộn phiền chua xót làm sao!
                  ***

                  Tình Hoài Hương
                  Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 09:23 PM.
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #144
                    Tạ Ơn Đời. Ân Nhân & Bạn Hiền Thân Mến



                    Tạ Ơn Đời. Ân Nhân & Bạn Hiền thân mến.


                    Nắng lung linh xuyên qua song cửa rót lên nền nhà, tạo thành những vệt sáng lấp lánh nhảy múa trên bàn, trên những tấm vải treo khắp đó đây trong tiệm may vắng như chùa bà Đanh, khiến Hoa càng buồn và thất vọng dường bao! Suốt mấy tháng không có khách hàng tới may vá gì, buồn chán lắm, nên cô nhỏ cứ bỏ tiệm may ra đứng thẩn thờ trước trường đánh máy chữ. Hoa nhìn vào bên trong lớp học mà mơ ước mình được sung sướng đi học như họ, thì hạnh phúc biết ngần nào!

                    Một hôm, Hoa đang mơ màng đăm chiêu, lấp ló phiền muộn nhìn vô trường học nghề như thế, thì có một bàn tay nhẹ ôm vai Hoa:
                    - Ê bồ! sao ngày nào cũng đứng đây vậy?

                    Hoa kinh ngạc nhìn người con gái xa lạ ăn mặc hợp thời trang, nàng cao to hơn Hoa một chút, nàng không đẹp không xinh, nhưng ai nhìn nàng cũng cảm thấy dường như từ nơi nàng tỏa ra một sự quyến rũ, có hấp lực thu hút cái duyên ngầm kỳ lạ. Hoa nhìn lại thân phận mình quần thô áo vải nên mắc cỡ bỏ chạy. Người ấy vội chụp cánh tay áo Hoa lại, đầu Hoa chúi vào vai người ấy. Chẳng hiểu sao Hoa oà khóc vì xấu hổ và tủi thân. Cô gái ân cần vỗ vỗ vào lưng Hoa, tự giới thiệu tên:
                    - Mình tên Bích Thuỷ. Còn bồ tên gì? Ở đâu vậy?

                    Thủy hỏi thăm Hoa ở nơi nào ư? Hoa nghẹn ngào không nói, đưa tay chỉ vô tiệm may. Thủy gật đầu tươi cười bước vô lớp. Hết giờ học đánh máy, Thuỷ ghé lại tiệm may, nàng muốn làm thân kết bạn cùng Hoa:
                    - Có thích học đánh máy không, mà ngày nào tui cũng thấy bạn đứng dòm chằm chằm vô lớp học hoài rứa?
                    - Ồ, mình rất thích. Nhưng nhà nghèo lắm, không thể có tiền đóng học phí, cùng các chuyện linh tinh khác.
                    - Bạn đừng lo chuyện ấy. Tiền bạc, ăn uống, học phí để tui lo cho, đến khi nào bạn học thành tài, mới thôi nghe.

                    Ồ! Làm sao mà có chuyện “động trời” thế nầy được!? Hoa lắc đầu trố mắt nhìn cô gái, chẳng thốt nên lời, không thể tin vào tai mình. Nhưng mỗi ngày sau giờ học đánh máy, Bích Thuỷ đều ghé lại tiệm may của Hoa, vui vẻ ân cần Thủy “mớm mồi” một vài câu “nhắc khéo” với Hoa về “chuyện ấy”. Nghĩa là Thủy đi sâu vào vấn đề muốn tận tâm giúp đỡ bạn học một nghề có căn bản cho tương lai, đại khái là nghề thư ký đánh máy. Hoa mủi lòng chỉ biết khóc... và khóc vì thân phận nghèo thôi. Bích Thuỷ mở lời tâm sự:
                    - Hoa biết không, ở đời không phải ai ai cũng hoàn toàn sung sướng, như ta nhìn phiến diện về một ai đó. Nè bạn, họ không khổ sở vì vật chất, thì cũng đau đớn, dằn vặt, cô đơn về tinh thần. Ví dụ như mình đây: Ba mình là Quận Trưởng, mình có hai người anh đã thành đạt trên đường đời, nhưng rất buồn và cô độc do chúng tôi mồ côi mẹ lúc còn nhỏ. Ba mình có phải là gà trống nuôi con độc thân tại chỗ không, chuyện ấy xét lại, bây giờ ông có nhiều đào! Mình sống giàu sang nhưng rất cô đơn và trống vắng. Là vậy đó.

                    Thì ra là như thế. Bích Thủy ân cần năn nỉ Hoa cho phép mình đi thăm nhà mạ và các em của Hoa. Ngần ngại hết sức, nhưng cuối cùng Hoa mềm lòng đã dẫn Thủy về nhà mạ. Nhìn cảnh nghèo nàn xơ xác khó khăn của bạn phơi bày, Thuỷ bùi ngùi cảm động xót xa quay mặt đi len lén chùi nước mắt. Thuỷ hết lời năn nỉ xin mạ cho Hoa đi học đánh máy, Thủy hứa khi Hoa học thành nghề, Thuỷ sẽ xin việc làm cho Hoa, để bạn có điều kiện dồi dào hơn về khoản tiền nong, mà nuôi mạ và em út.

                    Mạ chẳng hiểu đầu đuôi chi hết, nên nỏ ừ chẳng hử. Hoa kinh ngạc nhìn cô bạn mới ấy đăm đăm, chỉ tưởng là cô gái lạ kia trêu chọc nói đùa cho vui. Ai ngờ… có nàng tiên thật trong đời của Hoa đã giáng thế! Bích Thủy hoàn toàn xa lạ, không bà con thân tộc, không hề quen biết Hoa, nhưng Thủy chẳng toan tính đắn đo suy nghĩ gì, nàng đã hậu ái lo đầy đủ chu đáo hết mọi thứ, dìu dắt Hoa đến nơi đến chốn: nào là Thủy đóng trọn khóa tiền học đánh máy, nào là Bích Thủy đưa Hoa đi mua sắm mấy bộ áo quần. Thủy lo lót ở một trường tư thục ngoài Đà Nẵng cho Hoa có một chứng chỉ học trình lớp Đệ Tứ. Tóm lại Thủy hết đóng mọi chi phí. Thủy đưa Hoa đi làm giấy thế vì khai sinh, tên “Trương Thị Thu Huyền” khai sinh chào đời, lột xác Hoa từ nấc thang thấp nhất, tên cũ xì và quê mùa "Chắt" đã lùi về quá khứ, tên mới của Hoa lâng lâng bay lên… bay lên cao vút từ nơi đó.

                    Lý Thị Bích Thủy: Đó là một người thầy thứ hai trong đời đáng kính và quý trọng của Hoa (sau cậu Phú): Lúc ở Tam Kỳ Chu Lai, muốn đốt giai đoạn, nên Thủy dịu dàng dạy Hoa học thêm đánh máy cho thật nhanh và chóng nhớ, bằng cách Thủy lấy sơn màu viết 24 chữ cái lên tấm carton, những mặt chữ cái, làm giống y như trên bàn phím của máy đánh chữ thật. Đúng là có kết quả nhanh chóng tốt đẹp và vô cùng khả quan. Ôi! Hạnh phúc biết dường nào khi ở trường học đánh máy: mỗi lần Hoa ấn tay lên bàn phím, thì những con chữ vô tư lự vui vẻ gõ lóc cóc, nhảy tưng tưng như rộn ràng reo hò mời gọi, thì nhịp tim Hoa cũng lâng lâng hòa điệu tương ca.

                    Hoa có ý chí, tự rèn luyện đức tính kiên cường, ngày đêm cố gắng học chữ, học Anh-văn, học đánh máy chữ. Ngày đó Thuỷ bảo vệ Hoa lắm, dù những bạn học của Thuỷ có vẽ xem thường Hoa một tí, là Thủy từ bỏ họ luôn, đôi khi Hoa thấy ngại quá, khuyên Thuỷ hãy để em sang một bên, Thủy hãy tiếp tục chơi với bạn học. Thuỷ lắc đầu bảo rằng:
                    - Mấy con đó thiếu sự hiểu biết, không có đạo đức, không thèm chơi với chúng nó.

                    Ngoài giờ học đánh máy, Bích Thủy còn dạy Hoa nói tiếng Anh với Thủy, để Thủy biết chỗ sai hay đúng, mà sửa. Thật tình thì Hoa thích nói tiếng Việt hơn, nghe thân thiện, tha thiết nồng nàn, ấm áp ngọt lịm sao đâu. Bởi hằng ngày Hoa nói chuyện với người Việt thân thiết quen rồi, nay học thêm tiếng Anh, Hoa bị lớ quớ lộn xộn ngỡ ngàng và và… dị dạng nói lắp bắp, líu cả lưỡi. Hoa cảm thấy ngượng ngùng không tự nhiên khi phát âm. Thủy sợ Hoa không hiểu, Thủy giải thích dông dài rất cặn kẽ. Chẳng biết Thủy sưu tầm lượm lặt đó đây một lô thơ lục bát ghép chữ Việt và Anh-ngữ rất hay, thực dụng và dễ hiểu vô cùng, Hoa rất thích học những câu, có nhiều lúc Thủy vừa hỏi tới bài học, thì Hoa trả lời những câu đã thuộc làu:

                    Cằm CHIN có BEARD là râu
                    RAZOR dao cạo, HEAD đầu, da SKIN
                    THOUSAND thì gọi là nghìn
                    BILLION là tỷ, LOOK nhìn , rồi THEN

                    LOVE MONEY quý đồng tiền
                    Đầu tư INVEST, có quyền RIGHTFUL
                    WINDY RAIN STORM bão bùng
                    MID NIGHT bán dạ, anh hùng HERO

                    COME ON xin cứ nhào vô
                    NO FEAR hổng sợ, các cô LADIES
                    Con cò STORKE, FLY bay
                    Mây CLOUD, AT ở, BLUE SKY xanh trời

                    OH! MY GOD...! Ối! Trời ơi
                    MIND YOU. Lưu ý WORD lời nói say
                    HERE AND THERE, đó cùng đây
                    TRAVEL du lịch, FULL đầy, SMART khôn

                    Cô đơn ta dịch ALONE
                    Anh văn ENGLISH , nổi buồn SORROW
                    Muốn yêu là WANT TO LOVE
                    OLDMAN ông lão, bắt đầu BEGIN

                    EAT ăn, LEARN học, LOOK nhìn
                    EASY TO FORGET dễ quên
                    BECAUSE là bởi, cho nên, DUMP đần
                    VIETNAMESE, người Việt Nam

                    NEED TO KNOW... biết nó cần lắm thay
                    SINCE từ, BEFORE trước, NOW nay
                    Đèn LAMP, sách BOOK, đêm NIGHT, SIT ngồi
                    SORRY thương xót, ME tôi

                    PLEASE DON"T LAUGH đừng cười, làm ơn
                    FAR Xa, NEAR gọi là gần
                    WEDDING lễ cưới, DIAMOND kim cương
                    SO CUTE là quá dễ thương

                    SHOPPING mua sắm, có sương FOGGY
                    SKINNY ốm nhách, FAT: phì
                    FIGHTING: chiến đấu, quá lỳ STUBBORN
                    COTTON ta dịch bông gòn

                    A WELL là giếng, đường mòn là TRAIL
                    POEM có nghĩa làm thơ,
                    POET thi sĩ nên mơ mộng nhiều.
                    ONEWAY nghĩa nó một chiều, (*= sưu tầm)

                    Có lần Thủy nói: văn chương không cần trau chuốt hoa mỹ, chỉ cần xác thực, trung thực, có chút tỷ mỹ trong sự uyển chuyển hài hòa, thì sẽ thành công. Thế là Thuỷ vừa dạy Hoa học đánh máy vừa dạy Hoa tiếng Mỹ. Thuỷ xin với chị Toàn (là chị của Thuỷ) cho Hoa ở trọ cùng Thuỷ, tiền ăn ở Thuỷ lo hết cho Hoa mấy tháng đầu. Khi vững vàng chuyện học rồi, tại nơi phồn hoa đô hội đó không ai biết mình là ai, nên Hoa không để lộ tông tích “đi ở đợ hèn mọn” của mình ra làm chi nữa. Hoa luôn mặc cảm về dĩ vãng bất đắc dĩ, buồn tủi đen tối và thấp hèn ấy.

                    Một ngày kia có hai ba ông Mỹ bước vào trường dạy đánh máy chữ nói chuyện với cô giáo Xuân. Khi họ về rồi, cô Xuân cho cả trường biết là họ muốn tuyển nhiều thư ký đánh máy, ai thích đi làm thơ ký cho bộ Hải Quân Mỹ thì đơn đây, điền vào. Thế là Hoa cùng một số bạn trai gái ghi tên đi làm. Sáng thứ Hai người ta tập họp nhân viên ở trung tâm dạy Anh-văn tại Tam Kỳ, nơi nầy có xe bus chở họ đi Chu Lai làm việc đến chiều, thì xe bus trả về chỗ cũ, mạnh ai đi về nhà đó.

                    Ngày đầu tiên Hoa vô phòng dự thi của Mỹ, có ban giám khảo cho thí sinh thi ngành thư ký đánh máy: Tuyển sinh phải trình bày và đánh máy một văn bản hai tờ giấy bằng tiếng Anh khá dài– phải đánh nhanh và không sai lỗi chính tả: gồm 41 chữ trong một phút. Thời gian thi là nửa giờ! Ối Trời ơi là Trời!!! Hoa rợn người lo sợ bủn rủn cả tay chân. Chỉ 1 phút mà phải nuốt trọn 41 chữ, nhanh hơn tên bay sao xẹt thôi sao? Đúng là đánh máy tốc ký! Văn chương Việt-ngữ là ngôn ngữ mẹ đẻ, Hoa còn hạn hẹp chưa thông thạo, huống gì tiếng Anh tiếng U. Hoa lại càng mù mịt như thầy bói rờ con voi. Làm sao bây giờ!

                    Hoa choáng váng không thể nào đoạt được kỷ lục thư ký tốc hành 41 chữ trong một phút đó. Mơ làm thư ký đánh máy là một việc cao sang quá tầm tay với làm gì, mà bây giờ từ trên đỉnh cao chót vót, Hoa đã vỡ mộng tan tành… bị rớt cái đụi. Tủi thân Hoa ngồi bệt xuống nền nhà khóc hụ hụ… ngon lành không hề biết xấu hổ! (giống như một đứa trẻ thơ lúc không nhận được quà theo ý muốn, nó đã phụng phịu ngồi phệt xuống đất chà hai chân giãy giụa và khóc ngất).

                    Nhưng may thay, ở đây họ cũng đang cần người làm việc trong Warehouse clothing, nên Hoa được “lọt mắt xanh” ban giám đốc IRO, họ tuyển chọn Hoa và mấy người nữa vô đó làm việc. Hoa suy nghĩ: “trước tiên mình nên nhận công việc tàm tạm nầy đã, khi ngồi vững trong IRO rồi, mình sẽ tính tiếp. Nếu Hoa không nhận công việc nầy, e rằng sẽ không còn cơ hội may mắn tiến thân”.

