Cái giá TT Thiệu phải trả
(Còn tiếp)
Bất ngờ hành quân lui binh: Tóm lại, Trung tâm Hành quân Chiến cuộc của Tướng Haig, Pentagon cho phép quân đội Mỹ và VNCH tấn công khắp mọi nơi quân BV có mặt, nhưng chỉ để ‘vui-chơi’ trong thao dợt huấn-luyện quân sự cho có tiếng vang chính-trị chớ không phải để hủy diệt hoàn toàn theo như kim chỉ nam của CIA: “Everything worked but nothing worked enough” Để đi đến kết luận, vì những điều lệ [ROE] trò chơi nầy do một Nhóm học giả kiệt xuất của Harriman điều nghiên rất kỹ trước đó khá lâu trong chương trình “Aid to Russia 1941-1946 Plan” sẽ chia 2 quốc gia Đức, Triều-Tiên, Việt-Nam (tạm thời rồi thống nhứt sau đó. Đức và Triều Tiên thống nhứt trong vòng tay của Mỹ vì còn lính Mỹ ở đó, còn VN thống nhứt trong sự cưỡng chiếm từ phía Hà Nội, vì Saigon đuổi Mỹ: “Khách bị chủ nhà đuổi?!”) Nên Bốn đời Tổng Thống có dính líu chiến tranh Việt Nam cũng không hiểu mục-tiêu của chính sách là gì, huống hồ các Tướng lãnh đã tham chiến tại Việt Nam và Iraq; Làm gì họ hiểu nổi thế Siêu Chiến Lược “Eurasian Great Game” (1920-2020) của Trùm Đảng-Hội ‘Skull and Bones’ người Thủ-lãnh của Sáu người bạn nắm vận mệnh thế giới “The Wise-Men”: Six Friends and the World They Made (Cuốn sách nầy chỉ được cho ra khi Harriman nằm xuống dưới 9 tầng hỏa-ngục là năm 1986, danh tánh 6 người lãnh đạo thế giới nầy có trong tác phẩm “The New Legion”, Library of Congress, Copyright 2010 Vinh Truong http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman, p. 3/7, 22/1/2006)
Trong Bốn đời Tổng thống, chỉ có TT Nixon là bị kèm kẹp chặt chẽ nhất, dù rằng không còn con đường nào khác hơn là tiếp tục rút quân [xem hình Lam Sơn 719, trang 1, Volume-II thì rõ] cả bộ tham mưu tại Tòa Bạch Ốc ai ai cũng biết Kissinger được chỉ thị nói xấu Nixon trong suốt mùa tranh cử 1968, nhưng dù ông hay ai làm Tổng thống cũng phải nhận Kissinger làm cố vấn đó là điều bắt buộc của P.G, Siêu Chính Phủ để điều hành chính sách đúng trục lộ đồ chiến lược toàn cầu Eurasian. [Kissinger chỉ là một khoa bảng tài giỏi về khoa chính trị học nên được Harriman tuyển mộ thuê mướn] Rút kinh nghiệm, hồi đời Kennedy và Johnson; Dù rằng họ bủa vây Kennedy như một con cua có tám cái càng đều là Đảng viên của Skull and Bones (thành viên Hội đồng Kỹ nghệ Quốc phòng gọi là War Industries Board) đặc biệt hai cái càng lớn nầy nắm giữ là hai anh em, một ở chức vụ cố vấn Tổng thống là Skull and Bones-40 (ám-số), Mc George Bundy; còn ở Bộ ngoại giao là Skull and Bones-39, William P.Bundy. Nhưng không áp lực được Kennedy qua công điện gởi cho Cabot Lodge ngày 30/10/1963 yêu cầu ngưng hoặc trì hoãn cuộc đảo chánh TT Diệm tức khắc; sau đó đến phiên TT Johnson gởi công điện cho phép quân đội VNCH được săn đuổi quân đội BV ra khỏi biên giới Việt/Miên/Lào là hữu lý và chính đáng, nhưng bị Nhóm Skull and Bones không cho phép. Vì thế chúng ta cũng dễ hiểu tại sao bằng mọi giá W.A.Harriman phải bảo vệ đường mòn HCM hay xa-lộ Harriman (theo sự nhận thức của tôi) có Liên Xô góp phần lo thiết bị ống dẫn dầu song song theo nó để làm gì?
TT Thiệu với cái giá phải trả cho sự ương ngạnh chống đối Pentagon.
Với Quân-lực nầy, Tổng Thống Thiệu cũng như các Tướng Tá chúng ta đều đồng có một quan niệm, là bảo vệ tối đa sanh-mạng cho anh em binh-sĩ, và tiết kiệm tối đa xương máu của chiến binh mình. Để chứng minh điều nầy, có bao giờ chúng ta nghe Quân-Lực VNCH dùng chiến thuật biển người để chống Cộng không! Dùng thuốc kích thích, hoặc là xiềng chân vào tay-lái của chiến xa không, trong khi Cộng-Sản như một tôn-giáo cuồng tín, tử vì Đảng (Mafia của Lê Đức Thọ).
