
Lê khánh Thọ - France - Phần 109
Thể theo lời yêu cầu của độc giả, "Bút Chiến Cờ Vàng" thêm phần tóm tắt ...
Trưởng Ban Tổ Chức Đại Hội Thụ Nhân 2012 Paris, Tiến sĩ Lê đình Thông (Nhạc bất Quần -Paris) chủ trương không treo Cờ Vàng 3 sọc đỏ với sự đồng lỏa của Chủ tịch Phạm trọng Khoát, Trần thị Châu,Võ quỳnh Mai (người cá ươn Denmark), Ts Phạm văn Lưu (Ts Kangourou ), ăng- ten Huỳnh trung Trực ...Đặc biệt Giáo sư Vũ quốc Thúc (Tể Tướng Eiffel) bị gian sư Trần văn Ngô (Tây Độc Paris) manipulé ... đầu tiên Tể Tướng Eiffel OK giữ cờ nhưng rốt cuộc đổi ý.
Lê khánh Thọ (ngự lâm họa sĩ), Trần thị Diệu Tâm (ngự lâm văn sĩ ) và Lê thị Hảo (ngự lâm thi sĩ) khởi xướng phong trào giành lại Cờ Vàng với sự ủng hộ của Dũng sĩ Huỳnh hữu Tài, Tôn thất Hồng Cúc ( ngự lâm logo, Tôn thất Kinh), Rambo Ngô thanh Tâm, Hà Lê Bích Thủy ( Nữ Tướng Dallas), Huỳnh văn Của (Võ Tướng Biệt Động Quân, thi sĩ Huy Văn), Ts Trần văn Lương (Thiền sư Phi Dã)...và Giáo sư Nguyễn Kim Quý (Nguyên Soái Oregon)...Nhờ ngoại viện hết lòng hỗ trợ, Nhạc bất Quần -Paris rút lui.
Trong thời gian chuẩn bị thành hình Ban Tổ Chức mới thì xảy ra biến cố...ngựlâmlogo hất cẳng ngựlâmhọasĩ và ngựlâmvănsĩ. Xé lẻ, kéo theo ngựlâmthi sĩ (yêu nước nhưng nhẹ dạ!), ngựlâmlogo liên kết với " Ban Tổ Chức Quốc Tế" do Phật tử quốc doanh Mộng Hương và ca sĩ Đoàn Chính cầm đầu, cũng như tự ý phong chức Trưởng Ban Cố Vấn cho tay chàng hảng Phạm đình Đắc (Dacco), và tự ý phong chức Trưởng Ban Tổ Chức cho Huỳnh ngọc Phấn (kẻ hợp tác làm ăn với CSVN). Than ôi! Chỉ vài tháng sau thì Dacco lộ dã tâm đánh phá Đại Hội và HNPhấn "lặn" mất tiêu.
Thiếu nhân lực, lại tiếp tục hành nghề phong chức... ngựlâmlogo tấn phong Tôn quang Tuấn (đại xú huynh TQT) chức Phó Ban, và tấn phong chức Hội Trưởng cho Mai văn Thái. Đồng thời ngựlâmlogo xuống nước... nhận lỗi với ngựlâmhọasĩ và ngựlâmvănsĩ. Vì đại cuộc, ngựlâmhọasĩ đồng ý họp mặt tại Paris cùng Ban Tổ Chức mới thành hình với điều kiện... tiếp tục tự do viết "Bút Chiến Cờ Vàng Thụ Nhân".
Sau đó, ngựlâmhọasĩ rút tên ra khỏi " hội trở cờ"và bị Nguyễn ngọc Quang (Quang già gà mái) sỉ nhục về...cái bụng vũ nữ. Nguyên Soái Oregon phóng chưởng binh vực thì bị lão và Đặng kim Thành lớn tiếng bôi nhọ. Diễn đàn Thụ Nhân sôi động...
Ngẫu nhiên !? Hoặc nguyên do BCCVTN phần 8,9,10,11,12 được phóng vào diễn đàn Thụ Nhân khiến cho Nhạc bất Quần -Paris và ăng ten Huỳnh trung Trực- Washington DC suýt theo chầu Hồ tặc !? Sợ hãi, BTC Paris phóng thơ ngỏ "Hiện tượng Lê khánh Thọ"dâng phe trở cờ làm "quà thông cảm".
Ngựlâmhọasĩ lập Danh Sách ủng hộ BCCVTN được một công hai việc...đánh phủ đầu bọn trở cờ và đồng thời dằn mặt cảnh cáo Ban Tổ Chức Paris (của Tônthấtkinh-Hồng Cúc) về tội phản bội đồng minh.
Một tuần sau, Nguyên Soái Oregon trưng bằng chứng Thủ lãnh Huỳnh Trung Trực làm ăng-ten qua sách "Nửa thế kỷ Việt nam" của tác giả Song Nhị.
BCCVTN vẫn tiếp tục, Tônthấtkinh -HC xuất chiêu "đẹp trai không bằng chai mặt" và cùng thời gian, những tay súng bảo vệ lý tưởng Quốc Gia không ngừng nghỉ....
**
Những lời tâm huyết của Người Hùng chống Cộng Đỗ văn Phúc:
From: Michael Do "md46usa@.....com"
Subject: Re: Fw: Thụ nhân Huỳnh Trung Trực ông là ai? Hoàng Lan Chi trả lời ông Võ Quang Triệu
To: "nhóm nhiều thành phần"
Received: Sunday, February 26, 2012, 4:34 PM
Tâm Thư
Kính gửi quý anh chị Thụ Nhân
Kính thưa quý anh chị gia đình Thụ Nhân,
Theo dõi các sinh hoạt của quý anh chị trong năm vừa qua, đã nhiều lần chúng tôi muốn góp tiếng nhưng sợ mang tiếng đường đột và chen vào chuyện không phải của mình.
Nhưng nghĩ cho cùng, thì không phải là chuyện riêng ai, khi chuyện có liên quan đến chính nghĩa, lập trường và nhất là biểu tượng tổ quốc chung.
Tôi cũng là một cựu sinh viên, từ Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Đại Học Vạn Hạnh cho đến các trường Đại Học tiếng tăm tại Hoa Kỳ. Nói ra thế không phải để phô trương, nhưng là để xác nhận tứ cách tương xứng để đối thoại với các anh chị mà không sợ bị chê là kém cỏi.
Tôi là một người lính bộ binh, một cựu tù nhân có 10 năm qua các trại tập trung của Cộng Sản.
Cũng như quý anh chị, chúng tôi cũng từng mài đủng quần dưới mái trường có hai chữ chung “Chính Trị”. Chúng ta từng đem tuổi trẻ, sở học dâng hiến cho quê hương.
Trong khi chúng tôi đổ máu từng ngày ngoài chiến trường, thì các anh chị lo xây dựng đất nước nơi hậu phương. Chúng ta đã hãnh diện được là công dân của một nước Việt Nam có một chế độ Cộng Hoà tuy non trẻ, nhưng đầy hứa hen. Than ôi! Nếu không có ngày đau buồn 30 tháng 4 năm 1975, thì ngày nay chúng ta đã thong thả an tâm vì đã làm xong nhiệm vụ công dân.
Kính thưa quý anh chị,
Tôi tin rằng khi còn tại ngôi trường xinh xắn, đầy thơ mộng trên ngọn đồi xứ Đà Lạt sương mờ ngày xưa, các anh chị cũng đã từng được dạy đầy đủ và một cách trung thưc các môn về học thuyết Marxism. Những biện chứng pháp, những kinh tế học, xã hội học Mác Xít ít nhiều đã cho chúng ta cái nhìn thấu đáo về chủ nghĩa quái thai này.
Chúng tôi thì đã lựa chọn từ khi ký vào tờ giấy tình nguyện đầu quân. Các anh chị thì còn đủ bốn năm học để chọn lựa hướng đi đúng cho mình. Có lẽ đã có vài người trong số sinh viên Thụ Nhân đã chọn con đường khác bằng cách trốn vào bưng theo Cộng Sản. Và đa số thì đã chọn con đường xây dựng dân chủ khi ở lại hoàn tất học trình và tiếp tục phục vụ chế độ Cộng Hoà.
