Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X
 
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts
  • Tinh Hoai Huong
    Senior Member
    • May 2009
    • 1081

    #76
    Quá Khứ Phản Bội




    Quá Khứ Phản Bội
    (Trại Tù “Cải Tạo” Z 30 Gia Rai - Xuân Lộc)

    Do một số đông thân hữu khẩn thiết nhờ THH tìm anh tù “cải tạo” có tên Long, năm 1982 đã bị tù ở trại Z 30 Gia Rai – Xuân Lộc. Vâng lời bạn, THH xin post bài viết đúng sự thật 100% nầy. Tác giả chỉ biết tên anh Long, tôi đã không thể biết “Họ” và tên đệm của anh Long. Anh Trung-úy Long, tù "cải tạo" ở trại Z 30 B, làm tại tổ than của trại tù. Anh Long được tin mẹ ở Khánh Hội đã chết. Nhưng... sau đó Mẹ anh Long đã đến "thăm con" trong chiếc quan tài. Vậy, nếu tình cờ anh Long (hoặc thân nhân của anh Long) có đọc được bài viết nầy, xin vui lòng nhắn gửi tin trên HQPD nhé anh. Có nhiều anh bạn tù “cải tạo” trong Z 30A + B vẫn ân cần nhiệt thành hỏi thăm tin tức và bệnh tình của anh Long đấy ạ.
    Kính anh Long,
    THH

    trth.hanhphuc@gmail.com

    *

    Từng giòng lịch sử và giòng thời gian dài lê thê vùn vụt trôi qua theo tiếng còi tàu tốc hành hú từng hồi lát gừng, giống như nấc cụt, và con tàu từ từ xục xịch chuyển bánh, khói toả thành một lằn dài ngoẵng, bay mù mịt cả một góc trời, than khói đen đen xám xám kéo theo đoàn va-gông cũ kỹ, xập xệ, lắc lư. Con tàu dường như nhão mục rền rĩ khô khan rung chuyển, hì hục, lết lết, lắc lư rung rinh thụt lui thụt tới, cạ quẹt, rên siết, rọt rẹt nghiến trên hai thanh tà vẹt hoen màu rỉ sét.


    Tất cả những toa xe đều huyên náo, ồn ào kinh khủng, tôi nghe thật nhức óc và điếc con ráy quá chừng! Vẫn những toa tàu chật như nêm chở đầy nhóc hàng hoá cồng kềnh ngổn ngang. Hành khách hỗn độn từ ga Sài Gòn đi về miền Nha Trang lố nhố bu đầy trên bậc cấp, trên mui trần, bên những ô cửa. Họ la hét, xô đẩy, giành giựt chỗ ngồi náo loạn. Nhân đó nạn sờ mó, móc túi, cướp bóc tràn lan trong toa tàu. Dù có tên Tiểu-đoàn đường sắt chống trộm cướp thủ củ súng và cây dùi cui lăm le trong tay, ông ta đập cây dùi cui chan chát trên ô cửa, lớn tiếng oang oang la hét không ngớt, ông chỉ chỏ ra lệnh đóng hết cửa tàu. Cuối cùng ổng đứng áng ngữ ở bậc thang cửa lên xuống tàu, ổng cũng không thể ra oai, mà đành giương mắt trơ ra nhìn.

    Bởi do phần lớn trại tù học tập “cải tạo” mọc lên như nấm mà ra. TÙ! hơn cả chuyện nhà nước quyên góp cứu trợ nạn nhân thiên tai, hoả hoạn, lụt lội. Nhà nước không xây dựng kiến thiết quốc gia, xây trường học, làm đường sá, hay làm những công trình kiến tạo khác. Mà, trên toàn lãnh thổ Việt Nam đâu đâu cũng có “trại Tù cải tạo” khổng lồ! Trại tù đã giết chết bao người trai trẻ, hủy hoại rất nhiều tiềm năng trí thức, xeo nạy nạo vét hết sĩ khí và dũng chí con người. Họ đã bị nhà nước xã hội chủ nghiã láo khoét tuyên bố:
    - Đi học tập "chỉ có" 14 ngày cho thông, rồi về.

    Nên đa số anh em quân nhân công cán chính Việt Nam Cộng Hoà chân thật cả tin; đã bị mắc lừa, bị lọt lưới. Họ đã xô nhau tới đường cùng, đã trở thành những người tù tội bị nhánh tình đoạ đày lưu vong trên chính quê hương. Mặc dù quê hương không bao giờ phản bội con người, chỉ có con người ngoảnh mặt quay lưng nơi chôn nhau cắt rún và phản bội lời hứa. Hàng hàng lớp lớp thanh niên trai tráng bị nhà nước đánh cắp không chỉ là gia sản, tài năng, trí dũng, sức khoẻ, thân phận… tình bạn, tình thân giữa đồng loại, ý niệm về không gian và thời gian từ sự bình thường tiềm ẩn trong những phi thường đã qua. Trơ tráo trắng trợn hơn là tù “cải tạo” bị ăn cắp tuổi xuân-thì và bị lột trần cả về tình yêu – (tình yêu nhìn qua nhiều lĩnh vực và lăng kính: tự tin, dung hòa, tha thứ v.v... trên mọi phương diện). Thế nhưng… quá khứ ngục tù canh cánh bên lòng trỗi dậy; hy vọng mong manh, tự do bị vùi dập, lãng quên, một sự thiếu tình thương và thông cảm từ “phía nội thù” nằm ngay trước mặt. Yêu thương và đồng cảm thì ở chân trời xa tít tắp. Để rồi hắt lại trong đời tù sự đố kỵ, lạnh lùng, câm nín vì chọn lầm chỗ, khi người tù sa cơ thất thế nằm gọn trên đe dưới búa – Hóa ra như chinh nhân chọn lầm một đất nước... mà cấp lãnh đạo ấy chỉ biết dẫm đạp lên mình đồng loại mà ác ôn côn đồ trả thù! Thì đấy:
    Có phải Đảng đã trả thù ác độc
    Dân miền Nam sau khi cướp miền Nam
    Nhãn "cải tạo", mác "khoan hồng, học tập"
    Thực chất giết người quỷ quyệt, dã man?
    (Ngô Minh Hằng)

    Gợi lại trong lòng mọi người bao hoài niệm bi hận về một giai đoạn lịch sử quá đau thương, nghiệt ngã của miền Nam Việt Nam khốn cùng, điêu linh khổ ải và bất hạnh: Họ bị lọt vào cái bẫy sập tinh vi, độc ác, kinh dị nhất thế giới. Hàng hàng lớp lớp thanh niên trai tráng trở thành tù “cải tạo”, vùi dập đời trai đầy dũng khí và tráng kiện như món hàng béo bở, đã ngã giá trong thương vụ quốc tế; qua những túm quà thăm nuôi eo xèo bé xíu đựng mắm muối, đường thẻ, tôm khô, cá khô, bánh thuốc lào, nửa ký đường cát trắng, trăm gram cà phê, v.v…

    Đôi khi sơ ý ngủ gục, vợ con tù cũng bị cướp sạch trơn. Ai vô phước đeo bông vàng, đều bị cướp giật đứt lìa tai, máu chảy ròng ròng. Thậm chí áo quần mặc trong người, nếu cướp coi “bộ đồ gió, bộ đồ vía” polyester mới xỏ vào lần thứ nhất, cũng bị trấn lột trắng trợn. Bạn tôi nói thế mà linh:
    - Tao đi thăm nuôi tù “cải tạo” chính trị, chứ có phải đi vào trại tù “cải tạo” coi ca nhạc, hay đi ăn tiệc tùng gì, mà tao xum xoe diện áo quần lành lặn, bảnh bao tươm tất. Hử? Khi trời tối canh ba, cướp ùa ra trấn lột hết, chỉ còn bộ đồ lót. Có may, thì cướp nó quăng cho bộ đồ rách cụt ngủn, vợ tù đi chân đất vào thăm chồng. Khi đó thì mi nghe nè:
    Ngày xưa ăn nói dễ nghe,
    Bây giờ cẳn nhẳn chua lè khó ưa.
    Ngày xưa thích được mây mưa,
    Bây giờ hạn hán hết ưa tù tì
    Ngày xưa thường sánh vai đi,
    Bây giờ chỉ thích năm ì ...xem phim...
    Ngày xưa nhớ nhau đi tìm,
    Bây giờ mặc kệ ...con chim mất dzồi.
    (*)
    ***

    Bà mẹ chồng và các con trai, tôi, đi tàu lửa chật như nêm, họ nhét bà nội, mẹ con, cháu; ngồi chung với bầy súc vật kêu la đinh tai nhức óc, hôi thối, áo quần bu trét đầy phân heo, phân chó. Gà, vịt kêu quang quác ngổn ngang nhảy lên đầu lên cổ chúng tôi. Khổ nhất là khi chúng tôi đáp tàu chuyến, tàu chợ, xe đò… để vô Xà Bang cách Bà Rịa 28Km về hướng Bắc Đông Bắc, xa Xã Cẩm Mỹ 6Km về hướng Nam. Xà Bang nằm cạnh Liên Tỉnh Lộ số 2, (từ Ngã ba Tân Phong, Quận Xuân Lộc, thuộc Tỉnh Long Khánh) thăm Luật.

    Về sau nầy Luật bị chuyển trại ở Long Giao, vô Z 30. Không có tiền, nên nhiều lần mẹ con bà cháu trụt xuống tàu lửa, hay xuống xe tại ngả ba Ông Đồn, Xuân Lộc, rồi đi bộ ngang qua trại “tù cải tạo” Z 30 C Gia Rai (chúng tôi phải đi ngang qua trại tù Z 30 C ở đồi Phượng Vỹ. Hồi xưa do Trung-đoàn 48, thuộc Sư-đoàn 18 Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ.) Muốn đi vào trại tù Z 30 A – hay Z 30 B - xa rất xa. Rất xa.

    Mưa ào ạt đổ xuống khu rừng rậm, thế nên thiên nhiên được kỳ cọ rửa sạch cây cối, và những láng trại tù, nóc nhà tôn, nhà lá... Rừng cây trở nên dịu dàng vì vừa qua trận mưa to tắm mát núi rừng. Mẹ con tôi vội vàng lẽo đẽo theo sau những chị vợ tù, mẹ con tù. Họ từng đi thăm nuôi chồng, cha, con, trên đường rừng đồi nương nầy có ngỏ tắt, thì sẽ đốt giai đoạn, sớm vào láng trại tù nhanh hơn, trước khi trời chuyển mưa, hay chóng sập tối. Chúng tôi và bốn con trai cố rảo bước, chỉ sợ chậm lại, thì sẽ bị lạc mất đường đi. Cỏ tranh cao lút đầu bọn trẻ đã cào xướt vô da những lằn dài đỏ tươm máu và rát bỏng. Cỏ may rậm cũng cao gần đến bụng con, bông cỏ xâu vô hai ống quần, chích vào chân chúng tôi ngứa ngáy, khó chịu dường bao. Ve chó, ve đất, châu chấu, cào cào, ruồi trâu và muỗi cứ bay ào lên từng đoạn, mỗi khi chúng tôi bước qua khu đường tắt trong rừng sâu.

    Trại tù Z 30 (là một trong muôn vàn trại tù mọc lên đông đen nhiều vô số, ấy là thành trì cốt cán chặt chẽ, độc ác, tróc khảo lột da con người kinh khủng), do đảng và nhà nước dựng lên, để cai trị tù “cải tạo”. Tù nhân bị dời đổi đi luôn luôn, xáo trộn lung tung tùng phèo lên như thế. Vì đảng, nhà nước, cán bộ rất sợ! Họ không muốn người tù ở lâu một nơi, cùng nhau ở một chỗ. Tù nhân sẽ dễ dàng kết thân với nhau, sẽ bí mật “tạo phản, phục hồi danh dự, và phục quốc, phục quê”. Chả phải trai tráng đi “học tập cải tạo” (Reeducation Camp) gì sớt! mà trăm ngàn tốp tù chuyên môn đi “lao động khổ sai là vinh quang”. Tốp nầy chặt cây, tốp kia lo đào ao, tốp khác phải đi gánh phân, múc nước đái tưới rau tươi đã gieo trồng. Trong lều bên góc trại có dựng lên một lò rèn thô sơ bằng tay, để tù nhân vào đó rèn rựa, rèn dao. Tù phải tự làm thợ rèn dao, rựa, cuốc, xẻng, cào; để đi cuốc đất, trồng ngô khoai đem cho đảng và cán bộ ăn. Tù vác xẻng đi đào mương khai cống rãnh. Tốp tù vào rừng lấy củi, chặt tre đốn cây làm nhà tù, làm thành nhà xong thì tự nhốt mình trong những láng trại xa xôi hẽo lánh: mùa nóng thì nóng lột da, mùa lạnh thì lạnh thấu xương.

    Nơi tiếp tân: trên bàn quản giáo có chiếc hộp để “Góp ý”. Thật ra đấy là nơi dùng để làm “cần câu” theo dõi, đấu tố nhau, điềm chỉ “cho chắc cú thấu triệt” hơn. Nhiều thủ tục đơn từ khai báo lỉnh kỉnh, lẩm cẩm, rườm rà. Cán bộ lấy cây que tăm xe đạp thọc vào, khám xét, moi móc tỷ mỷ những thỏi kem đánh răng, rất lâu. Nhưng, thành thật mà nói thì mẹ con tôi sợ tên quản giáo (mà chúng tôi rỉ tai nhau là bộ mặt “Lucifer”) coi ở phòng khách, sợ gấp trăm lần sợ anh chị nào mang bệnh cùi lở loét. Chỉ sơ suất một cái gì, thì kể như chúng tôi không được cho phép thăm viếng, chuyện trò với chồng, con, cha, gì sớt. Nhưng nói cho cùng, không phải cán bộ trông coi trại giam, là ai ai cũng "ác ôn côn đồ độc ác" cả đâu. Bằng chứng là chỉ có một cán bộ Nhượng đối đãi với tù có khá tôn trọng, từ-tâm hơn nhiều người cán bộ công an Cộng-sản khác.

    Chúng tôi bồn chồn nôn nóng lo âu chờ đợi vài giờ, nhón gót dáo dác nhìn quanh, mẹ con cứ đi ra lại đi vô. Trong hàng rào phân định làm thành mô hình chữ U, là bảy dãy nhà tù lợp tôn, lợp lá đối diện nhau. Phân đôi giữa những dãy tù là khoảng sân vừa đủ rộng. Đi xuống dãy nhà bếp và bốn dãy nhà tù biệt giam. Nơi đây tù nhân bị mang gông cùm lởm chởm, cornex thì ở tít sau mé cùng, các anh bị đọa đày khổ cực, khốn cùng đắng cay, đau khổ vô vọng hết biết. Bị tù không bao giờ biết ngày tuyên án. Chẳng biết lúc nào ra khỏi nơi qủy khóc thần sầu!

    Đoàn tù lần lượt nối gót nhau từng tốp mươi người ra nhà khách. Thân thể họ toát ra những giọt mồ hôi hột, chảy dài từ đầu đến ngực, ướt đẫm lưng áo bạc phơ sột soạt từng đám phong trần. Trong cơn bấn loạn, sợ hãi, và băn khoăn tột độ, chúng tôi dáo dác nhìn quanh, cố tìm khuôn mặt người thân. Tôi lặng người nhìn những khuôn mặt vàng bũng, nhận ra nét cằn cỗi, già nua, hốc hác, bơ phờ và ốm đói mỏi mệt cuả tù, từ những lằn nhăn bên khóe miệng người tù, trên đuôi mắt hằn lún những đường rãnh trên vầng rán cao cao sạm nắng gió khuya chiều, mà bỗng dưng mình bủn rủn. Nhà khách im phăng phắc nghe cán bộ đọc tên tù xong. Thế rồi, mọi nơi, mọi chỗ, mọi người đồng loạt rộ lên tiếng nói rộn ràng lao xao, ríu rít như bầy ong vỡ tổ. Người người bùi ngùi thân thiết mừng rỡ trong nghẹn ngào, nức nở xúc động bồi hồi chào mừng nhau, rưng rưng hỏi thăm, ủi an nhau, vỗ về nhau, tay quệt nước mắt trào lệ, miệng cố mỉm cười méo mó để che dấu nỗi chua cay xót xa, đầy đắng chát tủi nhục vô trong lòng.

    Tôi và Luật ở giữa hai vòng ngục tù quê hương. Chồng tôi ở vòng tù trong địa ngục, và đôi khi anh bị cùm trong vòng tù thứ ba là nơi chuyên giam nhốt ai có “trọng tội”, là bị xiềng xích hai tay hai chân, nơi cùm gông dành cho thứ dữ. Gia đình tôi (nói riêng và đa số gia đình bạn tù nói chung, cùng đồng bào ở vòng ngục tù bao la ngoài chấn song vô hình, khổng lồ đồ sộ... dù rộng bao la mà vô cùng kiên cố). Từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, lan ra tận Phú Quốc, Côn Sơn, đều giống nhau. Trước kia Luật đã ở các trại tù: Suối Máu - Ra Phú Quốc - Về trại Long Giao…vân vân… Sau đó chuyển tới trại Z 30 A. Rồi chuyển qua Z 30 B. Gia Rai – Xuân Lộc. Quả thực, hồi nhỏ ông chồng tôi, có tên cúng cơm rất là dễ sợ, do bố mẹ ảnh đã đặt cho ảnh cái tên: “Phạm Trọng Luật” thật. Nhưng khi lớn lên, Luật đi học đến lớp Nhất, thì bị thầy giáo vui tính gọi bố mẹ lên, thầy ôn tồn nói:
    - Tên gì cụ không đặt, lại đặt cho con cụ có cái tên kinh khủng đến thế. Nếu cậu ấy không có "tội", thì cũng vì "phạm trọng…" mà vô tù, nghiã là đi tù ây.

    Ông thầy giáo “làm phụ thầy bói" như thế mà linh! Nay ảnh đã bị “phạm trọng luật” (!!!, ???), đi tù gần 10 năm bị học tập "cải tạo" sao ta!? Có lần chồng tôi cười cười trêu đùa:

    - Thùy Mến ơi! Anh có muốn đổi tên thật phí, vẫn bị lừa như thường.
    - Mắc gì đổi tên mà bị… ai lừa nào!
    - Thì anh không đổi tên họ, mà vẫn phạm trọng luật, (!?) đi tù, thì xong béng đời trai là cùng chứ gì!

    Chúng tôi hết sức lo lắng về tình trạng bệnh sốt rét của Luật, nhất là đôi bàn tay anh đã lở loét, bàn chân anh làm độc dạo trước, (do bị cán bộ y tế trại kêu anh vào làm thí nghiệm, ông ta lấy con dao bầu cắt rau trong nhà bếp, cứa cứa vào chỗ đau, xịt máu mủ ra. Chẳng có sát trùng, sát triết gì. Không có thuốc tê, thuốc bại gì ráo. Luật đau đến ngất thì thôi). Mặc dù Luật đã ở tù mươi năm rồi, sau nầy mỗi tháng anh đều được giấy cho đi thăm nuôi, nhưng gia đình tôi quá nghèo. Một năm chúng tôi chỉ chia nhau đi thăm nuôi Luật vài lần. Có năm chúng tôi không đi nỗi.

    Cho đi thăm nuôi tù, thật ra nhà nước chẳng ưu ái khoan hồng, tử tế hay tốt lành gì. Cho phép người ở vòng tù ngoài đi thăm nuôi vòng tù trong, chẳng qua là đảng muốn tù ngoài gánh vác đỡ bớt gánh nặng nuôi miệng ăn tù trong. Mặc dù tù “cải tạo” ăn ngày non bữa, bỏm bẻm chỉ có một muỗng cơm lạt độn bo bo hoặc sắn khoai. Do số lượng tù quá sức đông, nếu chiết tính sơ sơ, đảng cũng nát óc điên đầu, nhà nước khó khăn, nan giải trong vấn đề gạo thóc mắm muối của đảng, thì cũng là chuyện không thể. Luật thấy rõ hai túm quà bé tí nị, mà gia đình mang vào cho anh, nhưng quý giá gấp mười lần cá, thịt: Đó là tất cả sức cần lao, đói khát, gian khổ, từ mẹ già răng long tóc bạc. Từ những bàn tay con gầy bé tí xíu. Từ người vợ mảnh mai. Họ đã nhịn đói, nhịn khát, ngỏ hầu góp nhặt từng xu, từng đồng, cố gắng dành dụm cúp nũm, để mang vào tù cho anh ăn tạm qua cơn đói rã ruột.

    Dĩ vãng vinh sang, anh: xe pháo rủng rỉnh, nhà cửa đình huỳnh sung túc an vui thình lình ồ ạt chảy về trong hiện tại đầy ứ, quá khứ phản bội khiến anh xốn xang chóng mặt đến hụt hơi. Vì, chuỗi lao tù cay cực kéo dài trước hàng chữ: “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Mỗi lần gặp mẹ ruột, vợ, con: mệt mỏi đến thăm, Luật chỉ ôm chúng tôi khóc ròng. Anh khóc, không vì cảnh “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Mà bởi anh rõ hơn ai hết, khi nhìn mẹ gầy trơ xương, nhìn vợ ốm yếu, nhìn đàn con nheo nhóc khẳng khiu, yếu xìu, xanh lướt kia đang rưng rưng giọt lệ mừng vui cuống quýt. Luật lặng người nhận ra nét già khú đế trên khuôn mặt mẹ xếp lớp lăn tăn. Anh đau đớn nhìn những hố mắt con thơ trũng sâu. Và, nơi khuôn mặt cô vợ hoa hậu diễm kiều mặt hoa da phấn năm nao, bàn tay búp măng nõn nà thuở xưa, nay “em tôi” có từng đường gân xanh nổi cồn bên thái dương, nơi bàn chân nứt nẻ, tróc lở, ở bàn tay sần sùi của “nàng”! Luật mủi lòng chẳng sợ ai cười chê, anh đã úp mặt vô hai bàn tay nứt nẻ mà khóc tướng lên, như trẻ thơ.
    ***

    Lui cui dọn dẹp mấy bọc ni lông đựng túm xôi đậu xanh, tôi nhồi thêm ít đậu phụng rang vào xôi, để lát nữa sau khi hết giờ thăm nuôi, Luật sẽ xách vô trại, (thay vì Luật và mẹ con tôi ngồi ở đây, vừa ăn vừa nói chuyện, sẽ mất thì giờ, mà không nói được chuyện gì), thì tôi sửng sốt chợt thấy một đoàn hai chiếc xe hơi, từ ngoài con đường đất đỏ từ từ lăn bánh vào, và dừng lại ngay bên ngoài cổng trại Z 30. Trên xe lố nhố kẻ đứng người ngồi, đa số là người mặc áo tang, tôi nghe họ khóc than thảm thiết lắm. Tên cán bộ trại liền ra lệnh cho những người đang thăm nuôi dồn lại ở một cái bàn dài trong góc cùng. Tôi còn ngơ ngác và lo lắng nhìn quanh, Luật thì thầm:
    - Anh Trung-úy Long, tù ở trại Z 30 B, hiện anh làm tại tổ than của trại tù. Anh Long được tin mẹ ở Khánh Hội đã chết. Dù có giấy báo tử, anh Long đã tức tốc xin phép trại trưởng, cho anh về nhà một ngày, để phục tang. Nhưng họ kiên quyết không cho. Nên hôm nay, thân nhân của anh Long đưa mẹ về quê an táng tại Phan Thiết. Trên đường đi về quê, xe tang ghé qua trước cổng trại, họ xin phép trại trưởng cho anh Long ra đứng bên trong cổng, ngay dưới hàng chữ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, để lạy chào mẹ lần cuối cùng.

    Bần thần chua xót và vô cùng cay đắng, khi tôi tận mắt chứng kiến cảnh anh Long xanh lướt, thân thể anh héo hon thất thểu ra cửa trại tù. Anh chập choạng ủ rủ như người mất trí, như người say, anh như thân cây sắp ngã. Anh Long lê từng bước thấp bước cao ra tới bàn quản giáo. Anh run run ký tên vào sổ thăm nuôi. Đôi mắt anh Long sưng chù vù, mọng đỏ. Lúc ấy người nhà mang vào cho anh Long bộ đồ tang trắng, họ quấng lên đầu anh mảnh khăn tang, anh buông thỏng hai tay, đứng bất động như trời trồng. Anh Long để mặc họ xỏ áo thả gấu xỏ quần trắng cho mình như cậu bé con. Hai người thân kè xốc anh Long ở hai bên cánh tay, dìu đưa anh bước thấp bước cao ra cỗ áo quan mẹ lạnh giá. Như cái xác không hồn. Anh Long run rẩy cầm ba cây nhang quỳ xuống mặt đường đất đỏ gồ ghề. Bỗng anh Long khóc rống tướng lên. Nghe thảm thiết lắm. Anh Long sì sụp lạy mẹ và bất thần rệu xuống. Chuyện nầy ai ai trong trại tù Z 30 cũng biết, có thật 100%.

    Bỗng dưng, từ thinh không rót vào tim tôi cảm giác rờn rợn, đau đau, phiền phiền uất ức, nghẹn ngào rất vớ vẩn. Tôi để tiếng lòng ngân trong chiều Thu vẫn hầm hập nóng rần. Dù gió heo may hái lá so đũa rụng đầy sân tù. Ôi! Vô vàn đau xót, chua cay và đắng chát nghẹn ngào, thương tâm dường bao! Những người đi thăm tù đang chứng kiến cảnh não nùng vĩnh biệt ly tan nầy, đều bưng mặt khóc. Nhìn mây trắng bồng bềnh trôi, như từng lọn bông gòn xôm xốp thao thức giữa hoàng hôn đượm buồn, tôi òa vỡ hàng nước mắt chảy ròng ròng xuống má. Cổng đập đã mở toang hoang, mọi nỗi niềm đau đớn được dịp tuôn trào. Tôi khóc cho quê hương lầm than. Khóc vì chồng đoạ đày khốn khổ trong ngục tù. Khóc vì anh Long xa lạ mà quá gần gũi vô vàn thân thiết. Khóc vì mọi nhánh tình lưu vong bi lụy, người tù đoạ đày trên chính quê hương Việt Nam dấu yêu. Khóc mẹ chồng già nua khổ sở. Khóc các con thơ ốm yếu cơ cực đói khát. Và khóc chính thân tôi tàn úa trước thời gian ủ rủ rục rả . Khóc ròng! Chuyện Mẹ Đến Thăm Con trong Tù “cải tạo” cuả Long đã có qua lời thơ của anh tù “cải tạo” Lê Xuân:
    Xưa mẹ đến thăm con giữa chốn lưu đày,
    Thời gian leo lét cháy trên tóc bạc như mây.
    Tình mẹ thiên thu. Nhưng đời mẹ chỉ còn tháng ngày.
    Mẹ thường đến thăn con như mưa xuống cỏ cây.
    Trưa hôm nay nắng nhiều hơn cả gió!
    Có chiếc xe tang phủ đầy bụi đỏ
    Trong chiếc quan tài, mẹ lại đến đây,
    Mẹ lại đến đây giữa chốn lưu đày
    Dù môi mẹ không còn hơi thở!
    Gió trong con nhiều hơn giông tố.
    Dù tim mẹ không còn nhịp thở.
    Đất lung lay, trời cũng xoay xoay.
    Mắt con lệ mờ, hay sương khói xa bay?
    *


    Chúng tôi phải sống thầm lặng, đói nghèo, cơ cực suốt mười tám năm tẻ nhạt, hèn mọn, dưới tận đáy xã hội, giữa sự lạnh lùng, độc ác, phân biệt đối xử đầy bất công. Một sự thiếu thông cảm, không đức độ, trả thù dân tộc trắng trợn chẳng xót thương. Chả vị tha và hoàn toàn không có sự đồng cảm, tương thân tương trợ trong lúc khốn cùng. Thạch sùng tróc lưỡi lỏ mắt nhìn gia đình tù dở sống dở chết, khi đất nước đổi đời. Số phận dân đen vùi dập trong bùn, sau ngày 30 tháng 4 mất nước. Đồng bào ngoài tù đói khổ lầm than. Luật ở tù trong một chế độ phi nhân, tàn bạo, dã man đáng nguyền rủa suốt kiếp. Suốt kiếp! Gây cuồng nộ triệu triệu con tim, làm kinh hoàng thế giới!