Cái đỉnh cao trí tuệ của siêu chính phủ sau hậu trường Mỹ (Donald Rumsfeld) có chịu thua sự ngang-ngược của TT Thiệu khi làm bể kế hoạch chiến-lược trong cuộc hành quân Lam-Sơn 719 nầy qua sự cho 2 Tiểu đoàn của SÐ/1/BB (6/3/1971) nhảy xuống Tchepone “đái một bãi rồi về?” Có nghĩa là đếch thi hành giai đoạn-3 khai thác chiến trận! Để dạy một bài học thâm-hiểm và đồng thời cũng vì phải giữ tình hình thật yên tịnh để Mỹ tiếp tục rút quân, nên Richard Helms, người hậu vệ [linebacker] của trận đấu “Pennsylvania” phải hoạch định một phương án “Rã ngũ quân lực VNCH” bằng sẽ đẻ ra một chước quỷ cho “một cuộc chạy tán loạn của quân dân miền Nam và Cộng Sản sẽ trả thù” Thật đau lòng cho quân-dân miền nam, một nước nhược tiểu!
Ðầu năm 1975, để phục hận, Họ, bộ tam sên: Kissinger, Haig, và Helms đứng trong bóng tối áp lực TT Thiệu phải đích thân do chính bàn tay của mình tự bẻ gãy từng chiếc của bó đũa [quân lực VNCH] bằng cách phân tán lực lượng, rút bỏ vùng-1 và 2 vì hỏa lực, cơ-phận, nhiên liệu, không được thi hành phương thức một đổi một [Project Enhance] do hiệp định Paris cho phép mà còn làm bộ thả Bom lầm vào các bồn xăng ngay trong phi trường để hạn chế tối đa sự hoạt động quân sự của miền Nam… đang cạn dần và phải bẻ nhỏ từng mảnh 2 Sư-đoàn tổng trừ bị lợi hại nhất mà Lê Ðưc Thọ rất khiếp đảm, nên Thọ khẩn thiết yêu cầu Kissinger nếu Mỹ muốn Hà-Nội chiếm miền Nam đúng theo lộ-trình, theo sự thỉnh cầu về điểm mốc thời gian chiến dịch Hồ Chí Minh…
Richard Helms phải làm theo sự chủ đạo của Donald Rumsfeld liền tức khắc qua khai thác sự sợ hãi làm đảo chánh của TT Thiệu để áp lực TT Thiệu ra lệnh rút về chỉ một Lữ-đoàn Dù thôi cùng Quân đoàn-3, vừa đủ thời gian tạm thời trấn giữ cái cổng chính của sân vận-động, hầu trực thăng Mỹ sẽ cứu người Mỹ và những tai to mặt lớn trốn chạy ra nước ngoài (cấp tướng trở lên). Thế là bình luận, báo chí trên thế giới cứ chĩa mũi dùi tấn công chỉ một mình tội lỗi do Tổng thống Thiệu gây ra mà thôi. Thế nên một số ký giả được đặt hàng, cũng như người Việt kém hiểu biết đã vội vả trút lên đầu TT Thiệu mọi tội lỗi mà chính TT Thiệu cũng bị hăm doạ phải ngậm tăm đem xuống tuyền đài.
Dù rằng TT Thiệu đã thỏa mãn tất cả những điều kiện do phía Polgar, Trưởng CIA yêu cầu nhưng ngặt nỗi những bức thư mật ‘riêng-tư’ giữa TT Nixon và Thiệu vẫn còn nằm trơ-trơ trong tay TT Thiệu. Chuyện khó là tạo ra vụ Watergate để hất chiếc ghế quyền lực của Nixon, việc đó đã mưu thành tốt đẹp do tham mưu trưởng Donald Rumsfeld có chỉ thị cho R.Helms soạn thảo và Kissinger trực tiếp đièu hành ngay từ ngày TT Nixon qua TQ 1972.
Tại sao Nixon không dùng đặc quyền theo hiến định để tự ân xá mình? Còn Thái-tử George W Bush dù bị sự ủng hộ thấp nhứt trong lịch sử TT Hoa kỳ (23%) còn mang thêm trọng tội lừa dối Quốc hội về Power Act, quyền khai chiến và dân Mỹ về vũ khí giết người hàng loạt WMD nhưng vẫn phây phây ngồi cho đến mãn nhiệm kỳ, chưa kể trong lịch sử ứng cử mà phải đợi 36 ngày sau Tối Cao Pháp Viện mới xác định là đủ điều kiện để làm tổng thống? Ðộc giả yên tâm! 2 sự kiện kinh-dị nầy sẽ phải đợi một thời gian coi cho được [Decent Interval] rồi các sử gia buộc sẽ phơi bày ra ánh sáng để trả lại tính trung thực cho lịch sử như những vụ ám sát hai anh em Kennedy nhưng phải đợi một thời gian hữu lý. Như vậy chúng ta cũng có khái-niệm rằng:
Hãy tự hỏi… Hoa Kỳ có tự do về thông tin tư tưởng! Câu trả lời là không!
