Mùa Xuân Mây Xám Vắt Ngang Đời Cơ Cực

Mùa Xuân Mây Xám Vắt Ngang Đời Cơ Cực
Tình Hoài Hương
***
Đàn bươm bướm trắng xanh vàng nâu lí lí lắc lắc, chập chờn, nhởn nhơ, trêu trêu, ghẹo ghẹo mấy đài hoa dã qùy e lệ nép mình dọc con sông um tùm lau sậy lô nhô. Cỏ lau bông trắng bay đầy bãi ruộng lúa chỉ còn trơ gốc rạ vàng lởm chởm. Trên chiếc cầu gỗ cũ được mang tên Cầu Bông Nhị Tân lấp loáng nhiều giọt nắng lung linh, long lanh từ mặt nước trong vắt, phản chiếu muôn tia nắng rạo rực luôn lấp lánh đổi màu. Bầu trời lơ lửng năm ba đám mây trắng dài lê thê, dài ngoẵng như sợi tơ len. Mây kéo từ thôn nầy vắt qua thôn khác, in xuống lòng sông biếc xanh. Phút chốc bóng mây trăng trắng dài lướt thướt loang tỏa ra trùm kín bầu trời, mây đổi thành màu xám đen nặng trĩu đang lững thững trôi về nơi vô định.
Tôi lặng nhìn đám mây trắng xám im sửng trên trời, dường như mây giống một dải màn sô tang trắng viền chỉ len màu lam xám đã và đang vắt ngang kiếp đời cơ cực. Rồi bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo cơn mưa dầm ào ạt trút xuống đời, suốt mấy ngày đêm, làm nặng nề thêm bầu trời u ám của:
“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý.
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”. (2)
Chúng tôi đã rớt xuống vực thẳm sâu hun hút, úp mặt xuống tận đáy xã-hội chủ-nghĩa. Dẫu vậy, các con trai tôi học hành ưu tú, xuất sắc. Hai con lớn dưới mười tuổi, ba giờ sáng các con đã thức dậy, lo chạy bộ đến lò bánh bò, lò cà rem, xa khoảng bốn cây số. Các con ngồi co ro cúm rúm ngoài vỉa hè, để chầu chực chủ mở cửa, hy vọng con có hàng bán chạy rong mời khách. Tháng nắng ngày mưa các con đều khổ cực lầm than như nhau. Ngày ế-ẩm, bánh bò bị thiu, cà rem chảy nước. Chúng tôi lặng-lẽ ngồi ở góc nhà, nhịn khát, nhịn đói, khóc thầm. Vì chồng, cha, là lính “ngụy” bị ở tù “cải tạo” (tôi dùng chữ "cải tạo" phải có hai ngoặt kép). Ai dám giúp! Nhưng, thiệt khổ là hầu như đa số dân lành cũng không có ăn, có mặc, thì lấy gì mà ai giúp ai!?
Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ.
Nón tai bèo che khuất nẽo tương lai”.
May không chút nữa em lầm.
Khoai lang khô xắt lát, em tưởng cao ly sâm bên Tàu (2)
Vài ba năm sau, thì con trai đầu mỗi buổi sáng con đi học, chiều con đi bán bánh bò, cà rem, tối tối con theo chủ ra tận Long Khánh, Hàm Tân, Phan Thiết…, con cùi cụi vác trấu thuê, vác bó mía thuê. Con leo lên nóc nhà dỡ tôn, dỡ nhà, (do chủ mua) và chủ tớ đem đi bán. Con làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc, khổ sở, miễn sao con có tiền đem về cho mẹ mua gạo nuôi nhau sống lây lất qua ngày. Ngày hè không đi học, các con phải đi nông trường Nhị Xuân lo trồng thơm, trồng mía. Hoặc con làm dân công thủy lợi đi đào kênh rạch trên Lê Minh Xuân. Tối về, Đảng phát cho một tờ phiếu, dân tự vét tiền túi ra mua gạo, mua mắm (dĩ nhiên!). Ráng đi con ôi!:
Phượng hoàng ở chốn cheo leo.
Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.
Bao giờ gió thuận mưa hòa.
Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng. (2)
Con mẹ Thân là vợ của một sĩ quan Nhảy Dù ở “chế độ cũ”, miếng thịt Thân còn nhét trong kẽ răng, ấy thế mà bà ta đã toa rập với bọn cán bộ làm trong Xã Tân Thới Nhì, phản bội, lừa thầy phản bạn. Chúng cắt xén lương thực của dân đen đi làm thủy lợi đó. Dân muốn chết đói mà con mẹ ấy vẫn sống nhăn răng, phè phỡn và đú đa đú đởn. Thật xấu hổ! Sau giờ lao động nhọc nhằn, bà con lối xóm hò nhau xách tụng chạy đi, chen lấn vô cửa hàng, mắng nhiết nhau inh ỏi, vì sợ hết giờ, không có gạo đổ vô nồi. Bà Muôn, bà Cát, bà Liêm ơi ới gọi tôi:
- Cô đi mua gạo “liên xô”. Mau lên kẽo hết. Nhịn đói thì chết.
- Vâng.
Tôi lo ba chân bốn cẵng chạy theo mấy bà hàng xóm. Tôi rù rì nói nhỏ vào tai bà Cát (bà ta là người đàn bà đanh đá, chì chiết, hai hàm răng luôn nghiến lại, bà nói chuyện không hở môi. Bà luôn mồm nhắc tôi “giữ bí mật”. Ấ́y thế mà chính miệng bà ta bi bô không giữ được, và “bật mí” phun xì ra. Í dà da! Bà ta thèo lẽo, tò mò tọc mạch như con ma xó! Tôi trách chi bà.
