Noel xưa anh nhớ
Khi hãy còn yêu nhau
Nhà thờ nơi cuối phố
Thấp thoáng sau ngàn dâu
Anh chờ em đi lễ
Chung dâng lời nguyện cầu...
Mimosa mimosa bừng nở
Đẹp như tình ban đầu
Đêm Noel Đà Lạt khai sinh Mười với tuổi xuân hồng phới phới rót mật vàng từ thinh không xuống lòng phố nở hoa mùa đông. Gió cuối đông lồng lộng thổi về làn hơi buốt giá tê người. Bầu trời ướt đẫm sương đêm, một Noel tuyệt vời ngọt ngào ngây ngất, đầy hương vị tình yêu miền núi. Từng hồi chuông dài ngân nga giữa đỉnh đồi bay qua các sườn dốc, các khe thung: tiếng chuông mừng vui réo gọi hoan hỉ reo vang cùng thế nhân. Một đêm hội lịch sử đón chào Chúa Giáng Sinh 24 tháng 12: là đêm lạnh lẽo buốt giá hạnh phúc vui vẻ tưng bừng rất mùa xuân. Mười chợt bừng tỉnh giấc ngủ nồng say. Sau mùa Thu héo úa, rồi mùa đông buốt giá gần tàn. Thỉnh thoảng gió thổi qua mát rượi khiến lòng cô em xôn xao, đủ làm cho da người con gái xứ lạnh càng thêm thắm hồng, dấy động từng thoáng nhớ đắm say, vấn vương, ngọt ngào mãi không rời, qua tiếng tơ lòng dìu dịu rung ngân trên mỗi phím loan.
Hàng cây tối mờ trong lớp sương mù dày bao bọc vòm trời ẩn hiện ánh đèn vàng vọt mờ nhạt ở đầu phố, tạo thành nhiều đóm sáng bất động. Các mái nhà dưới thấp trên cao chênh vênh bên sườn đồi thoai thoải. Những con đường mòn chạy dài xuống thung lũng âm u, văng vẳng đâu đây tiếng lao xao cười nói ồn ào. Nhiều tốp nam nữ thoáng chốc đến nhanh tấp nập ra phố đêm đi dự lễ. Trên các nẻo đường lớn trong thành phố, người đi kẻ lại đông vô số kể. Họ khoác bộ cánh rực rỡ, áo lạnh khăn quàng, găng tay, mũ len đủ mọi màu sắc. Phố phường tưng bừng rộn rã hoan ca khác hẳn ngày đầu đông ở xứ lạnh. Người người vui vẻ cười đùa chuyện trò ríu rít, họ đi lại ngược xuôi chen lấn nhau trên đại lộ. Không chiếc xe nào có thể qua lọt giữa rừng người đang bách bộ đông như kiến. Người ta vui vẻ nói cười, không cần biết những ông cảnh sát đang vất vả làm việc lưu thông không ngưng nghỉ.
Ở trong nhà: Bảo, Quốc Toàn, Thịnh, Trình loay hoay trang hoàng cây thông cao quá, đọt đụng trần nhà bị cong hẳn lại, Bảo phải cưa bớt một đoạn dài. Sau đó các cháu móc đầy dây kim tuyến, ngôi sao, quả cầu đủ màu sắc, thiệp Noel, thiên thần, ông già Noel, và giăng nhiều đèn màu chớp tắt. Dưới gốc thông có những gói quà nho nhỏ, xinh xinh, gói bánh, kẹo, đồ chơi linh tinh... Nhạc giáng sinh trỗi lên tưng bừng nhộn nhịp, hoan hỉ vui vẻ trong căn nhà ấm áp. Tiếng cười con cháu vang khắp nơi, ngôi nhà bây giờ vui như mở hội. Sau nhà ngang: chị Khánh, bà bếp chiên xào nấu nướng các món ăn thơm phức. Họ chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, lát nữa đi lễ về là gia đình ăn réveillon. Ăn cơm tối xong, Mười quét dọn, lau chùi nhà cửa sạch sẽ tươm tất. Mười ủi áo quần cho gia đình, Mai vừa lau bụi trên các kệ sách, nó nói:
- Hồi chiều, có anh Phú, Lễ, Tài, Vinh, đến nhà mời chị em mình, chín giờ rưỡi lên Couvent xem lễ, chứ ở nhà thờ con gà đông lắm! Rồi kéo nhau về nhà họ ăn réveillon, mở party... Em chưa kịp nói gì, thì anh Nam đến.
Ngạc nhiên, Mười ngừng ủi áo, ngẩng nhìn em, hỏi:
- Anh Nam gặp Phú? Họ nói chuyện vui vẻ há?
- Coi chừng cháy áo. Chị "táp pi" em tới tấp à? Họ chào hỏi nhau, vui vẻ cả làng.
Hồi chiều Mười bất ngờ thấy Nam ngoài phố, lòng Mười đã rộn ràng, xao xuyến, mừng rỡ. Về nhà Mười dấu kín niềm vui, giả vờ như chưa biết gì. Phần các cháu muốn Mười có chút bất ngờ thú vị, nên chúng cũng không nói Nam từ Sài Gòn đã lên Đà Lạt. Tâm trạng Mười lúc này thật kỳ, vừa mừng vừa lo, bồi hồi, quắt quay với nỗi mong chờ. Bây giờ nghe cô em vừa nói, lòng nàng nao nao, băn khoăn bồi hồi. Lãng mạn không? Nhắc đến Nam, Mười quên hết mọi sự, tươi vui nét mặt ngay, mọi thứ bỏ sang một bên. Khi tình yêu đến có khác gì cây khô gặp mưa thuận gió hòa trở nên xanh tốt. Muốn sớm gặp người yêu, nàng nôn nao, vui mừng, thấp thỏm, không yên ổn ấy mà.
- Chị cũng đi lễ với các anh kia chứ?
- Đi sao được!
- Đến nhà Phú xí, rồi chị về đi lễ với anh Nam. Không có chị, chẳng vui.
- Đủ rồi. Em không chuẩn bị gặp người yêu sao?
Mai cười hì hì, nàng mặc sẵn áo dài mới màu xanh nhạt, điểm cánh hoa vàng nhỏ rải rác trên tà, quàng chiếc manto đen. Từ khi có "bồ", thì vấn đề ăn mặc trở nên cần thiết với Mai, quần áo tuy lèng xèng giản dị, nhưng tươm tất. Nàng nghĩ: Dù sao nên "giữ kẽ" một tí, diện một tí, xuềnh xoàng quá coi cũng mất mặt bầu cua. "Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần" mà!
Mười đi lên, đi xuống con dốc mờ tối năm bảy lần, chờ đón, ngóng trông Nam kinh khủng. Ruột nóng như lửa đốt. Dưới ánh đèn vàng vọt đầu phố, hàng cây tối mờ, bụi qùy cánh lá xòe to nham nhám, thấp thoáng nhiều bông hoa màu nghệ, nhụy nâu nở hết cánh trông vui mắt, chúng nép mình dưới chân vách đá. Các mái nhà dưới thấp, trên cao, chênh vênh bên sườn đồi thoai thoải, chạy dài xuống thung lũng âm u, có ánh đèn mờ nhạt chiếu ra, tạo thành nhiều đóm sáng bất động, lớp sương mù dày bao bọc cả vòm trời. Cuối sân sau trường kỹ thuật Lasan, bờ khe nhỏ ăn xuống phiá dưới, khe mương nước chảy một bên đường.
Thỉnh thoảng có vài hòn đất, đá lăn trên khe cao rơi xuống. Một tiếng "bủm" khô khan to và lạnh lùng. Mười dừng lại, nhìn về phía đó đăm đăm, văng vẳng đâu đây tiếng lao xao cười nói ồn ào, thoáng chốc đến nhanh. Tốp nam nữ tấp nập ra phố đêm đi dự lễ, hình như có tiếng ai nói gì trong bóng tối, nơi ánh đèn đường không dọi tới. Ai nói gì vậy!? Coi vậy nàng nhác gan ghê! Có cái gì khiến Mười nhìn ra đầu đại lộ Yersin? Năm ba cây anh đào hoa nở rộ cài cánh hoa mong manh, ẻo lả, trên cành trơ trụi lá. Đồi thông rì rào trò chuyện dưới thung lũng, khu đất nhà ông Nguyễn Đệ rộng mênh mông, thì có gì để nàng phải đăm đăm nhìn về hướng đó, lòng thấp thỏm bồn chồn âu lo quá đỗi?
Chiếc taxi ngừng lại ở đầu dốc; Nam bước xuống, chàng mặc bộ veston mùa đông màu đen, cà vạt mầu nâu non ôm kín cổ áo sơ mi vàng nhạt, áo pardessuis màu kem vắt trên vai như khách lữ hành ngày xưa mà Mười mới gặp. Nam mang đôi giày da thời trang cùng màu với bộ veste. Mười cười rạng rỡ, rảo bước về phía Nam. Dưới cột đèn đường khi Nam nhìn thấy Mười, anh âu yếm trao nàng nụ cười tươi thắm, Nam nhận tình em yêu bằng cách chàng tìm bàn tay Mười trong bóng tối, ánh mắt tha thiết nồng nàn hơn. Nam nắm tay Mười đi xuống dốc. Nàng líu lo:
- Sao anh không viết thư, báo tin trước. Em sẽ đi đón?
Nam im lặng đưa Mười quyển album, hộp bánh, quyển "Trau Dồi Ý Chí" của Claude Maillard, một hộp nho nhỏ bao giấy kính vàng, cột nơ hồng (quà gia đình các anh chị, các cháu, thì Nam đã đem đến hồi chiều).
- Anh lên đây hồi nào vậy. Nam?
Chàng siết chặt tay nàng, khẽ thở dài, Nam không nói: Mặc cho Mười ríu rít hỏi chuyện, anh chỉ cười cười siết chặt tay Mười im lặng. Dừng lại dưới ánh đèn, nàng giựt tay ra khỏi tay Nam, ngẩng lên, hỏi:
- Giận em à, hở anh?
- Mười đi đâu, từ sáng sớm đến tối mịt vậy em?
- À, em đi xuống Cầu Đất với mấy nhỏ bạn, làm chuyện tào lao, ngu ngốc. Anh lên đây, em rất mừng, anh à.
- Biết có "họ", thì anh hổng thèm lặn lội từ Sài Gòn lên Đà Lạt để dự lễ Noel đầu tiên của chúng mình đâu. Mười có vài chàng trồng cây si, cây mơ. Thì… nhớ gì đến anh, mà mừng vui hé. Các bạn ấy đã chờ em suốt buổi chiều đó.
- Tự họ qúy mến cả nhà. Chẳng riêng ai. Không vì ai, anh ơi!
- Chưa chắc à. Hai người tiếp tục đi xuống con dốc nhà:
- Anh thấy Nghi “là bà con xa xa" của em đã đến đây.
- . . .
- Ủa! không bà con sao? Vậy không lẽ… họ là “bạn yêu” của chị Hạc?
- Mỉa mai gì ác thế? Em yêu anh nhiều mà.
Cảm động trước câu nói bất ngờ, Nam nhận tình em yêu bằng cách chàng tìm bàn tay Mười trong bóng tối, ánh mắt tha thiết nồng nàn hơn. Nam không nỡ trêu chọc nàng, sợ Mười hờn dỗi, thì mất vui. Họ sợ chị Tư "nom thấy" nên vội buông tay nhau khi đứng trên thềm nhà.
Nam, Mười, cùng các cháu đi lễ đêm Noel. Họ đi trong lòng phố giá băng buốt lạnh, mang trong lòng niềm hân hoan yêu đời, vui vẻ hạnh phúc, bình an, tuyệt vời nhất. Thỉnh thoảng gió đông thổi qua mát rượi, đủ làm cho da người con gái xứ lạnh càng thêm thắm hồng. Noel khai sinh tuổi xuân hồng phới phới đang rót mật vàng từ thinh không xuống: lòng phố nở hoa mùa đông trên đỉnh đồi mù mịt sương muối và trong cánh đồng thương yêu của Nam và Mười. Một Noel tuyệt vời ngọt ngào ngây ngất, đầy hương vị tình yêu miền núi. Từng hồi chuông dài ngân nga giữa đỉnh đồi, qua các sườn dốc, các khe thung tiếng chuông mừng vui réo gọi, hoan hỉ reo vang cùng thế nhân đón chào ngày Chúa giáng trần.
Hai vì sao sáng nhất thân ái quỳ gối bên nhau trò chuyện trên bến Ngân Hà. Vành trăng khuyết lơ lửng như chiếc thuyền con trôi đi trôi về giữa các tầng mây. Noel là một lễ giáng sinh tuyệt diệu, hạnh phúc nhất của đời cô gái mười sáu tuổi chớm lớn. Và, có lẽ là một Noel tươi đẹp thú vị nhất của một chàng trai mười chín tuổi. Lòng Nam và Mười xôn xao dấy động, họ vui không thể tả. Tay trong tay tình nồng trong mắt biếc trao đưa, đôi mái đầu xanh chụm lại, cùng dạo bước bên nhau quanh khu trường học.
Các cháu vào hội trường xem học sinh trường trình diễn văn nghệ. Triển lãm tranh ảnh. Bích báo. Tuần san. Máng cỏ. Riêng “hai anh chi”̣ ngồi ngoài băng ghế đá, cạnh vườn hoa trước nhà thờ Dòng, chàng lấy trong túi áo veste ra hộp sơn mài nhỏ, có sợi dây chuyền vàng l8k, mặt chữ NM. Anh đeo sợi dây chuyền vào cổ Mười, âu yếm nói:
- Kỷ niệm dù bé nhỏ, vẫn có giá trị về hạnh phúc một đời. Ta cảm ơn Chúa cho chúng mình gặp nhau, yêu nhau. Em nha.
- Dạ phải.
Vuốt lọn tóc buông dài trên bờ vai Mười:
- Mái tóc em dài, anh rất thích, đừng cắt ngắn nghen.
- Anh khen quá, em bể lỗ mũi, chết à.
- Ơ kìa! Ai khen em mà bể mũi. Mắc cỡ chưa!
- À há. Chi mà dị dạng rứa hè. Anh là khách lữ hành, dù đất lành chim vẫn chưa đậu. Rồi chốn phồn hoa đô hội cũ sẽ gọi anh quay về thôi. Có gì mà không bể mũi em chứ.
- Phượng hoàng đã gãy cánh trên đôi vai nầy rồi.
Vỗ vỗ trên vai Mười, Nam nói lời dịu ngọt, Nam nâng niu lọn tóc dài xõa bên má và đưa lên môi hôn. Mười cắn nhẹ làn môi, đầu nghiêng hẳn lên vai chàng. Hơi thở Nam ấm nồng, phả nhẹ vào mái tóc Mười như làn hơi sương nhút nhát mà ấm áp. Ngón tay thư sinh trắng trẻo mềm mại truyền qua làn tóc mỏng xõa trên vai Mười cảm giác đằm thắm, lâng lâng ngọt ngào dễ chịu. Nam biết, nếu anh cúi xuống đặt lên môi Mười nụ hôn đầu tiên, có thể nàng không phản đối; Nam đắm mình trong hạnh phúc bất tận, ngây ngất niềm vui dạt dào. Nam nâng niu, trân trọng mối tình nên thơ, hồn nhiên nở hết cánh trong đôi trái tim chân thật. Sao lạ quá! Cũng như lần Nam gặp gỡ Mười trước kia, ý nghĩ về việc Nam muốn ôm ghì Mười vào lòng mà hôn, cho thoả những nỗi niềm nhớ nhung bấy lâu Nam vẫn nung nấu trong lòng. Nhưng rồi… Nam nhìn Mười hồn nhiên và giản dị ngây thơ, thì Nam cố gắng “đè nén” xúc cảm và rạo rực… chìm xuống xí. Cứ vẩn vơ nghĩ đến là Nam cảm thấy người mình nóng rang trong trạng thái lâng lâng dật dờ rất khó chịu…
Tiếng chuông báo hiệu nửa đêm ngân dài giữa vùng núi đồi trùng điệp chập chùng. Biển sương mù trắng xóa, thì hai người dìu nhau vào giáo đường xem lễ. Nam dâng cuộc đời, tình yêu nầy và tương lai cho Chúa Hài Đồng gìn giữ. Sau lễ Nam về nhà chị Khánh ăn mừng, không khí gia đình ấm cúng, thân mật. Ba giờ khuya, chàng từ giã Mười để về nhà Tuấn ở cuối đường Hoàng Diệu. Chàng sẽ không bao giờ quên kỷ niệm vàng son một thuở yêu nhau, không thể nào quên… dù mai đây thời gian trôi chảy mãi, đời mỗi người trong hai chúng ta sẽ xa cách, phai mờ đi. Cuối cùng tình yêu nầy vẫn sống mãi trong tiềm thức, trong tư tưởng mỗi người.
Một mình Nam đi trên lòng phố vắng hồi lâu, chàng còn nghe rõ tiếng gót giày cô đơn thong thả gõ lóc cóc lộp cộp đều đặn trên mặt nhựa đẫm sương mù, giống như Nam đang đi trên dòng thác vừa tráng thêm lớp men tình. Sương rơi lốp đốp trên cành, hạt sương mọng tròn long lanh như ngấn lệ đọng, sương đậu lại đầu ngọn lá rung rinh dưới ánh trăng nhạt nhòa. Sương phủ trên thân Nam tê buốt thịt da. Nam dừng lại giữa lòng thế kỷ, lần tay tìm trong túi quần gói thuốc, hai lòng bàn tay Nam lạnh lẽo khum khum che đốm lửa, điếu thuốc gài lên môi. Nam ngửa mặt lên trời thả ngụm khói tản mạn trong không trung quyện lẫn hơi sương ngút ngàn bay bay.
Nam cảm thấy đơn điệu cô độc lạ thường đang choàng vô cái khuya buốt lạnh, giá băng, im ngắt đến ghê rợn. Đường về khuya tại thành phố Đà Lạt trữ tình càng hiu hắt hoang vu, khuya thăm thẳm, sắc bén ăn sâu vào lòng du khách, khuya lạnh lùng vây bọc nhận chìm Nam trong đam mê ngút ngàn phong thổ. Ngàn đời xứ Cao Nguyên Lâm Viên vẫn không thể mất đi vẻ thơ mộng, hữu tình, tràn lan quyến rũ, trọn vẹn những tấu ca hương trầm dạ khúc đêm trường qua cung đàn đắm say trần thế: Thôi thì anh xin hưá: Anh là Sương, em là Cỏ: chúng ta sẽ vĩnh hằng nha em: Mây lang thang tình chẳng nhạt phai
Cỏ tàn rồi sương rớt với ai?
Mọi chuyện từ nay sương xin hứa
Đến cùng nhau, thôi nói chuyện dông dài.