    Chao! Trời cao đất dày ơi! Xin Trời ở trên cao ngó xuống. Đất ở dưới ngóng lên. Hai bên giá vai có hai thánh linh biên chép, soi xét: Chứ, chúng tôi nào làm gì nên tội, sao phải gánh chịu cảnh đoạ đày, tù tội oan nghiệt, ô nhục đến thế nầy? Quá khứ chồng chất lên dĩ vãng quá đầy, quá nặng, quá đau. Tôi không thể tom góp ít chuyện đau buồn vào từng ấy nét phác họa sơ sơ, ghi vỏn vẹn trên năm bảy trang giấy, kể hầu quý vị nghe hết nỗi cùng cực, cay đắng, khiếp đảm xiết đỗi trên chính quê hương tôi. Dạ thưa! Không thể! Vã chăng, giờ nầy tôi ghi lại dòng “lịch sử đổi đời”, không mục đích để bôi nhọ làm xấu xí thêm trang giấy. Câu chuyện TÙ “cải tạo” rành rành ra đấy, cũng chả cần phải trách móc chế diễu ai. Tuyệt nhiên tôi không muốn lên án một cá nhân, hay chế độ nào. Tôi xấu hổ khóc thầm cho số phận hẩm hiu, thân khổ-qua con cò lò mò, con rùa cơ cực bẽ bàng quá đỗi đau xót. Thế thôi!
    ***

    Tình Hoài Hương
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-06-2017, 07:54 PM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment

    • Tinh Hoai Huong
      Senior Member
      • May 2009
      • 1081

      #77
      Côn Sơn (Côn Đảo POULO CONDOR)



      Côn Sơn (Côn Đảo POULO CONDOR)
      còn gọi: Long Range, hay Côn Lôn LORAN)



      Côn Sơn Loran (Côn Đảo còn có tên gọi là Côn Sơn Long Range, hay xưa kia có tên gọi nữa là: Poulo Condor) với đường chân trời vẫn giao hòa nhịp nhàng thắm thiết cùng biển cả mênh mông bao la. Bầu trời xanh xanh, xam xám, nhàn nhạt, mây trắng cuộn từng lọn bồng bềnh, lênh đênh bơi bơi trong không gian ngút ngàn vô tận. Nước xanh lam đậm và tươi ánh, long lanh lung linh như quyện lẫn hoà tan vào nhau, tạo thành đường viền chỉ bạc óng ánh tít đặm ngàn hải lý nơi chân trời xa mờ xa. Vào mỗi buổi bình minh hay hoàng hôn, mặt trời to to tròn tròn đỏ rực, nhúng lên nhúng xuống nhấp nhô đùa nghịch trong nước quanh Côn Sơn Loran. Mặt trời rạng rỡ vươn cao ánh bình minh, hay ánh tà dương chìm lặn vào chân trời đâu đó, đều quyến rũ tuyệt đẹp và da diết đượm buồm.

      Côn Sơn an tọa tại vùng Đông Nam Việt Nam, được Pháp thành lập vào giữa thế kỷ 19, do kinh tuyến gốc từ đài thiên văn Greenwich ở nước Anh. Điều 224 trong bộ luật thời vua Gia Long xưa đã ghi: “Côn Lôn ngộ xá bất nguyên” (bị dày ra côn đảo, có đại xá cũng không thể về). Xa xăm! Mịt mùng! Đơn điệu! Lẽ loi!

      Diện tích đảo Côn Sơn trên tọa độ 8o 40” 57” Bắc & 106o 36”26” Đông. Côn Sơn nằm giữa hai kinh tuyến- đi qua hai trục của trái đất, các điểm trên đó cùng một kinh độ: 106/o và 107/o36’ Đông với Sài Gòn; cùng một vĩ độ 8/o36’ Bắc với Cà Mau. Côn Sơn nằm ở cuối vĩ tuyến 9, trên mặt phẳng song song với xích đạo, nhìn ngang từ chóp Mũi Cà Mau ra hướng Biển Đông. Côn Sơn trực thuộc giám định từ khu Bà Rịa Vũng Tàu, trên đường bay 215km hay 116 hải lý. Tổng diện tích toàn diện khoảng 51, 52km2.

      Côn đảo là một cù lao khổng lồ hoang vu dầm mình trong đại dương xanh thẳm, lềnh bềnh nhấp nhô bao bọc bởi đại dương bao la, bát ngát sóng vỗ. Bờ biển sạch nước trong veo tuyệt đẹp. Hải âu soãi cánh ríu rít nô đùa, chao lượn trên những ngọn sóng bạc đầu. Gió lồng lộng luôn lao xao rì rào dưới hàng phi lao. Sóng cả xô bờ đập vào những mô đá gập ghềnh, hùng dũng chạy lui chạy tới, tạo thành nhạc biển hùng ca bất tận, triền miên. Xa thật xa, thỉnh thoảng có những cánh buồm trắng nhỏ li ti, nhấp nhô trên sóng nước biếc xanh. Những cánh buồm ít khi vào bến đậu nơi đây.

      Năm. Tháng. Ngày, giờ ngày cũng như đêm, sóng cuồn cuộn dập dồn, rì rào gió biển dìu dặt, lao xao, lồng lộng. Từ trên phi cơ nhìn xuống vĩ mô, thì dưới những vùng mây lướt mây, trông Côn Sơn giống như một con gấu khổng lồ, dường như nó hờn dỗi phụng phịu quay lưng “làm ngơ” nũng nịu nhìn về đất liền. Một phần “con gấu” đồ sộ ấy choài ra mé biển xanh ngắt, bề mặt “con gấu” ngâm mình trong nước loáng bạc, "nó" hướng ra biển Thái Bình Dương. Mũi trước của Côn Sơn mang tên Con Chim Chim. Mũi sau tên là Cá Mập.

      Côn Sơn có một phi đạo nho nhỏ duy nhất ở Đầm Trầu chạy dài 10km từ sân bay tới huyện đảo. Sân bay bình thường và đơn sơ không có đài kiểm soát không lưu. Chỉ có vài cột trụ dựng lên mấy cái “ống gió”, cho phi công dễ nhìn xí trước khi đáp, để hoa tiêu định được vị trí hướng gió mà thôi. Ô là là! Muốn di chuyển từ Côn Sơn đi về đất liền, thường thường người ta chỉ dùng phi cơ, ấy là phương tiện giao thông duy nhất nhanh chóng và an toàn tuyệt hảo lúc bấy giờ (1973).

      Một bên là hàng cây bàng già nua, một bên kia là biển cả mênh mông sóng gợn dập dồn. Làng Cỏ Ống là khu vực gần phi trường. “Con gấu Côn Sơn” cúi nhìn mấy cụm đảo nho nhỏ lân cận của nó là: Hòn Câu. Hòn Bảy Cạnh. Hòn Bông Lan. Hòn Tài Lớn Hòn Tài Nhỏ. Hòn Vung. Hòn Trứng. Hòn Trác. Hòn Tre Lớn. Hòn Tre Nhỏ. Hòn Bà. Hòn Anh, hòn Em. Cộng chung là có hơn 16 hòn đảo nhỏ tí xíu. "Hòn" thì như thế, mà "Bãi" cũng có chút độc đáo qua tên gọi: Bãi An Hải (hòn An Hải). Bãi Lò Vôi. Bãi Đất Dốc. Bãi Ông Đụng. Bãi Đầm Tre giống một cánh tay con gấu vươn chìa ra biển.

      Trạm khí tượng cạnh hồ Quang Trung. Phi Yến. Hàng Dương... Bên phía Tây của hòn đảo Côn Sơn là: Thị-trấn nhỏ bé trồng rất nhiều cây bàng xanh um rợp bóng mát, đơn điệu, hoang sơ, khiêm nhường với những hàng quán lẻ tẻ, có số ít cư dân sống đời đạm bạc, khép kín. Đi xa nữa sẽ lên những trại giam tù chính trị (là chuồng cọp). Trại biệt giam B2. Dãy nhà cuối cùng khá xa xa dành cho đám tù quân phạm… Những “ông” hạ-sĩ-quan, sĩ-quan, hay quân nhân bị phạt tù, từ 5 năm trở lên, thì ở đây… vân vân... Ai trong những nhóm tù phạm đó, có giỏi Anh-văn, sẽ được tuyển vào đài làm việc, họ sẽ được tự do đi lại trong khu doanh trại, ăn uống đầy đủ. Mỗi tháng họ cũng có ít tiền xài, và được mua sắm thoải mái trong canteen của Mỹ. Thật ra, tuy ở tù mà họ cũng còn “sung sướng” vô canteen ăn nhậu như ở “đường Sơn Quán” thoả thuê ha!

      Kế đến là hầm Xay Lúa. Cầu tàu 914. Cầu Ma Thiên Lãnh (nghe tên đã thấy rùng rợn bủn rủn cả người). Đến "thành phố buồn” mang danh nghĩa trang Hàng Dương. Đi mãi tận cuối cùng “lãnh địa sầu muộn” ta sẽ đến Sở Củi. Nơi nầy, các tù nhân khổ sai đi vào khu rừng bạt ngàn để đốn củi, chặt cây, đem về cho trại giam. Côn Sơn có một doanh trại kha khá gồm vài ba dãy nhà. Gần văn phòng có mấy căn nhà nhỏ, để cho Trưởng-đài, Phó-đài, chuyên viên Y-tế xử dụng. Một dãy nhà khác dành cho nhân viên Việt Nam.

      Từ ngoài cổng đi vào, có mấy con đường tráng nhựa. Dãy nhà đầu tiên, là nơi làm việc của đài Phát Sóng, gọi là Loran (Loran gọi tắt của chữ Long Range). Đây là một trong ba điểm tam giác - để quân đội Mỹ định vị toàn bộ vùng biển Đông: Ở ngoài Trung có Tân Mỹ Lo Ran (ở ngoài hòn đảo Tân Mỹ). Phía Nam là hòn đảo Côn Sơn Lo Ran. Và, bên phía Tây có Sattahip (ở trên đảo tại Thái Lan). Nơi đây có những cột antenna cao ngất trời cả trăm mét.

      Hôm trước cái bóng đèn ở Côn Sơn bị yếu xìu và “đứt bóng”, sau đó liền có một chiếc phi cơ chỉ chở duy nhất một cái bóng đèn, và tốp quân nhân đi kèm trên phi cơ để “hộ tống bóng đèn” từ trong đất liền vùn vụt bay ra Côn Đảo mà thôi. Bóng đèn rất mắc tiền ta không nói, nhưng mà… nhất là nó là "một vật chính" thật quan trọng cuả đài phát sóng. Nó bé xíu có tí ti, nhu mì duyên dáng mà cũng “le lói” kinh khủng chưa nào? Về vụ cái antenna nầy, có một lần bóng đèn trực trên đó bị cháy. Ông Trưởng đài vội vàng lên phòng báo tin với cả đoàn nhân viên:
      - Suốt ngày nay tôi sẽ bận leo lên cột antenna, để thay bóng cái đèn bị cháy, tôi lắp vào đấy cái bóng đèn mới. Hôm nay tôi bàn giao toàn bộ đài lại cho anh trông coi. Nếu có người liên lạc vô tuyến từ đất liền ra, anh cứ trả lời nhe.

      Nói xong ông Trưởng-đài mời Năm và Tom (thư ký tiếp liệu) và một anh phi công nữa, cùng đứng đó chăm chú nhìn (chứng kiến để ký nhận). Chính tay Mike mở cái hộp carton ra, có nhiều lớp giấy tốt bọc lại. Mike dè dặt và thận trọng từ từ mở đến mười phút mới xong những lớp giấy. Sau đó, Mike nhờ thư ký tiếp liệu làm biên bản, để mọi người hiện diện chứng kiến đồng ký tên vào, và ông trưởng đài đóng dấu lên tờ giấy, bỏ trong tủ lớn khoá lại.

      Rồi thì Mike thay bộ đồ phi công màu vàng. Mike mang găng tay, chân đi ủng cao, đầu đội mũ bảo hiểm, vai đeo theo cái túi haversack to nặng. Đó là những sợi dây an toàn. Cuộn dây nhợ lớn móc bên hông quần Mike. Mike tự bước và móc vào cột antenna, anh ta từ từ leo lên. Sau lưng Mike là một ba lô nhỏ, mang cả café, coke, và sandwich anh đã làm sẵn được bỏ trong ziploc. Anh làm việc trên top cột antenna rất lâu, mãi đến 17:30’ Mike vui vẻ huýt gió mới từ từ tụt xuống đất.
      * * *

      Gia đình Năm “lủng củng lình xình” chả mấy vui vẻ hạnh phúc tốt đẹp, càng rất đau buồn! Thời gian trước đây, Năm đã được giải ngũ. Ở nhà Năm quá chán bà vợ, bà là dân thiếu học và phổi bò, bà ưa gây đủ thứ chuyện ồn ào trên trời dưới quận. Phần chính do Năm chán nãn chuyện gia đình đến tột cùng. Phần cũng muốn đi xa nhà, Năm nghĩ: “Thà xa nhau, để mà gần nhau hơn. Chứ ở cận kề, ngày nào "ông xã với bà xệ" cũng có... tưng bừng sóng gió, đay nghiến, dằn vặt nhau, thì khổ tâm lắm. Nhất là khi các con còn bé tí, mà tụi nó vẫn biết lo sợ, biết buồn, biết khóc, biết bịt hai tai, mỗi lần cha mẹ chúng hung hăng "hùng hồn" cùng nhau ẩu đả to tiếng.

      Ngày ngày Năm thất thểu đi tìm một việc làm, tìm mãi… cuối cùng may mắn có được một việc ở công ty điện thoại hãng FEC của Mỹ. May mắn là Năm đã có người bạn làm trong FEC của Mỹ ân cần giúp cho Năm có dịp đọc qua tập tài liệu. Hôm thi trắc nghiệm Anh-văn, ban giám khảo đã hỏi Năm những chuyện hóc búa, ví dụ như Năm phải trả lời. Ví dụ như:
      - * Trận động đất kỷ lục gây thiệt mạng nhiều nhất từ trước tới nay xảy ra vào năm 1557 ở Trung Quốc. Nơi khu vực nơi người dân sống trong những hang động bằng đá. Núi đá ấy sụp đổ, giết chết khoảng 830.000 người. Một trận địa chấn kinh hoàng khác ở Đường Sơn, (Trung Quốc) năm 1976 khiến khoảng 250.000 người chết. Nơi có nhiều động đất và phun trào núi lửa nhất trên trái đất là quanh Thái Bình Dương, thường được gọi là Vành đai lửa Thái Bình Dương, gây ra các vụ chấn động và nung nóng trải dài từ Nhật Bản tới Alaska và Nam Mỹ.
      - * Đại dương lớn nhất trên trái đất là Thái Bình Dương, bao phủ một diện tích rộng 165 triệu km2, lớn hơn gấp hai lần Đại Tây Dương, có độ sâu trung bình là 3,9 km.
      - * Nơi duy nhất có sông băng chảy qua đường xích đạo là núi Cotopaxi ở Ecuador, có sông băng duy nhất vắt qua đường xích đạo. Dãy núi Mid-Atlantic nằm dưới biển gần như chia đôi toàn bộ Đại Tây Dương từ Bắc tới Nam. Iceland là nơi dãy núi ngầm này nhô lên khỏi mặt biển.
      - * Điểm tận cùng của nước Mỹ về phía Đông là đảo Amatignak, Alaska. Điểm xa nhất về phía Tây là Pochnoi Point ở Semisopochnoi, Alaska. Điểm xa nhất về phía Nam là mũi phía Nam của đảo Hawaii. Điểm xa nhất về phía Bắc là Point Barrow, Alaska.

      Năm đã nhớ, nên đã vượt qua giai đoạn thi khó khăn nhất, Năm được tuyển chọn, thì ra họ đã cố ý trắc nghiệm tâm lý, kiến thức và trí nhớ dẽo dai. Được làm việc, nhưng với điều kiện là Năm phải làm việc ở ngoài đảo Côn Sơn. Vui vẻ lên phi cơ bay ra Côn Sơn làm việc, Năm cảm thấy thật hào hứng thoải mái, tự do tung tăng về đủ mọi phương diện. Tuy nơi đây có hoang vu vắng lặng và da diết buồn thật.

      Ở Côn Sơn không bao lâu, nhưng Năm được nghe, và chứng kiến nhiều chuyện không thể tưởng tượng, thật thú vị. Nói ra chả ai tin nỗi. Vì họ không tận mắt nhìn. Năm và Tiến ở chung một căn phòng xây rộng lắm. Còn những chuyên viên nước khác như: Phi, Đại Hàn, Đài Loan, vân vân... thì ở chung một nhà khác. Mỗi nhà đều có phòng tắm nước nóng, nước lạnh. Phòng có máy lạnh, máy giặt, máy sấy, vân vân... Tức là tuy ở ngoài đảo nhưng đầy đủ tiện nghi như ở đất liền. Có điều là “tụi mình” không thèm giặt, cứ cho đám quân phạm gần đến lúc mãn hạn tù sẽ được phóng thích ít tiền, là xong hết.

      Còn một đám tù khác phục vụ trong nhà ăn. Có đám phục vụ làm vệ sinh trong phòng ngủ, trong toilet. Họ làm công việc lặt vặt trong doanh trạI để chờ ngày trở về nhà. Ôi! Tóm lại, họ gồm đủ mọi thành phần: Từ những “anh” sĩ-quan ngổ ngáo, từng bắn giết mấy người, đến những “em” binh nhì hung hăng ném lựu đạn cho chết cả sòng bài, để lấy tiền vung vít xài hoang. Cả thành phần đào ngũ, giết người vì giành gái, nóng giận đánh lộn với cấp trên, say rượu, vân vân...

      Tuy nhiên trong thành phần kể trên, có Trung-úy Kiệm Biệt-kích Dù đóng trên Pleiku, anh ta đã bị tù về tội: Lấy AR-15 thẳng thừng ria một loạt, chết hết ba ông Biệt-động-quân say rượu. Vì, mấy “ông tướng kia” trong cơn say túy lúy chỉ dám vui vẻ lố lăng “xàm-xỡ” với vợ của “ông thầy” (Đại úy chỉ huy trưởng của Kiệm mà thôi)!!! dù họ chưa chắm mút xí nào với và “ngài phu-nhân” ưa phô bộ ngực hở hang quá lố, chưng diện lòe loẹt và đỏm đáng cuả ông thầy. Chớ chẳng phải họ xàm xỡ với vợ của mình. Dù vậy Kiệm bỗng muốn dợt le nổi máu “yên hùng” tào lao chi địa lên cao độ như rứa mới ác! Kiệm bị ra tòa án binh lãnh 20 năm tù giam khổ sai. Cậu ta ân hận thì đã… ra Côn Đảo mà mến Năm.

      Hằng ngày, Năm làm việc sát cánh Mike, nên cũng rành về các thủ tục quản trị trong văn phòng. Công việc của Năm mỗi ngày ở Côn Sơn là: Kiểm soát và làm Time sheet cho sáu anh nhân viên bảo vệ. Họ đều là người Việt gốc Pakistan, Năm giúp Mike khi có việc cần. Hết giờ là Năm đi ăn uống, nghỉ ngơi, ngồi chơi rung đùi xơi cá tôm, cua, sò ốc biển mệt nghỉ. Cá, tôm, cua, sò ốc, mực nhiều vô số kể núp dưới những tảng san hô, những gầm hang núi ngầm chìa ra biển.

      Lần sau cùng, khi trở ra Côn Sơn, Năm bị chứng ói ra máu, nên Năm báo với Mike (trưởng cơ quan nầy). Ông Mike vội vàng gọi nguyên một chiếc phi cơ vận tải, loại C-47 dakota từ Sài Gòn bay ra Côn Sơn, để khẩn cấp chở Năm đi về đất liền. Người Mỹ thật qúy trọng nhân mạng, dù Năm chỉ là một nhân viên. Năm nằm trong bệnh viện Hoa Kỳ Trird Field Hospital, chụp X-Ray, và làm đầy đủ thủ tục y khoa cần thiết, chờ điều trị. Năm bị loét bao tử, có một vết to bằng đầu ngón tay, nên nằm đó điều trị hai tháng.

      Thời gian nằm bệnh viện, ngày ngày bà xã vào thăm đã đành. Còn có con bồ cũ tên Thu ghé thăm Năm. Có lần con nhỏ bồ đang tỷ tê nói chuyện hủ hỉ ôm hót, hôn hít, khóc lóc về cảnh gia đình nó cho Năm nghe… thì bà xã Năm lù lù xuất hiện, la lối mắng nhiếc um sùm, khiến con nhỏ xanh mặt lủi mất. Năm thì mắc cỡ đứng thộn ra chịu trận lôi đình.

      Khi Năm khoẻ lại rồi. Lẽ ra, thông thường thì Hãng FEC cho mình nghỉ việc. Nhưng nhờ Năm đã siêng năng làm việc; đồng thời được sự “gởi gắm” của Mike, ông ta chứng nhận Năm làm việc giỏi, ăm lại quen thân với một trưởng phòng người Việt Nam. Nên chàng được nghỉ phép và ăn lương hai tháng. Trở lại Hãng FEC, họ cho Năm vào làm tạm “gác cổng” ở văn phòng chính tại đường Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Tuần sau, họ đổi vào Năm làm “trợ lý” cho một người nữa, Năm lo đi lên đi xuống, ra vào phi trường Tân Sơn Nhứt.

      Gần cuối tháng 4-1975, Năm lấy xe Van của bà bồ già tên Tư Râu Rậm để đi làm một cái bản đồ, trong đó Năm ghi rõ tất cả địa chỉ, nơi mà nhân viên Mỹ đã và đang ở tại Sài Gòn và các Tỉnh phụ cận ở miền Nam Việt Nam. Thường thường người Mỹ ở tập trung, họ thuê bao nguyên một building nhỏ. Nếu ai có bồ bịch ở Việt nam, hay ai có vợ con đem qua Việt Nam, họ mới ở riêng và ở cách xa nhau. Khi hoàn thành xong công việc, và giao cho “xếp”, cũng là lúc Năm đã biết về chiến dịch “White Christmas” – Nghĩa đen là “Chiến dịch di-tản người Mỹ”.
      Năm vẫn ung dung và dửng dưng vì Năm chỉ thích sống tại Việt Nam!
      Ngày cuối cùng trước khi ra đi, ông “xếp” gọi Năm:
      - Tôi sẽ ra đi về Mỹ gấp đây. Bây giờ, cái công ty nầy là thuộc về anh.
      Năm chỉ cây dù cuả ông xếp lớn dựng ở cuối văn phòng, cười cười:
      - Tôi không có ý định đó. Nếu ông cho… tôi chỉ xin ông “cây dù đen” kia, để làm kỷ niệm…
      Năm giống như:
      “Thằng Bờm có cái quạt mo.
      Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
      Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu…
      Phú ông xin đổi một xâu cá mè
      Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
      Phú ông xin đồi một bè gỗ lim
      Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
      Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
      Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
      Phú ông xin đổi… nắm xôi. Bờm cười” Ha ha ha
      !

      _ * _

      Tình Hoài Hương
      Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-06-2017, 11:01 PM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment

      • Tinh Hoai Huong
        Senior Member
        • May 2009
        • 1081

        #78
        Tình Lính BỘ BINH…




        Tình Lính BỘ BINH…
        Thân mến gửi tặng quý quân nhân QLVNCH


        Nơi phố nhỏ gần khu chợ xép ở Nghiã Hành, Hoài chán ngán ngồi trong cabin xe GMC, bâng quơ dõi mắt nhìn theo đàn bươm bướm vàng do dự trước giàn hoa thiên lý xanh xanh. Lòng Hoài buồn vời vợi. Hoài nghĩ về đôi bạn: Thu Hoa & Quang-Văn. Anh Văn là thần tượng của Thu Hoa. Hoa thường nói với đám bạn gái:

        - Đừng nghĩ tưởng Văn là một hạ sĩ quan, chắc là anh học hành chưa tới đâu, mà coi thường anh ấy nha. Là lầm đấy. Lắm người do hoàn cảnh riêng nên chẳng muốn phô chức tước điạ vị như ai. Ấy mà họ có đức tính tốt, khép mình trầm lặng, kiến thức chính xác, hiểu biết, lịch lãm, tế nhị. Anh ấy chưa chắc đã thua ai, hổng thua triết gia nào. Cho nên, bạn đừng ỉ ta có chút kiến thức, mà kiêu căng, coi trời bằng vung. Tâm tư bạn lại nhỏ nhen, hẹp hòi, cư xử hèn hạ, ích kỷ, chẳng giống ai. Đừng vì mảnh bằng, sự sang hèn bên ngoài, lại vơ đũa cả nắm, để khinh miệt người khác. Hỉ!

        À, Hoa nói có xí có lý! Hoài nhìn Văn mang cặp kính sáng trong, (kỳ thật anh bị cận, chứ không phải anh mang kính để “dợt le” hù loè ai hết) nàng coi anh tăng thêm phần trí thức đạo mạo. Văn có khuôn mặt chữ điền, cằm đôi, ngực nở vai vuông, tráng kiện, mũi cao, miệng rộng. Anh đi chữ bát, cầm đũa tay trái, đánh đàn tay trái, Văn hiểu cũng khiến nhiều người ngồi bên cạnh có chút cấn cái, vướng vít khó chịu đôi chút.

        Văn và Hoa tâm đầu ý hợp nhiều mặt, họ hứa hẹn yêu thương bền lâu. Hoa thông cảm lính nằm gai nếm mật khổ sở trăm bề; có đâu ra thì giờ nhàn rỗi mà quần là áo ủi thẳng nếp, ngỏ hầu diễu lông nhông qua thành phố. Lính xấc bấc xang bang ngoài chiến trường đỏ lửa. Lính bứt rứt, ngỡ ngàng, ngơ ngác nhìn thành phố tráng lệ, ngó bọn trẻ choai choai, dé dé, xíu xíu lao mình thâu đêm ăn chơi xã láng.

        Hai bạn trẻ trong thời chinh chiến nầy thì khác hẳn, họ thông cảm thấu hiểu nhau, muốn xây dựng tình yêu trên nền tảng hôn nhân, gia đình ràng buộc. Họ quen nhau từ lá thư “Em hậu phương”, thân gửi ra ngoài biên ải cho anh lính sơn khê nơi tiền đồn biên phòng ngàn dặm heo hút. Giấy mực học trò thuở đó lao xao hình ảnh cô em lớp Đệ Nhị hiền hiền, cúi đầu mơ mơ, tô tô vẽ vẽ chân dung anh lính miền Nam Cộng Hoà Việt Nam vui tính, hiền hoà, thanh lịch và tài hoa trên từng nét chữ con con. Sao mà dễ thương lạ!

        Văn gật gù ca: Từ khi anh thôi học, là từ khi anh thích aó treillis. Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây. Ngại chăng đêm di hành, và thường khi dừng bước giữa hoang vu. Một thằng ước ao để một thằng khát khao. Còn mình thì nằm đếm sao. Đồn anh bên sông cạn, và hoàng hôn ưa tắm đáy sông thơ. Nhiều tên trong đơn vị gọi đùa anh chiến sĩ của mộng mơ . . . Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em. Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình. Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngaỵ. Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.

        Văn ưu tư nhìn vào đáy ca nhôm trống không, lòng cảm thấy ngổn ngang trăm mối cô đơn lạ lùng. Văn ngồi đăm chiêu suốt buổi trên đồi vắng, anh lấy chiếc ba lô sờn cũ kê làm bàn viết, tần ngần giây lát, Văn hồi âm thư cho Hoa: - Em bé ơi! Xin tạ lỗi cùng em qua những hình ảnh em tô son thiếp vàng trên đỉnh yêu thương riêng cho lính kiểng, lính kèn, lính “văn nghệ tù-và”.

        Thực chất thì anh và các anh lính biên phòng ở góc trường sơn ngàn dặm ngút ngàn xa xôi... cách trở vô vàn ở đây: thật cay đắng, nhọc nhằn, tan nát trăm bề: từ thể xác đến tâm hồn, đó em! Tình cảm vời vợi. Đời sống cộng khổ, bẽ bàng rơi rớt từng khúc, từng khúc một… trên suốt con đò dọc hai bờ quê hương binh biến rồi. Còn gì nữa đâu em! Còn gì nữa em ui mà ngập ngừng, vụng dại run run, thắm thiết trao lời tự tình, hoặc ung dung ngồi trong phòng lạnh, để nắn nót lá thư hò hẹn trăng sao với đời. Buồn tủi, hờn đau biết bao nhiêu. Em bé ha. Em hãy nghe anh tâm sự với em nè.


        Thế là thư bay đi thân ái, thư bay về hân hoan mỗi lần “hai anh em” trao gửi. Văn vui vẻ mở lòng tan hoang ra đón cô em nhỏ đầy tin yêu, chân thực và trìu mến lạ thường. Thu Hoa dám thực hiện ước mộng: Từ thành phố Đà Nẵng, một mình nàng lên xe đò lắc lư đi ra vùng Quảng Ngãi; rồi từ thành phố xa lạ đó, lần đầu tiên Hoa dám cả gan, bạo phổi, gò lưng đạp xe đạp lọc cọc, cà rịch cà tang lần mò lặn lội từng chặng đường xa rất xa, Hoa tìm kiếm mọi cách để thăm hỏi cư dân về mấy quảng đường lộ mà đi đến Nghĩa Hành, để thăm Văn. Hoa điệu nghệ đèo sau porte bagage quà thổ sản đặc trưng lủng lẳng: Nào là gà luộc. Cá trê nướng lá gừng ngon bá cháy. Đường phổi, đường mía, đường phèn. Ít cà phê. Vài kí cá khô, một kí tôm khô, hai kí mực khô. Hai lố thuốc Basto xanh. Một áo len màu rêu. Vài chiếc khăn mouchoir tự thêu thoang thoảng mùi nước hoa dìu dịu.

