Tóc Sương Mẹ Đã Bạc Rồi!
Nhân Mother’s Day- con xin trân trọng kính dâng về Mẹ (& cha): Hai đoá hoa hồng trắng Tình Hoài Hương
***
Trăng sáng và xa xôi chiếu lung linh xuống vạn vật mờ nhòa dưới lớp sương mỏng như dải lụa đang vật vờ bay bay. Một dải mây hoe vàng xuyên qua lớp mây trắng xôm xốp lấp lánh ngoài ô cửa kính, trải ánh sáng bạc thành một con đường dài, rồi cắt khúc ngang ở tòa nhà lớn trên đồi dốc. Tiếng côn trùng râm ran ngân nga bản hoà tấu không nhịp nhàng âm điệu, bỗng chốc im bặt, rồi lại rè rè diệu vợi vang xa, khiến đêm khuya càng thêm mịt mùng, thăm thẳm...
Rất yếu tim và lo sợ, nhưng mẹ vẫn xin bác sĩ Phán và cô y tá cho phép mẹ đứng trên đầu giường tôi. Mẹ lâm râm đọc kinh, đôi mắt mẹ như lạc thần nhìn chằm chằm vào mặt con. Tiếng mẹ cầu nguyện nho nhỏ thành lời thống thiết van xin chí tình. Hai bên thái dương mẹ ướt đẫm mồ hôi, miệng há hốc mẹ bàng hoàng nắm chặt lấy bàn tay tôi, như tiếp thêm sức mạnh. Có mẹ ở bên cạnh, tôi xiết đỗi yên tâm và bình an. Khi thằng “cu tí” chào đời, mẹ chảy nước mắt mà hoan hỉ reo mừng. Mẹ thở phào như chính mẹ trút được cơn đau tột cùng sau cơn vượt cạn. Mẹ muốn san sẻ tất cả đớn đau, cũng như niềm vui mừng khôn tả xiết với tôi. Ôi thế mới biết tình mẹ thương yêu con biết ngần nào!
Còn thằng bé tí hon nhà tôi thì thuộc hạng rất ư khó chịu, con hay khóc nhè quá, đái dầm ướt đít, hay đi ị ra tã lót xí, thì cu cậu ngọ ngọe và la làng, mắt nhắm tít mà khóc thật to! Thấy cháu quấy thì mẹ lo sợ tôi không ngủ được, bà ngoại vội bế cháu ngồi nơi góc mùng, ru hời ru hỡi trong vòng tay già; cho con gái thiêm thiếp giây lát. Mẹ dỗ dành tôi như đứa trẻ lên năm:
- Con ăn hết dĩa thịt nạc kho tiêu, uống canh xúp ni đi.
Hoặc là:
- Mẹ thấy con không ngủ được. Phải ráng ngủ đi.
- Dạ… Dạ.
Thoạt tiên tôi len lén mở mắt nhìn mẹ say sưa, thấy mẹ ngẩng nhìn về phía tôi, tôi vờ nhắm mắt lại, sợ đôi mắt mình sẽ tiết lộ những ý nghĩ thầm kín. Mẹ nói lẩm bẩm một mình về sự tôi xanh xao gầy ốm. Mẹ đến bên giường, lấy khăn đuổi con ruồi đậu ở mũi tôi; tay tôi đang gác trên trán, mẹ nhẹ nhàng cầm tay con, đặt xuống nệm. Mẹ cúi sát xem tôi ngủ được không? Hơi thở mẹ thoảng qua gây cảm giác đầm ấm, thân thiết, trìu mến, ngọt ngào yêu thương, dễ chịu dường bao! giống như hơi nồng từ trái tim mẹ toả sức ấm ra cho tôi, chứ không phải do mền nệm, hay do lò lửa đỏ vùi tro đang đặt dưới gầm giường. Mẹ thuê phòng hạng đặc biệt trong viện của bác sĩ Phán cho tôi nằm.
Dù ở bệnh viện tư nhân đã có chương trình lo cho sản phụ, nhưng me chu đáo mua gạo thơm, kho thịt nạc, kho giò lụa, làm chà bông. Suốt mười ngày sáng sáng khoảng năm giờ mẹ lò mò dậy, tự tay mẹ nấu cho tôi ăn kèm một chén canh đổi món mỗi ngày. Mẹ vui khi thấy tôi ăn ngon miệng, âu sầu khi tôi non kém bữa. Mẹ lo lắng chu toàn từng ly từng tí. Khi tôi ăn uống xong, chén bát va chạm nhau lách cách vang nhè nhẹ, khi mẹ lau rửa. Chén dĩa, tô muỗng, mẹ rửa sạch trơn rồi úp lên khay khô ráo, lau chén và đậy khăn đàng hoàng. Sau đó mẹ đi giặt giũ phơi phong áo quần tã lót. Tưởng con và cháu đã ngủ say, mẹ tôi mỉm cười, nụ cười mẹ dịu hiền làm nhạt nếp nhăn trên khuôn mặt nhân hậu. Thỉnh thoảng mẹ ngồi trên bộ ván, ngoáy trầu trong cối đồng nhỏ xíu. Móm mém vừa nhai trầu mẹ vừa xếp cẩn thận áo ra áo, tả lót đúng chiều vuốt thẳng nếp. Khiến bà vợ ông bác sĩ phải khen:
- Bà cụ lo cho con gái út chu đáo lạ!
Không biết trả lời sao cho khỏi mất lòng bác sĩ, vốn dĩ là chỗ thân tình, mẹ cười hiền hậu.
Ngủ chập chờn tâm trí lâng lâng cái kiểu gì lạ, tôi bồn chồn khó chịu không thể mở mắt ra, nên choàng dậy, cả thân thể tôi mệt mỏi vô vàn. Mẹ đang ngồi bên bộ ván, vội nói:
- Chiều mà con ngủ rứa, là bị mộc đè, không dậy nỗi con à.
- Dạ phải. Bị mộc đè, không cách chi dậy nỗi.
Tôi nằm trên giường, người lâng lâng giữa trạng thái nửa thức nửa ngủ. Nhắm mắt thật lâu, tai tôi nghe bước chân mẹ nhẹ nhàng di động đi lại chỗ nầy chỗ kia. Mẹ đứng ở bên bàn rót nước trà. À không phải, mẹ đang châm nước sôi vào bình thủy, rồi đậy nắp, đặt bình thủy lên góc bàn. Mẹ đến cuối phòng thu dọn, Dọn dẹp xong, ấy là lúc mẹ ngồi xuống chỗ cũ, lò mò mở kim băng cài túi áo, mẹ lấy tiền ra đếm, tiền chẵn mẹ cất vào túi áo trong, tiền lẻ để túi áo ngoài, mẹ cẩn thận cài hai cây kim băng vào hai túi. Đôi mắt mẹ ánh lên niềm hãnh diện khiêm tốn. Mẹ có tiền riêng lo cho con, cháu, mẹ mua các thứ thiếu do chính đồng tiền tần tảo, vun vén của mình có.
Nằm mãi càng cảm thấy mệt, tôi ngồi dậy, đầu choáng váng, tôi nghĩ: “có lẽ vì nằm nhiều, không vận động, lại mất ngủ suốt tuần, nên tôi yếu người đi”. Quơ chân xuống nền gạch tìm đôi dép, tôi lừ đừ thờ thẫn đến bên cái bàn kê ở góc tường, tay run run bưng bình thủy lên mở nắp ra. Bỗng dưng, đầu óc tôi quay cuồng, tối tăm mặt mũi, thân thể nặng nề, tôi ngả lăn ra bất tỉnh nhân sự. Khi tôi hồi tỉnh, vợ chồng ông bác sĩ và cô y tá reo mừng.
Còn mẹ. Trời ơi! Tôi không thể nào diễn tả sự khiếp sợ, trên đôi mắt mẹ tưởng đã lạc thần, con gà bị cắt tiết mất hết máu ra sao, thì mặt mẹ xám xanh y như vậy. Tất cả sự yêu thương, lo lắng tột cùng lộ ra rõ nét. Mẹ quá run sợ phải lìa con. Run cầm cập, mẹ lụm khụm đi nấu nước sôi, mẹ đắp lên hai vết bầm trên đầu, cánh tay, bắp đùi của tôi. Bác sĩ khám rất kỹ vết thương rướm máu ở đầu, ông chích nhiều thứ thuốc, chăm sóc cẩn thận nơi tôi bị đập mạnh đầu lên một chân tủ gỗ lim chìa ra ngoài. Bên thái dương kia tôi lại bị một cục u, to hơn nửa quả trứng vịt, tím bầm. Đầu tôi đau nhức kinh khủng, y như có tảng đá nặng đè lên, ê ẩm cánh tay trái và một bên sườn. Cổ xoay qua trở lại không được, tôi phải nhờ người khác giúp.
Mẹ đã bận rộn nuôi con, lo cho cháu suốt tuần. Nay tôi có thêm các vết thương, khiến mẹ càng khổ cực. Mẹ lâm râm đọc kinh cầu nguyện. Vì sự bất tỉnh kia nên tôi phải nằm điều trị thêm nhiều ngày, tôi lại hoàn toàn mất ngủ. Mẹ phàn nàn:
- Sau nầy con sẽ bị đau đầu, đau nhức thân thể hoài đó.
Thấy tôi cựa mình, mẹ quay lại nhìn:
- Con cần chi? Để mẹ làm cho.
- Mẹ đừng lo cho con. Mẹ ngồi cả ngày, cả đêm, mệt lắm. Mẹ ngủ đi kẽo con càng bị bệnh bi giờ.
* * *
Bầu trời nhàn-nhạt sau khi tráng nước mưa thì trở nên trong suốt như pha lê. Lưng trời sáng bạc ngất ngây đầy lâng lâng rung cảm điểm vài hoa mây phớt hồng thấp thoáng bay bay, trôi nhè nhẹ như bong bóng mây lơ lửng giữa bầu trời rộng thênh thang. Các mái nhà như kỳ cọ gội rửa sạch bon. Những con đường cành cây ngọn cỏ đều loáng nước và trở nên xanh tươi hơn.
Tôi rất mừng khi mẹ ở Tùng Nghĩa đến thăm, có mẹ ở lại giúp con, phụ chăm nom các cháu, là tôi rất an tâm. Mỗi lần đến thăm con cháu, mẹ mang rất nhiều quà bánh, mẹ khệ nệ bưng hết giỏ nầy đến giỏ khác, thậm chí cả gạo, rau, cá, thịt, tôm, vân vân… Có bao nhiêu tiền dành dụm, mẹ đã trút hết cho con cháu. Nhất là bà cưng các cháu ngoại hết sức; mặc dù chúng rất quậy, khiến ngoại mệt phờ người.
Mẹ cầm cái quạt giấy quạt cho mình và quạt cho con, cháu. Mùi dầu thoang thoảng bay, mẹ rất thích xức dầu Nhị Thiên Đường. Trời Đà Lạt khá mát mà mẹ dùng quạt, đủ biết mẹ mệt đến thế nào. Tôi muốn khóc hết sức khi ngồi cạnh mẹ. “Lên non, mới biết non cao. Nuôi con, mới biết công lao mẹ hiền” (cd) là thế. Tôi nhìn vẽ già nua hiện lên từng đường nét rõ ràng trên khuôn mặt già và mỏi mệt, mái tóc mẹ điểm muối tiêu, vành miệng móm mém, mẹ ưa nhai trầu dập từ cối đồng nhỏ xíu cầm lọt trong lòng bàn tay. Đôi mắt mẹ thoáng màu nâu, hấp háy sau làn mi dài lưa thưa, mẹ có cái nhìn ấm áp chuyển thành niềm vui dạt dào, bộc phát mừng rỡ:
- Cháu đói lắm hử? Mẹ cháu về rồi. Ù ơ... Cháu tham ăn y như con mẹ của cháu từ hồi nhỏ hè. Hì hì… Cháu biết không!?
Ơ! Tôi đây có phải là đứa con gái út (trong gia đình có mười anh chị), út lên mười vẫn còn rúc vú mẹ, vòi vĩnh mọi thứ khi thích? Út sau giờ học, tối ngày thui thủi một mình, vì thế tôi luôn quanh quẩn bên mẹ đó ư? Ngày ấy mẹ pha nước nóng, và ngồi trên chiếc đòn nhỏ bên hiên lát gạch hoa, mẹ bế tôi vào lòng, tôi thòng cái cổ đeo hai ba sợi dây chuyền bằng đất. Tôi ngửa mặt lên trời cười sằng sặc lúc cảm thấy nhột. Mẹ gội đầu cho tôi bằng nước bồ kết nấu với lá sả, lá cam, lá chanh, lá bưởi. Tắm cho con bằng xà bong thơm hiệu "cô Ba đeo kiềng vàng". Tôi có tính hư nết xấu ưa làm nũng, dậm chân dậm cẳng không chịu tắm, khóc nhè hoài; dù mẹ đã dỗ ngọt hun hít và gói cho tôi đòn bánh tét nhỏ xíu bằng gan tay, có dây lạt làm quai xách cột từ đầu nầy qua đầu kia.
Có ngày tôi say sưa nhìn: mẹ đeo đôi mục kính trắng, khéo léo may từng bộ áo quần đẹp nhất đầu xuân. “Con bé tôi” năm sáu tuổi ngồi bên thềm gạch hoa trong tòa nhà cao và rộng, tôi la lết bên mẹ và quá phục nhìn mẹ thoăng thoắt may áo quần mới. Tôi nghe mẹ kể chuyện cổ tích Trầu Cau. Tấm Cám. Mẹ kể chuyện hay đến nỗi đôi khi tôi đòi cái gì đó, mà mẹ không có cho con, thì mẹ mỉm cười nói: "Ngày xưa... có một người tiều phu vào rừng..." là mọi thứ hấp dẫn trên đời, đều không bằng câu chuyện cổ tích của mẹ.
Ngày ấy, gia đình ba mẹ tôi sống tại ngôi biệt thự số 5 La Rose ở đường Quang Trung, gần nhà Ga xe lửa Đà Lạt. Tôi đeo đôi hoa tai vàng tòn ten đong đưa theo mỗi cử động, cổ đeo kiềng vàng chạm trổ thẫm mỹ. Tôi diện quần sa tanh trắng, xúng xính trong chiếc áo nhung đỏ do mẹ tự cắt may, chân tôi mang hài cườm cùng màu với áo. Đầu tôi đội nón lá mười hai vành do mẹ chằm. Vai tôi đeo chiếc bóp đầm đỏ. Hai mẹ con ngồi xe kéo đi chợ Đà Lạt mua sắm đồ Tết suốt ngày.
Trước khi mua sắm, mẹ cho tôi ăn bánh bèo xong, tôi lại lết qua hàng mì quảng ăn no nê. Sau đó hai mẹ con chen lấn vào chợ vải mua quần áo, giày dép, vân vân… Tôi bị người lớn chen lấn, nên tụt lại đằng sau, kẹt giữa làn sóng người đông như kiến. Hốt hoảng, tôi vừa khóc vừa kêu "Mẹ ơi! Mẹ". Tay tôi nắm chặt lấy đuôi áo dài của mẹ rị kéo mạnh lại. Dù rách toạt mất một thân áo, mẹ tôi không hề la rầy, hay giận dữ. Mẹ đằm thắm bế con lên, cùng với hai giỏ xách đầy vật dụng mua sắm đang móc vào khuỷu tay. Lúc ra về, mẹ lại mua cho tôi mấy bịch bánh thuẩn, nải chuối cau. Ngồi trên xe ngựa, tôi sung sướng có những món đồ chơi xinh đẹp. Nhưng, về nhà đồ chơi cũng không quyến rũ con bé mập tròn ú nù giống hột mít như tôi (vì háu ăn), tôi quanh quẩn bên chân mẹ, líu lo hỏi chuyện:
- Mẹ nấu phở cho cả nhà ăn ha mẹ?
- Ừ. Ra ngoài sân chơi đi con. Ây. Coi chừng bị phỏng lửa.
- Chín chưa mẹ?
- Chưa được. Coi chừng phỏng nước sôi.
- Được chưa mẹ?
Sốt ruột, do cái tật mê ăn của con, nên mẹ đã làm trước cho tôi một tô phở. Tôi cứ bu bên mẹ rồi nhón chân lên bốc một nhúm hành ngò trong dĩa ở trên bàn. Tôi chạy theo mẹ đến bên góc đi văng, bỏ đầy hành ngò vào tô. Tay cầm đủa tay cầm muỗng, tôi cúi xuống thổi phù phù vào tô phở nóng. Nước miếng ứa ra miệng, bụng sôi lọc ọc, tôi cảm thấy đói cồn cào vì mùi thơm ngào ngạt:
- Mẹ cho con ăn thiệt no. Nghen. Con đói.
- Để nguội đã. Ăn từ từ thôi. Ngán tới con mắt chừ. Chớ tham ăn chi hì.
- Con ăn từ từ cho đến khi nào no tới con mắt, thì thôi. Mẹ ui.
Mẹ tôi phì cười nguýt yêu con gái tham ăn. Qua nửa tô phở, tôi buông đũa, hét to:
- Chết con rồi! Ơ hơ! Cay quá! Mẹ ơi. Mẹ.
Cay thật. Cay đến nỗi mặt tôi đỏ rần, hai lổ tai ù ù, lùng bùng, đầu lưỡi nhứt nhối, rát bỏng, môi miệng đỏ chót phồng rộp lên. Tôi thọc tay vào miệng cào cào lưỡi, xít xà, phun nước miếng phì phì. Mắt thấy sao bay trong màng lệ, tôi hoảng hốt chạy quanh nhà, vừa kêu vừa khóc. Tôi bức tóc bức tai, rồi chui tọt xuống gầm bàn, nằm lăn lộn trên nền gạch hoa. Tôi lại bò ra, chui lòn mấy vòng qua hai chân của mẹ. Hai tay tôi quệt nước mắt! Khổ nỗi ớt dính ở mấy đầu ngón tay, nên càng bị cay mắt hơn. Mồ hôi vã ra trên trán như tắm, mặc dù trời khá lạnh. Khiếp quá. Cay kinh khủng. Tôi kêu khóc inh ỏi, mũi dãi lòng thòng (chỉ vì mắt nhắm mắt mở, và tham ăn, tôi không thấy trái ớt xiêm xanh lẫn trong nhúm hành ngò, dù mẹ tôi có ý để ớt qua một bên mép dĩa to).
Mẹ vội lấy nước lạnh khuấy chanh đường, bế con vào lòng cho con súc miệng nhiều lần, nhổ ra. Mẹ xổ mái tóc dài, lấy đuôi tóc lau trên đôi mắt con, lấy khăn ướt lau mặt mũi con, mẹ vạch vú da cho con mút, (mặc dù con khá lớn khôn). Có bầu vú mẹ, tôi dịu cơn đau, mà vẫn thút thít khóc và nấc lên từng cơn.
Ôi! Lần ăn phở muôn đời ghi nhớ ấy, nó ớn lên tới con mắt thật. Mà mẹ yêu dấu là người họa sĩ tài ba đầu tiên đã âm thầm vẽ nét ngây thơ, hồn nhiên duyên dáng vào tâm hồn con tươi trẻ. Hình ảnh mẹ bất diệt, nên thơ, trong sáng, thân thương từng ấp ủ nơi con đây một thời xuân trẻ luôn khát khao niềm tin yêu, chưa hề phai nhạt, và làm quặn thắt lòng con. Một tình mẫu tử bất diệt và bao la co xiết thành khối mật, vừa dịu êm ngọt ngào, vừa nồng nàn lâng lâng men tình say say, trào dâng lên bờ môi con ngọt lịm từ bầu sữa mẹ tinh tuyền ngát hương yêu trong chiếc nôi đời lắc lư đong đưa theo tháng năm qua. Trái tim con thèm khát nhịp đập cuồng quay trong lồng ngực phập phồng, bồng bềnh chơi vơi trên sóng biển rong chơi đầy dáng vẻ yêu thương mệt nhoài.
Tôi cảm thấy thương mẹ không làm sao tả xiết. Tình yêu thương nồng thắm của người mẹ, giờ đây tôi mới hiểu thấm thía, thâm thúy, tình mẹ bao la như trời biển, êm đềm ngọt ngào, nồng nàn xiết bao trong từng giờ, từng tháng, từng năm. Mẹ tôi tận tụy cần cù hy sinh lo cho chồng, con, cháu; là hạnh phúc duy nhất của mẹ; là lẽ sống thầm lặng, mẹ đầy tình thương yêu và thủy chung hết mực. Tôi yêu kính mẹ vô vàn, mẹ âm thầm chịu đựng, hy sinh gắn bó, nhẫn nại, dốc hết sức cạn hơi mòn, hầu chu toàn cho con, cháu, có sức khoẻ bình an, hạnh phúc. Dù con khá lớn khôn, có gia đình con cái, dù các con đã vững vàng lập thân, từng trải.
Mẹ thân yêu! Mẹ nâng niu giữ gìn cho con bao kỷ niệm yêu thương, đậm sâu, dạt dào ân tình mặn-mà thuở thiếu thời. Đôi mắt con lẫn vào lòng mắt mẹ êm ái, ẩn chứa tất cả niềm vui tột cùng, tuổi thơ con trong sáng từng ấp ủ tình thương thầm lặng đến tận bây giờ. Nó vừa hiền, vừa lành, vừa vui, và trọng lượng tình yêu trong lòng mắt mẹ đã dành cho con, muốn vỡ vụn ra thành muôn hạt nước mòng mọng, tròn trịa, li ti lăn tăn long lanh rung rinh trĩu nặng bờ mi rưng rưng, trôi đến tận cùng tơ rung suy nghĩ, làm gợn sóng lăn tăn lung linh chơi vơi trong từng tế bào con run rẩy.
Hạnh phúc vô ngần khi con trở về trên dáng xưa yêu kiều, đầy hoa mộng đó. Chao! Dòng đời xuôi ngược nhiều ước mơ, hoài bão, hy vọng dạt dào, tràn đầy mộng đẹp vụt tan biến quá đỗi là nhanh. Và, hôm nay con không khỏi ngỡ ngàng, bâng khuâng xao xuyến và kinh ngạc; khi mẹ nhắc khéo chuyện: “Con tham ăn” đã lẫn vào lòng thời gian lúc nào; chẳng rõ! Hẳn là mẹ đang nghĩ đến câu:
- "Mẹ cho con ăn tô phở, khi nào con no, no lên tới con mắt thì thôi"!
Vui tột độ, khiến tôi dại người trong giây lát, bỗng quay qua nhìn mẹ hiền đăm đăm, và toét miệng cười ngất. Mẹ nhìn con gái lắc đầu mỉm miệng cười đôn hậu, hòa ái. Thật đáng yêu xiết đỗi từ đôi mắt đầy bao dung, thông cảm và thấu hiểu của mẹ biết ngần nào! Đó là cái gốc rễ tình yêu nơi chiếc nôi đời hồng hoang trinh nguyên, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi quê hương dấu yêu nầy tôi đã bập bẹ tiếng: "Mẹ... Mẹ" đầu tiên. Mẹ là sợi dây vàng rắc đầy kim cương lóng lánh, nối liền con cháu với niềm vui buồn quá khứ, dạt dào hạnh phúc ân tình trân qúy. Mẹ hiền mẫu sung sướng mỉm cười từ ái hằng cầu nguyện cho các con suốt bao năm trường được hạnh phúc, bình an. Phải không mẹ? “Gió thúc cội thung nhánh tùng khua rúc rắc. Nhớ cha mẹ già ruột thắt gan teo” (cd). Mẹ tôi mắt phượng mày ngài
Vai ngang dáng nhỏ tóc dài chấm chân
Cười xinh chúm chím hạt huyền
Không hề quản ngại thuyền quyên một thời
Sớm khuya nắng gió cuộc đời
Bán buôn tất bật (thảnh thơi bao giờ)!
Rảnh rang chằm nón bài thơ
Vá may quần áo, mẹ thờ song thân.
Nhiều khi mẹ đã ân cần
Viếng thăm người bệnh, bạn gần xóm xa
Chia cơm xẻ áo nhiều nhà
Những chiều tần tảo vào ra mẹ cười
Nhẹ nhàng gánh thúng hoa tươi
Luyến lưu mẹ nói: “Xin mời mua hoa”
Kẻ trên người trước dần dà
Trao tình quý mến. Thiết tha mẹ hiền.
Mẹ tôi là một bà tiên
Gia đình đầm ấm đoàn viên một nhà
Ngọt ngào Con Cháu Mẹ Cha.
Niềm vui hạnh phúc bao la tình nồng. (*)
Bây giờ, thời gian vút qua... “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều. Nhớ cha, nhớ mẹ chín chiều ruột đau”. (cd) Các con bé bỏng của mẹ đã lớn khôn, đã có gia đình, đã làm cha, làm mẹ. Dù vậy con đây vẫn còn nhõng nhẽo, quấy rầy mẹ và thút thít khóc hu hu hu hụ hụ hụ như thuở nào! … “Thương mẹ nhớ cha như kim châm vào dạ. Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi. Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ. Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha...” (cd) ... khi cha mẹ đã vĩnh viễn lìa bỏ chúng con. Cha mẹ ôi!
* * *
cd = ca dao
(*) Thơ Tình Hoài Hương
THH xin phép cám ơn quý vị nhiếp ảnh gia: đã post những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.
Chớm Thu tràn dâng tê buốt qua từng mạn nhện giăng mắc thành những tua viền lắc lư, giống sợi đăng ten đong đưa dai dẽo theo từng cơn gió heo may run rẩy thổi về. Sáng nào các khung cửa kính cũng đầy sương đọng, sương uốn éo chảy thành từng hàng nước ngoằn ngoèo trên khung cửa kính. Ánh sáng trắng nhạt vàng thau lọt qua những tấm kính mờ đục, không làm cho không khí trong nhà ấm áp hơn.
Tôi yêu mùa Thu kinh khủng, yêu những chiếc lá vàng cuối cùng hững hờ đan trên cành cây khẳng khiu. Mưa Thu lất phất nghiêng nghiêng bay bay trên nền trời chơm chớm sang mùa đang ngã màu xanh lam, trông ảm đạm bâng khuâng và da diết buồn. Con đường dốc bên cạnh rừng đầy lá thông khô được sương đêm rửa sạch trơn, trở nên láng mướt, nước ve vuốt đôi chân tôi mát lạnh khi bước chân trần êm ái dẫm lên đồi cỏ. Khiến tôi muốn ngã lưng nằm trên tấm thảm lá thông nâu nâu mượt-mà, để mơ màng nhìn lên trời cao, mà xao xuyến nghĩ về… Cảnh chuẩn bị đi học nơi rừng núi sình lầy gian khó ở trường Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ Nha Trang khoảng vài tháng.
Chúng tôi gồm: Thuý Mai, Hồng, Lan, Thiên, Thanh, và tôi, thích làm vui lòng theo “thời trang” mà ta đã chọn: Rộn ràng ríu rít dạt dào cảm xúc ngất ngây, họ kêu hú nhau đi vào Võ Bị thăm bồ. Nào quà bánh, khăn tay, khăn tắm, áo lạnh, vân vân… Họ kèm theo giọt nước mắt nóng hổi mà ngọt ngào, cuống quít đắm đuối mê say từ bạn lòng nồng nhiệt trìu mến trao nhau tình mơ. Thú thật là tôi có vẽ hững hờ hơn các cô bạn có người yêu khác. Bởi vì lòng tôi đang “lao đao lấn cấn” về chuyện chúng tôi sẽ “hứa hôn” đã qua. Khiến Cảnh phải cau mày, anh chỉ dạy tôi từng ly từng tí về sự ân cần, âu yếm, khuyến khích, vuốt ve:
- Anh có cảm tưởng là chưa được yêu say đắm.
- Thì ra anh nghĩ như vậy.
- Sắp xa nhau, anh chẳng thấy em có vẽ bịn rịn, lưu luyến. Có thể là anh chưa đủ sẻ chia cùng em trọn nỗi niềm…
- Anh đi học, rồi lại trở về trường. Chứ anh có đi luôn đâu. Mà… em có buồn thì em dấu kín ở trong lòng.
Cảnh không được vui. Anh muốn trước mặt bạn bè: tôi nên tỏ ra “thật tình” với anh. Đừng quá “hồn nhiên” bình thản “vô tư lự” như nai. Nghĩa là có thể anh thấy trong tôi có sự “bấn loạn” nào đó. Tôi ít biết chăm sóc đến người yêu mình, ha anh?
- Vâng. Thì em đang yêu chút xiú mà anh.
Sau khi Cảnh đi học chừng ba ngày, thì anh Tuế vội vã chạy lên nhà báo tin cho tôi biết chị Hạc đi cấp cứu ở bệnh viện. Chị bị băng huyết, anh chị lo sợ sẽ bị hư thai, anh Tuế phải túc trực ngày đêm bên chị. Ở nhà cháu Cường không biết ra sao. Nhà anh chị ở dưới Tùng Nghĩa một mình thật neo đơn. Tôi đành bỏ tất cả chuyện học hành, xin phép nghỉ làm việc một tháng không ăn lương. Tôi lo thu xếp ít quần áo, tất tả lên xe đò xuống Tùng Nghĩa ở lại nhà anh chị, để lo cho cháu Cường giúp anh chị.
Ngày hai buổi tôi đi chợ, cơm nước, giặt giũ, trông coi cháu. Công việc tuy chẳng nặng nề, nhưng lụi hụi mãi, luôn tay bận rộn. Ít có ai biết “việc nhà không tên” bao gồm đủ thứ chuyện lu bu, lắt nhắt chả ra gì, mà khá bù đầu nầy ha. Tuy vậy, tôi cảm thấy vui vui khi thay đổi không khí về vùng hoang dã. Ở Tùng Nghĩa không quá lạnh như ở Đà Lạt, khí hậu tương đối dễ chịu, ấm áp, ôn hoà hơn. Làm tan nhạt ít nhiều dư vị lạt nhẽo, buồn bã sau ngày Cảnh ra đi.
Khoảng thời gian nầy có Quốc là biên tập viên thường thấp thoáng ra vào, lui tới nhà anh chị Tuế, Quốc bồng bế nô đùa cùng cháu Cường, nên tôi cũng đỡ cực nhọc. Có đều khổ cho tôi là cu tí Cường nầy, ban ngày cháu được “cậu Quốc” dỗ dành, ẵm cháu đi chơi chỗ nầy, chỗ nọ. Nên cháu cũng bớt nhớ mẹ. Cháu quyến luyến “cậu Quốc” hơn là cháu đeo bu bám theo tôi. Cũng phải! Vì tôi ít xuống nhà anh chị Tuế, còn Quốc là người lối xóm “nhất cận thân nhì cận lân” mà. Có cậu Quốc, cháu Cường “khuây khỏa” nguôi ngoa, ít nhớ vú mẹ đôi chút. Nhưng khi về đêm, cháu càng nhớ mẹ, cháu lại thèm khát cái bú ti, nên cháu ưa khóc nhè hoài. Cháu nhất định đòi “cậu Quốc” bế trên tay ru, thì cháu mới chịu ngủ yên đến sáng. Tối tối, khi Quốc làm hết công việc ở sở, anh đi ăn cơm ngoài tiệm xong, anh vẫn mua quà về cho chúng tôi ở nhà. Có ngày anh xách nguyên cào mên phở, hay bún bò giò heo. Mặc dù tôi cảm thấy nhột, lúng túng nên phản đối. Anh nháy mắt với tôi, tủm tỉm cười cười, giọng miền Nam vui tươi, ân cần, đầm ấm, Quốc ngọt như mía lùi:
- Thôi mà, em đừng cười nhạo anh. Đã biết em ưa ăn bún bò, thì… em cứ để đó, lỡ đêm khuya nếu hai dì cháu đói bụng, sẽ có sẵn, em hâm nóng mà ăn. Em à.
Mấy đêm sau, có lần tôi nấu chè, nấu xôi. Anh sang chơi và phụ tôi múc chè ra chén, anh thổi phù phù cho bớt nóng, rồi anh đút cho cháu, và tự nhiên đút cho cả cho tôi ăn. Tôi bắt chước anh làm y chang như vậy. Có lần tôi tinh nghịch giơ muỗng chè đậu ván lên tới gần miệng anh, Quốc nháy mắt nheo mày cười hả miệng ra, thì tôi liền đút cho cháu Cường ăn; khiến anh chưng hửng. Cả ba người cùng rúc rích cười, tiếng cười hồn nhiên vui vẻ và trong sáng. Thế là bỗng nhiên tôi và Quốc vô tình xích lại gần nhau hơn, một phần nữa do bận rộn khá nhiều vì cháu Cường.
Tôi vui, buồn, tức giận, có vài lần tôi ứa nước mắt vì cháu; lúc ấy đều có sự sẵn sàng tham gia trực tiếp của Quốc. Qua dây ràng buộc thật tình cờ hồn nhiên mà mật thiết ấy, tình cảm hai người âm thầm nở ra trong bí mật. Tôi có cảm tưởng mình đang trôi tuột xuống vực thẳm nóng bỏng, như rơm sắp táp vào lửa. Ý nghĩ của tôi vọng theo cung đàn, rung rinh đu đưa từ mộng mơ nầy, qua mơ mộng khác. Tôi thấy bao chua cay kiếp người được phơi bày theo làn khói thuốc của Quốc đang uốn lượn lên trần nhà. Bên ly cà phê sánh đen của Quốc pha chế mỗi đêm anh thức trắng ru hời cháu nhỏ. Tôi có cảm tưởng như tim tôi bốc cháy theo khói thuốc, theo hơi nóng của ly cà phê đắng đen như cuộc đời mình… từ từ trôi vào bờ môi vụng dại kia.
Mỗi đêm khi anh trở về bên phòng, hình như Quốc không ngủ được, băn khoăn trăn trở hay sao, tôi thấy qua vách ván từ khe hở, đèn néon bên nhà trọ của phòng Quốc chong thật khuya lắc khuya lơ. Đôi khi tôi suy nghĩ:
- "Tại sao ở bên Cảnh, tôi không có những suy tư, đằn vặt, buồn rầu hay xao xuyến, bồn chồn giống như khi Quốc vừa đi vắng"!?
Tôi hồi hộp trông ngóng mong chàng mau trở về gần bên hai dì cháu? Hay là tôi… tôi đơn thuần “mong ngóng” anh, khi có Quốc là tôi rất mừng, vì anh sẽ dỗ dành được cháu Cường nín khóc, cháu không làm tôi quá mệt nhọc? Ôi! Hay là… hay là... tôi đã lãng du về miền hạnh phúc thắng cảnh đào nguyên tưởng tượng mất rồi!? Tư tưởng tôi luôn hư cấu, ưa vẽ ra dáng dấp “ai” phai mờ từ vùng thảo nguyên xa xôi nào đó. Tôi vẫn mong chờ “ai” bên gốc thông già thế hở? Nay trong mênh mông chiều sương giá rét, tôi quay về giữa mối thất vọng lớn lao -Cuộc tình giữa tôi và Cảnh- Chưa hẳn mình tìm đến nhau chia sẻ ngọt bùi ấm êm hạnh phúc nguyệt cầm. “Mình” có những phật ý, lấn cấn kỳ lạ, mà "ta" không thể thấu hiểu. Sung sướng thay khi bằng tư tưởng, tôi có thể dĩ tưởng về cảnh vàng son một thuở, cho tôi nhìn thấy trước bức tranh hạnh phúc sẽ phát thảo riêng mình trong tương lai nhỉ!