                    Hoa là người chân thật, giản dị, đơn sơ và rất bình dân giáo dục, không biết nói những câu văn hoa bóng bẩy, không biết thêu dệt những ý tình đẹp đẽ thơ mộng, nên tự đáy lòng Hoa chỉ muốn nói lời khẩn thiết cảm ơn, biết ơn, và tạ ơn: Trước tiên là ghi ơn ôn mệ nội, ngoại đôi bên. Tiếp theo là tri ân cha mạ sinh ra con. Ôn mệ, chị Thùy Mến là người dưng khác họ, mà thương Hoa vô cùng. Kế đến là chị Lộc. Ông bà Trương Nguyên Thảo. Anh Đoàn Mùi, anh Thái Nghệ Quân, Võ Hải Triều. Thầy Phú dạy Hoa học chữ quốc ngữ. Nhất là Hoa vô cùng biết ơn và tạ ơn Lý thị Bích Thủy, một người bạn tình cờ chỉ gặp gỡ một ngày, mà trọn kiếp tri ân người đã nâng vực Hoa: cô bé lọ lem từ nấc thang thấp hèn trong xã hội được leo lên làm người hữu dụng. Tạ ơn đại diện hãng IRO thuộc đất nước Hoa Kỳ đã đến Việt Nam & tuyển chọn Hoa vô làm việc trong ban ngành của họ.
                    Hoa hạnh phúc xiết bao, hôm nay xin ghi lời tạ ơn đời ưu ái ban cho mình những hồng ân trân quý.
                    ***

                    {Thời gian quen biết nhau không lâu, thì Thủy cùng chồng đi Mỹ ở Fort Lauderdate, Florida. Thế là hai đứa mình xa cách nhau cuối năm 1967. Tại Hoa Kỳ, Thuỷ hào phóng giúp ai cần giúp, mặc dầu có nhiều người ruột thịt của Thủy cản ngăn, nhưng Thủy vẫn đi theo lý lẽ của con tim, đến nỗi người chồng thứ hai, rồi tới người chồng thứ ba và Bích Thủy cũng đổ vỡ nốt. Chỉ vì một hôm có cơn bão đến, Thủy vội vàng chạy xe ra đường, lật đật chở những người vô gia cư nào là "đen, trắng, già, trẻ, Lào, Miên, Phi, Tàu…” ; tất cả… chẳng kể số, Thủy đem họ về nhà, cho họ áo quần, ăn, ở tạm trú một thời gian dài, kể cả chó, mèo, nai, thỏ, chim, sóc…, tất cả mọi thứ… thứ gì Thủy cũng tha vô nhà đầy nhóc. Ồn ào, bừa bộn, hỗn độn, lộn xộn hết biết.

                    Ông chồng thứ ba thấy ở trong nhà mình giống như một… sở thú của “thảo cầm viên và cầm… người” thật quá kinh hoàng, chồng Thủy chẳng thể nào chịu đựng thêm “cố tật bẩm sinh” của cô vợ ngày ngày thích làm chuyện bác ái, từ thiện, hảo tâm: càng chất chồng lên cao ngút. Ông đã nổi cơn điên, cả hai người thường xung khắc, bất đồng ngôn ngữ và không cùng chung chí hướng & “lý tưởng”. Họ đã đi đến chuyện không thể dừng, không thể cảm thông, đành lôi nhau ra tòa ly dị.

                    Từ đó Thủy không lập gia đình nữa, nàng hái ra tiền dễ dàng, nhưng cũng dễ bị đàn ông phỉnh gạt tình và tiền… Bích Thủy sống cuộc đời độc thân, làm những gì mình muốn, tự do du lịch dó đây khi mình thích, khỏi bận bịu vì ai hết}.
                    * * *

                    Tình Hoài Hương
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 11:27 PM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • Tinh Hoai Huong
                      Senior Member
                      • May 2009
                      • 1081

                      #145
                      Em và Tôi


                      Em Thu Huyền (Hoa) thương yêu cuả chị,
                      Chị bồi hồi nghẹn ngào và cảm động vô vàn khi nghĩ đến (các em nhỏ) – nhất là em Hoa cuả chị. Các em thời ấu thơ hồn nhiên xinh xinh và ngoan hiền biết bao.
                      Mặc dù thuở ấy các em chỉ thoáng qua trong đời chị như cơn gió nhẹ, như vần mây bồng bềnh lơ lững trôi trên không gian bao la. Nhưng, tình cuả chị đối với các em ngày xưa & bây giờ (chị được gặp lại tất cả các em đã “thành nhân”) vẫn ngút ngàn nguyên vẹn: các em luôn ngự mãi trong lòng chị Hoài Hương.
                      Thương mến tặng các em một bài viết về “Chuyện của CHÚNG MÌNH” sau đây:

                      *
                      Em và Tôi
                      Tình Hoài Hương

                      ***

                      Mây trắng lững lờ bay hoài trên không trung ngút ngàn theo năm tháng chất chồng không biết mệt. Có mấy ai luyến lưu, bâng khuâng, ngẩn ngơ nhìn cánh chim bay lạc soãi cánh nương theo áng mây chiều não nuột thê thiết khắc khoải kêu đàn? Khiến lòng mình băn khoăn, sầu lắng, xao xuyến bùi ngùi… gợi nhớ một niềm đau khẽ khàng bùng vỡ; từ buổi ban đầu tình cờ gặp gỡ trong quá khứ, (giống như tôi không nhỉ)?
                      Một hôm sau khi từ thành phố Lâm Viên thơ mộng và trữ tình, tôi nôn nóng trở về quê thăm cha mẹ già trong dịp nghỉ hè, vô tình đọc được mấy bài thơ hay, ý nghĩ thiết tha về mẹ cha (đang ở dưới lũy tre làng bao bọc một đời quạnh hiu); trong đó theo thiển ý cuả mình, tôi có chút trùng hợp niềm nhớ nhung về song thân với thi sĩ Huỳnh Kim Sơn:
                      … Ta cũng có mẹ già mòn mỏi đợi
                      Những mùa xuân biền biệt bóng ta về
                      Tóc mẹ trắng đã bao chiều sương khói
                      Mắt đìu hiu sầu mấy dặm sơn khê…

                      Sau những ngày vui mừng cuống quít hạnh phúc được đoàn tụ với mẹ cha, gặp gỡ thân nhân họ hàng, biết em Hoa không còn ở với anh chị Thuận, nên tôi cảm thấy đơn điệu trong nỗi tiếc xót buồn bã khó tả. Ngày từ giã em Hoa để đi Đà Lạt vô trường nội trú Couvent dex Oiseaux đến bây giờ, đã một năm dài, nay tôi trở về chốn cũ đồi xưa, sông nước mênh mông, núi đá rêu phong qua thời gian và đồi sim cùng suối nước sóc rách vẫn còn đó, có thay đổi chăng, là bi chừ dưới triền đồi sim và từng vạt tranh ngã mình trước từng cơn gió ùa về, bây giờ đã mọc lên ngôi nhà gạch cao rộng nung ngói đỏ, thế mà em tôi không còn nơi đây! Nên tôi cảm thấy rất buồn và nhớ em da diết.

                      Xin phép ba má lặn lội đi tìm thăm Hoa ở làng Trường Sanh, (quận Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị), tôi mặc áo dài tím, quần trắng, mang guốc mộc, đầu đội nón lá, tay ôm gói quà to tướng, như đã hẹn cùng cô em bé nhỏ xinh xinh ngày ấy. Từ tỉnh lộ Huế - Quảng Trị, khi tới hơn nửa phần đường, thì tôi xuống xe đò, trời nắng chói chang trên con đường quê lạo xạo sỏi đá dưới gót chân khua động. Chung quanh vắng lặng, không có một gốc cây, bờ ruộng sau mùa gặt chỉ còn trơ gốc rạ, khiến đất cát càng khô cằn nức nẻ từng miếng vụng về thô thiển, biểu lộ sự nghèo nàn đói kém lầm than và cơ cực của người nông thôn lam lũ nhọc nhằn một nắng hai sương. Đoạn đường trên xa lộ xuống nhà Hoa rất xa mà trời nắng gắt, oi nồng, không có chút gió phe phẩy, mặt đất xông lên hơi nóng thiu đốt da người rát như phải bỏng, nên tôi cảm thấy ngất ngư, quá mệt, mồ hôi vã ra nhễ nhại trên thân, đầu tóc ướt nhẹp, lưng áo đẫm mồ hôi rít rát. Vốn dĩ từ thuở bé đến giờ tôi chưa bao giờ bước đi trên cây cầu chỉ có ba bốn cây tre chong chênh, vắt vẽo từ bờ nầy qua bờ kia, nên tôi ngại ngùng, chán ngán, phập phồng lo sợ lúc đứng bên nầy bờ nhìn về làng Trường Sanh xa tít tắp.

                      Nếu đã lặn lội mò mẫm đến tận đây rồi, chỉ còn một đoạn đường ngắn ngủi trong tầm mắt, mà mình không thể đến bên em, sao đành! tôi ngẩn người do dự băn khoăn bối rối nhìn chiếc cầu khỉ đong đưa lắc lư trên không trung, giống như nó đang treo tòn ten trước gió oi nồng hiu hiu thổi, mà thỉnh thoảng nó vang lên tiếng kêu kẽo kẹt, như lời thì thầm tự thán, khiến tôi càng run sợ và choáng váng, do dự trong sự chọn lựa. Tôi thầm nhủ: Tiếp tục tìm kiếm em, hoặc là quyết định quay về (vì sợ chiếc cầu khỉ) đây? Quay về: sẽ an toàn, bình yên không lo sợ, dù phải mất đi tình thân thiết, và có thể mất nhiều thứ khác. Nhưng ngập ngừng, vì sự lo sợ mà lựa chọn việc quay về, làm mất đi một người thương, (hoặc nhiều người, chị sẽ gây tổn thương đến em, thì Hoa ơi! xin em hãy giúp tôi vượt qua sự sợ hãi, em đừng lánh xa tôi, mà em hãy dịu dàng đứng gần tôi dưới chân cầu nầy, thầm lặng khích lệ, và nâng vực tôi mạnh mẽ an tâm bước lên cây cầu khỉ “quỷ quái” đang lắc lư, để tôi có can đảm hân hoan đến với em chẳng chút ngại ngần lo sợ. Như ngày ngày em đã cùng mọi người trong xóm Sen thong dong ung dung đi lại trên cầu tre.

                      Thế là chí đã quyết, tôi run sợ, lo lắng, khổ sở rụt rè rón rén bước lên cầu (dù không thể tự nhiên thảnh thơi ung dung bước đi như những cư dân kia). Tôi cột hai vạt áo dài vô bụng, phải hé hi hí hai mắt, gồnh mình cố gắng rón rén bò bò trên cây cầu lắt lẽo rung lên bần bật và kêu kẽo kẹt trong gió lao xao rì rào từ khóm trúc bụi tre vẵng lại. Nhìn xuống hố sâu, tôi cảm thấy đầu óc quay cuồng xây xẩm choáng váng kinh khủng, chóng mặt. Ôi! Sợ hãi biết dường nào kể xiết, nhưng tình tôi thương yêu đứa em bé nhỏ nhiều hơn, nên đã cố gắng thắng lướt tất cả. Thế rồi dần dà mọi sự từ từ cũng ổn, tôi thấy những nóc gia thưa thớt khiêm nhu trên lãnh cư khô cằn vào giữa trưa, nên thôn xóm càng vắng vẻ đìu hiu. Lúc đến đầu thôn, tôi gặp một người đàn ông trung niên đi ngược chiều, tôi ân cần hỏi thăm nhà mạ cuả Hoa, thì ông ta vui vẻ dẫn tôi đi ngược trở lại. Đứng trước cửa nhà tranh lụp xụp, vách đất quét vôi úa màu lổ chổ, phên cửa xiêu vẹo èo ọp có những sợi khói trong lò bếp ấm áp tỏa bay lên cao, rộn rã tiếng trẻ nhỏ nói chuyện huyên thuyên, vui mừng chia nhau củ khoai lát sắn, mà vui. Tôi cảm thấy nơi ấy có luồng sinh khí ấm áp nồng nàn, từ mùi khoai lang nướng trong bếp lò tỏa ra thiệt thơm, dù tôi đã ăn cơm no ở nhà rồi. Ấy thế mà món khoai củ kia hấp dẫn, khiến bụng tôi cồn cào đói, miệng ứa nước miếng vì thèm ăn một món giản dị, bình dân rẻ tiền, nhưng thiết thực và đậm đà tình dân tộc.

                      Khi nghe người đàn ông cất tiếng gọi các cháu, và báo có khách đến thăm. Mấy đứa nhỏ ùa ra cửa, nhao nhao chào hỏi “chú Nhàn”. Tôi thấy bầy nhóc xêm xêm cao bằng vai bằng cổ nhau: bốn đứa khoảng từ tám chín tuổi trở xuống một tuổi. Dường như các em ngỡ ngàng lẫn sửng sốt bu quanh tôi, mấy em nhỏ và bé Thủy trên má dính đầy lọ nghẹ, hoặc vỏ khoai lang nướng. Trong số đó có Chiến là lớn nhất đàn, em ở trần đưa tấm lưng ốm nhom đen thui và sạm nắng, em mặc quần xà lỏn màu nâu xệ xệ xuống dưới đì. Khi nghe chú Nhàn giới thiệu tên tôi: thì em đon đả trả lời là đã biết chị, (do Chiến đi thăm Hoa ở nhà cha mẹ tôi, Chiến thấy tôi chụp hình cùng gia đình). Chiến lanh lẹ vui vẻ liếng thoắng nhất trong đám nhỏ đã toét miệng cười reo:
                      - Em chào chị Hương, phải không hì!?
                      - Phải đó cưng. Em giỏi thiệt.
                      - Dạ, em như ri mới “cai trị” được bọn lu la nhà em mà chị.
                      - Vậy sao!? Nhưng nè, hình như em vọc đất cát hơi nhiều, nên móng tay móng chân em dài và đen thùi lùi. Hư thiệt!
                      - Có lẽ do linh tính báo sẽ bất ngờ có quà, em thấy vui vẻ, nên móng tay cũng mau dài. Hì.
                      - Trời! Tâm trạng em vui vẻ, mắc mớ gì chuyện móng tay móng chân mau dài và đen thui chớ!
                      - Vậy mới nói.
                      Một cậu nhỏ khoảng bảy tám tuổi tên Hoài liền đẩy Chiến lên phía trước, em xòe hai bàn tay thơm mùi khoai nướng ra:
                      - Chị coi, tụi em giống anh Chiến như rứa cả.
                      - Ồ! Tại sao?
                      - Tụi em không dùng hai bàn tay có móng để bới móc củ khoai, củ sắn từ dưới đất lên, thì lấy chi mà bỏ vô miệng ăn. Chị!