        Lần đầu tiên vừa gặp anh, Thu Hoa lúng túng đỏ au hai gò má, nàng ngượng ngùng cúi mặt lí nhí trong họng e ấp chào hỏi Văn. Thu Hoa e dè, bẽn lẽn, khép nép đi thụt lui sau lưng anh, khiến Văn phảI dừng lạI tủm tỉm cười. Cô buồn buồn báo tin: “Em vừa thi hỏng Tú Tài I”. Thu Hoa càng không quên báo thêm một tin giựt gân:
        - Em đã đăng vào lính, để có dịp gần anh.

        Văn đứng im sững sờ, cảm động đến nghèn nghẹn, ngây người, nghẽn ứ hơi thở, anh nhìn Thu Hoa như trời trồng. Anh cảm thấy đầu choáng váng như nghẽn đường máu, nghẹt thở, run run, hai bờ môi Văn khô đét bỗng dị hợm dính lại với nhau, không có giọt nước miếng. Anh lính dày dạn phong trần gan lì nơi chiến điạ mà lại... “nhát gái” quá cỡ. Văn chỉ sợ “em tôi” nhìn thấy hai bờ môi mình khô rốc khô rang, thì… nàng sẽ nghĩ mình chẳng còn “tinh-hoa đàn ông” gì, là mình buồn cả trăm phút! Văn cứ ấp a ấp úng, lúng ta lúng túng và vui mừng, cuống quít bốc trào niềm vui lên tim, muốn bể óc, bể phổi. Không ngờ “em tôi” chí tình, nhân hậu, và sao mà “nốp bần”, xinh xắn dễ thương quá đi mất như thế không biết! Văn ngẩn ngơ chưa hết hoàn hồn, mà trìu mến dán chặt bốn con mắt (hai mắt thật và hai mắt kính), để “xung-xướng” lom lom nhìn Hoa cho rõ...
        Cuối cùng Văn tằng hắng:
        - Sdney Smith viết: Áo quần che phủ cái xác phàm và tô điểm cho nó, nhưng lời văn là phương tiện của tinh thần, thì cũng như… có hề gì chuyện em thi hỏng, hoặc trở thành cô tú tài, hở em! Em mạnh giỏi, là anh vui mừng lắm. Nhất là vô cùng hân hạnh khi anh được gặp em nơi chốn núi rừng hoang dã nầy.

        Văn ngây ngất, hiu hiu, ngây ngây, dại dại, ngố ngố ngáo ngáo với hạnh phúc bất ngờ ập xuống chiếc đầu lơ thơ tóc không nón sắt. Hình như ông Trời ưu ái đã rót từ thinh không xuống cho Văn: đời lính trơn cơ cực có một giấc chiêm bao diễm ảo thiên đường lồng lộng, thênh thang. Thật vu vơ mà thoải mái quá chừng chừng, khiến Văn chẳng kịp hoàn hồn thiệt!!! Văn cúi đầu cong cong lưng áo lính bạc phếch phong sương, để đẫy chiếc xe đạp cuả Hoa lên dốc đồi thưa. Văn lúng túng dựng xe bên vách nhà tiền chế. Anh loay hoay xách mấy món quà lỉnh kỉnh vào doanh trại, lòng vui vui, mừng mừng, dậy hân hoan trên đôi má Văn rám nắng. Hai tay bận rộn với những món quà, nhưng kỳ thật lòng anh muốn nắm tay hoặc ôm siết eo ếch cuả nàng. Chỉ có cơ hội thuận tiện nầy mới có thể có cơ may chúng mình tự nhiên “ra mắt” và nhanh chóng “thành thân”.

        Tuy suy nghĩ thế, nhưng còn tay đâu mà “quờ-quạng”. Miệng anh cười toe toét khi thấy lính bạn cùng đơn vị chồm lên khỏi nóc chòi canh, và các bạn anh đứng xớ rớ đó đây trong sân, họ nhìn anh đá lông nheo kịch kịch, búng tay, tróc lưỡi, kêu nhỏ è è è... í í í... iu iu iu… Họ cho hai ngón tay trỏ và ngón tay giữa vào miệng thổi to: xíp xì… xíp xì... Họ huýt gió, xuýt xoa tán thưởng, trầm trò khen “hai đứa mình” xứng đôi. Họ tha hồ chọc ghẹo chúng ta tơi bời hoa lá. Khi ảnh đã "cu, gù, câu, móc" được cô gái xinh đẹp ở thành phố hoa màu, nàng lặn lội mò mẫm lên tận đỉnh đồi thần sầu tróc lỡ vết đạn bom, dưới vừng mây trắng trời xanh, cỏ vàng héo uá do chiến tranh cào quét ở chốn nầy. Gai mít khô đang đâm vào hông, đâm vào lòng bàn tay rám nắng cuả Văn đã kẹp cứng trái mít dừa. Ấy vậy mà Văn không biết đau, hàng quà không nặng, lòng không phiền. Trái lại Văn cảm thấy thêm sảng khoái, vui cười với hạnh phúc vỡ oà, chất ngất cơn vui. Lòng anh chao đảo lâng lâng bồng bềnh và hẫng bay vút lên chín tầng mây, mà mơ mơ, vui vui, say say... nồng độ dấu ái hoan ca ngút ngàn. Dường như họ đã trao nhau lời yêu thương dìu dặt:
        Nhắn anh trên tần số cũ
        Ôi! Cảm động thay vần vũ mây bay.
        Tình nho nhỏ bến sông này.
        Cội đào vẫn đợi sum vầy dáng thu.

        Quyết thề từ nẻo hoang vu.
        Bao ngày mưa nắng mặc dù ngấn sương.
        Sóng đùa trên bãi thùy dương.
        Vầng trăng chứng giám đôi phương một lòng…

        Anh đi nặng nợ tang bồng.
        Em về mái lá phòng không đợi chờ.
        Mai kia dẫu có bơ vơ...
        Em nhờ gió thổi lời thơ mấy giòng.

        Anh đi, tựa cửa em trông.
        Ngày về ngấn lệ lưng tròng yêu thương.
        Tình xưa nắng ngả bên tường.
        Đuốc hoa tỏa rạng yêu đương ngát thề.
        (Tình Hoài Hương)
        *

        Nhân tiện có quà hậu-phương do Thu Hoa mang lên hậu hỉ, Văn mời các bạn đi biển Sa Huỳnh du-hí với mình. Cũng là dịp để Văn tiễn đưa Hoa trở về Đà Nẵng. Thế là… vui đùa với sóng nước chán, các bạn lên bờ. Họ đến xe Jeep ôm mấy bọc đựng thức ăn, nước uống, rồi lững thững về chỗ Hoa Văn đang ngồi. Góc trời đang yên tĩnh, bỗng huyên náo tiếng nói cười, ầm ĩ xôn xao hẳn lên.
        Đan đưa Hoài ổ bánh mì thịt nguội, chàng cười thân ái:
        - Hôm nay, em phải ăn gấp đôi mọi ngày. Nhe.
        Đôi mắt sắt hơn dao cau, Nữ liếc nhìn Đan cười gằn. Rồi lỏ mắt nhìn Hoài, Nữ nói:
        - Bỗng dưng, anh Đan đặc biệt ưu đãi Hoài vậy? Còn em thì sao? Anh Đan làm em đau tim muốn chết. Anh thiên vị à nha.
        - Hoa láu táu, cười:
        - Ảnh ga lăng ghê à ta.
        - Không công bằng.
        - Ô! Các cô hay nhỉ! Có gì mà thắc mắc nào! Hoài nhớ anh Đan quá, hôm nọ phải ngất xỉu, xe cấp cứu chở Hoài vô bệnh viện đó. Bây giờ, "ảnh cho ẻm" ăn hồi sức mờ. Đừng chúi mũi dùi vào, họ mắc cỡ tội nghiệp nghe.
        Tâm huýt gió huytt... huyttt..., xíp xì..., xíp xì:
        - Hãy nhìn Văn và Hoa kìa! Coi họ ăn uống, có khiếp không?
        - Việc gì đến anh! Tôi sẽ thèo lẽo méc bà xã Tâm cho anh coi.

        Tâm và Văn là cặp bài trùng, mặc dù so về dáng vóc, tính tình hai người rất đổi khác nhau. Anh đi lính Nhảy Dù chê anh Bộ Binh lè phè lùn xủn, yếu xiều. Ngược lại anh Bộ Binh chê anh Nhảy Dù thân hình cao lênh khênh, ốm tong ốm teo, lại có vẻ lù đù. Đã đeo đá vào người cho nặng ký, thế nhưng dù thả trên trời bay lơ lửng, gió thổi mấy giờ, dù mới rơi xuống đất. Ha Ha Ha!!! Ấy thế mà… tình bạn đầm ấm, thắm thiết, vui vẻ đùa giỡn qúy mến nhau, thực sự cần đến nhau, thấu hiểu mọi giá trị cao qúy, luôn sẵn lòng vị tha, bác ái, không chút tị hiềm. Họ quan niệm về tình bạn thật cao vời qúy giá. Vì, nếu bà con thân nhân ruột thịt có mất lòng, giận hờn, thì vẫn cứ còn là bà con. Tình bạn khi đã mất đi, thật dễ mất lòng, dễ giận nhau, dễ xa nhau, vĩnh viễn chia lìa không bao giờ tìm lại được! Có khi trở thành thù địch không chừng.

        Tâm nằm trên đồi cát khô, anh vắt tay lên trán trầm ngâm, bỗng nhỏm dậy, anh nói:
        - Nè Đan, đi biển thế nầy, tôi nhớ ngày xưa ta đi biển với bồ. Anh còn nhớ cô bé có tên cúng cơm là Lé, mà cô ta tự đặt là Lệ Lan, ở trong Thành Nội không hỉ?
        Nữ chạnh lòng, chợt nghĩ đến tên mình, cô lại hờn giận cha mẹ sao đâu. Mình đã dấu "cái tên qủy xứ" như mèo dấu cứt. Nhưng không biết mấy cha nội nầy có moi ra được không đây? Biết đâu! Tâm là “điệp viên không không Tám” mà! Nữ trợt mắt, hờn dỗi ngắt lời Tâm:
        - Anh Đan ngồi bên em, mà anh Tâm nhắc tới người xưa. Nghe kỳ quá! Em không chịu đâu.
        - Anh xin nói em không có người yêu ở đây. Và các anh có quyền nhớ chứ?
        - Anh thật lầm. Em có người yêu ở đây rồi, anh à.
        Tâm quay hẳn người lại, nhìn Nữ, cười ha hả:
        - Lạy trời, không phải là tôi.
        - Ai yêu anh, cứ tưởng bở. Em yêu anh Đan thôi!
        Tâm nhún nhẹ đôi vai, nhìn Đan tủm tỉm cười. Đan nói:
        - Cảm ơn em. Đừng đùa dai hại tim! Anh không dám nhận đâu.
        Quay qua Tâm, Đan vui vẻ trả lời:
        - Nhớ... Sao bạn?
        - Á...à à! Tôi nhớ khoảng ấy mình mới trạc tuổi mười lăm, đã học sơ sơ về cách làm văn, thơ. Dạo ấy tôi có phần ba trợn, vì còn con nít mà ranh qúa đi, nên bị ba bắt qùy bên góc phòng. Tôi sụt sịt khóc, thỉnh thoảng quệt nước mắt nước mũi vào tay áo. Hai tay xoa xoa mông đít, nơi có mấy lằn roi nổi lên ran rát, thì ba viên bi kêu lạo xạo trong túi quần. Tôi ấm ức khóc khản cổ, nên mỗi lần cất giọng, tiếng nói của tôi khàn khan, y như con vịt xiêm la đực. Mấy thằng bạn cùng lớp láu cá cứ lêu lêu chọc quê tôi “đã lên cơn sung-sức” nhỏ ranh mà biết yêu sớm hoài. Thật bực mình quê xệ hết chỗ nói.

        Con chó Liu Liu chạy lại sủa gâu gâu xoắn xuýt bên tôi, nó liếm vào mặt mỗi khi tôi bị qùy. Nó chồm lên người, khiến tôi té ngữa ra nền gạch. Giận cá chém thớt, tôi đứng dậy đá cho nó mấy cái vào ba sườn. Chó kêu ẵng ẵng, cụp đuôi chui xuống bộ ván gụ. Nó nằm thò đầu nhìn ra, lâu lâu chó liếc tôi hừ hừ, rên ư ử trong họng. Đôi má tôi đỏ bừng vì giận, nhưng giận vì lẽ gì? Giận vì bị quỳ gối hay bị chó chồm, đập đầu tôi xuống nền nhà đau điếng. Nó lại nằm đó mà hừ hừ dưới gầm ván, nhìn ra trêu tức mình? Tôi qùy chỗ cũ, hai bàn tay gầy xòe ra cào cào vuốt vuốt, xới xới mái tóc hoe nắng, cho có vẻ mình là nghệ sỹ, thanh niên dày dạn phong trần, phiêu lãng phóng khoáng lên một tí. Nhìn mái tóc in bóng trên tường, tôi khoái tỉ hài lòng hãnh diện cười cười... Quên là ba phạt quỳ về tội trốn học, đi theo sau lưng nàng, tấp tễnh làm thơ con cóc. Tôi đã… “nổi hứng” liền chạy đến bàn viết lấy giấy mực ra, ghi lại bài thơ đầu đời:
        Ra ngỏ anh vừa trông thấy bóng nàng,
        Nụ cười kiều diễm nhất làng Mai Trang.
        Anh vẫn mê vóc dáng em làm ruộng
        Đời anh tay trắng mộng ước lẫn lộn.

        Nhưng nhớ nhung từ đôi mắt thu bồn
        Anh đi về tư lự bén gót son.
        Tâm tưởng rạng rỡ hồng nhung xinh đoá.
        Đợi lớn rồi anh ra: dạ thưa mạ...


        Các bạn gật gật đầu, xuýt xoa tán thưởng khen “thằng nhỏ xí” mà biết làm thơ tình, cũng hay hay. Tâm khoái chí kể tiếp:
        - Ôi! Sao lúc ấy hồn thơ lai láng, súc tích, đậm đà, ý nhị đến thế không biết! Bạn không biết là tôi xuất sắc nhất trường sao! Có bị mấy lằn roi mây đau điếng thì... cũng đành. Té ra mình xuất khẩu là trở thành thi sĩ ha! Tôi kiêu ngạo kiêu kỳ và vui như điên, nằm bò ra trên nền gạch mà cười nắc nẻ. Chống cằm mơ mộng, tôi suy nghĩ đoạn kế tiếp. Đến đây… văn thơ tắt nghẽn như pháo tịt ngòi. Dù tôi bóp trán cố nặn óc thế nào, nàng thi sĩ vẫn ù lì, không chịu ra lời, cho mình xuất khẩu thành thơ tiếp. "Nàng Thơ" cứ nín khe trong hồn thơ đầy hứng khởi.
        Nghỉ chốc lát, anh tiếp:
        - Bỗng ba tôi đi ngang qua. Thấy ba, tôi giật mình, thế là cụt hứng ngay, tôi vội qùy lên quơ tờ giấy đút vào túi quần. Ba nhìn tôi mỉm cười, gật gù. Có lẽ ba tôi nghĩ: "Phạt qùy gối mà nó không đến nỗi tệ. Biết hối hận, đem sách vở ra học bài, làm bài". Nên ba tha cho tôi. Trở về chuyện cũ, tôi yêu nàng chân thật, có lần nhờ câu thơ của thi sĩ nào đã quên tên, tôi tán tỉnh nàng:
        "Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò.
        Em đi cảnh vắng hẹn, hò cùng ai".

        - Rồi sao nữa? Kể tiếp cho Hoa và anh em nghe đi.
        - Có lần, tôi đứng một bên đường, nhón gót chân nhìn vào nhà nàng, cuồng quay bất khả địch, mặc gió táp mưa sa. Có những đêm tôi đạp xe chạy khắp các ngả đường, rình xem em có đi với chàng nào không? Tôi đứng ngóng cổ nhìn ngược ngó xuôi, tôi bối rối bẽ mười ngón tay riết, chẳng còn ngón nào kêu răn rắc. Tôi lại vặn cườm tay, lắt cổ tay như bứt... lá lìa cành. Thời gian sau, tôi hết là thi sĩ nửa mùa, khi nghe nàng sẽ đi xa, tôi đành chép câu thơ của Tú Xương, kèm trong quyển tập vờ mượn của nàng để học thi.
        Ta nhớ người xa cách núi sông.
        Người xa, xa có nhớ ta không?
        Sao đương vui vẻ, ra buồn bã.
        Vừa mới quen nhau, đã lạnh lùng!
        Khi nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng,
        Khi riêng, riêng cả tấm tình chung.
        Tương tư lọ phải là trai gái.
        Một ngọn đèn xanh, trống điểm thùng.


        Nhìn xuống nhíu mày, đôi mắt Tâm chơm chớp u buồn trong thoáng chốc. Hoài thấy dường như anh có điều gì xáo trộn, xa vắng, âu sầu trong lòng thì phải. Tâm tủm tỉm cười:
        - Bây giờ thì giữa em và tôi có sông núi, biển hồ dặm trường cách biệt, chia xa nhau như con nòng nọc rụng rơi bỏ mất đuôi lúc nào, chả rõ. Tình cũng tàn, mà chân cũng xiêu. Ừ. Tình chân thật chứ không phải là chân giả như chân ông bộ hành, (mà Trọng đã cán lên dạo nào) à nha.
        - Bi giờ ẻm đi lấy chồng, thì chân giả rồi. Chân giả mà vẫn bị xe anh Trọng cán cho nát béc ra. Chỉ còn em... yêu anh Đan thật trung thành thôi.
        Bảy thản nhiên nhìn Nữ nói:
        - Em tôi ơi! Anh Đan đã có ý trung nhân rồi em!

        Các bạn lầm tưởng Nữ bông đùa, nên cười vang. Họ vô tư lự như đàn chim biển đậu trên ghềnh đá riả lông rỉa cánh, dưới chớp nguồn rực lên từ góc trời xa. Không ai để ý đến Nữ mặt mày tái nhợt, tay chân run rẩy, trái tim Nữ đập thình thịch trong lồng ngực quắt quay.

        Hoa nhìn ánh hoàng hôn ửng hồng sắc mây vàng tía, vần vũ ở phương đông. Các đài mây trắng, vàng, hồng, bay rất nhanh, từ đâu ùn ùn kéo nhau về trên biển cả dần dần đổi màu. Chiều tàn trong ráng hoàng hôn mờ đục, như giấc mộng vàng bên dãy thùy dương đã trở thành màu tro, màu nâu tiá ngà và màu ven đêm ấm áp. Trăng bắt đầu mọc lú lên, ngăn đôi đường biển và đường chân trời bằng một vầng sáng quang rạng, lung linh huyền ảo, tuyệt vời. Trời đậm tối theo từng đợt sóng nhấp nhô. Đã mất hết mầu hoàng hôn lãng mạn dịu vợi ven biển, màu xanh thẫm giao hoà giữa biển và trời cao vút. Màu xanh đại dương mênh mông, chen lẫn màu xanh cỏ của rừng núi bạt ngàn ngun ngút lồng lộng ở phiá Tây.
        _ * _


        Tình Hoài Hương
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-06-2017, 11:22 PM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment

        • Tinh Hoai Huong
          Senior Member
          • May 2009
          • 1081

          #79
          Từ SÀI GÒN tới RẠCH GIÁ




          Từ SÀI GÒN tới RẠCH GIÁ


          Sài Gòn chóa mắt vì đèn điện thắp sáng rực thâu đêm. Tiết trời quang rạng, gió hiu hiu nhè nhẹ phe phẩy mơn man trên đầu cây ngọn cỏ, không gian se lạnh khi màn sương nhợt nhòa buông lơi. Rồi bình minh ló dạng sau những toà cao ốc tráng lệ, oai sang đứng sừng sững trên các thổ cư: vẫn rạng danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông”.

          Bốn giờ khuya chị Ngọc và tôi dậy sớm, tôi nấu nước sôi chờ nguội, để đổ vô bốn chai ni lông to. Tôi nấu ba lít gạo, rang đậu phụng làm muối mè. Chị Ngọc nấu canh mì gói trộn chung với rau muống, và chiên khô cá. Cơm chín, hai chị em lấy khăn ướt mỏng để nhồi cơm nóng thành từng nắm cơm vắt, xắt lát vừa vừa, tôi bỏ cơm vô hộp ni lông mang theo cho mọi người ăn ở dọc đường. Tôi gọi bọn trẻ dậy sớm, cho con cháu ăn chút canh mì gói. Các con cháu còn ngái ngủ, nên ăn rất uể oải. Có lẽ do hôm qua đi bộ nguyên ngày giữa trời mưa, rồi trời nắng chang chang nóng như thiêu đốt, nên bọn trẻ thấm mệt, rã rời, lừ đừ thân xác chăng?

          Sau đó phụ nữ quét dọn, rửa chén bát nồi niêu sạch sẽ, bỏ vào mấy cái bao cói (hôm trước ông bà trùm đã cho quà). Cô Quy và tôi bưng xách mấy giỏ mùng, quần áo linh tinh. Một lần nữa, tôi soạn mấy túi vải các con (tôi đã may ngày hôm trước). Tôi chọn lọc ra mấy bộ áo quần gọn nhẹ, bỏ vào những túi vải cho các con mang theo thay đổi dọc đường. Những thứ khác tôi đem gửi nhờ ở nhà bà từ, xin cất dùm. Bà từ nói:
          - Chị cứ để ở bên vĩa hè, không có ai lấy lầm đâu”.

          Chúng tôi ra đi. Luật một tay dắt bé Bi, tay kia anh xách giỏ cơm vắt, muối mè, khô cá. Bà mẹ Luật mang túi vải bỏ thêm hai chai nước. Tôi bế bé Tồ, một khuỷu tay kia móc thêm hai túi xách quần áo (của tôi và bé Tồ). Bốn gia đình bạn thân là: Ngọc. Quy. Cúc. Bàn; cùng nhập với hai gia đình mới quen là Phương, Tâm; tất cả hăng hái nôn nao vui vui lên đường. Chúng tôi lặc lè đến trạm xe Sài Gòn, kịp lúc có chừng năm chiếc xe bus từ các hướng đi khác nhau, vừa trờ tới. Các anh nhanh nhẹn lùa đám trẻ, đàn bà, lên xe bus đi ra Xa Cảng.

          Trên xe lác đác có ba người khách. Nhóm chúng tôi ngồi sát gần nhau, người lớn cho trẻ con ngồi trên đùi mình yên ổn xong. Nhìn lui nhìn tới chỉ thoáng chốc thì người và người ở đâu túa ra đông nghẹt, chỉ có người lên xe, không có người bước xuống. Hai hàng ghế kín mít không còn chỗ ngồi, hành khách đứng chật cứng trên lối đi lại.

          Thật là may, nếu chỉ chậm trể mươi phút nữa, kể như nhóm chúng tôi không bao giờ chen chân lên xe bus nỗi. Quang cảnh tại bến Xa Cảng miền Tây lúc tửng bưng sáng vô cùng náo nhiệt, hổn độn kinh khủng. Những trạm bán vé đông nghẹt người chen lấn ồn ào hơn vỡ chợ. Thế là nạn ăn trộm, cướp bóc, giật giỏ xách, móc túi, bấm dây chuyền, giựt bông tai, bốc hốt, mò mẫm bóp vú... loạn xạ. Dưới đất thì bọn du thủ du thực rượt đuổi nhau huyên náo, đánh lộn, chửi bới inh ỏi cả một vùng.

          Tới Xa Cảng miền Tây, đàn bà trẻ con nhóm tôi ngồi xép nép, chò hỏ ở một góc kín sát ngoài cửa bến, gần bức tường gạch, (tạo thành một vòng đai tròn sát bên nhau cho bọn trẻ con ngồi ở giữa), các con cháu đứa ngồi đứa nằm gối đầu lên những túi đồ đạc hèn mọn lỉnh kỉnh mang theo. Những người khách đi tới đi lui tò mò đứng lại lỏ mắt nhìn ngó lom lom bầy trẻ bị cái nóng Sài Gòn thiêu đốt, khiến mồ hôi mồ kê chảy ra như tắm.

          Mặt mày con trẻ xứ Đà Lạt đa số xinh xắn, hai má đỏ au như dồi phấn, mắt to sáng môi tươi (tuy suốt hai tháng nay bọn chúng sống lăn lóc, cực khổ, cù bơ cù bất, thiếu ăn thiếu ngủ, mà còn xinh như vậy!). Nhìn những đôi mắt phượng long lanh phảng phất mặt hồ thu Đà Lạt mơ màng, hai gò má phinh phính nõn nà hồng phấn của các cháu bé, khiến ai cũng thèm cắn một cái ghê! Họ trầm trồ khen bầy nhỏ xinh đẹp là phải! Chúng tôi giữ bọn trẻ chằng chằng, chỉ sợ mình sơ ý, bọn trẻ sẽ bị bắt cóc, thì chết!

          Mới tửng bưng sáng mà quầy bán vé treo bảng hôm nay “hết vé” rồi!!! Chúng tôi chẳng thấy các phòng vé mở cửa bán vé. Nghe nói ngày mai có thể không có xe đi Rạch Giá. Mấy ông trong nhóm tôi đi đến phòng bán vé ở trạm xe Xa Cảng cứ kiên nhẫn đứng xếp hàng chờ đợi mua vé. Họ đứng mỏi rã rời chân từ chín giờ sáng, mà mãi tới bốn giờ chiều mới mua được vé xe đi Rạch Giá cho ngày mai. Mém chút nữa thì chả còn vé để mua. Vé xe khan hiếm đến độ chỉ bán có bốn năm người đứng xếp ở hàng đầu, đã đóng cửa với ghi chú: “hết vé” Thế là bao nhiêu vé đều tộn ra ngoài bán giá chợ đen, họ chả sợ bể mánh bể mung giữa chợ đời bát nháo! Bà sương phụ háy một cái thiệt dài, cầm loa oang oang nói:
          - Để tránh tình trạng ứ đọng hành khách, cũng như nạn lưu thông trì trệ, hay kẹt xe. Khi nào những đoàn xe hiện đang chờ trực tuyến đã xuất phát. Thì phòng vé sẽ tiếp tục mở cổng chính, cổng phụ, cho đoàn xe đậu từ ngoài đường cái vào bến, chờ đợi lấy tài.

          Úi Trời! Cả nhóm bàn nhau là nên ở lại bến xe, ngủ đêm tại nơi nầy. Nếu chúng tôi quay trở về lại nhà thờ Huyện Sỹ, cả “bầu đoàn thê tử” đùm đề lôi thôi lốc thốc toàn trẻ con nheo nhóc, người già yếu đuối và đau ốm, đàn bà lụ khụ, thì quá bất tiện. E rằng ngày mai chúng tôi không thể đến đây. Biết có ra xe bus đúng giờ không? Có chen chân với hành khách để lọt vào cổng Xa Cảng, mà leo lên xe đi về miền Tây không!? Quyết định như thế thật đúng. Vì, sáng hôm sau, thỉnh thoảng tôi nghe thông báo ở trên loa phóng thanh rằng: “Hét vé”.


          Nhóm phụ nữ yên ổn ngồi trong lòng xe đò cũ kỹ chật như nêm xong, thì đa số đàn ông phải leo lên ngồi trên mui xe, chẳng thể phản đối, hay càu nhàu cằn nhằn la mắng gì! Ai có vé mà không chịu đi chuyến nầy, thì chủ xe lập tức hoàn trả tiền vé lại cho cố chủ. Sẽ có người khác (không ngủ qua đêm ở trạm bán vé) vui vẻ mua vé chợ đen, cao gấp năm lần tiền vé chính thức. Sao không ham. Chờ đợi giá biểu mới phiền toái và lâu lắc. Tự mình muốn cần đi đó đi đây, chớ ai bắt. Thế nên lớp trai tráng ép bụng chịu thiệt thòi ngồi bó gối chút, hoặc ngồi lắt lẻo phơi đầu ngoài trời mưa tầm tã, hoặc nắng chang chang một xí. Cũng đành!