Sự lựa chọn nào cũng đáng quý, nếu do thật lòng mình vì nhận thức trưởng thành của người trí thức. Do đó, khi ngoài chiến trường, dù phải bắn vào các người lính bên kia để sống còn, chúng tôi vẫn kính trọng họ qua sự cư xử đàng hoàng với tù binh, chôn cất tử sĩ đối phương khi điều kiện cho phép.
Kẻ sĩ coi trọng sự trung thành. Trung thành với tổ quốc, với gia đình, với bạn bè và người cộng sự; trung thành với lý tưởng sống mình đã lựa chọn một cách đắn đo và có tự do.
Nhờ vào lòng tự trọng, nhờ vào ý chí, vào niềm tin, mà chúng tôi khi lâm cảnh tù đày, hành nhục triền miên, đã đứng vững không khuất phục kẻ thù. Chỉ có những kẻ thiếu ba điều trên thì mới quỵ gục trước đói khát, tra tấn mà phản bội lý tưởng của mình.
Đó là chuyện xưa.
Ngày nay, quý anh chị cũng như chúng tôi đã đến được bến bờ tự do, hưởng thụ những năm cuối đời với cuộc sống no đủ bên gia đình con cháu thành đạt, đề huề.
Chúng ta có quyền tạm gác kiếm, gác bút để an hưởng.
Nhưng vẫn có rất nhiều người trong quý anh chị và trong chúng tôi vẫn ra mặt hay âm thầm chiến đấu để cứu nguy dân tộc đang triền miên trong nạn Cộng Sản hay đang đương đầu với hoạ diệt vong từ âm mưu bành trướng của Hán Tộc.
Đúng vậy, là kẻ sĩ, chúng ta vẫn còn mang nặng nợ núi sông mà không thể thờ ơ trước vận mệnh đen tối của dân tộc.
Chúng ta thừa biết đâu là cội nguồn của đau thương, mất mát, đe doạ diệt vong của đất nuớc.
Thủ phạm không ai khác ngoài đảng Cộng Sản Việt Nam mà biểu tượng của nó là lá cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm.
Chúng ta có gì để ấp ủ, ngoài lá cờ Vàng mà tiền nhân chúng ta đã chọn từ trước khi có hai chế độ Cộng Hoà ở Miền Nam và Cộng Sản ở Miền Bắc.
Do đó, không ai có thể thuyết phục rằng lá cờ vàng chỉ đại diện cho nước Việt Nam Cộng Hoà mà Dương Văn Minh đã xoá sổ khi ông ta tuyên bố đầu hàng Cộng Quân vào cuối tháng 4 1975.
Mà cho dù nó chỉ là quốc kỳ của VNCH, thì nó cũng là lá cờ mà chúng ta từng hãnh diện dứng nghiêm trang để chào mỗi buổi sáng ở sân trường Đại Học. Là lá cờ mà chúng ta đã đứng trước nó, nhận văn bằng, tức là nhận trọng trách sứ mạng của người trí thức.
Ngày nay, có nhiều nguyên nhân để người ta quên đi mà sẵn sàng phản bội. Tiền tài, hảo vọng, hám danh, có thể làm cho người bình thường quên tất cả danh dự để trở về quy thuận những tên đồ tể của dân tộc, và của ngay chính chúng ta. Trí thức cũng không là ngoại lệ; nhưng khi trí thức mà quay mặt, vong thân thì càng đáng phỉ nhổ hơn người bình dân.
Không thể có một lý do nào khả dĩ chấp nhận được khi biện minh cho sự trở cờ.
Chúng tôi càng trân quý bao nhiêu những anh chị vẫn kiên nhẫn trên trận tuyến bảo vệ Quốc Kỳ, thì càng khinh bỉ bấy nhiêu đối với bọn người phản bội.
Máu của hàng trăm ngàn anh em chúng tôi đã đổ trên lá cờ vàng. Bây giờ không thể nói chuyện đem máu để bảo vệ, vì chúng ta đang cư trú trên đất người. Nhưng chúng tôi sẽ cùng quý anh chị Thụ Nhân đem hết sức mình để mãi mãi, bảo vệ ngọn cờ Vàng những nơi chúng cư ngụ, lui tới, để nó vẫn sống trong lòng chúng ta, trong lòng thế hệ mai sau, để mong có ngày về cắm trên đỉnh dinh Độc Lập, trên Kỳ Đài Ngọ Môn, phất phới trong nắng mai trên hồ Hoàn Kiếm.
Rất chân thành và trân trọng với quý anh chị.
Texas ngày 26 tháng 2, 2012
Đỗ Văn Phúc, BA, BS, MS
Cựu Đại Úy QLVNCH
Michael Do (Do Van Phuc)

Người hùng chống Cộng Đỗ Văn Phúc
webpage: www.michaelpdo.com
Vietnamese Communists must render FREEDOM, DEMOCRACY and HUMAN RIGHTS to the people before a political defeat would cost them their livelihood and even their lives.
Những giòng thơ Dũng sĩ Nguyễn Nhơn dành cho ngày Quốc Hận 2012:
De : Nhon Nguyen "nhon37@.....com"
À : khanhtho52@....fr
Envoyé le : Samedi 28 avril 2012 1h25
Objet : RE: Phan 28 (But chien Co Vang Thu Nhan)
Kính Chị Thọ,
Xin cho xưng hô thân mật để tiện giải bày. Năm ngoái khi đọc bài viết của Ngô Thanh Tâm, tôi thật tình là nỗi nóng, không hiểu vì sao mà có những người có học hành tử tế lại có thái độ bội bạc, khước từ ngọn cờ của đất nước đã từng bao dung mình như vậy?
Phải chi những người đó sanh ra và lớn lên dưới chế độ duy vật, vô thần, chỉ biết có tiền, quyền thì cũng đành đi một nhẽ. Đàng nầy, họ sanh trưởng ngay dưới nền VNCH, dựng trên nền tảng Dân tộc-Nhân bản, lại có học thức, có lẽ nào tồi tệ đến như vậy!
Cho nên vừa tức, vừa ức, mới nghĩ đến câu nói tha thiết của Thống tướng Lê Văn Tỵ chưa kịp gõ xuống, nước mắt đã tuôn rơi, phải bỏ dở bài thơ, ra ngoài một lúc thật lâu mới nguôi ngoai, kết thúc được.
Ngày nay, khi nhìn tấm hình những bé gái VN, xinh đẹp, ngây thơ bị người lớn trao cho lá cờ Tàu với 6 ngôi sao, phất chào đón trùm cs Tàu Tập Cận Bình, liên tưởng tới một ngày, bọn csvn dâng trọn Đất nước cho Tàu, một lần nữa nước mắt tuôn rơi!
Xin gởi lại mấy dòng thơ nhỏ để hiểu phần nào, vì sao mà chúng ta mất nước
KHÓC ĐI ANH!!!
Tiếng nước tôi
Bốn ngàn năm
Ròng rã buồn vui
Khóc cười theo
Mệnh nước nổi trôi
Á … á … ơi!
Ối ông Phạm Duy ơi
Nước Việt nay còn đâu
Để cho ông khóc cười!
“ Vững tin vào mộng đẹp”
Ông tưởng về nước xưa
Nước Việt bốn ngàn năm
Để gởi nắm xương tàn
Nay ông chỉ về được
An Nam Đô hộ phủ
Để sống những ngày tàn
Nhục nhã là “dân Tàu gốc Việt”
Tôi ở đây khóc cho Đất nước tôi
Vì đâu nên nỗi!!!
Dân tộc Việt ngu hèn
Đến vậy sao???
Con cháu hai bà Trưng, bà Triệu
Hậu duệ những anh hùng
“Lý, Lê, Trần, và còn ai nữa …
Những Anh hùng
Của thời xa xưa …
Vững tin vào
Mộng đẹp ngày mai ...”
Mộng đẹp ngày mai
Tìm đâu thấy?
Chỉ thấy những điêu tàn
Đớn hèn và tủi nhục!
Vì đâu nên nỗi???
Chỉ vì kẻ sĩ ngày nay
Chỉ có kiến thức
Mà không “sĩ khí”
Chỉ vì hào kiệt ngày nay
Tánh du côn, du đảng có thừa
Tấm lòng hào hiệp
Tìm đâu thấy?