Tuy vui tính nhưng ta chưa hề
Đến với ai kết mối duyên thề
Đem ân tình gửi theo sương gió
Nếu không tin: Cọng cỏ đã nghe.
Lời hẹn hò từ thuở bến mê
Có lần quên mất lối sương về
Nay trao nghĩa cỏ ân tình trọn
Đào nở Đà Lạt cảnh suối khe.
Anh và em vui tình nước non
Câu thơ tiếng nhạc mảnh trăng tròn
Tha phương vẫn giữ lòng chung thủy
Ấp ủ suốt đời một tấm son.
Đôi kẻ dìu nhau dưới bóng trăng
Rì rào sóng vỗ cuối trường giang
Yêu anh em kính, luôn trân trọng
Sương muộn trong tim cỏ vĩnh hằng. (*)
Nhiều cuộn mây trắng lững lờ gợn trên lưng trời sáng bạc thêm óng ánh, mây là đà in bóng trên mặt hồ Than Thở, thoáng chốc mây trôi về chân núi Lâm Viên. Khi nắng ươm hồng những cành hoa anh đào lả lơi chúm chím nụ hồng xinh xinh, cánh lá nhung lam mông mốc mươn mướt rung rinh, từng chùm mimosa vàng lác đác phấn e ấp run run theo gió, hoa mimosa tỏa mùi hương thoảng nhè nhẹ là lạ vì mùi hoa hơi hăng hắc. Từng đàn chim én thoăn thoắt chao liệng trên không trung, chúng bay bướm vẽ những đường cong khá lả lướt, ngoạn mục. Bao tiếng chim ríu rít rủ gọi nhau về mở hội ngày đầu năm mới ở hiên ngoài.
Cảnh đến thăm tôi vào một ngày Chủ Nhật. Cảnh: Dáng người to to, cao cao, mái tóc quăn quăn gợn sóng cắt ngắn ép sát vào gáy, dưới vầng trán rộng và cao là cặp lông mày rậm nhưng không dữ dằn, đôi mắt hai mí to và đẹp, hàng mi cong cong, miệng rộng, nụ cười tươi với hàm răng trắng bóng khá đều, mũi lân to bè khoan khoái, làn da Cảnh ngăm ngăm nhuốm ít phong trần. Nói chung chung gương mặt và thân thể Cảnh tạo thêm phần hiên ngang, đĩnh đạc, an hoà & toát lên một vẻ gì độ lượng, mực thước, chững chạc, hiền hậu, ân cần mời gọi, mà tính anh lại thẳng thắng, trang nghiêm, làm cộm lên trong lòng tôi niềm thương thương, oai dũng, dạt dào trìu mến, hay hay sao sao ấy. Cảnh là chàng trai sinh trưởng ở miền sông Hậu. Ba của anh ấy ở miệt Cầu Kè (Trà Vinh) quê mẹ anh ấy ở Sóc Trăng (Long Phú). Nên Cảnh hấp thụ lối sống hồn nhiên, chân thật, vui tính, bộc trực, ăn nói thẳng thắn, thành thật. Cảnh không khách sáo, không ngại ngùng tự nhiên gõ cửa phòng riêng, khi ngày Chủ Nhật tôi cần nghỉ ngơi, đang chập chờn trong giấc ngủ trưa.
Cảnh cởi tấm áo quân-phục sinh-viên sĩ quan Võ Bị đã mặc ra, chàng máng chiếc áo có cầu vai đỏ lủng lẳng dây biểu chương lên lưng ghế dựa. Cảnh cởi bỏ cà vạt đen lủng lẳng trước ngực áo sơ mi trắng ngần, áo quần thẳng nếp ly hồ ủi cẩn thận. Chàng chỉ mặc áo thun trắng và mặc quần tây, chân mang đôi giày đen bóng loáng. Có một lần đến thăm tôi, Cảnh đã cởi đôi giày ra, chàng nhìn lui nhìn tới ở trong phòng (phòng phụ nữ độc thân thì làm gì có đôi dép loại đàn ông nào, mà tìm). Cảnh muốn đi chân không cho thoải mái, mát mẻ nhẹ nhàng xí. Tôi hiểu ý và tinh nghịch cầm đôi dép cao gót của mình giơ ra trước chân chàng. Cảnh tủm tỉm cười, ung dung xỏ ba ngón chân vào chiếc dép, còn ngón kế và ngón út thì chìa ra ngoài, cọ quệt xuống nền gạch. Rồi Cảnh hóm hỉnh đứng lên đi ưỡn ẹo, nhoi nhoi cái đít như… như đít vịt, ì ạch uốn éo vặn vẹo thân hình, Cảnh đủng đỉnh đi lui đi tới, hai tay đánh đằng xa giống mấy cô người mẫu điệu hạnh. Cho tới lúc đôi dép không chịu nổi sức mạnh “trăm cân”, đã xẹo qua một bên, khiến Cảnh đo ván nằm chổng cù đơ ngã lăn cù cù trên sàn gỗ.
Chúng tôi cùng cười rộ. Bốn mắt đã âu yếm lắng đọng say sưa niềm khát vọng yêu thương trong bể tình. Tôi cảm thấy xôn xao niềm hứng khởi vui thích, tự tay mở rộng cánh cửa đón nhận một hình ảnh tin yêu, nung nấu cồn cào “chất đam mê” đang âm ỉ cháy rực trong lòng. Gợn tình hây hây phơi phới mang nhiều luyến thương dĩ vãng mờ phai đã xốc đứng tôi dậy. Hiện tại khẽ khàng ỏn ẻn và líu ríu nhí nhảnh đọng lại ở giếng mắt tôi; kể từ khi chúng tôi tíu ta tíu tít rón rén nhón gót… nhè nhẹ lâng lâng ríu rít thầm hẹn nhô rủ rê nhau đi vào đời.
Cảnh nheo nheo mắt, cười cười:
- Hồi tối đi ăn trộm ở đâu, mà bi giờ ngủ say quá vậy. Em?
Vào phòng rửa mặt, tôi khúc khích cười, nói vọng ra:
- Ấy! Em “dừa dô” trong “Dõ” Bị, “ginh” anh “dìa” nè. Anh hổng thấy sao!
- Khỏi cần rinh anh. Anh cũng phải đến. Vì Ngân Thụy đó.
- Anh nhớ ai... mà ưa gọi em là “Ngân” Thụy há!?
- Ừa. Vì đôi mắt em long lanh như ngấn thụy… tinh.
- Ơ! ...Em?
- Chúc mừng em ngày đẹp năm mới và… happy birthday em mười tám tuổi, nửa tháng và ba ngày lẻ.
- Trời! Anh còn tính kỹ hơn cả em nữa.
- Có những điều… chính mình chưa nghĩ đến. Thì có thể người khác đã nghĩ thay cho em rồi.
Cảnh đến bên cạnh nâng tay tôi lên, chàng đặt gói quà to tướng vào lòng bàn tay tôi mát lạnh. Tôi ngỏ lời cảm ơn anh, khệ nệ bưng tới chiếc bàn rộng, từ tốn mở ra. Có hộp kẹo dâu nhỏ thơm ngon. Quyển “Đắc Nhân Tâm” của Dale Canergie. “Cách Mạng Con Người” của Krishnamurti. “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” của Alexandre Dumas. Mấy quyển sách nầy là do Cảnh đã mua vào trường, để đọc sau giờ giải trí, nay chàng mang ra cho tôi. Nhưng còn bức tranh lụa của Tạ Tỵ, như gợi lên lòng tôi bao nhớ nhung. Mỉm cười chỉ bức tranh, tôi hỏi:
- Anh thích bức tranh nầy sao?
- Hôm trước đi xem triển lãm, anh thấy em đứng ngẩn người, biến thân vào cả cái nhìn. Anh cho rằng: em thích bức tranh hoàng hôn bên suối, mà hoạ sĩ đã ghi lại rất thần bút. Phải không nào!?
Quả thật bức tranh sinh động, tuyệt vời, phong cảnh hoàng hôn chiếu trên bãi cát ươm vàng bên suối, thật mơ màng, trông rất đẹp. Trải tranh lên bàn rộng, thuận tay Cảnh ghi hai câu thơ của V.S. Yeats:
“Dưới chân nhau, ước mơ ta dàn trải
Hãy êm đềm nhẹ bước, kẽo mơ phai”.
Tôi thầm nghĩ: “Có lẽ anh chàng nầy thật xứng-hợp với mình”. Cảnh tự động xuống lầu lấy đinh búa ở dưới garage lên, chàng lúi húi đóng đinh, rồi treo bức tranh trên tường gạch:
- Treo thêm bức tranh, trong phòng coi sinh động lên đôi chút. Chớ không thì… căn phòng của em quả là buồn. Ha em.
- Anh chu đáo lắm. Cảm ơn anh.
Cười khà khà, Cảnh ngồi lên mép chiếc bàn vừa trải tấm tranh lúc nãy, chân phải gác lên ghế dựa, một tay chống ngang hông, tay kia có hai ngón kẹp điếu thuốc lá. Chỉ khung ảnh bỏ trống và lọ hoa hồng héo tàn từ lâu quá lâu, Cảnh nheo nheo mắt… kịch kịch. Chàng nhướng cao cặp lông mày nhúc nhích lên xuống, tỏ ý trêu ghẹo, anh ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi:
- Hư vô trong khung ảnh nầy ha!?
- Vô duyên như Thụy, thì làm gì có ảnh đối diện chứ.
- “Ảnh” có hai nghĩa chính: “ảnh” có nghĩa là tấm hình, tấm ảnh. Có nghĩa nữa là “anh ấy”. “Nhà tôi” hay “ông xã” đó Thụy à. Còn khung ảnh ở trên bàn nầy chưa có hình ai: có nghĩa là em chưa chọn một “ảnh” tâm đầu ý hợp, để lộng kiến ngắm nhìn. Phải không em?
- Dạ... Anh muốn hiểu sao thì hiểu.
Sau cơn bão lòng hấp hối gần kề vực sâu, tôi thường có trạng thái vật vờ dật dờ trôi từ hiện tại về quá khứ, rồi lơ lửng bay vào hư vô. Tôi đã im lặng đóng khung đời mình mấy chục tháng câm nín hờn giận rồi!? Vết rạn lớn nhất về mối tình đầu tiên ấy, làm hỏng niềm tin yêu, đó là: đam mê duy nhất một mối tình rất trong sáng. Tôi tôn “người ấy” lên hàng thần tượng, lý tưởng cao vời. Nhưng khi biết ra… thì tôi và "hoàng tử ấy" quá khác biệt, “cố nhân” đa tình bay bướm... lẽo lự lừa dối. Rất trái ngược tôi; thực chất tình cảm ấy giống cục đá, giống như con heo đất, nếu có mỹ cảm chăng, thì chỉ đáng đồng bạc nằm ngửa trên đất. Thật quá thất vọng!
- Thụy có nghĩ rằng: Nếu em có vài tấm ảnh của “chàng trai tập sự làm Lính” ở trường Võ Bị trong tập album của em, ấy là thời trang của mỗi thiếu nữ, sẽ tăng phần thi vị hoá cho cuộc sống hiện tại không? Em?!
- Anh có ý tưởng ngộ nghĩnh ghê à nha.
- Mong rằng em hãy “lộng kiến” hình anh nhe, chớ đừng “liệng cống” thì … đau khổ đời trai.
- Hay nhỉ!
- Nếu anh có nhã ý tặng em…
- Em nghiêng đầu nói: Rất hân hạnh.
- Không khách sáo chớ.
- Cũng tùy.
- “Ong độc là ở cây kim.
Độc nhất vẫn là con tim đàn bà…”
- Hứ! Nè anh, em là cô gái, chứ chưa phải... núi Bà Nà!
- “Em là cô gái anh yêu.
Nhớ em khôn tả sớm chiều bâng khuâng”.
- Anh xuất khẩu thành thơ đó à.
Cảnh tủm tỉm cười, dí dỏm và hồn nhiên tự tiện lồng tấm ảnh của chàng vào trong khung hình trống để trên bàn. Rồi Cảnh xuống lầu ra vườn hoa tự tay cắt mấy đoá hồng nhung. Cảnh đem vô cắm vào cái lọ, (vừa rửa sạch và thay nước mới). Cảnh đến gần bên tôi, tự nhiên đến nỗi… tôi cảm thấy như việc Cảnh quen biết tôi… cứ coi như thân thiết từ lâu lắm ở kiếp nào rồi. Cảnh nhìn tôi mỉm cười, nhẹ đá hàng lông mi dài cong cong, chàng tình tứ cười cười quàng tay qua vai tôi. Tay kia chàng chỉ bức ảnh và lọ hoa:
- Em thấy sao?
- Thanh lịch lắm. Anh biết cách cắm hoa.
- Không. Em hãy quan sát anh ấy chớ. Em thấy anh ra sao kìa?
- À. “Lính Võ Bị” oai hùng và khá dễ coi.
- Dễ thương không?
- Không biết nữa.
- Không biết là phải.
- Sao cơ?
- Vì… khi anh đã yêu, thì “Lính Võ Bị chưa sĩ quan” rất dễ thương.
- À ra vậy.
- Anh xin em cho “Lính ấy” ở mãi trong ngôi nhà nầy. Em chịu không?
- Anh không sợ chứ.
- Không có gì cản được, khi tình yêu chân thật đến.
- Anh tin như vậy à?
- Hẳn nhiên rồi.
Mém chút nữa thì tôi ...thì tôi ôm chầm cánh tay chàng. Và cũng xém chút nữa tôi ngâm những câu ca dao: Thân tui thui thủi một mình.
Đêm đêm lạnh lẽo buồn tình lang thang.
Nếu ai nghĩ chuyện đá vàng.
Tôi xin được dạo cung đàn tình chung.
* * *
Câu chuyện “tình Lính Võ Bị” chợt đến, làm ngây ngất lòng nhau từ hai phía chúng tôi đã dừng lại ở đấy. Không thân thiết hơn qua vòng tay Cảnh buông hờ trên bờ vai áo len màu tím hoa sim. Cũng là lần đầu tiên Cảnh mời tôi đi ăn tối ngoài tiệm; trước khi tôi tiễn chàng lên xe taxi, để Cảnh trở vào quân trường. Nơi mà ngày thường Cảnh sẽ mặc quần áo kaki vàng, đội mũ nhựa, hoặc nhiều lần chàng kể cho tôi nghe:
- Anh ẵm vợ con giơ lên đầu, chạy quanh cột cờ, có khi anh bị hít đất lia chia, thiệt mệt bá thở.
- Ố! Anh nói sao? Dám ẵm vợ anh à!?
- Ah ha! Có nghĩa: súng là vợ, đạn là những thằng nhóc con. Úi! Nặng kinh khủng em à. Các anh phải cặp súng đạn ở sát bên mình như… đầu gối tay ấp vợ vậy mờ!
- Em ghét nhất là cái tướng cứng cỏi khi anh… ăn cơm.
- Em không rõ, chớ đó là một “đặc thù” rất lịch sự tuyệt vời của con nhà tướng, giống gà nòi đó em à! Trước khi vào “phạn xá” tân sinh viên áo quần thẳng tưng, không sổng sểnh, ngực ưỡn ra, “ta” đứng trước cửa đọc thuộc lòng quân số của mình, đọc thật to, không vấp váp, không ấp úng. Sau đó mới ngồi vô bàn ăn. Anh kéo ghế ra, thanh lịch nhẹ nhàng thôi, không gây tiếng động sồn sột à nha. Ngồi ăn lưng thẳng đứng.
- Coi giống người máy thấy mồ!
- … Tay bưng chén cơm giơ lên ngang miệng, và-cơm ăn nhanh, lịch sự không húp rột rột, không hả miệng nhai ngồm ngoàm, hay cười nói ba láp. láp dáp khi còn thức ăn ở trong miệng nghe em.
- Hứ. Ai… mà chẳng như vậy!
- Đôi khi cũng có người quên, vì đói, vội vã ăn, nên ưa rớt đài, bị phạt hoài đó chớ!
- Ui xà…
Từ nay như đã ước hẹn, thỉnh thoảng bất đắc dĩ thì Cảnh mới vào nhà anh chị Tuế. Lúc nào bất ngờ Cảnh có phép xuất trại, không thể hẹn trước với tôi, vì nhà không có đường phone (khuôn viên khu đất ngôi biệt thự nầy nằm ngay ở đầu góc hai đại lộ: Yersin và Pasteur; từ trong nhà ra ngoài sân quá rộng, khá xa. Người ở trong nhà không thể nào nghe tiếng gọi, nếu họ không bấm chuông ở ngoài cổng lớn). Ngoài ra, khi Cảnh thấy cửa sổ (phòng riêng của tôi trên lầu) mở; ấy là lúc tôi có ở nhà. Cảnh sẽ dùng cái còi tu huýt hướng đạo thổi lên hai tiếng ngắn và một tiếng dài lê thê, để báo hiệu. Nghe “tiếng tu huýt gợi tình xuân”, tôi sẽ hiện ra bên khung cửa vui vẻ vẫy chào chàng. Đó cũng là một câu chuyện của "mối tình có đặc thù riêng". Ha ha ha...
Nhìn thấy nhau rồi, Cảnh sẽ tà tà đi xuống đường Phạm Phú Thứ, chàng đi lui đi tới chờ đợi tôi nơi đó. Cái trò chơi cút bắt nầy khiến tôi thích thích, vui vui hẳn lên. Tôi đi dạo phố bên Cảnh kèm theo nhiều vui thích và cảm thấy thật hãnh diện, đôi má ửng hồng, tôi e lệ nép hờ bên cánh tay chàng. Tôi liếc nhìn thấy người người đang lượn phố, hầu như ai ai cũng quay đầu nhìn lại một kiều nữ thẹn thùng, ăn mặc model, đã sánh bước cùng một sinh viên sĩ quan Võ Bị tốt tướng. Họ không ngại trầm trồ xuýt xoa khen chúng tôi đẹp đôi.
Thật ra tôi đã lớn khôn, sắp ra trường và đang đi làm việc, tôi có chút tự do, độc lập cho chính thân hoặc quyết định tình yêu đời mình. Ấy vậy mà… khi sống chung dưới mái nhà anh chị Tuế, tôi không muốn Cảnh đến nhà nầy nhiều, dù anh chị Tuế có ưa hoặc không ưa ai, thì có mắc mớ gì! Họ không hề tìm hiểu về tâm tư, tình cảm hay lối sống của người nào tôi quen biết ra sao. Nhưng chúng tôi e ngại anh chị Tuế la. Vã lại, cá tính anh rể buồn vui bất chợt. Có khi anh rể vui vẻ nồng nhiệt chào hỏi bạn của tôi. Và, khi nào “trái gió trở trời” ủ dột, giông tố kéo tới, thì anh Tuế bốc đồng trở chứng nổi cơn tam bành lục tặc lên. Nếu ai đến nhà có là quan, là tướng tá đi chăng nữa, anh rể cũng la, cũng mắng và xua đuổi, anh rể bất lịch sự chưởi như tát nước vô mặt khách. Tôi quê xệ và người bạn ê mặt quá chừng. Thật xấu hổ!