          Ông tài xế bảo tất cả mọi người xuống xe, chỉ trừ những ông bà già yếu ốm và trẻ con thì được ngồi trên xe. Còn mọi người khỏe mạnh phải đi bộ xuống phà Bắc Mỹ Thuận. Cô Cúc mua cho nhóm mỗi người một trứng hột vịt lộn ủ ở rổ trấu nóng hổi. Các con tôi thấy con vịt chết nằm trong quả trứng, thì quá sợ lắc đầu lia lịa không dám ăn. Tôi mua cho cả nhóm bánh mì thịt, trái cây đủ loại, nào là mận, đào, chôm chôm. Bánh trái, kẹo mứt bán nhiều vô số mà thật rẻ. Thú vị nhất là các em bé bán chim cút lanh lẹ vui vẻ rao hàng:
          . . . Ăn chim em đi anh.
          Nè chim em mập lắm.
          Nè chim em ít lông.
          Chim em vừa mới lớn.
          Anh ăn chim em không.
          Chim em toàn những nạc.
          Chim em chẳng có xương.
          Anh sờ đi: toàn thịt.
          Lại to hơn chim thường.
          Lại to hơn chim thường.
          "Ừ, chim em bự lắm.
          Nhưng anh cũng... có rồi.
          Anh dừng lại xem thôi.
          Để anh đi, em nhé".
          Xe chuyển bánh nhè nhẹ.
          Cô em còn ghé theo.
          Chim em, chim rất nhiều.
          Lần sau anh mua nhé.
          Nay qua sông Mỹ Thuận.
          Gặp cây cầu ước mơ.
          Thương cô em mười tám.
          Biết tìm đâu bây giờ?...
          (1)


          Đoàn xe lại bon bon lên đường xuôi về hướng Rạch Giá. Trùng dương sóng vỗ mênh mông, bạt ngàn nước cuồn cuộn nhấp nhô bên mạn phà to tướng, êm êm. Lần đầu tiên xuôi về miền Nam phồn vinh trù phú, tôi cứ tưởng chỉ có phà Bắc Mỹ Thuận là to lớn sầm uất thôi. Nào dè, một lần nữa tài xế gọi mọi người xuống xe, để qua phà, thì tôi càng sửng sốt mở rộng tầm mắt nhìn phà Bắc Cần Thơ bao la, bát ngát, mênh mông sông nước rộng kinh khủng! Bờ nầy và bờ kia xa tít mờ xa ngàn trùng. Đúng là:
          “đi cho biết đó biết đây.
          Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.


          Đặc sản nổi tiếng nhất vùng là Bưởi Năm Roi múi to nhiều nước và ngọt lịm. Vú Sữa Lò Rèn vỏ mỏng hột nhỏ, khi trái vú sữa chín thì vỏ giống màu cẩm thạch, ruột trắng sữa. Có Dừa Sáp Cầu Kè nhiều nước và cũng ngọt lịm. Mít ruột đỏ múi dày giòn thơm ngon, và cả Dưa Bồn Bồn. Vân vân… như câu ca dao:
          Bánh tráng Mỹ Lồng. Bánh phồng Sơn Đốc.
          Măng cụt Hàm Luông.
          Vỏ ngoài nâu trong trắng như bông gòn.
          Anh đây nói thiệt sao em còn so đo!
          (2)

          Ôi! Bao nhiêu là quà bánh đặc sản tươi rói ngon lành ở miền quê đều tập trung ở hai bến phà đông đúc, vui vẻ nhộn nhịp, tưng bừng nầy. Chị em chúng tôi chọn mỗi người mua một loại trái cây khác nhau, để mọi người trong đoàn ăn nếm, cho biết vị ngon của lạ trên quê hương.
          Bến Tre giàu mía Mỏ Cày.
          Giàu nghiêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.
          Bến Tre biển cá sông tôm.
          Ba Trì muối mặn Giồng Trôm lúa vàng.
          Biên Hòa có bưởi Thanh Trà.
          Thủ Đức nem nướng Điện Bà Tây Ninh.
          (2)

          Xe vun vút chạy qua bao nhiêu cầu, bao nhiêu phố xá, ruộng lúa vừa gặt xong còn trơ cuống rạ, vô số cò diệt, le le, bay thẳng cánh ngút ngàn. Vườn tượt kinh rạch làng mạc sông nước hai bên chập chùng. Quê hương mình muôn màu muôn sắc, mỗi nơi có một vẻ đẹp tuyệt vời riêng với mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Trên ghe thuyền thương hồ mái chèo tung tăng quẫy nước, vẵng tiếng hò câu ca vọng cổ đó đây, chen lẫn với những cây đàn cò, đàn guitar cùng tiếng trống bập bùng, rộn rịp, bồng bềnh, nhấp nhô trôi theo ghe thuyền sông nước mây trời.

          Có sông chợ nổi lớn và các mặt hàng hóa treo lên một cây sào cao, hoặc bỏ trong nhiều giỏ cần xế to. Nào là Chợ nổi Cái Răng Cần Thơ, chợ nổi Phụng Hiệp bán rùa, chim, sóc, kỳ đà… rắn đủ loại quanh năm, chợ nầy rất lớn là nơi tuyệt vời đầy đủ các thứ nhất, và chợ nổi Cái Bè. Những chợ nổi ở miền Nam ...ôi bán mua bạt ngàn đủ loại trái cây, dừa, dưa hấu, gạo củi, rau, tôm cá, áo quần, mùng mền gối chiếu, kể cả các mặt hàng ăn uống nhậu nhẹt như: Bánh cuốn, phở gà, cháo vịt, cơm, bún, vân vân... và vân vân... đều được bán trên sông ròng nước lớn.

          Lòng tôi cảm thấy nao nao cảm xúc ngọt ngào, dịu nhẹ, lâng lâng, dạt dào, ngẩn ngơ. Hạnh phúc lang thang trong lòng tôi rót tơ vàng trôi theo dáng hoàng hôn hây hây, lung linh, huyền ảo với sóng trường giang rộn ràng đập bên mạn thuyền luyến thương nhiều thao thức. Cảnh vật huyên náo vui nhộn không kém phần đặc biệt thi vị thơ mộng: đã thể hiện vào câu hò, điệu lý, được lưu truyền từ xưa đến nay:
          Dòng sông thì rộng mênh mông.
          Áo em lại thắt lưng ong làm gì?
          Anh từ Xà No đến.
          Em từ Ba Láng sang.
          Sợi tình yêu ai dệt.
          Trên mặt nước mênh mang.
          Bảy sông dồn nước cuồn cuộn nước.
          Phù sa lớp lớp quyện phù sa...
          (2)
          ***

          Chiếc xe đò cà tàng, thổ tả, lọc cọc, rệu rạo lăn bánh trên những cục đá dăm khi hoàng hôn nhè nhẹ quệt đường nắng yếu ớt, sóng sánh trên dòng sông mờ mờ, thì chúng tôi thực sự đặt chân về miền Tây bỗng trời mưa thật lớn. Nhóm tôi đã trải qua một đoạn lãng du dài dằng dặc giữa trời đất tĩnh lặng bao la, hoang sơ, lãng mạn trên nẽo đường gió bụi trôi về xứ lạ, nơi vừa cũ vừa mới, vừa họa, vừa phúc, vừa lương thiện, từ bi lẫn tội ác quyện bện vào nhau, mà tôi không ngờ! Nhưng lòng trí ai nấy đều nôn nao, bồn chồn, lo âu thấp thỏm: vì xứ lạ phương xa mà đa số bạn của tôi và tôi chỉ biết ngao du qua sách vở, chứ tôi chưa hề thú vị chứng kiến sông nước ruộng đồng bao la, vườn tượt xanh um bóng mát, như thi sĩ Bùi Giáng đã nói:
          Chào Lục Tỉnh thu về xuân nức nở.
          Ở trong cây trong lá ở bên sông.
          Dòng nước chậm chần chờ con sóng chở.
          Còn không em? kỷ niệm ở bên lòng!

          Và:
          Chưa đi chưa biết Bến Tre.
          Đi rồi mới biết toàn tre với dừa.
          Dừa to dừa nhỏ dừa vừa.
          Trèo lên tụt xuống nước dừa đầy tay.
          (2)

          Xuống đến Rạch Giá cảnh vật thôn quê êm đềm tĩnh mịch không kém phần thơ mộng, nhưng đa phần nhà cửa cư dân vắng vẻ, xóm làng quạnh hiu vô cùng, thì nhóm tôi hoàn toàn bị lạc lõng, xa lạ, đơn độc buồn thiu đến độ nào. Chúng tôi líu ríu dắt díu nhau đi tới chỗ lạ cái lạ nước, lạ hoắc, thật lúng túng bất tiện trăm bề. Nhóm người già trẻ lớn bé nầy chẳng hiểu sao lòng cảm thấy bất an, lo sợ, e dè, lấp ló thập thò, kín đáo dè dặt ngó quanh, nhìn trước ngó sau lén lút như kẻ gian, kẻ trộm. Hết cả đám có miệng mà như câm, không ai dám hỏi thăm khi dân địa phương nhìn chúng tôi chằm chằm, xoi mói. Không có bản đồ địa phương, không rành phong thổ cũng như tập quán nơi đây, không thấy xe xích lô, không tìm ra khách sạn hay phòng trọ nào. Thế nên đã nhiều giờ nhóm tôi đi lạc lung tung. Sau đó:
          Hỏi em, em đã đi rồi.
          Hỏi chim, chim chỉ mỉm cười bay đi,
          Hỏi cha, cha chẳng biết gì.
          Hỏi sư, sư bận vội về tụng kinh.
          Hỏi cô hàng xóm làm thinh.
          Hỏi nàng bán bánh cười tình không hay.
          Nhìn trời một đám chim bay...
          (2)

          Duy có điều quan trọng là dù chúng tôi ngu ngơ ngố ngáo nơi quê hương thân yêu, cũng phải cương quyết rứt áo ra đi, phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Đang ngơ ngác, bồn chồn, lo lắng khi trời đã về chiều, mà chân chồn gối mỏi, đúng lúc đó chúng tôi văng vẵng nghe:
          Đạt là chàng trai yêu xứ Đà Lạt.
          Anh “pLê mê” đi lính ở Plei-me.
          Cầu ma bà xã tui đi Cà Mâu.
          Cây còn xa quê mình nhớ con cầy
          Lợn sang đồng lo chạy rông Lạng Sơn.
          Hiền ta ra hiên tà thấy Hà Tiên.
          Chúng ta hoan hỉ tá chung chiếc thuyền.
          Ngày mai anh Viễn định xuống Vĩnh Điện.
          Cao Bằng đau bụng đụng bao căng bào.
          Trai Hà Giang chỉ cơm hỏi hàng gia?
          Đi Lai Châu gót chân mình lâu chai.
          Gái Hà Đông đa hồng hỏi Đông Hà.
          Cán ngố trên rừng cố ngán không khóc.
          Con cóc vàng trên đàng bị cán vọc
          Tớ chổng khu hỏi chủ không chổng khu?
          Cù Lao Chàm càm ràm chú cào lu.
          Tên “Plu-kê” chạy rông đi Plei-ku.

          Chúng tôi tần ngần do dự đứng khựng lại trầm lặng hồi lâu, lắng nghe bọn trẻ choai choai, dé dé, xíu xíu khoảng độ tuổi mười lăm mười sáu, có lẽ là nam nữ sinh học trường Trung–học gần đấy đang ngồi trên sân đình, các em vui vẻ trao những câu “thơ thẩn tiếu lâm dám xướng ngôn vô loại” lên, cười ha hả mà không sợ bị bọn du kích 30 tống giam.

          Thì trong dạ tôi vui mừng như mở cờ, ruột hớn hở đánh lô tô tưng bừng và nghĩ rằng: “ở đây có lẽ còn khá tự do, dễ chịu, chắc là còn thoải mái yên bình ca hát, ngâm thơ, hát câu vọng cổ... bên sông nước mơ màng” cũng có thể làm cho người lạ xích lại gần kề, thân ái gợi chuyện làm quen, làm thân một cách dễ dàng, cởi mở. Anh Bàn liều đi tới hỏi thăm đám trẻ, các em trai lanh lẹ vui vẻ chỉ lối đưa đường cho nhóm tôi biết: nên đi về hướng chợ nhỏ ở xa xa.

          Mấy anh dấm dớ dò dẫm qua một chiếc cầu gỗ cũ, tới trạm mua vé tàu thủy, dự định ngày mai cả nhóm sẽ đi Phú Quốc. Chiều tà ở tại Rạch Giá từ bước chân khách lạ cô đơn trên đường chiều, khiến lòng tôi buồn vô hạn, đứng trên cầu gỗ nhìn về phía góc vườn dừa rợp bóng nhà ai sông nước chập chùng. Có chút tâm hồn đa cảm và nhạy cảm... khiến tôi cảm thấy nơi đây thật sự kỳ diệu thanh bình lãng mạn lắm. Lòng tôi càng xúc cảm vấn vương nỗi buồn thê thiết, khi thấy mấy giang thuyền lạnh lẽo lắc lư nằm im ỉm, trơ trọi bên những cầu tàu quạnh vắng, làm thức dậy trong tâm trí tôi hình ảnh dĩ vãng lãng đãng mộng mơ thiết tha thật gần...

          Nhưng bây giờ đã rời xa... xa mờ xa nơi chân trời mê-hoặc, xao xuyến mông lung bao tiếc nhớ, bâng khuâng lặng lờ nỗi đau sâu thẳm: Đâu rồi những anh thủy thủ phong trần trẻ trung vui tính ưa huýt gió, vui vẻ, xinh lịch oai hùng hào hoa trong bộ quân phục Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trắng tinh? Họ mặc bộ quân phục với niềm kiêu hãnh vinh quang hào hùng trong dĩ vãng? Mặt nước có còn in bóng chàng trai phong sương đa cảm, đa tình đứng trên bon tàu vu vơ nhìn mây trời quyện bện vào nhau xanh bát ngát? Dưới đáy thuyền sóng cả cuồng phong thịnh nộ ngày ấy vỗ nước bồm bộp vào mạn thuyền, đẫy đưa anh lính Hải-quân có cuộc sống hào hoa phong nhã lang bạt vui tươi đi xây mộng giang hồ tứ xứ!? Ý chí của bạn và tôi bây giờ chỉ còn là ảo ảnh: trăng tròn giữa lòng sông lắc léo giòng chảy trên luống đời điệp trùng bóng tối. Tiềm ẩn trong tâm hình ảnh đường chiều nâng ước vọng dâng cao ngút ngàn.

          Đến gần chân cầu sắt dày cui lót gỗ bên kia trạm vé, thì có một khu nhà tôn chen lẫn nhà lá tồi tàn, nhưng đã đem lại lòng tôi sự ấm áp rộn ràng rạo rực niềm vui, chen lẫn sự xót xa chân thật: khi tôi nhìn cư dân địa phương vất vả, thiếu thốn, nghèo nàn. Các anh vào thuê mấy chỗ trọ. Không phải là phòng trọ như ở nơi khác có phòng riêng sạch sẽ tươm tất, mà lán trọ ở đây giống như khu nhà trống, hoàn toàn không có cửa nẽo, chỉ là những hàng ghế bố cũ mèm nối dài, mái lợp lá dừa trống trơn, hơi giống patio bốn bề lộng gió. Nước mưa lộp độp trên mái lá, bùn đen sền sệt dưới chân ghế bố luôn luôn ướt nhẹp, mốc xì, đen thui, ghế bố có nhiều gián, rận, rệp hôi rình, thậm chí có cả chí mén, chí cồ bò lổm ngổm trên gối. Thế nhưng người ra kẻ vào lội nước lủm bủm vẫn tấp nập ồn ào ngược xuôi đông đúc lắm.

          Chị Ngọc, Cúc, tôi vội vàng xẹt ra khu chợ xép nhỏ gần xịch một bên, chị em tôi chẳng buồn hỏi khu chợ nầy có tên gọi là chợ gì. Mỗi quầy hàng là một cái chòi bằng tre lợp lá dừa, giống túp lều nho nhỏ luôn kêu kẽo kẹt, nước bùn đen đen đọng dưới chân cột và trên đường nhựa. Quán xá lộn xộn, họ bán đủ thứ: cá, tôm, sò ốc, rùa, ếch... Úi trời! có nhiều con rắn còn sống đang uốn éo thân, cái lưỡi chẽ đôi thò ta thụt vô, cả những chú chuột đồng lông lá lưa thưa có móng nhọn dài to bự sư. Coi thật gớm à!

          Chị em tôi mua nhiều tôm tươi, cá trê vàng, cá sặc bướm, cá sặc rằn. Rồi day qua hàng khô mua gạo, mua một trái thơm, rau sống, cà chua, mua củi. Họ thật thà hào phóng bán trái cây tươi rói, tính một chục là 16 trái xoài bóng láng, mập ú, thơm ngon. Họ không nói thách, không làm hàng màu mè: không chất thứ to bỏ làm hàng mặt ở trên, trái nhỏ chêm ở dưới thúng. Mà có sao họ bán vậy. Dân quê và dân chợ đa số khá hiền lành chất phác, vui vẻ, chăm chỉ, thật thà. Họ nói ở đây cái gì cũng tươi và rẻ nhất là: cá, tôm... Nhưng họ khó kiếm ra tiền, vì nhà nhà ai ai cũng có cá, có tôm. Thịt ếch và các loại cá ở miệt nầy càng rẻ rề, thì đem bán cho ai đây, để có tiền xây xài?

          Chúng tôi xin bà chủ nhà trọ cho mượn mấy cái son nồi, để nấu nhờ bữa cơm tối. Bà chủ nhà vui vẻ dễ dãi nhận lời. Chị em tôi xúm lại người nấu cơm, người làm cá. Lớp kho, lớp nấu, chiên xào... Đây là bữa cơm đặc biệt đầu tiên, có thể cũng là bữa cơm cuối cùng tại Rạch Giá. Nhóm chúng tôi ăn uống no nê, dư dả và rất ngon miệng. Sau đó chị em bưng nồi niêu son chảo ra bờ kè rửa ráy, rồi trả lại cho bà chủ nhà tốt bụng. Chị em cho các con ra sông tắm gội sạch sẽ.

          Khi màn đêm buông xuống, tôi nhìn bên kia kinh lạch tối om vì không có điện, bên nầy ngọn đèn đường tù mù hắt ánh sáng yếu ớt vàng vọt, giống như đèn đêm lốm đốm lập lòe ở khu nghĩa trang. Thiệt cảm thấy quá nãn. Đêm buồn nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên lá, gió lồng lộng rít rít từng cơn, thổi bay tấm mùng vải cũ ố vàng đen đen, khiến cái lạnh càng về khuya càng ngấm xuyên qua da thịt tôi thêm dúm dó và rùng rợn. Bầy trẻ suốt ngày đi đường quá vất vả, nên tắm gội xong, vừa đặt lưng xuống ghế bố, là chúng đã “phè cánh nhạn” ngủ say. Riêng bọn già nầy thì bồn chồn, băn khoăn, lo lắng, không sao chợp mắt, dù chỉ vài phút.

          Thỉnh thoảng có đám tuần tra đi ngoài đường nói cười rổn rảng sát ngay bên ghế bố nơi Luật nằm. Tôi không biết họ đang oang oang chưởi gì, chưởi ai!? Chưởi số phận nghiệt ngã đã trao cho họ: phải xách súng đi ngày đêm kiểm soát dân; từ buổi giao thời vừa mới có “tự do hạnh phúc”?! Hoặc hắn tự chửi mình ngoảnh mặt làm lơ nhìn người khác hả hê trả thù dân tộc!? trợn mắt sung sướng nhìn đồng bạn tuông trào những lời cay độc, hét to từng tiếng lát gừng thị oai:
          - Tên gì?
          - Ai đó?
          - Đi đâu?
          - Kiểm tra giấy tờ.

          Anh em thằng Tùng (con của Ngọc) giật mình thức giấc vì tiếng quát, Thắng xù xì hỏi anh nó:
          - Mấy ông kia có phải là lính mình không anh Hai? Lính Thủy Quân Lục Chiến mặc đồ đen, quàng khăn cổ bằng lá cờ xanh đỏ, cánh tay ổng đeo băng đỏ, đó anh.
          - Tầm bậy tầm bạ! Mầy đoán già đoán non, mà ngu như bò! Thủy-quân Lục-chiến oai lắm, họ mặc đồ xanh rằn ri, đội mũ màu xanh cứt ngựa, mang giày đinh.
          - Vậy à… hay mấy ông kia là người trong đảng ca ca ca chi đó, phải hông?
          - “Ca ca”… tiếng Tây nôm na là cứt nghen. Còn đảng K K K... là là… thời da trắng ám sát da đen, khi Nam Bắc phân tranh bên xứ Mỹ. Không có ở đây! Biết không?
          - Thì… thì em thấy mấy ông du kích nầy có khác chi…
          - Xuỵt! Mầy có câm ngay cái miệng ưa bép xép không!?
          - Em không biết, mới hỏi chút xíu, anh làm gì dữ vậy!
          - Coi chừng cái... bản mặt đó. Thấy thì biết.

          Nghe hai cháu nhỏ “nóng ruột” từ lời nói, còn tôi “lộn ruột ứa gan” từ trong tim! Thành phố khiêm nhường bé nhỏ nầy đã trở nên trơ tráo hơn khi có “quân giải phóng miền Nam” tới với những thứ lạ, thứ mới, có ít thứ tốt và nhiều thứ xấu, lắm thứ dữ: Một ông già chệnh choạng thất thểu bước thấp bước cao, và mấy thanh niên đứng xớ rớ dưới cột đèn mờ mờ. Ông già ấy đã bị móc túi, không còn giấy tờ tùy thân, không có tiền xì ra.

          Cha con ông cháu nói dai, ú ớ van xin lằng nhằng lải nhải gì đó, liền bị một du kích địa phương dùng báng súng đập ông già bể một mé đầu, vọt máu tươi. Tên du kích ấy bắt ông già bó gối, hai tay đan vào nhau chấp lên đầu chung với đám thanh niên: Khổ thiệt, ở thời buổi giao thời nầy, sao ông dám mở miệng phân bua, với ai hì! Bị thương ngoài da rồi sẽ có ngày lành, nhưng tổn thương trong lòng dù không ai trông thấy (dù chuyện không đáng), nhưng đau dài lâu. Luật tức giận cành hông, anh dợm đứng lên nhảy ra can thiệp, nhưng Ngọc nhanh tay lôi giật Luật, ra dấu im re nằm xuống câm mồm, coi chừng đầu không phải phải tai. Ông lẩm cẩm không nhớ cho:
          Phong lan, phong chức, phong bì.
          Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn?
          Phong lan ngắm mãi cũng buồn.
          Phong chức thì phải cúi luồn vào ra.
          Chỉ còn cái phong thứ ba.
          Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui.
          (2)

          Cổ họng ai nấy đều đắng nghét như ngậm vốc trà khô. Trà đắng có thể không thích nghi với thổ địa bởi tại phong sương, hoặc trà chát, chua, bởi tại tình người? Vã chăng, khi chiều chúng tôi nhìn “mấy tên 30”, hoặc ngó ai ai thì cũng thấy họ tò mò nhìn sững mình không chớp mắt, chả biết đâu là thù, mô là bạn! Nhiều người ra vào ở phòng trọ nầy mặt lạnh như tiền. (Chớ tôi có tật gì mà giật mình)!? Đúng. Một số ít dân cách mạng lâm thời đội mũ tai bèo, mang súng AK trong buổi giao thời, bên cánh tay cột khăn vải đỏ, cổ mang màu cờ nửa xanh nửa đỏ, họ hầm hầm ngó chúng tôi trừng trừng, nhìn muốn nổ con mắt, muốn trợn trừng tráo trưng con ngươi mà ăn tươi nuốt sống.


          Nếu ví như có những điều tự trong thâm tâm qúy vị đang vui tươi, trong sáng, bỗng một sớm một chiều trở nên sụp đỗ, âu sầu, băn khoăn, suy tư, lo lắng, bâng khuâng ray rứt về cái ngày 30-4; ngày lịch sử bất hạnh là: một giòng chảy không bao giờ chảy ngược lại! Hoặc giả qúy vị hay tôi muốn cầm bút viết lại, nói ra, lượt thuật, lượm lặt sưu tầm đó đây, nhã ý là: do ta chỉ ước mong bộc lộ những uẩn khúc quá đau lòng tự thâm tâm {trong đời sống thực. Có lần tôi đã nói: “tôi không hề lên án ai, xúc phạm ai, bới móc ai điều gì! Cho dù con người ấy, xã hội ấy sau 30-4-1975; đã đả thương tôi đớn đau trầm trọng cách mấy chăng nữa!

          Tôi rộng lượng bỏ qua & tha thứ. Vâng)}! Thì xin qúy vị tha cho tôi, đừng vội thẩm định tôi khuynh tả hay thiên hữu: Do thân tình ghi lại loạt chuyện (mà bạn TtTm hoặc tôi kể) để con cháu ngày ấy chưa thành nhân, thành danh; ngày nay sẽ hiểu rằng: Tình Đời và Tình Người cần thiết, dù có tiền rừng cũng không thể mua được thanh danh. Hũy hoại thanh danh dù một lần, một ngày làm mất danh dự, nhưng đã lưu lại suốt đời.

          Nếu tôi hoặc bạn tôi cố chấp, thì chẳng khác nào như con chuột, con dơi vắt mình trên cành: Con dơi chỉ thấy một phần nhỏ xíu dưới cành, mà chẳng thể nhìn thấy cả toàn cây. Con chuột chỉ là con vật loắt choắt tẻo teo, chuyên đi phá phách, hại ruộng hại đồng cây cối nhà cửa, dù nó có uống nước trong, hoặc mò mẫm lặn lội húp nước đục, thì chỉ no được cái bụng bé tí teo. Chuột vẫn là giống chuột lủi tanh hôi, có khi truyền đến ta bệnh dịch hạch nguy hiểm đáng sợ. Chuột nhớp nhúa không thể làm điều gì cao sang, ích lợi cho đời.

          Bây giờ thì nó có hóa thân làm con chuột hét ra tiếng người cốc lốc, lấc xấc mà thị oai, có hét tướng lên trong màn đêm u tịch, càng khiến người rất sợ hãi, không dám hó hé dáo dác len lén nhìn quanh, mà phải nằm im ru câm họng trong mùng lim dim hi hí ngó trộm. Con cháu tôi nghe, thấy rõ, đã biết sự hung ác kia... thì bây giờ con nên tôn trọng nhân cách sống, cư xử với nhau hòa ái, bao dung, vị tha; vẫn trân qúy đáng ngưỡng phục, hơn sự thô lỗ bạo tàn rợn người.
          Có miệng không nói lại câm.
          Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa.
          Mang danh Dân Chủ Cộng Hòa.
          Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền.
          Xuất trình giấy phép liên miên.
          Chứng từ thị thực ở miền nào qua.
          (2)
          Khoảng mười hai giờ khuya, có một toán choai choai dé dé xíu xíu bặm trợn khác lại xồng xộc vô nhà trọ, vếu váo tốc ngược mùng của mọi người lên, chúng giựt giọng gọi những khách trọ đêm dậy để kiểm soát giấy tờ tùy thân. Qua nhiều thủ tục khám xét gắt gao, những túi hành trang vải, (mà tôi đã may hôm 28-4-1975). Họ lừ mắt trợn ngược, hất hàm chĩa súng vô bụng, gặn hỏi khách trọ cộc lốc đủ thứ chuyện không có chủ từ danh từ:
          - Tránh qua bên kia, đứng xếp hàng.
          - Trước ở đâu?
          - Làm gì?
          - Nay đi đâu?
          - Đưa coi giấy tờ.
          - Còn có gì dấu đút ở đâu không?
          - Có lệnh không được đi đâu hết.

          Nhóm tôi nói láo: hồi trước gia đình đã sinh sống ở Phú Quốc. Nay có tự do, hoà bình, thì chúng tôi muốn về lại chỗ cũ sinh sống:
          Trăm năm trong cõi người ta.
          Ở đâu cũng được đi ra đi vào.
          Xa xôi như xứ Bồ Đào.
          Người ta cũng được đi vào đi ra.
          Đen đủi như Ăng Gô La.
          Người ta cũng được đi ra đi vào.
          Chậm tiến như ở nước Lào.
          Người ta cũng được đi vào đi ra.
          Chỉ riêng có ở nước ta.
          Người ta không được đi ra đi vào.
          (2)

          Người ta nói: Ông Trời có mắt nhưng do ổng ở xa lắm, nên có mắt cũng như mù! Úi Trời đất thánh thần thiên địa ơi! giờ nầy qúy ngài hiền đức thánh nhân ở trên thiên đình: lo đi rong chơi, ngao du nơi biển sâu sông dài núi cao nào rồi!? Sao qúy ngài không cúi xuống nhìn đám dân giả dưới trần gian của qúy ngài đang rét run, sợ té khói ra đít nè! Đã thế mà trời còn mưa giông gió bão! Khi Trời gieo sấm sét đánh chết người, thì thiên hạ nói:
          - Do người ấy ăn ở ác, không có đức, nên bị Trời đánh.
          - Hứ! Vậy chớ ông Trời làm sét đánh chết người, thì không ai nói là ông Trời ác hì!