Chỉ vì tuổi trẻ ngày nay
Mác xít, duy vật
Nhồi đầy trong óc
Chỉ vị lợi nên thành vô cảm
Khi kẻ sĩ không sĩ khí
Khi hào kiệt không hào khí
Khi tuổi trẻ không còn ngạo nghễ
Khi dân khí tiêu vong
TỔ QUỐC DIỆT VONG!!!
Khóc đi anh …
Khóc đi anh …
Nguyễn Nhơn
(Mùa Đông vong quốc)
Quốc gia Hành Chánh
Nguyễn Thành Nhơn

Dũng sĩ Nguyễn Thành Nhơn tham dự biểu tình chống Trần Trường
Hàm Mô Công của Nguyên Soái Oregon:
De: Julien Bui "buijulien@.....com"
Objet: Hàm Mô Công, thế võ tuyệt kỹ
À: "khanhtho52@.....fr; .....
Date: Samedi 4 mai 2013, 5h59
HÀM MÔ CÔNG, THẾ VÕ TUYỆT HẢO TIÊU DIỆT VC
người lính gìà oregon
Trong Lục Mạch Thần Kiếm của Kim Dung, Tây Độc Âu Dương Phong sở hữu một thế võ cực kỳ hiểm ác, tập luyện công phu, đó là tuyệt kỹ Hàm Mô Công: chỉ cần ngồi xuống, vận dụng nội lực, há miệng phà nội công vào mặt là đối thủ ngả quay lơ, chết tươi. Như thế, tôi nghĩ không quá lời khi nói rằng về cách xử dụng và hiệu lực thì võ mồm hiện nay chúng ta dùng để chống bọn Cộng Phỉ cũng không khác với Hàm Mô Công trong chuyện chưởng bao nhiêu: cả hai thế võ đều dựa trên nội lực từ mồm ra mà tiêu diệt kẻ thù.
Quả thế, thỉnh thoảng lên mạng, tôi đọc được những bài viết hùng hổ hoặc mỉa mai, phỉ báng và mạ lị những người bị gán cho nhãn hiệu là “chống Cộng bằng mồm”. Tác giả của những bài viết ấy đều nặc danh hoặc ký tên ma, khiến ta không thể trả lời trực diện được. Và vì nặc danh, ai cũng có quyền nghĩ rằng có thể đó là bọn “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” ẩn núp trong bóng tối, dưới hang ổ như loài chuột chũi, nằm rình cơ hội để chõ mõm ra chửi bới, rồi rút êm, mà không sợ bị ăn đòn công luận.
Hoặc có thể là bọn đầu sỏ Việt Cộng ra lệnh cho tay sai, nằm vùng, trở cờ, và Công An Mạng thực thi Nghị quyết 36 của đảng tại những cộng đồng, đoàn thể, hội đoàn, diễn đàn thân hữu ở quốc ngoại.
Hoặc có thể là một vài ngài phe ta, tuổi trên sáu, bảy bó, ở không, nghỉ việc, lãnh tiền bệnh, tiền thất nghiệp, tiền hưu, tiền trợ cấp xã hội, hễ có dịp là mắt trước mắt sau lén bà vợ già vù về nước ôm bồ nhí, xây lâu đài tình ái tại chỗ, và sợ rằng nếu người ta lên tiếng chửi VC quá, chúng sẽ làm khó dễ, cản trở giấc mơ hồi hương cuối đời. Những ông già ham vui này, tuy vậy, còn được dễ thông cảm hơn là bọn đánh mất liêm sỉ trở về làm ăn, buôn bán với VC, hoặc múa hát trước kẻ thù để kiếm chút cháo khi tài nghệ, tuổi tác, sắc đẹp đã hết thời.
Hoặc có thể là những kẻ chết nhát, tại những cộng đồng, loại người đứng ở giữa, ba phải, ba rọi, bầy nhầy, nửa nạc nửa mỡ, theo chủ nghĩa mackeno-ism (mặc kệ nó), sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi, trong số có cả cựu quân nhân, lãnh đạo tôn giáo, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, trí thức, bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, học giả, thương gia... luôn vỗ ngực: “tôi không làm chính trị” –nhưng không hiểu từ ngữ “chính trị”, “làm chính trị” là cái gì sốt. Tôi nêu ra một số thành phần xã hội tự nhận là “tỵ nạn Cộng sản” trên, một cách chung chung như vậy, không ám chỉ một cá nhân nào, một tiểu bang nào, nhưng rơi vào ai, người đó nhột, và đừng lên tiếng trách cứ kẻo “lạy ông con ở bụi này”.
Nhân tiện, và trước tiên, vì họ không hiểu, hoặc giả vờ không hiểu, “chính trị” và “làm chính trị” như thế nào, tôi xin mạo muội giải thích rằng chống Cộng, đặc biệt Việt Cộng và Tàu Cộng, bảo vệ lý tưởng quốc gia –mà biểu tượng là lá cờ vàng ba sọc đỏ– không phải là “chính trị “ hay “làm chính trị”. Đó là bổn phận thiêng liêng, nhiệm vụ đương nhiên đối với quốc gia, đất nước của những người chưa quên mình là tỵ nạn Cộng sản, chưa quên ngày nào đã như đàn chuột chạy trối chết ra ngoại quốc để năn nỉ các phái đoàn phỏng vấn xin định cư vì “lý do chính trị”. Còn “chính trị” theo nghĩa đảng phái, đoàn thể xôi thịt, sa lông, tranh giành ảnh hưởng, quyền lực này nọ là một chuyện khác, xin đừng cố tình lẫn lộn, nhập nhằng.
Cá nhân tôi và một số nhân sĩ thân hữu, trước đây, cũng vì viết những bài chống Cộng, đã bị bọn xấu, toàn là nặc danh tại Oregon tuần nào cũng mang ra chửi ra rả trên một tờ báo địa phương (đã tự xin chết vì không ai đọc, thiếu quảng cáo, nghĩa là hết tiền), và thỉnh thoảng bây giờ trên mạng. Dĩ nhiên, đối với bọn nặc danh, chúng tôi không thể hạ mình đôi co. Chúng lên án tôi “chống Cộng quá khích”, “mù quáng”, “cực đoan”, “không khoan nhượng” v.v..., chê những nhân sĩ “đồng chí” của tôi là “độc quyền chống Cộng”, “chỉ biết chống Cộng bằng mồm, từ 36 năm qua, chưa thấy kết quả gì”.
Về một khía cạnh nào, chúng tôi không lấy thế làm phiền. Trái lại, rất vui, bởi tuy chê, nhưng chúng vô tình khen chúng tôi đấy thôi. Vì càng chửi, chúng càng để lộ nhược điểm: chúng đã bị thương tích trầm trọng vì ngón võ mồm, món hàm mô công thời đại –vũ khí duy nhất mà những người quốc gia tỵ nạn chân chính chúng ta còn có, sau khi chiến tranh bằng súng đạn đã kết thúc.
Những bài báo của những “võ sĩ mồm” quốc gia trên khắp thế giới đã đập thẳng vào đầu con rắn dữ VC, nếu không bị giập chết, thì cũng ngất ngư, liểng xiểng. Chính vì vậy mà tuy đã tung ra hàng triệu Mỹ kim để phá hoại tập thể người Việt quốc gia tỵ nạn, thi hành cho bằng được Nghị quyết 36, mà cho đến hôm nay, VC vẫn chưa chiếm nổi một cộng đồng người Việt quốc gia tỵ nạn nào, chưa có một chủ tịch cộng đồng nào bán linh hồn cho quỹ dữ VC, kể cả tại California đông người Việt, nơi chúng đã bỏ ra rất nhiều tiền của, công sức, hoạt động mạnh, và chưa treo được lá cờ máu ở bất cứ nơi nào, treo lên là bị hạ xuống ngay. Hễ chúng ló đuôi ra là bị chặt liền bằng những bài báo, emails nghiêm khắc, bằng những buổi hội họp lên án sôi nổi, bằng những cuộc biểu tình rầm rộ. Vụ Trần Trường treo hình Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng là một thử nghiệm thảm bại đối với VC –đã phải xếp giáp qui hàng trước sức mạnh vũ bão, và quyết tâm tiêu diệt VC và bè lũ tay sai, của tập thể người Việt quốc gia, không chỉ ở California mà còn khắp Mỹ quốc và thế giới. Những tờ báo thân Cộng, như Việt Weekly, công khai làm lợi cho Việt Cộng, đều bị độc giả tẩy chay, biểu tình chống đối, không ngóc đầu lên được. Lũ tay sai khuyển mã của VC không dám xuất hiện nơi đâu, và giống như những chủ nhân VC của chúng, đi đến nơi nào cũng đều bị người quốc gia xua đuổi, nguyền rủa. Chưa kể những tên phản bội nổi tiếng, Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, Phó Bá Long, Nguyễn Hữu Liêm...