Còn ý của tôi ngày nay đã nghiêng về Cảnh hơn vài ba bạn trai khác (bạn đúng nguyên nghĩa). Một cảm tình riêng tôi dành cho Cảnh khá đặc biệt, sâu thẳm từ từ vươn lên trong tâm hồn. Quả thật tình nhẹ như mây, đằm thắm như tơ trời vương trên đỉnh Lâm Viên… Cũng nhờ tiếng còi tu huýt thay tiếng chim cất giọng ngân vang réo gọi mời chào! Và, Cảnh là người con trai “dễ thương nhất” mà tôi muốn chọn, để bầu bạn. Tâm sự. Chia sẻ; hầu xoa dịu nỗi niềm. Đi bên nhau giữa khung trời thơ mộng, thoáng mát, từng giọt sương mọng rung rinh trên ngọn lá anh đào, rồi tí tách rơi xuống đám cỏ bồng bên vệ đường; Cảnh đã nói cho tôi nghe mấy câu sau:
I have been waiting for you to return.
To this home of yours and hear the enchanting heart.
From spring through summer to chilling autumm.
I have been consistent in keeping my thoughts for you only…
_ * _
Đà Lạt (vì kẻ xâm lăng) Bùng Lên Ngọn Lửa
(Nhớ về năm Mậu Thân 1968) Tình Hoài Hương
***
Từng chòm thông tươi tốt mọc thẳng lên cao vút, xòe táng lá xanh mướt, um tùm, trông cao lớn, phơi phới, mát mẻ lạ thường. Tiết trời quang đãng, trong thanh ấm dịu, vừa xua tan đêm trừ tịch nơi thành phố Đà Lạt an hòa có lắm mộng nhiều mơ. Muôn ngàn chim én líu lo, xôn xao tưng bừng, ríu rít chao lượn từng đàn đông nghẹt trên mái ngói lầu cao. Tự lúc nào không biết gió xuân về mát rượi, khiến tôi cảm thấy trong lòng dâng lên nỗi an thư ngọt ngào lâng lâng, xao xuyến ngất ngây vô vàn, niềm vui đọng lại trên ngàn giọt sương long lanh, rưng rưng nơi hoa anh đào, hoa mimosa và nơi đài hoa mai chúm chím e ấp buổi giao mùa.
Kể từ ngày 23 tháng Chạp mọi người nôn nao đưa Ông Táo về Trời, nhờ ông tấu trình với Ngọc Hoàng công việc làm ăn ở trần thế. Thì ngày xưa ở cung điện hoàng gia vua chúa nước ta, từ nhất phẩm đến cửu phẩm sắp hàng thứ tự trước điện rồng, để làm lễ bái tạ Trời. Đất. Vua, quan chức quyền trong triều đình tới hàng dân dã, ai nấy đều làm lễ trừ tịch, tống cựu nghinh tân. Các lễ trong triều thần quan trọng là: Nguyên Đán. Phất thức. Tịch điền rước thần nông. Tế xuân. Du xuân (hưởng: Xuân, Hạ, Thu, Đông). Cúng tam sinh: Trâu (hoặc, bò, dê). Ngoài ra còn có lễ tế cờ: Có ba bài vị gồm: một viên tướng cờ đi đầu. Sáu vị tướng cờ đi giữa. Năm vị thần cờ đi hai bên.
Toàn dân đón xuân náo nhiệt, tưng bừng vui vẻ, linh đình. Người ta bày hương án bánh trái cúng gia tiên, mâm cổ đầy nhóc trên bàn: nào là xôi, gà, vịt, heo, bánh trái, vân vân... Sau đó họ đi thăm mồ mả. Đi lễ chùa hái lộc đầu năm, thăm đình đài lăng miếu. Dân gian được tự do chơi bài Chòi. Tam cúc. Cờ tướng. Xóc dĩa. Bài tây: xì lát, đánh xì tố, xóc bầu cua, vân vân... Sau ngày hạ cây nêu, thì có lễ hoá vàng, đốt vàng giấy, lúc giấy gần tàn, đổ ly rượu cúng vào là chấm dứt ngày Tết.
Nay thì nghi thức nghinh xuân ấy được đơn giản rất nhiều. Nhưng vẫn theo phong tục cổ truyền Việt Nam, dù bận rộn, đa đoan với muôn vàn công việc chất chồng. Dù cách trở xa xôi đến đâu, thì ba ngày Tết người ta vẫn quay về mái nhà xưa, hầu gặp gỡ người thân tay bắt mặt mừng hân hoan chúc tụng nhau, chuyện trò thân mật, hưởng Tết Nguyên Đán linh thiêng đầm ấm, là ngày sum họp rất quan trọng. Họ mong quay về với gia đình, thong dong vui hưởng những niềm vui, mừng ngày trọng đại của cả dân tộc. Ngày Tết là ngày hưởng lộc đầu năm, ngày linh thiêng, thế nên ai ai cũng trân trọng, kiêng cữ, không làm điều sai quấy, nói năng bậy bạ. Cúng giỗ thờ kính tổ tiên, vui vẻ hân hoan chúc tụng nhau bao ý lành.
Ngày mồng Một Tết, (tức là ngày 30, tháng Giêng, năm 1968, Mậu Thân). Gia đình tôi đi chúc tết ông bà Cương, và bà con thân nhân bên nội ở trong Hà Đông. Ai nấy chúc nhau: Năm mới Tết đến
Rước hên vào nhà
Quà cáp bao la
Mọi nhà no đủ
Vàng bạc đầy hủ
Gia chủ phát tài
Già trẻ gái trai
Sum vầy hạnh phúc
Cầu tài chúc phúc
Lộc đến quanh năm
An khang thịnh vượng.
Đong cho đầy hạnh phúc
Gói cho trọn lộc tài
Giữ cho mãi an khang
Thắt cho chặt phú quý…
Cung chúc tân niên,
Sức khỏe vô biên,
Thành công liên miên,
Hạnh phúc triền miên,
Túi luôn đầy tiền,
Sung sướng như tiên. (*)
Xế trưa vợ chồng tôi chạy xe lên trên Couvent thăm hai gia đình anh chị Thái, Thiệu, rồi đến khu nhà Bò (Đào Duy Từ), qua bên Nhà Chung gần nhà thờ con gà thăm anh chị bên họ ngoại. Chúng tôi lại ra phố thăm hỏi anh chị, bạn bè xóm làng thân thương. Đâu đâu pháo cũng nổ dòn: đùng... đùng... đùng... thật vui vẻ rộn rã tưng bừng. Người người hớn hở tay bắt mặt mừng, muôn câu chúc tụng hân hoan ấm nồng luyến thương hoài nhớ. Nhà nhà người nào người nấy tụm lại gây sòng đánh xì phé, đánh chắn, xóc dĩa. Trẻ con chơi lắc bầu cua ở góc hiên nhà. Thanh niên nam nữ và tráng niên lại chúc: Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà
Vài lời cung chúc tân niên mới
Vạn sự an khang vạn sự lành.
Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN,
Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG.
Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC
Công thành danh toại chúc VINH QUANG.
Các cô tuổi Tý chưa chồng.
Năm mới sẽ hết nằm không một mình.
Còn riêng các bạn học-sinh.
Tương-lai sáng-lạng, quang-vinh một đời. (*)
Cận khuya chúng tôi mới lò mò trở về nhà. Nhà tôi ở tại ngả Tư Trần Bình Trọng và Mai Hắc Đế, cạnh bên trái hông nhà tôi là khu Dân Y Viện Đà Lạt, ngược về hướng dòng Domain (là đi xuống trường Đa Nghiã và Khu số Bốn). Trong tận cùng im vắng của đêm trường đầu xuân mát rượi lẫn ngọt ngào hương vị ngày Tết, bỗng nhiên tôi nghe từ nơi xa xa đạn réo vù vù trên không trung. Súng lớn súng nhỏ đồng loạt khạc đạn, làm rung chuyển mặt đất, tung tóe lửa dữ dội. Khu đồi Domain de Marie yên tĩnh ở phía bên kia vực thẳm, sau lưng nhà tôi dội lại tiếng gầm thét dị kỳ: xì xì, xẹt xẹt… ùm… ùm…, pằng… pằng…, tạch tạch…, cắt bụp, cắt bụp… xè…! Đạn rạch đêm tối vút vút bay qua bay lại, đan chéo qua chéo lại. Những đóm mắt sáng đục hỏa châu lơ lửng trên không trung nở vàng bầu trời khuya. Quả sáng tụt nhanh xuống mặt đất, tắt đột ngột, trả lại bóng đêm tối thui, như khi nó chưa nở rực ra trên bầu trời khuya quạnh vắng đẫm ướt sương mù.
Trong màn đêm đầy sương trắng xoá dày đặc bị xé rách bởi lằn đạn tóe lửa. Mặt đất phả ra làn hơi sương nhút nhát e dè lởn vởn bên mấy bụi cây. Ban đầu Lâm ngỡ là mình nằm mơ ngoài trời đốt pháo Tết, nhưng sau khi chàng thấy trái sáng rợp trời, súng đạn rạch không khí bay chíu chíu… xịt... xịt, có cả thứ súng “cắt, bụp, xè”; nên chàng tỉnh hẳn người. Lâm gọi mẹ, vợ con dậy ngay. Nhanh như chớp, vụt thoáng trong giây lát tôi và Lâm kéo nệm xuống gầm giường, hai chúng tôi lò mò trong bóng tối để giăng mùng cẩn thận, rồi Lâm bế hai đứa con mắt nhắm mắt mở chui vào. Chúng tôi nằm sát bên vách gỗ, đắp kín mền mà vẫn cảm thấy lạnh giá, hai hàm răng va vào nhau lụp cụp, tay chân run cầm cập. Tôi sợ hãi gần như nghẹt thở, lạnh toát cả người, bủn rủn tay chân. Súng nổ dập dồn không lúc nào ngơi hung hăng tống vào ngọn đồi thưa, nơi có mấy công xưởng, ty Hiến Binh hồi xưa (nay là chi nhánh của Ty Công An, nằm về phiá tay phải nhà tôi) nghe rát ù tai. Thật ghê hồn.
Lâm bấm bấm vô cánh tay tôi, để ngón tay trỏ lên miệng anh, khoèo vào hông tôi và ra dấu cho tôi bò theo. Chúng tôi mò mẫm lồm cồm bò bò từ phòng ngủ ra phòng khách tối đen. Lâm nhón người nhẹ vén bức màn voan, nhìn ra đường quan sát. Đường phố im lìm vắng lạnh. Nhà nhà đều cửa đóng then cài cẩn thận. Tuy vậy tôi thấy nhiều tấm màn bên những ngôi nhà ấy khẽ lay động. Do tôi mãi nhìn đường phố vắng lạnh, thì Lâm vội bụm miệng tôi, anh kéo tay vợ nép vào góc tường.
Khi ấy tôi thấy khoảng năm sáu tên đội nón cối, mặc đồ đen, đồ xanh rêu cháo lòng, hay mặc đồ lộn xộn, ống quần rộng thùng thình, lụng thụng cột túm vô mắt cá chân. Tay họ cầm súng lưng đeo đạn. Súng đạn va vô nhau kêu lộp cộp theo mỗi cử động của họ, tôi nghe mà sởn ốc trâu. Quanh thân dắt cành lá, họ cúi đầu lom khom lủi lủi gần sát bên hàng hiên của nhà tôi, họ chạy nhanh về phía đồn Công-an trên đồi. Tiếng kêu lách tách lạch cạch do súng đạn cặp bên hông va đập vào nhau lộp độp theo mỗi bước đi. Tôi nghe rõ, rùng rợn, hoảng sợ và ớn lạnh! khiến tôi càng rợn ngườI kinh khủng. Họ mò đi đêm thành thạo, hình như họ thích hợp, quen thuộc với bóng tối, hay do ý tất thắng chiếm đoạt, muốn vượt qua trở ngại, hầu đạt đến khát vọng xâm lăng điên cuồng? Hỏa châu đỏ nở rộ trên trời như những đôi mắt hung thần, soi rõ cảnh vật mồn một. Trên trời liên tục bừng sáng và hoả châu rơi xuống, chìm lẫn vào bóng đêm. Giây lát sau tôi nghe ở cửa cổng đồn Công An (rất gần khu nhà dân) có tiếng quát hỏI:
- Ai đó???. Đứng lại.
- Đứng lại, không tôi bắn.
Không trả lời, lập tức đạn nhỏ súng lớn đồng loạt bay vèo vèo Pằng… pằng… pằng… Đùng… Đùng… Đùng… Oằng… Ùm… vút vút bay tới tấp trên đầu người dân. Thành phố Cao Nguyên Lâm Viên truyền cảm xiết bao đã bị xâm lăng, thành phố Đà Lạt nổi danh là thành phố thơ mộng hiền hoà thực sự đã đi vào binh đao, và bùng lên ngọn lửa chiến tranh hung tàn rồi! Đạn nổ lốp đốp, rơi rào rào, loảng xoảng, ào ạt rớt xuống mái tôn nhiều nhà lân cận nghe sắt và lạnh. Khi chiến cuộc bước vào con đường an cư hòa ái của xứ lạnh hiền hậu nầy, dân cư ngơ ngơ ngáo ngáo và bàng hoàng lo sợ ghê lắm (ở nơi nầy yên bình ít chiến tranh). Vài phút trước đó trong xóm kêu gọi nhau chui xuống gầm giường, gầm bàn trốn đạn inh ỏi. Tiếng kêu rú khóc la, xen lẫn tiếng súng bắn, mìn nổ thật gần, nghe rợn xương sống, đinh tai nhức óc, tức ngực quá chừng.
Ôi lạy Chúa! Trẻ con bên hàng xóm cứ khóc thét toáng lên từng hồi, giống như có người nào ngắt nhéo chúng, hay cắt tay chặt chân chúng nó vậy. Còn đàn ông con trai thì im thin thít. Bây giờ có tiếng la giọng nói của đàn ông, là càng làm người khác lo sợ gấp ngàn lần. Người ta lo sợ sự giao tranh súng đạn ngoài kia, và tiếng đàn ông núp ở trong xó nhà lắm. Có khác nào mấy ông tự tố cáo "lạy ông tui ở bụi nầy". Việt-cộng sẽ chĩa súng vào ngực họ, mà bắt đàn ông thanh niên đi làm bia đỡ đạn. Hay bị bắn cái đùng. Thì khốn.
Nhưng khi căn nhà gỗ của bác Thao bị sập một bên, càng khiến cư dân trong khu xóm hoảng hốt la to, kêu rống, hét tướng lên réo gọi tên nhau, kêu khóc ồn ào huyên náo bội phần. Bảy căn nhà vách ván đơn sơ ở xóm nầy đã đứng chênh vênh, lẻ loi, trống trải, cô độc trong địa bàn giao tranh, bất lợi từ mọi phía, không ai có một tấc sắt để tự vệ. Biết lấy gì chống đỡ! Họ vẫn phơi bộ mặt cơ hàn, giơ cái bụng lép xẹp ra trước thời gian ở nơi lằn đạn mũi tên thế! Trốn tránh thế nào được! Khu xóm cao chênh chếch như một cù lao đứng giữa hai lằn đạn thì... có mà chạy trốn lên đằng trời. Chưa việc gì mà! Phải! Phải! Nhưng lạy Chúa! Sao tôi run lẩy bẩy, lo sợ tột cùng, miệng lưỡi co cứng, cổ họng đắng chát, khô khốc, hai bờ môi khô lông lốc dính chặt vào niếu, không một giọt nước miếng, không thốt được một âm!
Bầu trời bỗng dưng lặng ngắt như tờ, im ắng bao trùm còn đe dọa rùng rợn hơn cả sự chết chóc. Sương mù và bóng tối không đồng ý với bình yên, nó bốc đồng và phản bội con người lúc nào. Chẳng rõ. Bây giờ không còn dòng suối mát, không ao hồ, thác nước thơ mộng đầy quyến rũ mang vẻ duyên dáng nên thơ Đà Lạt với danh lam thắng cảnh xứ hoa đào rồi. Biết đâu sẽ diễn ra “u mê ám chướng chiến tranh”. Súng đạn chằn chịt theo khói lửa bay về thành phố nổi danh quyến rũ nên thơ! Đạn vèo vèo bay, xoắn tít hình trôn ốc ghim vào lòng đất, khiến địa hình Đà Lạt thi vị trở nên xấu xí, nhăn nhúm, biến dạng lởm chởm hẳn đi. Nhìn thấy nó mình mất cả hồn cả vía, chứ thơ mộng duyên dáng, gợi cảm cái nỗi gì nữa không biết.
* * *
Ánh nắng rực rỡ bừng lên. Lớp sương mù dày đặc đọng lại trên các cành hoa anh đào, chạy suốt con suối cạn gần khu Domain de Marie mọc đầy lùm dã qùy to lá, vàng hoa, nhụy nâu, hoa nở dọc theo bờ đất lỡ cuối vườn nhà tôi. Nước rỉ rả chảy xuống hố, rồi uốn lượn quanh co trong nhiều đám sậy nhấp nhô. Một ngày mới lại bắt đầu trong cuộc sống bất trắc âu lo. Phiền muộn. Hãi hùng âm thầm mà đau, đầy băng giá, mang mùi vị tởm lợm chết chóc và chiến chinh. Cái chết đe dọa từng giờ trên đầu mỗi người, ở trong thành phố Đà Lạt nổi tiếng hiền hòa thơ mộng xinh đẹp đang bị vây hãm. Súng đạn khiêu khích từng ngày, từng đêm, từng giờ, tệ mạt hơn là người dân phải chịu đựng những cơn xoáy lốc bốc lửa rít lạnh tê người khôn nguôi. Không vì trận gió từ đỉnh đồi Lâm Viên thổi về. Mà vì nhiều loạt súng của kẻ xâm lăng đùng đùng đùng… Cắt bụp cắt bụp… Xè xè… và loại súng bắn trả: Pằng pằng pằng… Tạch tạch tạch… vang lên tứ phía liên tục luôn mãi, nhức nhối tai. Tim mọi người đập thình thịch không ngừng.
