Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • muahong
    Người Thân
    • Mar 2009
    • 89

    #91
    Với lối hành văn sinh động và với kiến thức rộng về Đà Lạt , tác giả THH đã dẫn dắt mọi người đi thăm những thắng cảnh , những nơi chốn nổi tiếng không những của Đà Lạt mà còn của Việt Nam nữa .
    Hơn bốn mươi năm trước , tôi cũng có đi thăm một vài cái thác ở ĐL , dọc theo quốc lộ từ ĐL đi SG và đã thấy sự hùng vĩ , hoang sơ của thác . Nhưng bây giờ , qua ngòi bút của THH , tôi càng nhận ra vẻ đẹp của những thác mà tôi đã từng đi qua .

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #92
      THH cám ơn anh Mưa Hồng

      Nguyên văn bởi muahong View Post
      Với lối hành văn sinh động và với kiến thức rộng về Đà Lạt , tác giả THH đã dẫn dắt mọi người đi thăm những thắng cảnh , những nơi chốn nổi tiếng không những của Đà Lạt mà còn của Việt Nam nữa .
      Hơn bốn mươi năm trước , tôi cũng có đi thăm một vài cái thác ở ĐL , dọc theo quốc lộ từ ĐL đi SG và đã thấy sự hùng vĩ , hoang sơ của thác . Nhưng bây giờ , qua ngòi bút của THH , tôi càng nhận ra vẻ đẹp của những thác mà tôi đã từng đi qua .
      ***


      THH cám ơn anh Mưa Hồng đã ghé vào đọc bài viết về danh lam thắng cảnh Đà Lạt, và ưu ái ghi lời khích lệ.
      Tôi thật vui và cảm động vì thân hữu có một thời ghé thăm Đà Lạt, quê hương cẩm tú...
      Tình thân

      *
      THH
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • Tinh Hoai Huong
        Senior Member
        • May 2009
        • 1081

        #93
        Dạ Khúc Đêm NOEL Đà Lạt



        Dạ Khúc Đêm NOEL Đà Lạt
        Tình Hoài Hương
        *


        Noel xưa anh nhớ
        Khi hãy còn yêu nhau
        Nhà thờ nơi cuối phố
        Thấp thoáng sau ngàn dâu
        Anh chờ em đi lễ
        Chung dâng lời nguyện cầu...
        Mimosa mimosa bừng nở
        Đẹp như tình ban đầu
        (1)

        Đêm Noel Đà Lạt khai sinh Mười với tuổi xuân hồng phơi phới rót mật vàng từ thinh không xuống lòng phố nở hoa mùa đông. Gió cuối đông lồng lộng thổi về làn hơi buốt giá lạnh tê người. Bầu trời ướt đẫm sương đêm Noel tuyệt vời ngọt ngào, ngây ngất, đầy hương vị tình yêu miền núi. Từng hồi chuông dài ngân nga giữa đỉnh đồi bay qua các sườn dốc, các khe thung: tiếng chuông mừng vui réo gọi hoan hỉ reo vang cùng thế nhân. Một đêm hội lịch sử đón chào Chúa Giáng Sinh 24 tháng 12: là đêm lạnh lẽo buốt giá hạnh phúc vui vẻ tưng bừng rất mùa xuân.

        Hàng cây tối mờ trong lớp sương mù dày bao bọc vòm trời ẩn hiện ánh đèn vàng vọt mờ nhạt ở đầu phố, tạo thành nhiều đóm sáng bất động. Các mái nhà dưới thấp trên cao chênh vênh bên sườn đồi thoai thoải. Những con đường mòn chạy dài xuống thung lũng âm u văng vẳng đâu đây tiếng lao xao cười nói ồn ào. Nhiều tốp nam nữ thoáng chốc tấp nập ra phố đêm đi dự lễ. Trên các nẻo đường lớn trong thành phố, người đi kẻ lại đông vô số kể. Họ khoác bộ cánh rực rỡ, áo lạnh khăn quàng, găng tay, mũ len đủ mọi màu sắc.

        Phố phường tưng bừng rộn rã hoan ca, khác hẳn ngày đầu đông ở xứ lạnh. Người người vui vẻ cười đùa, chuyện trò ríu rít, đi lại ngược xuôi chen lấn nhau trên đại lộ. Nơi đây không một chiếc xe nào có thể qua lọt giữa rừng người bách bộ đông như kiến. Người ta vui vẻ nói cười, không cần biết những ông cảnh sát đang vất vả làm việc lưu thông không ngưng nghỉ. Mười chợt bừng tỉnh giấc ngủ nồng say sau mùa Thu héo úa, rồi mùa đông buốt giá gần tàn. Lòng cô em xôn xao, thỉnh thoảng gió thổi qua mát rượi, đủ làm cho da người con gái xứ lạnh càng thêm thắm hồng, dấy động từng thoáng nhớ đắm say, vấn vương ngọt ngào mãi không rời, qua tiếng tơ lòng dìu dịu rung ngân trên mỗi phím loan.

        Ở trong tư gia: Bảo, Quốc Toàn, Thịnh, Trình đang loay hoay trang hoàng cây thông cao quá, đọt đụng trần nhà bị cong hẳn lại, Bảo phải cưa bớt một đoạn dài. Sau đó các cháu móc đầy dây kim tuyến, ngôi sao, quả cầu đủ màu sắc, thiệp Noel, thiên thần, ông già Noel, và giăng nhiều đèn màu chớp tắt. Dưới gốc thông có những gói quà nho nhỏ, xinh xinh, bánh, kẹo, đồ chơi linh tinh... Nhạc giáng sinh trỗi lên tưng bừng nhộn nhịp, hoan hỉ vui vẻ trong căn nhà ấm áp. Tiếng cười con cháu vang khắp nơi vui như mở hội. Sau nhà ngang: chị Khánh, bà bếp đang chiên xào nấu nướng các món ăn thơm phức. Họ chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, lát nữa đi lễ về, là gia đình ăn réveillon.

        Ăn cơm tối xong, Mười quét dọn, lau chùi nhà cửa sạch sẽ tươm tất. Nàng ủi áo quần cho gia đình để chuẩn bị đi lễ. Thơ vừa lau bụi trên các kệ sách, nàng nói:
        - Hồi chiều, có anh Phú, Lễ, Tài, Vinh, đến nhà mời chị em mình, mười giờ rưỡi lên Couvent xem lễ, chứ ở Nhà Thờ Lớn đông lắm! Rồi về nhà họ ăn réveillon, mở party... Em chưa kịp nói gì, thì anh Nam đến.
        Ngạc nhiên, Mười ngừng ủi áo, ngẩng nhìn em, hỏi:
        - Anh Nam gặp Phú? Họ nói chuyện vui vẻ há?
        - Coi chừng cháy áo. Chị "táp pi" em tới tấp à? Họ chào hỏi nhau, vui vẻ cả làng.

        Hồi chiều Mười bất ngờ thấy Nam ngoài phố, lòng Mười đã rộn ràng, xao xuyến, mừng rỡ. Về nhà Mười dấu kín niềm vui nầy, vờ như chưa biết gì. Phần các cháu muốn Mười có chút bất ngờ thú vị, nên chúng cũng không nói Nam từ Sài Gòn đã lên Đà Lạt. Tâm trạng Mười lúc này thật kỳ, vừa mừng vừa lo, bồi hồi, quắt quay với nỗi mong chờ. Bây giờ nghe cô em vừa nói, lòng nàng nao nao, băn khoăn bồi hồi. Lãng mạn không? Nhắc đến Nam, Mười quên hết mọi sự, tươi vui nét mặt ngay, mọi thứ bỏ sang một bên. Khi tình yêu đến có khác gì cây khô gặp mưa thuận gió hòa, đã trở nên xanh tốt. Muốn sớm gặp người yêu, nàng nôn nao, vui mừng, thấp thỏm, không yên ổn ấy mà.
        - Chị cũng đi lễ với các anh kia chứ?
        - Đi sao được!
        - Đến nhà Phú xí, rồi chị về đi lễ với anh Nam. Không có chị, chẳng vui.
        - Đủ rồi. Em không chuẩn bị gặp người yêu sao?

        Thơ cười hì hì, nàng mặc sẵn áo dài mới màu xanh nhạt, điểm cánh hoa vàng nhỏ rải rác trên tà, quàng chiếc manto đen. Từ khi có "bồ", vấn đề ăn mặc trở nên cần thiết với Thơ, quần áo tuy lèng xèng giản dị, nhưng tươm tất. Nàng nghĩ: Dù sao nên "giữ kẽ" một tí, diện một tí, chứ xuềnh xoàng quá coi cũng mất mặt bầu cua. "Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần" mà! Mười đi lên, đi xuống con dốc mờ tối năm bảy lần, chờ đón, ngóng trông Nam kinh khủng. Ruột nóng như lửa đốt.

        Dưới ánh đèn vàng vọt đầu phố có hàng cây tối mờ, bụi qùy cánh lá xòe to nham nhám, thấp thoáng nhiều bông hoa màu nghệ, nhụy nâu nở hết cánh trông vui mắt, chúng nép mình dưới chân vách đá. Các mái nhà dưới thấp, trên cao, chênh vênh bên sườn đồi thoai thoải, chạy dài xuống thung lũng âm u, có ánh đèn mờ nhạt chiếu ra, tạo thành nhiều đóm sáng bất động, lớp sương mù dày bao bọc cả vòm trời. Cuối sân sau của trường kỹ thuật Lasan, nơi bờ khe nhỏ ăn xuống phiá dướI là khe mương nước chảy một bên đường.

        Thỉnh thoảng vài hòn đất, đá, lăn trên khe cao rơi xuống. Một tiếng "bủm" khô khan to và lạnh lùng. Mười dừng lại, nhìn về phía đó đăm đăm, hình như có tiếng ai nói gì trong bóng tối, nơi ánh đèn đường không dọi tới. Ai nói gì vậy!? Văng vẳng đâu đây tiếng lao xao cười nói ồn ào thoáng chốc đến nhanh. Ồ, thì ta chỉ là tốp nam nữ tấp nập đi nhanh ra phố đêm dự lễ. Coi vậy nàng nhác gan ghê! Có cái gì khiến Mười nhìn ra đầu đại lộ Yersin? Năm ba cây anh đào hoa nở rộ cài cánh hoa mong manh, ẻo lả, trên cành trơ trụi lá. Đồi thông rì rào trò chuyện dưới thung lũng, khu đất nhà ông Nguyễn Đệ rộng mênh mông, thì có gì để nàng phải đăm đăm nhìn về hướng đó, mà lòng thấp thỏm bồn chồn âu lo quá đỗi?

        Chiếc taxi ngừng lại ở đầu dốc; Nam bước xuống, chàng mặc bộ veston mùa đông màu đen, cà vạt màu nâu non ôm kín cổ áo sơ mi vàng nhạt, áo pardessuis màu kem vắt trên vai như khách lữ hành ngày xưa mới gặp. Nam mang đôi giày da thời trang cùng màu với bộ veste. Mười cười rạng rỡ, liền ríu rít rảo bước về phía Nam. Dưới cột đèn đường khi nhìn thấy Mười, anh âu yếm trao nàng nụ cười tươi thắm. Nam im lặng nắm tay Mười đi xuống dốc. Nàng líu lo:
        - Sao anh không viết thư báo tin trước. Em sẽ đi đón?
        Nam im lặng đưa Mười quyển album, hộp bánh, quyển "Trau Dồi Ý Chí" của Claude Maillard, một hộp nho nhỏ bao giấy kính vàng cột nơ hồng (quà gia đình các anh chị, các cháu, thì Nam đã đem đến hồi chiều).
        - Anh lên đây hồi nào vậy. Nam?
        Chàng siết chặt tay nàng, khẽ thở dài, Nam không nói: Mặc cho Mười ríu rít hỏi chuyện, Nam đến nhanh chỉ cười cười siết chặt tay Mười. Dừng lại dưới ánh đèn nàng giựt tay ra khỏi tay Nam, ngẩng lên, hỏi:
        - Giận em à, hở anh?
        - Mười đi đâu, từ sáng sớm đến tối mịt vậy em?
        - À, em đi Cầu Đất với mấy nhỏ bạn làm chuyện tào lao, ngu ngốc. Anh lên đây, em rất mừng.
        - Biết có "họ", thì anh hổng thèm lặn lội từ Sài Gòn lên Đà Lạt (để dự lễ Noel đầu tiên của chúng mình). Mười có vài chàng trồng cây si, cây mơ… nhớ gì đến anh, mà mừng vui. Họ chờ em suốt buổi đó.
        - Tự họ qúy mến cả nhà. Chẳng riêng ai. Không vì ai, anh ơi!
        - Chưa chắc à.
        Hai người tiếp tục đi xuống con dốc nhà:
        - Anh thấy Nghi “bà con xa xa" của em đã đến đây.
        - . . .
        - Ủa! không bà con sao? Vậy không lẽ… là “bạn yêu” của chị Hạc?
        - Mỉa mai gì ác thế? Em yêu anh nhiều mà.

        Cảm động trước câu nói bất ngờ, Nam nhận tình em yêu bằng cách chàng tìm bàn tay Mười trong bóng tối, ánh mắt tha thiết nồng nàn hơn. Không nỡ trêu chọc nàng, Nam sợ Mười hờn dỗi, thì mất vui. Họ buông tay nhau khi đứng trên thềm. Sau đó Nam, Mười, cùng các cháu đi lễ đêm Noel. Họ đi trong lòng phố giá băng buốt lạnh, mang trong lòng niềm hân hoan yêu đời, vui vẻ hạnh phúc, bình an, tuyệt vời nhất. Thỉnh thoảng gió đông thổi qua mát rượi, đủ làm cho da người con gái xứ lạnh càng thêm thắm hồng. Noel khai sinh tuổi xuân hồng phới phới đang rót mật vàng từ thinh không xuống: lòng phố nở hoa mùa đông trên đỉnh đồi mù mịt sương muối và trong cánh đồng thương yêu của Nam và Mười. Một Noel tuyệt vời ngọt ngào ngây ngất, đầy hương vị tình yêu miền núi.

        Từng hồi chuông dài ngân nga giữa đỉnh đồi, qua các sườn dốc, các khe thung tiếng chuông mừng vui réo gọi, hoan hỉ reo vang cùng thế nhân đón chào ngày Chúa giáng trần. Có hai vì sao sáng nhất thân ái quỳ gối bên nhau trò chuyện trên bến Ngân Hà. Vành trăng khuyết lơ lửng như chiếc thuyền con trôi đi trôi về giữa các tầng mây. Noel là một lễ Giáng Sinh tuyệt diệu, hạnh phúc nhất của đời cô gái mười sáu tuổi chớm lớn. Và, có lẽ là một Noel tươi đẹp thú vị nhất của một chàng trai mười chín tuổi. Lòng Nam và Mười xôn xao dấy động, họ vui không thể tả.

        Tay trong tay tình nồng trong mắt biếc trao đưa, đôi mái đầu xanh chụm lại, cùng dạo bước bên nhau quanh khu trường học, theo các cháu vào hội trường xem học sinh trường trình diễn văn nghệ. Triển lãm tranh ảnh. Bích báo. Tuần san. Máng cỏ. Riêng “hai anh chị”̣ sau khi dạo xem quang cảnh trường, họ ngồi ngoài băng ghế đá, cạnh vườn hoa trước nhà thờ Dòng. Chàng lấy trong túi áo veste ra một hộp sơn mài nhỏ, có sợi dây chuyền vàng 18k, mặt chữ ghi NM. Anh vui vẻ ân cần đeo sợi dây chuyền vào cổ Mười, âu yếm nói:
        - Kỷ niệm dù bé nhỏ, vẫn có giá trị về hạnh phúc một đời. Ta cảm ơn Chúa cho chúng mình gặp nhau, yêu nhau. Em nha.
        - Dạ phải.
        Vuốt lọn tóc buông dài trên bờ vai Mười:
        - Mái tóc em dài, anh rất thích, đừng cắt ngắn nghen em.
        - Anh khen quá, em bể lỗ mũi, chết à.
        - Ơ kìa! Ai khen em mà bể mũi. Mắc cỡ chưa!
        - À há. Anh chỉ nói mái tóc em dài, chớ chẳng phải khen em, em mà dị dạng rứa hè. Anh là khách lữ hành, dù đất lành chim vẫn chưa đậu. Rồi chốn phồn hoa đô hội cũ sẽ gọi anh quay về thôi. Có gì mà không bể mũi em chứ.
        - Phượng hoàng đã gãy cánh trên đôi vai nầy rồi.

        Vỗ vỗ trên vai Mười, Nam nói lời dịu ngọt, Nam nâng niu lọn tóc dài xõa bên má và đưa lên môi hôn. Mười cắn nhẹ làn môi, đầu nghiêng hẳn lên vai chàng. Hơi thở Nam ấm nồng phả nhẹ vào trong tóc Mười như làn hơi sương nhút nhát mà ấm áp. Ngón tay thư sinh trắng trẻo mềm mại truyền qua làn tóc mỏng xõa trên vai Mười cảm giác đằm thắm, lâng lâng ngọt ngào dễ chịu. Nam biết, nếu anh cúi xuống đặt lên môi Mười nụ hôn đầu tiên, có thể nàng không phản đối. Nam đắm mình trong hạnh phúc bất tận, ngây ngất niềm vui dạt dào. Nam nâng niu, trân trọng mối tình nên thơ, hồn nhiên nở hết cánh trong trái tim chân thật.

        Sao lạ quá! Cũng như lần Nam gặp gỡ Mười trước kia, ý nghĩ về việc Nam muốn ôm ghì Mười vào lòng mà hôn, cho thoả những nỗi niềm nhớ nhung bấy lâu vẫn nung nấu trong lòng. Nhưng rồi… Nam nhìn Mười hồn nhiên và giản dị ngây thơ, thì Nam cố gắng “đè nén” xúc cảm hừng hực và rạo rực… chìm xuống xí. Cứ vẩn vơ nghĩ đến… là Nam cảm thấy người mình xôn xao nóng rang trong trạng thái lâng lâng dật dờ rất khó chịu…

        Tàn tiếng chuông báo hiệu nửa đêm ngân dài giữa vùng núi đồi trùng điệp chập chùng biển sương mù trắng xóa, thì hai người dìu nhau vào giáo đường xem lễ. Nam dâng cuộc đời, tình yêu nầy và tương lai cho Chúa Hài Đồng gìn giữ. Sau đó Nam về nhà chị Khánh ăn mừng lễ trong không khí gia đình ấm cúng, thân mật. Ba giờ khuya, chàng từ giã Mười để về nhà Tuấn ở cuối đường Hoàng Diệu.

        Chàng sẽ không bao giờ quên kỷ niệm vàng son một thuở yêu nhau, không thể nào quên… dù mai đây thời gian trôi chảy mãi, đời mỗi người trong hai chúng ta sẽ xa cách, phai mờ đi. Cuối cùng tình yêu nầy vẫn sống mãi trong tiềm thức, trong tư tưởng mỗi người. Một mình Nam đi trên lòng phố vắng, hồi lâu chàng còn nghe rõ tiếng gót giày cô đơn thong thả gõ lóc cóc lộp cộp đều đặn trên mặt nhựa đẫm sương mù, giống như Nam đang đi trên dòng thác vừa tráng thêm lớp men tình. Sương rơi lốp đốp trên cành, hạt sương mọng to tròn long lanh như ngấn lệ đọng, sương đậu ở đầu ngọn lá rung rinh dưới ánh trăng nhạt nhòa. Sương phủ trên thân Nam tê buốt thịt da giá rét vô vàn.

        Nam dừng lại giữa lòng thế kỷ lần tay tìm trong túi quần gói thuốc Craven “A”, hai lòng bàn tay Nam khum khum che đốm lửa, điếu thuốc lập loè gài lên môi, Nam ngửa mặt lên trời thả ngụm khói tản mạn trong không trung, quyện lẫn hơi sương ngút ngàn bay bay. Nam cảm thấy đơn điệu, cô độc lạ thường đang choàng vô cái khuya buốt lạnh, giá băng, im ngắt đến ghê rợn. Đường về khuya tại thành phố Đà Lạt trữ tình càng hiu hắt hoang vu. Khuya thăm thẳm sắc bén ăn sâu vào lòng du khách, khuya lạnh lùng vây bọc nhận chìm Nam trong đam mê ngút ngàn phong thổ. Ngàn đời xứ Cao Nguyên Lâm Viên vẫn không thể mất đi vẻ thơ mộng, hữu tình, tràn lan quyến rũ, trọn vẹn những tấu ca hương trầm dạ khúc đêm trường qua cung đàn đắm say ở trần thế: Thôi thì xin hưá anh là Sương, em là Cỏ: Chúng ta sẽ vĩnh hằng “Mộng Chung Đôi Cánh”* nha em:
        Đời phiêu lãng thấm đẫm sương rơi
        Mái tóc anh bỗng thấy bạc rồi
        Sương cỏ giao tình mơ khắng khít
        Cỏ sương thầm ước mộng chung đôi.

        Không lẽ Không-quân mãi giạt trôi
        Núi mòn sông cạn lướt chơi vơi
        Thương em hứa hẹn làm thân cỏ
        Hạt ngọc sương trao ngậm chẳng rời.

        Sương đọng rung rinh ánh mắt nàng
        Xuân tình bay bổng nhớ đài trang
        Phi công cánh bay vờn trong gió
        Lả lướt tình sương cỏ dịu dàng.

        Danh lợi phù vân chẳng có màng
        Cỏ đây sương đấy ước bình an
        Đôi ta nghĩa trọn tình chung thủy
        Phước lộc vui vầy sống thọ khang...
        (2)
        ***

        Tình Hoài Hương

        (1) Thơ Nhất Tuấn
        (2) thơ Tình Hoài Hương
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-15-2020, 06:15 AM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #94
          Món Qùa Tết cuả Thiếu Phụ Năm Xưa


          Món Qùa Tết cuả Thiếu Phụ Năm Xưa
          Tình Hoài Hương
          *


          “Kiến kỳ văn, bất kiến kỳ hình”, (đọc văn không thấy người). Tôi viết lại chuyện buồn với lòng trung thực, thật thà có sao nói vậy trong dịp Tết. Và cốt lõi của vấn đề vẫn là: Ước mong nồng nhiệt xin bình an và yêu thương đến trong một đời người còn ở lại trên cõi đời ô trọc. Kết quả dẫu phi lý hay nghịch nhĩ thế nào. Dù hài hước hay bi lụy. Giữa thống khoái say men chiến thắng túy lúy. Hay hãi hùng tàn cuộc phân ly. Giữa xấu xa và nét đẹp thanh cao trong đời. Giữa tràn đầy xa hoa sung túc, hay thiếu hụt khổ đau. Giữa tiễn biệt chia ly, hay hân hoan nồng nhiệt đón chào.
          Mong sao người và người xích lại gần nhau tí nữa. Ngồi lại bên nhau, hầu an ủi, đùm bọc và chia sẻ nỗi niềm chung. Và; Khi đặt bút xuống viết bài, ước mong của tôi là: Xin ghi lại một chứng nhân bé mọn, tầm thường, (trong muôn ngàn chuyện người vợ tù “cải tạo” cao cả khác). Khi: Tôi vẫn sống run rẩy, lo âu, bệnh tật, nghèo đói cơ cùng, thường xuyên bám riết đời mình. Nỗi đớn đau tột cùng, chạm tới đáy trái tim, khiến tôi hẫng từng bước lao đao. Tôi luôn bị săn đuổi, dồn nén, chạy về ngỏ cụt, không lối thoát. Tôi cắm đầu chạy thục mạng đến hụt hơi. Tôi bị tống-khứ đến nẽo tương lai mù tối, lênh đênh, gập ghềnh, cập quạng trên con đò bấp bênh sóng đời cuồn cuộn. Không thể chèo lái, mặc gió táp mưa sa vùi dập. Vì, trong tất cả mọi ý niệm: từ không gian lẫn thời gian, thân mẹ con chúng tôi như chiếc bong bóng phình căng giữa trời; Muốn trôi đi đâu thì đi, bay đến đâu thì đến. Mặc! Chúng tôi đã ở trên tột đỉnh đau thương và tuyệt vọng. Thật hãi hùng! Dường như ngày đêm có bước chân ai ngấm ngầm âm thầm theo dõi sau lưng. Tôi luôn lo sợ cúi gầm đầu nhìn xuống đất, cụp nón rách mà lủi đi.
          Từ ngày cọng sản xuất hiện ở cùng trời cuối đất, thì họ cấm tiệt vụ đá gà. Không có môn giải trí lành mạnh nào nữa, thì người ta lén lút đem gà tre ra đầu xóm đá chơi, cho đỡ buồn. (Chớ có tiền bạc chi, mà rầm rộ cá độ cao). Chơi rứa cũng cấm. Tôi thấy thằng Thái con bà Mên thường bợ con gà nòi đen bóng đi quanh xóm, để tìm bạn đá ga vào những ngày đầu đông kiếm tí tiền vui xuân. Con gà có cặp cựa nhọn hoắt, do thằng Thái ra công trau chuốt mỗi ngày. Nó nhổ trụi lông đầu, lông cổ, lông cánh, và nhổ cả lông ở cặp đùi. Nhổ sạch! Khiến những chỗ con gà bị nhổ lông, thì da con gà đã đỏ rực dưới bộ cánh đen tuyền. Trông con gà oai dũng đẹp làm sao! Chính hôm cuối đông cận ngày đầu năm dương lịch, bên gian nhà của trại gia binh bỏ trống, nơi bọn nhỏ ưa tụ tập và rống cổ lên la:
          - “Dzô! Dzô”…
          Lúc hai con gà lôi mặt đỏ tía tai đang hăng tiết chọi nhau uỳnh uỵch. Thì, có hai vợ chồng già kia lù lù dọn ít túm đồ đạc sơ sài lèn quèn đến ở trong gian nhà trống nầy. Thế là bọn trẻ "chơi gà lậu" tiu nghĩu. Từ đó, chúng kéo nhau ra ngoài gốc cây me, ngồi lấp ló bên bờ vực, mà chơi lén.
          Tôi vui khi có bạn láng giềng cùng cảnh ngộ, (thấu hiểu và có chút tri thức), đến ở trong xóm. Có bạn mới, gia đình tôi đỡ cô đơn biết mấy! Có lẽ do cùng chung một hoàn cảnh nghèo mạt rệp, chung một niềm đau, chung một nỗi đắng dày vò xót xa, nên chúng tôi dễ dàng thông cảm, thấu hiểu nhau chăng?!
          Người đàn bà tuổi cập kê ngũ tuần ấy, có mái tóc rất dài, dày và mướt là là bay trước gió, mỗi khi bà ta gội đầu với lá sả, lá bưởi nấu trộn trái bồ kết thơm thơm. Tôi rất mê mái tóc óng ả của bà buông thả. Lúc gội đầu xong, bà Nga xoã tóc, lặng lẽ trầm ngâm ngồi phơi dưới nắng. Mặc dù bà vẫn còn nét cao sang lửng thửng bước đi, thì bụi đỏ vướng theo làn tóc bay bay cuốn theo gót chân. Nhưng sau đó ít lâu, bà tự tay hớt mái tóc dài lên tới ót, bà ứa nước mắt đem lọn tóc tuyệt vời đi bán. Bà mua gạo mắm tương đậu và rau về, để làm món qùa Tết: trước là làm mâm cơm cúng giỗ và mời tổ tiên “ông bà ngự giá” sau cùng hai vợ chồng già sống thanh đạm qua mấy ngày Tết Nguyên Đán muộn màng. Tôi tiếc đứt ruột khi thấy mái tóc bà mất đi trên tấm lưng thon.
          “Sao ngao ngán? Đường trần vui bất tận.
          Mớ tóc huyền, xin đoạn tuyệt thời gian,
          Ngao ngán chi! Cho lòng thêm khổ ải!
          Hé môi cười. Ươm mỗi độ xuân sang…”
          Lạ thật! Tôi cảm thấy dường như vì mái tóc ấy, tôi đã mất đi một cái gì thân thiết của chính tôi vậy. Họ không còn gì ngoài ba thứ lặt vặt thường dùng. Hai bàn tay gân guốc trống trơn, nhưng mái tóc ngắn cũn cỡn sau ít tháng lại lú nhú mọc lên những điểm bạc trước thời gian. Họ nghèo rớt mồng tơi như chúng tôi. Bởi vì… nay họ “Không duyên. Không phận. Chuyên cần vô ích”. Và, cũng bởi họ đỗ lỗi cho Trời: “Khó. Giàu. Muôn sự tại Trời. Nhân sinh ai cũng kiếp người mà thôi!”.
          Vài ba tháng sau, thân tình hơn, bà Nga tâm sự vài ba câu chuyện đã được kiểm chứng rất thật:
          - Cô Nị có biết là 100 Thiếu-tá đi trình diện ở trường Pétrus Ký, bị chuyển đến thành Ông Năm ở Hóc Môn (Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo) được chia thành hai đội 34 và 35. Tên cán bộ y tá tập hợp các thiếu tá ; trong số đó có Thiếu tá Quách Hồng Quang là Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu tá Phạm Hữu Thịnh, đơn vị cuối thuộc Ban Liên Hợp 4 Bên ở Sài Gòn, họ đi làm đường mương, nhà cầu. Khoảng 2 giờ sáng các anh Thịnh và Quang đi ra hướng hàng rào kẽm gai, dự định vượt thoát. Thì lính gác phát hiện đã bắn anh Quang. Súng nổ và kẻng báo động rần trời.. Lúc đầu anh Quang tuy bị thương còn sống, nhưng đám cán bộ bồi thêm mấy tràng đạn nữa. Phần Anh Thịnh đã thoát ra khỏi hàng rào an toàn rồi, nhưng anh quay lại cứu bạn nên bị viên đạn cắm vào lưng và bị bắt nhốt trong 1 connex gần chòi gác, ngày thì nóng như ngồi trong chảo dầu, đêm lạnh thấu xương.
          - Úi Trời đất ôi! Thảo nào lúc đó em nghe súng nổ loạn xạ… và cai tù rầm rập la hét ghê lắm.
          Bà Nga nhìn tôi giây lát. Và tiếp tục câu chuyện:
          - Ở trong Thành Ông Năm còn nhiều “nữ tù cải tạo” của chính quyền Sài Gòn nữa đó cô. Ông chồng tôi xưa kia làm cho Mỹ lo về việc MIA. Mỹ thiết lập văn phòng nầy, ông nhà tôi giỏi tiếng Anh, nên vào làm từ năm 1974. Ung dung lắm! Cô biết “mia” không? MIA là chữ tiếng Anh, viết tắt dài lòng thòng, tôi quên mất rồi! MIA cần biết bao nhiêu binh sĩ mất tích trong chiến trường Việt Nam í. Ổng nói:
          - Hằng ngày xe jeep chở ổng đi qua đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong, có câu: “Những hy sinh cao quý của chiến hữu, đồng minh sẽ không bao giờ quên!”
          Bà cay đắng nhếch miệng cười, nâng ly uống ngụm nước lạnh và tiếp:
          - Cô Nị nè… Còn tôi, ngày xưa, tôi làm phó văn phòng trong Bộ Y Tế, trên Sài Gòn, người làm việc dưới quyền của tôi ra vào nườm nượp cả trăm nhân viên. Chúng tôi ưa đi ăn uống ở nhà hàng La Pagode, Givral, Brodard, mỗi khi có khoản đãi tiệc tùng. Nay thì… có thằng oắt con bố lếu bố láo, hắn thích nổ, mà nổ quá xệ, nổ từ Long Bình qua tới “Long Beach” chả ra thể thống gì! Hắn chỉ đáng tuổi cháu mình, mà chơi xỏ, hắn cho tôi một chỗ đứng ngoài hàng hiên, bắt tôi ghi tên cho thuê chỗ giữ xe đạp, kiêm lao công tạp dịch thay ông cai, tiền thu đầy đủ tôi tống nộp cho hắn “ngồi chơi xơi thịt” mút mùa. Hắn còn sai tôi hầu nước trà, hầu cà phê, để tiếp đồng chí, đồng rận của hắn. Tôi chỉ muốn nhổ bãi nước bọt vào cái ly, rồi cho chúng uống, để trả thù thay dân tộc, và trả thù một thằng oắt ranh dám chơi xỏ... bà!
          Bà Nga nhìn tôi giây lát, như dò hỏi, rồi trầm giọng:
          Nhưng, tôi lại tiếc rẻ bãi nước bọt! Vì cổ tôi khô lông lốc, có nước bọt đâu mà khạc ra! Cô biết không, chiều chiều hắn tha về nhà nào vải vóc, kem đánh răng, bột ngọt, dầu hôi, thịt heo, chân gà chân vịt... Ôi! đủ thứ hầm bà làng xí cấu. Hắn chia chác từ trên “đỉnh cao trí tuệ” xuống dưới đáy xã hội theo tiêu chuẩn. Chồng vợ chỉ chừa cho bọn trẻ ít đầu thừa đuôi thẹo cá, tôm. Kể cả bưng bao cát, bông-sô, giày, mũ, những thứ tàn dư của chế độ cũ để lại, chúng thích chí nhặt lấy, xài bằng thích. Cuốc, xẻng, dao, rựa, thì họ lại chia việc ngược trở lại thế nầy nhe: làm “lao động là vinh quang” từ cấp dưới chót bét đi lên. Mấy thứ đó, hôm sau con vợ hắn đã bưng ra chợ bán tuốt. Kể cả khi người ta ùn ùn chở sách quý trên xe ba gát, xích lô, đem đi đốt. Vì dân cần phi tang tàng tích “Mỹ Ngụy” cơ mà. Thứ mà họ sợ hãi hơn bất cứ cái mũ chụp nào. Sợ hơn thứ dịch hạch nào. Ấy thế, hắn cũng lén lút bưng về nhà, đọc đi đọc lại, khen hay đáo để. Thời bạo chúa Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, còn thua xa thời nay đấy, cô ạ.
          - Vậy sao!
          Thế rồi, chúng bắt tôi dâng hiến nhà. Đi kinh tế mới, là đẩy dân đến đường cùng rồi. Nhà nước “ưu việt” chở dân đi ở những nơi tận cùng sơn thủy khỉ ho cò gáy, nơi rừng sâu. Phát cho mỗi nhà từ một đến sáu tháng gạo. Đứng trên lề đường cái, cán bộ chỉ khơi khơi vùng đất sẽ canh tác. Chúng tôi tự dựng cái chòi xiêu vẹo, trống trước trống sau, không điện nước, than củi, là ngấm ngầm hủy diệt dần mòn những anh tài của đất nước rồi! Cũng giống như chôn sống những người tù “cải tạo” trong cái cổng “Không có gì quí hơn độc lập tự do” ấy thôi.
          Chúng ta ở ngoài đời và trong trại tù, chả khác gì sớt, làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm xã láng cho tới sáng, mà vẫn đói meo, không có cái ăn. Nay tôi mang cái bệnh sốt rét, kiết lị, trở về đây lếch thếch lang thang, đầu đường xó chợ, ở vĩa hè đói rách, như lũ ăn mày suốt. Cô à. Tôi nghe nói dân miền Nam đang có hai loại vượt biên: Tổ chức vượt biên thật và giả. Thật là người dân rỉ tai nhau, đóng vàng cho chủ tàu chi bến bãi, làm ăn thật thà đàng hoàng, mong ra đi. Còn loại giả là có một bọn lưu manh, chuyên gọi thân nhân bạn bè đóng vàng, đóng tiền, rồi bọn nầy móc ngoặt, đi đêm với một nhóm công an thân cận, âm mưu lừa đảo dân, lấy vàng, lấy tiền, rồi tống dân vào khám, ở tù mút chỉ cà tha. Những cuộc hẹn hò âm thầm vượt biển thật, đi tìm tự do, sự sống và hạnh phúc xa xôi nghìn trùng. Không thể tránh khỏi biết bao nhiêu đau khổ, chết chóc, đau buồn.
          - Ồ…
          Giống người Do Thái lũ lượt rời Ai Cập, đi tìm đất sống thuở xa xưa vậy. Chuyện lường gạt bịp bợm nhau về vụ vượt biên, cũng giống như chuyện thời xưa ở nước Tấn í. Cô biết không: Nếu muốn ấp xã mình tốt, thì cán bộ cần lắng nghe, thu thập ý kiến mọi người đúng lúc. Thể chế cai trị đó thật ra đã lỗi thời, sai, không phù hợp với thể chế và sự tiến bộ của con người ở thế kỷ 20 nầy. Cần phải sữa sai thôi. Hẳn là cô sẽ nói không biết nữa cho xem. Thôi. Để nói kể nốt nha:
          - Dạ vâng.
          Nước Tấn có một người gặp cái gì bắt mắt, cũng lấy, cũng ăn, cũng dùng, cũng mặc. Người mất của chạy đến đòi lại, thì y bảo:
          - Các ông, bà, cứ cho tui xài tạm. Mai kia giàu sang, tui sẽ trả lại.
          “Công an” thấy thế liền nọc y ra cho mấy hèo vào mông, y đau quắn đít. Thì y vừa xoa xoa mông, vừa chửi:
          - Thế gian có nhiều kẻ gian manh, lừa đảo hơn tui. Họ dùng mánh khoé, mưu mô mà bóc lột xương da người khác, đoạt của người khác trắng trợn, không gớm tay. Còn tui, tui lấy công khai giữa ban ngày ban mặt. Tui lại có nói là: “sẽ trả lại”. Cớ sao dùng cực hình với tui, mà không tra tấn những kẻ mưu mô kia ha?
          Ông chồng của bà Nga ngồi bó gối ở góc sân, chen vào:
          - Sao bà nói lung tung beng, nói nhiều quá! Nhức cả đầu. Ưa thì đen hóa trắng, thêm bớt. Không ưa thì bóp méo, từ tốt ra thành xấu. Ăn nói cứ lộn tùng phèo. Bà nói liên tu bất tận. Chuyện nầy xọ chuyện kia, không ngơi miệng. Bà có câm mồm đi không! Cho tôi nhờ tí.
          Bà Nga trề môi, ghé sát tai tôi, thì thầm:
          - Ông ấy đi tù… “cải tạo” gần ba năm rưỡi, nên ông sợ chúng đấy. Mà nầy, cải tạo không có ngoặc kép là ai cải tạo ai, cải tạo cái gì? Đi tù thì nói mẹ nó ra, chứ còn bày đặt văn vẻ véo von “cải tạo” cải tiếc! ạy ạy... tù cuốc đất lõ mắt thấy bà cố ông xơ hì. Sức mấy! Tôi chả sợ. Ức quá mà! Cùng lắm là nó đem tôi đi bắn cái đùng. Ổng sợ chúng hơn sợ đảng K K K, mà người ta gọi vắn tắt là đảng 3 K. Cô biết 3 K không? Ớ. Không i à? KKK là Ku Klux Klan, xuất phát từ năm 1963, thời kỳ dân da trắng ám sát da đen, đâu ở Nam Bắc phân tranh bên Mỹ cơ. Ấy thế mà ổng cũng sợ KKK, mí lạ!
          Ông chồng quay lại:
          - “Ai thương, ai ghét, mặc tình. Phận mình cứ giữ tâm mình thật hay” là đó bà à!
          - Hừm! … Đường vào cư xá sĩ quan Chí Hòa, cô biết không? Ờ, biết hở! Hồi xưa là khu đất của Tiểu đoàn phòng vệ phủ Tổng Thống. Nhà tôi ở khu ấy. Nay nó lấy nhà tôi mà ở lẫn lộn với heo, gà, chó, mèo rồi. Cô hãy nghe nó hạch hỏi tôi nhá:
          - Bà tên là "Hồ" Tiên Nga hử?
          - Vâng.
          - Ồ. Ghê gớm thật, thế bà làm tình báo cho trung ương “Ngụy” hở?
          - Thưa ông. Tôi tên là Tiên Nga, chứ không phải là "đoàn Thiên Nga" đâu.
          - Ui giời! Tiên Nga mí nị Thiên Nga, nà mấy thứ. Tên Tiên Nga! Thế sao bộ mặt bà xấu xí thế? Bà không dùng tên, nhất là họ nầy, bôi bẫn chế độ nữa. Nghe ra chữa?
          Bà Nga nói với tôi, như lời ca thán:
          - Ngày xưa khi ôm cặp đến trường, tôi luôn được bạn bè ngợi khen là cô gái xinh tươi, bố mẹ khéo chọn cho tên ý nhị nhất. Bây giờ tên hay chữ đẹp, là một tội ác. Họ muốn tôi biến dạng thành con cắc kè, đổi màu da để sinh tồn đấy cô. Tôi căm lắm cô. Cô có đọc truyện “Con gà trống và con Chồn” không? Lại không à! Cái cô nầy mới hay đáo để í nhỉ? Cái gì cũng không. Tôi kể cô nghe cho vui, và để chúng mình đỡ đói nha:
          - Con chồn, còn có tên là Cáo, là Hồ. Con chồn rất ngọt và qủy quyệt, khen con gà gáy hay! Thế là con gà phổng mũi, phừng phưng gân cổ lên, nhắm tít mắt mà gáy ò ó o… Thật là tiếng gáy sang sảng, và oai dũng vang xa. Khiến gà tơ, gà già gì, cũng nườm nượp te te chạy theo, phục con gà trống sát đất, và ganh ghen nhau tá lả. Con gà háu danh ấy, ban đầu còn sợ con hồ ăn thịt, nên con gà chỉ nhắm một mắt mà gáy. Còn một mắt thì… dè chừng dòm lom lom con hồ. Con cáo dụ:
          - “Nên nhắm cả hai mắt mà gáy, thì có khối gà tơ mái dầu, theo mi về làm vợ”.
          Gà ta quên hẳn "con hồ là con cáo già", nên tin lời hồ. Gà ngẩng cao đầu ngửa cổ, nhắm tít cả hai mắt, mà te te gáy o o o... Gà liền bị con cáo già vồ. Gà dãy đành đạch mà chết tươi. Đấy… thời buổi bây giờ cô muốn trở thành con gà, hay là con công nào? Tôi thấy mình nên làm con công cho chắc ăn nhé. Nè:
          - Con Công dựa vào con khác để đứng gọi là CÔNG NƯƠNG
          - Con Công ra đứng giữa đường gọi là CÔNG LỘ
          - Con công lạc vào trường học gọi là CÔNG TRƯỜNG
          - Con công có chức phận gọi là CÔNG CHỨC
          - Con công thông minh gọi là CÔNG MINH
          - Con Công hì hục làm "nhiệm vụ" gọi là CÔNG SUẤT
          - Con công gáy gọi là CÔNG TÁC
          - Con công biết thưa biết trình gọi là CÔNG TRÌNH
          - Con công cha gọi là CÔNG BỐ
          - Con công thích lý sự gọi là CÔNG LÝ
          - Con công thích viết báo gọi là CÔNG LUẬN
          - Con công thích thưa gửi gọi là CÔNG MÔN
          - Con công thương nhau gọi là CÔNG THƯƠNG
          - Công ăn lạp xưởng là CÔNG XƯỞNG
          - Công cao niên là CÔNG CỤ
          - Công làm việc trong Ty là CÔNG TY
          Tôi ngao ngán sợ hãi dáo dác len lén nhìn ngược ngó xuôi, xem có ai rình mò, nghe lén không, và tôi rụt cổ vội xuê xoa, khuyên lơn bà Nga kiên nhẫn, đừng “giận mất khôn, mặn mất ngon”. Rồi sau nầy, có lẽ mọi việc sẽ ổn thôi. Nhá.