Chúng ta không có súng đạn. Vũ khí của chúng ta chỉ là võ mồm. Không ai chối cãi điều đó. Chúng nó, Việt Cộng và tay sai, cũng đánh chúng ta bằng mồm, dĩ nhiên. Nhưng tại sao ta thắng, chúng thua? Vì chính nghĩa đã đành. Nhưng còn vì hai lý do chính yếu:
1) Khi đánh chúng nó, ta xưng danh tánh đường hoàng, dùng những bút hiệu được kiểm chứng, như “Người Lính Già Oregon” tôi đây, có người cho cả số điện thoại, địa chỉ email. Cũng giống như những ông tướng Tàu ngày xưa (rất quân tử, dù là quân tử Tàu) mỗi lần ra trận đều cho đối phương biết mình là ai trước, vì họ không đánh người dưới cơ, hoặc gốc gác cu li, khố rách áo ôm, đâm thuê chém mướn. Còn VC và tay sai? Chúng hành động không khác chi những tên thổ phỉ, đúng hơn, quân ăn trộm bịt mặt. Như vậy, giữa chính danh quân tử và phường vô lại, công luận sẽ nghiêng về ai? Một điều đáng chú ý là khi đánh những người quốc gia, để khỏi lộ hành tung VC hoặc tay sai VC, bọn nặc danh không dám đề cập đến lập trường và thành tích chống Cộng của các vị ấy, nói chi dám tranh luận, mà chỉ bươi móc đời tư, tra vấn bằng cấp, tước vị, cố tình bôi nhọ cá nhân, đúng sai chúng không cần biết...
2) Ta đánh đúng và chúng đánh sai. Chúng bịa nhiều chuyện có tính cách cá nhân và xuyên tạc những việc làm của những nhân sĩ chống Cộng, và qua đó tiếp tục áp dụng câu cũ rích của Joseph Goebbels (1897-1945), bộ trưởng tuyên truyền Đức quốc xã, dựa trên chủ thuyết “the big lie”: “Hãy nói dối, nói dối, nói dối. Nói dối riết một ngày người ta sẽ tin là thật.” Chúng quên rằng, ở thời đại internet này tin tức đi nhanh như tên bắn và sự thật được kiểm chứng một cách dễ dàng, không như vào thời của bà mẹ Tăng Tử hay thời mà Hồ Chí Minh còn chui rúc ở hang Pắc Pó, nằm thêu dệt cho mình nhiều huyền thoại lố bịch, thời mà chúng tuyên truyền phét lác rằng, ví dụ, máy bay Mig của chúng bay lên, rồi “tắt máy phục kích trong mây, chờ B52 đến bắn rơi cả ngàn chiếc”, thời mà những bà già nhà quê và trẻ em ngoài Bắc ném đá vào những sĩ quan đi tù cải tạo, chửi là “quân giết người, hiếp dâm phụ nữ, ăn thịt trẻ con...”.
Ngược lại, chúng ta không cần phải bịa đặt, nói dối. Chỉ cần nói một phần tư (1/4) sự thật thôi về chúng, trong quá khứ cũng như hiện tại, cũng đủ thắng. Không cần phải lặp lại câu nói để đời của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng tin những gì Việt Cộng nói...” Tất cả sự thật nằm trên mạng thế giới, với đầy đủ tài liệu, báo chí quốc tế kèm theo dữ kiện, hình ảnh, âm thanh, video, audio... Chẳng hạn về tiểu sử, những lá thư tình và thư xin học trường Thuộc Địa, thành tích dâm ô của Hồ Chí Minh, về văn thư bán biển của lũ lãnh đạo VC trước kia, về mật ước bán đất của lũ lãnh đạo bây giờ... Đủ cả. Chỉ cần chúng ta viết bài, lên tiếng, quảng bá cho đồng bào trong và ngoài nước biết. Võ mồm đấy! Cần gì súng đạn và những căn cứ kháng chiến trên đất Thái, đất Lào của ông Hoàng Cơ Minh? Cần gì chất nổ và chiến công tưởng tượng của ông Nguyễn Hữu Chánh? Các cuộc cách mạng hoa lài, hoa sen ở Bắc Phi, Ai Cập, Lybia... đều nhờ vào những thông tin mạng. Nếu không sợ võ mồm, tại sao ở Việt Nam bây giờ, nghe nói, bọn lãnh đạo phải thành lập một biệt đội Công An Mạng chuyên truy cập lý lịch của những người chống Cộng có bài đăng trên các diễn đàn trong nước và hải ngoại, kiểm soát cư dân mạng, bắt những địa điểm cho thuê internet “đăng ký” xin giấy phép và khai báo tên khách hàng khi cần? Xử dụng võ mồm, chúng ta hãy đánh tối đa, nghĩa là chúng chửi một, ta chửi mười, theo cung cách riêng của mỗi tác giả, lịch sự hay thẳng thừng, tùy cơ ứng biến, tùy người đối diện.

Công viên Lê Nin ở Hà Nội
Một chi tiết tôi cũng xin phép chia sẻ với quý vị và các bạn đồng lập trường: Ngoài những bài viết nghiêm chỉnh về tội ác của VC, về lý thuyết Mác-Lê mà đa số những thằng VC thất học không hiểu, hoặc hiểu mà chúng chẳng quan tâm, miễn là làm sao vơ vét, kiếm tiền nhiều chừng nào tốt chừng nấy, theo thiển ý, ta nên phổ biến thêm những bài có tính cách châm biếm, lố bịch hóa chúng, chế nhạo chúng bằng cách lôi ra ánh sáng chính con người chúng nó từ những hang hốc của quá khứ tối đen, tối mù, kể từ sau ngày 30/4/75 khi chúng từ rừng núi chui ra, hôi hám, ốm tong ốm teo, đầu đội nón cối, chân mang dép râu, răng đen mã tấu, nói ngọng, nói phét, khi chúng khoe “tivi ở ngoài Bắc chạy đầy đường”, gọi nhà hộ sinh là “xưởng đẻ”, phòng vệ sinh là “nhà đái, nhà ỉa”, đồng hồ tự động là “cái đồng có ba cửa sổ, không người lái”, đồ lọc cà phê là “cái nồi ngồi trên cái cốc”, v.v... Còn nhiều chuyện khác nữa. Nội cái tên gọi Việt Cộng, VC, Vi-Xi, Cộng Phỉ (thời cụ Ngô Đình Diệm) cũng đủ làm chúng tức điên lên (xem sách của các văn nô trong nước). Cứ viết, không sợ lỗi thời, không sợ phản ứng ngược. Phải đánh liên tục vào chính căn cứ địa đã và đang che giấu bản chất, tiềm thức, và mặc cảm của chúng.
Ý kiến này nảy sinh sau khi, một hôm, tôi chợt nghĩ đến thời gian còn trong tù. Quả vậy, bọn cai tù rất bực tức về bức vẽ “bảy thằng VC đu một cọng đu đủ không gãy” của nhà biếm họa tài danh Hiếu Đệ, hình như đăng trên tờ Tiền Tuyến, năm 1972, và được Cục Chính Huấn in ra thành nhiều bản. Tôi không nghĩ tất cả quân nhân thời ấy đã xem, còn nhớ, hoặc để ý bức vẽ độc đáo này –bây giờ thất lạc, không thấy đâu nữa. Tranh vẽ bảy thằng VC, đứa nào cũng có hàm răng cải mả, tranh nhau đu một cọng đu đủ, ốm đói đến mức độ cọng đu đủ, vốn dễ gãy, vẫn trơ trơ, buồn cười lắm. Trong tù, ông họa sĩ bị kiểm điểm, sỉ vả đã đành, mà những sĩ quan CTCT cũng bị vạ lây: không có buổi họp nào về “sự tuyên truyền độc hại và láo khoét của Mỹ ngụy” mà quản giáo không lôi chúng tôi và bức vẽ ra chửi. Mới đây, trên những trang web có những bài hồi ký của cán binh VC cũng nhắc đến bức vẽ này1. Chúng hận lắm.