* * *
Một buổi trưa giữa mùa Thu, nằm bên cạnh dỗ cháu Cường ngủ say rồi, tôi đọc sách. Tôi rất ít khi ngủ trưa, nếu khi nào ngủ trưa là tôi ưa bị nhức đầu chi lạ. Nhưng có lẽ hôm nay do cháu Cường "quậy" tưng trời, vì quá mệt nên tôi đã thiếp đi tự lúc nào.
Quốc ngồi ghé trên mép giường nệm, nhẹ đến nỗi tôi không hề hay biết. Tôi vẫn ngủ say như chết. Có lẽ Quốc ngồi lặng lẽ ngắm nhìn dì cháu chúng tôi ngủ lâu lắm hay sao, không rõ. Bỗng dưng giật mình choàng thức dậy, tôi mở mắt ra nhìn quanh. Hốt hoảng tôi định la lên, nhưng khi thấy bóng Quốc mập mờ trong tranh tối tranh sáng, tôi vừa mừng vừa sợ! Thấy tôi mở mắt ra, Quốc liền cúi xuống ôm siết tôi vào lòng, anh trìu mến thì thầm rất khẽ:
- Anh Quốc đây mà em…
Liền đó anh cúi xuống đắm đuối hôn vào đôi tôi mím chặt. Tôi sống qua giây phút tình cảm đột ngột, quả thật bất ngờ, bàng hoàng không thể ngờ đó, rồi vụt teo tóp héo hon rõ nhanh. Giống công tước Clarence nước Anh (vì mưu sát vua Edouartw thất bại, ông ta xin tự sát bằng cách nhảy vô trong thùng rượu nho mà trầm mình). Nếu ngày xưa tôi ngạc nhiên, phẫn uất vì tình yêu đầu đời đã hoàn toàn hủy diệt giấc mơ hạnh phúc cuả tôi nhanh chóng đến thế. Thì giờ đây, tôi khá kinh ngạc khi Quốc tự nhiên và liều lĩnh quá độ ấy (tôi không muốn nói là Quốc sỗ sàng, kém tế nhị). Khiến tôi bị tổn thương và hoàn toàn phật ý. Ôi dào! Chắc Quốc tưởng hể tôi gần gũi chuyện trò thân thiết, là có thể dễ dàng đưa đến tình yêu sao? Rất có thể Quốc nghĩ: “chúng ta” đút chè cho nhau ăn, là có trao nhau mau chóng tình yêu sao? Anh không biết là tính tôi ưa tinh nghịch, hay đùa dai. Nhưng thật ra tôi rất khó tính khó nết đấy!
Tôi nghĩ: “Nếu Quốc tinh tế nhã nhặn hơn một chút, nghĩa là anh không quá hấp tấp vội vàng hôn tôi đường đột. Có lẽ anh sẽ dần dà chiếm trọn tình cảm của tôi, và có thể khi đã yêu, thì tôi tha thiết say đắm nhiều”. Nhưng… Tuyệt nhiên tôi không thích chuyện anh “sỗ sàng & hấp tấp kém tế nhị” đó chút nào. Quốc chỉ hôn tôi một lần duy nhất. Vùng bật ngồi dậy rõ nhanh, tôi xô mạnh Quốc ra. Nhìn thái độ dứt khoát, cử chỉ ngắn gọn và mặt tôi đanh lại, thộn ra. Anh biết là tôi không bằng lòng. Quốc ngây người trong giây lát, rồi cúi đầu nhỏ nhẹ nói:
- Anh xin lỗi em.
- Không nên đột ngột thế. Ra ngoài sofa nói chuyện nghiêm trang đi anh.
Bỗng dưng tôi và Quốc đều cảm thấy ngượng. Tôi lúng túng e dè ngồi xuống ghế, hai cùi chỏ chống lên góc bàn, hai tay bưng lấy cằm, tôi nhíu mày (“xù lông nhím”) cúi gầm xuống nhìn sửng lọ hoa. Tôi không biết nên nói gì với anh cho phải phép. Khoảng năm bảy phút cả hai người đều ngượng nghịu im lặng, Quốc băn khoăn tỏ bày:
- Anh… yêu em từ lâu. Anh cảm thấy ngại ngùng, nên chưa dám nói ra. Rồi những ngày gần đây, được dịp tiếp xúc với nhau. Anh nghĩ tình yêu của anh đối với em được đáp lại. Anh hy vọng là em vui lòng chấp nhận.
- . . .
Quốc ngừng giây lát, đăm đăm nhìn tôi, dường như dò xét tình ý của người đối diện:
- Thế nên anh xin lĩnh hội ý kiến của em…
- Về việc gì? Anh!?
- Anh có ý định đưa ba má anh lên đây, đứng ra lo chuyện thưa trình cùng ba má em, xin cưới hỏi em. Vì, tháng Mười Hai nầy, anh sẽ công du qua Singapore, ít là một năm, anh mới trở về Việt Nam.
Tôi kinh ngạc đăm đăm nhìn người đối diện. Đôi mắt Quốc rất đẹp, đa tình và quyến rũ nhiều cô! Đôi mắt ở dưới trán ấy chỉ nhìn thấy sự việc trước mắt anh, nhưng đôi mắt tâm hồn của anh chưa soi rọi những điều bí ẩn thăm thẳm âm ỉ cháy trong lòng tôi, anh không thể chạm vào trái tim nầy. Đó là bước ngoặt khá bất ngờ của câu chuyện tình yêu... khởi điểm từ đâu, và sẽ kết thúc ở đâu!? Một chuyện tình thật chóng vánh, đột ngột kinh khủng. Mà tôi không bao giờ ngờ! Không bao giờ dám bàng hoàng nghĩ tới. Mãi lâu, thấy tôi ngồi im bất động, Quốc mồi điếu thuốc khác:
- Em có yêu Cảnh không?
Úi Trời! Lại một câu hỏi khá bất ngờ khác, khiến tôi kinh ngạc tròn xoe mắt ngẩng phắt lên nhìn Quốc đăm đăm. Chưa bao giờ tôi tự vấn lòng là: “tôi có yêu Cảnh hay không”? Thành thật thẳng thắng mà nói tôi cũng chưa bao giờ mở miệng ra nói với Cảnh: “Em yêu anh” cả. Tôi nhận tình yêu Cảnh trao không băn khoăn do dự, không tính toán so đo hơn thiệt, hay nồng nhiệt vồn vã quá đáng. Tình đó đến với tôi từ từ trong trái tim khắc khoải nhuốm ít ưu phiền, từ nơi phẳng lặng trong tâm tư nầy thường ẩn chứa nhiều đợt sóng ngầm. Tôi là một trong vô số người mang nhiều kỳ vọng, lý tưởng và hoài bão nhất; nhưng không thể điều gì cũng thành công và đạt tới mục đích.
Bị Quốc hỏi bất ngờ, tôi lờ mờ ngẩn ngơ ậm ự, ú a ú ớ… Tôi lúng ta lúng túng ngập ngừng những giải thích mông lung, không bằng cớ, băn khoăn, không phân định, chẳng chính xác đều bất lợi cho cả hai chàng trai phải lòng.
Đã nhận Cảnh vào đời mình, tức là tôi tha thiết muốn được yên ổn. Bình an nương tựa vào người mà tôi tin tưởng: sẽ chóng vánh đem lại đời mình niềm an thư. Hơn nữa với Cảnh, tôi mong anh là người chồng chững chạc, vững vàng, làm cột trụ gia đình êm ấm. Ít ra, Cảnh đã yêu tôi tha thiết. Đã quyết định cưới tôi làm vợ. Có một lần tôi run lẩy bẩy, mặt mày tôi tái xanh; vì tôi chứng kiến Cảnh đã lấy con dao lam cắt vô ngón tay đeo nhẫn của Cảnh, cho máu nhỏ giọt xuống một cái chum nho nhỏ con con, rồi Cảnh hoà máu với mực đỏ để viết vào trang đầu tiên của quyển bút ký: “Câu chuyện tình yêu D T Cảnh – Thụy Mi”. Đó là lần Cảnh đã ghi lại bài thơ “Nụ Hôn Đầu” vào tập bút ký của Cảnh:
Tình yêu bồng bềnh bay theo chân mây.
Cho đến một hôm dáng chiều hây hây.
Mình đã thân thiết quá đỗi thương yêu
người ấy... yêu thắm thiết mối tình đầu.
Mỉm cười khe khẽ nhìn nhau thật lâu.
Đằm thắm gửi nụ hôn nhẹ trên tóc.
Bàng hoàng say đắm dường như em khóc.
Bởi từ lâu... Vâng! Quả thật lâu rồi.
Chưa có ai in dấu ấn hôn môi.
Đôi môi kia biết có nồng giọt mật?
Hay sẽ nếm lầm mật đắng chia phôi!?
Dẫu sao ta vẫn thưởng thức hôn môi.
Thần tượng tình yêu mình đẹp muôn màu.
Dù kiếp nầy hay hẹn đến kiếp sau.
Trái đắng có trào lên đôi mắt ướt.
Nở xuống bờ môi nhau giọt hôn đầu. (*)
Mỗi lần tôi đọc những trang bút ký có nét chữ nghiêng nghiêng, đều đặn rất đẹp của Cảnh nổi bật trên những tiết hoa tươi tắn kẻ khung trang trọng ấy, tôi vẫn rờn rợn nỗi nghẹn ngào và xúc động mãnh liệt. Như thể tôi vừa lãng du về miền hạnh phúc tuyệt vời muôn trùng xa tít, dường như tôi bị đánh mất những giọt máu từ lồng ngực quắt quay tiếc nhớ. Tưởng như đời mình đính chặt vào ô kẻ khung trân quý ở tên hai người ghép lại, và những giọt máu đỏ
trên lời thơ nồng nhiệt say đắm tin yêu từ trái tim Cảnh rỉ ra.
Lần đầu tiên Cảnh tỏ tình với tôi nhẹ nhàng, từ tốn và tự nhiên, tự nhiên trong cung cách hồn nhiên ở phương diện ngọt ngào duyên dáng khác. Có lẽ nên thơ tuyệt vời hơn nhiều, so với Quốc. Khổ thật, tôi thì tôi... không dám tự khoe là tôi đa tình lãng mạn, hoặc tự hào tôi là người ưa sự thanh cao, nhưng quả thật là tôi chỉ thích chuyện tình vui vẻ, êm đềm, lãng mạn mà nên thơ, (romantic xí), hơn là chuyện trần tục lộ liễu và vô duyên, thì “nom” thấy dị dị kỳ kỳ sao sao ấy.
Sau buổi trưa “hun hít dị hợm” đó. Tuyệt nhiên tôi không thích ngồi lâu một mình với Quốc. Tôi sợ anh lại tỏ ra bất nhã, hay có “sự kiện vồ vập lạ lùng” như hôm trước, khiến tôi sẽ buồn chán và bất mãn cự tuyệt Quốc hơn. Mặc dù thật tình là tôi đã có khoảnh khắc mến thương Quốc thật lòng trong phút giây nào đó, rồi lặng lẽ lìa xa (như tôi đã nói). Tôi mến anh như người thân thiết hằng mong. Tôi cảm thấy tiếc nuối một cái gì chưa toàn vẹn… như quỳnh hoa quá đẹp vẫn âm thầm vụt nở trong khuya muôn trùng, rồi hoa héo tàn ngay khi bình minh ló dạng. Lòng tôi cứ cảm thấy hối hận là mình đã để mất đi một người thân & thương. Tim tôi trống vắng, bâng khuâng, ray rứt, xót xa, băn khoăn, buồn buồn, mất mác, thương tiếc một điều gì đó, thật xa xăm mơ hồ mà quắt quay luyến nhớ vô vàn…
_ * _
Tình Hoài Hương
(*) Thơ Tình Hoài Hương
THH xin mạn phép cám ơn quý vị: nhạc sĩ & nhiếp ảnh gia: đã post nhạc & những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.
"Tóc Sương Mẹ Đã Bạc Rồi!
Nhân Mother’s Day- con xin trân trọng kính dâng về Mẹ (& cha): Hai đoá hoa hồng trắng"
Chị Hoài Hương quí mến
Đọc qua hai bài chị viết về mẹ, em rất cảm động với những kỷ niệm chị tả từ suốt thời tuổi nhỏ cho đến lúc mẹ chị nằm xuống. Mỗi dòng cảm nghĩ như mỗi sợi tơ rung lên nỗi cảm xúc trong lòng, khiến cho em phải chảy nước mắt. Lại càng thấy nhớ mẹ em những ngày cơ cực sau tháng 4/75 buồn đau, mẹ đã phải thay cha em nuôi một đàn con tuổi còn đi học. Em không thể nhớ hết là cả lũ tụi em đã làm cho mẹ mình khóc biết bao nhiêu lần vì đủ thứ chuyện...Tình mẫu tử thật cao cả, bao dung. Dù đã có biết bao nhiêu bài hát, bài thơ, phim ảnh ca ngợi, em thấy, hình như vẫn không diễn tả được đến tận cùng tình yêu của người mẹ đối với con. Vì trong nhiều, nhiều, nhiều câu chuyện của những cảnh đời khác nhau, sự hy sinh, lo lắng cho con là vô vàn phải không chị? Đó cũng là lý do mà em chưa bao giờ viết được một bài trọn vẹn cho mẹ mình.
Cám ơn chị đã chia xẻ đến với độc giả nỗi niềm riêng về người mẹ yêu quí của chị.
Kính chúc chị, một người mẹ, một người bà luôn có nhiều sức khỏe, đời sống an lành, và mãi vui bên các con, các cháu.
"Tóc Sương Mẹ Đã Bạc Rồi!
Nhân Mother’s Day- con xin trân trọng kính dâng về Mẹ (& cha): Hai đoá hoa hồng trắng"
Chị Hoài Hương quí mến
Đọc qua hai bài chị viết về mẹ, em rất cảm động với những kỷ niệm chị tả từ suốt thời tuổi nhỏ cho đến lúc mẹ chị nằm xuống. Mỗi dòng cảm nghĩ như mỗi sợi tơ rung lên nỗi cảm xúc trong lòng, khiến cho em phải chảy nước mắt. Lại càng thấy nhớ mẹ em những ngày cơ cực sau tháng 4 buồn đau, mẹ đã phải thay cha em nuôi một đàn con tuổi còn đi học. Em không thể nhớ hết là cả lũ tụi em đã làm cho mẹ mình khóc biết bao nhiêu lần vì đủ thứ chuyện...Tình mẫu tử thật cao cả, bao dung. Dù đã có biết bao nhiêu bài hát, bài thơ, phim ảnh ca ngợi, em thấy, hình như vẫn không diễn tả được đến tận cùng tình yêu của người mẹ đối với con. Vì trong nhiều, nhiều, nhiều câu chuyện của những cảnh đời khác nhau, sự hy sinh, lo lắng cho con là vô vàn phải không chị? Đó cũng là lý do mà em chưa bao giờ viết được một bài trọn vẹn cho mẹ mình.
Cám ơn chị đã chia xẻ đến với độc giả nỗi niềm riêng về người mẹ yêu quí của chị.
Kính chúc chị, một người mẹ, một người bà luôn có nhiều sức khỏe, đời sống an lành, và mãi vui bên các con, các cháu.
Quí mến
Thiên Lý
Em Thiên Lý thương,
Chị THH chân thành cám ơn em Thiên Lý đã vui lòng ghé vào đọc bài viết rất buồn, đồng thời em ghi lời chia sẻ chân tình và cảm động về ba mẹ của em. Em ơi! Cuộc chia tay vĩnh biệt nào mà không tràn đầy nước mắt & đau đớn vô-vàn.
Nhân đây chị mượn trang chủ HQPD thành thật xin chia sẻ cùng em về nỗi buồn đã mất người yêu dấu: (Ba mẹ em): Trung-tá NGUYỄN HỮU THÔNG - Văn-Hoá-Vụ Phó Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Mến em,
THH
Hai người ăn mặc chỉnh tề, đeo kính mát, mang theo hai mũ bảo hiểm, chuẩn bị chu đáo cho một ngày đi xa… Năm đổ xăng thật đầy bình, vui vẻ chở Mi Mi từ Sài Gòn đi lên Nghiã Trang “Đô Thành”. Cơn triều cường chảy hoài đến khúc quanh cầu Bình triệu, Thủ Đức, vẫn ngập tới nửa bánh xe, mặc dù mưa chiều hôm trước không to lắm, nhưng nước đọng còn dâng cao. Ồ, đó là nơi nhà ga cũ, nơi xưa kia mỗi lần đi qua đây, Năm và Mi bị ngập lụt nước mưa, phải bỏ cả giày dép ra, hai người lội bì bõm dưới nước bùn sình hôi tanh đen ngòm. Hầu đẫy chiếc dream chết máy khó khăn nhọc nhằn vô cùng, hì hục mãi không đẫy xe nỗi. Hai anh em nâng đầu xe lên cao cho nước chảy ra. Sau đó anh đạp hoài đạp mãi, thì xe nổ máy.
Năm chen lấn đoàn xe đông như kiến đang bì bõm trong sình lầy dù nước đọng, họ vẫn chạy nhanh. Nước bắn tung toé lên đầy ngực Mi. Chỗ đó vẫn luôn bị ngập lụt. Năm chạy xe đến gần cầu Gò Dưa mới có đoạn đường tốt. Chạy xe mãi đến gần ngã tư xa lộ Thủ Đức. Anh rẽ vào lối đi tắt, đi lung tung vòng vèo đến nghĩa trang Đô Thành thăm bạn thân nhất đời đã về cõi vĩnh hằng. Gửi xe xong, Mi mua một bó hoa, một bó nhang, hộp quẹt, nến. Hai người đủng đỉnh tới ngôi mộ Tấn, khi mặt trời đang đứng trên đỉnh đầu.
Gia đình Tấn chọn nơi nầy thật đẹp, nghĩa trang rộng khoảng 10 hecta đất gò cao ráo, phóng khoáng. Nơi mà hồi xưa Trung-tướng Mai Hữu Xuân đã mua, rồi nhờ ba của Năm đứng ra chăm chút cai quản. Tấn được vào nằm trong nghĩa trang nầy (nghĩa trang uy linh tương tự như Arlington ở Washington DC), là một vinh dự to lớn, vì Tấn nổi tiếng là một bác sĩ khá giỏi. Trước ngôi mộ xây đá cẩm thạch đen khá cao, rất đẹp, bia mộ Tấn có ghi đầy đủ tiểu sử. Hình Tấn chụp vào độ tuổi trung niên thật phong độ, trẻ trung, vui tươi, hiền hoà. Sau lưng bia mộ lớn là tấm bảng đen bóng, trên đó khắc ghi một bài thơ tiếng Anh, đại ý là: I burst into tears at my birth.
Whereas one laughed for congratulations!
Now I am brought at an early grave.
One mourns over me crying.
Only me that I smile quietly.
“Lúc tôi mới sinh ra đời.
Tôi khóc thét lên.
Mọi người đều vui cười hoan hỉ.
Nay tôi đã nằm xuống.
Mọi người tiếc thương và than khóc.
Chỉ riêng tôi lặng lẽ mỉm cười”. (THH)
(Chuyển ngữ câu tiếng Anh trên, không phải do nguyên bản của lời ghi từ bia mộ Tấn). Mi Mi cúi đầu lặng lẽ thì thầm gửi anh Tấn lời tống biệt cuối cùng:
- Thôi anh Tấn ơi! Nếu em có khóc thương tiếc nuối anh. Thì... Bây giờ em đành chấp nhận sự thật của tạo hoá ngàn năm an bài: Sinh. Lão. Bệnh. Tử. Sống. Gặp gỡ. Vĩnh biệt chia tay. Có tựu rồi tan. Có sống rồi chết. Ai ai cũng phải bước qua “cái Ải buồn phiền đau đớn” nầy! Mi thật buồn, và rất qúy trọng anh Tấn. Anh biết không? Nhớ ngày đầu tiên cách đây bốn chục năm, Mi Mi quen anh Tấn, hôm đó là ngày Mi Mi và anh Hoàng Năm Tony chia tay nhau ở trên bến xe Đà Lạt, gần tiệm cà phê Domino.
Dù Mi Mi chỉ gặp và trò chuyện cùng anh Tấn không đầy mười lăm phút, nhưng em thấy anh Tấn thật vui tính, dí dỏm, hiền lành, hóm hỉnh có duyên và dễ thương. Duy có một điều bây giờ em vô cùng nuối tiếc về anh Tấn. Vì, anh Tấn đã làm một chuyện rất tốt đẹp mãi lưu truyền đến nay. Mặc dù anh Tấn chết đi, nhưng anh đã để lại một kho tàng vô giá cho y học (nói chung, và cho cánh đàn ông nói riêng). Nếu em nhìn đúng khía cạnh thuần tuý về nghề nghiệp chuyên môn của anh Tấn. Em sẽ không nghĩ là anh Tấn “khích dục hay gia tăng độ dâm đãng”. Anh Tấn hãy lắng nghe Em, anh Năm, Sơn, đã từng thảo luận nè:
* Đây là một khía cạnh không kém quan trọng của xã hội. Rất ít ai dám đề cập đến. Ai cũng sợ nó. Vì, nó tế nhị, nhạy cảm (nếu không muốn nói là hơi trắng trợn). Vã lại nếu đàn ông mà không “làm tròn bổn phận thiêng liêng cao cả tuyệt vời” trong điạ vị cuả người chồng đối với vợ. Người Nam nhút nhát thú nhận “mình bất lực” ; thì còn gì là “đàn ông tính”! Ở đây không đề cập đến vấn đề “trai gái lố lăng lẵng lơ đĩ thoả”.
* Khoa Y học NIỆU nầy, chính thức công nhận chỉ chừng 15 hoặc 25 năm nay. Gọi đó là Nam Khoa Andrology - được phơi bày ra dưới lăng kính Y Học nghiêm túc, đứng đắn đàng hoàng cần thiết rất khoa học - (chứ không phải dưới lăng kính kích dục, cường dục, hay... dâm đãng điếm đàng vui chơi). Trước kia, chỉ có khoa trị liệu về các bệnh liên quan về Niệu. Còn chuyện kín đáo riêng tư “tế nhị phòng the” giữa tình yêu hai vợ chồng, thì ai ai cũng sợ lộ ra. Họ cứ sợ nói ra thì... người khác sẽ chê mình… “phóng đãng dâm tặc”.
Tony Năm có một phần suy nghĩ trong vấn đề nầy:
- Nhất là một số các bà vợ cho rằng: do chồng mình ưa bay bướm, đàng điếm, ăn chơi, sa đoạ, mà ra nông nổi ấy! Chứ gì!?
Sơn phản đối kịch liệt:
- Tầm bậy nữa rồi. Khoa nầy hiện nay đã chứng minh được sự cần thiết của môn y học. Dân số trên thế giới đa số trên 65% đã rơi vào tuổi khá cao, nếu chưa muốn nói là già. Còn lại 35% là tuổi trẻ. Do đó những vị cao tuổi của NAM và NỮ, đều tối cần thiết là Andrology. Nếu họ muốn có cuộc sống gia đình hạnh phúc lứa đôi trường tồn. Vấn đề bạn Tấn theo môn Nam Khoa, không phải tự ên do Tấn hứng khởi đề xướng ra, (nhất là ở Việt Nam có phong tục tập quán khác biệt hẳn Tây Phương). Mà là do một vị giảng sư đại học Y khoa: Lichsteinberger là tên của vị linh mục khả kính trong dòng Tên, ông ấy là một bác sĩ rất tài ba, xuất chúng trên nhiều lĩnh vực y khoa.
- Em nghĩ anh Tấn chọn ngành Y nam khoa nầy, chỉ vì xu hướng cá nhân. Vì chính anh Tấn đèo bồng một lúc ba bốn bà. Hai bà vợ lớn, bé. Cộng thêm hai bà bồ hờ kia nữa, là gì!
- Không đúng đâu. Trước kia, Tấn chỉ là một bác sĩ đa khoa giỏi. Sự trở về ngành chuyên môn, là do tình cờ mà thôi: Lúc ấy có một bác-sĩ giảng-sư dòng Tên, khi cùng làm việc trong bệnh viện ở Việt Nam, ông ta đã tâm sự với Tấn:
- Anh nên chọn về ngành Y-Nam-khoa. Vì cánh đàn ông các anh rất thiệt thòi. Anh có điều kiện, nên lưu ý về khoa đặc biệt nầy. Tôi hy vọng anh sẽ phát huy y-học Nam-Khoa tốt, để giúp nam giới trong vấn đề tình yêu vợ chồng.
Thế là sau khi về Pháp, vị linh mục đó gửi cho Tấn những tư liệu, tài liệu, sách vở chuyên môn, để Tấn nghiên cứu, nghiền ngẫm, học hỏi thêm. Ông bác sĩ dòng Tên ấy nghiên cứu kỹ về những cặp vợ chồng, về hạnh phúc lứa đôi trong xã hội. Nhưng thực tế là ông ta hoàn toàn không có điều kiện, để phát huy hay thực hành. Vì vậy, ông ta truyền đạt vấn đề nầy lại cho môn sinh giỏi là: Tấn. Tấn làm “truyền nhân” nghiên cứu kỹ càng. Thành thật mà nói: Không biết bao giờ ngành Y học Việt Nam mới có được một bác sĩ khác: được kết nạp vào E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới). Vậy thì, em không nên nghĩ đó là chuyện “kích dục” nha.
- Em chưa đồng quan điểm với anh... về việc nầy tí nào cả.
- Tại sao em cứ nhìn “nó” với bản năng tầm thường của một người đàn bà ru rú thu mình trong trôn ốc? Như con ốc len rụt rè nhút nhát? Mà em không chịu vươn mình lên đỉnh cao của y học và nghệ thuật và sự thật!? Anh hỏi em: Tại sao nữ giới đã có phụ-khoa, có sãn-khoa? Trong khi đó người đàn ông không nhiều thì ít, bị “trục trặc” yếu xìu vấn đề ấy, lại không có phép đi khám Nam-khoa? Theo như thống kê gần nhất, đàn ông từ 40 -> 60; 70; 80 tuổi - đa số bị trục trặc đến 65%, 85%. Mà chả có môn y-học nào để chuyên trị! Hở? Không công bằng.
- Có phải anh gián tiếp khuyên em: Hãy cứ nhìn vấn đề Nam-khoa một cách khoa học, chính chắn, lành mạnh. Em sẽ thấy nó bổ ích lành mạnh cho nhân loại. Chứ không phải để cánh đàn ông lợi dụng điều đó mà đi “ăn chơi” trác táng chắc?
- Ư Ứ Ừ. Nó phục vụ cho sự hoà hợp gia đình giữa vợ chồng. Em cứ nghĩ anh như thế, thật oan ơi ông địa! Đó cũng là quan niệm chung chung của một số ít phụ nữ, có chút mặc cảm về chồng mình quá bay bướm.
- À ra thế! Vì lúc đề cập đến chuyện nầy, có không ít đàn bà Việt Nam “kín cổng cao tường -rất khó nói”. Biết thắc mắc cùng ai? Thì anh Tấn đã dày công nghiên cứu y học, và mạnh dạn phổ biến trong Nam-khoa chuyên về Niệu-đạo-học Urologist nè!
- Đúng Mi Mi ạ! Hãy cùng nhau nhìn vào lăng kính Y-Học mà tìm hiểu, nghiên cứu, nghiền ngẫm lại em nhé! Anh chỉ công bằng, và lấy công tâm ra để cùng nhau chia sẻ, tâm tình, tìm hiểu, nói với nhau vấn đề tế nhị. Anh không có ý tranh chấp chuyện nầy với em. Hay bất cứ với ai gì cả. Nhá.
- Dạ vâng! Thưa ông tướng!
- Ông... Tướng gì nào?
- Tướng công E.D.A.C.T (Hiệp Hội Suy Nhược Dương Cường Toàn Thế Giới) đó!
- Vậy, em sẽ là nữ “trợ tá đắc lực của Urologist” nha.
- Hahaha!!! Hổng dám đâu. Thưa Tướng công E.D.A.C.T !!! Nay, đã già lắm, cuộc tình giữa hai người: Thật ra chỉ là những ủi an, sẻ chia trên phone khi vắng xa nhau, thân thiết, nồng nhiệt, vui vẻ, nâng vực nhau những lúc gặp muộn phiền, thất vọng nào đó. Chúng ta nói những chuyện đôi khi ba xàm ba láp, ân cần san sẻ, cũng có chút xí vui vui và hữu ích. Cho đến một ngày nào đó… có một trong hai người vĩnh viễn nằm xuống, đành đoạn rứt áo ra đi... Thế thôi.
***
Nói rất thật tình thì Mi Mi không hề ưa thích gì bà Hoà, (là bà vợ bé) của bác sĩ Tấn. Vì Mi cho rằng: Bà Hoà giựt chồng người! Mi nghĩ cánh đàn ông các anh ưa bênh vực nhau. Nhất là Sơn, Năm Tony, họ với Tấn đã thân thiết từ hồi còn bé tí, nên họ coi nhau như ruột thịt. Kể cả con nhỏ Sáu (cháu ruột cuả bà Thủy) đang ngồi nói chuyện với Mi Mi về mấy anh ấy và bà Thuý:
- Cháu kêu bà Thúy bằng dì. Cháu mới thấy thấm thía nỗi đau của dượng Tấn. Chỉ vì dì Thúy và dượng Tấn thuở còn non trẻ: đã bồng bột vội vàng làm đám cưới. Họ chưa thật sự thấu hiểu nhau.
Khi về làm vợ chồng rồi, thì họ mới lộ ra cả trăm điều trái ngược, mà không ai có thể ngờ! Nhất là sau nầy khi dượng Tấn đã thành danh trên đường đời. Dượng Tấn càng không thể chấp nhận có một người vợ kém sút từ mọi mặt. Dì không biết ngọt ngào chia sẻ với chồng, không đảm đang. Theo cháu nhận xét thì: dì Thúy vốn là cô gái nông thôn, nên dì Thúy hơi nhà quê, ít học. Vì thế lối ăn nói cuả dì thiếu suy nghĩ, xử trí kém cỏi, không tế nhị, vô duyên, lại có chút trẻ con. Cộng thêm tính ghen là số một, làm mất danh dự chồng không kể xiết, cùng lười biếng và vô trách nhiệm. Ở nhà dì ưỡn ẹo rông rống ngồi chơi xơi nước, dì không làm gì cả. Nhàn cư vi bất thiện mà! Có tật xấu là khi dì Thúy tức giận, thì chuyên môn đi ngồi lê đôi mách nói xấu người nầy, nhún vai chê trách người kia. Dì Thúy chẳng chịu đi chợ búa cơm nước gì, chồng đi làm về luôn đói meo. Thế là dượng bỏ nhà ra đi ăn… “phở” mệt nghỉ. Trước tiên là tốn tiền, sau đó lây lan qua tốn tình! Dì Thúy nói:
- Tội gì chợ búa cơm nước chi cho mệt. Ổng làm tới chức bác sĩ, bác sĩ thiệt à, có nhiều tiền ổng cho gái ăn cũng vậy. Tui cứ kêu người ta bưng cơm tháng, tội gì tui chui vô bếp cho khổ! Ổng đi… coi kià:
Đi đâu? Nay mới về nhà???
Có thấy xó góc chổi chà dựng bên
Tôi hỏi: [“chỉ một mình ên
Sao mà thì thọt góc thềm làm thinh?
Nếu không có tật giật mình
Tại sao cúi mặt má phình tím thâm?
Dại khôn anh cứ thật tâm,
Kể ra… cho cả sơn lâm biết nào.
Thì tui… cha bảo chẳng gào
Ba bà có tức… ra ao nhảy ùm
Cùng nhau kéo cổ lùm lum
Cho anh chết ngộp khóc um mới chừa
Cái tật tành hanh ai ưa
Thấy gái, anh lấy vải thưa bịt liền
Anh mà mở mắt láo liên
Tui thề móc mắt rồi khiêng vô TÙ (*)
Mi ngậm ngùi nghe cô cháu gái cuả bà Thúy kể tiếp:
- Đúng ra, dượng Tấn rất mất mặt với bạn bè khi mang vợ ra ngoài xã hội giao tế. Dì Thúy luôn đốp chát những câu thiệt vô duyên, như gáo nước tạt vô mặt bạn. Sau nầy, khi Tấn gặp bà Hoà thì khác hẳn, Tấn yêu bà Hoà thông minh, tế nhị, khôn ngoan, đảm đang, vui vẻ. Có thể nói Tấn rất hãnh diện vì đã gặp và yêu bà Hoà (là vợ lẽ). Vì thế, thời gian sau dì Thúy cứ buồn xo “ngồi trong bóng tối”.
Mi liếc nhìn Sơn dò hỏi. Anh gật đầu:
- Ưà, Sáu nói nghe thật lạ lùng! Vậy mà thật đó. Bà Thúy có ba đứa con với Tấn, nay con cái khôn lớn, thành đạt cả. Các con Tấn rất yêu mẹ. Tấn đã tạo cho bà Thúy có cái nhà tươm tất, có cửa tiệm để các mẹ con sinh sống. Đặc biệt là Tấn chưa hề ly dị với bà Thúy. Trên pháp lý mọi tài sản đều là của Tấn (trừ khi Tấn làm di chúc để lại). Theo anh nghĩ Tấn không ngờ... Nên, em đừng nghĩ rằng bà Hoà “cướp” hết nha: Chồng, và 2 tài khoản: Một bank tiền Việt Nam. Một bank tiền USD. Bà Hoà chỉ giữ mấy quyển sổ ghi tên Tấn thôi.
Bà Thúy vợ chính thức mới là người thừa kế tài sản, (khi Tấn nằm xuống xuôi tay, ba đứa con cuả bà Thúy rất tốt đã xúm lại thuyết phục mẹ chúng, nên làm giấy ủy quyền (vợ lẽ cuả cha); cho bà Hoà có tiền nuôi hai đứa em nhỏ cùng cha khác mẹ. Bà Thúy rất thân với bà vợ cũ của Năm. Hai bà có những tính giống nhau, nên mỗi lần gặp mặt, là họ xúm lại chửi Năm và Tấn ác liệt. Thật oan uổng và tội nghiệp lắm em! Hãy lấy công tâm mà xét xử công bằng đi.
- Thì anh cũng kinh khủng không vừa gì! Chắc anh muốn nói: Tình yêu chân thật phát xuất từ hai trái tim đồng điệu, thông cảm. Thì sự cần thiết ấy không có tộI, có lỗi. Phải không nà?