          Bốn giờ khuya, toán du kích già dặn kinh nghiệm thứ ba mặt mày đằng đằng sát khí, súng ống lăm le chĩa ra đằng trước ngực khách, đạn lên nòng róc róc róc… rắc rắc rắc... réc réc réc..., ngón trỏ hắn đặt trên cò; họ lại dựng đứng khách trọ ra khỏi mùng, để “hỏi cung”. Chúng tôi sợ mấy cha nội không rành về súng ống đạn dượt, ưa tháy máy tay chân, thích “bụp” liền, thích “đục” , thích “nẻ” bậy vào dân ngu khu đen, thì chết toi cả đám oan đời. Tôi ngồi co rúm, không dám hó hé, xép re im thin thít trong một góc nhà trọ, lẩm bẩm đọc kinh cầu nguyện mà run như cầy sấy. Vậy thì tôi chẳng biết “ai” ác hơn ai hở Trời!
          Hãy đến bất cứ nhà nào.
          Chị em không việc cũng vào cũng ra.
          Thật là ngứa mắt chúng ta.
          Nhưng thôi cứ để họ ra họ vào.
          Không thì “cửa sắt” họ rào.
          Anh em đố có dám “vào” dám “ra”
          . (2)

          Một đêm có tới ba lần bị kiểm soát! Tửng bưng gần năm giờ sáng thì tốp dân ở Phú Quốc cặp tàu vô đất liền. Sau đó, cả lán trọ được biết là tù-phạm sau ngày 30-4 ở ngoài Phú Quốc đã phá ngục, có lớp người vượt ngục ra tù về đất liền, họ cầm súng giương oai đi quậy tưng trời, phá phách cướp bóc nhiều nơi. Cả đám di tản chúng tôi đang đứng xớ rớ bên góc cầu, may mắn Ngọc gặp ông ba của anh trên chiếc cầu gỗ lắt lẽo: Ông ba mừng rỡ ôm con trai vừa khóc vừa nói:
          - Phú Quốc đã có nhiều trại tù nổi loạn. Cướp bóc tràn lan. Có những cuộc chém, giết, chạm súng gắt gao. Bọn mình phải quay trở về Đà Lạt ngay thôi.

          Chúng tôi tứ cố vô thân ở xứ lạ quê người, nghe thế lại càng tăng lòng sợ hãi lên cao độ, phân vân băn khoăn hết sức. Nếu chúng tôi đi ra Phú Quốc, biết đâu: Ngoài đảo đang lộn xộn kinh khủng, thì tai ách giữa đàng lại mang vào cổ. Thế là chuyện đi Phú Quốc và từ nơi đó sẽ “đào tẩu” ra nước ngoài, nhưng... “em ơi nếu mộng đã không thành thì sao? Non cao đất rộng biết đâu mà... tìm!”.

          Tất cả anh em chúng tôi như con ngố, rù rì to nhỏ xầm xì với nhau nửa tiếng Anh, nửa tiếng Pháp, pha tiếng lóng chêm tiếng Ba Chệt, tiếp theo ngôn ngữ Việt mà bàn tính: nên trở về Sài Gòn thôi. Dù sao ở thủ đô vẫn còn có bộ mặt thị thành văn minh, còn có tai mắt quốc tế dòm ngỏ hầu vô cứu nhân độ thế!

          Chuyến đi Rạch Giá mong ước lẽn ra Phú Quốc nơi ấy còn vùng vẫy trong tự do độc lập. Nhưng thật vô duyên hết chỗ nói. Háo hức hân hoan hy vọng ra đi. Đến nơi Rạch Giá chứng kiến cảnh mắt thấy tai nghe bọn oắt con nhỏ bằng con cháu mình hung hăng, thô thiển, xất xượt “lên mặt” đánh đấm răn dạy cha chú. Tôi chong mắt trông trời mau sáng, để quày quả trở về nơi vừa mới bỏ đi. Có phải chúng tôi sẵn tiền, hay đã trở thành kẻ du mục dị ứng thời cuộc đã bị tẩu hỏa nhập ma điên khùng, “lắc lư con tàu đi”... tìm tự do hạnh phúc!?

          Giá mà hôm qua chúng tôi không gặp mấy tên du kích có đôi mắt trắng dã, có cái nhìn dữ dằn, hành động hung ác, ăn nói cộc cằn, thô lỗ. Thì chắc chắn sáng tửng bưng nầy cả nhóm tôi đã lên tàu thủy dong ra Phú Quốc lánh nạn rồi. Cũng có lẽ định mệnh an bài cho chúng tôi nên ở lại Sài Gòn đông vui, thì đời không cô độc, sẽ là nơi an tựa vững vàng cho tương lai cuộc sống của chúng tôi chăng?!
          Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ.
          Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
          Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
          Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
          - Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
          Hãy về thăm xóm đạo.
          Có trái ngọt cây lành.
          Tha La dâng ngàn hoa gạo.
          Và suối mát rừng xanh.
          Xem đám chiên hiền thương áo trắng.
          Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh...
          (3)
          *
          (1) Thơ sưu tầm lượm lặt.
          (2) ca dao
          (3) Thơ Tha La Xóm Đạo – Vũ Anh Khanh.
          ***

          Tình Hoài Hương
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-23-2017, 01:32 AM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          • thien ly
            Người Thân
            • Oct 2012
            • 66

            #80
            Chị Hoài Hương kính mến

            Hôm nay em được lãng du cùng chị từ Sài Gòn tới Rạch Giá qua bài viết này. Thật là một chuyến đi cơ cực có bi,có hài, có bận rộn với sự chăn dắt một đàn con nhỏ... Chị à, đọc tới đoạn:
            "...Cô Cúc mua cho nhóm mỗi người một trứng hột vịt lộn ủ ở rổ trấu nóng hổi. Các con tôi thấy con vịt chết nằm trong quả trứng, thì quá sợ lắc đầu lia lịa không dám ăn..." làm em nhớ lại hồi còn nhỏ và ngay cả tới bây giờ em cũng vẫn còn sợ hột vịt lộn đó. Chỉ nhìn thôi là thấy tội và khiếp quá rồi nên dù đói mấy cũng không dám ăn...
            Cám ơn chị đã chia sẻ một đoạn đường lãng du gian khổ mà không kém phần thú vị.
            Em xin gửi đến chị bó hồng này với lòng ngưỡng mộ và kính phục một người vợ tần tảo, thủy chung đã thay chồng nuôi con một mình suốt mười năm dài. Một người mẹ tuyệt vời, dẫu phải đương đầu với cuộc sống khổ cực, chị vẫn giữ được một tâm hồn thơ văn thật phong phú. Chúc chị luôn vui mãi với niềm vui sáng tác.


            Kính mến
            TL

            Comment

            • Tinh Hoai Huong
              Senior Member
              • May 2009
              • 1081

              #81
              Cám ơn em Thiên Lý

              [B]
              Nguyên văn bởi thien ly View Post
              Chị Hoài Hương kính mến
              "...Cô Cúc mua cho nhóm mỗi người một trứng hột vịt lộn ủ ở rổ trấu nóng hổi. Các con tôi thấy con vịt chết nằm trong quả trứng, thì quá sợ lắc đầu lia lịa không dám ăn..." làm em nhớ lại hồi còn nhỏ và ngay cả tới bây giờ em cũng vẫn còn sợ hột vịt lộn đó. Chỉ nhìn thôi là thấy tội và khiếp quá rồi nên dù đói mấy cũng không dám ăn...
              Cám ơn chị đã chia sẻ một đoạn đường lãng du gian khổ mà không kém phần thú vị.


              Kính mến
              TL


              THH chân thành cám ơn "em hồng nhan tri-kỷ" đã ghé vào đọc truyện & ân cần ghi lại những lời thân tình, trung thực và hồn nhiên thế nầy. Những câu em viết mộc mạc nhưng thật cảm động. Em cứ giữ nguyên dáng vẽ hồn nhiên, và có lối viết theo văn phong riêng, mà THH thường đọc truyện của em như thế, em thành công là đương nhiên nhé.
              Lẽ ra thì THH gửi đến em những hình ảnh khác, nhưng biết em và phu-quân chỉ ăn chay, nên em vui lòng nếm cây quả đầu mùa dịu ngọt nhe.
              Tình thân,
              THH
              Last edited by Tinh Hoai Huong; 09-01-2013, 07:45 AM.
              Bút trần nào tả được lưu luyến!
              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
              Tình Hoài Hương

              Comment

              • Ha Vo
                Người Thân
                • Oct 2010
                • 164

                #82
                Chị Hoài Hương kính mến

                Ý trời ơi, chị HH cho em dĩa trái cây to quá vậy, thiệt là quí hóa biết bao! Mười mấy năm nay từ hồi sang Mỹ tới giờ, em chưa lần nào được ăn lại trái Na (người Nam gọi là trái Mãng Cầu dai phải không chị?)là loại trái cây mà em rất thích. Bây giờ nhìn trên dĩa trái cây, chị chưng tới 3 trái lận, chà hấp dẫn ghê đó. Em và ông xã chân thành cám ơn chị nhiều, anh ấy thích ăn trái Thanh Long lắm. Mai mốt chị có tìm thêm ra trái Na ở đâu đó, xin gửi cho em vài trái nữa nha, thưởng thức bằng mắt cũng đỡ ghiền lắm chị à.
                Chúc chị luôn vui khỏe
                Kính mến
                HV/TL

                Comment

                • Tinh Hoai Huong
                  Senior Member
                  • May 2009
                  • 1081

                  #83
                  Cám ơn Thiên Lý

                  Nguyên văn bởi Ha Vo View Post
                  Chị Hoài Hương kính mến

                  Ý trời ơi, chị HH cho em dĩa trái cây to quá vậy, thiệt là quí hóa biết bao! Mười mấy năm nay từ hồi sang Mỹ tới giờ, em chưa lần nào được ăn lại trái Na (người Nam gọi là trái Mãng Cầu dai phải không chị?)là loại trái cây mà em rất thích. Bây giờ nhìn trên dĩa trái cây, chị chưng tới 3 trái lận, chà hấp dẫn ghê đó. Em và ông xã chân thành cám ơn chị nhiều, anh ấy thích ăn trái Thanh Long lắm. Mai mốt chị có tìm thêm ra trái Na ở đâu đó, xin gửi cho em vài trái nữa nha, thưởng thức bằng mắt cũng đỡ ghiền lắm chị à.
                  Chúc chị luôn vui khỏe
                  Kính mến
                  HV/TL



                  Em Thiên Lý thân thương,

                  Ồ, hơn tuần nay không vô đây, nên THH chẳng biết có em đọc bài và chia sẻ. Vâng, tặng em và phu-quân lẵng trái cây có thanh long va na nè. Thích nhé! Phải chi mình ước gì có nấy, thì vui biết bao! Em nhỉ!
                  Thôi thì THH nhờ diễn đàn Phi Dũng làm cầu tri âm nối nhịp mà thả Thơ, để cám ơn em, tạ ơn HQPD & Đời, đã cho chúng ta có cái duyên tao ngộ, giống như ca dao sau:
                  Xa xôi dịch lại cho gần
                  Làm thân con nhện mấy lần vương tơ
                  THH
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment

                  • Tinh Hoai Huong
                    Senior Member
                    • May 2009
                    • 1081

                    #84
                    Trị Bình : Nỗi Đau Thương Quá Thật 100%



                    Trị Bình: Nỗi Đau Thương Quá Thật
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-15-2020, 06:07 AM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment

                    • Tinh Hoai Huong
                      Senior Member
                      • May 2009
                      • 1081

                      #85
                      Có Tui... (Còn Ai Vô Đây)!


                      Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-22-2017, 11:49 PM.
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment

                      • Tinh Hoai Huong
                        Senior Member
                        • May 2009
                        • 1081

                        #86
                        Từ Tình Đời đến Tự Do



                        Từ Tình Đời đến Tự Do


                        Đà Lạt. Thành phố mệnh danh là quê hương tình ái, nơi trai tài gái sắc lý tưởng hẹn hò. Thành phố ấy thơ mộng không kém phần thi vị lãng mạn cho bao cặp tình đắm đuối yêu nhau. Họ thích che chung một chiếc dù, dìu nhau đi thật chậm trên những con đường mòn vòng vèo vắng ngắt, quanh co uốn khúc cao thấp nhấp nhô như những lượn sóng.

                        Đà Lạt muôn thuở trầm lắng nghe tiếng thơ trữ tình thì thầm thở khúc nhạc du dương trong suối mộng hồ mơ, bên thác nước đỗ muôn trùng diệu vợi lờ lững trôi về nơi xa xăm. Bao gốc thông tuy già cỗi vẫn xanh ngắt ngút ngàn bốn mùa nhã nhạc reo vi vu qua kẽ lá cành cây xôn xao gọi mời. Nơi có những luống hoa muôn màu rực rỡ, nhiều hoa dại bụi sim rừng tim tím, cùng muôn thú và bầy sơn ca lả lướt tự do hoà ái uyển chuyển tấu khúc nghê thường.

                        Đà Lạt tĩnh mịch quyến rũ đầy vinh sang với xe nhà bóng loáng lượn trên lưng đèo, có nhiều ngôi biệt thự xinh xinh thấp thoáng, ẩn hiện dưới bao đồi thông giao nhánh reo vui trong gió rì rào. Có những cỗ xe ngựa lóc cóc gõ nhịp trên đường mỗi sang, trưa, khuya, chiều êm ả. Thành phố ấy chìm trong giếng mắt u hoài vẫy gọi tôi muốn quay về cùng với giấc mộng quan hoài. Nơi mẹ từng à ơi ru con từ chiếc nôi đời hồng hoang trinh nguyên, võng tình đong đưa muôn sợi nhớ, nghìn luyến thương gợn sóng lăn tăn dồn dập canh cánh bên lòng, dập dìu ríu rít níu con tìm về chốn cũ. Nơi ấp ủ một đời thúc giục đôi chân hải hồ tôi dừng bước bên thềm hoang sơ (dù tất cả những tiếng nhạc du dương từ tình yêu luyến nhớ năm xưa, giờ chỉ rớt lại cái quá khứ còn nóng bỏng, nghẹn ngào, ngậm ngùi đầy chua xót).

                        Ngày thứ Bảy, từ 26-10-1963 đến ngày thứ Hai, người dân thị xã Đà Lạt và ở trong nước hân hoan vui mừng, nô nức khánh thành Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc Đà Lạt. Rất đông đủ quan khách hiện diện. Đặc biệt nhất là có Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông Bửu Hội. Đại Sứ Henry Cabot Lodge và các hàng Tổng Bộ Trưởng … đã quy tụ về Đà Lạt để tưng bừng khai hội. Ấy thế mà chỉ cùng giao thời nầy: thì tình hình chính trị sục sôi kỳ lạ. Nhiều vụ xuống đường rầm rộ đó đây. Những người cầm đầu cuộc cách mạng kêu gọi người khác vùng dậy, đứng lên đập tan cuộc sống cũ. Họ dũng cảm muốn dành lại tự do no ấm cho con người thôi!

                        Từ khoảng mùa mưa năm 1963 thượng tọa Thích Quãng Đức lên giàn tự thiêu giữa ngã tư Phan Đình Phùng và Lê văn Duyệt: đòi hỏi tự do tôn giáo. Thật tuyệt vời! Rồi bao nhiêu bàn thờ tiên sinh, ông bà, cha mẹ: do con cháu rầm rộ dọn ra ngoài đường. Sinh viên, học sinh, và một số dân cư xông xáo xuống đường biểu tình đòi: Tự do tín ngưỡng. Tự do báo chí. Tự do ngôn luận. Tự do đi lại suốt. Họ đã và đang làm một cuộc cách mạng như Littré nói:
                        - “Cách mạng là gạch nối giữa trật tự cũ tan rã, và trật tự mới được dựng lên bằng những vết máu, thay vết son”.

                        Cuộc cách mạng đảo chánh “gia đình trị” đưa quan niệm tự do hạnh phúc đi sâu vào lòng người dân. Chính nghĩa vong yểu như xứ sở thân yêu từng mang dấu tích hùng sử ca diễn ra ác liệt tại thủ đô Sài Gòn, bị lên án gắt gao, bị tiêu diệt, đã xoá nhoà dấu vết cũ dưới rừng cờ hoa phất phới tung bay trong nền trời xanh bao la, để chào mừng ngày đại thắng. Trước cửa ngỏ cuộc chiến mới, người ta say sưa hoan ca men chiến thắng túy lúy với nhau. Họ háo hức kể cho nhau nhiều tin thổi phồng rất giựt gân.

                        Đồng thời đồn đại những tin huyễn hoặc thất thiệt. Dù chỉ hàng tít nho nhỏ chạy trên nhật báo, cũng khiến người dân giật nẫy mình, hoang mang, kích động tính, hăng say nổi máu anh hùng lên. Người ta nức lòng mong chờ từng giây phút hoà bình tự do đến, nơi mà các vị tiền bối, cha ông chúng ta đã dày công dựng xây, đã làm, vẫn được thực thi. Dẫu rằng có ảnh hưởng sâu sắc ít nhiều đến cư dân thị thành, cùng tất cả dân quê trên toàn lãnh thổ Việt Nam thăng trầm qua bao thế kỷ.

                        Đúng là Ý Trời! Nền Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam hoàn toàn sụp đỗ rồi đó! Giấc mộng cũ, chế độ cũ cùng chiến tranh tàn khốc đã từng theo đóm ăn tàn, mang bạn bè người than, ông bà, chú bác, anh chị em… ra đi biền biệt, gieo đau thương tang tóc khổ sầu cho hàng ngàn gia đình vừa cáo chung. Tôi chua xót nghĩ thầm:
                        {Tôi thấy mặt trời mặt trăng, chưa hẳn là mắt sáng. Tôi thấy sóng vỗ, gió gào rền vang đó đây; chưa hẳn tôi đã thấu hiểu hết mọi điều. “Các ông” có thể chế ngự đời sống của tôi bằng mọi hình thức, nhưng không thể khống-chế sự tự do trong tư tưởng của tôi. Dù các ông có đi đêm với ai thành công. Đi với Tàu. Với Tây. Với Mỹ hay với Ta. Thì có lẽ đất nước nầy cũng thất bại. Vì hàng rào Ấp Chiến Lược (Strategic Hamlets) đắc sách kiên cố kia: thừa nước đục thả câu, đã bị nhổ phăng đi, nay bị sụp. Không thể sàng lọc trắng đen ra môn ra khoai - Thì tiêu tùng cả đời nhà họ “Mạt” ấy chứ chả chơi!} Thiện tai!

                        “Ông” đắc thắng nào (lên thay thế “ông” chiến bại), cũng vỗ ngực tự hào ta là nhất. Rồi căn cứ vào điều luật cũ, tái lập điều chỉnh nên dự luật mới. Có khi sáng tạo, thêm bớt, sửa đổi, vá víu lại… cho hợp tình hợp lý với thời cuộc. Giống như người cỡi con lừa một tay cầm cây roi, có bó cỏ khô với củ cà rốt móc lủng lẳng ở trước càng xe. Họ đang quay lưng về phía trước, còn một tay kia túm lấy đuôi lừa. Họ ung dung nhìn lại nơi đã toàn thắng mỹ mãn vừa đi qua. Chả cần chung vai đấu cật, góp sức an hoà, đoàn kết vạch định tương lai sẽ cam go, hay cùng nhau nhìn về một hướng phải đưa dân tộc đến.

                        Nếu họ chịu khó nhìn về dĩ vãng… để cùng nhau hướng tới tương lai: xây dựng một quốc gia hùng mạnh, thì quá tốt. (Họ sẽ cai trị muôn dân như Đường Minh Hoàng vương quốc đời Tần. Hay sẽ như Thiers lãnh tụ Cộng Hoà Pháp đàn áp đẫm máu Công Xã Paris? Nào ai biết được ngày mai sẽ ra sao?) Còn con lừa già thì cứ gồnh mình lên ra sức cố lôi chiếc xe thổ mộ cọc cạch, nó mở to đôi mắt trợn trừng mà bò lết tới trước, nó chỉ mong ước và hy vọng “tợp” được bó cỏ hay củ cà rốt, ăn đỡ lòng.

                        Tôi rất ghét và thù chiến tranh hay chuyện “chính chị chính em”, xin cúi đầu an phận làm phó thường dân nam bộ thấp hèn. Tôi cũng không bao giờ dám mơ tưởng mình sẽ là một người đẹp nổi tiếng viết văn, làm thơ. Càng không bao giờ tôi dám tự hào mình sẽ cầm cây bút chiến: để viết văn nghị luận hùng biện hay ho. Chữ đẹp tốt, văn thơ giỏi mà làm chi!? (mặc dù chữ viết cuả tôi khá đẹp). Tôi muốn thực tế ghi lại những điều quá thật: càng không vì thù giận ai, không chỉ trích, không bon chen, không a dua lừa dối ai.

                        Chỉ vì cuộc sống ấy có phần gián tiếp ảnh hưởng sâu sắc đến số phận riêng mình, vì những sự kiện qúa thật, khiến tôi đau lòng khổ sở không ít. Tôi rất đồng ý: “quân tử trọng danh khinh tử”, thì họ và các ông không cùng quan điểm là lẽ thường. Thân cây thông tuy cứng cáp chắc chắn và tròn trịa, thẳng đứng, nhưng khi ta róc hết vỏ, trau chuốt, bào láng, coi thật đẹp, mà chỉ có ba cây thông chôn ở ba góc, thì không thể chống nỗi một mái nhà.

                        Trong gia đình cũng thế, nếu cha muốn làm gì, đi đâu, là quyền tự do của cha, rất có thể các con không ai có thể cản. Phần con, nếu cha thấy con có chỗ nào không tốt, là có thể chứng minh một phần cha đã giáo dục con có chỗ sai. Đời người như một ván cờ lớn, chưa biết sự lựa chọn, đặt để của cha và con đúng hay sai. Thì cũng ví như căn nhà ấy có hai cửa sổ đã xoay nhìn về hai hướng cố định: Hướng đông và hướng tây. Đứng ở cửa sổ nhìn về hướng tây: con thấy vườn hoa dưới ráng hoàng hôn bảng lảng rất đẹp. Còn nơi ô cửa kia khi mở rộng ra, chưa chắc hợp với suy tư và nhãn quan mình.

                        Vậy thì, phạm trù cách mạng riêng đối với tôi, nào có ích gì! Phe chế độ cũ có sụm bà chè. Phe cách mạng mới có “phừng phưng” đứng lên - Có quật khởi. Trường tồn. Tiêu vong; thật chả là gì - khi đa số dân chúng vẫn chạy ăn từng bữa một. Mồ hôi và nước mắt chan hoà trên bát cơm, biết bao khuôn mặt hãi hùng âu lo thời tao loạn. -Chiến tranh, chết chóc, đau khổ và cơm áo- Những thứ nầy cứ quyện chặt vào nhau, thì lấy đâu ra có ngày giờ nghĩ đến việc hó hé chống đối ai kia chớ!

                        Chiếc cầu vồng bảy sắc sinh động nối mạch tình quyến luyến giữa con người và con người, mà tôi thân thiết gọi là “lòng nhân ái đùm bọc chí tình yêu thương nhau xiết đỗi” – đã nhạt phai trong tôi ít nhiều. Không còn đậm đà như những năm tôi sống trong vùng khói lửa chiến tranh liên miên, từ: Quảng Trị. Mộ Đức. Minh Long. A Sao. A Lưới. Sa Huỳnh. Tà Biên... nữa rồi. Do đã từng chứng kiến cảnh chiến tranh đau thương vô vàn để lại trong đời. Cảnh người dân chất phác nghèo khó cơ cực nhọc nhằn… và người lính vô tội vì quê hương và dân tộc, họ phải chết bờ chết bụi thảm thiết, thây vùi nông một nấm mộ vội vã bên đường. Thấy cảnh con người ốm đau bệnh tật lê lết không thang thuốc đầy nhóc ở xó xỉnh mấy thôn làng hẻo lánh, họ cố kéo lết cuộc đời thấp hèn, đớn nghèo luôn bám riết sau lũy tre xanh quê hương.

                        Tôi đã biết thế nào là lễ độ, khi mặt trời ở phương đông vẫn hào phóng tỏa những vầng hào quang tuôn chảy xuống vạn vật, lóng lánh trên những tàng cây xanh um bóng mát, tạo thành những dòng sáng lung linh rực rỡ trường tồn miên viễn rạng ngời. Trái lại, trong tôi bùng lên cuộc tình buồn kèm theo nỗi hận căm cuộc chiến đấu mưu cầu cho tự do! Dù rằng đối với tôi tự do vẫn tuyệt vời thoải mái hơn tù tội, gò bó, o ép... Hoà bình vẫn sung sướng trân quý hơn chiến tranh. Chiến tranh đem lại giết hại, thù hận huynh đệ tương tàn điên cuồng, tàn ác thẳng tay chém giết lẫn nhau. Vết xe cũ đã lăn, và đang lăn trên con đường gian khó. Khiến lòng ta thêm đau đớn xót xa hơn.

                        Tự do! Hai tiếng nầy vang lên nghe dạt dào quyến rũ, thân thương, truyền cảm, trìu mến, bao dung, ngọt ngào, thú vị, hay hay, lý tưởng, hoài bão, dấn thân, tha thiết mời gọi nhau thế nào ấy! Vai trò “Cách mạng, đảo chánh” hay đỉnh đạt hơn: “Dành lại quyền tự do thống trị”… từ tay kẻ khác ; không hàm hậu ý chế nhạo ai, nghĩa là chung vai góp sức làm sao cho đời sống cũ tốt đẹp hơn, ngỏ hầu nâng con người cùng khổ lên cao. Họ sẽ có cuộc sống ấm no và hạnh phúc, mong cho đất nước mau thoát ra cảnh chiến tranh tương tàn, vì chiến tranh luôn đè nặng lên lương dân vô tội. Tự do rất trân quý và đầy kính trọng, ngưỡng phục.

                        Từ ngày mất nước thì… chuyện tình đời và hai chữ tự do ấy đã quá xưa, cũ rích như trái đất rồi. Tôi và có thể hầu hết mọi người Việt Nam thân thương đều thiết tha, bao dung, và độ lượng; khi định nghĩa tổng quát về danh ngữ hay tính ngữ: “Tự Do”: Đó là phạm trù triết học, biểu hiện một quy luật nhịp nhàng, có tự do trong quy định trật tự, ôn nhu, tiết độ, vững bền của một quốc gia. Sự phát sinh tự do qua lập trường, hoài bão, suy tư, ý chí, hành động của con người và xã hội, nhân quần. Tôn trọng các quyền phát huy tự do cụ thể, rất căn bản (nghĩa là không bị cấm đoán, cưỡng ép, hay bị ràng buộc khắt khe bởi: những quy chế độc tài: hiến pháp, lập pháp, luật pháp, tư pháp, hành pháp… gắt gao; nói chung chung).

                        Tự do - nhưng phải tôn trọng quyền công dân trong một quốc gia độc lập, có căn bản, rất trật tự, có đạo đức, mềm dẽo, tiết chế ôn nhu, - mọi người phải hành xử chính xác và hợp lý. Không được thoát ra ngoài cương lĩnh và cương vị cuả một con người tôn trọng nhân sinh – từ quốc gia tự do có chủ quyền và độc lập. Thế thôi.
                        _ * _


                        Tình Hoài Hương
                        Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-22-2017, 11:58 PM.
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment

                        • muahong
                          Người Thân
                          • Mar 2009
                          • 89

                          #87
                          Xin chia sẻ với THH :
                          Tôi thấy mặt trời mặt trăng, chưa hẳn là mắt sáng. Tôi thấy sóng vỗ, gió gào rền vang đó đây; chưa hẳn tôi đã thấu hiểu hết mọi điều. “Các ông” có thể chế ngự đời sống của tôi bằng mọi hình thức, nhưng không thể khống-chế sự tự do trong tư tưởng của tôi. Dù các ông có đi đêm với ai thành công. Đi với Tàu. Với Tây. Với Mỹ hay với Ta. Thì có lẽ đất nước nầy cũng thất bại. Vì hàng rào Ấp Chiến Lược (Strategic Hamlets) đắc sách kiên cố kia: thừa nước đục thả câu, đã bị nhổ phăng đi, nay bị sụp. Không thể sàng lọc trắng đen ra môn ra khoai - Thì tiêu tùng cả đời nhà họ “Mạt” ấy chứ chả chơi!} Thiện tai!
                          ........Trong gia đình cũng thế, nếu cha muốn làm gì, đi đâu, là quyền tự do của cha, rất có thể các con không ai có thể cản. Phần con, nếu cha thấy con có chỗ nào không tốt, là có thể chứng minh một phần cha đã giáo dục con có chỗ sai. Đời người như một ván cờ lớn, chưa biết sự lựa chọn, đặt để của cha và con đúng hay sai. Thì cũng ví như căn nhà ấy có hai cửa sổ đã xoay nhìn về hai hướng cố định: Hướng đông và hướng tây. Đứng ở cửa sổ nhìn về hướng tây: con thấy vườn hoa dưới ráng hoàng hôn bảng lảng rất đẹp. Còn nơi ô cửa kia khi mở rộng ra, chưa chắc hợp với suy tư và nhãn quan mình.