Lúc ấy, tôi hơi ngạc nhiên, hỏi một bạn đồng tù, vốn là nhà văn, nhân viên Việt Tấn Xã, lý do tại sao. Anh ta đáp ngay: “Tại vì bức vẽ đúng quá, chứ còn gì. Không thằng VC nào tự nhận mình xấu trai dù nó xấu trai thật. Còn những tài tử màn bạc như Robert Taylor, Alain Delon, chẳng hạn, nếu bị vẽ như vậy, họ chỉ cười hoặc nhún vai, không tức, vì không ai tin nổi.” Thực thế, sau 36 năm học được cái văn minh của Miền Nam, và vơ vét tiền của, tham nhũng, hối lộ, ăn sung mặc sướng, chơi bời thỏa thích, thằng VC nào cũng trở nên mập ú, da dẻ hồng hào, biết ngồi xe “ô tô con”, biết “múa đôi”, biết hát ka-ra-ô-kê, không dùng những chữ “xưởng đẻ, nhà đái, nhà ỉa” nữa, và vì thế muốn xóa bỏ tông tích bần cùng khố rách ngày xưa. Còn bọn lãnh đạo thì thi nhau ra nước ngoài, bắt tay những quốc trưởng trên thế giới. Nhưng cái gốc bần cố nông, răng đen mã tấu của chúng vẫn còn nguyên, không làm sao tẩy rửa được. Tuy thắt cà-vạt, đi giày láng coóng, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao, tuy giỏi hống hách, hà hiếp người dân trong nước, bọn này khi đứng trước bàng quan thiên hạ, trước ống kính, đứa nào cũng khớp sợ, khúm núm, thiếu điều vãi cả ra quần, mắt lấm la lấm lét như những thằng ăn cắp gà. Chưa kể mở mồm ra là ấp a ấp úng, nói bậy nói bạ. Bản chất, như chúng thường nói, không bao giờ thay đổi. Chúng cố giấu biến lý lịch rừng rú và không muốn ai nhắc đến. Cho nên Nguyễn Tấn Dũng, một tên du kích giao liên xã ngày trước, bây giờ phải ngụy tạo bằng cử nhân Luật, Phan Văn Khải được trường Harvard mời đến “tham quan” năm 2005, cũng tự nhận mình là cựu sinh viên của trường, Đỗ Mười không bao giờ dám nhắc thành tích thiến heo của mình, Nông Đức Mạnh, con rơi của Hồ Chí Minh, tuyên bố giả lả rằng người Việt Nam nào cũng là con cháu của Bác Hồ. Còn Bác Hồ của chúng, nguyên chỉ là tên bồi tàu, qua Tây kiếm cơm, xin học trường Thuộc Địa để về nước làm quan, nhưng bị từ chối vì tiếng Pháp kém và thiếu bằng cấp, bỗng nhiên trở thành anh hùng cách mạng ra đi tìm đường cứu quốc2. Vân vân...
Nói chi xa, chị Dương Thu Hương, một cựu chiến sĩ gái Trường Sơn, một cựu đảng viên, một nhà văn “phản kháng” –đồng lứa với mấy anh Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Tô Hải– mà tôi cho là cuội “cực kỳ” vì không dám chửi Hồ Chí Minh, tên tội phạm đầu sỏ VN, trong quyển “Tiểu Thuyết Vô Đề”, viết về một tên sĩ quan bộ đội đóng quân trên dãy Trường Sơn trong thời còn chiến tranh đã được chị ta “ngụy hóa”, nghĩa là tư bản hóa, văn minh hóa, như sau: “Nhưng tôi muốn tận hưởng cảm giác êm ái giữa chăn ấm, để thấy rõ rằng tôi vẫn là tôi [...], chân đi tất thum thủm mồ hôi [...] (Người Lính Già nhấn mạnh)”. Hoặc: “Tôi khoác dây giầy, khoác áo [...]”. Hoặc: “Chúng tôi đi dọc theo lòng khe [...] Những viên sỏi trượt dưới đế giày làm tôi lao chao muốn ngã [...]. Hoặc: “Phía sau đám cây rùm ròa, phơi ra hai chiếc cẳng chân gầy quắt queo [của một tên lính VC], giầy đã rách, bên có tất, bên không.”3 Xạo quá! Vào thời đó, làm sao mà một tên VC, dù là sĩ quan, có được đôi giày để mang? Sau 30/4/75, chính mắt tôi thấy, chỉ huy cũng như lính VC lếch tha lếch thếch kéo nhau vào Sài Gòn, đứa nào cũng dép râu và nón cối, áo quần luộm thuộm, nhàu nát, cố ngẩng cổ nhìn các toà cao ốc y như những thằng mán về thành. Dương Thu Hương thủ tiêu dép râu ở đâu hết rồi? Ngoài ra, tôi đọc ở đâu đó, bộ đội VC bây giờ cũng được trang bị như lính VNCH xưa kia. Cũng tốt thôi!
Điều đó chứng tỏ VC cũng muốn làm đẹp, muốn văn minh như mọi người.
Nhưng chúng ta đâu cho phép, nếu chúng nó không dùng cái đẹp, cái văn minh học lóm ấy để xây dựng nền dân chủ, tự do cho đất nước, cho toàn dân Việt Nam. Cho nên, bằng võ mồm, cái thế hàm mô công tuyệt kỹ hiện đại, chúng ta sẽ tiếp tục đánh vào tử huyệt, tức quá khứ bần cố nông mà một thời bọn lãnh đạo VC lấy làm hãnh diện, tôn vinh, và bây giờ lại giấu như mèo giấu c..., cũng như tiếp tục tố cáo tội ác hiện tại của chúng, như là một trong nhiều phương cách chiến đấu hữu hiệu đập tan chế độ phi nhân và, tại ngoại quốc, Nghị quyết 36 lưu manh. Rõ ràng chúng rất sợ thế võ này của ta, nên mới lớn họng chê bai, đả kích. Nhưng đường ta ta cứ đi, mặc ai nói quàng nói xiên. Ngưng đánh võ mồm, nghĩa là im tiếng, bẻ bút, chúng ta chắc chắn sẽ mắc mưu chúng nó. Và
Dù ai nói ngả nói nghiêng
Thì ta vẫn vững như kiềng ba chân
CHÚ THÍCH
1. Về tác giả bức hí họa, xin xem trong tinparis.net 2010 bài của Võ Đức Trung: “Hiếu Đệ Lão Ngoan Đồng”: “Dạo nọ, anh mới được thả về từ trại cải tạo sau năm năm dài đọa đày, gian khổ “trả nợ máu“ qua nhiều trại tù hắc ám, tưởng chừng không có ngày về với gia đình vợ con. Chỉ vì một câu chuyện cũ, anh đã vẽ mười mấy tên Việt cộng ốm nhom ốm nhách, đói trơ xương cùng nhau ôm một cọng đu đủ mà không hề bị gãy”, và bài của Phạm Thắng Vũ: “Họa Sĩ Hiếu Đệ, Tác Giả Bức Hí Họa 7 Tên Việt Cộng Đu Cành Đu Đủ Thời Chiến Tranh Việt Nam... Không Còn Nữa.”
Ngược lại, để ca ngợi tinh thần chiến đấu của bộ đội VC, tác giả BrodaRu (cũng nặc danh) đã viết đăng trên báo mạng bài “Bút ký Trường Sơn”. Người ta đọc những câu sau đây: “Cái thằng bộ đội Việt cộng, 7 người đu một cọng đu đủ không gãy, ăn toàn lá -đi cầu 7 ngày không có mùi, hậu môn mạng nhện chăng đầy ... một lũ chết đói, ở rừng lâu quá mọc hết cả đuôi, làm sao lại đánh nhau thượng thặng thế nhỉ ?”.