Mỗi ngày khoảng ba giờ chiều, bà con cô bác từ các đường: Hoàng Diệu, Trần Bình Trọng, Mai Hắc Đế, Yết Kiêu, Số Bốn, Số Sáu, Hai Bà Trưng, vân vân… lại ùn ùn chạy lên nhà thờ Domain xin các bà dòng tu cho tạm trú dưới từng hầm. Họ mong tìm đến với nhau cho vơi sợ hãi và quên âu lo. Họ mong xích lại gần nhau tìm chút hơi ấm qua đêm. Sáng sáng họ lại lục tục kéo nhau đi, ai về nhà nấy. Từ trên dòng Domain về nhà, tôi nhìn trước ngó sau dáo dác như kẻ trộm. Căn nhà đêm trước bỏ hoang mở toang hoác cửa ngõ, chẳng cần cửa đóng then cài làm chi! Vì đã có súng đạn giữ gìn hộ rồi, chả lo gì mất của cải! Thời buổi nầy, lo giữ gìn bản thân chưa xong, chả an toàn, hơi sức đâu ai thèm đi giữ gìn của chìm của nổi, và hôi của người khác nữa không biết.
Tôi nấu vội nồi cơm thật lớn cho cả nhà ăn một hoặc hai ngày, rồi thấp thỏm tất tả chạy ra chợ xép ở đường Hoàng Diệu bòn mót đủ thứ đồ uống thức ăn cho có chất rau tươi. Tôi giành giật ở ngoài chợ mua nhặt từng chục trứng vịt, vài bó rau, dăm ba ký gạo. Thịt, cá, thì mắc như vàng! (còn khu chợ lầu Đà Lạt to lớn là thế, mà nay leo teo mươi hàng rau đậu héo uá, dập nát). Có bao giờ người dân phố núi nghĩ ra: nơi thành phố thơ mộng quyến rũ nầy, lại có bộ mặt cuả kẻ xâm lăng vô Nam khuấy nhiễu gây ra chiến tranh, hầu ngườI dân tích trữ thực phẩm khô, trong mùa xuân dồi dào nhựa sống chứ! Các tay đầu tư thì cất dấu thực phẩm thật kỹ, cửa đóng then cài kín mít. Thỉnh thoảng có vài tiệm buôn lớn he hé cửa ra, họ “bố thí” nhỏ giọt từng ký gạo cho đồng bào, rớ vào muốn phỏng tay với giá tiền cao cắt cổ kinh khủng. Đại lý gạo Sơn Hà lớn nhất thành phố, tuyệt nhiên không thấy xuất đầu lộ diện, không có một hột gạo nào thoát ra khỏi khe cửa. Người ta đồn tiệm nầy “kinh tài” cho Việt Cộng (!?) Ô ô hô... gạo thơm để nuôi dân lành cần cù lam lũ làm ăn, hay nuôi ong tay áo nuôi khỉ đốt nhà hử!?
Mấy ngày đầu năm mới (trong cuộc chiến Mậu Thân), người ta mang theo vào tầng hầm trú ẩn nào là: bánh chưng, bánh tét, xôi, thịt, cơm gà cá gỏi. Đủ loại mứt, trái cây, hạt dưa, vân vân... Hương vị ba ngày Tết chưa kịp ăn. Nhà nhà đều dư thừa thức ăn ê hề, không thiếu món gì! Sau đó thực phẩm ứ đọng, thiu thối, hư hại sạch. Mọi người hồi hộp lo sợ, băn khoăn ngao ngán, nên không nuốt trôi, nhịn đói mà khóc, không thể ăn. Họ đem ra vứt sau sườn đồi cạnh khu trường học, tha hồ cho lũ chuột cống, ruồi bọ tranh nhau lúc nhúc loi nhoi giành ăn.
Bất kể lúc nào, hễ nghe tiếng súng dồn dập, xa xa, về hướng Cam Ly. Khu Số 6. Khu Số 4. Dòng Chúa Cứu Thế. Lạc Dương. Là bà con trong xóm tôi tê tái, hoảng hốt, ơi ới gọi nhau, sẵn sàng tay ôm tay xách, cổ đìu lưng cõng con cháu chạy nhanh lên ngôi nhà thờ kiên cố trên đỉnh đồi, cần sự xích lại tương thân tương trợ ấm áp, mong xích lại gần nhau, tìm chút an tựa, cần sự lân mẫn tự nhiên của người đồng cảnh ngộ. Khoảng ba giờ chiều, người người lục tục kéo nhau đi đến các nơi kiên cố và đông đúc. Tại khu hầm trú mỗi gia đình "xí phần" một góc, vừa đủ trải vuông chiếu ngả lưng sơ sài. Trên manh chiếu nương thân, họ dùng làm chỗ ngồi, ngã lưng nằm, và ăn uống. Cả nhà ăn qua loa chén cơm với lọ mắm tương chao cà ghém, rau luộc, để cầm hơi. Cũng tại trên vuông chiếu nầy, người ta chồng chất đủ thứ lặt vặt cần thiết đã vội vàng mang theo.
Giống như những ngày hôm trước, sáng sáng tản mác mỗi người về mỗi nhà. Họ gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, đủ khuôn mặt già trẻ lớn bé, xấu đẹp, ốm mập, đen trắng. Đặc biệt giữa đa số khuôn mặt bình dân thảng thốt ưu phiền, lo sợ, thì có bảy tám thanh niên thiếu nữ ưa náo nhiệt, xinh tươi ở đâu tập họp lại. Trước đó quần áo các cô cậu coi hợp thời trang, họ ung dung lượn quanh hầm, vui vẻ cười nói huyên thuyên, móng tay móng chân các cô đỏ chót. Vài ngày sau tôi dòm họ xộc xệch, túi vải lịu địu máng trên vai có tô thêm đất bùn lem luốc. Họ mệt mỏi cố vơ vét tất cả gia tài nhét trong xách da căng cứng bung hết dây kéo. Họ luôn mang kè kè bên hông. Họ không khóc được vì sự kinh sợ đã kéo dài khá lâu, vượt quá tầm mức chịu đựng của con người. Họ hãi hùng kêu tên nhau, i ỉ thút thít, nước mắt cạn khô, ráo hoảnh, ngơ ngáo bất động thì thôi.
Riết rồi ngày ngày tháng tháng chung đụng, người ta biết mặt, biết tên nhau, biết biết, quen quen, thân thân, hỏi hỏi, nói nói, ồn ào như vỡ chợ, nhưng nét mặt mọi người mỏi mệt bần thần băn khoăn đầy ngao ngán buồn thiu. Người ta mất ăn từng ngày, mất ngủ từng đêm âu lo tột độ. Sự đông đúc đầy dị hợm bắt đầu tẻ ngắt trong căn phòng chen chúc chật cứng, ngột ngạt như lò hồ quang, thiếu ánh sáng, thiếu không khí, thiếu mọi tiện nghi. Cảnh di tản có đủ thứ chuyện vui buồn. Tin tức nóng bỏng nhất được truyền khẩu trong ngày, trong tuần lan từ đầu nầy đến đầu kia, nhanh như chớp. Không gian và thời gian im lặng tẻ ngắt, đầy ghê rợn suốt buổi trong căn phòng chứa khoảng hơn ba ngàn người. Họ chen chúc, ở nơi ngột ngạt, thiếu không khí, thiếu ánh sáng. Đôi lúc trên đầu loé lên tia lửa rạch không khí, bay vù vù trong không gian. Lằn đạn xẹt qua. Hai ba chiếc phi cơ không nhìn thấy rõ bay vút trong bầu trời, qua khung kính trên vòm mái cao. Giây lát sau đó là tiếng rền rú uồm uồm uồm… ghê rợn. Hàng loạt đại bác trút xuống đỉnh đồi, vào khe suối xa xa…
Tôi xiết bao kinh hoàng lo lắng, và bồn chồn sợ hãi, vì Lâm đi trực về báo tin nhà ba mẹ tôi ở tại một Villa trên đường Pasteur, đối diện với Tiểu Khu Đà Lạt bị đốt cháy mất ¼. Ngôi nhà đồ sộ nay chỉ còn bức tường gạch (ở mặt trước đường Yersin), và bên mặt tiền phiá phải cuả ngôi nhà về hướng Pasteur) còn mấy hàng cột trơ trẽn (!?). Sau tiếng súng cắt, bụp, xè… thì mọi thứ bị đốt tan tành. Phố xá hỗn độn, khói lửa hừng hực bốc cao, khét lẹt bao ngày chưa dập tắt, kể từ khi cơn binh biến hùng hổ đến vỗ mãi những âm buồn. Nghe mà thật đau đớn bang hoàng hốt hoảng và lo âu xiết đỗi. (2)
Đứng trên một góc tầng lầu nhà của ba má tôi đã bị sập gần hết một phần tư, trong nhà tối om, vắng tanh, đồ đạc ngổn ngang hư nát. Ba má và anh chị tôi đi đâu hết rồi? Họ có an toàn không?! Tôi lo lắng, bồn chồn, lấp ló thụt thò, dáo dác len lén nhìn sang phía bên kia đại lộ Pasteur, (đối diện nhà ba má tôi là cổng Tiểu Khu Đà Lạt/Tuyên Đức), hai mặt tiền nhà ba má tôi và Tiểu Khu chỉ cách một đại lộ, gần xịt. Những anh lính trong doanh trại Tiểu-khu vội vã chạy lui chạy tới, lăng xăng, bồn chồn làm cái gì đó, xem có vẻ cấp bách, cần thiết lắm. Việt Cộng đã dùng bangalore phá một góc rào cuả Tiểu Khu. Một chiếc xe thiết giáp bị trúng ba quả B40 vẫn bốc cháy ngay trên đường Pasteur (sát cuối hông vườn sau nhà ba má tôi). Việt Cộng lẻn vào khu nhà xây gần Viện Pasteur để bắn vào Tiểu-khu. Nhưng xem ra không mấy thiệt hại. Kho Quân Tiếp Vụ bốc cháy, sáng rực cả một góc trại. Ty Cảnh Sát Đà Lạt sát bên nhà thờ Chánh Toà cũng bị hư hỏng nặng. Khẩu đại liên 30 đặt đâu đó, có thể là ở khu Quân Cụ thỉnh thoảng quạt một hồi vài tràng bâng quơ, tôi nghe rát bỏng, sợ hãi và điếc ù hai tai.
Trên bức rào cuả Tiểu Khu tôi thấy có ba thân thể cháy đen, mà rải rác gần đấy có năm cánh tay, ba bàn chân lủng lẳng quai dép râu. Những núm ruột người trắng hếu, dài lòng thòng còn lắc lẻo, đung đưa lắc lư vắt trên hàng rào gạch kiêm hàng rào B 40 rung rinh. Ruồi bọ lúc nhúc bu đông đen, rồi vụt ù ù bay lên đáp xuống, khi ấy có vài người rảo bước liếc nhìn vội vã đi qua. Úi trời ơi! Mùi thúi thì thật hôi ơi là hôi kinh khủng. Khiến tôi bịt hai lỗ mũi vẫn cảm thấy chịu không nỗi mùi thum thủm thúi hoắt. Có con chó lài hoang ốm tong ốm teo, lông lá lưa thưa nhô cao bộ xương sườn, từ góc đường Yersin + Pasteur nó rón rén lủi đi kiếm ăn, con chó rụt rè ngơ ngác nhìn quanh, nó vội cụp đuôi vô trong háng, cúi đầu cắm cổ chạy đến bên mấy xác Việt Cộng. Nó liếm liếm khúc ống quyển đen thui, và nó dỏng tai hếch mỏ lên... Trời ơi! Khúc ruột chỗ trắng chỗ đen vắt vẻo trên hàng rào gạch đong đưa, khúc ruột dài ngoẵng chui thật nhanh vào hai hàm răng con chó gầm gừ trắng trợn nhe ra.
Tôi sợ dựng tóc gáy, xớn rớn, chao đảo, giao động mạnh, điên cuồng, dày vò, và đau đớn cào xé con tim, hãi hùng tột cùng muốn xỉu, hai đầu gối run rẩy va đập vào nhau lộp cộp, như người mắc bệnh parkinson luôn tiết ra chất dopamine, khiến mình bại hoại rã rời tứ chi, lồng ngực tôi nhô lên hụp xuống sâu hơn. Tôi run bần bật ngồi bệt xuống dưới góc balcon, chẳng hiểu sao tôi cứ ói ra nước, rồi ói ra hoài, và toàn thân muốn rệu xuống.
Mấy tháng trước bà chị của tôi đã làm thịt chó, chị nấu đủ thứ, nào là: Rựa mận. Nướng. Hon. Thui. Thịt tái chanh. Thịt luộc. Xào lăn, vân vân... Hôm ấy có mấy gia đình anh chị em vui vẻ “xơi” thịt chó thơm phức ngon lành, chúng tôi ăn từ đầu chó tới đuôi chó, thậm chí cả bốn móng cẵng chân giò, xương chó cũng chặt ra làm nồi nước lèo xúp chó hầm ngon nhức nhĩ! Sao lúc ấy tôi chẳng thấy sợ hãi như bây giờ!? Bỗng dưng tôi sực nhớ tới chuyện rùng rợn ở Tây Tạng, nơi thủ phủ Lhasa đến một vùng hẽo lánh kia, có tục lệ rất kinh dị khủng khiếp. Họ thường làm nghi thức tiễn người chết rùng rợn từ lúc rạng đông: Họ từ tốn lấy dao lóc từng miếng thịt người chết ra miếng nhỏ, rồi để trên những tảng đá cho kênh kênh ăn. Lại có nơi lóc thịt người chết vất xuống nước cho cá ăn. Hoặc họ vạc một phần trên sọ, chẻ sọ người chết ra, dùng sọ người làm chén ăn. Họ nghĩ: hoả tang tốn kém than củi và tăng oxide carbone (CO) thì uổng. Thủy tang hại nguồn nước môi sinh, mất công uống cả xác tro người chết vô bụng. Chi bằng cho loài kênh kênh xực, cho chắc ăn! Do nghĩ như vậy, thịt chó và thịt người chết treo lủng lẵng nơi góc hàng rào kia; khiến tôi càng tởm lợm và nôn ọe ra mật xanh mật vàng!
Chiến cuộc từ thời kỳ giặc giã đã tàn phá biết nhiêu mà kể xiết trong đất nước nầy, chiến tranh gây hận thù và chết chóc, bao đau khổ người dân còn kẹt lại trong cái thế trên đe dưới búa. Làm gì được lúc con người gây ra chiến tranh thật phi nhân, phi đạo đức. Làm chi được hỉ với con cáo, con hồ, con cọp, con chó sói, thậm chí cả con chó nhà đang nhe hai hàm răng trắng, hoặc giống như loài bò sát rắn độc?: nếu ta không biết “thời thế thế thời thời phải thế” khôn ngoan trầm tĩnh thu mình dẽo dai chịu đựng! Mặc dù loài vật hung ác, nhưng nó biết đối xử tốt và bênh đỡ đồng loại. Tuy beo, cọp, chó sói: là giống ăn thịt sống chẳng hạng; nhưng đối với đồng loaị chúng vẫn hiền lành lui về hang ổ (nơi an tựa ấm áp, thân tình), và chúng biết yêu quý hổ con, sói con cuả mình. Càng hơn nưã chúng nhận biết đồng bọn, luôn trấn giữ bảo vệ bè-đàn cuả mình, không để tên “dị chủng” khác chủng loại xâm phạm.
Nhưng khi có những kẻ vượt lằn biên qua vĩ tuyến: táo tợn xâm lăng thành phố thơ mộng, họ ngang nhiên đặt chân vào miền đất hiền hòa, cẩu thả dùng súng đạn bay vèo vèo, ầm ầm, đùng đùng trút trên đầu nhân thế vui hưởng ngày Tết, lúc mọi người tưng bừng nôn nao rước tổ tiên ông bà về chung vui với con cháu, và dáng xuân huy hoàng êm đềm ngự trị trên thế trần. Thì xin mạn phép hỏi kẻ đi xâm lăng và xâm phạm tớI người khác, tàn ác gây ra đau thương tang tóc; thuộc về “hạng gì”?
Lo lắng rón rén bò bò trên hành lang nhà, và tụt xuống những bậc cấp, tôi tất tả chạy rõ nhanh về nhà mình, vừa chạy vừa thở hồng hộc, khiến tôi mệt kinh khủng! Từ nhà ba má ở đại lộ Pasteur, tôi cắm đầu chạy bán sống bán chết xuống đường Bà Triệu, tới Cầu Bá Hộ Chúc, qua góc Cường Để và vòng ngược lên đường Thành Thái, chạy qua rạp ciné Ngọc Lan. Tôi hổn hển ngơ ngác đi ra phố Hòa Bình: Hai chiếc xe jeep (ở khu Hòa Bình) bị Việt Cộng núp đâu đó bắn mấy quả B40, hai xe nầy cháy rụi. Tất nhiên là có người chết thảm rồi. Tiệm Hồng Châu ở sát bên cây cầu cuả Chợ Mới cũng cháy rụi, đen thui. Mấy tiệm lân cận ở quanh khu Hoà Bình, đường Phan Bội Châu cháy khét, khói lửa mịt mù, mùi hôi kỳ lạ tỏa ra cùng khắp. Phố xá buồn thiu, vắng hoe, tan hoang, lạnh lẽo như một thành phố chết.
Lác đác có mấy bộ hành tất ta tất tưởi, dáo dác lấm lét nhìn quanh, rồi dọt lẹ! Bốn người Thượng già: một người vạm vỡ đóng khố sọc ngang rằn ri. Một đàn ông trung niên thân quàng tấm mền len cũ. Một phụ nữ ở trần giơ bộ ngực no tròn có núm vú đen đen ra giữa lộ thiên, và một thằng bé con khoảng ba tuổi trần truồng. Họ thường bán hoa lan ở trên góc phố. Mấy người lớn đang khóc hụ hụ, họ hỉ mũi sột rột, họ bập bập cần tẩu cong cong như chữ S, mùi thuốc lá hăng hắc nồng nồng phả vào không trung mù khói đen xám, quyện lẫn làn sương núi mờ mờ vật vờ bay bay dưới nắng xuân chan hoà. Ông ta khạc nhổ bãi nước miếng văng xuống đất, coi gọn ơ:
- Khu Du Sinh trên cuối đường Huyền Trân Công Chúa, đã bị lửa cháy rụi hết, khiến nhà cửa tui tiêu tan. Mất hết! Kể cả gà chó ngựa và con người. Hụ hụ hụ... Các ôn ơi!
Tôi phiền não chạy riết về đường Minh Mạng, qua hướng Cẩm Đô, leo lên dốc ở nhà xác cạnh Nhà Thương. Chạy tắt trên đồi cỏ sau bệnh viện để về nhà, tôi nằm vật ra giường, thở hổn hển, mắt trợn ngược mở trừng trừng nhìn lên trần nhà, ngao ngán thở dài và lo lắng sầu khổ biết bao!
*
Dáng Xuân tại Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Tình Hoài Hương
***
Trường Võ Bị Võ Bị Liên Quân Viễn Đông Đặc Biệt của Pháp thành lập tháng 7-1946 tại Đà Lạt. Trường Sĩ Quan Hiện Dịch thành lập năm 1948 bắt đầu ở Huế. Khóa 1 tháng 12 tại Đập Đá. & Khóa 2 tháng 9-1949.
