Em Đi TU Hú !!!

Em Đi TU... "Hú" !!!
Nhân một mùa nghỉ hè, khi về quê thăm cha mẹ đang lập sở ươm cây giống ở Thôn Thượng Phước (thuộc xã An Đôn, quận Triệu Phong, Quảng Trị), đi xem lễ ở nhà thờ An Đôn, tình cờ Út thấy những nữ đệ tử dòng Mến Thánh Giá đang vui vẻ cắm trại bên hông trường học (trong khuôn viên nhà thờ). Nhìn chung ai nấy đều dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, vui tươi và hiền lành, thì trong lòng Út cảm thấy xôn xao lâng lâng mến thích họ.
Bỗng nhiên Út nẩy sinh niềm khát vọng được vô dòng nầy. Về nhà, sau nhiều ngày suy nghĩ, Út xin ba má cho con vào ở tu viện: Không vì buồn, không vì chán, chỉ vì Út rất mến thích cuộc sống êm đềm, trầm mặc an hoà, có thể ở đó cho ta sự bình yên vui vẻ, lắng lòng, không bon chen với đời chăng?
Từ ngày Trung Thu cho đến đầu tháng Chín, lúc nào má cùng Út cũng bận rộn, lu bu lo chuẩn-bị một danh sách sắm sửa cho một nữ tu, ít nhất cần phải có: - 6 bộ áo dài & quần: tất cả chỉ là màu trắng, màu đen. - 6 áo bà ba. - 6 áo lót. - 1 lố quần lót. - 2 hoặc 3 áo lạnh trắng hoặc đen. Ít nhất là 4 đôi bít tất trắng và đen. - khăn mặt, khăn tắm, giày, dép, các thứ linh tinh, bàn chải đánh răng cá nhân, vân vân… Út dồn tất cả mọi thứ trong một va ly da chật cứng. Ngoài ra còn mang theo mùng, mền, thau giặt, thau rửa mặt…
Thế rồi những háo hức mong chờ đã đến, ba má tần ngần do dự lên xe ngựa của nhà, để đưa Út hăm hở bồn chồn vô tận văn phòng tu viện. Sau khi bà xơ quản nhiệm làm hồ sơ nhập tu, đóng tiền viện phí, đọc nội quy… họ mời ba má và Út ăn bữa cơm đầu tiên. Nhìn mâm thức ăn trong dòng đã mời tân khách, má tế nhị kín đáo nhìn ba ngao ngán thở dài rất nhẹ. Phút bịn rịn luyến lưu nói lời chia tay rồi cũng qua đi, nhưng ý con đã quyết, thì biết làm sao bây giờ, chẳng thể khiến lòng má trĩu nặng nỗi ưu phiền hơn lúc cánh cửa tu viện Trí Bưu (Quảng Trị) đồ sộ bao bọc bởi bốn bức tường gạch nâu xây cao, từ hai cánh cửa sắt màu xanh rêu to lớn vừa đóng ập lại sau lưng nghe lạnh lùng một tiếng “ầm”.
Sát bốn bờ tường trồng tre trúc um tùm san sát, đã che khuất những đôi mắt tò mò bên ngoài muốn len lén nhìn vào, cũng chẳng thấy gì! Từ cổng đi vô khoảng sân rộng, dính liền khu trường Tiểu-học (của dòng tu), gọi là “nhà khách” có nghĩa là nhà nầy riêng biệt với khu nhà dòng. Bên trong cánh cửa hông của vòng cấm địa (chỉ có nữ tu mới được phép qua cửa thứ nhì nầy) là vô khu nhà xây lợp ngói đồ sộ, mỗi nhà có mười hai căn rộng rãi, nối thành hình chữ U.
Bao bọc quanh nguyện đường lớn là sân gạch đỏ rất rộng, sân nầy dùng đi dạo sau những buổi ăn, hoặc dùng sân phơi luá, ngũ cốc, linh tinh… Phía trái có một giếng lớn nước trong và ngọt, dùng làm nước uống, nấu nướng. Phiá bên phải là nguyện đường râm mát có hai hồ xây bằng gạch lót men trắng, hồ chuyên nuôi cá phi, cá rô, cá chép, hầu cung cấp thức ăn cho dòng. Chung quanh hồ có hòn non bộ và tượng Đức Mẹ tuyệt đẹp ẩn trong hang đá lớn.
Bên cạnh hai ao cá là dãy nhà giải trí, phòng học, phòng ngủ của đệ tử, các phòng ngủ của dì thử, dì tập, phòng soeur, phòng dệt, phòng tập hát, vân vân... Trước cửa phòng học và sau lưng các phòng ngủ có thêm hai ao (lớn hơn hai hồ gạch men ở phía mặt tiền), hai ao nầy nuôi cá lóc, cá trê, lươn. Cộng với hai hồ ở sân sau sâu rộng thả đầy sen, cây súng lênh đênh trên mặt nước. Những cánh bèo lớn nhỏ li ti trôi. Lại có hai ao đắp bằng đất nện đầy rau muống, cần nước, hoa sen, hoa súng, lục bình. Ôi hồ ơi là hồ, ao ơi là ao!!!
Lục bình là loại bèo cánh lá to như trầu bà, có bầu sữa xôm xốp mềm mềm, hoa tím nhạt nở từng chùm, lúc sống cũng như chết, nó trôi nổi trên mặt nước. Út tinh nghịch nhận chìm nó xuống nước, có lẽ vì bầu sữa và thân xốp, là chiếc phao gia bảo, loài bèo không biết khuất phục khi ai cầm nó rồi thả tay ra, nó ương ngạnh phóng mình trồi lên cao. Chiều chưa sụp bóng, bốn năm ao hồ nầy là nơi chứa nhiều muỗi nhất. Từ mọi xó xỉnh muỗi bay ra kêu như ong, con nào bụng cũng đầy máu, chân tay đệ tử bị muỗi đốt ngứa rần, vuốt một cái vào chân là tay mình nhơm nhớp, ai nấy luôn bị lấm tấm mụn đỏ do muỗi đốt.
Dãy nhà ngang xa nhà bếp có hai giếng to, nước ở hai giếng nầy dùng: tắm, giặt ở sân sau. Có mười phòng tắm và mười phòng vệ sinh. Về hướng tây là nhà bếp khá rộng, nhà ăn, lại có thêm một cái giếng nữa gần trại chăn nuôi gia cầm. Vườn trồng đủ các loại rau cải, đậu mè, bầu bí, vân vân… Cuối góc vườn, cách khá xa tu viện. Một góc cuối tường là trung tâm dưỡng lão, nơi mà các dì phước “quá đát” (già nua) lão thành mang bệnh trầm kha đang tịnh dưỡng. Đời sống nơi xó góc tu viện quả thật rất buồn bã, đơn độc. Họ yên ổn chờ ngày trở về chầu Chúa. Mỗi ngày đều có các nữ tu trực ban đến phục vụ cơm nước, thuốc men, làm vệ sinh cho các “bô lão trưởng thượng”!
Út tu như bức tượng đoan trang biết đi, không nhìn ngang liếc dọc, không nói leo trèo với cấp chỉ huy đàn chị, không thèo lẽo đùa cợt hô hố "nhố nhăng, nham nhở", sống khắc khổ, nhẫn nhục, ép mình hy sinh. Đức vâng lời là điều tiên quyết. Giúp đỡ qúy mến mọi người giống nhau trong tình yêu Chúa, và thương người. Không bầu bạn kết thân riêng với bất kỳ ai. Không được rù rì nói chuyện khi chỉ có hai người. Dòng không ghi một nguyên tắc quy luật rõ rệt, mãi sau nầy khi “ra trường”, Út mới biết là: Luật dòng tu cần có ba điều cốt lõi: “Vâng Lời. Trong Sạch. Khó Nghèo”. Nếu ai phạm một trong những tội ấy vài lần, họ không tỏ ý sửa đổi, dốc lòng ăn năn sám hối, là bà dòng cho về, như một lần đạp cứt là phải chặt chân.
Các chị trên mười tám tuổi (soeur) làm công việc riêng của từng nhóm: Người lo dạy học, đi may, đi dệt cửi, đi chợ nấu ăn, làm vườn. Đệ tử nhỏ lí tí mới vào dòng hầu hết đều đi học. Đa số thì giờ là tất cả mọi người trong dòng làm việc, hy sinh, hãm mình: xem lễ mỗi sáng, chiều, tối… đọc kinh cầu nguyện, hội họp khuyên bảo nhau. Mỗi ngày có một nhóm nữ tu thay đổi luân phiên trực ban, lo việc: Tiếp tân khách: có một soeur và một đệ tử.
- Dưới phòng ẩm thực nấu bếp mỗi ngày gồm có: Hai “soeur hỏa đầu quân chính”, lo đi chợ mua sắm mỗi ngày. Ở nhà có thêm một soeur hoả đầu quân quản gia, một chị phòng tập, một chị phòng thử, năm nữ đệ tử loi choi nho nhỏ như Út, để họ sai việc lặt vặt. Vị chi là mười người cho một nhóm luân phiên dậy sớm từ tửng bưng bốn giờ sáng.