          *

          Tình Hoài Hương
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-15-2020, 06:18 AM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • Tinh Hoai Huong
            Senior Member
            • May 2009
            • 1081

            #95
            Kiếp Phong Trần Trên Đất Khách


            Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-22-2017, 11:39 PM.
            Bút trần nào tả được lưu luyến!
            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
            Tình Hoài Hương

            Comment

            • muahong
              Người Thân
              • Mar 2009
              • 89

              #96
              Cám ơn tác giả THH qua bài viết này , những người ở Việt Nam biết thêm một chút về nước Mỹ .

              Comment

              • Tinh Hoai Huong
                Senior Member
                • May 2009
                • 1081

                #97
                Nỗi Hoài Tưởng Xót Xa


                Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-22-2017, 01:15 AM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment

                • Tinh Hoai Huong
                  Senior Member
                  • May 2009
                  • 1081

                  #98
                  Khoảng Lắng Phiêu Bồng Ngọt Lịm



                  Khoảng Lắng Phiêu Bồng Ngọt Lịm


                  Đại gia đình tôi đoàn tụ dưới phòng ăn, là nơi gắn bức ảnh “Tiệc Ly” ở nhà anh chị Tư Khánh. Trong nhà nầy đã có năm gia đình khác là: các anh chị em từ ngoài phố, dưới Tùng Nghĩa, ở Địa Dư đều đến đây quây quần bên má, họ ân cần vui vẻ, sung sướng thay phiên nhau hầu tiếp má. Mọi người hân hoan mừng vui cuống quýt. Tiệc tùng tưng bừng suốt mấy ngày, chuyện trò hoan hỉ nổ như bắp rang, thiệt vui vẻ hết biết. Nhưng, ý của má tôi là chỉ muốn ở đây phụ chị Tư vài tháng Tết, buôn bán kiếm tiền lời. Rồi ra Giêng, tháng Hai gì đó, thì má lại lò mò về quê ở với ba, và làng nước đồng ruộng mênh mông thôi.

                  Một buổi trưa chủ nhật, tôi dẫn Cảnh đến nhà chị Tư thăm má. Má cùng mấy chị đang bận rộn ngồi trước những cái thúng mẹt to tướng, họ lo gói bánh tét, bánh chưng, làm đủ thứ mứt, và bánh ngọt. Họ trao đổi chuyện trò tương đắt rôm rã lắm!

                  Cảnh đứng sát bên tôi, chàng gật đầu chào họ và nói nhỏ câu:
                  - Cháu chào bác. Chào mấy chị...
                  Có lẽ do trong phòng mở radio ồn ào, hoặc do họ lo tíu tít trò chuyện, hay là do anh “dè dặt” nói giọng Nam hôm nay hơi nhỏ, (không “rổn rảng” như vài lần Cảnh “đấu hót líu lo” với các cháu, và tôi). Thế nên má và mấy chị của tôi không nghe chăng? Một lúc sau, tôi thấy hai bà chị của tôi đang vui vẻ, tự nhiên thấy bóng dáng Cảnh và tôi đứng xớ rớ gần má tôi... thì họ đổi sắc diện, xù mặt ra. Tôi thấy má ngẩng lên nhìn anh, má im lặng cúi xuống ngay.

                  Sau đó Cảnh ra ngoài vườn ngồi chơi với các cháu nhỏ. Tôi hồi hộp, có phần bồn chồn lo lắng, khi cảm thấy họ tỏ ra không thích Cảnh. Tôi ở trong nhà phụ các chị làm công việc vặt, hoặc nấu cơm canh giúp bà bếp. Thỉnh thoảng tôi chạy ra ngồi bên Cảnh và các cháu, hầu góp năm ba câu chuyện vui.
                  Cảnh nhìn tôi đăm đăm, khiến tôi mắc cỡ ngoảnh mặt đi:
                  - Thụy lạ lắm sao, mà anh nhìn em kỹ quá vậy cà!?
                  - Em ở trong bếp mới ra, thì hai má đỏ au. Em đẹp rất tự nhiên do Trời ban tặng, chứ không phải em đẹp do sữa mắt sữa mũi, sữa miệng gì. Em đẹp quá!
                  - Chà! Vậy chứ… Không phải là anh đang nghĩ đến cô bé nào của anh, mà khi nhìn em, anh tưởng tượng em là họ đó hỉ!?
                  - Em đừng nói đùa kiểu đó. Mấy cháu sẽ giận anh à.
                  - Ư hừ!... Hứ! Việc anh quen bạn thương mến của anh, có dấm dớ gì đến mấy cu cậu nầy chớ.
                  Bảo lay lay cánh tay Cảnh, cười:
                  - Ui! cậu không biết rồi. Dì Thụy là hoa hậu thiệt đó. Cậu không biết sao? Dì không biết đánh phấn đâu. Nếu dì có len lén bôi môi son, trét má phấn, thì má cháu giận dữ la mắng dì Thụy ghê lắm.
                  Cảnh cười hì hì, hai mắt chàng nhắm tít, cầm trái ổi nhỏ quăng trúng vào người tôi. Tôi cười tươi vội vàng né tránh, và chạy vô nhà. Khi Cảnh đến chào gia đình, tôi tiễn Cảnh ra về, má gọi giật tôi lại, má nhìn tôi đăm đăm và nói:
                  - Cái thằng ni, mạ coi không được mô. Con.
                  - Tại sao vậy? Má.
                  - Hắn dòm thấy mạ, mà không chào hỏi. Chắc hắn tưởng hắn là quan, là quách, thì lên mặt phách lối, ai cũng nễ răn hì.
                  - Không phải vậy đâu má ơi! Hồi nãy anh ấy có chào má và mấy chị. Có lẽ do trong nhà ồn ào, má không nghe.
                  - Ư hừ…
                  - Xì…
                  - Hừm !
                  Tôi thấy chị Tư nhìn tôi trừng trừng và lườm mình, rồi “hừm…” lên một tiếng rõ to. Chị Tư không mấy ưa Cảnh rồi. Vã lại chị Tư thì có ưa ai bao giờ. Nhất là chị rất ghét “cố nhân”. Có thể chị không thích ai làm bạn cùng tôi, thì phải!? Không ai vừa ý chị cả!? Làm y như người nào cũng chả “hạp” với nhãn quan cuả chị! Thua rồi. Không phải là do tôi có cảm tình với các anh “sinh viên sĩ quan” (khi quen biết Cảnh), mà tôi lên mặt binh vực bao che Cảnh. Tôi biết Cảnh là người có tính tình đôn hậu, tâm hồn thuần chân khả kính, có nhân phẩm, không tự đắc tự kiêu, hay anh ỷ mình có học thức, mà hiu hiu tự phụ là “sĩ quan, sĩ quách”, coi người khác tầm thường, dưới cơ, như má và mấy chị nghĩ không tốt (tức là...xấu) về Cảnh đâu.

                  Chẳng qua chàng là người miền Nam tính tình bộc trực, chân thật, hồn nhiên, không khách sáo rào trước đón sau, chàng không tỏ vẽ ta đây hách xì xằng như họ nghĩ lầm. Do tính tình Cảnh trầm lặng ít mồm ít miệng, bình thản, tự nhiên, chàng không mấy vồn vã hớn hở, nồng nhiệt săn đón mời chào, để làm dáng “lấy lòng” người trên kẻ trước (như kiểu “anh bạn Bắc-kỳ Thắng” nhà ta). Cũng có thể do chị Tư đã nói gì đó, nên má tôi không ưa Cảnh, dù má chỉ vừa gặp Cảnh chốc lát (!?).

                  Trong lòng tôi cảm thấy bực bội chị Tư lạ. Giòng suối ngầm thuở ấy (đã đụng chạm giữa tôi, chị Tư, và “người xưa”) rất đắng cay, vẫn nằm im trong xó góc tâm hồn tôi sâu lắng từ lâu, tuy thỉnh thoảng nó dày vò, âm ỉ cháy, dù chưa đến nỗi nào bộc phát bừng giận và ray rứt. Nhưng hôm nay giòng tư tưởng ấy bừng bừng trở dậy từng chuỗi dĩ vãng, tràn đầy uất giận trong tâm tư tôi hằn vết đau chưa chai đá nầy. Khi tự dưng tiếng “hừ... hừm…” của chị kéo dài lại vang lên, đã vùng khơi lại trong lòng tôi cái quá khứ đáng buồn tủi, hỗ thẹn với “người xưa”. Tôi rất bực người chị quá độc đoán kia.

                  Sự thật ngày ấy mối tình non dại giưã tôi và “chàng ấy” đơn sơ, thắm thiết, vô cùng trong sáng, thuần khiết trân trọng nhau, rất mực đứng đắn. Chị Tư chẳng thích “chàng kia”, chỉ vì người đó con nhà giàu sang, gốc người miền Nam, anh có phần tự do “lả lướt bay bướm”... nên chị Tư vơ đuã cả nắm kết luận là: “Hắn SẼ... bê tha đàn đúm vợ nọ con kia, rượu trà be bét, ăn chơi, mi hiền hậu thật thà, sẽ khổ sở vì hắn... Không được”.

                  Xuyên qua sự kiện nầy, tôi cảm thấy mình luôn luôn bị chị Tư ức chế, bị tướt đoạt sự tự do tối thiểu, và nhân cách trong tôi tổn thương nặng nề. Tự trong thâm tâm tôi muốn vùng dậy phản kháng chị, chống chọi và cự tuyệt ý kiến của chị Tư mãnh liệt. Nhìn lại đoạn đường gồ ghề nhấp nhô cũ mà tôi đã hổn hển đi qua, với sự luyến lưu buồn bã tiếc thương. Vì có thể đó là những khoảng lắng phiêu bồng mà ngọt ngào của tuổi mười sáu non nớt dệt nhiều mộng mơ. Tôi đã đạt đến tột đỉnh phù hoa: một hoa hậu rực rỡ tại Sơn Trà, Đà Nẵng! Chẳng bao giờ tôi có thể tìm thấy niềm kiêu hãnh diễm kiều vinh quang, huy hoàng trong dĩ vãng về thời vàng son đượm nhiều hương xưa ấy. Thật khó diễn tả về cảm xúc rộn ràng, hân hoan mững rỡ lâng lâng trước niềm vui chất ngất, đã gieo vào lòng tôi bao hoài bão mông lung. Tôi đã nhớ vô vàn: Chiếc Dù Năm Ấy
                  Hoa buồn. Hương không thoảng.
                  Hoàng hôn vương nhớ mong.
                  Anh đi trên vết cũ.
                  Tôi về, lệ mắt trong.

                  Anh như mây phiêu lãng.
                  Dù mấy độ xuân chờ.
                  Người đi nơi xa vắng.
                  Tình yêu. Ôi giấc mơ !...

                  Mùi hương nào dĩ vãng.
                  Tìm nhau trong cõi xưa.
                  Chiếc dù anh che nắng.
                  Hiên trường ta tránh mưa.

                  Em chờ anh trở lại.
                  Bên mhau những ngày mơ.
                  Tình lên ngôi mãi mãi.
                  Anh hát, em làm thơ. (*)

                  Bây giờ tôi chợt nẫy lên ý muốn tiến đến với Cảnh thân thương, thiện cảm, vui vẻ hơn, để tôi coi chị Tư sẽ chì chiết, hạch xách, tra vấn, cấm cản, (có kê tủ đứng vô họng mình không, khiến tôi lo sợ, hoặc có im re như ngày xưa nữa không!? hay chị sẽ mắng tôi, đánh đập tôi, hoặc làm gì tôi thêm nữa, cho tôi càng nỗi khùng lên nào!? Dẫu rằng thật sự trong thâm tâm tôi chưa chính thức có ý tình đậm đà xây mộng tương phùng, chưa yêu đương, chưa mặn-mà thân thiết chi với Cảnh hết. Cũng như Cảnh chưa chính thức ngỏ lời tỏ tình với tôi. Tôi phẫn uất thì thầm trong miệng:
                  - Chị đừng dùng “quyền huynh thế phụ” mà cưỡng ép em phải tuân theo ý muốn cuả chị. Chị càng ép em, thì em sẽ phản kháng chị, em đi theo con đường ngược lại, để tự tìm tương lai.

                  Chào má, và mấy anh chị, tôi bỏ đi về nhà chị Tuế, (là nơi tôi ở từ xưa đến giờ). Cảnh đứng đợi tôi trên đầu đường dốc khu nhà Bò. Thấy vẽ mặt tôi không được vui, anh tinh ý và ý tứ dò hỏi:
                  - Có chuyện không vui rồi. Phải không em?
                  - ... Không có gì. Anh.

                  Nói như thế, nhưng nào dấu được nỗi buồn dâng ngập lòng mình. Ngoắt taxi ra phố, vào tiệm Mê Kông ăn cơm tối, chúng tôi từ tốn nói với nhau những chuyện vui buồn vu vơ. Chuyện trời mưa, trời gió, bão lụt. Cảnh biết tôi không được vui, nên anh cố ý kể nhiều chuyện tiếu lâm, để cho tôi cười:
                  - Anh kể cho em nghe một chuyện vui nầy nghen: Có thằng con rể là người Nam Kỳ và ông già vợ là người Quảng Nam. Một hôm ông già vợ hỏi con rể:
                  - Bữa ni con có rẻn khôn? rẻn thì chở boa đi chúc xiu công chiện ne.
                  Thằng con rể trả lời:
                  - "Con kẹt".
                  Ông già giận dữ vác gậy rượt thằng nhỏ:
                  - Teo nhờ mi chở đi công chiện, mi không chở thì thôi, sao lại chửi thề, hử?? (*)
                  - Rồi sao nữa anh? anh kể tiếp đi.
                  Cảnh vui vẻ tằng hắng giọng, uống một hớp chanh đường, anh duyên dáng kể:
                  - Hai người bạn đực rựa ngồi nói chuyện với nhau:
                  - Có lẽ mình phải ly dị thôi, bạn à.
                  - Sao vậy?
                  - Vợ mình gần cả năm nay không thèm mở miệng nói với mình câu nào.
                  - Ui, cậu điên à! Biết tìm đâu ra một người vợ tuyệt vời như thế. Hở? (*)
                  Tôi khoái chí cũng vui vẻ góp đôi ba chuyện cười:
                  - Nhiều thầy bói đã nói với em: tuổi Sửu hợp với tuổi Ngọ, vì theo quẻ mà đoán thì: “đầu trâu mặt ngựa”. Tất nhiên hai tuổi này mà cưới nhau, chắc chắn sẽ thành công, tấn tới, nếu cả hai vợ chồng cùng làm chung nghề: đâm thuê, chém mướn. Còn đây là quẻ thứ hai nhe anh:
                  - Tuổi Tỵ rất khắc với tuổi Dậu, theo quẻ là: “cõng rắn cắn gà nhà”. Nếu hai người cưới nhau về, thế nào người tuổi gà cũng bị người tuổi rắn cắn chết, (không loại trừ trong lúc yêu thương, dậu bị rắn mỗ cắn lầm ở chỗ hiểm)...
                  - Tuổi Dậu, hợp với ba hạng tuổi: tuổi Mão, tuổi Thìn, tuổi Hợi. Theo quẻ “đầu gà má lợn”. Người ở mấy dạng tuổi này, nếu cưới nhau, sẽ thành công về kinh doanh, nhà hàng, đồ nhậu. (*)
                  Chúng tôi không thể nào nhịn được cười đến nỗi ra nước... mắt. Tôi đã quên chuyện buồn bực lúc ở nhà chị Tư. Tôi vui vẻ kể lại chuyện trong thời gian hai tuần tôi ở miền Trung ra sao. Sau đó Cảnh lên xe taxi vào quân trường như thường lệ.
                  Suốt tháng Chạp, và những ngày Tết Tây, chúng tôi thường có dịp đi chơi chung với nhau thật vui. Đêm ba mươi tháng Chạp âm lịch, khi Cảnh mời tôi vào trường Võ Bị dự dạ hội tất niên. Tôi đã đưa thiệp cuả Cảnh mời, đồng thời tôi nói rõ cho chị Hạc biết nguyên nhân tại sao tôi cần đi đêm ấy về nhà khuya. Tôi xin phép anh chị cho tôi đi với Cảnh đàng hoàng, nếu tôi có về trể giờ hơn mọi ngày tôi đi làm việc, hoặc đi học trên viện đại học, hay có công chuyện đi đâu đó một xí. Thì chị Hạc thông cảm. Chị thương tôi trọn tình chị em đằm thắm chứ không như chị Tư, chị Hạc ân cần dạy bảo tôi điều hay lẽ phải. Chị luôn mong muốn tôi tìm được ý trung nhân, tôi sẽ yên ấm hạnh phúc với ai đó. Tôi cũng mong ước và hy vọng như vậy: Tôi rất Mơ (anh Học Võ Bị):
                  Sao anh “vô trường” ấy.
                  Mãi hoài “chưa ra” vậy?!
                  Em đợi anh từng ngày.
                  Bao đêm buồn nhớ đây.
                  *
                  Canh khuya em mơ thấy.
                  Anh vô lính tháng ngày…
                  Đường quang vinh vượt trội.
                  Dẫu phong ba đọa đày.
                  *
                  Hoa mai ghim áo nầy.
                  Mối tình ta còn đây.
                  Sương ngàn quyện gió núi.
                  Do tơ trời dựng xây.
                  *
                  Anh ơi! tình duyên nầy.
                  Mai sau anh sẽ thấy.
                  Em đây và anh đấy.
                  Đôi tâm hồn ngất ngây. (**)

                  _ * _


                  (*) Sưu tầm lượm lặt
                  (**) Thơ Tình Hoài Hương

                  *

                  Tình Hoài Hương
                  Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-22-2017, 01:36 AM.
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #99
                    KHÔNG THÍCH CHUYỆN CHÍNH TRỊ - Nguyên Sang


                    Kính thưa quý vị thân kính,
                    THH xin giới thiệu đến quý vị môt bài viết hay (do bạn chuyển từ E-mail), của Nguyên Sang : Tựu trung lập-luận vững vàng & sâu sắc, khiến tôi ngậm ngùi lắng lòng mình vào những suy tư..:

                    ..