- Sao chị dám nói là gạo Liên Xô hử?
- Chứ cô không thấy có bao giờ mình được mua gạo đàng hoàng, từ tốn đâu. Không “liên” tục chen lấn, giành giật, “xô” đẩy nhau, mà rách toạt cả quần ra, là gì!
Chị Dung cười toe:
- Ồ! Thì để cho… ông trùm sò dê Bảy De thèm một xí.
Tôi thật thà hỏi:
- Dê Bảy De là ai, hở chị Muôn?
- Là cái thằng cha mặt ngựa mỗi ngày rả rả trên “loa” phóng thanh, hắn ưa nói Dóc. Nói Dai. Nói Dở. Nói Dổm. Nói Dối. Nói Dốt… í mà.
- Ai vậy cà?
- Bộ thích ổng rồi hay sao, mà cô cứ hỏi tới dữ dậy he?!
- Hổng dám đâu.
- Bà Liêm, bà Muôn nhìn nhau nháy mắt, trêu tôi:
- À, cô giỏi văn, vậy tui nhờ ổng “nhất ngoặc, nhì thân, tam thần, tứ chế”. Ổng có thần thế, sẽ giới thiệu cô vô ngành giáo dục he.
- Hừ! Em mà giỏi cái nỗi gì.
- Cô nói láo một cây xanh dờn hén.
- Em hỏi chị chớ: Thầy cô đi dạy, ít ra cũng phải có ba bốn bộ đồ, để thay đổi. Còn em, chỉ có hai bộ dính da. Trời mưa em giặt đồ phơi, không kịp khô. Thì làm ăn cái nỗi gì!
- Tại vì: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau.
Bác Hồ khuyên ăn cơm rau.
Đừng ăn thịt cá, mà đau dạ dày” (2). Nghe ra chưa?
- Ui Trời! Chị dám rên la he. Em… hổng dám à nha.
Bà Liêm háy nguýt một cái dài lê thê, chanh chua:
- Cô nghe cho rõ nè:
Một năm hai thước vải thô.
Nếu đem may áo, cụ Hồ ló ra.
May quần thì hở lá đa.
Chị em thiếu vải, hóa ra lõa lồ.
Vội đem cất ảnh bác Hồ.
Sợ rằng bác thấy tô hô, bác thèm.
Có áo mà chẳng có quần.
Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
Có đói mà chẳng có no.
Lấy gì độc lập, tự do hỡi người? (2)
Bà Cát:
- Mắc mớ gì mà rên la. Tui có làm nên chế độ chế đá chi. Cô hổng thấy bên Tây, người ta có thịt, cá, ê hề, đầy nhóc, mà họ chỉ thèm ăn rau toàn là rau thôi đó sao.
- Thôi. Đừng nói nữa, không khéo bóp méo sự thật, nói lung tung beng, mang tội chống báng chế độ, thì bị tù mọt gông đa, mấy chị ui.
- Tui có hai cái cùi chỏ. Sức mấy dám “chống” đối ai. Chống gậy đi thủy lợi, thì có. Ai không đi thủy lợi, thì không có phiếu lương thực đã đành. Còn phải lên Ấp, lên Huyện “học tập cải tạo tư tưởng”. Hứ! Học tập cái ngữ gì hổng biết, một chữ bẻ đôi không rành, không biết, dốt còn hơn con bò tót, mà đòi đi dạy dỗ học tập “cải tạo” ai hử!? Đừng nên dùng chữ cải tạo nếu không có dấu ngoặt kép à nha.
- Đúng thế!
* * *
Có lần tôi bị đau nặng, không đi thủy lợi được, thì họ bắt bà mẹ già cuả Luật đi làm việc “bù” không công. Mẹ chồng hơn bảy mươi tuổi lặn lội mót lúa, mót sắn, mót khoai… . Vì “lao động là vinh quang”, mẹ đi bắt ốc mò cua, tửng bưng sáng mẹ mò mẫm ra đi khi trời còn đầy bóng tối. Rồi, tối mịt mù mẹ lò mò đội lúa trên đầu, mệt mỏi trở về. Mẹ làm việc nặng nhọc, cực khổ, nhưng mẹ luôn ăn cháo, không đủ sức “lao động phấn-đấu”. Nên đặc biệt ở trong nhà tôi chỉ một mình mẹ già được ăn cơm tấm pha ít cám chấm muối mè gói trong tàu mo cau! Sự thật 100%.
Hôm sau, hai đứa con nhỏ bé nhất của tôi có bổn phận phơi lúa, trở lúa, cào quét lúa đem vào nhà, không để mất sót hạt ngọc Trời ban. Chiều chiều, mấy mẹ con tôi lo giả gạo trong cái nón cối sắt (cuả “tàn dư đế quốc” ấy là nón “nhà binh”. Dù quân nhân chế độ cũ nay không còn, nhưng vẫn để lại những chiếc nón sắt, cho dân hữu dụng làm thành cái nồi để nấu thức ăn, hoặc giả gạo…). Mỗi lần tôi nâng niu chiếc nón sắt trân quý nầy, (vì đó là gia tài cần thiết nhất cuả chúng tôi sau ngày mất nước, thật sự tôi cảm thấy cảm động, thường trào nước mắt). Tuy lúa tươi còn mầm sữa, chúng tôi vẫn phải giả ra thành gạo. Sàng sảy thế nào vẫn bị trấu, cám, bám chặt vô hột tấm, vì lúa còn tươi, nghĩa là chưa phơi khô nên còn mầm sữa, đã vỡ nát. Đói quá, chúng tôi đành nấu nồi cháo tấm cám nham nhám độn củ mì rau dền, rau lang, rau đắng mọc hoang. Chúng tôi luôn ăn nồi cháo độn, bữa ăn quá sức tệ; thua bầy heo mập ú của nhà “con mẹ cán bộ xu thời xu thế Thân”.