- Thôi em! Moi móc làm gì. Chuyện buồn mà! Anh không muốn tranh luận với em điều nầy. Có thể em nghĩ anh không công bằng, thiên lệch, khi anh chỉ đến thăm mẹ con bà Hoà, mà hầu như ít đến thăm mẹ con bà Thúy (vợ chính thức). Nếu em biết sự thật, em sẽ thấy anh có lý. Tấn cũng “đào hoa” ra phết đó em à. Ai có ngờ con người coi như có vẽ chậm chạp, lù đù, hiền lành, ít nói. Thế mà có khối bà, khối cô mê Tấn tít thò lò! Kỳ xưa, anh Tấn bị “hai bà: vợ lớn, vợ bé” đuổi ra khỏi nhà, chỉ vì anh ta có thêm “bà Ba” nữa mới chết! Tấn phải đi lang thang ngoài phố, ăn cơm quán, ngủ hotel suốt một năm. Ấy là vì hồi đó Tấn lại cặp một con bồ xinh xắn luôn xà nẹo khác. “Một vợ nằm giường lèo. Hai vợ nằm chèo queo. Ba vợ ra chuồng heo mà... nằm”. Anh Tấn định thuê nhà để bà đó về ở chung.
- Trời! Thì hồi đó chính Sơn thuê nhà cho Tấn ở đó mà. Cả đến bây giờ, khi anh Tấn chết rồi, lại có cô bác sĩ trẻ măng mê anh Tấn hết sức. Lúc sắp sữa liệm, cô ta chạy ra ngoài ôm mặt khóc nức nở! Cô bác sĩ nầy trẻ tuổi lắm, cô chỉ hơn con của Tấn năm bảy tuổi là cao. Tôi có biết cô ta. Theo tôi nghĩ có lẽ do cô ấy quý trọng tài năng của Tấn, thì đúng hơn. Nghe chị nói, tôi mới té ngữa ra. Ai dè cái bề ngoài Tấn đạo mạo, nghiêm trang. Mà ẩn chứa trong lòng những “sống động tình cảm sôi sục cồn cào” chứ. Có điều làm sao mà anh ta “dàn xếp” tuyệt hữu khi chia tay với bà nầy, hẹn hò chung sống với bà kia yên ổn. Dù họ:
BA BÀ đấu khẩu bên thềm
Nạt nhau đừng có vác mền giữa đêm
Lưng dài cao cẵng lại thèm
Suốt đêm anh lỡ say mèm “Phở, Bia”
Cơm không thể nuốt "ôm bia mộ” buồn!!! (hê hê hê!!!)
Lỡ "khiêng về" BA vợ khùng!!!
Bởi vì: Bà(1) nói lung tung,
Bà(2) trợn mắt. Bà(3) lủng củng trong mùng
BA BÀ chẳng thể thủy chung
Đánh anh chí choé lùng bùng lỗ tai
Chàng bèn than thở vắn dài
Ba bà bỏ tuốt. Một hai vái chừa !!! (*)
Năm còn nhớ có lần đám bạn gặp nhau, Tấn mời tôi đi ăn cơm rồi giành trả tiền. Tấn moi trong ngăn bóp tờ một trăm xếp nhỏ xíu, nhét kỹ một góc kín.
Ai ơi! ngó lại mà xem
Thời nay có một anh thèm cặp ba
Bà hầu quạt đêm Hạ. Bà
úm mền. Bà bóp hông ‘đá’ tứ tung
“Em ơi, khe khẽ anh cưng
Ôi dào đau quá cái lưng sụm rồi!!!”
Bởi do BA BÀ tơi bời
Bị đây, tại đó chẳng rời vén vun
‘Đây’ thì do ‘đấy’ ôm hun
Lim dim tám mắt môi chùn chụt thôi
Chu choa cái ấy em ơi
“Chắc là tui trốn cho rồi”. Về quê!!!
Trốn đâu BÀ cũng moi về
Nợ đời phải trả BÀ thề HƯỞNG DƯƠNG
ÔNG ở góc phố cuối vườn
Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao! (*)
- “ÔNG ở góc phố cuối vườn. Trốn đâu BÀ cũng tìm đường tương chao”! Nhưng bây giờ chết đi, anh Tấn chả mang theo được đồng nào. Thậm chí mấy nút áo, nút quần, cũng bị lặt ra để lại trên trần thế. Theo tục lệ Việt Nam, họ nói phải cắt hết mọi thứ để lại, không có đem theo sắt đá nút neo gì hết. Xác mới nhẹ nhàng, dễ siêu thoát. Tuy vậy Tấn chết đi, còn để lại mối ưu phiền cho hai bà vợ, cùng bầy con hai dòng máu một cha khác mẹ, quả thật là rất buồn! Thiệt! Xét cho cùng, Mi vẫn thấy thương bà vợ lớn hơn. Bà lớn tất nhiên không khôn khéo, thất học, không biết cư xử, không biết cách giữ chồng, (như lời cô Sáu và Sơn nói).
Nên bị người khác giựt chồng là phải! Vì bà lớn quá yêu chồng, sợ mất chồng, nên “kè kè giám sát” từng hành vi, cử chỉ chồng. Khiến anh ta nổi giận vì sự ràng buộc khắt khe quá mất tự do, mà... xa! Còn bà nhỏ lanh lẹ, khôn ranh hơn là ngoan, có học, tinh tế là có chủ đích cả! (như lời anh ca tụng). Bà Hoà rất biết là Tấn có vợ con “đình huỳnh”. Nhưng bà ta vẫn có cách ngầm ngầm ma lanh để câu móc chiều chuộng chồng người. Vỗ về an ủi chồng người! Rồi đương nhiên nhào vô giựt chồng người... Anh cho là... là phải nốt!?
- Thôi, dù sao cũng là chuyện nói cho vui, chứ chả còn gì! Giữa hai bên chỉ là khoảng trống mênh mông. Thấy tội cho mấy đứa nhỏ con cuả hao người đàn bà: chúng cũng là anh chị em ruột cùng cha khác mẹ, mà hai bên chưa bao giờ quen biết nhau, từ xưa đến bây giờ, và mãi mãi... Họ đứng trên hai “chiến tuyến” khác hẳn nhau.
***
(*) Thơ Vui Tình Hoài Hương
Tình Hoài Hương
THH xin phép cám ơn quý vị nhiếp ảnh gia: đã post những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.
Thời xa xưa… khi còn nhỏ xíu, tôi được ba mẹ cho đi “ăn học” tử tế, đàng hoàng như ai. Nếu tôi “ăn không nói có” biếng nhác , "ăn không ngồi rồi", tôi liền bị ba mẹ cho "ăn đòn", "ăn bạt tai". Thế là tôi khóc ré lên như con heo bị chọc tiết, lăn ra nhà "ăn vạ". Anh chị có "ăn ngay nói thẳng" la rầy mắng nhiếc, thì em bảo anh chị ỉ làm lớn đã "ăn hiếp" em út.
Nếu tôi có "ăn vóc học hay", là được ba mẹ cưng chìu hết biết. Lớn lên học đòi người ta, tôi bắt đầu "ăn diện" , cái đời tôi ở nhà phá gạo mẹ cha chuyên "ăn hại" , "ăn nói bậy bạ" , “ăn ốc nói mò” , có khi “ăn không nhai nói không nghĩ” , mà lẽo đẽo đi theo sau lưng nàng, liếc mắt đưa tình, tôi cho hai ngón tay vô miệng huýt gió, hoặc xíp xì… xíp xì… tán gái “ăn thề” , thì tôi thuộc vào hạng số dzách!
Lớn thêm chút nữa dù tôi chả học hành là bao, mà tôi nèo nẹo bám váy xin tiền mẹ. Mẹ thương con dấu cha dúi cho tí đỉnh. Thế là tôi hí hửng lo đàn đúm “ăn chơi” , "ăn chặn" , "ăn to xài lớn". Hết sạch tiền chả biết làm gì tôi đi "ăn trộm" , "ăn cắp" , "ăn cướp". Chơi với bạn lại chuyên môn "ăn bòn" , "ăn quỵt", "ăn bẻo" , "ăn hối lộ". Ai nhờ vã cái gì cũng đòi “ăn hoa hồng”. Ân nhân giúp cho không mang ơn thì chớ, đã "ăn cháo đá bát".
Khi tôi có bạn gái “ăn ý”, “ăn nhịp” , “ăn khớp” với nhau, thì trong lòng tôi nẩy sinh ra cái chuyện ấy… luôn rạo rực, nhúc nhích. Tôi chằm chằm tìm cách “ăn thịt”, "ăn non" cô bồ nhí xinh đẹp ra phết. Lúc tỉnh người, hỏi ra, thì “ẻm” còn ở trong tuổi vị thành niên. Ba tôi nghiến răng trèo trẹo:
- “Thôi chết, “cá không ăn muối cá ươn”, hỏng cả đời trai mới nhớn rồi con ạ”!
Dù tôi chỉ là đứa học trò học bè non choẹt, nhưng không dám “ăn mặn khát nước”, đành phải vác trầu cau cùng cha mẹ, họ hàng, thân hữu lò mò đến nhà nàng, ba bên bốn bề xúm nhau “ăn hỏi”. Rồi lật đật lo chuyện “ăn cưới”. Cưới nhau về là a lê hấp xáp lại “ăn nằm”, tự do “ăn dầm nằm dề”.
Ba mẹ tôi rất phiền bực về cái chuyện tôi chỉ là đứa “con nít ranh” cà chớn cà cháo “ăn dưng ngồi rồi” , mà bày đặt “ăn mảnh” dang díu tình cảm lăng nhăng. Thiệt xấu hổ! Tuy thế hai cụ cũng thương con đứt ruột, Con dại cái mang mà! Các cụ chuyển cho chúng tôi một phần tài sản kha khá, dặn con liệu đó lo mà siêng năng cần cù “làm ăn”.
Dịp may đưa tới như cờ gặp gió, như cá gặp nước, như rồng gặp mây, vợ chồng son mở một tiệm tạp hoá, chủ tiệm và khách hàng hai bên “ăn giá” với nhau. Thuận buồm xuôi gió, đúng là có một thời huy hoàng! nên vợ chồng tôi đình huỳnh "ăn trên ngồi trốc", "ăn nên làm ra". Chúng tôi nay có một mụn con kháu khỉnh, cả nhà ta “ăn trắng mặc trơn” luôn luôn “ăn gỏi” , "ăn tôm hùm, ăn thịt quay" cùng sơn hào hải vị . Thiệt là "ăn sung mặc sướng".
À… Vợ sanh con,tôi phải “ăn kiêng”, hoặc đôi khi tôi len lén "ăn vụng phở”. Tôi chả thể nhịn thèm, bèn nói láo vợ đi "ăn cơm khách" mai về! Nhưng thực ra là tôi đi "ăn vụng". Nhiều lần thành "ăn đàng sóng, nói đàng gió". Gọi là trai hào hoa "ăn bánh trả tiền" hậu hỉ cho gái "ăn sương". Chứ mình keo kiệt không chi địa ra, tôi sẽ bị bọn ma cô đầu nậu cho "ăn đấm", "ăn đá", “ăn đòn” , rụng răng phải “ăn cháo” làm sao!? Hoặc có khi “ăn xôi nghe kèn”… ra nhị tì mà “ăn đất” là nguy to!
Hạnh phúc chẳng được bao lâu, thì gia đình tôi "làm ăn thất bại" , chủ và khách đều “ăn chẹt” , “ăn gian” , “ăn bớt” , “ăn chịu” , "ăn thừa nói thiếu" hai bên “tận tình” lừa dối nhau. Cộng thêm cái tội có tiền là sinh tật nầy nọ! Ông “ăn chả bà ăn nem” . Thành ra vỡ nợ!
Bấy giờ vợ đi chợ phải “ăn đong”, cả nhà buồn rầu bắt đầu cúi gầm mặt chả ai thèm nói với ai câu nào mà "ăn mắm mút dòi"; "ăn bờ ở bụi". Chồng “ăn gió nằm sương” , vợ “ăn đường” , con "ăn bám" ông bà nội! Nằm vắt tay lên trán, bắt chân chữ ngũ, nhớ lại thuở xưa khi chúng tôi còn ngồi trên đỉnh vinh sang giàu có, sao mà sung sướng hạnh phúc thế! Chả bù cho bây giờ! Thiệt khổ hết biết vì “cái ăn”.
Vợ con trốn chui trốn nhủi “ăn hại đái nát”, chẳng còn giữ thể diện hai mẹ con nó lò mò đến nhà bạn giàu có, bởi vì bạn ấy “ăn tiêu”, “ăn bận” hoặc “ăn xài” đều có căn bản, đúng mức “ăn chắc mặc bền” . Mỗi bữa cơm bạn tôi chỉ “ăn hương ăn hoa”, Mồng một ngày rằm bạn “ăn chay” một tháng hai ngày. Nhưng bạn ấy thích nhất là “ăn xổi” dưa cải dưa cà, “ăn vã” thức ăn với thịt heo luộc chắm nước mắm ớt.
Phần mẹ con tôi dù “ăn gửi nằm nhờ” mà “ăn như mỏ khoét” , lì lợm cúi đầu “ăn như hạm”, “ăn hớt” cuả người ta hoài. Chúng tôi “ăn ở” nhà người ta “ăn chực nằm chờ” , lỏ hai con mắt nhìn bạn “ăn no vác nặng”. Còn chúng tôi thì “ăn thật làm giả”. Thiệt là chẳng “ăn rơ” tí nào! Bạn thấy chúng tôi “ăn đứt” bạn về việc “ăn tạp” quá sá, chịu không thấu, bạn khúc khích cười, nửa đùa nửa thật bảo:
- Bà chị định ở đây “ăn vạ” , “ăn trả bữa” đấy phỏng!?
- . . .
Rồi bạn bồi thêm một câu:
- Khiếp! Tôi “ăn uống” dường như cũng “ăn phải đũa” bà chị rồi!
Nghĩ cho cùng thì mẹ con tôi trước kia cũng “đài các” như ai, mà bi chừ chả khác nào “ăn mày đòi xôi gấc”, nên không dám “ăn nói” trả treo “ăn miếng trả miếng” đanh đá cho “ăn người”. Nếu mà rơi vào trường hợp khác á hả, thì tôi quyết “ăn thua” đủ! Bất quá thì vô tù, chứ nhằm nhò “ăn nhập” gì cái chuyện ruồi bu. Thời buổi nầy mình như kẻ “ăn mày” chuyên “ăn lông ở lỗ” ở đầu đường xó chợ! Cùi rồi không sợ lở!
Sau một thời gian "ăn năn đã muộn" vì mình với bạn chả phải "ăn đời ở kiếp" với nhau, thôi "ăn khế trả vàng" ; nghiã là ta phải làm việc cho bạn, tận lực vắt óc ra để làm “kế toán”, tức là tôi phải có… kế ... "ăn theo", mà tính toán chi ly thiệt hơn trong việc “ăn ở” sao cho vừa lòng người! Cho có… tí đỉnh… tương chao chắm mút... (lợi thì có lợi. Nhưng… răng không còn)!
***
Ngày tháng qua đi, năm học mới bắt đầu, đại học đường mở cửa nghinh đón sinh viên. Mọi sinh hoạt trên đại học vẫn vui vẻ. Nam kể lại cho cô nghe nhiều điều thú vị pha mật ngọt tình yêu, giọng nói Nam êm đềm, ấm áp, cởi mở kèm theo nụ hôn ngọt lịm, nụ cười hồn nhiên, hòa nhã, tươi mát đến ngã lòng người.
Nam, Hạnh vào đại học dự lễ bổn mạng cha viện trưởng. Đêm dạ hội thật vui, anh làm Phó Tổng Hội sinh viên và điều khiển chương trình văn nghệ, phụ trách mục ảo thuật, Nam đã “thông đồng” với cô làm một pha ngoạn mục là: “gạt” qúy vị tiến sĩ, thạc sĩ không hà. Nghĩa là Nam nhờ Hạnh bí mật viết sẵn một câu (mà hai người đã rù rì bàn định trước ở tại nhà, rồi khi đến đại sãnh đường, thì để tờ giấy ấy tại chỗ cô ngồi, nơi mà Nam dặn dò trước) để làm trò ảo thuật. (Sau lần đó cha viện trưởng gọi Nam lên văn phòng, cha thắc mắc hỏi:
- Cha sẽ cho con một số tiền thưởng 500 đồng, nếu con cho cha biết bí quyết đó, là làm răn mà con đọc được những ý tưởng của cô nớ, hí?
Nam vui vẻ bật mí cho cha biết, nghe xong ngài cười quá chừng, Nam đã vui vẻ “móc túi tiền” cha viện trưởng thiệt).
Đặc biệt nhất khi anh đơn ca “Twist again, again” độc diễn màn vũ giật gân, hấp dẫn lạ lùng. Nổi hứng, Nam ca luôn ba bản nhạc ngoại quốc, khán thính giả vổ tay bốp bốp, rầm rầm rầm… nồng nhiệt hoan nghênh. Phải thú thật hôm nay Nam là người con trai “nổi nhất đám nhất đình” nầy. Xuống khán đài, anh đến ngồi bên cô vui vẻ trò chuyện mươi phút, sau đó Nam qua ngồi gần ban nhạc của trường. Trong lúc Thiên đánh đàn Hạ Uy Di bản “Tà Áo Xanh” cho Lộc đơn ca. Ngón đàn của Thiên điêu luyện, uyển chuyển, nhẹ nhàng, lâng lâng dìu dặc, đầy rung cảm, cuốn hút người nghe, quyến rũ, êm ái xoáy vào lòng người, chơi vơi bềnh bồng dường như trôi về miền quá khứ xa xăm mơ hồ nào xa lắm... Khiến Quyên-Hà ngồi hàng ghế sau lưng chàng vổ tay hoan hô không ngớt, cô trầm trồ khen ngợi Thiên, giống như Hà đã nhí nhảnh rất đáng yêu, vổ tay tán thưởng Nam lúc nảy vậy. Nhưng Thiên thật kỳ lạ, anh ta không hề thích Hà, chứ đừng nói là muốn bu bám cô, (như nhiều anh khác xôn xao đeo bén gót Hà trong vài phân khoa). Thiên thấy cô nàng sao mà ăn nói vô duyên quá, chả có gì xinh đẹp quyến rũ nỗi mình. Dù Hà là hoa-khôi ở đại học, ăn mặc model hở lưng, hở ngực, chiếc váy mini, chân dài vai mảnh dẻ càng tỏ lộ đường nét uốn lượn trên thân hình thon thon, mà ai ai cũng muốn ngắm nhìn.
Khi Nam đến ngồi gần Hà, Hà cười hỏi:
- Cô gái đó, có phải người yêu của anh không?
- Không phải chỉ là người yêu, mà còn là fiancé của tôi nữa.
Quyên Hà cười cười, quay lại nhìn Hồng Hạnh thật lâu, rất lâu. Bốn mắt họ giao nhau. Đấy là cái nheo mắt mở màn của định mệnh cúi xuống nhìn; đã chuyển hướng cuộc tình đến tương lai. Là cái nhìn từ giòng giông bão của đôi bờ vực ào ạt xô sóng vào những tháng năm sắp tới. Và, cuộc sống, hoài bão, dự kiến tương lai, tình yêu, hạnh phúc riêng ta, đã chạm trán gay gắt kinh khủng với muôn điều bất hạnh, đau khổ tột đỉnh. Mà, cả Hạnh lẫn Nam, Hà… đều gieo trên luống nước mắt vô tình đau thương tột độ, do định mệnh thờ ơ lạnh nhạt đến hững hờ cúi nhìn và ban tặng cho cả ba người.
Trong khi các bạn khác bận rộn trình diễn văn nghệ, Nam nháy mắt với cô lẽn ra ngoài xuống xem phòng ngủ, để biết nơi ăn chốn ngủ của nam sinh viên nội trú. Nam, Hạnh vừa đi vừa trao những nụ hôn rơi rụng trên sườn đồi thông im vắng, rồi dìu nhau xuống lưng đồi mờ tối dưới ánh trăng đêm treo chênh chếch trên đầu. Đúng lúc đó, Hà cùng Vũ Anh (học ở Grand Lycée trước kia) từ trong bóng tối dưới lùm cây bước ra. Hơi bất ngờ, họ khựng lại nhìn theo bóng Nam âu yếm và trìu mến quàng tay qua ôm lưng Hạnh. Hai người lẫn khuất sau chòm cây bên hiên nhà.
Cư xá sinh viên là hai dãy nhà ngói nép mình bên những bụi cây thưa. Ở đây nghiêm cấm người lạ, nhất là phụ nữ không được léng phéng chui vào trong khu nội trú của nam sinh viên, chuyện không cho phép phái nữ lui tới dòm ngó vô ký túc xá cuả nam sinh viên. Nếu có người nào vi phạm nội quy nầy, thì nam sinh đó bị đuổi ra khỏi ký túc xá ngay. Nhưng Nam “lén” dẫn cô xuống xem qua cho biết. Nam ở chung với Ninh. Mỗi người đều “trang trí nội thất” theo thẩm mỹ riêng: Một tủ lớn đựng quần áo ngăn giữa hai giường nệm sạch sẽ, trắng tinh, gối hoa đơn lẽ, kệ sách gần cửa ra vào, là bàn học nho nhỏ. Phòng ngủ nhìn ra dãy đồi thông bên khu Nguyên Tử Lực, cạnh hai chiếc ghế dựa là hai table de nuit. Trên tủ nhỏ có tấm hình bán thân của người yêu đặt trong khung kính. Hạnh đang gởi đến anh sinh viên ánh mắt thiết tha, nụ cười tin yêu, say đắm, trữ tình bình yên và chờ đợi.
Nhìn những ngọn đèn pha giọi sáng từng gốc cây, từng bụi cỏ, tường gạch cao quá đầu người, cô tủm tỉm cười:
- Thế nầy, thì anh hết đi chơi về khuya nhỉ!
- Vậy mà bọn anh đã trèo tường mấy lần rồi, cưng ơi.
Nam cười vui, anh hôn lên mái tóc ngắn ngủn (than ôi! vì mái tóc ngắn tủn ngắn tỉn nầy, "chàng" đã giận "nàng" mất mấy ngày). Hai người trở lại khu giảng đường xem các bạn đóng kịch. Sau buổi lễ, hai anh em chụp lưu niệm vài tấm ảnh. Nam chở Hạnh về trên chiếc xe vespa Italy lúc mười một giờ khuya. Nam ở lại ngủ trong phòng chung với anh Tuế.
Mấy hôm nay Nam bị cảm, ho, Hạnh bắt anh về trường nhớ uống thuốc mỗi ngày, đôi khi cô còn lật lưng Nam ra để cạo gió, lưng anh bị từng sọc đỏ bầm. Không quen cạo gió kiểu nầy, Nam oằn người cứ rên i ỷ, thấy mà thương! Chị Tuế bảo Hạnh nấu cháo thịt nạc, muối tiêu, xổ trứng gà, hành, ngò, rau tía tô, lót dưới lòng tô, múc cháo nóng đổ lên. Đôi lần chị còn bắt Nam xông nồi lá hương nhu, lá sả, các lọai lá trái cây. Nam sợ chị buồn, ngồi vô xông, Nam bị nóng gần lột da, khiến anh kêu trời không thấu. Mấy ngày sau anh hết đau, Nam cười vui:
- Thuốc của bàn tay cô tiên có khác, anh hết đau rồi.
Hai người chở nhau đi Ga ăn phở Quỳnh, sau đó họ mua bánh mì ba tê gà, trái cây, nước ngọt, đi picnic nguyên ngày ở thác Preen. Đến thác, Nam gởi xe, rồi hai anh em giung giăng giung giẻ tay trong tay đi trên đồi, nói đủ chuyện về dự tính tương lai của chúng mình:
- Cưng à, khi anh thành tài, đi làm việc, chúng ta đám cưới xong, em chỉ cần ở nhà chăm sóc gia đình nha. Từ từ em sẽ sanh cho anh một tá con, nếu là con trai đầu lòng, chúng mình sẽ đặt tên con là: Đỗ Trần Hương Hoàng, nếu là gái sẽ là: Đỗ Trần Hoàng Hương.
- Đặt tên thì được rồi, nhưng về chuyện con cái, em chỉ thích hai gái hai trai, là quá nhiều.
- Muốn như vậy cũng được, nhưng em hãy cho anh tự do... thoải mái tị chứ!
- Ơ... Tự do theo nghĩa nào mới được hở?
Nam cười giả lả:
- … Tự do theo kiểu í... là... "Tự Do, Bình Đẳng, Huynh Đệ" (Liberté, Égalité, Fraternité), của người Mỹ về "Đời Sống, Tự Do, Công Lý. Hạnh Phúc". Lòng ái quốc. Tình huynh đệ… và hồi tưởng những người đã hy sinh vì tự do, á em. (Life, Liberty and the Pursuit of Happiness). Ấy dà da...!
- Anh ngộ ghê à nhen.
Ngừng giây lát, Nam vui vẻ nói tiếp:
- Ý anh muốn nói thì… thì giống như bức tượng “Nữ thần Tự Do, mang vương niệm trên đầu có bảy mũi nhọn, là họ có ý tả về sự tự do được tỏa rộng tới bảy lục địa, và bảy đại dương ấy mà. Tượng đó ở hòn đảo Lyberty (New York). Bức tượng Nữ Thần Tự Do cao 152 feet (46 mét) và nặng 225 tấn, tượng đứng trên cái bệ cao 150 feet. Nền của bệ có thể tích 11,680 yard khối (8,916 mét khối). Tay phải Nữ Thần giơ cao bó đuốc, tượng trưng cho nhân cách, uy quyền và sự giải phóng. Tay trái bà cầm quyển Hiến Pháp tuyên bố độc lập của Nước Mỹ ngày 04 tháng 07 năm 1776. Dưới chân tượng đã đúc xiềng xích, gông cùm đều bị đập tan.
- Ồ bài thơ chuyển dịch sang tiếng Việt, mà em rất thích có phải là: bài thơ “The New Colossus” của nữ thi sĩ Emma Lazarus, có những câu sau đây:
“Hãy trao cho ta, những con người mệt nhọc, nghèo khổ.
Đám quầng chúng tả tơi. Khao khát tự do!
Những kẻ đói rách, đã từ chối những vùng bờ biển phì nhiêu khác.
Hãy gửi cho ta, những con người nầy:
Những kẻ vô giá, vừa bị bão tố vùi dập.
Ta giương ngọn đuốc bên cánh cửa vàng son...”
- Đúng phóc rồi em à. Nguyên bản bài thơ “The New Colossus” như thế nầy, Mười nghe nhé:
Not like the brazen giant of Greek fame
With conquering limbs astride from land to land
Here at our sea-washed, sunset gates shall stand
A mighty woman with a torch, whose flame
Is the imprisoned lightning, and her name
Mother of Exiles. From her beacon-hand
Glows world-wide welcome; her mild eyes command
The air-bridged harbor that twin cities frame.
Keep, ancient lands, your storied pomp! cries she
With silent lips. Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tossed to me:
I lift my lamp beside the golden door.
- Anh tạm đọc cho em nghe theo lời dịch:
Không giống như tượng đồng danh tiếng của Hy Lạp,
Với những cánh tay chinh phục sải dài từ xứ này sang xứ khác;
Nơi đây tại cửa biển hoàng hôn sóng vỗ
Đứng người đàn bà phi thường với ngọn đuốc, lửa đuốc
Là sấm sét bị cầm tù, và tên nàng
Mẹ của những kẻ tha hương.
Từ bàn tay cầm đèn hiệu đó
Sáng rực lời chào tỏa khắp thế giới;
đôi mắt dịu hiền của nàng trị vì
Hải cảng lộng gió giữa hai thành phố. *
“Cứ giữ lấy những mảnh đất xa xưa,
những cổ tích hoa lệ của các ngươi!”,
nàng kêu gào. Môi mím chặt.
“Trao ta những kẻ mệt mỏi, nghèo đói của các ngươi,
Những đám đông chen chúc của các ngươi
đang mong ước hít thở tự do,
Những rác rưởi khốn cùng trên bờ biển đông đúc của các ngươi.
Trao ta, những người vô gia cư, dập vùi trong bão tố,
Ta sẽ nâng đèn rọi bên cạnh cánh cửa vàng!” (Nguyễn Minh Hiển dịch)
- Anh à, cũng có người dịch lại bài thơ nầy từ nguyên bản tiếng Anh:
Hãy đưa đến cho ta,
Những kẻ kiệt quệ, nghèo khốn
Những đám đông hỗn độn thèm muốn được thở tự do,
Những kẻ vô dụng bần cùng từ những bến bờ chen chúc,
Hãy gởi tới những người cùng cực này cho ta,
Những kẻ không nhà,
Những kẻ bị vùi dập bởi bão tố phong ba,
Ta nâng cao ngọn đèn, ánh đuốc,
Bên cánh cừa đầy cơ hội bằng vàng của miền đất hứa Cờ Hoa. (*)
Hạnh suýt xoa:
- Ôi! Bài thơ quả thật quá tuyệt vời.
- Em cho anh một tá con nghen. Một tá mười sáu à nha. Vừa trai vừa gái...
- Trời đất qủi thần thiên địa ơi!
- Anh thấy còn hơi ít đó em.
- Làm gì mà... quá hơn con heo nái, “in ra” một bầy heo mọi, ủn ỉn ụt ịt chạy lăng quăng vậy anh!?
- Ui, anh yêu thích trẻ con và chó lắm. Đông vui càng tốt. Các con đi đâu, sẽ xếp hàng dọc, thẳng, bước đều, bước... Còn hai ông bà già lụ khụ, thì đi sau rốt!
Hạnh và Nam cười rõ to. Cười ngất. Đó là tiếng hét ân tình, khát khao về ảo tưởng thiên đường không kềm chế nỗi, ước mong niềm hạnh phúc vô biên, bất tận đang dâng tràn. Hạnh phúc đắm say trước mắt bừng tỉnh, ý thức nguồn hứng khởi dâng tràn trên sóng mắt đa tình, trôi vào bờ môi vụng dại.
Bây giờ Nam, Hạnh, nằm bên nhau, ôn lại những kỷ niệm đằm thắm dấu yêu một thuở vàng son ở Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng. Mình như đôi bạn chí thân đã vượt qua tình yêu thuần khiết giữa trai và gái, để tiến tới thứ tình cảm vô cùng trân quí và thiêng liêng, cao khiết, sạch-trong vô vàn. Đó là tình đồng-cảm, trân trọng nhau, tuyệt vời, thứ hạnh phúc ngọt ngào có thật. Vì... Chúng mình đã biết kềm chế cơn tình dại, khát khao đến cháy lòng, biết dập tắt ngọn tình bừng dậy khi thủy triều dâng sóng, biết xô đuổi cơn phong ba bão táp, muốn lôi kéo chúng mình chìm trong mê đắm. Chỉ cần một chao nghiêng, một vỗ cánh, một uốn khúc, là có thể... đạt đến tuyệt đỉnh yêu thương. Ấy thế mà... Anh vẫn là Nam, em còn là Hạnh. Đôi ta tuy hai nhưng là một, dẫu một nhưng là của riêng hai trắng trong nguyên vẹn, khi “trái cấm tuyệt vời” còn xanh chưa tròn độ hái, thì có vội chi mà “ăn vụng”. Bởi thế Nam, Hạnh ung dung chờ đợi ngày vui nhất đời sẽ sẽ sẽ... đến: Đám cưới đầy hạnh phúc, ngày trọn vẹn yêu thương chân tình sẽ đến. Việc yêu thương nhau chân thật, sẽ dẫn đến hôn nhân, không trước thì sau… cũng qua ngỏ nhà. Chúng mình đã đính ước rồi, nào có vội gì đâu!
Ngày hôm sau, là birthday của Hạnh ngày 04 tháng 12. Anh chị Tuế tổ chức sinh nhật cho em gái thật linh đình, (so với những sinh nhật cũ). Hạnh được phép mời Nam, Ninh, Cầu, Vinh, Quang, Hậu, Trí, Mô, Thành, Long, Ân, (họ là bạn của Nam). Bạn gái của cô có Yến, Vân, Hồng, Oanh, Nhi, Viên, Ngọc, Mỹ, cùng gia đình chị Ba, anh Thuyền, các cháu con của chị Tư, (cô không mời chị Tư, vì chị khó tính và rắc rối quá). Buổi tiệc trưa thân mật, vui vẻ thoải mái, hương vị thơm ngon đậm đà, đầy ắp thức ăn tươi được dọn ra trên hai dãy bàn dài trên lầu.
Bạn bè nâng ly chúc tụng những câu bông đùa dí dỏm và hóm hỉnh. Họ hào phóng tặng cô những món quà nho nhỏ dễ thương. Trong đó, Hạnh thích nhất quyển Album màu hồng phấn, ở ngoài bìa là hình ảnh hai cô cậu bé chụm đầu vào nhau nâng quả táo vàng, có chữ HH lên ngực. Quà tặng của Nam có ý nghĩa lắm mà.
Sau buổi ăn, bạn bè ra ngoài phòng khách, ăn bánh Croissant au Beurre hoặc bánh gateaux, uống nước trà, cà phê. Thấy các bạn mơ màng nhìn cà phê nhỏ tong tong từng giọt mọng tròn, đen đen xuống đáy ly sánh đặc, tỏa mờ hơi nóng, tạo thành những nhánh rong rêu, vo tròn từng hạt nước lung linh li ti, tí tách rơi rụng xuống đáy ly. Cà phê thoảng mùi thơm thơm, quyến rũ và lãng mạn thế nào ấy. Các bạn ung dung nhắm mắt, ngả đầu trên thành sofa, giữa khói thuốc vờn bay trong vùng tranh tối tranh sáng, nhấp môi nhâm nhi từng hớp nhỏ, trông lãng mạn quá chừng. Nhạc êm dịu du dương len lõi qua nhánh thời gian, mặc cuộc đời lâng lâng, bay bổng như bong bóng bay, ẩn hiện hay chìm khuất vào chân mây, muốn trôi đi đâu thì trôi. Thì Hạnh đâm ra thèm tự pha cà phê thưởng cho mình một ly. Lần đầu tiên uống cà phê đen, cô nhắm mắt nhăn mặt ngửa cổ uống ực một hơi, hết sạch, y như uống thuốc bắc, khiến các bạn cười ồ. Họ nào biết cô chẳng bao giờ uống cà phê đen, sợ muôn điều đắng cay và đen bạc từ đâu ập đến đời mình, trót lỡ vì sở dĩ cô đã có quá nhiều đắng, đen, như ly cà phê nầy. Họ ca hát vui vẻ thân tình đến tận chiều, mới chia tay.