Mạnh người nào cứ cúi đầu làm việc nhẹ, việc nặng, (lúc bốn giờ sang tới mười giờ đêm, tới khi tu viện yên ắng, tắt hết đèn dầu, thì cuối cùng những người nầy se sẽ đi ngủ). Người lo việc nấu cơm, nấu nước, làm hầu hết công việc cần thiết. Năm đệ tử nhỏ được phân chia các việc lặt vặt phụ, ai sai bảo gì, thì mình làm cái đó như: Lặt rửa rau, xắt bầu, bí, múc nước từ hai cái giếng sâu, khiêng đi đổ đầy vào các chum vại to tướng trong bếp. Dọn dĩa, dao, nĩa lên bàn ăn. Múc sẵn những chén nước mắm, rau dưa, cà muối đặt trên bàn. Út là “lính mới”, lớ ngớ không biết làm việc, thì đã có mấy chị vào tu trước “kềm kẹp” hướng dẫn chu đáo.
Cứ mỗi lần nghe chuông hiệu rung, là tất cả nữ dòng từ các phòng tụ tập trước ba dãy hành lang dài và rất rộng, họ xếp hàng im lặng từ từ đi vào nhà ăn (như những chiếc bóng âm thầm). Trước cửa phòng có đặt hai cái lọ thủy tinh to. Một lọ đựng đầy hột đậu rằn. Một lọ trống không. Trước khi vô phòng ăn, thì mỗi người (bất cứ ai) đều bốc một hột đậu rằn, bỏ qua bên lọ trống không kia, (để trong dòng tiện kiểm soát là buổi ấy có bao nhiêu người hiện diện vô nhà ăn).
Bình thường mỗi ngày ba bữa, nhà dòng cho tất cả ăn uống thanh đạm: buổi sáng ăn cháo với trứng vịt muối, khi ăn khoai, sắn, hoặc ăn bánh mì. Buổi trưa, buổi tối, đều ăn cơm no đủ. Có ba món chính là: Canh, thức ăn mặn, rau xào, hoặc luộc. Thức ăn luôn thay đổi kèm một chén mắm nêm, dĩa dưa cải chua, dĩa cà ghém, ba món nầy là không lúc nào quên. Nhưng… thú thật là họ nấu ăn lạt lẽo và quá tanh, vì không đậm đà gia vị tiêu, ớt. Dỡ ơi là dỡ kinh khủng, nhưng ai nấy cúi đầu cố trợn mắt… mà nuốt. Út rất sợ mắm nêm vì nó tanh và đôi lúc thấy cả dòi. Kinh khủng xiết bao! Lúc đó Út nhớ bữa cơm ngon nóng sốt và lạ miệng do má khéo tay làm bếp, mà thèm.
Nghe chuông hiệu nhỏ trong phòng ăn rung leng keng (chuông của bà Nhất để cạnh bà), thì nữ tu đứng tại chỗ đọc kinh, rồi mọi người tuần tự ngồi xuống bàn. Trong lúc ăn cơm, có một nữ tu phòng trực ngồi trên ghế, có bàn nhỏ đặt trên bục gỗ cao, nữ tu đọc kinh thánh, đọc các truyện tích nói về những kinh nghiệm nam nữ tu trên thế giới. Sau khi ăn uống xong, bà Nhất lại rung chuông hiệu, nữ tu đứng dậy đọc kinh cám ơn. Lúc cả dòng ra khỏi phòng ăn, thì họ được phép nói chuyện… nói nho nhỏ vừa phải không ồn ào chỉ trong mười lăm phút. Sau đó cả dòng đắm chìm trong im lặng… triền miên.
Tất cả đồ dùng như: tô, dĩa, nĩa, dao, tô múc canh, (đều bằng nhôm) thì có một nhóm mười lăm nữ đệ tử nhóm A, (hoặc nhóm B, hay C) có phiên trực phòng ăn của tuần đó: lo thu dọn, rửa ráy sạch sẽ, úp lên các khuôn kệ ngay cạnh bồn rửa chén. Ai lo việc người ấy xong, họ trở về bổn phận của mình (tuần sau, thì mười lăm nữ đệ tử ở nhóm B, hoặc nhóm C khác, lại đến phiên đi phụ bếp, dọn dẹp phòng ăn, rửa chén…).
Nếu có các lễ kỷ niệm như: Ngày thành lập Dòng, Noel, Phục-sinh, Tết Nguyên Đán, Trung Thu, lễ mừng vua chúa như: Đức Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, hay các thánh bổn mạng, sinh nhật “các bà lớn” quản trị dòng, thì bà Nhất, bà Nhì cho quản gia giết trâu, (khi giết bò, hay heo), gà, vịt, cho mọi người ăn đã đời. Còn dư thịt bò, thịt heo… lớp ướp muối gừng sả, mè trắng, ớt bột, rồi đem sấy khô. Lớp ngâm nước mắm đường, chờ mùa đông tháng giá lụt lội, không có chợ đò, dòng lại đem ra dùng.
Mỗi cuối tháng trong dòng sẽ chiếu những phim hay, đa số là phim lịch sử danh nhân trong đạo, phim hoạt họa. Có văn nghệ do chị em đệ tử tự biên tự diễn "thoái mái". Nói chung cuộc sống trong tu viện thật lặng lẽ, khép kín, êm đềm. Mỗi buổi tối khi Út học xong lúc chín giờ rưỡi, mọi người nghe tiếng chuông hiệu lớn ngân rung tại phòng trực đánh hai hồi dài, một hồi ngắn: là tất cả nữ tu lớn bé đều chuẩn bị thu xếp sách tập cất vào ngăn tủ riêng (bên một gian nhà: có tủ, va ly, kệ, nơi đây dùng để đồ dùng cá nhân linh tinh).
Từ giờ phút nầy trở đi trong dòng tuyệt đối im lặng. Khi các đệ tử họp mặt đông đủ tại phòng ngủ, soeur quản lý rung cái chuông nhỏ xíu của bà. Các đệ tử (dé dé choi choi như Út) quỳ xuống nền gạch đọc kinh. Cuối kinh là phần ăn năn tội, mọi người giăng tay ra, ôn lại những gì mình đã làm trong ngày, tự đấm vào ngực mình, duyệt xem ngày hôm nay mình đã làm những điều thiện gì, hoặc làm những gì sai trái! mà đọc kinh sám hối. Chuông rung lần thứ ba, là đệ tử đi làm vệ sinh cá nhân, thay quần áo ngủ, lên giường lúc đúng bon mười giờ.
Vào những chiều thứ bảy, chủ nhật, các ngày lễ nghỉ, ai nấy ở nhà, không biết làm gì cho hết ngày dài lê thê, bà soeur “quản gia hoả đầu quân” thường kêu chị em nhà thử, nhà tập, (nói chung các chị ở nhà “tu thử, tu tập” thường “lao động” công việc nặng nề vất vã lắm. (Nhưng khi các chị ấy được tuyển chọn sẽ… trở thành dì phước, thành soeur rồi, thì cuộc sống của họ có đôi phần sướng hơn, nghĩa là không mấy khi họ bị “đì”).
Ví dụ như chị Sen ở nhà Tập, sau khi học xong lớp 12, chị được dòng cử đi Đà Lạt để “học ăn học nói học gói học mở” những điều hay mới lạ của dòng Couvent des Oiseaux, chị Sen đi học trên viện đại học Đà Lạt, rồi sẽ đem những kinh nghiệm về dòng, mà áp dụng quy luật cần tu chỉnh cho khang trang. Từ Đà Lạt mỗi tháng vài ba lần, chị Sen viết thư về thăm dòng, chị nói sự học của mình, đồng thời ghi lại những nhận xét của chị về môi trường sống mới. Thư của chị Sen được đọc vào buổi tối ở trong phòng ăn, là nơi đông đủ tất cả nữ tu tụ họp.
Thế nhưng Út không hiểu tại sao… giữa tháng Chín năm ấy, chị Sen bị bà bề trên gọi trở về, và… mỗi buổi tối chị Sen bị phạt quỳ gối trước mọi người, gần bên bục đọc sách trong phòng ăn. Út thắc mắc mà không dám hó hé hỏi ai? Rồi ngày tháng trôi qua… chị em không thấy nữ tu Sen đâu nữa. Chẳng biết chị Sen có được tiếp tục đi “du học Đà Lạt”, hay là chị “du hí ngoài vòng cương tỏa” của dòng? Họ kín như bưng, câm như hến, phận hèn như Út làm sao biết! Có tin đồn là chị Sen vì khá đẹp, nghe lời dụ khị của tên "nưu manh" bên đã “yêu” ai đó, và chị tự động cỡi áo. Bố ai mà biết.)
Các chị ở hai nhà Tập, Thử ấy cộng với nhóm đệ tử xuống kho lương thực, bưng lúa trong vựa ra; cùng nhau xay lúa, giã gạo, sàng sảy. Có hai cái cối giã gạo đạp bằng chân, và ba cái cối đá dùng chày giã gạo. Hai chị nhà tập, hai chị nhà thử thì sàng sảy trấu, cám, thành gạo. Họ làm việc nhịp nhàng xong thứ nào ra thứ đó, các đệ tử banh bao bố ra trút vào. Trấu thì đem vào nhà bếp. Tấm, cám, đem xuống khu chuồng heo, khu gia súc. Gạo đem lên nhà kho chứa thực phẩm khô.