                      Ngạc nhiên sửng sốt và câm miệng nghẹn cứng cổ họng khô lông lốc, tôi không thốt nên lời. Được cha mẹ cưng chiều cho ăn đi học từ lúc còn là đứa trẻ “mầm non” mới dứt bình sữa, đến nay tôi đã là một thiếu nữ, chưa bao giờ mình đụng tay chân làm bất cứ việc nhỏ nhặt nào. Ở nhà khi ăn uống xong, tôi không rửa một cái chén, một cái ly! Tại trường nội trú, đã có bồi bếp làm thay, mình không hề lo lắng gì ngoài việc sung sướng an nhàn “ăn, học, nghỉ ngơi”. Tôi không thể tưởng tượng nỗi trẻ con ở nhà quê sao lại dùng bàn tay bé xíu để bới móc, vất vả làm việc nặng nhọc, mới có cái ăn mỗi ngày! Sao tôi không tìm hiểu cặn kẽ các dữ kiện, chỉ nhìn sự kiện thoáng xảy ra trước mắt, để rồi vội vàng kết luận, trách móc các em nhỏ đáng thương đến thế!? Sao mình có thể mất nhân tính, tỏ ra trịch thượng, ta đây kẻ cả, vì những lời nói cho dù bông đùa, hoặc vô tình một cách thẳng thừng như thế cho đành! Khi mình hiểu ra nguyên cớ, thì thật là… ân hận. Tự trong thâm tâm tôi cảm thấy tổn thương và dày vò đáng hổ thẹn! Tôi ngao ngán thở dài, sực nhớ đến một câu chuyện người xưa:
                      (Ông Khấu Tố dẫn ngựa đi uống nước sông, chẳng may ngựa bị chìm xuống đáy. Khấu Tố ỷ sức mình, liền nhảy xuống sông để chiến đấu với thủy thần. Chẳng may bị chột mất một mắt, ông phải trồi lên bò vô bờ.
                      Yếu Ly bất bình mắng:
                      - Ngươi tự vỗ ngực xưng là dũng sĩ, đánh nhau với thủy thần sao, ngươi đã không dám chết, dẫn xác về với con mắt mù chột, mà không biết nhục, còn hiu hiu tự đắc khoe khoang, là làm sao?
                      Khấu Tố bị mắng, hổ thẹn ra về. Phần Yếu Ly dặn vợ con: “Không đóng cửa”, có ý chờ Khấu Tố đến. Quả nhiên nửa đêm ấy Khấu Tố xông vô phòng chĩa gươm vào cổ Yếu Ly, mà kết tội:
                      - Ngươi có ba tội đáng chết. Một: Làm nhục tao giữa đám đông. Hai: Không biết phòng ngừa lo xa, ngủ không đóng cửa. Ba: Thấy tao vô đây mà không chạy trốn.
                      Yếu Ly bình thản đáp:
                      - Theo ta, ngươi có ba tội hèn hạ mới đáng chết. Một: Ta làm nhục ngươi giữa đám đông, mà chẳng dám nói một lời. Hai: Ngươi lẽn vô nhà ta lén lút không lên tiếng, chỉ như kẻ trộm. Ba: kề gươm vô cổ ta xong, mới dám mở miệng dọa nạt. Thế thì ngươi hơn ta ở chỗ nào?
                      Khấu Tố tưởng mình tài giỏi hơn người, nghe xong lấy làm xấu hổ đã ném gươm xuống đất, mà đập đầu tự sát.)

                      Không ai biết chú Nhàn đã bỏ đi lúc nào. Được em Chiến cho tôi biết mạ của các em vừa có việc qua xóm bên vắng nhà, tôi có chút thất vọng, ngồi chò hỏ xuống bậc thềm, soạn giỏ xách lấy mấy gói kẹo bánh, ít bộ quần áo mới, tôi xoa đầu và đưa cho từng em. Các em ríu rít vui vẻ, hí hửng, khiêm tốn, hiền hậu và ngoan ngoãn đứng chờ đợi tới phiên nhận quà, không chen lấn giành giựt. Tôi lấy một bì thư đựng tiền và nhét trong lưng quần em Chiến, cột dây rút, tôi bảo em hãy cẩn thận cất dấu tiền đâu đó, không làm mất, chờ khi nào mạ về em trao cho mạ.

                      Tuy mình ở lại tiếp xúc với các em không lâu, cha mạ các em đi vắng, mà trong nhà anh em nhỏ biết đùm bọc bảo ban vâng lời nhau, tôi thấy các em nhỏ dễ mến ngoan hiền, mặt mày em nào em nấy sáng sủa dễ thương lắm. Thương quý các em, nhưng không dám ngồi lâu, vì tôi sợ trời tối nhất là lần đầu tiên tới làng nầy, tôi sợ sẽ lạc đường. Chẳng biết làm thế nào cho phải phép hơn, chỉ sợ mình mủi lòng mau nước mắt khóc òa trước bọn trẻ. Tôi nghẹn ngào lý nhí nói lời chia tay, các em ngẩn ngơ đứng bên nhau nhìn tôi đăm đăm rồi oà khóc. Tôi nghẹn ngào cũng khóc và lủi thủi đi về! Vừa đi qua khỏi cánh đồng khô mông quạnh rất xa xóm Sen, nhìn lại ngôi nhà tranh đã lẫn khuất dưới hàng tre, thì cơn mưa bỗng chốc ùn ùn ào ào ập đến, tôi không thể chạy đi chỗ nào trốn đụt mưa, nên cứ thế đội mưa và sấm sét mà đi. Lòng tôi rất buồn, sợ hãi và thương các em nhỏ vô cùng, khi nghĩ tới mái nhà xiêu vẹo và ọ ẹp, nơi có sáu bảy người đang quanh năm đói khát và trốn dột, khiến tim tôi co thắt lại từng cơn đau điếng, một nỗi buồn vu vơ mà sâu thẳm đang dày vò đầy uất nghẹn về kiếp người dâng lên làm tôi nghẹn ngào.
                      Kể từ ngày gặp các em lần đầu tiên đó, và có thể là chưa có thêm lần sau, cho đến tận bây giờ tôi không còn cơ duyên gặp lại các em nhỏ ấy nữa. Sau muà hè tôi lại trở về Đà Lạt, các em nhỏ, gió bão và cây cầu khỉ… đến một lúc nào đó sẽ cuốn trôi hết mọi ý niệm về không gian, thời gian, cuộc sống. Nhưng tình cảm chị dành cho các em mãi mãi không tàn phai.
                      ***
                      Cho đến sáu năm sau, kể từ ngày run rẩy lo sợ bò bò trên cây cầu khỉ đầy mưa gió và sấm sét... tôi sửng sốt kinh ngạc và rất vui mừng khi nhận ra em Hoa tóc quăn ngoan hiền dễ mến dạo nọ, và Liên (bạn của Hoa) hai cô gái đẹp dịu dàng đoan trang đang ngồi trong phòng khách nhà tôi ở Đà Lạt. Hai chị em dường như không hẹn mà đồng loạt mừng rỡ hét to, cùng xộc tới ôm chầm lấy nhau, hôn chùn chụt, mắt mờ lệ vừa khóc vừa cười, cả hai người lôi nhau vô phòng riêng tíu tít rôm rả chuyện trò huyên thuyên. Một lúc sau Hoa lật đật chạy ra phòng khách lấy bóp móc xấp tiền để biếu ôn mệ (ba má cuả tôi). Hoa soạn ra nhiều vải vóc em đã mua tặng: các anh, chị. Riêng anh Dzoãn, Hoa tặng một cái cassette màu đỏ nhỏ xíu bằng hộp bánh bít quy, loại máy thu có cuộn băng nhựa ở hai đầu, lúc nầy ở Việt Nam đang thịnh hành, và là sản phẩm Mỹ quý hiếm vừa nhập vô Việt Nam.

                      Cả nhà tôi cùng hai em Hoa, Liên, quây quần bên mâm cơm nóng sốt, ngon lành. Không ai nhìn vào Hoa, Liên, mà biết họ có một thời hèn mọn xa xưa. Họ diện nhiều bộ áo quần đẹp rất sang, sành điệu. Tiền bạc em tôi chi tiêu đúng nơi vừa chỗ. Đời em tôi đau khổ quá. Năm 1966, em chính thức từ bỏ tên Chắt, đổi tên Hoa thành tên: Trương Thị Thu Huyền. Em đã xin vô làm thư ký đánh máy tại Bộ Tư Lệnh của Thuỷ Quân Lục Chiến "3rd Maf Marine Co Head Quarters" trực thuộc Sư Đoàn 2 ở Đà Nẵng.

                      Em lên Đà Lạt trước là thăm ôn mẹ, các anh chị, các cháu, sau là em hỏi ý kiến ôn mệ, anh, chị về việc em xin phép xuất ngoại đi Mỹ, em lên đường biệt xứ để lấy chồng. Có lần ngồi trên đồi cù Hoa đã nói với chị:
                      - Chị ơi! Em ít khi tin vào duyên số, nhưng có lẽ bây giờ em đành chấp nhận, chịu thua. Chị à.
                      - Ừa. Chắc là em không muốn:
                      Còn duyên đỏng đảnh lấy chồng.
                      Hết duyên ngồi gốc cây hồng nhặt hoa
                      Hoặc là: Còn duyên kẻ đón người đưa
                      Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng. Đời người con gái chỉ “xôn xao” có một thời xuân trẻ. Hạnh phúc không chỉ tạo ra ở một phía, nếu mình cảm thấy con đường nầy chưa hẳn không có hạnh phúc, thì Hoa sẽ không đi, bởi vì hạnh phúc chưa hẳn do người khác đem lại, mà do cả hai quyết định ân cần tìm về. Đi là xa, là cách biệt nghìn trùng, biết khi nào gặp lại? Hay chẳng bao giờ! Nhưng em đi là phải Hoa ơi. Nước Mỹ là vùng đất phì nhiêu, đầy mỏ vàng và kim cương, không dễ gì có người được diễm phúc hân hoan ung dung ra đi từ nước nhược tiểu, mà người ấy không có trình độ học vấn, không có “vai vế” hoặc giàu có đâu. Cũng có gia đình cho dù giàu xụ, chưa chắc con của họ có đủ điều kiện khi đứa con ấy không học hành ưu tú, nếu cha mẹ giàu không lo lót chạy chọt cho con được du học, để hội nhập vào một xã hội thượng thặng nhất thế giới. Xin cho em giữ mãi niềm vui nha em.
                      - Dạ vâng.
                      Bây chừ em đang ở bên chị, tâm hồn Hoa lâng lâng khó tả, thì giờ hạn hẹp ngắn ngủi, mà tình cảm quá bao la, những giây phút bên cạnh chị, Hoa nghĩ em là bé Hoa chín mười tuổi thôi. Rồi Hoa chợt buồn trong giây lát, vì đời ngắn quá, mà kỷ niệm đong đầy, dài lê thê đương luẩn quẩn đâu đây. Hoa úp mặt vô cánh tay chị, ngậm ngùi nói:
                      - Nếu ra phố, chị thấy đứa bé nào trạc tuổi như em thuở nọ, chị chỉ cho em thấy: ngày ấy em ra sao, mà được ôn mệ, chị, anh Dzoãn, và cả nhà thương em như vậy nghen. Chứ một đứa nhỏ tôi tớ ở đợ tầm thường như em, thì làm sao được diễm phúc thế hở chị?

                      Cũng trong đêm Noel đầy thi vị ấy, nằm bên cạnh chị như ngày xưa còn ở Mỹ Chánh, Hoa mơ thấy sợi dây chuyền có cây thánh giá nơi cổ em rớt xuống trên đồi sim, nơi mà ngày ấy chị vẫy tay chào em, để chị lên xe vào Đà Lạt đi học. Trong cơn mơ Hoa cúi xuống nhặt sợi dây chuyền lên, Hoa tần ngần đứng nhìn xuống căn nhà của ôn mệ đã ở xưa kia, thì Hoa không thấy nhà cửa chi hết, mà chỉ thấy đồi cỏ tranh xào xạc reo trong gió sớm, có ánh bình minh rực rỡ xuyên qua từng hàng dừa, hàng cau đan quyện vào nhau, ánh sáng đầu ngày rọi xuống khu rừng núi xanh biếc, có dòng suối lóng lánh đang duỗi mình trên nương khoai, cảnh vườm ươm cây đẹp mờ mờ ảo ảo như một bức tranh địa đàng. Sáng ra vừa thức dậy, nghe Hoa kể chuyện em mơ. Chị nói:
                      - Tuy ôn mệ đau khổ đời nầy, (vác tháng giá) nhưng lương thiện và đầy ắp tình người, thì đời sau sẽ được về Thiên Đàng. Em cũng sẽ như vậy thôi.
                      Điều nầy không làm Hoa ngạc nhiên, Hoa biết chắc chắn đúng, vì ông mệ ở trong con bao giờ cũng như vị thánh. Hai cô bé Thu Huyền Hoa và Liên từ giã đại gia đình tôi, họ lên máy bay từ phi trường Liên Khương (Đà Lạt) trở về Đà Nẵng. Thân nhỏ nhắn trẻ trung xinh đẹp mảnh mai và chính chắn trước tuổi, em ấy mang trọng trách nặng trĩu trên vai oằn xuống, run rẩy từng bước thấp, bước cao, bước dài bước ngắn... để ra đi làm lụng vất vả bất cứ làm công việc gì, ngỏ hầu có tiền phụ trợ cha mạ nuôi đàn em nhỏ. Nhưng em Hoa đầy uy quyền, chững chạc, để có thể quyết định vận mệnh đời em, khiến tim tôi lỗi nhịp liên hồi rung vang âm vọng bồi hồi thấp cao, xen lẫn mến phục và bối rối triền miên.
                      ***

                      Tình Hoài Hương
                      Last edited by Tinh Hoai Huong; 08-24-2018, 12:58 AM. Lý do: Si~ Phú hat per AUU request
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment

                      • Tinh Hoai Huong
                        Senior Member
                        • May 2009
                        • 1081

                        #146
                        Cảm tưởng về bài: "Sự Thật Đời Tôi" của Tướng Trần Văn Minh...



                        Trung Tướng Không Quân Trần Văn Minh

                        Trích dẫn: “Sự Thật Đời Tôi” của Trung Tướng Không Quân TRẦN VĂN MINH


                        … & V.V…

                        Câu trả lời cho thảm kịch thất trận của miền Nam Việt Nam thật đơn giản. Nó có thể tóm gọn với hai chữ “không đủ”. Chúng tôi không có đủ tiếp liệu trong những tuần cuối cùng của cuộc chiến. Và chúng tôi không có đủ lính. Chỉ có thế. Đó là toàn bộ vấn đề. Không đủ. … & V.V…

                        Vấn đề sinh tử là chúng tôi không còn cơ phận và cũng không có nhiên liệu. Chúng tôi bị thiếu hụt nhiên liệu trong những ngày cuối cuộc chiến. Vì vậy mà chúng tôi không thể cất cánh. Không lực chúng tôi bị nằm ụ dưới đất. Thế mà người Mỹ, có computer với đầy đủ dữ kiện. Họ nói rằng chúng tôi có đủ. Họ cả quyết là chúng tôi có đủ nhiên liệu và đồ phụ tùng. Họ cả quyết trên cơ sở chính trị. Họ không cả quyết trên cơ sở thực tế.
                        Tất cả những gì chúng tôi cần đến là Tiếp Vận. Có tiếp liệu mới đánh đấm được. Khi mà hàng tiếp liệu không được chuyển giao, thì tinh thần chiến đấu của sĩ quan và binh lính chúng tôi sẽ xuống thấp. Ai cũng thấy là đồ tiếp liệu đang cạn kiệt. Họ biết chúng tôi sẽ hết sạch. Và khi họ thấy như vậy, họ sẽ biết là chúng tôi đang bị đồng minh thân thiết bỏ rơi. Và rồi họ sẽ mất sạch tinh thần chiến đấu. Tôi chưa bao giờ nghĩ là đồng minh sẽ lừa dối và bỏ rơi chúng tôi.