A) - Xin trân trọng giới thiệu tài liệu về một cuốn phim đã bị siêu chính phủ HK dấu kín suốt 37 năm qua.
* Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ (Vừa rồi Kissinger thú thật mất miền nam là do Mỹ và thêm một thời gian hữu lý (decent interval) nữa SCP sẽ tiết lộ HCM đáng được kính phục không phải vì sự chiến thắng mà vì sư lừa bịp cũa Mỹ.
* Người viết đã tìm lại được cuốn phim này trên Youtube - Mời bấm vào đây để coi toàn bộ cuốn phim gồm có 8 phần (không kể những video clips tài liệu phụ dẫn: click Phim Việt Nam)
==> http://www.youtube. com/results? search_query= vietnam+vietnam+ john+ford&search_type=&aq=5; Phim Vietnam! Vietnam được công bố sau 37 năm bị dấu kín !!!
Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam, Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973) ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon. Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.
Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency) trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam” Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.
B) - Cuốn sách trước đó do đồng 2 tác-giả Evan-Thomas và Walter Isaacson đã công phu nghiên cứu tỉ-mỉ, nhưng cũng bị chận lại, phải đợi thủ-lãnh W-A- Harriman nằm xuống ngày 26/7/1986 mới được phép xuất bản vào năm ông chết (1986) Ðó là cuốn sách tên “The Wise Men”: Six Friends and the World They Made. Dĩ nhiên đúng vào mốc thời điểm mục tiêu như mới đây họ đã bạch hóa sự việc, mưu-đồ của trục Ma Quỷ nầy, bằng chỉ phổ biến tài liệu dính dấp với Liên Xô và Trung Cộng. Nhưng với Mỹ thì hoàn toàn dấu nhẹm, không đá động tới danh tánh tên tuổi những tội phạm chiến tranh thứ gộc, gây ra cảnh bể dâu cho nhân loại. Nhờ dựa vào được Center for the Study of Intelligence giải mật cho ra công chúng trong dạng một quyển sách (Center for the Study of Intelligence là nhà in riêng của CIA) Theo lời giới thiệu trong sách, quyển CIA and the Generals (CIA & Generals) được hoàn tất tháng 10-1998; và CIA and the House of Ngo (CIA & Ngo) viết xong tháng 6-2000. Hai quyển này được đưa lên web site của Center for the Study of Intelligence vào đầu tháng 3-2009, với dấu mộc ghi “APPROVED FOR RELEASE DATE 19-Feb-2009.”(Được phép đưa ra Công cộng, ngày 19 tháng 2-2009).
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) ban biên tập của CIA cho giải mật hai tập tài liệu quan trọng về mối liên hệ giữa CIA và Việt Nam Trong nhiều năm qua, CIA - theo luật bắt buộc- đã giải mật nhiều tài liệu quan trọng, thí dụ như hơn 1.000 trang phân tích và ước lượng về chiến tranh Việt Nam (Estimative Products on Vietnam, 1948-1975, National Intelligence Council, 2005)
C) - Vì vậy, sau 20 năm nghiên cứu trong thư-viện, tôi cho ra 2 Volume tác-phẩm “The New Legion” - lần đầu tiên” trong nghĩa này là hai quyển sách trên thuộc loại ‘sử-kể’ (narrative history) có đầu đuôi, chú thích - và quan trọng hơn hết - tác giả là người thật, tham dự hầu hết các cuộc hành quân từ Cambodia, qua Lào cùng bay xa đến vĩ tuyến 18, kể cả phía tây dãy Trường sơn cùng các hải đảo Biển Đông, vì là một phi công gián điệp được cơ quan SEAL và Delta Force trắc nghiệm và tuyẩn chọn.. Ðọc nhiều tài liệu và viết lại có ngọn ngành cho độc giả, đa số những tài liệu giải mật của CIA trước đây thuộc loại nặc danh vì lý do nghề nghiệp, hay là những văn-thư như tờ ‘tường-trình’ do nhân viên báo cáo về để “kính-tường” Để rồi sau cùng 2 tác-phẩm nầy cũng chui ra được ấn-bản tại Canada, 2010.
Cũng ngày hôm nay, Tướng Abrams gặp Tướng Viên để ôn lại tình hình địch, Abrams nói: “Đây mới đúng là lúc chúng ta đem lại một sự thắng lợi trong cuộc chiến quyết định nầy… mọi diễn tiến đều xảy ra tốt đẹp, và có lợi cho ta, Chúng ta phải tiến quân, kể cả trên trục đường 914; Tôi muốn được xử dụng thêm Sư-đoàn 2 BB hiện đang trấn đóng tại Chu-Lai vào cuộc chiến nầy... đại-tướng nghĩ sao?”