Những giờ làm việc nầy tự do, ai muốn hát hò, kể chuyện, nói chuyện, đều được như ý, miễn sao không nói quá to, không ồn ào, là được. Làm việc cực nhọc, nhưng rất vui, nhờ số đông, mỗi người góp một chân một tay, nên thoáng chốc công việc đều xong ngay. Có nhiều lần giã ớt bột, tiêu hột thật là gay go, ớn lạnh, rùng mình. Dù nữ dòng dùng khăn để bịt mặt, che miệng, nhưng ai nấy đều hách xì nhảy mũi, nước mắt chảy ròng ròng, ho sặc sụa. Thân thể cay và nóng như phải bỏng. Út cũng như các nữ tu đều rất sợ khi giã món ớt bột nầy.
* * *
“Nàng Thơ” vào dòng tu trước Út hai năm, coi như Thơ “xếp sòng” cai quản bầy "em lính mới tò te". Út sợ, bực mình và ghét Thơ, vì Thơ ưa ăn hiếp Út hoài, (như Dung ngày xưa ăn hiếp Lê). Thơ gọi Út là "con khỉ đen". Vã lại, ngày trước Út ở ngoài “đời” tự do tung tăng bay nhảy, Út chuyên đi bắt bướm, bắt chuồn chuồn, hái hoa, ép lá, khá thoải mái... Bây giờ Út vào trong dòng ai ai cũng trắng trẻo, hồng hào! Riêng Út đen thùi lùi. Thổ âm của Thơ nghe rất lạ, nên Út không mấy hiểu ý Thơ muốn nói gì:
- Ưng đập chắt với tui khôn? Tụi mình ra ngoài cươi, thì dì quạn lý nỏ chộ mô hì.
Hoặc là Thơ hằn học với Út:
- Ngó chi? Tui có lẻ củi săn, lẻ nè, tui chấp chị cấy rạ nì. Tui ưng cắm một cấy nơi trắp bả của chị ghê hè.
Thấy “nhỏ tôi” im lặng, Thơ tìm cách gây chuyện khác:
- Có ưng tui chọi trại ội một cấy, chị lủng cấy trốt, nỏ thậy cái trọ chỗ mô bi chừ khôn? Chị có thửa tui nọi chi với chị cại chi khôn. Hỉ? Răn mà tui ghẹt chị chi lạ rứa hè. Con khị đen.
Út ngẩn ngơ không hiểu bạn nói gì. Út hỏi nhỏ mấy người ngồi gần bên:
- Chị Thơ nói về em cái gì vậy? Mấy chị ơi!?
Các bạn ngồi học gần bò lăn ra cười. Họ giải thích câu Thơ đã nói, thì mặt Út bừng đỏ vì giận. Cũng may nhiều lần Thơ nói tiếng "Tây rốc ken", Út không hiểu, nên chẳng có gì gay cấn đáng tiếc xảy ra. Bạn cũng ưa trêu chọc, lêu lêu âm ngữ giọng Đà Lạt nhỏ nhẹ của Út mà. Thời gian dài một năm sau trôi qua, áo quần giặt hoài cũ đi, da dẽ trắng trẻo hồng hào, đã biến Út trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong dòng, thì tình cảm của Thơ đối với Út thay đổi hẳn 180/o lúc nào, chẳng rõ. Thơ đã… “chịu đèn” Út mất rùi! Dù Thơ lớn hơn Út ba tuổi, quê nhà ba má cô là dân Đông Hà, mà Thơ ở tít “trong bưng”, nơi đó xa xôi không có trường học, nên khi vào tu, Thơ học lớp Nhì (tại nhà dòng nầy chỉ có bậc tiểu học). Út học lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ… nên phải đi học ở trên phố Quảng Trị, tại trường đạo Phước Môn.
Mấy tuần nay, mỗi chiều Út cùng nhóm bạn đi học trên Tỉnh Quảng Trị trở về dòng, Út thấy áo quần dơ của mình, có ai đã giặt giũ, xếp gọn và để ở trên góc giường?! Út ngạc nhiên không hiểu ai đã làm giúp? Luật trong dòng là đồ đạc của ai, người đó tự lo. Chỉ lúc nào mình ốm đau nặng, cực chặng đã mình mới nhờ vã chị em giúp xí. Sự bất bình thường nầy, khiến Út cảm thấy bất an, phân vân, lo lắng và ray rứt chen lẫn chút ngờ vực. Ban đầu Út tưởng áo quần của ai để sai chỗ, nhưng khi mở góc hò của áo ra, Út thấy số # 138 và tên mình, Út biết là không lầm.
Một hôm, trong phòng học, bỗng dưng có người tinh nghịch tắt điện. Đệ tử sợ ma kêu la om sòm, họ nhốn nháo xô đẩy nhau té ngã uỳnh uỵch. Bỗng có một người nào đó ôm chầm lấy Út, cô ta hôn vào má Út mấy cái kêu chụt chụt, rồi cô ta buông ra ngay. Con nhỏ nào đó vụt biếng dạng chạy đi ra ngoài sân cùng các bạn. Út toát mồ hôi, rồi bừng nóng, do bất ngờ mà lo sợ kinh khủng, trống ngực nhảy điên cuồng. Ai trêu ghẹo cái kiểu gì ác ôn vậy không biết? Út hét to, run rẩy xô ghế chạy vụt ra ngoài đêm tối.
Hai tuần sau đó, bị cúm không đi học, Út nằm nghỉ ở nhà. Phòng ngủ của đệ tử có bảy mươi cái giường tre trải chiếu, trên chiếu phủ đều drap trắng thẳng tưng, gọn gàng sạch sẽ. Đắp mền lên tận cổ, Út vẫn bị lạnh run, đầu nhức như búa bổ, cổ họng khô đắng. Lúc nầy Út cảm thấy thật buồn trống vắng nỗi cô đơn, cô nhỏ nhớ cha mẹ anh chị biết ngần nào. Ở nhà mình, mỗi lần đau ốm (như bây giờ) Út được má và anh chị hết lòng chăm sóc, thế nên con bé tha hổ làm nũng, vòi vĩnh nọ kia, nhõng nhẽo. Ôi! Ngày vui ấy nay còn đâu!
Nằm thiêm thiếp trên giường, Út nghe ngoài song cửa muôn ngàn chim én làm tổ dưới mái ngói, đang ríu rít đủ mọi giọng hót líu lo trầm bổng liên tục. Đàn chim tự do sống thoải mái vùng vẫy ngoài trời, tiếng hót lảnh lót tíu tít nghe thật truyền cảm. Nếu chim bị nhốt trong lồng, thì tự nhiên sẽ ủ rũ, đôi khi tiếng hót não nề như cặp chim sáo treo trước cửa văn phòng tu viện vậy. Giờ nầy sau tiếng dệt cửi quay tơ, tiếng mấy bà dì đọc kinh đều đều văng vẵng ở phòng bên cạnh, thì trong phòng ngủ hoàn toàn im lặng. Không gian tĩnh mịch và thời gian hầu như lắng đọng, im lắng, tĩnh mịch mênh mông, u buồn trải dài ra bất tận.
Choàng mở mắt giật mình, Út lặng người không thốt nên lời, hồn vía bay lên mây, khi Thơ len lén vào phòng, cô đi nhẹ tới giường Út, nhẹ đến nỗi Út không hề hay biết. Thơ bạo dạn ôm chầm lấy Út và tới tấp hôn chùn chụt vào má, mặt mũi cô nhỏ, rồi Thơ vụt chạy biến ra ngoài. Úi Trời ơi! Út quá sợ hãi. Vì luật dòng nghiêm cấm tuyệt đối: Không cho phép một đệ tử nào vào phòng ngủ -nếu không đúng giờ nghỉ trưa, hoặc vào trước giờ ngủ tối, phải có dì quản lý đứng ở cửa rồi đệ tử mới từng người đi vô.
Đó là một trọng luật mà Thơ đã mắc phạm. Một trọng luật nữa là Thơ dám bạo gan bạo phổi hôn Út, một trọng tội tuyệt đối cấm hai nữ tu “yêu nhau”. Út sợ hãi muốn đứng tim, dù đó là việc quá bất ngờ không do mình chủ động gây nên. Nhưng tiến thoái lưỡng nan, nếu Út dấu nhẹm chuyện nầy kín bưng trong lòng, là mắc tội, mà phơi bày ra đi xưng tội cũng chẳng thể… Thật quá hãi hùng lo lắng sợ sệt biết bao mà Út không thể hé môi tỏ cùng ai.
Một lần nữa sau đó ít lâu, Út đang lui cui xếp dọn áo quần trong phòng treo áo, thì Thơ đi ngang qua, cô ta ngang nhiên ôm chầm Út, hôn lên môi Út thật nhanh giữa ban ngày, rồi lủi lẹ đi ra ngoài. Út bàng hoàng run lẩy bẩy, lo sợ kinh khủng, mà không dám la, chỉ sợ người khác biết “chuyện tồi tệ” nầy, thì chỉ có nước chết. Út biết điều nầy xấu xa tội lỗi, tu sĩ không giữ lòng và trí trong sạch, (mặc dù Út không hề nắm tay Thơ, chưa bao giờ hôn Thơ một cái nào), thì dị hợm vô duyên lắm!
Kể từ đó hình ảnh Thơ lúc ẩn lúc hiện như ma như quỉ, luôn luôn quấy rối tâm trí Út, bắt cô nhỏ suy nghĩ, nhớ nhung một cái gì đó mơ hồ, nhức nhối buồn phiền, trong lòng canh cánh phập phồng lo sợ liên miên. Thú thật là Út rất sợ "chuyện tình éo le bậy bạ” ấy đổ bể. Út sợ trong dòng phát hiện, mọi chuyện bị lộ, thì sẽ gay cấn, bị phạt nặng, bị đuổi ra khỏi dòng, thì xấu hổ ê chề mất mặt lắm. Út sợ nhất là phải xách gói trở về nhà, không do bị đau ốm, bệnh tật, mà vì lý do “tồi tệ” nhục nhã ghê gớm nhuốt nhơ kia.