Hoặc Nguyễn Viện trong bài “Trước ngày Chúa lại đến” đăng trên Talawas: “Năm 1972. Ở Sài Gòn người ta bảo ba thằng Việt cộng đu một cành đu đủ không gãy.”
2. Ví dụ và tài liệu về Phan Văn Khải, thủ tướng VC đầu tiên công du ngoại quốc:
■ Thư ngỏ, đăng trên mạng (gõ trên Web tên “Phan Văn Khải” là thấy) của Lê Nhân (người trong nước) ngày 5/12/2005 từ Hà Nội gửi cho người bạn học cũ, Thủ tướng Phan Văn Khải, có những câu như sau:
“Cả thế giới qua truyền hình đã thấy ngài TT G. W.Bush oai phong, tươi tắn, đường bệ, sang trọng, lịch lãm, quý phái thơm như múi mít trước một ngài Phan Văn Khải dúm dó, mặt nặng nề như sắp đâm lê, co ro, hèn kém, quê mùa, mặc cảm tự ty, ngồi tội nghiệp hai tay nhét đại vào háng bẹn của mình. Đến độ ngài tổng thống W. Bush phải thò hết cỡ cánh tay phải sang đùi ngài TT Phan Văn Khải của nước An Nam cộng sản đói nghèo, lạc hậu theo kiểu thò tay vào hang sâu bắt rắn, mới lôi ra được bàn tay của thủ tướng VN như con chim trốn tuyết ra mà bắt cái rụp, thương thay !!!
Rồi tiếp sau đó nữa là cả thế giới đã chứng kiến nhìn thấy ngài thủ tướng Khải thò tay vào túi áo, lấy ra miếng giấy bé bằng cái lá đa, hai tay bê miếng giấy như bê hòn đá nặng, đưa sát lên mắt ấp a ấp úng đọc lời đáp từ ngài tổng thống Mỹ, trông thật thê thảm và rất âm lịch không sao chịu được. Suốt chuyến đi thăm nước Mỹ, qua ống kính truyền hình, nhiếp ảnh, thủ tướng nhà nước Cộng sản Việt nam hiện lên chân dung toàn diện của đảng cộng sản còn sót lại trên xứ Á Châu thật là một kẻ nhà quê ra tỉnh, một gã ăn mày đi xin tiền, lúc thì văng: “đù má đuổi nó ra ngay” khi có hai vị ký giả một nam, một nữ của người Việt di tản lọt vào nơi họp báo chất vấn và tố cáo tội ác đảng cộng sản. Lúc thì với bàn tay vuốt lên mu bàn chân mang giầy của bức tượng ngài Harvard, như có ý xin được đánh giầy cho quý ngài – người đã từng lập ra trường đại học danh giá nhất thế giới tọa lạc ở thành phố Boston xứ Hoa Kỳ phồn thịnh … khiến nhân dân cả nước Việt ngượng chết đi được anh Khải ơi là anh Khải ??!!
Chỉ nhìn vào chuyến đi Mỹ của anh, người ta có thể nhận ra chân dung văn hóa của đảng cộng sản Việt Nam là thứ văn hóa diệt trí thức, văn hóa bần cố nông, văn hóa con cái tố cha, vợ tố chồng, học trò trả ơn thầy bắt cách bốc cứt ném vào mặt thầy, thứ văn hóa lừa đảo, lấy việc lừa bịp dối trá với nhân dân từ A đến Z làm “sự nghiệp cách mạng vinh quang”, làm cần câu cơm cho bản thân mình và gia đình…vv…” [...]
“Chao ôi, bất hạnh thay cho đất nước Việt Nam ta lại rơi vào tay người cha ấy, những đứa con ấy, đã 75 năm trời cho con anh bồi bàn, anh hoạn lợn, anh cai đồn điền mủ cao su dùng tà thuyết ngoại bang để làm cuộc cách mạng có tên là bất đạo, bất nhơn, bất hiếu, bất trung, bất nhẫn… đã gây biết bao nhiêu tang thương cho từ người đến cả cỏ cây. Chính vì vậy, thủ tướng Phan Văn Khải mới than rằng: Trên bảo dưới không nghe”.
■ Ông Phan Văn Khải: 'Tôi là học viên xuất sắc của Harvard”
Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vietnamnet.vn/giaoduc/201007/...oa-dau-922520/ Trong buổi lễ cấp bằng tốt nghiệp cho những thạc sĩ chính sách công khóa đầu tiên tại TP.HCM, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải nói vui rằng, ông thấy mình như một học viên của ĐH Harvard dù chỉ dự các buổi gặp gỡ và thảo luận. "Dù chưa được nhận một tấm bằng nào của Harvard, nhưng tôi cũng tự nhận thấy mình là một học viên xuất sắc. Chỉ qua các buổi gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với Trường Đại học Harvard, tôi đã học hỏi được nhiều điều, đặc biệt về nền kinh tế thị trường. Những kiến thức đó, tôi đã áp dụng thành công trong thời kỳ đương nhiệm, góp phần đưa đất nước phát triển". Vị nguyên Thủ tướng từng đến ĐH Harvard năm 2005 trong chuyến đi lịch sử trong quan hệ Việt-Mỹ cho hay [...]. Sinh Phạm.
3. Tiểu Thuyết Vô Đề, tr. 18, 29, của Dương Thu Hương, Văn Nghệ, CA, xuất bản, 1991, lời tựa của Thụy Khuê. Trong đó, tác giả bôi nhọ QLVNCH một cách rất hồ đồ, trắng trợn, nhưng lại được nhà bình luận văn học Thụy Khê, Paris, ca tụng rối rít, và sách được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh.
Portland, 3/19/2012
Ngưòi Lính Già Oregon
Tâm tình của Dũng sĩ Phan Hạnh:
De: nguyenthhoang@.....ca
À: khanhtho52@....fr
Objet: Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông
Envoyé le: Samedi 25 Janvier 2014 20:55
Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông
Phan Hạnh
Mỗi năm cứ vào dịp cận Tết ta, tôi hay vương vấn một nỗi buồn thầm kín khi một số người thân quen quanh tôi chộn rộn sửa soạn lên đường về quê nhà Việt Nam để đón chào năm mới và vui xuân với họ hàng thân thuộc. Và như thông lệ, tôi nhờ họ mang về cho thân nhân chúng tôi một món tiền lì xì nho nhỏ. Kèm những lời cám ơn của thân nhân sau đó là thắc mắc bao giờ anh về. Và đã bốn mươi năm qua, câu trả lời của tôi vẫn chỉ là một lời hứa suông. Tâm hồn tôi vương vấn mãi một nỗi buồn là vì lẽ đó.
Năm 1991, đầu niên học mới vào Tháng Chín, tôi bỏ tiền túi ghi danh theo học hai khóa Anh ngữ Dự Bị Ðại Học và viết văn sáng tác (Creative Writing) tại Trường Cao Ðẳng Centennial College, trụ sở Warden Woods (Warden Woods campus). Tôi học part-time lớp đêm mỗi tuần hai buổi tối Thứ Ba và Thứ Năm từ 7 giờ đến 10 giờ vì ban ngày còn phải đi cày kiếm cơm.
Năm ấy tôi đã trên 47 tuổi, đầu óc nhụt cùn với lo toan bận bịu, không còn bén nhạy như thời còn trai trẻ, vậy mà tôi cũng liều cắp sách đến trường. Hơn nữa, công việc làm kiếm cơm của tôi, một người thợ trưởng cho một nhà in, không đòi hỏi khả năng viết lách chi nhiều ngoài những báo cáo công tác và báo cáo bảo trì định kỳ. Như vậy, tôi học những khóa học này để làm gì? Lý do sâu xa là tôi muốn chuộc lại lỗi lầm của tuổi thơ ham chơi và lười học. Tôi muốn tự bắt mình phải đi học lại như là để trả một món nợ tôi còn thiếu chính mình.
Bài tập giáo sư đưa ra cho sinh viên thường là những đề tài chỉ định sẵn sau khi đã học qua trong lớp một truyện ngắn hoặc một tùy bút của một tác giả Anh Mỹ nào đó. Sinh viên phải viết phần giải thích, phân tích, nhận định và phê bình tác phẩm vừa học. Dĩ nhiên tôi rất sợ những bài tập kiểu nầy. Nhiều khi tôi chỉ bình loạn vì không nắm vững đề tài.