                    KHÔNG THÍCH CHUYỆN CHÍNH TRỊ
                    Nguyên Sang


                    Có người, khi nghe đề cập đến những vấn đề liên quan tới Việt Nam, nhất là những chuyện xấu xa của chế độ Cộng Sản, thường giẫy nẫy lên mà rằng:
                    “Tôi không thích nói chuyện chính trị”.
                    Cũng có người, khi thấy đồng hương đi biểu tình chống Cộng, thường bỉu môi:
                    “Tôi không thích những người làm chuyện chính trị”.
                    Thưa bạn! Nếu tôi bảo:
                    “Chính suy nghĩ đó đã nhuộm đỏ miền Nam, và cũng chính phát biểu đó, đã chẳng những nuôi dưỡng chế độ CS , mà còn tạo điều kiện cho CS thò cánh tay ra hải ngoại, quấy phá Cộng đồng người Việt tỵ nạn”.
                    Chắc chắn bạn sẽ không bao giờ tin tôi, chưa nói là bạn sẽ trút lên đầu tôi những lời lẽ không đẹp, bẩn thỉu nhất, có khi không chữ nghĩa tìm thấy trong từ điển.
                    Này nhé! Bạn theo tôi một thoáng trở về quá khứ. Bạn phải đồng ý với tôi một điều. Miền Nam được Thế giới Tự Do – đứng đầu là Mỹ – chọn làm tiền đồn chống Cộng, ngăn chặn hiểm họa CS đang bành trướng khắp vùng Đông Nam Á. Đó là cuộc chiến tranh “ý thức hệ”.
                    Phía Miền Bắc, CS lấy chính trị làm đầu (Đảng lảnh đạo), và tuân theo sách lược chính trị của CS Quốc Tế. Trong Nam, “ý thức Quốc gia”, chỉ là một ý niệm trừu tượng, không có lý luận khoa học, không được hệ thống hoá, không thể đương đầu nỗi với lý thuyết “CS”. Đệ Nhất Cộng Hoà đã nghĩ ra đối sách, với học thuyết “nhân vị”, tiếc rằng chưa hoàn chỉnh và không đủ sức thuyết phục nhân dân, trong công cuộc đấu tranh chính trị với CS.
                    Miền Bắc có Liên Sô và Trung cộng hổ trợ đắc lực trên mọi phương diện, vì có chung lý tưởng Quốc tế vô sản. Miền Nam , Mỹ hổ trợ về quân sự là chính. Về chiến tranh chính trị, phải nhờ Đài Loan cố vấn. Thực chất, có lý thuyết, mà không có phương tiện thực hành, có cũng như không. Nước Mỹ là một nước “Tư bản”, chuyện đối kháng với Cộng Sản, là chuyện đương nhiên. Chính phủ Mỹ, không cần đến Chiến tranh Chính trị, để tranh thủ nhân dân. Họ chỉ có “Tâm lý chiến”, mục đích phục vụ và nâng cao tinh thần, sức chiến đấu của binh sĩ. Mỹ đem mô hình của mình đến miền Nam và chỉ yễm trợ cho Tâm Lý Chiến. Hoàn toàn không quan tâm đến chính trị và cũng chẳng cung cấp bất cứ phương tiện nào để đấu tranh chính trị.
                    Điều dễ nhận thấy nhất là trong tổ chức Quân Đội: CS Bắc Việt đặt chính trị trên cả tác chiến. Chính Ủy có quyền uy tối thượng. Trong khi đó, Quân đội miền Nam đặt chính trị vào nhiệm vụ thứ yếu, là phó, là Ban 5, không chút thực quyền. Kết quả Bạn thấy đó, miền Nam thất thủ tại chính trường Mỹ. Người dân Mỹ chỉ thấy ảnh tướng Loan bắn vào đầu một tên Cộng Sản, mà không thấy hàng vạn nhân dân Miền Nam chết thê thảm vì Việt Cộng bằng mọi hình thức: đấu tố, đấp mô, phá cầu, đặt mìn, pháo kích bừa bãi. tấn công… Nhân dân Mỹ chỉ biết vụ Mỹ Lai, mà không hề biết Huế với những mồ chôn tập thể Tết Mậu Thân. Người dân Mỹ chỉ biết cái gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam , chứ không hề thấy hàng hàng lớp lớp những sư đoàn chính qui Bắc Việt xâm nhập miền Nam … Thưa bạn. Phải chúng ta thua vì chính trị không bạn?
                    Bây giờ, trở lại thực tại bạn nhé! Xin nhắc một điều. VN là một nước Xã Hội Chủ Nghĩa (xác định đi theo một Chủ nghĩa là khẳng định đường lối chính trị đó bạn!), do Đảng lãnh đạo (Đảng không là tổ chức chính trị thì là gì, hở bạn?. Điều 4 Hiến Pháp của họ có ghi rõ, bạn có thể tham khảo thêm). Hỏi Bạn một câu : Nếu Bạn hợp tác với VNCS, có phải bạn chấp nhận những điều nêu trên không? Nhắc thêm cho bạn một chi tiết, CS có khẩu hiệu: “Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa”. Họ gài bạn đấy!
                    Họ khêu gợi lòng yêu nước của Bạn, dụ dỗ Bạn hợp tác và cuối cùng gán cho Bạn cái lập trường chính trị, Bạn không muốn cũng không được. Nếu Bạn cố cải chầy cải cối, là Bạn chỉ đem tài năng và chất xám phục vụ Tổ quốc, chứ không màng chính trị, tôi nhắc Bạn nhớ câu: “Hồng hơn Chuyên”. Cộng sản đặt nặng chính trị hơn chuyên môn, bạn ạ!
                    Vẫn chưa tin ư? Bạn cứ phạm tội hình sự đi, Bạn sẽ được xét xử tại Toà án, và có ngày về. Còn nếu Bạn dính dấp đến chính trị, đoan chắc Bạn sẽ bị “cải tạo” trong tù, vô hạn định. Có lần, nếu Bạn có theo dõi thời sự, chắc Bạn biết sự kiện một chiếc tàu y tế bị cấm nhập bến ở VN? Ngay cả hoạt động chuyên môn phục vụ nhân đạo cũng phải chào thua “phục vụ chính trị”.
                    Cũng chả cần bạn cộng tác, tiếp tay với họ, bạn chỉ làm thinh, làm ngơ trước các hoạt động của họ; Bạn đã đồng loả và tự bày tỏ lập trường thân Cộng rồi. Đôi khi những hành động tưởng như vô tình, làm theo “feeling” của mình. Bạn lại gây ảnh hưởng tai hại cho người khác trong công cuộc chống Cộng. Cái đó gọi là “thiếu ý thức chính trị”, là “vô tình hại bạn”, là “đâm sau lưng chiến sĩ”.
                    Có hai sự kiện “nhạy cảm” mà cộng đồng người Việt hải ngoại vô cùng “bức xúc” (xin lỗi vì dùng chữ của CS). Sự kiện thứ nhất là “các nghệ sĩ VN qua”. Sự kiện thứ hai là “các nhà từ thiện về”. Nửa ý kiến ủng hộ, nửa chống đối.. Có quá nhiều phân tích về hai sự kiện này, ở đây, tôi chỉ nhìn qua khía cạnh chính trị.
                    Bạn ái mộ một nghệ sĩ, tặng hoa, chụp ảnh lưu niệm. Bạn nghĩ sao, nếu bức ảnh đó được guồng máy tuyên truyền khổng lồ của Cộng Sản minh họa trong chiến dịch lừa dối nhân dân, rằng thì là: “Việt kiều niềm nở đón tiếp các nghệ sĩ từ trong nước qua, trong tinh thần Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc”?. Bạn vô tình làm hại các cá nhân và tổ chức đối kháng rồi bạn biết không? Một hành động nhỏ và “mua vui trong chốc lát” của Bạn đã gây tác hại lớn và lâu dài. Tuy nhiên, nếu có ý thức chính trị, chỉ cần Buổi văn nghệ đó, có nền là cờ vàng của chúng ta, ta có thể hoá giải được mọi âm mưu thâm độc của CS, tha hồ bạn chụp hàng nghìn tấm ảnh lưu niệm mà không bị ai lợi dụng và cũng không hại ai cả.
                    Vấn đề thứ hai là công tác từ thiện tại VN, tôi không chống đối, dù thâm tâm tôi vẫn nghĩ, tại sao lại phải giúp nhà nước CS, lo chuyện an sinh xã hội, để họ tham nhũng, để họ làm giàu, để họ củng cố phương tiện tuyên truyền thò tay đánh phá cộng đồng (như các chương trình Duyên Dáng VN tiêu pha hàng triệu đô la, chương trình vệ tinh truyền hình VTV4…). Tôi cũng suy nghĩ, thật sự ở VN không chỉ có các nhóm người được giúp đỡ là bất hạnh, mà hầu như – trừ Đảng ra – toàn dân đều bất hạnh và cần được giúp đỡ. Nhưng thôi, tôi nhìn sự kiện trên đây, qua gốc độ ý thức chính trị. Giả dụ mà các cơ quan từ thiện này treo được tấm bảng:
                    “Tổ chức này của Việt kiều… tặng”, cho mọi người cùng thấy và cùng hiểu là chính Việt kiều chứ không phải Việt Cộng giúp đỡ họ, thì hay biết mấy.
                    Nếu không làm vậy, việc từ thiện sẽ bị Cộng Sản lợi dụng và tuyên truyền lếu láo:
                    “Đảng đã vận động được khúc ruột xa nghìn dặm về gíup Đảng, giúp dân”.
                    Cướp công, cướp của là nghề của họ. Bạn chịu khó lật lại trang sử của Đảng, Bạn sẽ thấy họ rất thành công trong việc cướp công kháng chiến, cướp chính quyền, và năm 75 họ cướp cả miền Nam.
                    “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” là kim chỉ nam cho họ, từ lời nói đến việc làm, họ dùng mọi phương cách dù tà đạo, xảo trá, gian ác và dã man đến đâu… miễn sao đạt được thắng lợi, đạt được mục đích yêu cầu của họ. Câu nói của Cựu Tổng Thống Thiệu: “Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm”, chỉ phản ánh một khía cạnh dối trá, chưa nói hết bản chất của CS là ác độc và tàn nhẫn.
                    Thưa Bạn. Nếu bạn qua Mỹ vì lý do kinh tế, tôi chúc bạn đạt được giấc mơ của Bạn. Dĩ nhiên, muốn thành công trên đất Mỹ, bạn phải hòa nhập vào xã hội Mỹ. Người Mỹ rất thích làm việc thiện nguyện.
                    Họ khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi người làm chuyện thiện nguyện, ngoài mục đích san sẻ bớt gánh nặng cho Chính Phủ, nó còn mang giá trị đạo đức, khi quan tâm đến tha nhân. Tôi tin chắc Bạn sẽ tiếp thu được đức tính này của người Mỹ. Cho dù Bạn không thích chính trị. Cho dù Bạn không thích nhận mình là người Việt. Bạn cũng có thể thể hiện việc thiện nguyện cho một cộng đồng tỵ nạn khốn khổ, tuy sống an bình nơi miền đất hứa, mà lòng vẫn canh cánh về đồng bào và quê hương nghìn trùng xa cách.
                    Chuyện thiện nguyện rất đơn giản.
                    “Mình không giúp ích gì cho cộng đồng, thì cũng không làm gì phương hại cho cộng đồng, không làm đồng hương phiền lòng, nản lòng”.
                    Bạn không thích chuyện chính trị, mà phê phán ý thức chính trị của người khác, mặc nhiên, bạn đã đứng vào phe chính trị đối nghịch. Bạn hãy làm một chuyện thiện nguyện trên bình diện tinh thần là “giữ im lặng” trước công cuộc chống Cộng của người khác. Bạn đã không ủng hộ thì cũng xin đừng biểu tỏ thái độ hoặc ngôn ngữ chống báng. Được vậy, bạn gián tiếp giúp đỡ thiện nguyện cho cộng đồng rồi đó! Thực ra, nếu Bạn qua đây theo diện tỵ nạn chính trị một cách trực tiếp, hay chính trị, gắn liền vào cuộc đời của người tỵ nạn chính trị. Cho dù bạn muốn nhận hay không muốn nhận. Lại nữa, nếu bạn là một “con người” đúng nghĩa, Bạn phải mang trong người bổn phận và trách nhiệm với vợ…v..v.. Là một thành viên của cộng đồng, bạn không thể trốn tránh bổn phận và trách nhiệm trước Cộng Đồng. Xa hơn nữa, là một người dân, Bạn phải có bổn phận với dân tộc và nghĩa vụ với quốc gia.
                    Chúng ta đang sống trong một xứ sở Tự Do. Bạn có quyền tự do “không thích chính trị”. Tôi xoá bỏ tư tưởng không tốt trong đầu, khi cho rằng Bạn không thích chuyện chính trị chỉ vì Bạn sợ đường về quê hương của Bạn gặp trở ngại với CS. Tôi nghĩ đơn thuần, chỉ vì Bạn muốn ung dung tự toại, thụ hưởng thành quả mà bạn đạt được trên đất khách quê người.
                    Tôi cũng chẳng có ý nghĩ là bạn phải có bổn phận và trách nhiệm gì với cộng đồng. Tôi chỉ xin Bạn làm thêm một việc thiện nguyện thứ hai, cụ thể là xa lánh các văn hoá phẩm độc hại của CS, các cơ sở giao du với CS, các cửa hàng, chợ búa bán hàng CS. Bảo đảm trăm phần trăm với Bạn, không có cái gì liên hệ với CS mà không mang chất chính trị trong đó.
                    Lấy một ví dụ nhỏ thật nhỏ, trong các phim truyện VN, thế nào bạn cũng có dịp nhìn lá cờ máu, nhìn hình tượng “ảo” ông công an thật dễ thương dễ mến!… Chính trị chỗ đó, đó bạn !
                    Bạn không thích chính trị, tốt nhất là đừng xem, đừng thưởng thức, đừng tiêu thụ, đừng phổ biến những gì dính dấp với CS. Được vậy, Bạn mới công tâm, mới “fair” với tôn chỉ “không thích chính trị” của bạn. Chắc là việc này không khó và cũng chẳng ảnh hưởng gì không tốt đến cá nhân bạn, phải không bạn?
                    Chân thành cám ơn Bạn chịu khó đọc những dòng này.
                    Chào Bạn..
                    Nguyên Sang
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 02-13-2014, 05:42 AM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • khongquan2
                      Administrator
                      • May 2011
                      • 2165

                      #100
                      Thế giới Google (Google Earth) đã công nhận Hoàng Sa của Việt Nam!

                      Thế giới Google (Google Earth) đã công nhận Hoàng Sa của Việt Nam!





                      Google Earth đã thể hiện Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

                      Sau nhiều cố gắng của các nhà khoa học Thế giới trong đó có cả chính những nhà khoa học chân chính Trung Quốc và đặc biệt công sức lớn lao của các nhà khoa học Việt Nam tại Hải Ngoại cung cấp bằng chứng khoa học, sát thực cùng với sự đấu tranh không mệt mỏi đến nay trên Google Earth đã thể hiện rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam chúng ta!
                      Phầm mềm Google earth đã thể hiện rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam (Paracel islands belong to Vietnam)

                      TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA THUỘC CHỦ QUYỀN VIỆT NAM
                      PARACEL ISLANDS & SPRATLY ISLANDS BELONG TO VIETNAM ...


                      Điều này cho thấy chân lý Hoàng Sa là của chúng ta đã được Thế Giới Google (Google Earth) công nhận.

                      Nhân dân Việt Nam, bạn bè Năm châu bốn biển hãy cùng nắm tay nhau quảng bá vào xem để đưa rating lên cao giúp bất cứ ai khi vào google sẽ hiện ra ngay hình ảnh này!

                      THH "Sưu tầm trên net"

                      Comment

                      • Tinh Hoai Huong
                        Senior Member
                        • May 2009
                        • 1081

                        #101
                        Lời Chân Thật Nghẽn Đắng Lòng



                        Lời Chân Thật Nghẽn Đắng Lòng


                        Hương yêu như cây thông xanh không ngày nào khỏi lớn dần lên, choàng vào lòng Nị nhiều say đắm và ước mong, hy vọng ngọt ngào bao năm tháng niềm tin yêu vừa khởi sắc, và bừng lên trong cuộc sống. Nị chợt thấy những xôn xao đê mê rộn ràng như một thời trẻ dại xa lắc xa lơ nào đó, tưởng đã vụt xa bay trong niềm luyến lưu hoài mong, đau buốt, ray rứt, muộn phiền, bùi ngùi và tiếc ngẩn… Nào dè như từng cơn bão lòng đang bừng sống lại từng ngày từng tháng… luyến nhớ anh yêu! Khi “người ấy” thốt lên câu:
                        Bây giờ mận mới hỏi đào
                        Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
                        Mận hỏi thì đào xin thưa
                        Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!
                        (1)
                        Rồi “chàng” đã vui vẻ ướm lời:
                        “Thân trai cũng mười hai bến nước,
                        Nặng nỗi lo vô phước gặp 'chằng'.
                        Thế nhưng, chuyện chẳng khó khăn,
                        Miễn là khéo nịnh, khéo ăn, khéo 'mần', "
                        . Hình em chụp mấy tấm rõ ràng nhưng nhìn nghiêng, nên anh không nhận ra em được khi tình cờ gặp em đâu. Nếu không hẹn trước là chịu. Anh dám ôm hôn ẩu kẻ khác lắm à nghe, em liệu đấy hổng trách anh được à. Em đẹp và có nét quá đi, bởi vậy mới là hoa hậu chứ. Hình đầu tiên em nói chụp năm vừa qua, sao mà trẻ quá vậy? Nói em 40t không ai tin. Còn hình cười thì cỡ vừa ngoài 40, thấy trẻ mà không rõ mặt! Em khá đẹp trẻ hơn tuổi đó nghe.

                        Bây giờ chúng mình gặp nhau muộn màng, đã có tuổi rồi, anh không kỳ vọng gì nơi em như xưa đâu. Dĩ nhiên đầu có bạc, da nhăn nheo, cũng đâu có sao phải không, ai đòi hỏi em phải săn đầy như vài ba chục năm về trước được. Anh biết chớ, ai cũng vậy, em mà còn được nhu vậy là #1 đó! Anh cần cái tình nồng nàn và chân thật của em hơn nhé, coi anh như #bis là ok nghe. Mong sao mình còn có nhau với hạnh phúc đến hết đời, là mãn nguyện! Thương em quá đi, cưng lắm nghe. Nếu kẹt gì mà không mail cũng đừng phiền trách nhau nha. Anh dặn trước vậy! Không nghe là đánh đòn mà hổng thèm yêu đó!

                        Em yêu! Hồi trưa vừa chat với em xong là anh lại bận. Số là như vầy, anh có ông bạn cùng khoá ở Minnesota đi thăm vợ anh bạn bị cancer, và về ghé anh chơi, thì vợ chồng bạn kêu anh lại ăn cơm chiều, và vui chơi với anh nầy! Coi vậy chứ cũng lu bu hết ngày giờ, bây giờ lo thêm cái vụ sân cỏ nữa. Anh định diệt cỏ nầy trước xem sao cái đã. Dù lót đá hay cỏ giả gì, cũng phải diệt nó trước. Vì trước kia anh không biết, cứ nghĩ nó cũng là một loại cỏ, nên không diệt từ đầu, bây giờ mới mệt cầm canh.

                        Ngày mai sau khi đi bộ xong, chắc anh phải đi ra Walmart gần nhà để tìm thuốc diệt cỏ, và mua dụng cụ để đào cỏ xem sao. Anh rất thương và yêu em lắm nghe. Anh nghĩ đến em hoài, nhưng phải chịu và an phận như vầy thôi em ạ! Lâu lâu có chuyện gì cần nói và chat, thì mình hẹn nhau. Anh còn nhiều chuyện làm lắm em ơi. Như ngày nay anh không nằm nghỉ được 1/2 giờ nữa đó. Bye em, anh đi ngủ nghe.

                        Ngờ đâu… khi Thiệu chat, nói chuyện phone với Nị qua những “câu thơ & ca dao” và những lời ấy, anh “gieo quẻ” đầu năm hỏi “thăm em”, thì… thì… Nị quyết định mang tình yêu chân thật và say đắm đến “thăm anh”; ấy là một buổi sáng mùa xuân đầu năm... Nị tới phi trường lấy boarding pass trên chuyến bay: 2398 từ vùng WPB, lúc 11:20 am’ ngày 14 tháng Giêng, để đi tới phi trường HB intl vào lúc 01;15 pm’. Thiệu nào có biết khi Nị ngồi tại seat 14A ở trong phi cơ, thì tâm trí Nị ngổn ngang trăm mối tơ vò ra sao!? Nị hình dung lúc gặp mặt anh, là nàng cảm thấy nôn nao, vui vẻ, xao xuyến, bồn chồn, hồi hộp, băn khoăn kỳ lạ.

                        Thế rồi phi cơ hạ cánh. Đi vòng vo khá lâu rồi từ xa xa, Nị đã thấy Thiệu đứng đơn lẽ tại cổng ra baggage claim như đã hẹn. Anh mặc chiếc áo da đen, áo sơ mi màu xanh, quần tây đậm và mang đôi giày sport. Còn Nị đội mũ bê rê đen sụp xuống trán, đeo kính đen, mặc áo khoát mà̀u nâu pha vàng, bên trong mặc áo len dày, và quần tây ca rô màu nâu đậm, nàng mang giày cao 9 phân (vì anh cao lắm, nên Nị phải mang giày cao gót). Có lẽ do Nị “hóa trang” trở thành “cao bồi vườn" coi cho nó "ngầu” một xí, nên Thiệu không nhận ra cô em chăng? Khi Nị nghiêm trang và từ từ kéo carry on đến gần anh, thì Thiệu xê dịch người về phía cô em, và hơi mỉm cười ngập ngừng hỏi:
                        - Xin lỗi, có phải cô là…

                        Nị đã nhận ra anh ngay. Thiệu chưa nói dứt câu, thì Nị không thể cưỡng lại lòng mình: reo vui và mừng rỡ toét miệng cười tươi và sà vào lòng Thiệu. Họ ôm chầm lấy nhau, anh cúi xuống hôn phớt nhẹ nào má Nị, rồi vui vẻ kéo carry on đi, còn tay kia Thiệu quàng qua hông cô em ríu rít tíu tít chuyện trò như hồi còn bé, và dìu nhau đi trên nốt nhạc tình thánh thót mà tìm parking. Khi vào chỗ vắng khuất, Thiệu dừng lại tìm môi Nị. Nàng không chịu ngoãnh đi bảo:
                        - Coi chừng có người nhìn thấy. Kỳ quá anh à!

                        Kỳ… thật thì trong bụng em bảo dạ: "Con ếch ngồi dựa gốc bưng. Nó kêu cái "quệt", biểu ưng cho rồi". Nị thẹn thùng xô nhẹ anh ra. Anh cười cười bấm alarm để bỏ carry on vào cốp xe xong, Thiệu ngồi vào băng ghế giữa và bảo em ngồi bên cạnh:
                        - Bây giờ ngồi trong xe, “cửa đóng then cài” kín đáo rồi, em không mắc cỡ nữa ha!
                        Nị gối đầu lên ngực anh. Thế là họ đắm đuối tìm môi nhau. Vài lần sau thì Nị không còn e lệ rụt rè bẽn lẽn… Khi về tới điểm hẹn, hai anh chị vào nhà hàng Kim Sơn ăn trưa, rồi Thiệu dẫn Nị đi mua thức ăn, để ăn tạm vài buổi sáng, còn những buổi ăn trưa, thì “chúng mình” dự tính sẽ ăn buffet, và những buổi tối sẽ ăn ở nhà hàng Việt Nam, cho đỡ ngán. Thiệu nhìn Nị tươi cười:
                        - Em biết lúc nầy anh ăn tráng miệng bằng gì không? Ăn xoài đấy! Ở Cali có bán xoài giống như xoài thanh ca màu vàng, họ bán một thùng 14 trái lớn cỡ 13 dollars, mua về để vàng và da hơi dùn nhăn một xí, thì ăn rất ngọt em à. Còn hôm qua anh có mua bắp sống $1/6 trái, đem về ăn cũng rất ngọt, bắp Mỹ mà! Em biết cách làm không?
                        - Dạ không anh à.
                        - Không phải luộc đâu nghe, kiểu luộc xưa rồi và nhà quê lắm. Anh chỉ cách nầy: Em lột sạch vỏ, rồi em hãy lấy giấy paper towel (giấy dầy lau tay trên bàn ăn đó) đem nhúng nước cho ướt, xong bóp giấy cho ráo nước, rồi quấn kín trái bắp lại, bỏ vào Microwave nhấn nút 4 phút, là nó dư sức chín, em đem ra ăn rất ngọt. Người ta ăn kiểu đó không hà! Hy vọng em biết.
                        - Dạ, bây giờ em mới biết. Ở Cali chợ Việt mới có bán xoài, còn bắp tươi mới hái đem về thì chợ Mỹ, Việt gì cũng có anh à.
                        Anh cất vào xe xong xuôi mọi thứ, như y hẹn ước hai anh em lại vào tiệm Ross cho gần, vì nếu đi Mall lại rất xa, sợ không có thì giờ kịp trở về; để họ đi chuyến du hí đã ấn định. Họ chọn quà để tặng cho nhau, hầu đánh dấu kỷ niệm những ngày đầu tiên gặp gỡ. Nị tính mua tặng Thiệu con dao cạo râu bằng điện có ba chấu Remington, nhưng ở đó không bán. Thế là họ đi vài ba tiệm khác. Vào tiệm kia tìm được tủ bán dao cạo râu. Nhưng ai ngờ khi bà bán hàng cho chìa khóa vào để mở ổ khóa, cớ sao lại bị gãy lìa cái chìa khóa ở trong ổ?
                        Họ đứng chờ hoài không được. Nên Nị bảo:
                        - Hay đây là “cái điềm” báo trước: nếu tặng dao, kéo, cho nhau; thì không tốt, có thể “cắt nhau đứt lìa, chia ly vĩnh viễn” chăng?

                        Họ không mua dao cạo râu nữa. Nị và Thiệu đồng ý chọn cho nhau mỗi người hai cái áo. Ui! “Mình” tuy hai nhưng chỉ là một, tuy một mà là của hai, vì đã hiểu ý nhau, chọn đúng màu sắc, sở thích của người yêu mà không ngờ. Thế mới ngộ. Nị trao tặng anh cái bóp mới kèm $105 dollars, là cô em suy nghĩ:
                        - Cái bóp mới toanh để lấy hên, anh à! Và có ý nghĩa khác là: em trao tặng anh “một trăm năm” hạnh phúc bên nhau nghen.
                        Anh cứ dẫy nẫy lên không chịu nhận, Thiệu nói:
                        - Em tốn tiền vì anh quá nhiều.
                        - Vậy chứ anh không tốn tiền mua những món quà cho em ư? Điều quan trọng là cách anh đã trao tặng món quà, mà em rất vừa ý đấy sao? Anh Thiệu à, có những món quà mình tặng cho nhau; tưởng rằng đó là đắt tiền… hay tự tay em đan cho anh cái mũ xinh xắn, để anh đội mà đi bộ vào mùa đông chẳng hạn, hoặc con chó lông xù… như là vật-tín báo hỉ về sự trung thành tình nghĩa. Mình đã chọn quà cho nhau thật vừa ý quá chừng. Những món quà ân tình đậm nét yêu thương ấy, sẽ đi theo chúng mình suốt cuộc đời ngắn ngủi còn lại. Nhưng kỳ thực trong lòng em nghĩ khác: “Em xa mình hổng chết cũng đau. Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền".

                        Tiền bạc hay vật chất mình tặng cho nhau, có khi rồi sẽ hết. Còn tình yêu và hạnh phúc mình trân trọng trao cho nhau, dù chỉ một lần mà vĩnh cửu một đời. Và, không có ai không có gì có thể so sánh, hay dùng tiền bạc đánh đổi tình yêu, hay hạnh phúc được suốt cuộc hành trình đi tìm về vùng hạnh phúc của riêng ta. Hẳn là anh cũng đồng ý với em điều nầy. Phải không hở anh yêu của em!?
                        - Anh đồng ý.
                        Xong xuôi, còn dư nhiều giờ, ngồi bên nhau trong nhà hàng chờ chuyến di hành, họ kể lại biết bao chuyện đáng nói. Gần đến giờ lên đường, vào trong xe nàng bắt đầu chọn quần áo gọn gàng để mang theo, dù vậy đồ đạc đàn bà bao giờ cũng rườm rà, nên Nị chọn lui chọn tới, mang những thứ cần thiết qua một túi xách khác, Nị nghiêng đầu:
                        - Anh cho em chung ké với anh trong ba lô không cồng kềnh, cho anh mang vác nặng mệt nghỉ vì em, há anh yêu. Đừng phụ tình em, nghen anh.
                        - Rồi anh sẽ có một đời mang nặng… Em ơi! Em hãy nghe anh nói: Anh biết em yêu anh nhiều lắm, nên em không suy nghĩ chính chắn, chính điều ấy đã làm phiền lòng em! Anh tức cười chứ không giận, hay bực gì em cả, vì anh biết đó là do bắt nguồn tự tình cảm yêu đương mà em đã dành cho anh. Anh cũng yêu em và anh rất trân trọng tình yêu của mình. Bây giờ anh nhắc lại, để em suy nghĩ nha:

                        Hôm xưa ấy… Em suy luận sai, anh không có tình ý gì, anh chẳng biết họ là ai cả. Nói lại là KHÔNG rồi; bây giờ NẾU là anh có, thì cũng là chuyện quá khứ. Anh nói hiện tại ngoài em ra, anh không có ai hết. Mà anh đã nói “không có”, là không. Còn bây giờ nếu anh nghe chuyện em kể về em, tự dưng anh cằn nhằn: “khi trước em có tình yêu như vậy”, thì sao nà! Vô lý ha. Việc nữa: anh làm Thơ Vui, là anh nói chọc (chọc phá, chứ không phải chọc để "gò, cua, câu" người ta! Chẳng có biểu lộ tình cảm riêng tư gì ở đó đâu!

                        Anh không biết em hiểu sao, chứ khi anh post những bài thơ đó, bạn đọc cho là vui, (chứ không một ai coi đó là: anh có tình ý gì cả; ngoài việc chọc cười thôi!). Và người kia cũng cảm thấy như vậy, để vui hay bị quê xí thôi. Em cho anh biết có người thứ hai nào nói như em vậy, thì tội gì anh cũng chịu! Ban đầu anh tưởng em giả bộ đùa thôi, đâu dè thế. Anh nói lại một lần nữa: Vì biết tất cả là do TÌNH em YÊU anh, vì em ghen mà ra, nên anh không hờn em gì cả! Nhưng em nhớ là mình phải đắn đo suy nghĩ cho hợp lý một chút nghe.
                        - Dạ vâng! Anh nói phải.

                        Đúng 8g30 pm đoàn xe lên đường. 11:00 pm đến nơi, Thiệu vào check hotel, họ lên thang máy ở từng lầu 15. Phòng ngủ khá khang trang tiện nghi sạch sẽ và rộng rãi. Ngồi bên nhau chuyện trò ăn uống thoải mái, cùng đi tắm rữa, Thiệu kỳ lưng cho Nị và em kỳ cọ lưng cho anh. Trước khi mua quà tặng nhau, thì ở nhà Thiệu đã mua sẵn hai chiếc áo thun, một cái có size XX rất rộng, dài, và một cái size vừa vừa, để khi gặp gỡ, là mỗi người mặc áo ấy vào cho người yêu, hầu lấy "hơi hướm" của nhau. Rồi khi nào chia tay, thì họ sẽ trao đổi áo đó đã mặc, để đem về nhà mình.

                        Bây giờ Thiệu trang trọng mặc áo cho Nị, và cô em mặc áo cho anh. Họ đã mặc chiếc áo ngàn đời khó quên, như sợi tơ trời dệt gấm hoa tình yêu, sẽ không ai có thể rứt ra mối duyên nầy. Cho dù tuổi đời họ không còn trẻ dại như ngày xưa. Nhưng “tình yêu đôi ta” vẫn nồng thắm duyên mơ, nồng nàn và đắm say như thuở mái tóc mình còn xanh vậy.

                        Suốt trong thời gian hầu như gần một tháng rưỡi nay Nị bị đau, nào là bị cảm cúm, lại ho kinh khủng. Khi lên phi cơ đến với anh, Nị cũng không thể mở mắt ra. Ấy thế mà… trên đường đôi ta đi tìm dấu chân tình yêu, thì đích thực sự mãn nguyện đã đến với họ trong tột đỉnh hạnh phúc cuối cùng ("happy ending")… quá tuyệt vời! Cả hai đều không thể và không bao giờ ngờ. Mùi thơm từ hương hoa ngâu trên từng lầu 15 trong Lake Charles bay về phòng, nhắc Nị nhớ lại mùi hương yêu thâm trầm đằm thắm mà ngọt ngào sâu lắng.

                        Nị cảm thấy dường như tình tuyệt hảo hoá thân vào mùi hương đó, và từ bờ môi ân tình say đắm nầy, mình thở nhẹ vào trái tim, vào trí óc lá bùa yêu ngọt lịm, khiến cho đêm thương ngày ngẩn ngơ mê mệt nhớ! Trùng dương mở hội cho tình yêu chân thật rất đỗi đằm thắm dịu dàng và nồng nàn lên ngôi. Bừng thức dậy khi Nị nghe tiếng chim hót trên mái lầu: Nị vương tay ra, thì chạm gói qùa và tờ thiệp hoa, ghi:
                        Em ngủ ngon không? Anh ngủ không ngon lắm, chỉ tàm tạm. Anh chúc em được vui tươi bình an trong tâm hồn bên anh. Anh tạ ơn em đã mang đến cho anh tình yêu nồng nàn chân thật, cho anh tin rằng mình đã yêu và được yêu trong một mối tình lớn trong đời! Anh mừng sinh nhật của em kể từ hôm nay luôn. Cầu chúc em đạt được những gì mơ ước và yêu đời kể từ nay mãi đến tận mai sau.
                        Người yêu em
                        Th.


                        Ôi! Anh Thiệu: Thiếu Tá Không Quân Việt Nam Cộng Hòa quyết ươm tơ vàng ung dung bay đi dệt mộng hải hồ, rong ruỗi quan hà lả lướt qua muôn dặm sơn khê: suốt từ Bến Hải cho tới Mũi Cà Mau. Anh rất hào hoa phong nhã, trí thức, cao ráo (1mét 76). Anh thuộc típ người to con, và đẹp trai với mái tóc cắt ngắn, vừng trán vuông vắn cao và rộng, khuôn mặt hồng hào, lông mày rậm và đuôi mày hơi nhếch lên dưới đôi mắt hai mí có tình, mũi lân, miệng rộng. Anh có duyên nhất là từ bờ môi nầy, khi anh cười thì lộ ra hàm răng thật đều đặn, và giọng nói miền Nam nghe sang sảng rõ ràng, nhưng ngọt ngào ấm áp chứ không gay gắt. Khiến Nị ưa ngẩn ngơ ngắm nhìn anh. Dù nay trên vầng trán anh đã in nhiều dấu ấn suy tư, mái tóc anh nhuộm muối tiêu đầy phong sương và bụi phấn thời gian phủ trên đôi vai săn chắc. Dù ngày nay tất cả và tất cả với anh đã không còn; nhưng Nị rất kính trọng anh và yêu anh tha thiết ngần nào.
                        Nị quàng tay lên cổ anh, vít xuống và thủ thỉ:
                        - Nị đến với anh dẫu muộn màng, nhưng càng yêu anh nhiều lắm. Nị yêu anh nhất và chưa từng yêu ai hơn trong đời. Bởi hôm nay đây “em yêu anh”, không vì ở trên ngực áo của anh còn gắn phù hiệu cánh bay, không vì trên cầu vai anh có một hai cánh mai bạc rực rỡ, không vì anh có chức tước vinh sang trong cuộc đời giàu kinh nghiệm xưa, (và nay đã thành phù phiếm thế trần). Bây giờ em thật lòng yêu anh khi anh không còn gì. Anh đến với em bình dị không danh phận, không xa hoa phù du như cuộc tình đầu.

                        Em yêu anh vì cung-cách đáng quý mến ngợi khen của anh. Em yêu anh vì lúc nào và bao giờ anh cũng giữ mực thước, trí thức, thấu hiểu, uy nghi, tính tình anh đàng hoàng, tiết độ chững chạc, không hề lợi dụng ai… và anh chân tình tin yêu. Em yêu anh vì anh có trái tim bao dung và độ lượng tình đồng-cảm. Vậy thì, xin anh hãy cho em say đắm tìm về chút mùi hoài hương xưa nồng thắm từng ấp ủ trong vòng tay nhau, dạt dào quắt quay nỗi quấn quít nhớ nhung. Nhe anh.
                        - Anh hiểu. Anh cũng rất yêu em, chân tình và vụng dại như ngày nào anh còn trẻ.
                        * * *

                        Trên đường trở về trưa chủ nhật, sau khi Thiệu lái xe đi vòng lần thứ nhất, thì Nị ngồi lại chờ người thân đến đón, nhưng quá lâu, nàng tủi thân và bật khóc trong tiệm ăn, nên nàng vào restroom rửa mặt. Rồi lần thứ nhì, nàng ngồi trong tiệm nhìn ra thấy Thiệu vòng xe đến, Nị vui mừng lắm, vội chạy ra parking, cốt để nhìn chàng xí thôi. Lòng Nị quá buồn khi anh chìa tay ra siết chặt tay mình, đôi mắt Thiệu trữ tình nhìn Nị say đắm thay lời chào từ biệt. Sau những ngày hạnh phúc, mình chia tay nhau, bỗng dưng Nị thèm khóc và đã nức nở gục đầu vào hai bàn tay ở trong tiệm ăn.

                        Dù đã dặn lòng: “Dễ gì mà khóc khi mình vẫn còn là của nhau. Vĩnh viễn. Đừng lau nước mắt tức tưởi nghẹn ngào. Không khóc nghe! Đừng buồn. Hãy cương quyết và tươi vui lên. Dù bị cào xé hơn roi vọt mỗi ngày ngấm đẫm vào tim khi tạm chia xa, em vẫn can đảm và không khóc. Hay em đã trở thành chai đá rồi sao”!? Hay vì, em vẫn và sẽ là người chiến thắng. Phản quang sinh tồn ấy là nhờ tình yêu của anh khát khao yêu em rất chân thật và chung thủy, thì hy vọng chúng ta sẽ vượt qua tất cả. Phải không anh yêu dấu?

                        Hôm thứ Hai, em hỏi đứa cháu gái, thì nó cho biết khu nhà ấy đúng là khu nhà mới, có tên đường ấy. Em dự định ra chợ mua những món quà Tết, mang đến nhà anh để cúng ba má, cũng muốn nhìn anh xí và để anh ngạc nhiên. Thật ra em muốn mua rất nhiều thứ: thịt, cá, rau, lạp xưỡng, v.v. nữa. Nhưng sợ không kịp giờ về cho chuyến bay xa, em nghĩ đi nghĩ lại, thấy không mấy tiện, sợ sẽ lôi thôi ra. Nên em mua mấy món quà hoa quả bánh mứt tượng trưng cho ngày Tết. (nếu bất ngờ không phone báo trước, em không gặp anh ở nhà, em sẽ để những món quà ấy ở ngoài cửa, không sợ những thứ khác như thịt, cá, vân vân… bị hư).