Nhưng cô nhỏ không biết làm sao xa lánh lẫn trốn “nàng Thơ quyến rũ”. Út không dám “thố lộ nỗi lòng éo le” với ai, nên tâm trí cô nhỏ không hề yên ổn, luôn bất an, dày vò tột độ. Út thật sự sợ mọi người chung quanh phát hiện, riêng ôm mối lo ngay ngáy ấp ủ trong lòng. Tuy nhiên những cử chỉ âu yếm mơn trớn của Thơ… chẳng hiểu sao Út cảm thấy ấm áp, nhớ nhung, nhẹ nhàng rung động, và… bồi hồi run rẩy trong hạnh phúc bất chợt ùa về với khắc khoải buồn đau da diết. Nửa muốn ôm ghì Thơ, nửa hổ thẹn thụt lùi!? Út luôn đấu tranh với “từng cơn bão lòng”!
Thấy Út không ưu ái “đáp tình”, nên Thơ bực tức, lì lợm, lộ liễu, trắng trợn làm đủ mọi cách để cho Út chú ý đến mình, Thơ ngang nhiên tỏ tình giữa mọi người chẳng hề sợ ai xầm xì. Út chỉ biết nhìn Thơ gượng cười, hai giọt nước mắt đọng trên khoé mi long lanh. Thơ chọc quê:
- Em lậy cại rạ chặt cậy cụi khô, thui vô bệp lã, rùi náng vô tóc chị, chị khôn còn tóc, thì chị sẹ ốt dột, hỗ ngươi, chợ chi mà chị nguýt tui hè. Chị nguýt tui, tui vẫn thương nhớ mối tình đầu của tui là chị đó nì.
***
Một buổi trưa cuối mùa hạ chớm thu nhưng có nhiều nắng chói chang và oi nồng, có các chị: Sen, Bình, Tịnh, Quy, Cúc, Hồng, Út, xin phép (soeur) hiệu trưởng Dưỡng đi chụp ảnh, để làm thẻ học sinh. Sau khi chụp hình riêng xong, họ trẻ người non dạ nghe bà chủ tiệm hình dụ dỗ ngon ngọt, cũng thật sự là họ không biết luật dòng nghiêm cấm việc chụp hình chung một tấm ảnh mặc áo dòng, nhưng họ xỏa tóc dài, (thay vì đệ tử phải bịt khăn trắng trên đầu, kẹp tóc sau gáy). Tục lệ bịt một vành khăn trắng nhỏ trên đầu, là để làm gì? Tượng trưng cho cái gì? Thú thật là tất cả đệ tử không thể hiểu, để làm gì? phân biệt điều chi cả?
Dì quản lý có toàn quyền lục lọi đồ đạt đệ tử bất cứ lúc nào, dì đã bắt gặp tấm hình “các nàng” chụp chung quái ác nầy. Thế là dòng liệt họ vào danh sách "kẻ trọng tội", cho bọn chụp hình chụp bóng ra rìa ở một xó góc. Bây giờ những người còn được tu ở đây, họ không có quyền lai vãng nhìn ngó, hay chuyện trò với “kẻ phạm tội”. Làm như kẻ ấy gớm ghiếc, là ma qủy có ba đầu sáu tay đã lột xác hiện hồn không bằng. Thử hỏi có ai trên cõi đời nầy dám vỗ ngực xưng danh: “ta là người chẳng có tội” không? Hoặc liệt họ mắc phải bịnh thống phong xù, cùi hủi chi, cần phải chia cách biệt lập ra một nơi, không ai dám béng mãng tới gần. Thật là các bà chủ trì chẳng đắc nhân tâm chút nào.
Suốt ba ngày hai đêm, Út núp núp lén lén trong một góc phòng, để chờ thân nhân đến đón về. Út không được đi xem lễ, Út xấu hổ không dám ngẩng mặt nhìn ai. Mấy ngày đó, có chị Hà bên phòng thử mỉm cười lặng lẽ bưng đến cho Út bình nước lọc, mâm cơm sơ sài vài món để trên bàn. Không ai dám nói với “kẻ nầy” lời nào, vì dòng cấm tiệt, chứ không phải chị Hà không có chuyện cần nói, hay khuyên lơn vỗ về an ủi những kẻ “không trong sạch”.
Bị gọi lên phòng họp sau chót, Út qùy lết dưới chân hai bà Nhất, bà Nhì đều to lớn mập ú, họ đang phơi hai cái đầu trọc ra, hai tay bà Nhì luôn gãi sồn sột sau lưng. Còn bà Nhất thì cào cào lên cái đầu nhu nhú tóc đen. (Trong dòng tu nầy, khi đã vào lớp tập, lớp thử, gần trở thành “dì phước” (soeur) thì các bà, các chị, đều cạo đầu tóc trọc lóc. (không như vài dòng tu khác cho các xơ để tóc, mà tu!). Ở trong phòng ngủ, họ có quyền cỡi bỏ khăn đội đầu, khi trời nóng hầm hập thế nầy). Họ là hai người quyền cao chức trọng có uy thế nhất, có uy quyền “sinh sát, tha phạt, hay tưởng thưởng” nữ tu. Tất cả mọi người ở trong dòng đây đều sợ họ xép re!
Út quỳ dưới nền gạch, hai bàn tay bé xíu nhẹ đặt lên hai bắp đùi to bự của bà Nhất, bà Nhì. Họ an toạ trên chiếc ghế dựa mây. Út năn nỉ khóc lóc, van xin “hai bà” tha tội cho “con” được phép ở lại tu. Vì thật tình em mười ba tuổi ao ước thích thành nữ tu trong sáng, khiêm nhường, thật thà, dễ dạy chớ không muốn mất dạy!
Bà Nhất nói:
- Con tạm về lánh nạn ít tháng, rồi bà sẽ tìm cách cho con vô lại dòng tu. Quả thật con quá dại khờ. Theo bà nghĩ thì con có lòng ước muốn đi tu lắm. Nhưng nếu bà đuổi các chị em kia về, mà không cho con đi về luôn, thì không công bằng. Nên buộc lòng bà phải cho con về trú tạm ở phần sở An Đôn, chờ bề trên giám tỉnh là cha Lê Hữu Huệ, chánh xứ Trí Bưu, và là bề trên hạt Đinh Cát, quyết định sau. Con cứ an tâm mà đi về phần sở là chi nhánh của dòng mình. Nghe.
Út khóc rống hụ hụ hụ… thật to, to thật to như trời tru đất diệt tận thế tới nơi. Hai bà e dè nhìn nhau, to nhỏ điều gì, và lắc đầu. Út dùng tay áo quệt lau hai hàng nước mắt, cô nhỏ lủi thủi trở về ngồi phịch xuống xó góc cũ. Khi đó Út càng ngạc nhiên thấy Thơ đã có mặt trong “chỗ xó góc ác ôn” kia. Thơ đang tự ý, tự ên chuẩn bị xếp hành trang bỏ về nhà. (Có một điều kỳ lạ là khi ở trong dòng thì Thơ tỏ vẻ “yêu” Út tha thiết. Nhưng khi Thơ đã “ra đời”, trở về nhà, hai cô nhỏ thường gặp gỡ nhau, nhưng tình cảm ấy đã khác hẳn… rất thân nhưng không bao giờ… dám hôn)!
Còn Út không trở về nhà ba má, mà ở lại nơi phần sở An Đôn, là chi nhánh của dòng Trí Bưu được hai tháng. Mỗi tuần Út có thể gặp gia đình ba má, anh chị Uyển, chị Hạc và anh Dzoãn đi xem lễ ở nhà thờ. Hai anh chị Hạc, Dzoãn thường “quyến rũ rù quến” em:
- Thôi em ạ, như vậy là “cái số” em không được Chúa chọn rùi. Đi về nhà mình ở cho rồi. Chớ tội gì đi tu cho khổ, ăn mắm mút dòi rứa hỉ. Ở nhà sung sướng, cha mẹ mình giàu có, của ăn của để không hết. Em ở đây quá buồn tủi, ăn uống kham khổ. Coi em ốm o xanh xao vàng vọt kìa. Về nhà nghe. Anh chị nhớ em lắm à.
Thế là ngẫm nghĩ thân phận eo xèo buồn thảm “quần vải áo sô” hèn mọn, mà tức nhiều và đầy… tủi hận xấu hổ! Mất tai thì đã mang tiếng rồi! Út nghe lời “đường mật” của anh chị dụ khị nó hoài, cảm thấy xiêu xiêu lòng, nghe thấm thía bùi tai và chí lý lạ! Út bèn nổi cơn “tự ái vặt”, liền một mình đi một mạch lên lại dòng cũ. Chính nơi đây xưa kia Út đã từng nhón nhén rụt rè khép nép lo “tu thân”. Nay Út tôi “hiên ngang” chảnh chẹ xách va ly dọn dẹp hết các thứ, rút vội về nhà ba má và anh chị của mình ở giữa hai ngọn đồi Cấm, tại làng Thượng Phước.
_ * _ [/SIZE]
Tình Hoài Hương

Em Đi TU... "Hú" !!!