Hết gạo ăn bo bo.
Học trò không có tập.
Độc Lập với Tự Do.
Nằm co mà hạnh phúc! (2)
“Nhà tôi” là một căn gia binh bỏ hoang trống-trơn từ trước ra sau, không có cửa lớn cửa sổ che kín lồng lộng gió. Không bàn, chẳng ghế, tủ, giường. Chúng tôi chỉ có: Một thau giặt, một thau rửa chén, một cái rổ, hai cái nồi đem theo từ ngày ở nhà thờ Huyện Sỹ: Nồi lớn chuyên dùng để nấu cháo, (họa huần lắm mới có một bữa cơm tấm pha xí cám. Một nồi nhỏ dùng luộc rau, hoặc kho tí muối quẹt. Một cái bình nhôm to nấu nước sôi. Đôi thùng gánh nước. Sáu tô nhựa lớn, sáu muỗng, sáu đôi đũa, vài cái dĩa sứt vành.
Một bao quần áo mặc thường ngày. Một bao cói đựng đồ vặt, một bao cói đựng hai chiếc mùng đôi màu xanh. Cái mền làm bằng bao cát Mỹ. Một valy da quý giá sang trọng mang theo từ ngày ở Đà Lạt di tản về đây (vì hồi xưa gia đình tôi ngồi trên nhung lục giàu sang với nhà lầu ba tầng gạch đúc, có xe hơi Peugeot 404 mới toanh, nhưng nhờ bác và đảng “giải phóng”, nên đã bỏ lại hết). Đó là tất cả gia tài quý giá của gia đình tôi trong XHCN. Chúng tôi phải giữ bo bo chằng chằng bên người những đồ vật cũ mèm ấy bất ly thân, vì hở ra một xí là bị mất trộm, kẻ cắp vờn quanh xóm nghèo như rươi!
Nằm dưới manh chiếu cũ nát láng đen và thô thiển, ngửa mặt nhìn trên nóc nhà, tôi thấy ngàn ánh sao xuyên qua lỗ tôn xi măng thủng vì bom đạn. Ngày nắng chói chang thì mặt trời soi rọi xuống vạt chiếu ẩm, khiến chiếc chiếu càng dòn đã bể nát vài chỗ, chiếu và nền xi măng hầm hập nóng, muốn lột da lưng. Mùa mưa ở trong nhà thì nước lụt ngập lên gần bắp chân. Nước trên mái tôn lủng trút xuống ào ào, nước ngoài sân cao hơn nền nhà ở tứ phía tràn vô. Mẹ, con, bà, cháu lội lủm bủm, bì bõm, chúng tôi cùng thi nhau cúi cúi tát tát nước, như tát ao, tát đìa. Chúng tôi cố gắng làm tận sức, vã mồ hôi hột trong cơn mưa, vẫn không thể ngăn nỗi cơn lũ ào ạt tràn vô căn nhà bị thấp hơn mặt đường. Trong nhà nầy đã giống như một cái ao. Nhiều lần chúng tôi đành chịu thua, bà cháu mẹ con vịn nhau, đứng dựa lưng vào tường, ngâm chân trong nước bùn hôi thối, mà ngủ gà ngủ gục.
Sau này biết khôn hơn, năm mẹ con tôi đi tìm các nhà gia binh bỏ hoang, con trai lớn mười hai tuổi mượn cái “búa tạ tày xồi” của ông bà Hùng, con dùng búa đập tường. Mẹ con khệ nệ ì ạch bưng từng viên gạch táp lô về, kê lên cao cao, để làm thành “cái giường”, hầu tránh nước lụt. Khổ nỗi, khi đã có cái giường “siêu tổ chức xã hội chủ nghiã” thì rệp, rận, gián, và muỗi núp dưới các khe hở, nhiều vô số kể, chúng luôn bòn rút máu của chúng tôi. Đó là “nhà của chúng tôi” luôn luôn nóng hầm hập như lò lửa, mưa ngập thành một cái ao bùn đầy nước bẩn trong chế độ xã hội chủ nghĩa thật. Đó là nơi nương thân của những kẻ không có tương lai, không có cuộc đời tươi sáng, không có ngày mai hứa hẹn hạnh phúc, tốt đẹp hơn.
Từ tửng bưng sáng mẹ già đi ruộng mò bắt được mươi con ốc, năm ba con cua, và một con cá lóc nhỏ bằng ngón chân cái. Về ngang bờ kinh, mẹ hái thêm chục dọc môn dại. Hôm đó, mẹ bảo tôi:
- Con nấu nồi cháo đặc, thật đặc nhá, chứ cả nhà ta luôn luôn ăn cháo lỏng bỏng, ruột mẹ cứ cồn cào, xót xa thế nào ấy.