Nhưng cũng có những bài tập với đề tài do thí sinh tự chọn. Và đối với tôi, không gì thoải mái bằng viết những gì mình biết, nhất là điều mình viết ra chính là những kinh nghiệm của bản thân. Tôi viết và nạp bài đúng hạn. Thuở ấy, giá tiền một máy điện toán còn đắt lắm. Tôi mua một cái máy Apple MacIntosh II với bộ nhớ chỉ có 8 megabites đã dùng rồi mà cũng mất toi ba ngàn đồng.
Các bài tập với đề tài tự chọn của tôi đều được điểm cao và được giáo sư phụ trách đích thân khen ngợi, không phải vì văn của tôi viết hay, nếu không muốn nói là còn dở lắm, nhưng vì những câu chuyện tôi kể đó rất xa lạ và thương tâm, dĩ nhiên chỉ đối với vị giáo sư người Canada chưa hề sống ở Việt Nam bao giờ đó. Bà ngỏ ý đề nghị hãy cho đăng một số bài viết của tôi lên hai tờ báo nội san của trường là tờ "The Oracle" và tờ "The Siren". Tôi sợ quá, lắc đầu. Hai hôm sau, một cô chủ bút đến lớp xin gặp tôi. Chẳng biết nghe cô nói êm tai thế nào mà tôi ưng thuận đưa các bài viết cho cô.

Tôi xin dịch lại một bài có tựa đề One Day I Shall Return: My Naked Lie đăng trên báo "The Siren" ngày Thứ Ba 12 Tháng Mười Một, 1991 như sau.
"Một Ngày Kia Con Sẽ Về", Lời Nói Dối Trân Tráo Của Tôi
Khi tôi rời quê mẹ ra đi mười sáu năm trước đây, tôi không nghĩ là sẽ gặp lại cha tôi bao giờ nữa. Cách nửa vòng trái đất, tại một trong những nước nghèo nhất thế giới, cha tôi đang hấp hối vì một chứng bệnh ngặt nghèo với một nỗi muộn phiền day dứt và ông đang thầm thì trăn trối lời nguyện ước cuối cùng được nhìn tận mặt lại đứa con trai đầu lòng trước khi từ giã kiếp sống khốn cùng hiện tại.
Còn tôi ở Canada, lòng hối hận đau xé vì đã hứa với cha một lời mà tôi biết tôi không bao giờ có thể thực hiện. "Một ngày kia con sẽ về", tôi lập đi lập lại trong những bức thư tôi viết cho cha tôi. Nhưng làm sao tôi có thể trở về Việt Nam khi mà chính quyền Cộng sản ở đấy vẫn còn áp bức người dân bằng sự cai trị khắc nghiệt của họ.
Hiện giờ cha tôi có thể đang chờ chết, nhưng một nửa hồn tôi đã chết kể từ ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày mà quân đội Cộng sản từ phương Bắc rầm rộ bước vào Saigon, thủ đô của một quốc gia độc lập ở miền Nam với tên gọi là Việt Nam Cộng Hòa. Sự kiện này đã kết thúc cuộc chiến được tranh cãi gay gắt nhất, cay đắng nhất đã kéo dài hơn hai mươi năm và giết đi hàng nhiều triệu người từ cả hai bên chiến tuyến.
Tôi còn sống sau chiến tranh. Tôi thoát khỏi hỏa ngục đỏ của "Ngày Tận Thế", cách gọi của tôi ngày định mệnh đó theo tựa đề một cuốn phim nói về khía cạnh tàn nhẫn và xấu xa của cuộc chiến Việt Nam.
Phải, tôi là một trong những kẻ may mắn trong khi cha mẹ tôi, những thân nhân trong gia đình tôi và bạn bè đồng đội tôi không được may mắn như thế. Họ đã trở thành nạn nhân của một chế độ bất nhân man rợ và một chủ thuyết cuồng tín điên rồ.
Tôi đã từng nghe kể nhiều mẫu chuyện quặn lòng về những người tôi thương mến. Có người tự kết liễu đời mình. Họ cảm thấy thà chết còn hơn là sống chung với Cộng sản. Có người cố tìm cách trốn đi bằng những con thuyền mong manh. Có người trong số họ đến được bến bờ tự do. Có người bỏ thây nơi biển cả. Hành trình di cư của những người tìm tự do chưa hề dứt trong mười sáu năm qua. Bức màn sắt không giam hãm được ý chí của con người.
Tôi là một người di tản được Canada chấp nhận cho tị nạn chính trị. Tôi không muốn phản bội lý tưởng chính đáng của những người tị nạn khác bằng hành động về thăm Việt Nam Cộng sản, một chế độ mà tôi e ngại có thể sẽ hành hạ ngược đãi tôi như là một kẻ cựu thù.
Ngày kỷ niệm Tháng Tư Ðen năm nay rơi vào ngày Thứ Ba, một ngày mà tôi phải làm việc. Ðối với phần lớn người dân Canada, ngày đó cũng như bất cứ ngày nào khác. Ngày hôm đó tôi đi làm với một huy hiệu gắn trên ngực áo nơi tim. Biểu tượng đó rất đơn giản là ba sọc đỏ trên nền vàng. Ðó là màu quốc kỳ của quê hương đánh mất của chúng tôi; và chúng tôi sẽ không bao giờ quên màu cờ đó. Cũng giống như hoa poppy người Canada mang trong ngày tưởng niệm Chiến Sĩ Trận Vong, nó nhắc nhở cho tôi tưởng niệm những anh hùng gục ngã đã chết cho quê hương tôi.
Khi nghĩ đến những gì đã xảy ra cho Việt Nam, tôi cảm thấy như có một vết thương cắt sâu trong tim tôi không bao giờ lành. Tôi luôn để tang trong ngày tưởng niệm ấy với những ý nghĩ thương tiếc và buồn đau chờn vờn trong tâm trí. Năm nay tôi nằm thức trong đêm đen tĩnh lặng như một sự kinh cầu cho cố quốc.
Năm nay nỗi đau buồn của tôi dường như có phần quặn thắt hơn vì một bức thư đặc biệt. Trở về nhà hôm đó sau một ngày làm việc và nhận được một bức thư dài của em gái tôi tiết lộ cho tôi biết lý do tại sao cha tôi không viết thư cho tôi trong thời gian gần đây. Cô ấy nói mắt của cha tôi đã mờ, bệnh viêm khớp của ông tệ hại hơn và ông rất xuống tinh thần vì làm gánh nặng của thân nhân.
Tôi có thể nhớ nét chữ viết của cha tôi rất uốn nắn đẹp đẽ; điều đó chứng tỏ ông rất cẩn trọng với những gì ông viết cho tôi, gián tiếp cho thấy ông quan tâm đến tôi biết chừng nào. Ông đối xử với tôi như một người ngang hàng, một người bạn trao đổi thư tín với nhau. Ông kèm theo thư các bài thơ của ông sáng tác, và ít khi ông đòi hỏi ở tôi một điều ân huệ gì. Ông cũng chẳng bao giờ nói trắng ra là ông thương tôi.
Phần nhiều những bức thư của ông chuyên chở thông điệp của những giá trị luân lý, đức hạnh đáng quí trọng, những bài học của trí khôn ngoan, lòng từ bi và bác ái. Tôi để ý càng về già ông càng thuận theo giáo lý của nhà Phật. Ông đơn giản hóa nhu cầu vật chất, đồng thời trau giồi các hoạt động tâm linh. Tôi biết đó là dấu hiệu của sự chuẩn bị sẵn sàng để từ giã cõi thế gian này.
Em gái tôi giải thích thêm là cha tôi đã phản ứng như thế nào về cuốn băng thu hình mà tôi đã gởi về tháng trước đó. Tôi và con trai tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để làm ra một cuốn video nói về gia đình tôi ở Toronto. Em gái tôi nói cha tôi khóc nức nở khi ông nghe giọng nói của tôi. Cô ấy viết, "Trông thấy hình ảnh anh di động trên màn ảnh và tiếng nói của anh là một trải nghiệm khốn khổ cho một người già yếu như Ba. Và ngay sau đó thì mọi người khóc theo…". Bức thư kết thúc bằng giòng chữ là, "Ba sợ là sẽ không bao giờ thấy lại anh bằng xương bằng thịt nữa trước khi Ba nhắm mắt; và điều đó thật quá đau lòng cho Ba lắm đó anh…."