Tháng 4 năm 1949 có một hội-nghị đồng thuận bãi bỏ chế độ thuộc địa (do Pháp cai trị ở nước Việt Nam).
Tháng 5 năm 1950 quốc hội Pháp thông qua dự luật: Cho phép thành lập một đội quân Việt Nam.Thế nên bước khởi đầu thì Thủ Hiến Phan Văn Giáo cho một số trường quân đội Việt Nam ra đời.
Sau ngày 20-07-1954 khi hiệp định đình chiến ký kết tại Genève, Thụy Sĩ; thì Trường Sĩ Quan Việt Nam ở Huế đã được chuyển lên Đà Lạt, bắt đầu Khóa 3, và gọi là École Militaire Inter-Armes de Dalat. (Sát nhập vào trường Võ Bị Liên Quân Đặc Biệt của Pháp. Ngôi trường Võ Bị Liên Quân Đặc Biệt của Pháp, nay đương nhiên phải trao trả lại cho Việt Nam). Trường chánh thức đổi lại thành Trường Võ Bị Liên Quân (sau khi người Pháp rời Việt Nam năm 1955). Đầu tiên ngôi trường nầy lấy tên là: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Cuối cùng Trường sĩ quan hiện dịch nầy chính thức đổi tên thành: Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Việt Nam theo sắc Lệnh số 325-QP ngày 10.4.1963. Đất và Trường rộng mênh mông tọa lạc giữa vùng khu ấp Chi Lăng và khu Thái Phiên.
Gần cổng trường là doanh trại sinh viên, khu Văn Học, khu Bộ Chỉ Huy... Cổng trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Việt Nam còn có tên là cổng "Nam Quan", nơi nầy luôn náo nhiệt trong những ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật, ngày hội, ngày lễ. Những lúc ấy tại Cổng Nam Quan trở nên vui vẻ náo nhiệt như ngày hội lớn, hân hoan tưng bừng hơn với những chàng sinh viên sĩ quan phong trần, và bao tà áo dài tha thướt e ấp tung bay trong gió lộng. Thỉnh thoảng ở phòng trực trong trường gọi tên sinh viên sĩ quan (được phát ra từ loa phóng thanh vang vang lên), thì sinh viên sĩ quan nào có tên gọi, hớn hở vui vẻ rảo bước ra Cổng Nam Quan: Đấy là nơi "gặp gỡ của tình thương".
Khu doanh trại sinh viên ở gồm: bốn dãy ba-ti-măng có ba tầng lầu. Mỗi ba-ti-măng có hai đại đội sinh viên sĩ quan cư trú. Hai bên nầy là sân cỏ của Trung Ðoàn. Gần dưới thung lũng là khu vườn luôn luôn đầy hoa đẹp và cây cối xanh tươi, do sinh viên chung vui tay trong tay góp công sức làm nên, tạo thành một khu vườn thật ngoạn mục.
Ban đầu thì sinh viên thụ huấn hai năm (sau nầy trường Võ Bị Đà Lạt đã tăng thời gian cho sinh viên sĩ quan thụ huấn lên bốn năm học). Bao gồm các bộ môn học như: Văn Học. Quân Sự. Thể Chất. Chương trình sinh viên sĩ-quan học gắt gao, rất nặng, ấn định có quy củ rõ ràng. Mỗi ngày, sau giờ học đầy căng thẳng trí óc; và sau bữa cơm chiều, là sinh viên có hai giờ: > từ 6 giờ tối đến > 8 giờ tối, thì sinh viên sĩ quan tự do đi những nơi giải trí tùy thích như: Bên trái là Hội Quán sinh viên có nhiều sofa và bàn ghế tươm tất, để cho mọi người ngồi với nhau thoải mái hàn huyên tâm sự; nghe nhạc sống do ban văn nghệ sinh viên sĩ quan đảm nhận, hay tập dượt văn nghệ. Hoặc giả sinh viên sĩ-quan vào Thư Viện đọc sách. Hay có sinh viên khác đi Câu Lạc Bộ ăn uống. Nhóm sinh viên đến Hội Quán thụt bi-da, uống cà-phê. Có người đi tới sân sau để chơi bóng rổ, bóng chuyền bóng tròn, bóng bàn, vân vân… Sau đó là giờ tự học. Tiếng kèn 10 giờ đêm là giờ báo đi ngủ. Một số sinh viên lo chuẩn bị đi gác. Trường có tám đại đội sẽ luân phiên nhau gác mỗi đêm.
Sinh viên sĩ quan đi bộ leo núi, luyện tập quân sự, chinh phục đỉnh Lâm Viên cao 2.163m rất lạnh giá, ngỏ hầu rèn luyện sinh viên sĩ quan dũng cảm kiên cường vượt thắng gian truân và chông gai. Khi các sinh viên sĩ quan đi tới đỉnh Lâm Viên xong, họ trở về trường; ấy là chuẩn bị ngày lễ gắn Alpha cho tân khóa sinh. Các cán bộ đến tại phòng của tân khóa sinh để trao: mũ cát kết, đai lưng màu đỏ, thắt lưng đại lễ, đôi găng tay trắng. Tân sinh viên sĩ-quan sẽ đọc lời hứa: Tôn trọng lá cờ của Trung Ðoàn sinh viên sĩ quan. Bảo vệ danh dự cuả Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam: "Tổ Quốc. Danh Dự. Trách Nhiệm"; thì khoá sinh ấy mới được chấp nhận đúng là sinh viên sĩ-quan của Trường Võ Bị Đà Lạt Việt Nam.
*
Hôm nay là ngày tất niên của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt - Việt Nam. Tôi cùng Vân, Lan, Tâm, Mai bao chiếc taxi chạy thẳng vào ngoài cổng Nam Quan, thăm bạn thân. Đúng lúc đó, tôi gặp Oanh cùng Biên. Hồng cặp tay Đáo. Thúy Mai và Tin Tấn ở Phạn Xá, (còn gọi là nhà ăn). Chúng tôi hân hoan khôn xiết, nói cười tíu tít biết bao chuyện buồn vui xếp lớp lăn tăn. Chưa dứt câu nầy, bạn đã hỏi câu kia dồn dập. Oanh chỉ vào bạn trai của cô:
- Oanh đã hứa hôn với Biên rồi.
- Hồng sắp làm đám cưới với Đáo.
- Cả Oanh và Thuận nữa. Ôi thật là vui quá vui.
Oanh mở miệng:
- Nầy, Thụy thì sao?
Tôi cười buồn:
- Oanh có bao giờ ghé qua ngỏ nhà thăm tui đâu, mà biết hỉ!
- Xin lỗi nha. Tại Biên hết đó.
- Thì phải mà. Có bồ, hổng đi đâu là đúng. Thụy chúc các anh chị sớm thành đạt trong tất cả ý nguyện. Nghe.
Họ cười tươi, cám ơn tôi với hạnh phúc hân hoan ùa về. Tôi đến điểm hẹn hò với Cảnh. Chàng nở nụ cười hồng rõ tươi, Cảnh hớn hở đón tôi nồng nhiệt lắm. Trên khuôn mặt qua ánh mắt Cảnh hiện rõ sự mãn nguyện khi chàng giới thiệu tôi với bạn. Cảnh hãnh diện vì có bạn gái xinh tươi, hồn nhiên mộc mạc, duyên dáng không thua những bông hồng biết nói khác trong đêm hội tưng bừng nầy. Cảnh nhẹ nhàng nắm bàn tay tôi nóng hổi, tôi run run như con chim gãy cánh. Nửa ngập ngừng ưng chịu siết tay chàng, nửa tôi toan muốn rút tay về. Đây là cái “nắm tay thân tình đầu tiên”, từ khi chúng tôi quen biết nhau. Cảnh tinh ý nhìn thấy sự vô cớ dằng co và trầm mặc nơi tôi, chàng cố tìm hiểu nguyên nhân vì sao có sự thay đổi kia. Nhưng, tôi sẽ không kể cho Cảnh nghe, (kể cả những người thân yêu ruột thịt) về nỗi buồn đau vô hạn.
Dù tôi rất muốn ngỏ lời tâm sự với ai đó, hầu vơi đi nỗi niềm dày vò, cay đắng ấy đang bóp thắt trái tim tôi. Sung sướng xiết bao, nếu tôi có thể viết lên trời tất cả suy tư của mình, mà có người khác đọc và thông cảm nhỉ! ít ra trong giai đoạn ngắn ngủi nầy, Cảnh là người xứng đáng nắm bàn tay tôi (đang run rẩy vì… sương gió giá rét?!). Chàng có hiểu phần nào về tâm tư, nguyện vọng, tình yêu của tôi không? Chàng có thể lấp được khoảng trống ráo hoảnh trong tâm hồn rét mướt, mà tôi hằng ngất ngây mong đợi cùng "ai đó" xe mộng tương phùng chăng?
Dọc hai bên đường dẫn lối vào chính điện, những sinh viên sĩ quan ứng chiến đứng gác rải rác dưới những chòm cây thông cao ngất và tối đen. Họ đội mũ lưỡi trai, mặc áo jacket, quần treillis xanh lá cây sậm, áo quần hồ ủi thẳng nếp, giày đinh cao cổ ôm hai ống quần thon gọn. Trên sân hội, những sinh viên sĩ quan thân hình thẳng tắp, mặc quân phục dạ hội mùa đông, nổi bậc găn tay trắng nõn, gù vai màu đỏ, dây biểu chương màu vàng nghệ pha kim tuyến đọ̉ súng dài bồng lên tay, đôi khi tạo ra âm thanh do sắt thép khua vào nhau, nghe rập ràng đều đặn và chuẩn mực. Súng lại được vài phen kêu lên đều đặn, rập khuôn lúc bắt chào, và hạ súng xuống khi nào có những qúy khách đi vào khu đại lễ.
Đến giờ khai mạc đại hội thì buổi lễ long trọng được diễn ra tuần tự từng nghi thức bắt đầu và thủ tục cuối đã xong. Trước mặt các khán đài đang trình diễn các phân binh chủng: Nhảy Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến. Biệt Động Quân. Thiết Giáp. Pháo Binh, vân vân... diễn hành các xe hoa… Thỉnh thoảng vọt lên trời những ngọn pháo bông đủ màu sắc rực rỡ, đủ hình thể khác nhau. Trông rất đẹp khi có mục biểu diễn nhảy dù tiếp theo. Bao cánh dù hoa bung nở, đủ màu bay lơ lửng trên không trung, lủng lẳng nhiều anh chàng Nhảy Dù bay bướm, trông quá tuyệt vời trên cao tít lưng trời bàng bạc hơi sương, gió rét căm căm cùng tiếng thông reo rì rào vi vu thoảng lại. Không Quân Việt Nam Cộng Hòa biểu diễn những đường bay quá điệu nghệ với dáng vẽ oai dũng riêng: Bay solo, bay ba, bay năm… bay vòng cung, bay vút lên và bay lộn ngược đầu… Ôi! Đủ thứ đường bay oai dũng mà lả lướt. Phi cơ kèm những làn khói đủ màu vẽ những hình ảnh lạ mắt, kéo dài sau đuôi tàu bay, rồi tỏa rộng trong bầu trời đêm lấp lánh ánh sao. Trông vô cùng hứng khởi, duyên dáng và ngoạn mục hết biết. Mọi người ngẩng đầu nhìn lên trời cao, mắt họ mở lớn, miệng xuýt xoa trầm trồ vui vẻ khen ngợi.
Những hàng ghế ở khu khán đài B kêu răn rắc, suýt gãy dưới sức nặng của khách ngồi xem mê mãi. Giàn quân nhạc sống vang lên rộn ràng làm huyên náo góc trời u tịch và giá rét. Tiếng hợp xướng, tiếng đơn ca, đồng ca… vang dậy làm cho người đứng tuổi nghĩ nhiều về mình, đồng thời hồi tưởng lại quá khứ oanh liệt vàng son một thuở. Làm cho người vào độ tuổi tráng niên tạm lãng quên phiền nhọc, bực bội, lo toan, để ôn tồn thoải mái, vui vẻ hoà đồng với đám thanh niên trẻ trung tuấn tú, phong lưu hào hoa trong ngày hội lớn. Một số sĩ quan lão luyện tay bắt mặt mừng chào hỏi nhau, họ ung dung đi rải rác từng điểm hội, tuổi tác họ khác nhau.
Đa số đàn ông có khuôn mặt đượm phong trần, sương khuya gió chiều khiến mái tóc lấm tấm muối tiêu và thân thể rắn rỏi hơn. Họ mặc quân phục đại lễ mùa đông trông khác nhau, ai nấy đều lịch lãm oai hùng, phong độ theo mỗi dáng kiểu của từng binh chủng riêng. Nam nhân có những bộ râu quai hàm, râu mép, kính trắng đạo mạo tô điểm cho vầng trán cao, tạo thành khuôn mặt rắn rỏi thêm phần trí thức và trang trọng. Miệng nhiều ông ngậm thuốc lá thơm, xì gà, hay ống điếu. Đó là những cấp lãnh đạo, những cấp chỉ huy có đôi mắt sắc sảo tinh tường. Họ giàu kinh nghiệm, bản lĩnh để hướng dẫn thuộc quyền. Kiễu dáng họ ung dung thong dong thư thả pha chút cao ngạo, đôi khi vương chút bình dị hoà đồng vào cuộc vui chung. Họ cũng biệt lập về kinh nghiệm chiến trường, và cách điều binh khiển tướng khi xung trận. Bên cạnh bao quân nhân là những mệnh phụ phu nhân kiểu dáng chưng diện quần là áo lụa “đỏm đáng đài các” khác người. Cùng phụ huynh của sinh viên sĩ quan đa số thanh lịch, mềm mại, phục sức trông đoan trang mà giản dị, không lố bịch. Nhìn chung đa số quan khách cao sang, uyển chuyển qua nhiều kiểu cách hợp thời khác nhau.
Bỗng một tiếng nổ giòn tan xé màn đêm, nghe như tiếng lọ thủy tinh gián mạnh xuống nền gạch, rồi nhiều tiếng súng cối bắn đi đâu đó, khiến tôi giật nẫy người, nép sát vào lòng Cảnh. Chàng nhìn quanh cũng thảng thốt giây lát, vòng tay Cảnh vội ôm qua thân thể tôi lúc nào, không nhớ. Mọi người đứng lên đồng loạt vỗ tay và la to:
- Ấy dá dà…
- Tuyệt vời quá!
Họ cười vang, có nhiều tiếng hét to:
- Giao thừa.
- Tiễn biệt năm cũ, chào mừng năm mới.
- Chúc mừng năm mới.
- Mừng xuân đến.
- Tết Nguyên Đán đến rồi.
- Happy new year.
Giờ phút linh thiêng nầy thật trang nghiêm, trân trọng. Họ nhìn lên bầu trời sáng rực pháo bông đủ mọi màu sắc và hình dáng. Ồ! Thì ra bây chừ đúng là giờ giao thừa: Súng lớn bắn đi để đón chào dáng xuân hồng thắm ngự trên vạn vật. Chỉ có rứa mà cũng khiến tôi giật mình mất hồn mất vía, run rẩy à! Mươi phút sau bắt đầu thủ tục khai hội dạ tiệc trong đại sãnh sang trọng. Những thức ăn bốc khói nóng sốt thơm ngon. Chuyện trò râm rang khắp nơi. Đêm dạ vũ tưng bừng và long trọng đã khai mạc. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khoản đãi mọi người đến dự tiệc tất niên tống cựu nghinh tân vui vẻ náo nhiệt tưng bừng biết chừng nào.
Chúng tôi dìu nhau đi trong đêm giao thừa rộn ràng những tiếng pháo nổ rền vang khắp mọi nơi. Người người hứng khởi đón chào năm mới vui ơi là vui quá chừng chừng. Lòng tôi vui thích, say say theo cung đàn yêu thương, ngất ngây với nỗi ngọt ngào lâng lâng từ đâu ập đến. Một giao thừa và năm mới bắt đầu tuyệt vời nhất đời mình. Dù mai tôi sau có xa ơi là xa trong sự già thật là già, tôi vẫn trân trọng và mãi nhớ lần đầu tiên tôi vinh dự vô Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, để tiễn năm cũ và hân hoan đón chào năm mới, vui vẻ đón xuân. Chúng tôi dìu nhau đi thật chậm giữa khuya trăng sao muôn trùng rơi rụng, bên tai tôi tiếng pháo rộn rã nghinh xuân tưng bừng.
Lòng tôi cảm thấy bình yên vui vẻ kỳ lạ khi bước chân hai người líu ríu đặt lên từng bậc cấp để vào nhà. Trước thềm năm mới, Cảnh êm đềm trao tặng tôi nụ hôn nho nhỏ phơn phớt trên mái tóc nồng ấm hương xuân đầu năm. Tôi cảm thấy hạnh phúc nhè nhẹ len lén lâng lâng đến trong chân tơ kẽ tóc và trong đời sống riêng mình. Tình cảm ấy tuy nhẹ nhàng, đơn sơ, mà trĩu nặng ân tình trìu mến, thiết tha vẫy gọi nhau biết mấy! Niềm vui thật ngọt ngào trong sáng, cùng sự liên đới kỳ diệu của Trời cao giao hoà tuyệt vời với Đất thấp gợi tình, muôn hoa ngát hương, cỏ cây hoa lá đâm chồi nẩy lộc giữa thiên nhiên cẩm tú. Đà Lạt thoáng mát, thi vị, nên thơ, lãng mạn, mơ mộng, tuyệt diệu ươm mộng xuân tình từ: trên đỉnh Lâm Viên êm đềm rót xuống lòng thế nhân niềm vui chất ngất xiết bao!
Mặt nước hồ Xuân Hương dịu êm, phẳng lặng, xanh biên biếc, như loáng men thủy ngân long lanh dưới ánh mặt trời trong veo phả sương bàng bạc. Gió hiu hiu hây hây vừa đủ lạnh xua chiếc thuyền con như chiếc lá tre bồng bềnh đơn độc phơi mình trên mặt nước. Con thuyền độc mộc nhè nhẹ trôi lui trôi tới bên cọc cắm. Buồm cột không chặt đang rung khe khẽ, hoà cùng tiếng thông reo vi vu và tiếng tơ trùng hòa ngân muôn điệu. Bỗng chốc bầu trời vần vũ mây xám, ánh sáng yếu ớt nhợt nhạt khiến tiết trời càng giá lạnh, cái lạnh bén ngọt sắt như dao cau quệt phớt vào da, khiến các trẻ con và đàn bà cô gái Đà Lạt đều có đôi má phớt hồng, hồn nhiên tươi tắn, môi mọng đỏ như hạt lựu.