                        Chúng em tìm nhà anh mãi, chạy xe lui chạy tới gần chục vòng, cuối cùng đã tìm thấy. Tới nhà anh, em chưa kịp chui ra xe, ai dè cô ấy lại đến bấm chuông nhà anh hồi nào, và anh bước ra. Ôi, em không thể nào tưởng tượng anh đã sửng sốt bàng hoàng đến thế. E ngại, nên em không nhớ dự định ban đầu của em là: Em muốn tự tay em sắp xếp những món quà đó lên bàn thờ, và thắp ba nén nhang lạy tạ ba má. Em chỉ nhìn lướt sơ trong nhà anh, em cũng không nhớ coi cho rõ, nhà anh có phòng đọc sách, nơi anh làm việc. Trong nhà chưng bày đầy đủ, gọn gàng, sạch sẽ tươm tất lịch sự, nhưng quá vắng lặng. Anh đang sống độc thân một mình.

                        Anh yêu, con chim phượng hoàng rực rỡ dù có soãi rộng đôi cánh tung bay tự do thoải mái khắp bốn phương trời; thì đến một lúc cũng rã rời đôi cánh, muốn vĩnh viễn dừng lại ở mái hiên nào đó trong căn nhà vừa đủ ấm. Thế mà sao em vội ra đi như gã trể tàu, như người lỡ hẹn, như người chạy trốn, sợ e sự phiền toái ập đến?! Một nỗi buồn kinh khủng phủ chụp lấy trái tim em, đầy nghẹn ngào và chua xót, khi em mệt mỏi bước vô lòng phi cơ. Nhưng rồi trong phút chốc tràn lan hy vọng và hạnh phúc khôn cùng: là chúng mình sẽ vĩnh viễn yêu bên nhau, khiến em vui lắm.
                        ***

                        Lần thứ nhất họ đển bên nhau là: Jan-14-2008. Nị vùi đầu trên ngực anh, lắng nghe Thiệu tâm tình:
                        - Khi anh đọc thơ, và cũng như lúc mình nói vơí nhau, anh thật vui và thấy có hạnh phúc. Cám ơn trời đã mang mình lại với nhau! Anh nghĩ: lúc trước không biết anh tán em hồi nào, anh cũng không nhớ, và không có ý đó nữa. Nhưng mà sao lúc nói với em, tự nhiên anh có những lời lẽ như thể mình đã quen thân, bồ bịch với nhau tự thuở nào vậy! Bây giờ nhớ lại, anh tức cười ghê. Như vậy mà thành há. Bởi vậy anh cho là hai đứa mình được Ơn Trên sắp đặt đến đúng thời điểm nầy, là dính với nhau thôi! Được vậy, thì cứ nên trân trọng, cùng hưởng nghe em yêu.

                        Chỉ biết mình đến với nhau bằng tình chân thật, và hết lòng với nhau trong hiện tại, không dám đòi hỏi gì hơn. Có được là tốt thêm thôi, chứ không bắt buộc. Trong những lúc nào đó trong đời sống mình có gì không vừa ý, thì hãy nhớ rằng: vẫn còn có anh (hoặc em) bên cạnh, để vỗ về và sống với nhau, tuy trong mộng, mà thực đấy nghe. Anh vẫn mong muốn cho em có hạnh phúc, và anh chỉ là kẻ lấp đầy thêm những cái em thiếu thôi, nhất là về tình yêu, để cho em vui, là đẹp rồi. Đúng là trên đời nầy biết bao người có đầu óc làm hại kẻ khác vì ích kỷ, rêu rao nầy nọ, khoe khoang! Anh hoàn toàn không như vậy, nghĩa là con người anh thuộc loại bình thường, nhưng lương thiện, chứ không là bậc anh hùng, hay loại đạo cao đức trọng gì. Những gì anh đã hứa và nói với em, đều đáng tin cậy vì chữ tín, và lương tâm của anh lớn lắm.
                        - Lần thứ nhì họ hẹn hò với nhau 4 ngày là: Thứ Ba, ngày 17-Mar-2009. Lần nầy Thiệu nhìn sâu vô mắt Nị:
                        - Em yêu. Lúc trước mình đã từng nói với nhau rằng: hễ có gì thắc mắc không rõ, là nói ngay ra, đừng ghim trong lòng mà giận hờn không nên. Em còn nhớ chứ?! Thì ra nói vậy mà không phải vậy há!! Anh cũng không ngờ anh đùa với em, cái ý nói “em đúng là dân... hay cải đó”, mà anh viết (… chấm chấm); không ngờ em lại không hiểu ý bởn cợt của anh!! Biết em như vậy, từ nay anh không bao giờ đùa với em nữa, là yên chuyện. Trong đầu em lại nghĩ là: anh nói em là (thứ) dân gì là sao?, (tại chính em mang vô chữ “thứ" nghe nó nặng nề thêm, lầm là vậy đấy).
                        Nàng cúi đầu im lặng.
                        - Tại sao em nói hiểu anh; mà em cho con người anh ăn nói như vậy chứ?! Có bao giờ anh lại khinh miệt người mình yêu một cách vô cớ như vậy không? Anh thật không ngờ em hay bắt bẻ vô lý, em hay hỏi dò, để xem ý, rồi suy đoán sai. Em có tật hay nói lẩy quá đi! còn nói mát và xóc óc nữa! Bản tánh của anh thẳng thắn, nên nói ra ngay như thế! Thí dụ như em nói: “thì xin lỗi đó, được chưa? Hoặc giả… “thì em ngu nên không hiểu ý anh”. Sao em không để dành những câu như vậy, để đối đáp với những nơi và những ai cần đối đáp. Chứ em đem ra nói với anh làm gì, mất vui! Cái gì không bằng lòng và không rõ, thì em nói thẳng ra, dù em xem anh thế nào đi nữa.

                        Phần anh thì cư xử với ai cũng vậy hết. Tại sao đến giờ phút nầy mà lại có chuyện vô cớ, làm khổ nhau, hả em? Hay là cá nhân em vừa có chuyện gì buồn bực trong lòng, mà nảy sinh ra gắt gỏng như thế chăng? Em thử xem lại coi anh có ý nói như vậy không? anh không có gì sợ mà tráo trở tránh né đâu. Đó là bản tánh của anh, mong em thấy. Như vậy là em cố tình tạo ra sự căng thẳng... dựa vào một chuyện không có thực gì cả! Tại sao em không đem chuyện đó ra thẳng thắn mà hỏi anh? Mà có gì đâu để hỏi chứ? Hay là em chỉ dựa vô đó như là một cái cớ, để xa nhau... mà thôi? Nếu em muốn vậy, thì cứ nói ra, chứ cần gì nại cớ nầy cớ nợ làm chi!

                        Anh đã nói từ lâu anh không có gì oán trách em hết, cho dù em xa anh bằng cách nào. Thế thì có ngại gì em phải lấy cớ... mà cũng nực cười là cái cớ không có gì vững vàng cả! Anh sợ gì chuyện quen người nầy người nọ mà nói dối chứ. Nếu anh có quen ai, cũng xảy ra trước khi anh gặp em mà. Thế thì đâu có gì đáng trách anh? Ngặt nỗi là anh không quen ai trong lúc đang yêu em; mới đáng nói chứ! Nầy em, nếu em vẫn coi chuyện ấy là quá serious, và em TỰ cho mình là đúng, thì anh mong em kể rõ lý do vì sao mà em quyết định như vậy đi.

                        Cái gì cũng nên nói một lần cho dứt khoát! Chúng ta là người lớn, có hiểu biết cả, xin thẳng thắn phân tỏ rành mạch, đừng để hối tiếc, và phải ân hận vì sự nông nỗi của mình, nghe em. Anh không muốn chuyện tình của mình tan vỡ một cách phi lý như vậy. Đó là vì anh cũng vẫn tin nơi những gì em nói với anh từ trước, nên anh nhắc lại thế! Xin nói lại anh không có gì lỗi trong chuyện nầy cả, nên anh không cần phải năn nỉ hay xin lỗi gì hết!
                        - Dạ, anh nói rất phải. Em sai.
                        - Nếu em biết là sai, thì từ nay em không nên lập lại nghe em.
                        - Dạ vâng.

                        Người ta thường bảo: “Sinh ly, tử biệt rồi, mới nhận ra sự chân tình của người mình yêu”, thì đã muộn chăng? Thế mà giờ đây khi ngồi trên seat 17 F chuyến phi cơ CO 1830 W, lúc 7:15PM – thành phố của người yêu trầm mình dưới đáy phi cơ đang trôi bồng bềnh trong bầu trời đêm rét mướt, khi triệu triệu ánh đèn màu xa dần, xa dần… chìm khuất và mất hẳn. Trả lại anh yêu ở ngôi nhà cũ trong đêm đen vô tận, Nị gửi lại cho người yêu những chéo mộng, cùng nỗi trống vắng vô cùng nhớ nhung, thương cảm xót xa tột cùng.

                        Trở về nơi chốn xưa, Nị đã xé tặng Thiệu nửa mãnh trái tim, lòng nàng trĩu nặng nhớ thương mà quá đỗi là đau, cơn đau đầy tê tái trong hạnh phúc vun ắp bẽ bàng quá thật! Ôi sao giờ đây mình đã xa nghìn trùng sóng bão. Hở anh yêu?! Chao! tình yêu ấy nhè nhẹ, an nhàn, đơn sơ, mộc mạc, thấm đượm tình yêu đồng quê cỏ nội mãi hoài nhe anh yêu! Khi mình hân hoan dẫm trên lối xưa để tìm đến nhau. Cùng chia sẻ niềm vui chất ngất trong hạt lúa trổ đòng đòng. Cùng cụng ly rượu hồi quang ngọt bùi, bên nồi ngô khoai bốc hơi thơm ngào ngạt. Yêu nhau trong tiếng ca dao tình tự, trìu mến lời ru con từ mẹ nhân ái trong từng nốt nhạc hân hoan, độ lượng và ưu ái khoan dung.

                        Lòng mình sẽ lắng dịu hết những u uẩn đau buồn cao chất ngất. Ta hãy cùng nghe mình đang phổ tình yêu đắm đuối vào từng nốt nhạc, thở hơi sương lả lướt đắm say trong lòng đời: Ước mong anh sẽ lắng nghe bài thơ nầy; trong đó, Nị yêu thích nhất là những đoạn nhạc lời thơ rũ rê gọi mời nhau rất trữ tình, vô tình nói giúp nàng bao hạnh phúc đơn sơ, mà nàng không thể diễn đạt nên lời.
                        - Lần thứ ba gặp nhau 4 ngày là: Ngày thứ Tư, 02-Sept- 2009. Khi hai người ngồi bên nhau, Nị thút thít khóc, thì Thiệu băn khoăn:
                        - Em à, có mấy điều anh cần nói thẳng ra, em nên suy nghĩ xem sao nghe: Tự dưng kêu nhau đến đây, rồi phút chót em lại kiếm chuyện gì không đâu, để làm phiền lòng nhau. Tại sao tới giờ nầy mà em không tin anh bận? Cái vụ làm sân gạch và cỏ nhà anh, đâu phải làm một vài ngày là xong. Anh vừa lo nghĩ cách làm, vừa làm mệt, mà nói ra như vậy, không được sao, không tin à? Đúng là em cứ đem ba cái chuyện đó ra nghi ngờ, dọ hỏi để không tin, rồi nói lẩy nói đương; như vậy có giúp ích gì trong tình yêu không? Nếu em không tin mà cứ cho anh là như vậy, thì em nên xa anh ngay, cho em khoẻ thân và không bận lòng gì cả! Thật ra, anh cũng có nỗi buồn vậy! Nhưng mà em à, mình phải chấp nhận cái tình cảnh hiện tại thôi, biết để mà không buồn và oán trách nghịch cảnh gì cả em à!

                        Thuở ban đầu mình tưởng rằng chỉ thân nhau thôi, nhưng không ngờ mình đã được đến với nhau, sống hạnh phúc bên nhau, như vậy là bù đắp được khá nhiều rồi em ơi. Không nên mơ ước theo ý mình hoàn toàn, để rồi thất vọng, khổ tâm thêm chứ ích gì! Em tập nghĩ rằng: mình có được như vầy là ĐƯỢC THÊM đi nghe em. Nếu không được thêm nữa, thì đành chịu vậy. Nhớ mà trân trọng, nâng niu cái gì mình đã có với nhau. Giữ mãi như vậy, là quý đó em ạ! Trong tương lai, dù khó khăn, nhưng biết đâu có sự xui khiến, thì mình gặp nhau thôi, biết đâu được, có ai ngờ!

                        Anh nghĩ là số mình chắc chắn là thọ, có điều là sau nầy sức khoẻ sẽ yếu kém nhiều vì một phần là lớn tuổi, một phần sức khoẻ sẽ suy yếu, là đương nhiên. Cho nên nghĩ và nói ra cái thực tế là: sau nầy mình rất khó gặp lại nhau lắm em ạ. Thôi thì dù sao bây giờ mình cũng may mắn gặp gỡ, hạnh phúc vui vẻ với nhau như vậy, cũng là rất quý và đáng trân trọng, ghi nhớ há. Trong tương lai chắc là mình cũng còn trọn lòng với nhau, và nghĩ về nhau là tốt rồi đó em ơi. Đó là thực tế, mình phải thấy như vậy!

                        Hôm sau khi nhổ răng cái thứ nhì về, là chiều tối Thiệu bị sốt, mà trong người lạnh run, phải trùm và nằm trên tấm heat nóng khoảng hơn một giờ, mới hết lạnh run. Có lẽ do anh hơi ớn lạnh muốn bệnh, mà đi nhổ răng, nên mới sinh ra như vậy. Lần đầu tiên trong đời mới bị như vậy. Tóm lại coi như tiêu thêm hai cái răng hàm dưới, từ nay ăn uống sẽ khó khăn và chậm chạp, đành chịu thôi. Chứ nó nhức từng cơn không thể nào chịu nỗi. Cái bệnh nướu răng nó khốn nạn thật! Nhìn hai cái răng không hư hao gì cả, mà phải nhổ thật là tiếc!
                        ***

                        Nị đã thẩn thờ lo âu và bàng hoàng lắng nghe tin nhắn: Thiệu lâm trọng bệnh:
                        Những lời dặn trước mong rằng em suy nghĩ cho chính chắn, để làm đúng theo lời anh dặn nghe. Duyên tình của mình được Trời cho thêm như vậy là quý rồi, và mình cũng có may mắn gặp nhau như vậy, là coi như mãn nguyện. Bây giờ không phải là lúc hỏi có yêu nhau không? mà câu đó mình đã nói - cũng như xác nhận từ lâu rồi, phải không em?

                        Hôm DEC 10 anh đi đến bác sĩ để làm siêu âm về tim như thường lệ, mỗi năm làm một lần. Mãi đến hôm Dec24 (14 ngày sau) bác sĩ mới kêu anh đi vào bệnh viện emergency, để có thêm những cái test khác, vì KẾT QUẢ họ thấy không bình thường. Thế mà lúc đó là cận lễ NOEL, nên anh tự động dời lại đến thứ 2 DEC 28 mới đi đến đó. Nhưng khi vào bệnh viện phòng emergency, thì họ không cho về, và bắt anh phải nằm lại, để có nhiều cái test. Lúc đầu họ nghĩ là anh bị máu đóng cục.

                        Nhưng sau khi làm siêu âm lại - thì không phải, mà họ thấy trong valve tim của anh, có một chút gì đó rất nghi ngờ bị nhiễm trùng. Nên họ lấy máu để xem có đúng hay không, họ cần anh phải làm nội soi, cho họ nhìn rõ bên trong xem ra sao. Họ bắt anh ở lại để sáng hôm nay thứ 4 sẽ làm nội soi. Anh không đồng ý xin về, và thứ Hai tuần tới gọi phone để hẹn và sẽ làm sau. Lý do nằm trong nhà thương mà chờ đợi thì tốn tiền vô lối lắm.

                        Trở về thực tế thì anh xin nói và dặn như thế nầy. Trong thời gian anh phẩu thuật cũng như sau nầy tuyệt đối không muốn em đến thăm hay gọi phone gì cả. Vì làm như vậy không ích lợi gì cho nhau, mà gây rối rắm và phiền hà lắm. Mấy đêm qua có ngủ được chút đỉnh; thật tình anh cũng không biết con người bây giờ ra sao nữa. Nó xáo trộn khi vầy khi khác không đoán trước được; duy có điều là anh dễ bị mệt hơn xưa nhiều lắm.

                        Thí dụ như chỉ xách mấy bịch đồ đi chợ về, từ garage vô nhà mà cũng mệt. Thật nản cho anh bây giờ. Thực lòng mà nói sức khoẻ của anh được bình thường 85%, nghĩa là không còn nước ra; phải mang ống nữa; chứ không có nghĩa là 85% của lúc xưa, em hiểu không? Bây giờ dễ mệt, đi mà nhìn qua lại nhanh là chóng mặt, lên cầu thang cỡ 7,8 bậc là mệt. Hay là ngước lên vói tay làm gì đó, là mệt phải thở...

                        Kể sơ như vậy. Dù sao được như bây giờ cũng là quá ngon lành rồi. Chứ lúc trước chỉ riêng cái vụ fluid là nó quần anh mệt lắm, vì nó ép buồng phổi khó thở. Anh vẫn biết rằng mỗ tim mà đâu dễ bình phục mau được! Sức khoẻ làm phiền mình lắm từ thể xác đến tinh thần...
                        Có một số bạn bè của anh biết anh sẽ đi phẩu thuật, tất cả những tin tức bạn bè thăm hỏi ấy anh đều không đọc, vì thời gian trong tháng đầu tiên sức khoẻ còn yếu sức lắm, nên cá nhân anh không thích ồn ào xôn xao. Em có suy nghĩ và thấy vậy không.

                        Do giải phẩu trong VAN TIM nên, phải mất thời gian khá lâu mới hồi phục sức khoẻ lại bình thường, anh nghĩ ít ra cũng vài tháng, mới có thể ngồi lên sơ sơ vào Internet được, còn bình phục hoàn toàn phải cả năm đó em à! Khi nào khoẻ được thì anh vào gửi mail cho em ngay nhé. Bởi vậy mình đã có cơ may gặp nhau như vậy, cũng là mừng vui, hạnh phúc lắm rồi; trong tương lai sức khoẻ của anh sẽ yếu đi, chắc gì mà mình gặp nhau được. Thì mình vẫn gặp và yêu nhau trên nầy, và ở trong phòng của mình vậy.
                        Mong em đọc kỹ và làm đúng như lời dặn của anh nghe. Hôn em nhiều lắm.

                        May-01-10.
                        Em yêu
                        Dĩ nhiên là thời gian nầy anh vẫn liên lạc thư với em đều đặn mà. Thật sự anh không sợ hãi vụ đi phẩu thuật gì cả. Ngay cả không sợ chết đâu, nghĩ mình cũng lớn tuổi rồi, nếu Trời không cho sống nữa, thì chịu thôi, anh bình thản không sợ gì cả. Tuy nhiên vì là con người nên có lo lắng, tâm trạng như học sinh bồn chồn băn khoăn như ngày đi thi vậy mà, chứ thật tình anh không sợ gì hết.

                        Thứ 5 tới, là ngày JAN 21, anh phải đi vào đó làm một cái test khác trước khi phẩu thuật, đó là điều bắt buộc, để b/s xem anh có bị nghẻn tắt ở mạch nào không, để khi giải phẩu b/s biết thì họ làm luôn. Sau đó sẽ có ngày hẹn đi giải phẩu, chứ bây giờ chưa biết, nhưng anh nghĩ là khoảng cuối tháng nầy! Hôm nọ nhờ thọc máy chụp hình vào họng để soi, tim nên thấy trong Van Tim của anh có một cục thịt thừa tròn nằm dính phía ngoài VAN, giống như cái bong bóng có dây cột vô que gỗ vậy. Van tim như que gỗ, mỗi khi đóng mở, thì cái bong bóng nó bay đập tứ tung.

                        Bác sĩ bật hình lên cho anh thấy, nên anh mới quyết định cho mổ, vì sợ nó vỡ ra, hoặc là nó nằm nghẻn mạch, là nguy hiểm lắm. Nhưng mà em yên tâm nghe, vì B/S nói: đó là loại dễ trong mấy ca mổ Van Tim. Nhưng mà vì mổ tim nên phải cần thời gian hồi phục. Anh hỏi thăm và đoán biết rằng ít nhất cũng phải gần ba bốn tháng mới thấy đỡ đau. Dĩ nhiên sức khoẻ không được như xưa đâu. Hiện tại anh vẫn thấy bình thường, khoẻ mạnh, vẫn đi bộ như thường em ạ!

                        Anh không nói ra, nhưng hiểu tình cảm mà em dành cho anh như thế nào chứ. Anh biết và cảm động lắm. Yêu em nhiều. Anh vẫn nhớ và giữ lời nói lúc trước với em! Với bạn bè, một số ít biết, anh yêu cầu họ đừng phổ biến đến những bạn khác, vì lẽ anh sợ họ gọi tới hỏi thăm nầy nọ, lại làm cho mình thêm lo lắng hơn thôi, thà để yên vậy cho thanh thản đến ngày đi phẩu thuật. Khi nào gọi cho em, thì anh sẽ viết cho biết trước; nhưng em phải bình tĩnh, đừng khóc lóc hay lo sợ gì cả, không hay nghe em. Anh nhớ những lời em dặn, phải hỏi b/s chớ, nhưng dù sao mình phải kiêng ăn tôm, cá biển và nếp... dễ làm cho thịt lồi ra và ngứa...
                        ***

                        Ca mổ của Thiệu là đại phẩu thuật vì mổ xẻ trái tim, mổ gần 5 giờ đồng hồ, xong có đặt ống để cho chảy nước vàng ra. Anh bị biến chứng, vì cỡ 4 ngày sau bác sĩ rút ống chảy nước vàng ra, nên nó ứ đọng, làm anh mệt và khó thở lắm. Anh ho, là ra máu ở ngay lằn mổ, nên bác sĩ biết có máu đọng, do đó Thiệu phải mổ lần hai, để lấy nước vàng ra, và đặt ống rút nước, để vậy đến bây giờ coi như cả tháng. Mổ lần hai lấy ra gần 1 lít nước vàng.

                        Rồi sau đó vì nhịp tim Thiệu đập yếu, nên họ phải giải phẩu lần ba, để đặt máy trợ tim =pace maker vào cơ thể của anh vĩnh viễn. Bác sĩ quyết định đặt máy trợ tim để khi nào tim mình đập thấp, thì nó tự động kích trái tim mình đập mạnh lên. Máy nầy đặt dưới da trên ngực, chứ không phải trong trái tim. Cỡ gần 10 năm khi check thấy hết pin, là bác sĩ mổ ra ngay chỗ đó, để thay pin, chứ không phải mổ tim ra nữa. Mổ chỗ đó chỉ khoảng 1/2 giờ thôi. Có nhiều cái phức tạp nữa…

                        Tim anh vẫn còn trục trặc, hôm nọ đi rút nước ra rồi, mà nó vẫn còn có air trong thành của buồng phổi! Nếu nó từ từ biến mất thì ok. Còn không, phải đi rút kiểu khác, rất phiền. Anh vẫn còn yếu và mau mệt. Chuyện về mình, trong tương lai thật khó mà gặp nhau lắm, vì sức khoẻ của anh. Em ạ! Anh đã đọc mail của em và attach mà em gửi, nên bây giờ anh có đôi điều nói với em đây:

                        Về phần anh. Thật tình mà nói anh có ý tốt đối với em, mà em không thấy hay sao lại đâm ra quạo quọ với anh vậy?? Anh biết tình cảm của em đối anh mà. Nhưng anh cũng biết thân của mình bây giờ, nên anh không trói buột em điều gì cả, mà đó chẳng qua là mở lối cho em cảm thấy thoải mái thôi. Phần anh đối với em vẫn vậy! Nhưng nói trước vì sức khoẻ, nên lắm khi bất ngờ anh không vào mail cho em mỗi ngày. Như vậy làm cho em nổi nực, rồi nghĩ nầy nọ (như 5 ngày vừa qua đó) ...làm anh cũng thấy không vui. Tất cả những gì nói trên là góp ý và nhận xét chân thật, nếu có gì khác ý của em, cũng bỏ qua cho nhá.. Có gì cần chia xẻ và trao đổi với anh thì em cứ tự nhiên. Lúc nầy anh oải quá hết hôn em nổi.

                        Riêng phần em, anh đồng ý cho em vui vẻ, hoặc trao đổi thư từ với những ai mà em thấy hợp. Anh không hề trách cứ gì em cả. Miễn là em được đền bù vui vẻ là mừng rồi. Đó là những gì anh nói thực. Vì mình phải biết và nhận thấy cái thực tế đó em ạ! Anh rất hiểu tình cảm và sự lo lắng của em dành cho anh. Anh không quên cám ơn những lần cầu nguyện và sự quan tâm em dành cho anh. Em cứ tự nhiên cho đỡ buồn, nhưng nhớ tình là chính và căn bản đó nghe em. Cám ơn em đã lo lắng và an ủi anh. Anh rất hiểu điều đó, anh hiểu, biết và thấy nhiều về tình cảm của chúng mình. Nhưng anh không muốn kể lể ra làm chi, giữ mãi trong lòng thôi em ạ.

                        Đúng ra bây giờ anh yếu và hay chóng mặt quá. Hôm nọ trên FL, đi ra ngoài ăn, đang ngồi trên bàn ăn thấp, anh nghiêng qua một bên để lau chùi cái bàn bị rớt đồ ăn dơ, vậy mà mất thăng bằng, ngã xuống sàn nhà, không sao cả, nhưng thấy là mình yếu nên không gượng vững được. Cũng như ở nhà khi ngồi chồm hổm một xí là bật ngửa trên thảm, vì ngồi như vậy thì uất hơi khó thở! Nếu ngồi cả ngày mà không nằm nghỉ, là mệt thấy rõ! Phải chịu vậy thôi. Dáng đi của anh bây giờ thì khom và rút vai. Thấy nản quá. Tập sửa dáng đi lại, chắc cũng hơi khó đây!

                        Lúc nầy trời ở đây rất lạnh dưới 40 độ, Anh đi bộ mặc áo lạnh dày và trùm mũ len do Nị đan tặng… nên rất ấm áp. Bây giờ chỉ có vậy và hồi ức là hình ảnh đẹp. Mình biết vậy và phải chấp nhận. Tự trong thâm tâm Thiệu mong Nị cũng biết nghĩ suy cái thực tế, để mà sống bình thản! Dù sao thực tại mình còn liên lạc trao đổi vui buồn trong cuộc sống, như những người bạn tâm giao là điều quý. Thiệu cũng có sự hiểu biết, coi chuyện xưa là kỷ niệm đẹp thôi, và anh cũng cám ơn Ơn Trên đã cho mình được những gì mong ước. Coi như vậy là đủ... Giữ chuyện xưa ở mức độ như thế là đẹp!

                        Vì thực tế về sức khoẻ của chàng bây giờ đã khiến Thiệu bức rức, tánh tình hay bẳng gắt lắm! Ngay chớn-thuỷ ở ngực hay bị uất hơi, khó thở, và hơi đau lói ở đó, có lẽ do bị nhịp tim (rhythm) đập nhanh gây ra như vậy. Thiệu đang uống thuốc bệnh nầy! Khi đi thì cảm thấy như bị co rúm lại, nên khó thẳng người. Ngoài ra da măt và da đầu bây giờ hay bị tróc da như vảy cá vậy! Có lẽ bị mỗ tim, nên nó làm cho da khô hơn xưa? Ngồi dựa lưng vào thành ghế một xí là bị ho, do phổi yếu chắc. Bây giờ một ngày uống hơn 10 viên thuốc. vì vậy Thiệu để hình ảnh xưa cho nó đẹp, hơn là thực tại (em nhá).

                        Dĩ nhiên đó cũng gợi nhớ đến kỷ niệm vui… nhưng mà thôi, chắc là cái phần mình chỉ được có vậy thôi, không nên than oán gì cả! Sức khoẻ làm cho con người cũng hết hăng hái mọi chuyện.. Phần em phải lo cho sức khoẻ mọi thứ đi nghe... Vì lớn tuổi thì sức khoẻ của mình cũng thất thường lắm! Anh cầu mong cho em khoẻ mạnh và vui. Thiệu về nhà mà còn mang một túi nhỏ bên hông để đựng nước vàng. Tội nghiệp gia đình, em yêu, người thân và bạn bè đều lo lắng, đồng thời cầu nguyện cho anh nhiều lắm. Thiệu rất xúc động và mang ơn tất cả.
                        ***

                        Mỗi đêm… từng đêm… Nị hai tay ôm đầu, lắng nghe bài ca: “Cơn Bão Nghiêng Đêm” và, không thể cầm được lòng, nàng đã gục đầu lên thành ghế khóc nức nở, khóc hoài, khóc mãi muốn mờ đôi mắt.
                        ***

                        Tình Hoài Hương
                        Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-22-2017, 10:48 PM.
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment

                        • Tinh Hoai Huong
                          Senior Member
                          • May 2009
                          • 1081

                          #102
                          Trường Phi Hành Hải Quân Hoa Kỳ Pensacola



                          Lời cảm tạ
                          Với sự nhiệt tình đóng góp nhiều chi tiết của các Phượng hoàng: Phạm Đình Khuông, Lê Thuận Lợi, Tạ Thượng Tứ, & những hình ảnh, dữ liệu đã thu lượm được trên các trang mạng ‘google.com’ ‘wikipedia.org’ , và tài liệu cá nhân. Nhứt là lấy trong quyển ‘The Flight Jacket’ cadets classes 1-48/ 1962, chúng tôi xin mạn phép được giới thiệu công lao của Trường Phi Hành Hải Quân Hoa Kỳ Pensacola: đã trang bị cho KLVNCH những tài năng hiếm quí; đã từng đóng góp một phần xương máu cho Thế Giới Tự Do nói chung, và cho đất nước Việt Nam Cộng Hòa nói riêng.
                          Phượng Hoàng Kim Cương

                          ***



                          Không Quân Pháp rất kiêu hãnh về Trường Võ Bị Không Quân Salon-de-Provence (École de l’Armée de l’Air et de l’Aéronavale Française) thì Hoa Kỳ cũng không kém tự hào về Trường Phi Hành Hải Quân Pensacola (U.S. Naval Air School Pensacola) của họ. Trường là cái nôi của Hàng-không Hải-quân Hoa Kỳ (Cradle of Naval Aviation), nơi đã đào tạo nhiều nhân tài, điển hình là các phi hành gia không gian, như Đề đốc hồi hưu Alan B. Shepard Jr., người Mỹ đầu tiên du hành trong không gian. Tr/tá Neil A. Armstrong, người đầu tiên đặt chân lên Nguyệt cầu, và gần đây nhứt là hai cha con cựu Tổng thống Hoa kỳ George H. W. Bush và George W. Bush, và ứng cử viên Tổng thống Thượng nghị sĩ Tiểu bang Arizona John S. McCain III.
                          Lịch sử Hàng không Hải quân HK bắt đầu từ Pensacola, thành phố đã có từ thế kỷ XVI. Mãi đến 1825 Bộ trưởng Hải quân HK mới cử một phái đoàn đi tìm đặt một căn cứ hải quân tại đây. Đến năm 1910 Hải-quân Đ/úy T.G. Ellyson là người đầu tiên thọ giáo hai anh em Orville và Wilbur Wright và Ông Glenn Curtiss, để học bay tại căn cứ này. Trường này đã đào tạo 999 phi công vào Thế chiến I và trên 28,000 vào Thế chiến II.
                          Người ta gọi nó là “Annapolis of the Air” Võ bị Hải Quân của Không gian. Bộ Chỉ huy Phi huấn HQHK (Naval Air Training Command) đã chọn nơi đây để đặt đại bản doanh. Toán phi diễn nổi tiếng của HQHK “Blue Angels” tạm dịch là "Thiên Sứ Xanh" cũng chọn nơi đây làm tổ ấm. Với những thành tích trên, chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng: “Xuất thân từ Trường Pensacola là những phi công ưu tú nhứt thế giới” - “Through the gates of the Naval Air Station Pensacola pass the finest pilots in the world”.
                          Nằm ngay cuối cán xoong của Tiểu bang Florida, sát ranh giới Nam Tiểu bang Alabama, dọc theo vịnh mang cùng tên là hải cảng to lớn và thành phố Pensacola. Khí hậu ôn hòa mát mẻ của Vịnh Mễ-Tây-Cơ, rất thích hợp cho các công tác thao luyện nhọc nhằn và nhiều tập trung của trường bay. Căn cứ bay Naval Air Station Pensacola là một mũi đất (langue de terre), chiếm trọn phần còn lại phía Tây-Nam vùng vịnh, tiếp giáp thành phố trên một địa thế rộng 5,804 acres; phía Bắc là cửa sông Bayou Grande, và phía Nam là phần còn lại của vịnh Pensacola Bay trước khi đi vào Big Lagoon; một đầu là ụ tàu navy yard và bãi đáp trực thăng Chevalier Field (1) ở Đông-Nam, và sân đánh golf A.C. Read (2) ở Đông-Bắc; đầu bên kia là phi trường Forrest Sherman Field (3) ở Tây-Nam.