Sau một giây lát suy tư, tướng Viên đáp: “Về mặt Quân-sự, chính-trị và tâm-lý, tôi nghĩ là Tổng Thống Thiệu có thể chấp nhận, vì chúng ta không còn lực-lượng nào hơn, Tôi nghĩ phải thêm vài tháng dài chiến đấu cam-go…để tôi trình lại với TT Thiệu coi xem sao!”
Ngay vào lúc nầy, tại Bộ-tư-lệnh Quân-đoàn 24 có báo cáo cho Tướng Abrams hay: là Tướng Lãm cho biết theo lệnh của TT Thiệu, một vài đơn vị nhỏ Quân-lực VNCH sẽ đặt chân trên Tchepone như vậy coi như hoàn thành mục tiêu chiến thuật và chuẩn bị rút quân về. Trong khi đó có tin các Tướng-lãnh VN cũng cho rằng mục tiêu đã hoàn tất, trên phương diện chiến thuật, bây giờ nên soạn thảo cuộc hành quân lui binh.
Nhưng phía Mỹ thì cho rằng: cuộc hành quân mới qua giai đoạn-3, khai thác chiến thắng và tiêu hủy kho-tàng đạn-dược vì không còn cơ hội nào bằng lúc nầy, phải tiêu hủy 100% Căn-cứ Hậu-cần 604 nầy. Đây là một sự xung đột trầm trọng và gây-cấn giữa TT Thiệu và Pentagon (Tướng Haig) thay vì quân lực VNCH phải chiến đấu đến cuối tháng April/71 theo đúng như kế hoặc của Hội Ðồng An Ninh (NSC) đã hợp, đi đến quyết-định ngày 18/1/1971. Mà sự thật kho tàng 604 chỉ còn một số ít chiến cụ vừa đủ cho Sư Ðoàn 2 Sao Vàng phục kích chờ đợi đễ cầm cự, còn phần lớn quân-cụ, đạn-dược đã được bãi đậu xe Molotova khả dụng Số-1 di chuyển xa vào Nam trước đó; Thế nên B-52/SAC chỉ được lệnh trải thảm trên Bãi-2 với trên 100 chiếc nằm ụ chờ sửa chữa mà thôi.
Trong lúc các cánh quân khác dùng cả đường bộ lẫn trực thăng để lui quân, những chiến xa và xe cộ của LĐ1/TK chỉ có một đường duy nhất để trở về Việt Nam: đó là đường số 9. Dĩ nhiên tướng Giáp cứ in trí trong đầu qua Phạm Xuân Ẩn, quân VNCH sẽ tấn kích vào mục tiêu 604, Giáp cứ tưởng thân-phận VNCH cũng giống y chang là công cụ gián tiếp như Hà Nội, nên không điều quân kịp một lực hùng hậu để làm nút chốt chận đánh quân lực VNCH khi bất thần rút lui. Sau một thời gian, tướng Giáp mới phát hiện việc từ bỏ mục tiêu 604 của TT Thiệu, nên họ bôn tẩu về lại đường 9 để chờ phục kích. Cuộc lui quân của LĐ1/TK khá nhanh vì nhiều lý do, được mô tả là không được suông sẻ như ý muốn; Theo lời Đại Tá Battreal cũng phù hợp với sự theo dõi của tôi từ trên đầu quân bạn trên, gunship và C&C. Hoạt động của cánh quân nỗ lực chính này kém hiệu quả vì Đại Tá Luật nhận được nhiều chỉ thị khác nhau, đôi khi còn trái ngược từ SÐ/Dù cũng như từ BTL Hành Quân tại Hàm Nghi. Đại Tá Battreal viết trong phúc trình hậu hành quân như sau: Sự đụng độ quyết liệt giữa Tướng Haig 4 sao và TT Thiệu, 3 sao vào ngày tướng 4 sao giã-định, Haig qua Quân đoàn 24 “Lúc thì có lệnh phải tiến sâu hơn về phía Tchépone, khi thì lại bảo hãy cố thủ tại A Lưới, sự việc nầy lập lại những công điện “gà-mờ” với chủ đích từ tướng Haig, Pentagon hồi năm qua ở chiến trường Cambodia 1970. Có khi nhận được lệnh phải bung ra khỏi A Lưới càng xa càng tốt, trong khi lệnh khác lại không cho phép vượt qua tọa độ XYZ nào đó. Kết quả là hoang mang, ngộ nhận vì mọi nguyên tắc hành quân cũng như thống nhất quyền chỉ huy đều bị vi phạm theo ý đồ cố buông lỏng của Pentagon, các động thái nầy y chang hồi Mc Namara làm BTQP (permanent government không muốn quân Việt/Mỹ thống nhứt hành động mà phải e-dè, trì-trệ trong khi điều động hạnh quân) Ngoài ra còn có tin đồn rằng sau khi thấy quân VNCH bị vào cái bẫy ‘trận địa pháo, thiệt hại khá nặng, chính Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh thâu hẹp vùng hành quân, chỉ vào sâu trong Hạ Lào tới Bản Đông là Aloui thay-vì Tchépone xa hơn chừng 20 cây số về hướng Tây và băng sông Xê-Pon xuống Cargo-604.