*
Buổi trưa ngày chủ nhật hồng chẳng phai nắng có tiếng thông reo triền miên. Mây cuộn lại thành từng lọn rủ nhau về vần vũ ven đồi tạo thành đàn cừu trắng lênh đênh trôi. Không khí Đà Lạt ẩm ướt, man mác, mù sương vật vờ bay lên khỏi mặt nước hồ Lãng Ông, hòa lẫn cùng mây e ấp phiêu bồng sa xuống đầu núi. Bỗng nhiên trời trở dạ ưng rưng mưa phùn run rẩy trên lá cành oằn ngọn. Dường như gió hòa theo tiếng thông vi vu, phàn nàn khi tiết trời run run lạnh từ kiếp nầy sang kiếp khác, len lén đê mê lùa về xứ Cao Nguyên Lâm Viên ngàn đời quyến rũ và thơ mộng.
Sau ngày nhập học vài tuần, bất thần Nam hiện ra nơi cánh cửa mở rộng, ánh sáng xế trưa tràn ngập căn phòng ngập lụt niềm vui. Nam ôm cô vào lòng, hôn lên mái đầu lạnh lẽo.
- Em ơi! Có chị Liên đến thăm gia đình nè.
Hai anh em hí hửng nắm tay nhau vui vẻ chạy xuống thang lầu. Chị Liên ngồi nói chuyện với chị Tuế. Chị còn độc thân, chị đẹp nét tự nhiên đã có, lồng thêm vào đó là chị trang điểm cẩn thận, tỉ mỹ, đầy nghệ thuật, áo quần chị mặc thanh lịch, tao nhã, theo cung cách con nhà giàu được cưng chiều. Đặc biệt nhất là mái tóc chị dày rất dài, đen, óng mướt. Chị ăn nói lịch sự, có duyên. Chị nắm tay em, thân mật rủ Hạnh ra vườn hoa, chị vừa nói chuyện vừa ngắt những cánh hoa “Forget me not”, chị nhờ cô cài lên mái tóc đánh rối của chị. Và, chị cài lên mái tóc cụt ngủn của cô (vì mái tóc “quỉ xứ” nầy, Nam đã giận Hạnh mất mấy hôm). Chị cười xinh xinh:
- Theo chị nghĩ: Em xinh đẹp, nết na, ngoan hiền lắm. Không giống như vài cô gái mà Tony quen thân (Tony là Nam í). Họ dạn dĩ, láu lĩnh, quỉ quyệt làm sao đó. Nhất là con nhỏ Thảo, Tony à.
Hạnh ngạc nhiên, liếc mắt nhìn chị Liên, rồi nhìn Nam đăm đăm. Nam tủm tỉm cười tình, nhìn cô đá lông nheo mấy cái.
- Chị quý mến em Hồng Hạnh dễ thương sao đâu á. Cầu chúc hai em hạnh phúc. Gia đình ba má mai mốt lên Đà Lạt, sẽ đến thăm gia đình em. Thôi, chào em, chị về nha. Hôm nay, chị bận đi phù dâu con nhỏ Thảo, em à.
Hạnh bẽn lẽn nói lời chia tay chị trong cổ họng. Nam chở chị về nghỉ ở Hotel Palace. Cô trở vô phòng ngồi trước bàn học, Hạnh chống tay lên cằm nhìn vu vơ ra vườn thông bên hông nhà. Ngồi mãi cũng buồn, cô lại đi nằm một mình trong ngôi biệt thự ở số 2 Pasteur, tay vắt lên trán nhìn những chú kiến nhỏ do dự trong đoàn kiến vội vàng chăm chỉ cuống quýt tha trứng về tổ. Có một chú kiến ngập ngừng do dự bò đi bò lại trên vách tường, rồi bỗng dưng nó đơn độc rẽ về một lối khác, con kiến tách xa đàn, ngẩn ngơ, băn khoăn, bơ vơ và lạc lối. Nhìn chú kiến xa đàn, lòng Hạnh lại dấy lên nỗi băn khoăn về tình yêu và cuộc sống, cô đang nghĩ nhiều về Nam, nghĩ về mình.
Hạnh thay áo quần tươm tất, định xuống nhà Lâm Viên chơi xí, thì cô nghe tiếng xe vespa quen thuộc dừng ngoài cổng. Gặp nhau nơi ngưỡng cửa, Nam ôm cô vào lòng, hôn Hạnh rồi nói:
- Mình đi ăn cơm ở L'eau Vive Hotel Sans - Souci. Em!
- Em nấu cơm rồi. Anh chị Tuế đi ăn đám cưới, không ăn cơm nhà. Thơ đi thăm cô bạn ở Chi Lăng. Mình đi ăn tiệm làm gì? Anh!
- Để ăn mừng em đó.
- Mừng... em?
- Chị Liên "chịu đèn" em quá sá. Mặc dù chị khó tính dàng trời, như bà cụ non. À, như “cô cụ non” chứ. Vì chị ấy chưa có chồng mà. Kén lắm, chị còn ở nhà phá gạo. Chị nói:
- “Hèn gì mà Tony bỏ học Y Khoa Sài Gòn, để lên núi “tu hú”.
- Chị cho anh nhiều tiền, chị nói anh thay chị “khao em”, vì chị bận đi phù dâu, không mời em ăn cơm. Ui, có ai mà móc được túi tiền của “cô cụ non”, ngoại trừ em ha.
Hạnh chỉ biết âu yếm nhìn anh ỏn ẻn cười cười. Cô không có thì giờ đóng vẻ duyên dáng, đài các trước mặt chị Liên, và cả Nam bây giờ nữa. Đối với cô, gặp Nam là điều quý giá, không cần phải trau chuốt, đầu môi chót lưỡi, táng tụng hoa mỹ, không cần thoa son dồi phấn, mới có thể đạt đến tình yêu. Hạnh thật sự tin-yêu Nam, tin vào hạnh phúc hiện hữu, không gợn chút âu lo. Không cầu mong gì hơn, sống tự nhiên như tiếng thác nước Cam Ly dội ầm ầm, đều đều quyện lẫn với tiếng thông reo vi vu từ xa vọng đến, là đủ.
Sau khi chở nhau đi một vòng quanh hồ Xuân Hương, hai anh em vào tiệm ăn. Cơm nước xong, "chàng-nàng" trở về nhà. Điện bất chợt cúp tối om. Hạnh phải mò mẫm xuống dưới bếp tìm cây nến. Vì không thấy đường, nên cô tông vô Nam đang lui cui tra chìa khóa cửa vào ổ. Nam cười cười mở quẹt zippo, đốt nến. Cắm cây nến trên kệ sách, cởi áo veston, cởi giày, rồi Nam “hỏi tội” cô:
- Em tông vào anh, nè bầm cả má anh rồi.
Tưởng thật, Hạnh đi lấy hủ dầu con hổ định xức cho anh, Nam vội ôm cô vào lòng, môi hôn đắm đuối tìm trao, làm rộn ràng những ý nghĩ nấu nung, làm nóng hực những hình đá, những con thú nhồi bông trên kệ sách. Ánh sáng chao đảo lung linh từ ngọn bạch lạp, càng bừng lên ý nghĩ thiết tha: Ước muốn đôi ta thành vợ thành chồng. Thế nhưng, họ chỉ yêu nhau bằng những nụ hôn nóng bỏng, Nam không chinh phục ngọn núi lửa muốn bùng lên từ đáy lòng sâu. Nam nằm bên Hạnh như ngày cũ nơi vòm trời thơ mộng ở đất Thần Kinh. Như ngày tháng trước mới đây, khi Thái-Thạnh mượn xe vespa của Nam để chở Thơ đi chơi thác. Lúc ấy chỉ còn hai người tại Hotel du Lake, họ quấn quít bên nhau chẳng còn manh vải che thân. Ôi! "mém tí nữa" và “xém chút xíu” thôi… Nào ngờ... Phải! Chính lúc mà hiến chương tình yêu muốn gần lên chóp đỉnh, để hòa trong tiếng nói vô ngôn, sẽ rót hạnh phúc tuyệt vời có thật xuống đôi mái đầu trẻ dại, (như chùm hoa tinh tuyền uống những giọt mật ngọt ngào, long lanh ngấn thủy tinh rưng rưng tan biến vào nhau). Thì… bất chợt Thạnh vô tình gõ cửa phòng, Thạnh nhờ Nam lấy dùm cho Thạnh cái bóp tiền mà Thạnh để quên trên bàn. Thế là trong vòng tay hoang dại, Nam và Hạnh như bừng tỉnh cơn say tình ái. Họ đã hoàn trả về nhau những giọt mật ngọt ngào trinh nguyên, xiết đỗi trìu mến, rất ân tình, mà lung linh và mòng mọng giọt tinh tuyền. Trái cấm chưa một lần hao hụt, chẳng xúc phạm xí xi. Ô! Hạnh và Nam không hề mất mác điều gì. Bây giờ hôm nay cũng thế, mặc dù không còn ai vô tình cản trở, ấy thế mà... Nam âu yếm:
- Anh yêu em kinh khủng.
- Em cũng yêu anh, chứa chan.
- Ôi Trời, là chán chưa á hả?
- Vậy, cho em hỏi anh: Chán chưa?
- Chưa chán.
Nam lại ôm hôn Hạnh đắm đuối. Giữa hai người có sự song hành đồng cảm về tình yêu. Chung một mối tình say đắm, nên thơ, hồn nhiên và thanh sạch, không gợn mây mờ từ cát bụi phàm trần. Quả đúng thật như thế một trăm phần trăm. Và, đôi ta rất hãnh diện, trân trọng, cung kính, tin yêu mối tình nầy. Kể ra “trai gái” gần gũi mật thiết, say đắm nhau đến thế, mà Phương Nam và Hồng Hạnh không có “vấn đề ấy ấy”… Kễ cũng lạ! Không phải đâu! Tự bản thân họ biết kềm chế và trân trọng nhau thôi.
Trong lúc anh ôm ấp nằm kề bên Hạnh bình yên, thì đầu óc Nam cuồng quay với những mối tình quá táo bạo khác trước kia. Bằng chứng là chị Liên vừa mới nhắc đến con nhỏ Thảo. Trước đó, nhỏ Thảo tuy mới mười lăm tuổi, (là con nuôi trong nhà Nam, do má anh đỡ đầu). Nó học và nội trú trong trường bà xơ (soeur) gần nhà. Nên cứ mỗi cuối tuần, thì má sai Nam đến trường xin phép “ma soeur” cho nó ra ở lại nhà họ nghỉ ngày cuối tuần, sáng thứ Hai trở vô nội trú. Ở nhà Nam nó ngủ chung phòng với chị Liên. Tuy thỉnh thoảng Nam và nó vẫn hí hửng trò chuyện cười giỡn nắm tay lôi lôi kéo kéo, anh kêu cả bầy em đi xem cine, sau đó đi ăn uống... Thật tình thì anh coi nó như một đứa con nít. Một hôm trong nhà đi vắng, chỉ còn chi Liên, Nam và Thảo. Nam đang nằm đọc sách ở trong phòng riêng trên lầu ba, thì Thảo lọt vô phòng và tiện tay khoá chốt cửa phòng. Thảo liền chạy tới ôm chầm Nam, nó tự động cúi xuống hôn môi chàng tới tấp. Nam quá bất ngờ, hoảng hốt ngồi bật dậy, vội đứng lên, xô nó ra tới cửa, thì con Thảo kéo anh ập lưng vô tường, nó bắt Nam phải lấy nó. Miếng thịt mỡ đã treo trước mõm mèo, cọc đi tìm trâu, thì dại gì trâu không “húc”, tội gì Nam không xực. Tuy nhiên do bất ngờ đột ngột, và sợ người nhà bất thần trở về, anh tìm kế hoãn binh:
- Ở đây không được đâu.
- Thì vô toilet.
Nam bị con nhỏ cưỡng dâm thì đúng hơn. Lúc xong chuyện anh mới biết là: nó bị thằng Hoè phá trinh lâu rồi, hai đứa vụng trộm lấy nhau nhiều lần, hiện giờ nó đang mang thai đã hơn hai tháng. Nam nghe mà sợ rợn người. Nam sợ nó “đỗ vạ cáo gian” cho mình, thì khốn nạn chết điếng một đời trai trẻ.
Ai ngờ, chị Liên ở dưới nhà thấy vắng bóng nó khá lâu, chị biết con nhỏ trắc nết lẵng lơ lắm, chị liền đùng đùng đi lên lầu tìm nó, và chị giận dữ la mắng cả hai đứa. Chị biết rõ con Thảo nầy lăng loàng kinh khủng, bị chị bắt gặp quả tang con nhỏ quằn quại trong tay Nam. Chị Lan chửi nó và Nam tơi bời và méc với ba má, cấm tiệt không cho con Thảo đến nhà. Tuy vậy nó vẫn gọi phone lén lút hẹn hò anh. Ngựa cũ quen đường xưa, Nam không phải là tay vừa, cũng dữ dằn chằn ăn trăn quấn lắm! Đó là một trong mấy con bồ đạn dĩ, táo bạo mà chàng quen biết. Tuyệt nhiên Nam không hề yêu ai, và dấu kín Hạnh chuyện anh đã từng lăng nhăng với mấy ả.
Hôm nay là ngày cưới của nhỏ Thảo. Nó mời Nam và chị Liên đi dự tiệc cưới. Nam hân hạnh vinh dự ngồi với chị Liên ở bàn dành riêng cho cô dâu chú rể. Thảo ngồi ở giữa Nam và chú rể là thằng Hoè (hôm nay đã là chồng thứ thiệt của nó rồi). Cứ lâu lâu con Thảo mặt mày tỉnh bơ, tươi cười mà thò tay xuống dưới gầm bàn, nó đưa bàn tay vô ngắt ngay ở chỗ vắp vế non, sát háng của Nam, nó ngắt Nam những cú đau điếng xác, đau kinh khủng, nhưng Nam không hề dám cục cựa nhúc nhích, rên rĩ. Nam sợ chồng nó vô tình trông thấy, thì có nước độn thổ, (hắn nổi ghen cắt… cái đó của mình, mà liệng trong bồn cầu, thì tàn mớ đời). Nam sợ cả chị Liên tinh ý nhìn thấy từng cử chỉ của nó, sợ hai họ nhà trai gái trong bàn tiệc biết sự trắng trợn táo tợn của con nhỏ, thật Nam rất xấu hổ, nhục nhã trước đám đông. Nên anh phải cố nghiến răng im lặng, nén đau ngồi đơ người, thừ mặt mo ra, mà chịu trận một lúc. Cuối cùng, đau quá là đau không thể nào chịu nỗi mươi cú ngắt nhéo ác ôn côn đồ kinh hồn của Thảo, Nam đứng bật dậy vội vã bỏ dỡ buổi tiệc vừa mới bắt đầu chỉ hơn mươi phút. Nam lặng lẽ âm thầm lủi ra về, cay đắng nghẹn ngào mà không hề dám nói cho cô biết. Hạnh yêu thương của Nam quá thánh thiện, hiền lương, trong sáng, ngây thơ, dễ thương biết bao, có thể khi cô biết hoặc thấy những cục máu bầm đọng ở bên bắp vế và nơi háng của mình, thì cô không bao giờ thông cảm cho “nỗi khổ sở” của cái “thú đau thương tột cùng” ấy đâu.
Ba Má của Nam ở Sài Gòn lên Đà Lạt thăm Nam, đồng thời đưa các cô con gái vào nội trú tại trường Dòng Missionaires de Marie. Nhân tiện má Nam ở lại một vài tuần, lo công việc làm ăn buôn bán thế nào, và lo việc dạm ngỏ Hạnh.
Mấy lần chàng đưa má đến thăm gia đình anh chị Tuế. Một lần sau, anh chị Tuế mời anh chị Lê, anh chị Tư, anh Thuyền đến, cho má của chàng bàn tính công chuyện. Tự dưng cô lo sợ quá chừng. Run rẩy. Hồi hộp. Băn khoăn thế nào ấy. Làm như cô yêu Nam là một trọng tội không bằng, một chuyện không thể xảy ra, một cuộc đời không thể sống chung bên nhau. Tại sao vậy? Ngay các anh, chị, không thể ngờ là má của Nam tuy đã ngoài năm mươi tuổi vẫn sang trọng, môi son má phấn, móng tay móng chân đỏ tươi, áo quần đắt tiền, kim cương hột xoàn đầy cổ, tai, ngực, hai cổ tay… Má anh giàu có đến thế, đúng là có cung cách một đại thương gia.
Bây giờ, cô mới hiểu phần nào tính tình chàng qua cách ăn nết ở, sở thích, sở trường, hoài bão của Nam. Ba má hết sức cưng chiều, yêu thương chàng, đến độ Nam luôn luôn cảm thấy mình mất tự do. Bị gò bó, bị kiểm soát từng ly từng tí. Dù chính anh tự hào về song thân. Không những thế, bạn bè cũng mến trọng Nam đúng nghĩa con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai. Đó là ưu thế của Nam đã đành. Anh sống trong cảnh giàu sang, một phần dựa trên danh tiếng mẹ cha, được nhiều người kính trọng, nể vì. Thành tích gia đình có tiếng tăm trong giới thượng lưu, gia đình bề thế luôn hoạt động xã hội. Nam thật hạnh phúc! Nhưng… Từ khi biết gia đình Nam giàu có, Hạnh lại băn khoăn, thấp thỏm. Như cô đã từng băn khoăn về chuyện Đán là con nhà giàu, có tiếng tăm ở Huế vậy. Theo quan điểm riêng của cô thì:
- Em yêu Nam vì mối tình chân thật, say đắm, phát xuất từ con tim. Vì hai người thấu hiểu, thông cảm, trân trọng nhau, chứ không phải em yêu Nam vì gia tài của ba má anh.
Sự kiện nầy được Hạnh khẳng định từ lâu, có lập trường từ lúc lớn khôn. Khi các cô cậu bạn học cũ đã nói:
- Ráng giữ hắn nhe. Nhà của Nam giàu có lắm.
- Không phải tôi yêu Nam, vì vậy đâu.
- Đừng có xạo.
- Các bạn thấy tình yêu chỉ có bấy nhiêu thôi sao?
- Chứ còn gì nữa.
- Chán thật. Thế bạn không nhớ là tôi đã từ chối Nghi, anh ta cũng là con nhà giàu số một ở Đà Lạt kìa. Thời gian đã trả lời, và có mấy lần do tự ý tôi xa biệt Nam rồi.
- Tao tin rằng mày sẽ bám theo hắn như đĩa đói, chớ dễ gì buông.
- Vậy ư?
*
Qua tháng sau, ba má Nam lại có chuyến hàng chở lên Đà Lạt. Cũng kịp lúc ba cô ở Huế vào thăm các con. Rồi, anh chị Tuế làm cơm đãi ba má chàng. Bữa tiệc kéo dài đến nghẹt thở. Các ba, các má cuủa đôi họ, các anh chị Lê, chị Tư, chị Tuế, anh Thuyền, các cháu. Hạnh thấy mới có vài gia đình, (còn bốn gia đình nữa). Mà phát ớn lạnh, đông chi mà đông lạ, “cái họ nhà vợ”, Nam nhỉ?
Run run sợ sợ bưng mấy tách trà bốc khói lên phòng khách, Hạnh tần ngần ấp úng cúi chào hai bác, các chị em của Nam. Ba má anh ngẩng nhìn cô đăm đăm. Họ ý tứ dò xét, họ kín đáo gật gù to nhỏ với nhau. Nhưng khiến cô lo sợ, lạnh toát cả người. Sau đó, họ quay qua nói chuyện với ba cô về vụ trồng trọt, kinh nghiệm đất vườn, hoa màu và thương buôn. Hai bên phì phà thuốc lá, trà bánh. Thân tình giao hảo tương đắc tương phùng. Chuyện ngắn chuyện dài đến cả chuyện... đôi ta. Nào quà, nào bánh, nào rượu hồng dạm ngỏ đính ước, chờ ngày thành hôn. Ba má anh gọi Nam và Hạnh ra đứng trước mặt hai họ. Và đã nói lời giao hôn như đinh đóng cột:
- Thưa, gia đình tôi ở xa. Được biết Nam yêu thương cháu Hạnh xinh tươi, ngoan, hiền, nết na thùy mị. Chúng tôi vui mừng, rất tán thành. Tuy nhiên, việc hôn nhân, xin hãy để cho Nam học thành tài. Khi Nam công thành danh toại rồi. Là mọi việc sẽ mãn nguyện như ý. Chúng tôi sẽ xin ước mong cưới được vợ hiền cho con. Thương yêu dâu thảo vẹn toàn.
Ba và các anh, chị, đều đồng ý về quan điểm chính yếu trên. Ba Hoài mỉm cười, nói:
- Dạ phải! Muốn thành công trên mọi lĩnh vực, ít ra các con phải có căn bản về cuộc sống. Không cần giàu sang. Nhưng cần có kiến thức, chút tiền hậu thân hậu thổ khi ốm đau, bệnh nạn. Không ai lý tưởng hoá để nói “một túp lều tranh, hai trái tim vàng” suốt đời không lo âu. Không bối rối. khi cuộc sống réo gọi chạy từng bữa ăn. Hãy như Exupery đã nói: “yêu nhau, không phải suốt ngày ngồi đó nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng”.
Ba má Nam mừng năm phần, còn Hạnh mừng đến mươi phần. Như thế dù sao đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, khi “nhập đề”. Tuy nhiên, điều cô vẫn lo sợ nhất là các chị Lê, chị Tư, không đồng ý Nam. Họ nói là: “trai Sài Gòn thì phần lớn mấy anh đào hoa, có vợ lớn, vợ bé lôi thôi, con trai thích ăn nhậu, mèo mở lung tung. Em lấy cậu ấy, sợ e sẽ khổ thân”.
- Chao ơi! Định kiến gì mà ác ôn thế. Hở chị?
Trước khi về Sài Gòn, Nam lái xe hơi nhà trông ung dung, phong nhã, lẫm liệt, oai phong ghê. Anh chở ba má, các em gái Hoa, Cúc, Loan, và Hạnh đi du ngoạn danh lam thắng cảnh Đà Lạt một vòng lả lướt. Họ vào tiệm Mê-Kông ăn cơm, nhà hàng nầy là nơi rất thân tình với gia đình Nam. Tha hồ cho các cô bé con của họ nhỏng nhẽo, vòi vĩnh đủ thứ chuyện. Xí-xọn nhất là cô Cúc, nhưng em ấy lanh lẹ, vui vẻ, hòa ái, thân thiết cởi mở với Hạnh ngay, em ấy không e dè người lạ. Cơm trưa xong. Mọi người ghé đến ngôi biệt thự xinh xinh, có khu vườn hoa rực rỡ phía sân sau. Nhà nép mình gần bên dòng suối Cam Ly. Ba má Nam dự định sẽ mua ngôi biệt thự nầy để tặng Nam Hạnh sau ngày cưới.
Ba má Nam đưa các cô bé đi phố, mua sắm những thứ con cần thiết, và đã mua sắm quà bánh, rau quả đủ thứ để mang về Sài Gòn. Lại vào nhà hàng Chic Shangai ăn cơm tối. Có hôm đưa nhau đi ăn ở L’eau Vive Hotel Sans Souci, trước khi các cô em vào nội trú. Nam lái xe chở cô về nhà, sau khi anh đã đưa ba má về Hotel Palace nghỉ ngơi. Hạnh biết dù hôn nhân chưa hẳn là đoạn cuối một cuộc tình. Nhưng chắc chắn hôn nhân là cứu cánh đích thực, làm sợi dây xích muôn đời ràng buộc trai gái với nhau. Là khát vọng yêu thương sống chung: hợp tình, hợp pháp, hợp lý sau những mặn nồng đắm đuối nhớ thương khôn nguôi. Hai người quyết tâm cùng nắm tay nhau đi đến đích tin yêu. Yên tâm và đợi chờ ngày vui nhất.
*
Tình Hoài Hương
(*) Thơ sưu tầm lượm lặt
Một buổi sáng cuối mùa xuân dìu dịu, tiết trời êm ả dưới làn nước lấp lánh ngàn tia nắng mặt trời khá ấm áp. Chung quanh núi non hùng vĩ, con thác nho nhỏ len lỏi trên khe núi cao, chạy dài xuống triền dốc tắm nắng xa xa. Lũy tre làng bao bọc vườn quê có những sợi khói lẻ loi uốn lượn trên mấy nóc nhà tranh còn ướt đẫm sương mù. Lác đác giữa cánh đồng khô mấy mục đồng lững thững trên lưng trâu. Bầy cò trắng bay lên đáp xuống bên bờ đê.
Gà gáy te te sau bụi chuối, vườn môn. Chó gâu gâu sủa bâng quơ từng tiếng rời rạc. Thôn xóm tiêu điều vắng lặng và buồn tênh. Ngày thật sự rạng rồi, tách bóng đêm kinh hoảng u tối đối lập với nền trời sáng chói nắng, thắm hồng trên đầu cây ngọn cỏ, khắp nơi nơi. Tiếng máy phát thanh ủy lạo đồng bào cùng chiến sĩ được chị em trong Đoàn 5 cất lên từng hồi, giao hòa theo đôi cánh bình minh run rẩy, vang vọng lên tận đỉnh đèo, ngân nga đến ngàn non.
Trong buổi họp, sau khi anh Vị đọc bản tin tức xong, thì anh Cương ra lệnh: mỗi người phải làm ít nhất vài bài văn, thơ, truyện ngắn, tùy bút, vui cười, quan điểm, nhận định, vân vân... Anh trưởng phòng Phước duyệt xong, sẽ in thành tuần báo, nguyệt san, phát cho anh em chiến sĩ, gửi đồng bào, tự phát thanh trên haut parler, để ủy lạo tinh thần anh em; hậu phương tỏ lòng biết ơn chiến sĩ tiền tuyến đang xông pha ngoài trận điạ. Nhất là an ủi chia sẻ khổ nạn cùng đồng bào.
Ôi! Một con bé chết nhát còn thò lò mũi xanh, tóc thề thuở xưa mướt mát nay tả tơi héo úa vàng phai bụi nắng nên tóc rụng gần hết!!! Tuổi con bé chớm lớn nhưng tinh thần sa sút trầm trọng, giống cột thủy ngân tuột đáy chôn dưới tuyết. Một con bé run hơn cầy sấy giữa binh đao rổn rảng, điếc ù tai, nhức nhối, thốn tim, trí óc luôn dày vò. Con bé thường bị Trúc quệt hai tay vô má lêu lêu mắc cỡ, vì kém sút hẳn đàn anh, đàn chị đầy dũng lược can trường (họ quyết liệt chiến đấu, rất tài hoa ở chiến địa đại loạn). Con bé tép riu nầy xớ rớ xin làm tà lọt bưng bô còn thút thít, run run quệt nước mắt vô hai ống tay áo hít mũi hic hic hic..., con bé thua sút hẳn họ về mọi phương diện. Mà, trưởng phòng bắt phải cầm cây bút viết kịch đời thiên bẩm, nặng hơn ngàn cân, để: ủy lạo, yểm trợ chiến sĩ! Thật là trò hề quá tháu cáy, lạnh buốt xương sống! Múa rìu qua mắt thợ. Quả là lố lăng lố bịch! Quê không chịu thấu. Hoài nghĩ:
- Mình chuyên về “báo”: báo danh, báo an, báo hại, báo cô, báo đời, báo oán, báo gia, báo mộng, báo tịch, báo ứng, báo tử... & Chuyên “trị” về “làm”: Làm chứng, làm thinh, làm biếng, làm tàng, làm bộ, làm tịch, làm nũng, làm le, làm dóc, làm lơ, làm liều, làm lậu, làm loạn, làm reo, làm cao, làm cỏ, làm duyên, làm giá, làm loạn, làm tới… Chớ biết chi hơn mà “làm báo"! Hoài bắt đầu viết nhật ký từ năm 1957, 1958. Kể từ nay, Hoài sẽ cố gắng viết rất trung thực tất cả câu chuyện có thật, không thêm bớt, ghi lại rõ ràng với lòng gắng bó keo sơn từng chi tiết hiện hữu. Ghi về sự góp mặt từng người, từng nhân vật mình quen, biết, lẫn không quen hầu đưa vào đời sống. Không văn chương bóng bẩy thêm thắt hoa hoè, để trân trọng nâng niu giữ gìn làm báu vật, lưu kỷ niệm duy nhất đời mình. Dù Hoài thật bối rối, lo âu khi anh Phước bảo viết bài. Hoài đã đặt nhiều câu hỏi với các anh chị trong mấy buổi họp, và đăng trong các tuần báo rõ như sau:
1.- Về việc hư cấu trong từng câu chuyện, thì xin thú thật là em chịu thua, không có khả năng đó. -Chuyện đời Lính- có sống mới biết cuộc đời lính chiến gian truân vất vả cay đắng nhọc nhằn khổ cực ra sao. Không sống không biết, thì làm sao em dám hư cấu hì?
2.- Có thể vì thế đa số bạn trong Phòng 5 ưa viết truyện tình, làm thơ tình. Chuyện tình dễ dàng tả ân tả oán, muốn cho nhân vật đó sống, thì sống, mà không thích thì cho nó "ngũm", (hư cấu là thế đấy phải không anh?) ít "đụng chạm" tới ai, dù ai đó khó tính nhất, cũng có chút bao dung và thứ tha. Phải không thưa anh Phước! Theo thiển ý của em, thì có sao nói vậy, (người ơi!). Mình không biết cách hư cấu thiệt. Nên, những chuyện Hoài viết trong chiến tranh hừng hực bốc lửa: ít nhiều gì cũng bị coi là... “khuynh tả” với người nầy; “khuynh hữu” với người kia.
3.- Em muốn ghi lại sự kiện lịch sử chính xác. Bởi những điều đó không thể một mình ên tự ý ta thêm bớt, hay thêu dệt, hư cấu. Ta không thể tạo dựng nên dữ kiện, mà chỉ ghi lại đúng đắn những sự kiện mắt thấy tai nghe, trong một chu vi hạn hẹp. Thế thôi. Cũng như tự mình không bao giờ có thể làm nên lịch sử. Vâng! Chỉ tường tận nắm rõ năm bảy khía cạnh của vấn đề, ghi lại diễn tiến nào đó từng câu chuyện 90% là có thật. Em cũng biết, làm như thế thì dễ mất lòng, dễ xa nhau, dễ chửi nhau, dễ thù nhau. Nếu như chuyện thật sờ sờ ra đó, mà viết bố lếu bố láo, thì coi như bôi lọ nhau rồi, còn gì văn chương trung chỉnh chữ với nghĩa ha. Em chỉ viết lại sự thực. Thấy thì viết là thấy. Nghe thì nói là nghe. Biết sao viết vậy.
4.- Hoài tài hèn sức mọn, không bao giờ dám mơ mình là văn sĩ, thi sĩ cả. Càng không dám tự hào cầm cây bút chiến viết văn nghị luận - Vì; Rất cảm kích và chân thành cảm ơn anh chị em, qúy độc giả, bạn hữu, đã ưu ái nâng đỡ khích lệ em nên viết văn. - Dạ xin vâng! Hoài sẽ hết sức cố gắng ngỏ hầu: “Tôi ước mong được học hỏi cùng quý vi, hầu: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông và biết ơn”. Nếu có sai sót, kính mong quý vị niệm tình dung thứ và chỉ giáo thêm. Hoài biết ơn. Bởi vì trong vấn đề đi làm việc, hoặc viết lách nầy, thật sự em rất đơn độc (hoàn toàn không được sự hưởng ứng của gia đình thân nhân, dù chỉ lĩnh hội ý kiến 10%).
5.- Hoài xin nhấn mạnh: {Khi tôi sao chép lại một tài liệu, hoặc in một mẫu tin lên báo chí, thì người làm công việc đó chỉ muốn chia xẻ, hoặc giới thiệu với độc giả những gì mình thu thập được từ nơi nầy, nơi khác, mà mình cảm thấy cần thông báo cho bằng hữu, tùy nghi theo từng nhận định cảm quan cá nhân. “Bạn hay tôi” không phải là người tạo ra những mẫu tin thời sự nóng bỏng (nhất là về lịch sử hoặc chính trị đó. Do vậy “họ” không có trách nhiệm về việc đúng hoặc sai nội dung tin tức, mà họ đã copy hoặc in lên diễn đàn). Thế nên nếu có vị nào thắc mắc, muốn tìm hiểu thêm, xin đi ngược về nguồn: để trao đổỉ với người có đầy đủ tài liệu về bản gốc, có tư cách, thẩm định, và trách nhiệm; chắc chắn bạn sẽ được giải đáp thoả đáng}.
Sau nhiều lần đoàn tâm lý chiến phát thanh và rải truyền đơn, dán bích chương, ủy lạo chiến sĩ Cộng Hòa Việt Nam; qua những bài ca mang đầy hương sắc ân tình hoài nhớ. Pha trộn nhạc vui buồn trong lúc phát thanh đã tác động mạnh mẽ, gợi lên nỗi buồn bẩm sinh trong lòng người lính cơ cực thời chinh chiến. Hoài lại đắm mình trong cô đơn. Vì sao? Có phải vì con thác nhỏ len lỏi trên khe núi cao nầy dội lại lòng mình tiếng thác nước chảy muôn trùng, bên đồi thông xưa năm nào, xa cũ lắm?
Bao mẹ già dày dạn nắng mưa khuya chiều. Mẹ quê có nhiều kinh nghiệm chiến tranh xảy ra liên miên trong cuộc đời vũ bão. Họ chán ngán lắc đầu, tắc lưỡi ái ngại thương thương mấy cô lính mới tò te non đời lí lí lắc lắc nho nhỏ xinh xinh, đẹp đẹp. Những bà mẹ quê bàng hoàng nhìn cô gái nhí nhảnh mà lòng già đầy kinh hãi: như vừa thấy kẻ lạ từ hành tinh quái gở nào rơi xuống trần gian. Nơi khỉ ho cò gáy hầu như chưa xuất hiện lính nữ non đời lon ton xách giỏ đi chợ, có đôi lúc các con nhỏ hồn nhiên vui tươi tung tăng bên nhau sao?! Ồ! Làm con gái... cái gì cũng bị cấm.
Má nói: Con ăn nói phải từ tốn, dịu dàng, nhỏ nhẹ. Đi đứng phải đoan trang, uyển chuyển, nết na, thùy mị. Không leo trèo trên cây. Không chạy nhảy như ngưạ. Không ăn to nói lớn như hổ gầm voi rống. Không cười ha hả! Không xù mặt ra như con nhím xù lông. Ngủ không nằm ngửa tênh hênh, dù trời nóng hầm hập, mồ hôi rịn ra dưới lưng, cũng cấm. Không xoạt hai chân vô tư lự, không giăng hai tay ra giữa bộ ván mà gãi sồn sột. Con gái, không được nằm trơ trẽn tô hô ra vậy! Con không nằm cong queo như con tôm hùm. Chân không co lên tới ngực. Không nằm sấp tay ôm lấy đầu. Con chỉ nằm nghiêng, hai chân duỗi thẳng, khi mỏi mệt thì trở bên nầy, qua bên kia nhẹ nhàng thôi, không gây tiếng động ồn ào. Nghe!