Ðối với tôi thì nào có khác gì. Lời hứa thối thác của tôi là sẽ về cứ lập đi lập lại mãi nên nó đã trở thành đồng nghĩa với một lời nói dối trắng trợn làm tan nát lòng tôi.
Tôi hy vọng có một ngày tôi trở về quê nhà dù chỉ để chết giống như loài cá hồi lội ngược suối nguồn để về nơi sinh ra trong ngày cuối Tháng Tư.
Trong khi chờ đến ngày ấy, trả lời thư em gái, tôi viết,"Một ngày kia anh sễ về", mặc dù tôi biết đó vẫn chỉ là một lời hứa suông thôi.
Bài báo chấm dứt ở đấy. Ðáng lẽ tôi cũng có thể chấm dứt câu chuyện ở đây vì thật tình ngồi gõ lại những dòng chữ này, tôi không khỏi cảm thấy rung động trong lòng. Nhưng tôi lại muốn viết thêm về vài biến cố quan trọng xảy ra từ năm ấy cho đến nay. Thêm ba mươi năm nữa đã trôi qua rồi còn gì. Khoảng thời gian dài đó mang theo biết bao thăng trầm đổi thay với một lần đổi việc làm, hai lần dọn nhà và ba lần mua máy điện toán khác.
Cha tôi kéo dài thêm cuộc sống trong đau bệnh được hơn một năm mới vĩnh viễn ra đi. Mấy năm sau nữa, em gái tôi được gia đình bên chồng bảo lãnh sang Mỹ. Những tưởng đâu cô ấy được ấm êm với cuộc đời mới nơi xứ người, nào ngờ lễ tuyên thệ vào công dân phải được đặc biệt tổ chức trang nghiêm trong phòng bệnh của em tôi trong bệnh viện. Tôi không bao giờ có thể quên hình ảnh em tôi với cái đầu cạo trọc vẫn ngồi trên giường bệnh gắng gượng đưa cánh tay mặt lên tuyên thệ trung thành với đất nước mới đã cưu mang em. Chỉ vài ngày sau, em tôi đầu hàng định mệnh và ra đi vì chứng bệnh ung thư quái ác.
Có lẽ nỗi khổ đau đớn nhất của tôi là phải giấu tin em mất với mẹ tôi trong mấy năm liền. Mỗi lần phải gọi điện thoại về Saigon thăm mẹ, tôi chỉ nói qua loa vắn tắt được mấy câu rồi chuyền máy cho vợ tôi. Tôi sợ rằng tôi không thể nói dối được nữa. Mẹ tôi hỏi sau lâu quá mà không thấy em tôi gọi về. Mọi người giấu quanh, cố tìm đủ mọi lý do để dối gạt mẹ tôi vì sức khoẻ của bà cũng đã suy yếu vì tuổi già lại thêm bệnh tật. Vợ tôi và em rể tôi đều là những người bình tĩnh hơn tôi nên đã giữ được bí mật khá lâu.
Thế rồi một lần tôi gọi về, mẹ tôi hỏi, "Em con nó chết lâu rồi phải hôn?". Chúng tôi ngẩn ngơ. Bà tiếp lời, "Bấy lâu nay Má cứ nằm chiêm bao thấy nó hoài..."
Cha tôi mất, em gái tôi mất, rồi Má tôi cũng đã từ giã cuộc đời. Về gặp lại cha mẹ và quê cũ mãi mãi vẫn chỉ là một lời hứa suông cho đến ngày tôi nhắm mắt. Và ngày ấy chắc cũng không xa…
PH - N.T.Hoàng
Ý kiến NữTướngĐứcquốc -Lê ngọc Túy Hương:
De: zathpd@....com
À: Hoang Nguyen "nguyenthhoang@....ca
Objet: Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông
Envoyé le: Samedi 25 Janvier 2004 22.07
Tôi không cầm nước mắt khi đọc bài Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông của anh Phan Hạnh.
Trong đạo làm con chữ Hiếu vốn đứng đầu, nhưng từ xưa, ông bà vẫn dạy, đặt quốc gia và tổ quốc trước gia đình. Bời có vậy chúng ta mới có những trang Hùng Sử Việt ghi lại những gương sáng của tiền nhân đặt nợ nước trước tình nhà, hy sinh hạnh phúc cá nhân mà dấn thân vì nước.
Tôi xin cúi đấu thán phúc lòng cương quyết của anh Phan Hạnh, giữ tấm trung trinh với ngọn cờ Quốc Gia, tôn trọng những hy sinh của đồng đội chiến sĩ đã vị quốc vong thân. Ngoài anh Phan Hạnh tôi còn được biết khá nhiều người chấp nhận quy đầu cố hương chịu tội bất hiếu chứ không phản bội cái căn cước tỵ nạn cộng sản của mình. Nhưng cũng đau đớn là tôi cũng biết rất nhiều và rất rõ nhiều ngưới, thậm chí ngay cả những "chiến sĩ quân lực VNCH" về lại quê nhà mà "tận hưởng chùm khế ngọt quê hương". Ở đây , tôi xin đóng ngoặc những người con vì chữ hiếu phải phụ chữ trung, tôi hiểu và thông cảm cho những vị này.
Một lần nữa, tôi xin ngã mũ bái phục tất cả các anh chị vì quyết bảo vệ tấm lòng son sắc trung thành với Quốc Gia VNCH mà đành ngậm hờn làm đứa con bất hiếu. Các anh chị là một Nguyễn Trãi của thời đại hôm nay. Tôi tin rằng các đấng sanh thành của các anh chị chắc chắn rất hãnh diện về các anh chị bởi các cụ thuỷ chung là hiện thân của Ngài Nguyễn Phi Khanh , là hổ phụ mới sanh ra hổ tử là các anh chị.
Trân trọng,
LNTH
Ý kiến ngự lâm họa sĩ:
De: khanhtho52@....fr
À: SONFRIENDS-owner@yahoogroups.com; nguyenthhoang@....ca; zathpd@....com
Envoyé le: Dimanche 26 Janvier 2014 11:36
Objet: Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông
Vô cùng cảm xúc khi đọc bài viết của anh Phan Hạnh-Nguyễn Thanh Hoàng.
Lời Hứa Suông của anh đặc biệt mang nhiều ý nghĩa thật cao đẹp đối với Tổ Quốc, là tiếng súng ngăn chận làn sóng đỏ tràn vào hải ngoại, cũng như gián tiếp yểm trợ công cuộc đấu tranh giành lại nhân quyền cho Dân Tộc đang rên xiết dưới tay bạo quyền CS.
Em tin rằng hai Bác thông cảm và hãnh diện về anh.
Rất cảm phục,
Khánh Thọ
Ý kiến Ngườitùcuốicùng Phạm gia Đại:
De: nguoitucuoicung17@.....com
À: nguyenthhoang@....ca
Envoyé le: Lundi 27 Janvier 2014 12:29
Objet: Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông
Anh Phan Hạnh thân mến,
Mấy năm trước khi bọn mình gồm có anh BBSơn, Anh, tôi và Minh đi dạo trong công viên High Park ở Toronto, Canada, tôi không được nghe anh kể về bài viết này của anh. Cũng như Ms. Túy Hương tôi rất xúc động khi đọc bài này vì hai lý do chính: Đó là lòng hiếu thảo của anh, và tinh thần yêu nước không chấp nhận sự đô hộ và cai trị của đảng cộng sản tại VN nên anh đã nhất quyến không về VN khi còn bọn CSVN cầm quyền đang hãm hại đồng bào ta và sự hèn hạ luồn cúi của đảng CSVN trước giặc Tầu Đỏ.
Chúc anh và gia quyến an khang trong năm mới Giáp Ngọ
PGĐ
(Còn tiếp, kính mời quí vị và quí anh chị đón đọc phần 110)

































Comment