                          Comment

                          • Tinh Hoai Huong
                            Senior Member
                            • May 2009
                            • 1081

                            #88
                            THH cảm động

                            Nguyên văn bởi muahong View Post
                            Xin chia sẻ với THH :
                            Tôi thấy mặt trời mặt trăng, chưa hẳn là mắt sáng. Tôi thấy sóng vỗ, gió gào rền vang đó đây; chưa hẳn tôi đã thấu hiểu hết mọi điều. “Các ông” có thể chế ngự đời sống của tôi bằng mọi hình thức, nhưng không thể khống-chế sự tự do trong tư tưởng của tôi. Dù các ông có đi đêm với ai thành công. Đi với Tàu. Với Tây. Với Mỹ hay với Ta. Thì có lẽ đất nước nầy cũng thất bại. Vì hàng rào Ấp Chiến Lược (Strategic Hamlets) đắc sách kiên cố kia: thừa nước đục thả câu, đã bị nhổ phăng đi, nay bị sụp. Không thể sàng lọc trắng đen ra môn ra khoai - Thì tiêu tùng cả đời nhà họ “Mạt” ấy chứ chả chơi!} Thiện tai!
                            ........Trong gia đình cũng thế, nếu cha muốn làm gì, đi đâu, là quyền tự do của cha, rất có thể các con không ai có thể cản. Phần con, nếu cha thấy con có chỗ nào không tốt, là có thể chứng minh một phần cha đã giáo dục con có chỗ sai. Đời người như một ván cờ lớn, chưa biết sự lựa chọn, đặt để của cha và con đúng hay sai. Thì cũng ví như căn nhà ấy có hai cửa sổ đã xoay nhìn về hai hướng cố định: Hướng đông và hướng tây. Đứng ở cửa sổ nhìn về hướng tây: con thấy vườn hoa dưới ráng hoàng hôn bảng lảng rất đẹp. Còn nơi ô cửa kia khi mở rộng ra, chưa chắc hợp với suy tư và nhãn quan mình.
                            ***
                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 03-23-2017, 12:04 AM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment

                            • Tinh Hoai Huong
                              Senior Member
                              • May 2009
                              • 1081

                              #89
                              Ngày 2 tháng 11 năm 1963: Dấu Ấn Lịch Sử Dài Nhất Thế Kỷ


                              Dấu Ấn Lịch Sử Dài Nhất Thế Kỷ
                              Tình Hoài Hương
                              *


                              Sau những chấn động kinh khủng xảy từ vụ hăng say hoạt động cách mạng, chống đối, xuống đường biểu tình biểu tọt liên miên bùng nổ, thì lúc nầy tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam như chiếc ghế cũ chỉ còn ba chân gập ghềnh càng ở vào giai đoạn “dầu sôi lửa bỏng”. Vì Dân nghiệm thấy đằng sau hậu trường có bóng dáng những tay “mưu đồ chuyên nghiệp”, họ đã giựt dây ngầm tạo ra vô tổ chức về sự bạo loạn. Có tình trạng “rất hỗn”, hầu lợi dụng thời cơ… thừa nước đục thả câu. Nói chung, tình hình lúc đó quả thật là một xã hội đang trôi bồng bềnh trên biển cả, giống như một chiếc tàu không người lái. Mặc ai muốn làm gì thì làm. Luật pháp bị xô ngã, nhường bước cho sức mạnh bạo lực lên nắm chính quyền điều hành.

                              Vì Dân dạo ấy tuy còn rất trẻ và cùng bạn sinh viên năm thứ Hai Văn Khoa, nhưng nàng có nhiều băn khoăn, đắn đo, bâng khuâng suy nghĩ về khả năng, tài đức của những vị “lãnh đạo cách mạng” nầy. Thêm vào đó dựa vào một vài dữ kiện đáng ghi nhớ xảy ra về sự kiện lịch sử cay đắng đến xót xa bàng hoàng, khiến nó mất đi tất cả lý-tưởng tín-trung vào cuộc đấu tranh trung-dũng. Vì Dân cảm thấy cách mạng nhạt nhẽo mù mờ vô bổ từ đó. Hơn nữa, chính lúc nầy chuyện bè phái chính trị hoàn toàn không phù hợp với quan niệm, hoài bão, lập trường của Vì Dân.

                              Dân muốn tìm riêng cho mình sự thảnh thơi bình lặng trong đời sống, quyết giữ tinh thần ôn nhu trong sáng, tìm một cuộc sống vô-tư-lự, thanh thản, hữu hiệu, thật sự đáng sống; để góp phần nho nhỏ giúp ích trong cuộc đời, một cuộc đời thực sự bình dị mến thương nhau. Ôn hoà, an lành có nghĩa có tình như mọi công dân hiền hậu khác: Không oán ghét, chẳng vò xé hận thù. Không vướng mắc mọi ưu tư trong lòng.

                              Do một tuần lễ công tác trong Tổng-hội sinh-viên Việt Nam ở Huế, đã gây cho Vì Dân bao điều băn khoăn, nghẹn ngào, xót xa quá cay đắng. Khi cùng làm việc với Vì Dân trong tuần lễ đó, có một anh sinh viên sống tại Huế rất qúy mến bạn. Anh ta ngầm ngầm báo với Vì Dân là:

                              - Hãy hết sức cẩn thận. Đề phòng. Tính mạng của các anh chị hiện đang nằm gọn trong tay “họ”.

                              Thú thật, nàng Vì Dân không hiểu nỗi mình đã làm gì sai? Và, khi anh ta nhấn mạnh ở điều nầy, thì nàng chẳng thể biết ra sao. Nàng không hình dung chữ “Họ” ở đây, là anh ta muốn “ám chỉ” về ai? Ai? Bởi vậy, ban ngày Vì Dân và các bạn lo ghi tên ở khách sạn, nhưng ban đêm cùng nhau đi ẩn nấp chui rúc nơi bờ bụi như lũ chuột, khi ngủ chỗ nầy, khi ngủ dưới ghe bà Nẫm, đến khuya lại cho ghe neo đi chỗ khác.

                              Lúc thì lên gần gầm cầu Bạch Hổ, khi chạy về khu Gia Hội. Vân vân... Đồng thời, Dân rất buồn vì chuyện tình yêu giữa “chàng và nàng” bị đổ vỡ vô cớ. Kèm theo chuyện chính trị náo loạn dị kỳ. Dân quá chán ngán không muốn mọi thứ ấy luôn thọc mũi dùi vào đời sống sinh viên, quấy rối lòng mình nữa! Bởi vì; (tất nhiên trong đó có cả các anh bạn và nhất là có người yêu dấu của Vì Dân):

                              Vì Dân cảm nhận ra rằng ở tại miền Trung bấy giờ hoàn toàn do nhóm sinh viên sừng sỏ hùng hậu chi phối chính quyền. Đấy là dấu hiệu “loạn” đã lên cao độ rồi. Cái nền độc lập tự do dân chủ vừa mới sơ sinh, mà manh nha thủ đoạn “rối” như thế nầy, thì… tương lai đất nước sẽ tối đen như đêm ba mươi Tết.

                              Theo thiển ý cuả Dân tham gia làm cách mạng (vì thực sự yêu nước, muốn cùng nhau xây dựng một quốc gia hùng cường, một đất nước tự do hưng thịnh, vinh sang và trường tồn; ta không chỉ chìm đắm bới móc quá khứ và ôm hận thù, điều cần thiết và cấp bách muốn thực thi cách mạng trước tiên ta cần phải an-nội. Thế nhưng giờ đây thanh niên là rường cột của quốc gia đang giống như con dao hai lưỡi. Rồi mọi chuyện sẽ đến đâu? đi đâu? về đâu? Vì Dân cảm thấy buồn bã chán nản lên tột đỉnh. Cúi đầu nhanh nhẹn quay gót lo thụt lùi lui xa chính trường, Vì Dân không hề dám ngoảnh lại len lén liếc nhìn…
                              * * *

                              Bởi, Vì Dân còn nhớ rất rõ: Buổi chiều đó, một buổi chiều có mây trắng bồng bềnh bay bay trên lưng trời, có nắng nhạt nhè nhẹ rót xuống thế trần, có gió mơn man trên đầu cây ngọn cỏ, cảnh vật êm ả bình thường như bao buổi chiều khác. Có khác chăng là một tí nữa đây Vì Dân và hai anh bạn sẽ được vinh dự trở thành số ít người hiếm hoi, tận mắt chứng kiến một sự việc đặt biệt ghi đậm nét như một dấu ấn lịch sử: Từ đầu đến cuối sự kiện trọng đại nầy: đã có nhiều dư luận, có nhiều lý thuyết, có nhiều phán đoán, có nhiều nghi vấn. Nhưng “trăm nghe không bằng mắt thấy” về những nhân vật trọng đại liên hệ đến lịch sử. Đó là một buổi chiều định mệnh… vô cùng đớn đau bi thảm vào đầu tháng 11 năm 1963.

                              Đúng hơn là buổi sáng ngày 02 tháng 11 năm 1963, ông Trần Trung Dung (nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Ông Dung đã gọi phone đến nhà Năm. Trong nhà có thêm bạn: Trung, Thạch, và Vì Dân ngồi gần bàn làm việc. Năm bắt phone và chuyển sang cho ông Ba chủ trại hòm Tobia. Sau một hồi trao đổi, giọng ông Ba trở nên lo lắng. Bối rối. Quắt quay. Bồn chồn. Như có điều gì bức bách lắm. Cuối cùng ông Ba thở dài, buông phone xuống, e dè nhìn mọi người hiện diện, đôi mắt ông rướm lệ rồi ngập ngừng nói nhỏ:

                              - Tổng thống, và ông cố vấn đã chết trong chiếc thiết vận xa M113 mang số 80.989, bởi lệnh của ông Dương văn Minh, do sát thủ là Nguyễn văn Nhung giết hại rùi.

                              Sửng sốt bàng hoàng. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, tất cả túc trực trong phòng khách vội mở radio lên nghe. Hội đồng tướng lãnh do Trung-tướng Dương Văn Minh đứng đầu đảo chánh đã thành công. Ông Minh tuyên bố: “Tạm thờ lãnh đạo quốc gia”. Đài Phát Thanh Sài Gòn chỉ mở nhạc hoà tấu, luôn luôn nói đi nói lại là: “Anh em ông Diệm đang ẩn nấp, hoặc tẩu thoát đâu đó”…

                              Chẳng nói chẳng rằng, ông Ba vội vã kiếm người đi gọi đạo tỳ đến xưởng hòm để chuẩn bị “hậu sự” cho Tổng Thống Diệm và ông cố-vấn Nhu. Ở nhà kho của ông Ba có nhiều hòm tuy đẹp, đắt tiền. Nhưng không mấy xuất sắc. Chỉ còn một cái hòm tốt nhất bằng gỗ gia tỵ rất quý hiếm, có bọc sẵn thêm cái hòm kẽm ở bên trong. Ý ông Ba muốn để cái hòm nầy cho ông cố vấn Nhu. Ngoài ra, còn một cái hòm nhôm mới toanh láng cón của quân đội Mỹ. Chiếc quan tài nầy rất đẹp, làm bằng nhôm nhẹ, có hai lớp. Bên ngoài mạ lớp sơn bóng loáng, bên trong bọc một lớp đệm nhung mỏng, êm ái như tấm đệm giường ngủ, có thể mở nắp ra đóng vào bằng kính dễ dàng, lộ cả khuôn mặt người quá cố cho mình nhìn tiễn biệt phút cuối cùng, có chốt cài bên hông.

                              Nếu là xác đã ướp lạnh, có thể để lộ hẳn ra ngoài. Ở Việt Nam chưa xuất hiện loại hòm tân thời như thế. Lẽ ra là chiếc hòm rất sang trọng đẹp đẽ qúy hiếm nầy sẽ đựng thi hài một viên Tá người Mỹ đã từ trần tại Việt Nam. Nhưng không hiểu sao họ mang vứt bỏ chiếc quan tài ở bên hông nhà ướp lạnh trong phi trường Tân Sơn Nhất. Tình cờ ông Ba đi làm việc đã thấy. Tiếc quá nên ông Ba nài nỉ, thương lượng với tên quản lý nhà xác, và đã mua lại. Ông Ba đem về trưng bày trong tiệm cuả mình coi chơi. Ai đến mua giá cao cỡ nào, ông cũng không bán. Thế là ông Ba quyết định:

                              - Chỉ có Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới xứng đáng nằm an nghỉ trong đó thôi.

                              Cả hai khuôn hòm được mang ra lau chùi bóng loáng, sát trùng sạch sẽ, họ chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh. Gần 11 giờ trưa phone của ông Trần Trung Dung gọi báo:

                              - Nhờ ông vui lòng mang khuôn hòm đến nhà xác bệnh viện Saint Paul. Ở đường Tú Xương. Tuyệt đối không cho đông ngườI đi và ai lạ tháp tùng. Xe chỉ chở một lần một quan tài đến đó trước.
                              Ông Ba nêu ý kiến:
                              - Có nên lấy thêm một xe nữa. Đi theo phía sau xa xa. Hay không?
                              - Chở từng cái một. Mang cái “đầu tiên” trước.

                              Ông Ba tuân lệnh. Đem cái hòm đặc biệt “đầu tiên” đi. (ý họ muốn nói đến “cái đầu tiên”, là khuôn hòm của Tổng-thống Diệm, người sẽ liệm trước tiên). Chiếc xe tang từ từ lăn bánh. Trên xe có Bà chủ tiệm hòm, Năm, Vì Dân, Thạch, Trung, cộng thêm bốn người đạo tỳ. Xe lao vào đường phố vắng tanh như đi trong thành phố chết, hoặc đang vào giờ giới nghiêm, thiết quân luật vậy. Đến đường Tú Xương, Vì Dân mới thấy họ đã cho cảnh sát, quân cảnh đứng ở các chốt. Xe jeep chận ngang ngỏ vào nhà xác. Ngoài các anh: Năm, Thạch, Trung, Vì Dân, bà chủ tiệm và bốn đạo tỳ ra, còn có hai soeur có lẽ ở bệnh viện nầy. Thêm vợ chồng cháu rể của tổng thống đang lăm le chiếc máy ảnh trong tay.

                              Khi xe tang vào tới bên trong, thì một soeur len lén lấp ló nhìn trước ngó sau, coi có vẻ gian, sợ sệt lén lút, như làm chuyện mờ ám gì, chả biết (hình như soeur có lệnh trước) đã vội vàng kéo cánh cửa đóng ập lại liền. Trong nhà xác chỉ có một ngọn đèn vàng lù mù leo lét treo lơ lửng treo tòn ten trên trần.

                              Bốn đạo tỳ mang quan tài đặt trên bệ đá cẩm thạch trong nhà xác. Họ đợi khoảng hai mươi phút sau, thì có một chiếc xe hồng thập tự kiểu Dodge nhà binh (màu cứt ngựa) thắng lết bánh, đỗ xịch lại. Bà soeur canh cổng kia lật đật mở cánh cửa nhà xác ra. Từ trên xe có bốn quân nhân phóc xuống, vội vội vàng vàng khiêng chiếc băng ca đi lắc lư nhún nhảy. Trên đó có một người nằm, cũng nhún nhảy lắc lư theo nhịp bước mau. Họ mang băng ca vào hẳn phía trong, để xuống dưới đất. Họ chả buồn nhìn ai hay nói câu nào, họ cúi đầu vội vã quay trở ra, leo tọt lên xe. Chiếc xe Dodge rít lên nghe rợn tóc gáy vút đi trong sự im lặng hãi hùng…

                              Lúc bấy giờ cả nhóm đông trong phòng liền bước tới đứng sát bên băng ca. Người nằm trên băng ca là vị tổng thống kính mến Đệ Nhất Cộ̣ng Hòa của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ngài mặc bộ veston màu xanh rêu, thắt cà vạt xanh đậm có chấm trắng. Dưới chân ngài mang một chiếc giày màu đen, bên chân kia chỉ có một chiếc tất trắng. Cả bộ comple chìm trong màu máu, trên đầu tổng thống có một vết thương sâu từ dưới ót trổ lên đỉnh đầu, bê bết máu. Ngài nằm đó thản nhiên im lặng, dường như tổng thống say chìm trong giấc ngủ ngàn thu bình an không muộn phiền, chẳng khổ đau…

                              Ánh sáng vụt loé lên. Thì ra ông cháu rể ngoại quốc kia đã bấm được vài ba tấm ảnh. Chả hiểu ông cháu nầy lúng túng, run rẩy sợ hãi, lo lắng hay sao, mà ông lại vội cất dấu máy hình, không chụp thêm, mà lại ngưng? Hay ông thấy cảnh máu me lan tràn như thế thật đau lòng. Nên ông không cầm nỗi cơn nghẹn ngào xúc động đau đớn dâng tràn bờ mi?!
                              Đạo tỳ khiêng xác Ngài lên, đặt trên một bệ đá cẩm thạch có lót hai lớp vải trắng. Bà chủ tiệm nói với Năm, Thạch, Trung, Vì Dân, hai soeur:

                              - Nhờ lấy bông gòn và compresse nhúng đầy alcohol, lau nhẹ nhàng, lau sạch sẽ, lau rất cẩn thận các vết máu giúp tôi.

                              Họ lộ vẻ kính cẩn, ân cần, chu đáo sửa sang áo quần Tổng-thống Diệm chỉnh tề, ngay ngắn. Bốn đạo tỳ chăm chỉ cắm cúi lo tẫn liệm ngài đàng hoàng. Bà chủ tiệm hòm lâm râm đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người quá cố. Bà nhét vào tay tổng thống xâu chuỗi hột mân côi. Hình như Tổng Thống Diệm vừa mới chết, cho nên hai bàn tay ông đã dễ dàng khép lại nhẹ nhàng giữ xâu chuỗi như ông đang lim dim đọc kinh lần hạt. Mọi người hiện diện nín thở có cảm tưởng tim đập thiếu nhịp. Thở hụt hơi. Nghẹn ngào. Ngậm ngùi. Cay đắng. Xao động. Đau xót kinh khủng. Thương tiếc sâu sa. Buồn mênh mông cho kiếp phù sinh bạc mệnh. Ngắn ngủi. Bẽ bàng!

                              Họ chưa kịp đậy nắp hòm, thì chiếc xe hồng thập tự lúc nãy đã trờ đến. Cánh cửa lớn do bà soeur kia lum khum hé mở ra. Đám lính lật đật bưng cái xác thứ hai vào. Bà soeur vội vàng khép nhanh cánh cửa ngay. Đó là ông Cố-vấn Ngô đình Nhu mặc áo sơ mi trắng cụt tay đẫm máu. Áo bỏ trong quần màu nâu hơi xộc xệch, thắt dây lưng da, mang đôi giày màu kem. Gương mặt ông Nhu có vẻ oán hận, bất bình điều gì, vầng trán thật cao cau lại nhiều nếp nhăn. Đôi môi ông mím chặt nghiêm nghị. Không thấy ông Nhu có nét thanh thản bình an (như gương mặt của người anh). Ông nằm nghiêng qua một bên. Họ thấy ông bị nhiều vết đâm sau lưng. Loại dao bayonet của quân đội. Máu vẫn ứa ra từ các vết thương đó. Trên đầu, ngay thái dương có hai vết thủng. Đó là dấu đạn đi từ bên nầy xuyên sang bên kia.

                              Công việc tẫn liệm cũng tuần tự diễn ra. Cẩn thận nhưng hơi vội vàng như lần trước. Không khí lúc nầy quả thực nặng nề kinh khủng! Im lặng hoàn toàn. Hình như ai ai cũng thở rất nhẹ. Vì họ sợ mỗi tiếng động làm dấy lên từ đáy lòng mình tiếng nấc, mà họ đã kềm sâu trong lòng khóc thương một kiếp người phù sinh: khi đứng trên tột đỉnh danh vọng cao sang dường bao, ấy thế mà lúc lìa đời thì quá ư bẽ bàng bạc phận!?

                              Hoặc sẽ làm hỏng không khí kính cẩn tôn nghiêm; nơi con người thực sự đã bước chân vào cõi vô cùng hư vô? Quả đúng là phân giới giữa sự sống và cõi chết chỉ ngăn cách bằng một sợi tóc dài lê thê và mỏng tanh, bởi một bức màn sô vô hình tầm thường mà mong manh. Nhưng, kiếp người ở hai phân giới ấy đã không thể làm gì khác hơn. Người ở biên giới nầy không thể va mặt chạm tay vào biên giới vô hình kinh khủng bên kia, và càng không thể biết thêm gì nhau hơn!

                              Đó là hình ảnh nhỏ nhoi tầm thường rất cô độc của con người hiện hữu đối mặt trước sự siêu hình cao cả của sự sống và sự chết. Quả thật không là gì cả khi thân xác ấy trở thành bất động, lung linh như ảo ảnh hư vô mà vô cùng sống động, thực tế và quá đỗi thương tâm. Vì Dân sẽ không bao giờ quên, không bao giờ phai mờ trong trí óc. Vì, rất thật. Quá thật tình cờ… vô tình mình làm chứng nhân một sự kiện lịch sử trong thế kỷ. Ý thức nhận rõ ràng: Cuộc sống sao quá mỏng manh như một bóng mây trắng hờ hững bay giữa lưng trời rám bạc. Như cành cây oằn thân trong bão khi gió muốn lặng, mà dễ đâu nào!

                              Vì Dân cảm thấy mệt lả, nhịp tim rung lên từng cơn run rẩy, nghẹn nghẽn nỗi đau trong cổ, nàng vội kéo Năm, Thạch, Trung, bước ra thềm nhà xác, đi về hướng Phan Thanh Giản, là mong cho dễ thở hơn. Ngay lúc đó, Vì Dân thấy một đoàn biểu tình náo nhiệt rầm rộ kéo nhau xuống đường. Họ vừa đi vừa giơ nắm tay hò la hét tướng lên: đả đảo “chế độ gia đình trị họ Ngô”. Họ đi thẳng tới biệt thự đường Phan Thanh Giản của ông Bộ-trưởng Bộ Nội Vụ Bùi Văn Lương, (người đã từng nắm giữ chức vụ “Tổng Ủy-trưởng, Tổng Ủy Di Cư năm 1954″).

                              Họ lao vào nhà ông Lương đập phá, hôi của. Tất cả mọi thứ trong nhà thoáng chốc biến sạch hết ra đường. Thậm chí Vì Dân còn thấy có mấy người bưng hai con chó Nhật sợ hãi nhìn quanh như nó đang muốn tìm cố chủ. Đám biểu tình bắt đầu xúm lại nổi lửa trong sân. Rất may, lúc đó có toán Cảnh-sát Dã-chiến đến. Họ can ngăn kịp thời. Ôi! Cuộc Cách Mạng phừng phưng thành công rồi đó. Toàn dân bấy giờ đã thoát ra khỏi chế độ “gia đình trị Họ Ngô”. Nhưng, rồi đây sẽ đến phiên ai đi tới đi lui, đi lên và đi xuống? Sẽ ra sao? Xin nhường câu trả lời cho lịch sử từ bây giờ và những tháng năm sau nầy phán xét.

                              Nghe tiếng bà chủ gọi, các anh, chị, vội chạy trở về nhà xác: khi hai chiếc xe hồng thập tự đã đến lấy quan tài hai anh em họ Ngô vừa đi khỏi. Họ nói với tài xế: “Vô Bộ Tổng Tham Mưu”. (Vì lý do an ninh, nên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chuyển hai xác anh em Tổng thống vào Bộ Tổng Tham Mưu, an táng trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo, cạnh chùa An Quốc). Hiện diện, làm việc cấp tốc trong đêm khuya có vị linh mục người Pháp, ông bà Trần Trung Dung, Trung-tá Nguyễn Văn Luông (Trưởng ban mai táng), một số ít quân nhân ở Tổng Tham Mưu. Thế rồi tiếp theo sau mấy cuộc đảo chánh. Chỉnh lý. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đương nhiệm nghe lời ông thầy địa lý phán một câu xanh dờn:
                              - Vì hai huyệt mộ kia đã chôn nhằm “long huyệt”. Cho nên đất nước Việt Nam đã xảy ra lộn xộn liên tục. Muốn cho yên ổn. Phải cho dời ngay đi.

                              Thế là sau ngày đảo chánh ít lâu, bên phòng mai táng ở quân đội miền Nam Việt Nam Cộng Hòa lại cho mời ông Ba đến bàn trước tính sau cặn kẽ. Họ nhờ ông Ba làm hai cái kim tĩnh xây gạch, tráng xi măng trước. Ông Ba lại cho người lên bộ Tổng Tham Mưu lén lút, hì hục đào bới cả hai anh em cố Tổng Thống vào ban đêm. Đạo tỳ làm việc bù đầu suốt canh thâu; từ choạng vạng tối đến tờ mờ sáng mới xong. Ông Ba đem hai thi thể: ông Diệm và ông Nhu về chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

                              Khi hạ rồng rồi, ông Ba có lệnh chỉ được phép lóng cát phủ lên bề mặt hai ngôi mộ bằng phẳng cho đầy. Bên trên mặt chỉ được lấp ba tấm ván sơ sài. Trông hai ngôi mộ rất hèn mọn, quá tầm thường. Tuyệt đối ông Ba không được phép ghi tên tuổi, ngày tháng bia trên mộ gì cả. Dù chung quanh đó có những ngôi mộ cẩm thạch bóng loáng, vinh sang hào nhoáng lộng lẫy khác. Vì “họ” sợ dân biết tin hai vị nằm đó, họ sẽ đến cầu nguyện và ngưỡng mộ (!?). Nhưng làm sao mà che được tai mắt dân lành? Không biết do đâu “rò rỉ ra” nguồn tin:

                              - Chính hai ngôi mộ đơn sơ không tên không tuổi không hình bóng nầy: là mộ phần của anh em Tổng-thống Ngô Đình Diệm.

                              Thế là từ đó, mỗi khi ai ai có dịp vào thăm nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Họ liền đi vào cổng chính, đến đoạn giữa “hai ngôi mộ Anh Em”, nằm đối diện với cái tháp tưởng niệm, và ngôi mộ cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ to lớn nguy nga, “hoành tráng” nhìn sang “hai anh em”. Có một điều rất khác biệt với những ngôi mộ lộng lẫy sang trọng kia. Thì trên hai ngôi mộ đơn sơ đạm bạc đớn hèn khiêm tốn nầy, luôn luôn có những bó nhang trầm nghi ngút khói, có đóa hoa tươi màu thay đổi mỗi ngày, có bốn ngọn nến sáng lung linh thắp suốt đêm. Hình như người ta dù sợ hãi người khác thanh trừng, nên chỉ âm thầm lén lút đi thắp nến đốt nhang cầu nguyện. Họ luôn tưởng niệm cho “Ngày dài nhất thế kỷ, buổi chiều định mệnh đó”. Họ là những người dân hiền lương ẩn danh nghèo hèn như thầm nói:

                              - Vĩnh biệt Tổng Thống Diệm. Vĩnh biệt ông Cố-vấn Nhu. Xin các Ngài cứ bình thản an nghỉ. Vì, đất nước Việt Nam vẫn còn là đất nước Việt Nam. Có thay đổi chăng, chỉ là con người, và những con người lãnh đạo quốc gia mà thôi. Nguyện cầu nhị vị an nhàn bình thản ra đi… hạnh phúc phiêu lãng ngao du sơn thủy, đi khắp trên mọi miền đất nước Việt Nam, và phù hộ cho dân lành được ấm no bình an hạnh phúc thật sự, như qúy vị hằng đợi mong. Xin qúy vị lãng quên cuộc đời bạc bẽo. Quên con người hết sức trắng trợn độc ác tham tàn và… xin hãy tha thứ cho con người rối rắm hèn kém suy nghĩ kia, đã tàn nhẫn hại mình. Kiếp người ô trọc đảo điên và phù du rồi sẽ khép lại sau đôi mắt hờ hững lặng nhìn.

                              Vì Dân tôi, một chứng nhân vô tình hèn mọn trong bóng tối lịch sử buông tiếng thở dài sâu lắng trầm buồn trên mỗi phím loan: Ối ôi ồi!!! …
                              * * *

                              Tình Hoài Hương
                              Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-15-2020, 06:12 AM.
                              Bút trần nào tả được lưu luyến!
                              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                              Tình Hoài Hương

                              Comment

                              • Tinh Hoai Huong
                                Senior Member
                                • May 2009
                                • 1081

                                #90
                                Cám Ơn ĐÀ LẠT Thương Yêu



                                Cám Ơn ĐÀ LẠT Thương Yêu
                                Tình Hoài Hương
                                *


                                Khúc xạ ánh sáng mặt trời chiếu xuyên qua lớp khí quyển ướt ẩm, khô, lạnh, đã tỏa bảy tia quan phổ: đỏ, vàng, lam, chàm, lục, cam, tím. Mưa phản chiếu tia nắng ở góc nhọn 42 độ, tạo thành chiếc cầu vồng ánh đẹp rất rõ. Phong cảnh Đà Lạt tuyệt diệu mờ ảo trong làn sương mù lơi lả buông. Đám mây mọng nước nũng nịu giăng tơ trời kéo lê thê sau lưng ngôi trường Grand Lycée.