                          Chỉ một căn cứ hải quân thôi mà có tới 3 Bộ Chỉ huy đồn trú: ngay cột cờ màu xanh nước biển với một sao trắng trước tòa nhà Bldg 45: là BCH Phi huấn Căn bản Chief of Naval Air Basic Training. Cờ với hai sao trắng trước Bldg 628 là: BCH Phi huấn Hải quân Chief of Naval Air Training. Cờ đỏ với huy hiệu binh chủng Thủy-quân Lục-chiến Hoa Kỳ là: BCH Liên đoàn Trợ Huấn Phi hành Marine Aviation Training Support Group. Không đoàn VI Phi huấn gồm Phi đoàn VT-4 Warbucks (Chiến lộc). Phi đoàn VT-10 Wildcats (Linh miêu) và Phi đoàn VT-86 Sabrehawks (Kiếm ưng). Phi đoàn Phi diễn Blue Angels và Biệt đội Trực thăng Tìm Cứu NAS Pensacola Search and Rescue Detachment, đóng ở phi trường Sherman Field.
                          Ngoài ra, Viện Bảo tàng Quốc-gia Hàng-không Hải-quân National Museum of Naval Aviation trưng bày nhiều phi cơ, và phi thuyền với lịch sử của nó. Pháo đài cổ Fort Barrancas và Nghĩa trang Barrancas National Cemetery là những di tích của thời Nội chiến Civil War. Ngọn hải đăng Pensacola Lighthouse, nằm phía bên kia đường cách Viện Bảo tàng là một địa danh lịch sử hiếm quí, và một phong cảnh ngoạn mục cho những cặp tân hôn và nhiều người đến chụp hình trong những dịp lễ đặc biệt.
                          Trung tâm Huấn luyện Kỹ thuật Naval Air Technical Training Center nằm ở Chevalier Hall, Trường Phi hành Naval Air Schools gồm có Trường Địa huấn School of Preflight. Trường Sĩ quan Phi hành Naval Aviation Officers School. Trường Y khoa Phi hành School of Aviation Medicine đã cung cấp hoa tiêu, nhân viên phi hành và kỹ thuật hàng không, bác sĩ phi hành cho cả Hải quân Navy. Thủy quân Lục chiến Marine. Lực lượng Duyên phòng Coast Guard Hoa kỳ và một số Quân đội đồng minh Allied Forces.
                          Tại Trường Địa huấn, hằng tuần có một lớp nhập học và một lớp ra trường. Bỏ qua các mùa lễ lớn, mỗi năm có 48 lớp. Số người không nhất định. Có lớp đến 70 người như lớp 48-62, còn có lớp chỉ có 16 người thôi, như lớp 16-62. Khóa sinh gồm có:
                          - Các sinh viên đã tốt nghiệp 4 năm Võ Bị Hải Quân US Naval Academy, Annapolis, Võ Bị Quốc Gia US Military Academy at West Point, và Đại học Universities hay Colleges, là những AOC (Aviation Officer Candidates).
                          - Các sinh viên đã tốt nghiệp Junior Colleges là những NAVCAD (Naval Aviation Cadets) hoặc MARCAD (Marine Cadets);
                          - Các sĩ quan, hạ sĩ quan đã tốt nghiệp Đại học, muốn chuyển qua ngành phi hành.
                          - Các khóa sinh SQ hoặc SVSQ đồng minh (Allied Students) trong chương trình trao đổi hoặc viện trợ quân sự.
                          Sinh viên Sĩ quan (Cadets) thì phải qua 16 tuần lễ huấn luyện, còn Sĩ quan chuyển ngành thì có 8 tuần để vào khuôn khổ (indoctrination). Chương trình Địa huấn bao gồm 3 lãnh vực: Văn hóa, Thể lực, Quân sự. Khóa sinh phải đạt được điểm chuẩn cho từng ngành thì mới được tốt nghiệp.
                          Tất cả khóa sinh mới phải trình diện ở Phòng Trực OOD (Officer of the Day) tại Bldg 624. SVSQ và khóa sinh dân sự thì bị tước đoạt hết mọi thứ đồ xi-vin, khi ra trường mới được trả lại. Họ phát cho mỗi người một bộ áo liền quần (poupie suits) và một đôi giày đi rừng (boondockers, loại giày da lộn sần sùi), rồi tống cổ tất cả vào một hầm tối tập thể (squad bay), đóng sầm cánh cửa sắt và khóa lại. Đây là một loại khám tối (cachot), không có đèn đuốc chi cả. Một nửa bức tường ngăn ở giữa. Sát hai bên tường này là một bậc thềm cao, và rộng vừa đủ để có thể nằm ngủ trên đó. Đi tiểu thì ở cái mương dọc theo vách phía bên kia, có nước nhểu rỉ rả. Cánh cửa sắt có cái cửa chớp (shutter), cái khe nhỏ vừa đủ rộng để mắt nhìn ra ngoài; khi có đại tiện thì gọi SVSQ trực mở cửa. Sáng sớm hôm sau, họ đánh thức bằng tiếng chuông reo inh ỏi và loa hô to:



                          Cổng chánh vào Trường Phi hành Pensacola

                          “Reveille! Reveille! Reveille! All hands hit the deck”. Tất cả chạy ra ngoài, nghe giảng một hồi, rồi co tay chạy đều lên phòng ăn sáng, không thấy thằng nào đánh răng, rửa mặt chi cả. Ăn xong là tất cả xếp hàng chạy bộ về lớp học. Tiểu đoàn trưởng Khóa sinh Battalion Officer chào mừng khóa sinh mới đến: “Welcome aboard!” và giới thiệu chương trình lớp Indoctrination Class tạm dịch là lớp Huấn Nhục. Sau đó họ đưa đi cạo đầu sát rạt (như mấy thầy chùa vậy đó). Các cadet đến phòng quân trang, lấy ni nón, áo quần, giày, rồi được lãnh quân phục, chụp hình làm thẻ căn cước và cấp cho thẻ bài dogtag…
                          Huấn luyện viên là US Marine Sergeants. Họ truyền thụ, từ lời ăn tiếng nói dõng dạc to lớn, đến cách đi đứng chặt góc vuông, chào hỏi. Ngồi ăn phải thẳng lưng và nâng thức ăn ngang miệng, rồi mới đưa vào.
                          Khóa sinh ngoại quốc phải mất thêm ít nhất 2 tuần lễ nữa để học Anh văn của Hải quân Hoa kỳ. Sau khi khám sức khỏe tổng quát lại, thấy tốt, thì mới được xếp vào lớp.
                          Mỗi sáng khi nghe tiếng chuông reo và loa phóng thanh đánh thức, mọi đứa, mắt nhắm mắt mở, đều chụp lấy nùi lau, quơ quàu cái màn lá sách che cửa sổ (venitian blinds), tấn drap giường cho thẳng thớm, làm vệ sinh cá nhân, ôm bồn cầu lau sạch sẽ, bồn rửa mặt cũng phải khô ráo, cục xà-bông phải xài, chớ không được để chưng thờ, mà phải lau khô sau mỗi lần xài. Khi tới phiên trực còn phải biết sử dụng máy vacuum cleaner hút bụi, hoặc dùng cây broom đẩy bụi vào một góc rồi hốt, lấy mop lau nhà với nước sáp nóng (hot wax), rồi đánh bóng sàn nhà lại với floor buffer, ngoài ra còn cleaning details nữa, nghĩa là đánh bóng mấy ổ khoá cửa, tay nắm/ quả đấm cửa (knob/ poignée). Sau 8 tuần huấn nhục thì các khóa sinh được sinh hoạt bình thường.
                          Chương trình Huấn luyện Quân sự (Military Training) rèn luyện khóa sinh thi hành công việc hằng ngày mà một sĩ quan thật sự làm, dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của các sĩ quan huấn luyện viên và sinh viên cán bộ trong Trung-đoàn Khóa-sinh. Thường thì huấn luyện quân sự nhắm vào việc cai quản hành chánh, quân phong quân kỷ, và khả năng tác chiến. Ngoài ra khóa sinh còn học cách sử dụng vũ khí cá nhân, chào kiếm chuẩn bị lúc làm lễ ra trường.
                          Mỗi sáng, sau khi thức dậy và vệ sinh cá nhân xong, loa gọi “All hands fall in for morning spiffy (inspection)”, thì tất cả chạy ra xếp hàng ngoài sân, quần áo thẳng nếp, giày bóng loáng, cà vạt và bâu áo phải có kim gài (collar and tie pins). Sinh viên cán bộ đến trước từng người ngắm nghía xem quân phục có đúng cách không, rồi hỏi những câu về lịch sử, chính quyền, quân đội, thời sự…. Mọi câu hỏi đều có chuẩn bị câu trả lời. Các trưởng lớp class leader họp với ban tham mưu của Trung-đoàn Khóa-sinh sau mỗi bữa cơm chiều, và đem về phổ biến lại cho lớp mình. Nói một cách khác là ngoài quân phong quân kỷ, tinh thần đồng đội (esprit de corps) lúc nào cũng được rèn luyện.
                          Đi ăn ở mess hall (nhà ăn tập thể) vẫn đi từng lớp và theo đúng cơ bản thao diễn. Mỗi thứ tư có bữa cơm chiều dưới ánh đèn cầy (candlelight dinner), có bồi bàn đứng hầu bên cạnh để phục vụ rượu vang, trông thật là quí phái. Thực đơn luôn thay đổi theo từng dân tộc một, tuần này món ăn Ý với spaghetti và rượu Chianti. Tuần sau món ăn Pháp với civet de lapin và Beaujolais. Món Đức thì có sauerkraut với Riesling. Còn món Nga thì có caviar với Rkatsiteli…. Mỗi thứ sáu có buffet ăn xả láng tự phục vụ, có khi cả một đùi bê thui, hoặc một con trừu quay, hoặc một con cá tầm (sturgeon) đút lò to lớn để nguyên trên một cái bàn dài ở giữa phòng ăn. Thứ Bảy, Chúa Nhựt thì nhà ăn mở cửa trể, điểm tâm và ăn trưa nhập chung lại làm một bữa gọi là brunch.


                          Chương trình Văn hóa (Academics) thì có các môn Toán và Vật lý áp dụng cho ngành hàng không, phải dùng thước slide rule để tính, một dụng cụ mới lạ mà sinh viên ở VN có bao giờ xài đến đâu. Môn Naval Orientation dạy cho biết về lịch sử và tổ chức Hải quân Hoa kỳ. Aerodynamics là khí động học áp dụng cho phi cơ và bom đạn sử dụng. Study Skills dạy cách học bài trong đó có Speed Reading Skills (Speedy Skills) kỹ năng đọc nhanh và Communication Skills kỹ năng thông đạt. Leadership là nghệ thuật lãnh đạo. Engineering trong đó có môn Động-cơ-nổ và Động-cơ phản-lực.
                          Aviation Science dạy cách điều khiển các bộ phận của phi cơ, luật lệ lưu thông hàng không, phương sách bảo trì phi cơ, phương thức liên lạc vô tuyến, Code Morse và Recognition nhận dạng các phi cơ đồng minh và phi cơ địch. Weather and Meteorology Thời tiết và Khí tượng. Navigation (không hành) trong đó có Celestial Navigation nhắm hướng ban đêm bằng vị trí các sao trên trời, cách sử dụng các phi cụ. Ngoài ra còn có môn Chính-trị FNP (Foundation of the National Power) phần lớn dạy về lịch sử thế giới với những chế độ khác nhau, những tổ chức quốc tế, như UNO, NATO, WAPA, những lắc léo ngoại giao, những hiệp ước, công ước cận đại, nhứt là quá nhiều những ngày tháng (date) phải thuộc lòng. Tất cả đều có phim ảnh, trợ huấn cụ cho từng ngành, từng môn một.
                          Chương trình Thể Lực và Mưu sinh Thoát hiểm (Physical Fitness-Survival) phát triển sự kết hợp sức mạnh vào kỹ năng chuyên môn. Tập dượt các môn võ đô vật truyền thống (collegiate wrestling), quyền Anh có đội nón độn nệm (smokers boxing). Bơi lội thì phải bơi suốt 2,000 m (40 vòng tới lui) có bận đồ bay. Còn nói tới “Dilbert Dunker” thì khỏi chê: người ta đặt anh ngồi vào một cái ghế sắt tương tự như cockpit (phòng lái) của phi cơ nhỏ T-34, gài dây an toàn shoulder harness và safety belt, kéo anh lên tuốt trên đỉnh của giàn phóng, cao khoảng chừng 10 m, rồi khi nào nghe huấn luyện viên thổi tu huýt một cái, thì họ buông cái ghế cho rơi theo đường ray chúi xuống chừng 60° vào hồ bơi. Cái ghế lật úp. Nước bắn tung tóe tùm lum. Anh phải đếm thầm: “One thousand one, one thousand two,…one thousand five”, rồi nhanh nhẹn tháo gỡ dây an toàn bụng và vai. Hai chân ngồi chồm hổm lên ghế, hai tay vói thẳng lên miếng gổ, giả làm windshield (kính che gió), ngửa đầu ra phía sau, rồi hai tay, hai chân tống thẳng cẳng mạnh ra khỏi cái “Dilbert Dunker”. Tứ chi vẫy vùng như con ếch, cố ngoi đầu từ dưới đáy hồ lên khỏi mặt nước. Ngoài ra còn phải biết đánh vào quai hàm của nạn nhân, để làm cho họ bất tỉnh trước khi lôi họ vào bờ cứu họ, biết làm hô hấp nhân tạo CPR. Ngoài Đoạn đường Chiến binh (Obstacle Course) còn biết chơi trampoline, không phải chỉ nhún nhảy, mà còn phải biết nhào lộn, như thế sau này khi lên trời sẽ mạnh dạn làm mấy động tác phi hành (flight maneuvers) hơn.
                          Nhảy dù trên đất liền và dưới nước. (Jungle/ Swamp/ Sea Survival) mưu sinh thoát hiểm trong rừng, sinh lầy và cả dưới biển. Nói cho cùng là môn thể lực huấn luyện sức chịu đựng dẻo dai trong tinh thần thể thao (spirit of sportmanship) và ngay thẳng (fair play).
                          Sau 16 tuần lễ quần quật với đèn sách, đoạn đường chiến binh, lúc nào cũng ship shape, sạch sẽ ngăn nắp thứ tự như ở dưới tàu. Tuần lễ cuối cùng cả lớp bị bỏ vào khu sình lầy của rừng Eglin AFB từng huấn luyện Biệt Kích Mỹ, để học lớp Mưu Sinh Thoát Hiểm. Khi trở về trại nhà, thì mỗi khóa sinh được phát một tờ khai chọn lựa ngành nghề Career of Preference. Có người chọn ngành phi hành gia Astronaut. Phần đông là phi công fixed wing pilots. Còn lại là phi công trực thăng rotary wing pilots. Khóa sinh Việt-Nam không có đường chọn lựa mà chỉ ghi fighter pilots, để điền cho đầy đủ rồi nộp với người ta.

                          Tại buổi lễ mãn khóa Địa-huấn, SVSQ nhận bằng tốt nghiệp Diploma, là quyết định bổ nhiệm chức vụ sinh viên cán bộ Cadet Officer gồm có: Trung đoàn trưởng SVSQ Cadet Regiment Commander (5 gạch). Trung đoàn phó SVSQ Cadet Regiment Sub-Commander (4 gạch). Nhạc trưởng Dàn nhạc & Ban hợp ca Trung đoàn Regimental Band & Choir Commander (4 gạch). 4 Tiểu đoàn trưởng SVSQ Battalion Commander (3 gạch), 4 Tiểu đoàn phó Battalion Sub-Commander (2 gạch), 12 Đại đội trưởng Company Commander (2 gạch), 36 Trung đội trưởng Platoon Leader (1 gạch) phụ trách 36 lớp còn lại (8 lớp Huấn nhục không tham dự). Người nào xuất sắc về một lãnh vực nào đó, thì được gắn thêm lên trên bảng tên ở nắp túi áo bên mặt một badge màu đen có tên lãnh vực đó chữ trắng, nếu được hai lãnh vực xuất sắc thì badge đỏ chữ trắng, còn cả ba lãnh vực thì badge vàng chữ xanh nước biển....
                          Tới ngày ra trường, mấy Officer Candidates Mỹ được gắn lon thiếu úy: Hải quân và Lực lượng Duyên phòng là Navy/ Coast Guard Ensign; còn Thủy Quân Lục Chiến là Marine Second Lieutenant. Mấy anh tân sĩ quan phải có sẵn trong mình một đồng đô-la bằng vàng. Hể người nào đầu tiên chào và chúc mừng họ “Sir, Congratulations, Sir!” thì được tặng đồng tiền vàng đó. Sau đó thì họ chia tay nhau, ai đi ngành nào thì lên đường qua trường đó.
                          Khóa sinh Kỹ thuật không phi hành (aviation ground officers), Điều hành viên, Cơ khí Phi hành (air crewmen) chẳng đi đâu xa mà đã có Trường Naval Aviation Officers School ngay tại Căn cứ Pensacola này rồi.
                          Căn cứ phụ Naval Air Auxiliary Station Ellyson Field là Trường Phi hành Trực thăng Helicopter Training Squadron EIGHT HT-8 ở cách Căn cứ Pensacola 16 mi về hướng Đông-Bắc.
                          Căn cứ phụ NAAS Saufley Field là Trường bay Vỡ lòng VT-1 (Primary Flight Training) ở cách 10 mi về hướng Bắc của Mainside (nickname của căn cứ chánh NAS Pensacola). Tất cả khóa sinh Student Naval Aviators đều phải qua trường này và đã tìm thấy cái cảm giác mạnh lúc đơn phi đầu tiên (first solo) tại đây.
                          Sau vài ngày làm thủ tục đến và làm quen (Orientation) với cách ăn ở và làm việc tại Căn cứ và Trường phi hành VT-1, là hai tuần địa huấn (ground training), học để hiểu biết chiếc phi cơ mà mình sẽ bay trong nay mai:
                          Cockpit Procedures chỉ cách sử dụng các bộ phận và làm quen với các đồng hồ phi kế, lúc mở máy, đang bay, trường hợp khẩn cấp và lúc đáp; ở đây có nguyên cái cockpit (phòng lái) của phi cơ làm trợ huấn cụ nên rất dễ hiểu. Engineering và Flight Characteristics cho ta biết khả năng của phi cơ, chịu đựng được bao nhiêu G’s, hỏng bánh ở tốc độ nào, và chạy được bao xa mới hỏng bánh. Vòng đáp touch-and-go (chạm bánh-bay lại) như thế nào. Phương thức liên lạc vô tuyến với đài kiểm soát không lưu ra sao; ở đây có skull practice, nghĩa là mỗi khóa sinh được mang một cái headset để thực tập, gọi báo cáo với đài không lưu và được nghe đài trả lời y như trên thực tế. Ngoài ra còn có link trainer (phòng lái giả) để cho khóa sinh thực tập ôn lại mấy động tác bay trong lúc chờ đợi có phi cơ khả dụng để bay.
                          Rồi đến sáu tuần phi huấn. Giai đoạn pre-solo (tiền đơn phi) có 13 phi vụ. Trừ phi vụ làm lễ ra mắt (baptême de l’air), khóa sinh sẽ bay 10 phi vụ thực tập các động tác bay căn bản, sử dụng bộ phận điều chỉnh phi cơ bay bình phi, phương thức làm vòng đáp và kỹ thuật đáp, đồng thời học cách đối phó với các trường hợp khẩn cấp, luôn luôn phải giữ sự bình tĩnh và an toàn của một phi công (good airmanship and safety). Phi vụ 12 (safe-for-solo check flight) khóa sinh sẽ bay với một thầy khác, nhiều kinh nghiệm trong nghề huấn luyện, để khảo hạch. Nếu check pilot ra dấu “thumbs up” , thì phi vụ 13 là phi vụ đơn phi đầu tiên “first solo”.


                          Tiếp theo là giai đoạn precision stage (nhuần nhuyễn) với 18 phi vụ, ôn lại mấy động tác học trước đây, và cứ xen kẽ một phi vụ có thầy (dual) với một phi vụ đơn phi (solo). Phi vụ có thầy thì học những ‘chiêu thức’ (figure) mới: loop/ boucle (nhào lộn 360 ), cuban eight (vòng số 8), wingover/ renversement (lật ngược 180 ), barrel roll/ tonneau barriqué (lăn xoắn ốc), spin/ vrille (xoáy vòng), phi vụ đơn phi thì khóa sinh dượt lại cho nhuần nhuyễn. Phi vụ khảo sát bay với một thầy ở khác flight (phi đội).
                          Xong phi huấn vỡ lòng, Khóa sinh Phi công Cánh quạt qua NAAS Whiting Field ở Milton, cách Pensacola khoảng 40 mi về hướng Đông-Bắc. Ở đây trường bay VT-2 và VT-3 có chương trình Phi huấn Căn bản (Basic Flight Training).
                          Trường bay VT-4 ở Sherman Field ngay trong Căn cứ Pensacola thì dạy bay Căn bản Phản lực (Basic Jet Training) và đồng thời dạy đáp hàng không mẫu hạm cho các Khóa sinh Phi công Phản lực.
                          Trường Phi hành VT-6 cũng ở khu Bắc Whiting với VT-2, dạy Vỡ lòng Phi hành với phi cơ nhiều máy (Primary Multi-Engine Training) và phi cụ cho phi công trực thăng.
                          Trường Phi hành VT-2 chuyển tiếp (transition stage) khóa sinh từ một chiếc phi cơ nhẹ và yếu như T-34B Mentor cân nặng 2,960 lb với công suất 225 mã lực, qua chiếc T-28B/C Trojan, nặng hơn gấp đôi 6,424 lb và mạnh trên 6 lần, công suất là 1,425 mã lực. Giai đoạn này kéo dài 9 phi vụ, 8 phi vụ bay với thầy và phi vụ thứ 9 là phi vụ đơn phi. Phương thức bay căn bản (basic air work) tương tự như mấy phi vụ đầu tiên ở Saufley, thêm vào đó là phương thức báo cáo lấy cao độ và xuống cao độ vào vòng đáp (climbing and letdown), thực tập đáp khẩn cấp (giả máy tắt) từ cao độ cao (simulated high altitude emergency), vòng đáp ở các sân bay phụ (outlying fields) cùng với phương thức đáp hạ toàn cánh phụ (full flap landing).
                          Giai đoạn nhuần nhuyễn (precision stage) ở VT-2 là 7 phi vụ. Ở một sân bay phụ, người ta vẽ một hình chữ nhựt có gạch chéo màu trắng ở đầu phi đạo, vừa đủ an toàn để phi cơ chạm bánh lúc đáp. Khóa sinh phải tập chạm bánh trong ô này lúc hạ cánh. Những động tác bay căn bản (basic air work) được luyện cho đến mức dịu dàng (smooth) và wingover hay hammerhead/ renversement luôn được luyện tập, vừa kéo mũi phi cơ lên thẳng đứng, vừa quẹo gắt, gần vào triệt nâng (stall), rồi nhả cánh lại ở 180° đổi hướng và hạ mũi phi cơ xuống, để lấy lại tốc độ bình phi. Khảo sát thấy bay nhuần nhuyễn và đủ an toàn thì được qua giai đoạn kế tiếp.
                          Giai đoạn nhào lộn (acrobatic phase) có 10 phi vụ gồm 4 phi vụ dual và 6 solo. Những chiêu thức căn bản như làm loop, lăn tròn (aileron roll/ tonneau), lăn xoắn ốc (barrel roll), immelmann/ rétablissement normal, cuban 8 (vòng số 8), half-Cuban eight/ rétablissement tombé (½ vòng số 8), spin (xoáy vòng), snap roll/ déclenché, split-S/ retournement. Mỗi chiêu đều bắt đầu bằng tốc độ bay (airspeed) khác nhau và phải luôn giữ hòn bi của đồng hồ chỉ độ quẹo (turn-and-slip indicator) ngay giữa.
                          Sau 8 tuần ở VT-2, khóa sinh được chuyển qua VT-3 ở khu Nam để học 20 tuần phi huấn và 14 tuần địa huấn gối đầu lên nhau.
                          Giai đoạn đầu là Huấn luyện Phi cụ Căn bản (Basic Instrument), suốt thời gian này bay với thầy và luôn chui vào hood (mui che), thực tập scan (nhìn lướt qua lại) mấy phi kế như attitude gyro (thế bay), turn-and-slip indicator (độ quẹo), rate-of-climb (độ lên xuống cao độ), altimeter (cao độ kế), airspeed indicator (tốc độ kế), accelerometer (gia tốc kế chỉ G’s). Khi làm slow flight còn cần phải theo dõi cylinder head temperature indicator (đồng hồ nhiệt độ đầu xy-lanh), lập lại mấy chiêu bay nhào lộn sử dụng phi kế, và vào cận tiến có đài hướng dẫn/ shoot GCA (ground control approach).


                          Giai đoạn kế tiếp là Huấn luyện bay Hợp đoàn (Formation). 4 phi vụ đầu bay với thầy, 7 phi vụ kế tiếp bay solo. 3 phi vụ bay 2 chiếc, 4 phi vụ bay 4 chiếc, đều có thầy bay theo (chase). Thay phiên nhau làm lead dẫn phi tuần và làm wingman đeo theo, để luyện tập breakup-and-rendezvous (tách và tập hợp), tập hợp vào hợp đoàn sát cánh (parade formation/ échelon serré). Phi cơ lead (dẫn phi tuần) phải bay thật smooth, không động tới tay ga, giữ tốc độ an toàn cho phi tuần. Khi bay slow flight, không quẹo vào trong echelon (cánh nặng) nếu là phi tuần 4 chiếc.
                          Hợp đoàn hành quân là tactical formation với 2 chiếc gọi là phi tuần nhẹ (element) và 4 chiếc là phi tuần nặng (flight/ patrouille). 4 chiếc là 2 phi tuần nhẹ và bay theo hình ngón tay (fingertip formation). Với hợp đoàn hành quân khóa sinh thực tập động tác phi hành flat scissors/ ciseaux.
                          Hợp đoàn chiến đấu chase/ combat formation thực tập không chiến dogfight/ combat tournoyant với 2 và 4 phi cơ. Thật ra ở đây phi cơ/ phi tuần số 1 dẫn đầu chỉ làm những phi tác nhào lộn căn bản và phi cơ/ phi tuần đuổi bắt (chase) chỉ đeo theo, áp dụng những kỹ thuật chuyên môn đã thu thập. Không làm spin, hammerhead, snap roll, nói một cách khác là không áp dụng triệt nâng (stall/ décrochage) ở đây.
                          Giai đoạn Huấn luyện Không hành (Navigation) ngày lẫn đêm. Không hành ngày làm Round Robin, đi lòng vòng, dạy cho khóa sinh biết chuẩn bị lộ trình (route planning), sử dụng bản đồ không hành (navigational charts), phân biệt những điểm mốc check points như xa lộ, đường rầy xe lửa, sông, hồ, v.v…. Bài học bay đêm nằm trong 2 phi vụ cross country (băng đồng) đêm đi xa ở lại đêm (overnight), một phi vụ sử dụng dead reckoning techniques, định hướng và tính giờ dựa theo tốc độ mình bay, từ điểm này (địa danh/ thành phố) đến điểm nọ; phi vụ kia thì không hành bằng phi cụ (IFR), sử dụng trợ phi kế (Navaid) TACAN, làm letdown (xuống cao độ), holding pattern (vòng chờ) và GCA pickup on final (cận tiến vòng chót có đài hướng dẫn).
                          Giai đoạn cuối cùng là Huấn luyện Tác xạ (Gunnery), gồm có 5 phi vụ. Phi vụ đầu được thầy biểu diễn và 4 phi vụ đầu chỉ làm dry run để biết làm vòng tác xạ, phi vụ thứ 5 mới bắn bia.
                          Sau suốt một niên khóa học tại Whiting, các khóa sinh trở về Saufley để bắt tay vào chương trình tập đáp hàng không mẫu hạm Carrier Qualification của Trường Phi hành VT-5.
                          Sau hai ngày nghe giảng và trắc nghiệm về vòng đáp và những bộ phận trợ phi (flight support) trên hàng không mẫu hạm như hoạt động của hệ thống kính chiếu trên tàu (operation of the mirror landing system), cũng như cơ chế, tốc độ, sử dụng chân đáp, cánh phụ, móc đuôi tailhook (performance characteristics of the aircraft), và biện pháp an ninh phi hành áp dụng trên tàu (carrier safety), khóa sinh bắt đầu tập dượt đáp theo kính chiếu trên đất liền MFCLP (Mirror Field Carrier Landing Practice) tại 2 phi trường phụ Bari và Bronson.
                          Ở VT-5 chuông đánh thức reveille đúng 0400 giờ sáng để tránh không khí chao động lúc mặt trời mọc. Mỗi khóa sinh phải trải qua 13 đợt tập dượt, 12 đợt trên đất liền và đợt chót trên tàu.
                          Sau 3 phi vụ “demo” biểu diễn bay với thầy ngồi ở ghế sau, mấy phi vụ còn lại bay solo. Mỗi đợt tập dượt có khoảng chừng 8 lần đáp. Trên hàng không mẫu hạm thì 2 lần đầu chạm bánh bay lại (touch-and-go) và 6 lần đáp với móc tailhook (arrested landing) và cất cánh trên giàn phóng (catapult).


                          Hệ thống đèn hạ cánh optical landing system (OLS) thường được biết qua tên gọi meatball (cục bò viên) chỉ cho hoa tiêu biết độ chúi (glidepath) của cận tiến vòng chót (final approach) trên hàng không mẫu hạm. Landing Signal Officer (LSO) sử dụng cờ màu (colored flags), ván (cloth paddles) và gậy đèn (lighted wands) để điều khiển phi cơ hạ cánh trên mẫu hạm, Flight Deck Officer (FDO) chỉ huy toán và tất cả những người mặc áo màu vàng sáng chói làm việc rất ăn khớp với nhau (perfect teamwork).
                          Hàng không mẫu hạm USS Antietam (CVS-36) được Trường Pensacola sử dụng để huấn luyện hoa tiêu đáp tàu từ 1957, trước đây có boong thẳng (straight deck) theo kiểu “Essex”. Xưởng tàu Brooklyn Naval Shipyard đã sửa lại thành boong xiên góc đầu tiên thế giới vào 1953. Boong xiên góc (angled deck) đã cho thấy ba điểm lợi hơn boong thẳng (fore-and-aft deck): thứ nhứt là cùng một lúc có thể điều khiển cho phi cơ cất cánh và đáp; thứ nhì là, khi phi công nhìn thấy boong trống trải, họ cảm thấy an toàn hơn; cuối cùng là phi cơ lớn có thể đáp trên tàu được.
                          Năm 1962 mẫu hạm CSS Lexington (CVS-16) vào thế chổ CSS Antietam trong Vịnh Mể-Tây-Cơ….
                          Nhiều khóa sinh khi lần đầu chạm boong tàu (hit the deck), móc được vào một trong sáu dây cáp (arresting cables) cảm thấy cảm giác có vẻ mạnh hơn lần đầu tiên họ được thả solo (first solo).
                          Sau lần cuối đáp trên tàu này thì khóa sinh hội đủ điều kiện (qualified) để mang cánh bay vàng của Hoa tiêu Hải quân Naval Aviator.
                          Một buổi lễ gắn cánh bay được tổ chức tại Đại Sảnh Đường của BCH Phi huấn Căn bản HQHK (Naval Air Basic Training Command) Bldg 633 ở Mainside Pensacola.
                          Tính ra thì chương trình học quân sự, địa huấn, bay ở trường vở lòng, 2 trường căn bản phi hành và trường đáp hàng không mẫu hạm của riêng trường Pensacola đã mất ròng rã hết 2 niên học. Cho nên sau giai đoạn địa huấn và bay vỡ lòng thì sinh hoạt ở đây thật là thoải mái. Ở Whiting Field, đi bay về là khóa sinh có thể giải trí ở ACRAC (Air Cadet Recreation Center), để nghe nhạc, chơi games, bi-da, nhậu bia lai rai. Một vài anh còn ghi danh học thêm cao học nữa. Nhà nguyện Whiting Field Chapel thường hay làm lễ cưới cho khóa sinh ở đây. Hằng năm cứ vào mùa xuân thì nhà trường phối hợp với mấy trường Đại học quanh Pensacola, để tổ chức buổi Dạ vũ Mùa xuân Cadet Spring Formal. Danh sách sinh viên được treo ở Tòa nhà Hành chánh (Admin Bldg) kế bên Phòng Thư tín (Mail Room) để khóa sinh chọn theo kiểu blind date/ rendez-vous arrangé. Căn cứ Whiting có đội đánh golf và ban nhạc Bộ Tứ Quartet riêng của họ. Vào những ngày ấm áp chúng ta không khỏi thưởng thức mùi thịt nướng BBQ thơm phức sau dãy nhà Cadet Barracks của SVSQ.
                          Sau khi mãn khóa căn bản, được gắn cánh bay vàng Hải quân Navy Wings of Gold, SVSQ được tấn phong sĩ quan và được thuyên chuyển qua BCH Cao huấn Phi hành Naval Air Advanced Training ở NAS Corpus Christi, Texas. Tùy từng nhiệm vụ, khóa sinh nhận sự vụ lệnh để đến các đơn vị mới.
                          Tại Corpus Christi, Trường bay VT-30 xuyên huấn hoa tiêu trên phi cơ A-1H Skyraider. A-1H Skyraider là loại xung kích cơ cánh quạt, bánh đuôi, một chỗ ngồi, không có bom đạn cân nặng 11,968 lb và sức nặng tối đa lúc cất cánh là 25,000 lb, động cơ xuyên tâm (radial engine) Wright công suất 2,700 hp (mã lực).