                        Tôi nghĩ đến Bá Linh và Đại Hàn khi nghĩ đến các giải pháp của người Mỹ. Và tôi thấy người Mỹ đã bảo vệ họ. Tôi nghĩ là chúng tôi, là tiền đồn của thế giới tự do, rồi cũng được bảo vệ như thế. Đại sứ Graham Martin nói đi nói lại là Mỹ sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng tôi. Ổng nói là chúng tôi nên tin như thế.
                        Những gì đã xảy ra vào phút cuối đã như một vài người Mỹ đã nói trước. Chúng tôi thua trận nhanh hơn Bắc quân có thể thắng. Đúng vậy. Tôi coi như sách lược của tổng thống Thiệu là bỏ rơi vùng cao nguyên sau khi mất Ban Mê Thuột là một chiến thuật hay. Nhưng nếu chúng ta được tiếp vận hợp lý, thì tinh thần chiến đấu của chúng ta vẫn còn, và chúng ta có thể tái phối trí quân đội để tiếp tục chiến đấu.
                        Khi tổng thống Thiệu từ chức vào ngày 21 tháng Tư, tôi đã nghĩ đó là dấu hiệu lạc quan. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ có những thỏa ước mới, những chế độ mới. Phó tổng thống Hương trở thành tổng thống. Ông là một nhà giáo lão thành đáng kính. Ông là một người trung thực. Nhưng rồi ông giao quyền tổng thống cho tướng Dương Văn Minh. Một vài người chúng tôi tin rằng tướng Minh có thể đạt được những thỏa ước hòa bình. Nhưng chúng tôi cũng nghĩ tình hình đang diễn ra là một bóng đen hắc ám. Chúng tôi tin rằng người Việt sẽ không còn tự quyết một điều gì. Bất cứ điều gì, chúng tôi tin chắc rằng, phải được quyết định sau bức màn siêu quyền lực. Người Mỹ, người Nga, người Tàu _ chúng tôi tin chắc là thế _ sẽ quyết định số phận của Việt Nam. Chúng tôi đã chờ đợi ngày này qua ngày khác mới thấy những điều họ đã âm mưu. Chúng tôi nghĩ một phần trong những âm mưu đó là người Mỹ sẽ ngưng cung cấp hàng tiếp liệu cho chúng tôi.
                        Trong những ngày cuối cùng của VNCH nhiều lần tôi đã có nói chuyện với tướng Nguyễn Cao Kỳ. Và nhiều lần ông đã yêu cầu tôi làm đảo chánh. Ông nói, “Hãy cẩn thận. Người Mỹ đang bảo vệ tổng thống Thiệu. Đừng để họ biết kế hoạch của các anh”. Rồi khi tôi gặp ổng vài ngày sau đó, ổng lại yêu cầu tôi, “Khi nào thì anh cầm đầu cuộc đảo chánh? Khi nào thì đảo chánh?” Tôi nói với ổng là tôi không muốn cầm đầu đảo chánh. Tôi hỏi ông ấy là ông có muốn đảo chánh không? Và ổng nói không, không muốn. Ông nói là ông nghĩ tôi muốn. Ổng quá cẩn thận. Ông muốn tôi cầm đầu đảo chánh để ông trở thành lãnh đạo mới của đất nước.
                        Nhưng điều mà tướng Kỳ không thể nào hiểu được là tôi và binh lính của tôi sẽ không trung thành với ai cả. Chúng tôi chỉ trung thành với Tổ Quốc. Chúng tôi trung thành với Việt Nam, Chúng tôi yêu Việt Nam. Rất nhiều người lính chúng tôi đã chết cho Việt Nam. Họ đã chiến đấu và chết không vì bất cứ ai, mà cho Việt Nam.


                        Trong một cuốn hồi ký tướng Kỳ nói là tôi đã đến nhà ổng và nói là tôi sẽ trung thành với ổng bằng bất cứ giá nào. Ông nói tôi đã nói với ổng là người của tòa Đại sứ Mỹ đang đút tiền cho tôi để thăm dò ông cho Mỹ. Không có điều nào đúng cả. Không hề có ai đưa tiền cho tôi cả _ đặc biệt là người của tòa Đại sứ Mỹ. Và tôi không hề có chuyện đàm phán nào với tướng Kỳ. Đọc nó rất buồn cười. Tại sao ổng lại bịa ra những điều này trong cuốn hồi ký? Ông moi những chuyện này ở đâu ra vậy? Có thể là ông đang nhắm tới một ai đó chớ không phải tôi. Ông không được bịa chuyện về tôi.
                        Gần trưa ngày 29 tháng Tư, tôi nhận một cuộc điện gọi từ cơ quan DAO nói rằng sẽ có một cuộc họp giữa Mỹ và các cấp chỉ huy của VNAF. Tôi qua cơ quan DAO với nhiều người nữa. Chúng tôi được đưa vào một gian phòng. Rồi người ta để chúng tôi ngồi đó một lúc lâu. Chúng tôi nghĩ Đại sứ Martin hoặc tướng Homer Smith (Tùy Viên Quân Sự) hoặc ai đó sẽ thuyết trình một kế hoạch đẩy lui Cộng quân. Nhưng chẳng có ai thuyết trình cả. Không có ai thuyết trình cho tới xế trưa. Sau khi chúng tôi đi vào khu vực cơ quan DAO thì một người lính gác đã tước vũ khí của chúng tôi. Điều này chưa bao giờ xảy ra trước đó. Rồi cuối cùng cũng có một người, mặc đồ sĩ quan, bước vào phòng và nói, “Đã kết thúc rồi, thưa tướng Minh. Một trực thăng đang đợi ngoài kia sẽ đưa ông đi”. Chúng tôi bước ra chiếc trực thăng. Nó đưa chúng tôi bay ra chiếc Blue Ridge ngoài biển Đông.
                        Một đại tá Không quân Mỹ đang ngồi trên tàu với tôi. Ông ta ngồi kế bên tôi. Ổng khóc suốt chuyến bay. Ổng không nói được. Nhưng ông ấy đã viết gì đó lên một mảnh giấy rồi đưa cho tôi. Tôi đọc, “Thưa tướng quân, tôi rất tiếc” Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy đó cho tới ngày hôm nay. Tôi sẽ giữ mảnh giấy đó suốt đời. Tôi sẽ luôn nhớ tới chuyến bay buồn thảm ra chiến hạm Blue Ridge.
                        … Nhưng từ khi đất nước tôi sụp đổ, tâm hồn tôi đã hóa ra tan nát. Trong 20 năm qua thâm tâm tôi đã cảm thấy trĩu nặng nỗi buồn đau và trống vắng. Nó vẫn không phai đi. Tôi cảm thấy nó hằng ngày. Không một ngày nào trôi qua trong đời mà tôi không nhớ về Việt Nam./.

                        Trần Văn Minh
                        Hết trích dẫn.

                        * * *

                        Cảm tưởng về bài: "Sự Thật Đời Tôi" của Tướng Trần Văn Minh,
                        (qua góc nhìn trung thực từ một Đại Úy Không Quân- Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

                        TVP (philong51).
                        do Tình Hoài Hương chuyển tiếp cùng độc giả HQPD quý trọng.
                        *


                        Thưa quý vị NT và các bạn thân kính,

                        Qua những gì mắt thấy tai nghe, tôi (philong51) xin có một vài nhận xét:

                        - Tham vọng chính trị của Tướng Trần Văn Minh ?

                        Nhân kỳ bầu cử TT "Độc Diễn" năm 1971, rất nhiều người không mấy "hài lòng", hay bất bình về sự độc tài, -sự chèn ép- không cho bất cứ ai ra tranh cử Tổng Thống- của ông Thiệu.
                        Vào cuối tháng 8 năm 1971, cùng ba vị niên trưởng của PĐ 530, tôi nhận 1 Sự Vụ Lệnh ghi rằng:
                        - Thừa khẩu lịnh của Trung Tướng TLKQ về trình diện ông gấp.
                        Tại văn phòng BTL Tướng Minh thẳng thắn nói với chúng tôi chỉ có một câu:
                        - "ĐM. Mấy vụ nầy tao không có biết nha. Tụi bây qua trình diện cụ Phó (Tướng Kỳ).
                        {(Xin lỗi chị THH, Tướng Minh có nickname “Minh Đù” ; vì mỗi câu nói ông thường dùng tiếng Đức, hoặc tiếng “Đan Mạch” ở mỗi đầu câu)} .

                        - Về vũ khí ?
                        Ngay sau khi 2 PĐ A-1 được bay lại, cùng với 11 anh em PĐ 518 ; tôi biệt phái Cần Thơ nửa tháng. Khi trở lại BH xế chiều ngày 19/4/1975, trong phi vụ thứ nhì, tôi than phiền về việc trang bị bom đạn trên phi cơ, các anh em bên Vũ Khí Đạn Dược cho biết:
                        - Mình gần hết bom rồi. Chỉ còn 1 loại bom MK-81 (250 lbs) nhỏ nhất nầy mà thôi.

                        - Chúng tôi biết chả có ông pilot nào ưa thích cả. Nếu như ông tìm được 1 trái bom nào lớn hơn như 500, 750 hay 1.000 lbs từ các kho bom BH, Long Bình, Gò Vấp, hay Thành Tuy Hạ, chúng tôi xin tự chặt hai bàn tay.

                        Thêm vào đó có sự giúp vốn của Tg TLQĐ III. Số là chiều ngày 19/4/1975, Tướng Huỳnh Bá Tính SĐT SĐ3KQ ra lịnh cho tôi và Đ/uý Đào Công Quận đem 2 phi tuần, gồm: 4 chiếc A-1 về TSN, và tạm thời ngủ nhờ ở BĐ F-5.
                        Ngay đêm đó phi trường BH bị pháo, dù rất mệt mỏi vì đã bay hơn 6 tiếng đồng hồ trong 2 phi vụ trước, Tr/uý Nguyễn Văn Chuyên cùng tôi cất cánh khẩn cấp, với niềm hy vọng giải vây phi trường BH. Mặc dù chúng tôi thấy rất rõ vị trí đặt đại bác 130 ly ở phía Bắc Tân Uyên - đang câu vào phi trường BH. Nhưng Tg TLQĐ III thân yêu của chúng tôi ngăn cản; không cho chúng tôi thả bom với luận điệu cố hữu:
                        - Toạ độ đó là nơi đóng quân của quân bạn.

                        Giống như vào tháng 7 hay 8 năm 1972, ông đã từng dùng thủ đoạn nầy để mượn tay VC tiêu diệt KĐ 72CT. May nhờ hồn thiêng sông núi che chở, nên Căn cứ Pleiku không bị thiệt hại nhiều (nhân chứng còn sống: Đ/Tá Nguyễn Văn Bá cựu KĐT KĐ 72CT, SĐ II KQ).

                        Cũng vì biết số bom đạn cạn dần, sau khi hỏi ý kiến của anh Chuyên bay chiếc số 2, chúng tôi lần lượt đáp TSN an toàn với bom đạn lúc 4 giờ sáng ngày 20/4/1975 ; và 8 giờ tối ngày 28/4/1975 : sau khi thi hành phi vụ hộ tống đoàn Vũ Khí & Đạn Dược của Tr/tá Phan Văn Mạnh an toàn về Sài Gòn, Tr/uý Nguyễn Thanh Bá cùng tôi đáp với bom đạn ở TSN (vị chi chúng tôi đã save 40 trái bom).

                        Sáng ngày 20/4/1975, chúng tôi hay tin 1 kho bom ở BH bị trúng pháo và thành bình địa. Vì vậy chúng tôi phải di tản về TSN từ ngày 21/4/1975.
                        - Sáng sớm ngày 29/4/75 tôi không biết Tướng Minh có theo dõi trên tần số Hành Quân (Paris) hay không ? Chỉ có những người nghe trên tần số nầy mới biết được: mục tiêu mà anh Phùng và chiếc Tinh Long 07 oanh kích bằng đại bác 20 ly 6 nòng; chỉ là Tr/uý Thành nghi ngờ năm ba tên VC "định" cắt hàng rào kẻm gai mà thôi.
                        Ngoài ra tất cả mọi người đều nghĩ rằng: VC đang tấn công vào TSN, như kỳ Mậu Thân. Nhất là sau khi chiếc TL-07 bị trúng SA-7 và cắm xuống đất trong vòng rào phòng thủ, thì hầu như mọi người trong TSN đều hoảng loạn, chừng mươi lăm phút sau các phi cơ F-5, C-130, C-119, C47 v.v... lần lượt cất cánh bay đi.

                        - Trước đây một người bạn cho tin sáng ngày 29/4/1975 anh thấy Tướng Minh rời BTLKQ với vẽ khác thường, và anh nghi ngờ ông Tướng bị ai uy hiếp? Thêm vào đó Tướng Minh quên cả việc Đ/Tá Hoàng Thanh Nhã, cựu KĐT KĐ 23 CT đang chờ chỉ thị của ông ở ngoài phòng khách. (lời Đ/Tá Nhã nói với tôi chiều ngày 29/4/1975 tại Utapao).

                        Sau khi đọc bài của Tướng Minh, tôi mới hiểu được Tướng Minh bị người ta "lừa" và buộc ông phải rời "Command Post" của ông (BTLKQ ). Thêm vào đó, người ta còn tung tin thất thiệt, láo phét, nào là: Hai phi đạo bị hư hại nặng nề, xác chết đầy taxiways v.v...

                        Trước đó ông không hề ra bất cứ 1 lịnh lạc nào cả. Hoàn toàn không đúng như tên phóng viên kiêm sử gia vô liêm sĩ, bẻ cong ngòi bút người Tây mang tên Todd Olivier trong quyển sách "Tháng Tư Nghiệt Ngã" đã viết:

                        - “Tướng Minh đã ra lịnh tất cả phi cơ cất cánh”.

                        Cũng như xuyên tạc sự thật về phi vụ chống pháo kích của tôi sáng sớm ngày 29/4/1975, nhất là nhục mạ anh linh của các vị anh hùng vị quốc vong thân: Th/tá Trương Phùng, cùng Trưởng Phi Cơ của chiếc Tinh Long 07, Tr/uý Trang Văn Thành cùng PHĐ :


                        Trích dẫn dưới đây:

                        THÁNG TƯ NGHIỆT NGÃ (Olivier Todd - Dương Hiếu Nghĩa dịch):

                        Chương 16... 23 / Trích: “Ngày 29 tháng 4 1975 :


                        Vào lúc 4 giờ chiều (hay 4 giờ khuya ??? PL51) pháo binh Bắc Việt càng bắn càng chính xác, tác xạ tập trung phần lớn vào các đường bay của phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Miền Nam Việt Nam và Bộ Tư Lệnh Hải Quân . Ở phi trường thì các kho xăng kho đạn, xe vận tải, xe nhỏ quân sự hay dân sự bị trúng đạn đang bốc cháy khắp nơi. Bộ binh Bắc Việt không thể ở quá xa vì các quả đạn bách kích pháo và những hỏa tiễn phát nổ với ngọn lửa còn đỏ, và xanh lục. Có hai Thủy Quân Lục Chiến là Charlie McMahon và Darwin Judge bị tử thương ở vòng đai phòng thủ. Tướng Homer Smith và những sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ bị hất tung lên khỏi giường ngủ. Có một số người trong số 1500 người Việt tỵ nạn đang ở trong nhà thể thao, đã bị thương. Một chiếc vận tải cơ C.130 bị trúng đạn khi vừa đáp xuống sân bay.