                                Du khách thơ thẩn thả gót phiêu bồng trong lòng đô thị tĩnh mịch. Khi phố đêm len lén tràn về ướt sũng mưa phùn và sương muối bện quyện lại với nhau, thì càng về khuya dường như bầu trời càng lắng đọng bất tận, yên ắng lạ lùng. Cảnh vật trở nên thơ mộng giữa khí lạnh tê tê, buốt buốt, mơn man da thịt. Những thứ đó đã trìu mến quấn quýt ăn sâu vào lòng người. Đà Lạt càng dễ yêu. Thi vị. Duyên dáng. Thơ mộng và quyến rũ xiết bao bừng dậy nơi nơi!

                                Du khách muốn ghé thăm Đà Lạt (bằng đường bộ), phải đi qua hai ngả chính: Từ miền Phan Rang xa xôi muốn đi lên Thị-xã Đà Lạt, xe hơi phải đi về hướng núi toàn rừng tre, nứa, lồ ô, rừng hỗn giao lá kim, lá rộng, dẻ, rừng cây quý đủ loại với thông chen chúc trong vùng núi, kể từ Krong Pha. Xe hơi leo lên càng lúc càng cao… dưới những ngọn núi cao ngất ngút ngàn, gập ghềnh, khúc khuỷu, quanh co và những eo đèo dựng đứng, chênh vênh gấp ngặt khúc khuỷu như cùi chỏ, rất hiểm nghèo để len lỏi qua rừng rậm, âm-u um-tùm của đèo Ngoạn Mục cách thành phố Đà Lạt 40km.

                                Từ hướng Sài Gòn xe chạy về miệt Biên Hoà, Long Khánh rồi xe tách qua hướng đi Định Quán, đến đèo Marigui, đèo Bảo Lộc quanh co ngút ngàn núi tiếp núi rừng tiếp rừng, chen với những đồi trà, những đồi cà phê. Lúc xe chạy trên quốc lộ 20 giáp ranh với Di Linh là khu núi rừng thuộc Tỉnh Tuyên Đức. Taing, nơi đây người dân có thể vào tít tót trong rừng núi xa hiểm trở sâu hun hút, họ đào sâu xuống lòng đất, sàng đất cát trên chi nhánh các dòng suối (thuộc vùng suối của thác Pongour, Gougah…) để đãi lấy vàng.

                                Xe lên tới vùng đầu Đại Ninh, Đức Trọng… qua thác Liên Khương, thác Prenn là thuộc về phong thổ mát rượi Đà Lạt. Từ thời Pháp thuộc đã độc đoán rất hà khắt phân chia nước Việt Nam tách bạch ra ba miền: Bắc. Trung. Nam, để họ dễ bề thống trị dân ta. Thật là phiền toái, rối rắm qua bao dị biệt, và dần dần tự nhiên trở thành phân chia rõ ba miền tách bạch, vô tình đi đến sự chia rẽ đến nhức bưng cái đầu.

                                Đây! Thành phố Đà Lạt an ngự ở miền Cao Nguyên Trung-phần trên độ cao 1.475m (nếu Đà Lạt trên cao độ 2.163m > là tính từ mặt biển lên chóp đỉnh núi Lâm Viên). Đà Lạt ở tọa độ 11o 48’ 36” – 12o 01’ 07” vĩ độ bắc và 108o 19’ 22” đến 108o 36’ 27” kinh độ đông. Bắc giáp Lạc Dương. Đông & Nam Đơn Dương. Tây Nam giáp Đức Trọng. Đà Lạt là vùng khí hậu Á Ôn, nhiệt độ trung bình một ngày khoảng: 18/oC > 20/oC, thấp nhất là 12/oC.

                                Thị xã Đà Lạt nằm trong Tỉnh Tuyên Đức bao la rộng lớn gồm có 3 Quận: Đức Trọng. Đơn Dương. Lạc Dương. Toàn tỉnh Tuyên Đức có khoảng 20 loại khoáng sản: cao lanh, than nâu, boxit, than bùn, sắt, thiết, chì, kẽm, rubi, saphia, opan, kể cả các vùng núi rừng có rất nhiều vàng non... nhất là vàng ở vùng núi đồi hiểm trở ở Taing. Đà Lạt là vùng đất đỏ bazan và nâu vàng tụ bồi phù sa phì nhiêu từ suối, hồ, thác. Không những Đà Lạt là thắng cảnh thiên nhiên thơ mộng rất tuyệt vời, ngoạn mục, diễm lệ, trữ tình mỗi khi du khách ghé tạt về thăm, mà Đà Lạt giàu về tài nguyên quốc gia quý như: Gụ, cẩm lai, sao, tre, nứa, lồ ô… nhiều rừng thông hai lá, ba lá cao ngút bạt ngàn, rừng hỗn giao lá rộng, rừng lá kim, rừng tre nứa... Khoáng sản: bo-xit, bentonit, diatonit, sắt, vonfram, than nâu, đất sét, núi đá, thiếc, chì, kẽm, vàng, saphia, opan, thạch anh tinh thể, v.v… Nông sản: Trà, cà phê, artichaud, mận, hạt điều, nấm, dâu (nuôi tằm) các loại rau, hoa, v.v... Nhất là quanh năm vườn tượt xanh màu tốt tươi dồi dào hoa quả cây trái trĩu cành.

                                Khí hậu Đà Lạt ưu đãi nhất là phụ nữ và trẻ em da dẻ họ luôn trắng trẻo hồng hào mịn mượt. Ngoài cư dân tứ phương quy tụ về vùng “hoàng triều cương thổ” Lâm Viên nầy, còn có sắc dân: Thái - Thổ - Nùng – Tày – Mường – Mán - Hoa (Tàu) - Thượng (Thiểu số) K’Ho - Mạ - Chu Ru – M’ Nông.
                                Đà Lạt, nhiều ngôi biệt thự xinh lịch đa dạng qua đường nét kiến trúc độc đáo, nhà nhà nhấp nhô cao thấp ẩn mình dưới đồi thông trùng điệp rợp bóng. Nhà tôn nhà ngói chen chân nơi những con đường mòn đất đỏ uốn éo lượn quanh vườn hoa ngát hương tươi màu, bao vườn trà xanh mướt trên ngọn đồi tiếp tiếp bên suối, bên hồ, nơi thác ghềnh lồi lõm.

                                Đà Lạt có hai mùa rõ rệt: nắng và mưa. *- Mùa mưa dầm từ cuối tháng Năm kéo dài đến tháng Mười Một. Mùa gió thịnh hành nhất vào mùa đông lại là gió từ hướng tây. Tuy thế khí hậu vùng Cao Nguyên Lâm Viên nầy khá dễ chịu. Mùa ráo khô từ tháng 12 đến đầu tháng 5, bầu trời thanh thoáng mát rượi, luôn có nắng ấm độ ẩm chan hòa. Thương làm sao thành phố Đà Lạt chập chùng uốn lượn quanh những đồi thấp núi cao luôn mờ mờ ảo ảo, nhạt nhòa ẩn hiện sau làn sương ẻo lả, mỏng manh. Những cơn mưa phùn lăn tăn li ti vào độ cuối Thu chuyển hạt nhỏ li ti như bụi phấn, nhẹ tênh, âm thầm lả lơi đậu trên mái tóc lữ hành. Nước ban mai ở các khe đá, suối, hồ, khe, chưa chảy kịp, thì nước buổi chiều đã dâng lên cao; chảy xối xã suốt tháng năm về bao con thác cuối nguồn.

                                *- Mùa Hè là đầu mùa mưa, mưa đêm nầy qua ngày tháng khác trên núi đồi cao ngất, ngút ngàn. Muôn triệu hạt mưa nặng trĩu, to tròn rơi bồm bộp trên mái tôn, mái ngói. Tôi yêu tháng ngày mưa dầm không biết mệt, bầu trời luôn ảm đạm, dù mưa nhưng khí hậu ấm áp. Thỉnh thoảng… lâu thật lâu có kèm theo mưa đá hột to hột nhỏ. Dì cháu thích thú nhặt mưa đá bỏ vào ly (trong khi những người làm vườn thấy mưa đá, là họ lo buồn rầu rĩ; vì nó hủy hoại hoa màu tan nát, hư hỏng rất nhiều loại hoa trái và rau).

                                *- Mùa Thu bên những triền đồi rưng rưng lá vàng duyên dáng lắt lẻo đong đưa cài trên cành cây cổ thụ. Màu vàng cuả rừng cây gỗ quý bát ngát, quyện lẫn màu xanh và nhạc thông rì rào reo trong gió. Lá rừng hợp với màu vàng sáng từ bình minh len lỏi dọi xuống, hoặc nơi ráng chiều hiu hiu hửng lên trong kẽ lá dịu dàng ve vuốt. Khiến lòng mình cảm thấy xao xuyến mấy nỗi bâng khuâng man mác, dìu dặt đường tơ mênh mang rung lên từng hồi trên những phím loan. Tôi thương mỗi chiều gió mùa Đông Bắc lồng lộng vút trên đỉnh núi cao, sấm sét chớp lia lịa ở góc trời lúc choạng vạng, gió uốn cong cành cây mimosa nghiêng ngả, thấy mà thương. Thân cây đau đớn rên rĩ vặn mình kêu rắc rắc, dường như muốn gãy. Chùm hoa mimosa ướt sủng nước rên rĩ quật lui quật tới tả tơi, hòa với tiếng sấm chớp gầm thét dữ dội, gió hú từng hồi kinh dị trên sườn đồi, gió lọt qua khe cửa rít lên vút vút, nghe đầy ớn lạnh, buồn bã đơn điệu vô cùng.

                                *- Gần về cuối Đông trời vần vũ mây xám, từng cuộn mây nặng trĩu ùn ùn bay ngang đầu, khiến núi đồi mất hết rồi bộ cánh rừng xanh tươi ngày vui khoe sắc lá. Những cơn mưa lăn tăn vào độ cuối đông chuyển thành triệu triệu hạt nhỏ, nhẹ tênh như bụi phấn, đó là những cơn mưa phùn âm thầm lả lơi đậu trên mái tóc lữ hành đơn điệu. Nước ban mai ở các hóc đá, suối, hồ, khe, chưa chảy kịp, thì nước buổi chiều từ các triền núi chân đồi đã dâng lên cao và chảy xối xả về cuối nguồn. Cuối Đông dật dờ cơn say gió bão còn luyến tiếc len lén mang khí lạnh ào ào bay về, nắng lấp ló ve vuốt bên thềm năm mới; như trêu nghẹo mấy nàng: Xuân, Hạ, Thu, Đông se sẻ ỏn ẻn chúm chím nụ tình.
                                ***

                                Đà Lạt! Thắng cảnh tuyệt vời có nhiều hồ dễ thương, thi vị, hữu tình. Nào là: *- Hồ Lãng Ông nho nhỏ be bé xinh xinh và khiêm nhường ở đầu góc đường Cộng Hoà & đường Võ Tánh. *- Hồ Mê Linh, hồ *- Vạn Kiếp an tọa bên một đồi thông ngút ngàn. *- Hồ Chi Lăng tuy nhỏ nhưng mơ màng không kém thơ mộng. Mỗi hồ mang một dáng vẻ kiêu sa riêng. Tại Phường 3 có Hồ *- Tuyền Lâm. *- Hồ ông Phỉ ở hướng Dinh 3 đi vào khu đất mã thánh xưa gọi là “Ba Le”.
                                Nhưng có mấy hồ rộng mênh mông và thơ mộng mơ màng đáng kể nhất là:
                                *- Hồ Xuân Hương (quyến rũ là do hồ an lạc ngay trung tâm thị tứ, là “cái rốn” của thành phố) nổi bật sự duyên dáng hài hoà, thơ mộng, đặc biệt và độc đáo (thời Pháp thuộc gọi hồ nầy là Grand Lac). Hồ rộng khoảng 25hecta. Phía gần cầu ông Đạo và nhà hàng Thanh Thủy, sân Cù… thì (hình dáng) mặt phẳng cuả hồ tương đối rộng rãi. Nhưng càng về cuối hồ (phía Bích Câu Kỳ Ngộ…, vườn hoa…) thì đuôi hồ trở nên eo hẹp, nhỏ dần dần… hầu như co thắt tới bên cây cầu Đúc. Ven hồ có con đường tráng nhựa 6km chạy vòng quanh tới khu Thủy Tạ, thao trường Lam Sơn… và quay về cầu ông Đạo. Rải rác trên chung quanh bờ hồ có những gốc tùng rợp bóng rất đẹp.

                                *- Hồ Xuân Hương càng thi vị quyến rũ nhờ sân Cù (sân Golf có tiêu chuẩn 18 lỗ). Sân Cù thoai thoải nệm thảm cỏ xanh tươi và khá rộng, thấp thoáng đó đây những chòm thông ba lá, hai lá bóng mướt màu lục vẫn soi mình xuống mặt hồ xanh biếc. Hồ Xuân Hương với nhà hàng Thủy Tạ mơ màng in bóng trên hồ Xuân Hương, nhà có ba phần nổi trên mặt nước, một phần nhà hàng xây trên bờ, có cột thu lôi cao chất ngất, có lancan chìa ra giữa hồ. Tầng trên sân thượng có những nấc thang, để ta có thể lên cầu thang nhảy xuống hồ bơi lội thoả thích. Thủy Tạ sơn trắng, lung linh trên mặt hồ phẳng lặng như phiên gương óng ánh dưới ánh mặt trời chan hoà trên vạn vật.

                                *- Gần cuối sân Cù là vườn Bích Câu Kỳ Ngộ muôn hoa Đà Lạt không thiếu loài hoa nào, thơm ngát và xinh tươi, mỗi hoa mang một dáng vẻ đặc thù riêng, không hoa nào giống hoa nào. Nơi kỳ ngộ tương phùng nên-thơ lý tưởng dập dìu nam thanh nữ tú hò hẹn trao đổi chuyện văn thơ và tình tự. Thuở xưa hồ Xuân Hương chỉ là một đầm trũng mọc đầy cây năn, lát… nước mưa từ các triền đồi, nước chảy từ hướng thác Cam Ly về hồ, sau đó nước chảy ngang qua cây cầu gỗ có tên gọi cầu ông Đạo; do phiá gần ở đầu cầu là tư dinh của ông quản đạo Phan Khắc Hòe. Thế nên cư dân thường gọi là cầu ông Đạo. Cầu ông Đạo lả điểm nối tiếp qua đường lên trên phố Hòa Bình và đường bằng vô mặt tiền chợ mới Đà Lạt.

                                Chợ Đà Lạt khởi xây 1958 khánh thành 1960 – ở lầu 2 của chợ chỉ bán các mặt hàng: vải, áo quần, len, nón, giày dép, đồ dùng gia đình thuộc về tơ lụa, mỹ phẩm… Nơi đây có cầu thang nối liền chợ với khu phố Hoà Bình. Ngôi chợ có ba từng lầu chính và một sân thượng. Chợ Đà Lạt rất rộng rãi, nguy nga đồ sộ, tại Việt Nam chưa có chợ nào sánh bằng. Tầng trệt của mặt tiền là nơi bán đầy hoa tươi, dâu, mứt, bánh trái, trong lòng chợ bán các loại thịt, Cuối lòng chợ bán cá, tôm, gà vịt, v.v… Phiá sau tầng trệt đã làm thêm khu chợ ván gỗ, để bán rau tươi và là nơi bán hàng ăn uống.

                                *- Suối Vàng về hướng Lạc Dương (phía lên núi Lâm Viên). Nhà máy Thủy Điện ở Suối Vàng về hướng Bắc cách xa thành phố Đà Lạt 20km, nơi rừng thông ngút ngàn tươi tốt, có hai hồ nước rất trong xanh, luôn luôn lấp lánh long lanh trầm ngâm, phẳng lặng như mặt hồ tráng thủy ngân. Một hồ có tên gọi Dankia Suối Vàng, và một hồ kia gọi Suối Bạc trải dài dọc theo ven chân núi Lâm Viên. (Lâm Viên còn gọi là núi Langbian ở tại Xã Lát, Huyện Lạc Dương, có dân tộc Thiểu số gốc Lát, Chil, Cơ Ho sinh sống đông đúc).

                                Suối Bạc rất đẹp với mặt hồ rộng mênh mông lấp lánh ánh bạc sáng ngần, hồ phẳng lặng mơ màng, nước trong vắt. Làm sao kể cho xiết... Hồ Đankia luôn luôn lấp lánh ánh bạc long lanh sáng ngời. Hồ nơi đây hoàn toàn tĩnh mịch, không tấp nập đông vui như hồ Xuân Hương. Những đồi thông rợp bóng hữu tình soi dáng trên mặt hồ im gió như phiên gương sáng loáng. Hồ Lát rất đẹp, trầm buồn và đơn điệu an tọa trên đất Lạc Dương.


                                *- Hồ Than Thở (thời Pháp xưa gọi là Lac des Soupirs) từ khu Hoà Bình về qua cầu ông Đạo, đi lối thao trường và phiá Thủy Tạ, xuống đường Quang Trung. Hồ Than Thở cách xa trung tâm thành phố khoảng 6km ở trong thung lũng khu ấp Chi Lăng + xã Thái Phiên, hồ tĩnh mịch trầm lắng u buồn suốt tháng năm, bởi đêm nầy qua ngày tháng năm khác… chỉ thoảng nghe ba bên bốn bề tiếng nhạc thông reo vi vu không ngừng nghỉ. Hồ mơ màng với mặt nước im ả bóng loáng như tráng lớp men bạc. Nơi đây, thuở xa xưa đã có vài ba chuyện tình buồn có thật (không phải truyền thuyết).

                                Tôi xin kể vắn tắt về một (trong vài ba chuyện đã nghe, biết) câu chuyện: một thiếu nữ phiền muộn tình duyên trắc trở, đã trầm mình xuống hồ Than Thở. Từ ngoài đường đi vào hồ bên hướng tay trái, bấy giờ đường vào ngôi mộ phủ đầy cỏ dại cao lút bụng, muốn tìm mộ nàng, ta phải chịu khó vạch tranh, vạch cỏ may, giạt hoa mắc cỡ chằng chịt, thật khó khăn. Tuy thế, khi đi vô khá xa, xa con đường nhựa bên hồ, tôi thấy một ngôi mộ bình thường, không cao, đơn sơ, khiêm nhường. Trên đầu tấm bia mộ hình trái tim tô xi măng cũ kỹ, hoen màu rêu phong, đơn điệu (có lẽ rất xa xưa, nay phai úa khá nhiều) mộ đã in dấu ngàn đời về mối tình bất diệt, não nùng… Chàng trai khắc ghi hai câu thơ gửi người thiên cổ:
                                Dù cho non sông thay đổi mãi
                                Ngàn năm Thảo vẫn sống trong Tâm…



                                * - Chùa Linh Quang xây năm 1931 an tọa tại 133 Hai Bà Trưng (Đà Lạt) là ngôi chùa cổ kính lâu đời đầu tiên tạo lập trên đất “Hoàng triều cương thổ”. Chùa chạm trổ những hình chim phượng trên mái rất tinh xảo, công phu, tuyệt tác; do hoà thượng Thích Nhân Thứ trụ trì.
                                * - Chùa Linh Sơn xây năm 1938 – (1940 khánh thành) an ngự ở một ngả ba cách trung tâm chợ Mới Đà Lạt khoảng 700 – 800m – Chùa nằm trên ngọn đồi đa phần là thông ba lá, dương liễu, bạch đàn. Chùa có tượng Phật Thích Ca đúc 1952 bằng đồng nặng 1250kgs. Chùa nhìn chéo xuống phố Phan Đình Phùng. Đứng trên góc sân chùa có thể nhìn thấy khu “thành phố buồn” nghĩa trang Số 4 chi chít bia mộ!

                                *- Chùa Phong Linh ở đường Hoàng Hoa Thám. Trại Hầm (nơi nổi tiếng có mận vàng óng giòn, ngọt, ngon) xa khu chợ Đà Lạt khoảng 4km. Chùa xây 1944 (chỉ có nữ tu, nên dân điạ phương thường gọi là chùa Sư Nữ). Chùa thờ: Đức Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát Đại Thế Chi. Chùa an tọa trên ngọn đồi thông cao thơ mộng ở Trại Hầm. Chùa Phong Linh xây mái kép cong: long, lân, quy, phụng. Đứng trên sân chùa Sư Nữ ta nhìn tổng thể xuống làng mạc dưới chân đồi ẩn hiện mờ ảo, thì không có bức tranh nào linh động, đẹp bằng cảnh sắc nước hương trời xanh xanh chập chùng, nhà nhà mái ngói, mái tôn đang vật vờ bay lên làn khói ẻo lả uốn éo từ trên đồi cao, dưới thung lũng thấp chập chùng… Cư dân thấp thoáng đi lại trong sương mai, gió chiều nhè nhẹ phe phẩy mơm man vồng hoa đồi mận. Lồng trong tiếng thông trầm bổng bốn mùa nhã nhạc reo vi vu, êm êm, hòa điệu nhịp nhàng, là tiếng chuông mõ gõ nhịp đều đều, xen lẫn tiếng tụng kinh niệm Phật lanh lãnh thanh thanh trong gió sớm khuya chiều vang vọng xa xa!

                                *- Chùa Tàu… (Thiện Vương Cổ Sát, còn gọi chùa Phật Trầm) do hoà thượng Trung Hoa tên Thọ Dã đứng ra xây 1958. Chùa gồm có ba toà nhà cao đẹp tô màu vàng, mỗi toà nhà có thờ tượng: Tây Phương Nam Thánh. Phật Thích Ca. Quan Âm Bồ Tát. Đại Thế Chi Bồ Tát: tất cả tượng bằng đồng cao 4m, nặng 1,5 tấn. Riêng tượng Tứ Thiên Vương cao 2,6m đúc xi măng. Chùa Tàu phong cảnh hữu tình ngày đêm chìm khuất trong đồi thông rất đẹp, ở chùa Tàu có mâm quay lực cơ học tiếp tuyến đường tròn quay.


                                *- Phía Tây Nam cách trung tâm phố Đà Lạt một km, an tọa trên đường Ngô quyền là nhà thờ Domain de Marie xây năm 1930, rộng 11m dài 33m, trên tổng diện tích đất 12 hecta. Tiền đình nhà thờ có hai đường vòng cung, bước lên từng bậc tam cấp, và tụ hợp lại ở hành lang cửa chính hình vòm tròn. Mặt tiền nhà thờ kiến trúc thành hình tam giác cân, trên đỉnh tam giác là cây thánh giá. Trên tả hữu mỗi nóc mái nhà xuôi thẳng đứng lát ngói hồng đậm, ở mỗi mái ngói tả hữu có ba cửa sổ tam giác cân nho nhỏ ráp kính nhiều màu.

                                Ngoài và trong nhà thờ đều trang trí hài hoà độc đáo, trong nhà thờ là tượng Đức Mẹ đứng trên quả cầu, nặng 1 tấn, cao 3 mét. Nhà thờ và nhà dòng nữ tu, trường học đều tô màu hồng đậm. Domain de Marie tức là nữ Tu Viện nữ Bác Ái Vinh Sơn (nhà thờ & dòng tu nữ còn có tên gọi là Tu viện Mai Anh, vì tu viện nằm trên một ngọn đồi cao, nơi đây tuyệt đẹp với đồi hoa anh đào (dân điạ phương nôm gọi là hoa Mai, thay vì hoa Anh Đào). Trên, dưới, chung quanh đồi: trồng toàn hoa Mai (hoa Anh-đào). Dưới những chòm cây lá xanh chen lá nâu rung rinh, nắng lung linh đùa giỡn nơi kẽ lá cánh hoa mai hồng hồng phất phơ lung lay trong gió.

                                Có những nam nữ sinh ngoại và nội trú (kể cả con mồ côi) nhiều ma soeur mặc áo dòng màu xanh dương, đội mũ lúp cánh én trắng rộng vành (như cánh chim bay), nhịp nhàng nhấp nhô theo mỗi bước chân. Họ chuyên nuôi trẻ mồ côi. Hằng năm dòng nầy tổ chức hội chợ từ thiện, lấy tiền làm qũy giúp người nghèo khó, soeur đi tới bệnh viện làm việc và giúp người đau yếu, bệnh nạn. Trên ngọn đồi nên thơ họ đi ra đi vào cầu nguyện kinh, xem lễ, làm việc bác ái: thuỷ thổ, nhân hoà phong cảnh càng trở nên an cư êm đềm thơ mộng. Đứng bên phía Lữ quán Thanh Niên (ở đường Hàm Nghi) nhìn qua nhà thờ Domain thì quả thật khu đồi mai anh đào nầy tuyệt đẹp.

                                *- Nhà thờ và dòng Couvent des Oisaux (còn gọi là Đức Bà Lâm Viên ; Notre Dame du Langbian, vì đây là trường nữ trung học đầu tiên dạy chương trình Pháp, trường xây dựng 1935, an tọa tại số 2 Huyền Trân Công Chúa. Nữ sinh trường Couvent mặc đồng phục sơ mi cổ bẻ trắng, tay phồng bên trong, ở ngoài khoác thêm áo lạnh dày đan tay màu xanh biển (xanh dương đậm), áo manto, áo ấm dạ, áo len loại dày màu xanh dương, màu đen, hoặc trắng. Mặc ríp đầm (skirt) có nhiều xếp ly màu xanh biển, váy lót underskit, petticoat). Chân mang sandal có bít tất trắng cao lên đầu gối, hoặc giày trắng hay đen, bata, sport: màu trắng (hoặc đen). Đầu đội mũ len có vành che nắng to rất khéo (như kiểu nón công chúa Bạch Tuyết, riêng về mũ có thể có những màu khác nhau. Bên phải khuôn viên khu rào gạch là đất nhà thờ, dòng & trường, đất rộng mênh mông, gần lối dẫn vô thác Cam Ly.


                                *- Nhà thờ chính tòa Đà Lạt bắt đầu xây từ 19.7.1931 và khánh thành ngày 25.02.1942 do linh mục Céleste Nicolas thiết kế. Trên chóp đỉnh là một tháp to nhất (tháp chính) đã gắn hình cây thánh giá, và con gà bằng đồng cao 0,58m, dài 0,66. Con gà đứng trên một trục bạc đạn có thể xoay bốn hướng theo chiều gió thổi. Ngôi nhà thờ chính, cung thánh, gian giữa và hai gian cánh phụ, hậu tẩm, giáp vòng và tít trên gần nóc trần nhà có 70 cửa kính màu. Tổng cộng chiều rộng (nhà thờ chính toà): 14m, cao 47m, dài 65m. Gác chuông nhà thờ ở phía góc trái của cửa chính toà, là những nấc thang hình xoắn ốc trôn đi lên lầu cao. Tháp chuông chính cao 16m, hai bên có hai tháp chuông phụ hài hòa xinh xắn. Trong tháp chính có bốn quả chuông to, mỗi sáng trưa chiều đúng giờ ấn định, thì từng hồi chuông lắc lư rung, ngân vang lên bốn âm tần thánh thót trầm bổng lảnh lót khác nhau.


                                *- Những Trường học nổi tiếng và lâu đời nhất tại Đà Lạt: Trường Grand Lycée Yersin (1927). Viện Pasteur nổi tiếng (1932). Couvent des Oiseaux (1936) Petit Lycée (1937) Domain de Marie (1943). Trường Tabert… (A’ Dran). Trường Trường dòng Missionaires de Marie nằm kề quốc lộ lối đi về hướng Cầu Đất (Đơn Dương). Các nữ sinh mặc váy màu da bò (nâu đậm) đó là do các em ở bên trường Franciancaine gửi qua bên Couvent des Oiseaux học, vì ở bên dòng Franciancaine không có lớp lớn, chỉ có từ lớp Năm tới lớp Nhất, bây giờ gọi là: lớp Một tới lớp Năm. Do vậy nhiều khi nữ sinh Couvent vẫn phải mặc đồng phục áo trắng, áo len xanh, chỉ thay đổi váy xếp ly màu da bò (màu nâu, giống như trường Dòng Missionaires de Marie ở Trại Mát.

                                Đã lỡ nói về trường Pháp, trường Tây, thì tôi không quên hướng dẫn họ đi đến các trường Việt chính và thành lập lâu nhất: *- Trường nam trung học công lập Trần Hưng Đạo (1956) ở khu Ấp Hà Đông, nam sinh mặc sơ mi trắng quần xanh học trò (trước kia tên là trường Bảo Long). *- Trường nữ trung học công lập Bùi thị Xuân (1957) (trước kia tên trường là Phương Mai). Nữ sinh Bùi thị Xuân duyên dáng e ấp tha thướt trong tà áo màu xanh biển đậm đà, quần trắng, áo len xanh biển hoặc áo len đen, mang giày hoặc guốc, đầu đội nón lá chao nghiêng, tay ôm cặp. Sau những buổi học tan, thì tốp năm tốp mười tỏa về các nẽo đường trong thành phố, hoặc từng nhóm bạn dạo ra sân Cù ngắm cảnh, học bài cả nhóm, làm bài, làm thơ.