                          Địa huấn được gói gọn trong 3 quyển sách:
                          - A-1 Skyraider Flight Manual TO-1 gọi tắc là Dash One, gần như phi công nào bay loại phi cơ nầy phải nằm lòng. Nó mô tả đầy đủ phi cơ và tất cả hệ thống máy móc, cách sử dụng với checklists, phương thức điều hành bình thường và khẩn cấp….
                          - Aerodynamics, Khí động học dành cho phi cơ và bom đạn sử dụng trên loại phi cơ này.
                          - Flight Rules gồm có luật lưu thông hàng không bay bằng mắt VFR (Visual Flight Rules) và phi cụ IFR (Instrument Flight Rules).
                          Giai đoạn làm quen Fam Stage (viết tắt của Familiarization) là khó khăn hơn tất cả. Nội mở máy không thôi, đã là một vấn đề ngay từ đầu rồi. Hể nhấn primer lâu quá, thì carburetor bị flooded (ngộp), cơ trưởng lấy hai ngón tay bóp mũi ra dấu; còn hể ít quá, thì bị backfire (lửa sớm), cơ trưởng phải leo lên xem coi butterfly valve có bị bung ra không. Nếu lơ là, không kiểm soát kỹ, dễ bị cháy máy vì xăng rò rỉ. Phi vụ đầu tiên cũng đã phải bay một mình rồi (solo), vì phi cơ chỉ có một chổ ngồi thôi.
                          Lúc cất cánh, chân mặt phải kềm bánh lái thật mạnh, và nhanh chóng làm sao cho bánh đuôi hỏng lên mới dễ giữ phi cơ chạy thẳng được. Đáp thì phải giữ đúng three-point attitude để luôn chạm bánh 3 điểm. Chạm bánh rồi thì phải ôm cần lái vào bụng, hai chân phải luôn làm việc để giữ phi cơ chạy thẳng, chân trái đạp mạnh hơn.
                          Sau giai đoạn làm quen với phi cơ thì các giai đoạn khác gần như lập lại những gì đã học ở trường bay căn bản. Dash One không cho phép tự động làm xoáy vòng (voluntary spin). Phi cơ có trang bị hệ thống chống G’s (anti-G system), sử dụng G-suit để tránh bị “black-out” lúc kéo nhiều +G’s khi nhào lộn (aerobatics/ voltige aérienne)và không chiến.
                          Trong hợp đoàn hành quân, khóa sinh được luyện tập Thach Weave (4).
                          Hai chiếc hoặc hai element (phi tuần) bay ngang nhau cách xa chừng 1 nm (dưới 2 km một chút), số 2 bên mặt chẳng hạn. Khi lead muốn đổi hướng thì lắc cánh cho số 2 thấy, rồi quẹo mặt vào số 2. Nếu muốn quẹo trái, thì khi giao nhau, lead nhắp cánh trái (cánh cao) một cái rồi trở cánh quẹo ngược qua trái; số 2 lúc đầu đang quẹo trái vào lead, thấy lead nhắp cánh cao thì tiếp tục giữ quẹo trái, đến khi nào lead roll out (trở cánh bay thẳng) thì mới thôi; bây giờ thì số 2 nằm bên trái.
                          Trở lại trường hợp đầu tiên, số 2 nằm bên mặt cho khỏi lộn. Và lead quẹo mặt vào số 2 để đổi hướng. Nếu muốn quẹo mặt, thì lúc giao nhau, lead nhắp cánh mặt (cánh thấp) và tiếp tục giữ quẹo mặt cho đến hướng mình muốn đi thì roll out, số 2 đang quẹo trái, khi thấy lead nhắp cánh thấp thì trở cánh quẹo ngược qua mặt ngay, và cũng roll out theo lead.
                          Nếu chỉ muốn đổi bên thôi, thì khi giao nhau, lead nhẹ nhàng trở cánh thăng bằng chớ không nhắp cánh, cross over/ under (bay ngang qua đầu/ dưới bụng) tùy theo cao độ rồi mới quẹo trái về hướng đi ban đầu.
                          Còn nếu muốn đổi hướng 180 thì khi giao nhau, không nhắp cánh, không trở cánh thăng bằng, mà cứ tiếp tục quẹo đến hướng mình muốn rồi mới roll out.
                          Người lead giỏi phải tính (plan) làm sao cho tất cả được an toàn: trường hợp bay cao thì element luôn giữ ở dưới và còn wingman của họ nữa; ở cao độ thấp thì ngược lại, wingman và element luôn ở cao hơn lead. Scouting formation đội hình thám thính áp dụng cho armed recce (tuần thám võ trang), escort ship/ train/ convoy (hộ tống tàu bè/ xe lửa/ đoàn xe), thường ở cao độ thấp, do đó lead set radar altimeter 100 ft còn wingman thì 50 ft.
                          Luyện tập Không hành ngày và đêm đủ kiểu cận tiến ở cao độ cao high altitude approach, xuyên mây penetration và làm vòng chờ holding pattern, sử dụng thiết bị điện tử hàng không TACAN. Lấy cao độ 14,000 bộ, khi qua gần tới 12,000 bộ thì mở bơm tăng nạp supercharger…

                          Lời Tuyên thệ của Phi công Hải quân Hoa kỳ lúc làm lễ gắn Cánh bay Vàng

                          Luyện tập Oanh kích và Tác xạ (Bombing and Strafing) ngày và đêm.
                          Trước hết tập nhào xuống thả bom (dive bombing). Để mục tiêu ở ngay giá bom bên trong (inboard rack), kéo mũi phi cơ lên chừng 30°, lật phi cơ thế nào để thấy mục tiêu ngay hướng 12 giờ, kéo mũi phi cơ xuống để máy nhắm (gunsight/ collimateur) hơi sau mục tiêu (aim short) một chút, rồi trở cánh ra cho phi cơ bay xuống thẳng vào mục tiêu, ngừng crosshairs/ réticule (chữ thập) trên mục tiêu rồi bấm nút bom, xong kéo mũi phi cơ lên 60° và quẹo trở lại, nhìn theo người phía trước. Đó là đánh bom trên cùng một trục (same-axis pattern). Chúng tôi còn tập đổi trục 90 như cánh chuồn (cloverleaf pattern) nữa.
                          Bom nổ và hỏa tiển (rockets) thì ở cao độ cao. Đại bác (cannon) thì ở cao độ thấp hơn và độ chúi lài hơn. Napalm (bom xăng đặc) thì bay sát ngọn cây (low level/ rase-mottes). Tác xạ còn phải ra bãi tác xạ (range) mới có bia để nhắm bắn. Mỗi loại bom đạn đều có mil-lead khác nhau đã có ghi rõ trong quyễn A-1 Weapons Delivery Handbook (Sử dụng Bom đạn trên Phi cơ A-1).
                          Khóa sinh trực, ngoài việc ghi tình trạng phi trường Notams, tình trạng phi cơ khả dụng trong ngày, cập nhựt Dash One, còn giúp Sĩ quan An phi ra flight line (phi đạo), lấy mấy yellow sheet xem phi cơ bị trục trặc chỗ nào và dò trong TO-2 (Technical Manual), ghi ra cách sửa chữa, rồi kẹp chung với yellow sheet.
                          Hàng không mẫu hạm Lexington hoạt động thường xuyên ngoài khơi các cảng Pensacola, Corpus Christi và New Orleans trong Vịnh Mê-Tây-Cơ. Ngày 1 tháng 1, 1969 CVS-16 được cải danh là CVT-16 và vẫn tiếp tục nhiệm vụ thả đáp tàu carrier qualification (CQ) cho naval aviator 22 năm nữa. Cho đến ngày 8 tháng 11, 1991 mẫu hạm giải nhiệm và được đưa về làm USS Lexington Museum on the Bay, Tàu Bảo Tàng trong Vịnh Corpus Christi, Texas. 1989 USS Kitty Hawk (CV-63) được lệnh thay thế CVT-16 nhưng vẫn ở trong vịnh nhà San Diego, California. Đến 1992 USS Forrestal (CV-59) mới thật sự vào Vịnh Gulf of Mexico, đến 11 tháng 9, 1993 thì giải nhiệm.
                          BCH Huấn luyện Phi hành Căn bản Naval Air Basic Training Command trước ở Pensacola, sau đó sáp nhập với BCH Cao huấn Phi hành thành một Bộ Chỉ huy Huấn luyện Phi hành HQHK Naval Air Training Command, đặt trụ sở tại Căn cứ Corpus Christi, Texas.
                          Năm 1971, Căn cứ NAS Pensacola được chọn làm tổng hành dinh cho Bộ Chỉ huy Giáo dục và Huấn luyện HQHK Chief of Naval Education and Training (CNET), điều khiển và kiểm soát mọi hoạt động và tổ chức giáo dục và huấn luyện trong quân chủng Hải quân Hoa kỳ.
                          Năm 2003, Bộ này được đổi thành Bộ Tư lệnh Giáo dục và Huấn luyện Hải quân Naval Education and Training Command (NETC).
                          Theo Chương trình MAP Viện trợ Quân sự Hoa kỳ, Không Lực Việt Nam Cộng Hòa đã gởi sang một toán gồm 3 Sĩ quan và 32 Sinh viên Sĩ quan Không quân thuộc Khóa 61 vỡ lòng để theo học ngành Phi công Khu trục Cánh quạt, là những khóa sinh VN đầu tiên tại Trường Pensacola này.



                          (Từ phải) NT Dan Hoài Bữu, NT Lê Như Hoàn, NT Phạm Đăng Cường. NT Vũ Hiệp. NT Nguyễn Văn Phong.

                          Danh sách khóa 61 Navy
                          1- Tr/úy Hoàng Thanh Nhã
                          2- Th/úy Bùi Tam Kỳ
                          3- Th/úy Lê Thành Hòa
                          4- Đào Trọng Chí
                          5- Nguyễn Quang Lãm
                          6- Nguyễn Huy Bổng
                          7- Dan Hoài Bữu
                          8- Vũ Hiệp
                          9- Nguyễn Văn Phong
                          10- Võ Ngọc Trinh
                          11- Hồ Kế
                          12- Lê Văn Lâm
                          13- Võ Văn Trương
                          14- Phạm Đình Anh
                          15- Phạm Đăng Cường
                          16- Cao Minh Dõng
                          17- Lê Như Hoàn
                          18- Nguyễn Đình Quý
                          19- Nguyễn Tiến Thành
                          20- Nguyễn Văn Bé
                          21- Nguyễn Trí Kiên
                          22- Hồ Viết Thanh
                          23- Phạm Xuân Thu
                          24- Hồ Kim Giàu
                          25- Nguyễn Đình Nghị
                          26- Nguyễn Văn Nhơn
                          27- Nguyễn Đức Chương
                          28- Thang Quất Phan
                          29- Nguyễn Văn Phú
                          30- Lê Trai
                          31- Trần Văn Việt
                          32- Nguyễn Văn Tám
                          33- Đặng Hùng Thiết
                          34- Đào Công Trực
                          35- Nguyễn Việt Tước

                          Hiệp, Trinh, Nghị : tử nạn trong lúc huấn luyện.
                          Bổng: hy sinh trong một phi vụ hành quân vùng Tuy Hòa,
                          Lâm: tử nạn trực thăng trong lúc biệt phái tại Bình Thủy, Cần Thơ.
                          Trương: hy sinh trong một phi vụ oanh kích ở Tây-Nam Sài-Gòn.
                          Dõng: hy sinh trong phi vụ hành quân ở Vùng I.
                          Quý: tử nạn sau một phi vụ hành quân về đáp ở Đà-Nẵng.
                          Kiên: rớt F-5 lúc cất cánh từ Biên-Hòa đi hành quân.
                          Thu: đã hy sinh trong vụ pháo kích Bộ Chỉ huy Tiền phương Phước Long,
                          Phan: tử nạn trên F-5 trong phi vụ oanh kích Lộc-Ninh,
                          Phú: tử nạn lúc về đáp ở Đà-Nẳng sau khi hành quân.


                          Hình chụp Tr/tá Lê Như Hoàn trong bộ Flight Jacket của US Navy sau 50 năm

                          Sau cùng Đ/tá Hoàng Thanh Nhã làm Không đoàn trưởng KĐ23CT.
                          Tr/tá Lê Như Hoàn Trưởng Khối Đặc trách Khu trục/ TMP Hành quân/ BTLKQ.

                          Danh sách khóa 62B Navy
                          1- Nguyễn Thế Tế
                          2- Phạm Bình An
                          3- Nguyễn Văn Linh
                          4- Trần Văn Toàn
                          5- Trần Văn Xía

                          Tế: hy sinh trong một phi vụ Bắc phạt.
                          Xía: hy sinh trong một phi vụ hành quân với L-19.

                          Trước 30-4-1975, Tr/tá An là Trưởng Khối Nghiên cứu/ TMP Hành quân/ BTLKQ.


                          Bằng Đáp Hàng không Mẫu hạm

                          Danh sách khóa 63A Navy
                          1- Nguyễn Đỗ Toàn (Lắc)
                          2- Trần Thanh Vân (Cào Cỏ)
                          3- Trần Văn Nghiêm (PĐT 516)
                          4- Vũ Ngọc Liễn
                          5- Ngô Đức Cửu
                          6- Nguyễn Kiểm
                          7- Phạm Văn Thặng (Fulro)
                          8- Nguyễn Văn Phú (Cà Chua)
                          9- Trần Ngọc Hà (Cà Chớn)
                          10- Nguyễn Công Bình
                          11- Bùi Ngọc Bình
                          12- Nguyễn Trung
                          13- Cao Văn Luy
                          14- Lê Ngọc Yên
                          15- Bùi Đại Giang
                          16- Nguyễn Phúc Hưng
                          17- Diệp Thanh Tú
                          18- Phạm Trung Quân
                          19- Nguyễn Kim Chung
                          20- Bùi Văn Quí
                          21- Tạ Thượng Tứ
                          22- Bửu Vy
                          23- Nguyễn Lễ
                          24- Trần Hữu Quang
                          25- Trần Kiêm Tuấn
                          26- Nguyễn Khoa Phiên
                          27- Triệu Ngọc Trình
                          28- Nghiêm Ngọc Ẩn
                          29- Trần Nhật Thăng
                          30- Ngô Văn Trung
                          31- Khổng Hữu Trí
                          32- Mai Tiến Đạt
                          33- Trần Hữu Dụng
                          34- Dương Bá Trát
                          35- Nguyễn Hoàng Dự
                          36- Trần Phi
                          37- Lê Văn Luận (chuyển từ khóa 62C)

                          Trần Hữu Dụng: tử nạn trong một phi vụ bay solo T-34 ở Saufley Field.
                          Thặng: hy sinh trong phi vụ hành quân ở Kontum.
                          Bùi Ngọc Bình: hy sinh trong phi vụ đánh napalm ở Tây Ninh.
                          Nguyễn Trung: hy sinh trong phi vụ hành quân.
                          Giang: hy sinh trong phi vụ hành quân ở Hố Bò, Bình Dương.

                          - Sau cùng Tr/tá Dương Bá Trát làm PĐT PĐ514 Phượng Hoàng, - Th/tá Trần Văn Nghiêm PĐT PĐ516 Phi Hổ.
                          - Cựu Th/tá Lê Văn Luận, giờ chót là sĩ quan hành quân Phi-đoàn 118 (Pleiku). Sau khi miền Nam Việt Nam lọt vào tay cộng-sản, anh Luận đi tù... Ra tù, anh Luận đi vượt biên; nhưng không may anh Luận đã bỏ mình ngoài biển!

                          Danh sách 64A/ B Navy
                          1- Đinh Văn Sơn
                          2- Trần Lợi Tường
                          3- Bùi Văn Thắng
                          4- Lưu Kim Thanh
                          5- Lại Tấn Tồn
                          6- Đàm Chí Dzũng
                          7- Lê Hưng Long
                          8- Nguyễn Điền Phong
                          9- Võ Hữu Huy
                          10- Đỗ Tín
                          11- Bùi Văn Tài
                          12- Lê Văn Ngoạt
                          13- Đinh Quang Cứ
                          14- Trần Thu Thủy
                          15- Đỗ Minh Tăng
                          16- Trần Việt Hưng
                          17- Lê Thuận Lợi
                          18- Dương Bá Khôi
                          19- Koan Châu Đạt
                          20- Lương Khánh Nam
                          21- Nguyễn Văn Trang
                          22- Cẩn Thanh Cát
                          23- Nguyễn Thanh Bửu
                          24- Trần Văn Mười
                          25- Lê Văn Sang
                          26- Trần Chúc
                          27- Nguyễn Đình Thịnh
                          28- Nguyễn Đại Điền

                          Thanh: hy sinh trong phi vụ hành quân tại Phước Long, Bà Rá,
                          Dzũng: hy sinh trong phi vụ hành quân trên phi trường Bình Thủy,
                          Phong: hy sinh trong phi vụ hành quân vùng I,
                          Tín: tử nạn ở Biên Hòa, Cát hy sinh ở Pleiku.


                          Danh sách 64C Navy
                          1- Trương Văn Ba
                          2- Nguyễn Văn Bé
                          3- Lưu Ngọc Điềm
                          4- Nguyễn Thành Trung
                          5- Nguyễn Văn Xê

                          Danh sách 64D Navy
                          1- Nguyễn Hữu Bông
                          2- Tô Văn Cáp
                          3- Nguyễn Ngọc Lành
                          4- Nguyễn Văn Quí
                          5- Vương Văn Quý

                          Danh sách 65A Navy
                          1- Chữ Quân Anh
                          2- Lương Tứ Cường
                          3- Vũ Việt Dũng
                          4- Lê Chiêu Hiền
                          5- Đỗ Phụng Hoàng
                          6- Nguyễn Cao Hùng
                          7- Phạm Đình Khuông
                          8- Huỳnh Văn Lài
                          9- Võ Hiếu Liêm
                          10-Nguyễn Huy Lộc
                          11-Đoàn Phan
                          12-Nguyễn Công Phúc
                          13-Tăng Tấn Tài
                          14-Trần Văn Tám
                          15-Vũ Thể
                          16-Phạm Công Thành

                          Thể: tử nạn trong lúc huấn luyện,
                          Hùng: hy sinh ở chiến trường An Lộc, Bình Long,
                          Lài: ở Phước Long, Bà Rá
                          Hiền: ở Vũng Rô,
                          Tài: ở Mỹ-Tho,
                          Thành: ở Biên-Hòa.

                          Danh sách 65C Navy
                          1- Lê Đình Hải
                          2- Lê Văn Tiên

                          Danh sách 65D Navy
                          1- Nguyễn Hữu Ân
                          2- Hồ Văn Du
                          3- Nguyễn Trọng Đức
                          4- Trần Hoán
                          5- Nguyễn Văn Sao
                          6- Nguyễn Văn Tỷ

                          Ân: tử nạn ở vòng đai phi trường Pleiku 1969 sau phi vụ hành quân
                          Và đám này là những SVSQKQ/VNCH cuối cùng ở US Navy. Sau đó, không còn ai được gởi sang thụ huấn tại Pensacola nữa.
                          Một điểm nữa là hình như từ các khóa 64 đến 65 thì VT-2 và VT-3 huấn luyện giống nhau, trừ việc nhà ở và sân bay khác nhau.




                          Chú thích

                          Những chữ viết xiên là thuật ngữ bằng tiếng ngoại quốc mà tiếng Việt không thể diễn đạt một cách ngắn gọn được. Sau đây là những chú thích về tên của các địa danh hoặc những kỹ thuật chuyên môn:
                          (1) Hải quân Th/tá Godfrey DeCourcelles Chevalier, xuất thân từ Võ bị Hải quân HK 6/1910, lấy bằng phi công HQ Naval Air Pilot số 7 ngày 7/11/1915 và bằng hoa tiêu Naval Aviator số 7 ngày 7/11/1918.
                          (2) Đề đốc Rear Admiral Albert Cushing Read, thủ khoa khóa 1907 Võ bị Hải quân HK và một trong những người đầu tiên đã thụ huấn tại Trường Pensacola, bằng hoa tiêu Hải quân Naval Aviator số 24.
                          (3) Đô đốc Tư lệnh HQHK trẻ nhứt lúc bấy giờ và cũng là hoa tiêu hải quân đã thụ huấn tại NAS Pensacola, Admiral Forrest Percival Sherman (cho đến 1970 Đô đốc Admiral Elmo Zumwalt lên làm Tư lệnh HQHK mới chiếm lấy cương vị Tư lệnh trẻ nhứt).
                          (4) Đô đốc John Smith “Jimmy” Thach đã phát minh ra kiểu hợp đoàn chiến đấu này, được mang tên Ông, để chống phá thế thượng phong của chiến đấu cơ địch vào Thế chiến II. Ông là một naval aviator, chiến thuật gia không chiến (air combat tactician) của Hải quân Phi hành HK.


                          ***

                          Phượng Hoàng Kim Cương
                          Tết Nhâm Thìn 2012
                          Viết mừng ngày Khóa 62 SVSQKQ
                          50 năm Nhập Ngũ
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #103
                            Xuân Quỳnh & Người Đàn Bà Danh Vọng



                            Xuân Quỳnh & Người Đàn Bà Danh Vọng
                            Tình Hoài Hương
                            *


                            Khí hậu ở Đà Lạt thật dễ chịu, không khí thoáng mát, trong lành ấm dịu khôn tả. Tia nắng hoàng hôn nhuộm mặt hồ thành màu vàng óng, sang sáng, trăng trắng như tráng bạc. Con đường rất rộng len lỏi qua những đồi thông ngút ngàn, mang dáng dấp sang trọng, thấp thoáng đó đây nhiều ngôi biệt thự xinh xắn, muôn vẻ, muôn hình dáng yêu kiều đứng riêng trong từng thổ cư, có bao chiếc xe nhà bóng loáng đi về lả lướt, càng tô điểm cho bộ mặt thị thành vinh sang và nên thơ hơn. Nên thơ! Phải! Mọi sự đã khởi sự bắt đầu, cũng như chấm dứt từ chỗ nên thơ đây! Từ thành phố hoa đào duyên dáng thơ mộng nầy. Từ con đường mòn uốn khúc dưới rặng thông xanh ngút ngàn, dẫn đến ngôi trường thân quen suốt năm niên khóa. Phiến trời xanh xanh lộ ra dưới kẽ lá rì rào, bóng râm trên đỉnh núi dài hẳn ra, báo hiệu một ngày nữa hoàng hôn sắp lụi tàn. Quỳnh thấy quắt quay niềm nhớ nhung, dù rằng Quỳnh còn đứng trên con đường thân thuộc, và sẽ do dự bùi ngùi lúc chia xa.
                            Xuân Quỳnh tần ngần giây lát rồi lững thững bước lên thềm, việc đầu tiên khi vô lớp, cô cất xách tay, cây dù ở trong tủ, cô đem sách dạy trong ngày, vở soạn bài, dụng cụ thính thị cần cho buổi dạy. Những cuốn tập học sinh làm bài ngày hôm trước. Tất cả bưng được lên bàn xong. Quỳnh kéo ghế ngồi. Trước hết, Quỳnh mở quyển “Bút Ký của Chúng Mình” ra, quyển bút ký nầy chỉ có Thụy Mi & Xuân Quỳnh đọc và viết cho nhau mà thôi. Chẳng hạn như bạn đã viết:
                            - “Quỳnh ơi! Ngày 28/3 Hội Thuyết Giáo Khoa. Lần nầy Quỳnh phải dạy mẫu cho giáo chức toàn Tỉnh và Thị Xã xem đó nghe. Hãy chuẩn bị kỹ bài vỡ nhen.
                            - Sau khi đi Hội họp xong, Quỳnh nhớ kêu Mai, Hạ, Cúc, đến nhà mình ăn bánh xèo, bánh căn, hỉ.
                            - Ngày mai dạy xong, là mình lên xe “chuồn” về trước. Quỳnh về sau vui vẻ nhe bồ tèo”.

                            Đôi khi đọc chuyện Quỳnh viết, Thụy Mi vui, hoặc buồn bã bâng khuâng thế nào ấy. Một hôm, Mi đọc lời tâm tình của bạn ghi như sau: . . . “Tháp chuông nhọn hoắt của ngôi giáo đường đâm thủng nhiều tảng mây trắng, xôm xốp, bồng bềnh, vỡ thành triệu giọt nước, hòa vào sương giá, và tiếng chuông càng thánh thót, ngân nga, háo hức rủ bình minh bừng dậy. Quỳnh nao nao nghĩ về mối tình của mình… bắt đầu từ các câu đối thoại với chàng:
                            - Anh là Trung-Tá Nguyễn Bá, tự Rồng Vàng, là Tỉnh-trưởng và Chỉ-huy-trưởng trên tiền đồn heo hút sơn khê. Anh là sĩ quan cao cấp như thế, có biết bao binh lính sống tuốt trên thượng nguồn, đóng quân trong rừng sâu, nơi toàn thác nước và suối ngàn. Ở đó, chỉ có chim, khỉ, cọp và voi… Làm gì có trường học, không có dân cư, làm sao được khi anh nói với Quỳnh: “Anh sẽ thưa với mẹ Quỳnh, cho anh xin “ngón tay đeo nhẫn cưới của em” - rồi anh trang trọng kiệu em lên đó, để em dạy học? Ha anh?!
                            - Á… Vấn đề là anh sống tận rừng sâu nước độc thật, thế nhưng nơi đó có đồng bào kinh và đồng bào thiểu số hiền lành chất phác, đôn hậu, lương thiện, họ nhọc nhằn khổ sở lắm, em à. Em sẽ trở thành hoàng hậu rừng xanh của các em bé thơ ngây, hiền lành chất phác, thật thà và giản dị nhất. Nhe em!
                            - Ở rừng sâu nước độc, nơi khỉ ho cò gáy chỉ có sốt rét, chiến tranh. Ai dám ở.
                            - Anh sẽ cố gắng quy tụ dân cư gom lại một nơi an toàn, đem bình an cho từng thôn, xóm. Rồi sau khi anh bình định mọi việc xong xuôi, em sẽ ở nhà dạy dỗ cho chính đàn con nhỏ xinh xinh của em, tạo thành một lớp học đông vui. Nha!
                            - Ô! Anh ví em như bà Âu Cơ làm mẹ trăm con. Anh đùa dai vậy.
                            - Anh không đùa. Anh nói rất thành thật".
                            Thuỵ Mi ơi! Quỳnh nghẹn lời vì xúc động. Sự ấm dịu bất chợt không có gì cưỡng nỗi, khiến Quỳnh điếng lặng và lịm người. Biết trả lời thế nào? Tiếng hót tình yêu đầy tình âu yếm đã đến, mình đưa tay ngắt cánh lá vàng màu vương giả, không cảm giác đau nhức nơi bàn tay bị gai đâm chảy máu, mà cảm thấy vết thương sâu đậm đang rưng rưng ở trong lòng Quỳnh nè. Như nhà địa chất đào bới lớp chert, ngọc thạch lựu, kim cương… Quỳnh luôn hoài tưởng, mơ mộng, mong bắt gặp hình ảnh thân yêu, ngọt ngào xiết đỗi đã một thời làm chao đảo lòng ta. Quỳnh có muốn yêu người đã có vợ con đâu. Có muốn buồn nhớ và tủi hờn chi. Nhưng… Tự nhiên định mệnh run rủi, Quỳnh lại yêu say đắm và đầy khổ lụy.
                            Giòng suy nghĩ miên man, choáng váng, liên miên, giờ Quỳnh hiểu dưới lớp vỏ trai mong manh kia còn ẩn dấu sự sống thực, là cuộc chạy trốn bản ngã mình, trốn nhân sinh quan ẩn dấu trong lớp vỏ số phận, nó gỏ trong tim Quỳnh đau nhức khốn cùng, không sao tả xiết. Khác nào Quỳnh tự buộc chặt với chàng, như con tằm nhốt mình trong kén để nhã tơ. Trong ký ức bỗng sống động, xúc động vì đường nét hòa nhập thân quen, vang dội lại lòng mình muôn vàn yêu thương, kiều diễm một thời. Kể ra cũng cần đem cuộc đời vô duyên, cuộc tình đen bạc và hờn tủi của mình kết tụ thành một hình hài bé nhỏ trong bụng. Và Quỳnh đã quyết định. Bây giờ, Quỳnh muốn quên, dùng tất cả tình cảm còn lại cho riêng con gái và học sinh. Nói thì dễ, không có nghĩa là Quỳnh quên ngay cuộc tình buồn, không hy vọng. Là hết yêu, quên sự ra đi, trở về. Sự đi, về, chua chát, phũ phàng dường bao trong hồi ức. Tựa như sự có mặt của Bá bên bờ nhánh sông không tên khi thuyền tình ghé lại. Mất hết rồi bao thi vị, ý nghĩa từ chiếc bóng yếu ớt, lung linh như nụ cười méo mó nở trên mặt nước xô sóng. Chiếc bóng chập chờn lúc trời choạng vạng tố sẽ thành lớp mạng nhện phủ chụp lên mình sự mù lòa buông thả.
                            Khi Quỳnh tưởng tượng sau những ngày hành quân hoặc trấn thủ trên vùng biên giới, Bá về phép sống với vợ (dù anh ấy bảo: do bà xã "quá hơn chằn” thiếu hiểu biết, nên gia đình anh không hạnh phúc). Quỳnh đồng ý không hạnh phúc, nhưng chính anh đã tạo ra gia đình đó. Anh phải có trách nhiệm bảo vệ và vun đắp. Không vì lý do gì anh chối bỏ, cao chạy xa bay. Tuy nhiên, Quỳnh nghĩ đến hoàn cảnh mình, sự so sánh ấy khiến Quỳnh không thể vô tư lự. Nhất là sau nầy, Quỳnh biết Bá không chỉ có bà vợ lớn bé ấy, mà Bá còn nhiều cô bồ nhí khác. Những cô gái mê sự hào nhoáng xa hoa vinh sang và điạ vị danh vọng cao tột đỉnh… (trong đó có Quỳnh nữa, vậy mới đau! Thụy Mi ơi! Tuyệt vọng dường bao.
                            Thiên kiến tình cảm đầy ngang trái. Con thuyền yêu không làm bằng ván ghép che nắng che mưa, mong chống chọi lại bão táp phong ba cuộc đời, mà như chiếc bóng bay giữa trời, hết chất thơ và trí tưởng tượng lãng mạn thiệt. Sau những bồng bột mặn nồng âu yếm, lẫn dày vò quá thể, nay Quỳnh không thể lún sâu vô, phải âm thầm rút lui, dứt khoát tách ra khỏi đời anh. Cuộc tình như bong bóng đã mọc thêm hai cánh bay vút đi quá đỗi là mau. Quỳnh chẳng nên tiếc nhớ, mà phải ngậm ngùi, điếng lặng. Thôi. [/I]
                            Lần đó Mi ngậm ngùi xót xa, thương bạn lắm khi đọc mãi lời tâm sự của Quỳnh trong “Bút ký của chúng mình”. Rồi cô bâng khuâng băn khoăn xếp tập lại, để trong hộc bàn. Giờ ra chơi, cô ngồi trong lớp suy nghĩ, hồi âm cho Quỳnh:
                            Xuân Quỳnh, bạn thân mến!
                            Chúc mừng bạn có những suy nghĩ chính xác. Không ai có lỗi cả trong viêc để lại một góc tâm tư mình ngút ngàn hương yêu & chút ước nhớ luyến mong về thời vàng son xa xưa. Số phận đã tước đoạt trên tay ta niềm hạnh phúc bé xíu, mà định mệnh đã an bài vào mùa Đông năm kia cho hai người gặp nhau, (như trong câu chuyện huyền thoại), và yêu nhau. Chính là vì biết không phải là chuyện huyền thoại, nên con người ai cũng có đôi lần vấp ngã quá buồn. Câu chuyện về cái góc thiên đường của Quỳnh và Bá, thật là kỳ. Quỳnh như con chim non vừa bay ra khỏi tổ, cuộc sống tưởng bình yên phẳng lặng. Nào ngờ đã khắc ghi vô lòng Quỳnh nhiều điều quá đỗi buồn phiền, nó vẫn ngấm ngầm theo Quỳnh sát nút, kèm theo những tiếng hót tuyệt vời đầy tình âu yếm, ngọt ngào hương vị mùa Xuân đầy quyến rũ. Quyết định nên tiến tới bên nhau, hay không; vẫn do ở lòng ta, tùy ở cường độ yêu thương và sự cứng rắn mỗi người. Quỳnh à.
                            Tiếng hót ân tình vẫn lách qua kẽ lá rì rào, vang lên giữa đám lá xanh, tình yêu theo không gian và thời gian, sẽ xuất hiện trở lại tươi xanh, hay úa vàng? Màu vàng lá úa thu phong, có khác với màu vàng anh của hoa mimosa không, hở Quỳnh? Có ai nói hai màu vàng khác nhau ấy, sẽ không cùng một mùa làm rụng lá chia phôi?!”…