- Con gái mà đi lính làm chi!
Nhất là “đại kỵ” chuyện đi lính, như các cụ già vừa nói. Họ e ngại cười cười, hiền hậu ỏn ẻn móm mém hàm niếu ngậm trầu đỏ au. Dường như họ bị lỡ lời, sợ vô tình đay nghiến làm chột dạ dày vò đau lòng bọn trẻ nhỏ ưa đùa dai với khói lửa chiến tranh uà về. Ờ! Thời xưa "liền bà con cấy" thuở xa xăm chỉ ở trong phòng the trướng rũ, cửa kín song cài. Chứ có mô mà "xông pha bụi trần" rứa... Con gái thời buổi loạn ly chừ... chi mà lạ!? Ố ồ! Làm con gái không đi lính được sao!? Thế ra các cụ bà quên tiệt đất nước mình có hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị lẫm liệt. Bà Triệu oai dũng khi: “giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh” rồi he!?
Các cô rủ nhau vào chợ mua cái nầy, cái nọ. Các cụ vội vội vàng vàng gói ít xôi đậu, xôi bắp, họ đùm trong tàu lá khô. Có cụ gói cho bọn “nữ tì thời chinh chiến” nải chuối, bọc kẹo. Có cụ cho củ khoai lang nóng đùm trong tàu mo cau cứng. Họ dúi vào tay con bé Hoài nhỏ xí nhất đàn. Các cụ già đời mỗi người một câu, ngập ngừng nhắn nhủ:
- “Dầu ai ỷ thế cậy tài. Con giữ lòng thục nữ, dùi mài trong gương”.
- Ăn đi con!
- Ăn kẽo đói.
- À không... mời con.
- À, à... ăn cho vui.
- Gái thì trinh trĩnh lòng son. Sớm hôm gìn giữ, kẽo còn chút sai.
Bất ngờ và sửng sốt, Hoài cảm động, ngơ ngác, e dè giơ hai bàn tay run run ra cầm những gói quà trĩu nặng tình nghiã. Con bé ấp úng cúi mặt nói câu cám ơn lí nhí trong họng. Khóe mắt bờ mi nàng mòng mọng, nằng nặng, rưng rưng... Hoài dìm bộ óc xuống cơn mê, biết chìm đắm trong nỗi dày vò, phiền muộn có thật, có nhiều dao đâm qua tim. Khi tự mình tìm cây đuốc trời thắp sáng ngọn nến riêng tư, những ngọn nến trong cuộc đời tự tay ta thắp lên, và cuộc sống vẫn là sự chấp nhận: Cho ta niềm an ủi, cố gắng vui vẻ, tăng hy vọng; dẫu quá lung linh và tê tái.
***
Có thể nào ngờ không? Năm 1960, cô Ty ở Ba Tơ (là con của ông bà Tú, mà lần trước, khi ngồi phệt dưới áo quan của cô gái xấu số, Hoài tưởng ông Tú là ông ngoại của cô Ty. Vì so ra ông Tú già khú đế, già khọm quá chừng. Chớ có ai ngờ người đàn ông ngồi trên bàn thờ kia là con trai của ông bà Tú!!). Bà Tú chữ nghĩa không giỏi không rành, bà quên dấu chấm ở trước, quên dấu phết phía sau, nói nào ngay bi chừ cũng già rùi, nên bà Tú có phần nghễnh ngãng xí, ngày ấy bà nhớ thương chồng ở phương xa, chờ khi rãnh rang, bà đã lò mò khêu to ngọn tim đèn dầu hột vịt tù mù, để viết vội lá thư gửi thăm chồng, bà kể lể chuyện con cà con kê nhớ thương chồng vô hạn, trong đó bà có viết câu: Ai về cho gởi bức thư.
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao?
Non kia ai đắp mà cao.
Sông kia biển nọ ai đào mà sâu!
* Có thương thì thương cho chắc.
Có bỏ thì bỏ cho luôn.
Đừng theo cái thói ghe buôn
Khi vui thì ở khi buồn lại đi. (cd)
… Tui nhớ ôn. Đôi ta là nghĩa “tạo phản” mà. (Nghiã “tào khang" mà bà ấy viết là “tạo phản”) Xuống khe bắt ốc, lên ngàn hái rau. Ôn ui ôn đi nhớ mau mau về À, ôn ui ai cũng hỏi tới ôn nay, râu tóc mọc tới đâu rùi ôn, nhớ kỳ cọ tắm rửa thường nghe, đừng để chí rận nó bu bám vô chỗ nớ... Nhớ chưa? Cho ‘boà’ vợ chú Teo gửi lời ‘thèm’ muốn ôn sống mãi trong quần chúng tui và sắp nhỏ, chờ ông vêề… tui mừng rơn hú hí xí húm nghen he. Tui gởi lời thèm hỏi anh em tất cả mạnh giỏi. .
Ông chồng hoan hỉ bóc thư ra xem, các anh em cô bác cũng ghé tới coi, họ chuyền tay nhau đọc, và thích chí, nức nở khen bà ấy có khiếu gợi cảm viết văn hoa bóng bẩy! Có ý tình thủy chung sau trước ân cần với mọi người. Hay lắm.. Ông Tú cười vang rất tự hào vinh dự khi ông có diễm phúc cưới được “bà vợ đậm đà tình quê” ấy: Có phúc lấy được vợ già.
Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh.
Vô phúc lấy phải trẻ ranh.
Nó ăn nó bỏ tan tành nó đi. (cd)
Bà vợ ông Tú ngọng nghịu lại ưa nói, mà nói lặp bặp, lắp bắp dài dài. Sau ngày chồng bị trọng thương, kế đến con gái đầu lòng chết ở ngoài bờ tre dại nứa khi gia đình bà lâm vào đại nạn: từ một gia đình giàu sang bậc nhì ba trong xã ấp, họ đã tụt xuống đáy xã hội, thì bà càng nói lái nói lịu kinh khủng hơn là:
- "Ẹ nó, đồ già dịch. Chính mi là ác…ác hồ ly tinh, lòm en chi ư… như cái con con… keéc…
Bởi do hồi xa xưa ấy, ông Tú làm việc bất cẩn, ông đi công tác bị mìn mượn mất của ông một bàn chân, “gậy ông đập lưng ông mà”, nên bây chừ chân trái của ông cụt lên tới gần đầu gối. Kèm theo một cánh tay trái cụt đến cùi chỏ. Ai ai cũng tưởng ông Tú chết thật. Nào ngờ Trời bắt ông chết hụt. Hú vía. Thiệt là may! Trời cao có con mắt! Ông ưa nói với hàng xóm thân nhân là:
- Trái thơm còn có cả trăm con mắt, huống hồ chi là ông Trời đứng trên cao ngó xuống, thì ông Trời phải có ít nhất là triệu ngàn con mắt, mới dòm được mười phương tám hướng hỉ. Bà con thấy không, Trời còn thương xót, nên chừa cho tui có "độc nhãn long" để nhìn cho rõ Đời. Hai lỗ tai tui bị điếc ù, điếc lác mất rồi, có ai nói gì, tui cũng khoan dung há hốc miệng ra: “Hả”? đó thê! Thấy chưa, tui có nói dóc làm chi!
Sức tàn hơi cạn, thân thể ông tật nguyền lê trên chiếc nạn tre cọc cạch ọp ẹp. Sau cơn ngoại thương và nội thương trầm trọng, ông Tú biến thành "cụ ông" vượt thời gian, trông ông càng già khọm cỡ bảy tám mươi tuổi, thiệt á. Lúc thật sự lành vết thương -thể chất và tinh thần- ông Tú đã trở về theo luật “chiêu hồi khoan hồng rộng lượng”, nên được chính phủ miền Nam Cộng Hòa Việt Nam cấp cho ông một chiếc xe lăn Mỹ Quốc Viện Trợ, (có hai bàn tay Việt và Mỹ bắt tay nhau chặt chẽ đề huề). Họ còn cho ông một máy trợ thính đặc biệt. Trong khu vườn rộng mà vợ chồng ông Tú đã trồng hoa màu, và cây ăn quả trĩu cành. Chính phủ lại cho Công-binh Kiến-tạo Tiểu-đoàn 25 về xây cho ông một căn nhà gạch nho nhỏ xinh xinh. Rồi họ lại cấp phát lương thực, và cho gia đình ông Tú một số tiền hậu hĩ, để gia đình ông nương nhờ nhau, mà sinh nhai độ nhật sống qua ngày đoạn tháng, chờ mưa thuận gió hòa rót xuống đời.
Bây giờ, trong lòng ông Tú thật sự đã có chiến tranh nóng lạnh bất ổn không bình yên, ông trở thành một cụ già đã biết xấu hổ, (từ “ông” hèn mọn thô thiển xưa, nay trở thành “cụ” hồi nào không rõ!?). “Cụ” Tú chột dạ, băn khoăn, ray rứt dày vò một điều bí mật chỉ riêng mình ta biết lỗi nơi ta, trong lòng cụ nổi lên từng cơn nội chiến giằng co nhau: bên phải phía trái tưng bừng. Cụ so sánh điều hơn lẽ thiệt giữa hai “phái”. Cụ Tú đã rướm lệ tâm tình cùng anh em Phòng Tâm Lý Chiến nhiều điều đau xót:
- Xin đừng nói là “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản" mà tội trên bước đường thống hối lỡ lầm! vì vậy tui ưa đeo "kính dâm", mắc cỡ che che đậy đậy một con mắt giả.
Con mắt giả ấy chi mà bố láo bố lếu, cứ trợn trừng tráo trưng, khiến cụ Tú cảm thấy thẹn muốn độn thổ. Cụ Tú lại thấy cái đùi cụt và cánh tay cụt trơ trẽn còn dính trong thân, ngày ngày phô bày ra giữa quần chúng, một lần đạp cứt, không lẽ mình chặt nốt chân kia? Cụ ước có phép tiên tung thần chưởng, luyện phù chú, để hóa bùa phép làm lại con mắt thiệt, kéo tay, kéo chân mình dài ra, lành lặn dễ thương như xưa. Thì hay biết mấy! Thôi thì, nhân vô thập toàn mà, ai ai cũng có vài ba lần có tội; ăn thua là mình có biết ăn năn hối cải, quyết chí không tái sai phạm, hay không.
Với sức cạn hơi tàn, tật nguyền cùng khắp, không thể làm gì hơn, là mỗi lần ở trong Huyện, Xã, có hội họp, đình đám vui vẻ, thì cụ Tú rất chân thành ra sức lấy thân mình làm ví dụ điển hình nhất. Điều cụ Tú nói ra đây không dụng ý phủ nhận việc mình bất cẩn, hay a dua khuyến khích, bác bỏ, bất bình châm chích chọc ghẹo ai. Tuyệt nhiên cụ cũng không muốn chụp mũ, trù ẻo, vênh váo lên mặt chỉ trích phê phán ai. Cụ Tú càng không thích chống đối, miệt thị bài xích, tố khổ ai cả. Tuyệt nhiên không. Cụ chỉ muốn thân thiện xích lại gần xóm giềng, gieo hạt giống tình người... mong kề vai chung sức an tựa lên vai nhau, và quyết chí kiến thiết xây dựng lại những gì đã có trong vinh sang xưa đã mất. Cụ Tú khác nào hòn đá lớn ném xuống lòng hồ sâu, làn sóng từ hòn đá lan sóng trên mặt nước rộng toả ra mãi.
Nầy! Chuyện ấy xưa quá rồi. Vì chính thân cụ Tú và nhiều tay bạn đi "kháng chiến" cũng là nạn nhân thật sự "khiến chán" thôi. Họ bị chiến tranh lừa bịp mình hụp xuống vực thẳm hố sâu tối đen, bị những lời đường mật bùi tai dễ ngã lòng không hơn kém. Chiến tranh phỉnh nịnh một người dân quê mộc mạc chất phác thiết tha yêu nước thương nòi: Mình tình nguyện đi làm anh hùng đấy mà! Nhưng thời thế không đãi ngộ, đã kéo lôi cụ xuống vực thẳm không đáy, chả có lối lên nà. Nay cụ đã ăn năn tỉnh ngộ! Vã lại, cụ vò đầu bứt tai suy nghĩ nát óc: Một mình ta không làm nỗi chuyện kinh hồn động địa là: xoay lại ván bài “thời thế thế thời phải thế” của định mệnh ấy. Cụ Tú càng không thể bôi bác, dựng đứng nên dữ kiện lịch sử. Mà thật tình là cụ quá ân hận, cay đắng, ưu tư nhìn sự kiện lịch sử đã xảy ra trước mắt, rồi dày vò mà thầm trách thân. Có thế thôi.
Lúc xưa có mấy người xì xầm với nhau:
- Quả thật cụ Tú quá rồ dại.
- Điên hết chỗ nói.
Cụ Tú quay ngoắt lại nhìn kẻ vừa nói, cụ trừng một con mắt thật, hét lên:
- Điên. Phải! Tui đã nhận thức những khổ đau rồi. Tôi miệt thị đời mình cuồng ngông si dại, phi nhân, phi nghĩa. Kêu Trời không thấu nà. Xóm làng đang yên tĩnh, trù phú mới hôm nao. Hôm nay… Trời ơi! Sự thể thế nầy. Chiến tranh tàn ác húc bừa bãi vào dân cư, bất chấp hành vi tội ác tày trời, xương máu đồng bào chất ngập lút đầu, lút cổ sao ta? hu hu hu... híc híc híc... Tui căm thù chính thân tui như con cờ trân tráo, bị thí cho cuộc cờ băng hoại. Hoàn cảnh và chiến tranh đã xô tui ngã chúi xuống một tình huống nan giải trong đời, không thể gượng đứng dậy bằng một chân còn lại nơi chính tui. Xin Đời hãy bằng lòng bao dung và độ lượng tha thứ cho tui chút xí mờ. Từ nay tui sẽ cố gắng học ở trường đời những điều sâu sắc và hứa nên nết hơn!
***
Sau bao ngày đoàn công tác Tâm Lý Chiến lo làm việc, họ gần gũi, thân thương, chí tình săn sóc đồng bào. Lần lần giọng nói bà con lối xóm không còn xa lạ, rụt rè, lưỡng lự, hay giữ mồm giữ miệng như trước. Họ mang đầy âm sắc ân tình trìu mến. Hoài nghĩ:
- "Người với Người cùng chung huyết thống, giống nòi, không đến nỗi coi nhau gớm ghiết, hung ác, như họ nghĩ về ta ha”.
Tuy vậy nàng lầm. Cũng có vài ba người trong Thôn không cùng chung chí hướng, họ có ác cảm, lạnh lùng biểu lộ ra ngoài mặt thái độ coi bất nhã, khiêu khích, châm chọc đó chớ. Ở chốn cuối núi đầu đèo, đầy gian nguy khốn khó, đau khổ và tang thương nầy, nơi mà chiến tranh đến thăm tới tấp ngủ nghỉ liên miên, và dừng lại chà đạp mạng sống. Nỗi đau đớn càng vò xé tâm can mỗi người. Sự cô quạnh cùng khổ, mất mác, đớn đau tràn đầy ngao ngán đang xảy ra mỗi ngày. Đáng lẽ ra, con người cùng chung huyết thống, nên nhích lại gần bên, ưu ái lân mẫn, thân thương an ủi đùm bọc nhau hơn. “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn” mới phải. Ấy thế mà... chính kiến tạo ra bao cảnh nồi da xáo thịt ở ngoài đời thì thấy rõ, mà đang chiến tranh cào xé trong lòng nhau thì không thể rõ mà đo lường kìa?!
Khi Cụ Tú gối đầu lên rỗ rau muống chết đi sống lại lần thứ ba, tự chống tay vào chiếc gậy trúc tàu màu vàng làm ba ton, đã đứng vững lên từ đôi chân và khối óc có lập trường kiên định, phân minh rõ ràng, thì cụ đã tận tâm chỉ bảo cho những anh em trong Đoàn 5 nên làm gì... làm gì... trước tai ách phân chia đôi bờ khá hữu ích!
Và khi cụ lạch bạch khập khễnh đi lại một mình tốt hơn, thì nhiệm vụ của Trúc và Hoài thật sự chấm dứt.
Nghe tin ấy, bà Tú có “văn-chương hoa-mỹ” ân cần nắm tay hai cô gái, lệ nhòe trên khóe mắt nhăn nheo, đôi môi móm mém run run, bà không thốt nên lời. Thương chi thương lạ: “Cụ ông” mất hàm răng trên, bà Tú mất hàm răng dưới, như cảnh trâu ngựa mượn răng của nhau mỗi lần dự tiệc! Thật là đôi tình già khổ hết biết đa. Cụ ông trầm tĩnh ngồi tréo chân dài lên chân cụt. Một tay cụ vo vê điếu thuốc tròn, cụ bỏ vào bát điếu gia truyền khảm xà cừ lên nước thời gian bóng láng. Cánh tay cụt của cụ cặp cần tẩu, làm bằng ống trúc ngà trăm mắt dài, cong vút. Tay kia cụ bật lửa mồi thuốc hút gọn ơ. Cũng bàn tay độc nhất đó cụ rót trà ra chén tống, rồi chuyên sang chén quân, nước trà vàng đậm sóng sánh trong chén, nổi lên lớp bọt sủi trên mặt. Buổi sáng chưa ăn gì, mà kéo điếu cày, uống ly trà Ô Long thì phải biết: Cụ Tú bật ngửa ra đi-văng vắt chân chữ ngũ mà say bí tỉ. Giọng nói cụ ông hơi yếu, dường như muốn kềm chế lại... một cái gì cứ muốn ứa trào ra, từ trái tim, từ một khoé bên con mắt thật, và bên một con mắt giả bất động thì... nhìn hai con bé một lính một lương-(dân) trợn trừng, tráo trưng.
Cô Ty mời hai cô gái ngồi chung chiếu với gia đình cụ Tú để ăn chén chè nóng, đạm bạc nhưng đầy ân tình. Thành thật mà nói: khoai môn là món ăn Hoài không ưa thích, vì khi múc khoai lên hay ăn vào, nó nhơn nhớt, lòng thòng sền sệt nước. Hoài có cảm tưởng như... như nước mũi. Nhưng sao hôm nay ăn vào, nàng thấy ngọt lịm ở bờ môi cuống cổ. Có phải do chất đường mía, hay do mật ngọt dạt dào ân nghĩa tình người thắm đượm lòng quê?
Hai tay áo của Ty ướt nước mắt, cô lật chiếc chiếu hoa trên bộ ván gõ dày láng bóng, cô quét bụi cẩn thận (bộ ván này, khi hữu sự mệnh chung, người ta sẽ xẻ mỏng ra, thành tám tấm dài, bốn tấm ngắn hầu làm bạn sáu tấm chung kiếp cho hai người ấy). Cô thôn nữ Ty thực thà, nết na và đôn hậu, đẹp hồn nhiên, miệng Ty lúc nào cũng chúm chím môi trầu cắn chỉ, mắt lá răm dưới vành nón lá kéo nghiêng, mặt cô Ty che khuất bởi nửa vành khăn vuông cột thắt ra phía sau gáy như mỏ quạ.
Anh Hai của Ty đã đi lính Biệt Động Quân đóng ở mãi tận Rạch Giá Hà Tiên. Chị Ba của cô bất hạnh đã lìa đời, (người chị nằm gối đầu lên đống gạch vụn, tay buông xuôi khi tuổi đời vừa chớm đôi mươi, mà có lần Hoài đã chứng kiến tháng vừa qua). Còn lại trơ trọi mỗi mình Ty là út ít - phải thay anh thế chị bươn bả lo toan đủ mọi thứ đắng cay trong thời loạn! Tuy ở nơi xó góc trong thôn làng đìu hiu quạnh vắng, nhưng cô Ty được sự dưỡng dục chu đáo của mẹ cha: Con ơi! Mẹ bảo con nầy:
Học buôn học bán cho tầy người ta.
Con đừng học thói chua ngoa.
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười.
Dù no dù đói cho tươi.
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài cho toan.
Phòng khi đóng góp việc làng.
Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng. (cd)
Cô Ty vì thương mẹ yếu cha già hom hem quá, dù rằng có một lần cô đã tựa cửa ngóng tin: Buồn trông chênh chếch sao mai.
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?
Buồn trông con nhện vương tơ.
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?! (cd)
Ui chao! Buồn lắm chớ, anh Tùng ơi! nhưng em biết phải làm răn bây chừ:
Anh đi em ở lại nhà.
Vườn rau em tưới mẹ già em trông (cd)
Nàng nhớ người ấy rất nhiều, khi mà ... “Anh về qua xóm nhỏ. Em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều vương mái tóc. Tình quê hương đơn sơ. Quê em nghèo cát trắng. Tóc em cũng vừa xanh. Anh là người lính chiến. Áo bạc màu đấu tranh...”
Biết bạn hiền có tâm sự, nên đã có một lần Hoài làm bài thơ riêng tặng cô Ty:
Lời Cô Thôn Nữ
Gửi đến anh mối tình.
Chân thật và quang vinh.
Nụ hoa vẹn tuyền. Xinh
xinh hương ngát, đượm tinh
khôi. Dưới ánh bình minh.
Xóm vắng đứng một mình.
Thế mà sao lính quýnh?
Chẳng dám tỏ mối tình…
đằm thắm. Rồi lặng thinh.
nâng vạt áo trắng tinh.
Chùi lên đôi mắt mình.
Chẳng biết có ai khinh!?
Anh chỉ đùa. Cảm tình
anh coi nhẹ. Hư vinh
không mặn mà: Như vịnh
Hạ Long em đa tình. (*)
Gọi là chút quà mọn khi chiến tranh vô tội vạ chẳng đi vào lòng người, các cô nhỏ mong ước tìm tình yêu thương chân thật của "Tình Quân Dân, như cá với nước": Trúc tặng: cụ ông chiếc nón nỉ. Cụ bà con dao. Cô Ty bộ quần áo ngủ mầu xanh đọt chuối. Hoài tặng: cụ ông con dao cạo râu. Cụ bà cái cối giã trầu, đôi dép nhung, tặng cô Ty đôi bao tay vải dày làm cỏ, chiếc áo bà ba mầu nâu non, quần lãnh đen. Trúc và Hoài thì thầm nháy nhó nhau hùn chút tiền riêng đưa biếu bà cụ, để mẹ già lo cho gia đình đơn bạc bớt khó khăn. Họ ngỡ ngàng e ngại lắc đầu lia lịa quyết từ chối; nhưng hai nữ quân nhân tha thiết năn nỉ họ:
- Vì dù sao chúng con đi làm việc, cũng có tiền lương bạc tháng, mẹ à.
Mẹ quê ái ngại nhận những món quà thắm thiết tình thân yêu chân thật, mà bờ môi nghẹn ngào mấp máy run run... thút thít khóc, hỉ mũi rột rõt. Năm người có chín con mắt kia chảy ròng ròng những giọt nước mắt lăn dài trên má tủi mừng! Những con mắt nầy cũng mọng chín giọt buồn hoen mi dâng cao. Họ đứng lên ngồi xuống mãi không nở rời xa. Buổi chia tay thật bùi ngùi cảm động dường bao! Năm đôi mắt đỏ hoe, (à không, chỉ có bốn đôi mắt rưỡi, vị chi là có tất cả chín con mắt thôi nà). Không hiểu tại sao họ bùi ngùi quyến luyến nhau đến như vậy!? Hai cô quân nhân mới tò te đầu đội mũ sắt, mặc bộ đồ lính màu xanh cứt ngựa, bên ngoài khoát thêm chiếc field jacket xệ xệ vai (đã may sữa lại cho vừa khổ người), hai cô buồn xo, nghèn nghẹn, xót thương cúi đầu im lặng lủi thủi đi ra khỏi khúc quanh lộng gió.
Bỗng, hai cô nghe tiếng Ty gọi ơi ới sau lưng. Họ giật mình quay lại. Cô gái quê vừa chạy vừa thở hổn hển, tay cô khệ nệ xách buồng chuối cau khoảng bảy nải vừa chặt, nhựa mủ chuối còn chảy lòng thòng, có vài nải đang chín tới. Nếu đem bán buồng chuối nầy, thì gia đình cô Ty sẽ có mươi ký gạo đắp đổi qua ngày. Ty nhất định ấn vào tay bạn. Rồi Ty khóc hu hu hu... cô quệt nước mắt vào hai ống tay áo sờn, Ty vùng chạy rất nhanh về ngỏ nhà.
Hoài và Trúc ngẩn người… thật sự băn khoăn và da diết buồn. Ôi! Chân tình của người con gái miền quê sao mà đơn sơ mộc mạc, đằm thắm, thành thật, mặn-mà tình tự quê hương, ăn sâu vào lòng mình đến thế không biết! Hai cô quân nhân xúc động lại buồn xo, nghẹn ngào, nghẽn nghẹt buồng tim, cuống cổ, ngập ngừng, lủi thủi ra đi. Trên mái tóc rất dài buông lơi sau lưng vướng sót lại mấy lá tre vàng uá. Gót giày đinh thêm nặng nề nên hai cô nhỏ kéo lệch xệch, tạo thành bốn vệt dài ngoẵng uốn éo trên con đường đất. Hai cô khệ nệ khiêng vác theo quầy chuối nặng trĩu trái no tròn, bám đầy bụi phấn đỏ từ một góc trời đáng đau xót.
Họ ưu phiền trong cảnh chiến tranh đi vào giữa lòng dân tộc... mang theo (có lẽ suốt đời) những ân tình chân chất mộc mạc, rất đáng kính trọng, thiết tha hoài nhớ, ghi lòng tạt dạ về một phương trời xa mờ xa. Cảnh chia ly ấy khiến lòng Trúc, Hoài, ưu phiền thật sự trong từng tế bào run rẩy. Ôi! Đã mềm lòng bi lụy trước buổi biệt ly, mà họ đoán trước sẽ không có ngày tái ngộ. Người đi chao đảo với muôn ngàn bâng khuâng, băn khoăn, trăn trở vò xé trong lòng. Người ở lại sau hàng dậu thưa, bên hàng hoa tường vi sắc thắm đầy giông bão và tang thương kia, mắt ai nấy đều nhòa lệ dõi trông theo đầy lo âu, bồn chồn, khắc khoải, ray rứt. Họ đứng ngồi không yên trong cảnh tao loạn.
Hoài chợt nhớ đến cha mẹ già đơn độc đìu hiu ở quê nhà. Nhớ lạ lùng. Nhớ da diết. Thốt nhiên Hoài lo sợ kinh khủng! Rồi sẽ ra sao trên quê hương đang chinh chiến điêu linh nầy? Tháng ngày trước mặt sẽ có gì, còn gì? Hay chẳng còn gì tất cả, ngoài nỗi đớn đau kinh hoàng, hụt hẫng, mất mát vò xé tâm tư… bao ngày chiến tranh bùng nổ đã qua, đang tới? Bỗng nhiên Hoài nhớ tới lời văn hào Victor Hugo nói: "Sống khốn khổ. Cô độc. Phụ rẫy. Nghèo nàn. Tất cả là những chiến trường, tạo ra những anh hùng. Số anh hùng âm thầm nầy, đông đúc hơn anh hùng lừng lẫy."
*
(cd) = ca dao.
Vài tháng sau ngày Phương Nam và Thương Mười đính ước, và sau cái đêm Nam ở lại trên phòng riêng của Mười, hai người vẫn vô-tư-lự và sạch trong với nhau, không hề có một gợn đục tình cảm nào. Mừng vui thay! Thì … hôm nay do cùng chung đường về, Thu Hồng mời Mười ghé đến nhà cô ăn chè đậu ván chơi. Món chè Mười thích ăn nhất.
Ngồi dưới bếp hai đứa ăn uống, chuyện trò vui vẻ xong, Mười vào phòng tắm rửa mặt. Gió lộng thổi cánh cửa đánh bật ra, nên Mười đến bên cửa sổ, vói tay định kéo cánh cửa vào. Bỗng nàng giật nẩy người, lùi hẳn nép người vào bóng tối, thập thò lấp ló nhìn qua bên khách sạn Mimosa. Phương Nam! Trời ơi! Phải! chàng đang hút thuốc lá, ở trần, khăn tắm vắt vai mà tựa bên cửa sổ. Sau cửa sổ là người đàn bà xoã mái tóc rối, cô ả đang kêu réo cười cợt, chớt nhã gọi Nam. Nam khuất vào một bên vách, để lộ ra giường nệm xô lệch, gối rơi xuống sàn nhà, cạnh bộ quần áo của chàng (mà tuần trước Mười đã giặt ủi cẩn thận). Tiếng người đàn bà bỗng gào rú lên, chen lẫn tiếng nước chảy trong phòng tắm lơi lả.
Thương Mười vẫn tự hào là người đẹp chưa bao giờ bị tình phụ, để nếm mùi đau khổ, cho biết đời. Người con gái diễm kiều rất thông minh, khôn ngoan, thùy mị nết na nầy luôn luôn có những “cây tình si” ao ước làm người bạn đời, thiết tha, trìu mến yêu thương cô em. Thế nên Mười vẫn hồn nhiên với tình yêu thần thánh, sạch trong, mà cuộc đời tỏ ra ưu ái khoan dung, nuông chiều theo sở vọng riêng ta. Đến mức Mười chẳng lo lắng về hạnh phúc, tình yêu sẽ vỗ cánh bay đi. Ngược lại, Mười rất bình yên, không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ bị phản bội.
Nào ngờ!... bây giờ sự thật đã phơi bày! Mười thấy lòng hẫng đi, điên cuồng, nhục nhã, xấu hổ, quay quắt. Giống như có vật gì bén nhọn như cây mã tấu đâm vào trái tim, khiến trái tim và đầu óc nàng tan nát, vỡ vụn ra từng mãnh, bèo bọt xót xa vô ngần. Lòng Mười trĩu nặng đớn đau, dày vò, tủi thương thân, điếng lặng. Tình yêu như chiếc mặt nạ vừa rơi tuột qua kẽ tay! Đáng lẽ ra anh không nên đưa ba má của anh lên làm dạm ngỏ, đính ước, đám hỏi, đám… “khỉ gió mốc xì” gì cả. Giờ đây ai ai cũng biết Mười là vị hôn thê của Nam. Trời ơi! Ba má anh ta đã mang quà sính hôn đến nhà, công nhận Mười là con dâu nhà họ Đỗ làm gì sớm thế. Hở Trời!?
Khi Mười lò mò kéo lê đôi guốc kêu xèn xẹt từng bước thấp bước cao trên đại lộ vắng hoe như con điên, bờ vai nàng khoát hờ chiếc áo lạnh xề xệ. Mười đi bộ về nhà dưới cơn mưa tầm tã, thì trên phòng riêng của mình đang sáng đèn. Chị Tuế nói Nam đã đến nhà chờ Mười khá lâu. Mười mới đi khỏi căn phòng thân yêu nầy chỉ có một ngày, một buổi chiều và gần nửa đêm thẩn thờ lang thang đó đây, mà nay tưởng chừng như mình xa đã gần cả đời người, mới về đến đích gần nhất, (trong cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc dường như vừa mất).
Gặp Nam ở balcon, Mười không thể khóc, chỉ lạnh nhạt nói:
- Đừng đụng tới em. Chờ chút, em có chuyện cần nói với anh.
Anh cười, nụ cười á thánh ngây thơ. Nam lẽo đẽo theo em vào phòng, Nam bình thản hút thuốc lá. Mười đi thay bộ quần áo ướt sũng nước. Lòng những tưởng là sau khi gặp anh, Mười sẽ vồ xé Nam cho tan ra từng mãnh. Hay Mười tìm những lời nói cay độc, để xỉ vả, đay nghiến, cằn nhằn Nam. Cũng có thể em lăn kềnh ra đất kêu gào, sẽ khóc lóc thảm thiết. Chứ có ngờ đâu tuy lòng đau hơn bị dao cắt, mà mặt Mười cố làm ra vẻ tỉnh bơ, lạnh tanh thế nầy! Mười bước ra phòng tắm, kéo ghế ngồi đối diện:
- Có lẽ, không còn gì để nói với nhau nữa. Ta nên xa nhau đi là vừa.
- Lại định giở trò gì đây? Cưng!
- Không dám. Nam yêu em chỉ chuốc thêm ưu phiền, bực bội. Chả ích lợi gì đâu.
- Kỳ quặc hết chỗ nói.
- Hẳn là anh chưa quên hỉ!
- Quên... sao được!
- Hừ!
- Em lộn xộn quá.
- Có lẽ anh ngạc nhiên, vì sao em biết anh vừa ở Hotel Mimosa về đây hả! Có gì đâu, tình cờ thôi à. Quả thật rất tình cờ đó, ông Trời mở mắt cho em thấy: từ chiếc khăn tắm sọc xanh đỏ anh vắt trên vai trần; đến cái mini robe màu đỏ tươi của người đàn bà kia, bả sung sướng hét to lên cơn thống khoái, cợt nhả bên cửa phòng tắm đó. Hẳn anh chưa quên hỉ! Nam nè, anh biết tính em; Không phải là em chủ tâm đi rình mò, theo dõi, dò xét anh đâu nha. Em ngu sao cần gì đeo mặt nạ đi làm vậy. Quê lắm, thộn lắm!
Nam trợn trừng mắt, bàng hoàng nhìn người yêu, kinh ngạc tột cùng. Có lẽ điều Mười vừa thốt ra, là một trong những chuyện quái ác, kinh dị hơn gáo dầu sôi bỏng tạt mạnh vào mặt nhau. Nóng bỏng. Lạnh lùng mà hết sức phũ phàng, đau đớn; đã để lại vết sẹo ghim trên trán Nam khó phai. Nó vô ý thức lột phăng cái mặt nạ trần trụi rơi tụt xuống, vô trách nhiệm trong cuộc tình chung nầy? Lẽ ra, Mười không nên thẳng thừng bốp chát quá vậy!? Mười đứng dậy, lấy chùm chìa khóa và đến cửa phòng mở cửa đi ra ngoài, rồi khóa trái lại. Trong lúc đó Nam cứ tưởng là em đi khóa cửa như mọi lần.
Ở trong phòng, Nam vội vàng nhảy đến, gạt tấm màn voan sang một bên, Nam gỏ gỏ vào cửa kính liên tục, mạnh và lớn đến nỗi Mười sợ anh chị Tuế ngủ dưới lầu nghe thấy. Lưỡng lự đôi phút, Mười đành bước lên bậc thang, đút chìa khóa vào ổ, mở ra. Mặt Nam đỏ bừng vì giận. Anh xoay tay nắm giật cánh cửa mở tung ra, cơn gió canh khuya ào ào lùa vô phòng lạnh giá. Anh kéo cánh tay Mười vô phòng, đóng sập lại, mạnh đến nỗi làm cánh cửa tung ra. Mười thản nhiên đến bên giường, rủ gối mền, cười gằn:
- Lãng chưa! Người đau khổ nhất cần được vỡ tung ra là em. Chứ cánh cửa nào có tội tình gì, mà anh hành hạ nó đau. Tội quá!