Trên đường rút quân, vì sự hục hặc do Mỹ vi phạm điều lệ trò chơi chiến tranh, tướng Giáp phải trả giá quá nặng bằng sự tàn sát của B-52 trong đó đáng kể là xoá sổ nguyên một Sư-đoàn 2 Sao vàng đang cố thủ chờ phục kích quân VNCH dưới các công sự phòng thủ rất kiên cố. Đó là lý do chúng ta không nghe sư-đoàn 2 Sao Vàng đụng trận mà lại bị khơi khơi tiêu diệt, còn phía Hà Nội ngậm câm như Hến, vì thật ra Hà Nội chỉ là tay sai gián tiếp của Mỹ qua Mafia Lê Đức Thọ mà thôi.
Trong Bốn đời Tổng thống, chỉ có TT Nixon là bị kèm kẹp chặt chẽ nhất, dù rằng không còn con đường nào khác hơn là tiếp tục rút quân [xem hình Lam Sơn 719, trang 1, Volume-II thì rõ] cả bộ tham mưu tại Tòa Bạch Ốc ai ai cũng biết Kissinger được chỉ thị nói xấu Nixon trong suốt mùa tranh cử 1968, nhưng dù ông hay ai làm Tổng thống cũng phải nhận Kissinger làm cố vấn đó là điều bắt buộc của P.G, Siêu Chính Phủ để điều hành chính sách đúng trục lộ đồ chiến lược toàn cầu Eurasian. [Kissinger chỉ là một khoa bảng tài giỏi về khoa chính trị học nên được Harriman tuyển mộ thuê mướn] Rút kinh nghiệm, hồi đời Kennedy và Johnson; Dù rằng họ bủa vây Kennedy như một con cua có tám cái càng đều là Đảng viên của Skull and Bones (thành viên Hội đồng Kỹ nghệ Quốc phòng gọi là War Industries Board) đặc biệt hai cái càng lớn nầy nắm giữ là hai anh em, một ở chức vụ cố vấn Tổng thống là Skull and Bones-40 (ám-số), Mc George Bundy; còn ở Bộ ngoại giao là Skull and Bones-39, William P.Bundy. Nhưng không áp lực được Kennedy qua công điện gởi cho Cabot Lodge ngày 30/10/1963 yêu cầu ngưng hoặc trì hoãn cuộc đảo chánh TT Diệm tức khắc; sau đó đến phiên TT Johnson gởi công điện cho phép quân đội VNCH được săn đuổi quân đội BV ra khỏi biên giới Việt/Miên/Lào là hữu lý và chính đáng, nhưng bị Nhóm Skull and Bones không cho phép. Vì thế chúng ta cũng dễ hiểu tại sao bằng mọi giá W.A.Harriman phải bảo vệ đường mòn HCM hay xa-lộ Harriman (theo sự nhận thức của tôi) có Liên Xô góp phần lo thiết bị ống dẫn dầu song song theo nó để làm gì?
TT Thiệu với cái giá phải trả cho sự ương ngạnh chống đối Pentagon.
Với Quân-lực nầy, Tổng Thống Thiệu cũng như các Tướng Tá chúng ta đều đồng có một quan niệm, là bảo vệ tối đa sanh-mạng cho anh em binh-sĩ, và tiết kiệm tối đa xương máu của chiến binh mình. Để chứng minh điều nầy, có bao giờ chúng ta nghe Quân-Lực VNCH dùng chiến thuật biển người để chống Cộng không! Dùng thuốc kích thích, hoặc là xiềng chân vào tay-lái của chiến xa không, trong khi Cộng-Sản như một tôn-giáo cuồng tín, tử vì Đảng (Mafia của Lê Đức Thọ).
Cái đỉnh cao trí tuệ của siêu chính phủ sau hậu trường Mỹ (Donald Rumsfeld) có chịu thua sự ngang-ngược của TT Thiệu khi làm bể kế hoạch chiến-lược trong cuộc hành quân Lam-Sơn 719 nầy qua sự cho 2 Tiểu đoàn của SÐ/1/BB (6/3/1971) nhảy xuống Tchepone “đái một bãi rồi về?” Có nghĩa là đếch thi hành giai đoạn-3 khai thác chiến trận! Để dạy một bài học thâm-hiểm và đồng thời cũng vì phải giữ tình hình thật yên tịnh để Mỹ tiếp tục rút quân, nên Richard Helms, người hậu vệ [linebacker] của trận đấu “Pennsylvania” phải hoạch định một phương án “Rã ngũ quân lực VNCH” bằng sẽ đẻ ra một chước quỷ cho “một cuộc chạy tán loạn của quân dân miền Nam và Cộng Sản sẽ trả thù” Thật đau lòng cho quân-dân miền nam, một nước nhược tiểu!