                            Đôi bạn thường say sưa viết trao đổi đủ thứ chuyện linh tinh, về kinh nghiệm nghề nghiệp, bản thân, chuyện đời phức tạp, viết cả những tập tục lý thú của nguời kỳ lạ nơi xa xôi. Đó là những giờ phút riêng tư ấm lòng, tuyệt diệu nhất của đôi bạn chân tình. Họ đến với nhau trong tình tri ngộ.
                            ***
                            - Mơ mộng gì, mà thừ người ra vậy?
                            Thụy Mi hỏi, đập tay lên vai bạn. Ly nước vơi quá nửa, cái bánh ngọt kẹp lỏng lẻo giữa hai ngón tay Xuân Quỳnh khi thời gian vụt trôi qua. Sự im lặng trong bàn tiệc chia tay, sao buồn và quá lâu, Xuân Quỳnh không biết làm gì với hai bàn tay mất tự nhiên, trở nên lóng ngóng buồn thảm thế nầy. Mọi sự đã khởi sự bắt đầu, cũng như chấm dứt từ đây. Phải! Phải! (mọi sự đã khởi sự bắt đầu từ đây).
                            Lần đầu tiên Mi đã gặp cô bạn đồng hành qua cái gật đầu nheo mắt mỉm cười ngầm chào nhau. Ồ! Bỗng dưng Mi cảm thấy mến thích người nầy lạ! Sau một thời gian quen biết, cô nhận thấy tính tình Quỳnh trầm lặng, dễ thương, nghệ sỹ, lãng mạn và vui tính. Tuy thỉnh thoảng Quỳnh có khùng khùng đôi chút. Ừ! Giống hệt cái điên điên của ta mà. Quỳnh có mái tóc dài buông thả trên thân hình thon thon, sóng mũi cao, miệng cười chúm chím coi cuốn hút truyền cảm, duyên dáng nhất là khi Quỳnh nói chuyện, giọng nói của gái Đà Lạt êm ái, nhỏ nhẹ, ngọt ngào rất có duyên cộng thêm phần tri thức. Đôi khi Quỳnh cười rõ tươi, lộ ra hàm răng trắng bóng như tráng men. Dù Xuân Quỳnh cười to, nhưng đôi mắt thì ngược lại, nó ánh lên một vẻ buồn mơ màng, sâu thẳm len lén nét đa tình. Quỳnh ăn mặc giản dị, thoải mái, mà ung dung. Quỳnh hay cười, dù cô đang rơi vào niềm cay đắng. Xuân Quỳnh biểu lộ tình cảm dưới đôi mắt to tròn tuyệt đẹp (mà các bạn thường đùa là "khung cửa sổ đa tình", hoặc có biệt danh đồng nghiệp đặt cho Huỳnh thị Xuân Quỳnh, “người đẹp mắt buồn rất bình thản”, nhất là được bạn trai tán thành.
                            Mặc dù các cô giáo ở cạnh nhà nhau, nhưng họ dạy khác buổi, nên cô nầy đi dạy, thì cô khác ở nhà, kể như ít gặp mặt nhau để tỉ tê chuyện trò. Hai cô giáo tuy dùng chung một phòng học, cùng xử dụng chung bàn, ghế, tủ. Thụy Mi dạy buổi sáng, Xuân Quỳnh dạy buổi chiều. Hai cô có chìa khóa lớp, và chìa khóa tủ riêng đựng sách vở, dụng cụ thính thị chung. Các bạn thương Quỳnh, một phần dựa trên tính tình hòa nhã, đằm thắm, duyên dáng. Phần khác Quỳnh tiềm ẩn đâu đó chất thơ súc tích, giàu tình cảm pha chút lãng mạn thao thức dồn dập đến không ngờ, nên vô tình cô khá hấp dẫn và lôi cuốn họ, mà mặc nhiên Quỳnh không hề hay biết. Mặc dù họ có cuộc sống khác cô. Tuy thế, không có gì trở ngại trong tình bạn đầy thông cảm và thấu hiểu ấy. Xuân Quỳnh vừa đi dạy trẻ, vừa tiếp tục ghi danh trên đại học Sư Phạm cùng với Hương, Trầm Mây, Thu Thủy, Hạ, Bé, Oanh. Trong tương lai, chắc chắn nhóm nầy dù muốn dù không, “sẽ bị” tản mát đi dạy các trường Trung-học thôi.
                            Riêng hai “cô giáo già” thì không vừa lòng, Họ làm bộ ư hử trong cổ họng, liếc nhìn nhau nhún vai bĩu môi rồi vội quay đi, nét mặt tỉnh queo. Quỳnh thấy từng cử chỉ của họ, cô biết nếu đối lập với quan điểm, hay có ý kiến, ý cò, với người khác, thì bị xem là khuynh tả. Không có ý kiến, cũng bị coi là khuynh hữu. Thôi mặc sự đời, cô sống cho chính mình, với nhu cầu nội tại, do sức mạnh nội tại, và vẻ đẹp nội tại, lù đù như thế mà thấm đủ. Song ở đời, ai cũng có nhân sinh quan riêng, phần Quỳnh mỗi buổi sáng thức dậy, cô đọc một đoạn kinh thánh, buổi tối trước khi lên giường, Quỳnh đọc một đoạn kinh thánh. Thế là nụ cười hồn nhiên lại tươi nở trên môi, thoáng hiện nét an bình. Quỳnh ung dung, nếu không muốn nói là bình thản trước mọi biến cố chung quanh, và chính mình. Từ những ưu điểm nầy mà tình thân ái giữa bạn bè, phụ huynh, học sinh, theo thời gian tăng trưởng vui vẻ. Thật đáng sống.
                            Thật ra hai bà giáo già đối với Quỳnh có nhằm nhò gì! Xuân Quỳnh chỉ lưu tâm đến một người khác: đặc biệt quan trọng hơn. Hai cuộc sống hoàn toàn trái ngược, đã khẳng định mọi điều dứt khoát đưa anh ra khỏi đời cô: Nguyễn Bá, tự Rồng Vàng đi vào đời cô có trăm tim hoa tình yêu đua nở, phơi phới và phù vinh nhất. Vì, Bá có tất cả ưu ái Trời ban: Cao ráo, đỉnh đạt, tráng kiện, hào hoa, quyền hành, địa vị, danh vọng cao sang. Để Quỳnh tin tưởng anh hơn, có mấy lần Bá đưa Quỳnh về nhà cha mẹ, các em của chàng, (mãi đến bây giờ Quỳnh đâm ra nghi ngờ, không hiểu họ có phải là thân nhân, ruột thịt của Bá hay không nữa? Hay là anh nhận hờ đám “bá vơ” ở đâu đó, đưa họ về nhà anh làm “cò mồi”?).
                            ***
                            Một hôm, trên đường đi chợ về, Thu và Quỳnh gặp Liễu, (người em của Bá). Liễu mừng rỡ, ân cần hỏi thăm hai chị:
                            - Lâu quá. Nay em mới gặp lại chị Thu, chị Quỳnh he.
                            - Ồ. Mới ngày nào em còn bé tí xíu, học trên Couvent. Nay em lớn rồi ha.
                            - Anh Nam vô Không-quân, đi Mỹ, trở về Việt Nam, ảnh đã có vợ và ba con, không phải anh cưới Quyên Hà, (như chúng ta tưởng đâu). Em xin lỗi, mãi nói chuyện ai, quên hỏi thăm chị và bé Nguyên Đào cuả chị Xuân Quỳnh, nay bé Đào lớn rồi ha chị?
                            - Lớn rồi. Đã đi học. Còn em?
                            - Em vẫn thường, hiện em dạy ở Mỹ Tho. Em xin lỗi, chị Thụy Mi có chuyện buồn hả?
                            - Không.
                            - Sao em thấy chị vẫn mặc áo quần đen?
                            - Chị thích màu đen.
                            - Vậy mà em nghĩ chị là cô phụ, hôm hổm em gặp anh Nam, ảnh vẫn hỏi thăm chị Mi, em lỡ nói chồng chị đã chết. Anh thắc mắc không hiểu tại sao. Thiệt là xin lỗi lần nữa nghen. Tuần sau, về Sài Gòn đi dạy lại, em sẽ đính chính.
                            - Vậy sao!?
                            - Còn chị Quỳnh thì em không cần cho anh Bá biết điều gì nghe.
                            - Anh Bá đã chết trong lòng chị rồi sao?
                            - Có thể lắm.
                            - Bất cứ giá nào, chị cũng nắm bắt hạnh phúc. Vì con bé Đào chị à.
                            - Níu kéo nhau để làm gì nữa. Hở em!
                            - Như vậy, có tàn nhẫn và bất công không? nhất là con cuả anh Bá và chị lắm không?
                            Trong mắt Liễu đã nhìn thấy nỗi quằn quại của người bị tước đoạt mọi quyền hạng, sạch trơn, vô nghĩa, trần trụi. Quỳnh khỏi cần bộc lộ niềm đớn đau phiền hận qua ngôn ngữ, cử chỉ. Mà, trải dài ra sự mệt mỏi, khinh mạn, cùng sức chịu đựng âm thầm cay đắng và sâu sắc, như tấm màn voan xám đục luôn vây kín từ mọi phía trên đỉnh Lâm Viên mù sương.

                            Thụy Mi, Xuân Quỳnh, Liễu, chia tay nhau. Quỳnh cúi đầu bước đi cắn mạnh môi để ngăn chặn mọi đảo lộn khác thường. Trong tim họ bừng bừng cơn sốt tiếc thương, vang vọng trở về mỗi lần có người vô tình gợi nhớ đến người xưa. Quỳnh thương mình, lẫn thương anh và con. Duy có điều gay cấn giữa Quỳnh và Bá: Hai cuộc sống hoàn toàn trái ngược, Bá có tất cả quyền hành địa vị cao sang, danh vọng tột đỉnh. Cô chưa thấy bóng mây u tối nào phủ màu hắt ám, ngoài sự bay bướm, lả lướt, lăng nhăng, vô cùng rối rắm, khiến bà “phu nhân” nổi giận, đã làm nhục anh thường xuyên. Hôm đó, Quỳnh ngồi trong trường cùng Hội Đồng Trung Ương để chấm thi cho học sinh vô trường Trung-Học Công Lập. Tất cả giáo chức phải đến trung tâm thi tuyển làm việc trọn ba ngày. Chiếc phong bì lớn bìa màu vàng, cứng ngắt dày cộm, dán kín. Con niêm to tướng màu đỏ sậm bằng nhựa dẽo đè lên hai sợi chỉ tua vàng. Mặt trước phong bì có con dấu bưu điện in dấu ngày gởi đi, ngày đến. Xéo hai góc bì thư là con dấu “Tối mật” và “Thượng khẩn”.
                            Ông chánh chủ khảo mặc bộ veston sang trọng, ông có bộ mặt béo phị, dấu hiệu ấy cho Mi biết ông sống đầy đủ, sung túc, minh xác về sự ông ta ăn uống mỗi ngày một tăng theo tỷ lệ thuận. Nếp nhăn xếp lớp dưới cái nọng cổ xệ từng nấc cứ rung rinh. Chốc chốc ông đưa ngón tay trỏ đẩy cọng kính gọng vàng chính xác về sát trên sóng mũi lân to bè. Mỗi khi ông nói hay cười đều híp mắt, đôi mắt him híp trông như một đường chỉ, nôm na hơn Mi coi ông giống như dân xì thẩu trong lò heo quay nơi Chợ Lớn, hơn là một chánh chủ khảo! Bụng ông quá phệ nên không có dây nịt nào vừa kích cỡ. Thay vào đó là hai quai dây vải, móc từ sau lưng quần, quàng lên vai, đan chéo trên lưng ông, và vòng ra bụng quần phía trước, quai có hai nút cài, giống như quần của em bé bự. Ông là người tốt tướng và “tốt bụng”. Mặc khác ông là người nghiêm nghị cẩn thận dùng cây bút đỏ gạch tên thí sinh nào yếu kém và phạm lỗi.
                            Phía dưới văn phòng bỗng có một người đàn bà sửa mắt, mũi, cằm, bơm môi, trang điểm lòe loẹt diêm dúa, trang phục lộng lẫy cầu kỳ. Bà ta hất mặt lên, thẳng bước vô văn phòng, yêu cầu cho gặp Xuân Quỳnh ngay. Hân, (là anh tùy phái trực ban hôm ấy) ôn tồn, nói:
                            - Mời bà vui lòng chờ ở đây. Cô Quỳnh bận chấm thi, không thể ra tiếp bà ngay.
                            - Có lâu không?
                            - Tôi không thể biết.
                            Quen lối trịch thượng, hách dịch với lớp lính hầu ở nhà, bà ta quắt mắt nhìn mọi người, hỏi trống:
                            - Cô Quỳnh ở phòng nào vậy?
                            Hân tùy phái ít học nhưng có chút lịch sự thưa:
                            - Dạ… Vì lý do an ninh trường thi, tôi xin miễn trả lời bà. Mời bà ngồi đợi.
                            - Đợi… có lâu không?
                            - Điều nầy, tôi lại càng không biết.
                            - Tôi là phu nhân Đại-tá Bá, chồng tôi bị nó bỏ bùa mê thuốc lú, ổng về đánh đập tôi… Tôi đến đây… Huực... hic hic... hụ hụ.
                            Hân đứng dậy, điềm đạm:
                            - Thưa bà bớt giận, ở đây là trường thi, họ đang chấm thi, tôi có bổn phận bảo vệ an ninh. Ngoài ra việc cá nhân, tôi không muốn nghe, không có ý kiến. Mời bà im lặng ngồi chờ. Nếu bà bất tuân, buộc lòng tôi phải nhờ giới thẩm quyền can thiệp về việc bà gây rối, làm mất an ninh trật tự ở truờng thi. Thưa bà.
                            Bà ta vung tay, trợn mắt hất hàm, chưởi đổng (hạ tiện như đã từng mạc sát thuộc cấp ở tư gia bà ta). Quày quả đùng đùng bỏ ra ngoài xe jeep, bà trút giận lên đầu anh lính, nạt nộ tài xế lái líu ríu xe đi một lèo.
                            Thụy Mi suy nghĩ: đàn bà có yêu chồng mới ghen. Nhưng trong việc ghen để đem lại hạnh phúc, thì có hai cách: Thứ nhất, ghen để đem vinh danh kính phục đến cho chồng. Thứ hai, ghen để rồi đem đến sự nhục nhã xấu hổ về cho chính bản thân và cho chồng. Tiếc thay! Người đàn bà cao sang quyền quý đó, đã chọn cách quá ghen thứ hai. Quỳnh ngất xỉu tại phòng chấm thi, mọi người rối ben. Ông Chánh chủ khảo triệu tập phiên họp hội đồng bất thường gấp.
                            Đang khi đó, khoảng hai giờ chiều, lúc các ông bà cô thầy trong phòng thi lăng xăng lo xúm lại bên Quỳnh giật tóc mai, mời bác sĩ. Bỗng vị đại tá anh minh xuất hiện. Tất nhiên ông oai phong đường bệ, lịch duyệt và trí thức lịch sự hơn bà xã... xệ! Ông ta xin lỗi ban giám khảo trường thi, xin lỗi các ban, ngành, kể cả anh tùy phái ít học, nhưng có tư cách của một người tự biết mình. Ông đại tá xin phép được đưa Quỳnh về nhà. Nhưng cô tránh mặt Bá, chối từ. Quỳnh viết vội vài chữ, nhờ tùy phái chuyển đến Bá: “Em đã và đang rất khổ sở vì những điều đáng hổ thẹn. Từ nay, hãy cho mẹ con em được yên vui và bình an. Xin đừng quấy rầy em. Chào vĩnh biệt. Xuân Quỳnh.”
                            Quỳnh đã đoạn tuyệt mối tình mà cô tin yêu chân thật trong đắng cay, đầy nước mắt tủi nhục. Từ ngày quen nhau, Quỳnh vẫn đặt dấu hỏi về tình trạng gia đình Bá. Anh luôn miệng nói: “Anh đã ly dị khiếm diện từ lâu, nay bà ta đã mất dấu tích nơi đâu, không rõ”. Khi Quỳnh về nhà kể lại câu chuyện chẳng vui ở trường thi, thì cha mẹ, các anh chị em đều bán tín bán nghi về người đàn bà tự xưng là “vợ của chàng”. Tuy vậy Quỳnh đã quyết định dứt khoát. Dù bao lần Bá đến nhà năn nỉ có, hăm dọa có, cầu hôn có, giận dữ có, Bá đưa đủ giấy tờ chứng minh sự thật. Thôi. “Một sự bất tín, vạn sự chẳng tin”. Niềm tin yêu trong Quỳnh đã nguội lạnh mất rồi. Tình yêu đó giống như ly nước ngọt ngào đầy ắp ân tình, vừa giáng mạnh xuống nền gạch nơi trường thi.
                            Thụy Mi ái ngại nhìn bạn, dò hỏi:
                            - Thế còn con của Quỳnh thì sao?
                            - Sau nầy con mình lớn lên, Quỳnh sẽ nói một sự thật trăm phần trăm cho con biết: Ba của con là ai. Ba của con đã đạt được mục đích trên đường đờicó nhiều cách: suy nghĩ, hành động, quyết định khác nhau. Tình yêu cho đi, Quỳnh không ân hận, chỉ buồn là mối tình chân thật hoàn toàn bất vụ lợi đó, đã giết chết chính mình. Niềm vui, hạnh phúc duy nhất bây giờ của Quỳnh là nuôi dạy con thành nhân thôi.

                            Mi nhận thấy lúc cô bé con đã lớn lên, đến tuổi vô trường trung học thì: Bé có nét giống ba vinh sang tri thức và đỉnh ngộ, có nét giống mẹ thùy mị, xinh đẹp và thông minh. Đồng thời bé có những nét dịu dàng và anh tú: đã tạo thành bé gái Huỳnh Uyên Nguyên Đào, mang họ mẹ.
                            *

                            Tình Hoài Hương
                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-25-2020, 09:36 PM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • Tinh Hoai Huong
                              Senior Member
                              • May 2009
                              • 1081

                              #104
                              Đôi Bạn Chân Tình... (qua những phong thư "đa tình))



                              Đôi Bạn Chân Tình Qua Những Phong Thư “Đa Tình…”


                              Đà Lạt, tháng Mười Hai, năm l9…

                              Anh Bửu Đan,
                              Hai lá thư cuả anh gửi đến em (cách nhau khoảng hơn vài tháng), giữa lúc Hoài còn băn khoăn, bâng khuâng, xao xuyến. Tự đặt nhiều câu hỏi với lòng: "Không hiểu trong những lời văn đơn sơ, do em kém hoa mỹ, không biết thêu dệt những ý tình đẹp đẽ thơ mộng, và vô duyên tệ ở lần thư em gửi trước. Có làm anh phật ý không?". Ngờ đâu anh vẫn điềm đạm, thanh nhã để dung thứ cho em. Thật, đời của Hoài chưa bao giờ được diễm phúc như thế nầy. Anh à.
                              Anh Đan thân của em! (Xin phép anh cho em được mạn phép và thân mật gọi anh bằng tên, xưng lại là em; Vì, chỉ lúc nào hân hạnh có đặc ân cao qúy, tốt đẹp như thế nầy, em mới dám ngỏ lời tâm sự cùng anh đang ở cách xa nghìn trùng thôi). Anh Đan ơi! Em không ngờ anh không thích sống ở chốn thị thành phồn vinh, nơi xa hoa đầy tin yêu quyến rũ, và thi vị vô vàn - để xoay lưng lại trước nỗi đam mê của con người, khước từ mọi cao sang danh vọng, qua bao lần đũng quần đã sờn, áo trận bạc mầu lại thay. Anh đi hoài đi mãi về chốn sơn khê, nơi bụi bờ lau lách, để... lội qua sông, ngày ngày tìm về kỷ niệm xưa rồi. Anh hở?

                              Vâng! Em hiểu. Hoài hiểu anh hơn ai hết. Anh ơi! Việc thay đổi đồn trú của anh hôm nay, gián tiếp cho em có một phần trách nhiệm lớn. Và, tiện thể, cho em gửi đến anh trăm ngàn lần xin lỗi. Xin lỗi ngàn lần. Không ngày nào rảnh rỗi, mà em không nghĩ đến anh. Nhất là ở thời điểm quá ư lộn xộn, mệt mỏi, đau đớn cả tinh thần lẫn vật chất, giữa không gian và thời gian nầy. Ít nhiều gì, em vẫn nghĩ đến anh, nghĩ đến thứ tình cảm cao qúy thiêng liêng, chân thật xao xuyến, thơ mộng, và ngây ngất dịu nhẹ vô vàn.

                              Lá thư trước, anh hỏi: "Em đã có người yêu chưa?". Lá thư sau cùng, anh nhắc lại: "Em đã có ý trung nhân chưa?" - Em vẫn ưu phiền và xót xa tự hỏi lòng: "Anh hỏi như thế để làm gì?" Tuy nhiên, nếu anh thành thật muốn biết về em, em thẳng thắng, chân thật để trả lời anh:
                              - Em đã có rồi anh ạ. "Có" ở đây, không có nghĩa là em gặp ý trung nhân, tâm đầu ý hợp. Hay người yêu tha thiết. Mà, có nơi để nương tựa. Có lẽ “chúng em” chưa hiểu nhau bao nhiêu. Chàng là người phong nhã, ngọt ngào khôn khéo, biết ân cần chia sẻ nỗi niềm đắng cay đang bóp thắt trái tim em sầu héo khổ đau. Chàng chỉ là một người lính tầm thường, không hơn kém bộ áo trận bạc màu, ngày chia xa bên dòng sông cạn năm xưa. Lính mới trăm phần trăm, có lẽ anh ta không thua anh binh nhì là mấy.

                              Từ ngày "Vắng xa anh" dễ cũng hai ba năm rồi, đời Hoài đã trải qua bao thăng trầm nhung nhớ, yêu đương, đau khổ, hận thù và khá gọi là chua chát đắng cay, bùi ngùi cho thân phận. Khung trời nầy, không còn êm ả thơ mộng đáng yêu, như khung trời Minh Long, Nghĩa Phú. Dù rằng trời Đà Lạt bao giờ và lúc nào cũng bàng bạc hơi sương, nên thơ, dịu mát. Chứ không oi nồng nắng cháy, với khói lửa chiến chinh, từ dạo em về xứ Quảng. Biết bao lần, em đặt bút xuống trang giấy mở rộng trước mặt, lắng sâu ý nghĩ mình, về những hoài niệm từ trong tiềm thức, cố gắng viết cho anh những lời tâm tình. Em mong anh chỉ giáo cho em được lĩnh hội ý lành, để em tiến lên, thoát ra khỏi vòng đai siết chặt từ mọi phía.

                              Nhưng than ôi! Ý đã cạn, lời đã cùng. Em không thể đặt bút, dù chỉ viết, hoặc gọi: "Anh Bửu Đan ơi!". Tiếng nói của em tan loãng trong không gian bao la, em không bắt gặp lời anh đối thoại. Hoài hoàn toàn lạc lõng giữa vùng biển nhớ, cuồng cuộn trong dòng đời đen bạc xô sóng. Em đành nhắm mắt, đưa chân lên con thuyền yêu bồng bềnh trôi về bến mơ. Đành thôi! Mai đây, lúc nhận được cánh thiệp hồng (thế nào em cũng gửi cho anh biết, ngày vui nhất một đời người). Anh trai của em sẽ đọc bài thơ của ai đó:
                              Mai mốt em tôi về xứ Bắc.
                              Cách bao rừng núi cách bao sông.
                              Tôi nằm mộng thấy em cười khóc,
                              Lo ngại đời hoa bạc má hồng!

                              Mai mốt em tôi về xứ Huế.
                              Nói gì em là của... phương xa!
                              Cầu cho đôi mắt em đừng mỏi.
                              Tóc vẫn xanh mầu nhu thuở xưa.

                              Anh có nằm mộng thấy em cười, khóc? Có đấy. Em cười ít, khóc nhiều. Anh à. Còn Hoài sẽ gửi đến anh hai câu thơ của thầy Phạm Lộc dạy Văn lớp Hoài ngày xưa:
                              Từ dạo xa nhau, ai nỡ khóc.
                              Thế nhân một chuyến lỡ sông đò.
                              *
                              Anh trai thân yêu của Hoài!

                              Em muốn thức từ đêm nầy, qua đêm khác, khi đêm về trong cô lẽ, một mình ngồi trước ngọn đèn lạnh lẽo, em hướng tầm mắt vào đêm tối không cùng, tìm về chốn đầu đèo cuối núi. Chỉ những lúc nầy, những đêm khuya thanh vắng hiu hắt nầy. Em mới đủ can đảm trò chuyện cùng anh, trên trang giấy những điều rất thật, rất buồn thảm của đứa em gái sắp lấy chồng. Vì, mai đây khi trời sáng, từ mọi xó xỉnh, bóng đêm đã nhạt dần, nhường chỗ cho ngày dần lên, em lại khoát lên người chiếc áo gấm, dệt đầy giấc mơ hoa hạnh phúc. Không có gì xoi thủng được.

                              Mong sao con thuyền hoa và giấc mơ hoa, trôi về bến bờ hoa hạnh phúc, vĩnh cửu bình yên một đời keo sơn gắn bó. Hẳn anh cũng cầu mong cho em được như vậy. Phải không anh?
                              Hoài ở phương nầy luôn cầu cho anh mạnh khỏe, may mắn giữa chiến trường sôi động, và bình an trong tâm hồn. Em đang chào anh đây, xin chào anh thân yêu. Người anh trai Bửu Đan cư xử thanh lịch, tao nhã, tế nhị, rất đáng qúy trọng, và dễ thương nhất của em gái Trần Ngô thi Thương Hoài.

                              ***

                              Đà Nẵng, ngày 26 tháng 8 năm 1987

                              Hoài thân mến,

                              Anh vừa được thả trở về sau hơn 12 năm trong trại Tập Trung “cải tạo” khổ sai. Anh ra Huế thăm gia đình chú Tuấn Minh, thì nhận được mấy tấm carte của Hoài. Thật ngỡ ngàng, bất ngờ, và vui biết mấy. Anh không ngờ suốt 25 năm trời đằng đẵng, mà cô em gái vẫn còn nhớ anh Đan.

                              Anh đã thật sự trở về. Nhưng lắm chua cay và ngang trái. Thôi, đời là thế. Phải không Hoài? Anh chả than van hay tiếc rẽ gì . Tuy nhiên cũng buồn. Anh có 4 con, hai trai lớn ở với mẹ. Còn lại bé Huyền Tôn Nữ My Vân và Vĩnh Tiến ở với anh. Các con lớn đã học xong cấp ba. Cha đi tù không được vào đại học. Chị đã rời vòng tay anh. Cũng phải thôi. Còn gì mà níu kéo nhau cho mệt. Hiện giờ anh ở Đà Nẵng, nhưng chắc Tết nầy anh sẽ đi kinh tế mới, chưa nhất định là đâu. Anh nghĩ với sức anh có thể tạo lại tất cả. Về Huế chuyến nầy thật buồn, chẳng còn ai cả, ngoài vợ chồng chú Minh. Tất cả mọi người đều đã ra đi. Kể cả mẹ vĩnh viễn bỏ anh; Người mà anh thương mến nhất đời.

                              Phần em thế nào? Ổn định tốt? Anh xã đang làm gì? Các con em có lẽ lớn cả rồi, làm gì? Hoài lúc nầy vẫn trẻ chứ? Yêu đời như em dạo nào thì làm sao già được! Có lẽ em làm công nhân hay giáo viên gì đó phải không? Được thế thì tốt quá trong thời buổi nầy. Chẳng biết bao giờ được phép vào Saigon, anh xuống thăm gia đình Hoài nhe.

                              Đà Nẵng của Hoài lúc nầy khác năm xưa nhiều. Ngày ấy sau khi em rời Đà Nẵng, thì chính phủ VNCH có nhiều kiến trúc mới, làm người ta khá choáng váng. Nhưng, trong đó anh vẫn thấy nhớ nhớ cái ngây thơ của mình ngày nào, xa xôi lắm. Còn bây giờ anh đi vào Đà Nẵng xa lạ, và cô độc vô cùng. Chắc anh ước mơ một vùng kinh tế mới xa xôi, để ổn định cuộc sống, Anh cần một vùng đất thật hiền hoà và thanh vắng, tạm gác lại xa hoa đô thị. Anh cảm thấy bây giờ anh thật nghèo, nghèo từ thể xác đến tâm hồn.

                              Thôi nhé. Biên vài hàng để thăm Hoài và gia đình em, cầu xin em ổn định thật tốt. Anh không có gì hơn là hết sức cám ơn Hoài, còn nhớ đến anh và gia đình anh. Cầu chúc em và gia đình vạn sự an lành. Anh mừng.
                              Anh Đan,
                              * * *

                              Đà Nẵng ngày 8 tháng 11 năm 1987.
                              Hoài em!

                              Cám ơn. Cám ơn em khi nhận được lá thư từ xa xôi gửi đến cho anh. Anh suy nghĩ thật nhiều trong vài tuần nay, nên quyết định trả lời cho cô em gái đây. Trời Đà Nẵng đột nhiên trở lạnh kinh khủng (khi nhận thư em). Đêm nay gió càng mạnh, có lẽ bão tố vùng nào, đã ảnh hưởng cho khí hậu mùa đông thật rồi. Ngồi nói chuyện với em, anh không đóng cửa sổ. Mặc kệ, để gió lạnh lâu lâu thổi vào. Đừng cho là anh thêm mắm thêm muối nghe em.

                              Anh vừa đi Huế kỵ Me anh hôm 9 tháng 9 âm lịch. Me là người anh thương mến nhất đời. Ngày xưa anh bỏ Pháp để về Việt Nam, là do anh thương Me kinh khủng. Hoài biết không, ngày Me mất đột ngột, anh không biết, không ngờ, không khóc được, vì anh còn ở trong trại tù. Sự tiếc nuối đớn đau dày vò đến tột đỉnh cuộc đời anh. Không có gì đau đớn bằng! Em là người đầu tiên anh nói cho em biết nỗi đau đớn nầy. Rồi đây, chắc không còn một đớn đau dại khờ hồn xác nào, làm anh phải suy nghĩ; kể cả sự chia ly của vợ chồng anh.

                              Em đừng buồn cho đời anh. Vì anh chả bao giờ chịu thương hại. Chắc em hiểu anh ít nhiều. Chuyện anh và chị “en face” đã xong xuôi. Từ ngày ra tù, anh chị gặp nhau mấy ngày Tết lạt lẽo, hời hợt, lúng túng, lẫn tránh, rồi mạnh ai nấy sống. Sự chia tay đã ngấm ngầm chấp thuận, an bài giữa hai đứa. Anh vẫn sống với bà mẹ vợ bệnh tật liên miên, và vợ chồng cậu em vợ trong ngôi nhà của anh. Bây giờ do họ đứng chủ hộ khẩu. Anh chăm lo mẹ vợ bình thường. Anh sống thoải mái trong một căn phòng riêng anh, một thiên đường cho sự tịnh dưỡng sau hơn 12 năm làm Trung Tá sĩ quan QLVNCH. Dù nay bị tù đày, anh đi và về âm thầm lặng lẽ như mây phiêu lãng, chẳng phiền hà đến ai, và anh lo cho hai con chu đáo.

                              Chỉ cần “giải quản”, được phép đi đây đi đó, hai đứa (anh chị) ký tờ giấy là xong chuyện ly hôn. Chẳng ai luyến tiếc cho cuộc tình quá ngắn ngủi (1967-1975). Tám năm! Quá ngắn phải không em? Thế mà lắm đắng cay! Anh chấp nhận sự chia tay "quỳnh dao" vẫn nở đẹp đến ngày tàn. Sự ra đi như mây phiêu lãng trên bầu trời hạ chí, khi mình là kẻ yếu. Chắc em hiểu là bao giờ cũng đẹp. Lúc nầy anh chưa hận thù ai cả, kể cả không gian và thời gian. Với anh, Đà Nẵng chẳng còn gì mà luyến thương, anh có thể ra đi càng nhanh càng tốt. Nói vậy chứ trước khi gia đình em đi Paris, em nên về Đà Nẵng thăm thân nhân một chuyến. Chứ không sau nầy tiếc lắm đó! Đà Nẵng phồn vinh huyên náo muôn thuở. Nhưng đối với anh buồn lắm em ơi!

                              Em biết không, vợ anh giàu lắm, có một hãng trái cây xuất khẩu tại Sài Gòn. Thế mà anh vẫn giã từ cô ta, anh chấp nhận lấy khó khăn, nghèo hèn thiếu thốn, để thử thách cuộc đời.
                              Anh đọc thư em mà muốn cười quá! Em nói là: "Anh hãy sang bên kia sông, can đảm một chút, để xây lại viên gạch mái ấm, sẽ có gia đình hạnh phúc đầu tiên và cuối cùng bền lâu hơn". Sao mà em tôi có nghị lực và can đảm quá vậy! Chắc anh không làm được, với lứa tuổi năm mươi khá xế chiều của anh, anh sợ và ngán lắm rồi. Nhất là những người già như tụi anh. Anh nghĩ có xây lại lâu đài hạnh phúc ấy, chắc anh xây bằng plastique quá, vì mau hơn xây gạch nhiều. Cám ơn những lời an ủi của em gái, nhưng anh Đan chịu thôi. "Trả lại trăng sao cho đời".

                              Bây giờ anh cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái, trong cuộc sống không bon chen, không dành giựt. Ngày tháng qua đời anh, như những quả bong bóng bay theo tiếng chuông nhà thờ. Thế mà có vài người muốn nhảy xỗ vào đời anh, để chia sẻ tình cảm, cuộc sống. Hoài ơi! Tức cười quá! Đó là vài người sắp điên, hay họ thương hại anh chăng? Chuyện đó còn lâu! Anh hứa với em như vậy. Anh không còn tình cảm, đã qua đi sự trìu mến trong nghĩa vợ chồng. Còn lại là niềm cay đắng. Có lẽ họ muốn làm thủ tục HO "cùng đưa nhau đi tìm hạnh phúc tị nạn" chăng!? Anh không muốn lại biên thư cho em, nói lên sự đỗ vỡ thêm lần nữa. Anh trai của Hoài bây giờ già lắm rồi. Xí nữa là đằng khác, nhưng chắc tâm hồn chưa già, mà còn trẻ hơn trước... Em thấy ớn anh chưa.

                              Em biết không, từ dạo "xa em", anh đã đi học 2 năm bên Mỹ. Trở về Đà Nẵng anh tìm em, chẳng thấy em đâu. Anh đến nhà cũ, đường cũ hỏi thăm em, cũng chẳng ai biết. Buồn làm sao! Bao nhiêu lần anh xuôi ngược trên biệt thự Mimosa, số 2 Pasteur ở Đà Lạt, để tìm dấu vết em. Em vẫn biệt tăm. Biền biệt. "Gửi thư thư biệt. Gửi lời lời bay". Từ đó anh thêm một tật xấu là ghiền thuốc lá không đầu lọc, và cà phê không đường. Thế là anh tìm ra Đông Hà có cái lạnh và sự trống vắng của phố nhỏ. Anh hút thuốc và uống cà phê càng nhiều. Thật thú vị.