Vâng lời mẹ, tôi cẩn thận nấu nồi cháo: độn một bó rau muống, ba phần củ sắn mì, hai phần dáu môn, và một phần gạo tẻ (gạo là do đi lượm mót lúa ngoài đồng, con trai đội về, tôi và con nhỏ giả bằng tay trong chiếc nón sắt, rất chu đáo và công phu). Các con tôi ra giếng công cộng tắm rửa xong. Các con gánh về hai thùng nước. Tôi múc ra sáu tô cháo, để xuống nền xi măng loang-lỗ vết đạn cày xới. Sau khi mời bà nội, mời mẹ, anh em vui vẻ mời nhau ăn cháo. Các con tôi hí-hửng cười reo dưới ánh trăng tròn, (chúng tôi sống ở “trong bóng tối”, chỉ nhờ trăng soi sáng, thì dùng đèn dầu làm chi, cho hoài phí của đi! Nếu ngày nào không có trăng tỏ, thì chúng tôi lo ăn cơm sớm).
Ai sinh ra cái củ mì?
Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn!
Nước nhà mãi mãi khó khăn.
Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì (2)
Cứ thế, các con của tôi sung sướng bưng tô cháo, hí hửng đưa lên miệng, húp rột rột, (vì hôm nay đặc biệt có thêm mùi vị của cá lóc) coi thật ngon lành. Bỗng, các con đồng thanh hét to. Đứa quăng tô xuống nền nhà. Đứa nằm lăn lộn trên nền nhà lỗ chỗ. Đứa dùng hai bàn tay cào móc cổ họn. Các con vật vã rên siết la làng, khóc lóc tru tréo inh ỏi. Mẹ già kêu rú lên quá to, bà dựa lưng vào tường, trợn trắng mắt, thở dốc và ho sặc sụa. Tôi đã húp ba bốn muỗng cháo, tự dưng cổ họng rát bỏng, ngứa cồn cào, ngứa điên cuồng, tôi cào móc khạc nhổ thế nào, cũng không bớt. Mặt, môi, lưỡi, họng, cả nhà chúng tôi đã phồng rộp, sưng vù, đỏ choét. Thì ra, chúng tôi bị dị ứng hay suýt bị ngộ độc, vì ăn phải mấy dọc môn dại hay sao!?
Tôi vội chạy ra thùng thiết dật dờ múc gáo nước, khuấy muối, vắt mấy trái chanh đưa cho mẹ già. Tôi kéo các con chạy đến thùng nước thứ nhì, cứ như thế, tôi bắt các con móc họng ói ra, súc miệng, nhổ đi nhổ lại nhiều lần. Bà cháu, mẹ con chúng tôi đều bị đau nhức cổ họng kinh khủng ghê lắm. Thân thể chúng tôi đều bần thần, bụng cồn cào vì ói ra mật xanh mật vàng, và nhịn đói, rị mọ vất vưỡng lọt tọt dìu nhau đi ra giếng tắm giặt. Lòng buồn xo như xé tâm tư.
Từ khi ta có Bác Hồ.
Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào.
Lương chồng, lương vợ, lương con.
Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm.
Lương tâm đem chặt ra hầm.
Với rau muống luộc khen thầm là ngon. (2)
Ôi! khổ nỗi một miếng ăn độn tồi tàn hơn nồi cám của con mẹ Thân cho heo của bà ta ăn, thế mà cả nhà chúng tôi cũng không thể nuốt trôi vô khỏi cuống họng! Ngày Tết Nguyên Đán và suốt cả tháng Giêng nầy, gia đình tôi nằm co ro trên cái giường táp lô, chúng tôi bị đau đớn quá độ, không tiền thuốc thang, đành vật vã ôm bụng nhịn đói. Chúng tôi không thể ăn nồi cháo đặc khổ qua con cò rị mọ con rùa. Ôi! Bài học ăn cháo đặc ấy trong tận đáy xã hộI, chúng tôi ghi nhớ suốt đời. Ấy là lúc xuân xanh của tôi vừa tròn:
“Trai ba mươi tuổi còn xoan.
Gái ba mươi tuổi đã toan về già”
Bác Hồ chết phải giờ trùng
Nên bầy con cháu dỡ khùng dỡ điên.
Thằng tỉnh thì đã vượt biên.
Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng. (2)
***
Kính gửi quý anh chị... & xin thông cảm về nỗi đau của người vợ tù “cải tạo”. Anh thương ơi! Bây giờ anh ở tù “cải tạo” nơi nao!? Anh có thấu chăng cho hoàn cảnh đau thương, bi đát, khốn cùng của bà cháu mẹ con em bây giờ không hở anh!? Ôi! Mùa Xuân năm 76 - 85!!!:
Như một người già ngồi nuối tiếc dĩ vãng xa xưa...
Như một danh tướng ôn lại những chiến tích oai hùng!
Như chim trong lồng ai oán nhìn bầu trời bao la.
Tôi mất Sài Gòn, nhưng thành phố vẫn sống mãi trong tim tôi.
Nhưng tôi không là người già, thì vẫn còn tương lai.
Tôi không là danh tướng, nên chẳng chiến công nhiều.
Tôi không là chim trời mãi mãi mất tự do.
Tôi chỉ là con bệnh trong cơn đau chung nầy.
Rồi sẽ hết, rồi sẽ hết những tháng năm đau thương trong cuộc đời!
Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy.
Rồi sẽ thấy, rồi sẽ thấy những tháng năm đau thương trong cuộc đời.
Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy. (1)
*
(1) “Uống chén đắng” Lời và nhạc: Cung Mi
(2) Lượm lặt sưu tầm
*
Tình Hoài Hương

Mùa Xuân Mây Xám Vắt Ngang Đời Cơ Cực
Tình Hoài Hương
***
Đàn bươm bướm trắng xanh vàng nâu lí lí lắc lắc, chập chờn, nhởn nhơ, trêu trêu, ghẹo ghẹo mấy đài hoa dã qùy e lệ nép mình dọc con sông um tùm lau sậy lô nhô. Cỏ lau bông trắng bay đầy bãi ruộng lúa chỉ còn trơ gốc rạ vàng lởm chởm. Trên chiếc cầu gỗ cũ được mang tên Cầu Bông Nhị Tân lấp loáng nhiều giọt nắng lung linh, long lanh từ mặt nước trong vắt, phản chiếu muôn tia nắng rạo rực luôn lấp lánh đổi màu. Bầu trời lơ lửng năm ba đám mây trắng dài lê thê, dài ngoẵng như sợi tơ len. Mây kéo từ thôn nầy vắt qua thôn khác, in xuống lòng sông biếc xanh. Phút chốc bóng mây trăng trắng dài lướt thướt loang tỏa ra trùm kín bầu trời, mây đổi thành màu xám đen nặng trĩu đang lững thững trôi về nơi vô định.
Tôi lặng nhìn đám mây trắng xám im sửng trên trời, dường như mây giống một dải màn sô tang trắng viền chỉ len màu lam xám đã và đang vắt ngang kiếp đời cơ cực. Rồi bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo cơn mưa dầm ào ạt trút xuống đời, suốt mấy ngày đêm, làm nặng nề thêm bầu trời u ám của:
“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý.
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”. (2)
Chúng tôi đã rớt xuống vực thẳm sâu hun hút, úp mặt xuống tận đáy xã-hội chủ-nghĩa. Dẫu vậy, các con trai tôi học hành ưu tú, xuất sắc. Hai con lớn dưới mười tuổi, ba giờ sáng các con đã thức dậy, lo chạy bộ đến lò bánh bò, lò cà rem, xa khoảng bốn cây số. Các con ngồi co ro cúm rúm ngoài vỉa hè, để chầu chực chủ mở cửa, hy vọng con có hàng bán chạy rong mời khách. Tháng nắng ngày mưa các con đều khổ cực lầm than như nhau. Ngày ế-ẩm, bánh bò bị thiu, cà rem chảy nước. Chúng tôi lặng-lẽ ngồi ở góc nhà, nhịn khát, nhịn đói, khóc thầm. Vì chồng, cha, là lính “ngụy” bị ở tù “cải tạo” (tôi dùng chữ "cải tạo" phải có hai ngoặt kép). Ai dám giúp! Nhưng, thiệt khổ là hầu như đa số dân lành cũng không có ăn, có mặc, thì lấy gì mà ai giúp ai!?
Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ.
Nón tai bèo che khuất nẽo tương lai”.
May không chút nữa em lầm.
Khoai lang khô xắt lát, em tưởng cao ly sâm bên Tàu (2)
Vài ba năm sau, thì con trai đầu mỗi buổi sáng con đi học, chiều con đi bán bánh bò, cà rem, tối tối con theo chủ ra tận Long Khánh, Hàm Tân, Phan Thiết…, con cùi cụi vác trấu thuê, vác bó mía thuê. Con leo lên nóc nhà dỡ tôn, dỡ nhà, (do chủ mua) và chủ tớ đem đi bán. Con làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc, khổ sở, miễn sao con có tiền đem về cho mẹ mua gạo nuôi nhau sống lây lất qua ngày. Ngày hè không đi học, các con phải đi nông trường Nhị Xuân lo trồng thơm, trồng mía. Hoặc con làm dân công thủy lợi đi đào kênh rạch trên Lê Minh Xuân. Tối về, Đảng phát cho một tờ phiếu, dân tự vét tiền túi ra mua gạo, mua mắm (dĩ nhiên!). Ráng đi con ôi!:
Phượng hoàng ở chốn cheo leo.
Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.
Bao giờ gió thuận mưa hòa.
Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng. (2)
Con mẹ Thân là vợ của một sĩ quan Nhảy Dù ở “chế độ cũ”, miếng thịt Thân còn nhét trong kẽ răng, ấy thế mà bà ta đã toa rập với bọn cán bộ làm trong Xã Tân Thới Nhì, phản bội, lừa thầy phản bạn. Chúng cắt xén lương thực của dân đen đi làm thủy lợi đó. Dân muốn chết đói mà con mẹ ấy vẫn sống nhăn răng, phè phỡn và đú đa đú đởn. Thật xấu hổ! Sau giờ lao động nhọc nhằn, bà con lối xóm hò nhau xách tụng chạy đi, chen lấn vô cửa hàng, mắng nhiết nhau inh ỏi, vì sợ hết giờ, không có gạo đổ vô nồi. Bà Muôn, bà Cát, bà Liêm ơi ới gọi tôi:
- Cô đi mua gạo “liên xô”. Mau lên kẽo hết. Nhịn đói thì chết.
- Vâng.
Tôi lo ba chân bốn cẵng chạy theo mấy bà hàng xóm. Tôi rù rì nói nhỏ vào tai bà Cát (bà ta là người đàn bà đanh đá, chì chiết, hai hàm răng luôn nghiến lại, bà nói chuyện không hở môi. Bà luôn mồm nhắc tôi “giữ bí mật”. Ấ́y thế mà chính miệng bà ta bi bô không giữ được, và “bật mí” phun xì ra. Í dà da! Bà ta thèo lẽo, tò mò tọc mạch như con ma xó! Tôi trách chi bà.