Khi sương trắng đọng trên thành phố núi, tôi thích đứng bên ô cửa hà hơi vào những khung kính mà viết tên chàng. Khổ quá! Bất cứ đứng ngồi ở đâu, làm gì, tôi cũng gợi nhớ xôn xao đến tình xưa kinh khủng. Thời gian thấm thoát trôi qua, thế mà đã đến ngày bế giảng khóa hội thảo và huấn luyện thông tin dân vận. Tờ nguyệt san đầu tiên của khóa Một mang tên “Tự Nguyện” đã phát hành, gồm có những cây bút chuyên về văn, thi, hoạ sĩ... cây nhà lá vườn “sáng tác, chiều tác” những bài tùy bút, văn xuôi, thơ tình hay hay, thật dễ thương. Tôi cũng góp mặt trong tuyển tập I mấy bài văn và thơ. Đồng thời tôi sinh hoạt trong Ban Biên Tập cùng Thiên, Thanh, Thứ để viết những bài nhận định, thư ngỏ, bình luận và quan điểm lập trường của đoàn công tác thông tin dân vận Đà Lạt.
Rồi; trường tổ chức nguyên ngày cho khoá sinh đi thưởng ngoạn thắng cảnh dưới Quận Đức Trọng, địa điểm là suối Bồng Lai. Từ mờ sáng trong phòng rộn lên những tiếng cười nói vui vẻ, náo nhiệt hết biết! Ai nấy đều mặt hoa da phấn, hớn hở kêu gọi nhau chuẩn bị hành trang lên đường. Họ chia ra từng tốp năm tốp ba đi ra chợ mua thêm trái cây, nước uống, bánh mì. Mặc dù nhà trường đã chuẩn bị đâu vào đó tươm tất. Hai chiếc xe đò do trường bao chuyến có hai tấm biểu ngữ móc ở hai bên hông xe bay phần phật, chở bốn mươi người dự thảo viên và mười ông thầy giảng viên đi picnic. Nào ca hát, nào đàn, nào kể chuyện tiếu lâm, trên xe cứ om sòm ỏm tỏi như đám rước ngày hội lớn, vui vẻ chưa từng thấy.
Tới dòng suối Bồng Lai cắm lều. Con suối thong thả chảy lượn qua các mô đá nép mình bên những bụi sim tím, bên những đoá hoa dã quỳ vàng óng và những bụi hoa cỏ dại không tên. Nước trong xanh lấp lánh ánh mặt trời róc rách chảy dưới chân. Làn gió mát rung rinh thấp thoáng trong rừng thông rì rào đong đưa cành lá, và choài mình ra mé suối, thoang thoảng mùi hương hoa núi đồi dìu dịu thơm thơm lả tả hoa núi bay về. Lần đầu tiên các bạn thấy tôi mặc áo sơ mi trắng nõn, váy đầm đen, thắt nơ đen trên cổ, đi giày cao gót. Họ to nhỏ xầm xì với nhau là:
- Trông con Thụy đẹp giống như cô đầm lai hí.
- “Mi nhon” hết sẫy!
Lại vẫn cái tính xầm xì bàn tán to thật to bất lịch sự như hồi nào í. Có một hôm tôi mặc bộ đồ ngủ mỏng, bên ngoài khoác thêm chiếc áo ki mô nô, thì tôi bị mấy “anh chàng và mấy cô nàng nhà quê” ở trong phòng ngủ xúi giục, nên con bé Nuôi tài lanh và ngu xuẩn cứ chạy đến bên tôi cười hì hì. Bỗng nó tốc áo kimono của tôi lên cao hoài, cho mấy tên con trai dòm vô. Họ xem tôi có mặc quần lót không! Thật bất lịch sự, lố bịch, vô duyên, mất dạy, thô bỉ hết biết ha!
Trong đám bạn gái của tôi cũng có nhiều cô đẹp như: Thương Chi, nghe nói Chi đang mê Thư lắm. Chánh dễ thương có một đứa con gái ba tuổi, mà vẫn được Thanh làm cùng Ty mê tít thò lò. Anh chị nầy hẹn hò “nhảy dù đi đêm” hoài.
Nào là: Hằng sắp làm đám cưới vội nay mai, dù ba mẹ cô ta không đồng ý cho cô lấy người chồng mà họ cho rằng không xứng đáng. Nhưng Hằng đã mê muội và “lỡ dại” sắp có con! Hằng khóc than với bạn: “Thà rằng chẳng biết cho xong. Biết ra như xúc, như đong lấy sầu”. Đã lỡ mất rồi. Tình yêu hai người ấy nay ra nông nỗi nầy: “Chưa được thì hứng bằng rá. Được rồi thì đá bằng chân”. Hằng gặp phải thứ chồng “không chức không phận thấp hèn mà cứ tưởng là “ta đây”…
Huệ có chồng con đình huỳnh, nhưng hai vợ chồng không hợp, Huệ bỏ chồng về nhà sống với mẹ của cô. Nay Huệ được ông Tiến là Phó-giám-đốc khóa hội thảo thương yêu, hai anh chị “mùi” ráo riết.
Cả em Nuôi mới mười lăm tuổi nhưng cũng có anh bồ gộc là Dzuật (giảng viên) và Trung, Phong cùng làm trong văn phòng yêu thương Nuôi da diết. Nay em hẹn đi ăn với Trung, mai em đi chơi phố với Dzuật, hoặc Phong. Tay ba nầy ghen nhau loạn xạ. Trung là học viên nên không dám làm gì to chuyện, chỉ ghen ì xèo khi Nuôi bỏ anh, mà đi bồ với Dzuật.
Có Tuyết, cô em gái láng giềng Hà Đông của Thứ, Tuyết có anh bồ là Sao đang cặp kè, họ thề hẹn vài tháng nữa sẽ làm đám cưới. Có Lăng và Nở-Hoa cũng khắng khít “nhỏ to tâm sự riêng”. Ôi! Cứ loạn xà ngầu như đám bùi nhùi. Và, còn nữa… Còn tôi nữa…
- Mời Thụy vào gốc cây nghỉ chân uống nước, ăn bánh ngọt với chúng tôi.
- Cám ơn Dzưỡng, nếu có trái cây, thì tôi ghé. Còn ăn bánh uống nước, thì tôi no rồi.
Thứ đi dạo xem phong cảnh cạnh bên tôi, anh sợ mất lòng bạn, nên vội đỡ lời:
- Cô ấy đùa cho vui ấy mà.
Tôi vừa đi vừa mỉm cười:
- Thật đó. Bụng của tôi và các bạn lọc ọc bao nhiêu thức ăn, và cả lít nước rồi. Không biết sao mà còn mời lơi!
Vì Dzưỡng không biết là tôi rất không ưa Dưỡng, tôi đang giăng bẫy để đưa Dzưỡng vào tròng, cho bỏ ghét. Tôi dừng lại khi Dzưỡng ồn ào nói:
- Vậy chúng tôi gồm: Trung, Phương, Dzưỡng, Hạnh, Liễu, Thanh, mời Thụy và Thứ vào đây. Chứ làm gì mà hai anh chị “úp mở”, cố đi riêng lẽ thế!
- Hứ! Cảm ơn mỹ ý của bạn. Tiếc là tôi ớn lên tới cần cổ.
Đoàn học viên lên xe trở về Lữ quán thì tôi lanh lẹ vơ vội quần áo, rồi chạy đi xí phòng tắm. Bọn con gái giành hết mười mấy cái phòng tắm trước mấy bạn trai chậm chạp. Con gái bao giờ cũng có cái “ma lanh láu lỉnh” hơn con trai là gì! Ngày cuối cùng chúng tôi ăn cơm ở lữ-quán. Nhà bếp cũng tỏ ra biết điều, họ cho chúng tôi ăn cơm ngon hơn. Mọi ngày thì khẩu phần rất ẹ: Hôm nay nào gà rô ty, sườn heo nấu đậu, canh rau cải nấu tôm tươi, thịt bò trộn xà lách, cả món tráng miệng là chè hạt sen (thay vài bánh ngọt, hay chuối mỗi ngày).
Đêm văn nghệ thật vui, thật sôi động qua nhiều tiết mục: Đơn ca, song ca, tam ca, hợp ca. Hai vũ khúc. Hai hài kịch. Tôi tham gia trong mục song ca, vũ khúc, và thủ diễn vai chính trong một hài kịch. Tất cả mọi người phải tự biên tự diễn một vài thứ, miễn là có tham gia văn nghệ, để chấm thi ngày ra trường. Ông Giám-đốc Tào cũng như ông Trưởng Ty Triết sẽ tùy thuộc vào khả năng của mỗi người, hầu phân phối chúng tôi đi làm việc ở ngay Ty, (trong thành phố), hoặc phải tỏa đi ba quận huyện lân cận xa xôi.
Thứ ca bài “Đường Chiều” và “Con Thuyền Không Bến” và tự đánh đàn guitar, đàn Haiwaii. Ôi! Tiếng đàn trầm bổng thánh thót khi khoan khi nhặt, cùng tiếng hát trầm ấm ngọt ngào đầy tình người và rung cảm của anh, như xoáy sâu vào lòng người! Trong phòng không ai biết anh có biệt tài. Bây giờ cả hội trường đông nghẹt sinh viên học sinh và lớp hội thảo đang nồng nhiệt hoan hô Thứ, thì Trung, Phương, Thanh… hết thảy bọn họ đều rất thán phục, hết dám lên mặt làm “thầy đàn” khinh thường tài nghệ của Thứ.
Bởi vì những buổi ca hát trong khoá hội thảo nầy, Thứ chỉ cười cười ngồi im lặng ở dưới làm khán thính giả, nghe họ múa rìu qua mắt thợ! Tuyệt nhiên anh không hề lên sân khấu biểu diễn tài nghệ (duy chỉ có tôi ở trong đoàn là biết anh rất có biệt tài lẫy lừng mà thôi). Sau những giờ phút làm chao đảo lòng người ấy, mặc các bạn la ó đòi Thứ đích thân đệm đàn cho ban nhạc tự phát, vì Trung, Phương, Thanh, đánh đàn không có phương pháp, không học theo sách vở với thầy bà nào. Họ chỉ “đàn mò, học lóm lỏm bỏm”. Các “ca sĩ miệt vườn” hát một đường, họ đàn đệm đánh một nẽo! Bùm búm bum… từng tứng tưng… tằng tắng tăng.
Thứ học hai thứ đàn nầy đã chín năm do thầy nhạc sĩ kiêm hoạ sĩ Hoàng Hà dạy, anh đàn có căn bản hẳn hoi. Họ kêu gọi Thứ lên sân khấu, nhưng anh nhất định trốn vào phòng ngủ, không chịu ra hội trường. Hôm nay tình trạng giường nệm ở phòng ngủ rất lộn xộn, không sắp theo thứ tự như cũ, vì tất cả giường phải kê sát vào nhau, dồn vô trong góc vách, bên ngoài tấm phông che, vì cần có chỗ rộng để làm thêm sân khấu và làm sàn nhảy đầm. Nên ai muốn ngủ ở giường nào thì ngủ, thật ra không biết giường nào là của mình ở “góc mô” mà tìm.
Ngoài kia dù đã khá khuya, nhưng các bạn tổ chức “đêm không ngủ” ca hát, ăn uống, chuyện trò vui vẻ. Tôi đi tìm giường của mình, mới khám phá ra một điều bí mật lý thú không thể ngờ: Khi tôi vô phòng ngủ chuẩn bị leo lên chiếc giường của mình, mới giật mình thấy Thứ đứng ở một góc mờ mờ tối dưới đất, anh ta đang ngửa mặt lên cao, vòng tay Thứ ôm lên cổ Thương Chi. Còn cô ta thì nằm sấp trên chiếc giường cao ở tầng hai, cô ta cúi mặt xuống trên mặt Thứ đã ngửa lên. Bất chợt thấy tôi bất ngờ vào phòng ngủ, họ vội vàng buông nhau ra. Vờ như không trông thấy cử chỉ của hai người, tôi lúi húi cúi mặt lặng lẽ leo lên giường của mình, và thả mùng xuống. Tôi không thể ngủ được, vì ngoài kia còn ồn ào náo nhiệt kinh khủng. Tôi đang lim dim mơ màng thì Mai và Huệ vào phòng, tốc mùng kéo giật tay tôi lôi xuống giường:
- Lớp tổ chức cuộc chơi bắn tên, chơi mèo bắt chuột, trốn tìm. Có thưởng lớn. Thụy phải ra tham gia, không ai được ngủ cả.
Quả thực lúc đó trong phòng chỉ có mỗi mình tôi đi ngủ. Họ đi đâu cả rồi? Nằm một mình trong phòng mờ tối, không ngủ được, dù bên ngoài vọng vô ồn ào, nhưng tôi hơi sợ ma. Nên tôi theo hai bạn gia nhập vào cuộc chơi trẻ con nầy. Nhưng lòng tôi cảm thấy buồn lắm. Sau đó tôi lẽn vào phòng kế bên, là leo lên đống nệm, gối, mền, thật cao của lữ-quán. Tôi nhảy tủm xuống bên góc kín đầy nệm tối và khuất ở phía trong, tôi dự tính để trốn mấy bạn, hy vọng không ai tìm ra, tôi có thể ngủ chốc lát. Nhưng, tôi giật nẩy mình toan hét tướng lên, khi thấy Thứ đứng phắt dậy ở một xó góc như cái hang ổ kia. Anh lanh tay lấy tấm mền phủ lên sau lưng. Tôi hoảng hốt khựng lại:
- Úi chèn đét ơi! Anh làm cái gì đó?
- Thì… đi trốn.
- À… cái anh nầy! đã nói là “đêm không ngủ” sao định chui vào đây “ngủ lén” ha!? Có ra chơi với các bạn không thì bảo. Không thì tôi la lên. Họ vào đây lục soát, coi anh làm gì, thì chết đa. Ai nằm ngủ với anh đó?
- Ha… à… Bạn.
Tôi lại trèo lên đống nệm gối bị rách vứt bừa bãi, tôi nhặt mấy sợi lông vịt (những lông tơ vịt làm gối) đã dính trên tóc anh. Tôi kéo tay Thứ theo, anh nói:
- Em đi ra trước đi, rồi anh… sẽ đi ra.
Tôi tụt xuống đi ra ngoài hội trường và ca hát nghêu ngao. Gần ba giờ sáng khi Thương Chi từ trong phòng ngủ đi ra, cô ta lên sàn nhảy với bạn, tôi thấy vài lông vịt dính trên mái tóc dài của nàng, giống như lông vịt dính trên đầu Thứ lúc nãy. À… thì ra tôi đã hiểu… cô ta chính là “bầu bạn… Thứ”. Bốn giờ rưỡi sáng, hầu như không ai còn có thể thức trắng đêm như đã hẹn, nên họ lần lượt rút lui về giường ngủ. Tôi leo lên tầng trên một cái giường bỏ trống ở trong cùng, thả mùng xuống, tôi nằm yên và chợp mắt được một lát.
Bỗng tôi giật mình thức dậy, vì phía dưới cái giường đôi nầy cứ rung lên từng chặp, từng chặp. Tôi bực tức chồm người cúi xuống nhìn vào cái giường dưới lưng mình. Vì chiếc mùng trắng vải thưa hơi dày, nên tôi không nhìn rõ người con trai trùm kín đầu hắn, là ai!?. Tôi chỉ thấy cái sọ dừa tên kia đang nằm trên thân Chi. Cô ta nằm ngửa và mở mắt trừng trừng nhìn lên cái giường đôi, (là nơi tôi đã nằm)… Tự nhiên tôi nổi sùng, (có lẽ là lúc đó tôi “bực tức, ghen bóng ghen gió” khi biết hai người nầy thân thiết nhau?!), nên khẽ gắt:
- Thương Chi. Làm cái gì mà rung cái giường sắt dữ vậy! mầy?
Sợ bị lộ, mấy người con trai khác nằm ở giường sát bên giường của Chi, đã kéo hai cái mùng nhập cho vào nhau, để cho tên con trai đang nằm ở giường Chi, chui tọt qua bên giường của hắn. Rồi cả mấy tên lồm cồm luồn đi các giường kế tiếp, ở nơi cuối góc phòng tối. Thì ra, mấy tay con trai ranh ma quái qủy nầy quá quắt lắm, họ cùng nhau ngồi chung một giường ở trong mùng, để nhìn qua bên giường Tương Chi “coi… màn kịch tình câm, hay để “bề hội đồng?”. Khiếp! Cái lớp tự nguyện tự do thoải mái đầy hào hứng nầy là như thế đó!
* * *
Lễ bế giảng khóa học được tổ chức khá linh đình, trang trọng dưới sự chủ toạ của ông phó Tỉnh-trưởng nội-an, qúy ông Giám-đốc, Trưởng-ty các ban ngành đoàn thể. Trong lớp học có học viên tên Lăng, ba mươi bảy tuổi, có lẽ anh là người già nhất trong đoàn thông tin. Lăng đại diện khoá sinh lên sân khấu lãnh bằng tốt nghiệp; (sau những ngày chúng tôi vùi đầu vào trang sách mở rộng, đây là quà lưu niệm của qúy ông phó Tỉnh-trưởng, các Giám-đốc, Ban-ngành trao cho nhóm người “Tự Nguyện”, các bạn đã được chính phủ thừa nhận tốt nghiệp). Tiệc tùng khoản đãi tưng bừng, vui vẻ không kém gì ngày hội lớn. Ấy là nhận danh hiệu cao qúy nhất mà mỗi người tốt nghiệp khoá I vinh dự thụ hưởng.
Từ đầu đến cuối buổi lễ rất chu đáo, ông Châu phó nhòm chụp nhiều ảnh, quay thành phim tư liệu, mai mốt ông sẽ cho trình chiếu trên màn ảnh chương trình thời sự đó đây. Nhưng khi ông phó Tỉnh-trường và đoàn tùy tùng ung dung an vị trong những chiếc xe hơi đen bóng loáng ra về. Thì ở hội trường có ông đại diện Tỉnh-trưởng tai to mặt lớn nổi trận lôi đình với anh chị em khoá sinh. Chắp hai tay sau đít, ông đi lui đi tới:
- Anh chị em hãy cho tôi biết: Sao không có tấm bích chương móc lên ở chỗ được quy định ở bên ngoài khuôn viên lữ-quán vậy? Phía tay trái kia kìa! Câu biểu ngữ mà tôi định cho dán thêm bên hướng trái của lữ-quán, đâu rồi!? (đại ý là tỏ lòng tri ân và tâng bốc các vị quan to chức lớn, nịnh nọt lố bịch, coi thiệt chướng tai gai mắt thật. Vài ba người trong nhóm học đã đồng lòng cố ý bóc vứt đi, cho rãnh mắt).