Nhân một mùa nghỉ hè, khi về quê thăm cha mẹ đang lập sở ươm cây giống ở Thôn Thượng Phước (thuộc xã An Đôn, quận Triệu Phong, Quảng Trị), đi xem lễ ở nhà thờ An Đôn, tình cờ Út thấy những nữ đệ tử dòng Mến Thánh Giá đang vui vẻ cắm trại bên hông trường học (trong khuôn viên nhà thờ). Nhìn chung ai nấy đều dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, vui tươi và hiền lành, thì trong lòng Út cảm thấy xôn xao lâng lâng mến thích họ.
Bỗng nhiên Út nẩy sinh niềm khát vọng được vô dòng nầy. Về nhà, sau nhiều ngày suy nghĩ, Út xin ba má cho con vào ở tu viện: Không vì buồn, không vì chán, chỉ vì Út rất mến thích cuộc sống êm đềm, trầm mặc an hoà, có thể ở đó cho ta sự bình yên vui vẻ, lắng lòng, không bon chen với đời chăng?
Từ ngày Trung Thu cho đến đầu tháng Chín, lúc nào má cùng Út cũng bận rộn, lu bu lo chuẩn-bị một danh sách sắm sửa cho một nữ tu, ít nhất cần phải có: - 6 bộ áo dài & quần: tất cả chỉ là màu trắng, màu đen. - 6 áo bà ba. - 6 áo lót. - 1 lố quần lót. - 2 hoặc 3 áo lạnh trắng hoặc đen. Ít nhất là 4 đôi bít tất trắng và đen. - khăn mặt, khăn tắm, giày, dép, các thứ linh tinh, bàn chải đánh răng cá nhân, vân vân… Út dồn tất cả mọi thứ trong một va ly da chật cứng. Ngoài ra còn mang theo mùng, mền, thau giặt, thau rửa mặt…
Thế rồi những háo hức mong chờ đã đến, ba má tần ngần do dự lên xe ngựa của nhà, để đưa Út hăm hở bồn chồn vô tận văn phòng tu viện. Sau khi bà xơ quản nhiệm làm hồ sơ nhập tu, đóng tiền viện phí, đọc nội quy… họ mời ba má và Út ăn bữa cơm đầu tiên. Nhìn mâm thức ăn trong dòng đã mời tân khách, má tế nhị kín đáo nhìn ba ngao ngán thở dài rất nhẹ. Phút bịn rịn luyến lưu nói lời chia tay rồi cũng qua đi, nhưng ý con đã quyết, thì biết làm sao bây giờ, chẳng thể khiến lòng má trĩu nặng nỗi ưu phiền hơn lúc cánh cửa tu viện Trí Bưu (Quảng Trị) đồ sộ bao bọc bởi bốn bức tường gạch nâu xây cao, từ hai cánh cửa sắt màu xanh rêu to lớn vừa đóng ập lại sau lưng nghe lạnh lùng một tiếng “ầm”.
Sát bốn bờ tường trồng tre trúc um tùm san sát, đã che khuất những đôi mắt tò mò bên ngoài muốn len lén nhìn vào, cũng chẳng thấy gì! Từ cổng đi vô khoảng sân rộng, dính liền khu trường Tiểu-học (của dòng tu), gọi là “nhà khách” có nghĩa là nhà nầy riêng biệt với khu nhà dòng. Bên trong cánh cửa hông của vòng cấm địa (chỉ có nữ tu mới được phép qua cửa thứ nhì nầy) là vô khu nhà xây lợp ngói đồ sộ, mỗi nhà có mười hai căn rộng rãi, nối thành hình chữ U.
Bao bọc quanh nguyện đường lớn là sân gạch đỏ rất rộng, sân nầy dùng đi dạo sau những buổi ăn, hoặc dùng sân phơi luá, ngũ cốc, linh tinh… Phía trái có một giếng lớn nước trong và ngọt, dùng làm nước uống, nấu nướng. Phiá bên phải là nguyện đường râm mát có hai hồ xây bằng gạch lót men trắng, hồ chuyên nuôi cá phi, cá rô, cá chép, hầu cung cấp thức ăn cho dòng. Chung quanh hồ có hòn non bộ và tượng Đức Mẹ tuyệt đẹp ẩn trong hang đá lớn.
Bên cạnh hai ao cá là dãy nhà giải trí, phòng học, phòng ngủ của đệ tử, các phòng ngủ của dì thử, dì tập, phòng soeur, phòng dệt, phòng tập hát, vân vân... Trước cửa phòng học và sau lưng các phòng ngủ có thêm hai ao (lớn hơn hai hồ gạch men ở phía mặt tiền), hai ao nầy nuôi cá lóc, cá trê, lươn. Cộng với hai hồ ở sân sau sâu rộng thả đầy sen, cây súng lênh đênh trên mặt nước. Những cánh bèo lớn nhỏ li ti trôi. Lại có hai ao đắp bằng đất nện đầy rau muống, cần nước, hoa sen, hoa súng, lục bình. Ôi hồ ơi là hồ, ao ơi là ao!!!
Lục bình là loại bèo cánh lá to như trầu bà, có bầu sữa xôm xốp mềm mềm, hoa tím nhạt nở từng chùm, lúc sống cũng như chết, nó trôi nổi trên mặt nước. Út tinh nghịch nhận chìm nó xuống nước, có lẽ vì bầu sữa và thân xốp, là chiếc phao gia bảo, loài bèo không biết khuất phục khi ai cầm nó rồi thả tay ra, nó ương ngạnh phóng mình trồi lên cao. Chiều chưa sụp bóng, bốn năm ao hồ nầy là nơi chứa nhiều muỗi nhất. Từ mọi xó xỉnh muỗi bay ra kêu như ong, con nào bụng cũng đầy máu, chân tay đệ tử bị muỗi đốt ngứa rần, vuốt một cái vào chân là tay mình nhơm nhớp, ai nấy luôn bị lấm tấm mụn đỏ do muỗi đốt.
Dãy nhà ngang xa nhà bếp có hai giếng to, nước ở hai giếng nầy dùng: tắm, giặt ở sân sau. Có mười phòng tắm và mười phòng vệ sinh. Về hướng tây là nhà bếp khá rộng, nhà ăn, lại có thêm một cái giếng nữa gần trại chăn nuôi gia cầm. Vườn trồng đủ các loại rau cải, đậu mè, bầu bí, vân vân… Cuối góc vườn, cách khá xa tu viện. Một góc cuối tường là trung tâm dưỡng lão, nơi mà các dì phước “quá đát” (già nua) lão thành mang bệnh trầm kha đang tịnh dưỡng. Đời sống nơi xó góc tu viện quả thật rất buồn bã, đơn độc. Họ yên ổn chờ ngày trở về chầu Chúa. Mỗi ngày đều có các nữ tu trực ban đến phục vụ cơm nước, thuốc men, làm vệ sinh cho các “bô lão trưởng thượng”!
Út tu như bức tượng đoan trang biết đi, không nhìn ngang liếc dọc, không nói leo trèo với cấp chỉ huy đàn chị, không thèo lẽo đùa cợt hô hố "nhố nhăng, nham nhở", sống khắc khổ, nhẫn nhục, ép mình hy sinh. Đức vâng lời là điều tiên quyết. Giúp đỡ qúy mến mọi người giống nhau trong tình yêu Chúa, và thương người. Không bầu bạn kết thân riêng với bất kỳ ai. Không được rù rì nói chuyện khi chỉ có hai người. Dòng không ghi một nguyên tắc quy luật rõ rệt, mãi sau nầy khi “ra trường”, Út mới biết là: Luật dòng tu cần có ba điều cốt lõi: “Vâng Lời. Trong Sạch. Khó Nghèo”. Nếu ai phạm một trong những tội ấy vài lần, họ không tỏ ý sửa đổi, dốc lòng ăn năn sám hối, là bà dòng cho về, như một lần đạp cứt là phải chặt chân.
Các chị trên mười tám tuổi (soeur) làm công việc riêng của từng nhóm: Người lo dạy học, đi may, đi dệt cửi, đi chợ nấu ăn, làm vườn. Đệ tử nhỏ lí tí mới vào dòng hầu hết đều đi học. Đa số thì giờ là tất cả mọi người trong dòng làm việc, hy sinh, hãm mình: xem lễ mỗi sáng, chiều, tối… đọc kinh cầu nguyện, hội họp khuyên bảo nhau. Mỗi ngày có một nhóm nữ tu thay đổi luân phiên trực ban, lo việc: Tiếp tân khách: có một soeur và một đệ tử.
- Dưới phòng ẩm thực nấu bếp mỗi ngày gồm có: Hai “soeur hỏa đầu quân chính”, lo đi chợ mua sắm mỗi ngày. Ở nhà có thêm một soeur hoả đầu quân quản gia, một chị phòng tập, một chị phòng thử, năm nữ đệ tử loi choi nho nhỏ như Út, để họ sai việc lặt vặt. Vị chi là mười người cho một nhóm luân phiên dậy sớm từ tửng bưng bốn giờ sáng.