Nam khóa cửa lại, cất dấu chìa khóa ở đâu đó, Nam thay bộ veston vắt trên ghế dựa, (anh mặc bộ pirama vẫn để lại đây phòng hờ, mỗi khi đến nô đùa với cháu), Nam cởi giày, rồi lặng lẽ úp mặt nằm lên giường, hai tay ôm lấy đầu, thở vắn thở dài. Trong khi Mười quay mặt vào vách, hai hàm răng nghiến chặt, lòng dặn lòng cương quyết không khóc lóc, không kêu la, không rên xiết, không van nài, không xin xỏ. Phải nhất định quên chuyện đau đớn đang dày xéo lên trái tim, phải đoạn tuyệt với con người dã man tàn ác nầy.
- Thương Mười!
-. . .
- Em ơi, hãy cố gắng hiểu nguyên nhân của dữ kiện, đừng tìm hiểu sự kiện trước mắt, để rồi vội vàng kết luận. Sự việc xảy ra ít lâu nay, phần lớn do bạn bè thách thức, khiêu khích, cá độ anh, nhất là vì anh tự ái khi bạn bè thách đố anh. Họ nói: anh chỉ là thằng hề trước mặt người đẹp, anh không cua được cô hoa khôi kia đâu. Thế nên, để... xác minh cho họ tận mắt chứng kiến, thì hồi xế chiều họ đã đến đây tạ lỗi cùng em. Chờ em không nỗi, họ vừa về. Anh xin lỗi em.
- Hừ… Thật tình em không nghĩ các anh lại nỡ… “bẽ cành bán rao”.
- . . .
Hai người nói chuyện gần đến sáng. Mười cười khẩy:
- Họ không nhào vô cô đó, mà chỉ ranh ma đứng ngoài khiêu khích anh, để anh hí hửng nhập cuộc. Họ vỗ tay hoan hô ai đây? Ấy, tình yêu là gì? khi anh dám đánh giá… cá độ cả tình yêu, tương lai và hạnh phúc, để đổi lấy hư danh hão huyền. Vì chút danh dự hay tự trọng “dỡm đời”, bồng bột của thằng con trai háo sắc và háu chiến. Xin lỗi nếu em nói quá lố. Chữ “yêu” bắt đầu từ chỗ dễ dàng trao đổi một lần… năm bảy lần… và có con cái, dù không phải tác phẩm của anh chăng nữa, nhưng có bạn bè chứng kiến mà. Ừa, cũng vui ha.
- Làm gì có chuyện đó. Anh xin lỗi em.
- Anh có lỗi gì mà xin.
- Anh khẳng định trước em và bạn bè, anh không hề yêu cô ấy. Em nghe rõ nhé, anh không yêu ai cả, ngoại trừ anh yêu em.
- Lạ quá! Chờ đến lúc tình yêu giữa anh và em hoàn toàn tan vỡ, anh mới tỉnh ngộ chắc. Kể cũng lạ!
- Chuyện vớ vẩn xui xẻo qua đường mà em. Anh đã đạt đến đỉnh danh dự, xoa dịu lòng tự trọng, tự ái rồi, anh hứa chẳng bao giờ bị vấp ngã nữa.
- Anh biết là em rất yêu anh, em từ bỏ tất cả để có anh. Thế nhưng tại sao anh lại làm vậy? Gia đình em thấy anh với Hà nhiều lần, chính em và bạn bè cũng thấy. Ngồi trên xe lam em thấy anh chở Hà và Hoàng Hồng Anh đó. Họ nghĩ thế nào về chuyện nầy, hở anh?
- Anh với Hà, hay với Hồng Anh, chỉ đơn thuần là bạn.
- Hừ! Bạn gì mà ôm eo nhau, chở đi ngoài phố, bạn gì mà thân mật như anh với em bi giờ. Ngộ ghê.
- Em nói nhiều, ồn quá.
- Nếu không thích ồn... Anh có hoàn toàn tự do đi về nhà.
Thương Mười giận, nằm quay mặt vào sát tường, nàng nghiến chặt hai hàm răng, cho khỏi bật thành tiếng khóc. Chàng quay mặt ra ngoài hút thuốc liên miên. Thỉnh thoảng Nam thở dài thườn thượt. Thấy mà ghét. Khi điếu thuốc cuối cùng trong bao đã tàn, Nam xoay người trên nệm, nhẹ nhàng nâng tấm mền bông đắp lên ngực Mười. Nam vòng tay qua ôm Mười, anh hôn lên tóc, lên má cô em, rồi nói:
- Đừng buồn vì những chuyện nhỏ mà em. Em biết là anh rất yêu em. Ngoài em ra, trước em và sau em, anh không hề yêu ai. Anh nhắc lại: em không chỉ là người yêu thôi, mà em chính là tình yêu duy nhất, là tình đầu mà cũng là tình cuối của anh. Muôn năm.
Mười nhắm nghiền mắt, bĩu môi không đáp vì nghe “muôn năm” khiến em tức cười, nhưng Mười cố nìn khe không dám cười. Mãi lâu, anh tiếp:
- Chính vì vậy, có lần anh dấu em vài chuyện, vì anh xét thấy nó không là cái đinh gì cả. Không cần thiết. Không quan trọng. Chuyện nhỏ mà em! Nói chung, anh chỉ yêu một mình em. Hãy tin tưởng nơi anh.
Nam vuốt má, tha thiết hôn lên môi Mười, ân cần nói:
- Anh xin lỗi, vì anh có điều không phải với em. Nhưng anh muốn khuyên em một điều: Hãy tin tưởng và nghe những gì anh nói: Anh yêu em nhiều kinh khủng!
- Mười ngúng nguẩy nguýt Nam một cái rõ dài, bắt chước nói:
- Anh nói nhiều, ồn quá!
Nam cười say đắm, hai người ôm nhau vào lòng, môi tìm môi. Hơi thở dập dồn, nồng say, như quyện lấy hai thân thể. Mười quên giận Nam ngay, khe khẽ nói:
- Nam ơi! Hãy làm chồng em, đêm nay.
- Không được. Anh yêu em ngần ấy, đủ rồi.
- Anh chẳng yêu em.
- Chính vì yêu em kinh khủng, nên anh mới giữ gìn cho em đó. Mình để dành tuần trăng mật sau ngày cưới chứ em. Lo gì mà sợ mất. Đêm tân hôn thì em... chết mí anh.
- Vậy thì mình đi ngủ nghen anh. Chúc anh ngủ ngon.
- Từ hồi nhỏ đến giờ, anh quen ngủ một mình, không ngủ chung với ai, nhất là ai ôm anh, thì coi như anh thức trắng đêm. Em đừng ôm anh nhe. Chúc em ngủ ngon.
- Dạ, hổng thèm ôm anh đâu.
Nam hôn lên môi, lên má Mười, rồi nằm ngửa, mắt nhắm lại, hai tay vòng trước ngực, chỉ mươi phút sau, giấc ngủ an lành dễ dàng đã đến. Trong khi Mười nằm im, không dám nhúc nhích cục cựa, sợ quấy rầy Nam đang say giấc mộng đẹp. Chẳng hiểu tại sao Mười nhẹ dạ và dễ dàng tha thứ cho Nam, tha một sự phản bội tình yêu trắng trợn như thế!?
Hai người lại ở bên nhau đằm thắm như ngày tháng đong đưa sợi tơ nhện trên cành thông là đà, như đôi bạn chí thân, tri kỷ. Họ yêu nhau chân thành, say đắm, ngọt ngào và thanh cao. Vì hai tâm hồn đồng điệu, vì thấu hiểu hạnh phúc vô bờ. Chứ không vì thể xác hèn mọn. Đôi khi anh chỉ âu yếm Mười qua môi hôn ngọt lịm tươi nguyên nét xuân thì, nương nhẹ. Tuyệt đối Nam không tìm cơ hội “chiếm đoạt tài sản quốc cấm cuả Mười”. Điều nầy khiến Mười suy nghĩ nhiều... Rất có thể đúng: Nam thật yêu Mười kinh khủng! Một tình yêu cao khiết, thánh thiện, nâng niu giữ gìn và trân trọng. Nếu đêm hôm đó, Mười hân hạnh trở thành vợ Nam, dù chưa chính thức làm lễ cưới, hay nói đúng ra chưa làm giấy hôn thú, mà Mười đã trở thành người đàn bà của Nam, thì giờ đây chắc sẽ không có sự việc đáng tiếc xảy ra. Mười quả quyết như thế, sau khi suy nghĩ nhiều đêm ngày.
* * *
Suốt ngày Merry Christmas Mười trông đứng trông ngồi, nhưng bóng dáng Nam vẫn bặt tăm. Buổi tối, Thu Nhi, Vân, Đấu, tới rủ Mười đến nhà chàng dự party. Các anh ở cùng nhà trọ đã mời họ. Còn anh không hề nói với Mười việc nầy, cũng như không hề nhắc nhở Mười đi xem lễ Noel. Vì quá yêu Nam, Mười đâm ra mù quáng, quên cả tự trọng, nàng thay quần áo đẹp đi cùng các bạn. Các anh ở chung nhà nhìn Mười bằng con mắt xót thương, ái ngại. Họ không thể nói những điều khiến cả chính họ cũng thấy đau lòng thay. Họ im lặng và dè dặt, càng khiến Mười cảm thấy đắng cay, đau đớn tủi hờn hơn!
Anh Cầu đang ốm nặng nằm dưới lầu, mượn cớ đi thăm người đau, Mười ngồi riết trong phòng anh ấy, hai người nói đủ thứ chuyện vớ vẩn. Tuyệt nhiên Mười không đề cập đến chuyện Nam. Nhạc dìu dặt bắt đầu cho buổi “bum” khá lâu, những cặp trai gái đã dìu nhau nhảy lộp cộp trên đầu. Vả chăng ngồi hoài cũng thấy kỳ, nên để Cầu nghỉ ngơi, Mười từ giã anh ta trở lên lại trong phòng khách. Bất ngờ, Nghi hiện ra nơi khung cửa tối đèn. Nghi dạy Mười mấy điệu nhảy, nàng yếu kém trong chuyện “nhảy với nhót”, nên cứ bị dẫm lên chân Nghi hoài. Nghi trêu Mười. Thấy ngượng, nàng buông bạn ra ngồi trên ghế, xem các anh chị trình diễn “khiêu vũ thời trang”. Nghi thú nhận vẫn yêu Mười câm lặng, mặc dù Nghi biết trái tim nàng đã thuộc về ai. Và, Nghi đã có “bồ”, Nghi nói rõ ràng là bồ, chứ không phải người yêu, người tình!?
Khoảng hơn mười một giờ khuya, Nam về. Nhìn nét mặt anh, Mười biết chắc chắn là anh đang tức giận, bất đồng, để đưa đến chuyện bực bội gì đó với cô ta. Vì cuộc đi chơi riêng không thú vị đã qua. Hình như có ai đã tàn nhẫn tháo chiếc mặt nạ rời ra, để lộ khuôn mặt Nam ủ dột đầy buồn phiền trước mặt Mười rồi! Có lẽ anh không nghĩ là Mười đã có mặt trong buổi party nầy, nên Nam tỏ ra lúng túng, hơi ngượng, và bất ngờ. Nam ngồi thừ người ở góc phòng khá lâu, cạnh Mười xem các bạn nhảy đầm. Mười mở lời:
- Chào anh mới về.
- Chào em.
Một lúc sau anh thì thầm bảo Mười vào phòng riêng. Quả thật không ngờ Mười đến nhà hôm nay, anh không hề báo tin cho nàng biết là các bạn mở cuộc vui nầy, nên Nam quên lững chuyện tấm ảnh của Mười đã bị úp vào tường, (thay vào đó là tấm ảnh Hà). Nam vội quay lưng lại, thò tay để dấu khung ảnh của Hà vào trong hộc tủ. Mười làm ra vẻ không nhìn thấy cử chỉ ấy, nàng vén tà áo dài tím, e ấp ngồi xuống trên nệm, lòng thầm nghĩ: Đã muộn rồi, anh ơi!
Nam ôm hôn cô như bao lần gặp gỡ, Nam thẩn thờ âu yếm mình như người mất hồn, như kẻ mộng du, như khách phiêu bồng lỡ hẹn. Mật ngọt thật sự mất rồi ở đầu môi tình phụ! Một lần nữa, đáng lẽ ra thừa cơ hội nầy, Mười nên tỏ ra là người vợ tương lai dễ thương, khôn ngoan chìu chuộng, âu yếm vuốt ve Nam mới phải. Nhưng nàng buồn nãn, đau đớn, khổ sở buông xuôi. Mặc cho tình yêu vỗ cánh xa bay, kệ con thuyền tình muốn trôi đi đâu, thì đi, đến đâu thì đến. Mười không thèm khát nữa. Nói trắng ra nàng cảm thấy chán ngấy kinh khủng! Đó là mãnh tình-sầu đã trôi theo nụ hôn nhạt nhẽo lần cuối cùng.
Mười hai giờ kém mười lăm phút, cùng nhau đi lễ với các anh chị ở nhà thờ Domain De Marie. Gió lồng lộng thổi trên ngọn đồi cao, trời lạnh kinh khủng, cái lạnh tê buốt, xoáy vào thịt da, se sắt cả lòng người. Mười đăm đăm nhìn lên cung thánh, thì thầm lời cầu xin. Thật ra từ đáy lòng Mười bật lên tiếng rên xiết, than vãn, oán trách vô biên mọi vị thần linh đứng trên bục cao, sao vừa nhìn, vừa cúi, vừa lạnh, vừa im lìm, thờ ơ. Không chịu để tâm nhìn xuống kẻ phàm trần cơ-khổ, bỏ mặc Mười trong cơn đớn đau, khốn cùng thế nầy? Bao đau khổ đã xảy ra trong những ngày kế tiếp. Mười sống trong ngọn lửa yêu mến, với lòng nhớ nhung không tắt. Mười hy sinh tất cả, để sống trọn vẹn cho người chồng tương lai. Buồn một nỗi là nàng không uốn lòng biết niềm nở “dẽo mồm, dẽo miệng” săn đón chàng, hầu kéo Nam về với mình. Mặc dù chàng vẫn ân cần, niềm nở; nhưng Mười tự bảo lòng: đó là sự giả dối tráo trở đáng nguyền rủa. Vô tình Mười đứng về hướng đối nghịch, đá hất Nam ra khỏi vòng ôm mê đắm, xua chàng đi về hẳn với kẻ tình địch bất cộng đái thiên rồi.
*
Khi tán lá còn vương từng mảng tối, sương muối kéo từng bè, như chiếc sô tang mỏng tanh quấn trên đồi cỏ non. Rồi tấm màn mây màu lưu huỳnh trùm lên đỉnh đồi khu Domain dần dà hé mở ánh mặt trời vươn lên, trở lại màu sắc rạng rỡ tự nhiên mỗi ngày. Cả vùng rộn lên tiếng thông reo triền miên. Tiếng chim hót líu lo từ trong thinh không đang im vắng. Buổi sáng tinh mơ, một mình Mười đứng vẩn vơ trước ngôi biệt thự nơi Nam cư ngụ. Bỗng nhiên Mười cảm thấy do dự, ngập ngừng, không muốn gõ cửa vào nhà Nam. Lỡ đằng sau cánh cửa phòng riêng vô tình kia, lại vén lên tấm màn đau xót quá thật, thì tan nát cõi lòng hơn. Mười ngập ngừng, e dè rón rén quay gót trở về nhà. Thật não nùng!
Ôi! Noel năm xưa sao cả anh và em đều rộn ràng dấu ấn hoan ca, sao ngọt ngào, thắm thiết lạ thường, ríu rít trìu mến xiết đỗi! Thế sao Noel bây giờ không còn dư vị đắm say ngày cũ? Tình yêu bây giờ không còn tuyệt vời thuở trước? Bây giờ cũng là Noel rồi đó anh, sao anh nở lòng nào! Mình đã nhẫn tâm tạt vào mặt nhau hũ mật đắng, nhuộm đen cuộc đời kinh khiếp thế cho đành? Vòm trời Cao Nguyên Lâm Viên lồng lộng, có gió lạnh sương mù vây kín núi, có tiếng thông reo vi vu rất nên thơ, đầy xao xuyến một thuở tôi mến yêu người. Giờ nầy hết mộng với mơ, hết quyến rũ rồi. Mười đau đớn nhận thấy tự mình đã nhận chân được giá trị tình yêu hiện hữu, trước khi nó trở thành quá tệ. Đây chính là giờ phút Mười cần có nghị lực, kiên cường, quyết định dứt khoát mối tình say đắm nầy, chen lẫn nỗi niềm đắng cay, chua chát, buồn phiền, thách đố, chán nãn, và long trọng phủ định biện chứng tin yêu.
Nỗi đớn đau (và thù hận) làm Mười dại người. Mười trơ mắt nhìn cuộc đời trôi đi, (trong đó có chàng đã dối trá, đả thương nàng). Ở đâu, nghe gì, thấy gì lòng cô em cũng lạnh lùng, trắc ẩn, ngờ vực, khinh dễ. Chính vì thế Mười đã phá tan mối thâm giao với chàng từ gốc rễ. Mười nghĩ sự ân cần nhã nhặn của chàng đối với mình; chỉ là sự phỉnh phờ, lừa dối. Thất vọng làm sao khi dòng đời tách rời hai người đi về hai hướng riêng biệt: gạt Mười và Nam ra một bên, không có cục nam châm nào thu hút, quyến rũ lôi kéo hai người trở về nguyên thủy tình yêu thánh thiện, sáng ngần xưa cũ.
Những ngày tháng cuối cùng trong năm, Mười lấy làm lạ một điều là nàng không tìm cách chinh phục hay chiếm đoạt chàng. Tại sao? Mười không quá chán nãn, buồn phiền, hụt hẫng, đớn đau, như mình tưởng. Nàng chỉ băn khoăn, ray rứt, xót xa cảm nhận sâu sắc ngày vĩnh biệt sẽ đến. Mười phải cương quyết chối từ Nam. Phải cứng rắn đoạn tuyệt chàng cho nhẹ nỗi ưu phiền, dù đau thương hay tuyệt vọng suốt đời, cũng đành! Vì thế, mỗi lần chàng đến nhà, nàng không thể tha thứ bao lần Nam phạm lỗi lầm, Mười không vồn vã mời chào, ríu rít nói chuyện nọ chuyện kia. Nếu không trốn đi đâu được, Mười tiếp Nam nhạt nhẽo như người xa lạ. Ba bốn lần ngồi với hau hằng giờ, hai người im lặng nhìn vu vơ ra rặng thông xanh sau hiên nhà, Mười nhếch môi cười hờ hững, buồn tênh! nàng không còn thú vui mời Nam dạo bước dưới vườn hoa. Không mời lên phòng nhờ Nam chỉ dạy Anh-văn. Hay đòi chàng chở đi một vòng quanh bờ hồ Xuân Hương. Mà, Mười ngồi né một bên góc bàn, chỉ giả vờ cúi đầu chăm chú đọc sách, hoặc lặng lẽ ngồi một xó thoăng thoắt đan áo. Dù lòng nàng quặn siết cơn đau tê buốt, tim cào xé bởi những vết dao âm thầm xuyên qua trái tim, tan nát vì hận yêu thương.
* * *
Muôn vạn ánh đèn màu lung linh dưới kẽ thông ba lá đong đưa, rì rào. Anh chị Tuế, Mười, bé Cường đi phố đêm Trung Thu, mua bánh và đèn kéo quân cho con. Mười cùng gia đình chị đi phố lựa đèn, bất chợt Mười thấy Nam đi đến gần với một tốp năm sáu mạng trai gái đang nói cười “nhố nhăng”. Gặp anh chị Tuế, Nam dừng lại, khi mấy người kia kéo nhau vào cà phê Tùng. Để mặc chàng nói chuyện với anh chị Tuế hồi lâu. Mười bước qua tiệm giày Tân Việt, nàng dán mắt nhìn vào cửa kính, như say mê nhìn giày dép chưng bày trong tiệm. Kỳ thực Mười nào thấy gì! Thật chả thấy, chả nghe, chả biết cái gì sớt.
Như thế là hai người đã xa nhau gần chín tháng rồi! Không có cái gì có thể thu hút, quyến rũ được. Mười bây giờ – không phải là Thương Mười hoa hậu xinh đẹp ngày xưa, không là thiếu nữ yêu kiều vàng son hạnh phúc một thuở! Mắt đã nhuốm vẻ ưu tư kể từ đêm chứng kiến chàng ở khách sạn Mimosa. Thì, một bóng vô hình ập đến, khiến ngực nàng luôn ứa máu. Thì, kỷ niệm xưa dù vàng son một thuở, vẫn trở thành mỗi ám ảnh tột cùng kinh dị! Làm héo úa khuôn mặt Mười ủ dột, luôn nhíu mày suy nghĩ, như đang thể hiện điều gì gay cấn lắm.
Mãi một lúc lâu sau, đến gần Mười Nam nhìn nàng cười, ái ngại, bối rối, dè dặt:
- Chào em.
- Chào anh.
- Em đi phố, vui không?
- Vui.
- Em còn làm ở chỗ cũ. Hở?
- Còn.
- Công việc dễ chịu hơn trước. Ha?
- Cũng được.
- Mười à... Có chuyện nầy... Chuyện chị Tư của em đó. Anh rất muốn nói cho em biết, là chị Tư ngăn cấm anh... Không phải chị Tư cấm lúc xưa. Mà lần nầy, chỉ là mới đây thôi em.
- Em biết chị Tư ngăn cấm mình từ khuya, là phải rồi.
- Cho anh nói rõ với em chuyện nầy nhe!
- . . .
- Em có định đi đâu bây giờ không?
- Trời! Nam muốn dẫn em trở về đường hầm tự sát à? Lầm lỗi hai ba lần thôi chứ.
- Nói với nhau làm gì những lời chua cay đó. Em!
Trong giọng Nam, Mười nghe thấy một uẩn khúc vô bờ đau xót, Nam không muốn tỏ ra bất nhã. Mặc dù do thái độ lạnh nhạt, lời nói cuả Mười khiêu khích từng lát gừng, làm buồn lòng chàng không ít. Nam lặng lẽ nhìn Mười, chờ đợi nét thân thương hơn. Nhưng Nam chỉ thấy nơi Mười cái bĩu môi và nhún đôi vai nhè nhẹ. Nam bất mãn nhận lấy trái tim á thánh cô độc ấy, nên chàng đã bất cần theo.
Còn Mười, từ lúc bước chân vào đời, em chỉ thấy chiến tranh, thù hận, tàn phá, đau khổ, tang tóc vây bọc. Mười thu thập sự độc ác, phỉnh lừa, dối trá và nhất là sự phản bội tình cảm trắng trợn của người yêu dấu. Nàng nhặt lấy thứ vũ khí cay cú, mà con người, nhất là vị hôn phu- đã đả thương mình. Lòng bao dung, nhân ái, khoan hồng, tha thứ... Thế là hết! Nay, chả ngần ngại gì mà không lạnh lùng chứ!
Nửa tháng sau, chàng lại đến khi Mười đi phố về, áo quần chưa kịp thay. Nam nhìn vào giếng mắt u hoài của người yêu thật lâu. Khiến Mười bối rối, sợ hãi mình lại “lạt lòng”, nàng phải cúi mặt nhìn lãng đi chỗ khác. Chàng đến gần cô em, giọng nói trầm lắng, u uẩn, hay không thốt nên lời, (mà Mười nghe lại tưởng như tiếng thầm-thì ngọt ngào gọi nhau thuở trước kia). Thì... Bây giờ nàng nghe sao mà giống lời phỉnh phờ, dối gạt... thế nào ấy! Khổ thật! Mười chưa thể đặt niềm tin trọn vẹn nơi người yêu cũ. Dẫu thế, Mười bỏ buổi cơm trưa, cơm tối, bỏ đi làm việc, bỏ tất cả. Mặc chàng chở đi đâu thì đi. Đi cho biết Nam muốn nói gì. Làm cái trò trống gì nữa đây?
Dọc đường xe vespa bị hư, đạp hoài không nổ, anh dừng xe bên lề đường sữa mãi. Nam ngẩng lên nhìn cô em đăm đăm. Đôi khi Nam gục đầu lên yên xe, thở dài thườn thượt. Mười lờ đi, quay nhìn xuống thung lũng buồn. Nhìn cảnh vật ấy có lúc Mười thầm nghĩ: Giá mà cả hai người lọt xuống chân đèo Datanla, đâm đầu khuất bóng dưới con đường quanh co uốn lên cao, rồi uốn xuống vực thẳm, chết quách không ai biết, thì hay xiết bao! Ừ nhỉ! Tại sao đã đến lúc uống cạn đáy ly men hạnh phúc, tưởng ngọt ngào, say đắm, mà mình không chịu chết đi, có lẽ sẽ trọn vẹn hạnh phúc hơn. Để rồi từ nay mở bừng mắt ra, chỉ còn lại hủ mật đắng, rỉ từng giọt, thấm từng giọt; tạo thành từng giọt nước mắt, và tình yêu trổ màu đen bạc, đắng cay, đã trở thành mật đắng xuyên qua từng hơi thở, lồng vào từng chân tơ kẽ tóc thế nầy!?
Hai người xuống cuối chân thác, lò mò tìm lại chỗ ngày xưa mình thích ngồi. Mặc dù Mười chưa ăn cơm trưa, chẳng có giọt nước lót bụng buổi chiều. Nhưng nàng từ chối ổ bánh mì batê gà, chai nước ngọt. Mười giữ thái độ lạnh nhạt, xa cách, ngồi xa xa. Cách xa chàng hai vòng ôm, để khỏi chạm người vào Nam. Mười giữ nét mặt cố gắng bình thản, bất cần. Tự ái nàng cao hơn núi, sâu hơn thác Datanla mà. Thật ra trong lòng Mười cảm thấy đau ghê gớm, và thèm khát từng nụ hôn dịu ngọt, chút yêu thương cuồng nhiệt thuở xưa vô vàn. Nàng tựa đầu lên nhánh thông già, tay vân vê thảm cỏ nâu bồng, khiến nó nát nhừ cả vạt. Chàng lấy thuốc thơm ra hút liên miên mấy điếu, rồi mở lời:
- Em ơi! Anh rất ân hận, vì đã lỡ đánh mất niềm tin-yêu trong lòng em. Anh chỉ xin em đừng tự dày vò...
- Không đâu. Chỉ những lúc lặng lẽ thế nầy, dù ngồi một mình. Hay ngồi với ai, em cảm thấy thoải mái, vui vui.
- Đừng dối lòng. Em! Anh biết. Anh hiểu em như hiểu chính mình.
Ôi chao! Mười chỉ muốn ôm chầm lấy Nam, gục đầu vào ngực chàng mà khóc nức nở, cho vơi mối hận không sao xua tan đó. Nhưng, làm như thế để làm gì nữa! Khi Mười đã cảm thấy chán Nam thật. Nàng không còn nghị lực vượt lên con đường đất vòng vo quanh, co dù có trải hoa hồng. Những đoá hồng ẩn gai sắc nhọn, đã đâm nát tim mình. Chàng đã ôm nàng thẩn thờ hôn lên môi giá lạnh. Nhưng bờ môi ấy giờ đây không còn là những giọt mật nồng say. Mà chỉ còn lại những giọt mật đắng in dấu bờ môi tình phụ bẽ bàng!
- Thương Mười! Đã nhiều lần anh gọi tên em. Em bướng bỉnh quay mặt đi, không thèm dạ. Tiếng “dạ” ngoan hiền, dịu dàng mà anh rất đỗi yêu thương. Mười ơi! Em nghe những gì về anh? Thấy những gì về anh? Muốn biết những gì riêng anh, về mối tình đầu (mà anh đã yêu em đến cỡ nào). Xin em hãy đối diện với anh. Hãy nhìn thẳng vào mắt anh, hỏi ngay anh. Anh hứa sẵn sàng trả lời, và chịu trách nhiệm về lời hứa đó. Em đừng nghe ai, đừng hỏi ai. Đừng làm thế em. Vì nếu em làm như vậy, thì càng ngày em sẽ đẩy chúng ta càng xa rời nhau, càng xa hơn thôi. Em.
Cả hai lại im lặng khá lâu. Nắng lướt thướt trải mình trên đồi cỏ non, xa xa tiếng chim lạ lảnh lót, ríu rít hót bản tình ca muôn thuở, hoà cùng tiếng gió lao xao, tiếng thông reo triền miên, lồng trong tiếng thác rì rầm từ xa vọng lại. Chàng thẩn thờ ném những viên sỏi trắng, thỉnh thoảng rơi đánh “bủm” một tiếng gãy gọn trên con suối gợn sóng lăn tăn, xô bờ. Nam gằn giọng:
- Đối với những cô gái đó, cho đến giờ phút nầy, anh vẫn coi là chuyện tầm thường, lạt lẽo. Nếu không muốn nói là bạn. Hay là một tình hờ, tự do dễ dãi, không đòi buộc gì. Nhưng đôi khi cần thiết như... chẳng hạng như… khi anh đau khổ. Khi anh và em giận nhau thế nầy, anh cần đến bên kẻ ấy, để tìm an ủi. Em hiểu không!
- Anh có thể nói… Anh có thể làm cho mười đàn bà yêu anh một lần. Tuyệt nhiên anh không thể chỉ trọn vẹn thủy chung với mười đàn bà ấy - trong suốt năm mươi năm. Thế nên, em chỉ là một cô gái khờ dại và lù đù. Xin anh thứ lỗi.
- … ; … Mười. Em nhớ bài thơ “Cần thiết” của Nguyên Sa không? Chúng mình thuộc lòng, rất yêu bài thơ nầy nhỉ! Trong đó, anh yêu nhất đoạn kết: Không có anh – Lỡ một mai em chết.
Thượng Đế hỏi anh: Sao tóc em buồn?
Sao vai gầy, sao đôi mắt héo hon?
Anh sẽ phải cúi đầu, đi về... địa ngục!
- Cám ơn anh đã “gợi giấc mơ xưa” cho em nghe. Rất tiếc, chuyện ấy không còn phù hợp. Chúng ta đã ở trên hai lối ngoặt chia xa, quan trọng hơn. Em không còn là người say đắm tin yêu, mà anh tìm gặp hôm nao. Em không là cô gái ngây thơ ra đi theo tiếng vẫy gọi tình đời, để giờ đây ôm mối hận, vì bị hắt lại nỗi thất vọng não nề... Nỗi đau đớn rã rời của Thương Mười chưa chai sạn đến mức có thể hy sinh, chịu đựng, vị tha, dung thứ lỗi lầm của người yêu, mà em không hãi hùng ghi dấu ấn trong tiềm thức, trong khối óc, {(theo quan điểm mỗi người) trong việc anh “lăng nhăng quá dễ sợ, chơi hoa rồi lại cùng bạn bẽ cành bán rao” với bạn bè cùng lớp kia}.
Bỗng nhiên Mười nhớ lại vụ Nam cùng cô gái áo đỏ trong Hotel, nhớ các bạn của chàng lấp ló rình mò đâu đó, để xem màn kịch họ diễn... Mười cười ngất, Nam thấy thái độ ngạo mạn và “bất cần đời” như vậy, đã rất bực mình, phiền lòng không ít. Mặt Nam trắng toát vì giận, lạnh lùng tiếp:
- Sao em cứ ghép mình ngang hàng với những hạng gái anh quen biết ấy? Lẽ ra, em nên dùng tình yêu say đắm. Nghĩa cử của vị hôn thê dịu dàng như ngày xưa, khả ái, bao dung và vị tha, em khoan dung nhân hậu giơ tay ra để kéo anh quay về. Đó là sợi dây bền chặt, mà chính em khôn ngoan đã ràng buộc anh chặt chẽ mới phải. Đằng nầy, em lại xô đẩy anh ra khỏi vòng tay em. Anh nhắc lại lần cuối cùng: Dù bây giờ hay mai sau. Nếu xa nhau nghìn trùng, anh vẫn yêu em kinh khủng. Vì em chính là tình yêu của anh. - . . .
- Anh trao về em tất cả tình yêu, cuộc đời mình cho em giữ, em vẫn không chịu. Em có thấy ngày nầy năm trước, anh “ngoan” như thế nào. Sao bây giờ anh hư đốn đến thế? Em không chịu tìm hiểu nguyên nhân là em cũng có lý do riêng. Em không tin lời anh. Được rồi. Đời anh kể như đã hỏng. Anh đã phóng lao, thì phải theo lao. Từ nay, em sẽ thấy anh sống phóng khoáng, buông thả, tự do và “du đãng” cho mà xem.
Khổ nỗi! Mười không còn tin vào “những lời đường mật” khi mắt mình đã thấy rõ những hành động của Nam làm với kẻ khác. Bởi vì những hành động và lời nói của anh ta, khác xa với thực tế - Khác xa muôn trùng - Nên chi bây giờ đã trở thành nguyên nhân ngẫu nhiên cho những ngày tháng cãi cọ, xung đột xảy ra. Ngược lại, Mười càng ngờ vực chàng dối gạt, có dụng ý trả thù đẩy Nam vào cảnh tiến thối lưỡng nan. Trả thù chính Mười, Hà, hay trả thù đàn bà, mấy cô gái khác cũng nên. Nam có dự-mưu, tính toán chi đó. Nghĩ thế, Mười nhếch miệng cười khinh dễ, nghĩ mình phải nói câu gì khá nặng, để Mười có cái cớ, mà vĩnh viễn xa nhau - là vừa. Mười rất giận câu Nam nói nghe thiệt chói tai: “phóng lao, theo lao” là có ý thách thức, buông thả gì? Mười muốn dùng lời cay cú, để dày vò làm khổ Nam, cho hả giận. Mười đốp chát ngay một câu, (mà chính cô em không thể ngờ):
- Anh... em đã nhổ bãi nước bọt, nay em cúi xuống liếm lại rồi.
Nam giận run, bây giờ mặt chàng không trắng toát nữa mà đỏ bừng đau đớn kinh khủng, anh đứng phắt dậy, sửng sốt nhìn nàng. Những điều Mười vừa buột miệng nói câu vô ý thức do từ một hoa hậu. Nam khám phá điều thô thiển từ con ong khi thò nọc độc ra, để châm chích người khác. Anh thất vọng bỏ về, sau câu nói:
- Thật không thể ngờ...