Lăng đứng nghiêm chỉnh, cúi đầu thưa:
- Thưa ông, chúng tôi đã dán câu biểu ngữ như ông căn dặn. Nhưng khuya hôm qua có lẽ “kẻ gian” rình mò, phá hoại xé toạt đi. Chúng tôi không ngờ, nên đã dọn dẹp dụng cụ cần thiết. Sáng tửng bưng không thể nào chạy ra chợ mua vải về, làm lại tấm khác, cho kịp.
- Làm cái gì cũng phải phòng hờ chứ! Nước đến chân phải biết nhảy.
- Còn dấu hồ dán và chút giấy màu đỏ trên tường… Chúng tôi có…
- Tôi không phải là cha cố… để anh chị xưng tội lỗi của mình, xin tôi tha tội đâu!
Ông ta lại đi tới rồi đi lui:
- Tôi thấy chứ. Các anh chị tài giỏi, hay… hay lắm! Hệt như một…
Định nói thêm câu xỉ vả gì đó cho hả giận, nhưng ông ta cố gắng kềm chế. Ông ta run run thò tay vào túi áo bành tô, rút chiếc khăn tay ra lau mồ hôi rịn trên trán. Chiếc kính mát vô tình rơi xuống đất, mà ông cũng không hề hay biết. Không ai kịp mở miệng nói, hoặc chạy đến nhặt lên dùm. Gót giày của ông dẫm phải, đã bể nát cái kính vỡ vụn dưới ánh mặt trời ấm áp lấp lánh, hai cái tròng không kính chổng cọng nham nhở giơ lên trời, trông dị hợm làm sao! Từ trong thâm tâm tôi cảm thấy bất mãn.
Ông ơi! Không nên núp bóng cây cổ thụ lợi dụng quyền hành, để có thái độ kém tế nhị, to tiếng mắng kẻ dưới quyền ở ngoài công chúng. Khi bất ngờ họ có thể vô tình phạm ít sai sót lỡ lầm (đúng hay sai đến mức cần thiết) như thế! Ông đã lạm dụng quyền hành, lại tự hạ thấp mình vì chính bản thân chức vụ không cho phép ông đối xử kém tao nhã, thiếu phong cách một truyền nhân thông tin dân vận, như chúng tôi vừa học trong khoá hội thảo nầy. Mặc dù tôi biết bình thường ông là người khả ái ôn nhu cơ mà.
Môi hở thì răng lạnh nhưng răng cứ tàn nhẫn cắn lấy môi đến chảy máu ra, mà vẫn khoe khoang với đời: răng với môi cùng xương cùng thịt trong một cái miệng, (cùng một dòng máu và nguồn gốc, chung lý tưởng, cùng sinh ký tử quy bên nhau, để bảo vệ quê hương). Là sao thế nhỉ! Thế là thay vì buổi tiệc thân mật giữa ban Giám-đốc, giảng viên, khoá tuyển sinh cùng bạn hữu gần xa đến tham dự, lẽ ra vui vẻ say sưa men hoan ca chiến thắng hương nồng, “trọn vẹn yêu thương” hay “đoàn kết và xây dựng”. Hôm nay đã bay vèo theo “bài học bích chương” mất toi!
Tôi rầu rầu xách valy ra về với Huệ, Phương, Thứ, Luận, Thảo. Chúng tôi cùng chậm bước đi bộ xuống con dốc đường vòng trước mặt chùa Linh Sơn. Thứ hai tay bận rộn xách đàn, valy, amply cồng kềnh... vân vân… Thứ phải nhấc lên đặt xuống hoài. Bỗng dưng tôi nhớ lại mấy cái lông vịt dính trên đầu Thứ và Thương Chi, sau đó là chuyện cái giường cuả nó rung… Thành thật mà nói dù lúc ấy tôi chẳng luyến thương gì Thứ. Nhưng tôi cảm thấy muốn đoạt Thứ từ trên tay cuả Thương Chi luôn tỏ vẻ ta đây có bộ ngực to to. Cho bỏ ghét.
Tự nhiên lòng trào lên nỗi ghen, giận, hờn tức vu vơ. Tôi muốn Thứ tài hoa, điệu nghệ, lịch sự, và khá bảnh trai sẽ thuộc về tôi, vĩnh viễn. Tương Chi phải đau khổ khi mất người nó yêu. Chuyện toan tính nầy tôi biết là dị hợm, nhưng tôi có thể chắc chắn làm… được. Trời rất lạnh và mưa phùn bay lất phất, mà chiếc áo veston của Thứ không gài khuy nút, gió lùa bay giạt hai vạt áo về hai nơi, trên ngực Thứ lộ chiếc áo sơ mi trắng mong manh với cà vạt nâu sọc đen ướt đẫm nước mưa. Tôi dừng lại đặt va ly của mình trên lề đường, vui vẻ bảo anh:
- Sao anh không gài nút áo lại đi.
- … Ồ! Phải. Nhờ em tiện tay vui lòng gài nút áo hộ anh tí.
- Tôi tiện tay cũng định gài nút áo giúp anh đó.
- Cảm ơn Thụy.
Tôi chậm rãi gài nút áo cho anh. Nhìn Thứ, tôi thấy ánh mắt chàng ánh lên nét nồng nàn, xao xuyến, thân thiết, trữ tình kỳ lạ. Bốn mắt gặp nhau với niềm hân hoan trìu mến:
- Có lẽ từ nay anh phải nhờ em đi về chung lối, hầu ngày ngày gài giúp anh mấy nút áo, cho anh bớt lạnh.
Tôi mỉm cười trề môi ra, khẽ nhún vai:
- Vậy chứ để bà Tương Chi và bà Tuyết lại cho ai hả?
- Với họ, anh chỉ đùa cho vui…
- . . .
- Thật đấy.
- Anh đừng có mà… đa tình lãng mạn quá.
- Một người duy nhất khác, anh đã chọn, thì không bao giờ thay đổi…
- Có ngày chết à.
- Được chết với người mình thành thật yêu thương (mà chưa dám thổ lộ)… thì còn gì hạnh phúc bằng. Hở Thụy.
- Chỉ khéo đùa dai và giỏi nịnh.
- Thụy không tin anh sao?
- Ai thèm tin cái người chẳng biết thủy chung.
- Em quá lầm rồi, Thụy yêu cuả anh ơi!
- Xiá. Hứ…
Mỗi người leo lên một chiếc taxi riêng biệt chạy về hai hướng khác nhau. “Hai anh chị” lưu luyến trìu mến vẫy vẫy tay chào từ giã. Người con trai trở về hướng Hà Đông. Người con gái lên xe trở ra phố, về nhà ở đại lộ Pasteur. Tiếng gió lộng thổi vào tấm kính trên phòng bên góc lầu rít lên khô khan, nghe thật khó chịu. Đám mây mù đen đen buồn bã buông lơi xuống thấp, tạo thành từng cuộn khói trắng đục rồi lẫn khuất vào trong làn mưa xám đục. Chiều xuống thấp xe bon bon qua những hàng thông cao sừng sững đứng thẳng tắp làng mạc nương dâu lặng lẽ gật đầu lùi về nơi xa xôi với đêm buông.
Chính vì có với nhau nhiều ngày cùng làm chung một công việc, mà tình cảm êm đềm và thật mơ hồ trong tôi đã len lén nẩy sinh với Thứ từ lúc nào, thật tình tôi không rõ! Tôi không thể nào ngờ -và không bao giờ nghĩ đến mấy cái nút áo chết tiệt kia- đã có sức mạnh xoay cả vận mệnh tương lai tình yêu của hai người. Giây phút định mệnh tình cờ (hoặc gọi là số phận “tài lanh và xí xọn”) trớ trêu đó đã mở to mắt, để cúi nhìn xuống đời dân dã, và bện quyện buộc chặt một sợi tơ vàng tuy mong manh; nhưng có đủ sức mạnh dẽo dai bền bĩ! Đó là ngày muà xuân có cơn mưa phùn buốt tê, có gió lồng lộng thổi về tràn ngập trên xứ hoa anh đào, có chiếc nút áo định mệnh chắc chắn của Thứ đã tình cờ trao vào tận tay tôi. Phải! Có nhiều điều khác nhau, vô cùng xa lạ, nhất là về quan điểm, tính tình, đồng cảm, tình cảm. Một sự thiếu thông cảm đầy bất công, mâu thuẫn, mà lại xen lẫn niềm vui, hạnh phúc chợt đến, chợt đi, chợt về.
Tình cảm đó không có cách gì hủy diệt được về cái ngày tiền định duy nhất: từ đàn én báo xuân khoảng chục ngàn con vượt vài trăm ngàn ki lô mét, từ phương Nam bay về tu viện San Juan Capistrano ; ấy là ngày 17 tháng 3 được mệnh danh: Swalows Day. Chính lúc đó có một chú én lạc đàn đã mang mấy cái “nút áo thần” bay xa, xa hẳn đàn. Nút áo chết tiệt có sức mạnh xoay cả vận mệnh. Đó là nút áo đen đen xinh xinh của Thứ đẹp trai, tao nhã, tài hoa, nhưng không hề có sự đồng cảm, thân mật hay truyền cảm cho lắm. Ối Giời ạ! Dạ phải đấy…
* * *
Ác-nhân tương-tàn Xứ Mai Anh Đào !
(Nhớ về năm Mậu Thân 1968) Tình Hoài Hương
***
Khung trời Đà Lạt se lạnh giữa lưng núi gom từng phiến mây bạc ùn ùn trôi dưới nắng vàng tươi rói. Mây phơi phới hào phóng bay bay khắp đỉnh đồi thông, quyện lẫn mùi hương hoa ngâu, hoa lý, hoa lài, hoa bưởi tỏa ra thơm thơm. Gió lồng lộng vỗ vào hàng hiên bên giại nứa sau hè nhà ba má tôi, phối hợp cùng bầy chim én lý lắc ríu rít vút vút bay lên bay xuống. Nắng và gió vô tình lùa tới, thi nhau đẩy khói lửa bốc cao vào cuộc chiến. Cho đến lúc chết vẫn tranh chấp kịch liệt những con đường nhấp nhô trồng nhiều hàng hoa anh đào óng ả lả lơi uốn khúc, lượn sóng vòng vòng quanh co ven đồi núi Đà Lạt. Khiến ta thèm những đồng bằng ruộng dâu đất đai phì nhiêu, cả những luống hoa muôn màu tươi đẹp, bao đồi thông ngút ngàn xanh um bóng mát.
Đến chân khu nghĩa trang số 6, Lâm lúi húi đốt hương trầm bên những nấm mồ tiên tổ. Nào ngờ nơi ấy phơi ra mấy thi hài lõa lồ lắc lẽo, rửa nát, tanh hôi, sình bủng, không trọn vẹn hình dáng ai rải rác bên vệ đường ở thành phố cao nguyên Lâm Viên từ hai ba hôm nay chưa có người kịp nhặt đi chôn.
Tiếng súng bên nầy lẫn bên kia rau ráu ầm vang nhức nhối nổ thật rát tai, quá kinh thiên động địa, tạo thành một chiến trường bi phẫn, bạt ngàn khói lửa tuông về, chết chóc, rùng rợn, thê thảm sẽ ập đến nữa mà thôi! Chiến tranh ngang nhiên ngốn đi biết bao thanh niên trai tráng, và ông già bà lão trẻ thơ vô tội; kể cả động vật có hai chân, bốn chân, hoặc không có chân nào như giun, rắn... và bất động vật. Bất kể “chủng loại” nào “nó” cũng chẳng từ nan. Chiến sự không tốt đẹp gì. Phía Việt Nam Cộng Hòa chưa thể ra tay! Nếu có đề phòng trước, không bị bất ngờ, và có quyền quyết định như người xưa “tiền trảm hậu tấu”, vị tất họ chẳng nhường cho “kẻ dị tộc” vô Nam xâm lăng một tất đất.
Lẽ nào chính phủ Việt Nam Cộng Hoà để “người lạ phương xa” tự do ra vào tung hoành, tranh phần lãnh thổ của riêng ta, mặc nó thao túng!? Vì chính bọn họ đã ngang nhiên vi phạm quy ước hiệp định “The 1954 Geneva Cease-fire Agreements” ấn định: chia đôi đất nước Việt Nam ra làm hai phần: miền Bắc – miền Nam tách bạch (riêng rẽ chủ quyền lãnh thổ). Lấy cầu Hiền Lương, vĩ tuyến 17, con sông Gianh làm mốc chuẩn mực. Dù phải chia lìa quê hương, xa nơi chôn nhau cắt rốn - Ngăn cách đôi bờ xót xa, tủi nhục, một sự tủi hờn điếng lặng đớn đau muôn đời khắc in vết chàm, không bao giờ gột rửa sạch!
Miền Nam Việt Nam Cộng Hoà vẫn tôn trọng quy ước, tuyệt nhiên không xâm phạm lãnh thổ của ai. Ấy vậy mà, những tên bố tổ cha kia đã làm động mồ động mả, động những ngôi cổ mộ tôn kính từ lăng Nguyễn Hữu Hào xa tít trên triền núi Cam Ly Thượng, chạy dài xuống nghĩa trang khu Số Bốn, động cả thánh thần muốn yên nghỉ giấc nghìn thu ngoài nghiã trang khu Số 6. Ngay trên bàn thờ mọi gia đình cũng bị lật tung, dựng đứng dậy! Nhất là hương hoa đèn nến nghi ngút toả ra tại các chùa chiền linh thiêng, am tự, nhà thờ, nơi đình đám hội hè, mọi nhà cư dân yên ấm vui vẻ ba ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền, đâu đâu cũng bị bốc cháy, rụi tàn.
Thảng thốt. Bàng hoàng tột độ. Thật phi đạo đức! Tôi thương những người chân thật, mềm yếu rụt rè, phần nữa là họ cùng tôi có những nét tương giao đồng cảnh ngộ. Mặc dù sự phòng tránh bom đạn ở trong nhà tôi chẳng chắc chắn chu đáo gì, Lâm đã kê ở bốn chân giường lên những cục táp lô, rồi chất bao đất cát ở bốn phiá chung quanh cái giường đôi, làm thành căn hầm tạm trú. Nền xi măng lạnh lẽo đã quét sạch và lau đi lau lại bằng khăn lông vắt khô. Tôi trải tấm nệm xuống nền nhà để ngả lưng. Mới bốn giờ chiều mà cả nhà lo chui vô “hầm trú” nầy.
Buồn không nói nên lời! Ở thời buổi chiến tranh không biết nghỉ mệt, làm sao bây giờ? Không sáng tối nào mà tôi khỏi thấy đầu đạn mới, mìn cày xới trong vườn hoa trước sân nhà, trong phòng ngủ, phòng ăn. Có nhiều hôm đạn ghim vào nệm, vào gối. Dễ sợ chưa! Đầu đạn ghim vào vách ván thì không kể xiết. Tất cả cửa kính bể nát, tha hồ cho gió lạnh lộng hành rít vù vù, lật tung hết mọi trật tự trong gia đình. Mấy cái phuy chứa đầy nước uống đạn xuyên qua, nước chảy cạn xuống đáy thùng. Sáu bóng đèn điện trong nhà cứ vài hôm bị đạn "xơi tái" đi. Riết rồi trong nhà tôi, ngoài ngỏ, đường cái tối thui, không còn một bóng đèn nào. Không ai có thì giờ nghĩ đến chuyện dọn dẹp nhà cửa khang trang tươm tất hơn.
Thế rồi chúng tôi không thể nằm lì ở nhà, mà phải bồng bế nhau chạy lên khu nhà Dòng lánh nạn, vì đạn mìn nổ réo rát tai, tức lồng ngực kinh khủng. Sau ba tuần, cư dân trong thành phố tôi ai ai cũng đi đi về về lánh nạn (người dân ở vùng nào, thì tạm lánh ở những cao ốc an toàn nhất của vùng đó, (ví dụ khu ở nhà Chung, nhà Bò… họ sẽ chạy vô núp trong nhà thờ Chánh Toà). Dưới khu Điạ Dư thì dân vô ngủ nhờ ở trường Grand Lyce’), vân vân... Bảy gia đình ở khu Mai Hắc Đế cuả chúng tôi cư ngụ gần dòng tu Domain de Marie (dòng tu có biệt hiệu là: “Dòng Bà Xơ Xanh, và còn có tên là Dòng Nữ Tu Mai Anh, vì trên khu đồi nầy trồng toàn hoa Mai Anh Đào”).
Sau vài ngày sửng sốt bàng hoàng dáo dác lấp ló nhìn nhau; thì mấy ông mồ côi con nuôi (của các Bà Mẹ Dòng) không cho “cánh đàn ông ở ngoài Đời” (đây là “từ” mà các con cuả bà mẹ dòng Domain muốn ám chỉ về: Những người ngoài đời ấy không phải là con nuôi, con mồ côi “thuộc quyền cai trị” của các bà mẹ dòng tu). Mấy “ông mồ côi” không cho mấy “ông ở ngoài đời”, vào ngủ nhờ dưới tầng hầm nữa. Mấy “ông tướng mồ côi” nầy được các bà mẹ dòng Domain đi nhặt nhạnh ở đâu đó trong thành phố, hoặc vài nơi: Tỉnh, Thành nào… đã bị cha mẹ họ dã tâm bỏ rơi con. Rồi các bà dòng bác ái ấy cưu mang, ra tay làm phúc, gây đức, lụm khụm, tay bồng tay dắt đùm túm tha nhặt mang trẻ không cha mẹ, tứ cố vô thân về nhà dòng.
Khi các bà có “cục cưng” thì ôi thôi họ lo nuôi nấng, ấp ủ cho “đàn con côi cút” có cơm ăn áo ấm mặc, học hành tử tế. Nhưng dĩ nhiên các cục cưng cũng không khỏi bị các bà cho ăn cơm ngon với… ăn đòn (khi các con ưa quậy tưng trời)! Đàn con nuôi dần dà lớn lên thành nhân, thành tài, các bà mẹ dòng lại đứng ra dựng vợ gã chồng “hợp tác” cho con mồ côi có tổ ấm riêng. Các bà dòng làm một dãy nhà gỗ, hoặc nhà xây ở tít dưới thung lũng (khu đất rộng trong khuôn viên dòng). Các bà mong họ sống ấm no thoải mái, sanh con đẻ cháu ở đó cho tới già, tới chết. Khi họ lìa đời, mẹ dòng lại bưng họ đi chôn trong một góc tư điền tư thổ xa xa Dòng Domain nầy.
Trở lại chuyện mấy ông mồ côi: Mặc dù “mấy ông tướng mồ côi” dư biết bảy gia trưởng “ở ngoài đời” là những cư dân sống đàng hoàng, lương thiện, có công ăn việc làm cố định, có nhà cửa, đồng thời họ là hàng xóm láng giềng thân cận với khu đất dòng Domain. Ngày ngày mấy “ông tướng gia mồ côi” thường lui tới, ra vào nhà mấy ông “láng giềng bạn dân” ngoài kia; đôi bên tưng bừng vui vẻ la cà ăn nhậu lai rai. Chưa say, không đã, không xỉn, không quên nghêu ngao ca hát mà đưa lui đưa tới: “anh hân hoan đưa em về, rồi thì em lại dùng dằng chẳng chịu chia tay, lôi kéo em đưa anh ra”. Họ “khắng khít” với đàn anh ngoài đời chả chịu bò lết trở về nhà.