Ðầu năm 1975, để phục hận, Họ, bộ tam sên: Kissinger, Haig, và Helms đứng trong bóng tối áp lực TT Thiệu phải đích thân do chính bàn tay của mình tự bẻ gãy từng chiếc của bó đũa [quân lực VNCH] bằng cách phân tán lực lượng, rút bỏ vùng-1 và 2 vì hỏa lực, cơ-phận, nhiên liệu, không được thi hành phương thức một đổi một [Project Enhance] do hiệp định Paris cho phép mà còn làm bộ thả Bom lầm vào các bồn xăng ngay trong phi trường để hạn chế tối đa sự hoạt động quân sự của miền Nam… đang cạn dần và phải bẻ nhỏ từng mảnh 2 Sư-đoàn tổng trừ bị lợi hại nhất mà Lê Ðưc Thọ rất khiếp đảm, nên Thọ khẩn thiết yêu cầu Kissinger nếu Mỹ muốn Hà-Nội chiếm miền Nam đúng theo lộ-trình, theo sự thỉnh cầu về điểm mốc thời gian chiến dịch Hồ Chí Minh…
Richard Helms phải làm theo sự chủ đạo của Donald Rumsfeld liền tức khắc qua khai thác sự sợ hãi làm đảo chánh của TT Thiệu để áp lực TT Thiệu ra lệnh rút về chỉ một Lữ-đoàn Dù thôi cùng Quân đoàn-3, vừa đủ thời gian tạm thời trấn giữ cái cổng chính của sân vận-động, hầu trực thăng Mỹ sẽ cứu người Mỹ và những tai to mặt lớn trốn chạy ra nước ngoài (cấp tướng trở lên). Thế là bình luận, báo chí trên thế giới cứ chĩa mũi dùi tấn công chỉ một mình tội lỗi do Tổng thống Thiệu gây ra mà thôi. Thế nên một số ký giả được đặt hàng, cũng như người Việt kém hiểu biết đã vội vả trút lên đầu TT Thiệu mọi tội lỗi mà chính TT Thiệu cũng bị hăm doạ phải ngậm tăm đem xuống tuyền đài.
Dù rằng TT Thiệu đã thỏa mãn tất cả những điều kiện do phía Polgar, Trưởng CIA yêu cầu nhưng ngặt nỗi những bức thư mật ‘riêng-tư’ giữa TT Nixon và Thiệu vẫn còn nằm trơ-trơ trong tay TT Thiệu. Chuyện khó là tạo ra vụ Watergate để hất chiếc ghế quyền lực của Nixon, việc đó đã mưu thành tốt đẹp do tham mưu trưởng Donald Rumsfeld có chỉ thị cho R.Helms soạn thảo và Kissinger trực tiếp đièu hành ngay từ ngày TT Nixon qua TQ 1972.
Tại sao Nixon không dùng đặc quyền theo hiến định để tự ân xá mình? Còn Thái-tử George W Bush dù bị sự ủng hộ thấp nhứt trong lịch sử TT Hoa kỳ (23%) còn mang thêm trọng tội lừa dối Quốc hội về Power Act, quyền khai chiến và dân Mỹ về vũ khí giết người hàng loạt WMD nhưng vẫn phây phây ngồi cho đến mãn nhiệm kỳ, chưa kể trong lịch sử ứng cử mà phải đợi 36 ngày sau Tối Cao Pháp Viện mới xác định là đủ điều kiện để làm tổng thống? Ðộc giả yên tâm! 2 sự kiện kinh-dị nầy sẽ phải đợi một thời gian coi cho được [Decent Interval] rồi các sử gia buộc sẽ phơi bày ra ánh sáng để trả lại tính trung thực cho lịch sử như những vụ ám sát hai anh em Kennedy nhưng phải đợi một thời gian hữu lý. Như vậy chúng ta cũng có khái-niệm rằng:
Hãy tự hỏi… Hoa Kỳ có tự do về thông tin tư tưởng! Câu trả lời là không!
A) - Xin trân trọng giới thiệu tài liệu về một cuốn phim đã bị siêu chính phủ HK dấu kín suốt 37 năm qua.
* Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ (Vừa rồi Kissinger thú thật mất miền nam là do Mỹ và thêm một thời gian hữu lý (decent interval) nữa SCP sẽ tiết lộ HCM đáng được kính phục không phải vì sự chiến thắng mà vì sư lừa bịp cũa Mỹ.
* Người viết đã tìm lại được cuốn phim này trên Youtube - Mời bấm vào đây để coi toàn bộ cuốn phim gồm có 8 phần (không kể những video clips tài liệu phụ dẫn: click Phim Việt Nam)
==> http://www.youtube. com/results? search_query= vietnam+vietnam+ john+ford&search_type=&aq=5; Phim Vietnam! Vietnam được công bố sau 37 năm bị dấu kín !!!
Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam, Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973) ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon. Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.
Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency) trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam” Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.
B) - Cuốn sách trước đó do đồng 2 tác-giả Evan-Thomas và Walter Isaacson đã công phu nghiên cứu tỉ-mỉ, nhưng cũng bị chận lại, phải đợi thủ-lãnh W-A- Harriman nằm xuống ngày 26/7/1986 mới được phép xuất bản vào năm ông chết (1986) Ðó là cuốn sách tên “The Wise Men”: Six Friends and the World They Made. Dĩ nhiên đúng vào mốc thời điểm mục tiêu như mới đây họ đã bạch hóa sự việc, mưu-đồ của trục Ma Quỷ nầy, bằng chỉ phổ biến tài liệu dính dấp với Liên Xô và Trung Cộng. Nhưng với Mỹ thì hoàn toàn dấu nhẹm, không đá động tới danh tánh tên tuổi những tội phạm chiến tranh thứ gộc, gây ra cảnh bể dâu cho nhân loại. Nhờ dựa vào được Center for the Study of Intelligence giải mật cho ra công chúng trong dạng một quyển sách (Center for the Study of Intelligence là nhà in riêng của CIA) Theo lời giới thiệu trong sách, quyển CIA and the Generals (CIA & Generals) được hoàn tất tháng 10-1998; và CIA and the House of Ngo (CIA & Ngo) viết xong tháng 6-2000. Hai quyển này được đưa lên web site của Center for the Study of Intelligence vào đầu tháng 3-2009, với dấu mộc ghi “APPROVED FOR RELEASE DATE 19-Feb-2009.”(Được phép đưa ra Công cộng, ngày 19 tháng 2-2009).
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) ban biên tập của CIA cho giải mật hai tập tài liệu quan trọng về mối liên hệ giữa CIA và Việt Nam Trong nhiều năm qua, CIA - theo luật bắt buộc- đã giải mật nhiều tài liệu quan trọng, thí dụ như hơn 1.000 trang phân tích và ước lượng về chiến tranh Việt Nam (Estimative Products on Vietnam, 1948-1975, National Intelligence Council, 2005)
C) - Vì vậy, sau 20 năm nghiên cứu trong thư-viện, tôi cho ra 2 Volume tác-phẩm “The New Legion” - lần đầu tiên” trong nghĩa này là hai quyển sách trên thuộc loại ‘sử-kể’ (narrative history) có đầu đuôi, chú thích - và quan trọng hơn hết - tác giả là người thật, tham dự hầu hết các cuộc hành quân từ Cambodia, qua Lào cùng bay xa đến vĩ tuyến 18, kể cả phía tây dãy Trường sơn cùng các hải đảo Biển Đông, vì là một phi công gián điệp được cơ quan SEAL và Delta Force trắc nghiệm và tuyẩn chọn.. Ðọc nhiều tài liệu và viết lại có ngọn ngành cho độc giả, đa số những tài liệu giải mật của CIA trước đây thuộc loại nặc danh vì lý do nghề nghiệp, hay là những văn-thư như tờ ‘tường-trình’ do nhân viên báo cáo về để “kính-tường” Để rồi sau cùng 2 tác-phẩm nầy cũng chui ra được ấn-bản tại Canada, 2010.
Cũng ngày hôm nay, Tướng Abrams gặp Tướng Viên để ôn lại tình hình địch, Abrams nói: “Đây mới đúng là lúc chúng ta đem lại một sự thắng lợi trong cuộc chiến quyết định nầy… mọi diễn tiến đều xảy ra tốt đẹp, và có lợi cho ta, Chúng ta phải tiến quân, kể cả trên trục đường 914; Tôi muốn được xử dụng thêm Sư-đoàn 2 BB hiện đang trấn đóng tại Chu-Lai vào cuộc chiến nầy... đại-tướng nghĩ sao?”
Sau một giây lát suy tư, tướng Viên đáp: “Về mặt Quân-sự, chính-trị và tâm-lý, tôi nghĩ là Tổng Thống Thiệu có thể chấp nhận, vì chúng ta không còn lực-lượng nào hơn, Tôi nghĩ phải thêm vài tháng dài chiến đấu cam-go…để tôi trình lại với TT Thiệu coi xem sao!”
Ngay vào lúc nầy, tại Bộ-tư-lệnh Quân-đoàn 24 có báo cáo cho Tướng Abrams hay: là Tướng Lãm cho biết theo lệnh của TT Thiệu, một vài đơn vị nhỏ Quân-lực VNCH sẽ đặt chân trên Tchepone như vậy coi như hoàn thành mục tiêu chiến thuật và chuẩn bị rút quân về. Trong khi đó có tin các Tướng-lãnh VN cũng cho rằng mục tiêu đã hoàn tất, trên phương diện chiến thuật, bây giờ nên soạn thảo cuộc hành quân lui binh.