                        Trời sáng dần… Các phi công của những phi cơ F.5 và A.37 cuối cùng cất cánh lên được và bay đi luôn không trở lại. Các phi công nầy giống như những phi công còn muốn chiến đấu đều không điều động được phi cơ vì vướng hằng trăm binh sĩ Miền Nam đang nằm rải rác khắp các đường bay. Nhân viên của trạm kiểm soát không lưu không thể làm việc được . Một phi công của chiếc AC.119 đặc biệt bướng bỉnh vì không đúng nhiệm vụ mà cứ cất cánh bay lên đánh vào các vị trí cộng sản mà anh thấy rõ chung quanh Sài Gòn, trở lại lấy thêm bom đạn, bay lên nữa, và đến 6 giờ 46 thì anh bị một hỏa tiễn SA.7 bắn rơi . … …

                        Tướng Nguyễn cao Kỳ lái chiếc trực thăng của ông ta lên, bay chung quanh Sài Gòn, ông thấy một pháo đội Bắc Việt đang tác xạ, mỗi phút một phát. Ông bắt liên lạc được với một đội Skyriders đang bay từ Cần Thơ về :
                        - “Đây Nguyễn cao Kỳ đây, phải tiêu diệt các pháo đội địch nầy.
                        - Nhận rõ, nhưng tôi chỉ còn có một quả bom, sĩ quan chỉ huy trả lời.
                        Đúng là giờ đã điểm, đối với những chiến trận danh dự không đáng kể !
                        5 giờ 45 giờ Sài Gòn:
                        Ông Martin đến tòa đại sứ . Lệnh cuối cùng của Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam :Tất cả các phi cơ còn trong tình trạng khiển dụng đều phải rời khỏi lãnh thổ Miền Nam Việt Nam “.
                        (Hết trích)

                        https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/03/06/cruelavril4/6/
                        ***

                        Vì công đạo, vì sự thật của lịch sử, xin mọi người cùng tôi lên án tên phóng viên vô liêm sĩ đã bẻ cong ngòi bút, miệt thị KLVNCH nói riêng và QLVNCH nói chung.

                        Kính.
                        Philong51
                        Tháng 12 năm 2014
                        Last edited by Tinh Hoai Huong; 12-20-2014, 07:11 PM.
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment

                        • Tinh Hoai Huong
                          Senior Member
                          • May 2009
                          • 1081

                          #147
                          Lòng Nhân Ái của Người Xa Lạ



                          Lòng Nhân Ái của Một Người Xa Lạ


                          Tờ mờ sáng Thứ Hai, khi bình minh vừa ló dạng trên những đọt cau, đọt dừa cao vút, cây cối hàng hàng lớp lớp in bóng xuống mặt nước sông Hàn loang loáng ánh bạc lấp lánh ngấn thủy tinh, và phẳng như phiên gương trong suốt. Nhờ ánh mặt trời rạng ngời chan hòa tưới bao tia nắng ấm áp đầu ngày, mà thành phố Đà Nẵng rực rỡ ánh hào quang. Những tiệm cà phê nổi tiếng ở thành phố ngái ngủ ẩn hiện trong làn sương mai mờ đục càng thêm sinh động. Từ lá dừa rũ bóng ven phố thị có nhiều ngấn nước sương khuya còn đọng hôm trước đang long lanh dưới ánh mặt trời, thỉnh thoảng giọt sương từ mái hiên tí tách rơi xuống ven lề đại lộ Bạch Đằng. Hàng phượng vỹ chúm chím e lệ đung đưa soi bóng ven sông, gió hiu hiu thổi những chiếc ghe thuyền thong thả lắc lư, quay lui quay tới bởi sợi dây dừa to tướng còn buộc chặt ở cọc cắm.

                          Một ngày nữa bừng sống khi chim chóc líu lo chuyền cành hòa ái hót vang, vạn vật reo vui đón chào ngày mới. Giống như lòng Hoa đang tưng bừng mở hội hoan-ca, pha chút lo lắng cuống quít, nàng đi ra đi vô, bồn chồn, lo âu, mất ăn mất ngủ suốt ba ngày băn khoăn xiết bao, vì Hoa đã được hãng IRO chính thức công nhận cho đi làm trong sở Mỹ. Thế là may mắn hạnh phúc rồi, từ bây giờ có lẽ đời mình sẽ sung sướng lên hương! Mặc dù Hoa không được tuyển chọn làm ở ngành thư ký đánh máy tốc hành trong sở Mỹ (như ước nguyện ban đầu). Tuy Hoa có buồn phiền, do mọi chuyện không suông sẻ và như ý. Nhưng hề gì, lỗi do tự mình quá tệ, rất dở, thì thi vô thư ký đánh máy tốc hành: lẽ dĩ nhiên không đậu, là phải! “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, chớ than van phàn nàn hờn giận ai! rồi mọi việc từ từ có kinh nghiệm, thì sẽ ổn thôi.

                          Hoa đến một phòng riêng biệt vừa đủ rộng quét vôi trắng có nhạc hòa tấu văng vẳng. Trên tường treo bức ảnh Đệ Thất Hạm Đội, trên hình ở boon tàu có nhiều phi cơ và binh lính Hải-quân. Đối diện với bức ảnh nầy là hình tòa Bạch Ốc. Góc trái căn phòng là một bản đồ nước Việt Nam rất to, những hàng ghế nệm cùng những chiếc bàn dài, nơi đây thỉnh thoảng dùng để hội họp. Ngoài bộ sofa bọc da màu đen đặt ở phía phải trong phòng, còn có bộ ghế da nhỏ, trên bàn lót đá đã sắp sẵn: dao, nĩa, muỗng, khăn… chỉ cho một người dùng. Nơi nầy biệt lập, khác hẳn với câu lạc bộ kế sát bên vách tường, thì nơi đó vào những giờ ăn trưa, tối… có rất nhiều sĩ quan Mỹ ra vô huyên náo ồn ào hơn.

                          Với vóc dáng thon thả, tính nết đoan trang, đi đứng đàng hoàng, Hoa đã được ban điều hành phân phối cho vô làm ở trong Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn Hai đóng tại Đà Nẵng, gần bến phà sông Bạch Đằng ở bên Sơn Trà. Có lẽ do “người ngợm” Hoa có chút sạch sẽ, quá trẻ, ăn mặc lịch sự thanh nhã không lòe loẹt, tươm tất, và dĩ nhiên Hoa có tí xíu nhan sắc mỹ miều (so với bạn trang lứa cùng vô làm tại đây), nên Hoa được ban điều hành huấn luyện kỹ càng, nghĩa là cho Hoa ưu tiên phục vụ duy nhất một Ngài trong Navy mà thôi, Hoa làm việc rất ung dung nhàn hạ: Phải! Mỗi ngày ba buổi: buổi sáng ông ấy dùng điểm tâm, buổi trưa, tối… thì đúng giờ ấn định: Từ nhà bếp, Hoa cẩn thận khệ nệ bưng một cái khay bạc hình chữ nhật: gồm có chén xúp, hai dĩa thức ăn đổi món mỗi ngày (loại dĩa trung, vừa phải). Lần sau cùng Hoa bưng dĩa bánh ngọt nhỏ, (hoặc trái cây: chuối, nho, táo tươi ướp lạnh) và một ly rượu nhẹ. Sau đó Hoa xuống đứng ở cuối góc phòng gần viên Trung-sĩ trực người Mỹ.

                          Ba người ở trong căn phòng không ai nói với ai lời nào. Hoa biết ông là sĩ quan, vì mỗi khi ông vô phòng thì viên Trung-sĩ Mỹ kính cẩn nghiêm chào, nhưng Hoa chẳng biết ông ta là quan tướng to, nhỏ, bé hay bự cỡ nào. Vã chăng, lon lá mề đay huy chương ở bên Navy chi chít phức tạp, Hoa có cần lưu ý làm gì. Nhất là vốn liếng Anh-văn của mình chưa đạt tới lĩnh vực hiểu biết sâu rộng, thông thạo, có thể diễn tả cho ông thấu hiểu, nên “ông già ấy” cần có một người thông dịch đứng cạnh bên Hoa để hướng dẫn, thay đổi khẩu vị nếu ông ấy muốn chăng!? Chờ ông từ tốn điềm đạm ăn uống xong, Hoa dọn thức ăn xuống bếp, rồi trở lên lau bàn ghế sạch sẽ (“chức vụ”: bưng ly, chén, dĩa, vân vân… sửa bàn ghế ngay ngắn, lau dọn và hầu tiếp thấp hèn khiêm tốn nầy, cũng giống như cuộc đời bé Hoa lọ lem thuở xưa đi ở giữ em bé ấy mà. Tuy có khác hơn ngày xưa Hoa phải ẵm em, cho em ăn, uống; thì ngày nay Hoa chỉ vỏn vẹn lo cho “ngài quan tướng” ăn uống, mà không kiêm thêm chức “bồng ẵm”. Ha ha ha!). Từng ấy việc! thế là xong béng, hết bổn phận trong một ngày làm việc, Hoa lui xuống nơi cuối góc phòng nhân viên uể oải mở tự điển, hoặc tập vở ghi chép linh tinh để học thêm tiếng Anh, ví dụ như:
                          SENTENCE có nghĩa là câu
                          LESSON bài học, RAINBOW cầu vồng
                          HUSBAND là đức ông chồng
                          DADDY cha bố, PLEASE DON’ T xin đừng

                          DARLING tiếng gọi em cưng
                          MERRY vui thích, cái sừng là HORN
                          Rách rồi xài đỡ chữ torn
                          TO SING là hát, A SONG một bài

                          Nói sai sự thật TO LIE
                          Go đi, come đến, một vài là SOME
                          Đứng STAND, LOOK ngó, LIE nằm
                          FIVE năm, FOUR bốn, HOLD cầm, PLAY chơi

                          ONE LIFE là một cuộc đời
                          HAPPY sung sướng, LAUGH cười, CRY kêu
                          LOVER tạm dịch người yêu
                          CHARMING duyên dáng, mỹ miều GRACEFUL - vân vân. . . (sưu tầm)

                          Công việc “bồi bàn hầu tiếp Ngài” thật ra quá rảnh rang, nhàn hạ, không có gì vất vả, mệt nhọc; nhưng Hoa cảm thấy chán nãn và buồn bã ngán ngẫm sao đâu. (Do sự vắng lặng, im ắng triền miên đến độ ghê rợn trong căn phòng trống vắng lạnh lẽo nầy). Ngày ngày Hoa phải câm nín im ru đối diện và nhìn một “cụ ông” lạnh lùng, cô đơn, đăm chiêu bâng khuâng ngồi đọc tờ báo, nhất là vào mỗi tối ông khoan thai điềm đạm từ tốn ăn uống. Thấy thảm, Hoa động lòng thương! Hoa thương vì nghĩ rằng “cụ” cô độc đang bị bạc đãi trong tuổi chiều tà xế bóng. Hoa không hiểu tại sao ông ấy chỉ thui thủi một mình, chẳng có bạn!? Có phải vì vẻ mặt ông lạnh lùng, khó đăm đăm, khép kín do đời đã tạo ra ông là “nhân tài cô độc”, nhưng cũng có thể ông là thiên tài do bẩm sinh mà chói lọi trên đường binh nghiệp quang vinh!? Thì đó, cứ nhìn rất nhiều mề đay lủng lẳng đếm không xuể trên ngực ngài, thì rõ! nên ông câm nín không thể hòa đồng với anh em Navy hiền hòa vui vẻ hồn nhiên ở ngoài kia?
                          Mỗi tối từ trong chiếc máy Akai ở góc phòng cũng phát ra bản nhạc mở đầu bữa ăn của: Phil Collins:
                          So take a look at me now,
                          'cos there's just an empty space
                          And there's nothing left here to remind me,
                          just the memory of your face
                          Take a look at me now,
                          'cos there's just an empty space
                          And you coming back to me
                          is against all odds and that's what I've got to face …

                          Phần buồn khác nữa là Hoa thật sự thích nghề thư ký đánh máy, mỗi khi ngồi trên ghế, trước mặt là cái máy đánh chữ to tướng, Hoa ung dung giơ mười ngón tay bé xíu nhịp nhàng ấn lên, gõ lên từng phím chữ. Hoa nghe con chữ tưng bừng nhảy lóc cóc, như lời ca reo vui tình tự. Một món vật vô tri vô giác mà âm thầm thực dụng, hữu sự, đắc lực giúp ích cho đời. Đôi khi nếu Hoa đánh máy sai, Hoa nghĩ có lẽ những tiếng lách cách ấy khiến máy móc cũng biết mệt, dường như con chữ làm biếng, muốn làm eo, nũng nịu, dỗi hờn, nó muốn Hoa phải ứa những giọt nước mắt ra mà năn nỉ dỗ dành! Tức thì có tức thiệt nhưng thú vị dường bao nghề thư ký đánh máy trong mơ. Nhưng bây giờ Hoa đành làm nghề “bồi nhí” lau bàn, thiệt là vỡ mộng!

                          Một hôm, Hoa vẫn vui vẻ chào “ông già” như mọi lần khi bưng thức ăn từ dưới bếp lên, Hoa đặt từng món lên bàn xong, ông chỉ gật đầu không mỉm cười chào mình như mọi ngày. Hoa nhìn thấy ông trầm lặng, ưu tư, mệt mỏi, uể oải nhẫn nha ngồi đó, và nàng nghe ông húng hắng ho lên từng cơn dài. Hoa nghĩ: “có lẽ ông già bị cảm cúm chi đây rồi”.
                          Bỗng nhiên Hoa cúi xuống bên ông thì-thào:
                          - I help you.
                          Chưa hiểu ý Hoa muốn nói chuyện gì, ông ấy có chút ngạc nhiên ngẩn lên lim dim nhìn nàng, dường như dò hỏi. Khi vừa dứt câu, không chờ ông đồng ý, Hoa lanh lẹ bước lui ra sau vỗ nhè nhẹ lên lưng ông, rồi dùng hai bàn tay nhỏ nhắn Hoa xòe ra xoa xoa, bóp bóp nhè nhẹ sau lưng ông nhiều lần. Khi bàn tay Hoa xoa lên lưng sau lớp áo quân-nhân dày, Hoa cảm thấy lưng ông già đã khá ấm. Tiện thể và bất chợt dường như không hề ngụ ý, Hoa đưa bàn tay thoa thoa lên mái đầu lơ thơ tóc của ông ta. Lập tức viên Trung-sĩ người Mỹ vội vàng bước nhanh mấy bước tới sau lưng hai người, anh ấy khều nhẹ vô cánh tay Hoa, và đặt ngón tay trỏ lên môi tỏ ý cho Hoa hiểu im lặng, và anh ra dấu cho Hoa cùng anh bước lùi lại phía sau góc phòng xa xa, viên Trung-sĩ người Mỹ nói nhỏ:
                          - Cô không thể.
                          - Tại sao?
                          - Lẽ ra tôi hỏi: Tại sao cô dám làm chuyện như thế, mới phải.
                          - Xin lỗi. Nhưng… do tôi thấy ông ta cô độc, già nua, tôi thương như ông nội của tôi, nên có chút thân thiện.
                          - Muốn thân thiện cũng không có quyền hổn láo.
                          - Tôi quá đáng sao?
                          - Cô có biết ông ấy là ai không hở.
                          - Tôi không hiểu anh muốn nói với tôi điều đó, để làm gì?
                          - Ông ấy là Commander-in-Chief.