Mạnh người nào cứ cúi đầu làm việc nhẹ, việc nặng, (lúc bốn giờ sang tới mười giờ đêm, tới khi tu viện yên ắng, tắt hết đèn dầu, thì cuối cùng những người nầy se sẽ đi ngủ). Người lo việc nấu cơm, nấu nước, làm hầu hết công việc cần thiết. Năm đệ tử nhỏ được phân chia các việc lặt vặt phụ, ai sai bảo gì, thì mình làm cái đó như: Lặt rửa rau, xắt bầu, bí, múc nước từ hai cái giếng sâu, khiêng đi đổ đầy vào các chum vại to tướng trong bếp. Dọn dĩa, dao, nĩa lên bàn ăn. Múc sẵn những chén nước mắm, rau dưa, cà muối đặt trên bàn. Út là “lính mới”, lớ ngớ không biết làm việc, thì đã có mấy chị vào tu trước “kềm kẹp” hướng dẫn chu đáo.
Cứ mỗi lần nghe chuông hiệu rung, là tất cả nữ dòng từ các phòng tụ tập trước ba dãy hành lang dài và rất rộng, họ xếp hàng im lặng từ từ đi vào nhà ăn (như những chiếc bóng âm thầm). Trước cửa phòng có đặt hai cái lọ thủy tinh to. Một lọ đựng đầy hột đậu rằn. Một lọ trống không. Trước khi vô phòng ăn, thì mỗi người (bất cứ ai) đều bốc một hột đậu rằn, bỏ qua bên lọ trống không kia, (để trong dòng tiện kiểm soát là buổi ấy có bao nhiêu người hiện diện vô nhà ăn).
Bình thường mỗi ngày ba bữa, nhà dòng cho tất cả ăn uống thanh đạm: buổi sáng ăn cháo với trứng vịt muối, khi ăn khoai, sắn, hoặc ăn bánh mì. Buổi trưa, buổi tối, đều ăn cơm no đủ. Có ba món chính là: Canh, thức ăn mặn, rau xào, hoặc luộc. Thức ăn luôn thay đổi kèm một chén mắm nêm, dĩa dưa cải chua, dĩa cà ghém, ba món nầy là không lúc nào quên. Nhưng… thú thật là họ nấu ăn lạt lẽo và quá tanh, vì không đậm đà gia vị tiêu, ớt. Dỡ ơi là dỡ kinh khủng, nhưng ai nấy cúi đầu cố trợn mắt… mà nuốt. Út rất sợ mắm nêm vì nó tanh và đôi lúc thấy cả dòi. Kinh khủng xiết bao! Lúc đó Út nhớ bữa cơm ngon nóng sốt và lạ miệng do má khéo tay làm bếp, mà thèm.
Nghe chuông hiệu nhỏ trong phòng ăn rung leng keng (chuông của bà Nhất để cạnh bà), thì nữ tu đứng tại chỗ đọc kinh, rồi mọi người tuần tự ngồi xuống bàn. Trong lúc ăn cơm, có một nữ tu phòng trực ngồi trên ghế, có bàn nhỏ đặt trên bục gỗ cao, nữ tu đọc kinh thánh, đọc các truyện tích nói về những kinh nghiệm nam nữ tu trên thế giới. Sau khi ăn uống xong, bà Nhất lại rung chuông hiệu, nữ tu đứng dậy đọc kinh cám ơn. Lúc cả dòng ra khỏi phòng ăn, thì họ được phép nói chuyện… nói nho nhỏ vừa phải không ồn ào chỉ trong mười lăm phút. Sau đó cả dòng đắm chìm trong im lặng… triền miên.
Tất cả đồ dùng như: tô, dĩa, nĩa, dao, tô múc canh, (đều bằng nhôm) thì có một nhóm mười lăm nữ đệ tử nhóm A, (hoặc nhóm B, hay C) có phiên trực phòng ăn của tuần đó: lo thu dọn, rửa ráy sạch sẽ, úp lên các khuôn kệ ngay cạnh bồn rửa chén. Ai lo việc người ấy xong, họ trở về bổn phận của mình (tuần sau, thì mười lăm nữ đệ tử ở nhóm B, hoặc nhóm C khác, lại đến phiên đi phụ bếp, dọn dẹp phòng ăn, rửa chén…).
Nếu có các lễ kỷ niệm như: Ngày thành lập Dòng, Noel, Phục-sinh, Tết Nguyên Đán, Trung Thu, lễ mừng vua chúa như: Đức Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, hay các thánh bổn mạng, sinh nhật “các bà lớn” quản trị dòng, thì bà Nhất, bà Nhì cho quản gia giết trâu, (khi giết bò, hay heo), gà, vịt, cho mọi người ăn đã đời. Còn dư thịt bò, thịt heo… lớp ướp muối gừng sả, mè trắng, ớt bột, rồi đem sấy khô. Lớp ngâm nước mắm đường, chờ mùa đông tháng giá lụt lội, không có chợ đò, dòng lại đem ra dùng.
Mỗi cuối tháng trong dòng sẽ chiếu những phim hay, đa số là phim lịch sử danh nhân trong đạo, phim hoạt họa. Có văn nghệ do chị em đệ tử tự biên tự diễn "thoái mái". Nói chung cuộc sống trong tu viện thật lặng lẽ, khép kín, êm đềm. Mỗi buổi tối khi Út học xong lúc chín giờ rưỡi, mọi người nghe tiếng chuông hiệu lớn ngân rung tại phòng trực đánh hai hồi dài, một hồi ngắn: là tất cả nữ tu lớn bé đều chuẩn bị thu xếp sách tập cất vào ngăn tủ riêng (bên một gian nhà: có tủ, va ly, kệ, nơi đây dùng để đồ dùng cá nhân linh tinh).
Từ giờ phút nầy trở đi trong dòng tuyệt đối im lặng. Khi các đệ tử họp mặt đông đủ tại phòng ngủ, soeur quản lý rung cái chuông nhỏ xíu của bà. Các đệ tử (dé dé choi choi như Út) quỳ xuống nền gạch đọc kinh. Cuối kinh là phần ăn năn tội, mọi người giăng tay ra, ôn lại những gì mình đã làm trong ngày, tự đấm vào ngực mình, duyệt xem ngày hôm nay mình đã làm những điều thiện gì, hoặc làm những gì sai trái! mà đọc kinh sám hối. Chuông rung lần thứ ba, là đệ tử đi làm vệ sinh cá nhân, thay quần áo ngủ, lên giường lúc đúng bon mười giờ.
Vào những chiều thứ bảy, chủ nhật, các ngày lễ nghỉ, ai nấy ở nhà, không biết làm gì cho hết ngày dài lê thê, bà soeur “quản gia hoả đầu quân” thường kêu chị em nhà thử, nhà tập, (nói chung các chị ở nhà “tu thử, tu tập” thường “lao động” công việc nặng nề vất vã lắm. (Nhưng khi các chị ấy được tuyển chọn sẽ… trở thành dì phước, thành soeur rồi, thì cuộc sống của họ có đôi phần sướng hơn, nghĩa là không mấy khi họ bị “đì”).
Ví dụ như chị Sen ở nhà Tập, sau khi học xong lớp 12, chị được dòng cử đi Đà Lạt để “học ăn học nói học gói học mở” những điều hay mới lạ của dòng Couvent des Oiseaux, chị Sen đi học trên viện đại học Đà Lạt, rồi sẽ đem những kinh nghiệm về dòng, mà áp dụng quy luật cần tu chỉnh cho khang trang. Từ Đà Lạt mỗi tháng vài ba lần, chị Sen viết thư về thăm dòng, chị nói sự học của mình, đồng thời ghi lại những nhận xét của chị về môi trường sống mới. Thư của chị Sen được đọc vào buổi tối ở trong phòng ăn, là nơi đông đủ tất cả nữ tu tụ họp.
Thế nhưng Út không hiểu tại sao… giữa tháng Chín năm ấy, chị Sen bị bà bề trên gọi trở về, và… mỗi buổi tối chị Sen bị phạt quỳ gối trước mọi người, gần bên bục đọc sách trong phòng ăn. Út thắc mắc mà không dám hó hé hỏi ai? Rồi ngày tháng trôi qua… chị em không thấy nữ tu Sen đâu nữa. Chẳng biết chị Sen có được tiếp tục đi “du học Đà Lạt”, hay là chị “du hí ngoài vòng cương tỏa” của dòng? Họ kín như bưng, câm như hến, phận hèn như Út làm sao biết! Có tin đồn là chị Sen vì khá đẹp, nghe lời dụ khị của tên "nưu manh" bên đã “yêu” ai đó, và chị tự động cỡi áo. Bố ai mà biết.)
Các chị ở hai nhà Tập, Thử ấy cộng với nhóm đệ tử xuống kho lương thực, bưng lúa trong vựa ra; cùng nhau xay lúa, giã gạo, sàng sảy. Có hai cái cối giã gạo đạp bằng chân, và ba cái cối đá dùng chày giã gạo. Hai chị nhà tập, hai chị nhà thử thì sàng sảy trấu, cám, thành gạo. Họ làm việc nhịp nhàng xong thứ nào ra thứ đó, các đệ tử banh bao bố ra trút vào. Trấu thì đem vào nhà bếp. Tấm, cám, đem xuống khu chuồng heo, khu gia súc. Gạo đem lên nhà kho chứa thực phẩm khô.