Nhưng phía Mỹ thì cho rằng: cuộc hành quân mới qua giai đoạn-3, khai thác chiến thắng và tiêu hủy kho-tàng đạn-dược vì không còn cơ hội nào bằng lúc nầy, phải tiêu hủy 100% Căn-cứ Hậu-cần 604 nầy. Đây là một sự xung đột trầm trọng và gây-cấn giữa TT Thiệu và Pentagon (Tướng Haig) thay vì quân lực VNCH phải chiến đấu đến cuối tháng April/71 theo đúng như kế hoặc của Hội Ðồng An Ninh (NSC) đã hợp, đi đến quyết-định ngày 18/1/1971. Mà sự thật kho tàng 604 chỉ còn một số ít chiến cụ vừa đủ cho Sư Ðoàn 2 Sao Vàng phục kích chờ đợi đễ cầm cự, còn phần lớn quân-cụ, đạn-dược đã được bãi đậu xe Molotova khả dụng Số-1 di chuyển xa vào Nam trước đó; Thế nên B-52/SAC chỉ được lệnh trải thảm trên Bãi-2 với trên 100 chiếc nằm ụ chờ sửa chữa mà thôi.
Trong lúc các cánh quân khác dùng cả đường bộ lẫn trực thăng để lui quân, những chiến xa và xe cộ của LĐ1/TK chỉ có một đường duy nhất để trở về Việt Nam: đó là đường số 9. Dĩ nhiên tướng Giáp cứ in trí trong đầu qua Phạm Xuân Ẩn, quân VNCH sẽ tấn kích vào mục tiêu 604, Giáp cứ tưởng thân-phận VNCH cũng giống y chang là công cụ gián tiếp như Hà Nội, nên không điều quân kịp một lực hùng hậu để làm nút chốt chận đánh quân lực VNCH khi bất thần rút lui. Sau một thời gian, tướng Giáp mới phát hiện việc từ bỏ mục tiêu 604 của TT Thiệu, nên họ bôn tẩu về lại đường 9 để chờ phục kích. Cuộc lui quân của LĐ1/TK khá nhanh vì nhiều lý do, được mô tả là không được suông sẻ như ý muốn; Theo lời Đại Tá Battreal cũng phù hợp với sự theo dõi của tôi từ trên đầu quân bạn trên, gunship và C&C. Hoạt động của cánh quân nỗ lực chính này kém hiệu quả vì Đại Tá Luật nhận được nhiều chỉ thị khác nhau, đôi khi còn trái ngược từ SÐ/Dù cũng như từ BTL Hành Quân tại Hàm Nghi. Đại Tá Battreal viết trong phúc trình hậu hành quân như sau: Sự đụng độ quyết liệt giữa Tướng Haig 4 sao và TT Thiệu, 3 sao vào ngày tướng 4 sao giã-định, Haig qua Quân đoàn 24 “Lúc thì có lệnh phải tiến sâu hơn về phía Tchépone, khi thì lại bảo hãy cố thủ tại A Lưới, sự việc nầy lập lại những công điện “gà-mờ” với chủ đích từ tướng Haig, Pentagon hồi năm qua ở chiến trường Cambodia 1970. Có khi nhận được lệnh phải bung ra khỏi A Lưới càng xa càng tốt, trong khi lệnh khác lại không cho phép vượt qua tọa độ XYZ nào đó. Kết quả là hoang mang, ngộ nhận vì mọi nguyên tắc hành quân cũng như thống nhất quyền chỉ huy đều bị vi phạm theo ý đồ cố buông lỏng của Pentagon, các động thái nầy y chang hồi Mc Namara làm BTQP (permanent government không muốn quân Việt/Mỹ thống nhứt hành động mà phải e-dè, trì-trệ trong khi điều động hạnh quân) Ngoài ra còn có tin đồn rằng sau khi thấy quân VNCH bị vào cái bẫy ‘trận địa pháo, thiệt hại khá nặng, chính Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh thâu hẹp vùng hành quân, chỉ vào sâu trong Hạ Lào tới Bản Đông là Aloui thay-vì Tchépone xa hơn chừng 20 cây số về hướng Tây và băng sông Xê-Pon xuống Cargo-604.
Trên đường rút quân, vì sự hục hặc do Mỹ vi phạm điều lệ trò chơi chiến tranh, tướng Giáp phải trả giá quá nặng bằng sự tàn sát của B-52 trong đó đáng kể là xoá sổ nguyên một Sư-đoàn 2 Sao vàng đang cố thủ chờ phục kích quân VNCH dưới các công sự phòng thủ rất kiên cố. Đó là lý do chúng ta không nghe sư-đoàn 2 Sao Vàng đụng trận mà lại bị khơi khơi tiêu diệt, còn phía Hà Nội ngậm câm như Hến, vì thật ra Hà Nội chỉ là tay sai gián tiếp của Mỹ qua Mafia Lê Đức Thọ mà thôi.
(Còn tiếp)

Comment