                          Do trình độ sinh ngữ của Hoa chỉ ở mức độ “bình dân giáo dục”, nên không thể hiểu được viên Trung-sĩ trẻ muốn nói gì, nhưng Hoa suy nghĩ: chắc có lẽ ông là một vị quan to chức trọng từ chữ “Chief”, thì sẽ có quyền thế. Không để cho viên Trung-sĩ trực phòng kịp phản ứng, Hoa lật đật chạy tới bên ông, Hoa quỳ gối xuống nền nhà, mặt Hoa úp lên hai bàn tay của mình, và gục đầu lên đùi ông, Hoa khóc nấc từng cơn nức nở:
                          - Chief Sr, I want half work and half go to shool.
                          Ông ta buông tờ báo xuống bàn, điềm đạm quay xuống hỏi viên Trung-sĩ Mỹ trẻ:
                          - Chuyện gì thế?
                          - Tôi không thể hiểu tại sao cô ta khóc, thưa ngài.
                          - Này cô bé, hãy bình tĩnh đứng dậy. Phần anh, tôi muốn anh tìm cho tôi một thông dịch viên.
                          - Vâng, thưa ngài.

                          Khoảng mười lăm phút sau viên Trung-sĩ Mỹ dẫn một quân nhân Việt Nam đến. Sau những thủ tục chào hỏi ông ấy theo nghi lễ quân cách, anh Tâm đứng nghiêm lắng nghe ông ấy nói. Rồi anh quay lại phía Hoa đang đứng khoanh tay chờ:
                          - Bây giờ tôi sẽ dịch lại những câu đối thoại của ngài ấy và cô. Ngài ấy hỏi cô: Tại sao cô khóc!?
                          - Dạ, thưa anh cho tôi được phép hỏi ông già nầy là ai.
                          - Ông là đề đốc, là vị tướng Mỹ trông coi cơ quan MACV (Military Assistance Command in VietNam).
                          - Tướng hả anh.
                          - Phải.

                          Lòng Hoa mừng vui khôn tả, nghĩ rằng: mình sẽ có cơ hội bày tỏ nỗi niềm của một người con gái nghèo hèn muốn vươn lên. Hoa gặp “lão tướng” mấy tháng nay mà không hề biết, cứ tưởng ông già lụ khụ, lù đù, khù khờ… chỉ là cha của một anh sĩ quan nào đó, ông tới thăm con trai đang tham chiến tại Việt Nam). Nào ngờ… Quả thật bất ngờ! như thế là mình sẽ nắm được vận may rồi. Hoa liền nói một hơi:
                          - Nhờ anh vui lòng dịch lại lời khẩn khoản cầu xin của tôi với Chief; tôi rất cám ơn anh: Dạ thưa ông, cháu rất xin lỗi về việc hổn láo dám xoa đầu ông, vì cháu nghĩ: ông bị đau mà sống cô độc, ông không có gia đình và bạn. Mỗi ngày cháu nhìn thấy ông, cháu thương ông, giống như cháu thương ông bà nội của cháu.
                          Ngài ấy trầm tư nhìn Hoa đứng vòng hai tay, ông nhích mép vui vẻ mỉm cười:
                          - Không có chi.
                          - Thưa ông, việc dọn bàn ăn lau ghế như thế nầy, không phải là nghề của cháu ở đây.
                          - Vậy sao?
                          - Dạ… thưa ông, trước khi vô làm ở đây, cháu đã học nghề thư ký đánh máy, nhưng do cháu dốt học không khá, nên tạm thời họ cho cháu vô làm “bồi bàn”. Nếu làm bồi bàn thì cháu không thể, xin ông cho cháu đi làm nửa buổi, còn nửa buổi ông cho cháu đi học đánh máy mà cần có tiền lương. Vì gia đình cháu cha mạ đông con và nghèo lắm, cháu cần nuôi mạ và các em ạ. Cháu rất cám ơn ông.

                          Ông tướng gật gù ngúc đầu, đôi mắt “diều hâu” sắc bén nhìn Hoa đăm đăm, dường như xoi mói tận tim gan mình mà lặng thinh dò xét, ông “hứ” một tiếng rất to. Thôi hỏng rồi! Thật kinh khủng. Hoa ái ngại cúi gầm đầu, tim Hoa đau nhói vì cảm thấy tủi hổ, hối hận đã lỡ dại vội vàng than van thân phận mình với người lạ quá lạnh lùng! Các cơ mô giật thót lên từng chặp, dường như Hoa nghẹt thở, tim muốn ngừng đập, đôi chân Hoa run run, hai đầu gối lập cập va vào nhau, toàn thân Hoa đã mảnh mai nay do chấn động từ chữ “hứ” lạnh lùng mà hầu như Hoa rệu xuống. Thế nhưng trước khi hoàn toàn tuyệt vọng, Hoa quệt nước mắt vô ống tay áo, nói to một lần nữa trong cơn tuyệt vọng:
                          - Xin ông cho cháu đi học nghề, mà vẫn có tiền lương, để cháu nuôi cha mạ và các em của cháu.

                          “Ngài lão tướng” có đôi mắt diều hâu sáng quắc, vầng trán cao rộng xây qua giơ ngón tay trỏ ngửa ra để ngoắc Trung-sĩ Mỹ và mỉm cười. Họ trao đổi với nhau một hồi ngắn, rồi viên tướng sai Trung-sĩ Mỹ gọi phone đi đâu đó một lúc lâu. Hai khóe mắt lóng lánh giọt nước mắt sắp trào ra, thì Hoa chợt nghe giọng anh Tâm:
                          - Ngày mai lúc 8 giờ sáng, cô đến 181 đại lộ Độc Lập, cô gặp sĩ quan tùy viên David Fulghum (sĩ quan Hải quân Mỹ, tốt nghiệp đại học nổi tiếng Georetown), anh ấy sẽ dẫn cô lên phòng IRO làm tấm thẻ mới. Sau đó buổi sáng cô đi học Anh-văn. Buổi chiều cô học thư ký kế toán, và tất nhiên sẽ có tiền lương. Cô hài lòng chưa?
                          - Cháu rất cám ơn ông.

                          “Ngài lão tướng” thẳng thắng nhìn Hoa từ đầu tới chân Hoa rồi ung dung nhè nhẹ gục gặc mái đầu lơ thơ tóc, lần đầu tiên trong mấy tháng làm việc cạnh “ngài”, nay Hoa mới thấy ông nở nụ cười tươi không mỉm miệng để lộ hàm răng trắng bóng. Bây giờ Hoa cảm thấy đôi mắt diều hâu ấy không còn ác ôn, dữ dằn và lặng lẽ cô độc. Trái lại đôi mắt ấy ánh lên những tia mắt nồng nàn ấm áp, đầy ắp thiên tài của một người từng trải lão luyện trong đời và trong quân đội. Ôi! sao mà ông ấy nhân ái đôn hậu lạ thường thế không biết. Hoa sung sướng hạnh phúc quá, nàng biểu lộ thêm một chuyện khờ dại “bốc đồng ngẩu hứng” nữa, để tỏ lòng biết ơn và kính trọng ông, Hoa liền hí hửng chạy tới bên viên tướng, và quỳ sụp xuống dưới chân ông, Hoa ân cần dịu dàng nắm lấy bàn tay ông tướng, và dí lỗ mũi nở to như củ tỏi liên tiếp hít hít hôn hôn chùn chụt.

                          Vị lão tướng thêm một lần nữa kinh ngạc, “đôi mắt diều hâu” ấy vẫn dịu hiền lẵng lặng nhìn Hoa, nụ cười chúm chím mà “hứ” lên một tiếng rõ to.

                          ***

                          Tình Hoài Hương

                          Kính mời độc giả xem tiếp chương sau
                          Trân trọng
                          Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-06-2017, 08:48 PM.
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #148
                            Lễ… Cưới Cổ Truyền


                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 07:03 PM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • Tinh Hoai Huong
                              Senior Member
                              • May 2009
                              • 1081

                              #149
                              Mồng Hai Tết Năm Xưa



                              THH thân mến xin gửi tặng thân hữu và quý du khách
                              từng du lãm đến thăm thắng cảnh "Đà Lạt Tình Yêu".

                              Tình Hoài Hương
                              Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 07:12 PM.
                              Bút trần nào tả được lưu luyến!
                              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                              Tình Hoài Hương

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #150
                                Đi Tìm Tương Lai & Trở Về…



                                Đi Tìm Tương Lai & Trở Về…


                                Chiếc sàng không gian qua thời gian đã lọc lại những hạt vàng đầy chất xám như kim cương long lanh, từ sự kiên định trong đầu óc nhỏ bé có chút trí tuệ, đã vượt qua mọi chông gai thử thách. Cũng từ nấc thang thấp nhất đó, đã đưa Hoa từ từ bước lên từng bước tiến đến thành công, dù dưới hình thức nào, lĩnh vực nào… Cũng tốt. Bởi như em Hoa thường nói:

                                - Quảng Trị là nơi khô cằn sỏi đá, nơi chó ăn đá gà ăn muối, đa số cư dân địa phương cũng như cha mạ em dãi dầu một nắng hai sương, khổ cực trăm bề, vẫn không thể lo cho con cái có cuộc sống khá hơn. Thế mà, tình cảm của người Quảng Trị thì: tha thiết, đậm đà, văn chương, trí thức, hào hoa… của người Quảng Trị cũng thanh cao, dạt dào tình mến thương vô bờ bến.

                                Nói như thế, có quá tự hào không! khi trên đất nước Việt Nam mình không có nơi chốn nào nghèo mạt rệp bằng xứ mình "mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn... & xứ dân cày lên sỏi đá...", nhưng từ nơi vùng đất nghèo đây lại rất giàu tình yêu thương, đùm bọc, và lòng nhân nghĩa ngút ngàn dâng cao. Trung sĩ Công Binh Kiến Tạo tên Đoàn Mùi quê ở Quảng Trị rất đẹp trai cũng tương tự như thế!

                                Đơn vị anh đóng ở Tam Kỳ, anh làm trong ban ẩm thực, nên mỗi buổi sáng Mùi có phận sự lái xe đưa tốp lính ba người đi chợ. Khi những người lính ăn sáng xong, họ len lõi vô chợ mua rau, cá, thịt thà, hoa quả, vân vân…; Mùi đậu xe bên hông quán may, chờ đợi lính mua thức ăn. Mùi đi bách bộ lang thang đây đó nhìn ngắm cái nầy cái nọ. Nhiều khi anh ngồi trong quán đối diện chợ, nhâm nhi ly cà phê sữa, ăn chiếc bánh “sừng trâu”. Những ngày đầu tháng thì Mùi “tự do độc thân, hào hoa vui tính” ngồi trong nhà hàng dùng lai rai Paté Chaud, bánh mì French Baguette, ăn phở lai rai. Lúc nào tốp lính mua thức ăn xong, Mùi sẽ chở họ về trại.

                                Một hôm chỗ đậu xe cũ thường ngày bị người tài xế xe nhà khác chiếm rồi, không còn chỗ trống; nên Mùi vòng trở lại đậu xe GMC nhờ ở mặt tiền; giữa tiệm sách và tiệm may của Hoa. Mùi nhảy xuống xe, lững thững dạo mấy vòng phố. Bỗng chốc cơn mưa giông ào ào trút xuống. Mùi nhảy bước chân chim vọt lên thềm của tiệm may, và dựa lưng vào mặt kiếng treo những bộ áo dài trong tủ đứng. Cơn mưa to đến nỗi gió luôn đổi chiều, do sức gió mạnh đã hắt những luồng nước vỗ bồm bộp vào tủ kính, rồi dội ngược lại thành những tiếng vang vọng ì ầm, mưa đã tạt ướt hết một phần áo quần Mùi.

                                Hoa lui cui vẽ những đường phấn trên vải, thì mưa to, nên cô vội vàng chạy tới, định đóng hai cánh cửa tiệm. Khựng lại đôi chút khi Hoa nhìn thấy người lính trẻ đứng trên thềm trú mưa quay nhìn Hoa, hai ống quần bỏ trong đôi giày đinh đã ướt đẫm nước. Nàng lúng túng mất mươi giây lưỡng lự, rồi Hoa vui vẻ đon đả nhanh nhẹn chào mời khách tạm vào lánh mưa. Mùi mỉm cười, nhẹ gật đầu và e dè khuất sau hai cánh cửa, khi Hoa đóng cửa lại. Hoa kéo ghế dựa:
                                - Mời anh ngồi tạm ở đây, chút nữa hết cơn mưa to, hãy về.
                                - Ồ… cám ơn em. Em đồng hương Quảng Trị với anh sao?
                                Hoa pha tách trà sen nóng bốc khói, cô bưng ra đặt trên bàn:
                                - Dạ. Mời anh uống trà sen pha xí gừng cho ấm bụng.
                                - Cám ơn em.
                                - Xin phép anh, em vừa tiếp chuyện với anh, vừa làm việc, vì ngày mai có khách đang cần lấy áo dài cưới. Như vậy có thất lễ không ạ?
                                - Em cho anh vô núp mưa như ri, là quý lắm rồi, nào dám đòi hỏi chi hơn.
                                - Không ngờ nơi Tam Kỳ nầy, cũng có anh là dân Quảng Trị ha.
                                - Phải. Anh tên Mùi. Còn em tên gì?
                                - Dạ, em tên Hoa.
                                - Thảo nào em đẹp như hoa.
                                - Không có đâu. Anh họ Dương… phải không?
                                - Không. Sao em hỏi vậy?
                                - Mà anh có phải họ Dương không?
                                - Anh là Đoàn Mùi.
                                - Thì tên Mùi, phải là họ Dương mới hợp.
                                - Vậy sao?
                                - Thì… là… Dương Mùi là con dê 35 đó. Hi hi.
                                Mùi ngẩn ngơ nhìn Hoa, bỗng nhận thấy cô nàng nói chuyện hóm hỉnh, có câu bông đùa nhạy bén gây vui cười nhẹ nhõm có ý vị. Mùi thiện cảm đá lông nheo với nàng và phá lên cười:
                                - Em thiệt tình!
                                - Cho em hỏi: Giờ nầy lính tráng ai nấy đều bận rộn, lu bu làm việc ở trong doanh trại, đồn bót. Sao anh đứng xớ rớ ngoài đường, để bị mắc mưa vậy ha?
                                - À… Anh kể cho em nghe chuyện tại sao có câu: “thiên cơ bất khả lộ” từ đời xưa nhen:

                                Triệu Nhan đi gặp Quản Lạc để xem bói. Ông gieo quả xong, buồn rầu nói:
                                - Sắp tới số rồi, ngươi xem làm gì cho phí tiền!
                                Triệu Nhan sợ quá, sụp quỳ xin thầy Quản Lạc mách bảo cho “làm sao con được sống lâu”. Quản Lạc thương cảm, liền rỉ tai:
                                - Ngày mai, vào giờ ngọ ngươi đem thịt ngon rượu quý vô rừng phía đông, sẽ gặp hai ông lão đánh cờ. Ngươi hãy quỳ, im lặng mà dâng rượu, thịt. Nhớ không nói gì hết. Lúc nào hai lão không chơi cờ nữa, thì lúc đó ngươi mở lời van xin. May ra ngươi được cứu sống. Ngươi nhớ không nhắc đến tên ta. Nghe.