                              Tại thị trấn điạ đầu nầy, vào một buổi nắng quái, anh gặp chị mặc bộ quần áo trắng, tóc thề đi giữa đám học sinh nhỏ, bụi đỏ bay mờ phố buồn. Anh chị yêu nhau và đám cưới vội vàng, nhưng đám cưới lớn nhất từ xưa đến nay trong thị trấn nhỏ. Tránh cho chị khỏi cảnh làm dâu, anh đã viện cớ với me anh, là đời quân nhân rày đây mai đó, anh đưa chị vào Đà Nẵng mua nhà ngay buổi đầu, cho chị tự do thoải mái... để rồi “tự do chia tay”. Ha ha…

                              Em thấy không, tất cả có lẽ do Thượng Đế an bài. Tại sao ngày đó "người ta" không gật đầu ưng thuận một cái em nhỉ? "người ta" vui, "người ta" cười, lịch sự đoan trang, nhưng “em ấy” cứ lờ đi sự van nài của anh. “người ta” thản nhiên kết thúc chuyện tình bằng tấm thiệp cưới với ai, ở đâu, lúc nào, anh chẳng rõ. Em thấy "người ta" rất ác với anh không? "người ta" ngày đó quá đẹp, quá thần tượng đối với anh. Nên, "người ta" đã nhẹ nhàng xa anh không một lời từ biệt; “người ta” đẫy anh vào đường tiệm cận có cảnh đớn đau giữa hai lằn đạn nầy.

                              Nếu em gặp lại "người ta" thì em nói giúp lại rằng: Ngày đó, anh yêu "người ta" đến cuồng điên, nồng nhiệt. Sau khi anh đi Huế trở vào Đà Nẵng gặp lại “nàng”, thấy sự hững hờ của "người ta", anh chấp nhận đi học xa quê hai năm. Chắc em không biết điều nầy. Chính Uyên và chú Minh biết rõ! Ghê gớm thay giọng nói ngọt ngào, thân hình thon thả, tóc thề gợn sóng, nụ cười duyên dáng, sóng mũi cao, đôi mắt đẹp trong sáng, thông minh, làm sao anh quên được. Dù qua bao năm tháng biền biệt phân ly.

                              Cám ơn em đã gửi ảnh cho anh, anh không dám khen em vẫn đẹp, có lẽ là quá thừa. Có chăng là bây giờ em mệnh phụ một chút. Dù sao vẫn gợi lại hình ảnh người em gái thuở nào tóc thề ngang vai, đã chịu khó thăm anh tại Nghĩa Hành. Chắc em không nhớ con đường mòn xoắn ốc nón đìu hiu, lối cũ cheo leo ngày xưa đâu. Tự nhiên anh cảm thấy nhớ vô vàn, nhớ dĩ vãng thân thương êm đềm tuyệt diệu, và vô cùng ngắn ngủi. Với anh chỉ có buồn bã, xa vắng và ngắn ngủi. Phải không em?

                              Lạnh quá! Chắc anh phải đi khép cửa… Thôi, mặc kệ nó, có lạnh thật, nhưng lại đê mê và thích thích. Anh tiếp tục nói chuyện và viết cho em đây. Có lẽ anh chẳng bao giờ có dịp đến thăm gia đình em, vì phép tắt khó khăn, xa xôi quá. Ngày 1-8-1988, anh hết quản chế, chắc lúc đó cô em Hoài và các con thân yêu, đã đến chân trời xa xôi bên Pháp rồi ha?!

                              Nơi đó, dạo nào anh đã sống bảy năm trời, nhiều kỷ niệm lắm. Kỷ niệm thuở học trò. Ước gì ngày em lên máy bay, cho anh bám vào bánh xe, để cùng nhau đến Paris, thăm lại những con đường xưa, nơi mà anh đã đi, đã ở, đã sống bồng bềnh như những áng mây lang bạt, lãng tử từ thuở xa xưa ấy! Tự nhiên anh cảm thấy nhớ Paris chi lạ! Cũng lành lạnh thế nầy. Cũng cô đơn và trống vắng một cái gì không hiểu nổi. Anh hình dung Paris mùa chớm đông, tuyết chưa vội rơi phủ trên công viên, nhưng cơn gió lạnh đã sớm về.

                              Tuy vậy, anh đã rời xa góc thiên đàng đó, về với Me anh. Vì như anh đã nói, không có gì qúy hơn, không có ai anh yêu hơn Me anh. Thế mà, giờ đây Me đã vĩnh viễn ra đi trong một hoàn cảnh buồn thảm. Khi đất nước nhuộm màu đen, quê hương đói khổ, rách nát đau buồn, gia đình phân tán rã rời, ly biệt, để hôm nay anh ngồi kể chuyện em nghe đây.

                              Đôi khi anh không hiểu nổi ngọn gió nào, đưa em vào cái xứ xa lạ với anh quá trời. Ở mãi đâu vậy em? Mặc dù miền Nam anh đi nhiều, mà anh không hình dung ra nơi em đã sống. Anh tưởng bé của anh đã "du hành" qua Mỹ từ 1975, như Uyên, Phượng, em gái anh. Thành ra khi nhận cards của em, anh thấy đề Thành ông Năm, anh không hiểu em ở chỗ nào? Thôi, khuya quá rồi anh đi ngủ đây. Mai anh viết tiếp cho em nghe.

                              Sáng nay vừa thức dậy anh lại nhận được thư em. Anh đọc mãi. Đừng thương hại và đừng an ủi anh nghe. Anh đại ghét. Hiểu anh đi. Anh không ngờ em gian nan cơ cực, kiên cường đến thế, và không ngờ em can đảm đến thế! Cũng may, mọi việc đều qua đi, và anh mừng là em đã ổn định dần dần. Nghe em nói 24/12 em sẽ dời hài cốt của Mẹ em ra Huế. Anh mừng vì đưa được Mẹ về vùng bình an nơi Mẹ sinh ra. Việc đó anh nghĩ là quý nhất.

                              Vào khoảng thời gian đó, anh định rời Đà Nẵng vào thăm cô em út, hiện dạy tại Trường Cao Đẵng Sư Phạm, chồng cuả em Nga hiện là bác sĩ Trưởng Khoa. Có dịp em đến thăm em Nga nghe. Anh còn một bà chị ở tại Long Đất, Long Điền, con trai chị có quán cà phê đen, không nhạc không đèn màu, gần chợ. (Gớm thay ! “bác giải phóng" đổi đời! Cái nghề mà anh nghĩ con của một vị Tướng không bao giờ làm. Ấy vậy nay là một cứu cánh sinh tồn, danh dự lương thiện nhất của các cháu đó em.

                              Anh dự trù ăn Noel ở Đà Nẵng xong là good bye. Anh không muốn hưởng cái Tết Đà Nẵng cô đơn lạnh lùng, xa lạ, kể cả gia đình bên vợ. Thành ra, nếu em đi Đà Nẵng trước Noel, thì cứ tự nhiên đến nhà anh. Không gì trở ngại. Chuyến vào, sẽ có đứa cháu làm kiểm soát viên lo vé cho em, mua dễ dàng. Có tiền và quen biết, mọi việc dù khó đến đâu, vẫn dễ dàng trong chế độ nầy. Em đừng lo.

                              Chuyện xuất cảnh của gia đình em, sao em không làm thủ tục cho chồng em đi Pháp luôn? Tiện hơn là để anh chồng chờ chương trình HO, biết có lúc nào, hay không? Anh nghe nói vụ HO rồi. Người ta bàn tán xôn xao. Nhưng thôi, anh đã từng sống xa nhà, chán cảnh xa quê hương quá. Nếu có dịp gặp, anh sẽ nói rõ em hiểu lý do, thà anh chôn chân ở xó xĩnh vùng quê nào đó, cho xong đời "trai già từng xông pha chiến trận và phong sương mưa gió" Ha ha ha!

                              Tội quá! An Hiệp là Quận 3 của Đà Nẵng, đường về Sơn Trà bây giờ phồn vinh lắm. Có bưu điện tư, không lạc thư đâu mà em sợ. Đó là cư xá Công Chức và Lao Động ngày trước, họ gọi là An Cư 1. Qua khỏi cầu Delattre xuôi về ngả Sơn Trà đó. Nếu em gửi thư bảo đảm hay sách gì đó cho anh, tốt nhất nên gửi tên con gái anh. Nhớ nhất là em không ban cho anh một ân huệ nào cả nghe.

                              Việc chú Ưng Cần mất, anh có biết. Nhưng không được phép của ban quản chế. Hy vọng kỳ tới vào Sài Gòn anh sẽ đến thăm. Cám ơn em đến thăm gia đình thím Cần và báo tin cho anh biết. À, chắc em còn nhớ số bạn cũ trong Sư Đoàn 2 chứ! Đa số họ ở tù với anh, sức khỏe các anh ấy không lấy gì khả quan, có nhiều hoàn cảnh riêng thật buồn đau. Họ gửi lời thăm em đó.
                              Thôi, thư đã khá dài. Anh phải đi bưu điện bỏ thư, kẽo em trông. Cầu chúc em và gia đình vạn sự tốt lành, và sớm đạt mọi việc cầu mong. Anh và hai con vẫn thường.
                              Anh Đan
                              * * *

                              Đà Nẵng, ngày 11 tháng 11 năm 1987
                              Hoài em thương,

                              Vừa đi bỏ thư cho em hôm qua. Sáng nay anh định đi xuống chị Phụng nói chuyện chơi, uống ly cà phê do chị ta pha chế. Nhưng Đà Nẵng lạnh quá! Trời không mưa, nắng èo ọp cuối đông không đủ sưởi ấm, (vì anh không có áo lạnh che thân). Đành chế cà phê tại nhà, anh ngồi nói chuyện với em đây.

                              Anh cứ viết, cứ nói với em mà không biết bao giờ mới đi gửi. Tâm trạng anh bây giờ là thế đó. Làm rồi bỏ, rồi tiếp tục vu vơ không chủ định. Đà Nẵng trở lạnh. Dễ thương thật. Nhưng anh muốn rời bỏ nó ngay, không luyến tiếc. Chi lạ thật Hoài ơi. Cảm thấy thú vị khi ngồi trong cửa sổ nhìn lá vàng, uống cà phê nghe nhạc (tại nhà nghe). Tự nhiên anh cảm thấy trống vắng lạ, nên quyết định không xuống chị Phụng, ngồi nhà viết thư cho em nè. Vì anh không thể nghe được tiếng đáp từ của em, không có được câu trả lời chính xác, đúng lúc. Anh cũng không được giận hờn vô cớ.

                              Đêm qua chị Phụng (bạn thân của vợ anh), lên nhà anh ngồi tâm sự. Chồng chị ta đi Mỹ, hiện nay chị sống với bà gia và một con nhỏ. Chị có cơ sở đầy đủ, mệt mỏi cho cuộc sống, vài lần chị ta thử sang “tàu bè” đi thăm anh nhưng thất bại. Trống vắng và ngán ngẫm. Đôi khi nói chuyện với chị, anh cũng vui, trong cái vui của những người nếm đắng cay, không trọn vẹn cho cuộc tình. Anh thấy chị ta ray rứt trăn trở mãi khi nói:
                              - "Anh Tùy đã lấy vợ".

                              Thì có gì đâu, mà phải nói với an hem nhỉ. Tức cười thật. Anh thấy sao cứ xa lạ, không thể có âm tần đúng nghĩa. Tuy nhiên, đôi lúc câu chuyện giữa anh và chị ta có đồng hướng và thích thích. Nếu có em, em sẽ thấy “anh chị” thú vị qua những phân tích rất chí lý cho cuộc đời. Chị ta đi dạy học như em, trắng tay, làm lại, đứng đắn và đảm đang mà cũng xuôi tay. Huống hồ gì là anh vụng về, bỏ ngỏ, làm sao anh không lãnh bản án chia ly. Phải không em?

                              Chị Phụng chưa tìm được cái gì đúng nghĩa yêu thương vợ chồng, cô đơn và gắng gượng (lời chị ta nói, chứ anh không có nhận xét). Tuy nhiên anh thích chị ta một điểm là thành thật, dám nói, và pha cà phê thì ngon tuyệt. Hoài đừng nghĩ là anh có ý đồ gì à nha. Nói thế, không có nghĩa là anh ghiền cà phê, hoặc lối nói chuyện của chị ta đâu nghe. Anh Đan hứa với em là anh không bao giờ đặt bút viết cho em:
                              - Anh làm lại viên gạch tình yêu từ đầu, để rồi lại chia ly. Cứ tin anh đi.

                              Từ hôm ra tù đến giờ, anh chưa biên thư cho ai, anh đại ghét nói về cuộc sống của mình, cho ai nghe, kể cả chú em Minh, và ba cô em gái. Tất cả các em vẫn biết anh đau buồn, anh giận. Nhưng không ai dám có ý kiến. Vì mọi chuyện, và vấn đề hôn nhân là do anh quyết định, do anh tạo nên. Đó, em thấy không, cuộc sống của anh bây giờ là như vậy. Rảnh rỗi chồng chất lên thất nghiệp, mới thú vị chứ. Anh phải chấm dứt cuộc sống vô bổ nầy khi xa Đà Nẵng.

                              Thật ra anh chẳng còn gì để mà sợ. Niềm lo sợ đã ập đến đầy tan nát đớn đau, thì có thêm một chút, cũng không là gì. Còn lại chăng là mấy đứa con, là chứng nhân cho cuộc tình đau xót không trọn vẹn. Anh chỉ lo chúng nó buồn - khổ - giận - và hỗ thẹn, do cuộc tình cha mẹ chúng mà thôi - Các con đã lớn, chúng hiểu cái gì là đạo lý. Cái gì là cao thượng, thủy chung. Anh muốn nói với em nhiều về việc nầy. Nhưng thôi, để anh lo một mình được rồi.

                              Anh vào Sài Gòn thì có nhiều chỗ làm và chỗ ở lắm. Nhưng anh nên tránh né Sài Gòn, (vì có người vợ phụ bạc ấy). Biết đâu lại gặp nhau. Gặp lại, nói gì đây!? Miền Trung thì anh chào thua. Cho nên anh quyết định vào Biên Hòa hay Long Điền. Tìm cho mình một chân trời ấm áp hơn đôi chút, (cho cuộc đời còn lại). "Họ" muốn anh ở lại Huế, Tam Kỳ, hay Đà Nẵng, để...
                              đôi ta” làm lại từ đầu.

                              Em thấy có vô lý không, khi họ hứa sẽ... "làm lại tình yêu vợ chồng từ đầu". (!?) Anh thấy nhàm chán và ghê sợ, không biết "cái đầu" nó sẽ bắt nguồn từ "cái đuôi" quá ẹ ở đâu? Có lẽ từ trong hư vô!? Ở lại để có một căn bản kinh tế. Một cuộc sống an bài. Một cuộc tình vật vờ chắp nối. Chán thật. Anh không hiểu nỗi khi "họ" nghĩ anh như thế nào! Cúi đầu chấp nhận chăng? Khó quá Hoài nhỉ! Thành ra, anh quyết định đi ngay, khi anh được "giải quản".

                              Nếu có dịp vào Sài Gòn, anh sẽ đến thăm gia đình em. Biết bao giờ mới có dịp đó đây em. Anh cầu mong cho gia đình em đi trọn vẹn, tìm một định mệnh khác huy hoàng tươi sáng hơn. Ai mà khổ hoài phải không em? Nơi đất mới, anh nghĩ em sẽ được hưởng những mơ ước. Ít nhất là an bài cuộc sống bên chồng con. Anh hình dung cô em đang cần cù bên bàn may, hay nhíu mày khâu cúc áo. Nếu kim có chích vào tay em chảy máu, thì em đừng giận anh, vì anh cứ nhắc đến em hoài nghen.

                              Tháng 7 vừa rồi, anh có đi Sài Gòn thăm tất cả bà con bạn bè, nhưng chú Minh cố ý dấu diếm, tránh né các tấm carte của em. Có lẽ chú Minh không muốn anh tìm lại một cái gì... làm anh nhớ nhung, đau buồn, xao động mạnh từ ngày xa xưa. Minh có lý của nó. Cho nên, trước ngày kỵ Me, chú Minh mới đưa cái carte cuối cùng em gửi thăm anh và gia đình. Là thế!

                              Đột nhiên anh nhớ em kinh khủng và biên thư thăm em đó. Lúc đầu anh định viết thư thăm hỏi gia đình em thôi. Anh muốn dấu nhẹm em chuyện "anh chị chẳng lành". Nhưng không hiểu sao anh lại kể hết ra vậy. Anh hơi vội vàng phải không Hoài? Thực tế là thế. Anh không van xin nài nĩ ai hết. Có buồn thật, nhưng mình nên chọn cái nào đạo đức và danh dự nhất. Đó là niềm mơ ước của anh. Hiện giờ anh sống thật yên lặng, hoàn toàn không có sự phật lòng của mẹ vợ và bà con bên vợ. Anh không có ý kiến và không tham khảo bất cứ điều gì chẳng thuộc về anh nữa. Không có gì làm anh thắc mắc. Sự sống của anh biệt lập. Sự đi về của anh vẫn là của anh. Tiếp xúc bạn bè là quyền hạn hữu của anh. Thôi. Anh viết nhiều về anh quá! Chắc em mệt và nhàm chán. Anh muốn viết cho “em gái anh” biết rõ tất cả con người anh: Như dạo nào. Ít thích lệ thuộc. Cứng đầu mà lại đa tình đa cảm.

                              Em hỏi anh Toà Sơ Thẫm ở Huế còn không, để em xin họ sao lục khai sinh? Việc nầy anh chịu thôi. Để lúc nào anh hỏi chú em Minh của anh, rồi anh trả lời em sau. Nha. Anh nghĩ bây giờ không còn tên cũ, mà thành: Toà Án Nhân Dân. Cái gì cũng là của Nhân Dân hết. Ủy Ban Nhân Dân. Quân Đội Nhân Dân. Viện Kiểm Soát Nhân Dân. Nhà Sách Nhân Dân. Nhà Hát Nhân Dân. Cửa Hàng Bách Hoá Nhân Dân. Cửa Hàng Phân Bón Nhân Dân... Nhưng, có một cái đặc biệt thuộc về nhà nước thôi. Ấy là Ngân Hàng Nhà Nước. Hahaha!!!

                              Hôm nào anh hết bị "quản chế", cho anh vào xin học nghề may âu phục với em nghe. Anh hứa là anh rất có hoa tay. Cô giáo Hoài em dạy anh học may, càng mau tiến bộ. Thôi nhé! Hẹn thư sau anh nói chuyện nhiều. Ở Đà Nẵng sau 12 năm, khi anh lưu đày biệt xứ trở về, thì có nhiều chuyện cần kể cho em nghe lắm. Chúc gia đình em vạn sự an lành.
                              Anh Đan.

                              _ * _

                              Đà Nẵng, ngày 22 tháng 12 năm 19
                              Hoài thương muôn thuở!

                              "Gieo gió thì gặt bão" Dù em có cầu Chúa, em cũng phải nhận thôi. Không ai có thể bước ra khỏi quy luật đó. Anh tìm kiếm mãi một mãnh đất nhà trong những quyển bút ký dài viết rất thật, rất đúng sự thật nầy, để nói với em những gì đã vượt xa tầm tay anh hơn một phần tư thế kỷ.

                              Cám ơn em. Cám ơn em khi em trao anh những truyện dài: - Hiến Chương Tình Yêu. - Giữa Hai Lằn Đạn - Hoài Hương Xưa - Con đường Cảo Thơm. - Phút Định Mệnh Tình Cờ. - Chuyện Anh và Tôi. Vẫy Gọi Con Thuyền, Đường Thiên Lý xa mờ xa… vân vân... Cho anh được say đắm tìm về chút biệt hương xưa, bóng mây hạnh phúc đã phai lạt, tưởng chừng như không bao giờ tìm gặp lại. Cám ơn sự chứng nhân đích thực của anh - trong cuộc đời của cô em gái đẹp, đoan trang, ngoan hiền, nhiều tài sắc ở xứ hoa Anh Đào.

                              Chắc em không bao giờ tưởng tượng được, sự trìu mến suốt cuộc đời của thằng con trai, đã quá thần thánh hóa, cho một người anh yêu (không đầu tiên trong đời) đã làm anh đau khổ nhiều. Hỗ thẹn, băn khoăn nhiều với đàn em ruột - (anh không thể giải thích với các em cuả anh được, điều gì đã vẫy gọi sự ra đi của em)?! - Anh không còn biết được bao nhiêu bâng khoâng lo lắng, đớn đau buồn nhớ dày vò mình. Kể từ ngày em xa rời Đà Nẵng. Anh cũng chẳng biết, em rời xa anh đột ngột... Vì lý do nào. Tại sao? Bởi đâu?

                              Bây giờ thì anh đã rõ. Anh chỉ là một món đồ để lên bàn cân cho em chọn lựa. Cũng thú vị thật! Ngày ấy anh đã thua cuộc, và đã nhận lấy một cuộc đời quá khắt khe. Ngày xa em, anh đi Mỹ hai năm, có lẽ và nghĩ rằng: Nơi tột đỉnh văn minh và xa hoa của cuộc đời phù phiếm, anh sẽ nguôi khuây dần dần thương nhớ em, và lãng quên em: Một bóng mây hồng tuyệt vời hạnh phúc, mà anh không thể nắm bắt trong vòng tay anh đơn bạc.
                              - Anh lãng quên hình bóng một cô gái, mà anh chưa bao giờ dám nắm bàn tay. Hay đặt nhẹ nụ hôn, cho dù trên tóc - Ngày đó anh sợ quá! Chỉ sợ tan vỡ - như bong bóng mây hạnh phúc cuộc tình mình. Thế mà, tại phương trời xa xôi, hơn nửa quả điạ cầu kia, anh vẫn nhớ em vô vàn nỗi nhớ. Nhớ về dĩ vãng đằm thắm, êm đẹp, mà anh muốn thực sự dựng xây cho suốt cuộc đời. Anh không lựa chọn, không thách thức, không lừa đảo, khi nhận em vào cuộc đời mình, không định kiến khi em về thăm quê hương, nên anh viết thư giới thiệu em đến thăm gia đình anh. Em đến đúng lúc, ngày ấy anh đã quá chán chường cho cuộc sống tự do, độc thân, bê tha. Anh chỉ cầu mong xây dựng một mái gia đình tuyệt vời; Trong đó, em sẽ là mẹ của những đứa con sắp ra đời - Là con dâu yêu của Me anh, một bà mẹ trân quý, Me buồn nhiều hơn vui (vì một cậu con trai cưng nhất nhà).

                              Thế mà em đùa giỡn vô tư, vẫn thản nhiên, chẳng tha thiết, để rồi em vụt xa bay, ra khỏi tầm tay anh. Anh chấp nhận đau thương, âm thầm ra đi. Trong sự cầu mong em được xuôi về bến mơ, với một người nào đó, mà anh chắc là tuyệt vời nơi định mệnh. Cuộc đời lắm bon chen và muôn vàn trái trở, anh vẫn là anh, vẫn cô đơn và hờn tủi. Lẽ ra rứa, mà anh đã xây dựng cuộc đời, với người vợ tưởng là hiền, đẹp người đẹp nết, đoan trang và ngoan. Anh vẫn tự hào là đạo đức, cao thượng khi chấp nhận cuộc tình nầy.

                              Cũng có tình yêu nồng cháy. Có hạnh phúc. Không ai lợi dụng ai. Anh hãnh diện với tất cả bạn bè, cũng như người đàn bà đó. Vì, anh đã đem lại tột đỉnh yêu thương chân thành trong tình nghĩa vợ chồng - Sự hào nhoáng vật chất xa hoa, anh dành điạ vị cao sang cho riêng nàng, và có những đứa con quá đẹp và thông minh.

                              Sự tan vỡ và định mệnh qua đi, như khúc quanh cuộc đời đầy uẩn khúc bẩn thỉu. Anh không chút ân hận, không dày vò. Vì, anh đã tự hào làm tất cả. Làm tất cả cái gì cao quý của một người chồng trong thời vàng son đó. Sự ra đi của anh, và vợ anh, là một sự đạo đức, cao thượng. Không oán than, không thù hận. Không chê trách một ai, lẫn chê trách mình. Không ai còn mắc nợ ai.

                              Cuộc tình tan vỡ đúng vào tuổi 50. Anh không ân hận, không xao động nhiều cho sự ra đi cuả nàng. Hầu như có sự tất yếu, và có sự chuẩn bị cho cuộc đời. Chẳng khác nào cuộc chia tay của "hoa Quỳnh Giao" vẫn nở đẹp, đến lúc tàn.
                              * * *

                              Thế rồi... Ngày nay, em lại đến trong chuyến xe đò khứ hồi Đà Lạt - Đà Nẵng. Em đến, và chúng mình đi giữa mùa đông giá buốt. Mưa bão từ không gian, thời gian, và trong cõi lòng anh đầy tái tê. Một tuần anh em mình vừa ở Đà Nẵng và Huế, dẫu sống thật gần, nhưng rất đỗi trang nghiêm và lạnh lùng xa vắng vô biên. Em ân cần trao anh mấy quyển bút ký, như sự hối lỗi rất chân thành. Em xin lỗi đã gieo vào đời anh niềm đau buồn ngày xưa ấy, em dặn anh hãy bình tĩnh, thông cảm, đọc từ từ cho biết, để biết nguyên nhân. Ngoài ra, em không có mục đích gì khác. Khi về nhà, anh thức trọn đêm đọc hết quyển thứ nhất, không hề chợp mắt. Tám giờ sáng anh qua Đà Nẵng đón em đi ăn sáng. Chúng mình chuẩn bị đi Huế.

                              Trời ơi! Em đến làm gì nữa, hở Hoài? Đến làm gì khi mà, anh không bao giờ chấp nhận sự chia tay giữa em và anh ấy. Anh ấy đã đau khổ nhiều - Đã tạo dựng nhiều, hy sinh nhiều cho cuộc tình nầy - Anh không muốn dù cho một tình cảm nào nếu có, cho dù em chia sẻ với anh. Hoài ơi! Không có việc gì phải cản trở sự ra đi của em và các con em về vùng đất hứa. Tương lai của chúng rất cần cho sự sáng suốt, và hy sinh của em. Không lý do gì xa rời nếp sống gia đình em. Gia đình em, như một định mệnh dẫu tình cờ. Nhưng đủ ràng buộc, cột chặt tất cả lại bên nhau rồi. Em hiểu anh nói chứ!?

                              Nếu em trở về với Hoà, anh khinh em. Nếu em trở về với anh. Anh không nhận. Không nhận, không có nghĩa là anh không còn yêu em như dạo nào. Mà có nghĩa là anh yêu em nhiều hơn trước. Anh yêu em nhiều lắm. Nên anh cầu mong em còn lại trong cuộc đời anh. Cầu mong hình ảnh em không bao giờ xoá nhòa trong ký ức anh. Chắc không bao giờ phai mờ. Kể cả ngày anh nhắm mắt xuôi tay. Biết đâu được trên vạn nẽo đường, anh lại gặp em. Chắc chắn bây giờ, anh đã thay đổi ý định đi kinh tế mới. Anh sẽ đi "kinh tế Mỹ" với các con thân yêu cuả anh - mà không bao giờ có người vợ

                              Anh khẳng định từ giờ phút nầy, người đàn bà đó - đến với anh, chỉ nhận sự lạnh lùng và cô độc. Anh không muốn em nói điều gì với anh nữa. Vì anh không muốn em sẽ... - sẽ là người đó.- Người mà anh căm thù, và trao lại suốt cuộc đời sự lạnh lùng xa vắng. Anh vẫn hận đàn bà đó, chỉ muốn trả thù. (ý kiến nầy chưa bao giờ thay đổi, không biết sau nầy ra sao?)

                              Trời vẫn lạnh em nhỉ? Chuyến xe lần đầu tiên trong đời. Và là lần cuối cùng, hai anh em mình ngồi chung xe, xuôi về Kinh Đô Huế, không đủ thì giờ cho mình tâm tình. Sau hai mươi lăm năm mới gặp lại. Không đủ sưởi ấm hai tâm hồn lạc lõng, bẽ bàng. Phải chăng, đó là đoạn đường, đưa anh và em vào nghĩa điạ?

                              Nụ hôn đầu tiên trong phòng khách trên lầu hai, bên băng nhạc "Gợi giấc mơ xưa" ở nhà chú Minh, đã làm anh quá đau khổ, dày vò. Cho dù chỉ là môi hôn phớt nhẹ trên má. Anh giận anh, giận em, chúng mình đã phá hỏng sự trinh bạch của hai trái tim vốn dĩ từ thuở xa xưa rất trong sạch, mà anh nghĩ là chúng mình cao thượng nhất trên cõi đời nầy – Hôm ấy Anh đã cùng em bôi xoá hết rồi. Anh có khe khắt và gay gắt quá không? Hở? Buổi tối đó, em ngủ với vợ con của chú Minh. Anh ngủ với em trai, hai đêm. Mặc dù, chú Minh hỏi chúng mình, (khi cùng nhau bước lên cầu thang lầu ba):
                              - Thưa anh. Nhà rất rộng, bây giờ anh chị muốn nghỉ ở phòng nào, để em lo.
                              Nhà nầy có bốn từng lầu, phòng của riêng anh vẫn bỏ trống. Nhưng chúng mình tôn trọng nhau. Vã lại mình không muốn vợ chồng chú ấy hiểu lầm, tình cảm chúng mình không là thế. Trân trọng. Đồng ý không phạm lỗi lầm. Không có cử chỉ thất kính nào. Dù nhỏ nhặt nhất. Hôm sau, em đi thăm mộ ba mẹ em, ở nghĩa địa Phao Lô, dưới chân núi Ngự. Anh thăm bà con bạn bè, sót lại vài người lẽ loi. Mình ăn bữa cơm tối với gia đình chú Minh. Anh em kể lại nhiều chuyện vui buồn. Năm giờ sáng, em đến phòng báo thức anh dậy, chuẩn bị vào Đà Nẵng.

                              Thỉnh thoảng mình gặp nhau vài lần ở nhà Thọ, bàn về việc nộp đơn cho chương trình HO sẽ ra đi. Chúng mình đi bộ trên phố phường huyên náo, mà lòng đơn điệu trống vắng vô ngần. Ngoài ra, không ai lợi dụng ai, dù tay nắm bàn tay, thêm một lần ấm áp. Chiều cuối, trước khi em lên đường đi vào Dalat, ngày 22 tháng 12 năm l987. Anh đến nhà anh ruột của em, trao trả em mấy quyển bút ký của em dày hơn 2800 trang. Chúng mình đi bộ lên chợ Hàn, vào tiệm ăn buổi cơm cuối cùng.

                              Anh về, khoảng tối em đạp xe qua nhà, em chào gia đình mẹ vợ, và hai con của anh. Anh tiễn em đến bên chân cầu Dellatre lộng gió. Chúng mình ngồi ở bậc thềm xi măng, giữa lòng đại lộ lạnh lẽo vô vàn và vắng hoe. Anh buồn kinh khủng dưới cơn mưa phùn rét mướt. Em bị cảm cúm rất nặng, mà vẫn chịu khó đến bên anh phút chốc nói lời tạ từ trìu mến.

                              Bên chiếc cầu tối đen, anh nghẹn ngào đớn đau biết ngần nào. Anh rất buồn và thương em tôi quá sức. Lòng anh muốn vỡ tan ra, thành từng giọt nước li ti trào lên khoé mắt, để tiễn biệt em về xứ lạ. Anh muốn khóc như nước mưa trong bầu trời gió bão mịt mùng. Nhưng, nước mắt không trào ra khoé mi, mà chảy ngược trở lại vào tim. Khiến lòng anh tan nát từng mãnh vụn, đớn đau xiết bao! Anh cố gắng nói chuyện với em lịch sự đàng hoàng. Xin trao nụ hôn chân tình, từ lần đầu và lần cuối trao gửi, để em yên tâm chuẩn bị đi Pháp.

                              Em lên xe trở vào Đà Lạt lúc bốn giờ khuya. Anh trằn trọc thao thức bâng khuâng, lo lắng đau buồn. Không làm sao chợp mắt. Khi anh quyết định viết lá thư cuối cùng nầy ở trong quyển bút ký của em. Giờ phút em ngồi trên xe, đọc xong những hàng chữ nầy, là chúng mình vĩnh viễn xa nhau. Lòng anh quặn thắt niềm đau đớn kinh khủng. Tình anh yêu em dù không có gì hũy diệt nỗi. Nhưng, phải quyết định như vậy thôi. Phải không em yêu?

                              Thôi nhé! Một lần nữa cám ơn em nhiều, khi anh được làm chứng nhân cho nhiều khúc ngoặt khốc liệt của một người con gái, mà anh yêu nhiều, và kính trọng nhất. Chắc Me yêu dấu của anh đã ngồi trong khung ảnh đang ngậm cười, trìu mến nhìn em, với những nén nhang mà em đã thắp lên trên bàn thờ (của người con gái quá dễ thương đã gọi hụt hai tiếng: "Me thương"). Thôi em ơi! Vĩnh biệt em. Vĩnh biệt mối tình mà anh đã yêu nhiều. Anh nhớ em nhiều. Anh khóc nhiều hơn cười. Buồn nhiều hơn vui. Hỗ thẹn nhiều hơn tự hào. Vĩnh biệt em ngàn đời yêu dấu.
                              Em đã đi rồi, Thứ Ba hay Thứ Tư?
                              Anh không còn nhớ.
                              Vì bây giờ thời khóa biểu của anh,
                              Không còn ngày Chủ Nhật.
                              Và ngọn gió lùa, vừa khép hờ cánh cửa.
                              Còn chờ ai... mà mở cửa! Phải không em?!
                              Anh Đan.
                              *


                              Mùa đông biệt hương, năm 1987
                              Tình Hoài Hương
                              Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-17-2017, 12:15 AM.
                              Bút trần nào tả được lưu luyến!
                              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                              Tình Hoài Hương

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #105
                                Tháng 4 Đã Còng Lưng Vác Trên Vai...


                                Tháng Tư Đã Còng Lưng Vác Trên Vai…
                                Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-17-2017, 12:34 AM.
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...