                                *- Trường trung học Việt Anh trên đường Hải Thượng Lãng Ông, nữ sinh mặc đồng phục áo dài màu tím hoa sim, quàng khăn tím (rất ư là Huế thơ mộng), mang guốc, quần trắng, đội nón lá có tua nón màu tím. Nam sinh mặc quần đen, áo sơ mi trắng, áo len màu da bò. *- Trường trung học Bồ Đề nữ sinh mặc áo lam, hoặc áo trắng. Nam sinh áo sơ mi trắng, quần màu xanh. *- Trường Trí Đức nữ sinh mặc đồng phục trắng (và hồng nhạt). Nam sinh mặc sơ mi trắng quần đen. Sau nầy có thêm trường trung học Hiếu Học...

                                Nhìn chung và thật thà mà nói, thì có trường A’ Dran và trường Grand Lycée Yersin là mặc đồng phục rất sang đẹp & nổi: toàn sơ mi trắng, bên ngoài mặc veston đen hoặc xanh đậm, thắc cà vạt đỏ, hoặc cà vạt sọc nâu đẹp mắt, mang giày thời trang (họ là những nam nữ sinh con ông cháu cha, nhà giàu, đóng áo vét tân thời mà!).

                                *- Các trường Đại học và chuyên nghiệp: *- Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Việt Nam (1950). Viện Đại học Đà Lạt 1957 (Thụ Nhân). Dòng Chúa Cứu Thế (1962). Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc (1963). Đại học Chiến Tranh Chính Trị (1966). Trường Chỉ Huy Tham Mưu (1967). Thiền viện Trúc Lâm và vô số trường Tiểu Học Công Lập & Tư Thục khác.

                                *- Ba dinh thự rộng lớn sang trọng huy hoàng bậc nhất thời bấy giờ dành cho gia đình vua an ngự:
                                *- Dinh I: cuả ông tây triệu phú Robert Clément Bourgery mua miếng đất rộng 40hecta và xây dinh thự năm 1940. Sau ông về Pháp và bán lại cho vua Bảo Đại.
                                *- Dinh II: Trên đường Trần Hưng Đạo về hướng Đông Nam có ông Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux ở tại VN. (người Pháp) đã xây một dinh thự có 25 phòng khang trang, phong cảnh thi vị. Ông dùng dinh nầy để cho gia đình và thân nhân đến nghỉ hè.
                                *- Dinh III: đi trên đường Pasteur thẳng vô lối nghiã trang Ba Le và gần rừng Ái Ân là Dinh III. Dinh ba xây 1933 đến năm 1939 hoàn tất. Dinh có tầng trệt và tầng lầu. Tầng trệt rộng rãi trang nhã tươm tất đầy đủ tiện nghi dùng: tiếp tân, yến tiệc khoản đãi cần thiết, hội họp, phòng làm việc của vua, phòng đọc sách. Tầng hai là nơi sum họp ấm cúng riêng tư của gia đình vua, gồm: Phòng ngủ vua Bảo Đại. Phòng hoàng hậu Nam Phương. Phòng hoàng tử Bảo Long. Phòng công chúa Phương Mai, Phương Liên. Phòng hoàng tử Bảo Thắng. Dinh ba khá đẹp nhờ hai khu vườn hoa rực rỡ, do tay người làm vườn có nghề trồng tiả chuyên môn, có sáng kiến, ý thức chăm bón hòa hợp từng gốc hoa cành lá, trồng trọt tiả tót công phu ở tiền đình và hậu đình. Dinh III thường là nơi gia đình vua Bảo Đại nghỉ hè.
                                ***

                                Nhà ba má tôi ở ngay đầu ngã tư Pasteur và Yersin, khuôn viên đất khá rộng, nhà giáp ranh bên trái là nhà thờ Tin Lành. Sát vách nhà thờ Tin Lành (bỏ hoang) là tòa án và đường Phạm Phú Thứ. Nhìn chéo xuống là nhà thờ Tịnh Tâm, cũng là Trung Tâm Công Giáo Tiến Hành nằm trên góc đường Đoàn thị Điểm + Yersin. Lên trên đồi cao (sau lưng nhà), là đường Phạm Phú Quốc và đường Huỳnh Thúc Kháng. Cuối đường Pasteur cũng là viện Pasteur đồ sộ. Rẻ ra một con đường đá đỏ lởm chởm là lên Dinh III an tọa trên ngọn đồi cao.

                                Đứng trên lầu nhà ba má, tôi có thể nhìn thấy gác chuông nhà thờ chính tòa cao ngất in hình con gà báo thức ở chóp đỉnh (con gà không biết gáy, dù bình minh hay hoàng hôn, hoặc trong canh khuya mặc lòng). Mỗi sáng, trưa, chiều, tối, tôi chỉ vẵng nghe tiếng chuông chơi vơi ngân nga giữa núi đồi, báo hiệu hừng đông hay hoàng hôn thinh lặng trong bầu trời đầy rung cảm. Nhà ba má tôi ngó mặt qua bên Tiểu Khu Đà Lạt. Gần trường Trung học Kỷ Thuật Lasan (25 đại lộ Yerin) và góc đầu đường Đào Duy Từ (nhà Bò).

                                Các “Freres” đảm nhận dạy học nghề (Kỷ Thuật) rất nổi tiếng. Từ trường Kỷ thuật Lasan thẳng tới hướng Ty Cảnh Sát, nhà thờ con Gà là trường Trí Đức phía sau nhà thờ, rồi Bưu Điện và hotel Du Parc ở trên đường Yersin. Trường Kỷ Thuật Lasan do chi nhánh từ trường College A’ Dran nằm tít tắp dưới thung lũng sâu cuối đường Bá Đa Lộc. Từ ngoài đường Yersin qua ngã ba Bá Đa Lộc (và góc hotel Palace), nhìn ra hồ Xuân Hương là khu đồi rừng hoang vu. Đứng trên tiền sãnh Hotel Palace du khách có thể nhìn chủng viện Giáo Hoàng, dòng Don Bosco, Dinh I, trường Grand Lycée, v.v...

                                Mùa Xuân năm ấy hoa anh đào tươi nắng, rộ nở trên ngàn cây ngọn lá, gió lả lơi đùa với nội cỏ, thì bạn và tôi hồn nhiên vui vẻ lạ thường: Phú, Du, Hạ, Lễ, Tài, (họ ở Sài Gòn lên Đà Lạt ăn Tết, bởi do nhà ba má tôi ở số 2 Pasteur rất rộng và dư nhiều phòng, họ xin tạm ở nhờ). Dưới bầu trời cao nguyên Lâm Viên ban mai trong sáng có áng mây bàng bạc pha hồng thắm đang lững lờ trôi. Lạnh! Lạnh kinh khủng! Cái lạnh buốt giá, tê cóng nhức nhối như muốn bại liệt cơ thể, như điếng cả hồn lẫn xác và ăn sâu vào lòng người. Hai hàm răng ai nấy tự động run rẩy va vào nhau lộp cộp. Toàn thân run lập cập, thở không đều nhịp. Mặc dù thế làn hơi thoảng lạnh từ cổ họng mọi người bay ra, như trêu đùa, chọc ghẹo bạn. Các bạn trai chưa đến Đà Lạt lần nào, ai cũng ngạc nhiên vui thích cười ha hả khi thấy mình thở ra thành hơi khói.

                                Đêm đêm ở nhà, mấy bạn pha cà phê, ăn bánh ngọt, cắn hạt dưa, ăn bánh chưng, bánh tét, uống nước trà, thật vui vẻ. Họ ngồi nói chuyện phiếm, thi vị vui vẻ sao đâu trong phòng khách đến tận khuya. Có ngày không biết làm gì hơn, họ bày trò “thi nhau nhìn vào mắt”. Hể ai chớp mắt, nhấp nháy mắt trước, hay cười, là bị phạt uống một ly đá lạnh. Eo ơi! Ở xứ nầy giữa đêm khuya mà uống đá lạnh, thì lạnh hết biết. Lạnh nổi da gà! Trò chơi gì trẻ con lạ! Họ chơi đỗ cá ngựa, cờ duyên khóc, duyên cười, quẹt lọ nồi. Vui thật vui. Vài lần trong đêm mấy bạn cùng dì cháu chúng tôi dạo phố đêm, họ mua thuốc lá, kẹo, bánh, chewing gum, bắp nướng, cùng nhau đi tà tà nói chuyện tếu, đi bộ giáp một vòng bờ hồ Xuân Hương dài ngót sáu cây số. Có khi họ vòng lên trường Grand Lycée Yersin ngắm trăng lá lúa ẩn mình trong đài mây. Đường về khuya lạnh lẽo càng thêm hoang vắng, cảnh vật huyền ảo mơ màng nhưng đẹp lạ lùng.

                                Rồi một ngày nắng tươi, tôi, Mai, Thơ và các cháu làm hướng dẫn viên du lịch cho các bạn đi qua bao thắng cảnh duyên thơ hữu tình, qua bao núi rừng suối hồ mộng mơ. Cả nhóm bao taxi đi picnic mấy ngày, thì tình thân hữu nhờ thế lan dần. Trước tiên họ đi thác Cam Ly xa khu Hòa Bình độ 2,5km về hướng Tây, thác Cam Ly rất gần, thác nằm trong nách thị xã, (nên du khách có thể dễ dàng tà tà đi bộ, nếu muốn). Từ đại lộ Yersin và Pasteur xe chạy thẳng tắp tới ngả ba Huyền Trân Công Chúa, thì xe rẻ sang hướng phải một quảng ngắn, hơn 1km là tới thác Cam Ly).

                                Còn có một con đường khác là: từ dốc Minh Mạng (xe chạy một chiều) xuống ngã ba Phan Đình Phùng, qua cầu Cẩm Đô là đường Hai Bà Trưng (và khu đồi Dân Y Viện Đà Lạt). Xe tới đầu hông sân trường Việt Anh, ta đi theo đường Hoàng Diệu, thì du khách đi hoài đến cuối đường, sẽ tới đầu ngọn thác của vùng Cam Ly Hạ (Cam Ly Hạ là vùng đất thấp, nơi có thác nước chảy xuống lòng suối).

                                Thác Cam-Ly vào một ngày êm đềm khi mặt trời bơi lên khoảng trời xanh mênh mông, tươi thắm, mát rượi, dìu dịu, an hòa, bình thản đến hững hờ. Lớp sương mù ẻo lả vật vờ bay lơ lững rồi tan dần, lộ ra vài ba con đường mòn đất đỏ từ từ bốc hơi, rồi khô từng mảng một, con dốc mòn đã có vài người Thượng gùi măng và lan, củi đi bán ngoài chợ sớm. Ở đây quang cảnh thinh lặng êm đềm, tiếng nước róc rách len lỏi theo bờ đá chảy xuôi xuống thác.

                                Trên ngọn đồi thông rợp bóng nằm về hướng Đông Bắc, là lăng Quận Công Long Mỹ Pierre Nguyễn Hữu Hào (nhà đại điền chủ người Gò Công, chủ nhiều đồn điền cao su, trà, ở một số Tỉnh, Đà Lạt, và một số đất vùng Cao Nguyên Trung Phần. Ông Nguyễn Hữu Hào là thân sinh của Nam Phương hoàng hậu, vợ vua Bảo Đại. Ông Lê Phát Đạt Philippe Huyện Sĩ giàu có bậc nhất thời bấy giờ, là ông ngoại của hoàng hậu Nam Phương).
                                Lăng Quận công Nguyễn Hữu Hào an tọa trên một khu rừng thông hùng vĩ cao vút, ngút ngàn, từ dưới đường cái lên tới lăng có 20 tầng cấp lát đá vuông, mỗi tầng có khoảng 10 bậc cấp. Cộng chung lăng nầy có tất cả 102 bậc cấp. Đứng trên sân lăng du khách có thể nhìn thấy một phần tư góc thành phố Đà Lạt ẩn hiện, thấp thoáng xa xa dưới mỗi chòm thông reo luôn nhã nhạc vi vu, làng mạc dưới chân đồi mờ mờ hơi sương. Sau lăng chập chùng những đồi sim tím và rừng trái mác mác xa xa, thì có một phi trường nhỏ ở vùng đất nầy cao, thoáng, và bằng phẳng, nên gọi là: Cam Ly Thượng.

                                Sau khi leo trèo ở những mô đá trên lòng suối, chụp hình, vọc nước lạnh chán chê, họ lên xe đi thác Datanla xa thành phố Đà Lạt 5km. Chín giờ sáng xe dừng ở bên thác Datanla chìm khuất dưới những đồi thông dựng đứng, thác sâu hoắm, sâu hút tầm nhìn. Từ trên đường cái muốn đi xuống thác, chỉ có một đường dốc nhỏ nhấp nhô, những bậc cấp nện đất cứng len lỏi trong rừng thông bạc ngàn (thỉnh thoảng có vài cục táp lô kê trên mỗi bậc chận, cho đất khỏi bị chuồi). Họ lần mò đi từng bậc cấp ngoằn ngoèo trơn như mỡ, bờ vực cheo leo, để xuống chân thác.

                                Mặt trời ở dưới thác hầu như còn ngái ngủ chưa thức giấc (vì dưới những vòm cây âm-u rậm-rạp, um-tùm, cây chen cây lá chen lá, thì mặt trời lười nằm lim dim ngủ nướng trong rừng, không thèm tỏa ánh sáng). Nước từ trên ba tầng khe đá cao ngất chảy ầm ầm, dội xuống lòng thung lũng, vỡ ra muôn triệu bụi phấn trắng xóa, quyện với từng mảng sương mờ đục phủ kín bầu trời ban mai mờ mờ nhàn nhạt màu sữa.

                                Thác Datanla thâm u cheo leo hiểm trở là thế, mà họ quyết leo qua bên kia chân thác. Từ từ họ leo lên ngọn thác thứ nhì, đứng chênh vênh bên hốc đá chốc lát, thở hổn hển... Rồi các cậu bạn và hai ba cô nàng tìm cách leo lên đỉnh thác thứ nhất ở tít mù trên cao, cao ngất. Mặt mình úp sát vào vách đá, lưng quay ra phía vực sâu, hai tay bám chặt bờ cây, bụi cỏ, không ai dám ngoái cổ nhìn ra phía ngoài, hoặc nhìn xuống vực thẳm. Một trời giông bão hầu như quay cuồng đến chóng mặt tít dưới chân ta. Qua muôn ngàn cây đại thụ, gỗ tạp, gỗ lá rộng, lá kim quý như: cẩm lai, sao, thông hai lá, thông ba lá, chen cánh với mộc lan, tre, nứa, lồ ồ, le, dẻ, lùm cây um tùm gai góc, bờ bụi tróc lở rong rêu ẩm ướt rất trơn.

                                Cổ thụ cằn cỗi già nua không biết bao tháng năm chi chít muôn sợi dây rễ dài lòng thòng, rễ to hơn cườm tay. Loại dây dẽo, dai, chắc chắn, xù xì. Thỉnh thoảng cây có gai quấn quýt trên thân cao xuống lòng thung lũng mờ mờ, sâu hoắm. Họ bám chặt vào sợi dây rễ cứng và dẽo dai nầy mà di chuyển. Tiếc rằng họ chưa đủ kinh nghiệm sống, chưa dám đu dây rừng y như nữ chúa rừng xanh.

                                Leo lên hết chóp đỉnh nhú ra ngực thác Datanla khúc khuỷu cuối lòng khe đá, thì biến thành đầu ngọn thác thứ nhất. Phía bên nầy khe đá có những ụ đất sét (có đá cao lanh, đá quý, quặng boxit, than nâu, giống như ở gần vùng Đạ Đờn, Đạ Tẻh, Đạ Hoai). Hai bờ suối dần dần nở rộng ra; dẫn đến cánh đồng cỏ non xanh mướt trải dài, nhìn mút tầm mắt, thảm cỏ ướt đẫm sương mai còn nhiều giọt mọng tròn, long lanh ngấn thủy tinh dưới ánh mặt trời yếu ớt bắt đầu vươn mình ló dạng, đỉnh núi nhọn hoắt muốn chọc thủng từng áng mây bay ngang đầu. Từ ngọn lá non tỏa ra như lọng dù ở trên cao, vẫn còn nhiều giọt sương mọng to rơi lốp đốp xuống cành lá mềm mại ở dưới thấp.

                                Sau bao tàng cây cổ thụ mọc gần khe suối, là rừng lau bạt ngàn với hoa dã qùy chen cánh cùng loài hoa sim tím, hoa mắc cỡ màu tím lá xanh đầy gai nhọn. Thiên nhiên cẩm tú đẹp thế mà hoa mắc cỡ vẫn e ấp thẹn thùng khép chặt hàng mi khi có người vô tình đụng phải. Bạn cảm thấy thú vị vô cùng khi tận mắt nhìn những thắng cảnh thiên nhiển tuyệt vời, chưa chắc sẽ hân hạnh ngắm nhìn thêm lần thứ hai. Ý thơ miên man, tôi đã cảm tác về sương và cỏ nơi đây:
                                Muôn thuở tình anh sương về bên cỏ.
                                Thao thức đêm trường chuyện ảo không thôi.
                                Cọng cỏ rung rinh môi hứng sương rơi.
                                Thời gian lắng đọng sương giao tình đó.

                                Bẽn lẽn thẹn thùng cùng sương nói nhỏ.
                                Trăng tàn sao rụng sương giọt tinh mơ.
                                Sương rơi lốt đốp lá cỏ đợi chờ.
                                Cỏ ẩn vào sương bên bờ sông ướt.

                                Ðào Nguyên thơ mộng cỏ non xanh mướt.
                                Ðà Lạt ru đời hòa nhịp hoan ca.
                                Cọng cỏ dầm sương kết lá đơm hoa.
                                Dãi dầu mưa gió giao tình muôn ngả.

                                Mộng ước đêm dài luyến thương nhánh cỏ.
                                Nhạc sương gieo tình cọng cỏ tơ vương.
                                Nhún nhảy dưới trăng hoa cỏ ngậm sương
                                Sương rơi rụng ướt cỏ vờn đêm vắng.

                                Bông cỏ ngậm sương nở hoa trăng trắng.
                                Tình yêu thiên nhiên quyện lẫn cỏ cây.
                                Nghê Thường luân vũ tấu khúc đêm nầy.
                                Sương tưới cỏ đời ngạt ngào hương ngát.
                                (*)

                                Bạn Hòa tìm cách leo lên mấy cây gỗ qúy để hái nhiều loại lan, mỗi loài hoa có một sắc đặc biệt riêng. Mấy chú sóc đuôi xòe ra như chiếc chổi lông mềm mại, sóc leo trèo trên cây quả chín đỏ. Bầy khỉ lí lắc nhi nhô kêu chí chóe, chúng chuyền chỗ nầy chỗ nọ nhanh nhẹn, gọn gàng. Hình như chúng phản đối sự có mặt của con người không mời mà đến trong giang sơn cẩm tú, đầy bình yên riêng tư của chúng? Chim hót líu lo đủ mọi giọng điệu trầm bổng véo von lẫn tiếng nhịp nhàng của bầy chim gỏ kiến đang đập mõ dài cứng ngắt vào thân cây, hòa cùng tiếng thác đổ từ nơi xa xa vọng lại.

                                Thỉnh thoảng tiếng vượn hú kêu đàn. Cú nấc cụt từng tiếng. Dơi trong hang thấy động rừng, đã bay vù ra kêu "xít...xì" tất cả đơi vút bay về bên trái. Bầy chồn lủi nhanh vào bụi rậm. Thỏ rừng tung tăng nhảy nhót thảnh thơi trên cánh đồng cỏ non. Tất cả âm thanh và hình ảnh sống động ấy tạo thành bản rừng ca thiên nhiên bất hủ muôn điệu.

                                Bạn Lễ đưa máy ảnh bấm liên tục, những hoạt cảnh tươi nguyên núi rừng hoang dã hồn nhiên, đầy tình tự quê hương hữu ái mà anh hằng yêu thích. Phía trên đỉnh thác khá lạnh (nhưng không lạnh bằng lòng thác lúc nãy, vì nơi đó ít thấy ánh dương). Bạn Du ngẩn ngơ xuýt xoa trầm trồ khen ngợi phong cảnh nên thơ, bạn nhìn trời nhìn đất, sau một lúc thật lâu mới tìm chỗ đặt mấy giỏ thức ăn xuống. Các bạn ngồi trên tấm ni lông đã mang theo. Họ nói chuyện cười đùa huyên thuyên.

                                Bỗng Phú từ đằng xa chạy đến và khựng lại, im bặt, thở hổn hển, nhưng tay chàng chỉ chỉ về hướng rừng, khiến các bạn ngẩng nhìn và chạy theo Phú: Có những dấu chân loài voi, cọp, dấu chân khổng lồ cạnh khúc xương ống, một đầu lâu (mình cứ nên nghĩ có lẽ của khỉ), cách chỗ các bạn ngồi không xa.

                                Thế là ý định bạn nằm lăn ra bãi cỏ non mềm chợt tiêu tan ngay. Đi núi, họ không mang theo bất cứ một dụng cụ đề phòng nào, lỡ mà có bị rắn, rết… cắn bất tử, thì thật nguy to (chứ đừng nói là bị cọp vồ!). Bây giờ cả nhóm mới thấy lời Hoà đề nghị leo lên thám sát thác và núi lúc nãy, là điều dại dột, bất lợi quá. Lòng chẳng hẹn lòng, nhưng ai ai cũng nơm nớp lo sợ sự bất an quanh quẩn đâu đây. Nỗi lo sợ ớn lạnh cùng khắp. Khí trời ban mai đã lạnh lẽo, càng thêm buốt giá kinh khủng! Họ vội vàng xếp đồ đạc vào ba lô, giỏ xách, vác trở xuống chân thác. Khi leo lên núi đã khó, lúc tụt xuống bờ vực càng khó gấp bội. Bạn cẩn thận lần mò nhích đi từng bước một. Tay bám vào gờ đá, thân cây hoặc dây leo, gốc rễ, mà tụt tụt từ từ, hoặc bò thụt lùi, bám riết từng tất đất thật vô cùng nguy hiểm khó khăn. Nhìn xuống vực thẳm ai cũng thấy tối tăm mặt mũi, hoa cả mắt, sợ mất hồn mất vía.

                                Cuối cùng, cả nhóm trở về được dưới chân thác, mất hơn hai giờ họ mới có thể lần mò trở xuống dưới chân thác. Mặt mày chân tay ai nấy đều bị rách, xây xát, thân thể mệt mỏi rã rời, quần áo xốc xếch, lấm lem. Tuy vậy, mấy anh thanh niên tính không khỏi reo lên, cười ha hả vì họ đã tận hưởng giờ phút vui thú nhất qua danh lam thắng cảnh tuyệt vời. Thể hiện tính kiên cường, bất chấp gian nguy, thỏa trí tò mò, dù họ quá mệt mỏi và lòng lo sợ.

                                Trở lên đường cái ai nấy đều mệt nhoài, từ thác Datanla trổ xuống cuối đèo cách đó 2km là thác Prenn nằm bên quốc lộ 20. Thác Prenn rất đẹp có chiếc cầu gỗ lòn quanh bên trong khe thác, đứng trong cầu du khách có thể tưởng tượng là: ta đang đứng trong nhà, nhìn mưa xối xả tuông chảy xuống mái hiên. Thác Prenn ngoài phong cảnh hữu tình nên thơ ra, có khu thảo cầm viên kha khá, nuôi nhiều loại: rắn, khỉ, chim, công, cọp, beo, voi, ngựa, vân vân... Ở chơi và ăn trưa tại đây xong, họ đi tới thác Liên Khương (ở quận Đức Trọng xa Đà Lạt 30km), từ dọc ven suối Prenn chạy về suối Bồng Lai (sát bên vệ đường, phía trái, trên quốc lộ 20) tạo thành thác Liên Khương. Thác Liên Khương không mấy đẹp.

                                Thác Gougah (Ổ Gà) còn có tên gọi “Nam Phương đệ nhất thác” ở xã Phú Hội, Huyện Đức Trọng, xa Đà Lạt độ 28km, thác nầy hùng vĩ, âm u, hoang vắng. Từ quốc lộ 20 đi theo con đường mòn rậm rạp và âm u, ta rẽ vào phía trái thì tới nơi. Thác đẹp. Trời xanh bát ngát giao hòa với đất uy nghi lẫm liệt và phong cảnh tuyệt vời thơ mộng vô cùng. Nhưng đẹp nhất là thác Pongour xa Đà Lạt 45km, ở Tân Hội, hướng Nam. Từ quốc lộ 20 đi vô thác xa 7 km, ngoằn ngoèo, quanh co, rậm rạp. Khi đến thác Pongour có 7 tầng đá trải rộng từ bờ nầy qua bờ kia. Ngày đêm nước tuông xối xã ầm vang miết mãi, nước tung bọt trắng xóa cuồn cuộn đổ xuống những mô đá to cao nhấp nhô chôn sâu trong lòng suối. Đứng trước thiên nhiên cẩm tú và hùng vĩ, mình cảm thấy con người thật bé nhỏ tầm thường.

                                Hôm đó, khi nhảy qua mấy hòn đá trơn ở thác Gougah, suýt tí nữa Thơ bị nguy hiểm tính mạng, nếu Phú không nhanh tay kéo nàng ngã dúi vào lòng anh. Mất thăng bằng, cả hai người ngã lăn trên dòng suối ấm dưới chân thác. Hương hoa núi rừng mộc mạc, kèm với sự sợ hãi chợt đến, chợt đau lúc tay chân bị đập vào đá, tím bầm, khiến nàng quên nỗi bẽn lẽn thẹn thùng. Áo quần ướt sũng nước, hai người nắm chặt tay nhau từ từ lội lõm bõm vào bờ, và lóp ngóp bò lên ngồi trên tảng đá. Chỉ còn hai người, nên nàng cảm thấy ngượng ngùng, e thẹn, vì áo quần dính chặt vào da, “anh chị” loay hoay hong khô người dưới ánh nắng. Không ai nói với ai lời nào. Thế nhưng, thoáng chốc quần áo khô nhanh. Phú, và nàng cùng nhìn theo các bạn. Các bạn khác không bị “té suối”, thì hân hoan lò dò đi các nơi chụp ảnh.

                                Các bạn hăng hái vui vẻ trở về lối cũ đi thác Hang Cọp thuộc địa bàn thôn Túy Sơn, xã Xuân Thọ, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 15km về phía đông bắc (qua phía Trại Mát). Thác Hang Cọp cũng hiểm trở ngoằn ngoèo rậm rịt, thăm thẳm núi rừng với dốc đứng cao ngất lưng trời, thác hơi giống thác Datanla sâu thẳm & âm u. Đặc điểm: Xung quanh thác có rừng thông đặc chủng, rừng hỗn giao khá xanh tốt, thích hợp cho các chuyến du lịch dã ngoại.

                                Chiều về, họ đi “đồi thông hai mộ” (khu Chi Lăng). Nào đi vô thăm trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam nằm ở khu Chi Lăng (và góc Thái Phiên). Thăm trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Nàng kể sơ sơ cho bạn nghe: Tháng 10/1950 vua Bảo Đại cho dời trường sĩ quan Hiện Dịch tại Đập Đá Huế, về Đà Lạt, và gọi là École Militaire Inter-Armes de Dalat. Sát nhập vào trường Võ Bị Liên Quân đặc biệt của Pháp (ngôi trường Võ Bị Liên Quân Đặc Biệt của Pháp, nay đương nhiên phải trao trả lại cho Việt Nam). Đầu tiên ngôi trường nầy lấy tên là: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Cuối cùng Trường sĩ quan hiện dịch nầy chính thức đổi tên thành: Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Việt Nam theo sắc Lệnh số 325-QP ngày 10.4.1963. Đất và Trường rộng mênh mông tọa lạc giữa vùng khu ấp Chi Lăng và khu Thái Phiên. Tôi hẹn bạn cùng nhau sẽ nói nhiều về trường Võ Bị và trường Grand Lycé trong dịp khác.

                                Các bạn lên xe trở về thành phố thăm di tích xưa từ thời vua Bảo Đại đã đặt tên là Thung Lũng Hoà Bình. Bây giờ là Thung lũng Tình Yêu (thời Pháp thuộc gọi đây là Vallée D’ Amour) ở trong khu Ấp Đa Thiện, xa phố Hòa Bình 4,6km, nơi đây phong cảnh khá hữu tình, những rừng bạt ngàn cao vút thông nhấp nhô soi mình trên mặt hồ im ắng, nước trong xanh thỉnh thoảng gợn lăn tăn dưới pedalo.
                                **

                                Tình Hoài Hương
                                Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-15-2020, 06:11 AM.
                                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                                Tình Hoài Hương

                                Comment

                                Working...