                                Hôm sau Triệu Nhan bưng rượu thịt vô rừng, quả thật đã thấy hai lão râu tóc bạc phơ đang ngồi đánh cờ. Triệu Nhan y lời thầy im lặng bày bàn tiệc thơm ngon ra đãi. Hai lão mê chơi cờ không chú ý: do đâu có rượu thịt, chỉ thấy có rượu thịt, thì ăn, uống. Kết thúc trận cờ, hai lão (một lão tên Nam Tào: giữ sổ sanh; một lão tên Bắc Đẩu: giữ sổ tử) đứng dậy, toan dợm bước đi. Triệu Nhan liền quỳ mọp xuống đất vái lạy tâu trình, xin họ cứu mạng. Hai ông lão mở sổ ra xem. Quả nhiên Triệu Nhan chỉ sống tới mười chín tuổi. Họ động lòng thương xót, đã sửa cho ông sống tới chín mươi chín tuổi, mới chết. Trước khi quay gót “phong trần”, hai ông lão nhìn Triệu Nhan:
                                - Ngươi nhớ nói lại với Quản Lạc: Lần sau ông ta không được nói với bất cứ ai. Đây không phải chuyện đùa, vì “thiên cơ bất khả lộ”.

                                - Em biết rồi.

                                Bấy lâu nay Mùi thường đậu xe GMC bên hông tiệm may, Mùi chẳng hề để ý dòm ngó vô tiệm nầy có những ai, cho mệt. Nhưng nãy giờ Mùi nhìn quanh cố ý quan sát: tại tiệm may chỉ có cô gái rất trẻ lại khá xinh, đang thoăng thoắt làm việc mà thôi, (trong tiệm không có người lớn), khiến trong lòng Mùi thắc mắc, chẳng lẽ Hoa đã có ông chủ tiệm là chồng đang làm gì ở trong buồng!? Nhưng anh chưa dám hỏi, sợ cô bé nghĩ con trai mà hấp tấp tò mò. Nhìn ra ngoài cửa kính thấy trận mưa từ từ dứt hạt, Mùi đứng dậy, ngần ngại ý tứ dò xét:
                                - Em cho phép anh chào người lớn ở đây, để cám ơn, và ra về. Nhe.
                                - Dạ, ngoài em là chủ tiệm, không có ai ở đây hết. Anh à.
                                - Ồ!... Còn anh, mỗi ngày lái xe đưa lính đi chợ, anh đậu nhờ xe GMC bên hông tiệm của em, mà không ngờ…
                                - Thì ra… xe GMC đó do anh lái sao? Nếu em biết trước, thì mỗi ngày em phải ra thu tiền thuế bến bãi giữ xe, cho anh thong dong đi dạo phố, mà không sợ xe bị mất cắp rồi.
                                - Bắt đầu từ ngày mai anh sẽ “nộp thuế bến bãi” nhen. Ướt gì ngày nào trời cũng mưa thật to, để:
                                "Vũ vô kiềm toả năng lưu khách
                                Sắc bất ba đào dị nịch nhân"

                                - Em không hiểu ý anh muốn nói gì?
                                - Có nghĩa là: “Mưa không có xiềng xích, mà có khả năng lưu giữ khách. Sắc đẹp không có sóng, mà có thể làm say đắm lòng người”. Em hiểu chưa!
                                Hoa liếc nhẹ Mùi, mỉm cười e ấp bẽn lẽn cúi đầu:
                                - Cái anh nầy…
                                - Không phải sao, nếu chàng trai nào đã từng có hân hạnh tiếp chuyện với em, chắc sẽ nói:
                                Thân cô như hoa gạo trên cây
                                Các anh như đám cỏ may bên đường
                                Lạy trời cho cả gió sương
                                Cho hoa gạo rụng chun luồn cỏ may

                                - Em không dám.
                                Mùi dợm bước xuống lề đường:
                                - Chào em. Cho phép anh hẹn gặp lại em ở “bến bãi nộp thuế”. Em nhe.
                                - Dạ… dạ, í… em nói đùa đó. Đừng bận tâm. Chào anh.

                                Mặc dù suốt đêm qua trằn trọc trên ghế bố ít chợp mắt, nhưng tửng bưng sáng hôm sau Mùi vùng thức dậy, miệng huýt sáo, anh vui vẻ súc miệng rửa mặt, rồi lo chải chuốt bộ quần áo treillis, áo field jacket nhà binh thẳng tắp đường ly hồ ủi, và mang đôi giày đinh bóng loáng (diện mạo anh vốn dĩ đẹp trai, hôm nay anh “o bế” kỹ, nên coi anh càng đã con mắt hơn). Mùi thúc hối mấy anh lính ẩm thực lè lẹ leo lên xe GMC đi chợ sớm, khiến Lộc tò mò:
                                - Trung-sĩ cho em hỏi nhỏ: Có việc gì cần sao, mà Trung-sĩ gấp rút vậy?
                                Mùi tủm tỉm cười:
                                - Phải. Đi chợ sớm mới có tôm cá tươi. Vã lại, việc nầy cũng giống như “coup de foudre” (tiếng sét ái tình) nếu không lo liệu sớm, thì “xôi hỏng bỏng không” mất.

                                Đậu xe bên hông tiệm may xong, Mùi mời bạn lính vô quán cơm tà tà ăn sáng. Sau đó mấy anh lính kia xuống hàng cá, hàng gạo, vân vân… thì Mùi đi vô chợ mua khúc vải gabardine, một foulard màu hồng phấn. Mùi rẽ qua mua mấy ổ bánh mì nhồi jambon saucisse, một bó hoa immortel, một hộp bánh paté chaud. Mùi tần ngần đứng bên nầy góc chợ nhìn qua tiệm may. Khi thấy Hoa thấp thoáng đi ra đi vô trong nhà, thì anh lững thững bước qua đường. Hoa tươi cười đón anh nơi thềm nhà. Mùi trao mấy món quà cho nàng:
                                - Phần nầy là anh riêng tặng em, để đánh dấu mốc thời gian: ngày chúng mình hân hạnh quen biết. Còn đây là khúc vải anh muốn nhờ em may giúp:
                                Tình cờ bắt gặp nàng đây
                                Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
                                Để mà kết nghĩa tương thân
                                Mai đây chỉ Tấn tơ Tần xe duyên
                                (cd)

                                - Em có muốn như vậy không em? Hay là:
                                Tình cờ bắt gặp nàng đây
                                Mượn cắt cái áo mượn may cái quần
                                May xong anh trả tiền công
                                Bao giờ lấy chồng anh đỡ vốn cho
                                Giúp em một thúng xôi vò
                                Một con lợn béo một vò rượu tăm
                                Giúp em đôi chiếu em nằm
                                Đôi chăn em đắp đôi tằm em đeo
                                Giúp em quan tám tiền cheo
                                Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau
                                (cd)

                                Hoa ỏn ẻn cười tươi nép qua một bên, nhường lối cho anh ung dung bước vô tiệm:
                                - Hôm nay anh mở hàng sớm cho em đó nghe.
                                - Vậy sao! Nếu anh mở hàng mà hôm nay ế, thì anh sẽ mời em đi ăn uống, đi xem cinê, để bù lại. Nếu ngày nầy, hoặc mỗi ngày anh vô tiệm, tiệm em đông khách, thì em cho phép anh:
                                Ngó lại đằng trước thấy bình tích nước
                                Ngó lại đằng sau thấy bộ kỷ trà
                                Anh thấy em có một mẹ già
                                Muốn vô phụng dưỡng, biết là đặng không?
                                (cd)
                                - Xía…

                                Ngày tháng dần dà trôi qua, thế là "hai đứa" thương yêu nhau say đắm thật rồi, chàng trai ấy rất thật lòng muốn cưới Hoa làm vợ. Hoa mời Mùi về nhà riêng, ban đầu Mùi được mạ và các em hân hoan mừng rỡ vô vàn, chào đón Mùi nồng nhiệt. Mạ coi anh như con cháu trong nhà. Tận đáy lòng mạ chân thật vui vẻ niềm nở tiếp Mùi đầy tình mến, như người mẹ thương đứa con trai. Vã chăng vì mạ không có con trai đầu lòng, nên mạ ước ao có thể xem Mùi như con trai, để tiếp tay với mạ chăm lo cho đàn con nhỏ dại, cần nương nhờ người ấy mà thôi chăng?

                                Thế rồi… mấy tháng sau nhân ngày Tết, Mùi đã đến thăm nhà, lúc ấy có sự hiện diện của mệ ngoại. Giữ thể diện gia phong, giấy rách phải giữ lấy lề, mạ hiếu khách tiếp đãi Mùi vui vẻ. Biết gia đình Mùi sẽ xin hỏi cưới Hoa. Thì mạ chưng hửng! Mạ cũng biết rằng: gia đình Mùi có địa vị, danh giá và giàu có. Còn gia đình mình thì nghèo rớt mùng tơi, thật không tương xứng chút nào. Sau mấy ngày Tết náo nhiệt tưng bừng, trong nhà chị em Hoa đều hạnh phúc xiết bao. Lúc người bạn trai trở lại đơn vị, ở nhà mạ bắt Hoa phải khai thật:
                                - Con đối với thằng nớ ra răn?
                                - Dạ… chúng con thương nhau. Anh Mùi muốn xin đi cưới hỏi con năm ni.
                                - Con quen biết hắn lâu chưa?
                                - Dạ, hơn nửa năm.

                                Hoa tưởng mạ ưng thuận, ai dè mạ nổi trận lôi đình, lại lôi Hoa ra đánh một trận tưởng chết luôn. Vì khoảng thời gian sau nầy, mạ mới biết chuyện thuở xưa Hoa từ hôn với Hải Triều, là tuyệt nhiên không phải do Hải Triều đã gây ra lỗi lầm to tát, mà là do chính Hoa đổi ý thay lòng, Hoa không ưng thuận lấy Triều. Hoa muốn Triều bịa đặt ra chuyện động trời mà Hải Triều không bao giờ làm. Hoa năn nỉ nài ép Triều về nhà mình nói láo với mạ: “con lỡ có con với người đàn bà khác”. Triều vì quá yêu Hoa, nên anh đồng ý nói láo như thế, ngỏ hầu giúp Hoa từ hôn với mình, không bị mạ đánh. Ngày ấy mạ không hỏi đầu hỏi đuôi cặn kẽ với Hải Triều: do nguyên cớ nào gây ra nông nổi, mạ đã vội mắng chửi Triều thậm tệ, mạ còn xô đạp vô ngực Triều rất mạnh, khiến anh té ngửa ra, đã lỏa máu đầu.

                                Bây giờ suy nghĩ lại, mạ cảm thấy ân hận, dày vò, mạ có lỗi rất lớn với Hải Triều. Thế nên mạ không muốn đường đột, hấp tấp chấp nhận Mùi và Hoa vội vàng yêu nhau, một hai bắt mạ phải nhận lễ vật đám hỏi của Triều. Rồi một mai kia bốc đồng lên, Hoa lại đùng đùng bỏ người ta, giống như lần trước. Thì sao?! Nên mạ cấm tiệt Mùi không cho anh lai vãng qua lại với Hoa nữa.

                                Ngày tháng trôi qua, hai đứa chân thành yêu nhau cứ lén lút kín đáo hẹn hò, đến một ngày kia Mùi nói:
                                - Anh phải đi tìm tương lai cho em. Anh đi khoá sĩ quan đặc biệt, anh hứa với em khi anh ra trường đeo lon trên ve áo. Lúc ấy em sẽ lớn và khôn ngoan hơn bây giờ, thế nào mạ cũng xiêu lòng, cha mạ sẽ gã em cho anh.
                                Hoa ngậm ngùi:
                                Xin chàng kinh sử học hành
                                Để em cày cấy cửi canh kịp người
                                Mai sau xiêm áo thảnh thơi
                                Ơn Trời lộc nước đời đời hiển vinh
                                (cd)

                                Nghe thế, Mùi phấn khởi hăng hái lên đường. Dù rằng: Mùi một ngày không gặp Hoa tựa ba thu, không một thanh niên thiếu nữ nào, có thể quên mối tình đầu thơ dại dễ thương và luyến nhớ vô vàn; Mùi cũng thế thôi. Sau khi Mùi bị mạ quyết liệt ngăn cản chuyện hôn nhân, thì anh giống như con chim gần chết, tiếng hót không còn là tiếng hót hay, mà là tiếng rền rĩ xót xa. Mùi chẳng hé môi tâm sự thổ lộ cùng bất cứ ai.

                                Ở trong quân trường thỉnh thoảng, lâu lâu Mùi nhận được thư Hoa cho biết tin gia đình và nàng bình an, Mùi rất mừng, cố gắng ngày đêm miệt mài học tập, dù trải qua bao nhiêu khó khăn vất vả mệt nhoài. Mùi muốn dành cho Hoa một ngạc nhiên thú vị, nên mấy tháng cuối anh không báo tin cho Hoa biết ngày về.

                                Sau khi ra trường về phép thăm nhà, Mùi vọt xuống xe hớn hở đi tới tiệm may, thì cửa đóng then cài kín bưng. Mùi cảm thấy sốt ruột, nên chi thay vì về nhà ba mẹ của mình trước, anh liền đi vô nhà mạ của Hoa. Rất tình cờ Mùi gặp Thủy (em của Hoa) trên đường ra chợ, Mùi mừng rỡ chạy tới gọi tên nàng. Quả thật là lúc đó em Thủy không thể nhận thấy “anh Mùi” đã đính lon lá lấp lánh ánh vàng tươi rói, anh dày dạn gió mưa trong bộ quân phục Biệt Đông Quân đầy phong sương, Mùi đeo mắt kính râm và đội mũ nâu sụp xuống gần lông mày!