Thì ra câu Nam nói “phóng lao, theo lao” ngày nay Mười đã hiểu: Vì mấy lần sau đó ít lâu không xa, nàng tình cờ gặp chàng cặp tay ca sĩ Lan (ca sĩ hạng bét hát phòng trà Maxim’s ở Đà Lạt). Họ vào tiệm Chà Và, cô ả mặt mày tầm thường, phấn son loè loẹt, áo quần diêm dúa, hở hang, đúng là hạng “gái tồi” chẳng giống con giáp nào. Ả trơ trẽn chỉ chỏ đủ thứ đồ đạc, đòi mồi chài xã láng nhiều thứ, bắt Nam mua cho. Mười nghe vài anh bạn nói: thời kỳ nầy Nam đã tâm sự với bạn là: Nam ăn ở chung với ả Lan như vợ chồng. Thật vậy, cô ả nầy sống với chàng lâu nhất, được khoảng năm sáu tháng. Tuy thế, vì kế sinh nhai riêng ả, chàng vẫn phải “thả” cho ả đi nhảy dù với kẻ khác những show thâu đêm suốt sáng. Những lúc đó, Nam không hề ghen tương, nhưng lòng thấy buồn bã và trống vắng, Nam mặc quần áo đi lang thang suốt đêm, như bóng ma.
Những ngày tháng sau đó trôi qua nặng nề, buồn thảm kéo dài sự xúc động, đớn đau triền miên, choáng ngợp góc trời thinh lặng mà Mười vẫn hít thở, run rẩy chờ đợi rất tuyệt vọng sự bình lặng trong tâm hồn. Đúng là nỗi đau đớn, tuyệt vọng, tủi nhục lần nầy, còn cay đắng dày xéo lên trái tim Mười gấp trăm ngàn lần cũ. Chết lịm từng ngày, từng tháng, từng năm, nàng chỉ muốn tan vào cõi vô cùng. Thì đó, mặt hồ muốn phẳng lặng, ấy mà, gió mưa cuốn trào những đợt sóng ngầm tàn khốc, xoáy thẳng vào đời nhau, làm xao động cuộc sống, luôn tách bạch hai tâm hồn đồng điệu, chia xa hai tầng cao, thấp. Quả thực ngày xưa ấy, họ sống bên nhau hài hoà theo nhịp đập cuồng quay, đầy rung cảm, cuống quýt, xao xuyến, rộn ràng vui tươi, trữ tình, niềm vui nỗi nhớ đập nhanh trong đôi trái tim.
Khi xa nhau họ cảm thấy trống vắng, hụt hẫng, quay quắt, đứng ngồi không yên, ưu phiền, hoang dại, thấm thía niềm cô lẽ. Thì ngày nay hai người quan niệm tình yêu hoàn toàn trái ngược nhau, đã trái ngược lại trăm phần trăm. Đó là lời đáp từ trong định nghĩa tình yêu đích thực là gì? nơi bến bờ hạnh phúc, tình yêu vĩnh cửu một đời của chàng và nàng là thế đấy! Tình yêu Phương Nam và Thương Mười đã xoáy mạnh theo dòng giông bão. Cơn lốc khốc liệt, xô đẩy hai người tốc về hai ngỏ chia xa, vĩnh viễn tách bạch mất rồi, hỡi tim đại mạc Tôi gọi đò yêu, chẳng trả lời
Sáng chiều trưa tối vẫn im hơi
Tiếng kêu vọng giữa vùng sa mạc
Như áng mây trời gió cuốn trôi.
Đại mạc hoang vu cát cuộn bay
Đêm tường cô tịch ai nào hay
Tương tư... tôi trái tim mềm nhũn
Những buổi chiều buồn chén cúc say.
Bão tố phím loan sóng nhấp nhô
Hoàng hôn từng đợt nước triều xô
Gió trong gan ruột vờn tim lạnh
Lại nhớ kêu ai tựa gọi đò.
Trả phòng ở bên Vĩ Dạ, hai người gọi taxi qua bên phố Phan Bội Châu vào Hotel Đồng Lợi. Phòng ốc ở đây tương đối sạch sẽ, thoáng khí, lịch sự, yên tĩnh. Khi Nam qua nhà Vinh ở bên kia sông, (đối diện gần phòng trọ hai người) thăm các bạn. Mười tắm rửa xong liền xuống lầu, ra chợ Đông Ba mua ít trái cây. Chàng về phòng, sau đó họ đi thuê bao một chiếc xe lam rộng thênh thang, họ không mời các bạn, muốn riêng tư đi với nhau, chỉ có hai người đi thăm các lăng tẩm nổi danh ở Huế: Minh Mạng. Thiệu Trị. Đồng Khánh. Tự Đức. Gia Long. Khải Định…
Lăng KHẢI ĐỊNH nằm riêng biệt ở phía Tây tĩnh mịch ở kinh thành Huế. Lăng tẩm uy nghi được xây dựng khi vua còn ngự trên ngai vàng nghinh tiếp tình yêu đôi trẻ. Họ dìu nhau đi dưới hai hàng hoa bằng lăng nở đầy cành, bước chân đôi trẻ phiêu bồng dẫm trên xác phượng vĩ đỏ thắm. Những con rồng to, những vị quan thần đá, mũ mão cân đai chỉnh tề, oai nghiêm. Hiện nay các lăng chẳng còn giữ được nguyên thể, dù đã nhiều lần trùng tu để nối dõi tông đường! Đầu tiên là hại bạn đi thăm: Lăng Khải Định (Ứng Lăng) tên thật của vua: Nguyễn Phúc Bửu Đảo, (1885-1925) Trị vì: 9 năm.
Chàng và nàng đã cười to, tiếng cười vang dội núi đồi thinh lặng, hai người nắm tay nhau, vừa chạy lên năm bậc thềm của các tầng sân tạo thành một trăm hai mươi bảy bậc cấp (127). Lăng đứng sừng sững trên triền núi phía Tây làng Châu Chữ, xã Thủy Bằng, Huyện Hương Thủy, có núi án núi chầu: Núi Chóp Vung, núi Kim Sơn. Lăng cách thành phố Huế 10 km, ngọn đồi nầy cao chót vót, chung quanh toàn cây đại thụ mọc um tùm, râm mát, che kín một vùng núi non có khe Châu Ê nước đục và độc. Lăng không trang trí hồ vọng nguyệt, không có cầu. Diện tích lăng rộng khoảng 330,05 héc ta. Lăng mới xây kết hợp hài hoà giữa kiến trúc Đông và Tây, bê tông, gạch nung, đá, cột paratonnetrre, tháp nhọn stoupa v.v...
Thanh long bạch hổ của tiền đình, hậu chấn, rồng chầu, hổ phục: tượng trưng bằng 2 voi. 2 ngựa. 10 tượng người đứng chầu quanh sân đại điện. Gian đại sãnh sơn son thiếp vàng, vòm cung nhọn, tường cột chạm trổ tinh vi, chi chít kỳ quan của ngành phù điêu khắc giao thoa độc đáo, đầy thẩm mỹ, khiến người xem rất kính phục, coi hùng vĩ, uy nghi hoành tráng bậc nhất với các loại bê tông, sắt, thép, sành sứ, long vân thủy họa, ghép ngàn vạn mãnh sành sứ thủy tinh, tạo thành nhiều bức họa long lanh sống động tinh xảo với “phúc” và “vạn thọ” phong thủy địa lý thủy thổ vững vàng:
Hai người bạn trẻ đứng trước ngai vàng có pho tượng đồng vàng bao phủ, ở ngoài tạc hình vua Khải Định, sau lưng vua ngự là phong cảnh mặt trời lặn. Còn một pho tượng vua Khải Định đứng thì đặt ở Trung Lập đình của cung An Định. Tay Mười nương nhẹ sờ lên nếp nhung-y, tưởng chừng nơi đây đang trỗi dậy thời oanh liệt, vàng son với vua chúa, quan đại cận thần, dũng tướng kiêu binh, cung phi mỹ nữ. Vua cai trị triệu dân, giữ gìn xã tắc sơm hà, giang sơn ấm no, hạnh phúc một thời lừng lẫy. Nam Mười cùng nhau hét thật to, tiếng vang ngân từ xa vọng lại, như những dịp sấm rung dồn. Khi chàng hái được bông hoa thọ sim, anh cười ngặt nghẽo, chọc quê Mười. Hai bạn trẻ vừa chạy lên rồi chạy xuống những bậc cấp lăng, vừa đếm những (127) bậc cấp:
- Một, hơi, boa, bốn, nem, séo, bởi, tém... chín mừi… một trem lẽ tớm...
- Cha cố bà, mấy lâu ni, tui mới tìm thấy một bông thọ sim để tặng em. Hí!
Thế là Mười lượm lặt sưu tầm ít văn thơ đặc biệt của thổ ngữ miền Trung, đọc lên cho Nam nghe. Anh con trai miền Nam khoái chí cười ha hả, cố học thuộc lòng:
"Khôn" là đồng nghĩa với không
Chẳng muốn lấy chồng = "khôn muốn lấy dôn"
"Đoản hậu" là "Ác" en ni.
Tui đã... im lặng cứ đi theo hoài
Nhà tui còn khoảng đường dài
Có chi noái nấy, ngày mai hết rồi
Trên cao thì nói "trên côi"
"Đi rượng" là lúc sóng đôi như chừ
"Phủ phê" là lúc thặng dư
Như là tình cảm "đã nư", no đầy
"Như ri" có nghĩa như vầy
Mô Tê Răng Rứa, em quay... mòng mòng. (*)
Bởi vì hôm nay là ngày thường, nên các lăng tẩm rất vắng khách vãng lai. Đôi bạn đi giữa hai hàng hoa bằng lăng tim tím, mỗi khi có gió lùa thì nhiều cánh hoa rơi lả tả ven tường. Trước thềm rộng, hồ vọng nguyệt sen nở rộ, lá sen ôm kín mặt nước ao tù thăm thẳm. Chàng và nàng tha hồ chơi trốn tìm, rượt bắt cứu tù náo loạn. Rồi họ đi đánh trống dộng chuông inh ỏi. Khiến một cô gái xinh đẹp, cỡ trạc tuổi Mười đang ngồi học bài (có lẽ là con gái của người gác lăng), cô gái nhăn mặt, nhíu mày tỏ vẻ khó chịu. Thấy thế, MườI và Nam trêu cô gái:
- Trời đéc thánh thiền thiên địa quơi, ui! tui noái thặc dư ri… em đừng théc méc nghen: reng mờ im đệp chi, mòa im đệp éc ôn, đệp ớc liệt rứa, hỉ!
- Em ui, cho anh Nam hỏi nè, có phải lờ” :
"Răng chừ" đồng nghĩa "khi mô"
"Khi mô" có nghĩa khi nào đó thôi
Khi mô có cặp có đôi
Răng chừ hết cảnh tuổi đời bơ vơ
Đơn côi "cái trốt" dật dờ
Là ôm đầu bạc "cà ngơ" một mình
Lặng yên thì nói "mần thinh".
Để nghe len lén duyên tình giăng tơ. (*)
Nói xong, Nam đưa thỏi chocolate cho cô gái:
- Cô đeng mần cới chi rứa, cô có en sô cu la khôn? Cô khôn en, thì cô tét đèn đi ngủ, hén. Chớ không thì, súng sép bén đùng đùng. Mà nè cô cô cầm cái kéo và noái: ẻm của tui cần két mớ tóc dời tới lưng dư rớ. Cô két tóc đứa em trụi lủi, thì em của tui sẽ giơ ra cấy trốt, lòi da đầu ra răng? Rùi cô hô: Cô sẽ đi xung phen, để bén cái thèng cha người Nôm ni phẻn động... Chéc là tui chết. Hỉ!
Cô gái không vừa, nàng cũng có một khối sưu tầm thơ văn nguyên bản của Cai Vĩnh, cô gái đã đem thơ ca ra đốp liền:
"Mần chi" ai hỏi làm chi
Em muốn làm gì, "răng hoải mần chi?"
Thế này thì nói "ri nì"
"Rứa tề", thế đó mần chi đây hè?
Cái cây thì noái cái "que"
Còn ở trước hè lại nói cái "cươi"
Cái "ôn" bản mặt tươi tươi
Ưa đi tán bậy là người "vô duyên" (*)
Sẵn trớn, Nam vui vẻ ôm Mười vào lòng và “ca” mấy câu thơ đã lượm lặt:
- A ha. Như vậy là O nớ đã có dôn rồi hí, để tui thỏ thẻ noái cho O nghe hí: Nếu biết rằng em đã có chồng.
Cho anh gặp chàng có được không?
Để anh hậu đãi chồng em đã…
Rước giùm của nợ, lập đại công.
Nếu biết rằng em sắp lấy chồng
Anh về tát nước cạn dòng sông
Để cho đám cưới không qua được
Đừng có mà mong được động phòng. (*)
Cô gái ngượng quá nguýt hai người một cái dài, dài có đuôi… cô ta xù mặt ra, vội quơ tập sách chạy biến vào hậu trai, giữa tràng cười của Nam và Mười trải dài trên khu đồi quạnh vắng. Nam Mười cùng nắm tay nhau, chạy xuống trăm bậc tam cấp.
Hai người đến lăng TỰ ĐỨC xa thành phố Huế 7 km. Chu vi 1200/m, diện tích 10/ha. Lăng ngự tọa ở núi Khiêm Sơn, hướng Tây Đông có núi án, núi chầu Dẫn Khiên Sơn, Động Án tại thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân.
Lăng Tự Đức có cửa tam quan hai tầng, vào sâu bên trong sân là những tòa nhà xây gạch, có lối kiến trúc độc đáo; nhưng nhìn chung thì nhà cửa phòng ốc có phần rườm rà. Khiêm Lăng, tên thật vua là Nguyễn Đức Hồng Nhậm 1829-1883. Trị vì 35 năm. Vua là người nhân hậu, đa cảm, uyên thâm học vấn: Sử, Triết, Nho, xuất sắc nhất là văn học, một ông vua tinh tế có óc thẩm mỹ, và là một thi sĩ đa tình, thâm trầm, vua đã để lại nhiều bài thơ trữ tình. Khiến Mười hình dung đến vị vua cao trọng tôn qúy ấy mỗi khi rãnh việc nước, vua cùng đoàn mỹ nữ nhàn du, từng đặt chân đến nơi nầy, họ thi ca vịnh nguyệt, ngự tửu yến tiệc, đọc sách ngâm thơ. Phía tả hồ có bắc ba cây cầu, hồ mang tên Lưu Khiêm có dựng đảo Tịnh Khiêm. Trên hồ nước trong xanh mọc đầy sen trắng, tím, hồng coi sinh động, cạnh ven hồ là những con đường xinh xắn uốn lượn, và một rừng thông xanh ngút ngàn suốt tháng năm phóng khoáng reo vi vu dưới màu trời sắc nước rất yên tĩnh trầm lắng mà thơ mộng.
Qua phần núi Đại Thiên Thọ cách kinh thành Huế 16km, là lăng GIA LONG có chu vi 1800/m, diện tích 20/ha. Thọ Thiên Lăng tên thật vua là Nguyễn Phúc Ánh, 1762 – 1819. Trị vì 17 năm. Phong cảnh hữu tình, địa thế hài hòa, khung cảnh trầm lắng thơ mộng mà uy nghi. Đây là lăng của một ông vua đã tiên phong khai sáng một triều đại phong phú đa dạng. Lăng ở nơi xa xôi, rộng rãi mênh mông, hoang vu, và bình dị. Lên những bậc tam cấp, nơi chính điện xám xịt đồ sộ, mái cũ rêu rong thâm u, đặc biệt có hai ngôi mộ đá thanh xam xám, đơn giản, màu than đá không hoa mỹ, đó là: vua và hoàng hậu đã nồng ấm nằm an giấc ngàn thu bên nhau, không có lăng tẩm nào có hoàng hậu nằm chung mộ phần với vua giống lăng Gia Long như thế. Hai hàng quan Văn, Võ gồm 10 người.
Những con rồng chầu, kèm hai voi, hai ngựa. Sư tử đắp bằng vôi gạch mặt xanh, mắt đen, lưỡi thòng dài xuống quá cổ, đuôi cúp giữa bốn chân, mang tư thế trung thành, nhẫn nhục đứng chầu trước ngọ môn. Mặt hồ phẳng như gương soi, nước im phắt rất mang tên Dài, vẫn gợi lên trong lòng Nam Mười cảm giác rờn rợn, lạnh lẽo u tịch, đầy hình ảnh sự tích thời cổ xưa nối đuôi nhau lướt bóng thời gian, như bóng mây nhẹ lướt qua đời, bay trên cánh đồng cỏ xanh rờn vào những tháng ngày nắng ấm. Nơi đây, Mười thích nhất là lối kiến trúc độc đáo, sâu sắc, điêu khắc tinh tường, đặc biệt chiếc ngai vàng kê giữa chính điện, quả là một kiệt tác diễm lệ dường bao!
Hai người lững thững trở về lối cũ gọi đò đưa sang bên kia song. MườI và Naṃ đưa nhau đi qua lăng MINH MẠNG tức Hiếu Lăng, (tên thật vua Nguyễn Phúc Đảm 1791-1840) Trị vì 20 năm. Lăng an ngự ở hướng Tây Đông, chu vi 1732/m, diện tích 15/ha trên vùng núi Cẩm Kê. La Khê, xã Hương Thọ, Huyện Hương Trà. Lăng Minh Mạng cách xa thành phố Huế 12 km, có địa thế án núi do Kim Phụng núi chầu. Lăng đường bệ, hài hoà, được bao bọc bởi bức tường thành cao 3m, dày nửa mét. Mặt trước có ba cửa vào lăng đăng đối theo trục thẳng. Lăng nổi tiếng hoang-vu, ảm đạm, tàn phế. Lăng chiếm cư trên vùng đất xa xôi, vắng ngắt, rêu phong hoang dã, mái vòm gạch ngói tróc lở.
Suốt dọc hai bên đường đất đỏ cỏ rậm chằn chịt với cỏ tranh mọc lên lút ngực, trông càng tiêu điều, hoang phế, cô liêu. Buồn tênh phiền não đến ghê rợn. Trong lăng đường bệ, im ắng, uy nghiêm, đăng đối. Bên ngoài thỉnh thoảng có nhiều tiếng chim hót líu lo trên cành. Mấy cái hồ xanh biếc im lìm mọc đầy hoa sen và cảnh nước mây trời. Đứng trên cầu Hữu Bật chia đôi mặt hồ thành con dường dài dẫn lên lăng, thì nơi hoang tịch nầy chỉ có Nam và Mười. Cảm thấy rờn rợn, sợ hãi, nên hai người thì thầm bảo nhau trở về.
Ra tới bờ sông, hai người nằm ngửa trên lớp cỏ mềm và dày để đợi ông lái đò sang đón. Chàng hú lên những tiếng quái dị, đầy man rợ. Khi thì Nam trổ giọng kim, khi đổi giọng trầm ồ ồ. Rồi anh xổ một tràng dài tiếng Anh, tiếng Tây, tiếng Tàu, chen tiếng Ấn Độ, tiếng Miên, hay tiếng ba xàm ba láp “tào-lao” nghe rất quái gở! Trong khi đó Mười bụm hai tay trên miệng phụ-họa Nam là những tiếng hót chiêm chiếp, tiếng khẹt khẹt, tiếng ụt ịt, tiếng ò ó o...ù ú u... “Giỡn hớt” với nhau giữa chỗ không người, hai người sung sướng thoảI mái cười đau thắt ruột.
Bất thần, Mười Nam trông rõ có một đám du khách bốn người đang xuất hiện trên đường mòn, cỏ tranh lút gần tới bụng họ. Do Mười, Nam đang nằm trên cỏ bồng khuất lấp, bởi thế những du khách kia không thể trông thấy hai người, nhất là vùng nầy quá hoang vắng. Nên khi vô tình nghe những tiếng tru hú dị hợm ấy, họ hốt hoảng, lo sợ, xô nhau chạy về bên bờ song cạnh con đò ngang. Du khách yếu bóng vía đành trở về bên kia sông, không được thưởng ngoạn danh lam thắng cảnh của Đế Đô rồi. Lăng Minh Mạng nổi tiếng là có yêu tinh, ma quái mà lị! Càng nổi tiếng là có phường gian, ăn cướp, kẻ cắp đang ẩn núp đó đây, nên ít ai dám lên đò qua sông vào lăng Minh Mạng lúc choạng vạng hoàng hôn cả.
Nam kéo tay Mười đứng lên, vội vàng chạy theo họ, để lên đò qua song. Trả tiền cho bác lái dò xong:
- Nếu có máy ảnh, lúc đó mình chụp lại vài tấm, để lộng-kiến, em nhỉ!
- Để liệng-cống thì có. Nhìn chúng mình cười rũ rượi như đười ươi í.
- Lý tưởng chứ.
- Lý tưởng gì! Lý tưởng là mình tưởng những điều ấy có lý ha.
Môi hôn chàng phớt nhẹ trên môi nàng, Nam tủm tỉm nhìn Mười, cười cười như trêu ghẹo. Họ nhảy tót lên xe lam lúc nãy đã thuê bao. Hai anh chị ngồi thở dồn, giả vờ đứng đắn, nghiêm trang nhất thế giới. Nhưng Nam và Mười âm thầm kín đáo liếc nhìn bốn anh chị du khách kia, (họ xin Nam cho họ đi nhờ theo xe Nam đã thuê bao để về phố). Nam không do dự, đã đồng ý. Trên xe Mười và Nam cứ tủm tỉm, nháy mắt nheo mày, ngầm ngầm hân hoan vui thích những chuyện trêu chọc người ta, mà khoái... Không có gì ở đời khiến đôi trẻ hạnh phúc bằng tình yêu chân thành, say đắm và sự trìu mến đạt đến mọi cảm thông.
Xe lam đưa họ tới chùa THIÊN MỤ xa kinh thành Huế 5 km, chùa uy linh nằm trên đồi Hà Khê, chùa cao bảy tầng, mỗi tầng có tượng Phật soi mình chếnh chếch trên sóng nước ở tả ngạn sông Hương. Người dân thị thành luôn nghe tiếng chuông mỏ ngân rền dưới tháp. Tựa mình bên nhau, Nam Mườị đứng nhìn xuống dòng sông Hương lờ lững trôi giữa hai bờ tre trúc uốn mình trong gió hiu hiu. Những con đò nhẹ nhàng khua sóng, tìm về bến đậu, tiếng hát câu hò thoảng đưa, nghe đượm màu dân tộc, chan chứa ngày mai, thì còn bức tranh tuyệt tác nào qua nỗi buổi hoàng hôn, nơi vùng tranh tối tranh sáng, mờ mờ ảo ảo, giữa bè mây vàng tía, nhẹ lâng lâng, dáng chiều ươm hồng thắm mặt đất theo: "Gió đưa cành trúc là đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương”.
Ngày thứ năm – chàng và nàng vào thăm THÀNH NỘI, thăm Hồ Tịnh Tâm. Buổi chiều họ đi biển THUẬN AN. Buổi tối, hai người ra ngoài balcon nhìn xuống phố Phan Bội Châu, (nơi nầy xe cộ chỉ có phép xuôi theo một chiều, để đi lên hướng chợ Đông Ba. Nếu xe cộ muốn đi về hướng Bao Vinh, là xe cộ chỉ được phép lưu thông trên con đường Huỳnh Thúc Kháng dài ngoẵng nầy ôm ven bờ sông Bạch Đằng). Người người đi bộ, hoặc chạy xe đạp, xe gắn máy, xe xích lô, xe hơi… Lòng phố đông như kiến chạy xuôi về hướng chợ Đông Ba. Chợt Mười thấy anh Bảy của nàng đang cởi chiếc xe vespa Italy, anh mặc bộ đồ sport trắng, anh đi đánh tennis. Mười chỉ cho Nam nhìn thấy anh, nàng nép sau lưng chàng, sợ anh trai vô tình ngước nhìn lên, sẽ bắt gặp mình, thì chết.
Ăn cơm nhà hàng xong, Mười vào nằm nghỉ trên phòng. Chàng đi hội chợ với các bạn. Trong phiên chợ đêm, Nam chơi ném tên, ném cổ vịt, chơi bắn súng. Nam chơi cái gì thì trúng lớn cái đó. Nam ăn được hai chục ngàn đồng. Trong khi ấy thì các bạn thua to. Nam bù cho các bạn gấp đôi số tiền họ đã thua. (Ấy thế mà anh chả đưa cho Mười đồng nào ha!?) Khi chàng đi chợ đêm về, Nam mở khóa cửa thật nhẹ, vì ngỡ là Mười đã ngủ. Nam đi tắm, rồi lên giường hôn phớt lên má Mười. Nàng quàng tay qua cổ anh ghì xuống. Chàng và nàng muốn trao nhau mật ngọt tình yêu chân thật, run rẩy và táo bạo. Giữa lúc đôi trẻ ngỡ rằng hai người phải hòa tan tuyệt đỉnh tình yêu trong nhau, thì Nam đã thắng lướt được khuynh hướng bẩm sinh, mặc dù khuya nay, cả hai người không còn mảnh vải che thân. Chàng dặn dò Mười:
- Nếu khi thấy anh “đi quá trớn”, em nhớ tát tát vào má anh, cho anh tỉnh người. Nhé.
- Dạ vâng!
- Mười yêu của anh. Anh quyết giữ gìn em trọn vẹn. Không muốn xâm phạm em. Bởi vì, anh rất yêu em.
- Chúng mình đã thắng định mệnh một ván bài rồi đó anh.
Kỳ diệu thay. Lý trí đã vượt lên cao, để dập tắt ngọn lửa tình hừng hực cháy trong đôi trái tim: Ôi! “chí lớn trong thiên hạ, không đựng đầy trong đôi mắt mỹ nhân”. Cả hai người cùng hiểu rất sâu sắc rằng: Chuyện trở thành vợ chồng, sẽ không bao giờ xảy ra giữa hai người. Khi mà Nam + Mười chưa chính thức làm đám hỏi, đám cưới. Chàng - nàng quyết giữ gìn tình yêu sạch trong, không xâm phạm đến tiết hạnh cuả nhau. Để lãng quên ngọn lửa tình đang bừng bừng, chực đốt cháy hai thân thể, chàng gọi Mười đi ra ngoài balcon. Họ nhìn qua nhà Vinh ở phía sau khách sạn, trước bến sông Bạch Đằng, họ ngắm trăng rụng xuống dòng sông mờ đục. Chàng nói:
- Anh đố em biết: Có hai người chạy đua xe đạp, trên đoạn đường dài ba cây số. Đích cuộc đua là một bờ sông. Ông A chấp ông B, chạy trước ông ta bảy phút. Hỏi em rằng: Ai sẽ thắng?
- Ông A dám chấp ông B, như vậy có lẽ ông A giỏi hơn, ông A sẽ thắng.
Chàng mỉm cười, hôn lên má Mười cái chụt, lắc đầu lia lịa. Nàng nói:
- Vậy thì ông B. Phải không anh?
- Sai quá sá rồi.
- Vậy chứ ai nào?
- Cả hai cùng thắng.
- Kỳ lạ nhỉ!
- Nếu cả hai ông không ai chịu thắng... xe, thì rơi tỏm xuống sông, chết đuối sao! Ngu gì chết? Hở em!
Cả hai người cùng cười vang. Tay trong tay, họ trở về phòng. Ngày thứ sáu- Nam Mười đi thăm Truồi, lúc về ghé núi Ngự, ăn bánh bèo ở Ga. Chiều qua ăn bánh xèo ở Trần Hưng Đạo. Ối Trời! Lúc đó Mười thấy Đan đứng trước sân nhà, anh ấy chống tay lên hông nhìn ngược lên hướng cầu Trường Tiền. Bên cạnh anh là mấy cô em gái rất xinh, họ đang nói chuyện vui vẻ. Chẳng hiểu sao Mười run run, lấm lét nhìn Đan, rồi quay phắt đi nép mình bên Nam. Mười nói nhỏ đến nỗi Nam phải cúi sát xuống đầu nàng, hỏi lại:
- Ấy, anh đừng qua lối đó. Anh Đan đứng kia kìa.
Theo hướng Mười chỉ, Nam ngước nhìn, rồi cười nhẹ:
- Anh Đan beau trai, em nhỉ!
Mười gật đầu. Hai người rẽ qua đầu cầu Gia Hội, lững thững trở về phòng. Chàng đã rõ câu chuyện Đan có dự tính sẽ về bàn tính với gia đình, xin làm đám cưới với Mười (sau ngày anh đi phép). Nam chỉ nghe Mười kể thoáng qua, không ngờ chàng vẫn ngậm ngùi. Buổi tối, chàng thuê chiếc đò, cùng Mười, Thạch, Vinh, Phong, Hải, Trí, ngồi đò chèo đi dạo trên sông Hương thơ mộng. Các anh có trò chơi chọc phá nhau ngộ lắm. Cứ thỉnh thoảng có một anh giả vờ gọi tên bạn nào ngồi ở trước, anh kia quay lại, liền bị ngón tay mình chỉ vô má. Thế là cả nhóm cười vang. Hoặc ai đó nói câu gì nho nhỏ, một vài anh không nghe rõ, liền quay lại, tức mình “há” lên một tiếng to. Thế mà cả nhóm vẫn vui vẻ cười vang.
Ngày thứ bảy cuối cùng – (trong một tuần lễ rất hạnh phúc), thật bình an – chàng - nàng nằm bên nhau suốt ngày, đêm, như đôi bạn chí thân, cả hai người đọc lại cho nhau nghe những lá thư đã viết. Sau khi đi ăn cơm tối, Nam đi mua vé xe bao các anh Thạch, Phong, Hải, Vinh, Trí, đi về Đà Nẵng. Nàng ở trong phòng, lo thu dọn hành trang, áo quần vào valy mỗi người, chuẩn bị sáng mai lên đường. Đúng lúc nầy Mười “bị” sớm hơn mọi tháng những 5 ngày. Không ngờ bị sớm thế, nên nàng đâu chuẩn bị gì. Nam đi mua vé xe xong đã về phòng, biết Mười “bị”, chàng lại xuống phố mua serviette giúp cho Mười. Ôi, nàng mắc cỡ, ngượng ngùng không sao tả hết, cúi cúi liếc liếc, ỏn ẻn Mười nhỏ nhẹ cám ơn chàng.
* * *
Trở về Đà Nẵng, Mười đã quyết định nghỉ việc, chấm dứt mọi liên lạc với bạn bè cũ. Nam ở nhà anh chị bạn tên Phong tại đường Hoàng Diệu. Thỉnh thoảng hai người gặp nhau ở nhà anh chị Thương. Những ngày ngắn ngủi còn lại, Mười sống riêng cho Nam. Ngày cuối, chàng & nàng, các cháu Châu, Trân, Vân, Sơn, đi picnic tại biển Mỹ Khê. Chưa đi tắm biển nầy lần nào, nên Mười dẫn Nam, các cháu, đi lạc vô khu dân chài sinh sống. Không có bãi tắm. Nước đục và dơ ơi là dơ. Trên bãi cát đủ thứ phóng uế bừa bãi. Bẩn thỉu kinh khủng. Ngồi một lúc, ruồi xanh ở đâu bu vào đầy người. Dì cháu Mười, Nam, đành xách giỏ thức ăn, đi bộ lên phía khác xa chỗ cũ. Nơi đây vẫn không lấy gì sạch sẽ tươm tất, tuy thế đỡ dơ hơn chỗ lúc nãy khá nhiều. Chàng, nàng đều tiếc rẻ, nếu biết bẩn thỉu như vậy, anh em dì cháu cứ đi đến biển Thanh Bình, như hôm trước có lẽ thích hơn.
Chàng mặc chiếc soọt đỏ chạy đi tắm, chiếc quần đỏ in hẳn màu da trắng ngần trên nền trời xanh biếc, biển bao la xanh thẳm một màu sau lưng Nam, mái tóc bay xô lệch theo chiều gió. Nam đứng chống tay lên ngang hông, nụ cười đầy tin tưởng, mắt ngời sáng nhìn những cánh buồm căng gió. Ngâm mình trong nước, chàng bơi lội thoải mái. Khá lâu, Nam lững thững lên bờ. Trong khi các cháu còn nô đùa với biển cả, anh chạy về dưới hàng phi lao. Nằm ngả lưng bên Mười, Nam quay sang ôm hôn Mười, bỗng đâu có đám trẻ con của làng chài đã phục kích ở mấy bụi cây lúp xúp, chúng đồng loạt bò lổm ngổm tới gần rình xem. Thật là quê xệ một cục! Mắc cỡ muốn dộn thổ! chàng, nàng, bẽn lẽn gọi các cháu đi về phố.
Buổi chia ly đã đến. Mười nghe tiếng gió rít trên tàng cây me trước sân nhà, cung đàn trầm lắng, xôn xao, ríu rít, bâng khuâng và băn khoăn vô ngần. Tai Mười nghe dư âm tiếng sóng gầm ngoài bờ biển Thanh Bình. Tiếng gió mưa ào ào, dội lên nóc nhà tôn bên Vĩ Dạ. Tiếng sóng nước vỗ vào mạn thuyền, với mái chèo khua sóng, tiếng hò khoan xuôi nhịp trên dòng Hương Giang. Muôn vàn xác hoa phượng rải trên lối cũ, dẫn đến các lăng tẩm hữu tình, thoảng nghe những lời ân tình, trìu mến.
Nam thắm thiết dặn dò:
- Anh về Sài Gòn, anh sẽ bỏ Đại-học Y Khoa. Anh xin ba má cho anh lên Đà Lạt học Văn-khoa vào niên khóa tới, để cho được gần em. Lúc anh ra đi, ba má đã nói rằng: Nếu em chưa lập gia đình, thì ba má rất sẵn lòng cưới vợ cho anh. Nhưng em biết rồi, sự nghiệp tương lai và hạnh phúc vợ chồng, do chính anh tạo nên. Mình phải có sự nghiệp trước, lập gia đình sau, là tốt. Còn em, em hãy xin ba má về Đà Lạt nhe. Chúng mình ở Đà Lạt, sẽ không sợ ai chia cách, phân ly nữa. Bây giờ, em yên tâm nghỉ ngơi ở nhà, em không đi làm nữa nha.
Mười gật đầu thật ngoan. Tuy nhiên, tự trong thân tâm nàng cảm thấy âu lo, vì chẳng lẽ Mười cứ ngồi ở nhà anh chị, không làm gì ra tiền phụ giúp họ trang trải tiền nhà, tiền chi phí sao? Nếu Mười cứ nhàn cư vi chờ đợi Nam một thời gian quá xa vời? Nhất là hiện nay nhà anh chị không khá giả, Mười không thể ăn không ngồi rồi. Coi sao được. Thậm chí ngay chính Mười cũng cần có tiền, để chi cho cá nhân những món cần thiết. Dứt khoát chàng là con nhà giàu, ăn Nam không phải lo, mặc Nam không sợ thiếu, nên chàng không nghĩ ra điều thực tế mà cần thiết đó.