Thế mà hôm nay lúc bên ngoài súng đạn bay vèo vèo, nhưng bọn mồ côi ấy khoá chặt cửa nẽo, bình thản và tàn nhẫn đứng ở trong cửa hầm, vô tư lự nhìn ra nhóm đàn ông ở ngoài cửa. Dù mấy tay đàn ông đứng ở ngoài cửa ngoài trời hết hơi năn nỉ ba ông mồ côi thân quen gác cửa muốn gãy lưỡi, họ vẫn không cho mấy ông ở ngoài trời vào. Lâm giận run chửi họ một trận. Anh nổi cộc dùng tay không đấm rõ mạnh vào một ô cửa kính, khiến nó bể nát ra. Mảnh kính ghim vô bàn tay Lâm, máu tươi chảy ròng ròng. Tôi xanh mặt, ớn lạnh và run lẩy bẩy không thốt nên lời. Lâm xỉ tay vào bên trong cửa kính vừa bể, hét to:
- Không cho chúng tôi vào. Hãy mở cửa cho vợ con tôi ra ngay.
Bác Hải chống hai tay lên sườn:
- Ông không sợ lũ hèn nhát chúng mày. Nhớ nhá!
Báu rung mạnh cánh cửa bể:
- Bà dòng cho mọi người vào đó ở tạm. Chứ nào phải nơi nầy là của riêng bố tổ ...tổ cha chúng mày, mà không cho ông vào. Hử?
- Chúng mày là loài liu điu, nở ra dòng liu điu, cứ tưởng mình là chó sói, thị oai ở rừng ha. Có ngon, thì mở cửa ra đây. Sẽ biết tay ta.
May mà mấy cha nội mồ côi ác nhân đứng lấp ló ở bên trong hầm. Chứ nếu đám ông mồ côi đứng gần cánh cửa bể, thể nào cũng bị Lâm thộp ngực áo lôi ra ở ngoài tầng hầm, thì ...thể nào họ cũng bị “các ông ngoài đời” thẳng tay "nện, dần, đục, tộn" cho một trận nên thân.
Kẹt lại bên trong hầm không ra được, mẹ con tôi thấy cảnh tượng Lâm bị máu chảy ruột mềm, tôi đã chưởi vu vơ nhoi trời đất. Tôi bắt họ mở cửa lớn cho mấy gia đình chúng tôi (ở chung dưới xóm) đi ra. Nhưng tên giữ chìa khóa cửa lớn đã lủi trốn đi đâu, lúc nào không rõ. Đêm đó, bác Hải và Lâm nằm tơ hơ trống huếch trống hoác mà co quắp dưới chân bàn thờ bên hang đá Đức Mẹ, không mền chiếu. Vì có thiết quân luật sau 7giờ tối là không ai được phép đi ra ngoài đường.
Trời Đà Lạt lạnh vào khoảng 10/o C. Hai người cứng đơ như bị ướp đá. Lâm giơ tay vuốt bầy muỗi rơi khỏi khuôn mặt sưng vù, dày cộm. Muỗi tha hồ hút máu đông. Họ không còn cảm giác, gần như chết cóng. Hai anh em bạn láng giềng Hải, Lâm: dù cuống họng, lưỡi và môi không trỗi nhạc mà hai hàm răng va lộp cộp từng cơn. Họ thức trắng đêm thì thầm cầu nguyện, mong bình an và trời mau sáng. Họ nhìn chiến trường bốc lửa từ phía Khu Số 4. Khu Số 6. Họ lo sợ kinh khủng! Sau đêm đó, ban ngày Lâm vẫn đi làm việc, chiều chiều một mình Lâm đến nhà bác Chiểu ở đường Phan đình Phùng ngủ nhờ. Khi nào không có phiên trực ở Ty, choạng vạng tối Lâm ghé tạt về nhà thăm chừng mẹ con chút xiú, là đi. Nơi chốn nầy khá hẻo lánh, ai nấy đều thấy sợ.
* * *
Thỉnh thoảng hoả châu đỏ rực bầu trời suốt từ chập tối đến rạng sáng. Cứ mươi lăm phút thì súng lớn từ hướng Bắc câu đi đâu đó vút vút ầm ầm ầm. Súng nhỏ gần gần trong địa bàn thành phố lại nổ từng hồi pằng pằng pằng… Tạch tạch tạch… đùng đùng đùng. Ầm! Oành! Bầu trời rực sáng màu đỏ tía, do trực thăng bay vòng vòng rất gần đỉnh đầu chúng tôi đã khạc ra những tràng lửa đỏ lòm, những tia đạn dài ngoẵng vút vút lao xuống dưới, rồi bầu trời bỗng tối đen như đêm ba mươi. Trong đêm tối mà chứng kiến tận mắt những tia lửa từ nòng súng khạc ra, mới cảm thấy sự vô tri bạo tàn không kém phần oai dũng cuả súng ống lạnh tanh tua tủa bắn ra, để trừ kẻ gian kẻ xâm lăng. Khói bay toả trên tít tầng mây xám, không trung quyện lẫn màu khói pha sương mù mịt mùng. Mùi hôi theo gió lùa về khét lẹt, chua chua, thum thủm, hôi chịu không nỗi.
Suốt thời gian chiến cuộc, sau vụ Lâm đã đấm bể ô kính cửa ở nhà dòng Domain, dù bàn tay anh băng bó rồI, máu vẫn rỉ ra. Thỉnh thoảng mẹ chồng, tôi, và hai con trai nhỏ vẫn “làm mặt mo” lì lợm, thộn mặt mà mò lên ngủ nhờ dưới tầng hầm của nhà dòng Domain. Hôm nay thì chúng tôi bồng bế nhau lên ngủ nhờ trong dãy hành lang của Dân Y Viện Đà Lạt. Vào bệnh viện ngửi thấy mùi nồng nồng, hôi hôi, tanh tanh, mùi thuốc sát trùng thật khó chịu, hầu như ai nấy muốn nôn ọe. Nhưng gia đình chúng tôi phải ráng chịu đựng. Mẹ chồng, tôi và hai con trai nằm đất ẩm ướt lạnh lẽo luôn luôn. Các con bị ho, sỗ mũi, nóng lạnh. Nhất là bé Tuấn ọc sữa thường xuyên. Mặc dù tôi đã mặc cho bé Dzũng và bé Tuấn hai áo lót, áo cánh, hai áo ấm, quần nỉ dày, mũ len, bít tất, mền bông ủ kín cả người. Nhưng các con bé bỏng đã chịu cảnh gió sương, lạnh lẽo quá chừng không thể ấm hơn, vì hiên ngoài lồng lộng gió và sương muối đặc sệt giăng mắc. Tôi quá đổi buồn phiền, thương các con, đau khổ, lo lắng vô cùng. Tôi thương bé Tuấn tròn hai tháng, con nhỏ xíu, dù con còn đỏ hỏn mà ngày ngày tôi bế con đi ngủ nhờ ngoài hành lang lạnh lẽo lắm. Sáng sáng tôi lại bế con về nhà, giữa nắng mưa sương gió khuya chiều lạnh buốt xương sống.
Đêm đêm súng đạn vang rền, tôi vẫn chứng kiến quá nhiều cảnh đau đớn, rên siết, chết chóc của người già có, trẻ có, đang mang bệnh tật, kể cả thương binh trào máu tươi. Cảnh nào cũng đau đớn khổ sở, đắng cay như nhau. Thà ngủ gần người bệnh, ngủ gần nhà xác, còn hơn ngủ chung với người đang dẫy đùng đùng vặn mình chờ chết. Tôi cảm thấy sợ kinh khủng! Khi có quả bom dội xuống đất, (dù bom dội ở nơi khác) mọi người và vật vô phúc ở ngay đó, gần đó sẽ nát như như tương. Với phản ứng tự vệ tự nhiên, ai ai cũng ngồi bật dậy, lao xuống đất và chui vào gầm giường, gầm bàn. Trước muôn vàn chinh chiến điêu linh tang tóc, khổ sở đã vỡ bung ra trên mọi miền đất nước thân yêu, không một ai vô tình trong cơn quặn đau thắt ruột lịch sử dân tộc Việt Nam, là nỗi nhục nhã ê chề, đớn đau gớm ghiết, tủi hổ tột cùng. Triệu triệu người từng chứng kiến qua nhiều góc cạnh cuộc đời khác nhau, nơi bề trái lịch sử: Tham tàn, cuồng loạn vụng về núp bóng dưới lớp mây đen u tối nghịt trời, đang tỏa sức sống trên vòm trần kính.
Thời gian thấm thoát trôi qua… bé Tuấn vừa được ba tháng rưỡi, con biết lật vào một buổi tối nằm ngủ nhờ ở góc hiên ngoài bệnh viện. Mẹ chồng, tôi và bé Dzũng vui mừng sảng khoái cười la thật to, vỗ tay reo vui hoan hỉ. Khiến mấy cô y tá trực bệnh viện không hiểu chuyện gì, họ lo sợ mở cửa dáo dác nhìn quanh. Mẹ con bà cháu im bặt, chúng tôi sợ họ bực mình, sẽ đuổi đi không cho tá túc ở xó góc hành lang bệnh viện, thì biết trông cậy nương nhờ vào đâu! Đó là niềm vui mừng trong veo, duy nhất có tiếng cười hồn nhiên thoải mái kể từ hôm chạy giặc! Tôi vui mừng hết sức. Tôi cầu mong cho các con hay ăn chóng lớn, gia đình an mạnh một phần. Phần lớn nữa là mong quê hương sớm yên ổn, để chúng tôi và mọi người trở về ngủ dưới căn nhà bé nhỏ đơn sơ, tránh khỏi cảnh ăn đậu ở nhờ nơi đầu đường, xó xỉnh bẩn thỉu và buồn da diết thế nầy.
* * *
Kẻ xâm lăng thành phố Đà Lạt như thế đã hơn hai tháng ròng rã trôi qua… Chiến cuộc cứ thế bên thủ bên nằm, đôi khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà tiến lên từng bước, từng bước tiến vào cửa ngỏ loạn ly. Dù lính có kế hoạch quy mô, có sách lược điều quân, và nguyên tắc phối hợp hành quân từ lăng kính thuần tuý quân sự. Nói nôm na hơn là sự tranh giành đất đai, quyền lực “với nhau”, việc nầy không phải đỗ lỗi là vì do chiến tranh hay không chiến tranh! Phía nào không củng cố, không bảo vệ, không cẩn trọng.
Nói một cách thẳng thắng lạnh lùng hơn: nếu không bổn phận trách nhiệm, mất cảnh giác– thì sẽ mất tất cả! Nhưng bắt buộc quân nhân Việt Nam Cộng Hoà phải uể oải nằm ù lì phơi nắng phơi sương dầm mưa nướng mình trên đất cỏ, để chờ đợi lệnh trên ban xuống. Lính ngao ngán mỏi mòn chờ đợi rồI đợI chờ… lệnh tổng tấn công. “Trò đánh giặc” nầy tương tự như “trò chơi đánh bạc”, ta cay cú vì thua mất tiền trong ván bài ấy, do ta không đoán biết trong lòng cuả cái tô úp trên diã đặt ở manh chiếu kia là: chẵn hay lẻ!? Thì khi ta thua, ta phải nghỉ vài ván để tìm “đối sách”. Tất nhiên người cầm cái tuyệt đối không muốn nghỉ, (nghỉ là đồng nghiã với thua). Họ nghỉ tức là buông mất cơ hội tốt lành vơ vét tiền khi “con bạc” đang say nước cờ đen đỏ!
Lính nằm dưỡng sức trên đám cỏ bồng cũng thế! Muốn thắng địch quân ngườI LÍNH TRUNG, TRÍ, NHÂN, DŨNG không những cần có vũ khí, mà còn cần: Kiên nhẫn, dũng khí và ý chí. Từng đường máu cộm phồng co giật bên mang tai người lính phong sương dãi dầu mưa nắng có một sự kiên định và vững chãi. Một số Lính Thủy Quân Lục Chiến các vùng khác biệt phái, Bộ-Binh, Biệt Động Quân nằm ép bụng sát đất, họ xã láng cuộc đời trên những thăng trầm đen đỏ số phận, xây dựng tình yêu nơi hoang tàn quê hương đổ nát. Mặc bao mưu toan đen đỏ trong cơn lốc chính trị lịch sử dùng dằng đẩy đưa, đầy cay đắng. Về phần dân thị thành Đà Lạt thì bị cô lập mọi mặt, mọi ngã đường. Cả bầu trời Đà lạt dường như thu gọn lại trong chiếc máy xay sinh tố cũ khô khan kêu cót két, rít rít, ù ù rột rột quay lông lốc, nghe điếc ù cả tai, xốn xang, nghẽn nghẹt buồng tim lá phổi.
Bầu trời bao la càng trống trải, trực thăng bay lừ đừ như con chuồn chuồn ốm, dễ làm mục tiêu cho các họng súng cối ở nơi xa xa dựng đứng dưới đất chĩa thẳng lên trời, súng bắn từng phát (nghe dường như về hướng khu Số 6 hay Tùng Lâm thì phải). Suốt hai ngày đêm, loa phóng thanh trên phi cơ chĩa xuống đất, kêu gọi người dân ai còn mắc kẹt giữa hai lằn đạn, hãy cố gắng di tản ra khỏi mục tiêu sẽ quầng thảo. Trực thăng bay lượn chậm chạp, từ trong lòng phi cơ tung thả vô số truyền đơn xuống đất, che mờ một góc trời miền núi. Thỉnh thoảng có nhiều tiếng súng rời rạc. Và Ùm… ùm… Ầm ầm… cắt… bụp… xè… rào rạo. Thật chói tai dễ sợ.
Thế mà đằng góc trời nầy, mấy chú chuồn chuồn sắt cứ điềm nhiên, tỉnh bơ lượn qua lượn lại trên đầu chúng tôi. Dường như họ coi đó là chuyện nhỏ, chả có gì quan trọng khi cơn binh lửa bừng bừng thổi về! Vì, phi vụ của họ là ủy lạo đồng bào, dùng truyền đơn từ trong lòng phi cơ vừa rải xuống đất, ngỏ hầu chỉ dẫn dân về cách di tản. Ấy là những tấm giấy phép có uy tín, hiệu lực, để mọi người dân còn mắc kẹt trong khu vực Số 4, Số 6, Tùng Lâm... vân vân… bị tạm chiếm, “dân ta” có thể đi ra an toàn khỏi vùng phong tỏa. Đồng thời loa trên trực thăng vẫn kêu gọi “bọn hàng binh” ra đầu thú, thì sẽ được chính phủ Việt Nam Cộng Hoà khoan hồng ưu đãi. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà luôn khuyên "Vi ci":
- Hãy buông tha người dân vô tội đi.
Kết quả hữu hiệu là có nhiều thanh niên: bình tĩnh, khôn ngoan, kiên cường lủi trốn đi khỏi vùng số 4, số 6, Tùng Lâm. May mắn thoát ra, họ đã hổn hển kể lại:
- Đối phương chiếm nhiều căn nhà chắc chắn dùng làm nơi đặt biệt liên lạc với nhau.
- Việt-cộng đông lắm. Chúng tôi cố tìm mọi cách thoát thân. Nếu không may thì bị ai đó… bắn “cái đùng”.
Họ (Việt Cộng) tự động tổ chức nhân sự bị kẹt lại thành từng tổ tam tam. Họ vừa xoa, vừa tuyên truyền, vừa đánh đập, để kích động tâm lý trong lòng “kẻ bại”!? Họ bắt dân đen khiêng vác đất đá, đào hầm hố trú ẩn, rất cực khổ, ngỏ hầu trốn bom đạn, mà dân bị nhịn ăn. Vã lại ở trong vùng tạm chiếm nầy, làm gì có họp hành chợ búa đâu, không ai có thể mua lương thực ăn uống! May mà trong vườn của chúng tôi còn tí rau, củ, nên len lén ăn vụng trộm rau cải, mong cố sống còn, mà cầm cự qua ngày.
Xế trưa hôm ấy, vùng đồi núi Domain bị súng đạn đến thăm. Non vài giờ sau là cả đỉnh núi Lâm Viên tuyệt diệu xứ hoa đào thơ mộng cũng không được chú ý bằng mỏm đồi khu Số 4. “Khu Số Bốn”! Đại danh ngữ ấy mới thoảng nghe qua thiệt “quê quê”, nhưng đầy nồng ấm ngọt ngào mật thắm tình quê, dịu dàng êm ả thân thiết, chất phác, mộc mạc, đơn sơ gần gũi như tính ngữ danh xưng. Thân thương làm sao! Nồng thắm trìu mến dường bao! Ấy thế mà suốt bao ngày qua chiến tranh tàn ác đang bám riết lấy nó.
“Kẻ lạ” nhanh như sóc, lủi như chuột chù, chuột hôi len lỏi vào mọi ngóc ngách, họ ở lì trong mọi nhà. Bắt dân đào hầm hố, len lén trèo qua những hàng rào, lủi sâu vào vườn tượt nhà dân. Họ leo trèo lên cây quả, vụng trộm thập thò rình mò dáo dác dòm ngó coi rất gian, rù rì to nhỏ, nhìn trước ngó sau, lấm la lấm lét như kẻ cướp cạn. Trong khu Số 4, Số 6 đó, đa số dân lành còn bị kẹt lại vô tình làm bình phong, làm mấu chốt đỡ đạn từ hai phía.
Chiến tranh không tốt đẹp gì. Chưa thể phân định đâu đúng đâu sai, đâu là điều hay lẽ phải. Chưa thể chứ không phải là không thể. Nhưng chắc chắn một điều chính xác là “bên kia” đã hoàn toàn sai trái luật -do vi phạm hiệp định công ước quốc tế-, họ đã cố tình loang vết nhơ, sóng thần cào cuộn từng dòng máu chảy ruột mềm. Nếu không lầm thì hơn ba tuần sau ngày bé Tuấn biết lật, Quân đoàn II gửi một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Tiểu Ðoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh tăng cường cho Thị-xã Ðà Lạt, để tiêu diệt tàn quân Việt Cộng ẩn nấp trong Khu Số 4. Khu số 6. Tùng Lâm, v.v… Toàn dân ở Đà Lạt Tuyên Đức nói chung và riêng khu xóm cùng gia đình tôi nói riêng trân trọng cám ơn qúy quân nhân Việt Nam Cộng Hoà.
* * *
Comment