- Sao chị dám nói là gạo Liên Xô hử?
- Chứ cô không thấy có bao giờ mình được mua gạo đàng hoàng, từ tốn đâu. Không “liên” tục chen lấn, giành giật, “xô” đẩy nhau, mà rách toạt cả quần ra, là gì!
Chị Dung cười toe:
- Ồ! Thì để cho… ông trùm sò dê Bảy De thèm một xí.
Tôi thật thà hỏi:
- Dê Bảy De là ai, hở chị Muôn?
- Là cái thằng cha mặt ngựa mỗi ngày rả rả trên “loa” phóng thanh, hắn ưa nói Dóc. Nói Dai. Nói Dở. Nói Dổm. Nói Dối. Nói Dốt… í mà.
- Ai vậy cà?
- Bộ thích ổng rồi hay sao, mà cô cứ hỏi tới dữ dậy he?!
- Hổng dám đâu.
- Bà Liêm, bà Muôn nhìn nhau nháy mắt, trêu tôi:
- À, cô giỏi văn, vậy tui nhờ ổng “nhất ngoặc, nhì thân, tam thần, tứ chế”. Ổng có thần thế, sẽ giới thiệu cô vô ngành giáo dục he.
- Hừ! Em mà giỏi cái nỗi gì.
- Cô nói láo một cây xanh dờn hén.
- Em hỏi chị chớ: Thầy cô đi dạy, ít ra cũng phải có ba bốn bộ đồ, để thay đổi. Còn em, chỉ có hai bộ dính da. Trời mưa em giặt đồ phơi, không kịp khô. Thì làm ăn cái nỗi gì!
- Tại vì: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau.
Bác Hồ khuyên ăn cơm rau.
Đừng ăn thịt cá, mà đau dạ dày” (2). Nghe ra chưa?
- Ui Trời! Chị dám rên la he. Em… hổng dám à nha.
Bà Liêm háy nguýt một cái dài lê thê, chanh chua:
- Cô nghe cho rõ nè:
Một năm hai thước vải thô.
Nếu đem may áo, cụ Hồ ló ra.
May quần thì hở lá đa.
Chị em thiếu vải, hóa ra lõa lồ.
Vội đem cất ảnh bác Hồ.
Sợ rằng bác thấy tô hô, bác thèm.
Có áo mà chẳng có quần.
Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
Có đói mà chẳng có no.
Lấy gì độc lập, tự do hỡi người? (2)
Bà Cát:
- Mắc mớ gì mà rên la. Tui có làm nên chế độ chế đá chi. Cô hổng thấy bên Tây, người ta có thịt, cá, ê hề, đầy nhóc, mà họ chỉ thèm ăn rau toàn là rau thôi đó sao.
- Thôi. Đừng nói nữa, không khéo bóp méo sự thật, nói lung tung beng, mang tội chống báng chế độ, thì bị tù mọt gông đa, mấy chị ui.
- Tui có hai cái cùi chỏ. Sức mấy dám “chống” đối ai. Chống gậy đi thủy lợi, thì có. Ai không đi thủy lợi, thì không có phiếu lương thực đã đành. Còn phải lên Ấp, lên Huyện “học tập cải tạo tư tưởng”. Hứ! Học tập cái ngữ gì hổng biết, một chữ bẻ đôi không rành, không biết, dốt còn hơn con bò tót, mà đòi đi dạy dỗ học tập “cải tạo” ai hử!? Đừng nên dùng chữ cải tạo nếu không có dấu ngoặt kép à nha.
- Đúng thế!
* * *
Có lần tôi bị đau nặng, không đi thủy lợi được, thì họ bắt bà mẹ già cuả Luật đi làm việc “bù” không công. Mẹ chồng hơn bảy mươi tuổi lặn lội mót lúa, mót sắn, mót khoai… . Vì “lao động là vinh quang”, mẹ đi bắt ốc mò cua, tửng bưng sáng mẹ mò mẫm ra đi khi trời còn đầy bóng tối. Rồi, tối mịt mù mẹ lò mò đội lúa trên đầu, mệt mỏi trở về. Mẹ làm việc nặng nhọc, cực khổ, nhưng mẹ luôn ăn cháo, không đủ sức “lao động phấn-đấu”. Nên đặc biệt ở trong nhà tôi chỉ một mình mẹ già được ăn cơm tấm pha ít cám chấm muối mè gói trong tàu mo cau! Sự thật 100%.
Hôm sau, hai đứa con nhỏ bé nhất của tôi có bổn phận phơi lúa, trở lúa, cào quét lúa đem vào nhà, không để mất sót hạt ngọc Trời ban. Chiều chiều, mấy mẹ con tôi lo giả gạo trong cái nón cối sắt (cuả “tàn dư đế quốc” ấy là nón “nhà binh”. Dù quân nhân chế độ cũ nay không còn, nhưng vẫn để lại những chiếc nón sắt, cho dân hữu dụng làm thành cái nồi để nấu thức ăn, hoặc giả gạo…). Mỗi lần tôi nâng niu chiếc nón sắt trân quý nầy, (vì đó là gia tài cần thiết nhất cuả chúng tôi sau ngày mất nước, thật sự tôi cảm thấy cảm động, thường trào nước mắt). Tuy lúa tươi còn mầm sữa, chúng tôi vẫn phải giả ra thành gạo. Sàng sảy thế nào vẫn bị trấu, cám, bám chặt vô hột tấm, vì lúa còn tươi, nghĩa là chưa phơi khô nên còn mầm sữa, đã vỡ nát. Đói quá, chúng tôi đành nấu nồi cháo tấm cám nham nhám độn củ mì rau dền, rau lang, rau đắng mọc hoang. Chúng tôi luôn ăn nồi cháo độn, bữa ăn quá sức tệ; thua bầy heo mập ú của nhà “con mẹ cán bộ xu thời xu thế Thân”.