Hình bóng Đan chợt hiện về trong tâm tư nàng, chàng lính chiến phong trần ấy đã yêu nàng tha thiết, dù chưa một lần tay nắm bàn tay, chưa một lần ở từ xa anh đưa bàn tay lên hôn gió. Hay anh hôn lên tóc Mười, dù chỉ nụ hôn phớt nhẹ trên mái tóc. Ấy thế mà Đan đã ngỏ lời cầu hôn với Mười. Anh tính chuyện hò hẹn đính ước hôn nhân, khi anh về phép thăm gia đình vừa qua. Ngày ấy nàng đã nói với Đan:
- Cho em suy nghĩ, và xin thỉnh ý của ba mẹ, Mười sẽ trả lời anh sau.
Mười vẫn suy nghĩ việc Mười từ chối lời ân cần cầu hôn của Đan với mình: thật sự xấu hay tốt, đúng hoặc sai đấy nhỉ!? Mười có cảm tưởng nửa tháng trọn vẹn hạnh phúc tinh tuyền bên Nam- một hạnh phúc trong vắt, sáng ngần- như phiên gương vừa rửa sạch- đã trôi tuột quá nhanh qua vùng trời Đế Đô êm đềm- là những ngày tươi thắm, đắm say, nồng nàn, tuyệt diệu nhất. Có lẽ, suốt đời người -mai sau- sẽ không bao giờ tìm thấy được, hình bóng thuở đầu đời! Vì, đó là hạnh phúc xanh xao, non nớt rất trinh nguyên, lồng trong áng mây hồng thắm sắc quyện tơ vàng giữa buổi hoàng hôn, làm rạng ngời mối tình niên thiếu tuyệt vời. Mười biết rằng: Hạnh phúc có thật rất tuyệt! khá trân quý nầy đang đứng gần bên, hay thoáng lướt qua - ở đâu đây. Mà, Mười không biết, để nắm giữ lại.
Phải chia tay nhau là chuyện thường tình, và nhất thời. Nhưng lần nầy Nam và Mười cảm thấy khác hẳn lần chia tay năm nào. Khi xưa chàng ở Đà Lạt - đau buốt, buồn xo đi về Sài Gòn. Mười bị chị Khánh cho mấy cái tát tai, chảy máu mũi, rồi nàng bị tống lên xe đi về Huế. Lần nầy, Nam đành lên xe trở về Sài Gòn, khi sương khuya rơi ướt đẫm mái nhà em. Nhưng lòng Nam hân hoan, vui vẻ, đầy tin tưởng và hy vọng vào mối tình chân chính. Mười ở lại Đà Nẵng huyên náo, vui nhộn. Cuộc sống trong thành phố như ngái ngủ và đơn điệu (đối với riêng nàng) xuôi dòng, cứ lặng lẽ trôi đi... cùng mối tình cháy lòng. Với bao kỷ niệm êm đềm, đắm say, còn tươi nguyên dấu vết. Mối tình bất diệt sẽ không ai có thể phân ly, chia cách được.
Dù không thể ở mãi bên nhau, chưa thể đi chung trên một con đường. Đôi ta chưa đủ điều kiện để có thể thực hiện lý tưởng, nguyện ước sum họp dưới mái nhà hạnh phúc bền lâu. Nhất là Nam và Mười biết rằng: Chúng mình yêu nhau tha thiết. Cần có nhau. Vì nhau. Sống cho nhau. Suốt đời. Điều chúng mình thiết tha mong ước và sự thành tựu - là hai điểm khác nhau. Không hiểu rồi đây - trong tương lai- Chúng mình sẽ thực hiện, đến mức độ tối đa nào?! Hở anh yêu !?
Khi ánh nắng chiều cuối cùng trong ngày trở nên nhợt nhạt đang theo nhau rút qua song cửa, kéo bóng tối từ các xó xỉnh lan dần, lan dần ra…, đêm đen tràn ngập trên thành phố Đà Lạt, qua những con đường vòng luôn uốn lên uốn xuống như rắn lượn, nhà nhà nhấp nhô cao thấp bên những sườn đồi đã lên đèn, thì nỗi nhớ nhung xa vắng cũng choáng ngập cõi lòng Mười. Mười thu mình trong góc phòng lạnh lẽo rộng mênh mông không ánh nến, chẳng đèn soi. Nàng sống âm thầm lặng lẽ như con ốc sên suốt đời thu mình trong vỏ. Lòng Mười dâng lên nỗi dày vò xiết dỗi, hụt hẫng, đớn đau muộn phiền thấy rõ.
Cứ như thế như cơn mê trôi qua… cho đến một hôm người làm vào trong phòng của nàng báo là: “có cậu Thạnh ở Sài Gòn mới lên, và có cậu Nam đến thăm nhà, nữa cô”. Bỗng nhiên căn phòng nhỏ của Mười đang lạnh lẽo càng lạnh giá im lặng như tờ. Vừa muốn thoát ra khỏi phòng, quay lưng đi chạy trốn, vì Mười rất sợ phải chạm trán với Nam, nàng không muốn gặp mặt Nam nữa. Đúng lúc ấy Thạnh và Nam xuất hiện ở mấy bậc thềm. Mặt Mười đỏ rần nhưng toàn thân lạnh toát, nàng run rẩy, lúng túng nép sang một bên tường để nhường lối. Mười ấp úng câu chào hỏi nho nhỏ. Ngượng ngùng, Mười mỉm cười nhìn Thạnh, rồi quay ngoắt đi chỗ khác, không hề nhìn Nam và chào, làm như Thạnh đến thăm nhà chỉ có một mình. Mặc dù Nam đang đối diện và đăm đăm nhìn Mười. Đôi mắt tối sầm lại, trái tim nàng dường như có bàn tay vô hình bóp nát, khi Mười nghe Nam nói:
- “Toi” ngồi đây chơi, “moi” đi dạy kèm, lát nữa, mười giờ rưỡi “moi” quay lại đón nhe.
Sự thật là Nam vẫn đi dạy kèm Toán, và Pháp-văn cho cô bé Kiều Sa ở đường Phạm Phú Thứ từ mấy năm nay. Nam đi rồi, thì Mười vui vẻ mời Thạnh ra phòng khách ngồi, nàng nhanh nhẹn đi rót trà nóng mời Thạnh uống. Hai bạn nói quanh đi quẩn lại chuyện nắng mưa Sài Gòn – Đà Lạt. Rồi, cuối cùng Thạnh đằm thắm nhìn Mười mở đầu:
- Điều rất cần thiết hiện nay Mười nên biết là: Nam có ưu điểm đặc thù, đặc tính duy nhất ấy rất dễ thương đó nhe. Tuy nhiên, làm người mà, ai ai cũng có chút lầm lỡ. Ăn thua là mình có biết sữa sai, và từ bỏ hay không. Phải không Mười. Vã lại, khi thấy một người sắp chết đuối, Mười có chìa tay ra, để cứu vớt họ lên khỏi mặt nước hay không? Nam cũng vậy, anh ta giàu tình cảm, nhưng ẩn dấu bên trong nhiều đợt sóng ngầm và ủy mị yếu đuối. Nam rất cần vòng tay yêu thương và chân tình, mật thiết của Mười chia sẻ; như là một người bạn tri kỷ, một người yêu dịu dàng thấu hiểu, một người vợ yêu thương chịu đựng, thông cảm, tha thứ, hay có thể là như một người chị bao dung.
- Thương Mười chỉ cần biết Nam rất yêu Mười, yêu kinh khủng! Có những năm Nam đã vì yêu Mười tha thiết, mà Nam từ bỏ tất cả. Hẳn là Mườii không hay biết, nhưng Thạnh là bạn thân nên biết về Nam khá rõ. Rồi do đau khổ vì Mười, nay Nam sống buông thả, bất cần đời. Âu đó… do Mười có chút phần trách nhiệm. Thạnh nói “có chút” thôi. Không phải là Thạnh muốn “trăm dâu đem đổ đầu tằm” đâu nhe.
Mười trợn mắt nhìn bạn định phản đối, Thạnh mỉm cười tế nhị và đằm thắm:
- Mười biết không, bạn gái (ở đây Thạnh nói rất đơn thuần, không có hàm ý gì, đúng nghĩa là bạn gái của Nam à nghen), không phải là ai ai Nam cũng yêu họ, giống như Nam đã từng yêu Mười say đắm đâu nà.
- Mười nghĩ không đơn giản như vậy. Vì chính thân Mười chung thủy với Nam. Nên Nam khiến Mười thất vọng và đau khổ quá chừng. Niềm tin yêu đã bay mất rồi, thì khó lòng lấy lại được. Thạnh à.
- Nam và Mười phải có những điểm dị đồng, mới có thể chung sống với nhau trong mái gia đình.
Thạnh nêu ví dụ đơn sơ nè: Nam là cái ly đựng đầy nước trà nóng ha, thì Mười phải là cái dĩa, để cái ly có chỗ đặt lên điểm tựa, không bị rơi. Mười nên biết Nam là cái ly tràn đầy nước, mà Mười cũng muốn mình là cái ly đầy nước? Thì làm sao lồng trong nhau, úp lên nhau, mà không bị đổ, vỡ, hay tung toé nước đi? Mười phải là cái diã, cái diã để “chịu đựng và bao dung” Nam là cái ly sang ngời: Thì cả hai đều hoà hợp, tương xứng, ấp ủ nhau đêm ngày. Tình cảm tương tựa như thế! Cần có sự khoan dung, nhường nhịn, tha thứ, và đặt đúng chỗ, đúng nơi. Mười à!? Mười đã yêu Nam đến thế, thì hãy đến với Nam bây giờ, không chần chờ… đến khi quá muộn.
Mười nhìn Thạnh đăm đăm, nàng chưa biết trả lời ra sao cho đúng với tâm trạng mình rối beng. Thạnh cúi xuống thềm gạch bế con chó cún non nớt lên, và nương nhẹ ôm vào lòng, Thạnh vuốt ve vỗ về. Con vật rên ư ử trong cổ họng, và ngủ vùi. Mười nghĩ: “Đối với con vật mà Thạnh có cử chỉ trìu mến đến thế; thì nếu ai có diễm phúc là vị hôn thê của Thạnh, hẳn là “nàng ấy” sẽ rất hạnh phúc”. Thạnh lại cười vui, giọng nói chân thật, ấm áp, nhã nhặn, mang nhiều chí tình hàn gắn cho Nam và Mười. Đó là một người bạn thấu hiểu, thông cảm. Thạnh hạ giọng:
- Tình yêu của Nam cũng vậy thôi. Nam giàu tình cảm, nếu không muốn nói là anh ta rất đa tình, nên có lúc Nam cũng sơ ý. Làm sao anh ta chứa đựng trong tim cho hết, phải vương vãi ra ngoài ti tí. Mười à! Gọi là nhỏ giọt chút xíu. Còn lại tất cả tình yêu trong đời Nam, hay nói thực tế vui vẻ hơn, thì tình yêu trong ly men hạnh phúc của Nam - vẫn đặc biệt riêng dành cho một mình Mười mà thôi. Thạnh biết chỉ có Mười mới xứng đáng được Nam yêu đến thế. Nam đã vì yêu Mười mà bỏ ngang ở đại học Y khoa. Mặc dù Nam học giỏi. Rồi…, một ngày nào đó, Mười sẽ thấy Mười quyết định xa Nam, là lỗi lầm dại dột. Thạnh biết Mười vẫn yêu Nam, cho dù sau nầy nếu Nam có lấy người khác, nghĩa là Nam sẽ lấy vợ, nhưng Thạnh tin chắc là Nam không bao giờ quên Mười, có thể là Nam không quên Mười cho đến chết đó Mười. Cũng như Nam rất đau khổ khi xa Mười. Nam yêu Mười nhiều lắm. Mười có hiểu không hi`?
- Không đời nào. Mười vẫn hận Nam.
- Đó đó… đó. Bằng chứng tình yêu là mối hận lớn lao, khi chưa đạt đến tuyệt đỉnh cảm thông. Qua thời gian, sau những dằn vặt, đau khổ, dày vò, cay đắng, do mình cứ tưởng khi chẳng còn gì, là mình chỉ còn thù hận nhau, thì cuối cùng tình yêu giữa hai người vẫn đong đầy. Lúc đó, Mười sẽ rõ và càng yêu Nam hơn hết.
Thạnh nói chuyện ân cần, sâu sắc, khôn ngoan, dí dỏm, lịch lãm và tế nhị thế đó. Nhưng Mười chỉ một mực lắc đầu phản đối. Mười không thể tin Nam, và chẳng muốn níu kéo anh ta nữa.
- Mười không tin.
- Nhưng đó là sự thật.
- Thời gian sẽ trả lời.
- Đúng thế! Mười à.
Nam đã đi dạy kèm xong, và trở về nơi phòng khách, chàng đang đứng bên ngôi nhà xưa, Nam dừng lại bất động trên bậc thềm. Đã hằng trăm lần Nam đặt những bước chân hân hoan, vui vẻ lên những bậc thềm nhà nầy rồi ấy nhỉ? Ôi! Dường như Mười thấy được những dấu chân hân hoan tung tăng ấy, có nốt nhạc tình du dương ở mỗi bậc thềm nhà dã cuống quýt gọi mời nhau. Hai anh em thân ái ưa tung tăng ra vườn hoa, cùng đến nằm trên thảm cỏ thông nâu vàng bồng bềnh trong ngôi biệt thự. Mười và Nam tay nắm tay cùng chạy lên trên những bậc thềm. Và, ngày ngày đêm đêm Mười có thể mỉm cười cúi xuống, trìu mến vuốt ve từng vết giày của Nam ấm áp, trữ tình, thân thiện xiết đỗi vừa vô tình hồn nhiên dẫm lên đó. Nhưng, khi Mười ngước nhìn lên khuôn mặt Nam xa vắng đượm u buồn khó tả kia, bỗng vết thương trong lòng Mười đang cố đè nén lại bấy lâu, nay được dịp bùng lên mạnh mẽ, sôi sục điên cuồng. Mười cảm thấy tối tăm mặt mũi, vì những “cú đá tháu cáy” quặn thắt lòng xưa; như thể ai vừa thọc thanh lửa đỏ qua trái tim nàng cho ứa máu.
Mười thất vọng buồn phiền cúi mặt xuống, dõi mắt tìm những vết chân nơi bậc thềm hoang dạI rong rêu. Tay Mười run run, thân cơ hồ không đứng vững, giống như đôi chân của em bé chập chững dò dẫm từng bước đi. Mười lại cúi tìm kiếm những vết giày xưa đã trìu mến thân thương ngày tháng cũ. Mười muốn tìm lại những bước chân Nam từng gây xôn xao nỗi nhớ làm dại lòng Mười. Nàng tìm những bước chân Nam trìu mến vô vàn yêu thương ngày tháng cũ, bước chân Nam tuy vô hình vẫn quấn quit không chịu phai mờ trong tiềm thức, trong tư tưởng Mười. Nàng thở dài rất nhẹ.
Trước khi hai ngườị chia tay Mười để ra về, Thạnh khôn ngoan hóm hỉnh chậm bước đi giữa Nam và Mười. Thạnh vòng tay ôm cổ hai bạn, Thạnh nói cho Nam và Mười nghe:
- Thạnh biết: Đau khổ. Muộn phiền. Thất vọng. Chán nãn. Không trách vụ làm Mười và Nam đắng cay, thù nghịch, tuyệt vọng thêm. Thạnh hy vọng những lời chân tình nầy, sẽ khiến anh chị suy nghĩ chính chắn, và sẽ yêu nhau tha thiết hơn ngày đầu. Thạnh xin cầu chúc anh chị vượt thắng mọi chông gai, thử thách, để đạt đến đỉnh hạnh phúc vô ngôn nầy. Lúc đó, Nam nhớ viết thư qua bên Bỉ, báo tin mừng cho Thạnh biết nhé. Lên thăm Mười lần nầy, Thạnh sẽ đi du học mất rồi. Không biết bao giờ chúng mình mới có thể gặp lại nhau đây? Sẽ gặp lại nhau, hoặc chẳng còn cơ hội nào!? Một lần nữa, Thạnh chúc anh chị ở lại hạnh phúc, vui vẻ, yêu nhau suốt đời nhe.
Nam lẵng lặng âu yếm mỉm cười, hơi bối rối nhìn sâu vào giếng mắt Mười láy đen. Nam chậm rãi đạp nổ máy xe vespa. Mười liếc nhìn Nam và vội vàng cụp mắt xuống tìm dấu chân xưa trên con đường lạo xạo sỏi đá. Mười vụng dại kéo hai cánh cửa cổng lớn nặng trịch, hai tay run run cố gài khóa lại. Mười cay đắng đi thẳng một mạch vào nhà, không hề ngoảnh lại. Mặc dù trong lòng Mười rất muốn quay nhìn. Mười tiếc nuối vô vàn, buồn đau da diết. Vì có thể, đó là lần cuối cùng Nam đặt chân lên thềm nhà mình. Hết thật rồi. Ở chỗ mà ít phút trước đây Nam còn đứng đó: phiền phiền, thinh lặng, im im, dấu giày Nam ấm áp in trên mỗi bậc thềm. Giờ đây dấu giày Nam nhòe nhoẹt tan ra trên những bậc thềm loang lổ sương khuya; dấu giày dị dạng to dần, to dần… to to… và mờ nhoà trong màn đêm quạnh hiu, đầy giá rét.
* * *
Sau những ngày tháng nầy khá lâu, Nhi, Yến, Hồng, thường đến nhà an ủi Mười (?!) – một tình bạn hàn huyên, có trước có sau. Mười lắng nghe họ kể về Nam thất tình ra sao với nỗi đau xé lòng. Nam đã bán xe vespa, anh ta lêu lỗng, chẳng học hành, tối ngày anh ta chỉ đi lêu bêu với gái, rượu chè, cờ bạc. Kinh khủng hơn là Nam đã sa vào con đường hút xách thuốc phiện, cờ bạc, nợ nần túng thiếu (!?). Đời chàng xuống dốc thảm hại chưa từng thấy.
Nhưng với bản tính kiên cường, chịu đựng và che dấu, tự trọng của cô gái nhiều tự ái, Mười khoái trá hất mặt lên cười ngất, mỉa mai nhìn kẻ đối thoại, tỏ ra đắc ý, khi nàng biết Nam đã vì ta mà sống sa đoạ, buông thả. Mười không còn gặp người bạn nào chân thật, hết lòng chia sẻ niềm vui nỗi buồn như Thái Thạnh, mà Mười chỉ toàn nghe những tin xấu càng ngày càng chán, khiến Mười xa Nam hơn. Giữa Mười và bạn hữu như cánh buồm trắng ngoài xa, xa thật xa - Họ dừng lại năm ba phút, rồi nhổ neo đi. Họ ích kỷ, ganh tị, vui cười trong sự đau khổ đó. Thản nhiên trong sự phản bội đó không chút xót xa, bùi ngùi. Tuổi trẻ vào đời sống có chiều rộng, nhưng chưa có chiều sâu. Mười không giận họ, vì cho rằng đó là những sự kiện không mấy quan trọng. Mười đi làm việc ngoài phố, luôn luôn nhìn trước ngó sau dáo dác, nàng rất sợ nếu gặp Nam bất ngờ. Đôi khi Mười cảm thấy mắc cỡ vì đã có một thời mình từng là người yêu, là vị hôn thê của anh ta. Dạo nầy, thỉnh thoảng Mười vẫn thấy Nam luôn cười cợt (anh ta cười thái quá, ấy là điều Nam ít có trong cung cách thực của Nam). Nó sẽ quặn thắt lòng Mười qua những cơn đau kéo dài mãi mãi. Mười kinh ngạc thấy mình lẽ loi ghê gớm. Giữa Mười và cuộc đời là dòng sông chảy nhanh, là bờ đất lỡ mòn. Giữa Nam và Mười là vách đá cheo leo bên bờ vực thẳm hun hút không thấy đáy.
Ôi càng buồn đau da diết! Buồn làm sao nói được! “Chúng mình” đã không còn may mắn sống với nhau đầy hò hẹn yêu thương, mê đắm trên dòng đời êm ả. Hai người không cùng ngồi bên nhau lặng lẽ ngắm nhìn vết giày hân hoan trên thềm nhà xưa nữa rồi. Đêm về ru đêm dày vò và thảng thốt phai tàn…Tthay vì Mười nằm vật ra giường khóc mềm môi, ướt gối, như Mười đã từng khóc. Hoặc nàng hoảng hốt chạy ra đồi thông sau nhà, ôm mặt nấc lên từng cơn như ngày xưa nàng giận hờn chàng.
Bây giờ Mười chỉ yên lặng ngồi nhìn tấm ảnh chụp chung thuở hai người làm đám hỏi, (tấm hình bị Nam giận dữ lúc Mười nói lời chia tay, Nam đấm tay xuống bàn, đã vỡ nát mặt kính hôm nào). Mười lấy tấm ảnh ra, từ từ xé vụn từng miếng nhỏ, như xé nát lòng theo ngọn lửa hồng đốt đi hình bóng cũ rất yêu dấu. Nhiều đêm, Mười bất động nhìn ngọn nến nhỏ từng giọt lệ trên chiếc dĩa cạn đèn. Bóng tối bao trùm lên căn phòng vốn dĩ đã lạnh, càng lạnh lẽo hơn. Nỗi đau khổ không thể đến cực điểm để hủy diệt thân, dù Mười đã đang và sẽ đau đớn nhiều. Mười buồn bã nhận thấy mình lặng im đứng lại bên lề đường, giương đôi mắt hững hờ, lạnh lùng, chua xót, có khi tàn nhẫn để tiễn đưa Nam đi vào con đường riêng.
Chiếc thuyền hoa một lần nữa không tìm được bến đậu vĩnh cửu đích thực một đời. Đây là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong cuộc đời của hai người. Một bước ngoặt lớn kinh khủng đã chia xa số phận hai người rẽ về hai nẽo tách bạch, với toàn bộ đau thương, thống khổ vì yêu đang phơi bày sự lạnh lùng, giả dối. Bức màn mây xám đã hạ xuống hầu kết thúc một chuyện tình mê đắm đầy bi ai, và triền miên. Con đường từ ước mơ đến hạnh phúc thật tuyệt vời xưa kia, nay không thể thực hiện được, nên trở thành từng cơn mơ đau điếng, đã dẫn đến con đường hoang phế, làm buồn lòng nhau kinh khủng! Hai câu thơ sau của thi sĩ nào ghi quá tuyệt, Mười đã quên tên tác giả:
”Hứa cùng ta trăm năm ân ái,
Nỡ đi đâu để bạn đắng cay lòng”!?
Mùa hè năm sau... Phú cùng các bạn từ Sài Gòn lên Đà Lạt & trọ trong một ngôi nhà nép bên sườn đồi đầy hoa dã qùy mọc tự do nở vàng rực suốt dọc con đường Hai Bà Trưng. Ngôi nhà nầy có hòn non bộ xây ở góc trái hiên ngoài, mặt nước ao tù phủ từng mảng bèo li ti khẽ lay động. Cá bảy màu bơi lui bơi tới uốn lượn trong hồ dần tối lại. Từng đàn kiến đen nho nhỏ, tấp nập tha trứng trắng phóng chạy như điên, kiến leo lên góc cột cao, chui qua trần nhà đen nghịt. Mười nghĩ thầm: “Móng dài trời lụt, móng cụt trời mưa”. Kiến dời tổ lên chỗ cao thì lát nữa đây đám mây sẽ vỡ tan, sẽ có cơn mưa lớn nhỏ, nhiều ít chi đây. Sân có bốn cây mimosa hoa nở đầy cành, từng chùm bông óng ánh vàng tươi, thoảng mùi hăng hắc đặc biệt. Mười yêu hoa mimosa nên không thấy khó chịu. Từng chùm bông vàng tròn tròn đều đặn, mịn màng, êm như nhung, hoa mimosa đong đưa dưới cánh lá nhung lam, xám mốc phớt bạc, hình lá bầu dục trông đẹp mắt. Mười thích hái chùm hoa mimosa, pensée, violette, forget me not, cocorico, ép vào trang sách học trò, để gửi về bạn ở phương xa. Mấy loài hoa kia dễ ép, cánh lá mềm mại, mong manh. Duy chỉ có hoa mimosa và hoa mắc cỡ là khó ép, hoa có chùm nụ chưa nở, nên cứng như cành lá nó cưu mang, làm cộm lên dưới quyển tự điển dày. Do hoa khó tính khó nết vậy, nên nàng thích nâng hoa trên tay như nâng trứng, hứng như hứng hoa.
Chiều nay Nguyệt, Mười, Nhi, Thương, Vân, Hồng, Lâm Viên, Đào, rủ nhau đến dự sinh nhật Phú. Phòng khách vừa đủ rộng, cửa ra vào, cửa sổ kính, màn voan hồng mỏng che ráng chiều. Ngọn đèn vàng mờ đục, chao lụa móc trên tường toát lên vẻ ấm áp, nên thơ, thanh bình trong căn biệt thự nho nhỏ xinh xinh. Các bạn ăn bánh ngọt, uống trà Tàu, cắn hạt dưa, họ ngồi nhìn Thu Nhi mở màn khiêu vũ với Phú, qua bản “Đêm tàn bến Ngự” của Dương Thiệu. Thu Nhi có nét đẹp kiêu sa, áo dài màu hoàng anh, tóc dài buông thả trên thân hình cân đối, đường nét hài hòa, khuôn mặt xinh xinh, khiến ai cũng muốn nhìn. Lâm Viên đẹp dịu dàng hiền thục như hoa đồng cỏ nội Đế Đô, Lâm Viên hay cười tít mắt, duyên dáng liếm ướt làn môi, giọng nói nhỏ nhẹ, dịu dàng. Mặc dù có ưu điểm thế, thân nhau như thế, nhưng hai cô ấy vẫn khác tính nhau: một cô mê nhảy đầm, một cô nhút nhát ngượng ngập kiểu bồ câu. Nếu chưa biết chuyện riêng tư về họ, suy nghĩ của họ, thì Mười không thể nào tin được đó là hai cô ý hợp tâm đầu. Phải chăng sự tương đắt đó bao gồm cả sự tương thân tương ái, người này cần người kia cái mà mình không có, để bổ sung cho bạn cái mà mình vượt trội. Hai cô gái Huế ấy đã "nhặt được bạn qúy", nên thấu hiểu và thông cảm nhau lạ.
Mấy bạn trai đến mời Mười nhảy, nàng đều từ chối. Bởi lẽ Mười thấy kỳ cục quá sá. Nói ra thì có thể các bạn cho mình nhà quê, không sành điệu. Thời buổi nầy nhảy đầm là chuyện bình thường, thuộc lẽ tự nhiên khi giao tế lịch lãm ở đời. Nhưng Mười thuộc loại "nhà quê" thật sự, không văn minh tiến bộ nỗi. Lạ hoắc lạ huơ đâu không biết, đến mời nhau, ôm nhau, giậc lui giậc tới, va chạm thân thể tới tấp điệu nhảy cuồng quay nóng bỏng, vòng tay siết chặt thân thể. Ngượng chết người! Gì chứ “mấy pha mê ly hấp dẫn” đó, mãi mãi không nằm trong "chương mục văn nghệ tính" của Mười. Ai chê cười "quê một cục", em xin chịu, xin giơ hai tay lên đầu hàng vô điều kiện.
Mười ra ngoài hàng hiên, ngồi trên bờ tường thấp xây chung quanh ngôi biệt thự, để các bạn tự do thoải mái và tự nhiên đôi chút. Khoảng giờ sau, ngọn thuốc mãi miết cháy trên môi Phú ra lan can đứng gần bên Mười tần ngần nhìn lên cành hoa mimosa mập mờ trong bóng tối. Mỗi người chìm vào suy tư riêng. Tiếng cười reo của các bạn ở trong nhà nghe vô tư lự, tiếng đàn ca lùi hẳn về phía sau, nhường chỗ cho nỗi buồn nhẹ nhàng, tinh tế len lõi vào hồn Mười, thành nỗi nhớ nhung choáng ngợp lòng nàng. Mãi lâu, Phú buông tiếng thở dài. Mười quay nhìn nét mặt đăm chiêu như dò hỏi. Phú rít dài hơi thuốc cuối cùng, dụi tắt, vứt đi:
- Sao Mười nỡ đùa dai vậy? Vừa phải thôi.
- Đùa gì cơ!
- Anh rất khổ tâm.
Lần đầu tiên Phú xưng "anh", thay vì vẫn gọi tên nhau. Ngạc nhiên, Mười ngẩn người giây lát, rồi dè dặt hỏi:
- Về việc gì chứ?
- Còn giả vờ nữa.
- Không đâu.
- Sao Mười gán ghép người mà anh không thích vậy?
Mười sửng sốt nhưng lặng thinh cúi đầu. À phải! Các bạn đang trêu đùa trong nhà, họ trêu chọc Yến và anh ta đó.
- Mười nghĩ gì về... Phú vậy?
Câu hỏi quá bất ngờ, khiến nàng lúng túng xí:
- Nghĩ gì? Ơ... Phú như bạn thân thương khác. Có lẽ hiểu Mười… Chịu nghe Mười nói. Cùng... muốn học hỏi, trau dồi kiến thức... cho nhau.
- Vậy ha! Còn gì nữa không! Hở Mười?
- Phú đẹp trai, Yến là kiều nữ, không phải ai Yến cũng có cảm tình đâu. Cho phép Mười nói về Yến như vậy... Nếu ở vào địa vị của Phú, thì Mười sẽ chịu Yến gấp. Yến mến Phú nhiều, Mười muốn nói là Yến có cảm tình đặc biệt đó. Trong cái nền chung của các bạn trai thân quen, Phú nổi bật như ánh chớp nguồn trên nền trời xám đục. Phú có đáp tình là tất nhiên. Điều đó tốt chứ. Yến dễ thương mà!
- Không đùa chứ?
Hai cô Đào, Vân ra cửa, họ nghe lõm bõm, nên hỏi:
- Ê Mười, không nói đùa, thì nói chuyện thật gì vậy?
- À mình khen Yến... đó mà.
Được thể, mấy cô gái kêu to lên, chọc phá Yến:
- Yến ơi! Phú khen mày nè. Gớm! Nó vờ không nghe, lờ đi, mới dễ ghét chứ.
- Phú nhìn Mười, đôi mắt ánh lên tia trách móc, hờn giận, không có gì tả nỗi. Mười sợ mấy con nhỏ làm Phú buồn, vì anh ấy không biết chúng nó là "bát cô nớ" quậy tưng trời thần sầu đất lở, trẻ không tha, già không thương, Phú chấp nhất họ làm gì chứ. Mười vội giả lả sang chuyện khác. Phú vào nhà, chàng đến bên tủ lấy chai rượu ra, giơ lên trước mặt, cười:
- Uống tí rượu bỏ quên đời, dông tuốt lên chùa, quét lá đa cho xong.
Mấy anh chịu chơi hết cỡ thợ rèn rồi! Mỗi anh làm một cái ly nhỏ xíu bằng ngón chân cái, cho ra vẻ ta đây "trai tráng mới nhớn", là dân chơi cầu ba cẳng, lỡ qua sông phải lụy đò, dù có say mút mùa lệ thủy, vẫn OK. Các cô thì "em chã, em chê, em chịu thôi".
Ngày rồi có lúc tối đêm lại. Cuộc vui dù nhộn nhịp, hân hoan thích thú đến đâu, cũng tàn và chia tay. Giờ chỉ còn những cuộn mây xám giăng giăng, những hạt mưa tròn giọt thánh thót rơi rơi, từ đài hoa mimosa rớt xuống nền gạch lạnh, như muôn giọt thuỷ tinh tròn tròn, lăn lăn ly ti. Trên con đường thấp thoáng mưa phùn rơi, các bạn tiễn đưa nhau, hai ba người đi chung từng nhóm nhỏ. Lễ xỏ tay trong túi quần, đi bên Hồng (có người yêu là cháu chú Cửu Hiền, chú là em họ ba Mười; Vì thế mình bà con tùm lum tà la, bắn mấy phát cà nông, có lẽ mới tới đầu dây mối rễ) và Mười. Đắn đo giây lát, Lễ mở lời:
- Hôm nay sinh nhật của Phú, mà... nó buồn lắm.
- Vui chứ! Sao lại buồn?
- Dễ thương xinh đẹp như Mười, sao Lễ thấy Mười "ác dễ sợ".
Hồng nghe Lễ nói thế, vội đỡ lời bạn:
- Làm như Mười ăn thịt, ăn cá, ai không bằng.
- Nếu nó là cá thịt, cho người ta ăn, có lẽ đỡ đau khổ.
- Chi lạ rứa?
- Không lạ. Mười! Phú yêu Mười lắm đó.
- Điều nầy khiến Mười không vui. Giữa Phú, Mười, có thường viết thư. Lễ biết phải không? Giá như ngày ấy, Phú ngỏ lời ...có lẽ Mười không yêu ai khác. Sở dĩ nói vậy, vì Mười không dấu bạn điều gì. Nay Mười đã gặp và yêu anh ấy...
Ba người lầm lũi đi qua lối Cẩm Đô. Hồng chia tay bạn rẽ về phiá Ngọc Hiệp. Còn lại hai người, Lễ xỏ hai tay vào túi áo blousson, anh ta đá hòn cuội trắng cho nó lăn từng đoạn trên đường. Khá lâu, Lễ nói:
- Chưa nghe Mười nói về "anh ấy" bao giờ.
- Không có dịp gặp nhau, Mười chưa giới thiệu thôi.
- Dù sao Lễ... không muốn cho Phú biết điều nầy, Phú sẽ thất vọng lắm, và ảnh hưởng không tốt về việc nó thi cử sắp đến nữa.
- Cảm ơn Lễ. Mười... mến Phú như Lễ vậy. Chúng ta có với nhau nhiều kỷ niệm trong sáng, hồn nhiên, ngọt ngào vô cùng, một tình bạn dễ chịu, dịu êm.
Tình bạn muôn thuở còn đẹp mãi như xưa, khi họ biết về mình không nhỉ? Thương Mười tha thiết mong tình bằng hữu bất diệt, sống mãi trong mỗi chúng ta. Mười không muốn mất các bạn, cũng như không bao giờ Mười mất Nam. Ôi! Thế mà dường như chúng mình đã thật sự mất nhau rồi. Phương Nam ơi!
Ngàn hoa trỗi dậy ngậm ngùi
Đôi ta chẳng thể ngọt bùi bên nhau
Sương rơi ướt lệ ngàn dâu
Vòng tay buông thõng dạ sầu bâng khuâng
Hương xưa mắt biếc
Có ngờ đâu ngày ấy quá ngại ngần
Chân xiêu xiêu gió thoảng nhẹ lâng lâng
Tình cao vợi bủa dâng đầy trăn trở
Người thương ơi lệ mờ tim vỡ
Phút dạ hành dệt mộng xót xa
Lá đung đưa bện gió với sương sa
Mưa lác đác khẽ là đà rơi tí tách
Hình bóng cũ bến đò chiều lữ khách
Gót phiêu bồng ngỏ ngách dấu chân in
Anh (ngày xưa của…) lặng nhìn!
Bên tường vy em đứng im… vẫy chào
Tình yêu dấu ẩn chốn nao?!
Comment