Những giờ làm việc nầy tự do, ai muốn hát hò, kể chuyện, nói chuyện, đều được như ý, miễn sao không nói quá to, không ồn ào, là được. Làm việc cực nhọc, nhưng rất vui, nhờ số đông, mỗi người góp một chân một tay, nên thoáng chốc công việc đều xong ngay. Có nhiều lần giã ớt bột, tiêu hột thật là gay go, ớn lạnh, rùng mình. Dù nữ dòng dùng khăn để bịt mặt, che miệng, nhưng ai nấy đều hách xì nhảy mũi, nước mắt chảy ròng ròng, ho sặc sụa. Thân thể cay và nóng như phải bỏng. Út cũng như các nữ tu đều rất sợ khi giã món ớt bột nầy.
* * *
“Nàng Thơ” vào dòng tu trước Út hai năm, coi như Thơ “xếp sòng” cai quản bầy "em lính mới tò te". Út sợ, bực mình và ghét Thơ, vì Thơ ưa ăn hiếp Út hoài, (như Dung ngày xưa ăn hiếp Lê). Thơ gọi Út là "con khỉ đen". Vã lại, ngày trước Út ở ngoài “đời” tự do tung tăng bay nhảy, Út chuyên đi bắt bướm, bắt chuồn chuồn, hái hoa, ép lá, khá thoải mái... Bây giờ Út vào trong dòng ai ai cũng trắng trẻo, hồng hào! Riêng Út đen thùi lùi. Thổ âm của Thơ nghe rất lạ, nên Út không mấy hiểu ý Thơ muốn nói gì:
- Ưng đập chắt với tui khôn? Tụi mình ra ngoài cươi, thì dì quạn lý nỏ chộ mô hì.
Hoặc là Thơ hằn học với Út:
- Ngó chi? Tui có lẻ củi săn, lẻ nè, tui chấp chị cấy rạ nì. Tui ưng cắm một cấy nơi trắp bả của chị ghê hè.
Thấy “nhỏ tôi” im lặng, Thơ tìm cách gây chuyện khác:
- Có ưng tui chọi trại ội một cấy, chị lủng cấy trốt, nỏ thậy cái trọ chỗ mô bi chừ khôn? Chị có thửa tui nọi chi với chị cại chi khôn. Hỉ? Răn mà tui ghẹt chị chi lạ rứa hè. Con khị đen.
Út ngẩn ngơ không hiểu bạn nói gì. Út hỏi nhỏ mấy người ngồi gần bên:
- Chị Thơ nói về em cái gì vậy? Mấy chị ơi!?
Các bạn ngồi học gần bò lăn ra cười. Họ giải thích câu Thơ đã nói, thì mặt Út bừng đỏ vì giận. Cũng may nhiều lần Thơ nói tiếng "Tây rốc ken", Út không hiểu, nên chẳng có gì gay cấn đáng tiếc xảy ra. Bạn cũng ưa trêu chọc, lêu lêu âm ngữ giọng Đà Lạt nhỏ nhẹ của Út mà. Thời gian dài một năm sau trôi qua, áo quần giặt hoài cũ đi, da dẽ trắng trẻo hồng hào, đã biến Út trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong dòng, thì tình cảm của Thơ đối với Út thay đổi hẳn 180/o lúc nào, chẳng rõ. Thơ đã… “chịu đèn” Út mất rùi! Dù Thơ lớn hơn Út ba tuổi, quê nhà ba má cô là dân Đông Hà, mà Thơ ở tít “trong bưng”, nơi đó xa xôi không có trường học, nên khi vào tu, Thơ học lớp Nhì (tại nhà dòng nầy chỉ có bậc tiểu học). Út học lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ… nên phải đi học ở trên phố Quảng Trị, tại trường đạo Phước Môn.
Mấy tuần nay, mỗi chiều Út cùng nhóm bạn đi học trên Tỉnh Quảng Trị trở về dòng, Út thấy áo quần dơ của mình, có ai đã giặt giũ, xếp gọn và để ở trên góc giường?! Út ngạc nhiên không hiểu ai đã làm giúp? Luật trong dòng là đồ đạc của ai, người đó tự lo. Chỉ lúc nào mình ốm đau nặng, cực chặng đã mình mới nhờ vã chị em giúp xí. Sự bất bình thường nầy, khiến Út cảm thấy bất an, phân vân, lo lắng và ray rứt chen lẫn chút ngờ vực. Ban đầu Út tưởng áo quần của ai để sai chỗ, nhưng khi mở góc hò của áo ra, Út thấy số # 138 và tên mình, Út biết là không lầm.
Một hôm, trong phòng học, bỗng dưng có người tinh nghịch tắt điện. Đệ tử sợ ma kêu la om sòm, họ nhốn nháo xô đẩy nhau té ngã uỳnh uỵch. Bỗng có một người nào đó ôm chầm lấy Út, cô ta hôn vào má Út mấy cái kêu chụt chụt, rồi cô ta buông ra ngay. Con nhỏ nào đó vụt biếng dạng chạy đi ra ngoài sân cùng các bạn. Út toát mồ hôi, rồi bừng nóng, do bất ngờ mà lo sợ kinh khủng, trống ngực nhảy điên cuồng. Ai trêu ghẹo cái kiểu gì ác ôn vậy không biết? Út hét to, run rẩy xô ghế chạy vụt ra ngoài đêm tối.
Hai tuần sau đó, bị cúm không đi học, Út nằm nghỉ ở nhà. Phòng ngủ của đệ tử có bảy mươi cái giường tre trải chiếu, trên chiếu phủ đều drap trắng thẳng tưng, gọn gàng sạch sẽ. Đắp mền lên tận cổ, Út vẫn bị lạnh run, đầu nhức như búa bổ, cổ họng khô đắng. Lúc nầy Út cảm thấy thật buồn trống vắng nỗi cô đơn, cô nhỏ nhớ cha mẹ anh chị biết ngần nào. Ở nhà mình, mỗi lần đau ốm (như bây giờ) Út được má và anh chị hết lòng chăm sóc, thế nên con bé tha hổ làm nũng, vòi vĩnh nọ kia, nhõng nhẽo. Ôi! Ngày vui ấy nay còn đâu!
Nằm thiêm thiếp trên giường, Út nghe ngoài song cửa muôn ngàn chim én làm tổ dưới mái ngói, đang ríu rít đủ mọi giọng hót líu lo trầm bổng liên tục. Đàn chim tự do sống thoải mái vùng vẫy ngoài trời, tiếng hót lảnh lót tíu tít nghe thật truyền cảm. Nếu chim bị nhốt trong lồng, thì tự nhiên sẽ ủ rũ, đôi khi tiếng hót não nề như cặp chim sáo treo trước cửa văn phòng tu viện vậy. Giờ nầy sau tiếng dệt cửi quay tơ, tiếng mấy bà dì đọc kinh đều đều văng vẵng ở phòng bên cạnh, thì trong phòng ngủ hoàn toàn im lặng. Không gian tĩnh mịch và thời gian hầu như lắng đọng, im lắng, tĩnh mịch mênh mông, u buồn trải dài ra bất tận.
Choàng mở mắt giật mình, Út lặng người không thốt nên lời, hồn vía bay lên mây, khi Thơ len lén vào phòng, cô đi nhẹ tới giường Út, nhẹ đến nỗi Út không hề hay biết. Thơ bạo dạn ôm chầm lấy Út và tới tấp hôn chùn chụt vào má, mặt mũi cô nhỏ, rồi Thơ vụt chạy biến ra ngoài. Úi Trời ơi! Út quá sợ hãi. Vì luật dòng nghiêm cấm tuyệt đối: Không cho phép một đệ tử nào vào phòng ngủ -nếu không đúng giờ nghỉ trưa, hoặc vào trước giờ ngủ tối, phải có dì quản lý đứng ở cửa rồi đệ tử mới từng người đi vô.
Đó là một trọng luật mà Thơ đã mắc phạm. Một trọng luật nữa là Thơ dám bạo gan bạo phổi hôn Út, một trọng tội tuyệt đối cấm hai nữ tu “yêu nhau”. Út sợ hãi muốn đứng tim, dù đó là việc quá bất ngờ không do mình chủ động gây nên. Nhưng tiến thoái lưỡng nan, nếu Út dấu nhẹm chuyện nầy kín bưng trong lòng, là mắc tội, mà phơi bày ra đi xưng tội cũng chẳng thể… Thật quá hãi hùng lo lắng sợ sệt biết bao mà Út không thể hé môi tỏ cùng ai.
Một lần nữa sau đó ít lâu, Út đang lui cui xếp dọn áo quần trong phòng treo áo, thì Thơ đi ngang qua, cô ta ngang nhiên ôm chầm Út, hôn lên môi Út thật nhanh giữa ban ngày, rồi lủi lẹ đi ra ngoài. Út bàng hoàng run lẩy bẩy, lo sợ kinh khủng, mà không dám la, chỉ sợ người khác biết “chuyện tồi tệ” nầy, thì chỉ có nước chết. Út biết điều nầy xấu xa tội lỗi, tu sĩ không giữ lòng và trí trong sạch, (mặc dù Út không hề nắm tay Thơ, chưa bao giờ hôn Thơ một cái nào), thì dị hợm vô duyên lắm!
Kể từ đó hình ảnh Thơ lúc ẩn lúc hiện như ma như quỉ, luôn luôn quấy rối tâm trí Út, bắt cô nhỏ suy nghĩ, nhớ nhung một cái gì đó mơ hồ, nhức nhối buồn phiền, trong lòng canh cánh phập phồng lo sợ liên miên. Thú thật là Út rất sợ "chuyện tình éo le bậy bạ” ấy đổ bể. Út sợ trong dòng phát hiện, mọi chuyện bị lộ, thì sẽ gay cấn, bị phạt nặng, bị đuổi ra khỏi dòng, thì xấu hổ ê chề mất mặt lắm. Út sợ nhất là phải xách gói trở về nhà, không do bị đau ốm, bệnh tật, mà vì lý do “tồi tệ” nhục nhã ghê gớm nhuốt nhơ kia.