Hết gạo ăn bo bo.
Học trò không có tập.
Độc Lập với Tự Do.
Nằm co mà hạnh phúc! (2)
“Nhà tôi” là một căn gia binh bỏ hoang trống-trơn từ trước ra sau, không có cửa lớn cửa sổ che kín lồng lộng gió. Không bàn, chẳng ghế, tủ, giường. Chúng tôi chỉ có: Một thau giặt, một thau rửa chén, một cái rổ, hai cái nồi đem theo từ ngày ở nhà thờ Huyện Sỹ: Nồi lớn chuyên dùng để nấu cháo, (họa huần lắm mới có một bữa cơm tấm pha xí cám. Một nồi nhỏ dùng luộc rau, hoặc kho tí muối quẹt. Một cái bình nhôm to nấu nước sôi. Đôi thùng gánh nước. Sáu tô nhựa lớn, sáu muỗng, sáu đôi đũa, vài cái dĩa sứt vành.
Một bao quần áo mặc thường ngày. Một bao cói đựng đồ vặt, một bao cói đựng hai chiếc mùng đôi màu xanh. Cái mền làm bằng bao cát Mỹ. Một valy da quý giá sang trọng mang theo từ ngày ở Đà Lạt di tản về đây (vì hồi xưa gia đình tôi ngồi trên nhung lục giàu sang với nhà lầu ba tầng gạch đúc, có xe hơi Peugeot 404 mới toanh, nhưng nhờ bác và đảng “giải phóng”, nên đã bỏ lại hết). Đó là tất cả gia tài quý giá của gia đình tôi trong XHCN. Chúng tôi phải giữ bo bo chằng chằng bên người những đồ vật cũ mèm ấy bất ly thân, vì hở ra một xí là bị mất trộm, kẻ cắp vờn quanh xóm nghèo như rươi!
Nằm dưới manh chiếu cũ nát láng đen và thô thiển, ngửa mặt nhìn trên nóc nhà, tôi thấy ngàn ánh sao xuyên qua lỗ tôn xi măng thủng vì bom đạn. Ngày nắng chói chang thì mặt trời soi rọi xuống vạt chiếu ẩm, khiến chiếc chiếu càng dòn đã bể nát vài chỗ, chiếu và nền xi măng hầm hập nóng, muốn lột da lưng. Mùa mưa ở trong nhà thì nước lụt ngập lên gần bắp chân. Nước trên mái tôn lủng trút xuống ào ào, nước ngoài sân cao hơn nền nhà ở tứ phía tràn vô. Mẹ, con, bà, cháu lội lủm bủm, bì bõm, chúng tôi cùng thi nhau cúi cúi tát tát nước, như tát ao, tát đìa. Chúng tôi cố gắng làm tận sức, vã mồ hôi hột trong cơn mưa, vẫn không thể ngăn nỗi cơn lũ ào ạt tràn vô căn nhà bị thấp hơn mặt đường. Trong nhà nầy đã giống như một cái ao. Nhiều lần chúng tôi đành chịu thua, bà cháu mẹ con vịn nhau, đứng dựa lưng vào tường, ngâm chân trong nước bùn hôi thối, mà ngủ gà ngủ gục.
Sau này biết khôn hơn, năm mẹ con tôi đi tìm các nhà gia binh bỏ hoang, con trai lớn mười hai tuổi mượn cái “búa tạ tày xồi” của ông bà Hùng, con dùng búa đập tường. Mẹ con khệ nệ ì ạch bưng từng viên gạch táp lô về, kê lên cao cao, để làm thành “cái giường”, hầu tránh nước lụt. Khổ nỗi, khi đã có cái giường “siêu tổ chức xã hội chủ nghiã” thì rệp, rận, gián, và muỗi núp dưới các khe hở, nhiều vô số kể, chúng luôn bòn rút máu của chúng tôi. Đó là “nhà của chúng tôi” luôn luôn nóng hầm hập như lò lửa, mưa ngập thành một cái ao bùn đầy nước bẩn trong chế độ xã hội chủ nghĩa thật. Đó là nơi nương thân của những kẻ không có tương lai, không có cuộc đời tươi sáng, không có ngày mai hứa hẹn hạnh phúc, tốt đẹp hơn.
Từ tửng bưng sáng mẹ già đi ruộng mò bắt được mươi con ốc, năm ba con cua, và một con cá lóc nhỏ bằng ngón chân cái. Về ngang bờ kinh, mẹ hái thêm chục dọc môn dại. Hôm đó, mẹ bảo tôi:
- Con nấu nồi cháo đặc, thật đặc nhá, chứ cả nhà ta luôn luôn ăn cháo lỏng bỏng, ruột mẹ cứ cồn cào, xót xa thế nào ấy.