                                Thủy nhanh nhẹn mời Mùi vô nhà, hai anh em đi trên đường phố đông người, Mùi huyên thuyên kể chuyện dãi dầu gió sương nơi quân trường cho Thủy nghe rất vui vẻ. Nhưng rồi anh kịp khựng lại… đứng bất động như trời trồng trên thềm nhà em. Mùi chết lặng ngẩn ngơ buồn! Không ngờ ngày Mùi vinh quang hiên ngang mang tương lai tươi sáng về, để cưới Hoa, thì trong nhà nói:
                                - Hoa đã lấy chồng, và đi Mỹ hai tháng nay rồi!
                                Thiệt là:
                                Anh đến với Hoa thì hoa đã nở
                                Anh đến với đò thì đò đã sang sông
                                Anh đến với em thì em đã lấy chồng
                                Yêu nhau ra rứa có mặn nồng chi mô!
                                (cd)

                                Mùi lẩm bẩm: Tính già hoá non. Xe chỉ buộc chân voi mất rồi:
                                Ngày đi trúc chửa mọc măng
                                Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre
                                Ngày đi lúa chửa chia vè
                                Ngày về lúa đã đỏ hoe khắp đồng
                                Ngày đi em chửa có chồng
                                Ngày về em đã con bồng con mang!
                                (cd)

                                Chàng ruột xé gan bào đau đớn, lặng lẽ lủi thủi vác ba lô lên đường xin ra tác chiến, xuôi về tiền đồn heo hút.
                                Ví dầu cá bống hai mang
                                Cá trê hai ngạnh tôm càng hai râu
                                Em về bên ấy đã lâu
                                Để anh vò võ canh thâu một mình
                                (cd)

                                Mùi coi cái chết nơi sa trường nhẹ tựa lông hồng, chết chưa phải là điều đáng sợ, nhưng điều đáng sợ nhất là người còn sống mà lãnh đạm, tâm hồn lạnh lùng, phản bội, dường như đã chết thì sá chi:
                                Tay cắt tay sao nỡ
                                Ruột cắt ruột sao đành
                                Lời anh thề nước biển non xanh
                                Qua không bỏ bậu, sao bậu đành bỏ qua?
                                (cd)

                                Hai năm buồn bã ròng rã trôi qua, Mùi lặng lẽ ôm nỗi đau, trong niềm cô đơn buồn thảm tột cùng xé nát tim gan ấp ủ riêng mình. Chuyến về phép thăm nhà lần nầy, Mùi có lý do buộc phải lấy người vợ được chọn theo ý gia đình (do ông nội trong cơn bạo bệnh, đã muốn cháu đích tôn yên bề gia thất). Thật chả vui vẻ gì, nhưng Mùi là người trọng tình và rất chí hiếu, anh vâng lời mà hợp hôn!
                                Sớm mai ra đứng sân sau
                                Hai tay duỗi xuống như tàu chuối te
                                Tiếc công vun quén cây mè
                                Mè không ra trái con chim hoè đậu lên
                                Cực lòng lên xuống xuống lên
                                Mòn đường chết cỏ, không nên; tự trời
                                Tưởng là kèo cột ở đời
                                Ai hay cột ngã, kèo rời một phương.
                                (cd)

                                Một quảng thời gian khá dài Mùi sống lặng lẽ trong cô độc, bỗng nhiên nay tình cờ nhận được “món quà, hay một đặc ân từ ai đó”, thì lòng anh cũng cảm thấy rộn lên chút xôn xao ấm áp, ngọt ngào, nỗi vui mừng, băn khoăn dịu êm tình mến trong bâng khuâng. Mùi thấy “nàng dâu” coi cũng xinh xinh, và nhất là nết na hiền hậu. Thôi cũng được! Tuy nhiên, trước ngày cưới một tuần, Mùi muốn cô vợ tương lai phải đồng ý cho Mùi lưu giữ lại tất cả hình ảnh, kỷ niệm một thời của “Hoa cố nhân” và Mùi. Mùi nói thẳng với “nàng dâu”:

                                - Trong giao cảm giữa con người với nhau, tôi sẽ không hỏi gì về dĩ vãng của em, đó là muốn xác lập mối giao tình tốt đẹp hài hoà đầy thiện ý, (trong tình nghĩa phu thê từ các chữ “tôn trọng lãnh thổ của mỗi người”). Bởi ngày xưa tôi vô tình đánh mất ân tình quý giá đến không ngờ. Cái gì tôi đã thích, đã yêu, thì sẽ yêu thích cho đến cùng, không thay đổi. Nhưng khổ nỗi như người ta thường nói: “Nếu yêu chỉ một phía thôi, thì chẳng thành công”.
                                Đằng nầy, tôi và cố nhân yêu nhau tha thiết, mà nay vẫn tuyệt vọng. Là sao!? Tôi không thể và chẳng muốn níu kéo tình cảm với người phụ bạc quyết ra đi. Giờ thì hết thật rồi. Mặc dù tôi đã bị bỏ rơi, nhưng tôi vẫn yêu người ấy. Nếu em quyết định lấy tôi, thì tôi mong em không chấp nhất, hờn ghen, cằn nhằn, càu nhàu về chuyện dĩ vãng! Có nghĩa là em cứ nắm giữ cuộc đời tôi, thân xác tôi. Nhưng về mặc tinh thần, kỷ niệm một thời riêng tôi với “cố nhân”, thì tôi van xin em… hãy tha cho tôi. Được không em?
                                - . . .
                                Thấy “cô nàng” cúi nhìn xuống ly cocktail trước mặt, e ngại mỉm cười không trả lời, Mùi không nghĩ nàng là một phụ nữ nhu nhược và khó hiểu, nhưng đó là nét đặc trưng kín đáo, nhu mì đầy quyến rũ, rất lôi cuốn của cô gái miền sông Thạch Hãn, khiến anh thầm nghĩ: (Em sẵn sàng “tuân theo” những yêu cầu của tôi, vì lợi ích tuyệt diệu của chúng ta sao?).

                                - Tôi chân thật, không muốn lừa dối em, nên thẳng thắng nói trước; em nghe ra, có lẽ bất mãn, bực tức, cho rằng tôi quá nhẫn tâm. Có điều tôi mong em hiểu, tôi muốn nói với em: tôi không đồng hóa người nầy với người kia, mà là cố gắng tìm hiểu về người mà chúng ta sẽ chung sống suốt đời như thế nào? (có nghĩa là em là em, cố nhân là cố nhân, đối với cố nhân và em, tôi sẽ tôn trọng như nhau).
                                Rồi tự mình sẽ học cách nhìn, yêu thương và hai ta kính trọng lẫn nhau trong tình hợp nhất. Tính tôi là thế! Mỗi cá thể chúng ta là sự trái ngược, cần bổ túc cho nhau. Hành trình đi tìm hạnh phúc và tình yêu giữa tôi và em, cũng tương tự như thế. Có nghĩa là cần phải thật tình bộc lộ những uẩn khúc, thẳng thắng, tôn trọng tự do riêng tư. Nói ra được những bí ẩn & ưu tư, biết đâu mình sẽ nhẹ lòng, và bình thường, thì điều khúc mắc ấy không còn quan trọng nữa.
                                Phải không em? Sau đó dần dần ta sẽ thông cảm, tin yêu và sẽ quan tâm lẫn nhau nhiều hơn nữa. Tôi hứa sẽ yêu em và thủy chung. Cuộc đời nầy rất công bằng, ta sẽ được đền bù những gì ta có. Vậy nên ta cố gắng vượt qua, thì có kết quả mỹ mãn. Khi ta đã có đầy đủ: thông cảm, thấu hiểu, dư thừa mọi thứ, ta sẽ cảm thấy trân quý những gì mình hiện đang có, lúc ấy chẳng cần phí công tìm tình yêu ở đâu xa. Em hiểu không?

                                Thú thật, cô vợ trẻ chẳng hiểu nỗi Mùi muốn nói lời tâm sự gì, nên ậm ự cúi đầu, e dè im lặng suy nghĩ: “nước có luật, gia có lề, cây cao vạn trượng lá rụng cũng về cội. Cố nhân kia xa tít chân mây, thì mình lo gì mất chồng! Bây giờ Mùi nhìn vợ thở dài:
                                - Cũng như, nếu ngày xưa cố nhân khăng khăng ngăn cản bước tiến thân của tôi, có thể nay chưa chắc tôi đã thành công trên nhiều lĩnh vực. Lẽ cố nhiên tôi phải sống lù đù dật dờ thế thôi.

                                Vợ tương lai trầm tư kinh ngạc kín đáo quan sát Mùi: cô nhìn làn sáng kỳ lạ trong đồng tử giãn nở kèm nhấp nháy của mi mắt, khi Mùi lịch thiệp rướn cao hàng lông mày, hoan hỉ trong thao tác xoa xoa hai bàn tay vào với nhau, rồi Mùi ngửa hai bàn tay ra đặt sau đầu, hai chân bắt chéo, tư thế ung dung, thân thể rắn rỏi, anh thoải mái tựa lưng trên thành sofa; điều ấy muốn nói lên sự tự tin, ngạo nghễ, hả hê của kẻ bề trên tinh quái. Anh bằng lòng tin tưởng về “nàng dâu”, và chứng tỏ anh là người thoả mãn, có bản tính thiết thực, đắc thắng nhưng đa cảm, anh sẵn sàng làm một cuộc giảo nghiệm phiêu lưu tình cảm một cách tế nhị.

                                Nàng là người đàn bà tinh tế, có kiến thức và trầm tĩnh, chỉ thầm nghĩ: [“Bây giờ anh định đỗ lỗi cho ai đó sao? Anh có giống con gà khi bay lên đọt cây, lại tưởng mình là con phượng hoàng không? Tôi chỉ trách tôi có sợi dây dừa quá ngắn và còn mới toanh, tôi không thể dùng dây dừa quấn chân anh (từ miền quá khứ xa xưa cho đến hiện tại). Hoặc tôi dùng sợi dây mới cột cái gàu thòng xuống múc nước dưới giếng sâu lên uống, cho đỡ khát. Nhưng thôi, anh là chồng tôi, chứ ai, mà tôi phải hơn thua, (cho dù đối với bạn, tôi cũng sẽ ôn hoà cư xử như anh).
                                Muốn ganh đua, hay cạnh tranh, tôi áp dụng với người bằng mình, hoặc hơn mình. Chứ cạnh tranh với chồng, hoặc với người dưới cơ, thua kém mình, thì chẳng hay ho hãnh diện gì! Cứ như… cứ như con ốc sên yếu ớt, lặng lẽ chăm chỉ, từ từ bò đến nơi nó cần đến, nhắm mắt làm ngơ: không nghe, không thấy, không nói. Chỉ nói những điều cần nói với người cần nói lúc cần nói]. Thế mà yên thân.
                                ***

                                Mùa hè đỏ lửa 1972 - Tiểu đoàn Biệt Động Quân thất trận, Mùi và mấy anh em bị việt cộng bắt đày đi tù ra Bắc ba năm, đám quân nhân nầy khổ sở vô vàn biết bao nhiêu, không kể xiết, gia đình không tin tức, không thăm nuôi. Không! Không! Không... bất cứ có một việc gì, ngoài sự bị cộng sản hành hạ dã man, và đói khổ triền miên!
                                Đến 30-4-1975 họ thả Mùi trở về miền Nam, ở nhà chưa được một tuần, lập tức anh lại bị họ nhốt vô tù ở trong miền Nam lần nữa, ôi đắng cay! Nhưng Mùi chỉ bị tù ở Phú Quốc một năm. Vị chi: Tù trước 30-4 cộng với tù sau 30-4: tất cả là hơn bốn năm tù! Oái oăm thay! sau 30 tháng 4 việt cộng bắt anh đi “cải tạo”, họ lại không tính những năm tháng anh bị bắt làm tù binh cơ cực đói khát trăm bề! Thật là bất nhẫn! unfair! không công bằng! Đúng là trớ trêu thay số kiếp “tù khổ sai từ Bắc vô Nam” ròng rã hơn bốn năm, mà Đoàn Mùi không được ưu tiên nằm ở trong diện HO.
                                ***

                                Năm 2000 Hoa và Chiến bất ngờ trở về Việt Nam, hai chị em đi Tam Kỳ tìm gặp vợ chồng Mùi, cô vợ hiền thục có khuôn mặt trái xoan, hai mắt đượm buồn, đôi môi vẫn óng mượt đang điềm đạm kể lại tất cả mọi chuyện cho chị em Hoa nghe. Tội lắm. Họ sống trong một mái nhà tranh đơn sơ khiêm nhường với vài đứa con. Hoa ứa nước mắt nhìn cảnh bạn tình nghèo ơi là nghèo! Nhưng điều xót xa vô vàn đau đớn dày vò Hoa không thể thốt lên lời là: trên vách ván thô sơ lúc gió lùa qua cửa, thì khung hình gỗ có đinh khuy dính sợi lòi tói treo trên tường: có tấm ảnh của Hoa lủng lẳng đong đưa đơn điệu vỗ lộp độp. Dường như gió bão luôn nhắc khéo với ai đó về thời xưa cũ!?

                                Bây giờ tấm ảnh đã phai màu úa vàng, nhợt nhạt theo năm tháng. Chứng tích thời gian có phôi pha, mà hình ảnh cố nhân vẫn in đậm trong tim Mùi, trong đời sống của gia đình nầy. Là sao? Sao anh chung tình một điều không đáng, không nên đến thế, anh ôi! Hoa ngẩn ngơ bàng hoàng nhìn tấm hình của mình treo trên tường một cách vô ý thức, Hoa còn cảm thấy chướng huống hồ chi ai! Tự thâm tâm Hoa vô cùng mến trọng, kính phục tư cách và sự nhẫn nhục từ cô vợ của Mùi, cô bình yên chịu đựng cố tật về người chồng! Thật là một phụ nữa đặc biệt, cung cách ấy rất xứng đáng!

                                Việc đầu tiên khi bước vô nhà Mùi, Hoa bắt em Chiến gỡ bỏ tấm ảnh của mình treo tòn ten trên cây đinh xuống, Hoa liền cất vô trong giỏ xách đang mang theo. Hoa xúc động nghẹn ngào, cảm thấy lương tâm cắn rứt, dày vò tột độ, ruột gan cồn cào, xót xa, bèo bọt, bứt rứt trong lòng. Hoa không hiểu tại sao thuở ấy mình mới có nhúm tuổi đầu non nớt, không suy nghĩ chính chắn, sớm vội lấy chồng làm chi!? Hoa không thể ngồi lâu. Nàng vội bảo em Chiến lấy ra 5.000 dollars đưa tận tay vợ Mùi:

                                - Trước mặt anh chị, hai cháu, đây là một món quà rất chân thật của em đối với gia đình anh chị. Món quà nầy là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng. Xin anh chị hãy làm lại cái nhà gọn ghẽ, có chỗ che nắng che mưa, và dành dụm chút vốn để buôn bán, làm gì ra lợi, mà sinh sống tạm qua ngày. Ngoài ra em không hề có ý nào khác. Em hứa với anh chị là chúng ta sẽ không bao giờ liên lạc, không gặp lại nhau nữa. Chấm dứt. Em rất mong anh chị luôn bình an, vui vẻ, mạnh giỏi, nhất là gia đình anh chị phải xứng đáng có hạnh phúc.
                                - Anh không thể nhận món quà to tát…
                                - Em xin anh chị đừng nghĩ ngợi làm gì. Hãy nhận món quà trong tình đồng hương, cho em an tâm ra đi.

                                Từng đám mây trắng bồng bềnh lững thững trôi trên nền trời phai nắng. Gió rung cành cuốn những chiếc lá me lăn tăn ly ty bay bay trong không gian ngút ngàn. Trời se lạnh! Em Chiến và Hoa lật đật đứng dậy, bốn người lặng lẽ nhìn nhau, nghẹn ngào xúc động không nói nên câu giã từ. Bỗng nhiên họ ôm chặt lưng nhau, oà khóc nức nở rất thảm thiết.
                                ***

                                Tình Hoài Hương
                                Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-08-2017, 07:57 PM.
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...