Nhưng cô nhỏ không biết làm sao xa lánh lẫn trốn “nàng Thơ quyến rũ”. Út không dám “thố lộ nỗi lòng éo le” với ai, nên tâm trí cô nhỏ không hề yên ổn, luôn bất an, dày vò tột độ. Út thật sự sợ mọi người chung quanh phát hiện, riêng ôm mối lo ngay ngáy ấp ủ trong lòng. Tuy nhiên những cử chỉ âu yếm mơn trớn của Thơ… chẳng hiểu sao Út cảm thấy ấm áp, nhớ nhung, nhẹ nhàng rung động, và… bồi hồi run rẩy trong hạnh phúc bất chợt ùa về với khắc khoải buồn đau da diết. Nửa muốn ôm ghì Thơ, nửa hổ thẹn thụt lùi!? Út luôn đấu tranh với “từng cơn bão lòng”!
Thấy Út không ưu ái “đáp tình”, nên Thơ bực tức, lì lợm, lộ liễu, trắng trợn làm đủ mọi cách để cho Út chú ý đến mình, Thơ ngang nhiên tỏ tình giữa mọi người chẳng hề sợ ai xầm xì. Út chỉ biết nhìn Thơ gượng cười, hai giọt nước mắt đọng trên khoé mi long lanh. Thơ chọc quê:
- Em lậy cại rạ chặt cậy cụi khô, thui vô bệp lã, rùi náng vô tóc chị, chị khôn còn tóc, thì chị sẹ ốt dột, hỗ ngươi, chợ chi mà chị nguýt tui hè. Chị nguýt tui, tui vẫn thương nhớ mối tình đầu của tui là chị đó nì.
***
Một buổi trưa cuối mùa hạ chớm thu nhưng có nhiều nắng chói chang và oi nồng, có các chị: Sen, Bình, Tịnh, Quy, Cúc, Hồng, Út, xin phép (soeur) hiệu trưởng Dưỡng đi chụp ảnh, để làm thẻ học sinh. Sau khi chụp hình riêng xong, họ trẻ người non dạ nghe bà chủ tiệm hình dụ dỗ ngon ngọt, cũng thật sự là họ không biết luật dòng nghiêm cấm việc chụp hình chung một tấm ảnh mặc áo dòng, nhưng họ xỏa tóc dài, (thay vì đệ tử phải bịt khăn trắng trên đầu, kẹp tóc sau gáy). Tục lệ bịt một vành khăn trắng nhỏ trên đầu, là để làm gì? Tượng trưng cho cái gì? Thú thật là tất cả đệ tử không thể hiểu, để làm gì? phân biệt điều chi cả?
Dì quản lý có toàn quyền lục lọi đồ đạt đệ tử bất cứ lúc nào, dì đã bắt gặp tấm hình “các nàng” chụp chung quái ác nầy. Thế là dòng liệt họ vào danh sách "kẻ trọng tội", cho bọn chụp hình chụp bóng ra rìa ở một xó góc. Bây giờ những người còn được tu ở đây, họ không có quyền lai vãng nhìn ngó, hay chuyện trò với “kẻ phạm tội”. Làm như kẻ ấy gớm ghiếc, là ma qủy có ba đầu sáu tay đã lột xác hiện hồn không bằng. Thử hỏi có ai trên cõi đời nầy dám vỗ ngực xưng danh: “ta là người chẳng có tội” không? Hoặc liệt họ mắc phải bịnh thống phong xù, cùi hủi chi, cần phải chia cách biệt lập ra một nơi, không ai dám béng mãng tới gần. Thật là các bà chủ trì chẳng đắc nhân tâm chút nào.
Suốt ba ngày hai đêm, Út núp núp lén lén trong một góc phòng, để chờ thân nhân đến đón về. Út không được đi xem lễ, Út xấu hổ không dám ngẩng mặt nhìn ai. Mấy ngày đó, có chị Hà bên phòng thử mỉm cười lặng lẽ bưng đến cho Út bình nước lọc, mâm cơm sơ sài vài món để trên bàn. Không ai dám nói với “kẻ nầy” lời nào, vì dòng cấm tiệt, chứ không phải chị Hà không có chuyện cần nói, hay khuyên lơn vỗ về an ủi những kẻ “không trong sạch”.
Bị gọi lên phòng họp sau chót, Út qùy lết dưới chân hai bà Nhất, bà Nhì đều to lớn mập ú, họ đang phơi hai cái đầu trọc ra, hai tay bà Nhì luôn gãi sồn sột sau lưng. Còn bà Nhất thì cào cào lên cái đầu nhu nhú tóc đen. (Trong dòng tu nầy, khi đã vào lớp tập, lớp thử, gần trở thành “dì phước” (soeur) thì các bà, các chị, đều cạo đầu tóc trọc lóc. (không như vài dòng tu khác cho các xơ để tóc, mà tu!). Ở trong phòng ngủ, họ có quyền cỡi bỏ khăn đội đầu, khi trời nóng hầm hập thế nầy). Họ là hai người quyền cao chức trọng có uy thế nhất, có uy quyền “sinh sát, tha phạt, hay tưởng thưởng” nữ tu. Tất cả mọi người ở trong dòng đây đều sợ họ xép re!
Út quỳ dưới nền gạch, hai bàn tay bé xíu nhẹ đặt lên hai bắp đùi to bự của bà Nhất, bà Nhì. Họ an toạ trên chiếc ghế dựa mây. Út năn nỉ khóc lóc, van xin “hai bà” tha tội cho “con” được phép ở lại tu. Vì thật tình em mười ba tuổi ao ước thích thành nữ tu trong sáng, khiêm nhường, thật thà, dễ dạy chớ không muốn mất dạy!
Bà Nhất nói:
- Con tạm về lánh nạn ít tháng, rồi bà sẽ tìm cách cho con vô lại dòng tu. Quả thật con quá dại khờ. Theo bà nghĩ thì con có lòng ước muốn đi tu lắm. Nhưng nếu bà đuổi các chị em kia về, mà không cho con đi về luôn, thì không công bằng. Nên buộc lòng bà phải cho con về trú tạm ở phần sở An Đôn, chờ bề trên giám tỉnh là cha Lê Hữu Huệ, chánh xứ Trí Bưu, và là bề trên hạt Đinh Cát, quyết định sau. Con cứ an tâm mà đi về phần sở là chi nhánh của dòng mình. Nghe.
Út khóc rống hụ hụ hụ… thật to, to thật to như trời tru đất diệt tận thế tới nơi. Hai bà e dè nhìn nhau, to nhỏ điều gì, và lắc đầu. Út dùng tay áo quệt lau hai hàng nước mắt, cô nhỏ lủi thủi trở về ngồi phịch xuống xó góc cũ. Khi đó Út càng ngạc nhiên thấy Thơ đã có mặt trong “chỗ xó góc ác ôn” kia. Thơ đang tự ý, tự ên chuẩn bị xếp hành trang bỏ về nhà. (Có một điều kỳ lạ là khi ở trong dòng thì Thơ tỏ vẻ “yêu” Út tha thiết. Nhưng khi Thơ đã “ra đời”, trở về nhà, hai cô nhỏ thường gặp gỡ nhau, nhưng tình cảm ấy đã khác hẳn… rất thân nhưng không bao giờ… dám hôn)!
Còn Út không trở về nhà ba má, mà ở lại nơi phần sở An Đôn, là chi nhánh của dòng Trí Bưu được hai tháng. Mỗi tuần Út có thể gặp gia đình ba má, anh chị Uyển, chị Hạc và anh Dzoãn đi xem lễ ở nhà thờ. Hai anh chị Hạc, Dzoãn thường “quyến rũ rù quến” em:
- Thôi em ạ, như vậy là “cái số” em không được Chúa chọn rùi. Đi về nhà mình ở cho rồi. Chớ tội gì đi tu cho khổ, ăn mắm mút dòi rứa hỉ. Ở nhà sung sướng, cha mẹ mình giàu có, của ăn của để không hết. Em ở đây quá buồn tủi, ăn uống kham khổ. Coi em ốm o xanh xao vàng vọt kìa. Về nhà nghe. Anh chị nhớ em lắm à.
Thế là ngẫm nghĩ thân phận eo xèo buồn thảm “quần vải áo sô” hèn mọn, mà tức nhiều và đầy… tủi hận xấu hổ! Mất tai thì đã mang tiếng rồi! Út nghe lời “đường mật” của anh chị dụ khị nó hoài, cảm thấy xiêu xiêu lòng, nghe thấm thía bùi tai và chí lý lạ! Út bèn nổi cơn “tự ái vặt”, liền một mình đi một mạch lên lại dòng cũ. Chính nơi đây xưa kia Út đã từng nhón nhén rụt rè khép nép lo “tu thân”. Nay Út tôi “hiên ngang” chảnh chẹ xách va ly dọn dẹp hết các thứ, rút vội về nhà ba má và anh chị của mình ở giữa hai ngọn đồi Cấm, tại làng Thượng Phước.
_ * _ [/SIZE]
Tình Hoài Hương














Comment