Vâng lời mẹ, tôi cẩn thận nấu nồi cháo: độn một bó rau muống, ba phần củ sắn mì, hai phần dáu môn, và một phần gạo tẻ (gạo là do đi lượm mót lúa ngoài đồng, con trai đội về, tôi và con nhỏ giả bằng tay trong chiếc nón sắt, rất chu đáo và công phu). Các con tôi ra giếng công cộng tắm rửa xong. Các con gánh về hai thùng nước. Tôi múc ra sáu tô cháo, để xuống nền xi măng loang-lỗ vết đạn cày xới. Sau khi mời bà nội, mời mẹ, anh em vui vẻ mời nhau ăn cháo. Các con tôi hí-hửng cười reo dưới ánh trăng tròn, (chúng tôi sống ở “trong bóng tối”, chỉ nhờ trăng soi sáng, thì dùng đèn dầu làm chi, cho hoài phí của đi! Nếu ngày nào không có trăng tỏ, thì chúng tôi lo ăn cơm sớm).
Ai sinh ra cái củ mì?
Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn!
Nước nhà mãi mãi khó khăn.
Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì (2)
Cứ thế, các con của tôi sung sướng bưng tô cháo, hí hửng đưa lên miệng, húp rột rột, (vì hôm nay đặc biệt có thêm mùi vị của cá lóc) coi thật ngon lành. Bỗng, các con đồng thanh hét to. Đứa quăng tô xuống nền nhà. Đứa nằm lăn lộn trên nền nhà lỗ chỗ. Đứa dùng hai bàn tay cào móc cổ họn. Các con vật vã rên siết la làng, khóc lóc tru tréo inh ỏi. Mẹ già kêu rú lên quá to, bà dựa lưng vào tường, trợn trắng mắt, thở dốc và ho sặc sụa. Tôi đã húp ba bốn muỗng cháo, tự dưng cổ họng rát bỏng, ngứa cồn cào, ngứa điên cuồng, tôi cào móc khạc nhổ thế nào, cũng không bớt. Mặt, môi, lưỡi, họng, cả nhà chúng tôi đã phồng rộp, sưng vù, đỏ choét. Thì ra, chúng tôi bị dị ứng hay suýt bị ngộ độc, vì ăn phải mấy dọc môn dại hay sao!?
Tôi vội chạy ra thùng thiết dật dờ múc gáo nước, khuấy muối, vắt mấy trái chanh đưa cho mẹ già. Tôi kéo các con chạy đến thùng nước thứ nhì, cứ như thế, tôi bắt các con móc họng ói ra, súc miệng, nhổ đi nhổ lại nhiều lần. Bà cháu, mẹ con chúng tôi đều bị đau nhức cổ họng kinh khủng ghê lắm. Thân thể chúng tôi đều bần thần, bụng cồn cào vì ói ra mật xanh mật vàng, và nhịn đói, rị mọ vất vưỡng lọt tọt dìu nhau đi ra giếng tắm giặt. Lòng buồn xo như xé tâm tư.
Từ khi ta có Bác Hồ.
Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào.
Lương chồng, lương vợ, lương con.
Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm.
Lương tâm đem chặt ra hầm.
Với rau muống luộc khen thầm là ngon. (2)
Ôi! khổ nỗi một miếng ăn độn tồi tàn hơn nồi cám của con mẹ Thân cho heo của bà ta ăn, thế mà cả nhà chúng tôi cũng không thể nuốt trôi vô khỏi cuống họng! Ngày Tết Nguyên Đán và suốt cả tháng Giêng nầy, gia đình tôi nằm co ro trên cái giường táp lô, chúng tôi bị đau đớn quá độ, không tiền thuốc thang, đành vật vã ôm bụng nhịn đói. Chúng tôi không thể ăn nồi cháo đặc khổ qua con cò rị mọ con rùa. Ôi! Bài học ăn cháo đặc ấy trong tận đáy xã hộI, chúng tôi ghi nhớ suốt đời. Ấy là lúc xuân xanh của tôi vừa tròn:
“Trai ba mươi tuổi còn xoan.
Gái ba mươi tuổi đã toan về già”
Bác Hồ chết phải giờ trùng
Nên bầy con cháu dỡ khùng dỡ điên.
Thằng tỉnh thì đã vượt biên.
Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng. (2)
***
Kính gửi quý anh chị... & xin thông cảm về nỗi đau của người vợ tù “cải tạo”. Anh thương ơi! Bây giờ anh ở tù “cải tạo” nơi nao!? Anh có thấu chăng cho hoàn cảnh đau thương, bi đát, khốn cùng của bà cháu mẹ con em bây giờ không hở anh!? Ôi! Mùa Xuân năm 76 - 85!!!:
Như một người già ngồi nuối tiếc dĩ vãng xa xưa...
Như một danh tướng ôn lại những chiến tích oai hùng!
Như chim trong lồng ai oán nhìn bầu trời bao la.
Tôi mất Sài Gòn, nhưng thành phố vẫn sống mãi trong tim tôi.
Nhưng tôi không là người già, thì vẫn còn tương lai.
Tôi không là danh tướng, nên chẳng chiến công nhiều.
Tôi không là chim trời mãi mãi mất tự do.
Tôi chỉ là con bệnh trong cơn đau chung nầy.
Rồi sẽ hết, rồi sẽ hết những tháng năm đau thương trong cuộc đời!
Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy.
Rồi sẽ thấy, rồi sẽ thấy những tháng năm đau thương trong cuộc đời.
Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy. (1)
*
(1) “Uống chén đắng” Lời và nhạc: Cung Mi
(2) Lượm lặt sưu tầm
*
Tình Hoài Hương






































Comment